Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vietmessenger.com

Post by Sơn râu 2 Aug 2025

Kỳ 10.

Trời đất! Giữa lúc cái ruột tượng cũng như cái bao tử của mình sắp thủng ra rồi mà lại được đi lãnh gạo thì chằng khác nào chiêm bao. Tôi tưởng đâu là ai nói láo. Nhưng sự thật là cậu Tấn đang đứng tước mặt tôi đập đập đầu võng và nói:

– Đi! Đi! Có gạo rồi.

Tôi đưa mắt nhìn quanh tôi. Lúc nhúc, lô nhô, loi nhoi trên những cái võng, những sinh vật bắt đầu ngóc dậy, nghển lên như những chú tằm đang ửng bụng trong nong mà nghe hơi dâu phất qua. Tôi nhìn sang ông Chín, thấy ông đang sửa soạn ruột tượng.

Tôi nói:

– Phen này là hết lo rách bao tử rồi ông Chín ơi!

– Sao, cái gì mà rách bao tử?

– Không rách thì thủng.

– Các đồng chí toàn nói chuyện bi quan.

– Có gạo rồi, thôi bây giờ lạc quan. Năm Cà Dom cười ré lên và rứt những chú vắt vứt đi. Lạc quan nè, lạc quan nè, một, hai, ba. . . hé hé hé! Thế đó lạc quan chưa?

Ông Chín không đáp. Nhưng Năm Cà Dom lại muốn gợi chuyện. Năm Cà Dom nói:

– Nhưng mà lội qua khỏi khúc đường vừa rồi chắc chắn có đứa bị ghẻ Tàu. Bởi vì vắt cắn chảy máu. Rồi vi trùng đột nhập vào. Cha chả ở trên con đường hắc xì dầu này mà bị một mụn ghẻ Tàu thì khổ sống lắm. Nó khoét tới xương.

Tấn giục:

– Thôi đi! đi! Người ta đi ào ào rồi kia kìa. .

– Đi thì đi. Nói vậy nhưng tôi trông thấy Thu vẫn ngồi ỳ trên võng.

Thu sịt mũi. Đôi mắt Thu đỏ hoe. Khổ quá. Lúc nào cũng có thể khóc, Thu tưởng như khóc để trút hết mọi nỗi niềm. Cho nên hễ khi đau khổ, bực tức, Thu đều khóc. Bây giờ được tin có gạo và chuẩn bị lãnh gạo, Thu cũng khóc.

Tôi biết Thu khóc không phải vì sung sướng mà vì không đi được. Cơn đau suốt mấy ngày qua của Thu kéo lê trong mưa và dầm dưới nước bây giờ trở nên trầm trọng. Thu sốt, nhưng không phải sốt rét. Ở giữa chốn này mà sốt như vậy, biết lấy gì mà trị?

Tôi bảo Thu:

– Em đưa ruột tượng đây anh đi lãnh gạo cho. Em ở nhà coi ba lô cho anh và anh Năm.

Thu nhìn tôi với cặp mắt van lơn, phó thác, và tuyệt vọng.

Tôi và Năm Cà Dom vắt ruột tượng trên mỗi vai một cái, lòng thòng phía trước, lòng thòng phía sau. Năm vừa đi vừa hỏi tôi:

– Cậu có nghe ống chân cậu như thế nào không?

– Ngứa.

– Xem tớ đây này…

Tôi nhìn cặp chân của ông bác sĩ Cà Dom tuy đã gầy đi nhiều nhưng vẫn còn dáng dấp khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Trên làn da vàng sậm những vết đỏ bầm nổi lên và những làn trầy sướt vì móng tay quàu. Năm Cà Dom nói:

– Cái lá mục ở rừng này độc thật.

Chúng tôi đi lẫn trong các dãy người nối đuôi nhau như kiến từ trong rừng đổ ra con đường mòn càng lúc càng đông hợp thành một chuỗi người càng lúc càng dài và càng dày.

Người ở đâu mà đông thế. Té ra vì kẹt đường mà họ bị dồn cục lại ở đây chờ lãnh gạo. Gạo ở đâu mà phát cho đủ kia chứ? Gạo ở đây tải từng kí lô, bằng vai, bằng xe thồ xe ba gác thì lấy đâu được nhiều?

Tôi đi, không cần hỏi đường, cứ lầm lũi đi như cái wagon xe lửa, cái trước lăn thì cái sau cũng lăn theo. Vì vậy cho nên hễ người kéo ngọn đi không kịp giao liên thì cả đoàn ở phía sau bị lạc hết. Có lần tôi suýt bị thiên hạ đánh vì tôi làm “đứt đuôi” không bám kịp người đi phía trước, cho nên đến ngã ba, thay vì rẽ vào ngả này, tôi lại rẽ vào ngả kia đi mãi, giao liên ở phía trước chờ không thấy đoàn tới bèn quay trở lại mới hay tôi đưa khúc sau vào tử địa.

Nhưng ở đây thì không sao, đường lên kho gạo chỉ hai tiếng đồng hồ thôi. Có lần tôi đã đi mất một ngày để lãnh mười sáu kí lô gạo, sáu giờ sáng đi, năm giờ chiều mới về tới nơi. Mệt hơn lần này nhiều. Lần này chúng tôi phải qua mấy con suối, leo một cái dốc đứng mất bốn mươi lăm phút, xuống hết cái dốc đó, rồi đi ngang một chập nữa thì thấy có người vác những cái ruột tượng căng rướn đi ngược chiều chúng tôi.

Thì tôi biết rằng mình còn cách sống được.

Kho gạo lợp toàn ni lông xanh, nóc đứng như nóc nhà người Thượng nhô lên trong những hàng cây rừng, và tiếng người rào rào như ong vỡ tổ Thấy đó nghe đó nhưng đi tới thì hãy còn khướt.

Cái dốc cuối cùng là cái dốc cao nhất. Nhưng rồi cũng đến nơi. Một quang cảnh lạ bày ra trước mắt tôi.

Người ta ngồi la hệt dưới đất, trên rễ cây. Đất nhẵn như nền nhà. Một con voi to sầm đứng bên một ngôi nhà đang vung vít cái vòi. Mấy người đứng xa chỉ chỏ ngắm nghía nó.

Tôi có cảm tưởng là tất cả miền Bắc đã kéo hết vào đây. Vậy mà gạo đào đâu ăn cho đủ? Chỉ khổ thân con voi to tát kia, và mấy chiếc xe ba gác chõng gọng kêu trời không thấu đó.

Người ta đang bu lại phía kho gạo, vây quanh những bao gạo có lẽ vừa mới được chở tới.

Tôi đi về phía đó và cố đi rấn ra đằng sau một chút để tìm xem bằng con đường nào mà xe tải gạo tới đây như vậy. Thì có người quát:

– Đi đâu đó, muốn chết hả. Nè, thằng cha kia!

Tôi quay sang thì quả thật người ta đang la tôi:

– Trở lui lại không? Vô kỷ luật!

Trước sự sừng sộ quá đáng của một đức ông sơn lâm chúa tể nào đó, nhà văn Xuân Vũ bèn ngó dáo dác, tuy biết rằng kẻ bị la là mình mà vẫn làm ra vẻ là không phải mình cho đỡ ngượng. Nhưng cũng chưa hết. Cái giọng kia lại quát tháo tiếp:

– Dòm dòm cái gì, muốn đi Bà Rá hả? Lộn xộn hoài. Tôi bảo ngồi đâu ngồi đó rồi tôi phát gạo cho mà ăn. Tôi quạu là tôi bỏ đói nhăn răng hết.

Tôi quay trở lại và suy nghĩ:

– Cái gì mà ghê gớm dữ vậy. Mẹ nó, trên đường này sao mình bị người ta nói nặng nói nhẹ luôn vậy. Thằng nào cũng chửi được mình cả.

– Ê! ê! ông bạn!

Tôi quay lại nhìn vào một đám đông đang ngồi trên một hòn đá to. Có tiếng cười rộ lên. Đúng là họ cười tôi đang ngơ ngác.

– Đây này! đây này!

Tôi nhìn thằng vào chỗ có tiếng nói đang phát ra. Một anh chàng gầy nhom với bộ mặt xương và đôi mắt to tròn nhấp nháy dưới một cái nền tóc trắng xóa! Anh này cười:

– Không nhận ra à?

– Ai đâu…

– Tôi đây này.

Tôi đi đến gần và lại ngơ ngác:

– Xin lỗi, tôi quên rồi.

– Nhìn kỹ lại xem.

– Ai vậy cà? Tôi vừa nói vừa đi đến chỗ anh ta ngồi và càng chăm chú nhìn vào khuôn mặt ấy.

– Dân Lam Sơn đây mà!

Phải rồi!

Lam Sơn là một kỷ niệm đối với tôi. Nhưng trong cái kỷ niệm đó có hàng trăm mảnh kết thành hợp lại, làm sao tôi nhớ cái mái đầu bạc kia là mảnh nào?

Làm sao tôi nhớ được trong cái vùng xanh bạt ngàn của núi rừng rét buốt ở phfa tây của tỉnh Thanh Hóa đó, mái tóc bạc kia tên gì?

Anh chàng đầu bạc lại cười và vò vò mái tóc.

– Đi đào gốc lim hoài mà quên à? Trông cái đầu này không nhớ hay sao?

Quả tình tôi không nhớ. Hình như từ sau cơn sốt đến nay trí nhớ của tôi sút hẳn đi.

– Hoa đầu bạc đây này? Hoa đầu bạc đội trưởng móc gốc lim C2 nông trường Lam Sơn sư đoàn 330 đây nhớ chưa?

– À trời đất ơi? Tôi nhảy tới vồ lấy anh chàng tự xưng là Hoa đầu bạc và đấm thùm thụp vào lưng anh ta. Cũng đi đây nữa sao?

– Cũng đi chớ sao không đi?

– Tôi tưởng các cha chết hết lúc đào gốc lim rồi sang thời kỳ mắc gốc su hào rau muống ngoài đó chớ.

– Mắc cũng ráng gỡ mà đi. Cơ hội này không “về nước” thì chờ cơ hội nào bây giờ.

Tôi ngồi lại bên cạnh Hoa đầu bạc.

Đúng là một trong những người bạn có liên quan mật thiết trong cuộc đời viết văn của tôi. Lúc đó vào khoảng năm 1958, tôi lên nông tường Lam Sơn để lao động thực tế.

Đó là đợt lao động thực tế lớn nhất có lãnh đạo từ Trung ương.Tôi buồn quá, tuy không có dính gì tới vụ Nhân Văn Giai Phẩm nhưng không muốn ở Hà Nội. Cho nên tôi mới lựa các nông trường thật xa xôi mà đi cho yên ổn tâm thần.

Tôi vào cuốc đất ở đơn vị của Hoa tám tháng, mỗi ngày có chấm công ghi điểm, mỗi tuần có tổng kết, mỗi tháng có báo cáo về Hà Nội. Nhờ vậy tôi quen với rất nhiều cán bộ quân sự trong đó có Hoa đầu bạc. Hoa ít tuổi hơn tôi nhưng tóc Hoa bạc sớm quá. Hồi đó tóc Hoa bạc mới phân nửa, còn bây giờ thì hoàn toàn một màu trắng xóa như bọt muối. Hồi đó anh em gọi là “ép em” đầu bạc hay Hoa đầu bạc.

Nói chi tới bây giờ, tóc Hoa không còn sợi nào đen để mà bạc nữa. Hoa nhìn tôi và cười, cười rồi lại nhìn tôi, không nói.

Tôi hỏi:

– Gì mà cười hoài thế?

– Coi anh tức cười quá.

– Tôi kỳ cục lắm sao?

– Không phải anh kỳ cục nhưng cái sự anh đi về Nam nó kỳ cục.

-Như thế nào?

– Mấy cha mà về trong đó làm chi, chạy mệt lắm!

– Có võ có văn chớ.

– Văng xương thì có.

– Thì xưa nay vẫn thế mà.

Hoa vui vẻ:

– Cái nghề của tôi là cái nghề đánh đá, chỗ nào khua dao động thớt là người ta gởi tụi tui tới ngay. Đó, hồi đó tôi nhớ tôi nói một câu mà anh cười ngất. Bữa nhậu thịt heo rừng ở ngoài gốc khế, anh nhớ không?

– Anh nói gì?

– Cái gì anh cũng quên được cả.

– Lâu quá mà!

– Tôi nói là hòa bình thì tôi về vườn cuốc đất trồng khoai. Chừng chiến tranh nổ ra thì Hoa này xin một chưn.

– Bây giờ thì xin một chưn rồi hả?

– Phì! Xin luôn hai chưn! ..

– Nhưng mấy cơn rồi?

– Cơn gì?

– Sốt!

– Cái đó thì kể không hết. Sốt của tôi không còn cơn nữa.

– Sao vậy?

– Nó cứ liên miên, ngay bây giờ cũng đang sốt. Đáng lẽ phải nằm, nhưng nằm thì gạo đâu chạy về với mình. Cho nên phải bò.

– Có ai quen đi nữa không?

– Thiếu gì.

– Đâu hết rồi?

– Tụi nó đi trước cả rồi. Chỉ mình sốt nên lọt lại sau đây.

– Mình cũng vậy.

Tôi lôi Hoa đi ra một góc và tìm chỗ, hai đứa cùng ngồi tâm sự Tôi hởi ngay:

– Anh biết đến đây là đâu không?

– Mẹ tôi cũng không biết nổi.

– Ủa quân sự sao mà nói vậy?

– Quân cái nước mã gì. Mù tịt. Vô đẩy chỗ nào như chỗ ấy. Đố ai moi cho ra một tên núi tên suối.

– Theo anh ức đoán thì còn bao xa nữa?

– Độ hai phần ba đường!

– Hả ! Anh nói sao?

– Mình đi mới một phần ba thôi cha non.

– Trời đất!

– Cái gì mà trời với đất. Tôi đoán chừng đây mới là đến khu sáu thôi, có khi chưa tới nữa là khác. Có phải tụi về khu năm mới vừa tách khỏi tụi mình độ nửa tháng đường không?

– Hơn tháng chứ!

– Hơn tháng là vì anh kề cả ngày đau nằm ỳ lại, chứ đi thì chỉ mất nửa tháng thôi.

– Vậy à!

– Chớ sao!

– Còn xa thế à? Vậy tôi tưởng là ít ra mình cũng đã đi được nửa đường rồi chớ.

– Chưa đâu, còn lâu lắm!

– Sức khỏe đâu nữa mà đi.

– Bồi dưỡng bằng nước suối, bằng lá bép.

– Lá bép là gì?

– Là lá bép.

– Nó ra làm sao?

– Như lá sộp vậy. Cũng láng láng, ăn sống không được, nấu canh ăn nghe béo béo. Hoa đầu bạc tiếp. Ơ vùng này có một tiểu đoàn ăn lá bép ròng sáu tháng thay bắp.

– Chớ không phải thay cơm à?

– Không có cơm. Đây là trạm cuối cùng mình được lãnh gạo. Rồi từ đây trở đi khi bắp khi lúa.

– Trời đất! Nói thiệt chơi?

– Tôi đâu nói chơi làm gì. Tôi đến đây nằm đã mấy ngày rồi tôi nghe người ta nói mà: Khà khà  Kể cũng vui. Chớ sao! Hồi ra đi thì ba ngày, lúc trở về thì ba tháng. Khà khà, bây giờ tôi mới biết là đi tàu mau tới hơn đi bộ. Khà khà… Anh coi hai cái bánh chè của tôi này, đi có ngày nó sẽ rớt ra và lăn lộc cộc trên đá như những trái bả đậu cho mà coi.

Tôi thở dài. Hoa đầu bạc nói tiếp:

– Nhưng thôi cũng là may, vì mình có ngày về nước, còn hơn khối đứa dính gốc rau muống su hào ngoài đó đời đời kiếp kiếp không có tài nào về nước được nữa?

Tôi đặc biệt chú ý tới cách dùng chữ của nhà quân sự nhất là hai tiếng “về nước”. Lần trước, tôi có gặp hai cán bộ quân sự đi công tác bảo vệ hành lang ở Trung Lào, cũng dùng hai tiếng “về nước” một cách mỉa mai như vậy.

Nhưng dù mỉa mai mà nó đúng thật, đúng thật, đúng về mặt tình cảm cả về mặt công pháp quốc tế, lẫn về mặt địa dư. Thực ra Việt Nam đã chia thành hai nước rõ rệt có ranh giới và có hai linh hồn khác hằn nhau, mỗi cái ngự trị trong một thể xác hoàn toàn khác nhau!

Người từ phương Bắc đi vào phương Nam bây giờ đâu phải như trước 1954 nữa. Bây giờ từ Bắc vào Nam có ý nghĩa chính trị từ một nước sang một nước khác.

Có lẽ những anh bộ đội nằm đêm cay đắng nhiều nỗi lắm cho nên mới nghĩ ra và xài cái danh từ “về nước” chua chát này.

Tôi hỏi Hoa:

– Bây giờ lên lon gì rồi?

– Lon gì. Hồi cải cách mình là trung đội trưởng. 1958 phong quân hàm xong, mình lãnh thiếu úy, bây giờ về Nam thiên hạ hứa đề bạt mình lên một sao nghĩa là hai sao gạch đít nhưng phải vô tới nơi và phải tốt kìa.

-Vậy thì có lên gì đâu.

– Lên chớ, lên trời.

– Mười hai năm mà không lên nổi một bậc à?

– Còn lâu. Trong cải cách ruộng đất không tụt xuống là may chớ còn lên đâu nữa?

Có người ngoắc:

– Vô lãnh gạo!

Tức thời tôi và Hoa như cái lò xo bật lên, tay quờ quạng chụp lấy ruột tượng và mạnh thằng nào thằng ấy chạy ào ào không cần nghĩ tới chuyện chia tay từ giã chi nữa.

Thế là tôi đến kho gạo. Người ta như kiến cỏ.

Tôi không chen vào nổi. Tôi đứng nhón chân nhìn qua vai mọi người nhưng cũng không trông thấy gì. Mồ hôi từ những tấm lưng những bộ áo, những mái tóc bốc lên chua lòm.

Tôi đành lui ra ngoài đứng chờ, không hy vọng lãnh được gạo trước ba giờ chiều.

Tôi quay ra nhìn con voi cho đỡ sốt ruột.

Chú voi to ghê quá. Có lẽ nó là của một vị hoàng thân quốc thích nào từ triều Quang Trung, nó đã từng chở lương thực hay đã làm chân cho một ông tướng thời ấy.

Một vành tai nó bị rách tua ra thành nhiều mảnh và nó chỉ còn có một cái ngà. Nhất voi một ngà, nhì người ta một mắt.

Những dấu vết vừa kể có thể chứng minh thêm tính nết và chiến công của nó.

Trông nó hiền lành cục mịch, chậm chạp, khờ khạo nữa là đằng khác. Nó đứng sầm sầm như một quả núi con con, chỉ có cái vòi nhúc nhích đong đưa, còn toàn thân mốc cời đứng im như một màu đá rêu mốc, thỉnh thoảng tấm da của nó mới run run lên để xua đuổi ruồi muỗi.

Hoa đầu bạc ngoắc ngoắc tôi:

– Vô đi, vô kẻo hết.

Tôi cứ ngơ ngác không chịu vô. Hoa quát:

– Đã bảo vô mà cứ lừng khừng ở đó hoài vậy? Muốn chết đói hả? Trời đất! Ở Hà Nội ăn phở xếp hàng, người ta không lấn, chớ ở đây không lấn thì không có lãnh gạo được đâu mà.

Sự thực ra, không phải là tôi không biết chen lấn. Nhưng nếu chen lấn tương đối khỏe như xếp hàng mua thịt hay mua hàng ở mậu dịch, chen lấn mà còn giữ được cái thể thống cái mặt mũi mình kìa, thì tôi cũng không ngại, còn đằng này thì chen như nêm, như cửi lên nhau thì tôi không có đủ sức khỏe. Nói thì mang tội, chứ nó chẳng khác nào một bầy vịt quá đông mà cái tô lúa quá bé.

Người phát gạo đứng trên sàn nhà, vừa quát tháo vừa vung tay đá chân. Tôi chỉ nghe la chớ không rõ anh ta nói cái gì. Chân anh ta dang ra thỉnh thoảng một chân đá hất một cái ruột tượng chìa vào Có lẽ anh ta không biết phải phát cho ai khi mà trước mặt anh ta có vô số ruột tượng và giấy giới thiệu chìa tới quơ quơ, ai cũng quơ thật mạnh để lôi kéo sự chú ý của anh ta.

Nên nhớ rằng trong sổ giấy giới thiệu có cả những tấm giấy giả. Trên đường Trường Sơn này đâu có giấy tờ gì cho ra hồn? Ai muốn viết cũng được Tên đoàn đâu có gọi đúng sự thực, toàn những tên giả mạo A3, Kqt, BCS, A6, v.v…! Cho nên ai muốn viết cho mình cái giấy giới thiệu gì cũng khó có ai kiểm soát cho ra nhẽ. Nhất là lại không có mộc mẹo chi cả. Cho nên anh quản kho không muốn nhận cái giấy nào mà anh ta cứ xem xem mặt một chút rồi độp một cái anh ta bảo:

– Anh kia kìa, đưa ruột tượng đây!

Thế là cái anh nào được trỏ vào mặt một cách hết sức vô lễ đó, ngày thường thì có thể đánh nhau vì cái sự trỏ mặt người ta đó, nhưng ở đây thì người bị trỏ mặt lại rất lấy làm hân hạnh sung sướng, nghênh cái mặt lên và chìa ruột tượng ra để nhận… gạo!

Tôi đứng lùi ra xa và mặc cho người ta lướt qua trước mặt. Ở phía sau tôi còn mấy cô phụ nữ.

Tôi giật mình đánh thót một cái như bị ong chích. Sao lại có một cô ngộ nghĩnh giống như đầm lai thế kia? Cô ta mặc áo bà ba đen, tóc hai bên thái dương hơi xoăn và chót mũi nhọn hơi hếch lên như mũi hia giống như mũi các cô đầm Tây.

Cô ta đứng bên cạnh một cô nữa. Trời xui chi có sự tương phản chua xót làm vậy? Cô kia đứng bên cạnh cô tóc xoăn chi để làm cho cô tóc xoăn nổi bật thêm lên.

Đáng lý ra tôi lê chân tới một chút để cho gần cái lý tưởng lúc bấy giờ là gạo của tôi hơn, nhưng dường như có cái gì đang níu kéo ở phía sau tôi nên tôi cứ đứng lý ra đó với tất cả bình tĩnh của một gã giang hồ cao thượng không thèm đếm xỉa tới cái sự vật chất tầm thường kia, chẳng ngờ trong lòng trái tim đã rung rinh rồi.

Năm Cà Dom đã lãnh gạo, hai vai anh ta vác hai cái ruột tượng căng ườn như hai con trăn vĩ đại của gánh hát xiếc Tạ Duy Hiển. Mồ hôi từ trên trán trên cổ chạy xuống có dọc ướt cả ngực, cả vai anh ta. Anh ta vừa đi vừa thở hổn hển.

Trông thấy tôi đứng im, anh ta quát:

– Đi vô mau đi! Không hết đấy.

Tôi lắc đầu:

– Vô gì được mà vô.

– Gạo tốt lắm, không có mục như kỳ rồi. Vô mau đi.

Tôi vẫn đứng im Năm Cà Dom sốt ruột:

– Vô đi kẻo hết.

– Đông quá chen ngả nào?

– Thì phải chen mới vô được chứ đứng đó mà chờ người ta dâng cho hai tay à?

– Thong thả đã!

Năm Cà Dom ngó dáo dác, rồi bảo:

– Thôi, giữ đây này. Đưa ruột tượng đây. Chán cha nội quá. Lúc nào cũng mơ mộng như trên cung trăng rớt xuống vậy.

Tôi không ngờ được lòng tốt của anh Năm Cà Dom tới như thế. Ai trong lúc này lại hảo tâm với một thằng mới quen (mà quen trên đường Trường Sơn) đến thế. Lãnh được gạo là người ta ba chân bốn cẳng chạy về ngay để nấu ăn chớ. Gánh làm gì công việc của người khác?

Năm Cà Dom quàng cặp ruột tượng vĩ đại lên vai tôi và bảo:

– Coi chừng cho kỹ nhé. Mười bảy ngày sắp tới đây không có phát nữa đấy.

– Nghĩa là sao? -Tôi nghe lùng bùng hai lỗ tai và hỏi:

 – Nghĩa là không có phát gạo trong vòng…

– Mười bảy ngày tới đây, hiểu chưa? Qua ngày thứ mười tám mới có phát. Mà cái đó thiên lôi nó tin chớ ai mà tin cho được?

Tôi nghe mà hết vía. Mang mười bảy lít gạo trên người tức là năm mươi mốt lợn sữa bò gạo thì ít ra cũng mười kí lô. Chết còn sướng hơn, làm thế nào mà mang. Năm Cà Dom chạy phốc đi rồi quay lại bảo:

– Có một cái ruột tượng thì làm sao lãnh cho hết gạo?

– Làm sao bây giờ? Tôi đâu có dè.

– Cha nội thiệt, cái gì cũng không dè, không biết cả!

– Kệ nó, lãnh vài chục lon thôi.

– Bậy nữa. Thôi được rồi!

– Sao?

– …Cởi quần ra, gút ống lại cho tôi.

…

– Mau lên! Sao chết trân đó vậy?

Tôi vẫn không chịu thi hành lệnh của Năm.

– …Ai hốt hồn… Năm vừa nói đến đó thì chợt thấy cô gái tóc xoăn bên gốc cây.

– À ạ! Khổ quá!

Năm lôi tôi đi chỗ khác, khuất mắt cô ta rồi rỉ tai tôi:

– Lại gặp nữa he! Mắc cỡ hả? Cởi mau lên!

Tôi cực chẳng đã phải làm theo ý muốn của Năm Cà Dom.

Năm Cà Dom chạy bay vô kho gạo. Tôi buông hai cái ruột tượng gạo xuống đất và tìm chỗ ngồi.

Thật là thảm hại. Hôm trước tôi nhìn cái bộ mặt của tôi trong gương mà hoảng kinh hồn vía, bây giờ tôi lại kinh hồn hoảng vía vì nhìn lại cặp giò của mình.

Còn tí thịt nào đâu. Cái bắp chuối nhão nhẹt, cái mớ thịt mềm èo như bọt bèo ở phía trong.

Vậy mà có lần Thu đùa, bảo “chân bộ đội chẳng khác cây cọc màn” thì ông Chín làm cho một vố quá sá! Ông bảo là cô “mất lập trường”

Làm sao mà đi hai phần ba đường nữa với cặp chân này?

Tôi không ngờ một cặp chân như thế lại là cặp chân của tôi, hay tôi không ngờ cặp chân của tôi lại hóa ra như thế được.

Người đi lãnh gạo vẫn rải rác từ các nẻo đường đổ tới như hàng trăm, hàng ngàn cái bao tử đang run rẩy, xoắn lại, gồng lên, co dãn ra trước cái kho gạo kia. Họ vừa đi, vừa giơ cái bao tử thủng tung lên như để làm ngọn cờ đấu tranh.

Người nào người nấy trông thật thảm hại. Tất cả đều thảm hại, nhưng mỗi người mỗi vẻ, chứ không giống nhau. Người thi đi khặc khừ người thì lê gậy lọc cọc, người thì buộc ruột tượng ngang lưng bỏ hai mối thòng dài xuống như cái thắt lưng hoa lý của các cô nàng trong một ngày hội chèo ở một làng quan họ. Có người thì vừa đi vừa thở phào phào, còn người lại gục xuống làm cho mái tóc rũ xuống như một chú gà chọi bị chém gục cần.

Tôi vẫn tiếc cô gái tóc xoăn. Không biết cô thuộc khối nào, đoàn nào, ai chỉ huy cô ta. Và nhất là cô ta đi về Nam theo cái tiếng gọi nào?

Cô ta đã nhích lên được vài bước để có thể cái hy vọng gạo gần hơn cô ta hơn một chút, nhưng vì người ta không nhường nhịn phái yếu, mà cô ta thì không dám chen lấn như phái mạnh, cho nên đáng lý ra nếu có sự công bình trong cái xã hội trật tự thì cô đã tới cửa kho, nhưng những người đi sau cô mà đã lãnh được gạo rồi.

Thế đó, tình đồng chí đồng hành như thế đó.

Năm Cà Dom đã trở ra, với cái ruột tượng gạo no nức và một ống quần căng phình.

Tôi muốn nhảy lên bá cổ Năm mà hôn, mà cắn rồi quỳ sụp dưới chân mà lạy vài ba chục lạy.

Năm nói:

– Hết rồi!

– Cái gì hết?

– Gạo chớ còn cái gì!

Mấy người xếp hàng phía sau đố xô vào hỏi Năm:

– Gạo hết rồi à đồng chí?

– Còn mẹ gì. Về đi mai mới có.

– Sao đồng chí biết? Một người hỏi vặn.

– Thì tôi vừa ở trong ra đây mà. Năm Cà Dom nói. Đáng lẽ tôi lãnh đầy cả hai ống quần mà tôi chỉ lãnh được có một ống thôi không thấy sao hả? Được rồi, ai không tin thì cứ chen vào tôi cam đoan mấy anh chen cho mệt rồi khi tới nơi cũng chẳng có cái mẹ gì hết!

Năm Cà Dom không để ý xem câu nói của anh ta có tác dụng gì hay không, anh ta cứ ngồi phệt xuống đất và mở cái ống quần ra mà bảo tôi:

– Cậu mở cái ruột tượng mà trút vào đây luôn đi.

– Chi vậy?

– Ấy, mau mau đi mà. Rồi sẽ hay!

Tôi nghe lời Năm Cà Dom trút cái ruột tượng gạo vào ống quần. Năm Cà Dom cởi cái mũ tai bèo ném lại cho tôi và chạy bay trở về kho gạo với cái ruột tượng không trên tay.

Tôi ngơ ngác không hiểu Năm Cà Dom làm cái trò gì vậy.

Nhưng chỉ chập sau là Năm trở ra với cái ruột tượng đầy. Năm Cà Dom hí hửng.

– Thôi về, về!

Năm Cà Dom vừa nói vừa lôi tay tôi đứng dậy. Tôi quăng hai cái ruột tượng của Năm Cà Dom lên vai tôi và đứng dậy.

Nhưng trời ơi!

Trời đất ơi! Cha mẹ ơi ! Tôi không đứng dậy nổi.

Chỉ có độ mười ký lô nằm trên vai mà một anh chàng ra đi từ Hà Nội khỏe như vâm, chỉ vượt Trường Sơn hơn một tháng với vài cơn sốt mà giờ đây chỉ với cái sức nặng đó trên vai mà không đứng dậy nổi.

Tôi không muốn để cho mọi người trông thấy điều đó, sự suy nhược của một “anh hùng giải phóng” cho nên tôi bám gốc cây trước mặt và cố gắng đứng dậy.

Tôi đứng dậy được rồi. Trong thâm tâm tôi, tôi nghĩ chắc Năm Cà Dom không biết sự suy yếu của cơ thề tôi, nhưng Năm Cà Dom nói ngay:

– Cậu trông to xác thề mà rệu lắm rồi.

– Ư… Tôi lắc đầu và đi theo Năm.

Người từ dưới vẫn cứ như ốc như sên bò từ từ lên dốc chậm chạp, lặng lẽ và cố gắng giằn hơi thở không cho nó gây thành tiếng làm thối chí người đi bên cạnh.

Đến khúc vắng Năm nói:

– Gạo còn nhiều lắm! Đi nhanh lên, về tới rồi tôi trở lên.

– Chi vậy?

– Lãnh thêm chớ chi.

– Tiêu chuẩn đâu còn mà lãnh?

– Tiêu chuẩn là do cái bao tử của mình đặt ra thôi.

– Nhưng làm sao mà cậu lãnh được?

– Được chớ. Mình ăn mặc khác đi. Đội mũ khác đi và rên rẩm kêu la. Đâu có cái gì làm chứng rằng mình đã lãnh gạo rồi. Kêu to, rên mạnh là nó phát nữa thôi. Nó đâu có nhớ mặt thằng nào. Cứ chìa ruột tượng vô là nó phát thôi mà. Dư thiếu gì nó đâu có cần.

Năm Cà Dom nói về cái mánh khóe của anh ta thao thao bất tuyệt. Anh ta hỏi tôi:

– Tại sao gạo còn mà tôi tung tin là hết, cậu biết không?

– Không.

– Cậu gà tồ thật đấy. Cứ cái lối ngoan ngoãn thành thực như cậu rồi chết, đi không tới nơi cho mà coi!

– Sao?

– Đời nó vậy đó!

Năm Cà Dom tiếp:

– Tôi tung tin hết gạo là để cho cái đám lúc nhúc phía sau đang lao tới kia phải thối chí rã ra trở lui! Thừa lúc đó có kẽ hở là mình chen vào. Mà quả thật vậy, lần vừa rồi, tôi vô rất dễ.

Tôi hỏi:

– Nhưng mà làm sao cậu lãnh lần thứ ba được vậy?

– Tớ liệu bề cái bản mặt của tớ thằng phát gạo không quên, cho nên tớ nói là tớ đi lãnh dùm một đồng chí sốt nặng. Nó ngần ngại không muốn phát thế là tớ la toáng lên. Tớ càng sân si, càng nêu cao tình đồng chí, đồng đội.

– Tớ phục cậu ghê ! Cậu như con mẹ lái cá vậy.

– Tớ bảo nó, nếu đồng chí không phát cho tôi mười bảy lít gạo thì đồng chí sẽ phạm tội sát nhân, tôi trở về không có gạo thì đồng chí lấy gì ăn. Đồng chí vô tình đã tiếp tay cho giặc. . . Bị tôi kết án nặng quá anh ta phát cho tôi, nhưng anh ta nói. Anh ta nói đúng thật.Năm Cà Dom tiếp:

– Anh ta nói: Các đồng chí ăn gian dữ lắm. Sở dĩ thiếu gạo là vì có nhiều đồng chí lãnh gạo hai ba lần. . . Hắc hắc hắc. . . (Trong đó cớ đồng chí Năm Cà Dom!)

Một tốp người từ dưới dốc bò lên. Một người hỏi:

– Tới kho chưa đồng chí?

– Tới rồi mau lên, kẻo hết, Năm Cà Dom đáp.

Tôi hỏi:

– Sao cậu bây giờ không bảo là hết gạo như lúc nãy?

– Cậu thật là lơ tơ mơ! Mình nói hết nó sẽ trở về làm sao?

– Trở về thì trở về chứ!

– Nó trở về, nếu nó để mình yên ổn thì mặc kệ nó, đâu có ăn thua gì mình.Nhưng nó trở về mà không có gạo ăn nó sẽ la cà tới chỗ mình nấu cơm nó kêu đồng chí nọ, đồng chí kia nghe ngọt lịm như đường phèn, rồi nó hỏi mượn gạo của mình. Cậu làm sao từ chối? Từ chối khó coi lắm, cậu hiểu chưa? Trời đất! Cậu không có một chút kinh nghiệm đi đường gì hết vậy? Đó thuộc về tâm lý, cậu viết mà không nghiên cứu à?.

– Tớ bái cậu luôn.

– Bái, bái cái gì. Đi một tấc đường học đặng trường khôn, nhất là tấc đường Trường Sơn thì học năm bảy trường khôn.

Đột nhiên Năm Cà Dom hỏi:

– Ơ này, cậu có quen với cô tóc xoắn ấy à?

Tôi đáp:

– Không.

– Coi bộ rung rinh rồi đa!

– Rung rinh cái gì, run rẩy thì có!

– Chia lại mình một “Cu li” đi.

-Chia gì mà chia?

– Nè trên sân cỏ “deux contre un” bị phạt đấy nhé!

– Tớ đâu có “hai chọi một” mà phạt?

– Sao lại không!

– Đã bảo không quen mà.

– Nhưng mà tớ bắt nhãn rồi. Cô ta nhìn cậu với cặp mắt “sương mờ rơi” lắm!

Đang đi bỗng có người từ trong rừng rẽ ra, trên tay xách một xâu cá khô. Không biết cá gì, nhưng rõ ràng là cá. Trời đất, ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Tôi chưa mở miệng thì Năm Cà Dom đã hỏi:

– Này đồng chí! Khô mua ở đâu vậy?

– Trong kho kia.

– Ủa đây có kho thực phẩm à?

– Có chớ. Nhưng bí mật nghe. Vô ít ít chớ vô ào ào nó không có bán cho đâu..

– Được rồi tôi vô hai đứa thôi! Nhưng đi thế nào?

– Đi thẳng vô vài trăm thước thôi!

Thế là Năm Cà Dom bảo tôi:

– Đi vô kiếm chút “a dốt” đi! Chất đạm trong khô nhiều lắm. Có vài chục con khô bỏ theo thì vững bụng lắm.

Quả thật, hai đứa đi tới một cái chòi có người ở, bên cạnh chòi có một cái chòi cao cẳng, trên sàn chòi chất đầy khô.

Năm dừng lại và rỉ tai tôi:

– Cậu còn đá lửa không?

– Còn.

– Đưa tớ vài viên.

– Chi vậy?

– Tớ vô công tác chính trị thằng gìữ kho này. Tớ cũng có nhưng còn ít quá, sợ không đủ xài vì tớ hút thuốc lá như cậu biết đó.

Năm Cà Dom đi thẳng vô tìm gặp anh giữ kho. Anh này còn rất trẻ. Vậy cậu ta sẽ là con gà con dưới nanh vuốt của con diều Năm Cà Dom.

Năm Cà Dom nói ngay với cậu ta:

– Tớ là bác sĩ đây! Nhưng bây giờ chằng có thứ thuốc nào bằng khô với muối. Cậu bán cho tớ một ít. Tớ trả tiền đàng hoàng, và tớ tặng cậu năm viên đá lửa xài chơi. Ở rừng như cậu mà thiếu lửa là chết ngay. Tớ nói thật. Đứa nào nói gian cho hộc máu ra đi!

Năm Cà Dom hỏi tiếp:

– Khô bao nhiêu một ký vậy cậu?

– Tùy! Cậu thanh niên đáp không quả quyết.

– Tùy nghĩa là muốn mua bao nhiêu thì mua, trả bao nhiêu thì trả phải không? Đúng rồi! Cách mạng mà! Tất cả đều là của chung. Cậu cho tớ mua năm kí lô đi.

– Nhiều dữ vậy? Mỗi người chỉ được ba con thôi.

– Ba con bằng chân cái đó để làm gì? Đứa nào ăn no, cho ăn no, đứa nào thiếu cứ chờ có thêm sẽ lãnh. Tớ ví dụ một trăm thằng oam oam đi khặc khừ không thể khiêng nổi một nòng pháo, nhưng mười đứa khỏe mạnh sẽ chuyển cái nòng pháo đó chạy te te… Hì hì. Thôi năm kí không được thì ba kí. Tụi tôi không phải mua cho hai đứa đâu mà cả đoàn còn hai chục đứa ở nhà, bác sĩ không thôi! Hai mươi bác sĩ vô Nam cái là chiến sĩ ta khỏe lên ngay!

Anh thanh niên nhìn Năm Cà Dom lặng thinh. Năm Cà Dom bảo tôi lấy đá lửa cho cậu ta rồi nói:

– Cậu lại đây xem! Tôi coi qua con mắt một chút.

– Dạ. Anh thanh niên ngoan ngoãn bước tới.

Năm Cà Dom vạch mí mắt, rồi sờ bụng, sờ vai. Năm Cà Dom ấn mạnh vào bụng ngay phía dưới hoành cách mạc và hỏi:

– Có đau không?

– Dạ đau ạ.

– Lá mía cậu thòng rồi! Sốt nhiều lắm phải không?

– Dạ đúng rồi. Em lúc nào cũng sốt.

– Uống thuốc gì?

– Dạ chẳng có thuốc gì hết. Em toàn uống nước dây bồ hòn thôi.

– Có cắt cử được không?

– Khi được khi không.

– Để tôi cho quinine uống nhé!

Năm Cà Dom móc túi lấy hơn chực viên kí nín. Cậu thanh niên đưa tay ra nhận. Có lẽ lâu nay không ai cho cậu nhiều thuốc thế. Còn Năm Cà Dom tuy trong sinh hoạt thì có phần lém nhưng đi vào nghề thì bao giờ cũng tận tâm.

– Chậc! Sốt thế này thì cả đời không chữa được.

– Dạ em đâu biết làm sao.

– Ăn uống được không?

– Dạ khi được khi không.

– Đừng đòi vợ sớm nhé. Hại lắm. Hề hề.

Năm Cà Dom bảo:

– Thôi cậu bán khô cho tôi đi? Em cưng!

– Dạ.

Anh thanh niên leo lên sàn nhà lấy một xâu rồi một xâu nữa thòng xuống cho Năm Cà Dom.

Năm Cà Dom bảo:

– Hai mươi bác sĩ đi vào Nam nhé? Nhớ cho họ đắp đầu gối khá khá chút.

– Còn anh này cũng là bác sĩ hả anh?

Cậu thanh niên chỉ vào tôi và hỏi. Dường như cậu ta chưa quan niệm được một ông bác sĩ như thế nào.

Năm Cà Dom cười:

– Ông này hả?

– Dạ.

– Ông này còn quan trọng gấp mười bác sĩ.

– Dạ.

– Ổng là bác sĩ nhưng chỉ chữa bệnh tinh thần. Thí dụ như cậu đang bi quan thì ổng làm cho cậu lạc quan, cậu đang bất mãn thì ổng làm cho cậu hết bất mãn.

Cậu thanh niên cứ dạ dạ vâng vâng chứ không hiểu gì cả, còn Năm Cà Dom thì cứ vừa pha trò vừa moi cái vựa khô của cậu ta. Năm Cà Dom tiếp:

– Nếu như cậu không chịu bán khô cho ổng thì ổng sẽ làm cho cậu bán rất nhiều. Ví dụ như thế. Nhưng ông ít hay nói như tôi ổng chỉ nhìn cậu là cậu phải nghe theo ý muốn của ông thôi. Đây cậu sắp đưa cho ổng một xâu khô rồi đó.

– Dạ. Cậu thanh niên như bị thôi miên, cậu ta lấy đưa cho tôi một xâu khô. Và còn hỏi thêm: Các anh có cần muối không?

Năm không đáp mà hỏi lại:

– Cậu có nhiều không?

– Ít thôi.

– Cậu có thể cho tụi tôi mỗi đứa mấy kí?

– Mỗi người một lon sữa bò.

– Ba lon nhé. Tôi đã bảo là hai mươi bác sĩ đi vô Nam mà!

– Dạ.

– Một lon thì chỉ nhỏ con mắt cũng hết rồi, nếu rủi cái mũi có đau lấy gì mà nhỏ?

– Thôi em cho các anh ba lon.

– Mỗi người?

– Dạ.

– Thế thì tạm được, ba lon nhân cho hai mươi là sáu mươi lon. Như vậy là đoàn bác sĩ hai mươi người của chúng tôi chắc chắn sẽ tới nơi với số muối đó. Nhờ ai? Nhờ cậu, cậu rõ chưa nào?

– Dạ!

Cậu bé thấy Năm Cà Dom nói hay quá. Cậu ta phải tự hào chớ. Cậu ta hỏi:

– Các anh có cần khô rừng không?

– Khô gì?

– Khô voi?

– Ui chà. Không ngon lắm, nhưng ăn cũng tạm được!

Thế là cậu thanh niên rút trên giàn bếp khói ám đen ngòm và ném xuống đất những thỏi như củi dừa mà má tôi sấy trên bếp cho mau khô. Cậu ta quăng xuống đất nghe độp độp.

Tôi và Năm Cà Dom nhặt và nâng lên mắt xem không có vẻ gì là khô cả.

Cậu thanh niên bảo:

– Các anh về lùi nó dưới tro nóng một lát lấy ra đập nó tơi ra ăn ngon lắm. . . giống như bố tời vậy!

Thế là chuyến đi của chúng tôi thành công mỹ mãn.

Nhiều người đến nài nỉ mãi chỉ được có ba con khô thôi. Thấy hai đứa tôi được chiếu cố một cách quá đáng có nhiều người phàn nàn, nhưng cậu thanh niên nói theo cái giọng của bác sĩ Năm Cà Dom lúc nãy:

– Một đoàn bác sĩ hai mươi người! Họ mà vô tới trong Nam là tình hình sáng sủa lên ngay. Họ là người đặc biệt. Chúng tôi được chỉ thị cấp trên cung cấp cho họ với tiêu chuẩn đặc biệt.

Thấy đứng lâu chỉ để làm đề tài cho khách chống lại cậu thanh niên giữ kho, cho nên tôi và Năm chuồn thẳng. Đi một quãng, Năm cởi áo ra bọc ba xâu khô lại kỹ lưỡng. Năm bảo:

– Để người khác trông thấy không nên!

Chúng tôi đi lên thì vất vả theo sự đi lên, còn đi xuống vất vả theo đi xuống. Đi tay không thì bụng đói meo chân rã rời, còn lãnh được gạo vác thì mệt quá, đi không nổi. Tôi bị ngã một cái nên thân. Cả người tôi rơi vào một bụi gai lởm chởm, hai cẳng giơ lên trời còn hai cái ruột tượng thì đè xuống, tôi không sao ngóc dậy nổi. Năm phải đến lôi tôi, tôi mới đứng dậy nối. Vậy tôi mới biết sức khỏe của tôi tồi đến đâu.

Chúng tôi về đến địa điểm thì thấy trống trơn. Người ta đã cuốn tăng cuốn võng đi đâu hết. Chỉ còn lại một mình Thu ngồi khóc. Tôi vừa cáu vừa thương hại nàng, tôi hỏi:

– Cái gì em lại làm mưa thay trời nữa đó!

– Người ta đi hết hai đợt rồi.

– Đường “xoi” thủng rồi sao?

– Không phải.

– Chớ sao người ta đi?

-Đi lánh nạn.

– Nạn gì mà lánh?

– Ở đây gần địch lắm rồi. Anh không nhớ cách đây ba trạm mình cũng bị kẹt đường à? Ở cái chỗ em xung phong múa hoa Champa, bị ông già Chín phá đám đó.

– Nhưng ở đó khác đây khác chớ!

– Không! Theo như đồng chí đại diện bộ tư lệnh phổ biến thì bọn địch đang nằm trước mặt chúng ta. Có thể là. . .

– Ổng đâu rồi?

– Ổng đang đả thông anh em đằng kia!

– Đâu lại hỏi xem tình hình chút coi anh Năm.

– Thôi cậu đi đi! Tớ lo giấu gạo cái đã. Bộ tư lệnh nào cũng không bằng bộ tư lệnh gạo cả.

– Nhưng anh giấu đi đâu?

-Trong ba lô!

– Để làm gì?

– Để không cho người khác thấy. Cậu cứ phơi bày ra đó, bị ăn trộm đấy.

– Gi ghê thế!

– Để rồi xem.

Mặc cho Năm Cà Dom lo chia sớt phân phối gạo, tôi đi về phía có tiếng còi văng vẳng. Tôi không phải lo âu gì về gạo. Bởi vì tôi không bao giờ ăn hết ba lon sữa bò một ngày. Cho nên nhiều lúc tôi cho bớt đi. Ngược lại có những người như Năm Cà Dom ăn một bữa hai lon gạo mà còn đòi thêm.

Tôi đến chỗ anh em tập họp. Anh đại diện bộ tư lệnh đứng trên một mô đất đúng ra là một cái nắp hầm cũ không ai dùng nữa.

Anh ta mặc đồ bà ba, quần xăn lên quá nửa ống quyển. Lưng đeo súng ngắn, vai mang sắc cốt da. Anh ta nói cà gật cà gật cái đầu và hét to từng chập:

– Ăn ở gì thế này hả? Giống như một đám tàn quân thế này hả? Tổ chức nát bét thế này đụng địch làm sao chiến đấu hả?

Cứ mỗi câu ông đại diện bộ tư lệnh lại “hả hả” một cái rõ to để chấm câu. Đám người lớp đứng lớp ngồi nghe ông ta nói thì cứ râm ran phản ứng từng lúc, từng câu ở từng khóm một. Cán bộ dân chánh thì phản ứng theo dân chánh, binh lính thì phản ứng theo binh lính, nhưng ông đại diện đang cáu nên cứ nói bừa lên đầu cái luồng dư luận vừa dấy lên kia.

Ông ta nói tiếp:

– Ỉa đái đầy suối thế kia. Than củi tùm lum thế kia. Quần áo phơi nhan nhản thế kia. Máy bay nó có mù nó cũng phát hiện được.

Một anh lính nói ngay, khá to:

– Máy bay nó ngửi được mùi cứt chúng mày ạ!

– Câm cái mồm tên vô kỷ luật! ông đại diện bộ tư lệnh quát và trỏ vào cái nhóm lính đang cười rộ lên vì câu trêu tức vừa rồi.

– Chúng mày muốn tù hở! Đơn vị nào thế! Mất dạy? Này tao bảo cho biết? Nó đánh không phải chỉ bằng máy bay thôi nhé. Trong rừng này không thiếu biệt kích nhé? Người ta chết chỉ vì một cái tàn thuốc lá nhé? Đừng có khinh người. Các anh ăn ở thế này nó thối ra nghe chưa? Biệt kích nó đến ngay đấy, đừng có mà giỡn mặt Chừng chết nhăn răng ra rồi không ân hận kịp!

Ông đại diện Bộ tư lệnh tuôn ra một thôi dài không tả xiết. Xong ông đại diện bộ tư lệnh quát anh giao liên lập tức dời địa điểm đoàn khách, không được trì hoãn một phút.

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vietmessenger.com

Post by Sơn râu 2 Aug 2025

Kỳ 9

Sáng hôm sau, mở mắt ra tôi bàng hoàng, tâm tư quay cuồng hồi lâu tôi mới lấy lại sự bình thường.

Một cái tin không vui đến ngay với chúng tôi trong buổi sáng đó. Kẹt đường ! Kẹt đường nghĩa là cuộc hành trình không tiếp tục được nữa. Đó là một đại họa.

Hôm qua khi tới đây thì tôi tưởng chỉ leo heo có mấy đứa sứt tay gãy gọng của chúng tôi chẳng ngờ sáng nay tôi thấy dầy đặc trong rừng nhung nhúc những người là người.

Có lẽ những chuyến trước tới đây rồi cũng nằm ỳ tại đây chớ không đi vô được nữa cho nên người mới đông đúc đến thế.

Tấn lân la đến chỗ chúng tôi chơi. Tôi bèn hỏi chuyện kẹt đường thử xem ra sao. Bởi vì chúng tôi đã từng bị kẹt nhiều lần rồi, kẹt vì mưa suối to, vì biệt kích. Không rõ lần này kẹt vì lý do gì.

Tấn nói:

– Kỳ này chắc nguy hiểm lắm. Vì nó nhảy dù xuống Bùi Gia Mập đến mười ngàn quân và nằm giăng ngang một tuyến dày đặc chặn ngang đường mình đi. Thế mới chết.

– Cha chả! Chắc kế hoạch mình bị lộ quá!

Tấn nói:

– Vừa rồi có một đội tiền tiêu của một trung đoàn bị biệt kích Úc giết hết phân nửa. Trong đó có cả một ông trung đoàn phó, ông này bị mất tích. Ông ta mang cả kế hoạch và tiền ăn của đơn vị. Thế mới nguy. Có lẽ nó nhặt được tài liệu cho nên hôm sau đồ quân xuống ngay ở vùng này.

– Thế thì làm sao? Tôi hỏi với sự sốt ruột lộ hẳn ra ngoài.

– Ai biết làm sao!

Tôi hỏi tiếp:

– Hồi đó tới giờ có khi nào đoàn bị nghẽn đường rồi trở ra không cậu?

– Trở ra thì chưa thấy, nhưng thỉnh thoảng có một đoàn bị nghẽn nằm lại cả tháng trời không nhích được vào một bước.

– Thế làm sao?

– Làm sao ai biết làm sao?

Trời ơi, nếu phải nằm như vầy thì chết còn sướng hơn.

– Sao vậy, nằm nghỉ dưỡng sức chứ!

– Dường với cái gì hở cậu ; Với nấm độcc và vắt muỗi à? Muối hết rồi. Lấy gì tẩm gân?

– Sao anh hết sớm vậy? Người ta phát cho ăn ba tháng mà.

– Đáng lý ra thì chưa hết, nhưng vì ngâm mình dưới suối đó nước vô, chảy trôi hết. Tôi còn giữ lại một ít trong hộp lon kia.

– Cha chả! Tai hại quá

– Ở trạm này có phát muối không?

– Có. Nhưng không biết có hay không?

– “Có nhưng không biết có hay không” là sao?

– Nghĩa là đúng lý thì đến trạm này các anh được lãnh gạo và muối. Có cả khô, mỡ và đường nữa.

– Trời đất, ngon vậy à?

Tấn cười:

– Nhưng đó chỉ là “trên nguyên tắc” thôi? Còn thực tế là một chuyện khác. Có khi nguyên tắc và thực tế chỏi ngược nhau!

Năm Cà Dom xách cái bi đông sang, ngồi cùng với chúng tôi và nói:

– Uống bậy miếng trà chơi cho ấm bụng… khà khà… khà, văn sĩ còn nhớ hai câu đối rất phổ biến ở ngoài Bắc không?

– Đối Tết hay đối gì?

– Đối dán ở câu lạc bộ ấy mà!

– Nhiều quá biết câu nào mà nhớ!

– Tôi muốn nói hai câu này: “Sáng sáng trụn lòng trà giả tạo, chiều chiều súc miệng rượu khoai lang!” Nhớ chưa nào?

– Tôi còn nhớ mang máng thôi!

– Anh viết văn mà anh không nhớ câu đó à? Vậy thì chết một cửa tứ rồi!

Năm lấy mấy cái nắp gà mèn rót trà ra và mời mọi người.

Tấn hỏi:

– Nhưng tôi thắc mắc quá!

– Thắc mắc gì? Sáng trong rừng được một bình trà vậy mà còn bất mãn cái nỗi gì nữa chớ.

Tấn nâng cái nắp gà mèn trà lên và hỏi:

– Trà giả tạo là trà gì 1 Có phải trà này không?

Năm hớp một ngụm và xua xua tay:

– Không ! Không đâu. Trà này là trà Chính Xuân chánh hiệu con nai chà. Trà ngon nhất miền Bắc đấy.

– Vậy trà giả tạo là trà gì?

– Là trà không đúng là trà. . . nhưng đó là tôi nói chuyện uống trà hồi thời 1957-58-59 kìa.

Tôi biết Năm Cà Dom sắp nói chuyện linh tinh, nên tôi nhìn Năm và nháy mắt. Năm cũng nhận thấy cái nháy mắt của tôi nhưng Năm vẫn vui vẻ kể tiếp sau khi hớp cạn cái nắp gà mèn.

– Trà giả tạo là xác trà ướp nước cau khô!

– Hả, cái gì? Tấn nhìn Năm Cà Dom, rất đỗi ngạc nhiên.

– Thì nó vậy thật đó, chớ hả hừ cái gì?

Tấn hỏi:

– Nhưng tại sao như vậy chớ?

– Thì không có đủ trà uống, phải làm cái kiểu đó chớ sao?

– Vậy sao bảo ngoài Bắc sướng lắm. Không thiếu món gì?

– Ai bảo?

Tấn lúng túng không biết là ai đã bảo Tấn như thế. Sự thực thì có ai bảo như vậy đâu. Nhất là những người từ miền Bắc về thì họ không bao giờ nói như thế!

Vậy đó chỉ là do tư tưởng tượng của Tấn mà thôi. Và đó là kết quả của sự tuyền truyền của đài Hà Nội.

Năm Cà Dom say sưa nói tiếp:

– Sở dĩ tôi biết cái trà này là do một sự tình cờ. Một hôm tôi vào một quán trà ở Hà Nội, tôi cùng một thằng bạn kêu một bình trà ba hào. Hủ ki đem ra cho tôi một gói trà, một bộ bình và chung, và một “phích” nước sôi.

– Phích là cái gì?

-Trời đất, cái phích mà cậu không biết là cái gì sao?

– Ai mà biết!

– Là cái bình đựng nước nóng hoài không nguội hiểu chưa?

– À, cái bình “thỉ”!

– Bình thủy chớ bình thỉ gì!

– Sửa lưng tôi hả cha nội! Cha đi khỏi xứ mười mấy năm bây giờ trở về nói tiếng gì đâu đâu mà còn sửa mũi mấn người ở lại bám gốc cây vườn nhà?

– Cậu nói tôi mới nhớ ra rồi. Đúng là cái bình thủy. Đó mới đúng là tiếng nói của xứ mình. Ra Bắc, không hiểu tôi đã xài cái tiếng đó từ lúc nào, tôi cũng không hiểu nữa. Mà chính tôi không hiểu cái tiếng “phích” là cái nghĩa quái gì? Năm Cà Dom tiếp: Đúng ra thì người ta kêu là cái “phuých”.

– Nhưng “phuých” thì nghĩa gì?

– Tôi cũng không rõ nghĩa gì. Có khi ông nhà văn này giải đápđược cho chúng ta.

Tôi lắc đầu:

– Tôi cũng chịu thôi? Có những tiếng mình xài mãi rồi thành thói quen theo ước lệ chớ không chính xác nữa. Ví dụ như tiếng “kẻng”. Anh đó ăn diện “kẻng” lắm. Kẻng nghĩa là gì?

Năm Cà Dom nói:

– Đúng lắm? Có những chữ mình dùng sai mà mình không biết. Nhưng cứ tạm cho cái “phích” của miền Bắc là cái bình thủy của miền Nam đi! Cũng như ở ngoài Bắc mà kêu “cái ghe” là không có được đấy!

– Sụyt!

Tôi lại nháy Năm ý bảo có Thu ngồi bên cạnh. Năm Cà Dom trở lại câu chuyện vô quán trà:

– Được phục vụ đầy đủ rồi, tôi bèn cầm gói trà lên ngửi ngửi ! Ngửi khá mạnh, nhưng không thấy mùi hương chi cả. Đến chừng rót ra chung, nước đen xậm mà không bốc lên một tí hương trà. Thằng bạn tôi kêu lên ngay:

“Nước cau khô, nước cau khô!”

“Thật à?”

“Xem đó thì biết.”

Nếu gặp ông văn sĩ thì ổng có thể làm một bài phóng sự được, còn tôi thì chỉ kể tắt như thế này là sau khi xác trà đã phơi khô thì họ đem tẩm bằng nước cau khô, đem phơi, lại đem tẩm, rồi lại đem phơi vài lần nữa. Thế cũng chưa xong, họ bỏ lên chảo rang cho dòn rồi trút vào hộp trong đó có một ít trà nguyên chất và hoa nhài. Độ một hôm thì họ lại sớt ra, gói đem bán cho khách. Đó, đại khái là trà giả tạo.

Tôi lắc đầu:

– Tôi ớn ông bác sĩ Cà Dom quá!

– Ớn gì?

– Cái gì ông cũng biết mà toàn là những chuyện không ai biết.

– Ừ’ đúng toàn những chuyện của lớp hạ tàng cơ sở không thôi. Nghĩa là tui ăn no, uống đậm, đi chậm làm việc chẳng ra cái nước mã gì cả.

Tấn lại hỏi:

– Còn rượu khoai lang?

– Cái đó thì rõ ràng như tôi nói đó. Nghĩa là rượu nấu bằng khoai lang uống nhức đầu bỏ mẹ!

Tấn lại tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Rượu nấu bằng khoai lang thì nấu làm sao kia chứ!

Năm chậm rãi rót trà và nói tiếp:

– Nhưng nấu với khoai lang hãy còn khá lắm! Người ta nấu với cùi bắp kìa.

Tấn kêu lên:

– Nấu với bắp hả.

Năm Cà Dom gầm lên:

– Khờ… ông! Nấu với cùi bắp, cùi bắp, cậu nghe chưa?

– Thế à?

– Chớ sao!

– Cùi bắp mà nấu rượu là nấu làm sao?

– Làm sao ai biết làm sao?

– Uống có bổ khỏe gì, cái thứ rượu nấu bằng cùi bắp?

– Dẫu có bề nào cũng chẳng làm chi. Làm chi cũng chằng làm chi. Dẫu có bề gì cũng chẳng làm sao!

Năm Có Dom nói xong, nhướng nhướng mắt nhìn mọi người. Cái bi đông trà của Năm Cà Dom trở nên đậm đà nhờ câu chuyện của chủ nó.

Tôi ngồi uống trà mà nghe chuyện rượu khoai lang của Năm Cà Dom bỗng nhiên tôi thấy thèm rượu, thèm một cách đột biến và gay gắt vô cùng.

Năm Cà Dom vẫn chưa buông tha cái tiết mục uống trà của anh. Năm Cà Dom nói:

– Cái nghệ thuật uống trà kể cũng hay hay. Có nhiều lúc chính trị bị người ta cho xen vào cái chuyện vui thú riêng tư ấy.

Ông Chín thấy Năm nói chuyện rào rào, vừa có duyên lại vừa không ai bắt bẻ được, nhất là Năm lại nói những chuyện mà ông Chín cho rằng “mất lập trường”, ông Chín muốn rỉ tai hoặc sửa lưng anh ta một cái, nhưng lối nào cũng không tiện cả, bởi vì xem cái tính khí của thằng cha bác sĩ này, nói là nói làm là làm không ai can được, cho nên ông già đành ngồi nghe cũng gật gù như cũng hưởng ứng cùng với những người khác.

Năm Cà Dom nói tiếp:

– Có một lần tôi đi xuống Hải Phòng, lại nhà một thằng bạn làm thuyền trưởng chơi. Nhằm ngày chủ nhật, cho nên bạn bè đến khá đông. Ở ngoài đó thì các bạn cũng biết rồi, thăng Nam Bộ ở chỗ nào cũng có bạn, hang cùng ngõ tận nào cũng tìm tới mà. Cùng dòng máu dễ tìm nhau. – Năm Cà Dom hớp chung trà rồi vui vẻ tiếp- Bữa sáng nào cũng uống trà nhưng trà khá cái là không phải uống trà cau khô, mà trà thật nhờ có thằng mua chợ đen ở đâu đó được một nhúm.

Ông Chín gầm lên:

– Đồng chí nói láo bỏ hết sách vở. Ngoài Bắc có xưởng chè Phú Thọ, có cả trăm ngàn mẫu chè, uống không hết đem bán ra nước ngoài, làm gì có trà cau khô với trà chợ đen ? Mình là cán bộ, ăn phải coi nồi, ngồi phải coi hướng , trước khi nói phải uốn lưỡi ba lần. Đồng chí có làm như vậy không ? Có uốn lưới trước không?

Năm Cà Dom cười. Tuy hơi quạu, nhưng Năm cố nén cơn giận xuống.

Năm Cà Dom nói:

– Dạ vâng, cháu biết rõ là mình có nhà máy chè Phú Thọ, có những đồi chè Phú Thọ rộng bạt ngàn… nhưng …

Ông Chín được thế cắt ngang:

– Đồng chí biết vậy mà còn ăn nói vậy thì thiệt là không biết uốn lưỡi trước khi nói.

Năm Cà Dom thấy ông già khăng khăng bắt “phốt” mình, nhưng chỉ trong một cuộc giao tranh luận về “phạm trù” lần ở ven suối Năm cũng đoán được cái tính của ông già, nên Năm vẫn vui vẻ:

– Thưa cụ cháu nói không cần đánh lưỡi, nhưng cháu nói cái gì cũng có cân tiểu ly cân đo cả, cháu là thầy thuốc mà, một chữ sai, một mi li khối sai cũng đủ giết người rồi, huống chi cả cái nhà máy mà cháu không biết.

– Tôi không nói với đám các anh nữa, các anh toàn kiếm chuyện không hay. . . Lập trường của các đồng chí để ở đâu kia chứ?

– Ơ hay, ông Chín nói vậy, thì chuyện trà cau khô là chuyện không nên nói ra à? Vậy để cho cái bọn con buôn đó lột da mình à? Lập trường của tôi ở chỗ là không để cho nó cho mình uống nước cau khô mà móc túi lấy giấy bạc cụ Hồ một cách ngang nhiên!

– Thôi tôi không nói với đồng chí nữa!

– Thì thôi. Tôi nói một mình tôi. Rồi Năm Cà Dom thản nhiên kể tiếp. Buổi sáng hôm đó, có bình trà ngon uống thiệt là đã vô cùng Vi lâu lâu mới có trà thiệt. Đang uống thì bỗng có một anh ba xạo tới. Anh ta không thân, nhưng nghe hơi trà thì xông vào chắt hết nước cốt uống rồi khen trà ngon nhưng lại bảo “trà mua chợ đen phạm chánh sách”. Mẹ nó cái thằng vô duyên quá. Trà của người ta nhảy vô uống càn mà lại còn lên lớp người ta. Mấy cái thằng như vậy, không nhiều chớ phải lúc nhúc như giòi thì mình sống sao nổi. Đó là cái chuyện uống trà hồi thuở 1956, hồi cái xưởng chè Phú Thọ hãy còn nằm trong kế hoạch của Bộ Công nghiệp. Hồi đó khác bây giờ ông Chín ạ! Cháu nói chuyện gì cũng có dẫn chứng cụ thể.

Năm Cà Dom lại tiếp:

– Nhưng bây giờ lại có chuyện bây giờ.

Ông Chín thấy như khỏe nhẹ vì Năm Cà Dom đã kể dứt chuyện uống trà, nhưng ông lại tức giận cho cái thằng cha bác sĩ Cà Dom này, không biết chuyện ở đâu mà nó cứ lôi ra lằng nhẳng như thế, ông Chín hỏi:

– Chuyện bây giờ là chuyện gì chớ?

– Đâu có chuyện gì đâu ông Chín.

– Ờ đâu có chuyện gì đâu mà nói. -ông Chín tằng hắng một cách sảng khoái rồi tiếp – Bây giờ thì nhà máy chè của mình sản xuất đều đều. Trà của mình ngon nhất thế giới rồi phải không các đồng chí ? Mỗi cán bộ hàng tháng được mua hai người một gói.

Năm Cà Dom xen vô:

– Đó là cán bộ lèm nhèm. Còn cán bộ khá khá mỗi người ít nhất được một gói chứ ông Chín. Riêng các anh lớn thì tha hồ mua. . .

Ông Chín lại tỏ vẻ bất bình.

– Lại móc lò hả?

– Đúng thật chứ. Ai ở miền Bắc mà không công nhận như vậy Chính tôi đây tháng nào cũng chạy sấp chạy ngửa năn nỉ người này người nọ để xin phiếu mua trà. Tôi ghiền thuốc lẫn ghiền trà. Đó là hai nỗi khổ của tôi mà. Sao tôi quên được. Trà tiêu chuẩn của tôi chỉ uống được sáu ấm. Đó là gói trà Chính Xuân phân ra thật đều. Uống nhín nhín thì được một ngày. . . Mẹ kiếp cái trà Tàu thiệt là gây cho mình nhiều khốn khổ.

– Ấy đã đồng chí lại mất lập trường nữa. Đồng chf thiệt lôi thôi quá! Đồng chí không có học lớp chánh trị nào sao đồng chí.

– Không!

-Ít ra trước khi về Nam đồng chí cũng phải học một lớp ba tháng chớ. Có lý nào không ngơ.

– Có học nhưng tôi thích vác gạch đi bộ hơn là vô lớp ngồi như tượng gỗ. Vô ngồi mà bụng tưởng đâu đâu! Nghe lỗ bên này qua lỗ bên kia ráo trơn.

– Vì thế đồng chí mới dễ mất lập trường!

– Mất gì đâu ông Chín!

– Trà Tàu ! Đồng chí nói là trà Tàu. Tiếng Tàu là cái tiếng của thời đế quốc nô lệ để lại cho mình. Nó là dấu vết của sự bất bình đẳng và mất đoàn kết.

Năm Cà Dom cười khè khè. Có lẽ Năm Cà Dom cũng biết lão già này quá gàn. Còn tôi thì tôi càng nực cười. Lúc nào cũng lắng tai nghe chung quanh xem có ai nói cái gì “mất lập trường” không ? Giống in như ông ta là cân tiểu ly chỉ để dùng trong cái việc độc nhất ấy vậy Cho nên tôi cứ để cho ông phân tích cái tiếng “trà’Tàu” nghe chơi.

Năm Cà Dom hỏi:

– Theo ông thì ông nói là trà gì nào?

– Tất nhiên là trà Trung Quốc.

– Vậy nếu trà đó sản xuất ở Đài Loan thì gọi là trà gì?

Ông già hơi bí, nhưng lại tìm cách giải đáp:

– Đại khái là trà Quốc dân đảng.

– Vậy thì phải gọi trà Trung Quốc là trà Cộng sản mới cân xứng và rõ nghĩa hơn. Năm Cà Dom vui vẻ nói tiếp. Theo tôi thì trà Tàu hay trà Anh Quốc, trà gì gì cũng không có lập trường ở bông trà. Cũng như uống trà không có lập trường gì cả. Uống trà là một thú vui thế thôi!

Ông Chín nói:

– Nhưng mà không thể gọi là trà Tàu được!

Năm Cà Dom cười:

– Cái đó tùy. Ai muốn gọi gì thì gọi, còn tôi thì cứ “trà Tàu”!

– Hừm ! Đâu có được! Phải thống nhất ý chí chớ! Đồng chí nói ngang như cua vậy mà nghe được à?

Tôi không ngờ ở đây lại cũng có một người kiêng cái tiếng “Tàu”. Tôi đã từng dùng tiếng “Tàu” và cũng đã từng bị sửa lưng một cách ngon lành như thế nhưng khác trường hợp này là trên giấy trắng mực đen.

Số là hồi thuở đó tôi làm ở Bộ biên tập báo Văn Học, tuần báo của Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Miền Bắc. Tôi có viết một bài, trong đó tôi có dùng hai tiếng “truyện Tàu“. Ông thư ký tòa soạn gạch đít và ngoéo ra ngoài lề sửa lại là “truyện cổ Trung Quốc” khi bản thảo sắp đưa đi nhà in, tôi trông thấy việc “sửa” văn đó. Tôi bèn lên gặp đồng chí thư ký tòa soạn. Ông bảo là chữ “Tàu” ở đây không ổn cho nên phải thay bằng chữ khác. Tôi nhận và cứ để in theo những chữ ngoài lề. Tôi nghĩ. Truyện Tàu là truyện Tàu chứ không phải là truyện cổ Trung Quốc. Vả lại Tàu và Trung Quốc là mấy thứ ? Chằng có lẽ “Tàu” là Đài Loan còn Trung Quốc là Trung Hoa lục địa. Hơn nữa, là một người cầm bút, tôi có sự suy nghĩ và có tình cảm của tôi khi tôi ngồi trước trang giấy. Cho nên khi tôi viết hai tiếng “truyện Tàu” là tôi nghĩ ngay đến những quyền truyện với những cái góc cuốn tròn, nhũng trang rách mướp và đẫm mồ hôi, với những hàng chứ lu mờ chỉ vừa đủ trông thấy và với những cái nẹp tre vàng thô kệch cũng cũ nát cặp ở lưng sách. Tôi nghĩ đền những cặp mắt kính yếu nom vào những dòng chứ kê sát bên chiếc đèn dầu hỏa mập mờ với giọng đọc ê a ngập ngừng, với những thính giả nằm im lắng nghe, hưởng ứng từng đoạn truyện với những tình tiết vui buồn mà khóc mà cười với nhân vật trong truyện. Tôi nghĩ đến ông tôi, đầu bạc phơ nằm lim dim trên bộ ván gõ lắng nghe đứa cháu đọc và đến một ..trang đã được đánh dấu trước thì sẽ đưa thưởng cho nó một đồng nửa xu. Tôi nghĩ tới tôi, cậu bé nằm sấp trên đầu ván đọc mà bụng..nghĩ tới những cuộc vui chơi rộn rực ngoài kia của chúng bạn, vì thế cho nên hễ thấy ông có vẻ ngủ thì lập tức đọc nhảy trang để mau hoàn thành nghĩa vụ, lãnh thưởng và vọt đi chơi ngay. . .

Ấy đó khi tôi viết hai tiếng “truyện Tàu” thì tôi nghĩ đến bao nhiêu việc , bấy nhiêu người đó, và tình cảm của tôi quyện lấy ý nghĩ đó trộn vào máu tim tôi mà chảy xuống ngòi bút nên hai chữ đó. Và đó, nói theo trong nghề văn là sáng tạo. Mà trong văn học nghệ thuật thì sự sáng tạo lớn nhất là thuộc về cá nhân chứ không phải thuộc về tập thể. Ngay như tiếng “Nga” và “Liên Xô” cũng vậy.

Hay tiếng “Pháp”, “Tây”, “Lang Sa” cũng vậy nốt. Phải biết dùng nó cho đúng chỗ, chứ không nên lệ thuộc vào tình cảm chủ quan mà bắt người khác sửa theo mình.

Ấy vậy, mà cái anh thư ký tòa soạn vốn là một nhà thơ không làm đến ba câu thợ, đã ngang nhiên chữa văn của một người khác như một ông thầy lớp dự bị chữa lỗi “đích tê” cho cậu học trò đầu trọc.

Tôi không phản đối, nhưng tôi không chấp nhận. Đó là vấn đề. Và hôm nay gặp ông bác sĩ Năm Cà Dom người cũng bị “quy kết” như tôi cho nên tôi mới nói ra.

Mà quả thật, Năm Cà Dom cũng như tôi, anh ta không chịu thua ông già lập trường. Năm Cà Dom nói:

– Ông Chín ạ!

-Có tôi!

– Cháu hỏi thật ông Chín nhé!

– Cứ hỏi, tôi sẵn sàng đáp lại.

– Cháu xin hỏi ông Chín, là một năm ông Chín sửa lưng những người khác chừng độ mấy lần, như vừa sửa lưng tôi đây?

Ông Chín không nổi cáu được mà vui vẻ.

– Có nhiều, sửa nhiều, có ít sửa ít.

– Nếu như người ta cãi lại ông thì ông làm sao?

Ông Chín cười, cái cười tự tin rằng không ai cãi thắng mình, ông Chín nói:

– Thì đồng chí cứ cãi thử xem.

Năm Cà Dom đứng dậy và nói:

– Xin lỗi các đồng chí, tôi ra ngoài một chút.

Tôi thì thích thú vì thấy trận đấu sắp nổ ra vui vẻ, còn Thu thì càng thích thú hơn vì thấy rằng trên trận tuyến chống ông già gân, mình có thềm đồng minh tích cực (Thu đã cãi nhau với ông Chín nảy lửa cũng vì “lập trường“).

Năm Cà Dom trở lại với điếu thuốc trên môi, trông gương mặt của Năm phấn chấn hằn lên.

Năm ngồi vào chỗ cũ và nói ngay:

– Đây, vấn đề của tôi, tức bác sĩ Năm Cà Dom nêu ra như thế này. Tôi đồng ý với ông Chín rằng Truyện Tàu phải sửa lại kêu bằng Truyện Cổ Trung Quốc như anh bạn đây vừa nêu. Và Trà Tàu cũng phải sửa lại là Trà Trung Quốc, ví dụ như Trung Quốc Kỳ Chưởng… Nhưng có những chỗ chữ Trung Quốc không thay được chữ Tàu, mà nếu cố gắn bừa chữ này vào chữ kia thì thành ra thất chánh trị!

– Ví dụ! Ví dụ xem! ông Chín thách thức.

Năm gạt nhẹ cái tàn thuốc vào cạnh hòn đá và nói:

– Ví dụ như ghẻ Tàu!

Mọi người ngả ngửa, nhảy dựng lên mà cười như ở dưới đít và ở trước ngực có gắn lò xo bị bấm nút bật tung ra, làm cho ông Chín như người bị tấn công bằng võ lực thật sự.

– Cái gì mà cười dữ vậy. Cứ đơn cử ví dụ xem sao nào

– Ví dụ như ghẻ Tàu là ghẻ Tàu chứ không thể kêu là ghẻ Cổ Trung Quốc được!

Ông Chín lúng túng, không biết quơ quào câu đáp ở đâu. Năm Cà Dom lại tiếp tục pha trò:

– Đứng về mặt y học mà nói thì ghẻ Tàu là một thứ ghẻ vô cùng lợi hại, rất nguy hiểm khè khè. . . trong các thứ ghẻ có vi trùng Sta phi lô cốc, gô nô cốc…, (Năm nếu hai ba thứ vi trùng “cốc, cốc” gì nữa tôi không nhớ hết).

Một anh bạn nhạy miếng tiếp ứng ngay:

– Ba-xi-đờ-cốc!

– Không phải đâu. Năm Cà Dom tiếp. Đấy trong trường hợp đó mà thay cho “Tàu” bằng chứ “Trung quốc Cổ” thì nguy hiểm vô cùng ông Chín nghĩ sao!

Ông Chín lắc đầu. Mồ hôi rịn ra ở từng nếp nhăn trên trán lão già lập trường.

Lão cố chống đỡ miễn cường:

– Tôi không biết y học, tôi chỉ biết cái tiếng “Tàu” là cái tiếng của thời nô lệ. Ở chế độ tốt đẹp của ta không thể để cho nó tồn tại được.

Tôi chen vào:

– Thế thì đem nó bỏ vào chặng đường vắt này cho vắt cắn nó toi mạng đi!.

Mỗi người góp vào một câu, nhưng vì đối tượng chính là ông Chín, mà ông Chín lại xụi lơ cán cuốc rồi, cho nên ý kiến của ai nấy đều trở thành những quả đấm nện vào không khí cho nên câu chuyện cũng nhạt dần theo cái bi đông trà của Năm Cà Dom đã châm nước sôi đến lần thứ mười tám.

Và mục đích của thiên hạ đến đây cũng đều để một là uống trà, hai là tán chuyện. Mà trà thì đã nhạt, chuyện lại càng nhạt hơn, cho nên ai nấy đều từ từ rút lui có trật tự. Còn tôi thì đi về võng nằm nói chuyện với Năm Cà Dom. Võng của hai đứa mắc giao đầu với nhau. Chả là cái con người của Năm cũng hợp với tôi mà!

Vừa mắc bi đông lên đầu võng, Năm đã nói ngay:

– Tôi chắc ông văn sĩ chê tôi kém xã giao lắm phải không?

– Sao?

– Còn sao nữa, văn sĩ mà đóng kịch cũng tài thế à?

– Thật mà ! Công bình mà nói thì không biết toàn bộ con người cậu như thế nào, chứ còn từ lúc gặp tới giờ thấy có nhiều cử chỉ tốt có “tính chất lương tâm nhà nghề”. Đặc biệt trong lúc này mà còn dám mời thiên hạ uống một bi đông trà Chính Xuân thì thiệt là “một con người không phải như những người khác”.

– Thôi mà, tô vẽ mãi.

– Thiệt mà. Còn cái việc cậu lội suối băng bó cho tụi nó.

Câu chuyện giữa tôi và Năm Cà Dom còn đang tương đối vui vẻ thì giao liên tới gọi đi lãnh gạo.

Tân Định Xóm Tôi…

baotreonline.com

Trần Vũ

September 14th, 2024

Post by Sơn rau 1 Aug 2025

Nhà thờ Tân Định

Tôi sinh ra ở Tân Định, lớn lên ở Tân Định và đi vượt biên từ Tân Định nên hễ ai viết về Tân Định là tôi chúi mũi đọc. Tôi không biết Bích Vân là ai nhưng cô có giọng văn ý nhị, tinh nghịch vừa giễu cợt vừa hoài niệm. Bích Vân đem cho tôi biết bao kỷ niệm, trả về cho ngôi phố có nhà thờ Thiên Phước từng chi tiết phố xá. Duy có hai chi tiết nhỏ chưa thật chính xác: Chú Hòa bán xi-rô đối diện trường Thiên Phước ngâm xi-rô với dứa chứ không phải chanh muối và Tân Định cũng bị Việt Cộng tấn công vào Tết Mậu Thân. Nhà tôi ở số 422 Hai Bà Trưng là hiệu Đại Ngọc trong hình, ở ngã ba Trần Quang Khải, Hai Bà Trưng, Yên Đỗ. Đêm mùng hai Tết, đặc công nằm vùng xuất phát từ hiệu phở Bình ở số 7 Yên Đỗ tấn công binh-đinh Mỹ kế bảo sanh viện Lương Kim Vi. Nhà tôi ngay đối diện, chứng kiến lính Mỹ trên sân thượng bắn trả xuống lòng đường, đạn ghim vào cửa sắt reo xèo xèo. Đến sáng 4 xác Việt Cộng nằm tênh hênh trên đất, trực thăng bốc lính Mỹ đi và ông Ngô Toại chủ hiệu phở Bình bị Cảnh sát Dã chiến VNCH còng tay. Chi tiết khác: rạp Mô-Đẹc sau này đổi tên là rạp Kinh Đô, còn rạp Kinh Thành chuyên trình diễn cải lương. Rạp sang nhất vẫn là rạp Văn Hoa, thứ nhì là Casino Đa-Kao bên cạnh thạch chè Hiển Khánh và Hải Ký Mì Gia ở ngã ba Mạc Đĩnh Chi-Đinh Tiên Hoàng. Tiệm uốn tóc nổi tiếng là tiệm Tân Hồng Kông gần hiệu Giày Gia không xa kem Mai Lan và hiệu nhiếp ảnh Chí Mỹ cũng đối diện rạp Kinh Thành.

Giọng văn của Bích Vân ấm áp, êm đềm, trả về cho Tân Định những thanh bình của trước lúc nước mất nhà tan. Cám ơn Bích Vân.

[Trần Vũ]

Tôi đi để lại đường xưa

Cùng bao kỷ niệm nắng mưa bên đời …

Chả hiểu tại sao, nhưng hễ cứ nghe ai nhắc hoặc nói đến hai chữ Tân Định là tôi lại thấy lòng nao nao, xúc động một cách kỳ lạ. Không kềm được. Chỉ mới nghe đến hai chữ Tân Định không thôi là đã thấy cả một quãng đời thơ ấu thần tiên như hiện ra trước mắt với biết bao kỷ niệm vui buồn thân yêu, cả một thời mới lớn vô tư đầy mơ với mộng, và cũng cả … một thời «đổi đời» khốn đốn chật vật lúc nào cũng chỉ nghĩ đến cái ăn, cái mặc …

Đã ở Sài Gòn, ai mà chả biết hoặc chưa từng đi ngang qua nhà thờ Tân Định? Qua Hai Bà Trưng, con đường chính nối liền Phú Nhuận và… cứ thế đi thẳng tắp lên Trung Tâm Sàigòn. Đi thẳng ra chỗ tượng Đức Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng, giang sơn của Hải Quân, thì có lẽ chính xác hơn, nhưng đường phố Catinat và Bonard cũng đã nằm lẩn quẩn gần đâu đấy, chỉ cách có vài bước. Cái đất Tân Định của tôi có nhiều … thứ nổi tiếng lắm nhé. Rất rất nhiều thứ. Những nhân vật trứ danh của vùng quận nhất Tân Định nói chung, và khu Nhà Thờ của tôi nói riêng, thì… ối thôi hằng hà vô số, nhớ sao cho hết, và kể sao cho xuể? Một thí dụ nôm na thôi, tầm thường thôi, nhưng chắc chắn sẽ còn rất nhiều người vào lứa tuổi sồn sồn như tôi khó mà quên cho được … Chú Hòa (còn được gọi một cách thân mật là Chí Hòa) có cái xe đẩy bán sirop đá bào ở đầu cái hẻm đối diện với nhà thờ Tân Định. Những buổi trưa nắng gắt mà được sà vào giằm giằm khuấy khuấy một ly “đá nhận” thoang thoảng chút mùi chanh muối rồi chấm chấm mút mút từng muỗng đá bào có xịt xịt tí sirop mầu xanh mầu đỏ, thì cứ gọi là… coi ông mặt trời như… nơ-pa, đã khát và mát ruột gì đâu!!!

Lại nhớ hồi tôi còn đầu tắt mặt tối với cái quán café cóc (sau 75 ấy mà, buôn bán nhì nhằng chỉ mong kiếm đủ tiền đi chợ hằng ngày thôi, có mấy ai mà chẳng phải thế, như tôi, nhỉ?) cũng ở ngay đầu hẻm, đã biết bao lần chú Hòa thương hại “giải vây” cho tôi vay tạm từng cục nước đá BGI để tôi phục vụ bán café “sữa đá” hay “đen đá” cho những người vừa tan lễ nhà thờ ùa vào hàng loạt… khiến tôi lính quýnh tíu tít pha pha chế chế luôn tay không kịp thở và cái thứ hàng gì tôi bày bán cũng hết sạch nhẵn, chỉ trong nhấp nháy, sau những giờ tan lễ ngày Chủ Nhật.

Cái quán café cóc của tôi thật ra thì… chả có mấy người còn nhớ đến, nhưng nức tiếng lắm lắm cả Sài Gòn lẫn Chợ Lớn là (quán đàng hoàng) Café Thu Hương nằm gần ngã tư đèn xanh đèn đỏ Hiền Vương (Mayer cũ). Ngày xưa, lúc đang còn trong thời kỳ nhắng nhố … sắp sửa thành người lớn, bọn ghiền ngồi café chúng tôi cứ phân vân không biết phải chọn café Văn Hoa Dakao hay Thu Hương Tân Định để được nghe những bài nhạc ngoại quốc “mới ra lò”, thịnh hành nhất, romantique nhất… Văn Hoa thì nhạc hay, âm thanh hay và có mấy cô caissières yé yé xinh xẻo nhưng café lại chỉ tàm tạm thôi, nên chúng tôi đóng đô Thu Hương thường hơn, vả lại những hôm lười đi xa, tôi chỉ việc băng qua đường là đã tới, gần xịt.

Gần xịt hơn nữa là cái quán bánh xèo Đinh Công Tráng, rộn rịp từ xế xế chiều cho đến tối khuya, lúc nào cũng tấp nập người và xe. Nghe nói sau gần 40 năm rồi mà đến bây giờ vẫn còn tấp nập xe và người, cả ngày lẫn đêm nữa cơ đấy!

Đi quá thêm vài ba bước nữa là tới cái ngõ hẻm của nghệ sĩ Tùng Lâm, danh tiếng thì… cả nước biết. Tôi thường đi băng tắt ngang cái hẻm này mỗi ngày để ra chợ, cái hẻm đâm thẳng vào hông chợ, đầu hẻm có xe nước mía (pha lẫn với dâu Đàlạt) của chị Tám, trời thần ơi là ngon, nhất là được uống vào những buổi tối cúp điện. Có lẽ chưa có loại nước uống nào trên thế giới, theo tôi nghĩ, mà vừa rẻ, vừa đã khát, vừa ngon lại vừa bổ như nước mía, nếu đừng để ý đến cái đám nhặng xanh bay vần vũ trên những xác mía đã được ép lấy nước rồi, cũng như những đẵn mía chưa ép…

Cứ gì phải ra tận ngoài Hà Nội để mò đến Chả Cá Lã Vọng mới thưởng thức cho được cái món chả cá thì là chấm mắm tôm? Chả cá Sơn Hải ở ngay ngã ba Lý Trần Quán và Đinh Công Tráng (còn gọi là Calmette) mà không ngon ư? Cứ gọi là lịm cả người đi ấy chứ! Và trong cái ngõ hẻm sát kế bên còn có một nhân vật, lúc còn sinh thời, đã từng làm mưa làm gió trong giới điện ảnh hồi đó: tài tử Đoàn Châu Mậu, bố của Tuyền, cô bạn học cùng lớp với tôi ở Marie Curie và cùng học violon với ông xã nhà tôi ở trường Quốc Gia âm nhạc. Một cô bạn tính tình hiền hậu, lành như cục đất, ai nói gì cũng chỉ ngỏn ngoẻn cười… Cô bạn này của tôi đã có dạo, trước 75 một chút, cùng với Đức Huy là một đôi khá nổi tiếng trong làng ca nhạc Sài Gòn.

Cha Tr. của giáo xứ Tân Định những năm 70 cũng là một nhân vật được nhắc đến khá nhiều, nhất là trong giới trẻ. Một thần tượng, một hiện tượng… lạ thì đúng hơn, đáp ứng được cái “máu hippie” của bọn choai choai chúng tôi thuở bấy giờ. Những buổi lễ của Cha, dành riêng cho giới trẻ, lúc nào cũng đông nghẹt!

Bọn con gái chúng tôi mê nhất là bộ râu quai nón của Cha, giọng nói từ tốn “lịm cả hồn” và những bài giảng rất là giản dị và cởi mở, những bài thánh ca soạn theo thể loại mới, nghe mà cứ “ngơ ngẩn cả người”… vì hay! Tôi biết, đã có khối con chiên ghẻ bỗng dưng trở thành ngoan đạo, chăm chỉ sốt sắng đi lễ nhà thờ không bỏ sót Chủ Nhật nào, cũng chỉ vì…Cha. Và trong số những con chiên ghẻ đó có tôi.

Sát bên nhà thờ Tân Định là trường Thiên Phước. Ngôi trường đạo này là của các Sơ, chỉ nhận toàn con gái và có một đặc điểm rất dễ thương là bắt các nữ sinh phải mặc đồng phục váy mầu hồng thay vì mặc váy mầu xanh nước biển đậm và blouse trắng như các trường đạo khác (Couvent des Oiseaux, Régina Pacis và Régina Mundi… chẳng hạn). Cứ đến giờ tan học là cả khu Tân Định nhộn nhịp hẳn lên với một đàn bướm mầu hồng khổng lồ ríu rít túa ra xúm đông xúm đỏ các gánh hàng rong túc trực sẵn trước cổng trường, trông vui mắt đáo để. Quà vặt của vùng Tân Định là có tiếng đấy. Có tiếng là ngon! Mà cũng có tiếng là đắt!

Chả thế mà người ta vẫn thường kháo với nhau là “Chợ Tân Định chỉ dành riêng cho những dân nhà giầu, bán toàn hàng “tuyển” nên mắc như quỷ (?). Mà cũng đúng thôi, tiền nào của nấy!”

Chẳng ngoa tí nào sất, thật, dân vùng Tân Định, phần lớn là “có máu mặt” cả mà! Những ngôi nhà lịch sự xinh xắn trong các con hẻm tương đối rộng rãi nếu so với những con hẻm của các vùng khác, và những cửa tiệm khang trang buôn bán sầm uất ngoài mặt đường đã nói lên rằng thì là… Quận Nhất không phải khi khổng khi không mà được gọi là Quận Nhất, nghĩa là nhất trong các quận của Sài Gòn! Và những lý do để dẫn chứng thì kể đến… mai, mốt cũng chưa hết.

Trước tiên phải kể đến lý do… yên ổn: năm 68 trong trận Mậu Thân, cái đất Tân Định chả suy suyển một mảy may nào, ở đâu nhốn nháo chứ quanh vùng tôi ở vẫn cứ êm ru bà rù. Và kiểm lại trong ký ức, tôi rất ít khi nghe nói tới các băng đảng anh chị xuất thân hay những hành vi phạm pháp xuất phát từ cái xứ Tân Định. Chỉ cần nhiêu đó thôi, thế đã đủ là lý do chính đáng hàng đầu chưa nhỉ, để chán vạn dân Sài Gòn… ôm ấp giấc mơ có được “hộ khẩu” trong vùng này? Thế thì văn hóa nữa nhé?

Yểm Yểm thư quán trên đường Trần văn Thạch chắc nhiều người trong giới chữ nghĩa vẫn chưa quên.

Còn nữa, đối diện với chợ Tân Định, ngay đầu cái xóm sát với nhà thuốc bắc Kim Khuê (có trưng một ông hổ to thật to, và thật, đứng chình ình trong tiệm) là chỗ cho mướn sách với một kho truyện phong phú… không thể tả được! Trên thì giời dưới thì sách, thôi thì không thiếu một thể loại hay tác giả danh tiếng nào. Những Văn Bình Z.28, “Lửa cháy Thành Phiên Ngung”, “Thủy Hử” hay Kim Dung hay Duyên Anh hay Ian Fleming v.v. đã góp cái vốn kiến thức cho biết bao già trẻ lớn bé không chỉ vùng Tân Định.

Còn giới văn nghệ sĩ tụ tập trong vùng này thì đông vô số kể. Nào là nữ ca sĩ Bạch Quyên và Tuyết Mai của những năm “hồi đó lâu lắm rồi”, nào là nữ diễn viên kịch Mỹ Chi, nào là nữ sĩ Nguyệt Hồ nổi tiếng như cồn nhờ tài bói bài Tây…

Nói chi đâu xa, cũng vào đầu những năm 60, ngay trong cái ngõ trước cửa Nhà Thờ của tôi, ông hàng xóm soạn giả Hoàng Khâm là… số dzách trong làng cải lương. Mỗi tối khuya mà thấy ông bách bộ đi tới rồi lại đi lui, phía bên kia đường nhà thờ, để vắt tim nặn óc viết kịch bản dựng tuồng cho các gánh hát (hạng nhất thôi đấy nhé) là thiên hạ xung quanh nhìn bằng con mắt ngưỡng mộ ghê lắm.

Hiệu uốn tóc Mô-Đéc (dấu sắc) sát bên nách hiệu thuốc tây của nhà tôi cũng được các tài tử giai nhân của cả Sài Gòn tận tình chiếu cố. Cô em Lìn Dí làm chủ tiệm này còn bà chị Lìn Chế có thêm một tiệm nữa, cũng tên Mô-Đéc, nhưng nằm trên đường phố Lê Lợi. Hai tiệm này lúc nào cũng đông nghẹt, nhất là vào những mùa Noel hay Tết, dễ thường khách đến “làm đầu” phải chờ đến cả tiếng đồng hồ mới được phục vụ. Chú Cóong, chú Cai có những bàn tay bằng vàng, được các bà các cô “tán tiu” nhiều nhất. Cứ vào đây là khắc biết hết tuốt tuồn tuột những chuyện “trong nhà ngoài phố” của… cả làng trên xóm dưới, bảo đảm!

Chỉ cách nhau chưa đầy 3 phút đi bộ, mà cái vùng tôi ở có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ là rạp Mô-Đẹc (dấu nặng) và mặt trước của chợ là rạp Kinh Thành. Hai rạp này thay phiên nhau chiếu những phim Ấn Độ và cao bồi hay ra phết, thỉnh thoảng để thay đổi không khí lại mời các gánh Cải Lương hay Hồ Quảng về trình diễn, làm nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông vào những giờ sắp mở màn hay vãn tuồng.

Đấy là những dẫn chứng (mê ly chưa?), liên quan đến “cái đầu”, mà tôi chỉ đại khái sơ qua thôi.

Còn “cái bụng” ư? Hai con đường Hiền Vương và Pasteur với một dẫy các hàng phở, món quốc hồn quốc túy vang danh khắp năm châu bốn biển, chả là cái nôi của nền văn hóa ẩm thực của nước Việt Nam đó sao? Dân sành sỏi chỉ ăn phở thịt bò ở Pasteur hay phở gà trên đường Hiền Vương. Và Phở Pasteur đã trở thành bảng hiệu của vô số tiệm Phở, điển hình là ở Boston bên Mỹ, của Mr. Lê D.

Tiệm bán giò chả Bạch Ngọc và Phú Hương, cũng trên đường Hiền Vương thì… lọ là phải ngon, nổi tiếng quá xá trời là ngon không đâu bằng. Bánh giầy, bánh giò, chả cốm, chả quế, giò lụa, giò bò không chê vào đâu được! Ăn giò chả của hai tiệm này với bánh mì nóng hôi hổi của lò Poitou gần đấy thì ngon phải biết, quên cả chết!

Ăn rồi lại muốn xơi thêm

No căng nứt bụng, cứ chêm, vẫn thèm…

Tôi còn nhớ, mãi, trong chuyến viếng thăm Little Saigon, cái cảm giác ngạc nhiên đến sững sờ khi bước chân vào lò giò chả Thái Bình trên đường Brookhurst. Cầm khoanh chả bò trên tay, cái mùi rau thì là ngào ngạt xộc vào mũi, xông thẳng lên óc. Chao ôi là quen thuộc! Là thân yêu! Trong một lóe chớp, dường như tôi thấy cả một quê hương Việt Nam, cả một bầu trời Tân Định ùa đến trước mặt. Tôi lặng cả người. Từ khi bị xa xứ, gần 20 năm rồi, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi được ngửi lại cái mùi chả bò quyến rũ này. Quyến rũ kỳ diệu cái khứu giác. Tôi cắn ngập răng, nghiến ngấu, mê mẩn. Quyến rũ thần tình cái vị giác. Không ngờ cái mùi, cái vị của một món ăn lại có sức khơi dậy kỷ niệm mãnh liệt dường ấy. Tả làm sao cho xiết những xúc động của tôi lúc đó, lúc mang cái tinh túy đặc biệt của xứ sở tôi vào lòng? Cám ơn lò giò chả Thái Bình đã cho tôi tìm lại hương vị độc đáo không bao giờ quên được này. Cám ơn cả Van’s bakery với những ô mai, những bánh mứt đủ các loại gợi cho tôi nhớ biết mấy cái tuổi nhỡ nhỡ nhàng nhàng, lúc nào trong túi cũng sẵn, trong miệng cũng ngậm, ghiền ô mai như trẻ con nhai kẹo chewing-gum. Tôi mua nhiều lắm, mỗi thứ ô mai “Bắc Việt” mấy lạng, đem về Đức, để khi nhấm nháp thì nhớ ngược trở lại những ngày phiêu lưu, ôi tuyệt vời, bên Cali.

Nhưng thôi, đấy là một “thế giới nhớ” khác vẫn rất rất đậm nét (còn mới toanh), bây giờ tôi đang nhớ Tân Định, nhớ cái khu Tân Định của tôi cơ mà.

Đường Đinh Tiên Hoàng

Tôi đang kể đến đâu nhỉ? Gì nữa nhỉ? À, cái quán điểm tâm cơm tấm bì, gần bên trường dạy lái xe hơi của ông nghị sĩ Huyền, cũng vẫn trên đường Hiền Vương, không thể không góp phần vào “nghệ thuật ăn uống” của vùng Tân Định. Cô Mỹ Trinh, cô láng giềng của quán này bây giờ lại góp phần vào nền kịch nghệ hải ngoại bên Mỹ nữa đấy.

Và nhắc đến tiệm hòm Tobia thì không ai là không biết. Không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà thôi, tôi đã thấy bảng hiệu Tobia ở miền Nam Cali nữa cơ. Hình như bây giờ nằm trên đường Newland Street của thành phố Westminster, trước đó thì trên đường Edinger? Không biết tiệm bán hòm này có liên hệ gì với vợ chồng Bùi và Cathy Tobia Tân Định, những người vẫn hay ngồi cùng… chiếu với vợ chồng tôi vào những ngày cuối tuần, hồi còn ở bên nhà?

Những “tai to mặt lớn” cũng không thiếu, khét tiếng nhất phải kể đến ngài “Th. đen” với chiếc xe Camaro độc nhất vô nhị, luých (luxe) vô cùng, nhất xứ, vào những năm đầu 70. Đối diện với tư dinh (bên trong cũng luých không kém, sau 75 trở thành trường Mẫu giáo) của ông vua điện lạnh này là tiệm Trinh shoes. Một biệt danh lẫy lừng trong giới ăn mặc thời trang của Sàigòn: Hảo Trinh shoes, giới trẻ “xịn” thời đó ai mà chẳng biết?

Sở dĩ nói vòng vo, nhắc nhở tùm lum là tại vì… nhớ quá đấy mà. Chả là đêm qua nằm mơ, tôi thấy tôi đang đi chợ hoa, những ngày giáp Tết, ở bên nhà, ở Tân Định, ở trước cái cửa hàng Pharmacie nhà tôi. Tự dưng thấy quặn ruột nhớ nhà, nhớ Tân Định, nhớ cái không khí tấp nập không có chỗ len chân trên những ngả đường xung quanh nhà thờ vào những đêm Noel, nhớ cái tíu tít rộn rịp mua sắm của những ngày sắp Tết, nhớ lung tung, nhớ đủ thứ, nhớ ơi là nhớ, nhớ quay nhớ quắt, nhớ như điên như dại, nhớ chín ruột chín gan, nhớ quá lắm… Tân Định của tôi ơi!!!

Trong chuyến Mỹ du vừa mới đây, mấy tháng trước, tôi như tìm thấy lại được một phần nào cái hồn của quê hương tôi trên xứ người. Đứng giữa khu Phước Lộc Thọ, bên tai nghe ríu rít đủ các thứ giọng của cả 3  miền Trung Nam Bắc, trước mặt và xung quanh chỉ toàn những khuôn mặt của người cùng xứ sở, tôi thấy nỗi buồn tha hương vơi đi rất rất nhiều. Và dường như tôi hít thở được mùi vị của quê hương tôi đâu đây, trên những tấm bảng hiệu đề chữ Việt, qua những món ăn thức uống thuần túy của dân tộc tôi, và có đôi lúc tôi đã thoáng bắt gặp cái khu Tân Định ngày xưa của tôi, ẩn hiện, bàng bạc, ngay trong khu thương xá này, cách nửa vòng trái đất chứ không phải ở trong lòng nước Việt Nam.

… Ai về Tân Định xóm tôi

Cho tôi nhắn nhủ đôi lời nhớ thương

Xa rồi những sáng mù sương

Hoàng hôn nhạt nắng giáo đường thánh ca

Tôi quỳ hồn bỗng mưa sa…

BV

Nhân vật

baotreonline.com

Trần Vũ

February 15th, 2020

Post by Son rau 1 Aug 2025

NGUYỄN NGHIỆP NHƯỢNG tên thật Mai Khúc Hải, sinh năm 1941 tại Quảng Bình. Tham dự sinh hoạt nghệ thuật từ 1960. Cộng tác mật thiết với tạp chí Văn Nghệ, từng chủ trương Tập San Văn Chương trước 1975. Tác phẩm đã xuất bản: Dạ Khúc, 1970. Hiện sống tại Sàigòn.

Nhân Vật chứa không gian lung linh của vườn đêm, phủ ngập lãng đãng mơ hồ của một người đàn bà ‘femme fatale’. [Trần Vũ]

Nguyễn Nghiệp Nhượng

Chúng tôi không có gì để mà nói với nhau: khung cảnh như đã biến đổi, một tia ánh trăng xuyên qua cửa lớn, nơi có một gian hoa lá đêm đen thẫm. Trăng đêm nay rất sáng, có lẽ phải rất tĩnh trời mới được như vậy. Một tay nàng mảnh dẻ đặt trên đùi, và tay khác, đúng như là một tay khác, thì trên mặt bàn với bàn tay thõng xuống mềm dịu. Một điểm óng ánh trên ngón tay của bàn tay đó. Ðiểm óng ánh cũng mềm dịu.

Hình như cả hai chúng tôi đều quên bẵng mọi chuyện khi bắt đầu tới ngồi nơi cái bàn này. Những chuyện mà tôi có thể nói với nàng đều quá nhàm dù tôi chỉ mới bước chân vào ngôi nhà này không lâu. Chúng tôi nói chuyện vớ vẩn, về thành phố, về những người ở quanh đây mà tôi chẳng hề biết mặt, những căn nhà, đêm trăng sáng, nhạc, và cả những thứ mà tôi mù tịt chẳng hạn nói về những hạt ngọc bích ở đâu đâu và kim cương trên tay nàng.

Chiếc nhẫn lúc này vẫn sáng lóng lánh và có lúc tôi nghĩ nàng hơi cầu kỳ một chút. Thật ra nàng không có món gì khác hơn và chiếc nhẫn thì có vẻ hợp với bàn tay và thân hình óng ả của nàng. Nhưng mặc dầu với cả ngôi nhà to lớn này bên cạnh nàng, tôi vẫn không ngăn được ý nghĩ về một người đàn ông nào đó, một người đàn ông đen sạm, trong một ngày mịt mù nào đó, đến tặng nàng chiếc nhẫn rồi đi biệt tích… và đại khái, một vài thứ khác trong nhà này cũng đôi lúc cho tôi cảm tưởng tương tự. Dĩ nhiên, đây chỉ là chuyện cảm tưởng.

Ánh trăng vẫn vằng vặc. Trong không khí mát lạnh, có một vài tiếng động khẽ, xa vắng. Hình như có một tiếng sóng vỗ. Ðiều này có lẽ bởi tôi đinh ninh thế, bởi cả cái không khí bằn bặt làm như lúc nào cũng bao phủ khuôn mặt và thân hình nàng. Biển, theo trí nhớ của tôi, phải ở cách đây khá xa, và tiếng sóng nếu có thì cũng gần như sự im lặng. Nhưng cũng có thể là ngọn gió nhẹ từ phía giang khẩu thổi vào đã đem tiếng sóng đi xa như vậy.

Ðột nhiên, tôi nghe một tiếng động khác thường. Một thứ tiếng tôi chưa từng nghe từ khi bước vào nhà này, ở đâu đó vọng tới. Cũng chính sau tiếng động này, nàng đổi thế ngồi một cách nhẹ nhàng chậm rãi, và nàng nói:

“Trăng sáng”.

Tiếng nói của nàng không lớn và cũng không có vẻ gì là nàng định tâm phá vỡ sự im lặng đang vây bọc chúng tôi để hướng tới một điều gì khác nào đó. Tôi im lặng một lát sau câu nói ngắn ngủi của nàng, rồi tôi nói, gần như là phải cố gắng để cho lớn hơn một chút:

“Trăng sáng”.

Hình như một ngón tay của nàng đặt trên mặt bàn có vẻ động đậy. Tôi nói tiếp:

“Em nói trăng sáng như lời than thở. Như em buồn việc gì”.

“Em không buồn gì đâu anh. Trái lại nữa kìa”.

“Em im lặng”

“Anh cũng im lặng vậy. Mà anh không thích em ngồi im lặng sao anh?”.

“Sao không? Với lại, làm sao không được. Bao lâu nay ta đã im lặng”.

Có lẽ nàng hơi mỉm cười và có lẽ nàng cũng nhìn thấy tôi hơi mỉm cười như nàng. Chúng tôi lại im lặng một lúc nữa rồi nàng lại nói trước với giọng nhẹ như hơi thở ban nãy:

“Em có thay đổi nhiều không?”

“Tất nhiên em có thay đổi. Anh cũng thay đổi vậy. Làm sao ta không thay đổi được. Có một thời anh hay nghĩ anh thay đổi, nhưng thời đó qua rồi. Bây giờ anh không hay nghĩ như thế nữa. Việc đó đâu có quan trọng”

“Anh có buồn không?”

Tôi không trả lời. Tôi nhìn sâu vào mắt nàng. Ở đôi mắt này, như hai viên đá tròn, bao quanh là nét viền của mí mắt, tôi không thấy một điều gì khác lạ như tôi vẫn thường tưởng. Nàng có đang nhìn thấy tôi không? Chắc là có. Nhưng hình như tôi không tìm thấy bóng dáng của tôi trong mắt nàng. Tôi nói:

“Không. Anh không buồn”.

“Em cũng không buồn. Em đã quen với nhiều thứ rồi. Ở trong cái nhà này, em thường ngồi một mình, nhìn ra các thứ… Nhưng em không nghĩ gì cả. Mình không có gì để nghĩ cả. Anh nhỉ?”

“Phải. Không có gì cả. Cũng như khi anh đến đây… Anh có định đến đây đâu”

Nàng nhìn tôi tỏ vẻ chờ đợi.

“Hình như anh thấy một tảng đá hay một cái gì đó quen quen, rồi anh bỏ dở đoạn đường. Anh băng ngang quốc lộ, băng ngang cánh đồng, vào thị trấn, đi lang thang…”

“Rồi anh gặp em ở đây. Anh có ngờ gặp em không?”

“Không”

“Khi anh hiện ra trong khoảng đường tối, em không nhận ra là anh. Tảng đá nào mà anh trông quen thế?”

“Em biết rồi đó. Chắc cũng chẳng có tảng đá nào cả đâu”

“Em cũng vậy”, giọng nàng chợt có vẻ khẩn khoản, mắt nàng nhìn tôi làm như cả thân hình xô về phía trước, “ngôi nhà này anh đâu đã biết, tất cả những thứ ở đây anh đâu đã biết… Vậy mà em nhìn chúng hằng ngày, hằng đêm, em đâu có nhớ tới anh. Nhưng mà. Anh biết rồi đó”.

“Thì vậy”, tôi đáp nhưng không hiểu nàng định nói gì.

“Trông anh đen quá. Anh có vẻ cao hẳn. Tóc anh hình như biến thành màu nâu. Tay chân anh dài khẳng khiu. Anh như già đi”

Thốt nàng cất tiếng cười trong trẻo. Tiếng cười của nàng vang dội trong ngôi nhà, trong khu vườn, trong ánh trăng lặng lẽ. Nàng ngưng cười và nói:

“Anh về đột ngột quá”

“Anh thì như ngủ mơ, em thấy không”

“Thôi cứ cho là ta có thay đổi đi, cũng chẳng sao. Phải không anh? Anh thử nhìn xem. Những cái thuyền ngoài cửa sông kia…”

Một tay nàng cất lên như bằng gỗ. Ðó là cánh tay mà ngón tay có đeo chiếc nhẫn lóng lánh. Trong ánh trăng sáng đang chiếu một đường xiên vào gian phòng, cái mặt nhẫn lóng lánh như một ngôi sao trong buổi sáng sớm có gió lạnh. Tôi nhìn theo ánh sáng ấy và phải mấy giây sau tôi mới bắt đầu trông thấy lờ mờ một vài hình ảnh lô xô, hiện ra trong khung cửa lớn đầy ánh trăng. Ðó là những cột buồm cao thấp không đều nhau, với những cánh buồm đã cuốn lại mắc xéo vào những cột của chúng. Những cột buồm và cánh buồm đã cuốn lại này tất cả đều mang một màu sắc mờ nhạt, vì ánh trăng lồng lộng dưới trời không mây như đã hòa bỏ tất cả những màu sắc đặc biệt của chúng. Một đôi lúc, và tại một vài chỗ, những cột này hình như sáng lên một cách loãng nhạt, rồi từ từ biến đi như thể bị hút mất bởi một tờ giấy thấm. Ðó là một cảnh sắc với âm bản hơn là được nhìn với mắt thường.

“Anh thấy những cái thuyền đậu trong bến”

Không có một ánh đèn nào, chắc thế. Và dẫu có, hẳn là chúng đã bị ánh trăng lấn át. Những cái thuyền như thể đậu trong khoảng không, không di chuyển, không lắc lư, im lặng và thẳng cứng.

“Anh có nhìn được con sông không?”

Sông ở đâu? Tôi không hề thấy. Ánh trăng đã làm mất nhiều thứ. Tôi không hề trông thấy mặt nước đáng lẽ phải lấp loáng dưới trăng sáng. Nơi những cái thuyền đậu im lặng, tiếp giáp với cả hai phía trên dưới, là một khoảng sáng trong trẻo nhưng nhạt loãng, và hình như có những hạt sáng li ti đang thay đổi mỗi lúc với tốc độ đều đặn, giống như chỉ bay lên mà không rơi xuống, theo một hướng cong rồi tụ lại ở cùng một phía. Phía đó là phía nào? Tôi không thể hình dung nổi. Tôi nói:

“Trước mặt ta, phía bên trái là gì em?”

“Không có gì cả. Chứ anh thấy gì thế?”

“Có phải hướng đó là chỗ những cái thuyền hay hạ buồm không?”

“Chắc không phải. Chỗ đó là cửa sông”

“Anh nhìn thấy những chấm sáng bay về phía ấy. Chúng nhỏ li ti bay thẳng lên”

“Những chấm sáng”, nàng cười, “tại mắt của anh đấy. Anh có nhìn thấy núi không?”

Núi? Có lẽ những ngọn núi thấp đang ở trước mặt tôi, phía sau những cột buồm lô nhô, sau giang khẩu, bên kia eo biển. Nhưng tôi không trông thấy. Ðến chỗ đó, bầu trời hình như rộng rinh và nhòe sáng. Mọi vật đã chìm ngập tất cả dáng vẻ của chúng trong ánh sáng đó.

“Anh không nhìn được núi. Hình như ban ngày, dãy núi này có những vệt trắng lớn, phải không em?”

“Ðó là những bãi cát, anh ạ”

“Nhưng bây giờ thì anh không thấy gì. Thuyền, cột buồm, những cái buồm cuốn lại, tất cả những cái ấy đều không rõ ràng. Ngay cả mặt sông, núi, hay những thứ khác cũng biến mất. Ngay cả em nữa. Hiện giờ em cũng khó nhìn thấy. Hình như tóc em đã dài lắm rồi, phải không?”

“Dài anh ạ. Em không hề cắt”

Vệt ánh trăng vẫn chiếu sáng lặng lẽ và xiên một đường trong gian phòng. Sau câu nói của nàng, hình như có một tiếng dội mỏng mảnh giống như tiếng rơi lăn tăn của những vật kim khí nhỏ trên mặt gương. Tôi ngồi im cho đến khi sự im lặng trở lại như thể là chúng đã lẩn trốn. Trong khoảng im lặng cuối này, tiếng thở của nàng nhẹ và đều. Nàng hơi nhích động thân hình, rồi đưa cả hai tay đặt trên mặt bàn. Tôi nhìn hai cánh tay đó và không khỏi kêu lên:

“Em gầy ốm quá”

Nàng cười nhẹ nhàng:

“Em không gầy đâu anh. Em khỏe mạnh lắm”

“Anh khó tin được nhưng anh mong em khỏe mạnh. Tay em xanh mướt”

“Không xanh lắm đâu anh. Chắc tại em không hay đi ra ngoài. Chắc tại vậy”

“Nơi đây có vẻ mát mẻ nhưng hình như thiếu ánh sáng mặt trời. Em phải năng ra ngoài cho khỏe người. Ở đây anh thấy lạnh quá”

“Em chịu nổi. Có lẽ tại anh không quen. Ðể em mời anh một ly rượu cho ấm nhá”

Nàng đứng lên. Tôi cũng đứng lên theo.

“Anh chịu phiền chờ em một chút thôi”

Và nàng nhẹ nhàng bước ra cửa giữa vùng ánh trăng tràn ngập. Hình như nàng bước xuống một hai bậc gạch gì đó rồi đi trong một lối sỏi trắng. Ðêm trăng vẫn thanh tĩnh.

Khu vườn có vẻ rộng mênh mông. Nàng như thể sẽ đi mất mà không trở lại. Khi tôi thu tầm mắt về để chú mục vào lối đi của nàng, thì nàng đã không còn đâu nữa. Có một bức tường ở gần chỗ nàng vừa đi đến, và tôi độ chừng nàng đã vòng theo lối đó, một nơi có những cây to, tàn rậm rạp, những chậu cảnh rải rác đây đó, cả những bụi cây trồng cạnh lối sỏi nữa. Nơi xa, gần với hàng rào, có một cái cổng nhỏ bằng gỗ, loại cánh cổng đóng nẹp sắt, mở ra một vùng rộng rãi âm u hơn, được cách biệt bởi hàng rào nhưng vẫn có vẻ là sở hữu của chủ nhân ngôi nhà này. Ánh trăng chiếu tỏa trên những mô đất đá cao thấp như người sống, một vài chỗ như phát ra ánh sáng.

Có một bức tường cao và dài thấp thoáng sau những lùm cây. Bức tường dài gần bằng một nửa chiều dài khu vườn, và nó làm cho ngôi nhà có một sinh hoạt biệt lập. Trong ngôi nhà to lớn này còn có ai ngoài nàng không? Chắc hẳn phải có một vài người nào đó, như bà con thân thích, hay một vài kẻ giúp việc. Họ ở đâu? Chắc là ở trong những căn nhà khác khuất sau phía hông mà tôi không thấy được. Vẻ im lặng mơ hồ của khu vườn làm tôi luôn luôn nghĩ đến cuộc sống biệt lập của nàng.

Gian phòng rộng quá sức so với số ít đồ đạc bày biện và những vật trang hoàng mờ tỏ. Ánh trăng soi sáng một bức chân dung vẽ chì đen không biết là người già hay trẻ nhưng y phục trịnh trọng, có vẻ bệ vệ oai võ. Ánh trăng cũng soi sáng bộ bàn ghế mà tôi và nàng vừa ngồi nói chuyện, soi sáng những cái dĩa treo tường, những tua kim tuyến nơi quần áo một hình nhân đeo mặt nạ tay cầm kiếm dáng dữ tợn. Tuyệt nhiên tôi không trông thấy một cây đèn nào.

Có lẽ nàng không thích nói chuyện với tôi dưới ánh sáng của những cây đèn. Ánh trăng thay thế cho những cây đèn và mát mẻ lung linh hơn nhiều: giờ đây vì đã quen với một số đồ vật và vị trí của chúng, tôi bắt đầu có thể nhận ra những mảng ánh sáng hơi xanh tô nhạt lên bề mặt nhiều thứ. Chẳng hạn, ánh trăng phớt nhẹ trên một nửa thân bức tượng đeo mặt nạ cầm kiếm, phớt nhẹ trên một mảng của cái tủ màu nâu nhạt, phớt nhẹ trên một vài miếng gạch bóng, trên một vài cái dĩa có hình cây cỏ hay người, trên một chiếc độc bình không cắm hoa… Trên tường, bức chân dung vẽ chì đen thì không có một mảng sáng nào, nhưng lờ mờ một thứ ánh sáng khác do độ đậm nhạt của nét chì tô bóng.

Hình như trong một lúc nào đó, có một làn gió thổi tới với âm thanh như tiếng mưa. Ðó chắc không phải là một cơn mưa, và trời vẫn sáng đều đặn không một chút nào thay đổi. Tuy nhiên, một thoáng sau khi cơn gió thổi đến, tôi bắt đầu nghe những tiếng côn trùng lẻ loi kêu ngoài vườn tưởng chừng chính cơn gió đã đánh thức chúng. Hình như trăng sáng hơn đôi chút. Hình như những mô đất đá cũng sáng hơn. Và lối sỏi thì lóng lánh.

Chốc nữa đây, những vật này có thể lại tối sẫm đi đôi chút, có thể chúng sẽ có những hình thù khác; nhưng giờ đây, ánh trăng vẫn vằng vặc, sáng đều đặn trong khắp khu vườn. Hẳn cũng có nhiều vật đang chậm rãi chuyển đổi, những góc cạnh đang thay đổi, lá và cành cây có vẻ chuyển chiều, những mặt phẳng khác đang từ từ hiện ra…nhưng đêm trăng thì vẫn thanh tĩnh, tất cả những điều có thể đó cũng thanh tĩnh. Không có một chuyển dịch đột ngột và rõ rệt nào. Tất cả đều yên tĩnh, thanh tĩnh, chậm chậm, từ từ và đều đều. Nàng hiện ra trong tất cả những điều đó.

Chúng tôi im lặng đối diện trước ngưỡng cửa. Nàng đưa cho tôi một trong hai cái ly và mở nút. Khi nàng nghiêng cái chai xuống, tôi nghe rõ tiếng thủy tinh chạm vào nhau rất khẽ và chỉ một lần nhưng tay tôi dần dần chịu thêm sức nặng như thể là nàng không cầm nổi. Nàng rót đầy ly cho tôi, và rót một chút trong ly của nàng.

Tôi không đưa cao ly mời, im lặng uống. Hình như nàng cũng nhấp một chút. Tôi đỡ chai rượu trên tay nàng và đi vào ngồi nơi cái ghế ban nãy. Nàng cũng ngồi xuống cái ghế của nàng.

“Cám ơn em đã thân đi lấy tới mời anh”, tôi nói và chờ nàng trả lời để xem có phải nàng sống một mình không. Nhưng nàng chỉ im lặng mỉm cười.

Tôi rót một ly khác, ngửa cổ uống một hơi và rót một ly khác nữa. Tôi nói:

“Em cũng uống với anh một chút đi”

Nàng lặng lẽ nhấp một chút rượu trong ly của nàng.

“Khi em đi trong vườn, quả thật tóc em đã dài”

Nàng vẫn ngồi thẳng, mắt hướng về phía tôi, nhưng đôi môi bằn bặt không một lời nào.

“Em sống trong một cái nhà quá lớn. Cả khu vườn này, cũng quá lớn. Anh không bao giờ nghĩ em sống ở một nơi như chỗ này cả. Nếu không gặp em bất ngờ, có lẽ anh chỉ đi ngang đây như mọi cái nhà khác”.

Nàng không nói gì.

“Cả hai đứa ta làm như đều không thích ồn ào. Anh bao giờ cũng vậy. Chắc em cũng vậy. Nhưng nghĩ cho cùng, ta đã im lặng quá”.

Nàng nhẹ nhàng bắt chéo hai bàn tay đang đặt trên mặt bàn.

“Có những điều ta không nên nói lại nữa, anh hiểu vậy. Em có cảm thấy như thế không?”

Nàng nhẹ nhàng mỉm cười.

“Anh đã buồn rầu một thời gian. Nhưng bây giờ thì hết rồi. Bây giờ thì hết thật rồi”.

Nàng mỉm cười.

“Thời gian thật kỳ lạ. Ta đã trải qua nhiều chuyện tưởng không thể xảy ra được. Thường khi anh tự nói: quên đi, quên hết đi. Nhưng chắc anh không làm được điều đó”

Nàng hít thở một hơi dài và nhấp một chút rượu.

“Quá khứ. Thật là khó khăn”

Nàng hơi nghiêng ly rượu của nàng và chăm chú nhìn ly rượu ấy.

“Còn hơn thế nữa, anh nghĩ vậy. Ta nương tựa vào quá khứ quá nhiều và quá lâu. Chính ra, anh tưởng ta phải sống khác hơn”

Nàng mỉm cười.

“Nhưng lâu lâu anh lại nghĩ một cách điên khùng là ta đã sống khác hơn rồi”

Nàng vẫn nhìn cái ly, hơi nghiêng đầu và mỉm cười.

“Anh chưa hề đụng tới ngón tay của em. Ta chưa hề hôn nhau một lần. Có phải không?”

Nàng khoanh hai cánh tay của nàng mà không giữ cái ly nữa. Nàng nhìn xuống hai cánh tay ấy.

“Có phải ta đã yêu nhau không? Chắc là phải. Ta yêu nhau cũng giống như một chuyện không có thực. Ðúng như là một chuyện tưởng tượng”

Nàng im lặng.

“Cuối cùng, anh tự nói nên tin là ta đã kết thúc từng phần một, một cách đầy đủ trọn vẹn mà ta không hay. Chắc ta không hay biết gì cả”

Nàng im lặng.

Cũng như những cảnh trí bây giờ. Những thuyền câu, cột buồm, sông, biển, gió biển, tiếng sóng, núi, trời mây, trăng sáng, những thứ này rồi ra sẽ không còn nữa. Ngày mai chẳng hạn. Ngày mai chúng sẽ mất hết. Ngày mai ngay cả em nữa cũng thế. Anh cũng thế. Chẳng còn gì”

Nàng im lặng.

“Có một thời kỳ anh hay nhớ tới một hình ảnh. Một đêm trăng sáng ở gần đâu đây. Trăng sáng quắc sau một cây dừa thấp. Lá dừa lấp loáng. Trăng vàng rực. Trời trong vắt. Cây dừa đó ở ngã tư của hai con đường nhỏ, phía sau một bức tường thấp. Chắc em không nhớ nó.

“Nay nó đã cao lắm”

“Cây dừa đó. Một cây dừa sáng loáng, lóng lánh, sáng quắc… Phải không?”

Nàng im lặng.

“Cây dừa đó không bao giờ rời khỏi tâm trí anh. Vậy mà anh tưởng chỉ có anh nhớ tới”

Nàng im lặng.

“Thế nhưng bây giờ thì hết rồi. Bây giờ nó không thể sáng bằng ánh trăng đang chiếu xuống đây được”

“Vâng. Nhưng anh uống rượu đi”

“Anh không quen uống nhiều rượu. Nhưng rồi anh sẽ uống”

“Em bị say một lần tưởng chết được”

Tiếng cười của nàng đột ngột ngân vang trong trẻo.

“Em mà say rượu. Anh thử tưởng tượng xem buồn cười tới đâu”

“Ðáng lẽ em không nên uống mới phải”

“Em hiểu, anh ạ. Không ai có thể xua đuổi ý nghĩ trong trí bằng thứ này được cả. Rượu chắc chỉ để uống cho khỏi lạnh”

“Anh sợ có đôi lúc thì khác”. Nàng lặng lẽ ngước nhìn tôi, mục quang như thể biến thành hình dáng: co rút trong chỗ sâu thẳm không thể với tới.

“Anh có vẻ gầy quá. Anh có bị đau thường không?”

“Không. Anh thế này có bao giờ bị đau đâu”

“Em nghĩ anh hơi yếu. Chắc anh yếu. Nét mặt anh thì không thay đổi mấy. Dù có thay đổi, em vẫn nhận ra. Nhưng má anh ít thịt hơn. Anh có cực khổ không?”

“Không. Chưa khi nào anh cực khổ. Tại sao khi không em lại nghĩ ra được điều đó vậy. Mình thì đâu có cực khổ hay không cực khổ. Mình chỉ bị cảm nắng hay cảm lạnh. Mình không khi nào có chuyện cực, không cực. Lúc nào mình cũng vậy. Chẳng bao giờ khác”

“Em cứ đôi lúc nghĩ lẩn thẩn như vậy anh ạ”

“Em nghĩ vậy rồi em làm được gì? Ví dụ anh cực khổ, rồi em an ủi anh phải không? Hay em chia gia tài cho anh?”

“Nhưng ta sống làm gì đây?”

“Ta có làm gì đâu? Anh chẳng làm gì cả. Nói cho cùng thì đúng là anh chẳng làm gì cả”

Hình như nàng hơi hơi cười. Nàng có cười không? Chắc là có. Ánh trăng vẫn vằng vặc sáng khắp khu vườn, tràn lan trên mọi vật. Hình như có những cái thuyền ngoài cửa sông đang sáng hơn một chút, bầu trời cũng sáng hơn, cửa sông cũng sáng hơn… Tôi nhìn nàng và cầm chai rượu lên. Tôi uống không cần ly cho đến hết.

“Anh sẽ bị say lắm anh ạ”

“Chắc vậy. Anh bắt đầu choáng váng”

“Anh có thấy mệt không?”

“Anh bắt đầu say say. Rượu kinh khủng quá. Nhưng chắc anh còn chịu nổi. Dù sao, lát nữa anh cũng đi khỏi đây”

“Anh đi giờ này sao?”

“Không. Nhưng cũng gần thế. Sáng mai hay buổi trưa có lẽ họ sẽ đón anh. Bây giờ anh từ biệt em luôn thể, nhé”

“Em mong gặp lại anh”

“Chắc anh sẽ ghé thăm em. Anh say rồi đây”

“Hay anh nghỉ một chốc cho khỏe đã?”

“Không. Nếu anh nghỉ một chốc, anh ngủ quay ra đây mất. Mà em biết rõ là anh bao giờ cũng muốn được ôm em ngủ”

Nàng vẫn bất động. Tôi im lặng nhìn nàng. Hai mắt sâu đen, lãng đãng, trong ánh trăng không chớp động với viền mắt nhòa lẫn giữa bóng tối và ánh sáng. Mũi nàng. Mũi cao và thẳng, suôn sẻ, xinh xắn, với nét cong thoải mái. Miệng nàng. Môi nàng. Ðôi gò má. Cái cằm. Tôi thầm cám ơn nàng đã dành đúng giây phút này để tôi được một mình ngắm nhìn nàng. Ðây là hình ảnh của nàng chăng? Tôi sẽ còn giữ được hình ảnh này trong bao lâu? Thật không còn gì rõ ràng hơn, đó là điều: chúng tôi sẽ chẳng còn dịp nào gặp nhau nữa. Hẳn nàng cũng đã hiểu được như thế. Chúng tôi là hai hình vẽ trong một bức tranh và mãi mãi chẳng bao giờ rời vị trí của mình.

Tôi đứng dậy và gần như cùng một lúc, nàng tỳ tay vào mép bàn để đứng dậy. Tôi đi vòng cái bàn, phớt qua thân hình mảnh mai của nàng, xuống thềm, vào lối sỏi, bập bềnh bước mà không rõ đang đi về hướng nào.

NNN

Trần Vũ đánh máy lại từ bản in trong tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất của Quê Hương Chúng Ta, Nxb Sóng, Sàigòn 1974.

Ảnh minh họa Liu Wen, Nguyễn Cao Kỳ Duyên (Hoa hậu VN) và tranh Bernard Buffet.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son rau 1 Aug 2025

95. Từ Vũ

Trong mấy ngày tết vừa qua, thính giả của các đài phát thanh ở hải ngoại nói chung, đặc biệt tại Quận Cam và các vùng lân cận, đã được nghe lại một số những bài hát cũ,  trong đó có bài “Gái Xuân”, thơ Nguyễn Bính do Từ Vũ phổnhạc.

Từ Vũ cũng thuộc số các tác giả “ôm đàn tới giữa đời” một lần, rồi thôi. Gái Xuân làm nhớ lại những cái tết Sài Gòn xa xưa cùng các ca sĩ thường trình bày ca khúc ấy như Linh Sơn, Ánh Tuyết, Tuyết Anh, Thu Hương, Bạch Quyên …

Bài hát được nhiều người hát như thế, nhưng có một chữ, không biết do người phổ nhạc hay người hát đầu tiên tự ý sửa đi, rồi những người sau cứ vậy mà hát, có lẽ phải xét lại, vì ý nghĩa ngược hẳn với bài thơ.

Nhan đề của bài thơ là “Gái Xuân” nhưng câu đầu tiên của Nguyễn Bính là: “Anh như cô gái hãy còn xuân”

“Anh” chứ không phải “Em”.

Nếu “Em” mà “như cô gái hãy còn xuân”, rồi đọc tiếp nữa thì hình như “Em” chẳng còn gì cả! Các ca sĩ của chúng ta gần đây, khi hát, người nọ bắt

chước người kia, thường tự ý sửa các chữ “Anh” thành “Em” hoặc ngược lại, tùy theo người hát là nam hay nữ. Thực tế, có những bài, những câu hát, không thể làm như vậy được. Lời của người nam khác lời của người nữ. Ép

uổng nghe nó ngô nghê và đôi khi làm hỏng cả bài hát.

Gái Xuân

“Anh” như cô gái hãy còn xuân

Trong trắng thân chưa lấm bụi trần

Xuân đến hoa mơ hoa mận nở

Gái xuân giũ lụa trên sông Vân

Tình xuân lơ đãng má xuân hồng

Cô gái xuân mơ chuyện vợ chồng

Đôi tám xuân đi trên mái tóc

Đêm xuân cô ngủ có buồn không?

Ý Lan

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Son rau 1 Aug 2025

94. Tử Phác

Tử Phác chỉ để lại hai ca khúc:

Tiếng Hát Quay Tơ và Tiếng Hát Lênh Đênh sáng tác chung với Lương Ngọc Châu. Nghe nói, Tử Phác mê nhạc từ khi còn nhỏ. Nhưng thân phụ cấm không cho đàn hát vì sợ trở ngại cho việc học hành của con. Tử Phác phải năn nỉ mẹ mua dấu cho một chiếc vĩ cầm, gửi bên nhà Lương Ngọc Châu, có dịp thì lén ghé qua tập dượt.

Sau ngày 30 tháng 4/75, ở miền Nam người ta mới được biết thêm một số tin tức và hay rằng, Tử Phác còn là một nhà thơ, thực tế, ông còn làm nhiều thơ hơn viết nhạc. Điều ấy cũng giải thích vì sao các ca khúc của ông, bài nào lời ca cũng rất hay.

Nghe ầm vang lên tiếng chiến chinh

Mơ làm diều mang sáo thanh bình

Nghe vườn cây xao xác gió may

Mơ làm chiếc lá uá rơi đầy

Được biết, ông từng giữ những chức vụ cao cấp trong quân đội miền Bắc và trong guồng máy cai trị của Đảng. Sau vì có liên hệ với nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, ông bị tước cả quân hàm, cắt lương bổng, đưa đi cải tạo. Được

tha khỏi các trại cải tạo, ông không biết làm sao sống vì không xin được việc làm và đã phải trải qua những ngày đắng cay, điêu đứng.

Bế cháu trong lòng đã có lúc ông viết những câu thơ buồn bã thế này:

Chiếc mặt nạ treo cao rạp hát

Nửa cười nửa khóc tấn trò đời

Cũng giống mặt tôi nửa người nửa ngợm

Tôi quay đi khỏi tủi mắt cháu tôi

Thẹn thùng ý tứ với nhà thơ

Tầm Dương canh khuya người kỹ nữ

“Tay ôm đàn che nửa mặt hoa”

Tôi giữ cháu tôi trên đùi tôi nhún nhẩy

Quay đầu đi dấu nửa mặt mo

Trong nhiều năm gia đình sống trông chờ vào sự trợ giúp của các thân nhân bên nội, từ Pháp gửi về. Thiếu thốn bù đắp bằng cách bán dần các vật dụng trong nhà. Chiếc dương cầm cũ kỹ là vật bán sau cùng.

Tôi biết đi đâu biết về đâu

Tuy không gieo ác lại hái sầu

Đất lửa khi nao là đất thánh

Cát bụi bơ vơ giữa địa cầu

Nay bạn mai thù không hiểu nổi

Chuyện đời nhân nghĩa lộn đầu đuôi

Tôi muốn hỏi trên đường vạn nẻo

Đâu đất lành dung lũ chúng tôi

Cuối cùng Tử Phác chọn quyết định giải quyết hoàn cảnh bức bách của mình bằng cách cho vợ con vượt biên. Ông ở lại Hà Nội cùng với một người con lớn, đã lập gia đình. Nỗi lo sợ khi “ném vợ con vào chỗ chết để đi tìm đường sống”. Tử Phác đã ghi lại trong một bài thơ khác:

Xưa tiễn Kinh Kha có sá gì

Sá gì tiếng sáo Cao Tiệm Ly

Sầu thế kỷ muôn lần hơn chuyện cổ

Máu nhuộm hồng triệu mắt héo phân kỳ

Tìm em nơi nao trên biển đông

Thuyền con như lá rớt giữa dòng

Lòng biển tối đen lòng đời hiểm độc

Em lênh đênh theo định mệnh hãi hùng

Đất đuổi tôi ra biển

Biển quẳng tôi về đâu

Chỉ nghe trong sóng gió

Thảm thiết tiếng hải âu

Ai xa quê hương mà nghe náo nức

Ai biệt chồng con vui sướng reo mừng

Ai đã chắc biệt ly là khổ

Ai cầm bằng đến được bờ vui

Vui ly biệt mà buồn thân phận Không biết trên thế giới có bao nhiêu dân tộc người ta đã phải làm cái việc cố gắng lìa nhau để sống, vui mừng vì có người đi thoát khỏi đất nước, dù chẳng còn mong có ngày gặp lại. 

Người ta gần như không còn tìm ra dấu vết thơ mộng,lòng yêu đời, yêu người, yêu đất nước của Tử Phác trong ca khúc Tiếng Hát Quay Tơ nữa:

Chiều không hương buông mây

lắng xuống đồng quê

Trời mênh mông tím ngắt

thoi thóp pha hồng

Hàng nước mắt lá rơi bên thềm

vun vút bóng cau

Khắp trời bát ngát khói hương

Thì thào lá biếc có thương lá vàng

Tre ngà đưa võng heo may hòa đàn

Ngập ngừng xe quay rung rinh

in bóng dáng người

Người chiến sĩ ầm gió rét mưa bay

Dấn mình trong khói súng

Chiến trường áo mong manh

Căm thù nuôi ấm thân

Quyết gắng sức nâng cao sắc cờ

Chàng ra đi giữ miếng vườn này

giữ mái tranh này

Em về xa vắng thầm lo cho cánh chim bay

Chiều nghe vang lá xiết

Em run ngỡ tiếng

ngỡ tiếng bước ai về

Quay quay thương nhớ quyến vào tơ

Quay quay se áo rét dâng chàng

Rộn ràng tơ lướt tới người chiến sĩ yêu

Quay quay thương nhớ quyến vào tơ

Quay quay chăn ấm quấn thân chàng

Mỗi một đường tơ

Là mỗi dây tình trong lòng em

dâng người hiên ngang

Nhịp xe quay vang trong tiếng gió đìu hiu

Mình tơ êm óng chuốt như

nắng hanh vàng

Mùa lá trút sắp qua

Nhớ chàng quay gấp bánh xe

Tơ vàng chắn lối gió đông

Cho người chiến sĩ đêm không lạnh lùng

Ơn lòng trai cứu nước

Gửi cùng áo ấm muôn vàn nhớ nhung

Tử Phác sống trong cảnh tù giam lỏng từ lúc được tha khỏi trại tù cải tạo cho đến lúc chết vì ung thư. Trong bài ai điếu Trần Dần đọc trước đám tang ông có những câu:

Ngày xưa

Ngày xưa … có một chàng trai

Trong ầm ầm gió rét mưa bay

Động tâm vì những người chiến trường

áo mong manh

Liều lấy cả tuổi xanh mình

Tim thật mình

Quay tơ … may áo

Ai ai đều nhớ

Mỗi một đường tơ là mỗi dây tình

dâng người hiên ngang

Thế là khúc tâm ca thành áo ấm trữ tình

Cho hơn một thế hệ những người

áo mong manh chiến trường

Như thế, văn nghệ sĩ miền Bắc trước ngày 30 tháng 4/75 cũng có những người khốn khổ chẳng khác văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30 tháng 4/75.

Vậy, những ai là người sung sướng?

Anh Ngọc-Kim Tước/Ban Tiếng Tơ Đồng phụ họa

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 26 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt
Post by Sơn rau 1 Aug 2025

Kỳ 8

Tôi bảo Thu:

– Em chuẩn bị đi, sắp tới chỗ có vắt rồi đấy!

Thu hỏi lại tôi:

– Vắt là cái gì anh?

– Trời đất! Em hỏi thiệt hay hỏi chơi?

– Em hỏi thiệt mà. Em không biết vắt là gì?

– Em biết con đĩa không nào?

– Dạ không ạ!

– Con đĩa mà em cũng không biết à?

– Em không biết thật.

– Em chưa bao giờ lội ruộng à?

– Dạ… hình như chưa bao giờ.

– Trời đất ơi! Đúng là nàng công chúa chuyên môn sống trong lầu son gác tía. Em không lội ruộng, nghĩa là sao? Chính tôi, tôi cũng không hiểu được việc đó.

– Em thú thật với anh là em chưa rời Hà Nội một ngày nào, có chăng thì cũng chỉ đi bằng xe hơi, tàu hoả. Xe tàu chạy băng băng qua những cánh đồng xanh mát mắt. Và em cũng thấy vui như trong bài hát Tiếng Vọng Đồng Quê: “Cây xanh lá xanh trời xanh, chim líu lo trên cành, lom khom người đang cấy…”, thế thôi!

– Chết chửa!

– Thú thật với anh đây là lần đầu tiên trong đời chân em lội xuống bùn.

Tôi cười:

– Thôi được rồi, để anh giải thích cho em hiểu “vắt” là con gì nhé!

– Dạ vâng!

– Vắt là một loại sâu bọ, nó có thể cắn và hút máu mình từ ba đến năm phân khối một lúc.

– Eo ôi! Khiếp thế!

– Ồ, anh nói thật mà! Để chốc nữa rồi xem. Nó đeo trên mình mà cắn có khi hằng hai ba tiếng đồng hồ mà mình không hay biết gì hết. Đến chừng mình hay gỡ nó ra được thì nó no căng ra bằng ngón tay, chích một cái thì máu xịt ra đỏ tươi.

– Nó có nhiều không anh?

– Nói đến vắt thì phải nói như muỗi vậy. Nghĩa là vô số.

-Eo ôi!

– Nếu qua một vùng có vắt thì nó đầy đàn như mạ gieo, ở dưới đất có đã đành, trên nhánh cây cũng đầy hết.

– Vậy làm sao đi?

– Thì cứ đi bừa qua thôi… Đặc điểm của nó là chui rúc vào những chỗ hiểm hóc khó trông thấy.

– Eo ôi khiếp!

Năm Cà Dom đang lim dim ngủ bỗng lên tiếng:

– Con vắt lợi hại lắm đó đồng chí văn công ạ! Liệu liệu mà đề phòng. Nó nguy hiểm hơn cả cọp beo và rắn rết. Mồm nó có bộ răng hình ba chia. Sở dĩ tôi biết rõ vậy là vì tôi bị vắt cắn rất nhiều. Sau khi gỡ nó ra lau sạch máu ở da mình, tôi trông thấy rõ cái dấu răng ba chia của nó in rõ nét bằng sợi tóc như khắc trên da mình… Cái vết thương nhỏ thế mà máu mình chảy ra rất nhiều.

Năm Cà Dom ngồi bật dậy và tiếp:

– Tôi nghe có một đồng chí bị vắt cắn, chẳng may lại bị cắn ở cổ mà lại trúng nhằm động mạch. Chú vắt cắn no rồi thì buông tay rơi xuống. Vết thương cứ chảy máu, cho đến lúc quá nhiều đồng chí kia ngất đi không ngồi dậy nổi. Sau đó nghe nói đồng chí đó chết, không biết có đúng vậy không?

– Có thật không anh? Eo ôi! Khiếp quá, làm sao em đi được?

– Nghe câu chuyện thì cũng có lý, vì động mạch bị thương thì máu chảy rất nhiều, mà hễ máu chảy nhiều thì ngất xỉu. Cái đó dễ hiểu thôi. Trong lúc mệt quá, lại ngủ say không hay. Cũng có thể chết lắm!

Thu ngồi nghe chuyện mà cứ “eo ôi” từng chập một.

Tôi sực nhớ một câu chuyện thời kháng Pháp của cô nữ sinh thuộc nữ học đường Gia Long vừa mới ra bưng biền Đồng Tháp kháng chiến. Một hôm tôi dắt cô bạn ra đồng để hái rau về ăn mắm. Cô đang lội, bỗng một chú đĩa trâu to bằng ngón tay cái đeo vào bắp chân. Cô bạn hốt hoảng quá, không biết làm sao gỡ nó ra. Cô cứ giơ bắp chân lên mà la bài hãi. Tôi chạy tới, nhưng không kịp.

Sẵn con dao trong tay, cô bạn chặt đại vào con đĩa. Con đĩa thì còn nguyên, nhưng da cô bị đứt một đường rất sâu. Tôi phải xé áo băng cho cô bạn và cõng cô ta về nhà.

Tôi kể câu chuyện đó cho Thu nghe. Tôi chủ quan tưởng rằng đó là một câu chuyện vui giải trí lúc mệt nhọc, chẳng ngờ nó làm tăng sự sợ hãi đối với Thu.

Tội nghiệp, Thu cứ lo lắng hỏi mãi về tai hại do con vắt có thể gây ra. Tôi phải nói ngược lại. Tôi nói:

– Nói chơi vậy chớ chẳng ăn thua gì. Mình lại đi sợ con vật bé tí ti hay sao?

Thu ngồi tần ngần ra, vẻ mặt vô cùng thiểu não. Tôi trông Thu mà thương hại vô ngần.

Cái thân nam nhi của mình thì dầm mưa dãi nắng chi chi cũng được, xơ xác rách nát ra xem cũng không đến nỗi nào, nhưng một người con gái đẹp mà tung vào rừng núi thì phí phạm quá. Ví như ta đốn một cây kiểng quý đã uốn hình con rồng, con phượng làm củi chụm nấu tấm cho heo ăn vậy.

Tôi biết giờ này Thu bước đi trong đoàn cùng với tôi về phía Nam nhưng con tim của Thu thì lao ngược về phía sau, tìm đường về Hà Nội.

Có lẽ Thu ân hận về những tình cảm có lúc xốc nổi của mình. Tuổi trẻ sao tránh khỏi được tình cảm đó, nhất là khi nó được phỉnh nịnh tâng hót bằng những lời ca ngợi xúi giục và hứa hẹn?

Ghê gớm thay cho miệng lưỡi con người!

Rồi khi đổ người ta vào con đường này, họ hầu như không còn trách nhiệm gì nữa.

Riêng tôi thì dù cái chết ở trước mắt, tôi cũng phải cố gắng mà đi. Tôi không chịu đựng được một cuộc sống gò bó, bực bội và ngạt thở nữa. Tôi phải đi về xứ sở, nguyên quán của tôi. Tôi là cây dừa. Tóc tôi là lá dừa. Da thịt tôi là sớ thịt cây dừa. Máu tôi là do nước dừa kết tinh. Chân tôi có triệu ngón bám vào đất như những mẩu rễ dừa muôn đời ăn sâu vào đất. Tôi đứng giữa quê hương tôi, chân lún giữa bãi phù sa của dòng sông Cửu Long thắm đỏ máu tiền nhân và đồng đội, tóc dừa tôi xanh lên vì gió nắng màu mỡ đầy sinh tố vùng nhiệt đới của quê hương Miền Nam.

Thân cây dừa kết thành chiến lũy ngăn những vàm sông chống giặc ngoại xâm, trái dừa trở thành những chùm bom rụng xuống đầu giặc những năm kháng chiến chống Pháp. Dừa đã trở thành một giống cây thiêng liêng cao quý tượng trưng cho đất nước trù phú, cho con người bất khuất.

Tôi lớn lên giữa những hàng dừa. Tôi mang trong tôi khí tiết của Cây Dừa. Hay tôi chính là cây dừa.

Tôi không thể mọc lên, xum xuê hoa lá ở một cái đất núi non. Không ai đem cây dừa lên núi mà trồng cũng như không ai đem nứa mà cặm xuống nước mặn. Một giống cây có mảnh đất riêng của nó huống chi là con người.

Cho nên tôi dù có chết tôi cũng đi về.

Có lẽ ông già Noël, ông Chín, Năm Cà Dòm tâm trạng như tôi. Đi xa nhà xa cửa lâu quá mà, anh cố trung với đảng hiếu với dân mãi ư? Anh sẽ trở thành đứa con bất hiếu, người chồng bất nghĩa và người cha vô trách nhiệm. Cái luân lý thông thường nhất đối với người Việt Nam là phụng thờ cha mẹ, nuôi đay con cái, bảo bọc vợ hiền, mà mỗi người đi tập kết đều không làm được, còn nói chi đến những chuyền cách mạng (!) đâu đâu.

Tôi thèm một cách ghê gớm được trở lại nhà, đi trên bãi cỏ đầu ngõ nhà nhặt những lá khô ở thềm nhà. Tôi muốn được ngồi ăn cơm với cha tôi với mẹ tôi ở chiếc bàn đó, ở căn nhà đó, chắc nay đã xiêu vẹo… nơi tôi đã từng ngồi ăn những bữa cơm bình thường nhất trong đời, nhưng từ khi tôi xa nhà thì tôi không còn tìm ở đâu ra những bữa ăn như vậy nữa.

Cái việc làm cao quý nào cũng phải mang lại kết quả tốt đẹp cho con người không sớm thì chầy. Ở đây những người chịu đựng quá nhiều mất mát hầu hết, cả tuổi thanh xuân, mong được hưởng một lạc thú nho nhỏ về gia đình, nhưng cũng không có.

Những người Nam trên dưới bốn mươi tuổi đi trên đường này đều là những người xa vợ trên mười năm hoặc chưa có vợ. Hai hạng người này đều mong về tận quê nhà, có phải chăng để hy sinh cho giai cấp? Hãy lắng lòng lại mà trả lời.

– Không!

Giai cấp thuần nhất là một sự bịa đặt, một điều chỉ có trong sách vở. Thực tế thì chẳng có bao giờ. Vì trong giai cấp lại có giai cấp, rồi trong những giai cấp đó lại có những giai cấp khác nữa.

Vậy thì cái mục đích của họ đi về Nam, bị bao bọc bên ngoài bằng một cái lớp áo đấu tranh và bị hiểu lầm!

Tôi suy từ tôi mà ra điều đó.

Vô số người Nam tập kết bốn mươi tuổi chưa vợ? Thật vậy mà!

Những người này bôn ba “về nước” là để cưới vợ. Họ đã cắn răng chịu đựng những trận mưa phùn những ngày nắng hạ những dông bão cùng những buổi đẹp trời là để thực hiện cái câu “ta về ta tắm ao ta, trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta”.

Bởi vì họ đinh ninh rằng ở miền Nam những thiếu nữ mơn mởn đào tơ trong “những vùng giải phóng rộng hơn những vùng giải phóng thời kháng chiến chống Pháp” luôn luôn mơ tưởng như Joséphine mơ Nã Phá Luân, như Ngọc Hân mơ Nguyễn Huệ vậy.

Tội nghiệp thay, họ vẫn bị lừa một cách rất khôn ngoan và rất chánh trị. Có ai đâu mơ những mái tóc hoa râm? Trừ những mụ nạ dòng?

Ấy đó kết quả thiết thực là nhiều đoàn người vì ở rừng cho nên vẫn không tìm ra vợ, một số người thì “hốt ổ” hai, ba con là sự thường!

Cuộc đời, trong khái niệm thời gian thì đi nhanh như vó câu qua cửa số, còn trên dãy Trường Sơn này thì nhịp độ chậm chạp dềnh dang ghê gớm. Người ta có cảm giác rằng mình đang giẫm chân tại chỗ, và lún xuống giữa những đồi cát sa mạc của bệnh tật và bi lụy.

Cậu giao liên Tấn đã trở về. Cậu ta lắc đầu nguầy nguậy:

– Các cha nội đi đâu mất hết rồi!

– Đi đâu được mà đi?

– Ai biết. Ai có chân nấy chớ!

– Nhưng chân nó gãy, nó đi là nhờ chân người khác?

– Chân ai thì chân, nhưng nó không còn ở chỗ đó nữa.

Tôi hỏi:

– Cậu đã trở lại đến chỗ bờ suối đó à?

– Chớ sao!

– Sao nhanh vậy kìa!

– Tôi nói gian cho bà móc nhãn tôi mà!

Rồi Tấn nói tiếp:

– Dắt các anh tôi phải chờ, chớ từ đây tới bờ suối đâu có bao xa. Đường chim bay không đến hai cây số. Nhưng vì leo lên tuột xuống, đi chậm hơn rùa mà lại mệt nhọc kinh khủng cho nên tưởng như mình đã đi hằng chục cây số vậy. Hồi tôi mới ra đây, đi trên đường này tôi cũng có cảm giác như các anh vậy thôi.

Tấn nói tiếp:

– Cái nòng pháo họ đã đưa tới bờ suối rồi. Tôi bảo họ đi cùng tôi Nhưng họ đã không đi, lại còn chửi tôi như chửi chó. Họ bảo tôi là vô nhân đạo chọn cái con đường thất âm đức như vậy mà bắt họ khiêng pháo đi.

Tôi vọt miệng hỏi:

– Bộ không có con đường nào khác hay sao cậu?

– Chắc anh tưởng bổ khỏe cho tôi lắm sao? Tôi sướng ích gì mà dắt các anh đi con đường mẹ rượt này chớ!

Tôi lại hỏi tới:

– Sao không tìm con đường nào khá khá hơn.

– Tôi đã bảo với các anh là không có con đường nào khác mà!

Tôi lặng thinh.

Tấn bảo:

– Bây giờ thì mình đi chớ. Liệu đi sớm đi. Chiều là bị mưa đó. Mưa xuống là vắt nó ra nó đón đường không qua nổi nhé các ông các bà!

– Đi thì đi.

Thu biết lo xa nên Thu đi trước. Rồi kế tôi đi sau.

– Có dốc không anh? Thu hỏi cậu giao liên.

Tấn nói:

– Dốc cao dốc thấp, dốc đứng dốc lài, dốc nhiều dốc ít, dốc nguy hiểm nhiều hay nguy hiểm ít, chớ không chỗ nào bằng phẳng bước sướng chân được mười lăm hai mươi bước.

Bỗng Tấn quay lại:

– Có vắt rồi đấy nhé!

Rồi Tấn dừng hẳn lại bảo:

– Các anh chuẩn bị xem cái ống bồ hòn của mình đi. Còn chị văn công thì phải túm ống quần lại cho chắc, buộc nhiều nận. Không thì… nguy hiểm đấy.

Thu bỏ ba lô xuống, lấy dây trong ba lô ra, lấy cả đôi tất ni-lông màu da người mỏng dính. Có lần Thu đã cho tôi xem và khoe rằng lúc đi Stockholm biểu diễn Thu đã mang đôi tất cao này chống lạnh và mua nó ở Hà Nội mất chín đồng bạc nghĩa là bằng nửa tháng lương tối thiểu của một công nhân.

Thu sợ vắt quá nên Thu dùng cả đôi tất quí này để chống vắt. Thu mang vào. Chao ôi! Cặp chân ngà trắng muốt với những đường nét mềm mại vô cùng lại được bọc trong một lớp ni-lông mỏng dính, làm cho sự tưởng tượng của người trông thấy nó càng tăng lên gấp bội. Vâng, cái gì mơ màng mơ hồ thì người ta phải tưởng tượng, phải ước mơ, nhất là nó vừa hiện ra đó, nó lại biến đi như lẩn khuất sau tấm màn sương mỏng.

Thu mang tất xong, buông hai ống quần xuống, và nghe theo lời của anh giao liên, Thu lấy dây buộc từng chặng từ dưới mắt cá lên đến đầu gối như bó bánh tét.

– Được đấy thế mới chắc ăn. Còn ống bồ hòn đâu chị?

– Sẵn đây rồi!

– Các anh nhớ nhé. Sắp sửa đánh nhau với lũ vắt đấy! Để rồi xem! Khiếp lắm!

Rồi đoàn người lại đi. Tấn giải thích:

– Trước kia, đúng ra là chỉ có một khu rừng bề dài độ hai cây số có vắt thôi. Qua nhanh cái là xong. Nhưng bây giờ nó lan tràn ra rồi. Cái trận địa vắt dài gấp ba gấp bốn lần. Là vì những đoàn từ Bắc vào Nam, khi đi qua khỏi khu vực này đã mang theo một số vắt trong mình. Mỗi người ít nhất là một con vắt. Một trăm người một trăm con mà ngày nào cũng có ít lắm là hàng trăm người vào. Ngược lại, những người từ Nam ra Bắc cũng mang theo số vắt y như vậy ra phía Bắc. Những con vắt di cư ấy hiện nay đã có đất đai, có quê hương rồi. Và nó kết thành một dãy liền với đám cố cựu chống lại những kẻ nào quấy rầy bọn nó. Những kẻ đó chính là chúng mình đây.

Tấn dừng lại, nhìn Thu và nói tiếp:

– Chị có dây thun nên buộc hai ống tay áo nữa.

– Chi vậy cậu? Ống tay áo mà ăn thua gì?

– Úy chị đừng xem thường nó!

– Tại sao?

– Vì nó đeo cả trên nhánh cây mà. Vắt nó khôn lắm chị ơi. Nó biết đánh hơi người và biết đón người đi qua, để chốc nữa rồi chị sẽ thấy. Nó bò ra tận ngoài chót nhánh cây bỏ vòi ra. Cái vòi nó quơ quơ như cái vòi voi tí hon để tìm đối tượng. Hễ ngửi đúng đối tượng rồi, nó búng một cái tách thế là văng qua đeo vào tai, hoặc vai, hoặc tay mình. Nó cứ thế mà bò và tìm chỗ thịt ngon mà cắm vòi vào, hút máu.

Thu rùng mình.

Tôi bảo:

– Thôi đi, đừng có nói nữa, cô ấy không dám đi đấy.

Trông Thu nai nịt mà thảm thương. Vừa đáng thương lại vừa tức cười. Giống như một nữ lâu la của một đảng cướp núi.

Tấn giục:

– Thôi đi! Kẻo trời mưa tới thì khổ.

Rồi cả đoàn lôi thôi lếch thếch kéo nhau đi. Vừa leo trèo, vừa bò lê, vừa lấy tay làm chân, lấy đầu gối làm chân, và lấy chân làm tay. Đi trên chặng đường này thì càng có nhiều tay càng tốt. Tay để bám, để níu, để ôm để làm đủ mọi động tác giữ thân mình lại khỏi phải rơi xuống hố, trợt lăn xuống sườn núi.

Khổ đời nhất là chân phải mang dép. Cái đế dép dày mo làm cho bàn chân mất cảm giác, và làm cho nó không có sức bám trực tiếp vào mặt đất. Đi dép thì hay trợt hay ngã, khó leo trèo. Thay vì đôi chân của mình phải được võ trang thêm những cái ống giác nhám đặc biệt như chân thằn lằn thì nó lại bị thay vào đó là cái đế dép trơn lỉnh.

Tấn bảo:

– Tới xứ vắt rồi đây nhé quí bà con.

Ai nấy vừa đi vừa dớn dác nhìn, để tìm đối thủ, nhưng không ai trông thấy.

Sự mệt nhọc lôi hút tâm trí của người đi đường theo một hướng khác. Cho nên không ai để ý gì cả.

Khu rừng đặc biệt lầy lội. Những lớp lá khô chồng chất lên nhau có lẽ đến hàng trăm năm, lớp cũ lớp mới đã biến thành phân, bùn đen như than bùn ở vùng U Minh. Nhưng ở đây thì than bùn này gớm ghiếc hơn, cũng như những con suối độc.

Lội vào những lớp bùn này người ta cảm thấy như da thịt mình bị bỏng, tuột ra theo mỗi bước đi. Chất độc trong bùn bị hút vào lỗ chân lông và thâm nhập vào cơ thể, làm cho người ta thấy gây gây sốt. Cái không khí đầy thán khí và cả một vùng cây lá dày đặc không có ánh sáng mặt trời, làm cho da thịt mình như bị vô số mũi kim châm.

Dưới bóng những cây cổ thụ tàng lá dày đặc như mái tôn, mái sắt này không một loại cây nào nảy mầm được. Và con người lành mạnh bước vô đây thì ngã bệnh ngay. Đúng là rừng thiêng nước độc.

Tôi cũng đã sống ở rừng U Minh, nhưng rừng U Minh đáng yêu hơn nhiều. Những cây tràm, vỏ sùi lên như những mảnh lụa màu mỡ gà ngả màu nâu. Bông tràm trổ trắng tinh khắp cả một dãy giang sơn với những đàn ong bốn phương đến hút mật bông tràm và trả lại cho đời những giọt mật tinh chế mỡ màng hơn. Lá tràm xanh cứng, chứa đầy dược chất tiết ra một mùi hương thơm bát ngát cả một vùng trời.

Nước rừng U Minh đỏ sậm không như màu phù sa thắm tươi sông Cửu Long, chạy một dòng từ rừng sâu đổ ra sông lớn. Người đi rừng khát nước có thể vốc lên uống cho kỳ đã khát mà không sợ bệnh.

Còn đất rừng U Minh thì xốp như phân. Cây chuối, cây mì cặm xuống đó rồi cứ bỏ quên đi, vài tháng sau trở lại đốn lấy buồng, nhổ lấy củ. Nhiều vùng trong rừng U Minh cho ta than bùn năng nhiệt rất cao. Những người đi rừng đôi khi bị sa lầy vào những vùng sình lầy này, nếu không biết cách thì sẽ bị chìm mất tích vào đáy vũng bùn.

Còn cá tép, rùa rắn, chim chóc, sấu ở U Minh thì không sao kể xiết. Heo rừng, nai cũng rất nhiều. Nếu rừng Trường Sơn mà dễ yêu và người như rừng U Minh thì chúng tôi đâu có trở thành thân tàn ma dại như ngày hôm nay.

Đi cái rừng Trường Sơn mà nghĩ về rừng U Minh với những mơ ước vô tận.

Chỉ cầu mong cho lá rau lá rác được hiền lành và dễ tìm như ở vùng U Minh thôi thì cũng đỡ cho chúng tôi rồi. Rau kim thất, rau tàu bay, đọt choại, đọt vừng, đọt chiết, v.v. Nội bấy nhiêu đó cùng với giọt nước hiền lành của U Minh cũng đủ bồi đắp thịt da cho chúng tôi rồi.

Ở U Minh có bao giờ chúng tôi bị sốt rét!

U Minh lúc thời kỳ kinh tế khan hiếm đâu có mùng ngủ đâu có quần áo mặc. Dân U Minh toàn ngủ trần, mặc quần gai áo bố. Nhiều người đi rừng lỡ đường, tìm một gốc dớn to. Rễ dớn đan vào nhau như những lớp vải mùng, cứ dở nó lên chui vào đó, ngủ vừa ấm vừa khỏi bị muỗi đốt.

Muỗi U Minh có đốt cũng không việc gì.

Cho nên đất U Minh “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lội lềnh như bánh canh” mà người dân vẫn khỏe mạnh không bệnh tật.

– Dừng lại bắt vắt nửa giờ!

Tấn đang đi bỗng quay lại ra lệnh.

Mọi người dừng lại, và tự nhìn mình. Tôi đâu có thấy gì đâu: Tôi cứ nhìn sơ qua tay chân quần áo và lấy làm sung sướng vì thấy mình không bi chú vắt nào đeo hết.

Tấn nói:

– Xem kỹ trong quai dép và các kẽ ngón chân.

Tôi bắt đầu thấy ngứa ngáy. Tôi bèn rút chân ra khỏi dép. Trời ơi! Tôi trố mắt ra nhìn. Những kẽ ngón chân đều bít hết.

Những chú vắt đỏ lưởng căng tròn như những múi bưởi chín.

Cứ lấy bò hòn quét vào là nó rụng hết.

Tôi sực nhớ ra cái ống bồ hòn đeo ở thắt lưng. Tôi lấy cái que nhúng vào bã bồ hòn và quét lên những kẽ ngón chân. Bọn quỉ tí hon đang chụm mỏ vào nhau hút máu tôi, bị phép thần thông rưới bất ngờ ngã lăn ra rơi xuống, nhiều con phún cả máu ra đỏ loang mặt đất. Tôi tiếp tục chấm nước bồ hòn vào những chùm vắt rơi rụng thưa dần. Những chú rơi xuống đất bò lổm ngổm tìm hơi người hoặc nằm im ọc máu ra không nhúc nhích.

Còn nhiều chú cứ đeo dính trong kẽ chân mình đẫm nước bồ hòn, nhưng hình như chúng đang hút được nguồn béo bổ bất ngờ mà quên thuốc độc đang xối trên lưng.

Tôi ngại, không dám dùng tay để gỡ bắt chúng nó, tôi bèn lấy một cái que mà gạt chúng đi, nhưng chúng đã bám chắc vào da thịt tôi hầu như chúng đã trở thành da của tôi vậy.

Buộc lòng tôi phải bắt bằng tay. Những chú vắt nhớt nhòm trơn thột thật khó nắm và rứt ra. Tôi phải vất vả lắm mới “giải phóng” cho hai bàn chân của tôi.

Xong tôi lại quét nước bồ hòn vào khắp hai bàn chân tôi, chờ cho nó khô lại quét thêm lớp nữa lớp nữa cho chắc ăn.

Nhìn lại vùng đất tôi đang đứng đã thấy nhiều nơi nhuộm máu và trên những lõm máu ấy những chú vắt đang nằm hấp hối vì bị tôi rải chất độc hoặc đang bò thật nhanh tìm mồi. Chúng nó rất hăng hái vì say mùi máu.

Thân hình của chúng như chiếc cung chưa giương đặt trên mặt đất rồi đít đun tới, khi đít vừa chạm mõm thân hình chúng cong lên như những chiếc móng ngựa thì mõm lại lập tức bổ tới ngay, thu ngắn đường đất một quãng độ ba phân tây. Cứ thế, cứ thế.

Hàng chục chú vắt tiến tới cùng một phía, chẳng khác một tiểu đội xung kích đang xông tới mục tiêu.

Chúng quờ quạng một chốc rồi đổi hướng. Chúng lại nhắm về phía bàn chân tôi mà thẳng tiến.

Một chú vắt màu nâu, to nhất đám, có sọc trắng trên lưng da láng ngời dẫn đầu đoàn xung kích. Chú ta vươn những bước rất dài cho nên đã bứt xa lũ em út ở phía sau. Khi đến gần bàn chân tôi thì chú ta dừng lại, không đi nhanh nữa.

Chú ta dựng đứng lên với tất cả bề cao và quơ quơ cái vòi trong không khí như một chiếc ăng-ten có mắt thần để tìm mồi. Trông thật khiếp đảm. Ở phía sau chú ta mấy anh nữa cũng làm theo cái kiểu ấy.

Tôi cứ lặng nhìn để xem chú to đầu làm ăn ra sao?

Khi chú ta đến bên bàn chân tôi thì cái mõm của chú chĩa ra hẳn phía trước nhọn hoắt như mũi con quay kéo vải. Còn đít chú to bằng dầu cây đinh thì gắn chặt dưới đất. Xong chú mới ngoặc xuống dán vào bàn chân tôi như một cái móc câu ghim vào thịt tôi.

Nhưng lập tức chú ta rụt mõm lại ngay, thun cổ lại, và cái vòi ngoáy lia như có vẻ bực tức, khó chịu lắm. Vì nó chạm vào chất đắng bồ hòn mà lại! Nhưng cái đít của chú ta vẫn cứ cắm chặt trên mặt đất ở nguyên chỗ cũ chứ không chịu lùi trong lúc cái vòi bỏ tới bỏ lui, hai ba lần để tìm chỗ tốt. Cuối cùng nó cắm được vào da tôi và nhấc cả thân hình lên bàn chân tôi.

Chú ta bò xung xăng trên lưng bàn chân tôi một cách đắc thắng và kiêu hãnh. Cái vòi chú cứ quơ quơ rồi lại bập xuống kéo cái đít đi tới Chàng hiệp sĩ coi cái lưng bàn chân tôi là một mảnh vườn hoang không người.

Nhưng tôi đã chấm nước bồ hòn chực sẵn và chờ cho cái mõm kia quơ lên kiêu ngạo thì tôi cho một giọt thuốc rơi đúng vào đầu! Chàng hiệp sĩ bị trời giáng bất ngờ không đỡ kịp, co quắp người lại, vo tròn như một hạt đậu và lăn xuống đất mình mẩy đằm nước dơ do nhớt của chú ta và nước bồ hòn hóa hợp.

Những tên đàn em của chàng hiệp sĩ có sọc lưng cũng nghển cổ lên và sắp đổ bộ lên cái mảnh đất màu mỡ do chàng ta phát hiện.

Nhưng tôi lại cho bồ hòn rơi tới tiếp xuống đầu chúng đánh tan ngay cuộc tấn công và lập tức tôi nhảy sang chỗ khác với sự yên tâm rằng mình đã dụ địch gom lại một nơi và đã tiêu diệt chúng sạch sành sanh rồi.

Nhưng tôi tỉnh người ra ngay…

Lúc nhúc chung quanh tôi, những cái cây tăm ai cẩm dày đặc mà mỗi cái đầu tăm quơ qua quơ lại rất đều nhịp như có một ngọn gió đay đưa.

– Vắt! Trời ơi vắt!

Vắt gì mà ghê thế. Có thể nói không có một chỗ nào trống để tôi đặt bàn chân vào hay nói khác hơn, bất cứ bước vào đâu, tôi cũng giẫm lên ít nhất là vài ba chú vắt.

Vừa ngửi thấy hơi người chúng ào ào bò tới ngay, và cùng một lúc có đến năm, bảy chú bám vào bàn chân tôi mà leo lên. Tôi lại chạy đi. Rồi tôi lại chạy đi, không thể đứng yên ở một chỗ.

Rõ ràng lũ vắt có tri giác. Chúng rất khôn ngoan. Từ trong những đám lá mục chúng nhoi lên và bò thẳng ra đường mòn. Khi đến mép đường mòn thì chúng dừng lại và bỏ vòi ra ngửi. Chúng quơ quơ cái vòi với vẻ thèm khát ác liệt. Nhiều con bò vào một cái dấu chân và cứ dừng ở đấy mà dò dẫm. Hình như chúng ngửi thấy hơi người để lại trên dấu chân đó, nhưng chúng rất tức vì không tìm ra da thịt người.

Tấn quát lên:

– Mò trong nách trong háng bà con ơi!

Nãy giờ Tấn đang tiếp sức “giải phóng” cặp chân cho cô nữ văn công. Dù Thu đã dùng tất ni-lông mang lên rất cao, nhưng vắt vẫn cứ chui hẳn vào mà cắn, hoặc có những con chỉ chui đầu vào mà hút máu thôi.

Thu phải cởi tất ra lấy que tấm nước bồ hòn và gạt từng con một. Đôi tất của Thu không còn tác dụng.

Rồi cả đoàn lại đi. Càng đứng lâu một chỗ thì càng làm mồi cho chúng nó.

Tấn lại kêu lên:

– Coi chừng nó đeo đầy quai ba lô rồi nó bò lên chui vào tai đấy.

Bỗng Thu kêu lên thất thanh:

– Ối! ối! ối!

– Cái gì vậy?

– Cái gì la dữ vậy?

Thu đang đi bỗng ném cái ba lô xuống đất và chạy lủi vào một bên đường.

Tấn bảo:

– Cứ bình tĩnh, không sao đâu, cứ quết bã bồ hòn nhiều vào là nó rụng đi thôi.

Chúng tôi phải quay mặt đi.

– Xong chưa? Năm Cà Dom hỏi.

– Bắt được chưa Thu!

Một chập sau Thu lại kêu. Lần này thì chú vắt không tấn công chỗ hiểm hóc bằng lần trước. Nó chỉ đeo dính ở sau cạnh tai.

Thu vừa phủi lia lịa vừa nhảy cà tưng như đạp phải lửa.

Tôi gắt:

– Đưa đây coi?

Thế là tôi bắt con vắt ra. Hắn ta đã hút no máu của cô nàng. Tôi nắm căng hắn ra và rứt hắn làm đôi và ném xuống đất. Tiện chân tôi chà giẫm lên như chân voi chà một trái cà.

Nhưng không đúng như thế. Khi tôi rút chân lên thì hai mẩu mình con vật vẫn còn ngo ngoe.

Tấn cười:

– Thế là anh đã biến một con thành hai con!

– Giỡn cậu! Năm Cà Dom nói.

– Ủa, tôi nói thiệt mà!

– Ai đồn chú như vậy đó?

– Hồi nhỏ ở nhà, tôi nghe người ta bảo con đỉa ai làm gì nó cũng không chết, trừ ra đốt nó mà thôi.

– Rồi sao nữa?

– Tôi nghe lời người ta tôi bắt một con đỉa, tôi lấy gai quít căng nó ra phơi nắng trên mặt đất hai ba ngày, tới chừng trời mưa xuống là nó ngo ngoe ngay!

– Dóc tổ!

– Dóc trời đánh nó!

– Ừ thì trời đánh nó chứ đâu có đánh chú!

– Anh nói tức quá! Tôi thấy, tôi làm rõ ràng mà!

– Đẩy cây thoa mỡ bò chú em ơi.

Tấn không chịu thua, cứ nói sấn tới:

– Một lần khác, tôi lấy dao bằm một con đỉa ra trăm mảnh bỏ trong lá môn đổ nước vào, túm lại. Ba ngày sau tôi dở ra, thấy một bầy đỉa con.

-Thật à?

– Chính mắt tôi trông thấy đây mà!

Năm Cà Dom cười khì khì.

– Tôi cũng biết một chuyện khác nói về sự bất tử của loài đỉa. Như thế này nhé. Một nàng dâu nhà nọ đi xúc cá bị đỉa chui lọt vô lỗ tai mà không biết. Con đã ấy chun lên sọ và đục khoét phía bên trong hằng ngày để tìm thức ăn. Nàng dâu thấy ngứa ngáy da đầu, cho nên mỗi lần nấu cơm sôi nàng có thói quen lấy cái vung nồi úp lên đầu một chốc cho đỡ ngứa. Bà mẹ chồng thấy cơm thường hay sống bèn để ý. Thì bắt gặp cái cử chỉ đó của nàng dâu. Bà ta rầy. Cô dâu chỉ cất cái nắp vung một lúc rồi khi bà mẹ chồng vừa đi khỏi bếp thì cô nàng lại lấy cái vung úp lên đầu. Một hôm bà mẹ lại bắt gặp. Bà ta giận quá, sẵn chiếc đũa bếp của cô dâu đang sơ cơm, bà ta bèn giật lấy và gõ nhẹ vào đầu cô dâu, chẳng ngờ nó vỡ ra như một cái nồi đất, và đổ xòa ra mặt đất. Các bạn biết cái gì không?

– Không.

– Óc chớ gì!

– Không phải óc, mà là một đàn đỉa mẹ đỉa mén. Chúng bò lểnh nghểnh trên mặt đất đen ngời ngời.

– Trời đất, kỳ lạ vậy!

– Thì đã bảo là cô dâu bị đĩa chui vào tai mà.

– Rồi sao kỳ vậy? Tấn hỏi.

– Thì nó chui vào tai, nó chui lên óc, nó đục khoét óc nó ăn óc để sống và sinh đẻ ra càng ngày càng đông chớ sao, và cái xương sọ bị khoét mỏng dần, cho nên bà mẹ chỉ gõ nhẹ một cái là nó vỡ toang ra…

– Thiệt sao anh?

– Thiệt chớ sao không thiệt?

– Anh có thấy thật không?

– À… cha chả, cái đó thấy thì không có thấy đâu.

– Vậy sao anh biết tỉ mỉ vậy?

– Còn cậu sao cậu cũng biết tỉ mỉ vậy?

Tấn cười xòa, biết ông bác sĩ Năm Cà Dom thấu cáy mình nên lặng im, nhưng Tấn cũng không tự ái.

Tôi đang đi bỗng thấy một vật gì nâu nâu to bằng ngón tay cái đang ngọ nguậy trong bùn. Tôi ngỡ là con sùng, nên tiện chân, tôi dẫm lên thật mạnh. Máu từ dưới đế dép tôi bắn ra ngoài. Một làn máu in trên mặt đất. Tôi gọi Thu. Thu dừng lại. Tôi trỏ cho Thu cái xác con vật và làn máu còn tươi roi rói và hỏi:

– Thu biết máu ai không?

– Máu ai vậy anh?

– Của nhà nữ múa sĩ chớ còn của ai nữa.

– Eo ôi! Thu lắc đầu – ăn cả ngày không được giọt máu mà tự nãy giờ mất không biết bao nhiêu là máu.

Năm Cà Dom xen vào:

– Cứ xem như mình chiến đấu bị thương thôi.

– Chậc! Vô lý quá!

– Mỗi người có cái lý của mình. Những người bắt mình đi trên con đường này thì cho rằng đó là chân lý, còn mình thì lại cho rằng vô lý. Nhưng cái lý của kẻ mạnh bao giờ cũng là chân lý. Cho nên lũ vắt mới được những bữa tiệc no nê.

Năm Cà Dom cười hắc hắc:

– Những chú vắt ở khu rừng này từ mấy năm nay đã biết mùi tanh của máu thịt. Nếu không có con đường này thì chúng mãi mãi là những kẻ ăn chay trường. Còn bây giờ thì chúng đã là những kẻ sát nhân uống máu người không tanh. Chắc chúng phải cảm ơn thiên hạ lắm lắm!

– Cảm ơn ai? Tôi hỏi.

Năm Cà Dom cười:

– Muốn cảm ơn ai thì cảm! Hì hì!

Ông Chín đi ở phía sau cũng với cái rừng cây cặm trên lưng ông. Cái rừng rậm di động ấy quến vắt rất có hiệu quả. Ông mặc quần đùi cho nên thỉnh thoảng ông dừng lại để dùng cái que gạt những chú vắt đeo trên bắp chân ông. Ông bị vắt đeo nhiều nhất, máu trên chân ông chảy xuống những dọc dài như sọc vải, như để trang trí thêm cho những bắp thịt teo tóp xệu xạo của lão già ngoại ngũ tuần.

Ông Chín lặng thinh bắt từng chú vắt một, không kêu ca, cũng không tỏ một thái độ nào đối với chúng. Có lẽ ông cho là trong lúc này phải vận dụng lập trường giai cấp để chống lại với bọn vắt là có hiệu quả nhất.

Còn ông già Noël thì càng đi, càng tụt hẳn lại phía sau. Giờ đây hai chiếc gậy của ông ta cũng kiệt sức. Nhìn vào ông ta, tôi chỉ còn trông thấy có “bộ râu” phất phơ dưới cái quai của chiếc nón tai bèo, một màu trắng dấu hiệu của sự bệnh hoạn và không còn sinh lực.

Anh chàng này bất cần đến ai. Tôi gặp anh ta ở rất nhiều chặng đường nhưng tôi chưa hề thấy anh ta kêu ca bất mãn về bất cứ việc gì, gạo muối, đường đi, mưa gió.

Anh ta cứ lầm lũi đi như một cái bóng mờ nhạt giữa hoàng hôn, giữa những người khác, đồng đội đồng hành của anh. Tôi đoán chắc anh ta có một sự chịu đựng ngấm ngầm ghê gớm bên trong để cuối cùng đạt được một việc gì, mà đến một ngày nào đó sẽ có một sự bùng nổ bất ngờ.

Đôi khi tôi cũng muốn gợi chuyện, nhưng anh ta không tỏ vẻ thích thú hoặc ưng chịu trao đối với ai bất cứ chuyện gì.

Mưa bắt đầu đổ hột, như cậu giao liên dự đoán. Những hạt mưa rất to, rơi rất nhanh và chỉ nhoáng một cái là mưa tầm tã ồ ạt xuống đầu lũ khách yếu đuối này.

Mọi người lấy vải mũ ra choàng. Những con người dầu ọp ẹp tàn tạ đến đâu mà khoác áo choàng vào trông cũng oai phong. Bởi vì nhìn vào họ người ta đâu có thấy được sự gầy gò, bệ rạc.

Bỗng Năm Cà Dom kêu toáng lên:

– Bỏ mẹ rồi! Bắt được thằng ăn trộm!

– Ăn trộm gì? Đâu đâu?

Năm Cà Dom ném ba lô xuống đất ngoáy hẳn một cánh tay ra sau lưng và kêu lên:

– Nó đây này! Ở chỗ “vói không tới” đấy.

– Cái gì chớ! Tôi hỏi.

-Dở áo lên thì thấy!

Tôi làm theo lời Năm. Quả nhiên một chú vắt to bóng lưởng như một quả ớt nâu. Tôi bắt lấy thủ phạm chưa kịp ban cho hắn ta một cái hình phạt nào thì Năm quay lại bảo:

– Đưa đây cho tôi!

– Đây!

Năm cầm lấy con vật đầy nhớt nhau bỏ vào cái ống đựng bồ hòn và lấy cây que ấn tuốt hẳn xuống. Năm Cà Dom cười hắc hắc:

– Mày cắn tao thì tao trị mày ở đời là thế. Nếu mày không chạm tới tao thì tao để mày yên thân.

Tôi ghé mắt nhìn vào. Thủ phạm bị chất đắng cạo sạch nhớt trắng ra như bị trộn nước sôi, bao nhiêu máu hút được của thiên hạ ọc ra hết, và hắn ngọ nguậy một cách tuyệt vọng trong cái mớ chất độc kia.

Năm Cà Dom cười:

– Mày ở đây thế nào cũng bị sốt rét. Tao cho mày uống bồ hòn thay ki-nin!

Năm Cà Dom sắp sửa mặc áo vào thì tôi phát hiện trong nách chàng một chùm vắt. Tôi kêu lên, vừa chỉ điểm cho Năm vừa bắt tiếp với Năm.

Bắt xong lũ vắt đó, nhìn xuống chân thì thấy hai bàn chân của tôi lẫn của Năm đều bị một đám vắt khác phủ kín. Chúng bò tứ tung cái mõm chúng chìa ra vung vít như một lũ đói khát đang chạy trên một mâm cỗ vĩ đại, quýnh quáng, lóa mắt, điên dại không biết phải chĩa món thế nào trước.

Tôi giơ chân lên rãy lia lịa, nhưng không rớt đi chú nào. Chúng rạp mình xuống và mõm chúng như những mũi dùi bắt đầu mọp xuống cắm lút vào da thịt tôi. Tấn bảo:

– Các anh phải vừa đi vừa gỡ, chớ nếu dừng lại thì chúng đeo đầy chân ngay, không bao giờ gỡ sạch được. Đấy nhìn cái ba lô kia kìa!

Quả thật, trên ba lô lại lểnh nghểnh những chú vắt. Chúng bò trên quai, trên miệng ba lô, không khỏi chúng đã chui vào ba lô. Tấn nói tiếp:

– Ta cứ đi thôi. Mưa xuống chúng nó hoạt động mạnh lắm. Bồ hòn mình phết trên chân trôi hết, chúng càng đeo tợn. Nhưng dù không mưa chúng cũng không sợ, bồ hòn đã lờn đối với chúng cũng như sốt rét không sợ ki-nin vậy mà. Tôi nghĩ chúng có thể sợ một món thôi!

– Món gì?

– Ớt!

– Có thể chúng sợ, nhưng ở đây làm gì tìm ra được một trái ớt? Nghe anh nhắc tới ớt tôi thèm rớt nước miếng.

Rồi chúng tôi lại đi.

Trời mưa. Đói lạnh, vắt. Bùn lầy. Cái nào cũng là cái lưỡi dao gọt đẽo sức khỏe của chúng tôi. Đầu đội mưa chân lội bùn, da thịt bị vắt cắn. Bụng lại tóp ve, bi-đông ọc ạch nước suối. Vinh quang cho lắm, người ta cũng không ham.

Chúng tôi đến cái nơi gọi là trạm lúc mặt trời mặt trăng đều mất hết. Tôi cũng không biết giờ đó là giờ nào?

Không củi, không bếp núc. Ai chế tạo ra được món gì thì xơi món nấy. Nhiều người cứ để bụng đói mắc võng leo lên nằm. Trong số đó có tôi và Thu.

Tôi cố tìm một sự nghỉ ngơi toàn vẹn sau cơn rã rời tứ chi.

Tôi thay quần áo, mò tìm khắp nơi để lôi óc những thằng kẻ trộm định hoặc đang hút máu mình xem mình là miếng mồi ngon béo bổ cho chúng. Chúng chui rúc kỹ lắm! Mình không ngờ máu mình lại bị tiêu xài phí phạm đến thế.

Cái mồm chúng đỏ loét, nhưng chúng hãy còn thèm. Chúng muốn thỏa mãn cuồng vọng. Chúng đói thịt người.

Hãy giật chúng ra khỏi mâm cỗ, nắm lấy cổ chúng mà giơ lên cho thiên hạ nhìn rõ: này là những tên thủ phạm!

Yên trí rằng mình sẽ được nằm yên trong đêm nay. Cơn đói sẽ bị xóa nhòa vì thần kinh được thỏa mãn, nghỉ ngơi.

Nhưng tôi nhầm. Khi bụng đói thì không một giác quan nào yên ổn được. Và khi nằm yên, tôi mới hiểu hoàn toàn cơn đói.

-Thu ơi!

– Dạ.

– Em yên tâm chưa?

– Yên tâm gì ạ?

– Yên tâm rằng mình đã đi qua thêm một cái ải.

– Em không bao giờ yên tâm được. Em không muốn gì cả.

– Về Hà Nội, muốn không?

– Cái chuyện đó thì ngoài ý muốn.

– Nghĩa là em không muốn?

– Không phải không muốn mà muốn không được!

– Bây giờ thì em chỉ còn đi tới thôi!

– Đó cũng là việc ngoài ý muốn!

– Nghĩa là, như em vừa nói em muốn mà không được?

– Không, ở đây thì khác hẳn lại.

– Em cứ thế mãi. Em không bao giờ thay đổi ý định à?

– Em suy nghĩ kỹ rồi.

– Nhưng bây giờ thì làm sao?

– Để em xem đã.

-Xem gì?

– Để rồi anh sẽ thấy! Biết đâu đấy!

Tôi nói:

– Anh rất hiểu em, nhưng anh không thể giúp em, cũng không ngăn em.

Chúng tôi lặng im. Lần nào Thu đề cập tới chuyện khúc mắc này của tình cảm thì in như rằng cả hai đều bế tắc.

Tôi biết Thu không có can đảm quay lại, nhưng đi tới nữa thì Thu quả là một kẻ bất đắc chí.

Trời tối quá. Le lói một vài ánh lửa như linh hồn của những người hấp hối. Những đốm linh hồn còn bám víu vào trần gian bằng những sợi tơ mong manh như tơ nhện mà chỉ một luồng gió thổi qua cũng đủ tung nó vào cõi hư vô vĩnh viễn.

Bỗng nhiên một trụ võng của tôi gãy đổ, tôi rơi ngay xuống đất. Sình lầy đẫm dưới lưng tôi.

Tối quá. Thán khí dày đặc không thể cho hai lá phổi thanh sạch được mà làm cho chúng càng nặng nề hơn.

Thì ra lúc nãy trong khi mò mẫm tìm cọc mắc màn tôi đã quờ nhằm một gốc cây mục.

Tôi phải dời chỗ. Cả chiếc tăng tôi cũng phải dời đi. Tôi mắc một đầu vào cây cọc màn của Thu. Đó là một sự mất tự do cho cả hai người nhưng tôi không biết tìm đâu cho ra một cây cọc chắc chắn..

Rồi tôi lên võng nằm.

Năm Cà Dom im thin thít. Anh ta sử dụng thời giờ rất khoa học như bản thân anh ta là một cái máy chịu sự điều khiển của chính anh. Có lẽ anh ta đang ngủ.

Tôi lại tiếp tục trò chuyện với Thu. Tôi nói.

– Có những cặp vợ chồng không yêu nhau, nhưng vẫn có con hoài hoài. Và cuộc đời cứ kéo lê mãi như thế.

Thu thở dài:

– Em ngán ghê cơ anh ạ!

– Ngán nỗi gì?

– Nỗi gì em cũng ngán cả!

– Nhưng có gì đâu mà phải ngán?

– Có chứ!

– Gì nào?

– Chuyên môn, đời sống cá nhân.

– Ai chẳng thế.

– Anh thì có gì đâu mà ngán. Anh cứ viết lách đều đều. Vượt cái Trường Sơn này rồi anh tha hồ mà sáng tác. Và khi về đến quê anh rồi thì anh gặp lại cả gia đình. Còn em thì… trái ngược với anh cả. Cố chân em hỏng rồi, có lành cũng sượng không nhạy và khỏe như xưa. Và em càng đi vào thì càng xa gia đình. Thu bỗng hét lên thất thanh. Ớ ớ… anh ơi, anh ơi! … Rồi Thu ngất lên.

Tôi ngồi bật dậy.

– Gì thế? Gì thế?

– Ơ… Ơ… bớ bớ…

Tiếng Thu bị tắt trong cổ họng. Tôi quờ quạng tìm lấy chiếc đèn pin rọi sang Thu. Trong vệt sáng xanh nhạt của chiếc đèn pin tôi nhìn thấy một mảng tuyết trắng muốt trên đó nạm một mẩu cẩm thạch đen ngời ngời.

Tôi nhìn không chớp mắt cái hình tượng nghệ thuật đó. Nhưng Thu lại dẫy dụa và kêu lên kinh hãi..

Tôi chạy vọt sang và bất giác tôi đưa tay ra cào cái vật đen ngời đang bám chặt vào đùi nàng. Nhưng cái vật đó, chú vắt, đeo chắc quá.

Tôi bắt mãi mà không kết quả. Có lẽ tôi cũng hốt hoảng vì tiếng kêu và sự vùng vẫy bạt mạng của nàng.

– Cứu em! Cứu em!

Tôi quát:

– Thì nằm êm xem nào!

– Ơ Ơ… Chết em, chết em!

– Cái gì mà ghê thế!

Vừa quát tôi vừa đè chặt đùi nàng xuống võng và gỡ chú vắt ra và vút cái tôi vứt nó ra rừng. Cái thân hình tròn nung núc của nó vút đi trong không khí như một đầu đạn và rơi xuống đất như một quả dâu.

Tôi vụt nghĩ người thiếu nữ này tuy không bị thương nhưng máu nàng đã nhuộm thắm một hòn đất vô danh của rừng này.

Tôi nằm mà tay cứ mằn mò từ bụng ngực đến sau lưng. Từ chân đến mặt mũi, cạnh tai không bỏ một chỗ nào.

Cái không khí của khu rừng này thật ẩm ướt. Ngủ phải đắp chăn mà không hết lạnh.

Xương trắng Trường Sơn

Xuân Vũ

vanviet.info

Posted on 26 tháng Sáu, 2020 by Văn Việt

Post by Son rau 1 Aug 2025

Kỳ 7

Cũng trên đường này một hôm tôi ngồi nghỉ bên bờ suối, tôi móc túi ra lấy tấm ảnh của cha tôi ra đưa cho anh em xem. Một anh bạn nói ngay với tôi:

– Anh giống in bố anh.

– Cả bên nội bên ngoại tôi đều bảo thế. Tôi đáp.

Nhưng anh bạn tôi lắc đầu:

– Anh giống bố anh, chuyện đó đã đành, nhưng tôi muốn nói là anh đã bằng tuổi bố anh trong ảnh này.

Tôi mới sực nhớ ra rằng mình đâu còn trẻ trung gì. Vậy mà cứ nghĩ rằng mình còn ngây thơ khờ dại. Đúng như lời anh bạn nói, hồi cha tôi bằng tuổi tôi bây giờ thì tôi đã mười sáu tuổi, tôi đã học gần hết ban trung học Pháp rồi.

Còn tôi bây giờ mình trần thân trụi, đi theo cách mạng hai mươi năm vẫn cái ba lô trên lưng với cái “chí lớn ngang trời” đựng trong cái ba lô, nói thì cụ thể vậy mà mò mãi không đụng, tìm mãi không ra và đốt đuốc tìm cũng không thấy.

Trên đời này có cái gì mà người ta phải mất bằng ấy tuổi tác tháng năm để dốc sức đi tìm mà không thấy không. Bemard Palissy thiêu đốt hết gỗ ván trong nhà nhưng đã tìm ra chất sơn. Cái chất sơn đó bù lại sự khổ tư khổ tưởng của ông ta.

Gutenberg tìm ra được máy in, Newton tìm ra luật hút của trái đất. Và tất cả những nhà khoa học vật lý, triết lý, không có ai phải mất nhiều công sức và thời gian như thế để tìm mà không thấy le lói một tí ánh sáng nào.

Còn nhũng người đi trên đường này, không phải quãng đường Trường Sơn mà là cả con đường này từ 1945 đến 1965 hai mươi năm chẵn, thấy cái gì ở cuối đường?

Phải chăng:

– Vách đá không nấc thang.

– Suối sâu không cầu.

– Sông rộng không đò toàn những trở ngại không có phương tiện để vượt và:

– Gạo không có, thuốc cũng không, sốt rét triền miên.

– Muối không đủ ăn, súng nặng như núi.

– Quai dép đứt hết, áo quần rách ra và ở trên đầu thì luôn luôn dội xuống, nào:

– Quyết tâm chiến thắng.

– Nghị quyết nọ, nghị quyết kia.

– Lời kêu gọi của ông này ông nọ, anh Ba, anh Tư. Tôi lượt kê ra đây những “món” mà tôi tổng kết trên con đường vinh quang này, dành riêng cho mỗi chiến sĩ, đó là chưa kể những thứ bệnh tật và thiếu thốn kỳ cục khác xảy ra bất kỳ. Đó, một con người đi trên con đường này gánh trên vai đội trên đầu mang trong lòng bằng bao nhiêu thứ đó, thì đi “giải phóng” miền Nam bằng cái gì? Và bao giờ thì giải phóng xong?

Cho nên tôi nhiều đêm nằm giữa sự lặng im ghê rợn của núi rừng nghĩ đến cái ngày mai của mình, mà ớn lạnh. Nó là:

– Sốt rét.

– Dốc đèo!

Không có gì khác hơn. Nếu có cái gì khác hơn thứ đó là cơn sốt rét nặng hơn, dốc đèo cao hơn. Thế thôi.

Và kiểm điểm lại cái quyết tâm còn sót lại của mình:

– Về để gặp lại gia đình. Đó là ý nghĩ cao siêu nhất sau hai mươi năm trời đi làm cách mạng của tôi.

Đi tìm cái gì cho xa xôi, khi cái mà mình đi tìm thì mình đã có ngay ở bên cạnh mình.

Chủ nghĩa Cộng Sản tối kỵ với chủ nghĩa cá nhân. Cho nên chủ nghĩa Cộng Sản không bao giờ thực hiện được. Bởi chừng nào còn con người thì còn chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân chỉ có thể bị diệt vong khi trên mặt đất này chỉ còn có một con người mà thôi. Cho nên không thể có chủ nghĩa Cộng Sản khi còn loài người.

Con người! Đó là một sản phẩm vừa xấu vừa tốt và Bất Diệt. Còn lại trong tôi cái gì riêng tư, cá thể, sau hai mươi năm đi tìm cái thế giới Đại Đồng.

Và quanh tôi là gia đình của tôi, cha mẹ anh em tôi. Làm người ai cũng muốn vươn lên sống có lý tưởng, nhưng lý tưởng không phải là không tưởng.

Lý tưởng nào rồi không dẫn tới việc ăn ngon mặc đẹp? Vậy thì người đã có sẵn những điều đó rồi, còn đi tìm cái gì? Tôi cảm thấy chủ nghĩa Cộng Sản không hợp với cá nhân tôi từ khi tôi biết rõ bộ mặt thật của đảng, sau một thời gian ngắn đi kháng chiến, hay nói cho cẩn thận hơn là vài năm, qua tác phong và đạo đức của một số lãnh tụ.

Tôi vốn sinh trưởng trong gia đình không thuộc thành phần “lý tưởng” và tôi lớn lên cũng không cùng với giai cấp “lý tưởng”.

Vô đảng là một sai lầm của tuổi trẻ, một sự sai lầm to nhất và nó đáng giá bằng sự mất mát cả tuổi thanh xuân, một sai lầm không thể sửa chữa được.

Nhiều kẻ đã chạy theo một thời trang, một tiện nghi, một kiểu cách (mode) chớ không phải đi theo lý tưởng nhiệt tình. Vì ai cũng thừa biết rằng có đảng thì mới mong lên chức được mà chức tước, ở chế độ nào cũng vậy, nó đi đôi với nồi gạo túi tiền. Vậy xin hỏi câu hỏi có vẻ thô lỗ, thử xem sao: “Anh vô đảng vì đảng hay vì tiền?”; trong đảng có bao nhiêu đảng viên vì đảng, có bao nhiêu người vì tiền mà luôn luôn bô bô cái mồm vì đảng!

Tôi còn nhận thấy ở một cơ quan văn hóa nọ, khi kết nạp đảng viên mới thì toàn những bồi bếp, gác cổng được chú ý còn trí thức mài mòn hết cả trí óc vì phục vụ chánh sách đường lối của đảng thì lại bị cho lùi ra xa, vì thành phần của họ không “cơ bản”.

Tôi tin chắc có rất nhiều người không thấy vinh quang gì khi được mang cái danh hiệu chiến sĩ tiền phong của giai cấp vô sản. Nhất là học sinh. Họ vô đảng không phải vì tiền, cũng không phải vì đảng và cũng phải chạy theo cái “mốt” nào cả, vì lúc bấy giờ họ chưa biết vô đảng là một cái “mốt”. Vậy xin hãy nói thằng ra rằng đa số người vô đảng là vì không hiểu đảng là cái gì hết!

Sau khi kháng chiến được năm năm (1951) tôi đã bỏ cơ quan đi về Sài Gòn nhưng rủi thay trên đường đi tôi lại gặp anh bạn thân mà sẽ có dịp tôi nhắc tới sau này cản tôi lại. Không phải vì lập trường mà vì tình cảm bạn bè với nhau, tôi đã nghe theo anh bạn này cũng không phải vì lập trường mà vì tình bạn. Vì không đi được cho nên năm 1954 tôi phải đi tập kết.

Và cũng nhờ trời đất phù hộ cho nên sau mười hai năm ly biệt quê hương tôi đã về Nam ở vùng châu thổ sông Cửu Long. Tôi vẫn viết. Tôi viết hơn hai ngàn trang truyện và tiểu thuyết, chẳng đảng nào ngó ngàng tới cả, trong vòng ba năm. Tôi thấy không sao, không mất mát gì, nghĩa là vẫn vui vẻ, không khổ tâm vì không được đảng chú ý, chỉ khổ tâm vì không có tiền mua gạo. Tôi mới rút ra kết luận: nếu không là đảng viên, người ta vẫn cầm bút không hại gì cả mà lại càng được tự do hơn.

Nhưng thôi, tôi không kể lể dài dòng. Lìa bỏ chế độ Cộng Sản để đi sống bất cứ chế độ nào khác, tôi cũng không mảy may tiếc rẻ. Đó là một sự may mắn cho cả tôi lẫn đảng.

Trên cái con đường mà tôi đi – mà người ta nói là đi lên chủ nghĩa xã hội – thiên đường của thế gian, tôi chỉ là một kẻ bộ hành bất đắc chí.

Cứ mỗi bước đi, tôi lại suy nghĩ, lại dằn vặt, tiếc rẻ, ân hận. Tôi càng leo lên cái dốc núi đứng sững này thì tôi càng cảm thấy tôi đi xuống, hay tôi chỉ leo lên thật cao để rồi lao đầu xuống vực thẳm.

Thu càng leo càng ục ịch, chậm chạp, càng thở ra, càng chắt lưỡi. Tôi biết rõ Thu muốn dừng lại từ bên kia bờ con sông vô danh chi đó. Sang sông vào một buổi hoàng hôn hỗn mang không tả xiết và khi vừa lên bờ là phải cắm đầu chạy khoảng bốn cây số để vượt cái vòng đai trắng chất độc, cho nên Thu lại cũng không thể nằm lại mà phải cuốn võng theo tôi. Chứ nếu Thu nằm lại (để làm “bê quay”) thì anh trạm trưởng sẵn sàng chứa chấp cô nàng vì anh ta nom chừng đã có ý định với cô nữ văn công rồi!

Cho nên càng đi vào thì Thu càng khổ tâm vì khó lòng làm bê quay được nữa. Trên mặt đất thì Thu đã vượt cái lằn mức phân ranh Nam Bắc như tôi vẫn nói, nhưng một cái Bến Hải thứ hai, còn trong tâm tư thì con sông đó vẫn cứ ở trước mặt Thu, mà Thu tưởng không bao giờ vượt nổi. Bỗng Thu ngừng lại và ngó xuống:

– Dốc gì dốc thế này anh!

– Thi dốc núi chứ còn dốc gì? Tôi phát cáu, trả lời cộc lốc. Đi cố lên kẻo ở đằng sau người ta quát cho.

– Ai giỏi thì lên trước, chứ em không đi mau được.

Tôi lặng thinh.

Thu tiếp:

– Em muốn làm cái đèn đỏ sau lái xe và cuối cùng tắt luôn chứ em đâu có muốn làm cái đèn pha phía trước.

Tôi không nói nữa. Vì leo dốc mà càng nói thì càng mất sức huống chi lại những chuyện không bồi dưỡng gì cho tinh thần. Tôi nhìn hai ống chân của Thu.

Mồ hôi tuôn xuống ròng ròng đọng trong lòng dép đẫm ướp cả bàn chân như Thu vừa mới lội dưới nước lên. Ở phía sau, phía dưới tôi là một lũ rùa, đúng là rùa leo núi. Ông Chín với đám lá ngụy trang bảo thủ sum suê như một cái bụi cây lào xào rung động, ông già Noël với hai chiếc gậy nhưng trên cái dốc này thì cặp gậy hầu như vô ích không dùng vào đâu được, nên ông ta phải dùng cả hai tay để bám vào rễ cây, để bò như hai chân.

Các bạn độc giả thử nghĩ giùm cho tôi xem những người lính phải khiêng cái nòng pháo đi trên con đường này thì họ phải đứng làm sao? Khi mà cái gót người đi trước bao giờ cũng suýt chạm vào mũi người đi sau đi sau, hay người đi sau luôn luôn bị đe dọa bằng cái tai nạn là người đi trước nếu sút tay sẽ nện nguyên cặp mông lên mặt mình.

Anh giao liên Tấn đứng trên một cái rễ cây ngất ngưởng ở phía chót vót trên đầu tôi. Anh ta đứng dạng háng ra, tay chống nạnh tay ngoắc lia:

– Nhanh lên! Nhanh lên!

Thu cố bương lên và đưa tay cho anh ta. Anh ta xoạc hai chân ra thật rộng, rồi một tay bám chắc vào một cái rễ ở phía sau lưng, một tay thòng xuống cho Thu.

Thu đưa hai tay lên bám chặt vào đó. Anh giao liên cố rút cái khối vừa bằng thịt xương vừa bằng vải vóc sắt nhôm đó lên, như kéo cả một quả núi.

– Hè! Anh giao liên hô lên.

– Hè! Thu cũng đáp lại để hợp đồng hai cái lực kéo và bật. Cả hai cùng đem hết sức kéo và đu người lên. Tấn đã thành công trong việc lôi tuột Thu lên. Thu nằm xoài ra trên đất.

Tôi cũng đến nơi. Tôi ngắm nghía mãi không thấy có cách nào khác giúp mình leo lên bằng cái cánh tay của Tấn. Nhưng Tấn đã lắc đầu. Tấn nói:

– Không được đâu anh. Anh nặng lắm? Tôi lôi anh lên không nổi đâu mà tôi sẽ cắm đầu xuống hố.

Tấn đi đi lại lại mãi mà không có cách nào giúp tôi. Còn tôi thì cảm thấy mình không thể trèo nổi một bước nữa để vượt lên trên cái mặt phẳng ở ngay trước mũi đó.

Bỗng Tấn đứng sát mép đá và nói:

– Anh bám lấy cổ chân tôi đây này? Được không?

Tôi giơ tay lên bám thử vào và nói:

– Tôi sợ cậu chịu không nổi. Cái chân sẽ như cái cây trốc gốc.

– Thế thì chịu.

– Để tôi coi? Năm Cà Dom ở phía sau bò trườn lên trước mặt tôi và đưa hai tay bám vào mép đá cất bổng mình lên một cách nhẹ nhàng. Đứng lên ngay, Năm Cà Dom quay lại bảo:

– Nắm tay tôi đây!

– Chắc không?

Vút cái là Năm đã lôi bật tôi lên. Và vút vút! Năm lôi lên một hơi mấy người nữa, trong đó có cả ông Chín và ông già Noël. Hai người này ngồi phệt dưới đất gục đầu vào hai đầu gối mà thở.

Trông ông Chín tôi càng thương hại. Mà nhìn ông già Noël tôi càng thương hại hơn. Hai người này rồi sẽ đi làm sao?

Đầu gối ông Chín thì đã sưng lên, còn cặp giò của ông già Noël thì chỉ còn lại như hai cái cọc màn, không hơn không kém.

Đá tai mèo đã róc hết thịt xương trên cặp chân tươi trẻ này, đã biến chúng thành cặp chân hương (nhang) tưởng như không còn chống đỡ nổi cái thân cò lép của anh ta.

Tấn nói:

– Bây giờ nghỉ xả hoi một chốc đi. Chờ phía sau đi tới.

Người nào người ấy rũ ra, không còn ai muốn nói chuyện gì, chỉ có bác sĩ Năm Cà Dom là tươi tỉnh hồn nhiên.

Năm Cà Dom nói:

– Bây giờ mà có một ly nước chanh he!

Không ai nói gì.

Năm Cà Dom không cần thiết sự hưởng ứng của những người nghe. Năm Cà Dom cứ thản nhiên nói tiếp:

– Leo cái dốc này bằng đá một trận banh ở làng, trên một cái sân đầy lỗ chân trâu. Đá thì rất ẩu, còn cái sân thì lúc nào cũng sẵn sàng bẻ lọi cặp giò mình bằng những lỗ chân trâu đó.

Năm Cà Dom cười hề hề:

– Nhưng có một điều rất khoái chí là hễ đờ-mi-tăng là có nước chanh uống. Một thùng nước chanh vĩ đại được khiêng ra tận sân cỏ cho cầu thủ. Cầu thủ uống đã đành, mà những tay ba xạo cũng nhảy vô ăn ké làm một vài ly dễ dàng. Bây giờ mình không ước mong cái thùng nước chanh đó mà mình chỉ mong sao được một cái mẩu vỏ chanh thả lêu bêu trong thùng nước. Mình vớt ra bỏ vô miệng ngậm thì đỡ mệt xiết bao phải không các bác?

Nghe cái hơi nước chanh của Năm Cà Dom mang đến tận miệng, mọi người như tỉnh ra dần. Năm Cà Dom nói tiếp:

– Có những trận đá banh cầu thủ được đãi dừa nạo! Trời đất ơi! Bây giờ bất ngờ tôi mới nhớ tới trái dừa của xứ Nam Kỳ, trái dừa không ở đâu trên đất nước mình có được. Nó bổ thấu mây xanh đi! Các bạn nghĩ đang mệt mà uống một quả dừa xiêm có vắt tí chanh thì đã vô cùng!

Nước dừa xiêm hồi thời kháng chiến chống Pháp, chính tôi đã từng dùng thay cho xê-rum, tiêm vô mạch máu kia mà! Nhưng nên nhớ trái dừa bẻ ra khỏi buồng dừa không nên quăng nó xuống đất vì có thể cơm dừa vỡ ra pha lẫn trong nước tiêm vô máu không tốt, mà phải cắn cái cuống của nó đem xuống đất. Nước dừa thật là tinh khiết, tiêm vào có thể bồi bổ cơ thể ngay.

Tôi thầm nghĩ:

– Thằng cha bác sĩ này thiết thực và tâm lý vô cùng. Nó ném ra câu chuyện nào cũng đúng lúc, đúng tình cảm con người… mỗi câu chuyện như điểm một cái vô yếu huyệt tình cảm.

Trái dừa Nam Bộ được nhắc đến ở đỉnh dốc Trường Sơn này và trong cơn khát cháy cổ họng phải chăng đã làm dịu đi cơn khát?

– Thôi nhé! Uống dừa xong, bây giờ tiếp tục đi! – Tấn bảo.

– Đi thì đi, sợ gì? – Năm Cà Dom nói.

– Nhưng kìa anh Tấn, anh lính gãy chân đâu rồi?

Mọi người mới sửng sốt, quay lại nhìn không thấy đoàn cáng anh lính gãy chân đâu nữa. Cả anh Khẩu đội trưởng cũng không thấy ở đây.

Tấn nói:

– Thì hồi nãy thấy họ cũng theo sau mình mà!

– Họ đi nhưng vất vả lắm.

– Anh có nhớ lúc nào không thấy họ theo mình nữa không?

Tôi đứng sựng ra một chốc rồi nói:

– Tôi nhớ là… hình như là…

Năm Cà Dom cướp lời tôi:

– Hình là hình như gì. Lúc mà chuyển qua cái rễ cây lủng lẳng ở trên vách núi đó, nhớ chưa? Nhớ rõ chưa? Đến cái chỗ đó thì đường tắt không còn lối đi nữa, mà muốn đi tiếp phải níu cái rễ đó. Trời đất ơi! Đường đi gì bất nhơn sát đức vậy? Phải níu vào cái rễ tòng teng đó, không biết nó có đủ sức treo mình không. Mà thấy người trước đánh đu sang được thì mình cũng cứ làm theo.

Cha chả! Có hai sự nguy hiểm. Một là mình sút tay. Hai là cái rễ đó đứt đi. Rơi xuống hố thì có ngớu xương, không lượm được một miếng thịt.

Như vậy thì làm sao mà cái đám cáng đưa anh lính gãy chân qua chỗ đó được? Hoạ may có cánh?

Tấn đứng lặng thinh ra vẻ suy nghĩ. Có lẽ trong lúc đi vừa nhọc vừa cố gắng leo trèo cho nên anh ta đã quên khuất đi những người xấu số đó.

– Bây giờ các anh ngồi đây chờ tôi nhé. Tôi trở lại tìm xem. Khổ hết sức.

Năm Cà Dom nói:

– Cậu biết trước con đường này hiểm trở như vậy sao còn để cho họ đi.

– Không đi thì nằm lại đó à?

– Chớ sao!

– Nằm lại đó, ai chịu trách nhiệm?

– Vậy chớ họ nằm cả đêm qua ở ven suối thì ai chịu trách nhiệm. Chẳng có ai chịu trách nhiệm về họ cả. Chẳng phải cậu, mà cũng chẳng phải tôi.

Tấn lặng thinh. Tấn đưa tay lên cào đầu lia lịa bằng năm ngón tay xoè ra như cái bừa cào, như để xua đi mọi sự rối rắm trong đầu.

– Tôi muốn bỏ phứt mẹ nó đi cho rồi.

– Cái đó tùy cậu.

– Tôi đi chuyến này về là xin nghỉ luôn.

– Cái đó cũng tùy cậu nốt.

Nói xong, Năm Cà Dom tìm chỗ mắc võng rồi ngả lưng ngon lành.

Bao giờ nghỉ xả hơi, tôi cũng để ý xem cái chân đau của Thu, nhưng ít khi tôi dám nhắc tới cái vết thương đó. Nó vừa là vết thương vừa là vết thương lòng.

Động tới nó, Thu vừa đau lại vừa đau trong tim…

Trấn thủ lưu đồn

doithoaionline.wordpress.com

Posted on 24/12/2024 by Doi Thoai

ThuyMyRFI

Post by Sơn râu 31 Jul 2025

Hôm nay toán mình may mắn được nghỉ lễ, các đơn vị khác vẫn làm việc bình thường. Lợi dụng ngày nghỉ nên hút bụi căn phòng cho sạch sẽ, rồi lấy xe lái ra ngoài vòng đai an ninh trung tâm đến các tiệm của người Kurd tìm mua một cây Noel nhỏ đem dìa phòng. Nhưng đây là xứ Hồi Giáo nên họ đâu có bán.

Trên đường dìa thì điện thoại rung và thấy lời nhắn của anh Đại úy Thường vụ là có rất nhiều bánh kẹo để trên bàn trong phòng làm ziệc, cứ lấy ăn tự nhiên. Về đến nơi xạ thủ chạy tất tả vào phòng làm ziệc để xơi bánh kẹo vì đang đói bụng và sợ mình đến chậm thì mấy thằng khác nó chôm hết ha ha.

Đến nơi thì mới biết nhiều chi tiết hơn: Một thùng bánh kẹo do Thiếu tướng Chỉ huy trưởng gởi từ Bộ chỉ huy đóng ở một quốc gia Trung Đông khác. Thùng còn lại thì được gởi từ hậu phương Hiệp Chủng Quốc bên kia biển lớn. Nhìn đống bánh kẹo xạ thủ tái mặt. Thôi rồi cái bụng thon đã gầy công xây dựng mấy tuần lễ qua. Nhưng vì đang đói nên xơi liền tù tì 15 cái bánh.

Bên cạnh đống bánh kẹo còn có một đống thơ và thiệp chúc mừng lễ Giáng Sinh, được người lớn lẫn các em học sinh viết nguệch ngoạc bằng viết chì trên những trang giấy học trò.

Những lá thơ đại ý như sau:

“Người lính thân mến. Cám ơn anh đã dấn thân cho quê hương của chúng ta. Xin Thượng đế ban phước lành cho anh”.

“Chào những người lính. Lá thơ này cho anh biết chúng tôi luôn luôn có các anh trong trí nhớ, và như những ngày lễ đang đến gần, chúng tôi mang ơn sự dấn thân của các anh. Chúc những ngày lễ hạnh phúc”.

“Người lính chiến thân mến. Cám ơn sự phục vụ của anh. Cám ơn đã cống hiến thời gian cho tổ quốc. Cám ơn vì đã rời xa mái nhà và gia đình của anh vì nước Mỹ…”

Lá thơ này có lẽ của một em thiếu nhi viết bằng viết chi trên trang giấy học trò. Dòng chữ nguệch ngoạc không rõ:

“Chào người lính. Anh là người lính can đảm. Ngày của anh nó giống như thế nào? Anh có thú tiêu khiển không? Anh có biết là em rất thích đá banh? Anh có thích đá banh hay là không? Ai anh thích nhiều hơn, Messi hay Ronaldo? Cám ơn sự làm việc chăm chỉ của anh. Anh có thể gởi em một lá thơ được không.”

Xạ thủ đọc từng lá thơ được gởi đến từ lục địa Hoa Kỳ. Bỗng cảm thấy cay nơi mắt và có một cái gì ướt nơi khóe mắt. Cổ mình nghẹn lại. Đây là cảm giác xúc động nghẹn lời của niềm hạnh phúc dâng trào mà nó không đến thường xuyên. Và ngay lúc này mình biết mình sẽ sẵn sàng hy sinh mạng sống cho những người bên kia biển.

BÔNG LAU 24.12.2024

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 31 Jul 2025

93. Từ Công Phụng

Từ Công Phụng xuất hiện cùng một lúc với những Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An … trước hoặc sau nhau một chút, nhưng cùng trong thập niên 60. Ông đã được yêu mến ngay với những tác phẩm đầu tay của mình.

Kể từ 1954, sau hiệp định Genève chia đôi đất nước, cuộc di cư vĩ đại của hơn một triệu người từ miền Bắc vào Nam, dường như cũng là cuộc pha trộn phù sa của sông Hồng với sông Cửu Long, làm nên một châu thổ phì nhiêu mới cho văn học nghệ thuật Việt Nam.

Chúng ta có thêm một loạt những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ và nhạc sĩ mới, như những hoa trái xanh tươi của vùng đất ấy.

Trên 30 năm “ôm đàn tới giữa đời”, Từ Công Phụng như một người tình chung thủy, không viết và hát gì khác, ngoài tình ca. Tình ca của Từ Công Phụng đã đóng góp rất nhiều vào việc làm phong phú thêm cho kho tàng tình ca chung của Việt Nam. Dĩ nhiên, với tuổi đời, với những cuộc tang thương biến đổi của đất nước, và rất có thể của cả cuộc sống riêng nữa, tình ca của Từ Công Phụng, càng ngày càng mất đi cái vẻ trong sáng ban đầu, nhưng lại càng sâu thẳm hơn ở những cõi đớn đau cũng như hạnh phúc. Hoàn cảnh đất nước chúng ta, dường đã làm cho tất cả  những người còn sống hôm nay đây, nhất là những ngườiđang lưu lạc ở các xứ tha phương này, trở thành giống như những kẻ sống sót.

Hạnh phúc của kẻ sống sót nào, không cùng một lúc, không pha lẫn đau thương và nước mắt? Trong cái tình riêng của mỗi người tìm thấy lại, luôn có một phần đất nước bị mất đi. Với cái phần bị mất đi đó, liệu cái quê hương mà người ta tưởng nhớ, có còn nguyên vẹn?

Vì thế, người ta không lạ khi thấy trong nhạc Từ Công Phụng (và trong nhạc của tất cả những người đồng thời với ông) những cơn lốc, những cơn bão biển, luôn được nhắc tới. Cả hố sâu và vực thẳm nữa.

Cuộc sống của chúng ta, kể từ sau 75, trong lúc thức và trong cả những cơn mê, luôn chập chờn trong cái ghê gai của những kẻ đi bên cạnh hay chìm ngập giữa những nỗi lo âu, những nỗi đe dọa đó.

Tình yêu giống như sự cứu vớt, một mảnh đất bằng phẳng người ta bám víu được. Có thể Từ Công Phụng không nói gì, không nhắc gì đến những điều đó. Nhưng những ca khúc mới nhất của ông, vẫn cho người nghe cái cảm tưởng vừa tới được … đất liền! Dù cái phần đất liền ấy vẫn chỉ là cái cõi tạm bợ.

Mưa soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Đời em đã khép đi vội vàng

Tình xưa cũng lấp lối thiên đàng

“Khi đốm lửa nhỏ nhoi lóe lên từ chiếc que diêm trong đêm tối, anh đã nhìn thấy trong đôi mắt em khô, cuộc tình mình trên những tháng ngày đã qua.

Khi ngọn sóng thủy triều dâng lên, xóa tan đi những ái ân gẫy vụn, trên đỉnh sóng bạc đầu, anh đã nhìn thấy giọt nước mắt vô tình, bạc hạnh.

Hỡi em, có phải đó là những giọt nước mắt em đã để lại cho tình ta, cho ngàn sau’ Đó là những lời ca rút ra từ một ca khúc của Từ Công Phụng Mắt Lệ Cho Người Tình. Đó cũng là những lời giải bầy của Từ Công Phụng cho.

bài Một Chiếc Que Diêm. Nó cho thấy cái khổ đau, cái ngọt ngào trộn lẫn.

Những lời nói nửa mơ, nửa thực. Có thể nói tất cả những điều ấy, là thế giới nhạc thu gọn của Từ Công Phụng. Ông đã chọn làm người đi hát tình ca và đang đi tiếp con đường của mình. Tình ca của Từ Công Phụng có những nét riêng biệt, người ta có thể nghe và biết được qua giai điệu và cách thức viết lời ca của ông. Như một thứ gừng, càng già càng cay, nhạc Từ Công Phụng, càng về sau này càng trở nên thắm thiết. Hay nói như Tô Vũ [càng] dạn dày đời mới [càng] ngọt ngào đường tơ. Và, nghe nhạc Từ Công Phụng, phải nghe chính ông hát mới thấy hết được cái chất thơ mộng, lãng mạn, chứa dấu trong từng mỗi âm thanh.

Vì, ngoài sáng tác, Từ Công Phụng còn là một ca sĩ hát  tình ca đích thực, hiếm hoi, chúng ta có được. Giọng ông dày và ấm.

Những nốt xuống thấp của Từ Công Phụng nhiều khi hay đến não nùng.

Tất cả những người yêu nhạc đều muốn có, muốn được nghe một đĩa nhạc, do Từ Công Phụng hát, chẳng cần chỉ toàn nhạc của ông, mà còn có thể là nhạc của nhưng người khác nữa, với một giàn nhạc sống, do các nhạc sĩ đàn, chứ không phải là những giàn nhạc máy.

Vì, với những giàn nhạc máy, dù người ta có sắp sếp khéo léo tới đâu chăng nữa, cũng không thể so với những tiếng đàn do tay người tạo nên. Và chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng tới tiếng hát.

Nhưng đó chỉ là ước muốn. Những gì Từ Công Phụng đã đóng góp cho âm nhạc Việt Nam bằng những ca khúc của mình, đủ để chúng ta, những người đã được dịp nghe ông hát, hoặc nghe nhạc của ông, mỗi người gửi tới ông một bông hồng tạ ơn.

Đặc biệt là những người còn đang sống trong tình, còn phải mang ơn ông nhiều hơn nữa. Phải trải qua những lúc, các bản tình ca bị cấm hát, cấm nghe, người ta mới thấy rõ, âm nhạc và thi ca, quả là thực phẩm của tình yêu. Không có nhạc, không có thơ, tình yêu có thể … chết đói đấy!

Mắt Lệ Cho Người

Mưa soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi trên niềm đau

Đời em đã khép đi vội vàng

Tình ta cũng lấp lối thiên đàng

Như cánh chim khuất ngàn

Như cánh chim khuất ngàn

Còn mong còn ngóng chi ngày yêu dấu

Mưa soi dấu chân em qua cầu

Theo những cánh rong trôi mang niềm đau

Thời nào yêu hết trái tim buồn

Lời nào yêu hết trái tim buồn

Xin giữ trong mắt lệ

Nhòe theo từng gót chân người xa vời

Mưa âm thầm buổi chiều thổn thức

Sẽ nhạt nhòa từ ngàn năm nữa

Như em khóc hồn nhiên

Nỗi muộn phiền ngày tàn hơi thở

Em thấy không cõi đời vô vọng

Xin em hãy cho tôi tạ tình

Khi em đã đi qua khoảng đời tôi

Dù một khoảnh khắc sớm phai tàn

Và lệ em rớt trên môi nhạt

Đôi mắt em rất buồn

Đôi chúng ta rất buồn

Vạn câu tình cũ xin gửi cho đời

Từ Công Phụng

Tuấn Ngọc