Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 14 Oct 2026



Có thể nói phim võ hiệp Trung Hoa, dạo đầu thập niên 70 lên đến “Đường Sơn Đại Huynh”, “Tinh Võ Môn” của Lý Tiểu Long đã là tuyệt đỉnh. Người ta thích xem phim võ hiệp, hoặc là phim “cao bồi”, hay bây giờ loại phim “action” là muốn quên đi cái thực tế hàng ngày nhàm chán, giải thoát cái tâm lý tù túng bằng những giấc mơ tung hoành ngang dọc trong phim. Đó là một đòi hỏi của đám đông, của xã hội. Để thỏa mãn những yêu cầu ấy, các nhà làm phim liền tung ra hàng loạt loại phim “đấm đá”. Xem mãi những loại phim ấy, đặc biệt là phim võ hiệp Tàu, tôi có cảm tưởng các nhà làm phim bế tắc đề tài. “Quanh quẩn mãi vẫn vài ba dáng điệu – Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người.” Khi khuôn mặt nổi bật của phim võ hiệp là Lý Tiểu Long chết đi, phim võ hiệp mất phương hướng. Bây giờ nghĩ lại những phim của Lý Tiểu Long như “Đường Sơn Đại Huynh”, “Mãnh Long Quá Giang”, “Tinh Võ Môn” … thấy những phim ấy được nhắc tới là vì bản thân Lý Tiểu Long, vì những cú “ra đòn” như sấm sét của anh, vì những cái đá liên hoàn, những miếng côn nhị khúc …chứ bản thân những cuốn phim ấy không có gì đáng nhớ. Cũng chỉ là “mô típ” quen thuộc “tầm thù” hay là tróc nã “gian nhân hiệp đảng” mà thôi. Đó chỉ là những cuốn phim thương mại “ăn khách” do một tài tử xuất sắc thủ diễn, chưa phải là những cuốn phim nghệ thuật để đời. Làm thế nào mà phim võ hiệp Trung Hoa có được những cuốn phim, tuy thuộc loại đấm đá, nhưng qua bao nhiêu thời gian vẫn còn ngân vang mãi trong lòng khán giả. Như cái nhân bản tột cùng của tay cao bồi già Gary Cooper trong “Le train sifflera trois fois” hay cái ngang tàng lẫm liệt của tay súng kiêm cờ bạc bịp Kirk Douglas, thổ huyết lâm li mà vẫn khoác cây súng cũ, lận 1 con dao găm rỉ sánh cùng sheriff cô đơn Burst Lancaster đi trừ gian diệt bạo trong “OK Coral … “
Tiếp theo loại phim cao bồi Mỹ phải tạm ngưng trong những thập niên 60, 70 vì không có đề tài thích đáng, các phim trường Ý liền tung ra một loạt những phim đấm đá kịch liệt, bắn giết tưng bừng, máu chảy thành vũng, người chết thành đống. Loạt phim này cũng ăn khách một thời gian rồi chìm vào lãng quên. Người ta cho rằng đó không phải là phim cao bồi “Western” chính hiệu, mà chỉ là loại “spaghetti Western”. Nó nhiều bạo lực mà ít nghệ thuật. Nó thiếu cái không gian hoang dã cho những bước ngựa phi, nó thiếu sợi chỉ vàng xuyên suốt là “tính người” trong các nhân vật trong phim. Con người không hẳn xấu như vậy, mà cũng không hẳn tốt như vậy. Con người, như Pascal đã nói “không phải là thiên thần, mà cũng không phải là thú vật”.
***
Trong cái bế tắc của loại phim đấm đá như thế, tôi rất lấy làm tiếc cho phim Trung Hoa. Người Trung Hoa có những người viết truyện võ hiệp kỳ tình thuộc loại cổ thụ như Kim Dung, như Cổ Long … tại sao phim võ hiệp Tàu không mượn cốt truyện của các tác giả này chuyển thành phim, loanh quanh mãi trong những đề tài mòn cũ ấy làm gì? Truyện của Kim Dung, Cổ Long vô cùng phong phú, nhân vật hết sức đặc sắc … Trong 10 năm đi tù cải tạo của tôi, vấn nạn ấy đã được trả lời. Đầu thập niên 80, khi được người nhà tới thăm nuôi, tôi được biết một số lớn truyện của Kim Dung đã được chuyển thành phim tập. Cùng một lúc kỹ thuật thính thị cho ra đời máy chiếu phim video, nên nhà nhà trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, ngoài radio và tivi còn có một máy chiếu vidéo, cùng với một lô phim tập. Một số lớn truyện Kim Dung như “Anh Hùng Xạ Điêu”, “Lộc Đỉnh Ký”, “Ý Thiên Đồ Long”, “Thần Điêu Đại Hiệp”, “Tiếu Ngạo Giang Hồ” … đều được lên phim.
Sau đó những danh tác thuộc loại cổ điển của văn học Trung Hoa cũng được đưa ra khai thác, như các bộ phim “Tam Quốc”, “Thủy Hử, “Tây Du Ký”, v.v …
Năm 1985 tôi được tha về. Vài năm sau ở Việt Nam đã bắt đầu có sự xâm nhập của phim tập Trung Hoa cùng với máy vidéo. Lúc này có phong trào “bung ra” trong bước đầu du nhập kinh tế thị trường nên các rạp chiếu bóng, có dành riêng một chỗ chiếu phim vidéo. Sau này còn có những quán nước tư nhân chiếu phim vidéo câu khách nữa. Ở một khu vườn nhà quê thuộc huyện Hốc Môn, một bữa tôi đã phải đi bộ mấy cây số ra phố chợ sắp hàng mua vé xem phim vidéo “Cô Gái Đồ Long”, một bộ phim tôi hằng ao ước được xem, bộ phim được quảng cáo khắp hang cùng ngõ hẻm. Ngẫm ra cái quy luật của ngôn ngữ mạnh thật. Ngôn ngữ dù sai, nhưng khi số đông đã chấp nhận rồi, khó mà sửa đổi. Thật ra cái danh hiệu “Cô Gái Đồ Long” có nghĩa gì đâu. Ở trong truyện này không có ai là cô gái Đồ Long cả. Chỉ có đao Đồ Long và kiếm Ý Thiên. Tên nguyên bản của truyện này là “Ý Thiên – Đồ Long Ký”. Người dịch truyện này đầu tiên là ký giả kiêm kịch sĩ Tiền Phong. Anh là người Minh Hương (bố Tàu, mẹ Việt) nên tụi tôi thường gọi anh là Sìn Phoóng. Anh là người dựng những trường kịch nổi tiếng của Tào Ngu như “Lôi Vũ”, “Nhật Xuất” ở Hà Nội. Vào Nam kịch không sống được, anh phải quay ra dịch truyện Tàu. Anh là người khởi đầu dịch truyện Kim Dung đăng báo Việt Nam, ký tên Từ Khánh Phụng. Báo VN đầu tiên đăng truyện Kim Dung là báo Đồng Nai của đồng nghiệp Huỳnh Thành Vị. Truyện đầu tiên “Thư Kiếm Ân Cừu Lục” chưa mấy ăn khách. Đến khi cùng đăng trên Đồng Nai tập truyện võ hiệp thứ hai nhan đề “Ý Thiên – Đồ Long” thì số người theo dõi truyện Kim Dung đăng trên Nhật báo Đồng Nai đầu thập niên 60 đã hết sức đông đảo. Lúc này, Bộ Thông tin của thời Đệ nhất Cộng hòa (Tổng thống Ngô Đình Diệm) thời ông Trần Chánh Thành làm bộ trưởng có ra lệnh là mỗi báo chỉ được đăng một truyện võ hiệp mà thôi. Đối với Đồng Nai, không thể bỏ chuyện nào vì đang ăn khách, nhất là “Ý Thiên Đồ Long”. Để làm vừa lòng “cấp trên”, đồng thời mập mờ đánh lận con đen, tờ Đồng Nai mới đổi “Ý Thiên Đồ Long” thành “Cô Gái Đồ Long” như là tên một tiểu thuyết xã hội thông thường. Tất nhiên, đồng nghiệp Huỳnh Thành Vị cũng phải lẹ tay, lẹ miệng lắm nên “Cô Gái Đồ Long” mới đứng vững trên báo Đồng Nai được. Càng ngày “Cô Gái Đồ Long” càng nổi tiếng, số người theo dõi ngày càng lớn. Trong số bạn hữu tôi, người đọc truyện Kim Dung đầu tiên là Thanh Tâm Tuyền. Từ Thanh Tâm Tuyền tới Mai Thảo. Thấy tác giả “Tháng Giêng Cỏ Non” đọc Kim Dung xong, lắc đầu khen “Maitre, maitre.” tôi cũng phải cố tìm đọc “Cô Gái Đồ Long”. Lúc bấy giờ chưa có ai in truyện này. Tới 1 nhà cho thuê truyện, đặt cược một cuốn gồm những cột báo cắt ra từ báo hằng ngày Đồng Nai đóng lại, giá đắt gấp 4 lần 1 cuốn tiểu thuyết thông thường khác, tôi bắt đầu làm quen với Kim Dung. Vào thế giới kỳ ảo của đại tác giả này, khó mà ra được. Say luôn, mê luôn. “Cô Gái Đồ Long”, cái tên không có nghĩa gì cả, nhưng đầu những năm 60, nó đã hết sức nổi tiếng. Nổi tiếng đến nỗi ra đường, nghe trẻ con hát rầm rĩ đầu đường góc phố, một câu hát nhại theo 1 bài hát thời trang “Có cô gái Đồ Long lắc bầu cua, lắc một cái ra ba con gà mái. Thua hết tiền …Thua hết tiền … “
“Gánh chiếu phim”
Nói đến phim võ hiệp Trung Hoa, tôi lại nhớ đến thời kỳ đi “chiếu phim” trong các trại cải tạo. Cái phần đời trong trại cải tạo, ai đã sống qua chắc không thể nào quên. Đời tù chính trị mịt mù, thăm thẳm, cuộc sống lao động khổ sai mòn mỏi không biết đến bao giờ … Ở trong tù, chúng tôi sợ nhất là cái “đói”, lo nhất là “thời gian”. Cho nên tù cải tạo chúng tôi thường phải tự đánh lừa mình cho đỡ lo, đỡ sợ. Để tạm quên cái đói, có anh đến bữa không dám ăn ngay chút cơm được phát, mà để dành, đến tối vừa nằm vừa “nhơi” từng hạt cơm để kéo dài cái khoảng thời gian “được ăn”. Khi trại thu hoạch bắp, thì những trái bắp to nhất tốt nhất dùng để làm giống và để “quy ra thóc”, những trái vừa vừa thì để nuôi heo, những trái “chó nhai chuột gặm” thì cho tù ăn. Theo bậc thang giá trị xã hội chủ nghĩa, như vậy tù còn được xếp sau heo. Nhưng nói cho ngay, đối với tù, có chất tươi mà ăn là phước rồi. Tù nhân được phát mỗi bữa 5, 6 trái bắp đầu thừa đuôi thẹo. Tối tối trong trại tù chỗ nào cũng nghe tù nhai bắp lép nhép. Đột nhiên có tiếng la: “Hơn bữa qua 20 hạt.” Tù vừa nhơi vừa đếm từng hạt bắp … Vừa đánh lừa bao tử, vừa đánh lừa thời gian …Cùng nằm trong mục đích đánh lừa bao tử này, có một số bạn tù tối đến là cứ hì hục chép từng trang này sang trang khác. Anh không có sáng tác thơ, văn mà cũng không ghi nhật ký. Anh đang say mê ghi chép cách làm những món ăn: cá lóc nướng trui, cá rô kho tộ, bò nhúng giấm … Rồi có khi còn đem những thực đơn ấy ra mà bàn tán xôn xao. Mới nghe những món ăn “hàm thụ” ấy, bao tử thấy được an ủi phần nào. Nhưng nghe thét rồi nó lại có “ép phê ngược”. Một bạn tù nóng tiết quát lên:
– Thôi im cha nó những món ăn “phích típ” (1) ấy đi nhá. Thèm rỏ dãi ra đây này …
Có một cách đánh lừa bao tử, đánh lừa thời gian hữu hiệu khác là đánh cờ. Nhưng chỉ có 2 tiên ông và vài ba anh chầu rìa là được tạm quên, anh em khác không tham dự được. Ấy là chưa kể đến những tác động phụ nhưng đôi khi nó làm cho mất vui là “cờ ngoài bài trong” là “nước cao nước thấp”. Cho nên, cách giết thời gian hay nhất trong các lán tù cải tạo là “chiếu phim”. Gọi là chiếu nhưng thực ra là “kể”. Một bạn nào đó nhớ được câu chuyện nào hay, đem ra kể, anh em xúm lại nghe. Nhờ câu chuyện đưa đi, anh em tạm quên được thực tại đau buồn, khốn khổ. Tôi thường là đầu tàu kể chuyện của J. London, của E. Remark, của P. Buck … Rồi chuyện thể thao, các trận banh lớn, các “kỳ nhân cầu quái” của thời đại. Nhưng được một thời gian, tôi bí, hết đề tài … bởi vì những chuyện kể ở đây cần phải “có chuyện” phải ly kỳ thì mới ăn khách: Như chuyện “Miếng Bíp-Tết” của J. London hay chuyện “Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết” của E. Remark. Những chuyện thuộc loại “suy tưởng” như “Người Đàn Bà Ngoại Tình” của A. Camus hay “Những Bàn Tay Bẩn” của J. P. Sartres không ăn tiền … Một bữa, đi làm “cỏ vê” chung sáng chủ nhật, tôi được gặp một “kỳ nhân”. Bạn tù trẻ, đại úy cảnh sát Phượng Hoàng Hoàng Kim L., có một trí nhớ tuyệt diệu về truyện Kim Dung; không phải chỉ nhớ cốt truyện, nhớ tên nhân vật như rừng như củi, anh còn nhớ cả các thế võ dùng trong các cuộc giao tranh nữa. Đây là một cái máy “photocopy” tinh xảo chụp lại gần như toàn bộ truyện Kim Dung. Nhưng cái máy photocopy này không chạy bằng điện, nó chạy bằng sắn hoặc ngô, khoai, và cần nhất bằng thuốc lào.
Từ khi tôi bắt gặp Hoàng Kim L. thì anh em chúng tôi họp lại thành một gánh “chiếu phim”. Ở trong lán, tối đến, anh em nào muốn “chiếu phim” thì nên chu biện sẵn 1 ấm trà, ít điếu thuốc lào, hoặc có kiếm được miếng khoai, củ sắn thì gánh chiếu phim cũng rất lấy làm “hâm mộ”. Hoặc anh em nào vừa có thăm nuôi mà có nhã ý chi thêm ít miếng kẹo đậu phọng, kẹo chanh, kẹo dừa … hoặc điếu thuốc lá Sài Gòn để phì phèo cho đỡ nhớ miền Nam thì gánh chiếu phim lại càng tán thưởng. Sau này gánh của chúng tôi lại thêm một “nhân tài” nữa. Thiếu tá “Trung ương tình báo” Nguyễn X. Ph … Bạn này nhớ khá nhiều chuyện phim Walt Disney và đặc biệt kể chuyện tiếu lâm rất tài tình. Thành ra gánh của chúng tôi lại càng xôm tụ. Tôi làm nhiệm vụ “bầu gánh” và sắp xếp chương trình. Một buổi chiếu phim “lý tưởng” dài chừng 2 tiếng rưỡi thường gồm 3 tiết mục “1 trận banh quốc tế” hoặc một phim ngắn của Walt Disney, 1 chuyện tiếu lâm và sau cùng một vài chương truyện Kim Dung, tùy theo khách đặt hàng:
“ỷ Thiên Đồ Long”, “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, “Anh Hùng Xạ Điêu” hay “Lục Mạch Thần Kiếm” … Vì truyện Kim Dung, nhiều cuốn nhiều chương, nhiều hồi nên trước khi vào truyện phải có người giáo đầu. Nghĩa là chương, hồi này thuộc vào truyện nào, liên hệ đến các nhân vật ra sao. Giáo đầu để cho mọi người ai nấy đều có thể theo dõi được, sau đó Hoàng Kim L. mới bắt đầu vào truyện. Khi máy photocopy Hoàng Kim L. tạm nghỉ, “ăn thuốc uống nước” thì bầu gánh hay người giáo đầu là tôi lại phải “đi” một vài đường “bình loạn Mao Tôn Cương” ví dụ như trong chương vừa qua cần chú ý đến chi tiết nào, nhân vật truyện đang trong tình tự ra sao? Hoặc là đại tác giả Kim Dung đã: “phục bút” từ bao nhiêu chương trước – hô, ứng như thế nào mới đi đến đoạn này; chỗ kia là Kim Dung đang áp dụng kỹ thuật của truyện policier – rùng rợn, lạ lùng, kinh
____________________________
(1) Fictif: giả tưởng – coi như thật
ngạc, chỗ khác là Kim Dung đang khai thác “phân tâm học” (psychanalyse) vào trong tâm trạng các nhân vật chính v.v …
Những ý kiến “bình loạn” ấy không hoàn toàn là của tôi. Dạo thập niên 60 và đầu 70, khi các báo Sài Gòn đua nhau đăng truyện Kim Dung, tòa báo do kẻ viết bài này phụ trách phần biên tập có nhiều nhân vật “quái chiêu”. Có Hà chưởng môn thi sĩ ngu ngơ, có ông văn chương Tây đầy mình như ông Thanh Tâm Tuyền, có ông chữ nho một gánh, kinh sử lầu lầu như ông Lam Giang, có ông thông minh tinh quái lạ đời như ông Lê Tất Điều, có ông chuyên viết truyện Kim Dung giả mà người đời vẫn cho là thật như ông Nhất Giang, có ông gàn bát sách tự cho mình là “thông minh nhất nam tử” như ông Lý Phật Sơn. Các nhân vật này, dù khác nhau về tuổi tác về quan niệm văn chương, về lối sống nhưng tất cả đều theo dõi Kim Dung rất kỹ. Cái ông gàn Lý Phật Sơn có nhiệm vụ hàng ngày, viết một bài “bình” về đoạn Kim Dung vừa đăng tải. Khi có một đoạn truyện Kim Dung nào vừa theo máy bay Hongkong tới Sài Gòn, các báo cùng đăng nhưng tờ báo của chúng tôi có thêm một đoạn “lời bình”. Lời bình này của Lý Phật Sơn, sau khi thâu tóm ý kiến của đám đông tòa soạn viết nên. Nhà văn Hà Thúc Sinh, khi nhắc đến Lý Phật Sơn trong cuốn truyện “Ông H.O.” mới xuất bản ở Mỹ gần đây có gọi Lý Phật Sơn là “vua bình” … Mỗi khi làm nhiệm vụ “bình loạn” truyện Kim Dung khi chiếu phim trong trại tù, tôi có thêm những ý kiến, những lời bình của Lý Phật Sơn (và bè bạn) những năm tháng cũ. Nhờ trí nhớ của Hoàng Kim L. tuyệt diệu, bạn tù há hốc mồm nghe hết truyện Kim Dung này sang truyện Kim Dung khác, nên gánh chiếu phim trong trại cải tạo của tụi tôi cũng có cơ hội kiếm ăn lần hồi mỗi tối, có thêm tí trà, tí thuốc trong cuộc sống khó khăn, phần nào tạm nguôi quên cái thời gian dằng dặc của những ngày tù không xét xử …
Sau 10 năm cải tạo, tôi được về … Truyện Kim Dung đối với tôi không chỉ là những danh tác, mà nó còn là kỷ niệm. Kỷ niệm về những ngày sinh hoạt báo chí trong tòa soạn đông vui trước 75, kỷ niệm về những tối chiếu phim” trong trại tù khốn khổ, kỷ niệm về những người bạn … bây giờ không biết sống chết ra sao? Lưu lạc phương nào?
Nhân vật Tạ Tốn
Buổi xế trưa một ngày xuân muộn năm 1987, tôi cơm nắm cơm gói ra phố huyện, đi xem phim “Cô Gái Đồ Long” hồi Tạ Tốn ra Băng Hỏa Đảo mà lòng dạ nôn nao. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi được xem phim video. Đây là lần đầu tiên sau 10 năm tù tội và 2 năm quản thúc, chân tôi được đi một đôi dép da. Bao nhiêu năm quen với đi chân đất và “dép lốp”, chân tôi nó “đề foóc mệ” (1) cứ bè ra như người Giao Chỉ. Đi dép da quả nhiên thấy lúng túng, ngượng ngùng. Bao nhiêu năm chỉ thấy cảnh rừng xanh núi đỏ, “chó ăn đá, gà ăn muối” bây giờ bước chân lên những bậc thềm lót đá hoa cương của nhà hát phố huyện, sao mà bỡ ngỡ, lạ lùng. Nhà hát này trông bề ngoài rất đồ sộ, rất màu mè nhưng khi vào bên trong rồi mới thấy nhiều cái nhố nhăng. Ghế gỗ chật ém, ngồi đằng sau chỉ thấy lưng người ngồi trước. Nhà hát dành một phần hành lang làm chỗ chiếu video – không có ngăn cách hẳn ra với phòng chiếu phim 35 ly ở giữa, nên âm thanh của 2 bên chửi nhau loạn xạ. Đặc biệt nóng kinh hoàng. Tôi chợt nghĩ đến những rạp chiếu phim của Sài Gòn trước 75. Bên ngoài thì trông bình thường thôi, nhưng bên trong đều có máy lạnh. Có lẽ đây là chỗ giống nhau và khác nhau giữa 2 chế độ chăng?
Trước đây trong những năm còn làm báo ở Sài Gòn, cùng bè bạn bàn phiếm về nhân vật Kim Dung, chúng tôi cho rằng những nhân vật chính của Kim Dung thường không “ly kỳ” bằng những nhân vật phụ. Ví dụ Quách Tĩnh trong “Anh Hùng Xạ Điêu” – anh này “trâu nước” quá, quân tử Tàu quá, một phiên bản mờ nhạt của Quan Vân Trường, của Tống Địch Thanh … Trương Vô Kỵ trong “Ý Thiên Đồ Long” đã linh động hơn, đã “người” hơn nhưng lúc đó “Trương Giáo chủ” mang một thông điệp “sống chung hòa bình” giữa hắc, bạch hai đạo của tác giả Kim Dung nên phần nào nó giống một “héro cornélien” (1), các tình tiết các cơ duyên đều phải phục vụ cho ý muốn chủ quan của tác giả. Cho nên Vô Kỵ nhiều lúc còn “xơ cứng”. Rồi như Đoàn Dự trong “Lục Mạch Thần Kiếm”. Cái anh chàng si mê cuồng tín này là một sự du nhập nhân vật thần thoại
_____________________________
(1) Đề-foóc-mê: mất hình dáng.
(1) Héro cornélien: nhân vật của Corneille, nhà thơ và kịch tác gia Pháp thế kỷ 17.

Orphée của Tây phương vào trong tiểu thuyết Đông phương. Nhưng xét ra cũng còn chưa hợp thủy thổ. Đoàn Dự nhiều lúc còn ngây ngô quá. Nhưng những nhân vật Kim Dung ở tuyến thứ hai như Tạ Tốn – Dương Tiêu trong “Ý Thiên Đồ Long”, như Đông Tà – Hoàng Dung … trong “Anh Hùng Xạ Điêu”, như Kiều Phong – A Tỉ trong “Lục Mạch Thần Kiếm” … đó là những nhân vật tuyệt vời. Tuyệt vời đến nỗi khi Ý Thiên – Đồ Long lên sân khấu cải lương, nhân vật in dấu sâu đậm trong lòng khán giả, sau đó được huy chương vàng của giải Thanh Tâm (của đồng nghiệp Trần Tấn Quốc) chính là nhân vật Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn (do kép trẻ Thanh Sang thủ diễn).
Theo ý kiến tôi, Tạ Tốn là một nhân vật hết sức lớn. Lớn không phải chỉ ở tiếng gầm làm rung động đất trời, ở tài nghệ siêu quần bạt tụy, ở chí lớn “giương đao lập oai -hiệu lệnh thiên hạ” mà lớn ở những cảnh đời ông đã trải qua, ở những bi kịch mà phận người phải chịu. Tạ Tốn là một dấu hỏi lớn mà Kim Dung đặt ra với đời, với người. Một chính nhân như Tạ Tốn mà đến một lúc nào đó thấy cái đạo Minh Giáo mà mình coi là lý tưởng bỗng chốc tiêu vong, Giáo chủ Dương Phá Thiên chết thảm trong hang đá vì một mối tình u uất. Là một người quân tử mà Tạ Tốn phải gọi ân sư là cừu địch, vì ân sư Thành Khôn đã nhẫn tâm hiếp vợ, xé xác con Tạ Tốn. Minh Giáo suy tàn, bạn bè phiêu lạc, gia đình tan nát, rợ Nguyên Mông đang làm chủ đất nước Trung Hoa. Tạ Tốn có một mối oan cừu cần phải trả. Tạ Tốn đem theo bảo đao Đồ Long, cùng vợ chồng Trương Thúy Sơn – Hân Tố Tố đi thuyền ra Băng Hỏa Đảo đang ở trong tâm trạng ấy. Khổ đau làm lớn dậy con người. Có một vài cảnh mà tôi nghĩ Kim Dung khi sáng tác, chắc đã dày công xây dựng. Cảnh gió bão kinh hồn khi chiếc thuyền chở 3 người: Tạ Tốn và vợ chồng Trương ngũ hiệp phải trải qua trên đại dương. Trong cơn cuồng nộ của biển trời, 3 con người nhỏ bé đồng tâm, hiệp lực với nhau để vượt qua cơn bão. Nhưng khi cơn bảo vật lý bên ngoài tạm lắng, một cơn bão tâm lý bên trong lại bắt đầu nổi dậy. Khi biển lặng sóng yên, Trương Thúy Sơn nằm nghỉ, Hân Tố Tố, với chức năng đàn bà Đông phương cố hữu, đã gây 1 bếp lửa thổi cơm. Bếp lửa trên đại dương quạnh vắng, gây một điểm son ấm áp, gợi một không khí gia đình. Cảnh một người đàn bà đẹp ngồi bên bếp lửa đã vô tình khiến Tạ Tốn nhớ lại cảnh gia đình đầm ấm cũ cùng một lúc với hình tượng thảm thê vợ bị hiếp, con bị giết. Hồi tưởng làm Tạ Tốn lên cơn điên, thú tính từ vô thức trong người nổi dậy; Tạ Tốn bất thình lình đứng dậy liên tiếp ra chiêu triệt hạ Trương Thúy Sơn, như một con thú đực quyết dành con thú cái. Tạ Tốn chỉ dừng tay khi Hân Tố Tố quyết liên tay với người yêu, sắp thực hiện ném độc châm “mãn thiên hoa vũ” trong khoang thuyền chật hẹp. Sự kiện này giải thích tại sao một con người anh hung cái thế như Tạ Tốn lại có hành động toan cưỡng bức Hân Tố Tố trên Băng Hỏa Đảo, khiến Hân cô nương phải dùng độc châm ném mù mắt Tạ Tốn. Kim Mao Sư Vương yêu Hân Tố Tố qua hình ảnh người vợ cũ đã chết thảm thương, tình yêu như một vết chém tâm linh làm hư hoại tâm hồn Tạ Tốn. Vết thương này không chữa được. Nó chỉ có thể chuyển hóa khi gặp cơ duyên. Cơ duyên ấy đã xảy ra gần 1 năm sau trong hang đá trên Băng Hỏa Đảo nơi vợ chồng Trương Thúy Sơn đang ẩn náu, nơi Hân Tố Tố sắp nở nhụy khai hoa. Đúng lúc đứa con trong bụng Hân Tố Tố sắp sửa chào đời, giữa khi Trương ngũ hiệp đang hết sức lo lắng cho cảnh “vượt cạn một mình” của người vợ trẻ thì kẻ đại thù Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn cầm bảo đao Đồ Long tiến vào hang đá. Không trốn chạy đi đâu được nữa, Võ Đang ngũ hiệp Trương Thúy Sơn phải đem hết sức lực hình sinh bảo vệ cho người vợ đang lâm bồn, cho đứa con sắp được khai sinh. Nhưng Trương Thúy Sơn đâu phải là địch thủ ngang tay với Tạ Tốn … Giữa khi Phán quan Bút của họ Trương bị bảo đao Đồ Long đánh văng đi, khi tính mạng họ Trương đang ngàn cân treo sợi tóc, chợt một tiếng khóc hài nhi ré lên. Tạ Tốn chợt ngừng tay đao. Từ trong cùng thẳm tâm hồn Tạ Tốn, từ cõi mịt mù của vô thức, tiếng khóc hài nhi như một hạt giống nhân sinh vừa được khơi lên. Cây nhân sinh vừa mọc. Cơ duyên này nói theo Psychanalyse của S. Freud là sự thăng hoa của tâm thức.
Theo nhà Phật thì là một sát na của giác ngộ … Từ một tiếng thét căm hờn của sự chết, giọng của Kim Mao Sư Vương chợt đổi sang giọng khoan hòa của sự sống “Sinh con trai hay con gái?”. Cảnh này theo tôi là một dàn dựng kỳ công của tác giả Kim Dung. Vợ chồng Trương Thúy Sơn không chết dưới tay Tạ Tốn, đặc biệt đứa trẻ sơ sinh Vô Kỵ được sống là nhờ cái sát na giác ngộ của Kim Mao Sư Vương. Vô Kỵ là đứa con máu thịt của vợ chồng Thúy Sơn – nhưng thật ra, đó là đứa con tinh thần của Tạ Tốn. Hay nói một cách khác, đứa con xấu số bị ân sư Thành Khôn xé xác năm nào, bây giờ sống lại trong thân hình Vô Kỵ. Đây cũng là phục bút của Kim Dung, cơ sở để sau này Trương Vô Ky có đủ tư cách lên làm minh chủ võ lâm. Là con của Võ Đang ngũ hiệp thuộc danh môn chính phái Võ Đang và là con của Hân Tố Tố, cháu ngoại của Bạch Mi Ưng Vương Hân Thiên Chính, đồng thời là nghĩa tử của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn. Cảnh này cũng gợi mở cho mấy nghìn trang sau, trên núi Thiếu Thất, sau trận đụng độ trời sầu đất thảm với sư phụ Thành Khôn, Tạ Tốn tự phế võ công, bắt đầu quy y trong Thiếu Lâm Tự … Lúc này Tạ Tốn mới đi tu, nhưng Phật tính đã bắt đầu gieo từ mấy chục năm về trước, khi Trương Vô Kỵ vừa mới được sinh ra trên Băng Hỏa Đảo.
Nổi và chìm
Trong những ngày đi “chiếu phim” trong trại cải tạo, với nhiệm vụ phải đưa ra những lời bình về nhân vật Kim Dung theo từng chương, từng hồi, tôi rất say mê Tạ Tốn. Đây là một trong những nhân vật đắc ý của Kim Dung. Nhưng khi nhìn thấy Tạ Tốn trong phim video, tôi dội ngược. Sự thất vọng có lẽ bắt nguồn từ bản thân tôi. Bao nhiêu năm không được xem phim võ hiệp Trung Hoa, bao nhiêu năm nghiền ngẫm về một nhân vật siêu phàm, đầu óc tôi đầy ước mơ, đầy tưởng tượng. Tưởng tượng thường không có giới hạn nên thực tế không theo kịp bao giờ. Theo ý tôi, nhân vật Tạ Tốn phải “đường đường một đấng anh hào, côn quyền hơn sức lược thao gồm tài”, nhưng Tạ Tốn trong phim video chỉ là một hán tử bình thường, không khác bao nhiêu so với ông khách trú bán hủ tíu ở đầu phố chợ. Tạ Tốn được mệnh danh là Kim Mao Sư Vương, vì đầu tóc bù xù như sư tử; ở đây cũng thấy có long tóc bờm xờm nhưng thiếu cái oai vũ của một hộ pháp vương, mà lại có vẻ hoang đàng của một tay híp pi già bẩn. Tạ Tốn trong truyện Kim Dung là một con người bạo thiên nghịch địa, tự thân nung nấu nhiều bi kịch nội tâm; tiếng gầm của Tạ Tốn vừa mang cái oai mãnh của sư vương, vừa biểu lộ nỗi bi phẫn của con người phản kháng. Ở đây, trong phim video, Tạ Tốn cũng gầm lên, nhưng nó không có rung trời chuyển đất mà nghe ê a như tiếng bán thuốc Sơn Đông mãi võ ở đầu đường. Mà có gầm thì cũng vừa vừa phải phải thôi, không phải lúc nào cũng hầm hừ như thế …
Điều “dội ngược” thứ hai trong phim video võ hiệp Trung Hoa là đối thoại. Để cho phim video bán chạy tại thị trường Việt Nam, trong nước cũng như hải ngoại, đối thoại các phim này đều được chuyển âm sang tiếng Việt. Chuyển âm hay lồng tiếng theo tôi hiểu là một công đoạn nghệ thuật khá phức tạp. Nó phải vừa chuyên chở nội dung của câu chuyện vừa phải đúng với cách phát âm (lipsing) của tài tử trên màn hình, không được thừa không được thiếu. Người được mời “lồng tiếng” thường cũng là tài tử (ví dụ Tú Trinh của làng kịch Việt Nam) vì phải diễn cảm trong từng câu nói. Đối thoại là một thành tố quan hệ trong việc dựng phim, có hãng phim cẩn trọng đã phải thuê riêng người viết đối thoại để tăng thêm cường độ nghệ thuật …Nhiều phim tốt mà đối thoại dở, phim cũng đi đứt. Tôi còn nhớ chuyến đầu tiên đi xem phim Mỹ chuyển âm sang tiếng Việt. Đầu thập niên 50, có một phim Tarzan của Mỹ được lồng tiếng nước ta, quảng cáo rầm rộ chiếu tại rạp Majestic, chỗ gần chợ Hôm, Hà Nội. Người đi xem rất đông. Đến cái đoạn nhớ Tarzan người rừng, mỹ nhân liền ỏn ẻn “Tarzan đừng nổi giận, em nhớ Tarzan ghê.” Phim đang mùi mẫn mà nghe đến đoạn đối thoại này cả rạp cười lên rầm rĩ. Từ đó, nhóm chữ “Tarzan nổi giận” trở thành câu cửa miệng của mọi người. Và từ đó cũng không có phim Mỹ nào được chuyển âm sang tiếng Việt nữa. Do vậy người ta thích xem phim nước ngoài có phụ đề hơn là chuyển âm không đúng cách. Vì lồng tiếng “bậy bạ” thường làm hư không khí trong phim. Phim video võ hiệp Trung Hoa, không hiểu vì cần phải làm cho nhanh, hay không muốn chi nhiều tiền cho chuyên viên lồng tiếng, nên đối thoại trong phim đều nói một thứ tiếng Việt ngô nghê, câu cú, văn phạm không cần biết đến. Ngôn ngữ trong Tạ Tốn ra Băng Hỏa Đảo là điển hình cho một sản phẩm “Hồng kông bên hông Chợ Lớn”.
Hình thức của phim video Tạ Tốn ra Băng Hỏa Đảo như vậy tất nhiên không chuyển đạt nổi một nội dung hàm súc. Tôi có cảm tưởng người ta làm phim video rất vội, cốt làm sao ra phim cho kịp để “thỏa mãn” những cái máy video đang bán đầy thị trường, đang tràn ngập trong các tư gia ở khắp vùng Đông Á. So với các phim kiếm hiệp thực hiện trên màn ảnh lớn như các phim của các hãng Shaw Brothers, Gia Hòa … tại Hồng kông hồi thập niên 60 và 70, phim video này “yếu” hơn nhiều. Với các đạo diễn cỡ Trương Triệt, Lý Hàn Tường dù phim võ hiệp Trung Hoa màn ảnh lớn chưa thực hiện được những công trình nghệ thuật để đời nhưng họ đã làm được những phim thương mại sáng giá, đạt một mức thành công nào đó. Các tài tử video bây giờ tuy trẻ, đẹp nhưng tài nghệ xem ra không hơn được các bậc đàn anh đàn chị như Địch Long, Khương Đại Vệ, Miêu Khả Tú, Thượng Quan Linh Phụng … nhất là chưa có ai sánh được với Lý Tiểu Long. Gọi là phim võ hiệp thì quyền pháp phải có bài bản, đòn đánh phải có khí lực. Phim video võ hiệp vẫn múa may khơi khơi, đòn đánh tà tà, phi thân ào ào, ám khí lách cách … xem ra chỉ cốt cho huê dạng mà không có thực tài. Cái giả nhiều hơn cái thật. Tạ Tốn ra Băng Hỏa Đảo, séquence quan trọng nhất là hồi Tạ Tốn múa đao Đồ Long tiến vào hang đá, nơi Trương Thúy Sơn đang bảo vệ cho Hân Tố Tố sắp khai hoa nở nhụy. Một cảnh then chốt chuyển hóa tâm thức của Tạ Tốn, đang từ kẻ đại thù biến thành nghĩa huynh, đứa trẻ sơ sinh đáng lẽ chết nát thây dưới bảo đao Đồ Long như năm xưa đứa con xấu số của Tạ Tốn bị xé xác dưới tay Thành Khôn, bây giờ đứa trẻ mới sinh Vô Kỵ trở thành nghĩa tử yêu thương của Tạ Tốn, tiền đề cho mấy ngàn trang diễn biến sau này. Một bề dày tâm lý và sự việc như thế mà trên truyền hình chỉ chiếu sơ sài chừng vài phút. Tạ Tốn gầm gừ vài ba tiếng, đánh nhau lách cách mấy hiệp Trương Thúy Sơn sắp thua thì đã nghe tiếng hài nhi òa khóc …
Kim Mao Sư Vương ngừng tay đao và sau đó là cảnh vợ chồng Thúy Sơn – Tố Tố cúi đầu dâng đứa hài nhi cho Tạ Tốn. Nhân vật Tạ Tốn cũng như chiều sâu tâm lý của Kim Mao Sư Vương được Kim Dung xây dựng như một tảng băng trôi. Cái phần hiện ra trên mặt biển, dưới ánh sáng mặt trời rất nhỏ, rất ít. Cái phần tiềm ẩn dưới mặt nước kia mới thật là một rặng “Thiên Sơn” thật hùng vĩ, thật kỳ ảo. Phim video võ hiệp sáng tác theo truyện Kim Dung theo thiển ý, mới chỉ khai thác được phần nổi, chưa khai thác được phần chìm. Tài năng Kim Dung qua phim vidéo, vẫn còn là một kho tàng còn chìm sâu dưới nước …

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.