Chiều cuối năm hên quá!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Aug 2026

Nhớ ngày xưa ‘phu xướng phụ tùy’, chồng vui thì vợ cũng vui, anh vui thì em cũng vui luôn! Còn bây giờ tình nghĩa phu thê… thôi… nói nữa mà chi! Nhưng nhớ đừng méc con vợ tui nhá! Nó biết được chắc là tui chết!
Do đó mỗi lần bực bội con vợ, người viết lại vớ lấy chai beer; vì beer là nguyên nhân và cũng là giải pháp cho tất cả rắc rối của cuộc đời!
Người viết hoàn toàn tán đồng và tán thưởng việc Trường đại học quốc gia Úc Châu nghiên cứu 7000 người và kết quả cho thấy uống beer vừa phải, người ta nói năng lưu loát hơn, trí nhớ và tốc độ suy nghĩ cao hơn hẳn những người uống quá nhiều hay những ai không uống một giọt nào !
Theo luật sinh tồn thì một bầy kangaroo bị săn đuổi, con yếu nhứt, chạy chậm nhứt bị chết trước. Giống y như vậy, tế bào não nào chậm lụt sẽ bị beer giết trước. Còn lại là những tế bào não nhanh nhẹn, nhạy bén, sống sót. Và người uống beer sẽ thông minh hơn người khác là cái chắc!

***

Nhìn lại lịch sử, thì beer rất quan trọng trong cuộc sống của người dân Úc kể từ Hạm đội thứ nhất cập bến vào những năm 1700’s. Nhưng tại sao người Úc lại khoái uống beer đến thế?
Có lẽ Úc Châu là đại lục khô hạn nhứt trên địa cầu nên nước rất quý! Vì vậy người Úc thay vì uống nước họ uống beer. Và phần cũng vì nước là chất lỏng rất nguy hiểm, làm xe bạn rỉ sét, làm mất giá chỉ bằng giá đống sắt vụn. Nước tràn vào nhà, làm mục ruỗng sườn nhà, không ngăn chận thì bạn thành dân ‘homeless’. Nước làm hư hại tivi, lò bếp, mà bạn chạm vào, nó sẽ giựt bạn nhẩy tưng tưng! Bạn cắm đầu vào nước trong vòng 4 phút là bạn đi luôn! Rơi vào nước băng giá chỉ trong vòng vài giờ là ‘ngỏm’ vì hạ thân nhiệt! Vô ý là phỏng nước sôi; cực kỳ đau đớn! Nhiều nước quá thì thì thành mưa lũ, cuốn trôi nhà cửa, đường xá, xe cộ và giết hại rất nhiều người như trận bão Sandy đổ bộ vào New York gần đây, gây thiệt hại nhà cửa, cơ sở hạ tầng hàng chục tỉ đô mỗi năm! Ở Melbourne, nước gặp lạnh trên trời, tạo thành mưa đá, hủy hoại hàng ngàn xe cộ, làm hư hỏng mái nhà.

Hậu quả là mất hàng năm trời để sửa chữa, không đủ ngói và thợ lợp nhà cho cái xứ này. Và Liên hiệp Quốc ước đoán rằng nhiều người chết vì nước nhiễm bẩn trên hành tinh này còn hơn cả số nạn nhân của những cuộc chiến tranh! Do đó làm sao khoái nước cho được? Mà không khoái nước lúc khát thì uống cái gì bây giờ? Thì uống beer vậy!
Beer được ưa thích nhứt hiện thời là Victoria Bitter mà người Việt mình gọi là Vi Bi, là Vợ Bỏ! chiếm 30% thị phần beer trong nước. Nếu ở Úc, ai uống beer Foster thì bạn biết ngay họ là du khách.
Beer tốt hơn phụ nữ nhiều! Vì beer chả ghen tuông, chửi bới gì, khi bạn có thêm một beer nữa. Bạn cũng biết chắc như đinh đóng cột rằng bạn là người đầu tiên đến với lon beer. Còn với người phụ nữ ư? Điều này không chắc lắm đâu?! You always know that you are the first one to pop a beer.

Khi leo vô giường, bạn tìm thấy chai beer lạnh ngắt. Hạnh phúc biết bao! Leo vô giường bạn tìm thấy một ‘em’ lạnh ngắt! Ôi bất hạnh chừng nào!
Tuy nhiên beer cũng có ‘side effect’, phản ứng phụ. Các nhà khoa học đã chứng minh rằng beer là chất dẩn truyền ‘hormones’ nữ tính. Để chứng minh, các nhà khoa học cung cấp cho 100 người, mỗi người một thùng beer. Kết quả cho thấy là: những ông này sau khi uống hết một thùng thì trở nên béo phì, nói chuyện huyên thuyên mà chẳng có ý nghĩa gì ráo trọi, hay khóc lóc vô cớ và cũng chẳng biết lái xe!
Ngoài phản ứng phụ không đáng kể nói trên, thì beer chỉ toàn là ưu điểm như: làm cho quý ông lịch sự, quảng đại hơn với bạn và kể cả với kẻ thù.
Chuyện rằng: hai bikies uống beer ở quầy rượu. Một người đang chửi bới người kia. Hắn hét to: Tao đã từng ‘ngủ’ với má mầy! Cả ‘pub’ im lặng như tờ, chờ đợi cơn bão đang ập tới. Vì ở Úc, đó là một câu cực kỳ xúc phạm. Mà lại dám xúc phạm một thằng đầu trâu mặt ngựa bikie nữa chớ. Nào ngờ thằng trẻ hơn nói: ‘Thôi mình đi về đi Bố! Bố say quá rồi!’ Beer đã làm cho thằng bikie, là thằng trời đánh, thánh đâm, cớm còn chạy mặt, lại trở nên hiếu thảo vô cùng!
Đó chỉ là một trong trăm, ngàn lý do tại sao người Úc uống beer thay vì uống nước!
Nên chắc bạn không ngạc nhiên khi biết rằng: Darwin, thủ phủ lãnh thổ Bắc Úc, nhiều năm liền đoạt giải quán quân là thành phố uống nhiều beer nhứt thế giới tính trên đầu người. Chai beer Darwin đựng tới 2 lít và du khách rất khoái mua về làm quà lưu niệm.
Chiều cuối năm, nghỉ, người viết làm vài lon rồi đi ngủ vì nhà hết beer rồi! Không dám xách xe chạy đi mua vì mùa này, festival season, cớm Úc hay chặn lại ‘thổi’ rượu lắm. Nó bắt được là coi như mất bằng, cụt cẳng, sao đi làm? Mà không đi làm, ăn trợ cấp an sinh xã hội là đời ‘chua’ hơn dấm! Nên đi ngủ. Và beer có cái hay là uống một mình dễ ngủ dù mình chưa buồn ngủ chút nào!
Trong mơ, người viết thấy anh bạn văn, ra báo được rất nhiều quảng cáo, gởi cho một thùng VB, ‘lì xì’ dịp Tết. Người viết bèn bỏ beer vào ngăn lạnh, điều chỉnh nhiệt độ từ 10 đến 15 độ.
Nhựt có trà đạo, uống rất cầu kỳ. Úc có beer đạo cũng cầu kỳ không kém. Như không bao giờ uống beer với nước đá vì nó làm loãng nồng độ và mất hương vị beer đi . Để ly uống trong tủ beer luôn cho cùng nhiệt độ bắt buộc với beer. Chọn đúng kiểu ly. Dùng ly sạch, chỉ cần rửa ly với chút xà bông rửa chén. Đừng lau phía trong thành ly. Rót beer vào ly cho đúng cách, để chai hay lon hơi cao một tí để có bọt tối đa. Để bọt beer lắng lại. Ngửi rồi hãy uống! Mè ơi! Đã! Quá đã!
Thực hành beer đạo, người viết lấy beer từ tủ lạnh ra, lui cui gắp tôm khô củ kiệu, rắc thêm chút đường, rót thêm chút dấm, vài lát ớt. Gắp một miếng củ kiệu tôm khô, nhai rốp rốp, uống một ngụm beer, lim dim mắt, nhâm nhi cái tình văn nghệ…sĩ của người bạn văn chương. Sao ông biết được nhà mình vừa hết rượu mà gởi tặng thùng beer vậy ta? Thiệt là nắng hạn gặp mưa rào!
Đang vui, bỗng có tiếng nổ lụp bụp của pháo bông bắn lên nền trời thành phố Melbourne. Mở mắt, tàn một cơn mơ! Giao thừa rồi! Qua khung cửa sổ phòng ngủ, pháo bông nở từng chùm trên trời, rồi lan tỏa và lịm đi. Lại thêm một tràng pháo bông nữa!
Đất khách quê người, họ vui mừng năm mới, họ đâu biết rằng tiếng pháo nổ làm người viết giựt mình, tỉnh giấc mơ hoa! Thiệt tiếc!
Nhưng buồn mà chi hỡi người lữ khách. Hãy nghe câu chuyện này để thấy đời vẫn còn vui.
Có một anh chàng, dáng người nhỏ thó, ngồi trong quán rượu, bất động cả nửa tiếng đồng hồ, mắt chỉ dán vào ly beer trước mặt. Thình lình có một tay bikie, ba trợn giang hồ, mặt mày bặm trợn, hai tay chi chít những hình xâm, bước lại gần, cầm ly beer của anh chàng khốn khổ đưa lên miệng mình, nốc cạn.
Anh chàng khốn khổ đó thổn thức khóc. Tay bikie nói: ‘Thôi nín đi! Tao chỉ giỡn chơi! Tao sẽ mua cho ‘mi’ ly khác. Nín đi! Tao không chịu được cảnh người đàn ông mà mếu máo khóc như ‘mi!’
Anh chàng khốn khổ này trả lời: ‘Không phải vậy! Hôm nay là ngày tệ hại nhất đời tôi. Sáng dậy trễ, không kịp dự buổi họp quan trọng của công ty; nên ông boss nổi quạu, đuổi tôi luôn. Khi ra bãi đậu xe, thì chiếc xe tôi ai đã ăn cắp mất rồi. Cảnh sát nói là không giúp được gì! Tôi đành đón taxi về nhà. Lại luýnh quýnh, bỏ quên bóp đựng tiền và chiếc xe chạy mất. Vô nhà, thì thấy trong phòng ngủ của mình, con vợ yêu dấu của tôi đang âu yếm cái thằng làm vườn. Tôi, cõi lòng tan nát, rời khỏi nhà, đến quán này, định chấm dứt đời mình bằng ly beer có hòa thêm thuốc chuột. Thì từ đâu bất ngờ ông hiện đến và uống sạch hết của tôi rồi! Hu hu!
Do đó bạn ơi! Dù gì chăng đi nữa thì năm cũ đã qua, lỡ có làm ăn thất bát, ‘mông tại, mậu lúi’ hay bị vợ bỏ gì đi chăng nữa thì cũng xin là: ‘Tôi ơi đừng tuyệt vọng!’ Năm mới biết đâu chừng hên, trúng số độc đắc thì sao.
Cho nên: I wish you a Happy New Year! with your pockets full of money, and your cellar full of beer.

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Chim Tu Hú

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 24 Aug 2026

1.
Người con gái ấy tuy thấp bé hơn tôi, tuy cao không bằng tôi, tuy trông ngác ngơ vụng dại hơn, tôi vẫn gọi Mộc bằng chị, đơn giản vì tôi biết chị Mộc lớn hơn tôi hai tuổi. Sách vở nhà trường vẫn dạy tôi món công dân giáo dục, về bài vỡ lòng là khi người ta lớn tuổi hơn mình, nên tôn ti trật tự khiêm cung nhún nhường gọi người ấy bằng chị, cho dù thân phận chị có thấp hèn đến mức nào đi chăng nữa.
Tôi lớn lên ở thành phố, chưa một lần đi xe đò ngược ra hướng bắc, chưa từng qua sông bằng con đò nhỏ luôn có nước đọng vũng giữa lòng, chòng chành mất nửa ngày mới về thấu làng bên nội. Ngôi làng mà ba tôi từ bỏ để đi xa lập nghiệp, tự hồi nào tới giờ vẫn là vùng xôi đậu, tuyệt không biết tới chữ an ninh, đêm ngày vẫn cắc bụp tiếng súng. Ở đó, gia đình chị Mộc đã tìm cách tỉa mỏng người, cố rời xa vùng khói lửa bằng đủ cách và như vậy chị Mộc từ ngoài làng đã vào trú thân trong nhà tôi với chức phận “người giúp việc”. Hợp đồng được thoả thuận ngầm: Bao ăn bao ở, một năm may cho hai bộ áo quần cọng thêm mấy ngàn bạc, đôi bông tai sợi giây chuyền cái nhẫn hai chỉ; ngược lại chị Mộc sẽ phải thức khuya dậy sớm chu toàn việc giặt giũ quét nhà gánh nước đi chợ nấu ăn rửa chén. Thời gian không định trước, hoặc thấy quá mỏi mệt “hồi nào ngoài làng ngó yên yên thì liệu về mà lo vun quén kiếm một ông chồng cho yên bề gia thất”.
Yên yên là chữ quá trừu tượng, ngay cả ở thành phố thỉnh thoảng cũng bị “ăn” đôi ba quả hoả tiễn rót về vô tội vạ gây hoang mang huống chi ngoài chỗ đồng không mông quạnh mãi gồng mình hứng chịu sự oanh kích tự do. Chẳng yên yên nên chị Mộc đành ở lại lâu lâu. Lâu tới độ tôi không biết rõ đã mấy năm, chỉ biết là thời gian khiến chị giờ này có da có thịt hơn hồi đó. Mẹ tôi dắt chị đi chợ, đích thân lựa mua cho chị một cái nịt vú. Tôi tưởng tượng ra lời mẹ tôi: Mi là thiếu nữ rồi đó, tối ngủ đừng dang tay dạng chân, giữ ý giữ tứ, khi nào tình hình yên yên tao bày gương lược phấn son ra chỉ cách săm soi làm tốt mặt mày chải tóc chải tai. Con gái không nói làm chi, chớ thành thiếu nữ rồi thì nên biết chút điệu đàng làm vốn. Nhưng mà cái chi cũng rứa cả, vừa phải thôi chứ không được làm tới, vượt rào cản cho phép. Phải biết thân biết phận, liệu cơm mà gắp mắm.
Tuy “nàng là phận gái ta là phận trai” nhưng do tuổi tác chẳng mấy chênh lệch, chị Mộc gần gũi thân cận với tôi, ngay cả khi lần đầu được mặc xú-chiên chị cũng nói chùng nói vụng rằng nó làm sao ấy, chưa quen, thấy không thoải mái lắm. Chị tả cảnh ngoài làng cho tôi nghe, chút nhớ thương ẩn nấp trong cách thuật chuyện và tôi hình dung được một cảnh quang đẹp vừa hiện tới dù người thuyết trình chẳng có khiếu ăn nói. Tôi đâm có tình cảm với chị, nghĩ là công việc phải cáng đáng giờ này của chị quá sức nhọc mệt, chứ nếu ngoài đó yên yên hẳn chị đã cắp sách đến trường giống như tôi và theo số tuổi sẽ học hơn tôi đến hai lớp.
Mùa thi, tôi thức khuya học bài, không thấy buồn ngủ vì chị Mộc vẫn còn loay hoay việc vàng gì đó dưới bếp. Hoá ra mẹ tôi biểu chị chịu khó nấu cho “hắn” tô cháo ăn cho có sức, có đêm đổi món từ mặn qua ngọt. Mặt chi Mộc đỏ, củi lửa làm lọn tóc mai bện lại với mồ hôi, chị bưng chén chè hạt sen nấu với đường phèn lên: Ăn thử có vừa miệng không? Đang gạo bài à? Sách vở có giải thích rõ ràng vì sao lại gái hơn hai trai hơn một? Thấy tôi ngồi đực mặt, chị Mộc quay lưng: Khuya rồi, tui đi tắm cái đã.
Sau bếp có vuông xi-măng dựng ngăn đơn sơ một tấm tôn dùng che đậy, bảo vệ cho người vào làm vệ sinh rửa ráy tắm táp. Tiếng nước dội xuống từ cái ca nhựa phát ra giai điệu nghe lâm ly hơn mưa rơi ngoài trời. Mùa hè thường vắng mưa, chỉ nghe âm thanh từng gáo nước đổ xuôi theo mình mẩy đứng khuất dưới kia cũng thấy mát mẻ phần nào. Mát mẻ đi kèm với tò mò. Tò mò xúi giục mạo hiểm. Mạo hiểm đánh động trí khôn. Trí khôn bày đường cho đôi chân lăng ba vi bộ cách sao cho thật êm thắm. Nói tội trời, nếu có thi môn đạo đức học e rằng tôi sẽ bị đánh rớt, tôi sẽ trượt vỏ chuối. Nhưng tình ngay tôi cũng trúng được lô an ủi, rằng chính sự lơ đãng của chị Mộc đã giúp tôi “sáng mắt”.
Theo như hàng chữ in trong sách từng cất công biên soạn: “Cơ thể con người chia làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi”. Thiệt là thiếu sót quá lắm, bởi mình chị Mộc quả khác xa mình tôi bội phần. Ngực khác, bụng khác, khác tới tận cùng chỗ chia hai đôi chân (nhị chi). Tụng bài vở thì hai con mắt chực ríu lại đòi thiếp ngủ, nhưng chùng lén ngó chị Mộc đứng tắm… Tôi nói sáng mắt là vì vậy, ngủ ngáy chi được giờ này, còn sớm mà, cứ thoải mái kỳ cọ cho lâu lâu nghe chị Mộc. Coi kìa, bọt xà phòng cô Ba còn bám nơi nhúm tóc, nơi đầu vú. Vú đẹp thế kia cớ sao lại đi chèn ép nó, gò bó trong cái vật cà chớn kêu bằng xú-chiên, hấp, xào, luộc chín… quá sức bậy bạ.
Nhờ thức khuya học bài, tôi biết được giờ giấc sinh hoạt cuối ngày của chị Mộc. Khi thì ngồi bày kim chỉ để may vá chiếc quần bị sút chỉ, khi thì nắn nót chậm rãi viết thư về làng kể lại những ngày tha hương sau khi xin tôi giấy bút và nhờ tôi dò lại, sửa lỗi chính tả. Chị viết thật thà như đang tẳn mẳn trò chuyện, như đang nói. Và thỉnh thoảng lập lại câu: “Con không biết ngoài mình đã yên chưa. Cầu trời…”.
Trời ở xa, trời không nghe. “Ngoài mình” mang tiếng súng đi dần vào thành phố. Mọi người hốt hoảng bỏ chạy, mọi người tập bay để mong gặp đất lành chim đậu. Quýnh quáng sao đó, từ xe đò vô thấu Sài-gòn nhìn lui ngó lại thấy thiếu mặt chị Mộc. Tôi nhớ lại sáng đó, thấy chị nhét cái nịt vú trong túi vải: Đang búi xờm xờm, mặc thứ ni vô thêm tức ngực khó thở. Không biết bây chừ ba mạ tui ra răng? Ngực chị rung động sồi trụt sau làn vải mỏng. Và tôi đã lập lại lời chị: Không biết bây chừ Mộc của tui ra răng?

2.
Tôi dành dụm được một số tiền sau nhiều năm cày bừa trên cánh đồng mới. Ba mẹ tôi mất đã tám năm, mất trong đói kém và chẳng còn ai thân thuộc bên mình. Thiên tai bão lụt cũng như đề án thu hoạch đất đai bên đó làm tôi lo ngại đến sự an nguy của mộ phần song thân. Tôi có lý do chính đáng để đi Việt Nam, nơi mà khi leo lên ghe trốn chui ra biển lớn tôi đã quay đầu thốt lên hai chữ vĩnh biệt. Đâu còn gì mà mong ngày trở lại hở em?
Tôi đứng trước căn nhà cũ, nhìn không ra vì giờ này họ đập phá, nới rộng, nâng cấp để biến thành một cơ quan gì đấy treo đầy băng-rôn biểu ngữ cờ quạt toàn sắc đỏ. Có một cậu thanh niên bảo vệ từ trong chòi canh ra xua đuổi tôi đi, làm như tôi là thành viên trong tổ chức có mưu toan cài bom, khủng bố. Tôi bắt xe ôm đi dọ hỏi mất ngày trời mới tìm ra hai nấm mộ xiêu vẹo quá đỗi tang thương. Với tám trăm đô la, người ta hứa sẽ chỉnh trang, đắp xi-măng dựng bia trông sao cho “hoành tráng”. Tôi rất chán ngán, làm ơn đừng nói hoành tráng, có được không? Chuyện nhỏ. Người ấy nhún vai. Lạ, Việt kiều mà lại chẳng ưa hoành tráng! Trao một nửa cho chúng tôi mua vật liệu, khoảng tuần sau thì hoàn thành mọi công đoạn, chỉnh chu đâu ra đó. An tâm đi nhớ, sẽ có người lo sắm sửa nhang đèn vàng bạc các thứ linh tinh, bảy ngày sau, đúng hẹn, khi ấy bác hẳn trao nửa số tiền còn lại.
Cái ông đen đúa đứng ra lo việc lớn tuổi cỡ chú tôi, vậy mà luôn mồm kêu tôi bằng bác, xã giao kiểu gì ngó gay cấn thật. Bác thích sắm gì cho người khuất mặt nào? Xe hơi BMW đời mới hay đốt xuống hai cái di động iPhone 10? Người ở cõi âm giờ nầy rất chảnh. (Bác) giả bộ la to: Đã bảo đừng hoành tráng cơ mà, thiết thực hơn cả là nhờ quý vị liệu làm giúp cho một mâm cơm. (Cháu) hô: Chuyện nhỏ, ở đây bác là thượng đế, muốn sai bảo gì thì cứ mạnh miệng để mai sau khỏi hối tiếc.
Không biết cách tiêu hoang thời gian. Bảy ngày thì quá dài, phố thị giờ này lại quá xô bồ hỗn tạp, ngồi uống cà phê ngay góc đường lắm bụi nhấm nháp bột Trung Nguyên pha tạp nồng mùi, tôi quyết định thử tìm về thăm làng nội một lần cho biết rường cột cội nguồn. May mà họ chưa thay tên làng, hỏi thăm liền có người bày đường chỉ lối. Bị chặt chém hay không, tôi chẳng lấy đó làm điều vì qua sông thì phải luỵ đò, mấy thuở một lần, nên xí xoá. Dễ thông cảm, khác với trường hợp là người ta bị chém mà mình lại chảy máu, con tim mình già cỗi dần vì hết còn xúc động, chẳng thấy ra cảnh đáng yêu, thoi thóp cho đến khi gặp phải lãnh cảm.
Làng quê vốn chôn trong dự tưởng của tôi là một thứ gì thật êm ả, lắm sắc xanh, nhiều bóng mát. Đình làng, cây đa, bờ đê, dáng trâu bò, đồng ruộng tuyệt không hiện diện ở đây. Nó là một thị trấn dựng đặt thật nhiều hình khối bê tông cốt tre kích thước chẳng mấy rộng, chỉ vậy thôi. Người ta muốn làm cách mạng tất thảy, thích cái vẻ hào nhoáng diêm dúa bên ngoài, ưa hiện đại hoá mặc dầu người ta chưa thể chế tạo ra một cây đinh sắt. Vậy thì bọn đinh tặc mua đinh từ đâu mà rải xuống đường lắm thế? Đinh Trung quốc hay đinh Thái Lan hay đinh xứ Hàn? Nghề vá lốp xe cuối đường so ra cũng chịu khó tốn kém nhỉ? Ông hành nghề xe ôm mặc sức thoá mạ trên lộ trình ngắn, ông vất tôi xuống trước một nhà nghỉ rồi gọi tôi bằng cậu: Xứ cậu ở có nuôi sống một bọn người chuyên đi làm thủng ruột xe của bà con không? Tôi nói không, làng quê bên ấy êm đềm lắm cơ, thơ mộng lắm kìa. Máy xe vẫn nổ, tiền trao cháo múc đã lâu, vậy mà ổng vưỡn mặn việc láng cháng, dùng dằng quyến luyến chẳng nỡ chia tay: Cậu thích vui vẻ thì nhớ nói, trời tối tôi thồ tới cho cậu một con bò lạc, ngon cơm nhưng giá bèo. Tôi nhăn răng cười, lắc đầu quầy quậy, nuốt xuống bụng câu nói: Cậu đây chưa thấy hứng thú, xéo đi cha nội.
Nhà nghỉ mang tên Hoa Mộc Lan, cách bài trí vẫn chưa thoát ra khỏi luỹ tre làng, hoa hoè hoa sói đậm chất phèn chua nước lợ. Tôi vào, dựa người vào quầy tiếp tân làm thủ tục nhận phòng, chỉ một đêm thôi. Anh thanh niên ngước mắt lên khỏi màn ảnh chiếc máy vi tính: Mấy người ạ? Một. Nom bác như người ở phương xa về, bác có cần hướng dẫn viên dắt đi tham quan những khu vực nổi tiếng ở địa phương không ạ? Họ vừa tu sửa và khánh thành căn hầm nơi từng diễn ra trận giao tranh ác liệt, cấp số ta chỉ một tiểu đội nhưng đã đánh thắng cả tiểu đoàn giặc Mỹ xâm lược… Môn bài nhà nghỉ là Hoa Mộc Lan, vậy gần đây có cánh rừng trồng nhiều kỳ hoa dị thảo không? Ai là người sẽ dắt tôi vào vạch lá tìm sâu? Bác lại khéo đùa.
Tôi lên phòng, nằm ở lầu một. Dường như đã lâu chẳng có ai nhỡ lạc đường vào ngã cái lưng hòng tìm lại sức, mùi gì lưu trú ở mọi góc kẹt dồn tới khi cửa phòng được mở. Mùi cá kho bị khét, mùi mực nướng, hay mùi nước mắm? Không biết, choáng váng nồng, kiểu đặc thù bản sắc dân tộc. Tiếng là làng quê nhưng nó đã vĩnh biệt mùi lúa mạ reo trong gió, mùi đất nồng vừa cày xới. Tôi hơi bị tưởng tượng, cứ ngầy ngật với bao ảo tưởng. Tôi mở toang cánh cửa sổ, đứng nhìn chân mây màu tím đang chìm trôi trong bóng hoàng hôn rút về mảng đen của Trường Sơn chụp vội. Vất ba-lô xuống giường, tìm một bộ áo quần sạch và tôi cần đứng tỉnh người dưới vòi nước lạnh, càng lạnh càng tốt.
Nước chảy yếu, lấy lệ, kiểu vòi kia chưa hỏng hóc có chảy nước. Tôi trì chí đứng tắm, lảm nhảm câu: Đi một ngày đàng học ba sàng dại. Bước ra, lau mình lau mẩy lại lầm bầm: Ai nên khôn mà chả dại một đôi lần. Tự gẫm, tại sao lại “dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”? Tôi loay hoay trong phạm vi chật hẹp chưa định được bước đi sắp tới thì nghe có tiếng gõ cửa. Tiếng động lớn, có thể lôi đầu ai đó thoát khỏi giấc ngủ say. Tôi đang thức nên tôi giật mình, từ khi về lại cố hương tôi mãi bị giật mình, hình như chốn này không dành cho ai mang bệnh yếu tim? Chẳng biết việc đăng ký tạm trú có gì trở ngại, tôi nhẹ nhàng mở cửa ra. Ngoài hành lang dựng đứng một người đàn bà cao ngang vai tôi, mặt mày khó nhìn đoán tuổi tác vì bà trang điểm có hơi mạnh tay, nửa thành thị nửa ruộng đồng. Ngó một đỗi thì hoài nghi in tuồng mình có gặp qua đâu đó, chí ít cũng một lần trong đời.
Chú không nhìn ra chị à? Còn nhớ Mộc không?
Tôi chôn chân. Nếu đúng là chị Mộc thì quá sức hoang đường, ngay cả giọng nói giờ đây cũng đổi thay, nghe khác trước. Ngày đó chị Mộc không thích mặc áo nịt ngực, tôi nhớ lại để vô tình mắt tôi đọng vào vòng một của vị nữ nhân kia. Ôi bể dâu! Ngực chị Mộc hơi bị “hoành tráng”. Xài xú hàng Trung quốc chứ gì nữa, nhô ra, cứng cáp hơn cả nón bảo vệ.
Tuy có hơi ngờ ngợ nhưng linh tính chị thì quả đoán một hai là chú. Thú thiệt là nhà nghỉ có lén bắt ca-mê-ra trong phòng vệ sinh, chị thấy chú đứng tắm cả nửa giờ và chị nóng lòng lên gõ cửa để xác minh là chị chả nhìn lầm người. Quả không sai trật. Ôi, tuy đã là ông Việt kiều mà sao hình tướng trông vẫn thế. Chú có tin vào duyên số không?
Chị Mộc đi vào phòng, tự tay chốt lại cửa. Ôi thôi, cuộc đời nầy thật nghĩ không ra, về cách đi giáp vòng của nó, thứ mà chị Mộc kêu bằng duyên số. Tôi từng vụng dại rình xem chị Mộc khoả thân kỳ cọ da dẻ trơn láng, vuột trôi qua bao sóng gió, giờ đây chị ấy lại vụng trộm nhìn lén thằng Trần Văn Trụi đứng tắm. Ai cho phép nhà nghỉ lắp đặt caméra ở chỗ kín đáo? Với chức phận gì chị Mộc có quyền theo dõi những thước phim “đồi trụy”? Đồng chí này công tác ở bộ Công An chăng?
Chị Mộc ngồi xuống giường, trông lên tôi bằng ánh mắt của người quen nhìn bọn tội phạm. Không, tả vậy thì hơi bị hàm oan cho chị ấy. Chỉ là đọng chút lượng định, chút tò mò, chút đắm đuối chẳng thể biểu tỏ bằng ngôn ngữ. Nghía cho no con mắt mới tâm sự đôi điều:
Gia đình chị có công với cách mạng, trước đây họ đề bạt chị giữ chức chủ tịch hội phụ nữ. Được hai năm chị xin từ chức vì nghĩ chả ăn được cái giải gì lại thêm vở kịch đạo đức gương mẫu làm gương cho chị em ta thì quá khó nhập vai. Vào lòn ra cúi một hồi rốt cuộc con người chị biến đổi như ngày hôm nay.
Chữ biến đổi chị dùng quá chính xác. Làng quê đã hăm he hiện đại hoá. Một người giúp việc lam lũ đã trở thành bà chủ nhà nghỉ. Một đứa học trò bị bứng ra khỏi quê nhà để mang phận làm đứa Việt kiều. Việt kiều chả làm nên công trạng gì ghê gớm cả và Việt kiều hồi hộp này đã bị đánh cướp mất chữ yêu nước. Chị Mộc hối tôi thay áo quần: Mình kiếm cái quán ăn ngồi trao đổi cho cạn tâm tư. Chỗ này bức bối quá, nó chỉ thích hợp cho việc ngủ ngáy. Chú lặn lội về đây để tìm chị, có phải không?
Chị Mộc dắt tôi vào quán KFC chuyên trị gà. Lạ, thịt con gà nội địa ngon dường ấy lại bày đặt chê bai, ưa vọng ngoại, thích xơi gà Tây gà Mỹ ớn tận cổ. Vác mặt lên, xem ta là dân sành điệu. Thằng Tây thằng Mỹ thì ta buộc chúng phải cút về nước, nhưng con gà của chúng thì lại khác, nhớ? Cớ sao chúng không nhập thịt chó vào nước ta nhỉ? Khoái khẩu phải biết. Về quê cũ, chú đừng lo ngại việc gì cả, đã có chị đây. Chị Mộc nói. Tuy không ăn học đến nơi đến chốn nhưng chị là người còn biết tới đạo nghĩa. Có đâu như con Hồng, cũng bỏ làng quê lên thành phố giúp việc cho gia đình người bà con, sau giải phóng nó mặc đồ bộ đội tìm đến gia đình nọ lớn tiếng chửi rủa bọn bóc lột, lời lẽ thô nhám hiểm hóc khiến bà con dòng họ kia phải điêu đứng bỏ chạy lên vùng kinh tế mới. Chị Mộc ngừng nói, nhai cái cánh gà rau ráu. Tôi ngồi rụt cổ, không dám nhìn chị. Tôi đang là con gà nuốt dây thun, nếu muốn, chị Mộc có thể “nhai” tôi bằng trăm ngàn cách. Chị cho hay, lắp caméra trong buồng rất lợi hại, chị thu được lợi nhuận nhờ vào những thước phim đồi trụy. Mình gửi thư đen vào di động, liệu thần hồn mày không trả tiền thì bà tải nó lên mạng cho bà con thưởng lãm khúc lâm ly.
Năm giờ sáng tôi lặng lẽ bắt xe ôm ra bến xe. Hãy để làng nội của tôi nằm yên trong nếp suy nghĩ đầy trừu tượng mà tôi từng cất giữ. Tôi đã vào quốc tịch một đất nước khác. Tôi nên trở về đất nước ấy, dù trong dù đục chốn đó vẫn hơn. Bảy ngày sau, tôi cúi đầu thắp nhang trước mộ phần song thân còn “thơm” mùi xi-măng nơi hai tấm bia dựng đặt không được “hoành tráng”. Tôi chảy nước mắt, những hành lệ lưu lạc mấy mươi năm mới có dịp tuôn đổ xuống vùng đất khô. Thôi con đi, lời vĩnh quyết. Nghe gì đành đoạn tới huyết thống mình.
Hồ Đình Nghiêm
Tháng Tư năm 2019

Rừng khóc giữa mùa Xuân

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

 August 14, 2010    

Post by Sơn râu 24 Aug 2026

Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư ở Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng giá, nhưng lại rất đẹp vào những ngày hè và lãng mạn vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong”Rừng Na-Uy”, cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm cho tôi đau đớn, khốn khổ cả một đời.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường Nữ Trung Học, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo tôi sau những buổi tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh  là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp từ thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạn, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính biệt động quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giày saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa mới trải qua khói lửa Mậu Thân.

Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ những khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.

Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên, Lê Cao Nguyên. Anh về phép thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, và đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một “lỗ tai nhỏ” như ba nó.

Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh trong quân y viện. Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần VC pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau, khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì. Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau.

Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố “đi dăm phút trở về chốn cũ” ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là ” may còn có anh đời còn dễ thương”. Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ!

Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc, một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, chồng tôi hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ, chỉ mang theo những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ.

Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe. Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng giã từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạch, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chũng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là một số đơn vị Biệt Động Quân được chỉ định đi sau, ngăn chận địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một cuộc hành quân triệt thoái.

Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch quá đông và bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh: Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đền gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và rất nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn. Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con sông nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt quá, tôi ngủ vùi một giấc, thức dậy thì trời vừa sáng. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp. Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn bè trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch. Vừa rời đoàn người vài phút thì đạn pháo thi nhau rót xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn. Trong nhóm chúng tôi cũng đã có một số người chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính biệt động một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: “Đạp lên mà đi!” Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa!

Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi. Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trân mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt. Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp. Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung đến cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tội nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh đang tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và không ngờ đó lại là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi. Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối cùng tôi chứng kiến những người lính biệt động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét “Biệt Động Quân Sát” vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác.Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.

Tiếp tục di chuyển chừng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo tât cả chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi bàng hoàng nhìn thấy mấy người lính biệt động quân nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc. Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nữa thì chúng tôi bị một đám khá đông VC chặn lại. Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẳn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát tháo với cái giọng rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn (Sơn Hòa).

Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn. Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc.

Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc. Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà săn sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7.

Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người con vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản, mới được cho vào trại. Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ một sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi được gặp anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người Thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số ngôi mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi , mà cho cả nhà chồng.

Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà. Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.

Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyên vào thân cây.Và lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành một thứ âm thanh não nùng, xé ruột.

Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Tháng 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương và một đứa em trai của tôi được đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước ( chị đã về quê trên vùng Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.

Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây đúng vào giữa mùa Xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.

Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25. Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương, còn có cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình  trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn “cải biên” thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn được mang tên “thị xã”. Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban quân nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thooại.

(núi Hàm Rồng)

Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi  hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xăm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xăm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:

Từ phen chiếc lá lìa rừng

Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây

Rõ ràng hoa rụng hương bay

Kiếp sau họa thấy kiếp này hẳn thôi

Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hơp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với giá rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M’dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới hơn 20 cây số.

Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm.

Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc của người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là một anh đàn ông Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi.. Khi anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi , bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo.Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sóng mũi cao, nhưng  khuôn mặt cháy nắng, mái tóc màu nâu sậm như màu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi kịp nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba nó, tôi cúi xuống để nhìn  kỹ vào tai anh người Thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra rồi nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi bảo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước. Tôi kéo chị ra xa, nói vào tai chị:

–  Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?

Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:

– Thằng Nguyên? Chẳng lẽ là thằng cu Nguyên?

Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:

– Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?

Anh người Thượng lắc đầu:

– Tao là thằng Ksor Tlang,

Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nữa, rồi buột miệng:

   – Mày bắt cái con gà nhiều tiền quá!

Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người tai mắt ở đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút, hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ.

Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi với anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.

– Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?

– Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H’lum, mẹ tôi tên H’Nu.

– Có anh em không?

– Không.

– Anh có nhớ ngày sinh không?

– Không

(Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ tìm khai sinh sau)

– Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?

– Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.

– Cái sẹo trên cánh tay trái , anh biết vì sao mà có cái sẹo này không?

(Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)

– Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.

Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi :

– Cha mẹ anh đang ở đâu?

– Buôn Ban Ma Dek.

(Gã công an nhìn tôi, bảo Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)

– Anh ở chung với cha mẹ anh?

– Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.

– Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.

Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo là chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi hộ chúng tôi bảy cái xe ôm.

Cha mẹ của anh bán gà đã khá già, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của gã công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.

Ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực:

– Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lếch vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé. Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.

     – Rồi xác người lính ấy ở đâu? Tôi hỏi.

Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:  

    – Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.

Chúng tôi theo hai người công an dìu ông già đi về phía khu rừng.

Tôi khóc ngất khi nhìn thấy nấm mồ thấp lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng quỳ xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.

Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông già mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksor Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà già, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp tiền bạc cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông già một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể sống xa rừng cũng như loài cá không thể sống mà không có nước.

Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi dự định xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng trong nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao nhiêu đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảng phất ở quanh đây.Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi cùng hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.

Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó. Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền  200 đô la. Bằng đúng số tiền mà tôi đã trả công cho hai gã công an!

Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều , tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó quỳ bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe.  Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình.Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày chỉ vừa lên bốn tuổi.

Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theoTỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng cả bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?

phạm tín an ninh

(phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ)

Đại uý Andrew Dang (gốc Việt), Phi công Oanh tạc cơ chiến lược B-2 Spirit Không quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Thiếu tá.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 22, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 24 Aug 2026

Đại uý Andrew Dang và chị, Vivian Dang trong buổi lễ tốt nghiệp mang cánh bay phi công ngày 30 tháng 9 năm 2017 (Ảnh khi còn mang cấp Trung uý* của David Poe, Không quân Hoa Kỳ)

Đại uý Andrew Dang vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá năm 2026, danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Quốc Hội và Uỷ ban quân vụ Thượng viện nhận được ngày 19 tháng 5 năm 2025. Cùng đợt đề cử thăng cấp Thiếu tá năm nay còn có 17 Đại uý Không quân gốc Việt khác được ghi nhận**: MINH K. QUAN; ALEC L. DINH; PHILLIP Q. NGUYEN; THINH Q. TRAN; HIEP M. DU; ANH T. LE; ANDY NGUYEN; HIEU A. PHAM; NATHANIEL V. LE; TONEY DOAN; VI N. DOAN; TIFFANY M. PHAN; VIET A. TRAN; JEREMY T. DAO; PETER S. VO; AI MI O. NGUYEN; DANIEL D. NGUYEN. Sau khi được Uỷ ban quân vụ xác nhận bầu chọn, 18 Đại uý gốc Việt được đề cử sẽ chính thức thăng cấp Thiếu tá.

Minh hoạ các nguồn tin: Đại uý Andrew Dang, Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit. các nguồn tin.

Đại uý Andrew Dang gia nhập Không quân Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Không quân trừ bị tại Trường Đại học UCLAUCLA và tốt nghiệp với Văn bằng Cử nhân nghệ thuật Triết học năm 2015 mang cấp bậc Thiếu uý. Ông được chọn thụ huấn khoá Phi công 15-17 và tốt nhiệp mang cánh bay vào tháng 9 năm 2017.Đại uý Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit, hiện đang phục vụ tại Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 (393rd Expeditionary Bomb Squadron) thuộc Không đoàn phi cơ oanh tạc 509 (509th Bomb Wing) tại căn cứ Không quân Whiteman Air Force Base. Ông nguyên là Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress của Phi đoàn oanh tạc cơ 23 (23rd Bomb Squadron) trước khi chuyển sang Phi đoàn 393 bay phi cơ B-2 Spirit.

Phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit của Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 tiếp nhận nhiên liệu tại căn cứ Không quân Offutt (ảnh của Thượng sĩ Kenneth W. Norman).

Phi đoàn 393 hiện là Phi đoàn phi cơ oanh tạc tầm xa B-2 Spirit hàng đầu của Không quân Hoa Kỳ. Phi đoàn cung cấp khả năng chiến đấu trên toàn thế giới với lực lượng gồm 20 phi cơ B-2, Phi công và Quân nhân tác chiến để yễm trợ các nhiệm vụ hạt nhân và quy ước của Bộ tham mưu Liên quân Hoa Kỳ. Phi đoàn 393 hoạt động bao gồm các lãnh vực như tình báo, thời tiết, truyền tin và nhiều lãnh vực khác. Các lãnh vực này phối hợp chặt chẽ với nhau để bảo đảm các nhu cầu về giao tiếp, chiến lược và tác chiến đáp ứng cho Phi đoàn 393 khi hoạt động với các Đồng minh Khối NATO khắp Châu Âu. Sau ba mươi năm lần đầu tiên phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit xuất hiện tại căn cứ Không quân Whiteman, các phi công đã duy trì hoạt động của phi cơ B-2 tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động toàn cầu, chứng minh phi cơ oanh tạc chiến lược này thật sự Lực lượng viễn chinh hoàn thành khả năng răn đe chiến lược, bất cứ thời gian nào và bất cứ nơi đâu!

Đại uý Andrew Dang được thăng cấp Thiếu uý năm 2015, Trung uý năm 2017, Đại uý năm 2020, đề cử thăng cấp Thiếu tá tháng 5 năm 2025.

Minh hoạ của Air Force global Strike Command năm 2020: Đại uý Andrew Dang, Phi công pháo đài bay chiến lược B-52H, thuộc Phi đoàn oanh tạc 23.

Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt bay các loại phi cơ oanh tạc chiến lược ngoài Đại uý Andrew Dang bay loại phi cơ B-2 Spirit và B-52 Stratofortress còn có Đại uý Bui Duc Phuong, Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress thuộc Phi đoàn oanh tạc cơ 11 (11th Bomb Squadron); Thiếu tướng John R. Edwards, đã bay loại phi cơ oanh tạc chiến lược B-1 lancer và pháo đài bay B-52 Stratofortress; Đại uý Nguyen Anh Vu, Phi công bay loại oanh tạc cơ chiến lược B-1 lancer thuộc Phi đoàn 9 phi cơ oanh tạc viễn chinh (9th Expeditionary Bomb Squadron) đã giải ngũ, nay là Phi công chính của Hảng hàng không Delta Airline.

Nam, Nữ Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp bậc Thiếu tá phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân có thể hơn 120 vị, không tính những vị đã hồi hưu.

Chúc Tân Thiếu tá Andrew Dang thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo thời gian mang mang cấp Trung uý; **Có một số Đại uý mang họ giống họ Việt Nam, nhưng chưa xác nhân được họ gốc Việt, Hoa, Hàn hay các các nguồn gốc Á châu khác.

Nguồn: congress.gov; afgsc.af.mil; airforcetimes.com; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt.

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 24 Aug 2026

Nói tục, chửi thề có sướng không? Không khoái lỗ miệng thì người ta đã không nói. Bỗng dưng một hôm, gặp một thằng bạn nối khố bốn mươi, năm mươi năm về trước, mừng quá không dần được tấm lòng hoan hỷ, đã kêu lên:

“Tổ cha mi, tau tưởng mi chết mô mất đất rồi!”

Tiếng chửi không có gì là tục tần mà còn mang chút âu yếm chỉ dành cho những người và những gì thân ái nhất. Không tin, bạn có quen biết thì cứ hỏi các cô nữ sinh Đồng Khánh ngày nào, gặp gỡ nhau là cứ ríu ra ríu rít, “mệ nội, tổ cha” lia chia mà không thấy gì trong đó là có chút vô giáo dục.

Cũng có những tiếng chửi thề “vô ý thức”, người nói luôn luôn dùng xen kẽ trong câu nói và trở thành một thói quen không bỏ được, tiếng chửi tục chen vào không có liên quan hay tỏ một thái độ gì với câu chuyện, có thể nghe trong bàn nhậu ngoài quán: “Hôm qua tao đi Las Vegas về (đ.má) đóng tiền điện mất toi gần $500, lại bị kẹt xe (đ.má), sáng nay nhức đầu quá, dậy không nổi (đ.má) … Cũng có tiếng chửi thề khi nóng giận hay “xì nẹc” về một việc gì không vừa ý: “Đ. mẹ, cái quân lừa thầy, phản bạn!” Những tiếng chửi thề này, người Việt Nam mình gọi là “xổ tiếng …Đức”, hay rõ hơn là “tiếng Đan Mạch”. Thật là oan cho hai ngôn ngữ này.

Khi người ta uất ức, giận dữ không kềm được, nói tục hay chửi thề một “phát” để bày tỏ phẫn nộ. Trong ca dao tục ngữ không nghe tiếng chửi tục, nhưng chúng ta có thể tìm thấy nó trong văn chương:

“Ba hồi trống giục, mồ cha kiếp

Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời!” (Cao Bá Quát)

Trần Dần, một nhà văn miền Bắc nổi tiếng trong nhóm Nhân Văn bị trù dập, đã có lần viết: “Và đa số là ngại học tập, ngại nghe đả thông. Ngại nghe cán bộ nói nhiều. Ngại bị nắm tư tưởng. Nắm … nắm con cặc” (Trần Dần ghi 1954- 1960 – Văn Nghệ xb.2000). Đúng là văn chương phản kháng bằng … chửi tục. Chửi ai, ngoài kẻ đáng chửi nhất là … đảng. Chúng ta đừng nên coi thường và đánh giá thấp những tiếng chửi thề, vì các khoa học gia đã khám phá ra rằng chửi thề là một cách giải tỏa những căng thẳng, ẩn ức để tâm lý con người được quân bình hơn. Timothy B. Jay, giáo sư tâm lý học người Hoa kỳ, tác giả một cuốn sách mới xuất bản với cái tên lạ lùng “Tại Sao Chúng Ta Chửi Thề” cho rằng đó là một cách duy nhất để giải tỏa những nỗi ẩn ức trong lòng, như người bệnh chửi thề cho đỡ những cơn đau đớn, các nhà thể thao trên sân đấu đôi khi chửi thề để ngụy biện cho một bàn thua. Theo tác giả cuốn sách này, chính sự chửi thề có giá trị để tránh được các cuộc xung đột bằng vũ lực, bằng đấm đá, cấu xé nhau như ở loài vật, vì chúng không thể hiện giận dữ bằng ngôn ngữ được. Tuy vậy người ta vẫn thường đánh giá thấp việc chửi thề và coi như những người thiếu văn hóa mới xử dụng nó. Đàn ông lại hay xử dụng chửi thề hơn đàn bà và giới trẻ ngày nay cũng tham gia … chửi thề không kém.

Vậy phải chăng, nói tục, chửi thề ngoài thói quen không được kiểm soát ra, là một thái độ để giải toả những gì đã dồn nén lên con người: cơm áo, công ăn việc làm, đời sống … Miền Bắc ngày trước, mọi lời ăn tiếng nói, hành động đều bị theo dõi, kiểm soát, hay những bất mãn sau, này phải bung ra bằng ngôn ngữ. Những ẩn ức không gì giải quyết được, chỉ có nói tục, chửi thề mới hả dạ phần nào.

Sau tháng 4-1975, tại miền Nam, trong ngành giáo dục, các thầy cô giáo mới thấy rõ ưu điểm của học sinh mình mà lâu nay họ không để ý tới, là học sinh miền Nam lễ phép, thật thà và không nói tục, chửi thề như học sinh miền Bắc mới theo cha mẹ vào tiếp thu miền Nam. Phải lâu lắm lớp trẻ con này mới xóa bỏ được cái thói quen ấy và bắt chước được trẻ con miền Nam.

Ở miền Bắc, các bạn tù cải tạo có dịp đi sâu vào thôn xóm làng mạc xa xuôi đã chứng kiến nhiều thứ “văn hóa”viết vẽ lên tường nhà trường, hợp tác xã của con cháu bác Hồ, và “văn hóa” nói tục của phụ nữ miền Bắc, nhất là thành phần lính tráng, công an, cán bộ “gái”. Thôi thì thời chiến tranh, cha mẹ lo đi nghĩa vụ quốc gia, quốc tế, gởi con vào nhà trẻ cho các bà giữ trẻ, đồng lương ít ỏi, bất mãn, chanh chua, chửi tục, giáo dục con cái mình thành những thứ tinh hoa “xã hội chủ nghĩa” thì cũng đành chấp nhận. Nhà trẻ là những chiếc nôi của tuổi đời cũng như của giáo dục, thế mà các cán bộ nhà trẻ lại là những người lương ít ỏi, không thân thế, luẩn quẩn trong bốn bức tường chật hẹp, bao nhiêu bực dọc, bất mãn được đổ lên đầu con trẻ với những câu chửi rủa tục tần. Lớn lên trong môi trường nói tục, vẽ tục, viết tục, thứ người được trồng lên trên mảnh đất ấy, không khá lên với lời ăn tiếng nói được. Vụ ông Giám Đốc Air Việt Nam trong lần được phóng viên Đài BBC phỏng vấn cách đây không lâu, tuy chưa phát ra tiếng chửi thề, nhưng lối ăn nói như thế cũng được người ta đánh giá là thiếu … “văn hóa”. Xin kể hầu quí bạn đọc câu chuyện sau đây, sáng tác của quần chúng vô danh, tiêu biểu kiểu ăn nói “bạt mạng”, nhân vật “tôi” cũng như sự việc trong chuyện đều “hư cấu”:

“Trong một dịp về Việt Nam, tôi đã đến thăm một người bạn cũ hiện nay là một cô giáo dạy văn tại một trường cấp 3 tại Hà Nội. Đối với một người ở nước ngoài về như tôi, đi tìm nhà một người quen trong thành phố này quả là khó khăn. Vào một con hẻm, tôi gặp một ông cụ đi ngược chiều, tôi lễ phép hỏi thăm nhà cô giáo Xuân, ông cụ nghễnh ngãng nghe tôi nhắc lại câu hỏi hai ba lần, ông lấy tay nghiêng một bên tai và lắc đầu trả lời tôi: “Tôi … đéo nghe ông nói gì cả!” Tôi không buồn, đi tiếp và hỏi hai đứa trẻ đang mải chơi bên đường, chúng trả lời thẳng thừng, chẳng cần nhìn tới khách hỏi là ai: “Đéo … biết”. Cuối cùng tôi tìm ra nhà cô giáo. Sau khi thăm hỏi, trò chuyện, tôi trách cô về lối ăn nói, tự nhiên, sỗ sàng … “đéo” có văn hóa ở khu xóm cô và hỏi cô đã nghĩ gì trong khi cô là một nhà … trồng người. Cô tâm sự: “Tôi đã cố bết sức tôi, nhưng học sinh …đéo nghe, nên cũng đành bó tay. Tôi kể anh nghe một chuyện, có lần, trong một bài học về dũng sĩ diệt Mỹ, tôi hỏi một học sinh định nghĩa về hai chữ “dũng sĩ”, em trả lời ngon ơ rằng “dũng sĩ là … đéo sợ”! Trong một cuộc họp với một Thứ Trưởng về định hướng giáo dục XHCN, tôi đã đem vấn đề này than phiền với cấp trên. Hôm ấy, trước mấy trăm giáo chức có mặt trong phòng hội, ông Thứ Trưởng đã nói rằng:

– Cô vừa nói học sinh cô định nghĩa về dũng sĩ, nếu chúng nói như vậy thì cũng … đéo sai. Tuy nhiên đây là vấn đề khá trăn trở với tôi, nhưng nhiều khi mình cũng … đéo biết giải quyết ra sao! Giáo dục thì. .. đéo có ngân khoản, trong khi tiền cho khách sạn, sân golf thì … đéo thiếu. Chính sách … đéo nghĩ đến tương lai con em, chúng ta là cấp thừa hành, … đéo nghĩ làm gì cho nhọc xác. Tôi rất buồn và kết luận với cô giáo một câu rất ư là “cá mè một lứa”: “Tương lai đất nước như thế này thì … đéo khá cô ạ!”

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 23 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Ðầu tháng Tư, 30 phi công trong nhóm chúng tôi, thuộc Không đoàn Ðài Nam, được thuyên chuyển đến một căn cứ mới vừa đánh chiếm ở Lae, nằm trên bờ biển phía Ðông New Guinea, chỉ cách quân cảng Úc Port Moresby 300 cây số. Ðại tá Masahisa Saito trách nhiệm căn cứ mới này.

Vào ngày 8 tháng 4-1942, với 8 phi công khác, tôi bay đến Lae. Khi bay quần trên phi trường, tôi không nhìn thấy đâu là nhà chứa phi cơ, cơ xưởng bảo trì, đài kiểm soát. Tất cả chỉ là một đường băng nhỏ bé, dơ bẩn, và giống như sàn đáp trên một chiếc hàng không mẫu hạm. Ba mặt của phi đạo bao quanh bởi dãy núi chớn chở của bán đảo Papua. Mặt thứ tư, tức mặt tôi đang tiến đến, là đại dương bao la. Hai mươi mốt phi công khác đã đến đây trước, đứng chờ chúng tôi ở cuối phi đạo. Honda và Yonekawa, hai đồng đội bên cánh của tôi ở mặt trận Java, đón tiếp nồng hậu: “Chào mừng anh đến Lae! Sakai! Căn cứ lộng lẫy nhất thế giới vui sướng tiếp nhận các anh!” Tôi nhìn cả hai, hồ nghi. Theo thói quen, họ bỡn cợt thích thú. Tôi thán phục óc hài hước của họ trong ổ chuột đầy bùn ở chốn tận cùng thế giới này. Phi đạo dài chưa đến 900 thước, chạy từ góc phải của sườn núi xuống tận mé biển. Ngay cạnh bãi biển là một phân xưởng sửa chữa nhỏ, lỗ chỗ đạn và đầy mảnh bom. Ba vận tải cơ Úc nằm bừa bãi bên trong, và dụng cụ bị phá hủy rải rác khắp nơi. Ðây là vết tích do phi cơ chúng tôi gây ra trong cuộc đổ bộ một tháng trước đây. Phi trường Lae được Úc thiết lập sát núi để không vận đồ tiếp tế và quặng vàng lấy được ở mỏ Kokoda, nằm sâu bên trong dãy Owen-Stanley. Vì không cách chi vào đến mỏ bằng đường bộ, do phải băng qua rừng núi ẩm thấp với nhiều vực sâu. Máy bay là phương tiện duy nhứt giúp tải vàng ra.

Hải cảng ở đây cũng hoang tàn không kém sân bay. Một chiếc tàu buôn 500 tấn của Úc nằm gí trong bùn, gần cầu tàu, chỉ có cột buồm ló lên khỏi mặt nước đặc sệt đục lờ lợ. Tôi nhận thấy phi trường Lae còn tồi tệ hơn phi trường Rabaul hoặc ngay cả những phi trường tiền phương ở Trung Hoa. Tuy nhiên không có gì có thể cầm nỗi vui sướng của Trung sĩ Honda. “Tin đi, Saburo! Anh đang ở vùng đất săn tuyệt vời nhất trên trái đất! Ðừng chú ý đến rừng rậm và dáng dấp sơ sài của căn cứ. Tôi nói thực, không nơi nào bằng chốn này, giúp chúng ta ghi thêm bàn thắng vì máy bay địch ở đây rất đông!”

Honda cười tươi rói. Hắn nói với giọng nghiêm trang không đùa bỡn. Honda hài lòng thực sự, hắn kể lại các hoạt động của những ngày trước khi chúng tôi đến. Vào ngày 5 tháng 4-1942, 4 chiếc Zéro cất cánh từ Lae, hộ tống 7 oanh tạc cơ Betty tấn công quân cảng Moresby và bắn rơi 2 chiến đấu cơ địch. Ðổi lại, một chiếc Zéro bị mất. Vào ngày kế đó, cùng một số Zéro đó cất cánh, nhưng lần này bắn rơi đến 5 phi cơ địch. Ngày hôm sau, 7 tháng 4, hai chiếc Zéro nghinh chiến 3 oanh tạc cơ địch trên không phận Salamaua và rượt theo bắn rơi hai chiếc. Các xạ thủ địch hạ một chiếc Zéro của chúng tôi. Quả là hào hứng!

Ðối với Honda, phi vụ là quan trọng nhứt trong cuộc sống. Kể cả phải sống trong hang chuột, miễn sao có thể bay và bắn. Chiều hôm đó, chúng tôi tập họp trong Bộ chỉ huy Phi đoàn để nghe thuyết trình. Tôi sử dụng mấy tiếng “Bộ chỉ huy” có vẻ hơi lớn lối để chỉ một căn nhà không có vách tường. Vách, màn che và mấy cánh cửa đều bằng chiếu. Căn phòng chỉ vừa đủ để nhét 30 phi công, chính giữa là chiếc bàn to lớn, đơn sơ, làm bằng cây thông. Vài cây đèn cầy và một cây đèn dầu soi sáng căn phòng. Ðiện thoại chạy bằng pin.

Sau khi nghe Ðại tá Saito thuyết trình, chúng tôi về chỗ ở. Trên đường đi, Trung sĩ Yonekawa chỉ cho tôi những cơ sở của căn cứ. Có tổng cộng 3 chiếc xe hơi, 1 chiếc Ford rỉ sét, 1 xe vận tải cũ nát và 1 xe bồn chứa xăng… Ba món đồ cổ ấy là tất cả phương tiện “nặng” của Lae. Không có lấy một nhà chứa máy bay. Cũng không có đài kiểm soát không lưu. Nỗi thất vọng sâu xa của tôi không hề làm giảm nét mặt rạng rỡ của Honda và Yonekawa. Honda vác túi ba-lô cho tôi, vừa đi vừa hát, trong lúc Yonekawa tiếp tục giảng giải: Có hai trăm thủy binh đảm trách các vị trí phòng không tọa lạc phía bên kia phi đạo. Ðó là lực lượng trú phòng cho cả nơi này, cộng thêm 200 cơ khí viên với nhân viên bảo trì và 30 phi công.

Trong suốt thời gian chúng tôi ở đây và cho đến khi Lae bị Ðồng Minh tái chiếm vào năm 1943, không một dự tính nào nhằm cải thiện tiện nghi cho chúng tôi, và cũng không có lực lượng tăng viện nào khác được đưa đến. Chỗ ở của chúng tôi và sĩ quan không khác gì nhau. Chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và một phụ tá ở chung trong một căn nhà nhỏ nối liền với cư xá sĩ quan. Trong khi căn cứ Rabaul mướn một số dân địa phương làm tạp dịch, ở căn cứ Lae không có chuyện này. Làng gần nhứt cách đây hai dặm. Không thể bắt dân làng phơi lưng dưới họng súng của phi cơ địch đến tấn công hầu như mỗi ngày.

23 hạ sĩ quan phi công cư trú trong một doanh trại rộng 6 thước và dài 10 thước. Chính giữa là một mặt phản lớn dùng làm bàn tiện ích cho mọi chuyện, từ cơm nước cho đến đọc sách và viết thơ. Chung quanh là những dãy giường từng chồng chất. Vài ngọn bạch lạp cho ánh sáng leo lét vào ban đêm. Tòa nhà xây cất theo kiểu nhà sàn nhiệt đới với sàn gỗ cao 1 thước rưỡi trên mặt đất ẩm ướt. Một cầu thang lung lay để leo lên. Phía sau là bồn trữ nước. Chúng tôi cấp tốc cưa một phuy xăng rỗng để làm buồng tắm. Như thế, ít nhất chúng tôi cũng cần kiệm theo đúng cung cách tiết chế truyền thống của quốc gia. Các hộp sắt đựng xăng trong cánh máy bay cũng giúp chúng tôi tân tạo thành tô chén và nồi niêu dã chiến. Chúng tôi hoàn toàn thiếu mọi vật dụng.

Một tà lọt phụ trách hỏa đầu quân. Một nhiệm vụ khó khăn vì phải chuẩn bị 70 suất ăn cho ba buổi sáng, trưa, chiều vào mỗi ngày. Chuyện giặt giũ thì mỗi người tự lo lấy. Cho đến những tuần lễ chót cùng khi chúng tôi ở Lae, ngay cả với cường độ không chiến khốc liệt, tất cả các phi công đều tâm niệm giặt quần áo và đồ lót của mình hàng ngày. Chúng tôi chấp nhận sinh sống dưới đáy phuy hèn mọn nhưng không ai muốn mình trở nên cáu bẩn.

Cạnh dãy phụ tùng tái chế, chúng tôi đào một hầm trú bom. Mỗi khi máy bay địch xuất hiện bất thình lình, căn hầm khiêm nhường ấy vụt chen chúc đủ hạng người chạy vội vàng từ khắp nơi, từ nhà ngủ, nhà tắm, thậm chí nhà xí để chui xuống trú ẩn!

Doanh trại chúng tôi nằm cách phi đạo 500 thước về phía Ðông và để ra sân bay, chúng tôi phải cuốc bộ hoặc chạy khi khẩn cấp. Chỉ có các phi công được chỉ định trực chiến, phải cất cánh tức thời khi có báo động là có xe đưa rước. Là chiếc Ford cũ mèm có ống pô bể kêu inh ỏi!

Cư xá sĩ quan nằm phía Ðông Bắc sân bay, cùng khoảng cách và cùng một kiểu nhà sàn không khác mấy với doanh trại chúng tôi. Tiện nghi duy nhất, so với phía hạ sĩ quan, là cấp số sĩ quan không quá mười người nên rộng rãi hơn. Riêng chỉ huy trưởng căn cứ, chỉ huy phó và trưởng ban quân thư thì trú trong một căn nhỏ sát bên cư xá sĩ quan.

Ðó là căn cứ Lae, tiền đồn của Hải quân Hoàng gia Nhựt. Ðiều kiện sống không có gì mỹ mãn. Thức ăn tồi tệ, công việc hàng ngày nặng nhọc và đơn điệu. Chúng tôi không có câu lạc bộ quân đội, không có bất cứ một giải trí nào khác. Ðàn bà? Ở Lae, mọi người đều hỏi: “Ðàn bà là sinh vật ra sao?”

Tuy nhiên, tinh thần của chúng tôi rất cao. Chắc chắn chúng tôi thiếu tiện nghi và vật chất, ngay cả một số tiện nghi thiết yếu nhứt, trong đời sống hàng ngày, nhưng chúng tôi không lấy đó làm phàn nàn. Chúng tôi không có một đòi hỏi riêng tư nào ngoài đòi hỏi được chiến đấu. Phi công ở Lae không giống như phi công ở những căn cứ khác. Mỗi chúng tôi đều là thành phần chọn lọc của Không lực Hải quân. Các sĩ quan của chúng tôi cũng được chọn trong số những người “chỉ thích ấn tay vào cò súng” trên một chiếc Zéro.

Vào ngày 11 tháng 4, tôi va chạm trở lại với thực tế chiến trường. Một ngày may mắn, vì tôi hạ 2 máy bay địch trong cùng một ngày. Sau gần hai tháng bắt buộc nằm lì trên mặt đất, được bay trở lại làm tôi phấn kích. Ngày hôm trước, 10 tháng 4, tôi không được sắp xếp ứng chiến nên phải ở lại mặt đất trong khi những phi công khác vui hưởng một ngày chiến đấu. Sáu chiếc Zéro hộ tống bảy oanh tạc cơ Betty bay đến Moresby, đã bắn rơi hai oanh tạc cơ địch đang cố cất cánh để rời phi trường ở đó. Cùng ngày, ba chiếc Zéro khác cũng trực chỉ Salamaua và bắn rơi một oanh tạc cơ địch, cùng gây hư hại cho nhiều chiếc khác.

Phi vụ của tôi vào ngày 11 là một phi vụ thám thính. Cùng với 8 chiến đấu cơ Zéro khác mới vừa đến Lae, chúng tôi cất cánh và bay thành nhóm theo đội hình chữ V hướng về Port Moresby. Sau đó, dãy núi Owen-Stanley sừng sững trước mặt chúng tôi, cao hơn mặt biển 4,000 thước. Mặc dù dãy núi cao chớn chở như vậy, trên đỉnh không có một đám mây nào vướng vất, và dốc thẳng đứng giống như những bức tường vĩ đại mọc đầy cây cối. Không một vết tuyết.

Bay cao độ 5,000 thước, chúng tôi vượt ngang qua đỉnh núi và lập tức bước vào một thế giới mới: thế giới của địch quân. Không một chiếc tàu nào neo trên mặt đại dương xanh sẫm của biển San Hô. Nước biển nhìn như một mặt bàn đá cẩm thạch dài ra đến tận chân trời. Sườn núi ít thẳng đứng hơn phía chúng tôi đến. Ngoại trừ khác biệt ấy, thiên nhiên không khác lắm.

Bốn mươi phút sau khi cất cánh từ Lae, căn cứ Moresby đã nằm phía dưới chúng tôi. Tôi có thể nhìn thấy nhiều phi cơ đủ loại trên mặt đất. Nhân viên địch chạy tán loạn vào các hầm trú ẩn. Súng phòng không im tiếng vì dĩ nhiên chúng tôi bay quá tầm hoả lực cao xạ của đối phương. Chúng tôi có thể đạt được kết quả nếu tấn công ngay vào các phi cơ đậu trên mặt đất. Nhưng theo chỉ thị, đây chỉ là một phi vụ thám thính, ngoại trừ không chiến chúng tôi không được phép tấn kích.

Chúng tôi lướt qua Moresby và vòng ra biển San Hô sau đó quay lại lối cũ một lần nữa, lướt ngang qua căn cứ địch. Chúng tôi ngạc nhiên khi nhận thấy hình như các xạ thủ cao xạ và phi công địch không hay biết có sự hiện diện của chúng tôi, nên họ không đưa ra một kháng cự nào.

Chúng tôi lướt qua phi trường. Lần này mặt trời ập đến từ phía sau lưng. Lúc bay thật chậm, chúng tôi phát hiện bốn chiến đấu cơ P39, loại Airacobra mà tôi gặp lần đầu tiên. Bốn phi cơ này hầu như bay cách ngay phía trước chúng tôi 3 dặm, và đang tiến thẳng đến, nhưng chúng tôi không hiểu có bị phát hiện hay chưa. Tôi quăng bình xăng phụ và tăng gia tốc, với hai đồng đội bay sát cánh. Tôi lướt dọc theo phi cơ chỉ huy, báo hiệu cho Ðại úy Sasai biết sự phát hiện địch của mình và yêu cầu che cho chúng tôi tấn công. Ông nắm tay đưa về phía trước. “Tiến! Chúng tôi sẽ che cho anh.” Tuy nhiên chưa thấy động tĩnh của mấy chiếc Airacobra. May mắn cho chúng tôi, lúc ấy mặt trời chiếu thẳng vô phi cơ địch nên các phi công Mỹ không nhìn thấy chúng tôi bay đến. Phi cơ địch chia làm hai cặp, bay trước và bay sau, cách khoảng 300 thước.

Tôi để Honda bay phía sau và trên tôi, trong khi Yonekawa ít kinh nghiệm hơn bay ngay phía dưới tôi. Bây giờ, chúng tôi chỉ còn cách phi cơ địch 500 thước, chếch về bên trái một chút. Chúng tôi sẵn sàng đánh trong vài giây nữa. Nếu phi công địch vẫn bị mặt trời làm cho mù loà, chúng tôi có thể hạ gục họ trước khi họ kịp nhận ra chúng tôi. Thay vì tiến sát lại và chúi xuống để tấn công, chúng tôi hạ thấp rồi xoay trở lại thật ngặt. Honda và Yonekawa theo sát tôi bên cánh.

Hai chiến đấu cơ địch bay sau chót bây giờ ở ngay trên đầu tôi, vẫn không biết có sự hiện diện của chúng tôi. Tôi nâng khoảng cách gần lại, rồi còn chừng 50 thước, tôi nghiêng thân và bấm cò đại bác, quy tất cả hoả lực vào thân phi cơ địch. Những mảnh kim khí vỡ ra, bể tan và bay túa trên không, một dòng khói và lửa kéo thành vệt dài về phía sau.

Tôi quay các họng súng về phía chiếc P39 thứ nhì. Một lần nữa, những viên đạn soi thủng thân phi cơ, nổ bên trong và xé chiếc phi cơ thành từng mảnh. Cả hai chiếc P39 cùng rớt thẳng đứng, ngay tràng đạn đầu.

Tôi lướt ra ngoài và xoay ngay lại, chuẩn bị khai hoả trực tiếp vào hai chiếc P39 dẫn đầu. Nhưng trận đánh đã kết thúc! Cả hai chiếc P39 còn lại lảo đảo chúi xuống mặt đất, kéo dài hai vệt lửa với khói dày đặc. Phi tuần Zéro theo sau tôi đã mau tay hơn tôi tưởng. Tôi nhìn thấy chiếc Zéro của Hiroyoshi Nishizawa đang lấy đà vượt lên. Chiếc Zéro  thứ hai hạ đối thủ với chỉ một viên đại bác, do Toshio Ota lái, vừa lấy lại thăng bằng sau khi lướt thẳng lên để trở lại đội hình như cũ. Nhanh nhẹn và khéo léo.

Không ngờ trận đánh chấm dứt chỉ trong vòng năm giây, với bốn chiếc Airacobra trở thành bốn mảnh vụn trên mặt đất phía dưới kia. Ðiều đáng ghi nhận là cả hai đồng đội vừa ghi điểm của tôi: Nishizawa, 23 tuổi và Ota chỉ mới 20 tuổi. Như đã nói trước đây, các phi công ở Lae đều là thành phần chọn lọc. Ðể được lựa chọn, tài năng phi hành của họ phải vượt bực. Ða số chúng tôi đều là phi công kỳ cựu. Nishizawa và Ota chỉ là những người chân ướt chân ráo, cần phải học hỏi thêm nhiều, tuy nhiên họ sớm trở thành những phi công hàng đầu của phi đoàn Lae, hạ trên nhiều mươi phi cơ địch. Chúng tôi thường bay chung với nhau, và được các phi công khác gọi là “Bộ ba quét sạch”.

Ðối với tôi, Nishizawa và Ota có năng khiếu thiên bẩm. Cả hai không lái máy bay mà sống với phi cơ của họ, giống như chính thân thể của họ đã nhập một với khối kim loại, làm thành một tập hợp cơ khí vừa biết suy nghĩ. Cả hai sẽ thành những phi công tài ba lập nhiều chiến công của Nhựt Bản. Với họ, đời sống chỉ có ý nghĩa một khi có những phi vụ và mọi thứ phải phục vụ cho không chiến. Tài năng của cả hai sẽ giúp cho họ trở nên dũng mãnh ngay cả sau này khi phải đối đầu với những khu trục cơ tối tân hơn của kẻ thù, như chúng tôi sẽ chạm trán, họ vẫn đủ sức chiến thắng cho dù địch thủ đông hơn.

Hiroyoshi Nishizawa nhanh chóng trở nên Sát tinh tài giỏi nhứt, tuy hắn không có dáng vẻ anh hùng. Nhìn hắn, cảm giác đầu tiên là chừng như hắn vừa rời khỏi giường bịnh. So với dân Nhựt, chiều cao của hắn là quá khổ, 1 thước 75, nhưng hắn lại gầy đét vì chỉ cân nặng 64 ký. Ba sườn hắn lòi ra ngoài và rất thường xuyên hắn hay bị các chứng biểu bì nhiệt đới với sốt rét hành. Hầu như lúc nào gương mặt hắn cũng xanh tái. Mặc dầu được các đồng đội tôn sùng nhưng Nishizawa lại ít bạn thân. Hắn ẩn núp sau lớp vỏ kín đáo lạnh lùng gần như không cho ai xâm nhập. Hắn có thể không nói một câu nào trong nhiều ngày liền và cũng không màng đối đáp với những ai mở lời thăm hỏi, cho dù là những người sống ngay cạnh cùng bay với hắn. Chúng tôi đành chấp nhận nhìn hắn đi lững thững đơn độc, im lặng xa xăm như một kẻ chịu ruồng rẫy đang mất hút vào trong khoảng sâu tối riêng rẽ của mình, tuy ngoài đời hắn được tôn thờ như một thần tượng. Nishizawa là một phi công toàn phần, hắn chỉ sống và thở để bay bổng và cất cánh vì hai lý do: chiếm hữu lấy cảm giác vui sướng kỳ lạ khi du hành lên vương quốc của những vì sao và thỏa mãn đam mê không chiến. Ngay khi bay lên khỏi mặt đất, cá tánh lãnh đạm kỳ quặc của hắn biến đổi tức thì. Sự im lặng khép kín, xem thường đồng loại của hắn biến hóa như đêm vụt trở thành ngày. Với các phi công bay chung phi tuần, hắn trở thành “Ác quỷ”.  Trên không, những quyết định của hắn khó dự báo. Hắn trở nên một thi sĩ tài hoa, một thiên tài biết khởi động cỗ máy như một món đồ chơi; chỉ cần hắn vuốt nhẹ cần lái. Tôi chưa từng thấy một phi công nào bay lượn như Nishizawa. Nhịp điệu đáng kinh ngạc của hắn, vừa chính xác, hoàn toàn bất ngờ và vừa gây sợ hãi cho ai chiêm ngưỡng. Ðôi khi hắn thực hiện những pha lộn nhào không thể tin vào mắt. Một loài chim ưng thật sự mà không bất kỳ loài chim trời nào có thể bắt chước.

Thị giác của hắn cũng thực phi thường. Trong lúc mọi chúng tôi chỉ thấy bầu trời trống rỗng, Nishizawa, với trực quan siêu phàm nhận ra những chấm đen xa tít là phi cơ địch. Trong suốt binh nghiệp Nishizawa chưa từng để bị tấn công bất ngờ lần nào. Hắn xứng với danh “Ác quỷ”. Một Satan vạn năng giữa trời mây xanh ngắt, làm cho những phi công khác, kể cả tôi, phải ao ước thèm muốn thiên bẩm của hắn.

Toshio Ota ngược lại, là phản đề sống động của Nishizawa. Trẻ trung, sáng láng và vui nhộn, hắn luôn sẵn sàng tham gia các trò chơi của nhóm; bỡn cợt phá bĩnh nhưng vẫn chu đáo trợ giúp những ai cần đến hắn, trên không cũng như dưới đất. Cao to và cân nặng hơn tôi, Ota chưa nhiều kinh nghiệm trận mạc khi mới đến Lae và mặc dù sự phấn chấn với dáng dấp tương phản hẳn với Nishizawa, tài năng phi hành của Ota nhanh chóng được trọng dụng. Mỗi khi phi đoàn trưởng xuất kích, hắn luôn được chọn làm phi công bảo vệ bên cánh.

Ota không giống hình ảnh những anh hùng cổ điển. Cười đùa dễ dãi, kết bạn nhanh chóng… Hào quang của một vị thần sớm được sùng bái không đi với hắn. Tôi chắc mẩm chốn thích hợp cho hắn phải là những tửu lầu sang cả về đêm thay vì căn cứ Lae khốn khổ! Tuy nhiên, sự thân mật với các đồng đội không ngăn Ota được toàn phi đoàn nể phục, nhờ vào tài không chiến ngoại hạng của hắn. Ngay cả những phi công thô ráp như Trung sĩ Honda cũng kính trọng Ota, trong lúc Honda và Yonekawa đều cùng e dè và hay tìm cách né “Ác quỷ”.

Đại uý Andrew Dang (gốc Việt), Phi công Oanh tạc cơ chiến lược B-2 Spirit Không quân Hoa Kỳ được đề cử thăng cấp Thiếu tá.

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Quân

Posted on May 22, 2025 by dongsongcu

Post by Sơn râu 23 Aug 2026

Đại uý Andrew Dang và chị, Vivian Dang trong buổi lễ tốt nghiệp mang cánh bay phi công ngày 30 tháng 9 năm 2017 (Ảnh khi còn mang cấp Trung uý* của David Poe, Không quân Hoa Kỳ)

Đại uý Andrew Dang vừa được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ đề cử thăng cấp Thiếu tá cho tài khoá năm 2026, danh sách đề cử thăng cấp đã được chuyển đến Quốc Hội và Uỷ ban quân vụ Thượng viện nhận được ngày 19 tháng 5 năm 2025. Cùng đợt đề cử thăng cấp Thiếu tá năm nay còn có 17 Đại uý Không quân gốc Việt khác được ghi nhận**: MINH K. QUAN; ALEC L. DINH; PHILLIP Q. NGUYEN; THINH Q. TRAN; HIEP M. DU; ANH T. LE; ANDY NGUYEN; HIEU A. PHAM; NATHANIEL V. LE; TONEY DOAN; VI N. DOAN; TIFFANY M. PHAN; VIET A. TRAN; JEREMY T. DAO; PETER S. VO; AI MI O. NGUYEN; DANIEL D. NGUYEN. Sau khi được Uỷ ban quân vụ xác nhận bầu chọn, 18 Đại uý gốc Việt được đề cử sẽ chính thức thăng cấp Thiếu tá.

Minh hoạ các nguồn tin: Đại uý Andrew Dang, Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit. các nguồn tin.

Đại uý Andrew Dang gia nhập Không quân Hoa Kỳ qua Chương trình huấn luyện Sĩ quan Không quân trừ bị tại Trường Đại học UCLAUCLA và tốt nghiệp với Văn bằng Cử nhân nghệ thuật Triết học năm 2015 mang cấp bậc Thiếu uý. Ông được chọn thụ huấn khoá Phi công 15-17 và tốt nhiệp mang cánh bay vào tháng 9 năm 2017.

Đại uý Andrew Dang là Phi công phi cơ oanh tạc chiến lược tàng hình B-2 Spirit, hiện đang phục vụ tại Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 (393rd Expeditionary Bomb Squadron) thuộc Không đoàn phi cơ oanh tạc 509 (509th Bomb Wing) tại căn cứ Không quân Whiteman Air Force Base. Ông nguyên là Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress của Phi đoàn oanh tạc cơ 23 (23rd Bomb Squadron) trước khi chuyển sang Phi đoàn 393 bay phi cơ B-2 Spirit.

Phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit của Phi đoàn phi cơ oanh tạc viễn chinh 393 tiếp nhận nhiên liệu tại căn cứ Không quân Offutt (ảnh của Thượng sĩ Kenneth W. Norman).

Phi đoàn 393 hiện là Phi đoàn phi cơ oanh tạc tầm xa B-2 Spirit hàng đầu của Không quân Hoa Kỳ. Phi đoàn cung cấp khả năng chiến đấu trên toàn thế giới với lực lượng gồm 20 phi cơ B-2, Phi công và Quân nhân tác chiến để yễm trợ các nhiệm vụ hạt nhân và quy ước của Bộ tham mưu Liên quân Hoa Kỳ. Phi đoàn 393 hoạt động bao gồm các lãnh vực như tình báo, thời tiết, truyền tin và nhiều lãnh vực khác. Các lãnh vực này phối hợp chặt chẽ với nhau để bảo đảm các nhu cầu về giao tiếp, chiến lược và tác chiến đáp ứng cho Phi đoàn 393 khi hoạt động với các Đồng minh Khối NATO khắp Châu Âu. Sau ba mươi năm lần đầu tiên phi cơ oanh tạc chiến lược B-2 Spirit xuất hiện tại căn cứ Không quân Whiteman, các phi công đã duy trì hoạt động của phi cơ B-2 tiếp tục mở rộng phạm vi hoạt động toàn cầu, chứng minh phi cơ oanh tạc chiến lược này thật sự Lực lượng viễn chinh hoàn thành khả năng răn đe chiến lược, bất cứ thời gian nào và bất cứ nơi đâu!

Đại uý Andrew Dang được thăng cấp Thiếu uý năm 2015, Trung uý năm 2017, Đại uý năm 2020, đề cử thăng cấp Thiếu tá tháng 5 năm 2025.

Minh hoạ của Air Force global Strike Command năm 2020: Đại uý Andrew Dang, Phi công pháo đài bay chiến lược B-52H, thuộc Phi đoàn oanh tạc 23.

Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt bay các loại phi cơ oanh tạc chiến lược ngoài Đại uý Andrew Dang bay loại phi cơ B-2 Spirit và B-52 Stratofortress còn có Đại uý Bui Duc Phuong, Phi công Pháo đài bay B-52H Stratofortress thuộc Phi đoàn oanh tạc cơ 11 (11th Bomb Squadron); Thiếu tướng John R. Edwards, đã bay loại phi cơ oanh tạc chiến lược B-1 lancer và pháo đài bay B-52 Stratofortress; Đại uý Nguyen Anh Vu, Phi công bay loại oanh tạc cơ chiến lược B-1 lancer thuộc Phi đoàn 9 phi cơ oanh tạc viễn chinh (9th Expeditionary Bomb Squadron) đã giải ngũ, nay là Phi công chính của Hảng hàng không Delta Airline.

Nam, Nữ Sĩ quan Không quân Hoa Kỳ gốc Việt mang cấp bậc Thiếu tá phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân có thể hơn 120 vị, không tính những vị đã hồi hưu.

Chúc Tân Thiếu tá Andrew Dang thăng tiến binh nghiệp.

Chú thích: Viết theo tài liệu; *Ghi theo thời gian mang mang cấp Trung uý; **Có một số Đại uý mang họ giống họ Việt Nam, nhưng chưa xác nhân được họ gốc Việt, Hoa, Hàn hay các các nguồn gốc Á châu khác.

Nguồn: congress.gov; afgsc.af.mil; airforcetimes.com; linkedin.com; bienxua-Những Sĩ quan Phi công Không quân Hoa Kỳ gốc Việt.

Mảnh khăn tang không kịp khóc

Phạm Sơn Liêm

Posted on August 21, 2026 by dongsongcu

Đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 23 Aug 2026

Năm 1977, cha tôi qua đời.

Ông không chết vì bệnh nặng. Ông ra đi vì mòn mỏi chờ những đứa con vẫn còn biệt tăm trong các trại cải tạo sau năm 1975. Mỗi buổi chiều, ông lại ngồi trước hiên nhà, nhìn ra con đường đất như chờ một bóng người quen trở về. Nhưng ngày ấy, điều ông đợi chỉ là sự im lặng.

Khi cha mất, chị Hai lặn lội theo người quen lên tận trại giam để báo tin cho em. Chị chỉ mong được nhìn em một lần, dù từ xa cũng được.

Nhưng cán bộ lắc đầu.

“Không được gặp. Nó đang bị cùm”

Chị đứng chết lặng. Không còn cách nào khác, chị lấy một mảnh khăn tang màu đen, nhờ một người tù khác lén mang vào trao giúp. Đó là tất cả những gì em nhận được về cái chết của cha mình.

Không một nén nhang.

Không một giọt nước mắt trước linh cữu.

Không một lần được quỳ lạy người đã sinh thành.

Chỉ một mảnh khăn tang nhỏ bé giữa bốn bức tường giam.

Rồi chị lại tiếp tục lặn lội đi thăm các anh ở những trại khác. Mỗi người cũng chỉ nhận được một mảnh khăn tang như thế.

Một gia đình có nhiều người con, nhưng khi cha mất, không ai được về chịu tang. Nỗi đau bị chia cắt thành từng mảnh vải đen, lặng lẽ truyền tay trong những trại giam.

Ít lâu sau, mẹ già vừa qua cơn bệnh nặng cũng quyết vượt rừng đi thăm con.

Bà mang theo chút gạo, ít đường và niềm hy vọng mong được nhìn mặt đứa con sau bao năm xa cách. Nhưng khi đến nơi, cán bộ lại lạnh lùng nói:

“Nó đang bị cùm. Không được gặp.”

Lý do chỉ vì người tù ấy đã dám mạt sát “Tám Keo” nên bị biệt giam. Người mẹ già ôm gói quà quay lưng ra về, nước mắt rơi suốt con đường rừng.

Ở bên trong, người con biết mẹ vừa đến rồi lại phải trở về. Anh liều mình trốn khỏi hầm giam, chỉ mong nhìn theo bóng mẹ một lần cuối. Chưa kịp đến gần…

Tiếng còi báo động vang lên.

Lính gác cùng chó săn bao vây.

Anh bị bắt lại ngay trước cánh rừng, rồi bị quy thêm tội “âm mưu vượt trại”.

Sau đó là những trận đòn trả thù.

Là hầm sâu biệt giam.

Là xiềng xích.

Là những tháng năm không được nhận thư, không được gửi thư, không một tin tức với gia đình.

Mãi đến năm 1982, việc liên lạc bằng thư từ mới được phép trở lại.

Năm năm.

Năm năm của một gia đình sống trong mù mịt, không biết người thân còn hay mất.

Có những người thường nói rằng thời gian sẽ xóa nhòa tất cả. Nhưng có những nỗi đau không nằm ở vết thương trên thân thể.

Đó là người cha nhắm mắt mà không được nhìn thấy con.

Là người con nhận tin cha mất qua một mảnh khăn tang.

Là người mẹ già vượt rừng chỉ để bị từ chối.

Là những bước chân bò theo bóng mẹ rồi bị kéo trở lại trong xiềng xích.

Những ký ức ấy không nhằm nuôi dưỡng hận thù. Nhưng chúng là một phần của lịch sử đời người, của biết bao gia đình Việt Nam đã đi qua những năm tháng ấy.

Và vì thế, mỗi khi có ai hỏi:

“Những đau thương ấy có quên được không?”

Có lẽ câu trả lời là:

Người ta có thể học cách sống tiếp. Có thể tha thứ nếu lòng mình đủ bao dung. Nhưng để quên, thì có những điều suốt một đời người vẫn không thể quên.

(viết lời FB hung truong)

Phạm Sơn Liêm

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Chiến trường khuyết một vầng trăng

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 23 Aug 2026

Tổng thống Mỹ là Tổng tư lệnh tối cao của quân đội Mỹ!

Nên ngày 25 tháng Giêng, Bộ trưởng Quốc phòng, Ðại tướng James Mattis, biệt danh ‘Mad Dog Mattis’, đã yêu cầu Tổng tư lệnh Donald Trump triệu tập một cuộc họp về cuộc đột kích, mật danh ‘Yakla raid’.Tham dự có tướng 4 sao Joseph F. Dunford Jr: Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, tướng 3 sao Michael Flynn: Cố vấn về An ninh Quốc gia, Mike Pompeo: Giám đốc Cơ quan Trung Ương Tình báo Mỹ CIA. Chỉ trong vòng có 25 phút thảo luận, Tổng thống Donald Trump đã chấp thuận cuộc hành quân phức tạp nầy!

Trước kia trong những cuộc hành quân như thế nầy, Cơ quan Trung Ương Tình báo Mỹ, CIA, sẽ trình ra một cái bản đồ. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, ngồi quanh một chiếc bàn, suốt cả 2 giờ đồng hồ để cân nhắc từng chi tiết một. Chỉ huy cuộc hành quân đặc biệt nầy sẽ xem xét cẩn thận kế hoạch và chỉ cho thi hành khi cảm thấy nó có thể thành công.

Ryan Owens – nguồn Miami Herald

Mục tiêu là căn nhà bằng đất nung, xung quanh là những bãi mìn phòng thủ, là sào huyệt của một chỉ huy cao cấp của Al-Qaeda tại bán đảo Á Rập là Abdul Rauf al-Dhahab, trên triền đồi vùng sa mạc, trung bộ Yemen. Thời điểm tấn công là 1 giờ khuya, đêm Thứ Bảy, 28 tháng Giêng, năm 2017. Ðó là một đêm không trăng, trời rất tối. Lực lượng đột kích gồm khoảng hai chục ‘Navy Seal’ dưới quyền của Trưởng toán William “Ryan” Owens phối hợp cùng một toán ‘comandos’, biệt kích của nước Emirate.

Trên đường bay vào mục tiêu toán biệt kích nhận được tin là địch đã được cảnh báo (có lẽ vì tiếng động của phi cơ không người lái). Mất yếu tố bất ngờ, đáng lẽ cấp chỉ huy hành quân phải ra lệnh hủy bỏ cuộc đột kích, nhưng cuộc hành quân không rõ tại sao vẫn cho tiếp diễn?!

Do đó, ngay khi nhảy ra khỏi trực thăng, nhóm lính biệt kích đã bị địch quân chờ sẵn. Một chiếc Bell Boeing V-22 Osprey, trị giá 75 triệu đô, bị mất điều khiển trong lúc đáp xuống đổ quân làm 3 chiến sĩ biệt kích bị thương.

Lực lượng biệt kích tấn công đã sử dụng lựu đạn và súng trường để đột nhập vào nhà và bắn hạ Dhahab. Quân khủng bố còn sống sót rút qua một căn nhà kế cận, tung lựu đạn và dùng AK 47 bắn trả quyết liệt, mặc dù còn có phụ nữ và trẻ con vẫn còn trong đó. Trận đột kích rất căng thẳng, kéo dài từ 1 giờ khuya tới rạng sáng, nhiều nhà cửa trong làng bị xóa sổ.Quân biệt kích thâu được máy tính, tài liệu, hình ảnh quan trọng. Xong rút lui dưới sự yểm trợ của trực thăng võ trang và phi cơ chiến đấu.

Trưởng toán biệt kích Mỹ, Chief Petty Officer William “Ryan” Owens, 36 tuổi, là người lính Mỹ đầu tiên dưới trào chánh phủ Trump hy sinh tại mặt trận.

Có 3 tay chỉ huy và 11 chiến binh thuộc tổ chức khủng bố Al Qaeda bị giết!

***

Một lính Mỹ chết; ba bị thương nhưng Tổng thống Donald Trump gọi đó là thành công vĩ đại (?!) vì đã tịch thu được những tin tình báo đáng giá, giúp nước Mỹ ngăn chặn được các cuộc tấn công khủng bố nhắm vào dân Mỹ trong tương lai.

Thượng nghị sĩ, John Mc Cain, thuộc đảng Cộng Hòa, tại tiểu bang Arizona, cựu tù binh trong chiến tranh Việt Nam không đồng ý về cách đánh giá của Donald Trump: “Tôi không cho rằng cuộc đột kích mà binh sĩ Mỹ bị tử trận lại là được coi là thành công!”

Gia nhập quân đội vào tháng Tám, năm 1998, Ryan Owens được thăng ‘chief’ tháng Chạp, 2009; được tưởng thưởng 3 huy chương đồng, 2 trong 3 huy chương này có kèm theo chữ V (combat valor – anh dũng trên chiến trường), đã từng đến Tòa Bạch Ốc để được Tổng thống Mỹ Barack Obama ân thưởng huy chương.

Hôm thứ Tư, mùng Một tháng Hai, năm 2017, Tổng thống Donald Trump đã cùng ái nữ là Ivanka đến căn cứ Không quân Dover, tiểu bang Delaware để đón rước thi hài của ‘Ryan’ Owens.

Thân phụ của Owen là Bill, một cựu quân nhân, một Thanh tra Cảnh sát tại Fort Lauderdale đã về hưu, được viên tuyên úy quân đội thông báo rằng Tổng thống Trump trên đường tới để gặp ông!

Nhưng thân phụ của tử sĩ ‘Ryan’ Owens: “Tôi đã nói với họ rằng tôi không muốn gặp mặt Tổng thống. Tại sao mới nhậm chức Tổng thống có một tuần, mà ông ấy lại chấp thuận cho cuộc hành quân ngu ngốc nầy được khai triển? Tại sao?

Trước đó suốt hai năm trời trên đất Yemen, chỉ có hỏa tiễn và phi cơ không người lái; bởi vì không có mục tiêu nào đáng giá để ta phải hy sinh tánh mạng một người lính Mỹ. Và bây giờ đột nhiên chúng ta lại muốn phô trương?”

“Ðừng núp sau cái chết của con tôi mà ngăn cản một cuộc điều tra. Chánh phủ còn nợ con tôi một cuộc điều tra!”

***

Tổng thống Donald Trump tuyên bố trước Lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ rằng: “Những thách thức mà đất nước chúng ta đang đối diện rất lớn nhưng nhân dân nước ta còn vĩ đại hơn. Không ai vĩ đại và dũng cảm hơn những người Mỹ khoác trên mình bộ quân phục.”

“Chúng ta vinh dự chào đón bà Carryn Owens, vợ của người lính đặc nhiệm Navy Seal, William “Ryan” Owens để cùng cầu nguyện cho sự hy sinh của ông ấy: một chiến binh, một anh hùng đã chiến đấu chống khủng bố để gìn giữ sự yên bình cho đất nước chúng ta.

Di sản của Ryan đã khắc sâu vào bất tử. Như Thánh kinh đã dạy chúng ta rằng: Không có hành động nào vĩ đại hơn là ngã xuống hy sinh tánh mạng cho đồng đội của mình, cho đất nước, cho tự do… Và chúng ta không bao giờ quên lãng ông ấy.”

Tiếng vỗ tay của cử tọa vang lên khích lệ kéo dài hơn 2 phút. Ông Trump nói đây là tràng pháo tay lớn nhất từ trước đến nay mà ông từng nghe! (?!)

Và William “Ryan” Owens trên thiên đường đang nhìn xuống chắc rất vui vì nó đã phá kỷ lục?!
Những nhà báo, vốn có ác cảm, đã kết án Donald Trump lợi dụng người quả phụ của tử sĩ trong một cuộc đột kích thất bại tại Yemen.

Vợ Ryan Owens được mời đến vinh danh tại Quốc Hội – nguồn McClatchy

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Tổng thống là vị Tổng tư lịnh tối cao phải chịu hoàn toàn trách nhiệm cho những quyết định mình đã đưa ra.

Tổng thống Mỹ, Harry Truman, nổi tiếng với câu nói, được ghi lên bàn làm việc của ông trong Phòng Bầu Dục: “The Buck Stops Here” Việc đổ tội cho người khác chấm dứt ở đây!

(Chớ không có vụ “Mất mùa là tại thiên tai. Ðược mùa là tại thiên tài đảng ta” bao giờ!)

Tổng thống George W. Bush, năm 2003, đã nhận toàn bộ trách nhiệm trong việc đưa quân Mỹ vào tham chiến ở Iraq; mặc dù đó là do Cơ quan Tình báo Mỹ CIA đã cung cấp tin tức sai lầm.

Tổng thống Barack Obama, năm 2012, cũng đã nhận hoàn toàn trách nhiệm về cuộc tấn công của khủng bố vào Tòa lãnh sự Mỹ ở Benghazi làm 4 người Mỹ bị thiệt mạng, trong đó có cả Ðại sứ Mỹ tại Libya.

Tổng thống Donald Trump thì nói các tướng lãnh của chánh quyền Obama tiền nhiệm đã đề ra kế hoạch nầy.

“Ðây là cuộc hành quân đã bắt đầu trước khi tôi nhậm chức. Họ đến gặp tôi, cắt nghĩa những điều họ muốn làm, những viên tướng mà tôi rất thán phục và tôi tin. Kết quả là họ đã làm mất Ryan.”

***

Dẫu biết là lính, nghĩa là chấp nhận chiến trường da ngựa bọc thây; nhưng những toan tính của các cấp chỉ huy cao nhứt, sau lưng người lính làm chúng ta cũng phải đồng cảm với song thân của tử sĩ khi khước từ gặp mặt vị Tổng tư lịnh của quân đội Mỹ, Donald Trump.

Ðất nước VNCH của chúng ta, đã trải qua một cuộc chiến đấu anh dũng để bảo vệ tự do! Nhiều cha mẹ, vợ, con đã đau đớn biết chừng nào khi hiến dâng người thân yêu nhứt của đời mình cho Tổ quốc.

Thế nên chúng ta không khỏi bùi ngùi khi thấy William Ryan Owens tử trận bỏ lại ba đứa con còn thơ! Và quả phụ Carryn Owens khóc nức nở, mắt ngước lên Trời, khi nghe Tổng thống Donald Trump vinh danh chồng mình trước Quốc hội Mỹ.

Ðau đớn như một lời thơ: “Chiến trường khuất nửa xa sâu/ Mây đêm vương nửa khuyết vào vầng trăng!”

DXT

Chim hót

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 23 Aug 2026

– Bạn thích đọc truyện dài, ngắn?

– Tuỳ thuộc vào cái dở hoặc hay. Nhưng nói nào ngay dạo này tôi lười lắm.

– Đương hưu non mà, biết làm gì cho hết ngày? Thổi lửa nấu cơm vẫn tốt hơn là trụng mì ăn liền chớ?

– Tuổi này tự dưng mắt mờ, tay yếu, chân run, làm gì cũng chẳng ra đầu ra đuôi. Không làm bà xã hài lòng, đêm hôm nghe bả ngầy ngà cho tới sáng.

– Chữ ngầy ngà đồng nghĩa với rầy la, thấy không tới, không thơ mộng cho bằng ba chữ “nghe chim hót”.

– Ừ, thương người thì nên hoán đổi. Chim quyên ăn trái nhãn lồng, chích choè cao giọng đèo bồng ngũ cung. Chào mào sợ ná dây thun, riêng con chim sẻ mình thu nhỏ dần.
– Coi mòi bạn thích đọc thơ?

– Ừa, bị ít chữ, ngó mát con mắt hơn. Thơ như giọt cà phê ứa ra từ phin lọc.

– Có nghĩa là sao? Nước mắm nhĩ rỉ rả chớ hổng phải nước chấm công nghệ tràn lan ngập mặt? Nhiều quá thì sanh đổ đốn đổ hư, lắm hoá chất?

– Na ná là thế, nên tinh ròng, nên trì chí, dục tốc bất đạt. Bột cà phê hoà tan uống nhạt bỏ mẹ.

– Lời phân giải này bạn chôm từ chim sau khi nghe chim hót?

– Sao biết hay thế? Chim bảo: Ông nên chịu khó tập yoga hoặc tập bài “suối nguồn tươi trẻ” hoặc xuống trung bình tấn vận khí vào huyệt đan điền mà vung tay. Chăm làm thế thì khi trả bài ắt sẽ có đôi phần tiến bộ thoát cảnh đêm dài lắm mộng.

– Ờ, nhưng mà chúng ta đặt câu có sai văn phạm, vì bấy chầy khi nói tới chim người ta vẫn xem nó là giống đực, khổ nỗi bướm thì chẳng biết hót, ngao sò hến thì không mở miệng. Chim với cu cũng một nghĩa như nhau.

– Bạn thích thơ hai-cu không?

– A, một câu hỏi đáng đặt ra. Thích, nhưng thú thật có nhiều bài tôi chưa đủ sức lĩnh hội cái cô đọng thâm sâu nọ; và tôi chợt nghĩ, cớ sao họ dùng chữ hà tiện quá, dài hơn chút e dễ “làm bà xã hài lòng”?

– Thế còn một cu?

– Thôi đi ông tướng, cho em nhờ tí. Tại hạ xuống núi đã lâu chưa hề gặp qua độc cô cầu bại. Đứa luyện thành Tịch Tà kiếm phổ thì có nghe danh, nghe đồn hắn sang Thái Lan tìm cách phế hết võ công để tháp lại báu vật của đời.

– Vì hai cu mà tôi liên tưởng rách việc ra thế, nói một cú ắt đúng hơn?

– Thơ một cú? Căng nhỉ?

– Tôi lấy làm tâm đắc chưởng pháp của nhà thơ Hoàng Xuân Sơn. Phải dày công thâm hậu mới tung được một chưởng “Rán đốc phách”, như sau:

em cứ phóc lên lưng anh cõng đi chơi
bề gì
thằng gù cũng đã ở nhà thờ đức bà.

Giản lược tối đa, đưa ra hình tượng nhiều thâm ý. Khi cõng ai thì lưng anh cong xuống, và thờ đức bà… Khà khà, thấu tình đạt lý. Suối nguồn tươi trẻ mà làm gì cho má nó khi. Chim nên hiểu, gừng càng già càng cay, chớ hót vội. Chữ “bề gì” cũng là tuyệt cú.

– Tôi học vẽ, tôi nghiệm ra những hoạ sĩ có bản lãnh, họ thường tìm cách bôi xoá đi những vật thể, họ muốn giản lượt đường nét, họ bày những khoảng trống và họ ký tên vào bức tranh trông có vẻ bất toàn nọ. Không một lời giải thích khi treo lên, kẻ thưởng ngoạn là đứa tự tìm ra vẻ đẹp, tính cân bằng đọng ở sự chênh vênh gợi mời kia.

– Điều này bạn phải nương nhờ vào một sự đồng cảm của tha nhân, một tâm hồn đồng điệu. Tôi e là thời buổi máy móc này đã khiến con người xơ cứng những cảm xúc, họ sống hối hả trong thực dụng. Nôm na họ thích xơi mì ăn liền. Cách họ nghiện facebook là một chứng minh.

Câu chuyện ngưng lại ở đó. Ban đêm chim hót giọng khác, ban ngày có vẻ uốn lưỡi nỉ non dịu dàng một cung bậc:

– Chạy ra chợ Maxi’s đi anh, họ đang xeo lắm thứ. Gà nông trại hẳn hoi, nhổ lông làm sạch tươm tất một con chỉ có 6.99. Giấy vệ sinh 16 cuộn chỉ có 5.99. Dầu ăn olive extra virgin chai 1 lít giá có 8.99. Gạo thơm Thái Lan bao 8 kí xeo còn có 10 đô… Chiều nay anh ở lại dùng cơm với tụi này chứ?

– Dạ, cảm ơn chị. Lần khác vậy, bị tôi có hẹn thằng bạn ở quán phở 75 rồi.

– 75 hay 79? Mỡ màng không à, bột ngọt mì chính không à. Cholesterol cả tỉ, mất tiền thêm lo. Lạ, đàn ông sao giống nhau quá, cứ mãi thèm phở !

Khách xỏ chân vào đôi giày đặt ở bậu cửa. Mùa tuyết tan nên chim về đậu trên cành trụi lá chưa đơm nụ hoa. Cây sống qua mùa đông dài là đã mang phúc phận đời cây thầm lặng hên nhờ rủi chịu. Chim đang hót, thấy người xô cửa ra sân nên chim bay đi. Tiếng chim của chính con chim hót ra bao giờ cũng khiến người nghe tâm thân an lạc.

– Chào chị tôi về ạ.

– Phải. Chào anh. Ra hối tiệm phở kẻo người ta đợi người ta mong.

Máy nổ hậm hực khiến chiếc xe Mazda hai cửa đời 2008 run như thằn lằn đứt đuôi. Trời xám ngoét như trời muốn cảm hàn. 75 hay 79? Ừ nhỉ, tại sao không có một tiệm phở mang thương hiệu khác, do một chị nhà thơ đứng ra làm chủ? Một anh nhà văn đứng bếp chất xương vào nồi canh me củi lửa vớt bọt các thứ? Bước vào hàng quán ấy thì ha hồ mà nói chuyện văn chương thả giàn, cợt nhã những thứ trần tục bà nấu ông khen ngon. Tuyệt đối chỉ có hành trần ngò gai giá sống chanh ớt. Bát đũa cọ nhau xì xà xì xụp. Và quan trọng hơn hẳn, tuyệt không nghe ra một tiếng chim kêu.

Hồ Đình Nghiêm