Buồn Vui Phi Trường

vietmessenger.com

Dương Hùng Cường

Kim Anh xuất bản 1966

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

Chương 5.

Về nước, Thắng mang lon trung sĩ. Một chữ V vàng nằm trên vai. Thắng và những bạn làm cái lon, chữ V hơi doãng ra nhiều một chút, để trông nhập nhoạng, cứ tưởng là thiếu úy…. Chữ V gần như thành chữ I. Bây giờ nghĩ lại, Thắng không hiểu sao mình lại hiếu danh đến như thế. Nhiều khi, Thắng và các bạn thắc mắc hỏi nhau rồi tự trả lời. Tạm thời lấy làm thoả mãn ở những câu trả lời, nhưng rồi vẫn ấm ức.

– Sao mình không được là sĩ quan nhỉ?

– Tại mình học ở cái trường thợ máy của Tây, cái trường đó nó chỉ đào tạo hạ sĩ quan…

– Thì chỉ là một sự thay đổi tên…Gọi cái trường đó là trường đào tạo sĩ quan thì đã sao?

– Không được…

– Tại sao không được?

– Nếu cho mày là sĩ quan thì làm sao bắt được mày cầm búa, cầm kìm, cầm mỏ-lết…Làm gì có sĩ quan dầu mỡ…

Chỉ có thể trả lời được đến như thế…Ở vào cái thời đó, kiếm một cái cấp bực Thiếu-úy, không phải là chuyện khó. Trường Đà Lạt, trường Thủ Đức, lúc nào cũng mở rộng cửa đón chờ…Chỉ cần bỏ cái kìm, cái búa, xông ra cầm súng là đã có quyền “vinh hoa phú qúi”. Nhưng những thằng như Thắng thì đâu có cần.

Lúc nào cũng làm như mình đang sống ở thời Xuân Thu, Chiến Quốc. “Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu thì cần gì công hầu, khanh tướng…” Nhưng tại sao cứ thích làm cái chữ V có cái góc tới hơn một trăm độ? Tại sao khi đi ngoài đường, gặp những người lính chào lầm, vẫn cứ lấy làm khoan khoái, dù biết rằng cái khoái ấy nó rất trẻ con?…

Tuổi Thắng mới vừa tròn hăm mốt. Vừa đủ tuổi để làm người. Nhưng hơn một năm trời sống ở trường Rochefort, về nước, thấy cái nhân tình, thế thái, Thắng bỗng sinh ra yếm thế. Một cái ngao ngán nhú dậy ở trong người. “Mưu sự tại nhân, thành sự tại ngân”. Lương trung sĩ, hai ngàn bốn mươi tám đồng. Ngồi trong quán nước mà cứ thấp thỏm thò tay vào túi đếm tiền.

Nhưng có một điều an ủi là những người phi công cũng cùng chung một cảnh ngộ. Cũng chỉ mang lon trung sĩ, lương cũng chỉ như vậy. Buổi sáng ăn mấy đồng bạc xôi, đi bay dù rằng tốt nghiệp ở Nha Trang, ở Marrakech hay ở Avord.

Thấy những người bạn cùng khoá người Cao Mên, người Lào, đang học trường, vừa hết phase đầu đã được mang lon thiếu úy, lòng cứ thấy ngùi ngùi làm sao ấy…Một chút ganh tị. Nhưng rồi cũng tự an ủi rằng nước chúng nó đâu có cái lịch sử “bốn ngàn năm văn hiến”.

Thỉnh thoảng, Thắng và những người bạn ngồi đầu hè, nhìn trăng sáng của bờ biển Nha Trang, để triết lý vụn về cuộc đời. Trước mặt là đài Kiểm-soát Nha Trang mờ mờ ánh đèn. Phía tay trái, phi đạo nằm im, ngủ kỹ. Thỉnh thoảng, phi trường mới thắp đèn sáng cho một phi cơ dân sự hạ cánh về ban đêm. Đèn phi đạo thắp bằng dầu lửa, có cái bấc to bằng cổ tay. Đặt cho ngọn lửa xuôi theo chiều gió. Khi tàu bay hạ cánh xong, lại tắt đi…

Thắng nghĩ tiếc cái thời mà mình và tất cả đều mang lon trung sĩ ở Nha Trang. Có những người phi công lái tàu bay “bà già” Morane 500. Có những người phi công lái tàu bay hai máy Marcel Dassault 315. Tất cả đều có những phút bốc đồng , những phút vui đùa như thời học trò. Những người thợ máy như Thiện, như Kính…Những người bạn làm các nghề khác như sửa radio, nghề kiểm soát không lưu. Những người bạn phi công như Hữu, như Ngọc, như Đặng, như Pi-lốt Thái Bình…

– Mấy cái thằng trung sĩ đi Tây về thật ba gai..

Một ông thiếu úy than phiền như vậy những vẫn có ý nể…Không nể làm sao được khi trong đám trung sĩ có những con người tài ba như Hữu, mà đến Tây cũng còn sợ.

Có một lần, Hữu lái tàu bay Marcel Dassault hai động cơ mà hạ cánh xuống một phi đạo thật ngắn. Chạy đến hết phi đạo, mà tàu bay vẫn còn trớn. Nếu đạp thắng mạnh thì nhào luôn. Hữu đã thật bình tĩnh, đạp thắng chân trái. Tàu bay quay về bên trái . Hữu bỏ thắng bên trái, rồi đạp mạnh thắng bên phải. Hữu cứ làm vậy cho tới khi hết đà, tàu bay ngừng lại. Thằng phi công Tây ngồi bên cạnh, xanh mặt một lúc mới hoàn hồn, nhìn sang Hữu, thấy Hữu nhoẻn miệng cười, một nụ cười rất học trò…

Những phút bốc đồng của tuổi trẻ gần như thường xuyên. Cái thời vô tư lự, sống hồn nhiên như một tảng đá, không cần biết lo nghĩ, không coi một cái gì là quan trọng, kể cả sự sống và sự chết. Cuộc đời thật đẹp trong những buổi chiều, ngồi ở đầu nhà nhìn ra biển. Những cánh buồm ngoài khơi dần dần xa, chỉ còn thấp thoáng.

Thắng nhớ hết những người bạn xưa..Có những con người liều như Ngọc. Có thằng Tây nhất định bênh cái văn minh của nước mình…Khi một ông kỹ sư Tây chế ra cái tàu bay mà có bánh đáp ở đằng trước, thì hạ cánh, cái đuôi không bao giờ có thể được xuống sân nhựa. Ngọc hỏi lại:

– Có thật không?

Thằng Tây quả quyết:

– Nhất định là như vậy…

– Mày chịu trách nhiệm nhé….Tao hạ cánh cái đuôi quẹt đất cho mày coi.

Sau một cái gật đầu, Ngọc leo lên phi cơ và làm một vụ “xin tí lửa”. Hai bánh xe chạm đất với cái đuôi kéo lê bật lửa. Chỉ tội nghiệp cho mấy người lính chữa lửa rú còi xe, chạy theo. Phi cơ chỉ bị hư hại nhẹ nhưng Ngọc cũng bị các quan Tây mắng. Thắng và các bạn Thắng nhiều khi quên hẳn mình là dân mặc áo kaki.

Tất cả những cư xá độc thân của các căn cứ, cái nào cũng giống nhau. Cũng có một lũ người nghịch như quỷ sứ. Cũng có những thằng sống như thời tiền sử, tồng ngồng không cần che đậy. Cũng có những thằng sợ ma như thằng Trọng, không dám ngủ một mình. Khi nào mà thằng nằm cùng phòng đi trực hay đi gác thì lại ôm mùng mền, chăn chiếu đi ngủ nhờ. Trọng bảo Thắng:

– Nằm một mình ở đây, nó cứ ghê ghê mày ạ.

Những buổi tối, căn phòng ở đầu nhà dùng làm cầu tiêu và nhà tắm, bóng đèn bị hỏng là Trọng lại khổ sở vì phải làm những công việc cần thiết. Đi tiểu thì Trọng mở quần ngay từ ở ngoài đầu hè, xông vào trong, làm vội vàng rồi lại ra ngay…Có nhiều khi “tưới” cả lên người cái thằng đang ngồi nhăn mặt trong cầu tiêu.

Có một lần, Thắng đã thử đùa chơi, nhưng lần sau thề không dám tái phạm. Những bức tường của cầu tiêu chỉ thấp vừa tầm tay. Thấy Trọng ngồi bên kia, Thắng ở bên này thò tay qua giật nước. Nước chảy ào xuống mạnh làm Trọng hoảng hốt, tông cửa nhảy bổ ra ngoài, húc đầu vào cánh cửa, chạy một mạch về phòng. Sáng ngày mai, Thắng thấy trán Trọng sưng vù lên như quả ổi…

Một sự hối hận đè nặng chĩu…Thắng xuống ban Kiến-tạo xin thay cái bóng đèn. Thắng đã đứng nhìn bốn ông lính thay một cái bóng đèn. Hai ông đứng giữ một cái thang, một ông leo lên. Một ông nữa ở dưới đưa cái bóng đèn cho ông đứng ở trên. Ông này tháo cái bóng đèn đưa cho ông ở dưới, lắp cái bóng đèn mới rồi leo xuống. Bốn ông lính thay một cái bóng đèn, từ từ vác thang đi ra.

Buổi sáng, Thắng lên Đài Kiểm-soát chơi với Trọng. Thắng leo bốn cái cầu thang lên một cái lầu cao, chung quanh bằng kính để nhìn thấy rõ hết cả phi trường. Trọng là một thằng thích làm thơ nên đã gọi đó là Lầu Gương. Nó làm dăm bảy bài thơ ca tụng Lầu Gương gửi đi các báo. Mỗi một lần báo đăng thơ của nó là mỗi lần bọn Thắng lại khổ sở vì phải nghe nó bình thơ.

Thắng vào trong Lầu Gương, thấy Trọng đang ngồi trầm ngâm. Phi cơ hạ cánh và cất cánh của cái phi trường này thật ít. Chỉ phần nhiều là những máy bay “bà già”, rất sợ gió ngang. Hai cái cẳng lúc nào cũng thò ra ngoài, nên có những cuộc đối thoại vô tuyến ngộ nghĩnh. Cứ khi nào gần hạ cánh, vì quen mồm, những anh chàng kiểm soát không lưu nhắc tới vụ kiểm soát lại cẳng đáp thì lại có tiếng cười hì hì trong máy vô tuyến:

– Hai cái cẳng thò ra từ…khuya. Tàu bay “bà già” mà, khỏi cần kiểm soát…

Trọng cứ ngồi trước bàn, bên cạnh mấy cái máy vô tuyến, chờ phi cơ gọi. Tiếng ồm ồm trong máy vô tuyến. Thắng đập mạnh vào vai Trọng:

– Kìa, tàu bay nó đang gọi mày..

Trọng tỉnh cơn mơ, cầm lấy cái micro..Nó bàng hoàng hỏi Thắng. “Tàu bay ở đâu thế mày?…Ống gió rách mẹ nó rồi, chiều lại phải trèo lên thay cái khác…Gió ngang mạnh thế này, bà già mà đáp, ông cho thì hộc máu mồm….”

Trọng đập mạnh tay vào chiếc máy đo gió, coi đèn chỉ chiều gió có thay đổi gì không, rồi chửi thề thật tục. Ngồi đây nhiều lúc cũng buồn. Việc hạ cánh chỉ trao đổi vài câu ngắn ngủi…”gọi lại ở gió xuôi – Số một hạ cánh – Hạ cánh đi, gió ngang bên trái, mười sáu gút, cẩn thận….” Tàu bay vào bến đậu, tắt máy. Trọng lại ngồi chờ một tàu bay khác.

– Tao sắp xin đổi nghề…

– Tại sao vậy?…

– Sắp sửa có nhiều tàu bay của Mỹ sang đây, làm việc mệt lắm. Với lại, tao rất sợ thức đêm một mình, nhìn những con đom đóm.

Những con đom đóm mà Trọng nói đây là những đèn lập loè, chớp, tắt, ở hai bên cánh máy bay. Đèn bên trái màu đỏ, đèn bên phải màu xanh. Phải nhớ như vậy, nếu không tàu bay bay tới lại cứ tưởng tàu bay bay đi…

– Tao đang xin đi bay lại. Tao bị loại ngày xưa cũng chỉ vì một lúc hứng thú, sà xuống thấp ở đồng cỏ để đuổi bò. Thôi chuyến này, tao cũng đành vĩnh biệt Lầu Gương.

Trọng thổ lộ với Thắng về việc xa Lầu Gương với nhiều luyến tiếc. Không biết có phải sự luyến tiếc thực tình hay chỉ vì ở đây có một người con gái đẹp. Một cô lính đàn bà. Hồng, nàng công chúa của Lầu Gương, không hiểu rằng khi mặc chiếc áo dài thuần túy có đẹp không, nhưng trong bộ quân phục “lính đàn bà” thì trông cũng xinh lắm.

Khi mà Hồng bước chân lên thang gác thì bọn Thắng lại có năm bẩy cặp mắt hau háu nhìn theo cái gấu váy nhảy nhót trên đầu gối. Những lúc mà Hồng gác chân lên thành ban-công, ngắm trời, ngắm mây thì lũ người phía dưới cũng ngước mắt nhìn lên trời, mong ngắm được…một vì sao hiện ra giữa ban ngày…

– Mày bỏ Lầu Gương, mày không nhớ cô Hồng?…

Trọng cau mặt. Sự có mặt của cô lính đàn bà vào loại hoa khôi này gây ra nhiều nỗi bực mình.

Mày có bao giờ biết được cái đau khổ của việc chỉ còn đủ tiền mua một gói thuốc lá mà phải nhịn thuốc để mang tiền đi biếu bà thợ giặt?…Mày có biết được cái hân hạnh và sung sướng được trả tiền ăn sáng cho hai người?… Còn nhiều thứ nữa. Như những chuyện phải nghe và trả lời tô-lô-phôn suốt ngày. Cứ có tiếng chuông reo, nhấc máy lên là có một ông xin gặp người đẹp…

Trọng tả oán nghe thật lâm ly như làm một bài thơ u sầu. Thắng cũng đã nhiều lần nhìn cô lính đàn bà làm việc. Tiếng máy chữ lách ca, lách cách. Hồng đánh máy cứ một ngày thì xong một công văn. Lấy gương soi lại mặt năm lần. Nói chuyện điện thoại đến mười lần. Trông đến sốt cả ruột.

– Mày lại đi, buồn nhỉ…Tối nay, mình đi uống gì chăng?

Trọng nhìn dãy núi phía trước mặt. Những đám mây trôi lang thang khắp bầu trời, khi tới đỉnh núi thì ngừng lại.

Đỉnh núi càng cao, mây tụ lại càng nhiều. Tình bạn bè ở noi đây, giữ chân những đám mây giang hồ. Nhưng ngừng lại ở đây, nhìn xuống cái thung lũng cô đơn, thấy mình cứ tan dần…tan dần như những đám mây kia.

Dạo này, tụi Thắng uống say luôn…Tụi Mọi da trắng sửa soạn lên đường trở về quê mẹ, nên mời đi uống lu bù. Mụ Béo, chủ cái quán trong phi trường, cười cứ tít mắt, luôn tay rót rượu ra ly, luôn tay đếm tiền. Tậu nhà, mua xe ô-tô. Anh chồng bị đi mua hàng nhiều quá, người cứ gầy tọp đi, còn chị vợ thì càng ngày càng phì ra y hệt một cái xe tăng. “Tốt mái, hại trống” là thế…

Bọn Tây về nước cũng làm cho Thắng thấy nhớ và buồn. Tuy rằng trước đây, thỉnh thoảng vẫn có những vụ cãi nhau nho nhỏ. Những thằng Tây, học cùng trường, cùng lớp, Thắng rất hiểu tài sức nó, nhưng sang đến bên này bao giờ nó cũng được làm sếp…Nhưng lúc nào cũng thật bình đẳng vì vướng chút tình bạn bè.

Kể ra thì sự sống chung với Tây, cũng không đến nỗi bực mình nhiều lắm. Bây giờ phải chia tay. Một sự luyến tiếc thực tình. Những cuộc tiễn đưa, những câu nói vĩnh biệt ai oán. Những thằng Tây uống say rồi hát. Hát chán rồi xoay ra khóc. Rượu trong chai vơi dần. Lũ Mọi da trắng bắt tay lũ Mọi da vàng thật chặt rồi mếu máo dặn:

– Thôi, tụi mày ở lại…Tao để lại vợ tao cho đó. Hễ vợ tao nó có nhờ tụi mày viết hộ thư xin tiền tao thì tụi mày đừng có viết…

Lũ Mọi da trắng cứ ân cần dặn đi dặn lại…”Chúng mày phải hứa trên đầu lũ con chúng mày là chúng mày không được viết thư hộ cho vợ tao…”. Thằng nào cũng hứa vì đã làm gì có con mà sợ. Những thằng Tây có vẻ hả hê lắm. Nút chai mở liên tiếp, rồi đến chừng nửa đêm thì dìu nhau, vừa hát, vừa nôn mửa từ quán rượu về tới phòng…Trong ba tháng trời, chúng nó ra đi, Thắng vừa thương nhớ, vừa phải tiễn đưa chúng nó mà sụt mất bốn kí-lô

Lũ Tây về nước hết…Trong hangar, vắng hẳn tiếng cười đùa. Thắng mỗi lần thấy nhớ tụi nó thì lại tới kiếm vài em me Tây cũ, đấu tiếng Tây bồi…

Trước cửa các căn cứ Không Quân, thường có những quán giải khát, nhà tranh vách đất. Đêm đêm, lập loè những ánh đèn tù mù. Căn cứ Biên Hoà có Dốc Sỏi. Căn cứ Nha Trang có khu Colonna. Tân Sơn Nhất có khu Lăng Cha Cả… Những anh chàng mũi lõ, mắt xanh đi tới đâu là cũng phải có những người đẹp theo sau…

Những cô vợ Tây, thỉnh thoảng chồng đi vắng lại “nhảy dù” với một kép lô-can. Những mối tình nội hoá để điểm tô cho những mối tình nhập cảng. Có nhiều khi lại có sự thoả thuận của hai anh chồng.

Thắng đã nghe nhiều tâm sự của các cô vợ Tây. Đời nàng nào cũng nhiều cay đắng như Thúy Kiều. Đi làm đĩ để nuôi mẹ…Đi làm đĩ để nuôi con…Tâm sự thật nhiều mà cuộc sống thì hời hợt. Cô nào cũng có một tên ghép để gọi cho dễ phân biệt… Hỏi đến cô Bích thì phải nói rõ là Bích đen, Bích trắng, Bích què hay Bích lé… Thắng chỉ khoái xem các cô đánh nhau, chửi nhau…Tiếng Tây, tiếng ta văng ra ầm ầm . Chỉ cần đứng coi vài ba phút là thế nào cũng được xem một màn thoát y vũ, nhạc đệm là những câu chửi nghe như tiếng hát.

Lũ người đó chỉ cần một chuyện nhỏ cũng để đánh nhau, chửi nhau. Những lũ con lai sống vất vưởng. Chưa đến mười tuổi đã biết nó những chuyện bậy bạ… Có nhiều đứa còn thích rủ nhau làm chuyện vợ chồng. Mẹ chúng nó còn bận làm ăn hay đánh bài. Những cái tục tĩu diễn ra trước những con mắt nai ngơ ngác.

– Tao “đi” với một thằng, nó trả một trăm, toàn giấy một đồng, đếm mỏi tay quá…

– Cái thằng bán cà-rem cục vẫn thường đi qua đây đấy mà. Hồi nãy, nó có hỏi tao, nhưng tao không “đi”.

Các em vợ Tây xuống dốc quá rồi…Mỗi lần đi ra phố, Thắng lại phải chứng kiến cảnh tiêu điều của các khu mà khi Tây còn ở đây, đã có một thời vàng son. Những cái đầu uốn quăn xơ xác, nằm gác chân lên nhau ca vọng cổ…”Em ơi em, có tiền lẻ cho anh mượn năm ư…ư…tì. Hai tì thì anh mua tờ báo, còn ba tì thì anh mua bốn điếu thuốc Ru-by…” Buồn ơi là buồn. Thỉnh thoảng lại tung ra cho nhau nghe một tin vịt:

– Tây nó lại sắp sang đây đấy mày ạ!

– Đứa nào nói vậy?…

– Thì mấy anh ở trong căn cứ.

– Ối dào! Nghe mấy thằng đó thì có ngày bán..”xì-líp” mà ăn .

Tuy rằng nó vậy, Thắng vẫn thấy các em soi lại mặt vào tấm gương nhỏ, kéo mạnh cái má hóp, vuốt lại cái đầu tóc rối, rồi than thở với nhau. Mình “ngáo” quá rồi… Chờ được đến lúc chúng nó sang thì đã thành bà lão…

Thắng quen gần hết mấy chị me Tây ở trước cửa phi trường. Cũng có những người con gái con nhà lành sa chân lỡ bước. Như là Bích. Ai đưa em đến chốn này? Bích nói tiếng Tây vi va vi vút, lên bổng xuống trầm với nhiều “ắc-xăng” qúi phái. Bích rủ Thắng:

– Thắng về ở với em đi…Một mình buồn quá. Đêm nằm chỉ muốn khóc.

Bích có một đứa con gái nhỏ tên Gian. Bé Gian ngoan hơn lũ con lai ở đây nhiều.

– Con thằng Mi nhông đấy!…

– Có thật không?….Hay là nó chỉ có công việc làm giấy khai sinh.

Bích dẩu mỏ, giận dỗi…Nhiều lúc trông Bích vẫn còn nhiều chất nữ sinh của trường đạo. Thắng hay bế bé Gian vào trong trại. Lúc Thắng làm việc, bé Gian hay đi thơ thẩn, nhặt những chiếc “bù loong”, nhét đầy túi áo.

Những thằng bạn của Thắng hay đưa bé Gian xuống Câu-lạc-bộ, bắt bé uống hết một ly bia. Bé say, chúng nó bế bé đứng lên bàn, múa hát nghiêng ngả. Lúc bế về trả Bích, Bích thấy con có vẻ khác thường, ngửi mồm bé rồi hỏi Thắng:

– Anh cho cháu uống la-de phải không?

Thắng chối biến:

– Đâu có…. Cháu uống nước cam đấy chứ.

Người đàn bà trẻ tuổi nhưng đã từng trải nhiều mùi đời, bồng con đi ngủ. Trong phòng tắm đã sẵn nước tắm và bộ quần áo “pi-dam-ma” cho Thắng. Thắng nghĩ rằng sao mình không lấy Bích?..Bích cũng là đàn bà. Lấy vợ là lấy một người đàn bà… Bất cứ người đàn bà nào mà mình chẳng có thể lấy làm vợ?…

Những ngày sau, đưa bé Gian vào trại, khi đi làm, Thắng bế bé lên Đài Kiểm-soát gửi Trọng. Trọng làm việc trên Đài Kiểm-soát, nhiều lúc thật buồn…Ngồi cả giờ, không có máy bay, nhưng cứ hễ vừa bước chân xuống cầu thang là lại có tiếng ồm ồm trong máy phóng thanh…Ngồi cứ như dính vào ghế, suốt ngày. Có nhiều khi, chạy hộc tốc từ dưới nhà lên chỉ để trả lời một cái tàu bay thử vô tuyến…

Chính phủ lại vừa giải tán lính đàn bà. Không có cô Hồng để ngồi đấu láo. Không có lính đàn bà, phi trường buồn thiu. Ống gió đứng ủ rũ. Lầu Gương như bơ vơ. Chàng thi sĩ Trọng ngồi làm thơ và dạy bé Gian học thơ. Trọng đọc:

– Mẹ ơi…

Bé Gian đọc theo:

– Mẹ ơi…

– Con muốn…

– Con muốn…

– Lấy chồng…

Bé Gian thật thông minh…Chỉ một lúc là bé đã học thuộc hết bài thơ. Chiều về, đọc cho mẹ nghe vanh vách:

“Mẹ ơi, con muốn lấy chồng,

Con ơi, mẹ cũng một lòng như con.

Mẹ ơi, con đã có thai,

Con ơi, mẹ cũng được vài tháng nay.

Mẹ ơi, con hứng tình thay,

Cha mẹ con này, thật giống tính tao…”

Bích cau mày nhìn Thắng:

– Anh chỉ dạy cháu hát bậy bạ…

– Đâu có phải anh…Thằng Trọng đấy.

Thế là Trọng được ăn đủ các thứ bẩn thỉu…Bích càu nhàu một hồi. Thắng nằm lăn ra giường, cái giường nệm thật êm. Thắng cảm thấy dạo này, mình sinh ra lười biếng. Thắng cứ miên man suy nghĩ. Mình không thể nào lấy Bích được. Cứ coi cái cách mà bạn bè của mình đối đãi với bé Gian thì khó làm thế nào có thể để chúng nó gọi Bích bằng chị. Cái dĩ vãng của con người ta cũng khó gột sạch lắm. Cái ám ảnh xấu xa, nó như bóng với hình mình cả đời, lúc nào nó cũng bám dai như đỉa.

Muốn sống riêng cho mình cũng khó lắm. Thắng nhớ tới những lúc Bích đánh nhau với những cô me Tây khác. Mặt Bích đằng đằng sát khí. Cũng chửi rủa, xé quần, xé áo và đi những đường guốc chí mạng. Rồi sẽ có một ngày đẹp trời nào đó, mình sẽ là nạn nhân của em?.. Thắng đã nghe Thiện đầu bạc nói:

– Tụi chúng nó ghê lắm. Lúc mình chưa lấy nó thì nó chìu chuộng mình đủ thứ. Nhưng tới khi mà làm xong cái tờ giấy giá thú thì sẽ biết nhau ngay.

Thắng thấy sợ ghê gớm. Cứ nghĩ cuộc đời của mình phải chịu đựng một cái gì không vừa ý, suốt đời…Kiếm một cái giấy giải ngũ đã thật là khổ rồi…Lại còn bận bịu những chuyện khác, thì quả thật là nên bế mạc cuộc đời.

Thắng lại âm thầm từ giã Bích vào sống trong cư xá độc thân. Nhiều thằng chịu không nổi nỗi sầu cô độc, sẽ dính vào mấy cô vợ cũ của Mọi da trắng, làm đơn xin phép cưới vợ, trong số đó có cả thằng Pi-lốt Thái Bình.

Buồn Vui Phi Trường

vietmessenger.com

Dương Hùng Cường

Kim Anh xuất bản 1966

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

Chương 3.

Buổi sáng, Thắng thức dậy lúc bảy giờ…Hối đã về từ lúc nào Thắng không biết, đang nằm ngủ trên giường, chân tay dang ra trong một dáng điệu rất thoải mái. Chắc Hối về từ lúc năm giờ sáng. Qua một đêm vất vả trông Hối như già thêm. Thắng rửa mặt, lấy xe phóng xuống phi đoàn trực thăng, rủ Đặng đi ăn sáng.

Đặng là phi công trực thăng, có tính gàn ghê gớm. Tối hôm qua, Đặng phải trực tại phi đoàn nên có dặn Thắng nhớ tới rủ đi ăn sáng. Lúc Thắng xuống tới nơi, thấy Đặng đang ngồi tán gẫu với mấy người tân binh gác tàu bay trong hangar. Thắng phóng xe lại gần.

– Mấy cha gác tàu bay nói chuyện, đêm hôm qua nghe thấy tiếng vật nhau huỳnh huỵch ở trong tàu bay trực thăng. Mày có tin không?

Thắng chưa biết trả lời sao, thì anh chàng hạ sĩ ngồi gần đó lên tiếng công nhận:

– Gác trực thăng thấy như vậy là sự thường…

Mặt của Đặng như buồn hẳn lại… Chàng nhớ tới một người bạn thân. Hắn là một cây sợ ma, không ngờ bây giờ hắn lại thành ma. Đặng vẫn có những cái vui, buồn bất chợt. Nhiều khi ngồi lái tàu bay, Đặng cứ cười một mình. Người ngồi bên cạnh hỏi thì chàng chỉ cho thấy nhiều cái khôi hài trong tàu bay. Cái cần lái thì dài quá, cái tay ga thì ngắn quá mà vẫn cứ phải ở chung với nhau. Ngày nào cũng chỉ có ngần ấy cái đồng hồ. Thế mà không hiểu sao chỉ nhờ cái cần lái với hai cái bàn đạp mà nhiều thằng tậu được nhà, mua được xe ô-tô.

Người ta cho Đặng là gàn vì Đặng hay có những triết lý lẩm cẩm. Nghe chuyện một ông quan lớn tát ông quan bé, Đặng cũng cứ thắc mắc: “Sao người ta lại tát nhỉ? Tát thì đâu có đau. Sao lại không đấm, sao lại không đá?…” Đặng có thật nhiều băn khoăn trong nội tâm nên lúc nào cũng có một dáng đi thẫn thờ.

Đặng ngồi lên yên xe đằng sau của Thắng. Thắng rú ga, vọt mạnh. Gió buổi sớm mai lành lạnh, thổi bay của Đặng chiếc mũ dô-kề. Đặng cằn nhằn:

– Chạy xe gì mà như đi ăn cướp…

Những anh chàng phi công trực thăng hình như ghét tốc độ, thích một tác phong tà tà… Đi chở xác chết tất không muốn mình lại thành một xác chết. Đi lôi những chiếc tàu bay nằm ăn vạ ở ruộng về, rất không muốn lại bị người ta lôi mình…

Đặng hay kể cho Thắng nghe cuộc đời của một phi công trực thăng. Lái trực thăng, hay bị chở xác chết. Có những xác chết, mặt mày nhăn nhó như đã trải qua những giây phút đau đớn cùng cực trước khi chết. Những xác này, phần nhiều là xác sĩ quan. Thường thường, họ cố bấu víu lấy sự sống nhưng những vết thương trên người quá kinh khủng, khiến người nhìn xác chết có cảm tưởng như xã hội của những người đầy đủ xương thịt đã đóng kín cửa lại rồi…

Có những xác chết, nét mặt có vẻ vui, trên bộ mặt trắng bệch vì hết máu, có điểm một nụ cười nhợt nhạt. Những xác này phần nhiều là lính. Trong khi chờ trực thăng tới, những xác chết đó để dưới cơn mưa tầm tã, hay nắng thiêu người nhưng không phải vì thế mà nụ cười bị tắt trên đôi môi tím.

Ngày nào cũng chở xác chết, mới đầu Đặng thấy nghẹn ngào, chua xót. Đã nhiều lần, Đặng đã lớn tiếng nói những lời thật thậm tệ để sỉ vả những kẻ, vì vội mà cẩu thả với những xác chết. Nhưng sau này, Đặng quen đi. Những buổi chiều, bay trong bầu trời u ám, Đặng không phân biệt được là sương mù buổi chiều đang xuống hay mình đã nhìn cảnh vật chung quanh qua ngấn lệ. Nhiều khi ngồi im lặng trong phòng lái, Đặng tò mò, cúi đầu xuống, nhìn lại đằng sau thấy toàn là những xác chết. Đặng bỗng thấy rùng mình, cảm thấy mình cũng biến thành xác chết.

Đặng kết luận với Thắng:

– Chỉ là một sự thay đổi danh từ… Nếu tiếng “chết” mà đổi thành tiếng “sống”, thì những người nằm đó là những người sống, còn tao, tao đang ngồi trong phòng lái chỉ là… chỉ là một xác chết.

Đặng vẫn có những lúc chán đời như vậy. Hai người đi vào Câu-lạc-bộ Lê Hoành Sơn. Khi tên người nào mà đã được đem ra đặt tên cho một Câu-lạc-bộ, thì kẻ đó tất nhiên là đã “ngỏm củ tỉ”. Lê Hoành Sơn, Lê văn Lộc, Huỳnh Hữu Bạc. Có những người bạn, từ lâu không gặp , Thắng tưởng rằng nó đổi đi xa, không ngờ một hôm, ghé qua một căn cứ, gặp cái bảng tên nó treo trước một quán ăn. Như trường hợp, vài hôm trước ở Đà Nẵng, Thắng vào Câu-lạc-bộ Nguyễn Bội Ngọc. Chàng kinh ngạc hỏi Thiện:

– Nó chết rồi à?…

– Thằng nào?

– Ngọc…Nguyễn Bội Ngọc.

Thiện trợn tròn mắt nhìn Thắng, như tưởng rằng Thắng ở trên cung trăng vừa rớt xuống. Mày không biết à? Báo chí đăng ầm lên, vụ lựu đạn nổ trong kỳ triển lãm Không Quân trước toà Đô-chính. Thằng Ngọc đã anh dũng nằm đè lên trái lựu đạn để cho dân chúng ít chết. Thế là nó thành anh hùng. Tên nó người ta đặt cho Câu-lạc-bộ.

Thắng và Đặng ngồi vào bàn, gọi hai tô phở. Phở ở đây không ngon lắm, nhưng vẫn đông khách vì người ta ngại ra phố. Những tấm màn cửa sổ màu đỏ vẫn còn kéo che kín. Câu lạc bộ này, buổi tối là một dancing, nên ban ngày kéo màn cửa sổ vẫn giữ được cái không khí âm u.

Lúc Thắng và Đặng ra ghế xa-lông ngồi uống cà-phê thì có một ông Đại-uý tiến tới bàn. Ông bắt tay Đặng thật chặt. Bàn tay bắt tay Thắng thật lỏng lẻo, nhạt nhẽo. Ông hỏi Đặng:

– Hôm nay, tàu bay toa đi Nha Trang?

Đặng trả lời khó chịu:

– Ừ, có chuyện gì không? Tôi đi đổi phiên cho thằng Trịnh.

– Cho moa quá giang đi Nha Trang có được không?

Thắng thấy mình có bổn phận kéo một cái ghế để tỏ ra mình lịch sự:

– Anh ngồi chơi.

Thắng bắt gặp đôi mắt lạnh lùng. Ông Đại-uý vẫn đứng chờ Đặng trả lời. Đặng thản nhiên:

– Có quyền…

Ông Đại-uý tươi hẳn nét mặt:

– Cám ơn, cám ơn toa. Chín giờ moa tới phi đoàn toa nhé. Chờ moa rồi hẵng cất cánh nhé.

– Đồng ý.

Ông Đại-uý đi rồi, Đặng nhìn ly cà-phê, nước nhỏ giọt vào trong ly. Đặng gọi những giọt cà-phê là những giọt nước mắt đen. Thắng vẫn bị ám ảnh bởi đôi mắt lạnh lùng:

– Thằng đó nó có vẻ ghét tao, không hiểu tại sao…

– Tại mày gọi nó bằng anh. Ồ, để ý đến nó làm gì. Những thằng ăn giấy, những con mọt giấy, ngày nào cũng sống trong bốn bức tường, có bao giờ tìm thấy cái phóng khoáng của con người. Với lại cũng tại mày. Nó là đại úy, mày cứ gọi nó bằng đại uý. Đó là cái thuyết chính danh của Khổng Tử. Con chó thì gọi là con chó, con mèo thì gọi là con mèo. ..Chẳng có việc gì mà phải đắn đo…

Giọng Đặng nhiễm đầy vẻ chua chát. Thắng thấy yêu cái gàn của Đặng:

– Mày là Trung-úy, tao có bao giờ dùng cái tiếng Trung-úy để gọi mày đâu..

Đặng buông sõng:

– Thằng Đặng là Trung-uý, nhưng không phải thằng Trung-uý nào cũng là thằng Đặng.

Thắng nhắc chiếc phin cà-phê đặt ra ngoài, cho vào ly hai muỗng đường. Tiếng muỗng nhôm đập nhẹ vào thành ly kêu lanh canh. Thắng cầm ly cà-phê lên uống mà nhìn thấy ở trong ly đôi mắt của mình. Đặng ơi, tao yêu mày… Đừng có bao giờ để cho chúng nó mang tên mày đặt cho tên một cái Câu-lạc-bộ.

Thắng nói ra mồm cái ý nghĩ đó:

– Tao mong rằng không có cái Câu-lạc-bộ nào mang tên Trần Dưỡng Đặng…

Đặng giật bắn người, như bị kiến đốt. “Ị mồm đái miệng” cái mồm ăn mắm, ăn muối của mày. Nhưng rồi Đặng ngồi thẫn thờ, cúi khòm hẳn lưng xuống, xoay xoay ly cà-phê quanh cái đĩa. Cuộc đời có cái gì là vững chắc. Thắng cũng cùng một ý nghĩ của Đặng.

Hai người cùng nghĩ tới một người bạn thân. Thằng Lê Đình, Thượng-sĩ Lê Đình. Những thằng đã chết rồi nếu không đặt tên cho Câu-lạc-bộ, người ta cũng mang tên chúng nó ra đặt tên cho một con đường. Con đường đi qua cư xá độc thân của Thắng mang tên Thượng-sĩ Lê Đình. Ngược con đường Lê Đình là đường Trung-úy Trương Hiệp, đường Chuẩn-uý Võ văn Xuân, đường Trung-uý Nguyễn Thống…

Toàn là những người quen…Tên của những con đường trong căn cứ đều gần gũi, thân mật hơn những con đường Sàigòn. Thắng chẳng quen được một ông nào có tên được đặt cho đường Sàigòn. Các cụ tổ ấy đã chết từ “đời tám hoánh” nào rồi, còn đâu nữa. Còn tên đường trong căn cứ là tên của những người có khi chết còn chưa xanh ngọn cỏ…Nhìn thấy một vài ba tấm bảng, không hiểu sao Thắng cứ thấy rờn rợn thế nào ấy.

Thắng có một thằng bạn, có một lần đi qua một con đường chưa được đặt tên. Nó nói giọng bỡn cợt:

– Con đường này để dành cho tao..

Không ngờ vài hôm sao nó “ngỏm” thật và buồn thay, tên nó người ta lại đặt cho một tên đường khác.

Dạo này trời cứ mưa luôn…Thắng nhớ tới một người phi công chết đuối ở sông Nhà Bè. Phi cơ đang bay bị hỏng máy, phi cơ của anh bị hạ cánh bắt buộc xuống sông. Đôi giày nặng quá mà anh không mặc áo phao. Xác anh chìm xuống đáy sông.

Hôm đó, trời mưa sụt sùi…Thắng đứng trên bờ sông mênh mông sóng vỗ, lơ đãng nhìn theo những chiếc thuyền con, lênh đênh đi kiếm xác. Tiếng gõ cốc, cốc vào mạn thuyền, rời rạc vang trên sông. Người thuyền chài nói rằng gõ như vậy, để xác nằm dưới đáy sông phải nổi lên mặt nước.

Thắng muốn lên một con thuyền để nếu có tìm thấy xác thì chàng được nhìn tận mặt cái con người nổi tiếng hào hoa lúc trong bụng đầy nước sông. Nhưng những người thuyền chài không cho Thắng đi.

Thắng đứng bên sông, đón những giọt nước mưa chui vào trong cổ áo, chạy dài xuống sống lưng. Một bà cụ già, nằm lăn trên cỏ, khóc còn hơn trời mưa. Một người con gái, thật trẻ và thật đẹp, tóc dính bết vào má, cắn chặt chiếc khăn mùi-xoa. Cảnh đó làm cho Thắng sợ mãi. Tối hôm đó, trước cửa phòng Thắng có một con đom đóm bay lập loè…

Lòng Thắng thật buồn nhớ tới ngày còn đi học. Đường Rollandes tràn ngập lá vàng. Thắng học cùng lớp với Lê Đình mà tên hắn viết lên bảng, gắn vào cột đèn điện…

Có một hôm, một ông nhà binh ăn mặc thật là đẹp, thật là hùng tới trường… Ông từ cái nước Sàigòn vượt mấy ngàn cây số ra đây để nói về chuyện tàu bay. Chuyện tàu bay, kể cả chuyện đi tàu bay giấy nữa, nghe thật là hấp dẫn.

Làm thế nào để cái tàu bay bay được? Nhờ có đôi cánh?…Hoả tiễn thì làm gì có cánh mà nó vẫn bay được. Nhờ ông phi công?…Tàu bay vô tuyến điều khiển chẳng cần tới ông phi công. Nhờ cánh quạt?… Tàu bay phản lực thì làm gì có cánh quạt. Nhờ có động cơ?…Những chiếc planeurs và những chiếc diều, làm gì có động cơ mà nó vẫn bay lượn trên mây.

Rồi ông ta giảng nghĩa một thôi, một hồi. Tất cả cứ há hốc cái mồm ra mà nghe. Kết quả thì tất cả cái lớp học của Thắng đều hiểu rằng, một cái máy mà bay được thì gọi là cái máy bay.

Nhưng rồi cái buổi nói chuyện ấy cũng cám dỗ được nhiều thằng. Trong số đó có Thắng và Lê Đình. Thắng làm đơn xin đi học nghề thợ máy, còn Lê Đình thì làm đơn xin đi học nghề tài xế tàu bay.

Thời đó, người mình chỉ được học lái “bà già”. Có con cào cào, nó bay lên cao, nó lộn nó nhào, nó rớt xuống sông là máy bay “bà già” đấy. Có một mùa mưa, mưa to ghê lắm, nước ngập cả hangar, “bà già” nổi lềnh bềnh trên mặt nước như xác mấy đứa chết trôi.

Máy bay “bà già” bay… mau lắm. Nếu bị ngược gió, tống lút tay ga mà tốc lực cũng chỉ gần bằng xe mô-tô. Thằng bạn Thắng, thằng Pi-lốt Thái Bình, đã lái tàu bay “bà già” đuổi theo một em ngồi đằng sau mô-tô, giơ tay vẫy, hôn gió, mà không làm sao đuổi nổi, đành nhìn theo em nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút.

Thằng Pi-lốt Thái Bình biết lái tàu bay rồi mới tập đi xe đạp. Khi nó thành phi công thì Thắng là thằng giữ xe đạp cho nó tập. Người nó cứ vẹo đi. Nó biết lái tàu bay thì người còn nguyên mà khi biết lái xe đạp thì chân mang hai cái sẹo…

Thằng này là thằng có nhiều giai thoại nhất…thế giới. Có lần bay ở Phan Thiết về Nha Trang, tàu bay “bà già” bay hết những ba giờ đồng hồ, cánh quạt máy bay còn ục oặc chưa ngừng quay, nó đã tông cửa nhảy xổ ra như gió.

Thắng ở sân đậu, giật mình ngạc nhiên, cứ tưởng rằng trong máy bay có chuột. Thắng ghé mắt, cầm tuột-nơ-vít khua khắp các gầm ghế, không thấy gì, nhìn theo thì thấy thằng Pi-lốt Thái Bình chạy mất hút về phía cầu tiêu. Cửa cầu tiêu mở ra đóng lại, gây một trận động đất nhỏ. Một lúc sau, nó mới ở trong cầu tiêu ra, mặt hí hởn, mắt sáng lên, nụ cười hể hả, ra xem xét lại máy bay. Cả phi trường được một bữa cười gần vỡ bụng.

Những người bạn ngày xưa, đi lính cùng một lần với Thắng, có Pi-lốt Thái bình, có Lê Đình… Người nào cũng có tên riêng. Lê Đình có cái tên ông Táo, vì ông Táo đội mũ, mang hia mà lại chẳng mặc quần…Tên nào đặt ra cũng có nguyên nhân. Chuyện Lê Đình thành ông Táo cũng vậy.

Một hôm nó cưỡi “bà già”, bay qua một khu bờ biển. Đang bay, “bà già” khục khặc ho lên vài tiếng rồi cánh quạt nhất định nằm ngang. May cho nó là nó đang bay cao, nên nương theo đà gió lượn xuống thấp dần và lết vào một phía bờ biển bỏ hoang, chưa có vết chân người. Ục một tiếng, máy bay của nó đâm nhẹ xuống bãi biển, gãy cẳng, cánh cắm xuống cát. Nó ra khỏi máy bay bình an, chỉ hơi nhức tim một chút xíu thôi.

Máy bay ở nhà, lâu không thấy nó về, đổ xô đi tìm. Nó thấy tàu bay, bay qua, bay lại trên nền trời mà tàu bay lại không nhìn thấy nó. Bực mình quá, nó cởi quần áo tẩm dầu xăng, đi cách xa máy bay một quãng rồi đốt, khói um lên. Máy bay lúc bấy giờ mới nhìn thấy nó, đánh dấu chỗ đó vào bản đồ rồi nhờ mấy ông quần áo trắng tới chở nó về.

Mãi đến tận mười hai giờ đêm, tàu mới cặp bến. Nó đi đôi giày cao cổ, đội mũ cát-kết, khoác cái mền của các ông áo trắng cho mượn, đi bộ từ ngoài bãi biển vào trong căn cứ. Cả cái cư xá độc thân vẫn còn chưa ngủ chạy ra xem, xúm lại nắn khắp người nó, xem nó có bị sứt mẻ gì không…Có thằng lại còn nắn cả “chim” của nó nữa. Chỉ sợ nó bị văng mất “con chim” thì đời nó tàn. Tiếng ồn ào, huyên náo đánh thức hết cả căn cứ dậy. Trông cái dáng điệu đội mũ đi hia của nó, một thằng vội đặt tên:

– Từ giờ trở đi, gọi nó là phi công ông Táo.

Thế là từ đấy, nó nghiễm nhiên trở thành ông Táo. Đối với đàn bà thì ông Táo nhát ghê lắm, nhưng về cái môn nghịch ngầm thì ông Táo lại kinh khủng.

Trong phòng ông Táo, lúc nào cũng có cà-phê. Ông Táo thích uống cà-phê, nhưng phải tự mình pha lấy. Nước cà-phê, pha lần thứ hai, ông Táo đặc biệt dành cho Thắng. Uống vẫn còn đặc và sánh. Ông Táo gọi cái cà-phê pha lần thứ hai đó là cà-phê Lundi. Tiếng cà-phê Lundi, ông Táo dùng nói chuyện với Tây, mà Tây vẫn hiểu như thường. Mấy thằng Tây thật thông minh. Rồi tùy theo giá trị mặt mũi từng thằng , ông Táo cho uống cà-phê Mardi, cà-phê Mercredi…Ấy thế mà khi gần cuối tháng, nhiều thằng vẫn còn đòi uống cả đến cà-phê Samedi.

Hồi đó, còn thời Tây…Những anh lính viễn chinh hay dở trò nhăng nhố. Ở căn cứ, cả phi trường đều ghét Đại-úy Penan. Cái thằng ông Táo bị ức hiếp nhiều lần, tức quá, viết vào trong cầu tiêu: Đại-úy Penan coi chúng mình như cục c…

Hôm sau, đã có thằng khác nối điệu: Chúng mình coi Đại-uý Penan như con cá tra…

Ấy thế mà cũng đến tai thằng đại úy mặt đỏ. Thắng thì rất phục cái thằng nào đã dịch nổi hai câu đó. Thằng mặt đỏ, đem chuyện đó ra xỉ vả anh em và ông anh cả của căn cứ thì họp tất cả lại để chửi, để vuốt ve, để hứa hẹn…Sau cùng, ông kết luận:

– Tôi mong rằng các anh em sẽ là cái gạch nối giữa cấp chỉ huy và binh sĩ…

Tiếng cái thằng ông Táo nho nhỏ ở cuối hội trường:

– Mong rằng không phải là cái gạch nối giữa đàn ông và đàn bà…

Tiếng cười rúc rích nổi lên, rồi khi ông anh cả của căn cứ bước ra khỏi cửa, tiếng cười nổi lên ầm ầm. Chuyện tiếu lâm Tây, Tàu, ta, Mỹ của những chàng trai mặt đầy chất láu cá vang vang chung quanh cái gạch nối giữa đàn ông và đàn bà. Vài thằng đạo đức giả vội bịt tai chạy như ma đuổi…

Kết quả của câu chuyện đó là ông anh cả đề nghị đổi lung tung. Ông biết rằng lũ quỷ sứ mà bị cô lập thì sẽ hiền lành như cục đất. Trong khi chờ lệnh thuyên chuyển, lũ Mọi da vàng nhất định khi nói chuyện với lũ Mọi da trắng, chỉ dùng tiếng Tây bồi. Mọi da trắng ức lắm, không thèm chơi với Mọi da vàng. Nhưng Mọi da trắng mà chơi với nhau, thì chỉ toàn những trò lẩm cẩm.

Trong một Câu-lạc-bộ, hai thằng mọi da trắng đang chơi một trò lẩm cẩm là đố chữ. Bắt đầu một mẫu tự, rồi hai, rồi cứ tiếp tục mãi…Thằng nào tịt mà thằng kia còn nói thêm được một chữ nữa là thắng…Bàn bên cạnh, bọn Thắng đang ngồi uống nước, thấy cái trò lẩm cẩm ấy mà bực mình. Hai thằng Mọi da trắng đã chơi tới chữ có năm mẫu tự.

Chợt thằng ông Táo xoay ghế, quay mặt về phía hai thằng da trắng:

– Tao biết có một chữ có 5 alphabets mà chắc tụi mày không biết…

Hai thằng da trắng cùng hỏi:

– Chữ gì vậy mày?

Thằng ông Táo đứng dậy, đi tới gần hai thằng Mọi da trắng, chõ mồm vào tận mặt hai thằng, nói như quát:

– Merde!

Cả bàn của bọn Thắng cười ầm ầm. Tiếng cười của thằng Pi-lốt Thái Bình to nhất, cứ hố hố. Thằng ông Táo ung dung trở về, ngồi vào ghế. Hai thằng Mọi da trắng mất hứng, mặt đỏ bừng, nhìn lũ Mọi da vàng bằng cặp mắt như muốn nuốt sống ăn tươi.

Rồi lệnh thuyên chuyển ra đúng vào lúc mà thằng nào cũng kiết, xoay bở người mới được ba đồng mua bốn điếu thuốc Ruby. Thằng đi Đà Nẵng, thằng về Biên Hoà. Thắng bị đổi về làm ở một bàn giấy tại Sàigòn. Ông Táo bị ở lại chỗ cũ mới khổ sở làm sao chứ. Ông Táo buồn tái, buồn tê.

Lúc chia tay với Lê Đình, Thắng như muốn khóc. “Chúng mình ở với nhau, bạn sống có, bạn chết có, sao mày nỡ bỏ chúng tao mà đi”…Ông Táo nắm chặt tay Thắng, bắt tay rồi như không muốn bỏ ra.

Cái công việc ở bàn giấy làm con người của Thắng cứ mòn đi, cứ rỉ đi. Những buổi sáng, không biết làm gì, chỉ còn cách ngồi đánh đố ruồi để xem ai phải trả tiền bữa ăn sáng. Đặt hai cái thước lên bàn, ruồi đậu vào thước của thằng nào trước thì thằng đó ăn sáng không phải trả tiền. Chơi trò này hồi hộp lắm. Hồi hộp còn hơn cái lần hạ cánh đầu tiên mà không có thầy ngồi đằng sau. Những thằng ngồi cùng bàn giấy với Thắng có đủ mọi nghề. Canh chừng ruồi không mệt bằng canh chừng thằng bạn. Cứ hễ quay mặt đi chỗ khác một tí, là nó đã thè lưỡi, liếm ngón tay rồi bôi nước miếng lên thước kẻ…

Một buổi sáng, Thắng đang ngồi canh ruồi…Ruồi đã bò gần đến thước, sắp sửa leo lên thì tự dưng bay vụt đi. Thắng ức lắm, ngửng đầu lên nhìn thì gặp “đôi mắt ngây thơ” của thằng Pi-lốt Thái Bình. Thằng này vẫn có tật ăn to, nói lớn. Nó nói rung cả cửa kính:

– Muốn nghe chuyện của thằng Lê Đình thì đi theo tao. Trả xong tiền ăn sáng, tiền cà-phê rồi tao mới kể…

Thắng thấy lòng mình thật náo nức. Những thằng bạn thân, khi xa nhau, ít khi nào viết thư cho nhau. Nếu viết cho nhau, chỉ cần viết một câu chửi lên cả một trang giấy cũng đủ tỏ nỗi nhớ nhung…Bởi vậy, Thắng theo thằng Thái Bình để nghe chuyện thằng “ông Táo”.

Sau khi ăn uống theo cái kiểu “tiền của sở” nó mới ề à kể. Thì ra Lê Đình bị thương nằm trong Quân Y viện Cần Thơ. Bây giờ vết thương gần thành sẹo rồi, nhưng độ nửa tháng trước thì tình trạng bi đát lắm. Không thằng nào dám cá ông Táo sống, mà chỉ đổ xô cá về phía ông Táo về trời.

Trận giặc Bình Xuyên, miền Hậu Giang đã ghi cho Lê Đình một cái sẹo. Hôm đó Lê Đình lái tàu bay với một ông Sĩ-quan Quan-sát viên, đi chỉ điểm cho pháo binh trong mặt trận Hậu Giang. Quân đội của mình và phản loạn Bình Xuyên chỉ cách nhau có một khu rừng. Hai bên ăn mặc giống nhau nên ông Sĩ-quan Quan-sát viên bảo Lê Đình xuống thấp để nhìn cho rõ.

Ngày đó thì Lê Đình đã lái “bà già” Mỹ. Tên “bà già” Mỹ là L19, dân tàu bay gọi là cái “tớp tớp”. Bay khoái hơn “bà già” Tây nhiều. Lê Đình nhào xuống nghe thấy tiếng súng dưới đất nổ tùng tùng như trống bongo. Vừa lượn một vòng dưới thấp, thì bên dưới bắn lên một tràng 12 ly 7. Lê Đình vội kéo lên cao. Nhưng một viên đạn đã bắn trúng xà ngang rồi chui vào đầu ông Táo.

Có một chuyện lạ là Lê Đình không biết mình bị trúng đạn, vẫn ngồi lái như thường. Me xừ phó nhòm thấy máu đầy mặt Lê Đình, vội vỗ vai nó mà la lớn:

– Ông Táo ơi, cậu bị đạn rồi…

Lê Đình nhìn xuống ngực, thấy máu ướt áo, thì vội sờ nắn ngực. Không thấy đau. Theo vết máu, sờ lên cằm thì thấy máu đóng cục ở cằm. Nắn cằm cũng không thấy đau. Sờ lần lên thái dương, gặp đúng chỗ vết thương, Lê Đình mới thấy nhói buốt, tê dại cả người và gục đầu xuống cần lái, ngất đi.

Ông Sĩ-quan phó nhòm, nắm lấy hai vai Lê Đình lắc mạnh và rên rỉ gọi:

– Ông Táo ơi, tỉnh đậy đi ông Táo..

Thằng Pi-lốt Thái Bình kể tới đây thì cười hề hề:

– Ông ấy ngồi trong tàu bay, thằng tài xế gục một đống trên ghế lái mà ông ấy lại không biết lái mới chết cha chứ…May làm sao, thằng ông Táo ú ớ, tỉnh dậy được một lúc, làm như thói quen, hạ cánh xuống phi trường Sóc Trăng. Xe cứu thương chở nó lên quân y viện Cần Thơ. Còn ông Sĩ-quan phó nhòm, có lẽ phải đưa đi Viện thần kinh trắc nghiệm lại…

Pi-lốt Thái Bình nhiều khi cũng có những ý nghĩ hài hước. Người ta khiêng Lê Đình ra sân, thổi kèn đánh trống rồi gắn cho Lê Đình chiếc anh dũng bội tinh. Ngày nghỉ phép về Sàigòn, Lê Đình tới cư xá tìm Thắng. Thắng nhìn vào cái anh dũng bội tinh của Lê Đình:

– Mấy lần rồi mà mày chưa ngỏm. Chắc là mày bất tử…

Nhưng vài tháng sau có tin Lê Đình chết ở Đà Lạt. Người mang tin này lại cho Thắng lại là Đặng, thằng bạn đang ngồi đây với Thắng. Lê Đình chết vì một phút trẻ con. Hôm đó Lê Đình chở một ông tướng lên Đà Lạt. Trời thật tốt và ít mây. Sau khi ông Tướng lên xe về tư dinh, Lê Đình cũng lên máy bay cất cánh. Thấy đoàn xe ông Tướng bò chậm chạp, lên dốc xuống đồi, Lê Đình sà xuống thấp bay đuổi theo, vượt qua rồi lại bay vòng trở lại, bay sà xuống thấp một lần nữa.

Ông Tướng ngồi trên xe, lấy làm lạ, tưởng mình bỏ quên món đồ gì trên phi cơ. Cặp đây rồi, ‘ba toong” đây rồi… Ông bảo tài xế ngừng lại rồi dơ tay vẫy đuổi cho Lê Đình bay đi. Nhưng Lê Đình tưởng ở dưới đất dơ tay vẫy, khoái chí vòng lại một lần nữa, thật thấp. Khi vượt qua, chàng ngoái cổ lại đằng sau cười, không ngờ lúc quay đầu lại thì thấy một hàng cây trước mặt…

Thắng uống hết ly cà-phê:

– Tội nghiệp cho ông Táo!…

Đặng gọi nhà hàng cho thêm hai ly cà phê nữa. Những người bạn cứ ra đi, ra đi dần dần, để rồi thấy mình thật cô độc như một con đường dài hun hút dưới ánh đèn đêm.

Thắng hỏi Đặng:

– Sao đêm qua mày trực mà hôm nay phải đi Nha Trang?…

– Tao muốn đi sớm để đổi phiên cho thằng Trịnh. Vợ nó mới đẻ… Cho nó về phục vụ gia đình cho tròn tình nghĩa với cái chính phủ quần thâm…Thắng đưa Đặng về Phi-đoàn Trực-thăng rồi trở về đi làm…Cuộc đời ngày hôm nay lại giống như ngày hôm qua. Ngày mai rồi cũng lại giống như ngày hôm nay. Lê Đình ơi! Chỉ có mày là sung sướng, thoát được ra ngoài những chán nản của cuộc đời…

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

30. Hoàng Trọng

Những năm gần đây, chúng ta đã mất đi nhiều nhạc sĩ. Thế kỷ chấm dứt như mùa thu hái đi những lá vàng. Cũng có thể nói, trong số các nhạc sĩ chúng ta đã mất đi đó, không ai là người chết yểu. Thế nhưng nỗi tiếc thương không thể nào tránh khỏi. Nói chung các ngành nghệ thuật, giữa nghệ sĩ và người thuởng ngoạn, có lẽ nhạc sĩ và thính giả có sự gần gũi mật thiết hơn cả.

Tiếng hát là nhu cầu thứ hai của con người sau tiếng nói. Những vui buồn, khổ đau, gian nan, vất vả của kiếp người, đều có nhạc đi theo. Nhạc dân gian, truyền khẩu của chúng ta, cũng có từ những bài hát ru đến tiếng hò đưa linh, nghĩa là nhạc đón chúng ta vào đời và đưa ra khỏi. Một trong số những nhạc sĩ chúng ta đã mất đi là Hoàng Trọng, một người gần như đã cống hiến cả đời mình để làm giàu cho âm nhạc của đất nước. Hoàng Trọng thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ hai của chúng ta sau lớp thứ nhất là những Lê Thương, Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước …

Ngoài sáng tác, Hoàng Trọng còn là một nhạc sĩ chơi được nhiều nhạc khí, viết hòa âm và điều khiển ban nhạc. Ban Nhạc Tiếng Tơ Đồng của ông, đã một thời, làm say mê thính giả của các đài truyền thanh, truyền hình ở Sài Gòn, trước năm 1975. Những bản hợp ca Hoàng Trọng viết bè cho các giọng nữ như Châu Hà, Kim Tước, Mộc Lan, Mai Hương, Quỳnh Giao và Anh Ngọc hát, đã gây ấn tượng mạnh đối với người nghe. Những ca khúc như Thiên Thai của Văn Cao, hay Tiếng Sáo Thiên Thai của Phạm Duy, qua nghệ thuật viết hòa âm của Hoàng Trọng, được trình bầy bằng nhiều giọng, dường như đã có thêm một linh hồn mới. Người nghe có thể thấy rõ Hoàng Trọng cân nhắc từng hợp âm trước khi quyết định dùng. Nhạc Hoàng Trọng dễ hát, dễ thuộc. Người ta có cảm tưởng như tâm hồn ông là một suối nhạc vô tận.

Ông viết đủ các thể loại nhạc và du nhập một cách nhuần nhuyễn các nhịp điệu của Tây phương vào nhạc của ông, Việt Nam hóa và biến chúng thành một cái gì đó của riêng ông, của riêng Hoàng Trọng. Nhạc Hoàng Trọng thuần nhất và xuôi chảy, tựa hồ bài nào ông cũng chỉ viết một hơi là xong. Câu nọ tiếp nối câu kia, âm này gọi lại âm khác, kết hợp uyển chuyển, hài hòa. Thật lạ lùng.

Và, nếu không đúng như thế, nghĩa là nếu Hoàng Trọng cũng gặp những nỗi khó khăn, đứt đoạn, phải viết đi viết lại, mà các ca khúc của ông vẫn giữ được cái vẻ thuần nhất như thế, lại càng lạ lùng hơn nữa. Nhạc Hoàng Trọng trong sáng dù nó có buồn đến như các bản Nhạc Sầu Tương Tư hay Buồn Nhớ Quê Hương chẳng hạn. Nghe nói, Hoàng Trọng gặp trở ngại trong việc viết lời ca. Quả thật, nếu kiểm lại những ca khúc của ông, người ta sẽ thấy hầu hết là do Quang Khải, Quách Đàm, Hoàng Dương, Nguyễn Túc, Hồ Đình Phương viết lời. Chắc chắn trở ngại này đã hạn chế sức sáng tác của Hoàng Trọng không ít. Thế nhưng tổng số các ca khúc Hoàng Trọng đã tung ra đời, thính giả đã được nghe, đủ để có thể gọi là rừng nhạc Hoàng Trọng. Có thể nói, không một ca sĩ nào của chúng ta lại đã không có lần hát nhạc của ông. Trong số hàng trăm ca khúc của Hoàng Trọng chúng ta đã được nghe đây đó, trong suốt nửa thế kỷ vừa qua, bài nào có thể coi là kiệt tác của Hoàng Trọng? Không, Hoàng Trọng không có kiệt tác. Hay nói đúng hơn, toàn bộ tác phẩm của ông là kiệt tác của ông. Nhạc sĩ nào hình như cũng có những bài hay hoặc dở hơn những bài khác của mình. Nhạc Hoàng Trọng có một sự đồng đều, tựa những đứa con được ban phát tình yêu thương không khác gì nhau.

Đã có một thời, những người yêu nhạc, không ai không thuộc ít nhất là một bài hay một vài câu nhạc Hoàng Trọng. Gần đây, nhạc của ông ít được hát hơn, nên cũng ít được nghe hơn. Lòng người ta đã thay đổi hay nhạc Hoàng Trọng không đủ sức bền vững với thời gian? Không, hiện tượng chỉ có thể

là sự lãng quên trong chốc lát. Quê hương xa cách lâu người ta còn có lúc quên nói chi những cái khác. Rồi người ta sẽ phải nhớ lại. Và nhạc Hoàng Trọng sẽ được hát lại, nghe lại. Cũng như tình quê hương không thể tắt hết trong lòng tất cả những người Việt Nam. Vì, cứ nghe lại nhạc Hoàng Trọng mà xem, người ta sẽ nhận ra, tình quê hương chan chứa trong từng mỗi âm thanh của ông, dù ông có nói tới điều gì chăng nữa. Tình yêu có phải cũng chỉ là tình hoài hương thu nhỏ? Xin cảm ơn Hoàng Trọng đã cho chúng ta hiểu rõ thêm điều ấy. Cảm ơn những Gió Mùa Xuân Tới, Nhạc Sầu Tương Tư, Phút Chia Ly, Lạnh Lùng …

Lạnh Lùng (Lời của Quách Đàm)

Chiều nay gió may vi vút về lạnh lùng

Từng hồi mưa reo buồn ngoài trời

Vài con chim non thu mình trong lá xác xơ

Nhìn chân trời xa mờ trong khói

Chiều nay ai thấu cho cùng nỗi đau xa nhà

Tê tái bao ngày thiếu ấm cúng

Còn nhớ năm xưa ngày xa quê nhà

Tay rời tay mắt còn vời trông

Hôm nay đây dưới gió mưa bùi ngùi

Xa đưa tiếng sáo than tình quê

Nào còn đâu bao ngày gần nhau

Bên than hồng êm ấm

Ta xum vầy sung sướng

Thôi mong chi ngày trở về quê hương

Đón gió tưng bừng trong nắng hanh vàng

Ngoài hiên còn gió mưa

Đêm nay nơi chân trời xa xăm

Có chăng ta nhớ thương

Duy Trác

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

29. Hoàng Thi Thơ

Những người quen biết Hoàng Thi Thơ cho hay, ông bắt đầu sáng tác từ năm 1945. Nhưng đối với phần lớn các thính giả, ông chỉ thực sự nổi tiếng với tư cách là một tác giả kể từ sau 1954.

Cũng vẫn theo những người quen biết ông, riêng về nhạc, Hoàng Thi Thơ có khoảng 500 sáng tác gồm: ca khúc, trường ca, truyện ca, nhạc cảnh, nhạc kịch. Như thế, ngoài các thân nhân của ông, chắc chưa ai được nghe hết các tác phẩm của Hoàng Thi Thơ. Đã có một thời, ở miền Nam, đi đâu người ta cũng nghe thấy nhạc của ông. Rất nhiều ca khúc của Hoàng Thi Thơ còn được “dân gian” bịa đặt thêm lời ca, thường là có tính hài hước, tinh nghịch, để hát. Người ta gọi đó là những dị bản. Trong sinh hoạt âm nhạc của chúng ta, một bài hát khi đã có những dị bản như thế là dấu hiệu đích thực nó đã được yêu thích và phổ biến rộng rãi. Nhiều ca khúc của Hoàng Thi Thơ còn gắn liền với tên tuổi của một vài ca sĩ, chẳng hạn như nay, nếu có dịp nghe lại hoặc chỉ nhớ lại ca khúc Trăng Rụng Xuống Cầu, người ta không thể không liên tưởng tới cặp song ca Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết, dù họ không còn nữa:

Ai đang đi trên đường quê

Tai lắng nghe muôn câu hò đê mê

Vô đây em

Dù trời khuya anh sẽ đưa em về

Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi [?] lại khiến người ta nhớ tới tiếng hát Sơn Ca.

Thuở ấy xa xưa có một nàng

một nàng thiếu nữ

Một đóa hoa hồng tình phơi phới

tuổi mới trăng tròn

Cuộc đời hồng nhan cay và đắng

Sao mà lắm trái ngang

Bao nhiêu trai làng yêu nàng

Đi theo xin nàng tim vàng

Nàng vẫn không màng

Nàng đã trót yêu, yêu một chàng

một chàng nghệ sĩ

Tình quá éo le vì chàng đã có

đã có gia đình

Người đời cười chê

coi tình đó

như là gió với trăng

E sao duyên mình không thành

Như bao cô nàng thất tình

Nàng khóc một mình

Nhiều người chia nhạc Hoàng Thi Thơ làm hai loại: quê hương và tình ca. Phân biệt như vậy không có gì khiên cưỡng. Thực tế Hoàng Thi Thơ chỉ viết tình ca. Ông yêu quê hương, nhạc của ông tràn đầy những hình ảnh quê hương nhưng ông viết tình ca chứ không phải dân ca. Lời ca của ông trau chuốt, có cái đẹp gần với thơ nhiều hơn ca dao. Ông lại thường có lối viết lập đi lập lại một vài nốt, vừa là cái duyên riêng vừa làm cho người nghe dễ nhận ra nhạc của ông.

Nàng đã trót yêu yêu một chàng

một chàng nghệ sĩ

Tình quá éo le vì chàng đã có đã có gia đình

Nói chung, nhạc Hoàng Thi Thơ ngọt ngào, giản dị, dễ hát, dễ thuộc. Nếu mai ngày, có một vài ca khúc nào đó của ông trở thành dân ca thì cũng không phải chuyện lạ.

Nữ danh ca Thái Thanh còn ở lại Việt Nam một thời gian sau biến cố 30 tháng 4/75, khi qua được Mỹ, đã chọn bài Đường Xưa Lối Cũ của Hoàng Thi Thơ, hát, để đánh dấu ngày trở lại với âm nhạc của mình:

Đường Xưa Lối Cũ

Đường xưa lối cũ, có bóng tre,

Bóng tre che thôn nghèo

Đường xưa lối cũ, có ánh trăng,

Ánh trăng soi đường đi

Đường xưa lối cũ, có tiếng ca,

Tiếng ca trên sông dài

Đường xưa lối cũ, có tiếng tiêu,

Tiếng tiêu ru lòng ai

Đường xưa lối cũ, có em tôi

Tóc xanh bay mơ màng

Đường chiều dịu nắng, bóng em đi,

Áo nâu in đường trăng

Đường xưa lối cũ, có me tôi

Run run trong hôn hoàng

Lòng già thương nhớ, nhớ đến tôi

Lom khom đi tìm con

Khi tôi về, bồi hồi trong nắng

Tưởng gặp người em

Hân hoan đứng đón tôi về

Nào ngờ người em sang ngang khi

Xuân chưa tàn

Con đò nào đây đưa em tôi

vào xa vắng

Khi tôi về nghẹn ngào trong nắng

Tưởng gặp mẹ tôi rưng rưng

đứng đón con về

Nào ngờ mẹ tôi

ra đi bên kia cuộc đời

Không lời biệt ly

trước khi phân kỳ

Chạnh lòng thương nhớ, những phút

xưa, phút xưa qua qua rồi

Lạnh lùng tưởng nhớ, bóng dáng ai

In sâu trong lòng tôi

Đường xưa còn đó, nắng vẫn lên,

vẫn trăng treo ven đồi

Mà hình bóng cũ, thiếu trong tôi,

mỗi khi nghe chiều rơi

Hoàng Thi Thơ sinh năm 1928 tại Quảng Trị. Ông mất ngày 23 tháng 9, 2001 tại California, Hoa Kỳ. Hiền thê của ông là nữ ca sĩ Thúy Nga.

Con trai trưởng của hai ông bà là Hoàng Thi Thi, hiện cũng đang là một trong những nhạc sĩ danh tiếng của chúng ta tại Mỹ.

Thái Thanh

Cánh Hoa E Ấp

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

GIÓ BỐN PHƯƠNG xuất bản 1974

Nguyên tác: The hidden flower

Dịch giả: Vũ Minh Thiều

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

2. Phần I

Khu vườn chìm đắm trong cảnh yên tĩnh và tiếng sóng vỗ đều đều và êm dịu của thác nước dập tắt tiếng vang của những bước đi ở bên ngoài. Mặc dù cảnh có vẻ tự nhiên ở trong những bức tường nhưng tất cả đều có dụng tâm, kể cả sự yên lặng nữa. Về phía đường phố, những ống ẩn giấu khéo léo trong các tảng đá, dẫn nước lên trên cao và nước chảy tựa tiếng thì thầm của dòng suối chảy ở dốc một ngọn đồi xuống. Một mô đất một phần có bao phủ, dựa vào bức tường đá rập theo hình dáng hùng vĩ của sườn một chóp núi ở miền phụ cận thành phố. Nước tuôn xuống như thác trên những tảng đá chồng lên nhau và chảy vào một thủy bàn, đáy trong suốt, đặt ở dưới bóng ba cây thông lớn, thân cây xoăn vặn lại vì lâu năm và nhìn từ xa người ta có cảm tưởng đây là một góc rừng nhỏ.

Phía Bắc khu vườn, ngôi nhà rộng, kiến trúc theo kiểu đặc biệt Nhật, biến dạng dưới một mái thấp, góc nhà như sa xuống, và được những bụi tre mà cành lá, như bức rèm phủ lên những bức tường cỏ ép lưới mắt cáo phủ dày làm dịu bớt đi. Sườn nhà bằng gỗ, còn nguyên vẹn sơn, và lâu ngày biến thành màu xám bạc. Những lùm cây Đỗ quyên hoa nở tưng bừng, lóng lánh trên nền xám êm dịu của gỗ.

Lúc này vào buổi trưa, bác sĩ Sotan Sakai ngẩng đầu lên và đắm đuối nhìn thửa vườn mà mùa xuân phô bày cảnh sắc tuyệt đẹp. Ông đặt bút máy xuống và rời chiếc chiếu, kiêu hãnh một chút ở trong thân tâm là cảm thấy chân mình không cứng nhắc tí nào. Khi ở Mỹ về, nơi mà ông đã trải qua tuổi niên thiếu ở đấy, ông phải mất nhiều năm mới thích ứng được với những phong tục của quê hương. Thoạt đầu ông không thể ngồi viết hàng giờ, chân gấp lại trước một chiếc trường kỷ thấp. Nhưng ông quyết định rời hẳn nước Mỹ. Lòng kiêu hãnh đã buộc ông lựa chọn điều này: bị thúc giục lựa chọn giữa trại tập trung và hồi hương. Ông thích về nước Nhật hơn.

Cũng vì lòng kiêu hãnh, ông cương quyết hướng về những phong tục tập quán của tổ tiên. Ông mua ở cửa thành Kyoto ngôi nhà cũ xưa của gia đình Nam tước Kazuko và ông ở đấy với vợ và cô con gái Josui, con trai Kensan của ông bà, lớn hơn Josui năm tuổi, không muốn rời bỏ Mỹ, sau khi bị giam nhốt ở trại tập trung, chàng bị giết ở Ý.

Cái chết của con trai càng làm bác sĩ Sakai cương quyết trở về Nhật.

Khi chiến tranh kết thúc, ông vẫn sống cách biệt quân đội chiếm đóng và các sĩ quan của họ. Được tiếng là một bác sĩ trứ danh, do Tây phương đào tạo, nên địa vị của ông được bảo đảm. Những đồng bang của ông không bỏ qua được.

Sau khi đi thăm bệnh nhân hàng ngày trong một bệnh viện lớn, tối tân, ông trở về nhà, thay quần áo và tiếp tục biên soạn cuốn sách của ông về các bệnh thiếu sinh tố mà ông đã sưu tầm được rất nhiều tài liệu từ ngày trở về xứ sở.

Bác sĩ Sakai lau chùi cẩn thận chiếc bút máy, sự nhượng bộ độc nhất mà ông chấp nhận từ nay về sau, đối với nền văn minh Mỹ. Và nữa, đó có phải là một sự nhượng bộ không, vì chính những đồng bang của ông cũng đã thay đổi chiếc bút lông cổ truyền để dùng bút máy hay bút chì.

Đứng trên ngưỡng cửa, ông ngắm khu vườn với niềm vui thanh khiết, đúng hơn gần như thanh khiết. Dễ xúc động, ông không thể không tìm những lá khô, rơi hôm qua, hoặc những tổ kiến đùn lên ban đêm, có thể làm mất vẻ đẹp hoàn toàn của khu vườn. Nhắm mắt lại, ông trầm ngâm một chút và lẩm nhẩm đọc những đoạn kinh điển Ấn Độ. Ông mở mắt ra và nhìn khu vườn với vẻ khác lạ, thửa vườn chan hòa ánh sáng, cảnh này ông vẫn ưa thích ngắm.

Suy tưởng đối với ông như là một nghệ thuật khó khăn. Ông lớn lên trong cảnh náo nhiệt của phố phường thành phố Los Angeles, ở đấy, ông bán rau và hoa quả của cha mẹ trông trong một khoảng đất nhỏ ở vùng ngoại ô. Ông kiếm ăn để qua mấy năm ở Đại học và được học bổng liên tiếp, nhờ vậy ông đã học xong Y khoa Đại học đường. Lúc trở về Nhật, ông phải tập suy tưởng, như người ta học một môn âm nhạc, chẳng hạn như tập ống tiêu năm lỗ, mà ông thường thổi buổi tối.

Chiến tranh kết thúc, ông còn một mối băn khoăn: cô con gái Josui của ông. Lúc ở Mỹ đi, nàng mới là cô gái mười lăm tuổi. Tính vâng lời vốn không phải là bản chất của nàng, chỉ có sự giao động và mối lo sợ đã buộc nàng phải theo cha mẹ. Nàng bối rối thấy các bạn gái Mỹ, thường ngày khả ái, thân mật, ngày trước ngày sau đã trở thành thù hận. Mối oán hận làm nét mặt của họ xấu xí và biến đổi nụ cười của các bạn nàng ra nét nhăn nhó. Kinh hoàng, nàng than phiền với người bạn thân nhất, Polly Andrews:

– Nhưng Polly, em có thay đổi đâu! Em vẫn như xưa!

– Không – Polly bẻ lại – chị là người Nhật và tôi khinh chị lắm.

Josui không nói gì. Nàng không trở lại trường. Một vài ngày sau, khi cha mẹ nàng xuống tàu, nàng đi theo, lòng chán nản, nàng chưa quen tiếp nhận nước Nhật được. Từ ngày đó, lòng nàng hoài nghi, nàng chỉ cảm thấy an toàn khi sống dưới mái nhà cha mẹ, nhưng tương lai đối với nàng hóa ra mập mờ.

Bác sĩ Sakai đoán ra tâm trạng con gái và cảm thấy băn khoăn nhiều. Ông bà biết định đoạt về nàng ra sao, nay nàng đã hai mươi tuổi. Tất nhiên, hôn lễ không thể để muộn màng hơn nữa, nhất là đối với một người thiếu nữ xinh đẹp như thế. Nhưng hôn lễ nào?

Ông nấn ná ở lại trên ngưỡng cửa, rồi bỏ dép dừa ra để xỏ vào guốc, ông đi theo con đường nhỏ dẫn đến bể nước và ngắm dòng thác. Không khí chứa chan hương xuân. Mùa xuân năm nay có ảnh hưởng thế nào đối với Josui. Năm trước, ông nhân thấy ở con gái mình sự nóng nảy, bồn chồn, ông thấy dễ dàng vì ông đã từng nghiên cứu Tâm lý học. Ông biết chắc, qua những cử chỉ dịu dàng, Josui ẩn giấu một tâm tình đam mê, vì vậy bác sĩ Sakai kết luận cần phải sớm gả chồng cho nàng.

Ông nhìn đồng hồ đeo tay giấu dưới cánh tay áo Kimono rộng, Josui về chậm. Nàng đi chơi đâu. Ông cau mày. Nếu trong mười lăm phút nữa, nàng không về, ông sẽ không đợi nữa; trong bữa ăn, sự hiện diện của Josui đối với ông là cần thiết, không phải ông có ý nuông chiều nàng vì ông không tha thứ để người ta xáo trộn thứ tự trong nhà được.

Josui trở về mười phút sau. Bước chân của nàng vang lên trên con đường nhỏ và chị hầu gái cất tiếng chào nàng. Bác sĩ Sakai vẫn chờ đợi, cặp mắt dán vào hồ nước, lưng quay về phía nhà. Bổn phận dạy Josui phải chào cha. Một lúc sau, ông nghe thấy tiếng nói dịu dàng của nàng:

– Thưa cha, con đã về.

Ông quay lại, cố ngăn không mỉm cười:

– Con về chậm thế!

– Không phải lỗi ở con, Josui nói.

Ở trong vườn, có quầng ánh sáng mặt trời bao bọc. Nàng có một vẻ đẹp mê hoặc: nàng đi bộ ở Đại học về khiến cho khách bộ hành nhìn thấy rõ mớ tóc đen bóng loáng, cặp mắt lớn lóng lánh đen, má hồng vì sức nóng, đôi môi đỏ. Về đến nhà, nàng trút bỏ ngay quần áo đi ra ngoài và mặc chiếc áo Kimono màu xanh dịu. Ông không muốn nàng mặc y phục Âu Mỹ.

– Tại sao không phải lỗi ở con? – ông hỏi giọng nghiêm nghị.

– Lính Mỹ đi trong phố – nàng giải thích. Mọi người đều đứng chờ.

– Con chờ ở đâu?

– Dưới cổng bệnh viện

Ông không căn vặn nữa. – Thôi, ta đi ăn cơm. Ta chỉ còn ít thời giờ, ta không muốn đến bệnh viện muộn. Đó là làm gương xấu cho những bác sĩ trẻ.

Josui hiểu biết tôn chỉ của cha; nàng vội vàng xin lỗi:

– Thưa cha, con rất tiếc.

Nàng nói tiếng Nhật để ông vui lòng, mặc dầu nàng thích nói tiếng Mỹ hơn.

– Con đã chẳng nói với ta là không phải lỗi của con à?

Ông đi trước, tay chắp ra sau lưng, mắt liếc nhìn hai bên vườn.

– Con đã trông thấy hoa Đỗ Quyên chưa? Chưa bao giờ đẹp như vậy.

– Những bông hoa thật mê ly, nàng nói.

Ông dò xét giọng nói của nàng. Ông thường xét nét lời nói của nàng, để có thể xác định, nếu được, nhiệt độ của lòng nàng. Con gái là một gánh nặng, thật ra cũng quý giá lắm, nhưng lại càng nặng nề hơn.

Trong bữa ăn, Josui đoán biết cha mình dò xét mình. Ý thức được mối băn khoăn gây cho cha, nàng cố ý tránh cặp mắt dò xét của ông. Ở trong nhà, nàng sống hai cuộc đời, không phải nàng bất mãn với số phận của mình, nhưng một sinh lực thái quá dày vò nàng. Nàng nghĩ rằng cái sinh lực ấy, nếu nàng có, có lẽ vì nàng đã sinh sống ở California mãi đến tuổi mười lăm, uống sữa bò tươi và ăn hoa quả, rau và thịt. Thân thể nàng chứa đựng một sức lực và một tình cảm dồi dào. Tinh thần nàng sôi nổi đầy hiếu kỳ về đời sống. Tất cả những điểm này làm nàng hoàn toàn khác hẳn những thiếu nữ Nhật khác, xanh xao và yên lặng, vẫn nhìn nàng với vẻ khâm phục lẫn cả ganh ghét và thường gọi là “cô gái Mỹ”. Nay nàng không ăn uống như khi ở Mỹ nữa, nhưng tính háu ăn làm nàng ưa thích cả những món ăn cổ truyền của Nhật, gồm có gạo, cá và rau.

Mẹ nàng bật cười:

– Ai có thể bảo con là con gái một nhà Nho? Con ăn uống như môt cô gái quê!

Trước ba chủ nhân quỳ gối ở xung quanh chiếc bàn thấp, Yumi, người hầu gái, đặt ba chiếc bát con đựng một thứ canh trong có thả những miếng củ cải và vài lá rau diếp, và ba bát canh cá và rau. Trong những chiếc bát sơn vàng và đen khác, cô xới cơm trắng lấy ở một liễn gỗ ra. Cô khẽ cúi xuống mỗi lần đặt bát xuống trước mặt chủ. Lối xá, cúp rạp xuống không còn nữa kể từ ngày Mỹ chiếm đóng và khi có nền dân chủ. Dù sao, bác sĩ Sakai vẫn buộc phải có chút lễ nghi này và người hầu gái chỉ biết tuân theo, ít nhất nhà cũng phải có chủ, mặc dù ông đang ăn cơm với vợ và con gái.

Dò xét con gái một cách kín đáo, bác sĩ thấy má con gái mình đánh phấn hồng hơi đậm quá. Thường ngày chỉ hồng thôi thì hôm nay lại đỏ hẳn.

– Con có đứng ở ngoài nắng khi chờ cho quân Mỹ đi qua không? Ông hỏi nàng.

– Vâng. Sáng nay con để dù ở nhà; con tưởng mặt trời không đến nỗi gay gắt quá.

Bà Sakai nhìn con gái:

– Sau bữa ăn, con phải đánh phấn lại, bà bảo con. Má đỏ quá làm cho người con gái có vẻ tầm thường.

– Thật con chẳng muốn là con một chút nào! Josui kêu lên, vẻ phụng phịu, nhưng lại mỉm cười. Cha mẹ chỉ xét nét con thôi.

Ông bà Sakai quay mặt đi.

– Ngày mai phải thay hoa ở góc phòng, bà Sakai nói.

Góc phòng cắm hoa ở trước cửa vườn. Những cánh liễu đương nẩy mầm và những cành mận đang ra hoa bao quanh cái bình hương. Những bông mận rủ xuống một con nhái bằng đồng đen do Josui đặt ở đấy hôm qua. Người ta để được ba thứ đồ vật trong góc cắm hoa, ngoài ra không thể để một thứ gì thêm được nữa. Bác sĩ Sakai cho con gái theo học nghệ thuật này tại nhà một vị giáo sư danh tiếng trong thành phố.

– Ngày mai, con sẽ cắt những cành đào đang nở hoa. Josui nói.

– Vậy con hãy để cái ly bằng đá thạch anh vào, nó sẽ hòa hợp với hoa đào, ông bác sĩ khuyên con.

Không khí căng thẳng lúc nãy trở lại yên tĩnh. Josui ngồi yên lặng, chăm chú đưa các đĩa thức ăn cho bố mẹ, tránh không để sự yên lặng của mình làm phật ý hai người.

Nếu Kensan anh nàng còn sống, chắc sẽ giúp đỡ nàng chia sẻ gánh nặng tình thương yêu của bố mẹ. Nếu còn sống, chắc Kensan bây giờ đã lấy vợ. Josui còn nhớ rõ vị hôn thê của anh: nhỏ bé, vui tươi, nàng mặc y phục Mỹ, với màu sắc rực rỡ, giầy cao gót. Có năm nàng được bầu làm hoa hậu tháng Năm, ở Trường Trung học Los Angeles. Bố nàng là một mục sư Cơ đốc giáo. Gia đình Sakai theo Phật giáo từ nhiều thế hệ, điều đó không khỏi làm băn khoăn gia đình vị hôn thê Kennsai – những người theo đạo Phật có phải là những người theo tà giáo không? Nhưng tất cả nhưng điều ấy có ý nghĩa gì bây giờ, vì đến ngày dự định cử hành hôn lễ thì Kensan đã mất rồi, gia đình hôn thê chàng bị giam giữ sau hàng rào đầy kẽm gai ở Arizona, còn gia đình Sakai thì ở Kyoto. Ngày ảm đạm, không ai muốn nói một điều gì ở gia đình Sakai. Tuy vậy, Josui hiểu rằng cha mẹ mình vẫn nhớ. Chính nàng cũng ẩn lánh ở cuối vườn để khóc thương anh.

– Ông Takashi Matsui mời ta đến uống nước trà, bác sĩ Sakai nói. Ta đã nhận lời từ năm ngày nay, và hôm nay là ngày ta đến.

Ăn cơm xong, ông uống trà tươi, dễ tiêu như ông vẫn thích.

Takashi Matsui, khách hàng giàu có nhất của ông, đau đởm bào, nhưng từ chối không chịu để cho giải phẩu. Trong ba người con trai của ông, người con lớn bị bắt làm tù binh ở Nga, người thứ hai bị giết trong trận tấn công Nam King. Nay ông chỉ còn người con nhỏ nhất. Ông tự an ủi mình, rằng xứ sở ông sẽ không bao giờ tham dự chiến tranh nữa và đứa con này, ít nhất, sẽ còn lại cho ông. Bản Hiến pháp mới đã chẳng ghi rằng nước Nhật sẽ không được võ trang nữa là gì? Takashi Matsui hướng lòng yêu thương và dành cả của cải cho người con thứ ba này, nó là sinh viên ở Trường đại học Tokyo.

Trong dòng họ Matsui rất cổ xưa, chỉ ở Kyoto là chi bảo thủ nhất và cũng là quan trọng nhất. Takashi Matsui chắc chắn là người Nhật đầu tiên – và có lẽ sẽ là người độc nhất sau chiến tranh – lại đề cao giá trị của Trà đạo. Những thế hệ trẻ có khuynh hướng chế giễu cái phong tục của tổ tiên này, nhưng bác sĩ Sakai nhận thấy việc chấn hưng lại những nghi lễ cổ xưa này là điều rất quan trọng và càng sớm càng hay, cốt để phục sinh tâm hồn người Nhật. Ông cho làm một bữa cơm thanh đạm, vì ông biểu rằng đến giờ uống trà ngày hôm ấy, ta sẽ dùng súp thịt chỉ lấy chất ngọt của đậu, cá và thịt, rau, rồi lại súp và cuối cùng là ăn tráng miệng, tiếp theo là trà tươi hương vị nhẹ nhàng, nấu với những lá giã thành bột, lựa chọn những lá ngon nhất của những cây nhỏ lâu năm trồng dưới bóng mát râm.

Sau nghi lễ này kéo dài trong bốn giờ, ông còn có thời gian đàm đạo với chủ nhân không? Câu chuyện của hai người bao giờ cũng quay về người con trai út yêu quý của Takashi Matsui, và người ta cũng có thể, nếu có thời giờ, nhắc nhở về Josui, cô con gái yêu dấu độc nhất của bác sĩ Sakai.

Bữa ăn trôi qua một cách yên lặng, bố và con gái, người nào cũng giữ trong lòng ý nghĩ thầm kín của mình. Đến tuổi lấy vợ, Kobori, người con thứ ba của ông Matsui, lớn hơn Josui hai tuổi. Trong thời xưa, có lẽ hai gia đình đã dàn xếp công việc; nhưng hai trái bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki đã tàn phá ngoài ngói gạch, xi măng, còn cả thể xác người ta nữa. Bác sĩ Sakai đã nói với vợ rằng Kobori có ý muốn hỏi cưới Josui và nàng quả thật có suy nghĩ, nhưng nàng không quyết định được. Thật ra nàng không ghét bỏ gì Kobori. Còn người phụ nữ nào có thể khinh rẻ một thanh niên đẹp trai, trí thức, đứng đắn và cao thượng được? Nàng đã trông thấy chàng một vài lần trước đây trong lễ hội hoa anh đào. Nàng cảm thấy rất dễ chịu khi ở gần chàng, nhất là trông thấy nàng chàng lại đỏ mặt. Nàng cảm phục sự tương phản giữa màu hồng dưới làn da trắng mịn, và với lời lẽ thân mật theo kiểu Mỹ, nàng đã ca tụng sự lựa chọn bộ quần áo màu xám nhạt của chàng, có nhãn hiệu nhập cảng của Mỹ, nhưng nàng không ưa Kobori, điều làm chàng ngạc nhiên lắm, vì nàng chỉ muốn yêu một người đàn ông và lấy họ. Vậy mà khi gặp Kobori, lòng nàng chẳng có gì xao xuyến và vẫn bình thản.

Những ý nghĩ ngang ngược giao động trong tâm trí nàng, và nàng ăn xong bữa không nói năng gì. Nàng đứng dậy cuối chào mẹ. Nàng còn vội đến trường để khỏi chậm. Josui để cha mẹ ngồi lại thưởng thức chén trà và về phòng, nàng thay chiếc Kimono để mặc chiếc áo dài kiểu Âu Tây. Nàng cũng không quên như buổi sáng mang chiếc dù lụa xanh để che làn da mịn.

Đường phố yên tịnh. Quân Mỹ có lẽ đã tản mác đi thăm thành phố. Họ thường từ Tokyo hay Osaka đến từng đoàn, ầm ĩ, huyên náo, qua vài ngày nghỉ phép ở Kyoto, với cuốn sách hướng dẫn cầm ở tay, đi tìm kiếm những di tích của nền văn minh cổ của Nhật. Người ta nói rằng những phóng pháo cơ của Mỹ được lệnh tránh tàn phá thành phố Kyoto cũng như Nhật đã tránh cho Bắc Kinh. Bác sĩ Sakai không tin lời đồn đại này vì ông nghĩ rằng người Mỹ không hiểu biết gì nền văn hóa.

Đôi khi, ông vẫn than phiền:

– Chúng ta bắt buộc phải lựa chọn giữa cộng sản và tính cách tầm thường của Mỹ.Trong thâm tâm, Josui thường cho cha mình là cực đoan. Theo lối của ông, ông ghét Mỹ, vì Mỹ đã trục xuất ông, nàng nghĩ như vậy, và sự thù ghét này là biểu lộ một tình yêu tuyệt đối nước Nhật cùng những truyền thống cổ xưa của xứ sở. Trà đạo thật sự là một chuyện điên rồ! Nàng thấy kỳ cục, những người đàn ông ngồi trang trọng trong một túp lều ở cuối thửa vườn, cặp mắt chìm đắm trong cõi hư vô, chờ đợi uống một thứ nước xanh nấu bằng lá trà giã nhỏ! Mùa thu năm trước, nàng đã theo cha mẹ sang dự lễ trà đạo tại nhà ông Matsui và cha nàng vẫn cố chấp gọi là Chanoyu (1). Câu chuyện mà người ta cố gắng giữ trên phương diện tinh thần làm nàng phải buồn ngáp. Ông Sakai ngâm những bài thơ tứ tuyệt ngắn, tưởng như chính ông ứng khẩu đọc ra; thật ra, Josui biết lắm, ông đã để hàng giờ để biên soạn trước.

Josui đi ngoài đường, đầu ôn lại những ý nghĩ này, vì nàng hiểu rõ không bao giờ nàng dám tỏ bày những ý nghĩ thầm kín này. Nàng bình tĩnh đi, đầu ngẩng cao, mặc dầu nàng muốn chạy, tay giơ ra như hai cánh; nàng cùng bè bạn cười đùa thả cửa và cũng không hiểu tại sao. Ở Nhật, nàng không thấy một thiếu nữ nào chạy cả, ngay cả những cô gái nhỏ, họ đi những bước nặng nề, với đôi guốc hoặc đôi giầy da lớn; hoặc họ đi từ tốn với những đôi giầy tập thể dục, đế cao su, rất thích hợp cho các cuộc chạy đua.

Nàng đến cổng bệnh viện, sát liền Trường Đại học. Chính ở đó, buổi sáng, nàng không thấy quân lính Mỹ đi qua, và nàng chỉ thoáng nhìn họ vì hiếu kỳ. Trông họ giống nhau cả. Người Nhật ví người Mỹ như học sinh, lúc nào cũng sẵn sàng xô đẩy nhau, cười, đấm đá nhau bất thình lình, giả đò đánh nhau, và họ băn khoăn tự hỏi “Người Mỹ có phải chỉ là trẻ con không?”.

Xung quanh cổng bệnh viện, cây hoàng đậu tưng bừng nở hoa, ngả những cành lá xanh nhợt xuống, nặng nề nang những chùm hoa đỏ thẫm giống như trái nho. Đó là mùa hoa hoàng đậu, hoa khê tôn và mẫu đơn, và Josui yêu những thứ hoa này lắm. Cha nàng không để ý hoa. Vườn ở nhà nàng có một vẻ đẹp trang nghiêm, với những hòn non bộ, những cây thông, và suối nước; riêng chỉ có những cây tre điểm một vẻ dịu dàng. Để trang trí trong nhà, mẹ nàng trồng hoa ở vườn rau.

Mỗi lần nghỉ đến cha nàng, Josui cảm thấy vừa yêu mến, khâm phục và giận hờn lẫn lộn một cách kỳ dị. Nàng không ngớt tiếc nhờ việc nàng và gia đình phải rời Mỹ ra đi. Cha nàng không hiểu những nổi khó khăn mà một người đàn bà có thể gặp ở Nhật mà không từng biết ở Mỹ. Nhớ đến các bạn ở California, Josui ví họ như những nữ hoàng. Ở Nhật, đàn bà chẳng bao giờ là các bà hoàng cả, nhưng là những nữ công dân phục tòng, phải làm đầy đủ bổn phận. Nàng thở dài. Hương hoàng đậu ám ảnh nàng. Nàng vừa cụp dù thì trông thấy, bên cạnh cửa, một thanh niên mảnh khảnh: đó là một quân nhân Mỹ. Chàng đứng dựa lưng vào tường, chân bắt chéo, hai tay bỏ túi.

Nàng giật mình khi trông thấy chàng

– Tôi chờ cô, chàng nói và mỉm cười.

Nàng sửng sốt không biết nói sao, mắt chăm chăm nhìn chàng, mồm há hốc. Chàng đẹp trai với mớ tóc vàng phải thật đẹp. Cặp mắt xanh, xanh như ngọc lam. Da mịn và trắng.

Cặp mắt sáng ngời, tinh ranh, chàng nói:

– Tôi thành công có phải không?

Josui đỏ mặt. Nàng chòng chọc nhìn chàng vì chàng nhớ lại những kỷ niệm đã lu mờ: những chàng trai ở California, những bạn trai ở trường trung học, vừa lúc nàng lưu ý tới họ thì cha nàng bỗng quyết định trở về Nhật.

– Có lẽ cô không nói được tiếng Anh? Chàng nói lại

– Có chứ, nàng đáp không chút ngượng ngùng.

– Thật là lần đầu tôi cảm thấy lời cầu xin của tôi được toại nguyện. Thật đẹp quá!

– Cái gì đẹp quá?

– Phát giác được một thiếu nữ độc nhất mà tôi muốn gặp ở Nhật nói được ngôn ngữ nước tôi.

Nàng mỉm cười.

– Anh muốn gặp tôi sao? Tôi chưa bao giờ trông thấy anh.

– Cô có nhìn tôi mà không biết đó, sáng nay, nhưng tôi trông thấy cô ở dưới cây hoàng đậu. Tôi nhìn cây này vì nó gợi nhớ mẹ tôi: chúng tôi cũng có cây hoàng đậu ở nhà. Tôi thấy cô đứng dưới những chùm hoa và tôi thấy cô… đẹp quá. Tôi nghĩ rằng trở lại chỗ để đợi cô, chắc chắn tôi sẽ thấy cô.

– Tôi đi học

– Cô còn đi học ở trường à?

– Không, ở Đại học, nàng vội vàng nói. Tôi phải đi bây giờ. Tôi đến lớp chậm mất.

Chàng không cựa quậy, chàng có khuôn mặt mỏng, hàm vuông, lưỡng quyền cao.

– Tôi muốn làm quen với cô, chàng nói, giọng trầm và lớn, chàng cố dịu giọng.

– Không thể được. Xin để cho tôi đi.

– Tại sao?

Chàng đến gần nàng. Nàng lại mở dù ra. Để làm gì? Nếu có ai trông thấy nàng ở cạnh người Mỹ này và nói lại với cha nàng, chắc nàng sẽ thấy cha nàng giận hết sức.

– Xin anh đi cho, nàng nói và lảng xa, không nhìn chàng.

– Ở Nhật, chắc phải có một cách nào để làm quen với một thiếu nữ – chàng năn nỉ – Thí dụ, tôi có thể đến nhà thăm cô được?

– Ồ! Không. Josui kêu lên. Cha tôi sẽ giận dữ.

– Tại sao?

– Ồ! Bởi vì… nàng đáp hết sức bối rối.

Đến cửa Trường Đại học, nàng quyết định bằng bất cứ giá nào, xua đuổi người đàn ông này đi.

– Tôi van anh, để cho tôi đi, nàng nói giọng thất vọng. Quả thật tôi sẽ bị phiền phức nếu anh đến.

– Được, tôi đi. Nhưng ngày mai, tôi sẽ ở chỗ kia. Đây là tên tôi.

Chàng đưa chiếc thiếp. Nàng chỉ còn biết cầm và đọc Thiếu úy Allen Kennedy.

– Cô cho tôi biết quý danh? Chàng hỏi.

Nàng sắp từ chối, nhưng lúc nàng ngẩng mắt lên nhìn chàng, xem ra chàng đối với nàng thật dễ thương lễ phép lắm. Hơn nữa, trong thân tâm, nàng muốn làm quen với một người Mỹ.

– Tên tôi là Josui Sakai

– Josui Sakai – người thanh niên Mỹ nhắc lại. Và còn địa chỉ của cô, tôi có thể biết được không?

Josui lắc đầu hoảng sợ, nhưng sự chống chọi của nàng tan biến ngay trước cặp mặt đẹp, vẻ van lơn (2). Một sức nóng lan chảy khắp người nàng, nàng chỉ những muốn cười. Nàng gấp dù lại, vượt qua cổng trường và ẩn mình sau một bụi tre. Chàng hiện lên trên ngưỡng cửa, ngập ngừng, rồi cuối cùng đi. Chàng đứng lại dưới giàn hoàng đậu và bỗng nhận ra hương thơm dịu của hoa. Tại sao chàng không nhận ra hương thơm này sớm hơn? Chàng nấn ná lại ở đấy, lưỡng lự, chìm đắm trong một dự cảm mơ hồ. Chàng sẽ dấn thân vào chuyện gì? Vì lẽ gì, hương thơm kia lại làm chàng đắm say?

Josui trông thấy chàng ngẩng mắt lên, rồi bỗng rời đi. Nàng ở sau bụi tre đi ra, nghĩ rằng không bao giờ trông gặp chàng nữa. Nàng đến lớp học, tâm trí lơ đãng, vì nhớ lại khuôn mặt trẻ đẹp, mà những nét không làm nàng ngạc nhiên, vì chúng thuộc về những kỷ niệm không sao quên được của tuổi thơ nàng.

Hồi được khí lực vì trà đạo. Bác sĩ Sakai chia sẻ sự yên lặng trầm ngâm của người khách khác. Rất hiếm có những gia đình dành cho nghi thức này tất cả ý nghĩa tinh thần của nó. Thật ra, bác sĩ Sakai tự coi mình như một tài tử, vì khi ở California ở nhà bố mẹ, quán trà không có và ông không quen với tập tục này.

Còn ông Matsu, chưa bao giờ rời nước Nhật, ông tiếp đón một cách hiếu kỳ vị bác sĩ, vẻ mặt nghiêm nghị, thân hình cao lớn, và mặc dầu hết sức cố gắng để trở thành một người Nhật trăm phần trăm, vẫn có điệu bộ Mỹ mà không biết. Buổi chiều hôm ấy, sự khôn khéo đặc biệt mà bác sĩ Sakai đã cung kính thực hiện được đối với môn trà đạo không khỏi làm ông Matsui ngạc nhiên. Nhưng ông giả giữ ý không thể như một món hàng đặt ra là có được. Chuyển hướng câu chuyện về vấn đề vô thưởng vô phạt, ông rút ở một chiếc hộp đựng nữ trang bọc lụa vật quý giá nhất của ông: một bát uống trà. Ông nói:

– Một người bạn thân của tôi, nay đã mất, chủ nhân một Chanoyu, bao giờ cũng uống bằng bát này. Lúc ổng sắp mất, ổng tặng tôi, vì người con trai độc nhất của ổng không muốn tập theo trà đạo.

Bác sĩ Sakai cầm chiếc bát hết sức trân trọng, khuỷu tay tì xuống chiếu trải trên mặt đất. Người ta không thể cầm chiếc bát quí giá này mà không tựa tay vào đâu, khi ông Matsui uống trà với chiếc bát này, ông đặt bát vào lòng bàn tay trái và ông lấy tay phải nâng nó lên. Bác sĩ Sakai ngắm nghía chiếc bát màu xanh nhợt, trơn nhẵn, giản dị, một cách lạ lùng, với những vòng cong đều hòa và thanh nhã, thư thái như mặt nước phẳng lặng. Ông trao trả nó cho ông Matsui, thở dài và nhìn xung quanh mình. Chiếc Kakemono (3) treo ở tường, hộp trà, những đồ phụ tùng cần thiết cho trà đạo, tất cả đều quá đẹp trong sự giản dị! Năm người khách, toàn là đàn ông, quỳ gối, lưng thật phẳng, không gò bó một cách lộ liễu, thấm nhuần một sự bình thản từ tâm hồn, phát ra, nhờ ở khung cảnh tuyệt hảo của gian phòng.

Trong suốt buổi lễ lâu dài và trong khi nhấm nháp thức ăn, không một câu chuyện nào lãng trí khách được. Rồi đến lúc chiều tà, khách đứng dậy, nghiêng mình xá chủ để cảm ơn và rút lui vào tiền đình mà ở đấy họ có quyền nói chuyện. Mấy phút sau ông Matsui đến. Bác sĩ Sakai rất thích thú nghe câu chuyện của mấy người này, ai ai cũng muốn bảo tồn nền văn hóa của xứ sở, qua những năm ngoại bang chiếm đóng. Những câu chuyện, nói về nước Nhật cổ xưa, những tập tục ngàn xưa tốt hay xấu, đều như biến ông thành người mới.

Lúc này bác sĩ Sakai mới hiểu rõ hơn tại sao người Nhật lại bị lôi cuốn một cuộc đời không hòa hợp với tính tình họ.

Ông Tanaka giải thích:

– Dân tộc nào cũng có những xấu xa. Ở đâu cũng có những kẻ thô lỗ, ngoan cố, không tiếp nhận một nền giáo dục nào. Chúng tôi cuốn vào phe chúng những kẻ yếu hèn và bất mãn. Những kẻ ấy, đã hơn một thế kỷ nay, làm lợi cho tinh thần đồi bại, để ngang nhiên tuyên bố với dân tộc chúng ta rằng các cường quốc Tây phương đã bận trí để phân chia Á châu nên chiếm luôn cả nước Nhật. Có thể rằng họ có lý, nào ai biết được? Mặc dầu thế nào họ vẫn reo giắc sự hoang mang và lợi dụng tình trạng để hành động theo ý muốn của họ. Bằng cách chống đỡ mối sợ hãi – chính là nguồn gốc của tất cả các sự yếu hèn – có thể chúng ta sẽ không bị lầm lạc chăng?

Ông Tanaka, một ông già nhỏ bé, khô đét, bảy mươi tuổi, đã trải qua thời kỳ biến đổi này mà không hề chịu theo cách trang trí nhà cửa và ăn mặc theo Tây phương. Trận chiến tranh đầu tiên với Trung Hoa làm ông mất người cha và trận chiến sau cùng, ông mất hết con trai. Thù hận, chiến tranh và bài xích thần đạo về những lý thuyết ái quốc, ông trở thành Phật tử. Ông tuyên bố là ông theo học phái nhân văn và chủ trương tinh thần hữu nghị giữa các dân tojcom và như vậy kể cả người Mỹ.

Ông ngồi quay mặt ra vườn nơi mà ánh chiều tà như rải bụi vàng xuống, ông ngừng nói, vẻ suy tư, và không ai làm rối sự yên lặng của ông.

– Tôi đã chứng kiến biết bao cảnh bạo tàn trong đời, ông tiếp tục nói. Khi trái bom nguyên tử rơi xuống Nagasaki, tôi có đến nơi để quan sát những sự tàn phá. Từ đó, tôi không sao tha thứ được một hành động tàn bạo, dù nhỏ nhặt chăng nữa. Tôi không thể nào giết một con kiến hay một con ruồi. Tôi không thể để một đứa trẻ khóc. Thêm vào những tội ác người đời đã phạm không những ở xứ sở chúng ta mà còn khắp trên thế giới, thêm cả tội lỗi của tôi nữa, thì tôi chết đi cho rồi. Ôi! Đức Phật xin Người hãy làm ngưng lại những tai họa!

Ông ngẩng khuôn mặt hốc hác lên và nhắm mắt lại. Bác sĩ Sakai kính cẩn cúi đầu xuống. Ông cảm thấy trong đáy lòng một nỗi buồn thống thiết, lẫn lộn với sự khuây khỏa vô biên.

Cuối cùng, tất cả các khách đều đứng dậy và cáo lui. Không có dịp thuận tiện để bác sĩ Sakai nói với ông Matsui về con cái của hai người, vả lại ông cũng không muốn nữa. Buổi tối nay, ông được một sự an ủi lớn lao. Ông đã để tâm hồn mình chìm đắm trong quá khứ và hiểu biết hơn để càng thẩm định giá trị của xứ sở mình. Ông đi chậm chạp về nhà, tâm hồn bình thản.

Trong gian chính, bà Sakai đợi chồng. Biết kể cho ông nghe những biến cố buổi chiều làm sao được? Bà sợ hãi và khâm phục chồng hơn bất kỳ ai trên đời. Nếu không hoài nghi một chút bà đã yêu chồng hết sức! Nhưng người ta không thể yêu đâu một người mình quá khâm phục. Bà nhận thấy, với sự khiêm nhường của mình, là trí thông minh của chồng không để lộ một khuyết điểm nhỏ nhặt nào. Trong tận đáy lòng, bà Sakai giấu giếm một tội lỗi mà bà không hề thú nhận với ai, bà không yêu nước Nhật. Bà thích ở Mỹ hơn, dù ở trong một trại tập trung, vì thời tiết ấm áp và khô trong bãi sa mạc Arizona. Ở Kyoto, nước trong vườn, sương mù ngoài biển và trên núi làm cho nhà luôn luôn ẩm ướt.

Quỳ trong chiếc áo Kimono màu tím, cổ áo viền một mép lụa trắng muốt, bà Sakai kiên nhẫn chờ đợi. Bà đi đôi vớ bông sợi trắng có hai lớp gót do bà đan. Bà là người nội trợ hoàn toàn, sinh sống ở Nhật, trong một trang trại nhỏ trên dãy núi cao của Nagasaki. Cha bà nghèo quá nên khi ông bất ngờ xem một quảng cáo trên báo hiến cơ hội cho những thiếu nữ Nhật kết hôn với người đồng bang di trú ở Hoa Kỳ, ông đã gởi ngay tính danh và hình của con gái. Chuộng khuôn mặt dịu hiền của thiếu nữ, bà cụ thân sinh của bác sĩ Sakai đã lựa chọn cho con trai. Thiếu nữ cũng không ngờ rằng mình lấy một bác sĩ, một người không bao giờ ưa đôi chân vòng kiềng, bàn chân thô lớn và hai bàn tay dày của nàng.

Ở Nhật, tuy vậy có một điều làm vừa lòng bà Sakai: chiếc áo Kimono che giấu bàn chân thô bạo của bà. Ở Mỹ bà luôn luôn nghĩ ngợi về hai bàn chân phơi bày ra trước sự hiềm khích của chồng. Ông chỉ quay mặt đi, điều làm bà đau đớn hơn những lời tàn ác.

Khi con cái còn nhỏ tuổi, Sotan Sakai rất dễ giận hờn nếu vợ không nuôi nấng chúng đúng theo lời chỉ bảo của ông. Vì vậy, bà đã bắt buộc con trai, mặc nó khóc lóc, phải uống thứ sữa bò gớm ghiếc! Nay bà hối tiếc biết bao đôi khi làm trái ý con! Bà không thể đến thăm cả mộ con được nữa.

Những giọt nước mắt chảy chan hoà trên má bà mỗi khi bà nghĩ đến con trai. Bà cẩn thận lấy làn vải lót tay áo rộng lau mắt và sì mũi vào một chiếc khăn tay bằng giấy để giấu trong tay áo bên trái. Bà vo viên chiếc khăn giấy và vứt vào một chiếc bình lớn gần đấy. Bà theo những tục lệ Tây phương nhưng từ khước không dùng chiếc khăn tay vải.

Bước chân của bác sĩ vang động. Người hầu gái vội vã tháo giày cho chủ. Bà Sakai tiến ra cửa và cúi đầu chào chồng. Ông chỉ khẽ gật đầu đáp lại và lẩm bẩm tên bà trước mặt người hầu gái. Bà trở lại phòng khách đi đằng sau ông. Khi ông ngồi xuống, bà liền quỳ gối sờ xem hơi nóng của ấm trà để trong bao dạ len.

Ông giơ tay lên và nói:

– Thôi khỏi. Tôi vừa uống xong. Trà ngon quá!

Biết nói với chồng thế nào về việc xảy ra chiều nay? Bà lấy tay che miệng và ho.

Ông bổng ngẩng đầu lên

– Hariko, có gì thế?

– Tôi không biết nói với ông thế nào?

– Có ai đánh vỡ chiếc bình sung phải không? Ông hỏi, băn khoăn.

– Ồ! Không có đâu ghê gớm thế!

– Hay con cá chép lớn chết rồi?

– Không, ồ! Không. Không có vật gì chết cả.

– Vậy, bà nói đi! Tôi có giết bà đâu và cũng không có đánh bà.

Được sự vui vẻ của chồng khuyến khích, bà thú thật hết sức thận trọng:

– Một thanh niên chiều nay lại đây và hỏi thăm ông.

– Một bệnh nhân à?

– Không – bà ngập ngừng rồi nói tất cả sự thực. Một quân nhân Mỹ.

Khuôn mặt mỏng và đẹp của bác sĩ Sakai không còn sắc diện.

– Tôi không quen biết một người Mỹ nào, ông nói.

– Ông ta không có nói là biết ông. Ông ta muốn được quen biết ông.

– Tại sao y biết tên ta?

– Hình như do một người bạn.

– Y muốn trở lại. Tôi giải thích cho y biết rằng ông không tiếp người lạ ở đây, và tôi có khuyên y đến gặp ông ở phòng giấy bệnh viện.

– Bà nói rất hợp lý – ông mím môi lại. Một người Mỹ! Có ai ở bệnh viện đã cho y biết địa chỉ của ta.

– Có lẽ vậy – bà nói, nhẹ nhõm hẳn người.

– Bà xử sự rất phải, khi nói sự thực với chồng và ông không tức giận. Bà Sakai tự trách mình sợ chồng giận dữ, mà thật ra chưa bao giờ ông nói to với bà; nhưng bà dễ xúc cảm quá, nên dù có hơi chút bất mãn, bà cũng nhận thấy ngay. Bà đứng dậy, dáng yểu điệu mặc dầu cặp chân ngắn.

– Tôi xin rút lui, vì còn bận công việc.

Ông chỉ gật đầu, không muốn làm tiêu tan cái không khí những giờ qua với các bạn. Còn lại một mình, ông đứng im lặng, quay mặt ra vườn, và quả quyết xua đuổi ý nghĩ về người Mỹ khó chịu kia.

Bà Sakai luôn luôn vừa dò xét chồng, vừa nhẹ nhàng kéo đóng cánh cửa. Ông không hỏi bà về hình dáng người Mỹ kia và bà cũng giữ ý không nói với chồng, điều lầm lỗi, làm bà tự trách mình ngay, coi đó như một hình thức dối trá.

– Cậu từ California đến à? Bà hỏi người khách và khách vội kêu lên:

– Bác nói tiếng Anh!

– Chút ít.

Bà cố không cười, tránh để lộ hàm răng xấu. Người Mỹ vốn yêu chuộng hàm răng trắng đẹp. Bà Sakai nghĩ rằng chính vì bệnh thiếu sinh tố nên chân bà hoá ra vòng kiềng và răng hư hỏng. Trong tuổi thanh xuân, những tật này hình như không quan trọng, vì tục lệ muốn các thôn nữ nhuộm răng đen trước khi lấy chồng. Mẹ nàng có hai hàm răng đen như hạt huyền.

Bà nhắc lại câu hỏi:

– Cậu ở California đến à? Chúng tôi ở đấy khi trước.

– Không, cháu ở Virginia, một miền đẹp lắm.

– Tôi không biết.

Câu chuyện suýt thành thân mật, vì bà Sakai vốn vẫn rất thân thiện với người Mỹ. Mặc dù chàng khả ái, bà cũng sửa sai kịp. Chàng đưa cho bà tấm thiếp và cáo từ.

Bà đi những bước ngắn, vội vàng và yên lặng, dọc theo dãy hành lang hẹp, dẫn đến phòng ngủ của bà. Đầy những tấm bảng ra, dùng thay tường, người ta có thể hợp phòng này với phòng kế cận, nhưng bà Sakai để đóng nguyên những tấm bảng này và như vậy dành được cho mình một nơi tịnh dưỡng. Bà cầm chiếc tráp nhỏ hình chiếc tủ nhiều ngăn, đặt xuống một cái bàn thấp và quỳ xuống những thứ để trong các ô kéo: những đồ nữ trang không có giá trị, những mẩu băng, những hình ảnh của Kensan, hình một ngôi nhà của gia đình trước ở Los Angeles. Một tấm bảng kéo ra vài phân. Bà trông thấy Josui mỉm cười với bà.

– Mama, ở đấy à!

Josui đi vào. Mẹ nàng trông thấy trên khuôn mặt nàng hiện ra vẻ hân hoan. Josui chưa biết cách giấu tình cảm của mình dưới một vẻ bình thản.

Bà hỏi nàng:

– Con có vẻ hài lòng. Có điều gì sung sướng thế?

Josui lắc đầu:

– Thưa mẹ, không. Riêng chỉ có xuân về.

Mùa xuân có đủ in dấu yêu thương lên những nét của khuôn mặt xinh đẹp và dịu dàng kia không? Bà Sakai trầm ngâm nhìn con gái, cố gắng nhớ lại ảnh hưởng của tiết xuân về chính tuổi thanh xuân của mình. Vào tuổi hai mươi, ở trang trại của cha, bà làm việc như một người đàn ông; đối với bà, mùa xuân chỉ là cày bừa khó nhọc và gieo lúa, không, mùa xuân chẳng nhắc nhở bà điều gì khác nữa.

Bà không hỏi Josui câu nào khác nữa, mà bà coi nó như là “con gái của bố”, Kensan là con trai của bà. Nếu chàng còn sống, nay bà đã có cháu, và tình yêu của bà đối với các cháu có vẻ giống như những trẻ Mỹ, điều đó bà có sá kể gì. Ở Mỹ, đàn bà có máy giặt và bếp điện, bà buồn rầu nhủ thầm.

Josui cần một bức hình của Kensan, anh nàng đứng cạnh vị hôn thê, Satsu, một thiếu nữ tóc cắt ngắn và xoăn.

– Con chỉ muốn cha cho phép con cắt tóc, Josui thở dài, vẻ bất mãn.

– Chắc cha con không cho phép đâu, bà nói, mặt cúi xuống hình của Satsu và nói thêm: mẹ nghĩ bây giờ nó đã có con.

– Sinh đẻ ở trong trại tập trung, không đến nỗi ghê gớm như thế.

– Ồ! Con có biết đâu. Josui thở dài cau mày lại.

Josui thở dài làm bà băn khoăn. Bà có nên nói cho con gái biết về người Mỹ đến không? Không nói là hơn. Bà lại cầm những vật mọn vô giá trị và những hình ảnh để cẩn thận xếp gói vào tấm giấy lụa.

– Con đi thay quần áo. Josui nói.

Nàng đi và bà Sakai tự khen mình kín tiếng, im lặng bao giờ cũng là cách giải quyết tốt đẹp.

Trong góc nhà là nơi riêng biệt của nàng, nàng quỳ gối, quay ra vườn và soi gương. Nàng mặc một chiếc Kimono màu hồng nhạt, có in một cành đào đang trổ bông, mô phỏng ở chiếc váy, màu hồng đậm hơn.

“Quan niệm của người Mỹ về sắc đẹp người đàn bà như thế nào?” – nàng tự hỏi. Nàng có làn da trắng, trắng như trái hạnh đào tươi. Môi dưới… có lẽ dầy quá chăng? Khuôn mặt của nàng có gọi cho người ta cảm giác một sức khoẻ dồi dào không? Má nàng hồng như hoa đào. Mũi nàng? Phải, khi hơi xuống dưới quá, một người Mỹ nhận thấy ngay. Nếu nàng còn ở California, nàng có thêm bạn trai không? Người ta nói rằng Mỹ không còn thù hằn người Nhật nữa. Nhiều nhất báo đã đăng những bài về sự dũng cảm của tiểu đoàn của Kensan ở Ý; một vài tờ kể cả anh nàng. Chàng tử trận khi chỉ huy tấn công ngọn đồi.

Tốt hơn là nó đừng tỏ ra quá dùng cảm, bà Sakai vừa khóc vừa nói.

Josui rút trong áo ra tấm thiếp nhỏ của chàng sĩ quan và đọc khẽ tên Allen Kennedy. Tên họ này có ý nghĩa gì? Nàng không biết. Nàng lại bỏ tấm thiếp vào trong áo và lại liếc nhìn gương. Nàng đặt lên má ấm nóng hai bàn tay mát. Nếu người quân nhân kia muốn bắt tay nàng theo kiểu Tây phương, nàng sẽ từ chối. Không thể cho phép một thiếu nữ để người lạ cầm tay được. Cái quyền đó để dành cho người chồng tương lai

Trong khi Josui mơ mộng như vậy thì chị hầu đẩy tấm ngăn và vào. Mặc chiếc Kimono bằng vải bóng, Yumi nhìn nàng và nói:

– Ông gọi cô, ông ở dãy thông.

– Nói với ông ta lại ngay bây giờ.

Bác sĩ Sakai đi dạo chơi với hàng thông trong vườn. Mùi nhựa tươi, hun đốt dưới sức nóng của mặt trời, tỏa ra một mùi gắt và dễ chịu.

– Cô con sẽ tới bây giờ. Yumi báo với chủ và khẽ cúi đầu.

– Cô làm gì thế?

– Cô đang soi gương.

Josui rút lui và bác sĩ Sakai dừng bước ngay. Josui soi gương? Như thế có nghĩa gì? Nàng có trông thấy người khách Mỹ không? Bác sĩ muốn biết sự thực. Người ta không thể tin người Mỹ về vấn đề đàn bà được. Josui con gái của ông… ông không muốn người ta lầm tưởng là một đào nương hoặc gái điếm.

Đi từ từ lại cha, Josui trông thấy ngay cặp mắt đen và sắc, đôi lông mày nhíu lại thành một cục ở giữa.

Không kiềm chế được, ông hỏi nàng một cách thô bạo:

– Con giấu ta điều gì phải không? Ta cảm thấy thế.

Ít quen với những lời báng bổ đột ngột, Josui giật mình. Xưa kia, cha nàng hay có những cơn giận dữ, nhưng từ khi trở về Nhật, ông cố tìm cách kiềm chế mình bằng cách suy tư. Ông trở nên yên lặng và dễ dãi!

Josui ngẩng đầu lên:

– Con không có giấu giếm điều gì.

– Con thây đổi từ ngày hôm qua. Có điều gì xảy ra, ông mắng nàng.

Chỉ có trực giác hướng dẫn ông, nhưng Josui kinh hoảng trước sự minh mẫn hiển nhiên này. Tại sao ông có thể xét đoán nàng một cách dễ dàng như vậy?

Nàng nói:

– Không có xảy ra điều gì rõ rệt cả. Tuy vậy, có lẽ cha có lý. Trông thấy những người Mỹ sáng nay thưa cha, việc đó đã gợi cho con biết bao kỷ niệm.

Đột nhiên, ông hất đầu ra lệnh cho nàng đi bên cạnh ông. Những tia nắng cuối cùng bám vào rêu tạo nên những ánh sáng màu xanh như có lân tinh(4) .

– Con phải tin cậy ở cha, bác sĩ Sakai nói quả quyết. Về mọi phương diện, con tiêu biểu tất cả những gì cha có. Mẹ con là một người vợ hiền, một người mẹ gương mẫu. Một người đàn ông còn cần gì hơn nữa? Nhưng, về tinh thần, con và cha giống nhau, con biết rõ điều đó!

Nàng phản đối, phẫn uất ngay:

– Con khác cha lắm.

– Bây giờ con khác, nhưng về sau đây, sẽ không thế, ông khứng chịu. Khi cuộc đời con được xếp đặt và khi con không cần phải phản đối cha nữa để chứng tỏ tính cách độc lập của con, lúc đó con sẽ phát giác rằng con giống cha đến mức độ nào.

Josui cảm thấy mình bị giam hãm trong cái tình yêu phụ tử, như bao vây chặt chẽ nàng. Kìa, ở trong lòng nàng, nàng có cầm giữ một con dao găm nhỏ để cắt những mắt lưới. Nàng lấy tấm thiếp ở trong áo ra và đưa cho bố không nói câu nào. Ông cúi xuống để đọc những dòng chữ in, rồi ông cũng làm một cử chỉ như con gái, đưa cho nàng một tấm thiếp giống như thế.

– Cha lấy tấm thiếp này ở đâu thế? Nàng sửng sốt kêu.

– Cha có thể cũng hỏi con như thế, ông đáp vẻ nghiêm nghị.

– Có người… cho con.

– Y đến lúc ta vắng nhà, và để lại tấm thiếp này cho mẹ con.

Hai người chòng chọc nhìn nhau, nàng quyết định không để cho vẻ mặt dữ dằn của bố uy hiếp mình.

– À! Josui. Ông nói giọng thật trầm.

Nàng cúi người xuống và không nói câu nào, đặt tấm thiếp nhỏ vào trong lòng bàn tay bố. Ông cầm lấy và bỏ hai tấm thiếp vào trong đó.

– Con xem, cha có lý, ông nói vẻ thân yêu và buồn rầu. Bây giờ, con gái ta, hãy nói cho ta biết có việc gì xảy ra thế?

Nàng không thể nói. Nước mắt trào ra và nàng chùi nước mắt bằng tay áo Kimono.

– Ta van con không nên giấu giếm bố mẹ điều gì, bác sĩ Sakai nói tiếp, sau một lúc lâu yên lặng. Ta nghĩ rằng nếu con bỏ chúng ta đi, lòng ta sẽ tan nát, ta tin rằng con không làm. Xưa ta đã đau khổ biết bao!

Josui ngẩng đầu lên:

– Vì anh Kensan đã mất?

– Không, trước khi Kensan và con ra đời. Trong buổi thiếu thời của ta, ta… Ồ! Chẳng nên nói làm gì, điều đó chẳng có gì quan hệ lúc này. Hãy nói cho cha biết tại sao con giữ tấm thiếp này? Ông nói giọng âu yếm.

Sự hiền từ đột ngột của ông lại làm cho Josui sướt mướt khóc. Nàng cố nói qua giọt lệ và chăn chặn những tiếng thổn thức trong cánh tay áo.

– Con không biết, con chẳng có gì nói cả. Chàng ngăn con lại ở dưới cây hoàng đậu và hỏi tên con. Con có nói tên. Chỉ có thế, con xin hứa với cha.

Biết sự thực, bác sĩ Sakai tỏ ra khoan hồng:

– Cha không bắt con chịu trách nhiệm về hành động của người đàn ông ấy. Nhưng con có thể từ chối không nói tên con. Như chính con đã nhận thấy, con sống quá lâu năm ở Mỹ.

– Con không nói điều này.

– Được, ta sẽ nói: sống nhiều năm, ông nhượng bộ. Nhưng không bao giờ chúng ta trở lại đấy nữa. Chúng ta sống ở đây, ở trên đất Nhật, con gái của ta ạ. Con sẽ lấy chồng ở đây. Cha không ép buộc con về hôn nhân. Con có thể chờ đợi đến bao giờ là tùy ý con. Về phương diện tâm lý, nên kết hôn sớm là hơn, nhất là đối với một người thiếu nữ. Nếu không, cái nguyện vọng bình thường của người ta sẽ lụi tàn và những hoài bão khác sẽ thay thế. Ta đã thấy ở Mỹ, nhiều phụ nữ đã mất cái nguyện vọng ấy, chú ý vào công việc nghề nghiệp mình, điều đó đáng tôn kính, nhưng trái ngược với nữ tính. Vậy, chúng ta thử xem có thể xử sự như thế nào. Nếu con không ưng Kobori Matsui, hãy tìm một người khác, con sẽ lựa chọn.

Cảm động về thái độ hòa giải của bố và vì tình yêu thương vô bờ bến đối với cha, Josui không có lòng nào trách móc ông.

– Con còn học một năm nữa. Con muốn học xong.

– Cố nhiên rồi, và cha rất tán thưởng. Ồ! Vậy ta quyết định không nhắc tới việc này nữa. Cha con ta hiểu nhau, có phải không?

– Vâng, nàng nói nhỏ – trái ý mình.

– Trong trường hợp này…

Ông ngừng nói, nàng quay mắt nhìn cha. Ông lấy hai tấm thiếp ở trong áo ra và xé vụn từng mảnh nhỏ. Sau đấy, ông cúi xuống, bứt một cụm rêu và đặt lên trên các mảnh thiếp vụn, như một nấm mộ nhỏ. Ông đặt lại cụm rêu.

– Con lại đây – ông nói: ta về đi.

– Bản tiếng Việt của dịch giả là Tokyo nhưng bản gốc tiếng Anh ghi là Kyoto, còn nhà quý tộc tên Kazuko. Nên mạn phép chỉnh lý cho đúng theo nguyên tác Anh ngữ.

– Josui là tiếng Nhật phát âm nhẹ và dứt khoát Dô`-Sư-I

Allen Kennedy trở mình mãi trên các tấm mềm dày. Những chiếc giường Nhật lừa dối người nằm. Khi mới nằm xuống, người ta tưởng giường êm ấm lắm vì những mền lụa có nhồi bông và các chiếu thun giãn. Nhưng chỉ trong một lúc, người ta cảm thấy hẳn trong xương tủy, qua chiếu và mền, cái ván rắn đánh xi của giường. Allen Kennedy không mệt mỏi lắm để ngủ được ngay. Sự ham muốn ngây ngất hun đốt máu huyết chàng. Thiếu nữ xinh đẹp kia đã phá hủy cái thế thăng bằng mà chàng đã thận trọng giữ gìn mãi mới được. Chàng vẫn ghê tởm cách xử sự thô bỉ và khinh khoái của một số nhiều người trong thời chiến tranh, nhưng chính nay, chàng cũng thấy trào lên lòng dục vọng. Chàng không thể tập trung ý nghĩ về sắc đẹp của thiếu nữ, mà chàng chỉ tơ tưởng đến thân hình nàng, sinh ra làm vật sở hữu của người khác.

Bỗng chàng ngồi dậy vòng cánh tay dài qua đầu gối gấp lại và đặt lên trên. Chàng hối tiếc đã không phân chia được cảm tính của mình, đến nỗi pha trộn tình yêu với dục vọng. Nhưng một sự tế nhị khác, có lẽ di hưởng của mẹ, đã dạy chàng rằng tình yêu không thể xa rời dục vọng được.

Chàng đứng dậy, qua xao xuyến, không sao nhắm mắt ngủ được và khoác chiếc áo choàng rộng mà các khách sạn Nhật vẫn cung cấp cho khách hàng. Một kiểu sẽ thật đẹp, màu vanh và màu trắng tô điểm thứ vải bông rẻ tiền. Người Nhật có lỗi về thẩm mỹ trong những sự bắc chước người phương Tây thôi.

Được bà Sakai tiếp trên thềm nhà, Allen trông thấy một chuỗi những mảnh lóng lánh như xà cừ, do ánh mặt trời chiếu lọt qua tấm ngăn. Chàng chưa có dịp quen biết người Nhật trong thượng lưu xã hội. Luật lệ nghiêm cấm người Mỹ không được dẫn người Nhật vào trại của mình. Trên các chuyến tàu, có những toa dành riêng cho họ. Về phần Allen chàng cũng không có ý kết thân với ai.

Ngôi nhà trong lúc buổi sáng thật hòa hợp hoàn toàn với thiếu nữ xinh đẹp chàng gặp dưới cây hoa hoàng đậu. Allen không thể quên được khuôn mặt thanh nhã, thật đẹp với cặp mắt lớn, môi dưới hơi dầy. Chàng đã thấy mến Josui là người có giáo dục, điều khá hiếm. Ở Nhật, con gái các gia đình tử tế đều tránh người Mỹ.

Allen đứng chôn chân ở ngưỡng cửa, trông ra một thửa vườn nhỏ.

Chà, chàng nhủ thầm, thật ra ta biết chờ đợi gì ở nàng Josui ấy? Nếu ta để lòng ham muốn lớn mạnh lên hoặc ta không kiềm chế ngay được – việc gì sẽ xảy ra? Thật là một cuộc phiêu lưu khó khăn, phiền toái, có thể thương tâm nữa. Chẳng có gì khác nữa. Josui không thể là một “Hồ điệp”(5) để người ta yêu rồi lại bỏ.

Đêm tối và yên tĩnh. Ở quá xa bức tường thấp, chàng trông thấy hiện ra xa xa, khối sẫm đen của dãy núi. Đến Kyoto để tìm kiếm những di tích cổ xưa, chàng chưa đi thăm được nơi nào. Tại sao chàng thay đổi những dự tính của mình. Quyết định một điều gì giữa đêm khuya khoắ này thật uổng công. Ngày mai, chàng sẽ duyệt lại với người hướng đạo và vạch ra một lộ trình. Gắng sức, chàng sẽ quên được Josui.

Chương trình đã định, Allen cảm thấy dễ chịu hơn. Đầu óc bớt căng thẳng, chàng không cảm thấy sàn đất rắn chắc nữa.

Buổi mai, mặt trời mọc trên một nền trời trong sáng. Thời tiết đẹp khiến Josui lựa chọn một chiếc áo màu vàng nhợt. Cổ hẹp, điểm những đường thêu trắng, làm nổi bật mớ tóc đen và khô của nàng. Ở thái dương, một vài sợi tóc nhỏ ương ngạnh ngập ngừng không xoắn lại.

Khi nàng đi xuống ăn điểm tâm, cha nàng nhìn nàng với mặt cặp sắc.

– Sáng nay, con đi sớm hơn thường lệ, nàng nói. Con phải học hình học trước khi vào lớp.

Bác sĩ Sakai hiểu rằng như vậy nàng muốn tránh không gặp người Mỹ kia.

– Con đi sớm được mát mẻ hơn, ông bảo nàng, giọng dịu dàng.

Bữa điểm tâm xong không một lời nói. Vẫn yên lặng, hai người đứng dậy. Josui ra vườn gom góp hoa, cành và lá để cắm bình, phỏng theo mùa. Về mùa xuân, phải tỏ ra thận trọng trong sự lựa chọn một bó hoa. Josui xua đuổi ý nghĩ hái những hoa mọc dưới nước, mà người ta không bao giờ xen lẫn với những hoa khác và lựa chọn sự giản dị. Nàng phát giác hoa sim xanh nhợt, nở ở trên những cành như sơn, nửa cây che giấu dưới một cây phong lá đỏ sẫm. Nàng cắt một cành phong, cố giữ không tạo một chỗ trống trong cành lá và bẻ làm hai cành sim. Bó hoa này đủ cho nàng rồi. Nàng để nửa giờ sắp xếp lại trên một chiếc bàn ngoài hiên. Như đã học hỏi được, nàng hết sức thận trọng cắm bó hoa vào một chiếc bình bằng xứ xanh, để những cành lá hướng ra phía mặt trời.

Bó hoa của nàng gồm ba kiểu: cành phong vượt cao hơn hai cành sim cap thấp khác nhau và xòe ra phía sau hai cành này. Sau cùng, hài lòng về công việc của mình, Josui nâng cẩn thận chiếc bình lên và đặt vào góc phòng hơi về một bến. Nàng định giữ lại bức họa buổi qua, vẽ mấy cây liễu trong sương mù và thay thế đồ mỹ thuật bằng viên ngọc thạch, cạnh không đều nhau, đặt trên một chiếc đế bằng gỗ hồng. Nàng lùi lại để ngắm xem toàn thể ra sao

– Được lắm, có tiếng cha nàng nói.

Josui quay lại để mỉm cười với ông và thấy ông mặt y phục Âu Tây, sắp sửa ra đi. Nàng thấy cha có vẻ uy nghiêm trong bộ y phục trang trọng và nhủ thầm ông đã vô tình bảo tồn trong lòng nàng cái kỷ niệm về Mỹ quốc. Nhưng nàng giữ riêng ý nghĩ này và không chia sẽ với ai.

– Thành công lắm, bác sĩ Sakai nói. Cha không ngờ rằng màu xanh của hoa sim và màu đỏ của lá phong lại hòa hợp với nhau được… vậy mà lại hóa ra đẹp. Đặc biệt lắm. Và viên ngọc thạch lại kết hợp hoa lá này với những cây liễu trong sương mù kia.

Gật đầu và khẽ mỉm cười, ông đi ra.

Cứ như vậy ngày bắt đầu. Josui từ chối không muốn nhận rằng mình tìm kiếm trên đường phố. Ít nhất, nàng cũng vẫn theo con đường thường lệ để đến trường Đại học trước giờ và bắt tay vào việc học. Đến cuối ngày, nàng trở về sớm hơn thường ngày. Đường phố vắng vẻ nàng nhủ thầm “Hôm nay phải đi thăm Nara với bạn bè. Sẽ không bao giờ gặp chàng nữa”

Ngày hôm sau, lại đẹp hơn hôm trước nữa, nhưng Josui trở dậy buồn bã và lạnh lùng. Không thấy nàng, mẹ nàng sai Yumi đi xem sao.

– Ta thấy buồn – Josui thú thật – Thấy như ốm.

Yumi về báo tin buồn này cho cha cha mẹ nàng. Hai người nhìn nhau.

Bà Sakai đứng lên và hấp tấp đi, yên lặng trên những chiếc chiếu. Bà vào phòng con gái và nhìn nàng. Josui để hai bàn tay nắm lại trên chiếc mền.

– Con hãy nói cho mẹ biết có điều gì làm con bối rối, bà hỏi nàng, giọng âu yếm.

– Không có gì, nàng thở dài. Đó là điều làm con ngạc nhiên. Con không cảm thấy gì. Tất cả con thấy đều dửng dưng.

– Đó là điềm chẳng lành. Vào tuổi con, phải cảm thấy điều gì, dù đó là sự bất mãn.

Josui không đáp và bà Sakai đi ra, bối rối tỏ bày với chồng:

– Ông đến xem con thế nào. Con nó không chịu nói gì, không biết đau ở đâu.

– Như vậy thì không sao – bác sĩ Sakai nói, giọng vui vẻ.

Ông cầm hộp đựng dụng cụ, khẽ gõ cửa phòng Josui và vào.

– Vậy con không thấy đau ở đâu cả à – ông hỏi.

– Không đau ở đâu cả – nàng đáp, không nhìn cha.

– Con có giấu ta điều gì lần nữa không?

– Không.

Ông để vào miệng nàng chiếc hàn thử biểu(6) và quỳ ở đầu giường con gái, vẻ băn khoăn.

– Khi nào thì con thấy cảm giác trống rỗng như vậy? Con không sốt.

– Lúc con thức tỉnh sáng nay. Con không muốn dậy nữa.

Vì thận trọng, ông giữ không muốn thổ lộ những ý nghĩ của mình.

– Thôi! Con cứ nằm, nếu con muốn. Ăn ít, cố ngủ nếu được. Cha sẽ lại ngay, nếu con cần.

– Cảm ơn cha.

Ông cầm hộp đồ và đi ra. Ông bình tĩnh bảo vợ đợi ở ngoài cửa:

– Con nó không đau; đó là mệt mỏi, có lẽ vì mùa xuân. Thời tiết thay đổi bất ngờ, khó chịu lắm, nhất là đối với một thiếu nữ dễ xúc cảm như Josui. Tôi khuyên con nằm nghỉ.

– Cảm ơn, tôi yên tâm rồi – bà Sakai nói.

Sau khi bác sĩ đi, ngôi nhà lại càng yên lặng. Bà Sakai nấn ná lại một lúc, ngắm nghía bình hoa. Yumi đi vào.

– Chúng ta không có cá – Yumi nói giọng tẻ ngắt.

– Mày nói gì? – bà Sakai vội kêu. Ngày hôm qua ta vừa thả một con cá vào cái hồ nhỏ.

Đó chỉ là một cái vại, chôn ở trước cửa bếp, để nuôi cá sống mua ở chợ về.

– Nó chết rồi.

– Chôn nó đi – bà Sakai buồn rầu nói. Để ta ra chợ trách anh hàng cá. Chắc y phải cho cá ăn nhiều lắm cho nặng cân.

Chợ không xa và Yumi coi nhà. Nhưng dù sao bà Sakai cũng muốn báo cho Jusui biết. Bà kéo tấm ngăn trong phòng bà; thiếu nữ ngủ, nằm ngửa, thở bình thường. Bà không muốn đánh thức con.

– Cô mày ngủ – bà bảo Yumi. Ta về ngay.

– Vâng, thưa được – Yumi nói.

Người hầu gái bắt đầu giặt ít quần áo ngay. Khi bà Sakai về, cô sẽ làm cá và nhặt rau.

Trời đẹp. Ánh nắng hun nóng thửa sân sau nhà và Yumi vẫn dậy sớm như thường lệ. Giặt quần áo xong, cô cảm thấy buồn ngủ. Ngôi nhà yên lặng. Nếu cô có ngủ một vài phút sau bếp lò, chắc cũng không ai biết. Nằm ngay xuống đất, cô gối đầu lên một thanh củi và ngủ liền. Đó là một thiếu nữ thôn quê, lúc nào cũng sẵn sàng ăn, sẵn sàng ngủ say sưa, không có tiếng động nào làm thức tỉnh cô được. Cô không nghe tiếng gõ cửa.

Josui tỉnh giấc, nàng lắng nghe, gọi mẹ, gọi chị hầu. Không có tiếng đáp. Tiếng gõ cửa dồn dập thêm. Buộc lòng nàng phải dậy, nàng khoác chiếc áo Kimono màu hồng, vuốt tóc và đi ra ngoài hiên nhỏ để coi xem ai, ở đây, bên ngoài không trông thấy nàng được. Ẩn mình sau một góc nhà, nàng lén thò đầu ra.

Chính chàng!… Chàng gõ cửa và không ai trả lời. Josui lùi lại và tựa vào tường. Chàng không thể trông thấy nàng. Nếu nàng không động đậy, chàng không thể ngờ rằng nàng có ở đó và có lẽ chàng sẽ đi. Nàng muốn biết chàng đi chưa. Nàng lại thò đầu ra, rất khẽ khàng. Chàng vẫn ở kia. Ngồi trên thềm, chàng nhìn tứ phía.

Nàng rút lui, nhưng không vội vàng. Với giọng trầm, vui vẻ, chàng reo lên:

– Tôi trông thấy cô rồi… Josui!

Yên lặng như nghẹn thở, nàng tự hỏi, vậy mẹ nàng đâu? Và Yumi nữa?

Giọng nói trầm lại vang lên, vui vẻ, hơi kéo dài:

– Cô lại đây với tôi hay tôi phải lại với cô?

Nàng trấn tĩnh, thắt chặt dây lưng chiếc áo Kimono, cài cổ áo và nói đĩnh đạc:

– Mẹ tôi đi vắng, tôi sẽ cho chị hầu ra.

Josui đi tìm Yumi, gọi cô, cả ở trong bếp trống không. Yumi vẫn không thấy đâu. Josui còn biết làm thế nào, nếu không phải chính nàng ra mở cửa?

– Mẹ tôi về ngay bây giờ – nàng ấp úng nói, mặt đỏ ửng.

– Tôi không phải đến thăm bà – chàng nói.

Chàng đứng dậy, bỏ chiếc mũ chào mào (7) xuống và bóp trong tay.

Nàng không biết đối xử thế nào với chàng. Mời chàng vào hay sao? Nàng xoắn vặn tay mà không biết.

– Tôi thấy mình thật khả ố, chàng nói khi thấy nàng có cử chỉ này.

– Không – Josui phản đối. Nhưng tôi chỉ có một mình lúc này và…

– Và cô không biết đối xử với tôi thế sao, vì cô là con nhà Nho giáo.

Nàng hối tiếc là đã thổ lộ nàng có một mình ở nhà và cắn môi.

– Xin ông đi cho, nàng nói nhỏ.

Nàng không biết rằng mắt nàng lóng lánh, cặp môi xinh đẹp của nàng thắm đỏ, mặt nàng tươi sáng như một bông hoa chào đón hừng đông. Allen tiến một bước đến gần nàng và sự ham muốn xua đẩy đã lâu bỗng tràn ngập người chàng với sức mạnh vô biên. Chàng bị mù quáng, không thể kìm hãm được sự bồng bột của mình. Chàng sẽ chỉ hôn cặp môi xinh xắn và thanh khiết kia, trong khung cảnh thửa vườn đẹp này. Với một cử chỉ mau lẹ, chàng ôm nàng trong cánh tay với sự âm yếm hung bạo và từ từ ghì chặt vào người mình, trong khi nàng cố quay đầu đi. Rồi bỗng nàng không chống chọi nữa.

Chàng mơ tưởng suốt đêm cái giờ phút này và ngây thơ Josui không hề nghĩ tới. Cuối cùng nàng hầu như ngất trong cánh tay chàng và chàng khẽ rời rời ra, không buông thả hẳn nàng.

Josui cũng không thoát ra, nang chỉ quay mắt đi và tì má lên vai Allen.

– Việc này phải tới – chàng thì thầm.

Nàng không thể nói được. Chàng nâng cằm nàng và quay khuôn mặt dịu dàng lại mặt mình.

– Cô biết rằng việc này phải tới sao? – chàng hỏi.

– Tôi không biết – nàng nói khẽ, đó là lần đầu mà tôi…

Lời thú nhận chất phác này làm chàng vui sướng.

– Ồ! Em yêu của anh! Chàng nói và cúi đầu xuống.

– Không, đừng làm nữa – nàng van nài. Lần thứ nhất đủ rồi. Tôi phải suy nghĩ xem việc gì xảy ra cho tôi.

– Điều xảy ra là anh yêu em.

– Nhưng anh không biết tôi.

– Người đàn ông không cần phải biết người phụ nữ để yêu thương. Họ tìm biết và yêu dấu.

Nàng canh chừng hàng rào thửa vườn:

– Tôi không thể đứng ở đây được, mẹ tôi sắp về.

– Em để anh nói với bà.

– Không, không, đâu có đơn giản thế, anh hãy tin tôi. Cha tôi không ưa người Mỹ và ông yêu mến tôi quá…

Nói đến cha, nàng đứng cách rời chàng ra. Allen nhận thấy nàng muốn tránh và chàng cũng không tìm cách giữ nàng.

– Josui, chàng nói, em có muốn ban cho anh một sự may mắn nào không?

– Một sự may mắn à?

– Đúng rồi, là được quen biết em.

– Làm thế nào được? – Nàng thở dài.

– Anh sẽ tìm cách, em thân yêu.

Em thân yêu! Danh từ này đã bị quên lãng đi, bỗng chàng lại nhớ tới. Đó là một từ thắm thiết yêu đương. Nàng rùng mình. Nàng tìm thấy ở đây một mối tình tương tự? Chỉ có ở nước Mỹ mà ở đấy người ta không sợ ái tình.

Bỗng, nàng nhìn chăm chăm vào mắt chàng.

– Em tin ở anh, Allen… Em đọc như vậy có đúng tên anh không?

– Đúng như anh ưa thích được nghe em đọc đến. Chúng ta sẽ gặp gỡ nhau ở đâu? Ở đây à?

– Không, không, anh để em nghĩ.

– Dưới cây hoàng đậu, ngày mai được không?

– Được.

Chàng cúi đầu xuống và cặp môi dịu dàng, như đòi hỏi biết bao của chàng trai đặt lên môi Josui. Bây giờ, nàng hiểu: nàng yêu chàng thanh niên này.

Hai người hoảng hồn vì tiếng lá xào xạc. Môi họ rời ra. Hai người cùng nhìn phía bụi tre rũ bóng mát xuống cửa ra vào. Một làn gió nhẹ, một cơn gió lốc nhỏ rung động các lá xanh, non và bỗng:

– Thật lạ lùng! – Josui kêu lên.

– Có ai không? – Allen ngạc nhiên hỏi.

Trong một thoáng, họ quên không nghĩ đến nhau và cùng nhìn những chiếc lá múa nhảy. Bỗng nàng nhận thấy chàng vẫn ôm nàng trong vòng tay. Nàng giựt ra và chạy trốn vào nhà.

Josui nhận thấy hành động của mình quá tệ. Tại sao nàng có thể chấp nhận việc này? Ngày hôm sau, bình phục một cách kỳ dị, nàng trở lại trường. Nàng cầm một chiếc dù trắng viền hoa vàng và cầm tay cuốn sách cùng một hộp bút chì gọt tử tế. Nàng có ý định làm việc nhiều để tự nhắc nhỏ rằng mình là một thiếu nữ đứng đắn.

Chàng giữ nàng lại cách hàng rào không xa mấy. Cặp mắt chàng xanh biếc như nước biển dưới ánh mặt trời.

– Anh ở đây để quyến rũ em, chàng bắt đầu nói dạn dĩ.

Josui e sợ. Biết chống trả thế nào với ngày tươi đẹp như thế này? Nàng cố tạo một vẻ trang nghiêm.

– Anh sung sướng được thấy em đẹp quá. Như thế càng làm lòng ham muốn dễ dàng hơn nữa.

– Em phải vào lớp học – nàng nói, giọng van lơn.

Mặt chàng nghiêm nghị:

– Josui, anh chỉ còn năm ngày phép. Anh chẳng xem gì được ở Kyoto, một trong những thành phố đẹp nhất trên thế giới. Em có muốn, hôm nay, lại với anh và dẫn đường cho anh đi… vì bổn phân yêu nước.

Nhìn cặp mắt sáng ngời của Allen, Josui cảm thấy có một điều gì vui vẻ tràn ngập người nàng. Nàng cười:

– Anh cám dỗ em quá, nhưng em không thể theo được. Em biết nói với vị giáo sư của em thế nào? Và nếu có ai trông thấy hai chúng ta? Cha em chắc sẽ giận lắm.

Chàng nhún vai:

– Xin lỗi em, anh van em. Hãy quên sự cám dỗ. Em đi học đi.

Nụ cười tắt trong cặp mắt chàng. Hai người đi sát cạnh nhau bên bờ rào. Allen cầm sách cho nàng, Josui nhớ lại khi ở Mỹ, con trai vẫn thỉnh thoảng mang sạch cho con gái. Nàng nhìn nghiên chàng và nhận thấy chàng đang ngắm mình. Mắt chàng trở nên trong sáng và miệng như cố dập tắt nụ cười.

– Em có thể dấu những quyển sách này ở gốc cây hoàng đậu, rễ cây khá lớn và xoắn xuýt có thể che kín cả em nữa.

– Em sẽ làm thế – nàng kêu lên.

Những lời nói mới đáng kinh ngặc làm sao!

Vào giờ buổi sáng này, không ai trông thấy nàng giấu sách và trở lại với chàng. Hai người đi vào một con đường hẹp.

– Em hãy nói về thành phố Kyoto cho anh biết – chàng hỏi, giả đò lưu tâm lắm.

Để trấn tĩnh sự bối rối của chính lương tâm, nàng trả lời với giọng nghiêm trang.

– Trong một ngàn năm, Kyoto là thủ phủ của nước Nhật. Thành phố cổ xưa này với trên trên một triệu dân có một ngàn bốn trăm đền Phật giáo, nhiều lâu đài, cung điện cổ xưa của nhà vua và những công viên cổ, đẹp nhất thế giới.

– Cô em hướng đạo thân yêu của anh, hãy dẫn anh đi thăm các công viên.

Ở trong các công viên, chàng nghĩ sẽ có những nơi ẩn náu, những động, tảng đá, các hồ phẳng lặng, các hàng rào, bụi cây. Chàng phải mất hứng và nghi ngờ nàng có mánh khóe tinh ranh gì.

Nàng chỉ một khoảng hình chữ nhật, đất khô khan, một bãi sa mạc, cuối cùng có một bức tường thấp. Những tảng đá bám bụi rải rác trên cát trắng, gợi nhớ những đảo lởm chởm trong một biển nước đọng, mà chiếc đã vạch những làn song bất động và đều đặn.

– Đây là một khu vườn à?

Trong một thoáng, chàng không thấy ý nghĩa chàng gán ghép cho ngày hôm nay nữa. Chàng linh cảm thấy một cách mơ hồ một sự hùng vĩ và trang nghiêm, vượt tầm hiểu biết của chàng.

– Anh sẽ hiểu – Jossui giải thích, vẻ trang trọng. Anh hãy đếm những tảng đá đi.

Chàng đếm được mười lăm chòm, xếp những đảo hàng năm và hai, năm và ba, ba và ba.

– Không phải chỉ riêng là những đảo. Một vài cái giống như những loài chim nước đang nghỉ ngơi…

Josui lấy ngón tay chỉ những đảo đó cho chàng

– Kìa, những con vịt trời.

Những tảng đá mòn giũa bởi gió và mưa, nhắc nhở thật sự những con vịt nằm ngủ.

– Em có hiểu vườn này tiêu biểu gì không? – Allen hỏi.

– Không được hiểu lắm, nhưng em có thể nói để anh biết rằng, công viên này rất nổi đanh và rất cổ kính, biểu lộ tâm hồn thanh khiết của người sáng tạo. Nếu chúng ta đứng hàng giờ lâu, yên lặng trông ngắm, lúc ấy chúng ta sẽ hiểu

Chàng lắc đầu:

– Không, cảm ơn – chàng nói. Anh muốn một cảnh gì linh động hơn.

Josui lại nhẫn nại dẫn Allen vào hoa viên một lâu đài cổ, ở đấy những đồi thấp là những dấu nối liền vườn với trời. Nhưng, nơi này cũng không phải là một cảnh thân mà không có một góc nào có thể ẩn náu được. Allen không dám cầm cả tay Josui.

Trưa đến, chàng chẳng còn muốn nghe nói về đền đài, lăng miếu, công viên và thần thánh nữa.

– Anh đói – bỗng chàng nói. Chúng ta đi ăn, thuê một chiếc xe và ra miền quê. Anh muốn xem môt phong cảnh thường.

Nàng nhận lời như trong một giấc mơ. Đã phạm lỗi lớn lao là dành cho chàng cả ngày hôm nay, nàng như sẵn sàng tất cả. Thấy thế, chàng thấy ngực đập mạnh.

Buổi chiều, ở miền quê, Allen lại thấy Josui có vẻ xa cách. Hai người trèo lên một ngọn đồi, theo một con đường nhỏ quanh co, có lát gạch và trồng tre hai bên. Chàng đứng dừng lại trước một khoảng có rêu mọc.

– Chà! Chỗ này tốt quá. Một chiếc đệm thật êm, có phải không? Josui, em ngồi xuống đây.

Nàng vâng lời và quỳ xuống, cách một khoảng thích đáng với người bạn trai. Mấy sợi tóc nhỏ lóng lánh mồ hôi bám vào trán đẫm ướt của nàng. Môi nàng thắm tươi, chàng có dám đến gần nàng không? Chàng bỗng quyết định và cầm lấy tay nàng.

– Josui.

Nàng quay lại nhìn chàng với cặp mắt trong sáng:

– Anh hãy nói cho em biết về nước Mỹ. Nói cho em biết về nhà, cha mẹ anh. Em tọc mạch quá.

– À! – chàng bắt đầu nói. Anh ở một thành phố nhỏ, cách Richmond không xa, thuộc về miền Virginia.

– Anh mô tả nhà anh đi.

Chàng nhìn bàn tay Josui và khẽ lấy những ngón tay mình mân mê.

– Một ngôi nhà lớn, sơn trắng, sáu cột lớn trắng. Một ngôi nhà cổ dô tằng tổ anh xây cất. Ở cửa vào có một cầu thang lớn dẫn đến các phòng.

– Thế gia đình anh, có bác trai bác gái (9)?

– Phải và anh. Có thế.

– Con một?

– Phải

Nàng có vẻ nghiêm nghị:

– Vậy anh đối với hai bác chắc rất được quý.

Chàng cười:

– Đôi khi anh cũng nghỉ như thế.

– Thân mẫu anh… bà thế nào?

– Khá, anh nghĩ như vậy.

– Em muốn nói về dáng người.

– Ồ! Anh hiểu. Khá bé nhỏ, mảnh khảnh, xinh xắn đúng hơn. Nhưng bà có một ý chí sắt đá.

– Còn thân phụ anh?

– Cao lớn, điềm tĩnh… biếng nhác, anh thấy thế. Ông là luật sư, nhưng nay không hành nghề. Ông thấy không cần thiết, anh nghĩ như vậy, từ ngày ông anh mất.

Nàng hiểu rằng chàng muốn thổ lộ là chàng có gia sản nhưng vì tế nhị, chàng không muốn đề cập đến vấn đề này. Nàng nhìn qua các khóm tre. Thành phố Kyoto trải dài ở dưới chân hai người.

– Cần phải về – Josui nói.

Thời giờ đi mau quá. Chàng nằm xuống thảm rêu và gối đầu lên cánh tay gấp lại.

– Lúc này chưa, Josui.

Nàng nhìn chàng với một vẻ không sao tả được. Nàng có sợ hãi không?

– Josui, em hãy nằm gần đây.

Nàng lắc đầu. Cái cổ trắng muốt của nàng bừng đỏ.

– Tại sao không, em yêu của anh?

Nàng không trả lời, nhưng chàng trông thấy môi dưới của nàng run và nàng cắn lại ngay.

– Em có sợ anh không? – Chàng hỏi một cách âu yếm.

– Một chút.

– Anh không làm hại em điều gì, em yêu của anh.

Nàng chỉ biết lắc đầu.

Chàng dịu dàng hỏi:

– Em quên rằng anh yêu em sao?

Allen lắng nghe kỹ mới nhận thấy có trả lời.

– Em có nhớ, nhưng tại sao anh yêu em?

Josui quay nhìn chàng với cặp mắt lớn nghiêm nghị. Chàng đứng dậy, cử chỉ hấp tấp. Thật ra, tại sao chàng yêu nàng? Thái độ của thiếu nữ làm cho những cử chỉ của chàng hóa ra kỳ quặc.

– Anh không hiểu – chàng nhận thế. Chính anh cũng tự hỏi mình. Anh như là… người đói khát. Anh chẳng có ai ở đây để yêu thương. Chỉ có mình em.

– Còn mấy ngày nữa anh đi à?

– Anh sẽ trở lại.

Nàng mỉm cười

– Như vậy chúng ta có thể chờ đợi. Chẳng cần phải quyết định bây giờ tại sao anh yêu em. Nàng nhảy lên và trông ngắm vẻ mặt nồng nàn, hướng về phía nàng. Bỗng nàng quay đi, xuống dốc và chạy, nhẹ nhàng và mau lẹ. Chàng chỉ còn biết chạy theo nàng đến tận xe.

– Như vậy có phải là hết một ngày không? – Allen hỏi.

– Chỉ ngày hôm nay thôi, một ngày qua với anh, Allen Kennedy.

Nàng nói cả tên họ chàng lần thứ nhất, dằn từng chữ một cách điệu bộ.

Ngày khởi đầu với biết bao sự băn khoăn thì lại kết thúc trong một giấc mơ vui vẻ. Nàng lấy sách giấu ở một nơi. Sinh viên đã trở về cả. Người gác cổng già ngủ ở trong chòi canh.

Josui chỉ ngừng lại một lúc để từ giã Allen. Chàng phản đối:

– Nhưng anh có được đi xem gì đâu. Anh chưa được thăm Nara. Tất cả mọi người đều phải tới Nara. Tất cả mọi người đều phải tới Nara.

– Anh phải đi với các bạn của anh – nàng nói và mỉm môi. Em không có ý gì về việc này.

– Có chứ. Đó là lỗi ở em. Anh đã gặp em, thì anh lại cần phải gặp nữa.

Với thái độ trẻ con, nửa đùa nghịch, chàng tìm cách bào chữa cho mình. Sự xúc động làm chàng hãi sợ. Chàng không muốn chỉ định những nguyên nhân.

Nàng hết sức sửng sốt và hỏi:

– Anh có muốn ngày mai em đi Nara cùng với anh không?

– Anh kính cẩn ước mong như vậy.

– Em cần phải suy nghĩ.

– Josui, làm thế nào, anh biết được quyết định của em?

– Nếu em đi, em sẽ ở đây, sáng mai, không mang sách vở?

– Anh đợi em

Hai người từ giã nhau, cũng chẳng bắt tay nhau, tưởng như người nào cũng đoán ở kẻ kia lòng ham muốn ngập ngừng và e sợ.

Josui kinh ngạc về sự nhu nhược không ngờ được của mình. Nàng trở về nhà như thường lệ. Cha nàng được mời tới nhà một bệnh nhân, phải trở về muộn. Josui ăn buổi tối riêng với mẹ. Thỉnh thoảng nàng mới trả lời những câu hỏi âu yếm của mẹ; trước kia nàng là người rất ghét nói dối hay bắt buộc phải nói dối. Trong khi nàng đang bận rộn sửa soạn khay cơm cho mẹ, thì bà nói giọng dịu dàng:

– Thôi con, khỏi bận tâm, mẹ không muốn ăn. Ta không dám nói cho con…

– Bảo con gì, hở mẹ?

– Chính cha con được mời gấp đến gia đình Matsu. Kobori… cha con sợ bị ruột dư.

– Kobori! Ồ! Con mong rằng bệnh không đến nỗi nặng. Người con độc nhất của gia đình Matsui!

– Và một người con hiếu đễ biết bao! Cha con rất có thiện cảm và đặt nhiều hy vọng ở chàng…

Josui biết những ước vọng của cha, nhưng nàng không thể trả lời được. Nàng ẩn mình trong một giấc mơ tình ái lôi cuốn nàng đi xa nhà, xa cha mẹ. Khi ăn xong, nàng nhận thấy bà Sakai nhìn nàng với vẻ băn khoăn.

– Con có điều gì bận tâm thế? – bà hỏi.

– Ồ! Con nghĩ đến việc học hành – Josui đáp, ngạc nhiên thấy mình nói dễ dàng quá!

Nàng đi ngủ rất sớm, viện cớ mệt. Đêm trong sáng. Nàng ở giường sát liền mặt đất, nàng trông thấy qua cửa mở, những ngôi sao tỏa ánh sáng vàng, tựa những đèn lồng bằng lụa ở đằng xa. Nàng nhớ lời những chuyện tình đọc trong các tạp chí ở California. Tình yêu đưa đến hôn nhân. Thoạt đầu là cái hôn, rồi tỏ tình và sau cùng là ấn định ngày hôn lễ. Nàng đã nhận được cái hôn, chàng đã tỏ tình. Bây giờ đến lúc chàng ấn định lễ cưới.

Nàng thở dài, hình dung khuôn mặt của Allen và ước mong ngày mai sẽ tới.

Ngày mở đầu tươi đẹp. Ánh mặt trời làm nàng thức tỉnh, Josui dậy. Nàng được mẹ cho biết là tối quá, cha nàng về muộn, vì phải giải phẫu Kobori về bệnh ruột dư và tình trạng của chàng làm ông lo ngại. Josui lẫm bẫm một vài câu xã giao và ra đến ngoài là nàng quên ngay hết cả. Đường phố hơi ẩm ướt sau một cơn bão nhỏ ban đêm, trời tuyệt đẹp. Allen đợi thiếu nữ, nhưng lão gác kiểm soát đường phố khắp cả mọi mặt. Chàng đến gặp nàng ở một đường hẹp dọc theo một bức tường Trường Đại học.

– Lão không trông thấy em? – chàng nói.

– Thôi, ta đi ra ga qua những đường vắng vẻ – Josui đề nghị. Nara cách đây không đến một giờ xe lửa.

Hai người bắt tay nhau và đi yên lặng trong đường phố ẩm ướt. Trên cây những hạt mưa nhỏ rơi xuống khuôn mặt và tóc Josui.

– Hạt mưa rơi trên mấy bông hoa – Allen nói.

Nàng mỉm cười:

Vào giờ sớm sủa này, họ có chỗ ngồi trên toa tàu. Josui giả tạo vẻ lãnh đạm trước con mắt hiếu kỳ của hành khách ngạc nhiên thấy một thiếu nữ Nhật tử tế đi cùng một người Mỹ.

– Nara là kinh đô cố định đầu tiên của Nhật – nàng nói, giọng trong trẻo, hơi lớn một chút. Trước kia, các vị vua chúa chỉ định kinh đô ở thành phố nào họ ưa thích. Từ thế kỷ thứ nhất, Nara được lựa chọn và trở thành kinh đô trong bảy triều đại liên tiếp Sau đó là Nagaoka cũng ở gần Kyoto.

– Ở Nara ta xem gì?

– Tất cả những gì anh thích. Cửa hàng, lâu đài, đền miếu, rương cất thánh tích, tượng Phật lớn, vườn Thượng Uyển.

– Vườn Thượng Uyển – chàng quyết định không do dự. Có lớn lắm không?

– Hơn sáu trăm mẫu (10).

Đến Nara, Josui gọi một xe kéo, đưa hai người đến công viên, trong khi nàng cố gắng quên những cặp mắt soi mói của hành khách trên tàu.

Hai người dạo chơi một giờ trong công viên. Nhận thấy có một góc vắng vẻ, Allen không sao kìm hãm được lòng ham muốn. Chàng bỗng quay lại trên con đường nhỏ hẹp mà chàng đi trước và nắm lấy tay nàng.

Bây giờ không còn vấn đề giằng co gì nữa. Cái hôn không còn làm Josui sợ hãi. Nàng chỉ những muốn tiếp tục nữa. Nàng cảm thấy một nỗi hân hoan cực độ, êm ái không sao chịu nổi.

Đối với Allen, cái hôn chỉ là bước đầu một sự mời mọc. Hai người yêu đương nhau, mỗi lúc một say sưa, thắm thiết hơn. Thúc đẩy tới cái kết luận không sao tránh được. Allen bỗng nâng Josui lên trên cánh tay chàng, đặt nàng nằm lên thảm rêu, dưới hàng thông và nằm ngả xuống gần nàng.

Nàng hiểu ngay nguyên nhân cử chỉ hấp tấp này. Lấy hai tay, nàng đẩy mạnh chàng ra.

– Thôi, nàng nói như hắt ra. Không, Allen Kennedy không thể làm cách này được.

Giọng nói của nàng run run và mắt nàng nhìn vẻ dữ tợn.

Sống tuổi thơ ấu sung sướng trong ngôi nhà lớn sơn trắng ở Virginia, lương tâm thanh khiết của Allen bỗng bừng dậy. Sự phẫn nộ của Josui làm chàng nguội lạnh và chàng giấu mặt vào lồng ngực thiếu nữ.

Thoạt đầu bất động, sau nàng quyết định phá tan sự im lặng.

– Em không hiểu điều gì chi phối em, một thiếu nữ Nhật hay Mỹ. Em chỉ biết trước tiên em là con gái của cha em, một người họ Sakai. Gia đình em không phải là những người tầm thường, vốn thuộc một giới khác. Anh và em, chúng ta phải cùng xem xét, chúng ta yêu nhau bằng cách nào. Hãy cùng quyết định hoặc là vĩnh biệt ngay ngày hôm nay, hoặc…

Nàng ngừng nói, không sao tưởng tượng được, nếu chàng nói: “Thôi, vĩnh biệt”.

– Có cần phải có một quyết định ngay hôm nay không?

– Phải

– Tại sao?

Nàng ngập ngừng rồi quả quyết:

– Vì anh làm dữ ngay khi chỉ có hai người.

Chàng tức giận vì sự thực trắng trợn.

– Này, Josui. Có phải thế là làm dữ không?

Nàng nhìn chàng với cặp mắt lớn, trong suốt.

– Hãy cho là thế, nếu cần phải nói thật. Em không có lẩn tránh – nàng nói tiếp ngay. Nếu em nhận lời đi một mình với anh, em cũng phải nhận phần trách nhiệm của em.

– Em đã học được những tiếng kheo léo ấy ở California?

– Không phải ở California, mà ở đây, ở Nhật, chính ở miệng cha em.

– Một người cha nghiêm nghị phải không?

– Có lẽ thế.

Trong khi chàng im lặng, nàng nói thêm:

– Có lẽ rất ích lợi… cho một người con gái.

Nàng quàng tay qua đầu gối và cúi đầu.

Gáy nàng trắng xanh như màu sữa, cánh tay trắng và tròn, ở cánh tay áo cụt hở ra và hai bàn tay xinh đẹp. Chân và tay đẹp, thật hiếm ở đàn bà Nhật. Chàng không trông thấy được chân Josui che trong đôi vớ ngắn.

– Em hãy bỏ vớ và dép ra – bỗng chàng hỏi. Em thò chân cho anh xem. Chân em có đẹp như tay em không?

Allen ngạc nhiên thấy mặt Josui bừng đỏ. Nàng đứng phắt dậy và đi:

– Bây giờ thì em không thể ngồi với anh được nữa – nàng nói vẻ dữ dằn. Không thể được nữa. Anh chửi em một cách dễ dàng quá. Allen Kenndy! Bây giờ em mới hiểu lòng dạ anh. Ái tình thế à! Hãy nói đi! Với tình yêu như vậy, em không muốn chút nào.

Nàng đi và chàng chạy đuổi theo:

– Josui, em nói gì thế? Em thân yêu, tại sao những lời này lại làm phật ý em? Anh không hiểu chút gì.

Chàng nắm vai thiếu nữ:

– Josui hãy trả lời anh!

Nàng quay lại, nắm nẩy lửa, má hồng đỏ.

– Anh không trả lời em, Allen Kennedy! Em hỏi anh “Chúng ta quyết định thế nào?” Và anh bảo em: chìa cho anh xem…

Nàng ngừng nói, quay đầu đi và mắt đẫm lệ.

Buộc lòng phải thổ lộ sự thực, chàng nói:

– Em thân yêu, nếu anh không trả lời, vì anh không biết trả lời làm sao.

– Nếu anh không biết, anh không thể… đụng đến người em.

Tay Allen rơi xuống

– Em nói có lý.

– Nếu anh không biết vậy em xin anh ngay ngày hôm nay, anh đi Kyoto, rồi trở về Mỹ. Hãy quên em đi.

Chàng không rời mắt thân hình mảnh khảnh của nàng. Thấy chàng yên lặng, nàng nói giọng chán nản:

– Em muốn về.

Hai người đi chuyến tàu sau về Kyoto và chia tay nhau ở ga, vì nàng muốn như vậy.

– Anh không bao giờ quên em, Josui.

– Ồ! Rồi anh sẽ quên.

– Nếu anh không quên, anh có thể viết thư được không?

– Anh sẽ không viết thư.

Nàng rời đi, không lời từ biệt. Chàng đứng nhìn mãi cho đến lúc nàng lẫn vào đám đông, nhưng nàng không quay lại. Chàng về khách sạn, xếp dọn hành lý và đi Tokyo chuyến tàu nhất. Chàng không muốn đá động đến ngày nghỉ phép nữa. Điều cần thiết là tiếp tục làm việc ngay.

– Kobori đã khá hơn, bác sĩ Sakai nói. Chàng chống lại được các thuốc trụ sinh mới.

– Con rất hài lòng – Josui nói vẻ lãnh đạm.

Bác sĩ Sakai cảm thấy có điều gì bất thường ở con gái. Ông nhủ thầm chắc nàng có sự bất thường về sinh lý. Nàng đến tuổi phải lấy chồng mà nàng không rõ.

– Kobori thật là mẫu người thanh niên Nhật. Vậy mà chàng lại tân tiến. Chàng kính nể cha, song chàng sẽ vượt ông. Một ngày kia, chắc chàng sẽ là một nhân vật quan trọng.

Josui muốn xua đuổi hình ảnh Kobori khỏi tâm trí nàng, nhưng bị thúc đẩy bởi một sự cần thiết mơ hồ tự trừng phạt mình và dồn dập các biến cố, nàng nói thành thật.

– Thưa cha, tại sao cha không nói sự thực? Cha muốn con lấy Kobori. Vậy tại sao lại có những sự quanh co như thế?

Bác sĩ Sakai tức giận:

– Con hiểu rõ lắm tại sao ta không dám thành thật với con – ông kêu lên. Con giống những thiếu nữ Mỹ. Nếu con rõ những ước mong của cha, con sẽ phá hết.

Kinh hoàng vì sự tức giận của mình, ông sẵn sàng chịu đựng những hậu quả. Nhưng ông lại ngạc nhiên thấy Josui tỏ ra dễ bảo:

– Cha biết, con suy nghĩ nhiều lắm. Bây giờ, con thấy đối với con lấy một người Nhật là hơn. Đôi khi, con ước mong được trở về Mỹ, nhưng bây giò con nhận thấy phải sinh sống ở đây. Như vậy, tại sao lại không ưng thuận Kobori?

Nàng nói, vẻ trầm ngâm, buồn rầu nữa, bác sĩ Sakai khó nhận ra con gái mình. Sự tức giận tiêu tan, ông ấp úng.

– Josui, con gái của cha, thật con hiểu biết lẽ phải lắm. Ta sửng sốt quá. Con có muốn rằng cha… Ta có phải nói với ông thân Kobori không?

Nàng quay lại ông, cặp mắt lớn buồn rầu:

– Tùy ý cha.

Rất băn khoăn, ông hỏi con:

– Con có ốm đau gì không, con gái bé bỏng của cha?

– Không, thưa cha, trái lại, con thấy dễ chịu lắm.

Thấy cha lo âu, nàng cố mỉm cười.

– Con thấy con trưởng thành rồi.

Vui vẻ nhưng khó chịu một chút, ông nói thêm vẻ trang trọng:

– Con tin chắc rằng cha không thúc đẩy con đâu.

– Xin cảm ơn cha.

Nàng khẽ nghiêng mình và rời cha để ra xếp đặt lại những viên sỏi trong hồ nước. Nàng nhặt những viên tròn và bóng, do nước mài giũa, ném bỏ dần dần những viên khác và xếp vào hồ. Màu sắc những viên sỏi lóng lánh dưới làn nước trong. Một viên đá mờ đù, đôi khi để dưới nước lại có một màu sắc bất ngờ. Nàng đặt những viên đá hết sức nhẹ nhàng, đến nỗi hình của nàng phản chiếu xuống mặt nước bằng phẳng chỉ hơi rung động khẽ.

Không có một bức thư nào của Allen. Một tháng trôi qua từ ngày hai người chia tay nhau và chàng chưa viết gì. Trong những tuần lễ chờ đợi, những đêm thao thức, Josui trông thấy hiện ra rõ rệt tương lai của mình, đời sống giản dị, theo định mệnh của người phụ nữ Nhật, hôn nhân, con cái, gia đình. Tất cả những bài diễn từ của những phụ nữ tân tiến chẳng thay đổi gì đời sống ấy, nàng dần dần quen với ý tưởng sẽ kết hôn với Kobori. Nàng vẫn nhớ khuôn mặt chàng xanh xao, khá lớn, những nét hơi nặng nề, vẽ hiền từ và khoan hồng. Giọng chàng nói từ tốn, êm ái. Chàng nói được rất ít tiếng Anh: “Tôi không có khiếu về sinh ngữ”– chàng nói, không có vẻ hối tiếc gì. Chàng không có vẻ gì khiêu khích và buộc người khác phải nhận mình là đúng.

Có thể một ngày kia, nàng sẽ yêu chàng. Trước hết là nàng ưa thích lòng nhân từ và nàng đoán chắc rằng ở Kobori có nhiều sự nhân từ hơn là bất cứ người nào quen thuộc nàng.

Josui cầm một viên đá sỏi tròn, màu xanh nhợt trong lòng bàn tay và để rơi xuống nước. Màu xanh ở dưới nước trở nên sáng và dịu.

Mùa hạ oi ả đè nén lên thành phố Tokyo. Nhựa đường bóc lên một hơi nóng không sao chịu được và điện tắt luôn, làm tê liệt các quạt máy, lại thường vào lúc trong ngày trời nóng bức nhất. Cách độc đáo để chịu đựng sức nóng này là lăn xả vào công việc đến u mê.

– Thưa trung úy…

Một người lính mang thư từ đến.

– Cứ để bên bàn. Ta còn phải làm xong biên bản này.

– Vâng, thưa trung úy.

Người lính chào, đặt trên bàn một tập mười hay mười hai lá thư và đi ra.

Cả gia đình, cha mẹ, cô chú, anh chị em họ… người nào cũng coi là bổn phận phải viết thư cho Allen và coi như là một sự thống khổ trong thời gian chàng phải lưu trú ở xứ xa lạ của những kẻ man di. Những bức thư của mẹ chàng bao giờ cũng bắt đầu câu “Con bé bỏng của mẹ, bao giờ chúng ta để cho con về?”

Chàng tiếp tục đánh máy bản tường trình. Một trung úy, thật cũng tiện đủ điều, người ta bắt chàng làm đủ điều, mọi việc. Xuất thân ở Đại học ra, Allen bị chìm đắm trong trận mưa viết lách vô tận. Chàng coi như một thú vui biến một bản tường trình nhạt nhẽo – như bản đang viết về một vài tổ chức dân sự của Nhật trong thời chiếm đóng – thành một tác phẩm nhỏ để trau dồi văn chương. Không phải bản tường trình này dành cho những người có thể thưởng thức được. Nhưng Allen, chàng bắt đầu lưu ý đến người Nhật. Chính vì Josui.

Josui hiện ra trong đầu chàng hai mươi lần một ngày. Allen lại nghĩ đến vấn đề. Nếu chàng xin cưới… chàng chìm đắm trong những ức đoán và những ngón tay chàng hóa ra bất động trên chiếc máy chữ. Hai người có thể sống ở Nhật. Nhưng chàng có ưng thuận sống suốt đời ở đây không? Hay ở Mỹ. Thật không thiếu gì nơi hai người có thể sống sung sướng với… con cái… hừ! Con cái của hai người… có cần phải có con cái không? Chàng vẫn thường nghĩ một ngày kia lấy vợ và có con. Nếu chiến tranh không bùng nổ có lẽ chàng đã kết hôn với Cynthia Levering mà mẹ chàng rất yêu quý.

– Ta coi nàng như con đẻ của ta – bà nhắc đi nhắc lại.

– Xin mẹ đừng ném Cynthia lên đầu con – chàng phản đối, có ý giễu cợt. Một ngày kia, có lẽ một mình, con sẽ có ý nghĩ lấy vợ.

– Ồ! Im đi con – bà kêu lên, giọng dịu dàng và vui vẻ. Con lớn lên càng trở nên khó chịu.

Tập thư người lính để trên bàn chàng có lẽ có những tin tức về Cynthia. Chàng giơ tay, cầm tập thư và lần lượt xem các bì thư. Một bức thư của mẹ chàng, một bức của vị mục sư Tân giáo hội, hai bức chữ viết xa lạ và, phải, một bì lớn của Cynthia. Ngoài thân hình mảnh dẻ và mềm mại, ở Cynthia chẳng có nhỏ bé cả, vì nàng dong dỏng và rất cân đối, nhân từ và quảng đại.

“Anh Allen rất thân mến…” Bao giờ nàng cũng bắt đầu trong các thư như thế. “Anh Allen rất thân mến, chưa bao giờ em thấy một mùa xuân như thế này…”

Chẳng đọc từ tốn những trang giấy gợi nhớ thành phố quê hương của chàng, những người bà com xóm giềng và họ hàng. Đối với chàng, một mình ở Tokyo, họ ở xa thăm thẳm, tưởng như ở một hành tinh khác. Họ không thể bao giờ hiểu được thế giói riêng biệt của chàng ở Nhật Bản.

Chàng đọc cẩn thận những bức thư khác và lần lượt bỏ vào bao bì, rồi chàng chòng chọc nhìn những chữ không có hoạt khí chiếc máy đánh chữ của chàng.

Không có gì của cha chàng, mà thư từ, cũng như lời nói rất thưa thớt… trong những bữa ăn, câu chuyện của ông chỉ giới hạn vào sự cần thiết tối thiểu “Đưa bánh bơ cho ta, con trai” Hoặc để xen một chút cảm tình “Những bánh này ngon hơn thường lệ, cưng ạ” Ông ưa thích gọi bà nhà là cưng, vì ông không muốn gọi tiểu tự Joséphine.

– Quả vậy, ông Kennedy – bà trả lời lưu loát. Tưởng như không bao giờ chúng ta có những bánh ngon như thế.

Từ trước, không bao giờ Allen tìm hiểu bố, nay bỗng hối tiếc là đã không hiểu biết để có thể nói về chuyện Josui và hỏi ông…

Chàng chỉ có một điều thắc mắc và điều đó chàng chỉ có thể tự vấn mình được thôi, chàng có yêu nàng để kết hôn với nàng được không?

Trước kia, chàng chưa yêu ai.

Bây giờ, chàng có yêu không?

Chàng bỏ thư từ vào ngăn bàn giấy và đi tắm trước khi thay quần áo. Chàng phải ăn cơm tối ở nhà ông đại tá.

Bà vợ ông đại tá không biết đối xử thế nào với những chàng trai vui tính, những kẻ bạt mạng và cuồng nhiệt làm dưới quyền ông.

– Họ chẳng coi cái gì là đúng đắn cả – bà than vãn. Họ tưởng còn như ở thời bà Butterfly.

Allen hiểu bà muốn nói gì. Trong công viên ở Nara, suýt nữa chàng cũng đã xử sự như họ. Đôi khi, khó nhận rõ được người Nhật trong thời kỳ chiếm đóng với những người Nhật đã tàn sát dã man người Mỹ trước đó ít lâu, những người thấp nhỏ, gan dạ, đánh úp những quân lính Mỹ trong rừng rậm ở các đảo, tưởng như không có chút liên hệ nào với các đồi núi có những bậc thang đất cây cối xanh um, những người thôn quê y phục bằng vải bông màu xanh, các thiếu nữ xinh đẹp trong chiếc Kimono và đi guốc và tất nhiên là chẳng có gì liên hệ với Josui.

Khi chàng nghĩ đến nàng, ngực chàng lại đập. Chàng tự hỏi, có nên nói chuyện này với ông đại tá sau bữa ăn không. Nhưng chàng không dám. Chàng chỉ hỏi có bao nhiêu người Mỹ lấy con gái Nhật, trong thời kỳ chiếm đóng. Ông đại tá, khó chịu, trả lời:

– Anh muốn nói là kết hôn, hay chỉ đơn giản…

– Tôi muốn nói là kết hôn.

– Có lẽ không nhiều – ông đại tá thở dài, vẻ hài lòng. Và nữa, còn ai biết được? Hàng mấy mươi ngàn đứa trẻ máu pha trộn đã chẳng cho ta một ý niệm xác thực về tình hình là gì. Tôi tự hỏi tại sao quân lính của mình lại ham muốn nhiều như vậy. Tôi rất ngạc nhiên, mặc dầu có kinh nghiệm lâu năm trong quân đội.

– Những đứa trẻ lai này sẽ ra sao? – Allen hỏi, vẻ chăm chú trông thấy.

– Tôi không biết. Viên phụ tá của tôi có kể cho tôi nghe rằng vợ ổng có tìm thấy một đứa con hoang ở nhà một người láng giềng tử tế. Barclay và vợ không sao ngủ được vì đứa trẻ kêu khóc quá. Khi bà Barclay tới than vãn, bà thấy bà cụ già vì xấu hổ đã giấu đứa bé vào trong một tủ nằm trong tường.

– Thế Barclay làm thế nào?

– Anh ta báo tin cho cô nhi viện công giáo đến đón đứa trẻ, làm cho cả gia đình được khuây khỏa, kể cả người mẹ. Barclay thấy ở đứa trẻ có một vẻ khác lạ: kết quả sự tạp chủng thật ghê tởm. Tôi chống đối những cuộc hôn nhân tạp chủng nhưng chúng ta biết làm thế nào?

Không thể nói về Josui được! Allen cáo lui rất sớm.

Chàng từ chối không muốn nghỉ phép đi thăm viếng Karuizawa (Khinh tỉnh Trạch) và cũng không đi xem chiếu bóng nữa. Về mùa hạ, hiếm lắm chàng mới dự khiêu vũ, nhưng không một chút nào vui vẻ và chàng cố tìm hình ảnh một thiếu nữ khác ở quê hương mà chàng muốn được gặp lại, chính Cynthia cũng không gợi được cho chàng tình yêu. Đời mất hết cả hương sắc.

Khi ý thức được sự chán nản của mình, chàng nhủ thầm: “Ta biết tìm hứng thú cuộc đời ở đâu”. Chàng biết hứng thú đó chỉ bừng sáng trong lòng khi chàng đi sánh đôi với Josui.

Chàng nghĩ đến nàng, gợi nhớ hình ảnh nàng, mặc dầu cảm thấy khuấy động những kỷ niệm đó là đều nguy hiểm. Trong cảnh cô đơn của tiết hè, sau khi các bạn đồng ngũ và ông đại tá nghỉ phép, chàng luôn luôn nghĩ đến Josui. Đến trung tuần tháng Tám, chàng quyết định gặp nàng lần nữa, hầu để đo lường cái cường độ cảm tình của mình và để xem chàng có thể một ngày kia quên được nàng để kết hôn với một người phụ nữ khác được không.

OKyoto cũng vậy, trời nóng, bác sĩ Sakai không có thời giờ nghĩ đến, không để lộ sự vội vã, ông xếp đặt ngày lễ đính hôn của Josui; khi công việc xong, ông cho phép nàng được gặp Kobori ở nhà, không cần nghi lễ gì cả. Trước cuộc hôn lễ ấn định vào trung tuần tháng Chín, Kobori đến thăm vị hôn thê và bao giờ chàng cũng báo trước, nói rõ ngày giờ để xin phép gia đình Sakai.

Ông bà bác sĩ Sakai tiếp chàng. Lần thứ nhất, ông bà không rời phòng khách, nhưng hai người nhận thấy Josui cứ im lặng, chỉ khẽ nghiêng mình mỗi khi chàng hỏi và chỉ đáp bằng phải hay không. Tối hôm ấy bác sĩ Sakai hỏi vợ:

– Có lẽ ta nên để cho hai trẻ tự nhiên hơn?

– Dù thế nào, chúng ta cũng đã qua sống nhiều năm ở Mỹ… – bà Sakai đưa ý kiến này.

Đến lần hội kiến sau, nói qua loa vài phút về thời tiết, về các bông cúc mới nở thật đẹp, bác sĩ Sakai ra hiệu cho hai người rút lui. Kobori mỉm cười im lặng và quay lại Josui.

– Ông nhà thật đặc biệt! – Chàng nói giọng trầm và dịu, không bao giờ nói lớn hơn.

– Tại sao?

– Ông đặc biệt là người Nhật hơn tất cả chúng ta nhưng ông không ngờ rằng ở ông còn đôi chút ngoại quốc, mặc dầu tất cả sự cố gắng của ông. Mỹ quốc đã để dấu vết lại ông.

– Mỹ quốc cũng có ảnh hưởng đối với em.

– Đúng vậy. Dù sao, anh cũng yêu mến người Mỹ.

– Ngay cả những người chiếm đóng xứ sở chúng ta à? – Josui ngạc nhiên.

– Phải, cả họ nữa. Anh không bao giờ tán thành hành động của họ và thường thường anh thương họ. Nhiệm vụ của họ lớn lao quá!

– Nhiệm vụ nào!

Kobori lại cười:

– Họ muốn biến chúng ta thành người Mỹ – chàng nói. Không thể được.

– Theo anh, sau khi họ đi, tất cả sẽ trở lại như cũ hay sao?

– Thoạt đầu, sự phản ứng hơi quá đáng – Kobori xác nhận. Chúng ta sẽ là người Nhật trăm phần trăm và trước tiên chúng ta sẽ phục sinh cái tâm hồn đặc biệt của chúng ta. Chúng ta sẽ so sánh lẽ hơn thiệt và thu hồi lại những gì chúng ta đã vứt bỏ đi.

Kobori nói thật hay và không biểu lộ sự kiêu hãnh như bác sĩ Sakai.

– Anh không e sợ gì à? – Josui hỏi.

– Anh còn e sợ gì? Anh sinh trưởng ở một gia đình cổ, bảo thủ, như em đã biết. Gia đình anh thích hợp dễ dàng với thời bảo thủ hiện nay. Những người mình đáng thương nhất là hàng mấy mươi ngàn trẻ nhỏ sống trong cô nhi viện, cha người Mỹ, mẹ người Nhật.

Josui không bao giờ nghĩ đến điều này! Nếu Allen Kennedy lấy nàng…

– Những đứa trẻ đáng thương – Kobori nói giọng êm ái và mạnh. Tốt hơn hết là chúng đừng ra đời.

Josui bỗng cảm thấy cần thiết thổ lộ tâm tình với Kobori. Chàng hiền từ quá. Nàng ngẫng mắt nhìn chàng, như muốn hỏi bao điều gì mà nàng không nhận biết.

– À! Có gì! Em muốn hỏi anh điều gì?

– Tại sao anh biết?

Nàng sửng sốt.

– Vẻ mặt em, anh hầu như đọc được cả nhưng ý nghĩ của em.

– Có thật em đang suy nghĩ không?

Nàng nén lại, không hiểu lúc này có thích hợp không.

– Anh muốn hỏi em sẽ hứa hôn với người đàn ông nào?

Josui lẩn tránh câu đáp.

– Đó chẳng phải là câu hỏi của tất cả các phụ nữ hay sao?

– Vâng, cố nhiên.

Hai người quỳ theo kiểu Nhật, cách xa nhau. Trước hôn lễ, Kobori không bao giờ được đụng vào người nàng.

– Anh không phức tạp gì, anh tưởng thế – Kobori nói. Những năm anh ở trong quân ngũ, đã biến anh thành một người hiếu hòa đích thực. Trong biết bao ngày, anh đã nghe giọng quát tháo và thô bạo của các viên sĩ quan, nên không bao giờ anh còn muốn nói to hơn tiếng nói thì thầm. Anh thấy người ta đánh và giết nhau chỉ vì một chuyện nhỏ nhặt, em thử tưởng tượng làm thế nào anh đánh được dù chỉ một đứa trẻ con. Anh mục kích biết bao sự tàn bạo, nên cách độc nhất đối với anh để chịu đựng cuộc đời là trau dồi lòng nhân đạo. Người ta có thể cho đó là một sự yếu hèn. Anh biết rằng, nếu anh chống được cái nọc độc của sự tàn ác, anh sẽ có hy vọng không phải là người duy nhất và được trông thấy một ngày kia sự tàn bạo của con người sẽ biến mất đi.

Nàng không bao giờ nghe thấy chàng nói nhiều như vậy, với vẻ trang nghiêm mà nàng cảm thấy rất biết ơn chàng. Không muốn mà chàng đã đáp câu hỏi của Josui. Nếu nàng thút thật với chàng mối tình của nàng san sẻ cho người đàn ông khác, có thể vì lòng nhân từ, chàng sẽ khuyến khích nàng chọn con đường ấy hoặc chàng rút lui cho đến khi nàng quên hẳn chàng, chàng quyết định không chờ đợi nữa.

– Em rất cảm ơn anh nói như vậy – nàng nói. Kobori, em kính nể anh.

Nàng cho phép được nhìn chàng và cảm thấy lòng bắt đầu yêu mến chàng. Đã biết bao thế kỷ, những cuộc hôn nhân thành tựu mà không có tình yêu. Đối với tổ tiên họ, sự kính trọng và yêu mến là đủ.

Tháng Tám nóng bức lắm, bác sĩ Sakai làm việc nhiều quá. Bệnh nhân đến bệnh viện đông đảo. Họ đau đớn vì những vết thương cũ, dai dẳng từ ngày quả bom nguyên tử nổ. Bác sĩ Sakai tận lực chữa chạy cho họ và ông càng thấy giận hờn người Mỹ.

Sức nóng cuối cùng làm ông ngả bệnh. Ông phải ở nhà nhiều ngày. Ở trong vườn, một ngày kia mà đặc biệt ông không thấy dễ chịu, ông nghe tiếng chuông ở hàng rào kêu có vẻ hống hách. Mặc dù rất mệt mỏi, bác sĩ Sakai tự ra mở cửa, ông chạm trán với một sĩ quan Mỹ.

– Ông muốn gì? – bác sĩ hỏi, nhìn chòng chọc vào mặt người lạ.

– Bác sĩ Sakai?

– Chính tôi.

Ông cau mày, vẻ dữ tợn để làm nản lòng khách. Những người Mỹ này vào cả nhà riêng người ta nữa sao?

– Cháu là Allen Kennedy.

Bác sĩ Sakai nhớ rõ ràng tên này, mặc dù ông muốn quên.

– Tôi không biết ông, ông nói xẵng.

– Không, nhưng cháu quen con gái bác.

– Con gái tôi không có ở nhà.

– Thưa bác sĩ, cháu có thể nói chuyện với bác được không?

– Tôi bị đau và tôi không thể đến bệnh viện được. Tôi không muốn bị quấy rầy.

Hai người lườm nguýt nhau.

– Tôi sẽ trở lại – Allen nói.

– Không cần – bác sĩ Sakai đáp giọng kiêu kỳ.

– Có, và tôi quyết lại.

Allen cảm thấy một sự tức giận dữ dội trào lên, khi chàng nhìn khuôn mặt đẹp và lạnh lùng của người đàn ông Nhật này.

– Tôi quyết gặp con gái bác.

Để giận dữ. Bác sĩ Sakai không thể nhịn lâu hơn được nữa. Ông không thể kìm hãm sự giận dữ đối với người Mỹ kia, mà cả đối với chính mình nữa, vì chưa rập theo được tính tình thật sự của người Nhật.

– Tôi không cho phép người Mỹ vào nhà tôi – ông kêu lên, cố đẩy hàng rào.

Allen có những cảm tình trái ngược. Mặc dầu chàng thấy rất bực vì mình thuộc về một dòng giống đi chinh phục, nhưng chàng cũng không ngăn được cái tinh thần của nòi giống này xâm lấn chàng. Chàng tì vai vào bức rào và thật là điều ô nhục cho cả hai người họ đánh nhau.

Ở trong bếp, Yumi ngủ yên tĩnh, bát đĩa đã rửa và sàn nhà đã lau. Những tiếng ồn làm cô thức dậy. Cô chạy ra cửa. Cô thất kinh thấy chủ mình đánh nhau với một sĩ quan Mỹ trẻ, khỏe mạnh, đang cố đẩy hàng rào. Cô kêu lên một tiếng, rồi hấp tấp chạy tìm nữ chủ nhân, miệng la lớn.

Bà Sakai và Josui đang bận khâu quần áo. Yumi chạy xổ vào căn phòng yên lặng.

– Ồ! Thưa bà, ông nhà đang đánh nhau với một sĩ quan Mỹ.

Bà Sakai vội vàng đứng dậy và cùng Yumi vội vàng đi ra.

Josui hiểu ngay: Allen trở lại, nàng không thể thụ động được. Hoặc nàng phải tham gia cuộc đấu hoặc dàn hòa.

Allen liền trông thấy người yêu của mình, mảnh dẻ trong chiếc áo Kimono hoa xanh và trắng. Nhợt nhạt vẻ van lơn, nàng lại đẹp hơn trong trí nhớ của chàng. Đã vào được vườn, chàng liền tiến đến phía nàng.

Bác sĩ Sakai kiệt lực, mím môi. Bà Sakai và Yumi lấy người làm bức tường cho ông. Ông trông thấy con gái mình tiến lên, bước đi rụt rè. Bỗng người Mỹ ôm nàng trong cánh tay. Nàng vùng vẫy, quả thế, nhưng cha nàng hiểu rằng, nếu chỉ riêng có một mình, chắc chắn nàng không chống đối.

Đối với ông Josui coi như là mất.

Ông ra lệnh cho vợ:

– Bảo con gái đến bàn giấy ta.

Lấy lại được nhân cách, ông quay lưng lại họ và đi vào.

Ông cần cảnh tĩnh mịch. Ông quyết định bằng đủ mọi cách, phải thắng người Mỹ này. Điều đó rất dễ: ông chỉ cần hỏi chàng về ý định chân chính của chàng. Những ý định này không thể nào đáng kể được; người Mỹ không ưa kết hôn với phụ nữ Nhật. Ông biết lắm, ông có chứng cớ hẳn nhiên. Nhưng làm cách nào để đưa chứng cớ đó ra trước mặt vợ mình? Ông than thở và quỳ xuống một chiếc đệm.

Mọi người vào và trông thấy ông quỳ như thế. Đồng thời, viên sĩ quan trẻ tuổi cũng tự chủ được.

– Thưa bác sĩ, tôi thật ngượng ngùng quá! Tôi không hiểu điều gì ám ảnh cháu như vậy.

Bác sĩ Sakai không trả lời. Ông chỉ cho chàng một chiếc đệm và hài lòng thấy người khách của ông khó khăn mới quỳ xuống được theo tục lệ. Ông mặc Josui đứng và với con mắt tức giận, ông đuổi Yumi ra ngoài. Bao giờ cũng muốn sống ẩn khuất, bà Sakai quỳ sau lưng ông.

Người thanh niên đứng dậy. Có lẽ chân chàng đã lôi kéo chàng… Nhưng không, đó là để bắc một chiếc ghế mời Josui ngồi.

– Em muốn ngồi ở chỗ nào? – chàng hỏi nhỏ.

– Xin đừng để ý đến tôi – Josui cuống quýt nói.

– Nhưng tôi chỉ lưu ý đến có em!

– Quỳ xuống! – bác sĩ Sakai quát.

Josui quỳ xuống gần mẹ. Allen lại quỳ xuống, hay dở sao cũng đành, trên chiếc đệm.

Bác sĩ Sakai chờ đợi, để cho Allen nói trước. Ông tự coi mình như người bị xúc phạm.

– Thưa cha… – Josui khởi đầu giọng hơi rụt rè.

– Cô không phải nói, Josui, nhưng để tôi, Allen quyết định bào chữa cho mình.

Chàng bắt buộc phải nói. Lúc chàng đến Kyoto, một vài giờ trước đây, ý nghĩ độc nhất của chàng là gặp Josui và nếu được đo lường xem chàng yêu nàng đến mức độ nào và xem chàng có chịu đựng được sự xa cách không. Bây giờ, chàng hiểu rằng chàng không sao sống xa nàng được. Không ngượng ngùng chút nào, chàng kể lại cho bác sĩ Sakai nghe trường hợp chàng gặp gỡ và quyết định của hai người chia tay nhau.

– Đã như vậy, sao ông còn quay trở lại? – bác sĩ Sakai hỏi.

– Bởi vì nay cháu hiểu rằng cháu yêu nàng quá.

Bác sĩ Sakai trả lời một cách tàn bạo:

– Ông không thể yêu con gái tôi được. Con gái tôi đã đính hôn với con trai bạn tôi.! Kobori Matsui. Hôn lễ sẽ cử hành trong vòng mười lăm ngày nữa.

Allen Kennedy yên lặng một lúc. Rồi chàng quay lại phía Josui.

– Có đúng thế không?

Nàng gật đầu và khóc.

– Đáng lẽ em phải nói cho tôi biết! – chàng thở dài.

Chàng lại yên lặng và suy nghĩ một lúc lâu, cuối cùng chàng nói:

– Josui, tôi cảm thấy không thể gặp em mà lại không có người khác chứng kiến, vì vậy tôi cứ hỏi em điều này như chỉ có hai chúng ta. Tôi hỏi em: em có yêu người chồng chưa cưới của em không?

– Không – nàng nói khẽ, nhưng chàng rất tốt.

– Josui, em hãy trả lời tôi hết sức thành thật. Em có yêu tôi không?

Nàng ngẩng mặt đẫm lệ và nhìn Allen.

– Ồ! Có, Allen Kennedy!

– Vậy em có muốn kết hôn với tôi không?

“Lại cái kiểu cách Mỹ – bác sĩ Sakai nghĩ, tức giận. Bây giờ cũng vẫn tấn công, công kích!”

– Ở Nhật, không thể từ hôn được – ông nói giọng xẵng.

– Thưa bác, cháu thiết tưởng nếu chính hai người trai gái quyết định từ hôn, chắc phải được… ở nước Nhật tân tiến? – Allen nói xen vào.

Bị thúc đẩy đến chân tường, bác sĩ Sakai hắng giọng, đặt hai bàn tay lên đầu gối và cúi mặt xuống.

– Tôi muốn nói với ông điều này. Điều này tôi chưa nói với ai, chưa nói cả với vợ tôi.

Dưới cặp lông mày rậm, ông liếc nhìn người vợ hiền hậu của ông:

– Hariko, hãy thứ lỗi cho tôi, đã không nói cho bà biết trước… Và nữa, tôi đã quên bẵng chuyện này trong nhiều năm nay, nhưng con gái chúng ta đã nhắc nhở tôi.

– Ông hãy cho là không có tôi ở dây – bà Sakai khẽ nói.

– Josui, con của ta – bác sĩ Sakai tiếp tục nói giọng thất thanh, con không thể lấy người Mỹ được. Có thể người thanh niên này thành thật yêu con và con cũng yêu chàng. Nhưng ái tình đó thiếu sự khôn ngoan, đó chỉ là một mối xúc động; tình yêu đó sẽ qua đi và đời sống vẫn tiếp tục. Khi ta còn trẻ, ở Mỹ – bác sĩ Sakai nói gắng gượng. Ta đã yêu một thiếu nữ Mỹ. Ta có thể nói rằng nàng cũng yêu ta. Chúng ta đã bày tỏ cảm tình với nhau. Cha mẹ ta phản đối, nhưng hấp thụ một nền giáo dục Mỹ, ta không công nhận quyền từ chối của cha mẹ điều ta mong ước hết sức.

Bà Sakai cứng nhắc người. Bà chăm chú nhìn vào bàn tay xếp chồng lên nhau. Ông không nhìn vợ.

Josui cố gắng kêu:

– Ồ! Mẹ!

Bác sĩ tiếp tục nói, giọng cứng rắn, lạnh lùng:

– Ta sẵn sàng hy sinh hết tất cả, ngay cả cha mẹ ta nữa. Nhưng có việc khác xảy ra. Một tối kia, ở Đại học về, anh thiếu nữ đe dọa giết ta. Đây, anh ta nói như thế này và chĩa khẩu súng lục vào ngực ta: “Chúng tôi không muốn có những tên Nhật bẩn thỉu trong gia đình!” Đó là lời y nói. Từ đó, không bao giờ ta gặp lại thiếu nữ đó nữa.

– Tất cả chỉ có thế? – Allen hỏi.

– Tại sao, ông dám hỏi như thế là hết? – bác sĩ Sakai giận dữ trả lời. Vào thời ấy, quả vậy, đối với tôi như vậy là hết. Bây giờ đối với tôi cũng là hết! – ông chỉ ngón tay trỏ run lẩy bẩy vào Allen. Điều đó sẽ xảy ra cho con tôi.

– Trong gia đình tôi, không có ai đe dọa người khác bằng súng – Allen quả quyết giọng kiêu kỳ.

– Cũng sẽ xảy ra việc như thế – bác sĩ Sakai quả quyết. Có lẽ sẽ không phải khẩu súng lục lần này, nhưng một sự đe dọa khác. Người ta sẽ không muốn để một thiếu nữ Nhật bẩn thỉu vào gia đình ông. Tôi nói để ông biết thế.

– Cháu hiểu ý kiến của bác – Allen nhún nhường vui vẻ. Nhưng điều đó xảy ra đã lâu lắm, thưa bác sĩ. Nay đã thay đổi cả.

– Ồ! Cậu tin thế à? Tôi đọc các báo. Có gì khác lạ đâu.

Josui đỏ mặt và kêu lên:

– Con muốn nói riêng với Allen Kennedy!

Nàng đứng dậy vẻ quả quyết đến nỗi ông không muốn ngăng nàng lại nữa. Hãy để cho họ ra vườn nói chuyện. Thanh niên bao giờ cũng cần phải thổ lộ tâm tình. Còn về phần ông, ông đã bày tỏ điều bí mật, cay đắng của đời ông. Họ không thể quên được điều này.

Ông ngồi lại với bà. Bà không cựa quậy. Ông liếc nhìn, thấy tay bà nắm chặt và run. Ông nắm hai tay bà vào bàn tay ông.

– Tôi cảm ơn trời đã ban cho cái ngày tôi trông thấy bà – ông nói. Bà chỉ hiến cho tôi hạnh phúc. Tôi rất biết ơn quân vô lại kia đe dọa tôi với khẩu súng lục.

Bà Sakai cố ngăn chặn tiếng thổn thức:

– Tôi tin chắc rằng ông không có sợ hắn – bà nói quả quyết, mù quáng đặt cả niềm tin vào ông.

– Có, tôi sợ hãi và lập tức rút lui ngay.

– Ông hãy quên tôi đi, tôi xin ông – bà Sakai thì thầm.

Nhẹ nhàng bà rút tay và lau mắt.

– Chúng ta ở xứ sở mình; cần gì phải nhắc lại những việc ấy.

– Nếu tôi không quên, tôi đã kể cho bà nghe đã lâu – bác sĩ trả lời.

Không thể chịu đựng hơn được nữa, bà đứng dậy và cúi đầu trước mặt chồng và nói:

– Xin ông thứ lõi, tôi có công việc phải làm.

Ở vườn, hai người ngồi sát nhau, sau một bụi tre râm.

– Em phải biết rằng em chỉ có thể kết hôn với anh – Allen thì thầm, môi chàng đặt lên môi Josui.

– Em biết điều ấy bây giờ – nàng nói giọng thất vọng.

– Anh sẽ cướp em mang đi!

– Không cái đó không được.

Nàng vòng tay qua người Allen và ngẩng mắt nhìn chàng.

– Em sẽ thưa với cha mẹ em. Điều cốt yếu, chúng ta không thể nghe lời cha mẹ được, chúng ta không thể xa rời nhau. Nhưng bổn phân chúng ta là phải nhượng bộ ông.

Chàng cam chịu hết thảy, nay chàng định lấy nàng.

– Tùy ý em, em yêu dấu, nhưng xin làm gấp ngay.

– Sẽ làm ngay! – nàng hứa, đặt đầu vào ngực chàng.

Nhưng, bỗng chàng nổi ghen:

– Em có chắc rằng em không muốn lấy người Nhật kia không? Thật là điều dễ dàng quá.

Nàng đặt ngón tay lên môi Allen.

– Suỵt! Em muốn lấy một người Mỹ – nàng liếc nhìn chàng rụt rè yêu đương. Chính anh là người em muốn lấy.

Họ ôm ghì nhau, Allen lòng ham muốn hơn bao giờ hết. Tim chàng đập mạnh, chàng như nghẹt thở.

– Em đừng để anh chờ đợi lâu quá Josui. Về phần mình, anh phải gặp ông đại tá của anh. Có thể, ông sẽ giúp anh tránh được những nghi thức. Anh cần phải đi; anh đi chuyến tàu năm giờ…

– Hãy viết thư cho em, Allen.

– Em cũng vậy, viết thư cho anh, em yêu của anh.

– Em viết không hay gì, thật tiếc. Nhưng em sẽ cố gắng.

Hai người chia tay nhau và nàng vào nhà.

Không thấy ông đâu. Một lúc sau, bà Sakai ở trong phòng làm việc, vừa là phòng ngủ của ông đi ra.

– Cha con khó ở – bà nói. Ngày hôm nay cha con buồn rầu, khó nhọc quá.

Hai mẹ con đối diện nhau, ngập ngừng. Mắt đẫm lệ, không thể nói được. Josui nhìn mẹ. Bà Sakai nói hộ nàng:

– Con muốn lấy người Mỹ đó phải không?

– Vâng, thưa mẹ. Nhưng con thiết tưởn cũng chẳng có chuyện gì đâu. Con có thể lấy Kobori. Con có thể rồi yêu chàng như mẹ đối với cha con.

Bà Sakai không mỉm cười và khuôn mặt bà không chút hương sắc, lại đượm vẻ nhẫn nại:

– Thời buổi này không như trước nữa.

– Nhưng mẹ cũng đã sung sướng! – Josui kêu lên.

– Phải, một hạnh phúc thâu được dễ dàng. Mẹ không ngờ có sự may mắn như thế.

– Thưa mẹ, con yêu chàng quá, đến nỗi con không biết làm thế nào nữa. Mẹ có hiểu cho con không?

Mẹ nàng nhìn nàng vẻ buồn rầu vô kể.

– Ngày hôm qua, mẹ không hiểu. Nhưng ngày hôm nay mẹ có thể hiểu được.

Bà quay đầu đi. Cặp mội nhợt nhạt của bà run lập cập.

– Ồ! Mẹ ơi – Josui kêu lên. Đó là một chuyện cũ quá. Cha con đã quên rồi.

– Cha con không quên đâu – bà nói giọng chán nản. Do thế cha con muốn rời Mỹ vì mối tình ngang trái ấy. Mỹ là Tổ quốc của cha con.

– Ồ! Mẹ ơi! Mẹ ơi – Josui nói nhỏ.

Nàng không biết làm cách nào an ủi mẹ.

– Con sẽ làm một việc mà cha con không bao giờ có thể làm được! Con sẽ trở lại Mỹ. Chỉ có riêng mẹ thuộc hẳn về nước Nhật, mẹ sẽ giúp con?

Lần đầu tiên trong đời hai người, hai mẹ con ôm ghì nhau và khóc.

Ngày hôm sau, bác sĩ Sakai trở dậy, mệt mỏi và vẻ quạu quọ. Bà Sakai – mà theo bề ngoài, ông vẫn tưởng là giản dị và phục tùng – lại tỏ ra, đêm hôm ấy hoàn toàn khác hẳn. Hai ông bà thảo luận hàng giờ.

– Hariko, tôi quả quyết rằng tôi rất đội ơn trời đã tránh cho tôi được cuộc hôn nhân kia. Tôi muốn cố gắng tránh cả cho con gái chúng ta một cuộc mạo hiểm tương tự này.

Bà Sakai liền có một phản ứng không sao giải thích được.

– À! Về phần tôi, tôi tránh cho Kobori Matsui. Tôi tránh cho một thanh niên Nhật chân thật kết hôn với một thiếu nữ đã say mê một người Mỹ. Tôi sẽ đến báo tin này cho Kobori biết, nếu ông không làm được việc này!

Bác sĩ không bao giờ nghĩ rằng người đàn bà dịu dàng kia lại giấu diếm một sự chống đối và có quyết định mãnh liệt như vậy. Ông e sợ những kết quả có thể xảy ra về sự thất bại của ông. Ông hiểu biết những khuynh hướng hầu như là bệnh tật của giống nòi ông, từ thất vọng dễ dàng đi đến tự vẫn. Bà có thể gặp Kobori; và nếu ông ngăn cấm bà, bà sẽ tự vẫn để phản đối.

Ông than thở và đứng dậy, trong thâm tâm, chỉ còn hy vọng vào con gái mình.

Đã gần trưa, ông Sakai thấy người dễ chịu hơn, nên trở dậy, Josui không có nhà. Yumi nói cho ông biết là nàng đi từ mười giờ sáng.

– Cô có nói đi đâu không?

– Cô con ra trường tìm sách.

Đó chỉ là sự dối trá. Josui đến thăm Kobori.

Kobori đi ở phòng giấy ra tiếp đón nàng, nhã nhặn và vui vẻ, trong bộ y phục dạ màu xám.

– Xin mời cô vào – chàng nói. Tôi có cần phải gọi người nữ thư ký của tôi không?

Với câu hỏi tế nhị này, chàng muốn hỏi xem Josui có muốn ngồi nói chuyện riêng với chàng không.

– Không, không cần – Josui đáp.

Kobori để cửa hé mở.

– Xin mời cô ngồi.

Nhìn gương mặt tươi cười hiền hậu, cặp mắt nâu âu yếm. Josui cảm thấy buồn nếu làm chàng đau lòng. Nàng đoán trong dáng điệu của chàng, lòng chàng tin tưởng ở nàng và cả sự may mắn của mình nữa. Thật ra nàng sẵn sàng vui vẻ đón tình yêu của chàng, nếu Allen không xuất hiện trong đời nàng!

Nàng ngã người về phía chàng:

– Kobori, em đến thăm anh có một mục đích khác lạ và em sẽ làm anh đau lòng. Thật khó quá…

Yên lặng, chàng khuyến khích nàng:

– Em không có gì đáng e ngại cả, Josui. Em cứ nói đi.

Nàng đi ngay vào vấn đề.

– Em không thể lấy anh được, Kobori.

Vẫn yên lặng, chàng nhìn nàng và chờ đợi. “Ồ – nàng nhủ thầm, chàng sẽ đau khổ”.

– Chỉ có em là có lỗi, nàng nói tiếp mau lẹ. Đáng lẽ em không hứa hẹn. Em giấu anh một điều bí mật, em tưởng đã tiêu tan rồi.

Chàng lựa lời thận trọng:

– Em hãy nói một cách rõ ràng hơn? – chàng sững sờ hỏi.

Nàng cúi mặt xuống.

– Mùa xuân trước, em có gặp một người Mỹ. Chúng em đã yêu nhau ngay, nhưng cả hai người đều tưởng mối tình này không thể thực hiện được và chàng ra đi. Ngày hôm qua, chàng trở lại đây. Nay chúng em hiểu rằng không thể quên nhau được. Thật là bất công giấu anh sự thật này.

Chàng liếm cặp môi tái đi.

– Anh xin cảm ơn sự thành thật của em.

Nàng chờ đợi những lời khác nữa và không dám nhìn chàng.

– Em yêu mến nước Mỹ – chàng nói vẻ trầm ngâm. Bao giờ anh cũng rõ điều này. Anh có ý định đi du lịch với em sang Mỹ vào dịp nghỉ hè. Anh có công việc với hãng Mỹ và anh có ý định ở nhiều tháng ở California.

Bỗng chàng ngã người ra phía trước và lấy hai tay che mặt.

– Em rất phiền muộn, thật phiền muộn – nàng nói thì thầm.

– Vâng, hẳn nhiên – chàng nói, vẫn để tay che mặt. À! Nếu vậy, không còn cách nào nữa. Em đến báo cho anh như thế là hay lắm. Quyết nhiên, anh cần phải ít lâu mới suy nghĩ như thường lệ được.

Chàng ngẩng đầu lên. Nàng nhẹ nhõm hẳn người vì thấy chàng không khóc.

– Anh tưởng rằng từ nay không bao giờ chúng ta gặp riêng nhau nữa, có phải không Josui?

– Có lẽ không bao giờ nên gặp nhau nữa – nàng trả lời.

– Như vậy, anh cần phải nói với em một vài điều, nếu em cho phép.

Khuỷu tay tì xuống đầu gối, chàng ngả người về phía nàng để nhìn nàng rõ hơn.

– Có thế này thôi, Josui. Giản dị có mấy lời nếu vì một lẽ nào đó, em cần gì đến anh, xin cứ gọi anh. Ước mong rằng lòng kiêu hãnh của em đừng ngăn em điều này.

– Ồ! Kobori, em sẽ rất sung sướng làm điều ấy, nhưng chắc không cần. Thật anh tốt quá.

Chàng cố mỉm cười.

– Em hãy để cửa ngõ, đó là tất cả anh cầu xin em, Josui ạ.

Nàng đứng dậy, nóng lòng muốn cho xong chuyện.

– Em xin hứa với anh như vậy, Kobori.

Một sự hứa hẹn! Nàng hối tiếc ngay câu nói bực mình này. Nàng đã không giữ lời hứa trước. Nàng giơ tay ra. Lần đầu nàng cảm thấy sự va chạm của bàn tay lớn, nóng và mềm dịu nằm kín cả bàn tay nàng.

Bối rối, mắt đẫm lệ, Kobori mỉm cười và lễ phép nghiêng mình. Nàng cũng cúi đầu xuống và thế là hết.

Josui đi rồi, Kobori ngồi lâu mãi trong chiếc ghế bành. Chàng chìm đắm trong tai biến này. Khi chàng còn bé, cha chàng có dạy chàng cách bơi không mệt nhọc:

– Người ta không thể đọ sức với biển cả được, ông nói. Đừng có phấn đấu với biển rộng. Đừng có chống đỡ với làn sóng. Hãy nhượng bộ và bơi theo sức mạnh của sóng. Sóng sẽ nâng đỡ con và cả biển cả cũng giúp đỡ con nữa.

Kobori gợi những lời của bố. Chàng đã dành mối tình chân thật cho Josui. Vậy mà không bao giờ nàng còn là vợ chàng nữa. Ý nghĩ này kỳ quái quá, đến nỗi chàng thấy hoa mày chóng mặt, tưởng như một đợt sóng vỗ mạnh vào đầu chàng. Chàng nhắm mắt lại, đặt gáy lên tấm da ghế và thụ động chịu mối đau đớn. Chàng đành như vậy và không biết làm gì hơn.

Khoảng một giờ sau, chàng mở mắt, đứng dậy, cầm ấm nước trà nóng trong chiếc giỏ bọc da và rót nước trà. Chàng uống chậm chạp. Tay chân chàng mệt mỏi và giá lạnh, tưởng như mới ở dưới nước lên.

Ngay tối nay, chàng phải báo tin cho cha chàng biết. Cần phải xóa bỏ những sự mời mọc và tất cả những sự sửa soạn về hôn lễ. Tới báo tin cho tiệm kim hoàn về sính lễ tặng Josui, một chuỗi hạt ngọc màu hồng những viên ngọc, mò ở duyên hải Ấn Độ thì muộn quá rồi.

– Con đã thú thật với Kobori tất cả – Josui nói lúc trở về nhà.

Nàng đợi ông đến tận nửa đêm để nói với ông.

– Con nói tất cả rồi sao? – ông kêu lên và không tin. Táo bạo quá! Con trông đây, con đã thay đổi biết bao!

– Kobori hiền từ lắm, nên con nói được với chàng.

– Như vậy chẳng có gì thay đổi được sự mất thể diện của chúng ta – ông tuyên bố.

Josui nhận thấy sự mệt mỏi cực độ trên khuôn mặt đẹp và xanh xao của bố.

– Người thanh niên Mỹ kia, không bao giờ lấy con đâu. Chàng làm thế nào được? Ở Mỹ, phải qua nhà thờ, một cuộc hôn lễ thường không được. Và biết tiếp rước khách khứa thế nào? Biết mời ai?

– Con không muốn tiếp đón mời mọc ai. Còn về tôn giáo của chúng ta, là thế nào, thưa cha? Chúng ta không thuộc về một giáo phái nào.

– Ta theo Phật giáo. Lễ nghi phải cử hành ở Phật tự, trước thần thánh và các vị sư.

– Chàng sẵn sàng làm theo tất cả những gì cha muốn.

– Chỉ trừ việc để lại con cho cha – cha nàng trả lời một cách chua cay. Y đã ăn trộm nhà ta, lấy của cải của ta và từ chối không chịu trả lại ta.

Josui cúi đầu. Trên khuôn mặt nàng, ông không thấy có dấu hiệu phục tòng nào; căp môi mọng của nàng không run. Bác sĩ Sakai bỗng nhượng bộ. Ông nhảy lên một bước, xô đẩy nàng, trông như đánh nàng.

– Mi muốn làm gì thì làm – ông nói vẻ gay gắt. Hãy sang Mỹ đi. Nhưng khi người ta tống cổ mi đi, như người ta đã xử sự với tất cả chúng ta, lúc ấy đừng có trở về nhà ta nữa.

Nàng ngẩng đầu lên, như ông, cũng bị lòng tự phụ và sự tức giận thúc đẩy.

– Con sẽ không trở về nhà, con xin hứa với cha như vậy.

Ở Tokyo, Allen nói chuyện với viên đại tá. Ở trong bàn giấy chỉ có hai người. Hàng chồng giấy tờ chất trên các bàn, tủ và ông đại tá thỉnh thoảng lại liếc nhìn những chồng giấy này. Trong trí tưởng tượng của ông, những chồng giấy này sẽ tăng gia mãi và hợp thành một chồng thật lớn, trong khi Allen nói chuyện.

– Đó là công việc của anh – ông đại tá nói vẻ bất mãn. Nhưng anh am hiểu hơn một người quân nhân có trí thông minh tầm thường; nếu anh muốn, theo ý tôi, một ngày kia, anh có thể đoạt được năm sao. Nhưng đương nhiên điều đó không thể được đối với chồng một người phụ nữ Nhật.

– Tôi công nhận lời đại tá nói là đúng – Allen nói.

Cynthia có thể là người vợ lý tưởng chẳng hạn. Phải, nhưng chàng lại không say mê Cynthia!

– Anh lại không thể thu xếp với nhau được à? – viên đại tá hỏi. Người Nhật không xem xét những việc này như chúng ta. Họ có những cách riêng của họ.

– Tôi giả định rằng – Allen nói miễn cưỡng. Nếu tôi là hạng người biết thu xếp công việc như thế thật lại hơn cả. Nhưng khốn thay, tôi … tôi không thể được…

Viên đại tá gật đầu:

– Không ai giống ai cả. Hãy để ta suy nghĩ một vài ngày.

Đoán biết viên đại tá không muốn tiếp chàng nữa, chàng đứng dậy.

– Tôi có phải…

– Tôi sẽ cho gọi anh khi tôi đã quyết định.

Viên đại tá lại cắm cúi vào giấy tờ.

– Thưa đại tá, xin tuân lệnh – Allen nói.

Và chàng đi ra.

Thật ra, đại tá muốn hỏi ý kiến vợ, Allen vừa đi ra thì ông bỏ ngay công việc.

Ông hút nhiều điếu thuốc lá và suy nghĩ, rồi ông gọi điện thoại nói chuyện với vợ.

– Đây! – bà trả lời khi đã nghe ông nói hết. Tôi khuyên ông nên cho chàng nghỉ phép. Ông hãy tìm cách cho chàng trở về quê nhà. Chắc ông còn nhớ bức hình ngôi nhà lớn sơn trắng ở Virginia. Ở xứ sở, chúng sẽ gặp một thiếu nữ khác làm cho chàng quên cô ả này.

– Thật là diệu kế! – ông kêu lên, tin tưởng hết sức.

Mặc đầu chán nản hết sức, Kobori cũng không trở về nhà ngay. Vốn có sức khỏe, không bao giờ chàng thấy thân thể mệt mỏi. Đối với chàng sự mệt nhọc là do tinh thần, nhưng chàng cố giữ với bất cứ giá nào trên khuôn mặt vẻ thỏa mãn, đầy đủ hạnh phúc.

Đi về nhà, chàng nghĩ đến cha chàng đầu tiên và nghĩ cách nào chàng trình bày với ông nỗi thất vọng này để cho ông đừng tin rằng việc quá quan trọng.

Đêm trong sáng và mát; trên các đường phố có những giỏ cúc xếp thành hàng của những người bán hoa. Kobori vừa đi vừa ngắm hoa và tìm những loại cúc nào mà cha chàng chưa có. Cuối cùng chàng tìm một loại hoa hình như ống, cánh hoa màu hồng nhạt và nhụy vàng thẫm. Chàng mua chậu này và mang về, lấy một tờ nhật trình cũ bọc nó. Trước cuộc chiếm đóng, chưa bao giờ một người trong giai cấp của chàng lại mang bọc như vậy; nhưng nay ở Nhật, người ta xử sự một cách dân chủ.

Như tất cả buổi tối vào giờ này, cha chàng đi tản bộ giữa các cây hoa. Giống như những người ưa thích vườn tược, thật tình ông không thể thỏa mãn về cảnh đẹp của vườn mình, vì con mắt đầy kinh nghiệm của ông vẫn tìm thấy một vài khuyết điểm quá nhỏ nhặt, mắt người thường không nhận thấy được.

Kobori thấy ông ở luống cúc gần mép vườn hoa, môi bĩu ra, ngẫm nghía một cây cúc tuyệt đẹp màu đỏ và vàng.

– Kobori! – ông kêu lên. Ta tưởng hoa năm nay không đẹp bằng năm ngoái.

– Để con xem. Nhưng thưa cha, xin cha hãy cho con biết chúng ta có loại hoa ống nào không? Hình như con không thấy có loại hoa này ở đây.

Ông Matsui vội giơ tay ra và Kobori trông thấy những ngón tay cha chàng gầy yếu và xanh xoa, chàng giật mình. Chàng nhìn khuôn mặt thân yêu và hốc hác.

– Ta không nhớ có loại này – ông nói.

Hai bố con cùng cúi xuống cây hoa, hấp dẫn vì sắc đẹp mong manh của bông cúc.

– A! Thế chúng ta để chậu hoa này ở đâu bây giờ? – ông Matsui băn khoăn hỏi. Cố nhiên là không để với những cây hoa vàng và đỏ. Mẹ con chắc sẽ yêu loại cúc mới này lắm. Bông cúc này giống mẹ con. Ta để ở đây để mẹ con có thể ở trong cửa sổ buồng ngắm được.

Ông thận trọng đặt chậu cây mới giữa một chòm cúc. Trong không khí thơm ngát và yên lặng lúc nãy, Kobori nhận thấy thời cơ thuận tiện.

– Thưa cha, con rất hài lòng tìm được loại cúc này cho cha. Điều ấy giúp con về báo cho cha biết một tin không vui gì! Cuộc hôn nhân của con không thành.

Ông Matsui sửng sốt quay lại.

– Tại sao?

– Cô Sakai quyết định từ hôn – Kobori điềm nhiên nói thêm

Ông Matsui chớp mắt, không sao nói được một lời, Kobori lợi dụng sự sửng sốt của cha.

– Cha khỏi phải quan tâm, chàng nói dịu dàng. Trước con đã hoài nghi cuộc hôn nhân khó thành tựu. Con thấy bác sĩ Sakai vì thân tình với cha quá, đã ép uổng con gái nhiều. Cha xem bác sĩ kính phục cha đến mức nào. Ông sẽ đau đớn lắm. Chúng ta cần phải tránh cho ông điều đó.

– Nhưng… và con, con trai của ta?

Kobori mỉm cười:

– Cha xem, con hoàn toàn sung sướng.

Cặp mắt nâu và sáng, giọng nói dịu, trầm của chàng cũng đủ trấn tĩnh và làm ông Matsui tin tưởng.

– Vậy anh có thể trở về Mỹ ngay ngày thứ năm tới – ông đại tá nói.

Allen mỉm cười với viên sĩ quan chỉ huy.

– Thưa đại tá, xin người đừng tưởng rằng tôi bị mắc lừa.

Ông đại tá không ngẩng đầu lên. Ông ký giấy tờ vẻ bận rộn và tin chắc ở mình.

– Ai nói là lừa dối anh hở? Ông trả lời, anh bị lừa dối hay không, tôi đâu cần biết việc ấy. Tôi chỉ muốn anh về nhà suy nghĩ. Anh hãy sống lại trong không khí gia đình, hãy trông ngắm các thiếu nữ ở quê hương.

– Thưa đại tá, không có gì làm thay đổi ý kiến của tôi được.

– Người ta không bao giờ biết cả.

Allen đi ra. Ba ngày để thu xếp tất cả! Biết làm gì trong ba ngày này? Chưa bao giờ người ta làm trái ý một cách bất lịch sự như thế. Ba ngày! Được chàng sẽ đi chuyến tàu nhất đi Kyoto!

Đầu óc chàng suy nghĩ lung tung khi chàng đi về nhà. Chàng sẽ xin thuyên chuyển, chàng sẽ xin một công việc bàn giấy ở Washington. Như vậy Josui có thể theo chàng. Vốn là một công dân Mỹ bởi quyền thế tập, nàng không có gì khó khăn khi trở về Mỹ.

Chàng đi vào bàn giấy bưu điện và thảo điện tín gửi Josui: “Chiều mai đến. Nhận được lệnh về Mỹ…” Chàng ngừng viết; cần phải tránh cho Josui một tin ghê gớm. Chàng cắn bút chì, rồi thêm: “Với em, đến chết. Allen”

Bức điện tín đến ngay chiều hôm ấy. Bác sĩ Sakai đọc trước khi đưa Josui. Rồi ông chìa tờ giấy cho nàng không bình phẩm gì, nhưng với vẻ thảnh thơi.

Nàng đọc từ tốn, liền hai lần và hiểu rõ rằng ý của Allen muốn nói cho nàng biết.

– Chúng con không cử hành hôn lễ được, cong cũng cứ theo chàng.

– Ta sẽ nhốt mi trong phòng của mi.

Josui càu nhàu làm ông sửng sốt. Sự trớ trêu làm khuôn mặt xinh đẹp của nàng trở nên cứng rắn. Nàng liếc nhìn bác sĩ Sakai, bĩu môi khinh khỉnh.

– Cha nghĩ rằng chàng sẽ để cha làm như vậy à? Chàng sẽ xô cửa vào! Vậy cha không thấy người Mỹ họ xử sự ra sao à? Ta có thể ngăn cản họ được không? Cha đừng quên rằng họ là kẻ chiến thắng chúng ta.

– Nếu mi theo nó, ta sẽ không nhận mi nữa.

– Con cũng vẫn theo chàng.

Bà Sakai nghe thấy những tiếng nói lớn này, vội vã chạy lại.

– Josui, Josui! -– bà kêu. Cha con… Ồ! Con không thể tàn ác như thế được!

Bà ngăn chặn hai người và giơ cánh tay ra. Nhưng hai người không để ý đến bà.

– Đó là một cơ hội không ngờ tới để thử thách ngoại nhân kia! Nhưng đứa con gái vô liêm sỉ này lại muốn kết hôn với nó trước khi nó đi để khỏi mất nó! Ta xấu hổ vì đứa con gái này!

Ông giơ tay lên và nhìn trời.

Bà Sakai quay lại phía Josui.

– Người ta không thể kết hôn mau lẹ như thế được. Phải có thời giờ. Cậu ta phải được phép.

Nàng nhìn cha mẹ, người này rồi người nọ và trông thấy cha mẹ liên kết chống lại nàng.

Nàng kêu lên:

– Con sẽ làm tùy theo ý con.

Nàng quay lưng lại cha mẹ và lẫn vào buồng.

Cha mẹ nàng nhìn nhau sững sốt.

– Tôi đi ra đền. Nhà sư sẽ chỉ dẫn cho ta việc phải làm. Cần phải cho chúng lấy nhau – bác sĩ Sakai buồn rầu thở dài.

Allen Kennedy bấm chuông. Cửa mở ra và Yumi mời chàng đi theo cô. Chàng đi theo không khỏi ngạc nhiên. Không một tiếng chân, tiếng nói nào trong ngôi nhà yên lặng. Yumi dẫn chàng vào một căn phòng đẹp và rộng. Yumi dẫn chàng vào một căn phòng đẹp và rộng, mà những bức ngăn dán giấy trông ra một thửa vườn, màu sắc điều hòa tuyệt đẹp. Ở trong góc một chiếc Kakemono treo ở phía trên chiếc bình có cắm xòe ra những hoa lá mùa thu. Ở một góc tường này bác sĩ Sakai và vợ đang quỳ. Thấy khách vào, ông bà đứng dậy. Cả hai người đều mặc lễ phục. Bà Sakai mặc chiếc áo Kimono bằng lụa dầy, màu đỏ sẫm, có thêu những chùm hoa hoàng đậu. Bác sĩ Sakai mặc chiếc áo thụng phủ trên một chiếc áo Kimono sẫm.

– Xin mời cậu ngồi xuống đây – bác sĩ Sakai bắt đầu nói, dùng tiếng Anh thật hay.

Allen nghiêng mình, gấp chân dài lại quỳ xuống chiếu. Chàng rất ngạc nhiên thấy bác sĩ Sakai nói với chàng không ngượng ngịu giận hờn.

– Cậu Kennedy, tôi đã qua sống nhiều năm ở Mỹ và tôi biết rằng người Mỹ rất ưa sự thành thật. Vậy, chúng ta hãy đối xử thật thà với nhau. Ý định của cậu là thế nào?

Bác sĩ Sakai đặt câu hỏi vẻ kiêu hãnh. Allen trả lời không chút quanh co:

– Cháu muốn được kết hôn với con gái bác trước khi cháu khởi hành, thưa bác, nghĩa là hôm nay hoặc ngày mai.

– Làm thế nào được như vậy? Cậu chưa có thời giờ xin giấy phép cần thiết.

– Thưa ông, tôi biết điều này, nhưng tôi nhớ có một anh bạn đã kết hôn với một thiếu nữ Nhật ở Đài Loan, theo luật lệ Nhật. Anh ta chỉ hợp pháp hóa cuộc hôn nhân này một năm sau ở Pháp; vậy mà nghi lễ đầu tiên được công nhận vẫn có giá trị.

– Tuy vậy, vẫn không hợp pháp – bác sĩ Sakai phản đối vẻ cảm động.

Allen ngã người ra phía trước để cố thuyết phục bác sĩ.

– Thưa ông, tôi yêu mến Josui và tôi muốn lấy nàng. Tôi muốn đưa nàng về nhà tôi và giới thiệu nàng với bố mẹ tôi. Nhưng tôi bắt buộc phải để nàng ở đây và đưa nàng về sau. Tôi cố gắng để được thu nhận làm việc ở Washington. Tôi ước mong ông bà sẽ đến nhà tôi và về phần chúng tôi cũng sẽ đến thăm ông bà, nhưng trước khi tôi khởi hành, điều cần thiết là Josui phải được kết hôn với tôi. Nàng sẽ về với tôi dễ dàng, nếu việc kết hôn thành tựu.

Bác sĩ Sakai chưa kịp trả lời thì giữa lúc này một tấm ngăn rớt xuống đất và Josui ào vào phòng. Nàng đứng đối diện bố mẹ.

– Thưa cha mẹ, con sẽ làm như Allen nói.

Mặc một chiếc áo Kimono lụa trắng, hai cánh tay giơ ra, mắt sáng ngời, má hồng đỏ, đầu ngẫng lên, nàng hiện ra như một con chim kỳ dị. Allen chưa bao giờ thấy một người phụ nữ nào đẹp như thế. Chàng đứng dậy và trông ngắm nàng, vẻ kính phục. Chàng nhìn thấy trong cặp mắt nàng vẻ yêu dấu chàng hết sức, chàng đưa tay ôm lấy nàng. Bác sĩ Sakai chăm chăm nhìn hai người, bà Sakai, mắt cúi xuống và cả hai người đều đứng yên.

Josui xoay trở trong tay Allen và nói với bố mẹ:

– Thưa cha mẹ, chúng con sẵn sàng.

Cha mẹ nàng đứng dậy, bác sĩ Sakai nói:

– Cậu Kennedy, chúng tôi đã dự liệu để công việc có thể xếp đặt được. Chúng tôi là Phật tử. Tôi đã vận động để nghi lễ có thể cử hành ở đền. Còn về các thể thức phải làm ở nước cậu, chúng tôi để cậu lo liệu.

Ông cúi đầu xuống và không đợi Allen trả lời, ông đi ra, bà Sakai đi tiếp theo ông và qua trước mặt Allen, bà không nhìn chàng.

Josui nhìn cha mẹ đi ra, rồi nàng quay lại Allen, mắt đẫm lệ:

– Anh không nên hờn giận cha mẹ em -–nàng nói giọng van lơn. Thật là đau khổ cho hai người! Anh không thể tưởng tượng được cha mẹ em không có một người con nào khác nữa. Cha mẹ em vẫn thường ước mong rằng chồng em sẽ như là con đẻ của ông bà.

– Vậy ông bà không thể coi anh là con trai được sao?

– Cha mẹ em chưa thể nhận anh thế được… Chưa được – nàng giản dị nói.

Còn ai cảm thấy được giữa hai người cái rung động đầu tiên của linh hồn đứa trẻ do họ sinh ra? Linh hồn đó máy động trong làn gió nhẹ, nâng đỡ những bông hoàng đậu lên và tỏa ra hương thơm của hoa. Linh hồn đó lóe sáng trong chiếc hôn đầu tiên trao đổi ở ngoài vườn và trở nên vững chắc trong chiếc hôn cuối. Linh hồn đợi sự quyết định của thần thánh.

Đám cưới vỏn vẹn có mấy người tụ họp trong ngôi đền lớn, lợp mái tranh đã có cả ngàn năm. Yumi và người làm vườn đứng ra làm nhân chứng. Sững sốt và bối rối, hai người đứng nấp sau ông bà chủ. Vị trụ trì, có các vị sư phò tá đi kèm, đứng đối diện đôi trai gái. Vị sư không tán thành cuộc hôn lễ này và lương tâm giày vò ông. Bác sĩ Sakai đã ép uổng ông nhận lời cho, ông khẩn khoản nói mãi về cảnh hỗn loạn trong thời buổi này.

– Sư trưởng không thể hiểu nỗi đau đớn của tôi – bác sĩ Sakai nghiêm nghị nói. Sự lựa chọn cuối cùng của tôi là mất con gái hoặc ưng thuận cuộc hôn nhân này.

– Ông dạy dỗ nàng một cách quá tự do.

– Tất cả những sự lầm lẫn đã qua của tôi chẳng thay đổi được hiện tại.

Một tặng vật hậu hĩ cúng vào đền cùng những lời hứa hẹn trung thành với đạo cuối cùng đã thuyết phục được vị trụ trì. Ông bằng lòng cử hành hôn lễ.

Vị trụ trì đi vào đền vẻ trang nghiêm, ông cho đánh chiêng và đợi cho tiếng vang tắt hẳn dưới cái khung vòng cao. Rồi ông quay lại phía bàn thờ và ra hiệu cho mọi người tiến lên. Ông đứng chờ đợi, người rất cao lớn trong bộ đồ lễ. Trái với tục lệ, Allen Kennedy không mặc y phục màu đen, nhưng cô dâu mặc chiếc Kimono trắng.

Vị trụ trì nhìn người thanh niên Mỹ đứng trước ông rất lâu rồi quay mặt đi. Ông bắt đầu buổi lễ bằng tiếng Nhật.

Chúng ta đều sum họp ở đây dưới chân Đức Phật nhân từ, để dẫn dắt cặp thanh niên nam nữ này kết thành vợ chồng, đoàn tụ đời đời. Thánh lễ của hôn nhân là nguồn gốc thiêng liêng của tất cả đời sống ở đây rút tỉa ra những quy tắc đạo đức. Không có kết quả nào lại không có nguyên nhân. Như vậy phải hiểu biết rằng một sự liên kết thiêng liêng như thế này của hai người, liên kết suốt đời, không phải là một sự ngẫu nhiên. Nó tiêu biểu sự thành tựu của nhiều đời sống trọn vẹn và kết quả của sự ân cần và nhân từ của Đức Phật.

Ông bỗng cúi đầu xuống và giọng của ông trở nên ấm và giọng của kinh kệ.

– Cầu mong rằng đôi lứa mới này trung thành với lời cầu nguyện của họ, sẽ tương thân tương kính giúp đỡ nhau trong hoạn nạn và khổ sở, giữ được thân thể với tinh thần thanh khiết và khuyến khích nhau nhận tất cả những đức tính tốt. Đó là những yếu tố cần thiết cho mọi đời sống lứa đôi để được sung sướng, hợp với những lời răn dạy của Đức Phật.

Ông ngẩng đầu lên nhìn, cái nhìn bao trùm cả hai người và ông tuyên bố vẻ hách dịch:

– Bởi vậy, trước khi tỏ bày những lời cầu nguyện, hai con phải nhớ rằng nhiệm vụ của người chồng là bảo đảm sự sinh sống cho vợ mình, thương yêu nàng, trung thành với nàng cả trong ý nghĩ và hành động, giúp đỡ nàng cả trong sự buồn rầu, bệnh tật và trợ lực nàng trong việc giáo dục con cái.

Ông quay lại phía Josui và tiếp tục nói:

– Bổn phận của người vợ là mến yêu chồng, là giúp đỡ chồng, luôn dịu hiền và trung thành với chồng trong tất cả mọi việc.

Rồi cứ lần lượt ông nói nữa với cô dâu chú rể.

Ông nói:

– Hai con hãy long trọng tuyên thệ, theo sự hiểu biết của mình, không có một trở ngại về sự kết hôn hợp pháp của hai người.

Josui nhìn Allen và thì thầm dịch lời nói của vị trụ trì.

– Tôi không thấy có một trở ngại nào – chàng nói bằng tiếng Anh.

– Con tuyên bố long trọng rằng không có một trở ngại nào – Josui nói, giọng quả quyết.

Thật ra, hai người đã vượt qua hết các trở ngại chưa?

– Allen Kennedy, con có nhận thiếu nữ này, Josui Sakai, hiện diện ở đây, là vợ chính thức của con không?

Josui nhìn chàng. Allen nói tiếng “Vâng” quyết định, giọng run run.

– Josui Sakai, con có nhận thanh niên này, Allen Kennedy, hiện diện ở đây, là chồng chính thức của con không?

– Vâng – Josui trả lời bằng tiếng Nhật.

Được chỉ dẫn trước về các nghi lễ. Allen liền tháo ở ngón tay út của chàng chiếc nhẫn có nạm kim cương và đưa cho vị trụ trì để ông đeo vào ngón tay vô danh của Josui. Ông đặt bàn tay hai người lên nhau và lấy chuỗi hạt thiêng liêng phủ lên.

– Vì các con đã nhận kết hôn với nhau theo nghi lễ Nhà Phật – ông tuyên bố trang trọng. Ta tuyên cáo rằng hai con là vợ chồng từ đây. Cầu mong cho các con luôn luôn sống trong tình yêu đương và lòng nhân ái!

Một lúc sau, ông quay lại phía bàn thờ. Được hướng dẫn, Allen cắm mấy nén hương vào bát hương trên bàn thờ.

Ở dưới chân tượng Đức Phật vĩ đại sơn son thiếp vàng, vượt lớn hơn tất cả những vị thần thánh khác, vị trụ trì tuyên bố:

– Đây là những lời dẫn dắt của Đức Phật thiêng liêng.

“Hãy giúp cha mẹ con, yêu mến vợ và con cái, hãy noi theo con đường hòa hình. Đó là phước lành lớn nhất”.

Những lời này, ông nói với Allen. Buổi lễ kết thúc. Vị trụ trì quay lại phía các tượng thần linh và bốn vị sư phò tá đứng xếp hàng đằng sau ông, như một bức tường thành.

Vị trụ trì lên bàn thờ trình với Đức Phật, giọng nói thật nhỏ, không ai nghe thấy cả. Ông giải bày những sự ngần ngại của ông, cầu xin Đức Phật dung xá và ban ơn cho cặp vợ chồng trẻ: nếu việc chẳng lành, ông cầu xin ít nhất Người cũng cho thiếu phụ được trở về quê hương.

Bức tượng phủ một lớp dầy vàng sơn đỏ ối, tay chìa ra như ban cho khắp mọi người. Và trong khuôn khổ bất động, cặp mắt xa xăm như cúi xuống nhìn tất cả các Phật tử.

Allen không cúi đầu, một cảm giác hư ảo xâm nhập chàng. Chàng nhìn vị trụ trì và các môn đệ, cúi người xuống trong bộ lễ phục dài và ở phía trên họ là pho tượng. Cuối cùng chàng từ từ cúi xuống. Đã từ nhiều năm nay, chàng không cầu nguyện, không tin tưởng. Nhưng ngày hôn lễ hôm nay, trong lòng quá bối rối, lời cầu nguyện bật ra, với một sức mạnh làm chàng run lẩy bẩy.

Trong phòng riêng của nàng, Josui nằm gần Allen. Sau nghi lễ ở đền và khi trở về nhà, bác sĩ Sakai đã nói ít lời chúc tụng và rút lui ngay, trước khi Allen kịp cảm ơn ông.

Bà Sakai không ra. Yumi dọn cơm cho hai vợ chồng mới cưới, riêng hai người ăn trong phòng họ. Rồi, trong sự yên lặng hoàn toàn và không nụ cười, nàng trải xuống đất những mền lụa kết thành giường cho hai người.

Sau khi cúi rạp chào, Yumi đóng các ngăn lại và tắt đèn hành lang. Cuối cùng chỉ còn riêng có hai người và không ai có thể chia rời họ được nữa.

Hai người qua tuần trăng mật trong cảnh bề ngoài thật quạnh hiu. Trong ngôi nhà lớn, cha mẹ rút lui ra một nơi. Allen chỉ gặp cô hầu gái yên lặng.

Không một ai trong nhà có thể tưởng tượng được rằng Josui ở lại một mình. Không nên có con trong trường hợp này.

– Không lâu la gì em ạ. Allen cam đoan như vậy. Có thể một vài tuần thôi.

Nhưng một vài tuần lễ là mấy mươi năm, khi người ta chỉ có một hai ngày để yêu thương nhau. Đêm thứ hai – đêm cuối cùng của họ – Josui khóc, chàng phải yêu thương an ủi nàng biết bao.

Chàng ôm nàng trong cánh tay, nàng nhỏ bé, khóc sướt mướt, thu mình lại trên ngực chàng. Chàng không sao thuyết phục được nàng. Nàng băn khoăn sợ hãi: họ bỗng nhiên bị xa rời nhau và chẳng có gì sum họp lại được. Nàng tin chắc như thế. Để nàng hiểu lẽ phải chàng bắt buộc phải gây tai họa cho nàng.

– Josui, em tưởng rằng việc dễ dàng đối với anh như thế à? Nếu anh không yêu em có đâu anh ở đây lúc này?

Đối với những mối băn khoăn, những câu hỏi này, chỉ có một câu trả lời. Tình yêu, tình yêu nữa, luôn luôn tình yêu. Da thịt chạm vào da thịt. Tim sát với tim. Đứa con chờ đợi.

Ngày hôm sau, cuộc biệt ly thật ảo não. Cha mẹ hiện ra cùng một lúc. Hai người đàn ông bắt tay nhau. Rồi cha mẹ rút lui và hai vợ chồng trẻ còn ở lại một mình. Allen có thể nguyền rằng da thịt chàng rớm máu khi chàng rút ra khỏi tay, Josui ôm ghì chàng.

– Anh sẽ viết thư cho em hàng ngày – chàng hứa hẹn.

– Em cũng thế – nàng thì thầm vẻ mặt tiều tụy và đẫm lệ.

Chàng chạy trốn, quay đầu lại, trông thấy nàng ngất xỉu trên thềm cửa và chàng liền đến bên nàng. Chàng ôm ghì nàng trong cánh tay.

– Đáng lẽ anh không nên quay lại – chàng rên rĩ.

Cố gắng cương quyết, cuối cùng chàng đi không quay trở lại nữa và đến ga, nhảy lên tàu vừa lúc chạy.

——————————–

  1. Chanoyu: hoặc trà đạo, là thú tiêu khiển tao nhã đặc biệt của Nhật, bầy tỏ nghệ thuật pha và uống matcha hay trà xanh xay thành bột.

2. Từ đồng nghĩa với van nài, van vỉ, van xin.

3. Kakemono là bức tranh cuốn treo vách.

4. Chất lân và là tên gọi khác của phốt pho.

5 . Trong nguyên tác là Madame Butterfly là tên một vở kịch nổi tiếng cùng tên có thể ám chỉ dựa theo nội dung vở kịch này. Dịch sang “Hồ điệp” trong Liêu trai chí dị để độc giả tiện theo dõi.

6 . Tên gọi cũ của nhiệt kể.

7. Loại mũ dành cho sĩ quan hải quân Hoa Kỳ (navy officer hat), có chóp như đầu chim chào mào.

8 . Từ cũ chỉ đáng ghét hoặc thô lỗ.

9 . Theo lễ nghi phong kiến (Nho giáo) khi chưa kết hôn, tránh gọi các từ thân mật chỉ cha,mẹ của người khác mà phải nói trại ra.

10. Theo nguyên tác là “More than twelve hundred acres.” Nghĩa là hơn 200 mẫu đất Anh nên có thể là xấp xỉ 800,000 m2Còn ở đây không biết mẫu tính theo đơn vị nào.

Cánh Hoa E Ấp

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

GIÓ BỐN PHƯƠNG xuất bản 1974

Nguyên tác: The hidden flower

Dịch giả: Vũ Minh Thiều

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

Nữ sĩ Pearl S. Buck đứng vào văn đàn các đại văn hào. Cuốn tiểu thuyết đầu của bà “Đất lành”, xuất bản năm 1931 được dịch ra nhiều thứ tiếng, đưa lên màn ảnh và được cả thế giới hoan nghênh. Nếu quyển sách này đem lại cho tác giả giải Pulitzer, thì cũng vì tác phẩm này, Pearl Buck là nhà văn Mỹ đầu tiên được giải Nobel văn chương năm 1938.

Phần lớn các tiểu thuyết của bà, viết tiếp sau Gió đông Gió tây, Người mẹ, Người yêu nước, Lá thư Bắc Kinh, Cánh hoa e ấp, đều bắt nguồn từ cảm hứng ở kinh nghiệm sâu rộng của bà về Á châu.

Vốn là con gái một vị mục sư Cơ đốc giáo, nữ sĩ Pearl Buck khôn lớn ở Tchen Kiang trên bờ Dương Tử Giang và học tiếng Trung Hoa, trước khi biết tiếng Anh. Sau bốn năm học ở Virginia, quê hương của nữ sĩ, bà trở lại Trung Hoa và lấy chồng. Ở đây bà dạy tiếng Anh trong nhiều trường, và dạy dỗ các con. Trong cuộc đời đầy biến động của bà, có khi bà là người đàn bà da trắng độc nhất trong những thành phố bị giặc cướp tấn công hoặc tàn phá vì đói kém.

Pearl Buck đi bước sau, lấy nhà xuất bản R. Walsh, người xuất bản những tác phẩm của bà. Bà đã từng sống trong một trang trại, trại ở Pennsylvania, mà bà vẫn tiếp tục viết. Bà có hai con gái và bốn người con nuôi.

Trong những tác phẩm của bà về sau đây phải kể:

Nữ hoàng Trung Hoa, Một mối tình bền lâu, Cuộc phiêu lưu vĩ đại, Bạn có phải là chủ nhân của bình minh, Những tiếng nói trong nhà, Người vợ tức giận, Tôi không bao giờ quên, Một ngôi sao nào đó, Đất Cao Ly.

Mấy Lời Phê Bình Của Tạp Chí “Revue Des Deux Mondes” Về Cánh Hoa E Ấp

“Ai giống nhau thường hợp nhau” ngạn ngữ Tây phương có nói thế. Nhưng người ta có thể quên được câu này để kết hôn ngoài giới của mình, ngoài xứ sở về nòi giống của mình không? Hoặc không hề đến một mối tình đằm thắm, phải lưu ý đến nói của tri năng? Hoặc cuối cùng, tình yêu khác mạnh để vượt tất cả những trở ngại ngăn cách hai người khác nhau?

Đó là đề tài khó khăn và đau thương của cuốn tiểu thuyết này của Pearl Buck. Ở Kyoto, dưới thời bị chiếm đóng, một thiếu nữ Nhật xinh đẹp gặp một sĩ quan Mỹ và nhận lời kết hôn với chàng. Từ đó, hai gia đình ra sức chống lại cuộc hôn nhân này. Tôn giáo, màu da, những truyền thống ngàn xưa và biết bao yếu tố đã xen lẫn trong cuộc tranh luận đau thương này mà tình yêu cố bám víu vào để khỏi bị chìm ngập.

Với sự hiểu biết sâu xa về Đông phương và tâm linh người Nhật, về tâm lý của dân tộc Mỹ và tình cảm đặc biệt của người Mẹ, Pearl Buck đã viết tác phẩm Cánh hoa e ấp, một trong những tác phẩm nổi trội nhất của bà. Giá trị của tác phẩm là trình bày cho độc giả biết một vấn đề điên đảo mà sự tiến triển của thế giới nẩy sinh ra hàng ngày.

Buồn Vui Phi Trường

vietmessenger.com

Dương Hùng Cường

Kim Anh xuất bản 1966

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

Chương 2

Chia tay với Trung, Thắng vòng xe vào trại. Qua một sạp báo, Thắng quơ tay nhặt vội gần một chục tờ báo. Quẳng tờ giấy bạc hai chục lên mặt sạp, Thắng cười với cô hàng báo có đôi mắt buồn buồn rồi lại phóng xe đi. Cửa phòng khóa kín, tắt đèn. Chắc là Hối, người bạn ở cùng phòng, đã đi trực. Đêm nay, Hối trực phi cơ thả bom soi sáng.

Thắng nghĩ tới cái phi vụ buồn nản, trực flare ship. Chiếc phi cơ chở đầy bom soi sáng, cất cánh lúc mười giờ đêm, bay vòng vòng ở điểm đợi trên không phận Sàigòn trong sáu giờ đồng hồ. Nếu có một đồn bị địch tấn công ở dưới đất gọi lên thì lại trực chỉ đồn đó, tới thả những trái hoả châu cho sáng rực cả vùng trời. Nếu không có, cứ bay ở trên trời cho hết sáu giờ đồng hồ trực.

Nhiều khi, nhìn mãi những vùng ánh sáng xanh, đỏ của Sàigòn, Thắng có những ý nghĩ dại dột là mong cho một đồn nào đó bị tấn công. Để thay đổi cho cặp mắt. Từ trên cao nhìn xuống, những ánh lửa bay xiên ngang, đan nhau thành những vệt dài rồi vụt tắt như những ngôi sao băng. Ngồi trên thật cao, không nghe lọt những âm động chiến trường.

Thắng mở khoá, bật đèn, nằm dài trên giường thoải mái.

– Thắng về rồi đấy à?…

Tiếng Sơn ở phòng bên cạnh hỏi. Dãy nhà của hạ sĩ quan độc thân chia ra làm nhiều phòng, mỗi phòng có hai người. Thắng nói vọng sang:

– Ừ, về rồi! Có chuyện gì vậy?…

– Đọc báo chưa? Có tin rớt tàu bay của “Air nước mắm” ở Quảng Ngãi đấy.

Thắng ngồi bật dậy, vội vàng trải rộng tờ báo. Hình chụp một chiếc DC3, tan thành từng mảnh, rải rác trên một khu ruộng. Thắng vừa đọc báo vừa vói tay bật nút máy phát thanh. Tiếng hát vọng ra não nề. “Trời sinh ra ta , ta là cát, đời đưa ta đi, đi về đất“. Thắng cởi hết quần áo, nằm lên giường. Chàng vẫn có thói quen đi ngủ ít khi mặc quần áo. Ở cái cư xá hạ sĩ quan độc thân này, rất nhiều người thích ngủ với thân hình Adam. Nhiều khi Thắng nghĩ lẩn thẩn rằng thế giới này toàn là đàn bà hay toàn là đàn ông, thì thân hình chẳng cần gì phải che đậy.

Thắng giở vào trang trong, tìm một tiểu thuyết kiếm hiệp. “Vì báo ở Hồng Không qua không kịp nên Mộ Dung Cô Tô phải gác lại một kỳ”. Thắng chợt cảm thấy lẻ loi. Căn phòng ít khi có đầy đủ hai người. Những căn phòng bên cạnh, vang tiếng cười đùa. Thắng tắt máy phát thanh. Ở phòng bên cạnh, chắc là đang có một cuộc kể chuyện tiếu lâm. Phía đầu nhà, trong nhà tắm, không biết thằng nào đang ê a bài hát “Nửa đêm ngoài phố” mà nó tự đặt lấy lời ca…

………………………..

“Rồi kéo áo thung lên mà chùi…..

………………………..

Tiếng “kéo” uốn éo, kéo dài như tiếng một con đĩ đực. Ở tất cả các cư xá độc thân, nơi nào cũng đều tục tĩu như vậy.

Thắng mặc vội chiếc áo, đi sang phòng bên cạnh. Thì ra chúng nó đang tán ông già Lộc. Ông Thượng-sĩ già trưởng kho Quân-trang đang khổ sở với chúng nó vì kho Quân-trang đang định phát cho mỗi thằng một đôi giày. Giày Mỹ, cổ hơi cao, thật đẹp. Ông già cứ bấn cả người lên… Ông thuộc loại độc thân cụ, có con gái lớn học lớp Đệ nhị, có con trai lớn bị động viên Thủ Đức. Từ ngày vợ chết, ông gửi hết lũ con vào trường, gửi những đứa lớn cho họ hàng, bà con rồi vào đây sống với lũ quỷ sứ độc thân.

– Đừng có “áp-phe” với tao. Muốn lãnh thì cứ xuống dưới kho, đứng xếp hàng …

– Thôi mà bố… Con gửi bố cái phiếu xanh quân trang đây. Bố làm cho con cái “bông”. Một tí ti là xong chứ có lâu lắc gì.

– Mày gửi rồi thằng nào cũng gửi, tao biết làm sao. Mày xuống dưới kho đi.

Những thằng trời đánh vẫn xúm vào lải nhải…Tán tỉnh chán rồi hăm doạ. Được rồi, cụ đừng có hòng xả xăng máy bay để đổ vào cái tắc-xông xe bò. Được rồi, hôm nào cụ phải “tét” Anh văn, cụ sẽ biết tay tôi. Được rồi, con gái của cụ, hôm nào tôi theo cho mà coi. Ông già Lộc giận quá, hét lên:

– Mẹ, đưa hết sổ Quân-trang đây.

Tất cả những cái mồm đều há hốc ra cười. Thắng cũng chạy mau về phòng, lấy sổ Quân-trang để lĩnh giày sớm. Ông Trưởng kho Quân-trang làm cái công việc của sở ngay tại phòng ngủ. Tiếng cười đùa ầm ầm. Chúng nó vuốt ve ông già Lộc, bật quẹt đốt thuốc ngồi quạt cứ như chầu bố già. Mặt của ông già vẫn hầm hầm. Thắng an ủi:

– Thôi mà bố… Chúng mình hơn Cộng sản ở chỗ là có nhiều tình cảm. Mẹ kiếp! Ai mà cũng như bố thì mình chiến thắng Cộng sản từ lâu rồi…

Thắng thấy vui lây với cái không khí trẻ con. Thằng nào cũng đều trên ba mươi cả rồi. Đâu có phải là còn bé bỏng gì. Chúng nó nhất định phải chọc cho ông già cười. Phải cười, bố phải cười… Không cười, tụi tôi lột quần bố…

Thắng đi về phòng, đã bịt hết cả hai tai lại mà còn nghe thấy tiếng đồng ca chát chúa của cả một ban hợp ca đông đảo, nhất định phải chọc cười ông già Lộc.

“Bạn cùng ta…

“Kéo quần bố ra…

Thắng phì cười. Thắng thấy rằng không thể nào rời được cái cư xá độc thân này. Ông già Lộc cũng mới tới ở được chừng ba tháng.

Một buổi chiều, bỗng thấy ông lái cái tắc-xông xe bò mà bốn cái bánh nhẵn như đầu Yul Bryner tới cư xá. Ông xách va-li, nhòm từng phòng. Tới phòng thằng Sơn thấy còn một giường trống, ông đặt va-li lên giường.

– Cho tao ở với mày cho vui….

Sơn trố mắt nhìn. Ông già Lộc thản nhiên trải drap, căng mùng. Ông viết chữ, dán luôn tên Thượng-sĩ Lộc dưới tên Thượng-sĩ Sơn, ngay cánh cửa. Nghĩa là ông già nhất định sẽ định cư ở đây.

Rồi ông lôi trong va-li ra một chai whisky còn một nửa. Ngồi xếp chân vòng tròn trên giường ông uống không cần ly. Say rồi ông bắt đầu nói, ông nói tiếng Tây. Nói tiếng Tây chán, ông nói tiếng ta, chửi thề:

– Mẹ mấy thằng thầy thuốc… Vợ tao chết bây giờ tao buồn lắm…

Tất cả cái cư xá hạ sĩ quan độc thân nhốn nháo hẳn lên…Chúng nó đi lục tìm thêm whisky, tiếp tế cho ông già… Ừ, mấy thằng này chơi được đây. Hồi tao ở Mạc-xây… Thôi mà bố! Tụi tôi,thằng nào cũng biết mùi đầm cả rồi mà… Ông già Lộc ngữa cổ , tu hết một phần tư chai, giữa tiếng reo hò của lũ quỷ sứ. Nhà tao cho Mỹ thuê rồi. Con mang đi gửi hết. Chờ vài ba tháng, cho nó nguôi ngoai đi rồi tao đòi lại nhà, đòi lại con…Tao đếch thèm ở chung với chúng mày nữa. Uống rượu say sưa, ông nói tiếng Tây một hồi rồi lăn quay ra ngủ. Thằng Sơn phải buông mùng, lầy mền đắp cho ông già Lộc. Tội nghiệp cho kiếp lính già!…

Ông già Lộc không đòi lại nhà…vì ông khoái cái cư xá độc thân. Mỗi buổi chiều thứ bảy, ông đi nhặt từng đứa con, đưa đi dạo phố, đi coi hát bóng. Thắng gặp một lũ lóc nhóc sáu đứa, phần nhiều cũng đã lớn, theo ông già trong hành lang Tax.

– Chào bác đi chúng mày!…

Thắng đã luống cuống nhìn người con gái. Mắt mở to như mắt nai. Nó giống mẹ nó đấy. Ông già Lộc hãnh diện vì có con gái đẹp. Đã có một vài thằng nham nhở:

– Thấy cháu mà bác muốn ở tù quá!..

Thắng biết rằng trong đám bạn bè, thế nào có thằng thành con rể ông già Lộc. Nhưng bây giờ, người lính già vẫn lái cái tắc-xông, có bốn cái vỏ xe nhẵn thín đi làm. Chờ ngày về hưu.

– Bố Lộc cho mượn cái xe, tối nay đi du hí…

– Ừ, nhưng coi chừng. Công-tắc vặn thật nhẹ, đừng có vặn mạnh mà gẫy chìa khóa. Có mở cái nắp đằng sau, lấy ma-ni-ven thì coi chừng không nó đập xuống gẫy cổ.

Ông già dặn liên miên…Thằng mượn xe lè lưỡi…Thôi đành đi xe Vespa vậy. Mượn xe của bố thì thật dễ, nhưng “đi đến nơi về đến chốn” cái đó mới thật là cái khó. Cái xe già nua như tuổi trời, như tuổi lính, như cái lon thượng sĩ. Cuộc đời cứ dần qua cho đúng câu “ăn cơm Lê văn Lộc, ngủ hội trường Phi Long, đầu cắm ba ngọn nến”.

Thắng nhớ mãi hình ảnh ông già Lộc đi trong thương xá Tax với sáu đứa con. Già Lộc ngậm “píp”, mặt nghiêm trang, khác hẳn với khuôn mặt khi trở về cái cư xá độc thân. Trông lộc ngộc như một con ngỗng đầu đàn. Thắng nghĩ đến tương lai mình. Rồi cũng chỉ như thế. “Tương lai của mày đấy, Thắng ạ!” Thắng tự nhủ mình như vậy và thấy một cái chán nản vô cùng.

Nếu không có những phút vui trong cái cư xá độc thân này, thì cuộc đời kể như là hạ màn mất rồi. Mỗi buổi chiều, một bà già chừng bốn mươi tuổi, tới lấy đồ giặt. Bà đứng ở đầu nhà, nói vọng vào trước:

– Các ông ơi, tôi tới lấy đồ giặt….

Tất cả những câu chuyện đang tán nhảm ngoài hành lang đều bỏ dở. Chúng nó chạy vào trong phòng ầm ầm. Vào phòng để mặc quần áo. Sau chừng năm phút, bà già giặt đồ mới từ từ tới các phòng. Bà ôm một đống đồ giặt đi ra. Có lần Thắng hỏi:

– Sao bà không giặt đồ cho Mỹ?…Nhiều tiền hơn giặt cho tụi tôi chứ.

Bà già cười:

– Giặt cho chúng nó lấy mười hai đồng một bộ. Giặt cho các ông lấy mười đồng. Hơn có hai đồng mà nhiều chuyện bực mình lắm.

Thắng không hỏi tới những cái bực mình, nhưng mà chỉ cần nghĩ một chút cũng hiểu. Con người vốn nhỏ nhen, bần tiện. Chỉ cần thiệt vài quyền lợi cỏn con cũng đủ đưa tới những sự tranh giành, những sự bẩn thỉu ty tiện. Thắng đã thấy những người bạn, khi còn độc thân thì tính tình phóng khoáng, cũng thuộc vào loại hào hoa nhưng khi lấy vợ thì coi đồng bạc to bằng cái chiếu. Gặp thứ gì cũng khuân về nhà. Một cái thùng gỗ không đáng bao nhiêu. Thậm chí đến cái hộp đựng “bu-gi” cũng mang về. Để chọc mấy lỗ làm cái đựng hạt tiêu. Thắng nghĩ thầm: ” Một cái lọ đựng hạt tiêu ngoài chợ giá có mấy đồng bạc, làm cái gì mà phải khổ sở như vậy…” Nhiều khi, Thắng muốn dùng những lời sỉ vả thật cay nghiệt để mắng những thằng đó, nhưng Thắng kìm hãm lại được. Chắc chúng nó nghèo. Mình đã có vợ đâu mà mình biết. Những chuyện về cơm áo bao giờ cũng day dứt những thằng đàn ông. Mình hết tiền, mình có thể nằm nhà, nhưng chúng nó mà hết tiền, vợ mè nheo, con khóc, có lẽ chúng nó cũng có những nỗi khổ tâm riêng.

Có một hôm xe bị hỏng, Thắng ngồi chờ ngoài cổng trại, chờ một thằng bạn nào đi qua để quá giang vào trong trại. Trời nặng màu chì, sắp mưa…Thắng ngồi co ro trong điếm canh. Đồng hồ mới chỉ hai giờ mười lăm. Cổng trại lúc nào cũng tấp nập, xe cộ ra vào không ngớt. Thắng đã phải chứng kiến một cảnh mà đã cố dằn lòng mình xuống, mà vẫn thấy sục sôi một ý nghĩ hằn học. Có một đoàn chừng năm chiếc cam-nhông của một nhà thầu cho Mỹ, chở đầy xi-măng, xin vào trong căn cứ. Ngoài cổng giữ lại…Chờ hỏi điện thoại xem có đúng như vậy không. Ông nhà thầu lo lắng nhìn trời. Đã lác đác vài giọt mưa. Mưa mà đổ xuống bây giờ thì mấy xe xi-măng đi tiêu. Ông năn nỉ:

– Xin ông cho vào nếu không trời sắp mưa.

– Tôi còn phải hỏi điện thoại..

Nhưng cuộc đối thoại được dứt khoát ngay khi ông nhà thầu chìa ra một phong thư:

– Dạ, ông có cái thư ở Nha Trang gửi tới, nhờ tôi chuyển tới ông..

Người lính mặc “xi-vin” cầm lấy cái bao thư. Thắng có đủ thông minh để biết trong đó đựng cái gì. Thế là chẳng cần đến việc khám xét. Chẳng cần chờ sự liên lạc với cơ quan Mỹ. Thắng muốn đem việc này tố cáo lên cấp trên nhưng dễ gì ai tin mình nên tự nhiên Thắng thành một con người dễ dàng tha thứ. Tội gì mà “đem giây buộc cổ”!

Thắng cứ thắc mắc về cái “đồng loã” của mình để rồi vài ba đêm thao thức, không ngủ được. Nhiều khi Thắng nghĩ đến công việc làm, đến những người lính biên trấn nằm trên Pleiku, nằm ngoài Đà Nẵng, lúc nào cũng thật gần với sình lầy, để rồi ở đây, có những con người phản bội, mê mải làm giàu, làm những công việc không xứng đáng với những con người cầm súng. Một chút thoáng buồn cho những người lính mang nặng suy tư.

Những quán nước dưới gốc cây điệp, cũng mang lại cho những người lính Không Quân còn trẻ, những cái tủi hận mênh mông. Những người có vợ mở quán nước, lấy việc nhà làm chính, còn những công việc của Không Quân chỉ là công việc phụ. Một người lính Mỹ vào một quán nước, ngồi vào bàn, dơ tay lên khỏi đầu, búng ngón tay một cái: “Lieutenant, one beer!”. Ông trung úy mang ra một chai bia. Đã một dạo, người ta gọi ông là “Lieutenant one beer”. Trung úy một chai la-de! Tưởng không có gì mỉa may cay độc bằng. Nhưng đồng tiền quyết định tất cả. Cho chúng mày mỉa mai. “Rồi đây, ông lấy giấy năm trăm, ông vo tròn lại, ông búng vào mặt chúng mày cũng đủ rỗ mặt chúng mày ra”.

Đằng sau những cái quán nước, chỉ cách vài hàng giây kẽm gai và một khu đất trống là Phi Đoàn Trực-thăng. Phi cơ lên xuống, hàng ngày chở những xác chết từ những chiến trường của khắp nẻo đường đất nước. Ban đêm, cả cái phi đoàn ấy lặng lẽ như chìm vào cái ánh sáng lờ mờ của những ngọn đèn điện màu vàng. Như xa hẳn thành phố. Cũng có những tiếng gió rì rào thổi luồn vào đám cỏ. Cũng có những tiếng ếch kêu và tiếng dế nỉ non những đềm sương xuống lạnh.

Cách đây vài ngày, Thắng phải đi công tác miền Trung. Thắng là nhân viên phi hành đoàn của một chiếc C47, chở bom soi sáng, túc trực ngoài Đà Nẵng. Chiến trường miền Trung đang thời kỳ nóng bỏng. Chiếc C47 vượt qua hai giờ rưỡi bay, hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng. Thắng đứng giữa biển và núi. Khí trời như ở miền Bắc trong mùa khai trường. “Hàng năm, cứ về cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…”

Tình hoài bắc của Thắng chợt tan biến khi nghe tiếng Phantom cất cánh, tiếng máy phản lực rít xé không gian, vừa lên khỏi phi trường, chưa kịp lấy cao độ, đã nhào xuống bắn phá. Việt Cộng ở sát ngay phi trường. Chiến trường còn nóng hổi cái không khí sát phạt. Ở Đà Nẵng dù những đêm không nghe tiếng súng, người ta vẫn thấy trong cái im lặng, một cái gì sắp nổ bùng, vỡ ra, để đưa những con người vào cái thế chiến đấu hay là chết.

Phi cơ của Thắng đậu ở chỗ để dành riêng cho phi cơ chở bom soi sáng. Hai bánh xe đè lên chữ flare ship. Bom soi sáng, lúc nào cũng phải để trên phi cơ, để khi có lệnh gọi, chỉ việc cất cánh bay đi. Thắng phải vào Ban Cứu Hoả để nhờ coi chừng, khi có chuyện gì, nhớ để ý tới chiếc phi cơ mà trong lòng nó mang hàng trăm trái bom dễ cháy.

Thắng đi bộ vào Đại-đội Cứu-hoả của Không-đoàn 41. Những chiếc xe sơn màu đỏ nặng nề, nằm chờ để dập tắt những ngọn lửa. Thắng gặp toàn những người quen. Thắng tòng ngũ đã gần ba mươi năm, đã qua tất cả các phi trường, nên đi tới đâu, cũng gặp những người quen biết cũ. Với những anh em chữa lửa, Thắng đã từng chia với nhau những lo âu, những bực bội của cái thời Bearcat F8F Biên Hoà, ăn cơm chung với nhau nơi phi trường Nha Trang cát trắng.

Thắng tới, thì các anh đang cúng rằm tháng Bảy. Hai con heo quay nằm soãi chân ra các góc bàn, nhe hai hàm răng ra cười như chế nhạo lũ người hãy còn tin ở những oan hồn, uổng tử. Những người lính chữa lửa dễ chết lắm. Chết để cứu những người khác sống. Anh Trung-sĩ Mạnh dẫn Thắng ra đằng sau nhà, xem một mảnh bom kỷ niệm của Đội Chữa-lửa Không-đoàn 41. Mảnh bom văng ra từ một chiếc phi cơ phản lực B57. Tàu bay của Hoa Kỳ, nhưng mà khi có lửa cháy thì không phân biệt những gì của ai cháy.

Mạnh cười nói với Thắng:

– Nếu tàu bay của Việt Cộng mà rơi xuống, bốc cháy, không chừng chúng tôi cũng chữa…

Thắng ngồi nghe tâm sự của Mạnh, cũng là tâm sự của người lính chữa lửa Không Quân. Công tác của các anh là một công tác cứu người.

Những người lính chữa lửa Hoa Kỳ, làm việc được hưởng đầy đủ các thứ tiện nghi. Hoa Kỳ được trang bị một cái máy đo sức nóng, để biết tới độ nào bom có thể nổ để mà…chạy. Lính chữa lửa của cái xứ Giao Chỉ này, thì có lẽ phải chờ đến kiếp sau mới có. Thành ra, khi những trái bom của chiếc B57 phát nổ thì nhìn chung quanh chỉ toàn lính chữa lửa của cái “không quân nước mắm”. Mạnh kể đến đây cười hì hì:

– Tôi lộn tung đi hai vòng…Lúc đứng lên thì trái bom khác lại nổ, tôi lại nằm xuống. Hơi nóng thấm qua mặt nạ làm rát mặt. Tôi lấy làm lạ là bị bầm vập như vậy mà nhìn xuống tay, vẫn thấy còn ôm khư khư cái vòi rồng…

Nếu là lúc khác mà nghe Mạnh kể như vậy, thì Thắng thế nào cũng nghĩ bậy. “Ôm khư khư cái vòi rồng”, Thắng nghe Mạnh nói một cách rất thật thà, thành khẩn, nên Thắng chỉ hơi nhếch mép, mỉm cười. Thắng thấy Mạnh rất yêu nghề.

Giá sinh hoạt ở Đà Nẵng đang lên cao.. Mạnh thở dài, chua xót:

– Nhiều thằng, buổi sáng, đói mờ người đi, đến nỗi đạp cái thắng xe chữa lửa không nổi.

Thắng thật buồn.. Vậy mà anh em cũng vẫn góp tiền để mua heo quay cúng cô hồn. Thắng ngồi cạnh anh em, trước mâm thịt heo quay, miếng thịt quay ở trong mồm như muốn mắc nghẹn. Thắng cố duỗi cổ để nuốt. Thắng nghĩ rằng trong Không Quân, có nhiều thằng thật vô ích, chẳng đáng được hưởng một ly ông cụ gì về tưởng thưởng cả thì lại được hưởng đầy đủ. Trong số đó có cả Thắng, nếu Thắng đem so sánh Thắng với các anh em chữa lửa.

Thắng đưa câu chuyện ra khỏi vùng ưu tư bằng cách kể những kỷ niệm xưa ở Biên Hoà. Những chiếc F8F bất thường như những cô gái “tốc-kê”. Sắp sửa hạ cánh, nhất định chỉ thò ra có một cẳng. Tới những con người khu trục tài hoa như Nguyễn Thế Long, Phạm Phú Quốc, Lưu văn Đức… Nhất là Thiếu-tá Lưu văn Đức. Vừa cất cánh lên khỏi phi đạo, cao độ mới chừng hai trăm thước, lộn một vòng làm một tonneau xong thì ba cái bánh xe biến mất.

Thắng thấy lòng thật vui với những kỷ niệm ngày xưa. Có những lần, tàu bay lộn úp sấp, nằm úp xuống phi đạo, mất nhiều công phu, trục, lôi, kéo, chữa lửa chực sẵn để dẹp từng tia lửa, đến lúc kéo được ông phi công ra thì ông ta kêu mất kính Ray-Ban, mất bóp. Mạnh kể chuyện như không biết mệt. Thắng vừ ngồi nghe, vừa ăn thịt heo quay, uống “ba xi đế”. Ở đất Đà Nẵng này chỉ có thế. Bốn chục đồng một chai la-de. Thắng quên hẳn cái không khí Sàigòn.

Thắng đứng dậy, từ giã anh em chữa lửa. Mạnh hỏi:

– Đi đâu?…

– Xuống kho bom, nhờ chúng nó coi lại những cái “kíp” nổ của bom soi sáng…

Mạnh lại một cái xe chữa lửa, đưa Thắng xuống kho bom. Mặt của Mạnh đỏ bừng, không biết vì men rượu “ba xi đế” hay vì cái nóng miền Trung. Kho bom ở biệt lập tận hàng rào an ninh phi trường . Chiếc xe nặng nề, đi vòng phi đạo. Đường đi thật xa, không một bóng cây. Nắng miền Trung đổ lửa, nhảy múa với bụi đường.

Vừa qua hàng rào giây kẽm gai, Thắng đã thấy người lính của kho bom, đội nón lá, cầm búa đang bổ xuống những trái bom để làm đứt những chiếc đai. Chắc công việc này vẫn tiếp tục ngày nầy qua tháng khác. Thắng vừa nhảy xuống xe thì có tiếng gọi:

– Ê, Thắng…

Thắng nhìn vào trong kho…Thiện, người bạn cùng học một trường thợ máy ở Rochefort, có biệt danh là Thượng-sĩ I Đầu Bạc, đang vẫy tay gọi Thắng:

– Ra đây bao giờ? Cần cái gì?

Thắng cười:

– Vừa ra đây xong thì tới kiếm mày. Cho tao một nhân viên được không?…Tàu bay tao chở bom soi sáng.

Thiện chỉ vào năm, sáu người đứng chung quanh . Toàn những tên ghê gớm. Hoàng mập, Kính voi, Tư rocket. Những thằng này nâng bom lên móc không cần tới máy nâng chạy bằng động cơ MJ1. Lấy thằng nào tao cho luôn. Cho luôn cả tao nữa.

Thắng chăm chú nhìn Thiện. Đầu Thiện bạc phơ, hết cả nét đẹp trai. Hồi còn ở trường thợ máy, Thiện được nhiều cô đầm mê. Ngược lên phương Bắc là tỉnh La Rochelle. Xuống miền Nam là Bordeaux, Toulouse. Thiện đi tới chỗ nào, cũng có đầm con nhà lành, trả tiền cho đi ăn, đi nhảy. Còn bây giờ thì ngồi trộn bom napalm mùi xăng bốc lên ngạt thở.

Thắng thò tay vào túi lấy bao thuốc lá. Vừa đặt điếu thuốc lên môi, Thiện đã rút phựt điếu thuốc lá ra khỏi môi Thắng, đút lại vào trong bao thuốc:

– Đồ ngu! Ở chỗ này mà hút thuốc… Có chán đời thì đừng làm cho những người khác chết theo chứ.

Thiện cười vang, rút găng tay ném vào góc nhà. Ngoài kia, nắng đổ lửa, một người lính đang cầm búa bổ xuống cho đứt những đai bom. Mái tôn nóng hầm hập, có tiếng kêu lách tách khi bị nóng làm dãn ra, uốn cong những chiếc đinh rỉ sét. Thắng quay ra ngoài xe:

– Mạnh về trước đi…Tôi ở lại đây chơi với thằng khốn nạn Thiện. Cám ơn Mạnh, cám ơn mấy miếng thịt heo quay.

Trực flare ship chỉ vất vả vào ban đêm. Ban ngày thì cần gì phải thả bom soi sáng…Thắng ngồi chơi với Thiện cả buổi sáng. Thiện kể cho Thắng nghe vẫn nhận được thư của mấy con đầm. Có đứa đã có chồng với một đống con. Có đứa gửi thư vẫn thấy còn đề mademoiselle.

– Các em thấy mình adjudant chef, cứ tưởng là ghê gớm lắm. Ở cái nước Tây, thì cái lon thượng sĩ nhất đã kể là vinh hoa phú quý rồi. Mẹ kiếp, bố khỉ….

Thiện chửi bâng quơ, chửi hết, chửi mình, chửi Thắng. Thằng Nguyễn, thằng Võ, thằng Huỳnh, chúng nó phản bội nghề nghiệp, bỏ đi làm phi công hết rồi. Bây giờ thì cũng đại úy, tuy rằng đi sau, đầu hai thứ tóc rồi mới học lái tàu bay. Chỉ còn lại tao, mày và mấy thằng khốn nạn nữa là còn sót lại của cái trường Rochefort. Thợ súng, thợ máy, thợ la-dô, những cái nghề bạc bẽo. Thiện ngâm thơ ồm ồm: Giận đời bỏ học đi làm đĩ…

Kính voi góp chuyện:

– Nghe nói chúng mày đi buôn lậu, giàu lắm…

Thắng nhăn mặt:

– Ừ, thì cũng có thằng giàu, có thằng sạt nghiệp. An-ninh và Quân-cảnh, lờ đi cho vài chuyến Mã Lai. Chúng nó tưởng bở, làm một chuyến lớn, thế là về bị chộp hết. Có nhiều thằng khuynh gia, bại sản, mang công mắc nợ vì buôn lậu. Đấy là nói chuyện thiên hạ. Còn tao, tiền lương tháng nào cũng chỉ đủ tiền uống rượu lấy gì làm vốn mà mua vải, la-dô…

Thiện thì cứ hùng hổ, đi đi lại lại, trong căn nhà chứa bom. Cái xe “đốt cát” của tao đâu rồi. Tao chở thằng Thắng đi nhậu. Có một chỗ ghi sổ, em chịu ta lắm, ít khi nào nhắc nhở đến chuyện “một trang nhật ký”. Kính bĩu môi:

– Gáy hoài! Sức mấy…Ông cho có bữa nổ ống khói, đi tiểu “một tiếng kêu cha, ba tiếng kêu chó”. Ê, Thiện! Hôm nay cho thằng Thắng, nó ăn cái gì…

. . . . . . .

Bây giờ nằm đây, Thắng thấy nhớ những người bạn cũ. Thiện, Kính và những người cùng đi chung chuyến tàu Athos II. Đêm nay, thật khó ngủ… Thắng đếm 1…2…3…Một trăm… hai trăm…Những phòng của cư xá đã tắt hết đèn. Tiếng ho của ông Lộc già ở phòng bên cạnh. Một ngàn… hai ngàn….Thắng ngủ trong tiếng động cơ cất cánh từ phi trường Tân Sơn Nhất.

Buồn Vui Phi Trường

vietmessenger.com

Dương Hùng Cường

Kim Anh xuất bản 1966

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

Chương 1

Từ sau vụ công tác Cao Nguyên, khi trở về Sàigòn, Trung thường đi chơi với Thắng. Chàng nhận thấy ở cái anh chàng thợ máy biết bay này, có nhiều thứ trái ngược. Vừa già dặn, vừa trẻ con. Vừa từng trải, vừa ngây thơ. Nghĩa là Thắng có thể ngồi nói chuyện Tam Quốc Chí với các cụ già mà còn có thể ngồi đấu chưởng với lũ lõi.

Thắng lúc nào cũng mặc một chiếc quần “Jean” màu xanh, bạc phếch. Chàng còn cầu kỳ, bôi dầu máy thành nhiều vệt dài. Đó là lối trang điểm của James Dean… Thắng có một lối lái xe Vespa bạt mạng. Trên sân đậu phi cơ, Thắng hay biểu diễn nhiều vụ “xin tí lửa” cho anh em coi. Xe đang chạy mau, chàng nghiêng cho sàn xe Vespa quẹt xuống sân. Bên phải, bên trái, bên nào cũng được. Những đống nhớt chảy trên sân, thằng nào chạy xe lên cũng té, mà Thắng chạy qua cứ phây phây.

Với số tuổi ba mươi mốt của Thắng, nhiều người kể như là đã già. Nhưng Thắng thì trái lại… Trung nhận thấy Thắng nhiều khi tinh nghịch một cách thật con nít. Thắng hơn Trung sáu tuổi. Nhưng với Thắng, Trung có thể nghiễm nhiên gọi nhau bằng “mày, tao” mà không cần đắn đo suy nghĩ. Trung thường ngồi sau Vespa của Thắng. Hai đứa chạy nhông nhông khắp Sàigòn. Thắng thường hay thích đùa dai. Tới một ngã tư đèn đỏ…Thắng len lỏi, rồi ngừng ngay đầu một đoàn xe. Đột nhiên, Thắng sang số xe. Tiếng máy xe vào số, nghe như một tiếng gõ mõ. Rồi Thắng phóng lên khi đầu đường chưa bật đèn xanh. Nghe tiếng sang số của Thắng, cả đoàn xe đứng chờ, sang số chạy theo nhưng Thắng vừa chạy đã rẽ ngay tay phải. Tiếng còi cảnh sát thổi rầm rĩ… Chạy được một quãng, Thắng bảo Trung:

– Chúng mình lại xem chúng nó bị phạt đi…

Đi chơi với Thắng, Trung bao giờ cũng được hưởng những trò vui nho nhỏ như vậy. Ít khi thấy Thắng buồn. Thắng cười luôn, nhưng Trung biết rằng Thắng đã dấu một tâm sự đau thương ghê gớm.

Thắng vừa lên Thượng-sĩ… Anh chàng có vẻ ghét thậm tệ cái lon này. Nghe có vẻ già nua quá. Nhưng biết làm thế nào, chẳng lẽ cứ mang lon cũ, rồi vài ba thằng “thối mồm” thế nào cũng tố lên cấp trên là mình bất mãn. Thắng chửi thề:

– Mẹ kiếp, cứ để ông mang lon Trung-sĩ nhất ông lại còn khoái. Mang cái lon Thượng-sĩ, chẳng ra cái mẹ gì cả!…

Trong Không Quân, cái cấp bực tuy rằng không hạn chế, nhưng theo kinh nghiệm, nó phải chạy theo cái nghề mà mình làm. Làm sĩ quan, nếu mà theo cái nghề quan sát viên, nghĩa là nghề phó nhòm, thì ít khi nào có thể lên được cái lon Thiếu-tá. Làm thợ máy, kể cả bay lẫn bò sát, ít khi nào có thể lên được cái lon Thiếu-úy. Nếu làm thợ gác cổng, thợ xét giấy tờ ông đi qua bà đi lại, thì ít khi nào lên được tới cái lon Thượng-sĩ.

Ở trong Không Quân, những thằng có kinh nghiệm một chút, thì thế nào cũng hiểu ngầm cái giá biểu đã định. Không cần như các hiệu buôn phải treo bảng “bán theo giá đã ghi”. Đôi khi cũng có một vài vụ giá lên quá bảng ấn định nhưng mà giá đó là giá chợ đen thì kể đến làm cái…mẹ gì.

Một điều đáng ngạc nhiên cho Trung nữa, là Thắng có bằng Tú-tài I từ năm 1952. Ngày đó chàng mới học lớp….nhất. Thời gian qua đi mười mấy năm mà Thắng không thi nốt cái bằng Tú-tài bỏ dở. Trung mang cái thắc mắc ấy ra hỏi Thắng. Thắng cười hề hề:

– Tính tao vốn lười…Có cái bằng Tú-tài, lúc giải ngũ ra, với cái tính lười của tao, thế nào tao cũng làm đơn xin đi làm công chức. Mà làm công chức thì eo ôi chán lắm. Với lại, tao cũng sợ mang tiếng là thi đậu “Tú-tài võ”.

Những thằng tàu bay thường mang nặng nhiều mặc cảm. Khi khai vào lý lịch có bằng tú-tài, thế nào chúng nó cũng xúm lại hỏi:

– Tú-tài văn hay Tú-tài võ?…

Tú-tài văn là bằng Tú-tài thi đậu khi còn ở ngoài “xi-vin”. Có nhiều thằng ở ngoài “xi-vin” thi hoài thi hủy, mà không sao đậu nổi cái Tú-tài. Kỳ nào cũng chỉ thiếu có vài ba điểm. Tức mình, chúng nó vào lính tàu bay. Mặc quần áo ka-ki, đi thi được vớt tới hơn một chục điểm. Thi đậu là cứ phăng phăng. Bởi vậy, danh từ Tú-tài võ ra đời.

Trung cũng vừa lên cấp bậc. Từ tạm thời lên thực thụ. Cái lon mới cũng chẳng khác gì cái lon cũ nên chẳng mất tiền mua lon. Lương cũng chẳng thêm được đồng nào. Chỉ có cái thiệt trước mắt là mất tiền cho tụi bạn uống một bữa. Tính sơ sơ có một ngàn đồng. “Một ngàn đồng bạc Đông Dương”. Chúng nó hay gọi như vậy, để tỏ ra mình là con người quốc tế, tiêu nhiều thứ tiền, tuy rằng thằng nào cũng thích ăn…thịt chó.

Những buổi chiều, khi đèn Sàigòn vừa bật sáng, Thắng và Trung hay lang thang trên đường Tự Do. Đôi khi, hai đứa tạt vào thăm mấy cái snack bar, tìm mấy chị me Tây già, còn sót lại của cái thời “săng-đá”, đấu tiếng Tây bồi. Những giờ phút đó, Thắng nhớ tới cái trường thợ máy Rochefort, rộng mênh mông, con đường 14 juillet dài sâu hun hút.

Mùa đông miền Charente-Maritimes không lạnh lắm nhưng cũng đủ làm cóng đôi chân. Thắng mặc áo sơ-mi màu xanh thợ máy, cả tháng không thèm thay. Khi nào thấy cái cổ áo bẩn, thì lại mặt lộn ngược trở lại. Thắt cái cà-vạt, khoác thêm cái áo ngoài, lại vẫn “đẹp mắt” như thường. Cái con người của Thắng ở bên Tây thật là bẩn thỉu. Khi rời xa trường Rochefort, Thắng bùi ngùi nhớ Rue des Mousses, nhớ Eden, nhớ ba số 1, nơi có những nàng kiều nữ tóc vàng mắt xanh, 1.500 quan có thể gần nhau một lúc mà nếu gạ được em mang về cái xứ nước mắm này cũng vẫn le như thường.

Thắng xoay ly rượu nhìn vào tận đáy ly. Những buổi chiều thứ bảy, cầm tích-kê, đứng nối đuôi nhau sau mấy cô đầm non hôi nách, chờ tắm nước nóng. Căn phòng đợi bốc hơi như sương mù, làm ẩm ướt chiếc áo dạ. Ngoài trời, những cành cây khô rung rung, theo từng cơn gió heo hút. Khi có một phòng trống, mụ đầm già dài mồm ra gọi:

– Le suivant!….

Cái đuôi người lại nhích thêm được một tí. Le suivant! Le suivant!…Tiếng mụ đầm già ám ảnh Thắng như tiếng gọi văng vẳng vọng về dưới đáy ly rượu tám chục đồng. Thắng chợt tỉnh, khi Trung hỏi:

– Mày nghĩ gì vậy?….

Thắng mỉm cười:

– Tao nghĩ đến con Jacqueline, con bé bán táo ở đường 14 juillet…Mày biết thằng Hưng không? Nó gạ được em. Em dắt nó về nhà. Không biết nó tán tỉnh làm sao mà ngủ được với em, ngủ cả được với em sến của nhà em….Thật là một kỳ tài.

Thắng kể chuyện và cười vang thích thú, bất chấp những chàng lính Mỹ, ngồi trong quán trố mắt ngạc nhiên. Trung nghĩ đến bà Thừa, nghĩ đến Cúc. Cả hai mẹ con nhà ở đầu ngõ nhà chàng, đều để ý đến chàng. Cô con gái của bà – cô Cúc mê tiểu thuyết kiếm hiệp, cũng chỉ chờ chàng mở một câu là sẵn sàng tung hê tất cả. Nhiều khi chàng nghĩ mình cũng nên khai thác cái mỏ “lẳng lơ có nòi” này. Nhưng chàng muốn trung thành với mối tình của Thủy. Chàng thở dài, gọi thêm hai ly rượu. Vài cô bạn già, cầm ví tay, bắt tay Thắng và Trung:

– Ô voa Thắng…ô voa!…

Các cô già làm ban ngày đã hết giờ. Bắt đầu cho những cô trẻ làm việc buổi tối. Thắng và Trung cùng nghĩ tới đời lính, những phiên trực, gác. Cũng chia tay lạnh lùng như ở đây, khi đổi phiên…Chỉ khác có sự bàn giao, vài ba cuốn sổ, vài giòng chữ ngoằn ngoèo ghi vội. RAS. Rien à signaler. Phút cuối của một người là phút đầu của một người. Tiếng thì thầm của vài ba cô con gái, như chìm vào trong cái chán nản lan ra mãi. Thắng uống ly rượu hết một hơi, quơ tay cầm lấy mấy cái bông:

– Đi thôi mày!

Vỉa hè Sàigòn còn ướt nước mưa. Qua La Pagode, những khuôn mặt quen thuộc đến nhàm chán. Sàigòn chỉ có thế, chỉ có thế! Thắng lại nghe Trung thở dài:

– Sao mày không lấy vợ đi? Với cái tuổi hơn ba mươi của mày, đủ tư cách để lấy vợ lắm rồi.

Thắng thở một hơi thuốc lá:

– Tao chờ.

– Chờ cái gì? Chờ chồng của người yêu chết?…

– Không! Tao chờ một quy chế đủ bảo đảm cho vợ tao khi tao ngỏm.

Tự nhiên, Trung nghĩ đến một câu trong Chinh Phụ Ngâm. “Dạy con đèn sách, thiếp làm phụ thân”. Ôi! Những người lính đã trót mang tiếng hào hoa như chàng, như Thắng, khi gục ngã, bao giờ cũng nghĩ tới tương lai của vợ, con.

Lòng Trung thấy buồn một cách lạ. Vợ của những người lính. Con của những người lính. Cái thảm cảnh của xã hội, liên quan đến Trung, đến Thắng, đến tất cả các chiến hữu ở khắp các chiến trường, tất cả như một nét đen thẩm kéo dài như một chữ thập chéo của một hoạ sĩ khi bất mãn với tác phẩm của chính mình.

Khi mà chồng gục ngã nơi chiến trường, cái bi thảm của những người vợ với tương lai mua vui cho thiên hạ. Những đứa con, lang thang ngoài đường phố, lấy những trái me ở những con đường vắng, lấy cá của sông Sàigòn làm cơm. Và cái đầu đường chờ đợi của những người đó là cái gì? Phải chăng là một cái nhà tù, một cái giường trong nhà thương thí.

Trung có một người bạn làm quận trưởng. Anh bị Việt Cộng giết trong một vụ phục kích. Rồi một ngày đi du hí, Trung gặp vợ bạn trong một dancing, trong cái không khí đầy khói thuốc lá, nước hoa và rượu mạnh. Trung gọi vợ bạn bằng chị mà không dám hỏi thăm về chuyện gia đình vì gặp “chị” ở đây, đã đoán hiểu cái tình cảnh phải bi thảm quá lắm rồi. Chung quanh Trung, những thằng oắt con, những ông già lụ khụ, gọi tên chị, lôi kéo chị, gọi chị bằng em…

Thắng và Trung đã lang thang đến bờ sông. Gió lạnh ban đêm làm hai người tỉnh hẳn. Trên trời, mây đen đã tan dần…Vài ngôi sao hiện ra như những đôi mắt u oán, những đôi mắt của những người chiến sĩ đã gục ngã, đôi mắt của anh Đại-úy Quận-trưởng, hằn học nhìn xuống, nhìn những bước chân trên sàn nhảy đã dẫm nát những hy sinh mà anh đã trọn vẹn dâng hiến cho non sông xứ sở.

Giọng Thắng mơ hồ:

– Lấy vợ! Có lẽ cũng đến phải lấy vợ. Bây giờ tao mới hiểu, tại sao những thằng tàu bay thích lấy vợ cô giáo. Tao cứ tưởng là một phong trào, một cái gì thuộc về vấn đề thời trang…Thủy của mày vẫn còn đi dạy học đấy chứ?

Trung gật đầu, thẫn thờ:

– Ước mong sao những thảm cảnh của vợ con lính chỉ là một cảnh “mưa bóng mây”.

Thắng rùng mình. Gió đêm từ bờ sông lành lạnh. Chàng bảo Trung đi về. Hai người đi trở về chỗ gửi xe ở phía cuối đường. Những chuyện buồn thường khắc vào con người những nết hằn sâu lên khuôn mặt. Vài tháng trước đây, Biệt-đoàn của chàng có tổ chức một chiến dịch để quyên tiền giúp gia đình một người bạn chiến dịch Nguyễn Thế Tế.

Biệt-đoàn những người áo đen, những người bạn thật thương yêu nhau, đưa cái công việc quyên tiền giúp một gia đình lên ngang hàng một chiến dịch. Thắng là đại diện của hạ sĩ quan nên theo chân “phái đoàn” ra nhà của Tế. Thắng nhớ rõ cả ngày tháng, ngày mùng ba tháng sáu. Bà mẹ của Tế khóc sướt mướt, kể lể về dự tính cưới vợ cho ông con trai. Người chị và người em gái, nước mắt ngập ngừng trên mi, hỏi ông Chỉ-huy trưởng:

– Thiếu-tá có biết tin gì về em nó không ạ?…

Chuẩn-úy Nguyễn Thế Tế được ghi là mất tích ngày 22-4-1965, trong một phi vụ Bắc phạt. Cha anh lại vừa mới mất. Cả gia đình, bây giờ chỉ trông cậy vào người con rể, chồng của người chị, hiện đang đồn trú tại một đơn vị thật xa Sàigòn. Thỉnh thoảng, “anh về với em rồi anh lại đi”… Tình cảnh thật đáng thương.

Số tiền quyên được là bốn mươi chín ngàn hai trăm đồng, chưa kể Phi-đội Trực-thăng thuộc Biệt-đoàn đang công tác tại Nha Trang. Đặc biệt là các bạn phi công cố vấn Hoa Kỳ tại Biệt-đoàn. Họ cũng đóng góp theo cấp bậc và còn tính đóng nhiều hơn, vì họ giàu. Nhưng những anh em trong Biệt-đoàn không muốn như vậy. Ông Thiếu-tá Chỉ-huy trưởng, còn rất trẻ, tâm sự nhỏ với Thắng:

– Tôi mà chết, tôi cũng chỉ mong anh em đóng góp cho gia đình tôi số tiền năm chục ngàn đồng.

Những người bạn cùng sống, chết với nhau, thật thương nhau. Nhưng sự giúp đỡ ấy tồn tại được bao nhiêu lâu? Một năm, hai năm?… Cuộc đời của con người đâu chỉ thu gọn ở một năm, hai năm?… Người lính hào hoa, cái tiếng nghe sao như một lời mỉa mai cay nghiệt.

Ngoài phố, lại có lộn xộn. Khu chợ Ông Tạ, biểu ngữ phản đối chính phủ giăng trắng xóa ngang đường. Phái đoàn theo ông Chỉ-huy trưởng ra nhà Chuẩn-úy Tế. Trước khi đi, ông còn dặn ở nhà:

– Báo động cho Biệt-đoàn ngay đi… Coi chừng không chúng nó lại chiếm được biệt đoàn. Máy bay sẵn sàng tất cả nhé. Chúng nó mà đảo chính thì bay lên “khện” cho chúng nó một trận.

Thời nầy, thật là nhiều cái lo. Có nhiều lúc, người ta quên kẻ thù Cộng sản . Đường đi vào nhà Chuẩn-uý Tế lầy lội, nhiều vũng bùn đục ngầu, quyện chặt bánh xe Jeep.

– Đời thằng phi công An-nam thật khổ… Chắc là hồi trước, chiều nào thằng Tế cũng phóng xe -xô-lếch về cái ngõ này…

Thắng theo mọi người vào một căn nhà có dàn hoa giấy. Con nít đông đặc ngoài cửa, xúm lại để xem mấy ông nhà binh. Bà cụ già, mẹ của Tế, ôm cháu ngoại trên tay, nhớ đứa con trai. Nếu còn ở gần, năm nay cụ sẽ cưới vợ cho con, sang năm chắc sẽ có cháu nội…

– Ối con ơi là con ơi!…

Thắng cắn chặt lấy môi dưới. Trong người của Thắng như có một cái gì trống lên ngực. Tất cả xúm lại an ủi bà mẹ. Viễn ảnh của một ngày xa xôi, có một cuộc trao đổi tù binh.

Tự nhiên Thắng nghĩ đến bài học khi còn ở lớp nhất “Làm người ai cũng phải có hy vọng”… Cái hy vọng của bà cụ già gần đất xa trời sao mà nó mong manh! Cái cảnh tre khóc măng, như cái cằn cỗi thương tiếc cho màu xanh. Không biết bà cụ già có còn sống để chờ đợi và lấy vợ cho con?…Nét mặt của người chị, mắt nhìn không chớp, vừa lo cho em, vừa lo cho chồng… Người em gái còn thật trẻ, tự hỏi biết đến bao giờ thì anh về…

– Thưa cụ và bà, trước anh Tế, còn có các anh Thiếu-tá Chẩn và Đại-úy Huề. Chúng ta đành chờ tới cái ngày trao đổi tù binh.

Người mẹ lại oà lên khóc…

Thắng cứ bị mãi cái ám ảnh đó. Những bước chân nặng nề, vang trên đường lạc lõng, Trung vẫn còn đi bên cạnh Thắng đây. Mới chín giờ tối, đường Sàigòn đã vắng. Thắng lấy xe đưa Trung về nhà. Thắng thả Trung xuống ở đầu ngõ. Trong căn nhà của Cúc, văng vẳng tiếng cười đùa, tiếng cười của những người con gái….Trung bước qua vũng ánh sáng hắt ra từ khung cửa sổ, rồi lẫn vào ánh đèn đường heo hút….

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

28. Hoàng Quý

Hoàng Quý thuộc lớp nhạc sĩ đầu tiên của chúng ta. Nhạc của ông giản dị, trong sáng, vui tươi. Ông yêu thiên nhiên, tuổi trẻ và các anh hùng lịch sử dân tộc. Ông dùng

nhạc của mình để ca ngợi những gì mình yêu và truyền đạt cái tình yêu ấy sang tâm hồn những người khác. Khi những bài hát đầu tiên của Hoàng Quý được phổ biến, nền tân nhạc của chúng ta còn hoàn toàn mới mẻ. Cái mới mẻ của âm nhạc dường mở ra những cánh cửa mới vào đời sống. Nghe nhạc Hoàng Quý, hát nhạc Hoàng Quý, người ta có cảm tưởng được chắp cánh bay vào khoảng trời mênh mông của cuộc đời vừa được mở ra trước mặt đó.

Nắng trong khóm cây

Xuân sáng ngời

Kìa chim bay xa xa ca hót trong mây

Gió trong khóm cây

Xuân sáng ngời

Kìa bao em tay nắm reo vang tiếng cười

Ngàn hoa hé tưng bừng

hương hoa nồng ngát

Ngàn chim hót vang lừng

cất cánh ngang trời

Nắng đem thắm tươi

Cho khắp muôn người

Cùng nhau ta đi vui chơi khắp đó đây

Gió đem thắm tươi

Cho khắp muôn người

Cùng nhau ta tay nắm reo vang tiếng cười

Nếu toàn cảnh nền tân nhạc Việt Nam là một bức tranh u ám thì có thể coi nhạc Hoàng Quý như những vạt nắng  hồng của một ngày trời quang mây tạnh.Sau Hoàng Quý, chúng ta cũng có những nhạc sĩ viết nhạc vui, trong sáng, nhưng không còn ai có được cái hồn nhiên của Hoàng Quý. Trước mắt ông, cảnh vật dường hân hoan chờ sẵn để hòa nhập với tình yêu trong lòng người. Và cảnh vật không phải chỉ là của cải trời đất ban cho mà còn là kho tàng tiền nhân để lại.

Ta cùng nhau đi

Thăm nơi hùng xưa

Oai linh đứng muôn đời

Giữa nơi sông cùng núi

Và sân đá tường rêu

Rãi gan sương cùng mưa

Ngàn bông lau reo đưa

Theo chiều gió phất phới

Hay bóng cờ năm xưa còn đâu đây

Kìa bao tiếng trâu xa

Còn vọng trong khói mờ

Dè chừng như tiếng loa trong rừng cây

Hoa Lư ơi!

Non lau còn trong sương gió

Đến muôn đời mà không dứt lời ca

Với tiếng gió Hoa Lư ơi!

Với tiếng gió Hoa Lư ơi

Muôn năm còn trong sương gió

Đứng oai hùng cùng với nước nhà

“Kìa bao tiếng trâu xa, còn vọng trong khói mờ, dè chừng như tiếng loa trong rừng cây” trong kho tàng văn chương của chúng ta hình như cũng không câu nào giản dị, cảm động và Việt Nam hơn! Những câu hát ấy thấm nhập vào tâm hồn người nghe, người hát, như một thứ thực phẩm nuôi dưỡng cả thể xác lẫn tâm hồn. Nó truyền thêm cho người ta sức sống, cả lòng yêu đời và yêu đất nước nữa. Cái bầu trời người ta nhìn thấy thuở thiếu thời khi hát những bài hát của Hoàng Quý dường như cứ còn xanh mãi trong tâm khảm mỗi khi người ta tưởng nhớ lại. Nhạc Hoàng Quý chỉ có một bài buồn và đó cũng là bản tình ca duy nhất của ông: Cô Láng Giềng. Nhưng ca khúc này lại được ông viết cho những lời ca tuyệt đẹp, và

cái đẹp đã làm cho cái buồn trở thành một sức quyến rũ. Bài hát đã được yêu, được hát nhiều đến nỗi, khi có ai đó gọi người sống bên cạnh nhà là Cô Láng Giềng, thì câu nói ấy tự nó, đã có một ý nghĩa gần như một lời tỏ tình, dù chưa phải là tình yêu chăng nữa.

Cái bầu trời trong sáng trong nhạc Hoàng Quý hình như càng ngày càng xa chúng ta. Vì cuộc đời buồn quá? Hay vì hồn ta không đẹp nữa?

Chùa Hương

Thuyền bơi lướt trên sóng xanh

biết bao êm đềm

Con thuyền đưa tôi tới nơi thần tiên

Chùa Hương với đồi núi cao

biết bao êm đềm

Phút mơ màng quên hết ưu phiền

II

Dừng chân ngắm trời nước mây

khuất trong nắng tàn

Chuông chiều buông rơi phút giây dần lan

Đồi mơ giữa dòng nước xanh

thoáng dăm bóng thuyền

Phút tâm hồn sạch hết ưu phiền

Chiều sương rơi còn đâu đây

vang tiếng trầm theo gió

Tiếng Nam Mô!

Êm êm dần lan xa mỗi phút thêm

âm trong ngàn mơ

Chiều sương rơi còn đâu đây

vang tiếng trầm theo gió

Tiếng Nam Mô!

Lâng lâng hồn tôi bay theo

Chiều sương rơi còn đâu đây

Vang tiếng trầm theo gió

Tiếng Nam Mô!

Êm êm dần lan xa xa

Mỗi phút thêm âm trong ngàn mơ

Chiều sương rơi còn đâu đây

Vang tiếng trầm theo gió

Tiếng Nam Mô!

Lâng lâng hồn tôi bay theo

tiếng chuông nơi xa mờ

Thuyền bơi lướt trên sóng xanh

biết bao êm đềm

Con thuyền đưa tôi tới nơi thần tiên

Chùa Hương với đồi núi cao

biết bao êm đềm

Phút mơ màng quên hết ưu phiền

III

Chùa Hương khói trầm ngất bay

những khi nắng tàn

Trên đồi non mơ tiếng chuông dần lan

Ngàn cây với một tiếng chim

sót trong nắng tàn

Đắm tâm hồn vào giấc mơ màng

Chiều sương rơi còn đâu đây

vang tiếng trầm theo gió

Tiếng Nam Mô!

Êm êm dần lan xa mỗi phút

thêm âm trong ngàn mơ

Chiều sương rơi còn đâu đây

vang tiếng trầm theo gió

Tiếng Nam Mô!

Lâng lâng hồn tôi bay theo

tiếng chuông nơi xa mờ

Chùa hương khói trầm ngất bay

những khi nắng tàn

Trên đồi non mơ tiếng chuông dần tan

Ngàn cây với một tiếng chim

sót trong nắng tàn

Đắm tâm hồn vào giấc mơ nàng.

tiếng chuông nơi xa mờ

Đường đi bước lần thấp cao

khác chi tới miền

Non bồng muôn năm sống vui thần tiên

Chùa Hương giữa dòng nước xanh

biết bao êm đềm

Phút mơ màng quên hết ưu phiền

Ban Tiếng Tơ Đồng

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 10 Jun 2025

27. Hoàng Nguyên

Hoàng Nguyên tên thật là Cao Cự Phúc. Ông sinh tại Huế năm 1932. Sáng tác đầu tay của ông có lẽ là bài Anh Đi Mai Về. Chắc ca khúc được viết sau 1945-46 ít nhất vài năm (vì khi ấy Hoàng Nguyên mới 15, 16 tuổi). Nhưng nghe bài hát này người ta vẫn cứ mường tượng lại những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó chất chứa cái không khí một nửa hào hùng một nửa bi thảm. Tuy là ca khúc đầu tay nhưng nó đã chứng tỏ được tài năng của Hoàng Nguyên và còn có thể coi là một trong những bản nhạc hay của thời đầu kháng chiến nữa:

Nếu hiểu rằng anh đi vì lũ giặc tham tàn

Thì em ơi! Em chớ sầu thương chi

Em thấy chăng khói súng của giặc thù

Còn mịt mù và còn che khuất mờ

Nắng nửa chiều đưa anh nhìn

xóm làng điêu tàn

Nhìn sông xanh, nhìn bông lúa,

nhìn nương dâu

Tay nắm tay em nhớ lời dặn dò

“Đừng ngập ngừng, buồn lòng ai giết thù” Được sáng tác vào thời điểm đặc biệt như vậy nên (có thể) nó đã trở thành một nỗi vương vấn của người viết đối với một khoảng quá khứ, dây dưa mãi về sau. Nghe nói, khi đang dạy học ở Đà Lạt, Hoàng Nguyên đã bị chính quyền địa phương bắt và đầy ra Côn Đảo một thời gian. Sự việc đến như vậy, chắc phải có gì nghiêm trọng. Nhưng ít người biết rõ sự liên hệ của ông với “bên ngoài” khi ấy tới mức nào.

Lúc ông thực sự nổi tiếng, nghĩa là được nhiều người biết tới ở miền Nam, ông đang là sĩ quan trong Quân Lực

Việt Nam Cộng Hòa, không thấy ai nhắc tới chuyện tù ấy của ông. Tất cả những sáng tác của Hoàng Nguyên sau bài Anh Đi Mai Về đều là tình ca. Theo lời kể lại của ông Vương Trùng Dương, một người quen biết và có nhiều dịp gần gũi, làm việc chung với Hoàng Nguyên, thì Hoàng Nguyên có

nhiều rắc rối tình ái hơn chính trị. Không biết có những nhân vật nào ở ngoài đời thực sự trở thành những bóng hồng trong nhạc của ông? Song, cứ theo lời đồn đại, mỗi ca khúc của Hoàng Nguyên đều có tình sử của nó. Người ta có thêu dệt quá không?

Một chiều lang thang bên bờ Hương giang

Tôi gặp một tà áo tím

Nhẹ thấp thoáng trong nắng hương

Màu áo tím sao luyến thương

Màu áo tím sao vấn vương …

Có điều chắc chắn là Hoàng Nguyên rất nặng lòng với Đà Lạt. Ông viết không nhiều, vậy mà trong số các tác phẩm của mình ông đã dành cho Đà Lạt tới hai bài Ai Lên Xứ Hoa Đào và Bài Thơ Hoa Đào. Ngay cả ca khúc ông không nói gì về, nghe nó, người ta vẫn cảm thấy phảng phất không khí Đà Lạt, đó là bài Đường Nào Lên Thiên Thai.

Không biết “người Đà Lạt” của ông có thật không, nhưng Hoàng Nguyên làm cho rất nhiều người chưa biết Đà Lạt, muốn tới Đà Lạt, nhìn thấy Đà Lạt, vì nghe nhạc của ông. Cũng như đã có bao người muốn tới Huế để được xem Thôn Vĩ Dạ sau khi đọc thơ Hàn Mặc Tử. Người ta không thấy sự khác biệt bao nhiêu giữa cái tình trong bài Tà Áo Tím và các bài Ai Lên Xứ Hoa Đào và Bài Thơ Hoa Đào.

Nhà văn Kiêm Minh, trong một truyện ngắn, nói về người em gái của mình có viết một câu đại khái “không biết vì nó buồn nên đẹp hay vì nó đẹp nên buồn”. Nghe nhạc Hoàng Nguyên, dường như người ta cũng nhận ra cùng một lúc cái đẹp và cái buồn tương tự.

Ai lên xứ hoa đào dừng chân

bên hồ nghe chiều rơi

Nghe hơi gió len vào hồn người

chiều xuân mây êm trôi

Thông reo bên suối vắng,

lời dìu dặt như tiếng tơ

Xuân đi trong mắt biếc

lòng dạt dào nên ý thơ

Nghe tâm tư mơ ước mộng Đào Nguyên

Đẹp như chuyện ngày xưa

Ai lên xứ hoa đào đừng quên

bước lần theo đường hoa

Hoa bay đến bên người ngại ngần

rồi hoa theo chân ai

Đường trần nhìn hoa bướm

rồi lòng trần mơ bướm hoa

Lâng lâng trong sương khói

rồi bàng hoàng theo khói sương

Lạc dần vào quên lãng

rồi đường hoa lặng bước trong lãng quên

Nói chung nhạc Hoàng Nguyên là nhạc của một người lãng mạn. Ông yêu người đẹp, cảnh đẹp. Nhạc của ông là để ngợi ca những vẻ đẹp ấy.

Lời ca của Hoàng Nguyên được nhiều người thích nhất là câu: Nắng nửa chiều đưa anh nhìn xóm làng … nghe rất Việt Nam, gợi hình ảnh những thôn xóm, cánh đồng, một nỗi buồn có sẵn tích tụ từ lâu. Hai chữ “nửa chiều” cũng làm liên tưởng tới một cái gì sắp tàn, sắp mất. Hoàng Nguyên chết trong một tai nạn xe hơi trước 1975.

Đường Nào Lên Thiên Thai

Cầm tay em anh hỏi

Đường nào lên Thiên Thai

Đường nào lên Thiên Thai

Đường nào lên Thiên Thai

Nơi hoa xuân không hề tàn

Nơi bướm xuân không hề nhạt

Nơi tình xuân không úa màu bao giờ

Ngày xưa sao Lưu Nguyễn

Gặp đường lên Thiên Thai

Nhạc vàng ai mê say

Rượu Đào ai ngây ngây

Suối Ngọc reo dưới bước chân đi

Tiếng nhạc tiên quyến luyến xiêm y

Ôi làm sao lạc vào được Thiên Thai

Anh nào biết đường lên Thiên Thai

Khi trời đất còn vương thương đau

Khi hồn anh chưa biết sẽ về đâu

Anh nào biết đường lên Thiên Thai

Khi lòng còn như băng buốt giá

Và tình còn e ấp nói không thành lời

Nhưng rồi nhìn trong mắt đẹp

Lòng chợt vui như say

Kìa đường lên Thiên Thai

Kìa đường lên Thiên Thai

Kìa đường lên Thiên Thai

Ấy đường qua ngõ mắt thơ ngây

Tiếng nhạc êm lẫn tiếng thơ say

Đưa hồn anh lạc vào tận tim ai

Anh Ngọc