Mấy Người Con Trai Vương Long

vietmessenger.com

Pearl S. Buck

Nguyễn Thế Vinh dịch

(Tái bản)

Post by Sơn râu 23 Jun 2025

Chương 11.

Sáng sớm hôm ấy, hai chú cháu đến mấy làng quanh đó, chỗ bọn lính của chàng đóng. Người lính tâm phúc, anh sứt môi, ra đón ở dọc đường bảo chàng:

– Thưa chủ tướng, chủ tướng đến thật may quá, bọn lính mấy ngày nay được nghỉ ngơi, cơm rượu hả hê, bây giờ cơm no ấm cật, họ đang khao khát được tự do.

Vương hổ tướng nói:

– Chờ cho họ xong cơm nước buổi sáng, cho tập trung hết cả lại để lên đường đi về bản địa. Tối mai phải đi hết chặng đầu một nửa đường.

Mấy hôm ở chơi nhà anh Hai chàng đã suy nghĩ rất nhiều về việc lựa chọn địa điểm để làm căn cứ, sào huyệt, chàng có đem vấn đề đó ra thảo luận với anh Hai là người tinh khôn, thông thạo; cả hai anh em đồng ý mạn giáp ranh với tỉnh này, ruộng nương tốt nhất không đâu bằng, sẽ đặt làm căn cứ. Vả chăng địa điểm cách xa quê hương chàng, phòng xa lỡ ra lúc nguy biến không liên lụy đến anh em họ hàng, người đồng hương; lúc thất cơ chàng có thể về ẩn náu nơi quê nhà, việc vận tải tiền nong đường không cách trở xa xôi quá, ít nguy hiểm về sự bất trắc giữa đường. Ruộng vùng đó có tiếng phì nhiêu, dân cư ít khi bị đói kém. Ruộng có hai thứ, một nửa ở cao, một nửa ở thấp, xung quanh có núi non bao bọc, có nơi chắc chắn ẩn nấp. Miền đó có một con đường độc đạo, khách bộ hành vãng lai từ Nam lên Bắc, từ Bắc xuống Nam phải qua con đường đó, chàng có thể đặt thuế, lấy tiền mãi lộ vào khách qua đường. Vùng đó có hai ba tỉnh lớn, một đô thị, Vương hổ tướng không cần phải cứ trông vào bọn nông phu mà đánh thuế. Thóc lúa tốt nhất, họ cất rượu rất ngon, dân cư trù mật. Miền đó có đủ điều kiện thuận lợi, xong vấp phải một trở ngại, là ở đó có một thủ lãnh cai quản.

Muốn đạt được ý nguyện, Vương hổ tướng trước nhất phải làm sao trục xuất, diệt trừ tên thủ lãnh đó vì không có nơi nào dù dân có phong phú đến đâu cũng không thể cung phụng nổi hai thủ lãnh một lúc. Tên thủ lãnh này, người thế nào, binh lực có những gì, những điều cốt yếu Vương hổ tướng chưa rõ. Chàng chỉ nghe người ta gọi hắn là Tám Beo, vì hắn có dị tướng, trán hắt ra đằng sau, sọ đầu hắn giống như sọ Báo; hắn cai trị rất hà khắc, dân cư vùng đó chán ghét lắm.

Đến nơi ấy Vương hổ tướng phải thận trọng, kín đáo chứ không thể đường hoàng cờ mở, trống dong. Chàng phải dè dặt, khôn ngoan chia bộ đội ra nhiều toán nhỏ năm, ba người như bọn lính đào ngũ. Chàng và mấy người tâm phúc tìm một nơi trú ẩn ở trong núi để dò xét địa hình, địa vật. Chàng quyết tâm giao tranh với tên thủ lãnh và chiếm bằng được miền đó mà chàng tưởng như số chàng đã định, trời để dành phần cho. Chàng đem mưu kế ra áp dụng thi hành. Khi bọn lính đã cơm nước xong, anh nào cũng uống ít rượu cho ấm bụng vì buổi sáng sương còn giá lạnh, ở các thôn xóm kéo ra tập trung hết ngoài đường. Chàng cẩn thận xem xét tiền nong đã trả đầy đủ chưa, trước khi đi, chàng còn hỏi lại dân làng:

“Anh em bộ đội đến trọ nhà các ông các bà có điều gì thất thố không?”. Tất cả dân mấy làng đều đồng thanh nói: “Không có điều gì cả, chúng tôi mong ước bộ đội nào cũng được như bộ đội của quý ông”. Chàng rất đẹp lòng, ra lệnh rút khỏi các làng, tập trung lại một nơi xa, chàng khuyến dụ:

– Địa điểm chúng mình kéo đến ruộng nương tốt không đâu bằng, chúng mình phải giao tranh với một thủ lãnh quản trị ở đó. Miền đó có một thứ rượu tuyệt ngon, tôi chắc chưa bạn nào đã được nếm qua!

Bọn lính nghe thấy thế reo mừng, họ nhao nhao nói:

– Xin chủ tướng đưa chúng tôi lại miền ấy. Những nơi như thế chúng tôi vẫn khao khát ước mong!

Vương hổ tướng nhếch mép cười, một nụ cười nghiêm nghị, khắt khe:

– Các bạn đừng tưởng đâu lại có quá giản dị, dễ dàng thế được. Chúng ta cần phải rõ binh lực của đối phương thế nào, nếu đối phương đông người hơn bọn mình, mình phải tìm cách tỉa dần, mỗi một bạn đây phải là một trinh sát, để mắt xem xét, để tai nghe ngóng dò la. Phải giữ tuyệt đối bí mật, không để cho ai biết mục đích của ta đến đó, sơ hở một chút là hỏng việc. Tôi đi tiên phong xem xét địa hình, chỗ nào thuận tiện để tập trung quân lực; anh lính sứt môi đến ranh giới thì dừng lại, vào một xóm ở thung lũng Hòa An. Tôi nghe nói đầu xóm có một quán cơm, ngoài cửa có treo lủng lẳng một vò rượu. Anh sứt môi sẽ chờ các bạn ở đó; chỉ cho các bạn biết chỗ tôi lựa chọn để đóng quân. Bây giờ các bạn giải tán, chia từng toán nhỏ 3 người, 5 người, 7 người, nếu có ai hỏi các bạn đi đâu, bạn sẽ hỏi thăm bản doanh ông thủ lãnh Tám Beo ở đâu để xin tòng quân phục vụ dưới trướng. Tôi đưa cho mỗi bạn 3 đồng để làm tiền lộ phí cho đến khi chúng mình lại gặp nhau đoàn tụ. Nếu đến tai tôi, ai hà hiếp một lương dân, vô lễ với một đàn bà nào, tôi không cần tra xét, một người phạm tội tôi sẽ giết hai người để nghiêm quân lệnh.

Có một anh lính nói lớn:

– Thưa chủ tướng, thế chúng tôi không bao giờ được tự do làm gì tùy ý như nghề lính tráng của chúng tôi?

Hình minh họa from the Net

Vương hổ tướng trả lời:

– Khi nào tôi có lệnh cho phép thì mới được! Từ trước đến giờ các anh đã phải xông pha trận mạc chưa? Các  anh tưởng có khi tôi phải ân thưởng trước khi các anh lâm trận chiến công?

Anh chàng nêu câu hỏi im bặt, sợ lắm vì biết Vương hồ tướng thay đổi sắc khí nhanh lắm, sẵn sàng sử dụng thanh đoản kiếm, con người không thể nào lung lạc bằng lời nói bóng bẩy, một câu châm biếm không hợp thời. Nhựng ai cũng công nhận tính chàng rất cương trực, những tùy thuộc chàng như được cảm hóa, biết thế nào là hợp pháp hay không. Bọn lính của chàng tuy chưa phải vất vả giao phong trận mạc mà vẫn được nuôi nấng đàng hoàng đầy đủ, lương cuối tháng vẫn được trả phân minh sòng phẳng.

Vương hổ tướng lấy ở số tiền dự trữ phát cho bọn lính mỗi người ba đồng làm tiền lộ phí. Quân lính phân tán chia từng toán nhỏ, kéo đi. Chàng cưỡi con ngựa hồng, thằng Rỗ cưỡi lừa, anh sứt môi ngồi trên con la (chàng vừa mới mua ở xóm), cả ba lên đường về mạn Tây Bắc.

Khi Vương hổ tướng đến đầu địa hạt, chàng cho ngựa leo lên một ngôi cổ mộ lớn, ngồi trên lưng ngựa, chàng có thể nhìn bao quát được cả vùng. Thật là một phong cảnh tuyệt mỹ chàng chưa từng thấy. Trên những ngọn đồi rộng lớn, trùng điệp, lúa tiểu mạch cấy về mùa đông vừa nhô khỏi mặt đất xanh rì, dập dờn trước gió như làn sóng. Xa xa về phía Tây Bắc, những ngọn đồi cao dần thành một rặng núi lởm chởm, tua tủa huyền nhai, in trên nền trời trong vắt. Những xóm làng rải rác khắp nơi, nhà tuy bằng đất nhưng gọn ghẽ xinh xắn, nhiều mái vừa được lợp lại bằng rơm rạ, mùa gặt trong năm. Cũng có nhiều nhà gạch lợp ngói. Gần chỗ chàng đứng có mấy căn nhà, trước sân nhà nào cũng có cây rơm lớn, xa xa theo chiều gió đưa lại có tiếng gà cục tác, văng vẳng có tiếng nông phu véo von hát. Thật là một nơi trù mật, đất cát phì nhiêu, lòng chàng khắp khởi mừng thầm đã đến một nơi cảnh trí tuyệt mỹ. Với bộ nhung y, với con ngựa hồng, chàng không thể vào các xóm làng sợ gieo rắc hoang mang trong dân chúng. Chàng quan sát địa thế, vạch một lộ trình đi quanh co vào rặng núi tìm nơi trú ẩn, dò la thám thính quân lực đối phương. Chàng phải giữ hành tung tuyệt đối bí mật, không để cho một ai biết chàng đến vùng đó. Người ngựa đi suốt mấy giờ đồng hồ, quá trưa về chiều bọn này mới đến chân một ngọn núi cây cối um tùm rậm rạp.

Vương hổ tướng xuống ngựa bước lên bực đá leo lên ngọn núi. Hai tên thủ hạ dắt ngựa theo sau, vó câu khấp khểnh bước thấp bước cao, lộc cộc lên bực. Chàng lên cao, cây cỏ càng rậm rạp, có chỗ chằng chịt ngăn mất cả lối đi, những suối nước chảy róc rách ở các khe đá, cỏ mọc ngang đầu. Rêu phủ dầy các bực đá đi rất êm, không thấy có dấu vết chân người, ở giữa bực lờ mờ hình như có dấu vết chân một hai người qua lại. Khi mặt trời vừa lặn, bọn này leo lên hết bực thì đến một ngôi chùa cổ xây bằng đá khối dựa lưng vào vách núi vừa làm bức tường hậu của ngôi chùa. Am thanh cảnh vắng, cũ kỹ, đổ nát, cửa đóng kín mít. Vương hổ tướng đến ngôi chùa ghé sát tai vào cửa nghe ngóng bên trong động tĩnh ra sao. Không thấy có một tiếng động, chàng lấy chui roi da quất ngựa đập mạnh vào cửa;  không nghe thấy tiếng gì bên trong, chàng càng cáu càng đập mạnh. Một lúc lâu cánh cửa từ từ hé mở, ló ra một cái đầu ông sư trọc lóc, một khuôn mặt nhẫn thín, già cấc, da nhăn nheo. Vương hổ tướng nói lớn:

– Chúng ta tìm một nơi tạm trú đêm nay. Trong khung cảnh âm u tĩnh mịch, tiếng chàng nói oang oang rắn rỏi, cộc lốc. Nhà sư sẽ sàng mở thêm cánh cửa, nhỏ nhẻ nói:

– Bẩm … ngài không tìm thấy lữ quán, phòng trà hay sao? Chúng tôi đây có mấy người ở một nơi khổ hạnh, xa  lánh trần tục, ăn uống rất kham khổ, không có thịt cá, uống chỉ có nước lã thôi.

Thấy tướng mạo Vương hổ tướng nhà sư sợ quá, sau chiếc vạt áo dài che phù, hai đầu gối thi nhau run lên bần bật.

Vương hổ tướng đẩy cửa, bước vào qua mặt vị sư già, dõng dạc bảo bọn thủ hạ tùy tùng:

– Chỗ này rất hợp ý ta, ta tìm thấy đúng đây rồi.

Chàng xông xáo đi vào không một chút e dè kiêng nể các vị sư trụ trì ở đó. Chàng vào chính điện, có mấy pho tượng lâu ngày, lớp thiếp vàng đã tróc nhiều chỗ để hở cả cốt đất ra ngoài. Chàng không để ý nhìn lên Tam Bảo. Chàng xuống mấy căn nhà ngang chỗ ở của các vị sư, chọn một căn phòng

sạch sẽ nhất. Chàng cởi kiếm treo lên vách, trong khi đó các thủ hạ lục soát khắp chùa xem có gì ăn được uống được, họ tìm thấy có một ít gạo và một chiếc bắp cải.

Đêm đó, Vương hổ tướng nằm ở gường chưa ngủ, lắng tai nghe như có tiếng rì rầm ở chánh điện. Chàng dậy rón rén đi lên coi xem cái gì! Chàng thấy ở đó có 5 vị sư già với 2 chú tiểu (tiểu là con mấy nông phu ở trong xóm gửi lên hầu hạ trên chùa để tỏ lòng tri ân một việc cầu cúng gì đó). Tất cả bọn quỳ trước bàn thờ (có một pho tượng bụng phệ) họ tụng niệm, nhờ Phật lực gia hộ che chở. Một ngọn đuốc chập chờn trước gió, dưới ánh sáng huyền ảo của ngọn lửa, cả bọn đồng thanh tụng niệm. Vương hổ tướng đứng nấp một luc lâu xem và nghe họ tụng niệm. Chàng nhận ra vì có chàng mà họ cầu xin được che chở. Họ đồng thanh tụng:

– Cúi xin Phật Pháp từ bi gia hộ, vạn tội băng tiêu, trừ giải ách nguy cường hào đạo tặc.

Nghe họ kêu cầu như thế, Vương hổ tướng hét to, tiếng hét bất thần giữa đêm khuya làm các sư đang quỳ như điện giật đứng phắt cả dậy; lúng túng trong chiếc áo dài. Vị sư già nhất vị sư thủ hộ vật ngã sóng suột, tưởng chừng sắp được đi vãng sinh. Vương hổ tướng hét to:

– Tôi đến đây không làm hại gì các người, đồ xuẩn ngốc! Nhìn coi, khối tiền đây này. Làm sao mà sợ? Sợ cái gì?

Chàng vừa nói vừa cởi giây lưng cho mọi người xem túi tiền của chàng, các sư này thật ra chưa được thấy nhiều tiền như thế bao giờ. Chàng nói tiếp:

– Ta còn nhiều tiền nữa, ta chỉ cần một nơi tạm trú ít lâu, người ta xin tạm trú ở đền, ở chùa là thường, có gì lạ? Hở?

Trông thấy túi tiền của chàng, ai nấy vững dạ, nhìn nhau, xì xào nói:

– Chắc là một võ tướng nào đây hoặc lỡ tay giết lầm một người nào, hoặc không được chủ tướng lưu dụng phải ẩn tránh ít lâu. Những việc như thế chúng ta vẫn thường được nghe thấy luôn. Vương hổ tướng để cho bọn này muốn đoán thế nào thì đoán. Chàng khẽ nhếch mép cười, một nụ cười vô vị, mặt lạnh như tiền, chàng trở về phòng đi ngủ.

Ngày hôm sau, mới tang tảng sáng, Vương hổ tướng đã dậy ra đứng ở cổng chùa. Sáng hôm đó, sương mù dày đặc bao phủ các thung lũng, các ngọn núi; chàng đứng ở đó không ai có thể nom thấy được. Không khí mát lạnh buổi mai làm chàng sực nhớ chẳng còn bao lâu đã sang đông. Trước mùa đông tháng giá, có mưa tuyết, chàng có nhiều công việc phải giải quyết, tất cả thủ hạ trông cậy vào chàng: cơm ăn, chốn ở, quần áo mặc rét. Chàng quay trở vào chùa đi thẳng xuống bếp, anh lính tâm phúc và cháu chàng ngủ ở đó. Bọn này rúc vào ổ rơm, ngủ mê mệt, hơi thở anh lính phì phò qua chiếc môi sứt như người huýt còi. Chú tiểu đang nấu một chiếc nồi sắt kê trên mấy viên gạch, hơi bốc lên nghi ngút. Chợt nom thấy Vương hổ tướng, chú tiểu tìm đường lẩn tránh.

Vương hổ tướng không để ý đến chú tiểu, nắm tay anh lính tâm phúc lay mạnh gọi dậy, sai xuống núi lại quán cơm nếu bọn lính sáng có đến đó chăng. Anh sứt môi hãy còn ngái ngủ, hai tay dụi mắt, mồm ngáp dài, đứng dậy vươn vai mặc vội quần áo, lấy cái bát vục vào nồi cháo húp một bát cháo nóng rồi đi xuống núi. Ngắm sau lưng anh lính dáng điệu vạm vỡ, khỏe mạnh Vương hổ tướng nhìn theo hút bụng khen thầm anh này trung thành có nghĩa. Ngày hôm đó, Vương hổ tướng dự tính cho tập trung hết thủ hạ vào một nơi thanh vắng, hoạch định công tác, tuyển lựa những người tâm phúc làm thủ trợ để cùng mưu tính phương châm hoạt động. Chàng sẽ cất cử một số người vào các công tác khác; một bọn làm do thám, một bọn cho đi lục soát tìm kiếm thực phẩm, một số người đi hái củi, một số đảm nhiệm việc bếp nước thổi nấu, lại còn một số sửa chữa lau chùi võ khí. Mỗi người có một công tác riêng trong cuộc sống tập thể. Chàng lại nghĩ cần phải có một uy quyền nghiêm nghị, thưởng phạt công minh, tất cả bọn lính phải tuyệt đối phục tùng. Chàng nắm quyền sinh sát trong tay. Chàng lại còn dự định mỗi ngày phải để ra mấy giờ để  rèn luyện bọn người này lề lối tác chiến để khi hữu sự đượcthành thuộc sẵn. Chàng không dám phí phạm đạn dược trong lúc thao luyện. Chàng sẽ cố hết sức chỉ bảo cho bọn người này cách bày binh bố trận. Suốt cả ngày hôm đó chàng ở trên núi cố nén tâm chờ mãi đến sâm sẩm tối, có độ năm chục người lục tục kéo đến.

Ngày hôm sau thêm độ năm mươi tên nữa. Còn mấy người không thấy đến, bọn này chắc chắn đã đào tẩu. Không thấy họ đến, Vương hổ tướng có ý buồn tiếc; nhưng nỗi buồn tiếc của chàng không phải vì mấy anh lính mà chính ra chàng tiếc mất mấy khẩu súng tốt và mấy băng đạn.

Ngôi chùa đang thanh bình, tĩnh mịch, tự nhiên ở đâu kéo đến một bọn người ô hợp đóng đầy, mấy vị sư già sợ quá lo cuống cuồng không biết xử trí làm sao. Vương hổ tướng ủy lạo các vị sư đã nhiều lần, chàng bảo:

– Các ông cứ yên trí, tôi sẽ chu tất không để các ông thiệt; không việc gì phải lo sợ. Một vị sư già nhất, da thịt đã nhăn nheo, với một giọng yếu ớt, run run nói với chàng:

– Không phải chúng tôi sợ thiệt thòi mất mát gì đâu, chúng tôi cũng biết ngài phân minh không để chúng tôi thiệt hại, song ở đời cũng có những thứ không thể lấy tiền đền bù được. Ngôi chùa này ở một nơi tịch mịch cô quạnh. Chùa này được mệnh danh là An Tĩnh Tự. Bọn bần tăng chúng tôi muốn xa lánh cõi tục đến đây tu hành đã được bao nhiêu năm rồi, bây giờ thuộc hạ của Tướng Quân, một bọn còn ít tuổi, hung hãn, ham ăn thích uống làm mất cả an tĩnh, trai giới chốn thiền môn. Họ chen đẩy nhau lên cả chính điện, chỗ nào cũng khạc nhổ, đứng ngồi sỗ sàng trước các thánh tượng trang nghiêm, bất cứ chỗ nào cũng đổ nước, họ tục tằn, làm mất cả an tĩnh một nơi tôn kính.

Vương hổ tướng trả lời:

– Hay là thế này là lưỡng tiện: Các ông chịu khó hãy tạm lánh đi nơi khác đem theo cả tượng của các ông đi, chứ bảo tôi bắt nét thủ hạ của tôi thì khó lắm, lính tráng mà. Các ông khuân mấy pho tượng vào gian nhà trong, khuất đi, tôi sẽ ra lệnh cho họ không được bén mảng đến. Như thế là êm đẹp cả, có phải không?

Vị sư già nghĩ cũng không còn cách nào khác, bắt buộc phải nghe theo. Mấy ông sư hì hục khênh đi mấy pho tượng cả bệ, trừ ra có một pho lớn quá, các ông không dám khênh vì sợ lỡ tay rơi vỡ thì tội không biết để đâu cho hết. Vương hổ tướng và cả bọn kéo nhau lên ở cả trên chính điện. Các vị sư cẩn thận lấy vải phủ kín pho tượng để ngài không ngó thấy những việc tục tĩu của bọn lính.

Vương hổ tướng chọn lọc lấy ba người làm bộ hạ thủ túc: một anh lính sứt môi, một anh biệt hiệu là Diều Hâu, anh này có cái mũi kỳ lạ, đầu mũi quặp xuống cái mồm mỏng quẹt và trễ, còn một anh nữa bí danh “chọc tiết heo”. Anh chọc tiết heo người to béo, da hung hung đỏ, có cái mặt đặc sắc to và phẳng lỳ tưởng chừng như bà mụ lúc nặn cái mặt anh ta lại đem bào đi một lượt … Anh chàng này tính hay gây gổ, trước kia anh cũng làm nghề đồ tể, chọc tiết heo. Một lần cãi nhau với người hàng xóm, anh đã gây ra án mạng, giết chết người hàng xóm. Nhiều khi nghĩ lại, anh tỏ vẻ ăn năn, anh thường nói:

– Giá lúc đó tôi đang ăn cơm, tay cầm đôi đũa thì tôi cũng không giết hắn làm gì. Hắn lại cà khịa với tôi lúc tôi đang sả thịt, sẵn con dao ở tay nó bay lúc nào, tôi cũng không biết.

Anh giết người xong, anh trốn biệt để khỏi bị bắt bớ đem lên quan. Tuy tính nết anh tục tằn thô lỗ, nhưng lại có hoa tay, nhanh mắt. Ruồi đang bay anh chỉ lấy một chiếc đũa, anh chém đứt đôi hết con nọ đến con kia. Nhiều khi để giải trí tiêu khiển các bạn đồng ngũ lại nhờ anh dở cái trò chém ruồi ra mua vui. Họ thích lắm rộ lên cười và tấm tắc khen  biệt tài của anh. Cái thuật đâm, chọc tiết người anh cũng tài tình, nhanh tay nhanh mắt lắm.

Cả ba anh này rất quỷ quyệt, tuy không có một anh nào đọc hay viết được một chữ. Vả chăng cái nghề của bọn này cần gì phải học với hành, sách với vở, bọn họ cũng cho học là thừa, vô ích. Khi đã chọn được vài thủ hạ tay chân, Vương hổ tướng cho gọi cả vào buồng và bảo:

– Tôi coi ba anh là người thân tín nhất, các anh coi chừng bọn lính đứa nào tà tâm, bội phản hay bất tuân thượng lệnh, các anh nhớ khi tôi thành công, tôi sẽ ân thưởng cho các anh xứng đáng.

Chàng cho anh Diều Hâu và Chọc Tiết Heo ra ngoài, giữ anh Sứt môi ở lại và bảo:

– Tao cắt mày phải coi chừng cả hai thằng kia nữa, mày phải để ý xem hai đứa có thực tâm với tao không?

Rồi chàng lại gọi cả ba người đến trước mặt, dõng dạc bảo:

– Bất cứ ai, nếu ta nghi manh tâm làm phản, ta sẽ cho biết lưỡi gươm ta. Ta chém một nhát, chết không kịp ngáp.

Để an tâm chủ tướng, anh sứt môi đỡ lời:

– Xin chủ tướng an tâm, con xin tuyệt đối phục tòng.

Hai anh chàng kia cũng xin thề tỏ lòng trung kiên. Anh Diều hâu nói lớn hơn cả:

– Con không bao giờ quên chủ tướng đã kết nạp con và cất nhắc cho con.

Hắn nói thế, thâm tâm hắn ngụ ý hy vọng sau này. Ba anh đứng ngay ngắn, cúi gập đầu xuống kính cẩn chào chủ tướng tỏ lòng cung kính và trung kiên tuyệt đối. Vương hổ tướng kén trong bọn thuộc hạ, mấy người khôn ngoan, lanh lợi, xảo quyệt tung ra khắp vùng để dò la thám thính sào huyệt đối phương.

Chàng ra chỉ thị cho bọn này:

– Các ngươi phải cấp tốc cố gắng, khám phá bí mật đối  phương làm thế nào đến đầu mùa rét năm nay chúng ta đến chiếm cứ nơi đó. Các ngươi phải dò la quân lực, võ khí của tên Tám Beo, số thuộc hạ hắn kết nạp được bao nhiêu? Khi các ngươi có gặp bọn thuộc hạ của hắn các ngươi phải lựa lời đưa đẩy chuyện trò làm quen, dò xem ý tứ có trung thành với chủ tướng họ không, mình có thể mua chuộc kết nạp họ được không? Ta sẽ mua, kết nạp hết, ta trọng sinh mạng các ngươi hơn tiền bạc, ta không muốn phí phạm sinh mạng các ngươi nếu ta tìm được kẻ khác thay thế các ngươi.

Ba anh chàng được chỉ định đi do thám bèn cởi bỏ quân  trang chỉ còn mấy chiếc áo rách lót mình ở trong. Vương hổtướng cho họ ít tiền để mua mấy chiếc áo thường mặc ngoài.  Bọn này xuống núi, vào các làng, đến các hàng bán quần áocũ mua hết mấy xu mấy chiếc áo cũ rách của nông phu hay mấy người nghèo khó đem cầm, bỏ, không có tiền chuộc. Ăn mặc trá hình xong, ba anh này đi lang thang khắp vùng, họ la cà các quán cơm nhà trọ, các bàn đánh bạc, các cửa hàng, chỗ nào họ cũng để tai nghe ngóng. Đi dò la ít lâu họ trở về tường thuật công tác lên chủ tướng.

Vương hổ tướng được biết dân cư cả vùng chán ghét, ghê sợ Tám Beo, một anh đầu trộm đuôi cướp, côn đồ. Năm nào hắn cũng yêu sách dân cư nhiều quá chỉ còn thiếu chưa đến phá nhà, chiếm ruộng nương đất cát của dân, hắn viện lẽ mỗi năm số thuộc hạ kết nạp càng đông cần để bảo vệ an ninh dân chúng khỏi bị đạo tặc cướp bóc; dân chúng phải đóng góp thù lao hắn. Số lâu la thuộc hạ của hắn càng ngày càng đông thật: bọn vô lại ăn không ngồi rồi ở trong vùng, bọn phạm nhân lẩn tránh vào núi Lưỡng Long đến quy nạp ở dưới trướng Tám Beo, bọn trai tráng khỏe mạnh, sức vóc được đắc dụng, bọn yếu đuối ươn hèn cũng được thu nạp để phục vụ cho bọn cường tráng. Cũng có đàn bà đến xin nhập ngũ, bọn đàn bà gan dạ, chồng chết không đếm xỉa đến tiếng tăm dù tốt hay xấu. Lại cũng có cả đàn ông dẫn theo cả vợ đến xin nhập bọn. Mấy người đàn bà lạc lõng họ bắt được đem về làm thú tiêu khiển cho bọn đàn ông. Kể ra Tám Beo cũng giữ được an ninh trong vùng, bọn côn đồ đạo tặc không dám bén mảng quấy nhiễu. Tuy nhiên, dân chúng oán hận, căm hờn, họ khổ tâm phải cung phụng một tên đầu dọc  cường bạo. Nhưng dù muốn dù không, dân chúng vẫn phảichung lưng đấu cật đóng góp để được yên thân vì một tấc sắt trong tay không có. Xưa kia dân chúng có thể nổi lên chống chọi lại, họ dùng đinh ba, liềm, dao lớn dao nhỏ, hay một vật gì khả dĩ làm vũ khí tự vệ, bây giờ không thể được, mấy thứ vũ khí thô sơ chống đối làm sao được với súng ống làm ở ngoại quốc của bọn cường bạo. Gan dạ cũng không làm gì, uất hận cũng không làm gì, trước họng súng có tầm hoạt động xa và khốc liệt.

Khi Vương hổ tướng hỏi quân số Tám Beo có độ bao nhiêu, bọn do thám nhao nhao nói rất hồ đồ, có anh nghe phong thanh được năm trăm, có anh phỏng độ hai ba nghìn, lại có anh cả quyết đến hơn một vạn. Vương hổ tướng không sao biết rõ quân số đối phương nhưng có điều chắc chắn là họ có nhiều thủ hạ hơn mình. Về điểm này, chàng suy nghĩ rất nhiều, chàng tính cần phải dùng mưu trí, trận cuối cùng quyết phân thắng bại mới dùng đến súng, nếu làm thế nào không phải dùng đến súng càng hay. Chàng vừa suy nghĩ vừa nghe mấy anh lính nói huyên thuyên, chàng cũng hiểu, khi người ta không có học lúc nào hứng chí theo đà hay nói phóng đại. Anh lính có tính hay cười, anh này đã mệnh danh  chủ tướng là “Hắc Mi Hổ Tướng” cố dằn giọng cho thật to,huếch hoác nói:

– Như con, con chả biết sợ là cái gì, con đi thẳng một  mạch lên đến tỉnh, con lên tận Phủ, con thấy chỗ nào nói đến Tám Beo ai cũng ghê sợ. Hàng năm, cứ đến gần Tết, Tám Beo bắt bọn con buôn phải cống cho hắn một số tiền lớn, nếu không hắn đem bọn côn đồ phá tan tỉnh. Con gặp thằng cha bán bánh rán nhân thịt, thật quả con chưa được ăn bánh rán nào mà ngon đến thế bao giờ … Thưa chủ tướng ở đây họ nuôi  lợn béo lắm, họ xào nấu, phi tỏi thơm điếc mũi, giá bọn ôngcon mình lên đóng ở đấy thì hay quá … Con hỏi anh ta: “Thế sao quan không đem quân đánh tan tụi nó đi cho rồi lại cứ để cho tụi nó ngang nhiên hoành hành thế?”. Thằng cha bán bánh rán kể cũng hậu hĩ … nó thêm cho con một mẩu bánh vỡ, nó bảo con: “Lão Phủ, suốt ngày chúi đầu vào thuốc phiện, nhìn thấy bóng cũng sợ, nuôi được một anh tướng tiếc gì để trông nom bọn lính, thằng cha này chẳng biết trận mạc đánh nhau là cái cóc gì, vác khẩu súng không nổi … tính lại cục cằn, cáu kỉnh, chỉ chăm chăm làm đồ ăn món nhắm, còn muốn ra sao mặc kệ! Anh đã trông thấy bọn lính của lão Phủ chưa? Hắn ta nuôi bọn lính để bảo vệ cho hắn, lúc nào cũng dấm dúi tiền cho bọn này chỉ sợ tụi nó quay lại làm phản hay bỏ đi theo người khác. Hắn chỉ lấy tiền làm rẫy, tiêu tiền như rác. Hắn sợ Tám Beo ghê lắm, cứ mới nghe nói tên Tám Beo hắn đã hết vía rụng rời, run lên như cày sấy, chân tay bủn rủn, năm nào hắn cũng kiếm một cái lễ lớn đem cúng Tám Beo để cho nó đừng động chạm đến hắn!”. Anh chàng bán bánh nói xong thì cũng vừa lúc con nhai xong mấy chiếc bánh, con xem chừng giá có mua một chiếc bánh nữa, hắn cũng không thêm, con lảng sang nói chuyện với lão ăn mày ngồi ở xó tường đang bắt rận. Lão già này cũng vào tay lý sự, suốt đời sống về nghề hành khất trong tỉnh. Lối bắt rận của hắn cũng tài tình lắm, hắn cắn đánh soạt một cái, rận lớn, rận nhỏ chui ra hết, hắn cắn đôm đốp giòn tan. Thật quả hắn chuyên môn ăn rận, người lại béo tốt khỏe mạnh. Con lân la hỏi dò về lão Phủ, hắn bảo con nghe đâu năm nay lão Phủ cũng định liều, vì đã đến tai quan trên cho hắn dung túng một côn đồ ngang nhiên hoành hành quấy nhiễu.  Nhiều người thèm muốn địa vị hắn, muốn hất cẳng hắn, tốcáo hắn lên tận thượng tòa hắn ươn hèn, nhút nhát, không được tích sự gì. Nếu cha này bị cách chức thì có đến mười hai người tranh giành nhau, vì vùng này màu mỡ, miếng gan miếng tiết, kiếm chác được. Dân nghe nói những chuyện lôi thôi, có khi lão Phủ bị hất cẳng, họ bàn tán: “Bao nhiêu lâu nay bọn mình đã phải cung phụng thằng cáo già kể ra bây giờ hắn cũng không đục khoét lắm như khi mới đến, nếu có thằng cha nào mới háu ăn, vơ vét có khi còn khổ hơn thế này nữa”.

Vương hổ tướng để cho bọn thủ hạ tha hồ nói (tụi này chắc cho chàng chí lự cũng như họ) nghe thấy gì, trông thấy  gì kể ra vanh vách hết, thỉnh thoảng lại pha trò, ồ cả lên cười, anh nào cũng khấp khởi mừng thầm, họ tưởng chừng chàng cũng khoái nghe chuyện lắm. Đi công tác anh nào cũng được ăn uống đầy đủ, phè phỡn hoa cả mắt thấy xóm làng trù phú, đất cát phì nhiêu. Dân vùng đó bị một cổ hai  tròng, Tám Beo và lão Phủ như hai con đỉa lớn hút máu hút mủ, tuy thế mặc dầu vẫn sung túc, đủ ăn có phần dư dật, cũng nhờ đất cát phì nhiêu, hoa lợi nhiều. Chàng lẳng lặng nghe bọn thuộc hạ nói, nhiều câu vớ vẩn không bổ ích gìnhưng thỉnh thoảng cũng chọn lọc được những chi tiết cần thiết, khác nào người bới rơm nhặt thóc, chàng tinh quái ranh mãnh, bọn thuộc hạ còn kém xa.

Khi tụi lính vừa nói hết chàng nghĩ đến câu: “Lão Phủ chỉ lo bị hất cẳng”, về câu này chàng nghĩ lung lắm, chàng cho đó là tất cả bí quyết thành công trong cuộc phiêu lưu mạo hiểm, lão già ốm yếu này sẽ là cái bàn đạp cho chàng để nắm trọn quyền hùng cứ cả vùng. Căn cứ vào lời của bọn lính do thám, Tám Beo cũng không có gì đáng ngại lắm như chàng dự tưởng. Chàng định cho một thám tử vào tận sào huyệt của chúng, xem rõ Tám Beo có bao nhiêu bộ hạ; thực lực của hắn thế nào.

Chàng đưa mắt nhìn một lượt bọn lính đang ngồi ăn cơm chiều, gặm một mẩu bánh khô, húp một bát cháo. Suy nghĩ một lúc lâu chưa biết chỉ định ai, chàng xem không có mặt nào khôn ngoan lanh lợi để giao phó cho đi công cán. Chàng sực nghĩ đến thằng Rỗ, thằng cháu vẫn đi theo hầu  chàng. Nghĩ thế, không nói năng gì, chàng thủng thẳng đi vào buồng, thằng Rỗ đang ăn, thấy chàng vào buồng vộivàng đứng dậy theo sau; nó có bổn phận chàng đi đâu nó phải tùy tùng theo sau. Vào trong buồng, chàng đóng cửa, đứng sát vào thằng bé, bảo:

– Tao sai mày một việc mày có đủ can đảm làm được không?

Thằng bé mồm hãy còn đầy cơm, vừa nhai vừa nói:

– Thì chú cứ nói đi, làm được hay không chú sẽ biết.

Vương hổ tướng thủng thẳng nói:

– Ừ tao cũng thử mày xem sao. Mày lấy một cái súng cao su thứ trẻ con vẫn đi bắn chim, mày đi lên ngọn núi Lưỡng Đỉnh, mày làm thế nào chiều tối mày có ở trên đó, làm như bị lạc quên mất lối về, sợ thú dữ, đến cửa sào huyệt của chúng, mày khóc rống lên. Tụi nó nghe tiếng khóc, mở cửa cho mày vào, mày nói là con một nông phu ở phía bên kia thung lũng, mải đi bắn chim, trời tối lúc nào không biết bị lạc, mày xin vào “chùa” ngủ trọ một đêm. Nếu tụi nó không cho vào, mày vật nài xin một người chỉ đường cho mày đi hết con đường quanh doanh trại của tụi nó, mày phải giương to đôi mắt để ý quan sát xem tụi nó có độ bao nhiêu người, bao nhiêu súng ống, thằng Tám Beo hình thù nó thế nào mày để ý xem xét dò la rồi về bảo tao. Liệu như thế có thể làm nổi được không? Vương hổ tướng giơng to hai con mắt đen lanh nhin thằng bé; mặt thằng nầy đang hồng hào, tái dần lại,  những nốt rỗ hiện rõ như những vết sẹo trên mặt, nó thở hổn hển nói với một giọng rất quả quyết:

– Có thể, cháu làm được.

Chàng nghiêm nét mặt, bảo:

– Tao chưa sai bảo mày việc gì bao giờ, cái tính phường chèo của mày may ra bây giờ tao dùng được việc. Nếu mày không khéo, tùy cơ ứng biến mà lỡ để lộ chân tướng, có làm sao là tại mày nghe không? Nhưng coi bản mặt ngu ngốc của mày mà mày cũng khéo giả vờ giả vịt, tao mới sai mày việc đó. Mày phải làm như một thằng bé ngớ ngẩn, ngu độn, mọi việc sẽ trôi hết. Nói dại, nếu tụi nó bắt, nó giết, mày có sợ chết không? Có câm được miệng không?

Mặt thằng bé đang tái xanh lại đỏ ửng dần, nó cố vươn  người cho cao thêm trong bộ quần áo thô kệch bằng vải bôngmàu chàm, với một giọng hùng dũng quả cảm, nó nói:

– Chủ tướng thử cho con đi một chuyến xem sao!

Nghe nói thế, chàng đẹp lòng, bảo:

– Thằng nầy kể cũng gan dạ. Đây là một cuộc thử thách nếu mày làm được trôi chảy, mày sẽ xứng đáng để tao thăng trật.

Nhìn thằng bé, chàng hơi nhếch mép cười, một người như chàng, tâm hồn cứng rắn ít khi bị kích thích rung động; giờ đây đứng trước thằng bé chàng thấy lòng bồi hồi cảm xúc, không phải vì lòng trắc ẩn, luyến ái với đứa cháu, kể ra chàng không ưa gì nó, chàng mơ màng ước vọng có một đứa con trai, đứa con của chàng không phải như thằng này mà một đứa trẻ: cường tráng, trung trực và nghiêm nghị.

Chàng cho thằng Rỗ cải trang làm một đứa trẻ nông phu quấn ở quanh mình chiếc khăn lớn, cho nó đôi giày cũ vì đường xa và trèo núi đá. Nó chặt cành cây lấy cái chạc làm một chiếc súng sao su. Nai nịt gọn gàng, nó rảo bước xuống núi đi khuất vào rặng cây.

Trong hai hôm thằng Rỗ ra đi chàng xếp đặt cắt cử bọn lính mỗi người mỗi việc, không để cho bọn này ăn không ngồi rồi sợ sinh biến. Chàng sai bọn lính tâm phúc vào các xóm mua thóc, mua thịt. Chàng cẩn thận cho đi từng bọn nhỏ, riêng biệt mỗi người mua một ít để tránh những con mắt tò mò, ngờ vực mua nấu ăn cho hàng trăm người. Thằng Rỗ đi được hai hôm, chiều hôm sau chàng ra ngoài cổng chùa, nhìn xuống bực thang núi ngóng xem nó đã về chưa? Trong thâm tâm, chàng lo cho số phận thằng bé, chàng tưởng chừng nó bị đánh đập, tra khảo không khéo chết mất. Trăng đã lên cao, chàng thấy lòng ăn năn, hối hận, nhìn về ngọn núi Lưỡng Đỉnh, chàng lẩm bẩm một mình:

“Biết thế mình sai một người lớn đi, lỡ có chết cũng không sao, dại quá lại sai thằng bé con anh mình. Nếu nó bị đánh đập tra khảo, thằng bé mà chết, mình sẽ xử trí với anh làm sao? Nhưng, nghĩ khó quá, việc này trừ người máu mủ than thích, không thể giao phó cho ai được”.

Bọn lính đi ngủ đã lâu, trăng đã lên quá ngọn núi, lơ lửng trên bầu trời, chàng vẫn thức, vẫn chờ, thằng bé vẫn biệt dạng chưa về. Đêm đã khuya, gió núi đã thấy lành lạnh, chàng quay gót trở về phòng. Chàng cảm thấy tâm hồn nặng trĩu, chàng thấy vắng vẻ mà cũng đáng tiếc, một thằng bé  tính nết vui vẻ, một thằng hề, không ai có thể tức giận nó được.

Về quá nửa đêm, chàng nằm ở giường vẫn thao thức chưa ngủ, chợt nghe như có ai gõ cửa rất khẽ, chàng vùng trở dậy đi ra. Khi chàng vừa nhắc toang chiếc cửa, thằng bé đã hiện ở trước mặt chàng. Nó có vẻ mệt nhọc lắm nhưng vẫn tươi cười. Nó khập khễnh bước thấp bước cao đi vào, ống quần bị rách toạc từ đùi trở xuống, những vết máu chảy xuống chân đã khô. Tuy thế nó vẫn tươi tỉnh, vẫn vui như  thường. Với một giọng đầy mệt nhọc, nó nói:

– Thưa chú, cháu đã về.

Vương hổ tướng bật buồn cười không nói gì, chàng xưa nay bao giờ cũng thế. Một lúc, thấy lòng vui vui, với một giọng cộc cằn, cộc lốc chàng hỏi:

– Đùi mày làm sao?

Thằng bé, nhẹ nhàng trả lời:

– Không sao ạ.

Vương hổ tướng lòng mừng quá, nói một câu pha trò (đời chàng ít khi nói bông đùa).

– Thế không phải beo cào mày hở?

Thằng bé nghe nói rộ lên cười, nó biết chú nó pha trò cười, nó ngồi xuống bực thềm chùa, nói:

– Không phải beo cào đâu chú ạ, cháu ngã vào bụi cây, đường đi rêu quá, ẩm ướt, trơn lắm. Cháu bị vướng vào bụi cây rách cả quần, toạc cả da, cháu đói quá chú ạ!

– Vào ăn uống xong rồi đi ngủ, mai kể chuyện tao nghe.

Chàng bảo thằng bé vào buồng, chàng gọi anh lính, tiếng hét to như sấm vang, đem cơm nước lại ngay cho thằng Rỗ. Nghe tiếng chàng, bọn lính lổm ngổm dậy hết, kéo cả ra  ngoài sân sáng trăng, ai cũng nóng muốn nghe thằng bé đido thám về kể chuyện. Chàng thấy thằng bé ăn uống đã no nê, coi bộ nó đang hứng chí, có vẻ vênh váo tự đắc, đi về trót lọt, được công được việc, chàng bảo:

– Thôi mày kể luôn chuyện đi, rồi hãy đi ngủ.

Thằng bé ngồi dưới bàn thờ, trước pho tượng phủ kín, nó nói:

– Cháu đi xa lắm, cháu đi mãi, leo lên tận đỉnh núi, cao có lẽ đến hai lần ở đây. Thưa chú, tụi nó ở tít mãi trên ngọn núi, một thung lũng tròn như miệng bát, cháu ước gì sau này giá chúng mình chiếm cứ được vùng này, kéo cả lên ở thì thú quá, ở đấy nhà cửa san sát như một cái làng nhỏ. Cháu

làm theo đúng như lời chú dặn. Xâm xẩm tối, cháu ở đấy, khập khà khập khễnh vừa đi, vừa khóc, cháu đem theo mấy con chim bị bắn chết ở dọc đường. Chú ạ, chim ở núi ấy, long màu sắc đẹp lạ. Có một con, lông ở lưng vàng ửng, óng ánh như vàng khối, cháu hãy còn giữ được, đẹp quá chú ạ …

Nó vừa nói vừa rút ở bọc ra con chim lông vàng nó giơ cao lủng lẳng ở tay. Vương hổ tướng nóng ruột muốn nghe nó tường thuật, chàng bực mình nghe chuyện trẻ con, chuyện con chim chết, nhưng chàng cũng cố nén lòng không cắt lời nó, thằng bé đang hứng thú kể chuyện.

Thằng bé đặt cẩn thận con chim lên bệ, cạnh nó, nhìn các anh lính đang chăm chú nghe nó nói; sau lưng nó, có một ngọn đuốc nhỏ, chàng cho đốt cắm ở bát hương trên bàn thờ.

Thằng bé lại tiếp tục kể chuyện:

– Thế rồi, tụi nó nghe thấy cháu gõ cửa, một thằng ở trong nhà chạy ra mở hé cửa dòm xem ai. Cháu van nài tụi nó:

– Các ông ơi! nhà tôi ở xa lắm, tôi lang thang đi chơi, mải bắt chim, đi xa quá, bây giờ trời tối, ở ngoài này tôi sợ thú  rừng. Các ông làm phúc cho tôi vào ngủ đỡ một đêm ở trong”chùa”.

Thế rồi cái thằng cha ra mở cửa lại đóng lại, chạy vào có lẽ nói với người nào trong nhà. Cháu ở ngoài cứ rên, khóc, cháu cố rặn, khóc thật to, thật thảm thiết. Nói đến đây, thằng bé ôm mặt, giả vờ hu hu khóc, rên rỉ, cả bọn cười, coi bộ cảm phục nó lắm, xì xào nói:

– Con bú dù! Thật thằng quỉ sứ rỗ mặt!

– Thế rồi, lúc họ cho cháu vào, cháu làm bộ ngơ ngác, tụi nó cho một miếng bánh, một bát cháo, ăn xong cháu làm bộ sợ quá, làm như hiểu chỗ ấy là chỗ nào, cháu lại kêu rống:

“Thôi tôi đi về, tôi sợ lắm, các ông kinh lắm, tôi sợ ông Tám Beo lắm!”, vừa nói cháu vừa chạy ra cửa. “Thôi, tôi cũng liều ra ngoài rừng đêm nay, cọp muốn ăn thịt thì ăn!”.

Tụi nó nghe cháu nói thế, rộ lên cười, thấy cháu ngơ ngơ ngác ngác, sợ hãi, tụi nó vỗ về bảo: “Oắt con, mày tưởng chừng ông ăn thịt mày hở? Nhặng xị cả lên, cho ngủ đây, mai cút về sớm”.

Một lúc sau, cháu không kêu khóc nữa giả vờ như đã quen quen, không sợ nữa. Tụi nó hỏi ở đâu đến,cháu kể đại tên một cái làng nghe lỏm được ở bên kia núi. Tụi nó hỏi có nghe dân cư bình phẩm tụi nó không? Cháu bảo nghe họ đồn ở đây toàn các vị hảo hán cả, vị tướng cai quản ở đây hình thù kinh dị lắm, đầu báo mình người, cháu bảo: “Tôi ước ao được xem ông Tám Beo, nhưng nghĩ thế, giá có nom thấy tôi đến chết khiếp”. Tụi nó nhìn cháu cười ồ cả lên, một thằng nói: “Vào đây, tao đưa mày đi xem ông Tám Beo”. Nó dắt cháu đến một cửa sổ, cháu đứng nấp ở xó tối nhìn vào gian phòng trong thắp đuốc, Tám Beo ngồi ở đó. Thằng này hình thù kỳ dị lắm chú ạ, dáng điệu nó như con beo, nó đang uống rượu với một mụ đàn bà. Con mụ này coi cũng dữ lắm, nhưng đẹp, hai đứa uống chung nhau một cái lọ sành, thằng cha uống trước con mụ uống sau.

Vương hổ tướng hỏi:

– Ở đấy tụi nó có độ bao nhiêu người, bao nhiêu súng?

– Úi chà! nhiều lắm, chú ạ, đông có lẽ gấp ba ở đây, gia đình, đầy tớ vô kể, đàn bà trẻ con, cũng nhiều, nó chạy đi  chạy lại lăng xăng, có nhiều đứa bằng cháu, cháu hỏi một thằng, bố nó đâu, nó bảo nó không biết, chúng nó không biết bố là ai, chỉ biết có mẹ. Cháu nghe lạ tai quá, tụi lính đứa nào cũng có súng, bọn đầy tớ có câu liêm, lưỡi liềm đoản đao và mấy thứ vũ khí cổ lỗ. Ở trên núi xung quanh sào huyệt của chúng có xếp những tảng đá lớn, tròn, phòng khi bị công hãm, tụi nó lăn đá xuống. Có một con đường nhỏ, độc đạo, rãi rác có lính gác. Khi cháu đi qua chỗ một anh lính gác, hắn nằm vật trên tảng đá ngủ mê mệt súng vứt một bên. Cháu đi sát bên cạnh nó, nó cũng không biết, nó ngáy to lắm, khẩu súng giá cháu phỗng đi cũng được nhưng cháu không dám, sợ tụi kia nó biết, nó đoán cháu đi dò la thám thính.

Chàng hỏi:

– Mày xem tụi lính có khoẻ mạnh cả không?

– Cũng khá, có thằng lớn, có thằng nhỏ. Cơm nước xong, chúng nó châu đầu vào nhau chuyện gẫu, không để ý đến cháu, cháu chơi với tụi trẻ, cháu để ý nghe tụi nó than phiền Tám Beo, tụi nó bảo nhau Tám Bao tham lam lắm, gấp năm vơ mười, bắt được gái đẹp, không chia sẻ cho ai, giữ chơi một mình, chơi chán chê cũng không buông thả cho người khác hưởng. Đáng lý cùng đồng bọn cả, có gì ngon lành phải chia đều cho anh em hưởng chung, nó tự cao tự đại mà bất quá nó xuất thân cũng là một anh bạch đinh, dân quèn chữ nghĩa mù tịt, kể anh em mình còn có người giỏi hơn nó nhiều.

Nghe câu đó, Vương hổ tướng, để ý suy nghĩ, thằng bé tiếp tục kể hết chuyện này sang chuyện khác, đã được ăn gì uống gì, ý nó muốn khoe khoang nó khôn ngoan tinh quái. Vương hổ tướng tai nghe, óc nghĩ khởi thảo kế hoạch, thằng bé kể đã hết chuyện, bây giờ nó chỉ lắp đi lắp lại mấy mẩu chuyện đã nói, cố moi trong óc còn sót chuyện gì thú vị để làm quà cho tụi lính, tụi này trố mắt, vểnh tai, thán phục thằng bé tài tình, hóm hỉnh.

Vương hổ tướng đứng dậy, ra lệnh thằng bé vào ngay nhà trong đi ngủ. Sáng đã trông rõ mặt người, bọn lính anh nào, việc nấy. Ngọn đuốc cháy đã gần tàn ngọn lửa chập chờn, yếu ớt trong ánh sáng bình minh.

Chàng đi thẳng vào gian phòng riêng, cho gọi bọn thủ hạ, tâm phúc, chàng nói: “Ta đã suy nghĩ, dự thảo kế hoạch có thể thực hiện được, không tốn một tên quân, một viên đạn, chúng mình cố tránh không nên giao phong, nếu giao phong với tụi nó là thất sách, quân số nó đông hơn mình gấp bội. Kế hoạch ta đem thi hành khác nào như người đánh rết.  Đánh dập đầu con rết, mấy hàng chân của nó sẽ bị tán loạn,mỗi chân một nơi, bất lực, vô hại. Bọn vô lại này ta đánh dập đầu thằng trùm, tụi lâu la sẽ bị tan rã.

Bọn lính hết sức kinh ngạc một việc quá ư táo bạo, trố mắt nhìn chủ tướng. Anh “chọc tiết heo” bô bô nói, giọng cục cằn, thô lỗ:

– Chủ tướng! nếu được thế thì hay lắm, nhưng làm sao bắt được con rết mà đòi đánh dập đầu nó?

Vương hổ tướng ung dung trả lời:

– Về điểm đó, ta đã nghĩ rồi, ta đã có phương pháp kế  hoạch hành động, các anh chỉ có phụ lực với ta để đem thựchiện. Chúng ta sẽ cải trang làm bọn anh hùng hảo hớn, chúng ta đến tìm lão Phủ và bảo với hắn bọn mình là giang hồ nghĩa hiệp, xin phục vụ dưới trướng, sung vào đội quân mật vụ, cảnh vệ, tình nguyện diệt trừ lũ Tám Beo. Hiện giờ hắn đang lo ngay ngáy địa vị hắn đang bị lung lay. Hắn sẽ hoan nghênh sự giải ách cứu nguy của bọn mình. Ta sẽ bày cho hắn dùng xảo kế nghị hòa với bọn vô lại, để tỏ tình than thiện mở đại yến cho mời Tám Beo và bọn thủ túc đến phó hội. Giữa bữa tiệc, lão Phủ chọn lúc nào cơ hội thuận tiện ra ám hiệu, giả vờ lỡ tay đánh rơi chén rượu, bọn mình nấp kín quanh đó nhẩy xổ vào tận diệt bọn cường bạo. Ta cho rải khắp tỉnh bọn lính để tỉa những bọn lâu la dư đảng của chúng, đứa nào không chịu quy thuận. Như thế, ta sẽ đánh dập đầu con rết, kế hoạch cũng không khó khăn gì lắm mà không thực hiện được.

Ba anh lính tâm phúc nghĩ như vậy cũng có lý, có cơ thành tựu, tỏ ý khâm phục, tán thành. Thầy trò còn bàn cãi thêm về mấy điểm thắc mắc về phương pháp hành động.

Vương hổ tướng cho bọn này ra và cho tập trung hết bọn thủ hạ ở gian chính điện. Chàng đề phòng cho mấy anh lính tâm phúc xem bọn sư có lảng vảng nghe ngóng gì không? Chàng  giải thích, vạch rõ, cho cả bọn thủ hạ hiểu chương trình hành động.

Bọn này nghe xong đồng thanh tán thưởng:

– Hoan hô! Hắc mi Hổ tướng!

– Hoan hô! Hắc mi Hổ tướng!


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply