Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Tôi hồi tỉnh, ngước nhìn bầu trời. Thân thể tôi hình như đong đưa. Tôi xoay lại, nhận ra Sasai và Nakajima. Hai sĩ quan đã leo lên cánh phi cơ và đang khiêng tôi xuống. Tiếng nói lớn của Nishizawa vang lên giữa những thì thầm của đám đông tụ họp. “Mau, kêu một chiếc xe!”, hắn nạt nộ mấy tên chạy việc. “Mau lên! Chạy đến phòng hành quân, gọi điện cho y sĩ trưởng. Mau lên, mấy thằng chó đẻ này!”.

Tôi chưa thể vô bịnh viện ngay được. Tôi phải phúc trình với đại tá Saito trước khi làm bất cứ cái gì khác. Chúng tôi phải luôn luôn trình diện Bộ Chỉ Huy sau công tác. Những chi tiết báo cáo hoạt động trong ngày xoay chuyển trong đầu óc của tôi.

Tôi giơ tay mặt lên, ra dấu cho Sasai và Nakajima đặt tôi xuống. Tôi thì thào: “Tôi phải báo cáo. Ðể tôi đi đến Bộ Chỉ Huy.” Nakajima nạt tôi: “Cần mẹ gì, việc đó thủng thẳng cũng được. Chúng tôi sẽ nói là đưa anh vô bịnh viện.”

Tôi khăng khăng và la lớn rằng tôi phải viết báo cáo. Nishizawa bước đến, và với Ota một bên, cả hai dìu tôi vô Bộ Chỉ Huy. Nishizawa càu nhàu luôn miệng: “Nát ngướu như xác chết mà còn báo cáo!”. Tôi nhớ lại, tôi đã đứng một cách khó khăn trước mặt Ðại tá Saito, với đôi mắt của ông đang nhìn tôi bán tín bán nghi. Tôi suy nghĩ để nói, nhưng mọi vật bắt đầu nhuộm đen trở lại. Bỗng nhiên tôi muốn đi ngủ. Phải ngủ! Tôi đang làm gì ở đây? Rồi tất cả là một màu đen thẫm.

Nishizawa và Ota lôi tôi ra xe (họ kể lại sau đó) đang đậu ở bên ngoài Bộ Chỉ Huy. Nishizawa nhảy lên xe lái như giông như gió đến bịnh viện. Sasai và Ota ngồi vịn tôi ở băng sau. Vị y sĩ trưởng đang chờ tôi trong phòng cấp cứu. Ông cắt bộ quân phục đã te tua của tôi ra và bắt đầu may ngay các vết thương cho tôi. Qua giấc ngủ, tôi cảm thấy đau đớn từng chập mỗi khi vết dao cắt vào da đầu của tôi. (Ông đã cất hai miểng đạn đại liên 50 để đưa cho tôi coi sau đó). Tôi cảm giác có một con dao sắc bén nạo trên xương sọ của mình.

Tôi tỉnh hẳn hầu như ngay khi cuộc giải phẫu vừa xong. Tôi nhìn lên khi viên bác sĩ cúi xuống. Ðôi mắt của tôi! Tôi nhớ lại đôi mắt của tôi. Thình lình những nỗi sợ hãi phủ chụp lấy tôi. “Mắt của tôi!” Tôi la lớn, “Mắt của tôi ra sao, bác sĩ ?”

“Anh bị thương trầm trọng”, ông ta đáp. “Ở đây tôi không thể nào chữa trị được.” Ông nhìn ngay tôi và tiếp. “Phải gởi anh về Nhựt Bản để một chuyên viên nhãn khoa chữa trị cho anh.” Một cảm giác bi thương tràn ngập hồn tôi. Tôi lo sợ con mắt phải của tôi. Phía phải này tôi không thể nhìn thấy gì cả. Ý nghĩ đui mù làm tôi khủng khiếp. Ðời một phi công chiến đấu kể như tàn rồi. Tôi phải bay; tôi phải lái chiến đấu cơ trở lại!

Bốn ngày trôi qua trì trệ trong bịnh viện với những lần vải băng quấn khắp thân thể tôi. Bác sĩ lấy ra bốn mảnh kim khí ghim trong thịt cũng như nhiều miếng sắt trên đôi má của tôi. Ðến ngày thứ tư tôi cảm thấy chân và tay trái cử động được chút ít. Vết thương ở cánh tay mặt và ở đầu thối rữa, do khí hậu quá ẩm thấp của miền nhiệt đới, và mắt phải tôi vẫn còn mù.

Trong lúc đó, những nhát chổi chiến đấu cơ và các cuộc không tập của oanh tạc cơ dập xuống Guadalcanal không ngừng nghỉ. Mỗi ngày tôi đều nghe tiếng gầm thét của phi cơ cất cánh và hạ cánh xuống phi đạo. Rabaul có nhiều khách viếng thăm mỗi ngày, những chiếc pháo đài bay. Chúng bay đến tấn công hai phi trường ở đây từ trên cao độ. Mỗi lần oanh tạc cơ địch xuất hiện, tôi và các bịnh nhân khác đều được mang xuống hầm trú ẩn.

Mỗi đêm Ðại úy Sasai và Trung tá Nakajima đều đến thăm tôi. Họ đồng ý rằng tôi nên trở về Nhựt. Theo họ, chỉ có khí hậu điều hoà ở quê hương và một chuyên viên nhãn khoa tài ba mới có thể chữa lành mắt của tôi. Tôi từ chối trở về xứ. Tôi nhấn mạnh rằng bệnh tình của tôi có thể chữa trị ngay ở Rabaul, và tôi có thể bay trở lại trong vòng một vài tuần. Tôi cáu kỉnh vô lý và trở nên hung dữ.

Khó có thể giải thích sự ngần ngừ của tôi không muốn rời khỏi địa ngục Rabaul. Tôi chỉ ý thức rằng vào lúc này, tôi đang bị bao vây bởi viễn ảnh bi thảm: cuộc đời phi công của tôi chấm dứt. Cũng có vấn đề thể diện. Tôi cảm thấy bao lâu tôi còn ở Rabaul, tôi vẫn còn thể diện. Ngay cả nếu tôi không bay lại được, tôi cũng có thể giúp đỡ những phi công mới vô nghề. Tôi có thể khuyên họ tránh những sai lầm có thể đưa đến cái chết của họ. Tất cả những lý do đó trộn lẫn thành một. Chuyến trở về Nhựt Bản của tôi có nghĩa là tôi sẽ nhận lãnh sự phán xét cuối cùng bởi một chuyên viên nhãn khoa, và tôi sợ phát điên lên khi phải nghe sự thật.

Vấn đề này kết thúc vào sáng ngày 11 tháng 8, khi Ðại tá Saito, chỉ huy trưởng căn cứ Lae, bước đến cạnh giường tôi. Sự tử tế mà ông dành cho tôi đã hết mức, và cũng ngang bằng với sự cứng rắn của ông bây giờ. “Tôi thông cảm với anh, Sakai”, ông nói, “nhưng tôi đã đắn đo suy xét. Anh sẽ được gởi về Nhựt, và vô bịnh viện hải quân Yokosuka. Ðây là lịnh của tôi. Anh sẽ đáp vận tải cơ đi vào ngày mai. Vị bác sĩ ở đây đã cho tôi biết bịnh tình của anh chỉ hy vọng vào các bác sĩ ở Yokosuka mà thôi.”

Ông mỉm cười với tôi. “Chuyến trở về quê hương của anh sẽ khiến cho chúng tôi yên lòng nhiều hơn anh nữa. Tất cả chúng tôi đều biết anh sẽ được săn sóc thuốc men cẩn thận ở Nhựt.” Ông ta đứng dậy nhìn tôi giây lát rồi nghiêng mình xuống, đặt tay lên vai tôi. “Ðối với tất cả chúng tôi, anh đã làm được một việc phi thường, Saburo,” ông dịu dàng nói. “Tất cả những ai đã từng biết anh, từng được bay chung và chiến đấu với anh, đều hãnh diện vì anh. Khi các vết thương của anh lành lặn, hãy trở lại đây với chúng tôi.” Thế rồi ông bước ra ngoài.

Ðêm đó  Sasai đến thăm tôi. Ông có vẻ mệt mỏi sau phi vụ trong ngày ở Guadalcanal. Tôi cho ông biết tôi được lệnh về xứ ngày mai. Giây lát sau, tất cả các bạn thân của tôi đều tụ họp trong phòng, bày ra một buổi tiệc chia tay nhỏ. Không ai ca hát, không ai nói chuyện ồn ào hoặc đùa giỡn. Chúng tôi chuyện trò to nhỏ, hầu hết nhắc về quê hương. Nhưng người Mỹ có ý định khác hơn đối với buổi tụ họp nho nhỏ của chúng tôi. Sự yên tĩnh của một đôi giờ chấm dứt đột ngột với những bước chân dồn dập chạy vô các hầm trú ẩn. Tôi được một số phi công khiêng ra khỏi bịnh viện. Tôi nghiến răng xấu hổ và đắng cay với sự bất lực của mình. Ðây chính là những phi công mà tôi từng cầm đầu khi chiến đấu, và bây giờ họ khiêng tôi đi, giống như một đứa trẻ mù loà, què quặt!

muốn la hét và giựt hết những lần băng quấn quanh thân thể mình. Nhưng tất cả những gì mà tôi có thể làm là nằm bất động với đôi mắt nhắm nghiền.

Sáng sớm hôm sau, tôi lê thân chầm chậm ra cầu tàu, một chiếc ca-nô đang chờ để đưa tôi ra một chiếc thuỷ phi cơ bỏ neo trên mặt nước.

Sasai siết chặt tay tôi. “Tôi sẽ nhớ anh, Saburo. Anh không bao giờ biết được lòng tôi đối với anh.”

Hai giòng lệ chảy dài xuống đôi má tôi, tôi không thể nào cầm được. Tôi xúc động và chỉ có thể nắm chặt lấy tay Sasai.

Sasai rút tay lại, tháo vội dây nịt đang đeo và trao nó cho tôi. Tôi nhìn “Con Cọp Gầm” khắc sắc sảo trên cái khoá. “Saburo, sợi dây nịt này của ba tôi tặng. Một sợi cho tôi, một sợi cho anh rể tôi. Anh rể tôi đã chết. Tôi không mấy tin vào sự linh ứng của con cọp bằng bạc này, nhưng tôi muốn anh giữ và mang nó. Tôi hy vọng nó sẽ giúp anh trở lại đây với chúng tôi.”

Tôi từ chối, nhưng vô ích. Sasai bỏ sợi dây nịt vô túi của tôi, rồi nắm lấy tay tôi. “Tôi sẽ gặp anh trở lại, Saburo. Ðừng nói lời từ biệt! chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau, tôi hy vọng.”

Ông dìu tôi xuống ca-nô. Một phút sau nó lướt sóng hướng đến chiếc thuỷ phi cơ đang chờ đợi. Nishizawa, Ota, Yonekawa, Hatori, Trung tá Nakajima và tất cả đồng đội khác của tôi vẫy tay trên cầu tàu. Họ la lớn dặn tôi sớm trở lại để bay với họ. Cầu tàu vang vang những tiếng gọi tên tôi “Saburo”, “Saburo”… Giây lát sau, hình ảnh họ mờ mờ. Tôi chỉ có thể nhìn thấy một vài thước với con mắt trái. Tôi cố gắng đứng thật thẳng trên ca-nô, giơ tay mặt lên, lúc bóng hình của mọi người mờ nhòa. Thế rồi tôi la thật lớn, và khóc như một đứa trẻ.

Trong chiếc thủy phi cơ có một vài hành khách khác. Một binh sĩ phục dịch được cắt đặt để săn sóc tôi trong chuyến đi, và nhiều thông tín viên chiến tranh. Chúng tôi ngừng lại ở Truk và Saipan để tái tiếp nhận nhiên liệu. Tôi rời xa mảnh đất quê hương đã lâu. Tình trạng hiện thời của nước Nhựt như thế nào, tôi không mảy may lưu tâm đến. Nhưng, tôi đã xúc động khi đặt chân lên Yokohama, một xúc động bất ngờ. Chiều ngày thứ Bảy, chúng tôi đáp xuống hải phận Yokohama. Không muốn trình diện bịnh viện vào đêm đó, tôi đi bộ vô thành phố để đón xe taxi đến nhà chú tôi ở phía Tây Tokyo.

Dân chúng ở đây tuyệt đối không biết đến những gì thực sự xảy ra trong cuộc chiến. Tôi như từ cung trăng rớt xuống giữa đám đông rộn rịp, giữa ánh đèn sáng trưng. Tôi không thể nào tin được những âm thanh lọt vô tai tôi, âm thanh của muôn ngàn tiếng cười, tiếng nói vô tư lự. Có phải thật là họ không biết những gì xảy ra ở Tây Nam Thái Bình Dương không?

Trên khắp đường phố, mỗi bản tin tức của đài phát thanh đều kèm theo nhạc khúc vang vang “Bước tiến của chiến hạm”, loan đi chi tiết các chiến thắng lừng lẫy của những trận hải chiến quanh quần đảo Solomon. Tôi không nghe gì khác hơn là danh sách những tàu chiến Mỹ bị tiêu diệt, hàng nhiều trăm phi cơ địch bị bắn rơi.

Những đám người mặc quần áo mùa Hè màu sặc sỡ dừng lại bên ngoài mấy cửa tiệm, hoặc đứng ở các góc phố để lắng nghe đài phát thanh huênh hoang. Mỗi lần xướng ngôn viên đề cập đến một chiến bại quan trọng của địch quân, tiếng reo hò nổi lên vang dội khắp phố. Quốc gia say sưa trên những chiến thắng lừa dối. Khó thể tin rằng có một cuộc chiến tranh hủy diệt đang diễn ra. Trong các cửa tiệm, tôi thấy có một số hàng hoá được phân chia theo khẩu phần, nhưng các nhu yếu phẩm có thể nói là phong phú.

Tôi muốn rời xa thành phố này tức khắc. Mọi thứ ở Lae và Rabaul hình như không thật. Có thể nào hai thế giới cách biệt này hiện hữu cùng một lúc không? Máu lửa, chết chóc và nỗi hoan hỉ dành cho những chiến thắng tưởng tượng chỉ cách nhau mấy giờ bay ngắn ngủi?

Tôi kêu một chiếc taxi và cho địa chỉ của chú tôi. Xe chạy ngang qua Yokohama và vô thành phố Ðông Kinh. Vài phút sau, một cảnh sát viên chận xe lại và cúi nhìn xuyên qua kiếng. Bộ quân phục của tôi lỗ chỗ vết máu và vết thương vẫn còn quấn băng. Hắn hỏi: “Anh làm sao vậy?”

“Tôi vừa ở mặt trận về,” tôi đáp một cách chua chát.

Hắn kêu lên: “Anh bị thương ở mặt trận! Mặt trận nào? Sao lại bị thương?”

“Tôi là phi công,” Tôi hắng giọng. “Ở Guadalcanal. Tôi bị đạn trong lúc chiến đấu.”

“Guadalcanal!” Ðôi mắt của viên cảnh sát trẻ bừng sáng. “Hôm nay tôi có nghe một số tin ở đó. Tôi biết rằng chỉ ngày hôm qua đây, chúng ta đã nghiền nát hết bọn Mỹ. Ðài phát thanh cho biết hải quân của chúng ta đánh chìm 5 tuần dương hạm, 10 quân vận hạm và mười khu trục hạm. Chắc chắn cảnh đó ngoạn mục lắm!”

Bao nhiêu đó quá lắm rồi! “Tôi rất tiếc, thưa Trung sĩ,” tôi nói mau. “Tôi phải đi gấp.” Tôi thét tên tài xế.

“Chạy đi! Tức khắc!”.

Nhiều năm rồi, tôi lại mới bước vô nhà của chú tôi. Ngôi nhà vẫn không có gì thay đổi. Tôi đứng bên lề đường nhiều phút, nhìn ngôi nhà, ánh đèn vàng và nghe những âm thanh quen thuộc. Một cảm giác yên bình kỳ lạ bao trùm lấy tôi. Quá khứ thức dậy trong tôi, và tôi đã mở cánh cửa giống như tôi đã mở lúc còn nhỏ. Tôi cũng sử dụng những tiếng nói tôi thường la lên khi bước vô nhà, “Cháu đây! Cháu về nhà rồi đây!”, “Hatsuyo, em đâu rồi?”

“Ai đó?” tiếng hỏi có vẻ giựt mình vọng lên từ nhà bếp. Tôi mỉm cười. Tiếng hỏi của thím tôi.

“Cháu đây!” Tôi đáp.

Yên lặng giây lát. “Cháu đây! Saburo đây!”. Tôi nói lớn một cách vui vẻ.

Tiếng hỏi đầy sửng sốt của chú tôi vang dội khắp nhà:

“Cái gì đó?” Rồi cả nhà chạy ùa ra hành lang.

Họ nhìn tôi trừng trừng cả một phút. Chú thím tôi, hai cô em họ Hatsuyo và Michio của tôi, không ai thốt nên lời, đứng im sững, miệng mở tròn trong nỗi kinh ngạc. Ðôi mắt Hatsuyo ngập thảng thốt. Tôi bình thản nhìn những người trước mặt khi đôi mắt của họ di chuyển xuống bộ quân phục và những lần vải băng hoen máu của tôi.

Chú tôi thì thào: “Có phải cháu thật không, Saburo? Ðây là Saburo, đây không phải là một hồn ma?” Ông chồm về phía trước, như sợ tôi tan biến.

“Không! Không phải là hồn ma”. Tôi đáp “Cháu thật đây mà. Cháu về nhà đây!”.

Thật giống như chết đi sống lại. Những trận đánh, chết chóc, thương tích, ấn tay vào cò súng, lộn nhào liên hồi để tránh né chiến đấu cơ địch truy đuổi, chui rúc vô những hầm trú ẩn ngập bùn… tất cả không còn nữa, tất cả đã trở thành không thật, xa lắm rồi. Một thế giới âm u, giống như hồn ma mà chú tôi đã tưởng, không còn treo lơ lửng trên đầu tôi nữa. Ðể tôi được ngồi trong căn nhà này một lần nữa, để lại trò chuyện với chú thím tôi, để lại nhìn thấy Hatsuyo và Michio, để thoải mái. Ðể biết nơi đây sẽ không có những trái bom đêm nay, không còn âm thanh gầm thét của oanh tạc cơ Marauder và Mitchell, không còn những tiếng nổ, những mảnh kim khí, những viên đạn chọc thủng vô tận phòng ngủ… mà chỉ có đường nét dịu dàng của Hatsuyo, với cử chỉ mềm mại lễ phép. Hatsuyo hết còn là cô nữ sinh như trong ký ức của tôi mà đã trở thành một thiếu nữ trưởng thành cực xinh đẹp. Tôi nhìn Hatsuyo với đầy ngạc nhiên. Michio cũng vậy, đã bắt đầu dậy thì. Nhưng tôi không ngớt ngắm Hatsuyo. Tôi cứ lắc lắc đầu trong hạnh phúc đầy kinh ngạc. Hầu như đã ba năm rồi, tôi mới trải qua một đêm yên ấm với gia đình này. Ðó là đêm đầu tiên trong nhiều năm, tôi mới được ngủ thẳng một giấc. Ngay cả mấy vết thương cũng không quấy rầy tôi.

Sáng hôm sau trước gương mặt âu lo của Hatsuyo, tôi đáp xe lửa đến Yokosuka. Ðời sống hàng ngày của dân chúng trong thành phố này hình như còn rộn rịp hơn cả thành phố Yokohama vào ban đêm. Những người qua đường, nhứt là các thiếu phụ và thiếu nữ, liếc mắt nhìn tôi, khẽ nhăn mặt và nhìn đi nơi khác. Tôi là một tên dơ bẩn, bê bết máu mủ, và phải, đó là sự thật, tôi là một hình ảnh đầy ghê tởm với đồng bào của tôi. Tôi bị ghét bỏ.

Ngay khi tôi trình diện bịnh viện Yokosuka, một nhân viên đưa tôi đến phòng của vị y sĩ trưởng. Tôi đã quên mất, hôm nay là Chúa Nhật. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp, y sĩ trưởng không làm việc vào ngày hôm nay. Nhưng tôi đã ngạc nhiên khi thấy ông ta đích thân tiếp đón tôi. Ông ta mỉm cười khi nhìn thấy vẻ ngạc nhiên của tôi. “Tôi có dặn thông báo cho tôi biết ngay khi anh đến,” ông ta giải thích. “Tôi vừa từ bên chỗ trú ngụ sang đây. Tôi có nhận một lá thư riêng của Ðại tá Saito, yêu cầu tôi cố gắng bằng mọi cách để chữa trị cho anh.”

Ông ta nhìn tôi một thoáng. “Ðại tá Saito đã kể rành mạch cho tôi biết những gì mà anh đã làm ở Thái Bình Dương. Tôi biết anh là một phi công hạ nhiều phi cơ địch hơn tất cả những phi công khác của Nhựt Bản.”

Tôi gật đầu.

“Bây giờ tôi có thể hiểu rõ nỗi lo lắng của đại tá của anh. Ðến đây”, ông ta nắm lấy tay tôi, “chúng tôi sẽ bắt đầu khám anh ngay.”

Sau khi khám xong, ông ta đích thân đưa tôi xuống khu nhãn khoa. “Tôi có nhờ một bác sĩ nhãn khoa tài nhứt của Nhựt Bản chữa trị cho anh,” ông ta giải thích. “Bác sĩ Sakano nhập ngũ và hiện phục vụ trong hải quân với cấp bậc thiếu tá. Xứ sở của chúng ta chưa có y sĩ nhãn khoa nào tài giỏi hơn ông ta. Khi tôi được thơ của Ðại tá Saito, tôi đã báo cho bác sĩ Sakano chuẩn bị sẵn sàng để bắt tay vào việc chữa trị ngay khi anh đến.”

Tôi đang đối diện với giây phút định mạng. Tôi sẽ sớm biết tôi có thể nhìn thấy, tôi có thể bay trở lại được hay không.

Bác sĩ Sakano khám cho tôi. Nhiều phút sau, ông đứng thẳng dậy, mặt lộ vẻ nghiêm trọng và chậm rãi nói: “Phải làm liền. Tôi phải điều trị cho anh tức khắc. Anh còn nhìn thấy được nữa hay không đều tùy thuộc những gì mà tôi sẽ làm trong một giờ kế đây.”

Ông ngừng lại. “Sakai, tôi không thể sử dụng thuốc mê. Nếu anh muốn nhìn thấy, nếu anh muốn cứu ít ra là một con mắt của anh, anh phải chuẩn bị để chịu đựng tất cả sự đau đớn trong khi vẫn tỉnh,”

Tôi hơi choáng váng. Tôi lặng lẽ gật đầu, sợ ngay cả tiếng nói của mình.

Họ đặt tôi lên một chiếc giường cao, rồi nhiều nhân viên giúp việc lấy đai da và vải buộc ghịt chặt tôi xuống. Tôi không thể nhúc nhích tay chân. Ðầu tôi cũng bị buộc một sợi dây da để giữ chặt lại, và một nữ y tá đã vỗ vỗ vào đầu tôi để trấn an. Vị bác sĩ biểu tôi nhìn thẳng vào một ánh đèn đỏ chói treo trên trần nhà.

“Nhìn đi, Sakai” ông từ tốn nói. “Nhìn đi. Ðừng rời mắt khỏi ánh đèn đó. Ðừng nháy mắt, đừng đảo mắt sang nơi khác. Hãy để ý lời tôi dặn! Anh có thể đui mù cả đời nếu anh không làm đúng theo lời tôi dặn.”

Khủng khiếp! Hơn cả khủng khiếp nữa, đó là một nỗi đau đớn chưa từng gặp phải trong đời tôi. Tôi luôn luôn tự coi mình có một khả năng chịu đựng đau đớn vô song. Tâm niệm Samurai trong Bushido đã dạy tôi sự kiên nhẫn, tính chịu đựng, dưới mọi tình trạng khó khăn nhất.

Nhưng mà lần này! Tôi phải nhìn ngọn đèn trừng trừng. Nhìn cho đến khi tôi chỉ thấy màu đỏ chói tràn ngập mọi vật, cho đến khi bàn tay của vị bác sĩ chìa ra, mờ mờ ảo ảo, với dụng cụ bằng sắt nhọn và sáng loáng tiến gần hơn, gần hơn, gần hơn nữa.

Tôi thét lớn. Nhiều lần, tôi thét như một tên điên với nỗi hấp hối đầy khủng khiếp. Tôi cảm thấy không thể chịu đựng thêm một giây phút nào nữa. Ước muốn được bay lại, được thấy lại bây giờ trở thành đồ bỏ đối với tôi. Ðau chết được! Một lần tôi thét lên: “Ngừng lại! Bỏ hết, miễn đừng đau thì thôi!” Tôi cố né tránh lưỡi dao. Tôi cố thoát khỏi mấy sợi dây. Chúng được buộc quá chặt. “Im đi!” Vị bác sĩ la tôi. “Anh phải cố chịu đựng! Nếu không, anh sẽ đui mù! Ðừng hét nữa!.”

Sự hành hạ kéo dài hơn ba mươi phút. Nó dài bằng cả một triệu năm đối với tôi. Nó kéo dài vô tận. Khi công việc đã xong, tôi cử động một ngón tay cũng không nổi. Tôi nằm dài trên giường để thở, bất động. Vị y sĩ trưởng cúi xuống cố gắng để an ủi trong lúc ngực tôi nặng trĩu và tôi bật khóc nức nở.

Suốt một tháng tôi nằm miết trên giường bịnh. Tôi khổ sở. Ðời sống vô nghĩa đối với tôi. Tôi cứ nằm mơ thấy lại chuyến bay dài dằng dặc từ Guadalcanal trở về Rabaul của tôi.

Bác sĩ Sakano thường tới thăm bịnh tôi. “Tôi đã cố gắng hết sức” ông nói với tôi, “nhưng mắt bên mặt của anh sẽ không bao giờ hồi phục, anh chỉ có thể nhìn thấy những vật cách anh một hai thước. Riêng mắt trái của anh sẽ phục hồi hoàn toàn.

Lời nói của ông giống như lời nói của tử thần. Một phi công chiến đấu độc nhãn. Tôi cười một cách cay đắng lúc vị bác sĩ bước ra.

Vết thương trên đầu tôi lành lặn mau chóng. Bác sĩ cho phép tôi dạo quanh bệnh viện. Mỗi tuần tôi đều thỉnh cầu được xuất viện và được gởi lại Rabaul. Và mỗi tuần lời thỉnh cầu của tôi đều bị bác bỏ.

Cuối cùng, vị y sĩ trưởng có phản ứng khi thấy tôi cứ lảm nhảm nói mãi. Hiển nhiên là ông ta nổi giận. “Tôi cho anh biết, Sakai, còn nhiều tháng nữa anh mới có thể nghĩ đến việc trở lại Rabaul. Lịnh dứt khoát của tôi. Anh phải dưỡng sức ít nhứt sáu tháng trước khi anh được chỉ định vào bất kỳ nhiệm vụ nào, ở quê hương hay ở hải ngoại.”

Tôi cảm thấy giống như kẻ trốn chạy, một tên đào thoát khỏi chiến trường. Tôi nghĩ đến các phi công khác, nhứt là Nishizawa, Ota và Sasai, mỗi ngày họ đều ra trận. Ngay cả những tin tức liên quan đến cuộc chiến loan đi trên đài phát thanh, tôi cũng sợ nghe. Những tin tức nhắc nhở tôi nhớ đến Rabaul.

Một hôm, y tá thông báo: “Dưới lầu có hai khách đến thăm anh.” Tôi hoàn toàn không đoán ra ai. Hôm đó là thứ Năm, Cô em họ đến thăm tôi mỗi thứ Bảy, là ngày duy nhất Hatsuyo không phải làm trong xưởng nhồi thuốc đạn. Mỗi cuối tuần Hatsuyo mang hoa, trái cây đến ngồi bên tôi rất lâu và mỗi tuần tôi đều trông Hatsuyo đến. Tôi có viết cho má tôi đừng thăm viếng, vì má tôi phải đi từ Cửu Châu đến tận Yokosuka trên một hành trình dài 1,100 cây số, mà tôi sắp chuyển qua bịnh viện Sasebo trong vài tuần nữa. Má tôi cũng đã dọn lên Fukonoda, phía Bắc đảo Cửu Châu để sống với chị Cả và anh rể tôi. Tôi đợi ai thăm viếng, nên khi hai người khách đến thăm và bước vào buồng, tôi phải cố gắng nhận dạng họ, vì hai mắt tôi vẫn còn nhìn thấy mập mờ khi quá hai thước.

“Fujiko-san!” Tôi la lên vì quá bất ngờ.

Ðúng là nàng, đang đứng trên ngạch cửa với cha, giáo sư Niori. Tôi thấy nàng còn đẹp hơn lúc tôi gặp lần đầu cách đây 18 tháng ở Osaka. Hatsuyo đã viết thư báo tin cho họ. Khi gặp tôi, cả hai đều lộ vẻ lưu tâm đến thương tích của tôi. Giáo sư Niori lên tiếng:

“Hatsuyo-san cho chúng tôi hay là anh điều trị ở đây. Chúng tôi đã lo lắng cho anh biết nhường nào, Saburo-san! Nhìn thấy lại anh làm vơi nỗi lo sợ của chúng tôi. Chúng tôi đã rất lo cho tính mạng của anh.”

Tôi ấp úng, thấy mình thật có lỗi: vì đã nhiều tháng qua tôi không viết thơ cho Fujiko. Lời xin lỗi của tôi đầy vụng về chỉ tạo thêm ái ngại vì Fujiko đã viết cho tôi thật nhiều thơ, những bức thơ đầy tình cảm với những thùng quà tiếp tế khi tôi còn ở căn cứ Lae. Cha nàng khoát tay: “Không quan trọng. Chúng tôi đều biết những chiến công xuất sắc anh gặt hái ngoài mặt trận, chúng tôi vô cùng hãnh diện vì anh. Nhưng các vết thương của anh ra sao? Cho chúng tôi biết là anh sẽ sớm rời bịnh viện?”

Tôi chỉ cho họ xem bốn vết thương của tôi và, một cách buồn rầu, tôi chỉ con mắt bên mặt. “Con mắt này… con mắt này không còn nhìn thấy được nữa, các bác sĩ nói tôi sẽ duy trì tình trạng này suốt đời.”

Fujiko sửng sốt. Nàng đưa tay lên bịt miệng như cố ngăn nàng kêu lên. Hai mắt nàng trợn trừng. Tôi nhấn mạnh: “Ðó là sự thật. Tôi đã tàn tật. Mất một con mắt có nghĩa là chấm dứt cuộc đời phi công khu trục của tôi.”

Giáo sư Niori chận hỏi: “Như vậy… Anh sẽ giải ngũ sao?”

“Dạ, thưa không, tôi không nghĩ như vậy,” tôi đáp. Nỗi cay đắng dâng lên trong lòng. “Ở quê hương, giáo sư không thể nào hiểu được sức hút nhân lực của cuộc chiến khổng lồ này ra sao. Tôi không nghĩ rằng tôi sẽ rời quân ngũ. Hải quân sẽ tìm cách sử dụng tôi, làm huấn luyện viên hoặc một nhiệm vụ nào đó ở Bộ Chỉ Huy trên mặt đất chẳng hạn.”

Một thoáng im lặng. Khoảnh khắc đủ giúp tôi nghĩ đến cuộc hành trình xa hơn 800 cây số của họ từ Tokushima đến đây để thăm tôi. Ý thức mình thiếu lịch sự, đối đáp quá phũ phàng, làm tôi vội cám ơn họ. Fujiko tỏ vẻ thất vọng vì cung cách nghi lễ của tôi. Nàng muốn nói điều gì nhưng không thốt nên lời. Cuối cùng nàng quay mau về phía ba nàng và kêu lên: “Ba!”

Ông Niori gật đầu và hắng giọng: “Anh nghĩ khi nào được tái bổ nhiệm?” ông hỏi, mắt nhìn thẳng vào tôi. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên xúc tiến việc hôn nhân… việc này dĩ nhiên, nếu anh bằng lòng, Saburo!”

“Giáo sư… muốn nói gì?” Tôi thảng thốt. “Tôi không thể tin câu nói của giáo sư. Xúc tiến hôn nhân?” Ðầu óc tôi quay cuồng!

“Saburo, anh hãy tha thứ cho tôi,” ông Niori nói:“Tôi biết đem việc này ra nói với anh thật là đường đột.”

Ông đứng thẳng lên và nói tiếp một cách nghiêm trang. “Saburo, anh có chấp nhận con gái của tôi, Fujiko, làm bạn đời của anh không?”

Những tiếng nói ấy giống như những tiếng chuông vang dội trong không gian. Fujiko nhìn tôi với đôi mắt mở tròn, rồi bẽn lẽn cúi đầu nhìn xuống chân.

Tôi tránh nhìn nàng, tôi nhìn đăm đăm vào vách. Chính tấm vách đó, bao ngày tôi đã nhìn đăm đăm trong nỗi tuyệt vọng.

Cuối cùng, tôi ngần ngừ mấy lượt rồi nói:

“Giáo sư Niori, tôi… Dạ thưa, tôi rất lấy làm vinh hạnh khi nghe những lời giáo sư vừa nói. Nhưng…” tôi xúc động và cố dằn nước mắt. “Tôi, tôi không thể… nhận lời đề nghị của giáo sư.”

Xong rồi! Tiếng nói của tôi đã thoát ra. Tôi đã nói được điều tôi muốn nói.

“Hả?” Giọng ông đầy nghi ngờ. “Anh… anh đã có ý trung nhân?”

“Không! Dạ thưa không! Ngay cả nghĩ đến một người khác cũng không. Tôi không nhận lời vì một lý do hoàn toàn khác hẳn. Giáo sư Niori, tôi không thể nào nói tiếng “bằng lòng”. Không thể được! Giáo sư hãy nhìn tôi! Tôi không xứng đáng với cô Fujiko. Giáo sư hãy nhìn con mắt của tôi.” Tôi kêu lên: “Tôi đã đui một bên rồi!”.

Sự nhẹ nhõm tỏa khắp mặt ông.“Ồ! Saburo, anh không cần phải tự hạ mình như vậy! Ðừng tự làm khổ thân anh thêm nữa! Những vết thương của anh là những vết thương vinh dự, chúng không làm anh hổ thẹn. Anh không biết cả tư thế của anh nữa hay sao? Khắp nước Nhật hoan hô anh, ca tụng anh. Anh không hiểu rằng trong tư cách một phi công tài ba nhứt, vĩ đại nhứt của xứ sở chúng ta, anh đã trở thành một anh hùng dân tộc hay sao?”.

“ Giáo sư Niori, giáo sư chưa hiểu hết! Tôi chỉ nói với giáo sư sự thật, một sự thật mà chính giáo sư không thể nhìn thấy,” tôi nhấn mạnh. “Không hề có sự khiêm tốn nào trong lời nói của tôi. Một vị anh hùng là cái gì không trường cửu. Người anh hùng như một đám mây trôi nổi. Và tôi không phải là một vị anh hùng. Tôi chỉ là một phi công, một phi công không thể nào bay được nữa. Tôi là một phi công nửa mù nửa sáng. Có gì ở tôi đáng ca ngợi đâu! Tôi hết xài rồi! Anh hùng, quả thật … giáo sư đã biết xứ sở của chúng ta không có anh hùng cá nhân.”

Ông Niori lặng yên trong giây lát. “Có lẽ, tôi lầm lẫn phần nào,” ông tiếp. “Nhưng anh phải biết những gì tôi vừa nói không phải là yếu tố đưa đến sự quyết định của tôi. Nhà tôi và tôi đã “chọn” anh ngay lần gặp đầu tiên. Tôi hiểu biết những cảm nghĩ của anh, nhưng anh cũng phải hiểu biết một sự việc trên hết: Nhà tôi và tôi, cũng như Fujiko, tin tưởng anh là người duy nhất có thể mang đến hạnh phúc cho nó. Chúng tôi cũng hy vọng, cũng tin tưởng rằng con gái chúng tôi sẽ mang đến hạnh phúc cho anh.”

Tôi cảm thấy tim tôi hầu như tan vỡ. Có thể nào người đàn ông tốt lành và tuyệt diệu này không hiểu hết những gì tôi muốn nói? “Làm sao giáo sư có thể xét đoán được một người chỉ qua một lần gặp gỡ?” Tôi nói.

“Cả một đời của Fujiko, hạnh phúc của nàng, đâu có thể được đặt trên một lần gặp gỡ. Tôi không thể nào hiểu nổi lời đề nghị của giáo sư, cho dù tôi chưa từng gặp danh dự nào lớn hơn danh dự mà giáo sư đã mang đến cho tôi hôm nay.” Tôi lộ vẻ nóng nảy: “Có nhiều người khác xứng hợp với Fujiko hơn. Hàng ngàn thanh niên học cao, tương lai đầy hứa hẹn. Thưa giáo sư, còn tôi, tôi có thể cung hiến cho ái nữ của giáo sư những gì? Những gì tôi có thể mang đến cho nàng? Một lần nữa, tôi xin giáo sư hãy nhìn kỹ tôi đi! Nhìn tôi đi! Tôi như vầy thì còn nói đến chuyện tương lai gì nữa?”

Fujiko không thể giữ yên lặng hơn được. Nàng ngẩng đầu lên và nhìn tôi đăm đăm. Tôi muốn trốn chạy khỏi căn phòng. “Anh lầm rồi, Saburo,” nàng dịu dàng nói. “Anh lầm rồi! Anh quá lưu tâm đến con mắt của anh! Anh đui hay không đối với em không thành vấn đề. Nếu cần, Saburo, nếu cần em có thể giúp đỡ anh.”

“Cô lầm rồi, Fujiko,” Tôi đáp. “Tôi biết cô can đảm, những gì cô thốt ra đều chân thật, nhưng hiện thời cô nói theo tình cảm. Cô không thể quyết định cả một đời dựa vào tình cảm đã qua rồi.”

“Không, không” nàng vừa nói vừa lắc đầu. “Anh không hiểu em. Ðây không phải là tình cảm nhứt thời. Anh không biết rằng em đã nghĩ đến cuộc gặp mặt này từ nhiều tháng nay. Em đang nói những gì em ý thức rõ.”

Không tới đâu, nếu cứ tiếp tục nói qua nói lại như vậy. Tôi sợ một lúc nào đó tôi sẽ nhượng bộ.

“ Thưa giáo sư Niori và cô Fujiko,” tôi cố chứng tỏ sự cương quyết trong giọng nói, “tôi không có ý định làm giảm giá trị của giáo sư và cô. Câu chuyện này không phải là vấn đề mặc cả. Tôi xin lặp lại, thưa giáo sư, những lời đề nghị của giáo sư hôm nay là một vinh dự lớn mà tôi chưa bao giờ nhận được. Nhưng tôi không thể nhận lời đề nghị phi thường này. Tôi không thể nào nhận lấy danh dự kết hôn với ái nữ của giáo sư, bởi lẽ tôi không xứng đáng. Ðó là lý do tại sao tôi phải từ chối.”

Dù cho Niori nói cách nào tôi cũng vẫn một mực từ chối. Fujiko không thể nào chịu đựng được nữa, nàng ngả vào tay cha và bật khóc. Tôi muốn tự sát để trả lại những gì mà tôi đã làm, sự đau buồn mà tôi đã gây ra cho nàng. Nhưng tôi biết hành động của tôi không thích đáng, tôi đã xử sự như vậy chẳng qua là vì hạnh phúc của nàng. Cuộc hôn nhân có thể mang đến hạnh phúc bình thường ở hiện tại, nhưng những năm sau này kẻ chịu đựng buồn phiền sẽ là Fujiko.

Gần một giờ sau họ rời khỏi phòng tôi. Tôi không biết tôi đã đăm đăm nhìn theo họ bước ra cửa bao lâu. Cuối cùng, tôi quay vô phòng, buông thân rã rời trên giường. Ðó là giờ phút buồn thảm nhứt trong đời tôi. Nhưng mà tôi có thể làm gì khác hơn? Một ngàn lần vẫn là một câu đáp đến với tôi: “Không còn cách nào hơn”. Tôi đã gạt sang bên một vật tuyệt mỹ, chưa từng tiến đến tầm tay tôi bao giờ.

Hai ngày sau đó, Hatsuyo đến thăm tôi. Nàng không cười như thường lệ. Nàng ngồi xuống bìa giường và nhìn thẳng tôi. “Tại sao anh có thể làm như vậy, Saburo?” “Saburo!”  “Tại sao anh đối xử tàn nhẫn với Fujiko?”, nàng hỏi ngay khi gặp tôi. “Anh làm cho Fujiko đau khổ quá nhiều”. Hatsuyo cho tôi biết, từ bịnh viện trở về, Fujiko đã khóc suốt đoạn đường và khóc nức nở khi ghé thăm nàng ở Ðông Kinh. Giáo sư Niori đã yêu cầu chú tôi và Hatsuyo hãy tìm cách thuyết phục tôi.

Hatsuyo nhìn tôi một cách giận dỗi. “Saburo, họ nói anh đã từ chối, có lẽ tại vì anh không hài lòng những lời lẽ của họ. Ba em và em biết rõ gia đình đó lắm. Họ đều tốt cả. Tại sao anh làm như vậy?”. “Tại sao, Saburo?” “Fujiko đoan trang và thích hợp với anh!”

“Hatsuyo, em hiểu giùm anh”. Tôi van nàng. “Em đã từng sống nhiều năm thơ ấu với anh, cùng chơi chung với anh, em và tất cả mọi người trong gia đình đều biết anh quá rõ. Anh không hối tiếc quyết định của anh, cho dù nó đã gây cho anh nhiều đau đớn. Anh thực sự tin rằng anh đã hành động như vậy vì tương lai của Fujiko, và hạnh phúc của nàng.

Hatsuyo không đồng ý. “Họ nói anh từ chối vì anh bị thương.”

“Ðó chỉ là một phần lý do. Anh đã yêu Fujiko ngay từ khi gặp nàng lần đầu. Tình yêu của anh đối với nàng càng lúc càng sâu đậm. Suốt những tháng dài dằng dặc ở Lae và Rabaul, đối với anh, Fujiko đã trở thành người đàn bà vĩnh cửu trong đời. Chắc em khó thể hiểu nổi được anh đã từ chối vì anh yêu nàng!”

“Em không hiểu gì cả, Saburo!”

“Suốt thời gian anh ở hải ngoại, suốt những tháng năm đầy mệt nhọc ở Thái Bình Dương, Fujiko không bao giờ rời khỏi tâm trí của anh. Có lẽ việc này không mấy tốt khi đem bàn với em, nhưng anh phải nói sự thật. Rabaul là một căn cứ quân sự quan trọng, lúc nào cũng có hơn 10,000 binh sĩ Nhựt đồn trú. Thêm vào đó, thỉnh thoảng có cả một sư đoàn bộ binh ghé tạt qua.

“Em nghĩ thế nào khi những người đàn ông này xa nhà, xa vợ của họ? Có nhiều gái điếm ở Rabaul, giống như ở đây Yokosuka. Khi được nghỉ phép ở Rabaul không phải tất cả, nhưng đa số phi công đều biết qua bọn gái điếm này. Riêng anh, anh không bao giờ dính dáng đến. Niềm kiêu hãnh của anh không cho phép anh dây dưa với bọn họ. Anh muốn giữ mình trong sạch cho Fujiko, chờ ngày anh có thể ngỏ lời cầu hôn nàng.

“Trước khi bị thương, anh đã nghĩ đến nàng trong tư cách một Sakai phi công tài ba, không hề biết sợ hãi, một người đàn ông kiêu hãnh của nàng. Nhưng mà hiện tại? Không!” Tôi lớn tiếng. “Anh sẽ không cần đến lòng thương hại! Em có nghĩ là anh muốn duy trì lòng thương hại của Fujiko không? Không bao giờ! Bây giờ em hiểu anh rồi chớ?”

Hatsuto nhìn ngay mắt tôi. “Em hiểu, Saburo, em hiểu anh rất nhiều. Em luôn hiểu anh từ khi còn bé. Nhưng em không tránh khỏi buồn giùm cho Fujiko.”

“Fujiko sẽ hạnh phúc hơn. Nàng sẽ…”

Nhưng Hatsuyo chận lời tôi bằng cách choàng tay qua cổ tôi và kéo tôi đến gần nàng. “Tội nghiệp anh, Saburo! Phải hy vọng… anh phải tin tưởng. Anh sẽ bay trở lại. Em biết anh sẽ được bay trở lại! Em tin tưởng vô cùng là anh sẽ còn bay nữa. Anh sẽ lại hòa vào mây, Saburo! Em sẽ cầu trời khấn Phật hằng đêm cho anh thỏa nguyện.”

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 31 Aug 2026

Cách đây ba năm, khi “lão họa sĩ” Trương Thị Thịnh từ San Jose về Việt Nam, bà tổ chức một cuộc họp mặt với thân hữu cũ. Chị nhắn Hoàng Hương Trang mời tôi đến. Khi đến nơi, tại phòng tiếp tân của một khách sạn loại lớn ở Sài Gòn, tôi chưa từng thấy ở đâu nhiều họa sĩ đến thế. Ít ra gần cả trăm người, gồm đủ họa sĩ lão làng và họa sĩ trẻ, người nổi danh, người ít được biết. Có lẽ chỉ mình tôi không phải họa sĩ lạc lõng chốn này.

Khi Người Thầy Trở Về

Chị Thịnh trên bảy mươi nhưng rất nhanh nhẹn, thân tình tiếp đón từng người. “Quan khách” đều cung kính với chị, người kêu bằng bà, người kêu bằng cô, và chưa cuộc gặp mặt nghệ sĩ nào có không khí thân mật thú vị như hôm đó. Tất cả coi nhau như trong gia đình mà người “lớn nhất” là chị Thịnh. Chị tốt nghiệp thủ khoa khóa 1 Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1958. Sau đó là giáo sư hội họa trường Pétrus Ký năm 1959–1963 và giảng viên Quốc Gia Cao Ðẳng Mỹ Thuật Sài Gòn từ 1963–1980 nên học trò của chị rất đông. Ngoài tình “tôn sư trọng đạo” như đối với những người thầy khác, họ còn có sự kính phục đối với tài năng nghệ thuật của chị.

Chị Thịnh không thể mang theo tác phẩm hội họa về, nên đã cho chiếu hình các sáng tác sau này của chị ở nước ngoài. Tất cả thể hiện nỗi lòng thương nhớ quê hương và chị đã cho học trò của chị thấy rõ tài năng sáng tạo ngày một điêu luyện hơn. Một học trò cũ của chị nói với tôi: “Cô Thịnh bao giờ cũng là người thầy cho học trò hiểu biết nhiều nhất thế nào là hội họa”. Tôi không thể biết học trò của chị học thêm được gì về nghệ thuật hội họa qua buổi gặp mặt này, nhưng khi xem từng tấm tranh trên màn hình rộng, tôi chỉ thấy không khí trong phòng im lặng như lớp học. Có lẽ tất cả đang sống lại giờ học với người thầy tài hoa trong lớp học Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật ngày xưa?

Cuộc Triển Lãm 4×4 Là Gì?

Giữa tháng 11 vừa qua, chị Trương Thị Thịnh lại về Việt Nam, lần này chị về để triển lãm chung với 7 họa sĩ khác, hầu hết là học trò cũ của chị. Ngày khai mạc phòng triển lãm tôi đi xa, không đến được. Hai hôm sau, chị điện thoại “kêu” tôi đến xem tranh.

Giọng chị nhỏ nhẹ song không già chút nào:

– Ðến xem tranh nhé, cũng như tôi đọc tất cả các bài của anh ở bên Mỹ. Ngay cả phóng sự Lên Đời vừa xuất bản, tôi đọc chẳng sót kỳ nào. Bao giờ viết tiếp đây? Lẹ lên cho độc giả đọc với chứ.

Họa sĩ Trương Thị Thịnh tại triển lãm 4×4 (trên). Tranh “Chờ nhau” của HS, Trương Thị Thịnh (bên trái)

Điều này khiến tôi ngạc nhiên, không ngờ có một nữ độc giả gần tám bó mà còn thích thú truyện của mình đến thế. Tôi chưa kịp hỏi thăm thì chị đã vui vẻ nói tiếp:

– Thôi, đến đây rồi nói nhiều hơn.

– Xin vâng lời bà chị.

Gần 11 giờ sáng hôm đó, tôi đến Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố trên đường Phó Ðức Chính. Ðó là căn nhà mà ngày xưa chúng tôi gọi là “nhà Chú Hỏa”. Với các đường nét chạm khắc tinh tế, nếu nhìn kỹ, không thể nào ngờ cách đây một thế kỷ mà một căn nhà của tư nhân lại đồ sộ và có những nét kiến trúc tuyệt tác đến như thế.

Tôi ngạc nhiên trước tấm bảng giới thiệu triển lãm hội họa mang tên 4×4 treo trên bức tường cửa ra vào. Nó khác với những cuộc triển lãm mang tên mùa Thu, mùa Xuân, hoặc ít ra là một ý nghĩa “có tính nghệ thuật” nào đó thấy nhan nhản ở Sài Gòn và Hà Nội trong thời buổi nhiều nhà tư sản xanh và đỏ chơi nghệ thuật như đi “nhậu” hàng quý hiếm vậy.

Chị Thịnh ngồi sẵn ở bộ bàn ghế nhỏ, đón tôi bên cửa phòng triển lãm. Chị vẫn khỏe mạnh với mái tóc bạc, nụ cười dịu dàng, dẫn tôi đi từng phòng xem tranh. Chị nói về con số 4×4 của cuộc triển lãm: Rất giản dị, đó là cuộc gặp lại của 4 họa sĩ từ Mỹ về và 4 họa sĩ hiện đang còn ở Việt Nam hầu hết là học trò của chị.

Gian phòng rộng giữa đại sảnh dành treo tranh của chị với 10 bức mới sáng tác tại Mỹ nhưng đề tài mang “cốt cách” rất Việt Nam. Từ bức tranh sơn dầu mang tựa đề Hóa Thân với các đóa hoa sen vươn lên để đi về cõi vô tận, đến Chờ Nhau mang hình ảnh một thiếu nữ mặc áo dài Việt, tay chống cằm, lặng lẽ trong bóng tối mờ ảo như thương nhớ, đợi chờ một cái gì xa lắc, không biết bao giờ đến. Nét vẽ vẫn rắn rỏi trẻ trung như ngày nào, chỉ có những gam màu hơi tối nói lên sự trầm tĩnh, kín đáo với nhiều suy tư của tuổi đời.

Ba họa sĩ khác từ Mỹ về là Nguyễn Thanh Trí, Lê Thị Quế Hương và Nguyễn Trí Minh Quang — con gái của chị Thịnh. Mỗi người chiếm một phòng nhỏ hơn. 4 người còn ở Việt Nam là Ðặng Thị Dương, Hồ Thị Kim Quỳ, Quỳnh Hương và Uyên Huy. Uyên Huy trẻ nhất và cũng là người nam duy nhất trong nhóm 8 họa sĩ này.

Mỗi Người Một Vẻ

Ðứng đầu “bảng” là chị Trương Thị Thịnh, sinh năm 1928 tại Huế.

Sau đó là Nguyễn Thanh Trí sinh năm 1939 tại Huế, tốt nghiệp Cao Ðẳng Mỹ Thuật Huế 1961. Bức Bóng Trăng của chị mang đầy tính trữ tình của một mối tình thơ mộng và nỗi nhớ của cô gái Việt xa quê hương.

Lê Thị Quế Hương sinh năm 1947 tại Hà Tĩnh, tốt nghiệp Ðại Học Mỹ Thuật San Jose State University. Chị tâm sự, dù sống và được đào tạo tại nước ngoài song nền tảng cho mỗi nghệ sĩ vẫn là hình ảnh quê hương. Chị đã triển lãm ở nhiều nơi, nhưng về lại quê nhà, gặp các hình bóng cũ vẫn thú vị hơn nhiều. Ngoài tranh còn là tình, ngoài tình còn là âm thanh, không khí quê nhà. Chị vẫn nôn nao sau triển lãm sẽ về lại Hà Tĩnh, trước khi đến các nơi khác. Hai bức Hưng Phấn và Đong Đưa Tìm Gió của chị có những gam màu nóng, đỏ vàng xen quyện và màu tím Huế hợp thành một hình khối rất mềm mại. Ðó chính là con người của họa sĩ.

Ðặng Thị Dương sinh năm 1948 tại Hà Nội, tốt nghiệp Ðại Học Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1982 và là giảng viên Ðại Học Mỹ Thuật. Chị có lối vẽ rất riêng với các bức tranh giản dị tưởng như nghịch ngợm của một cô học trò nhỏ với các hình khối và mầu sắc dán lên từ các mảnh giấy rất bình thường. Tựa đề tranh cũng rất đời thường, nhỏ bé như Mẹ Con Mèo, Ngựa. Ở chị, người xem cảm nhận ngay được sự hồn nhiên tươi mát trong cuộc sống, quên hết suy tư, trăn trở từ các gánh đời nặng nhọc. Dường như tất cả chỉ là một cuộc rong chơi.

Hồ Thị Kim Quỳ sinh năm 1952 tại Huế, tốt nghiệp Quốc Gia Cao Ðẳng Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1972. Tình Yêu Và Nỗi Nhớ mang vẻ hấp dẫn của một thiếu phụ đợi chờ ai đó mà người nào cũng mong được mở cánh cửa bước vào. Đây là đề tài muôn thuở của các nữ nghệ sĩ và cũng là “số kiếp” của những người tài hoa.

Quỳnh Hương sinh năm 1953 tại Hà Nội, cựu sinh viên Cao Ðẳng Mỹ Thuật Sài Gòn. Chị từng triển lãm tranh nhiều lần ở Sài Gòn, đã có lần tôi giới thiệu chị với nhóm Câu Lạc Bộ Họa Sĩ Nữ Ngân Hà. Ðặc biệt lần này chị có bức tranh lụa Mùa Thu mang hình ảnh một thanh niên bên vài chiếc lá vàng, không có cái vẻ ngơ ngác như “con nai vàng” mà lại thanh thản đón nhận không khí yên bình, trong suốt hơi thu, nhờ màu sắc nhẹ nhàng mát dịu.

“Lưu luyến”, tranh sơn dầu của HS Nguyễn Trí Minh Quang.

Nguyễn Trí Minh Quang, hiện ở nước ngoài. Là người trẻ nhất trong nhóm 4×4, song cách thể hiện tác phẩm táo bạo nhất. Bức sơn dầu 127cm x 192cm chiếm gần nửa căn phòng, người xem chỉ thấy một mảng màu xanh nhạt trong một vùng tranh tối, tranh sáng và một nửa thân hình của một cặp tình nhân, khơi gợi, đó chính là một mặt của đời sống không thể thiếu của con người.

Cuối cùng là Uyên Huy, trang nam tử duy nhất trong cõi “quần hùng” cũng là người có nhiều tác phẩm lạ nhất. Sinh năm 1950 tại Gia Ðịnh, tốt nghiệp Quốc gia Ðại Học Mỹ Thuật Sài Gòn năm 1971, hiện cũng là giảng viên Ðại Học Mỹ Thuật. Hai bức tranh Chân Dung và Cá của anh là một tổng hợp giữa màu sắc, nét vẽ và vệt sơn. Mạnh dạn, bắt mắt, thoáng một cái gì đó như hình khối của Tạ Tỵ nhưng lạ hơn, mới hơn. Nó thiên về tính cách của một nền hội họa trang trí hơn là suy tư. Anh mang đến cho không khí triển lãm một vẻ rất mới và trang nhã. Triển lãm hội họa 4×4 không phải một cuộc “giao lưu” bình thường, mà là một cuộc hội ngộ cảm động giữa thầy và trò, giữa những tình bạn và tình yêu. Cái tinh thần tôn sư trọng đạo được thể hiện rõ nét trong cuộc hội ngộ ngắn ngủi này.

Tranh Bán Ít Nhưng Kỷ Niệm Nhiều

Lần thứ hai, tôi và Hoàng Vũ Ðông Sơn trở lại triển lãm vào sáng ngày 16-11, đúng lúc các họa sĩ tự mang tranh của mình xuống, nhường lại Bảo Tàng cho người khác. Họ tất bật, lầm lũi, mang nặng nỗi buồn của một cuộc chia tay. Chị Thịnh nói với chúng tôi: “Tranh bán được ít, nhưng kỷ niệm nhiều”. Chẳng biết đây có phải lần triển lãm sau cùng của chị ở Sài Gòn không, nhưng chị hứa: “Mỗi năm tôi về một lần, bây giờ đã là bà cố của cái đám cưới đứa cháu nội mà ba năm trước anh đã tới dự”.

Chị Quế Hương đưa chúng tôi xuống tận chân cầu thang, chị vừa than vãn, vừa cười:

– Mệt lắm anh ạ, bây giờ lại phải cuốn gói mang tranh về bên đó. Mỗi lần triển lãm là một lần vất vả và tốn kém lắm.

– Người ta triển lãm tranh thì lời to mà các chị lại lỗ vốn sao?

– Sài Gòn bây giờ nhiều tranh quá.

– Tranh nhái càng nhiều hơn và có một điều lạ là tranh nhái bán chạy mới hay chứ. Người ta chỉ bỏ ra một ít tiền mà chơi tranh của toàn những danh họa thế giới, còn gì “quý phái” hơn. Cái mốt bây giờ là như thế.

Chị Quế Hương lắc đầu, Hoàng Vũ Ðông Sơn lừng khừng nhận định:

– Ở đâu càng có những vị tư sản lên đời thì ở đó tranh nhái càng thịnh hành. Các cửa hàng tranh nhái hiên ngang mọc lên như nấm gặp mưa. Nhìn cái bộ mặt nghệ thuật giả hiệu đó mà Sài Gòn cũng vui hẳn lên đấy chứ?

– Vâng, có lẽ thế.

(Sài Gòn 19-11-2006)

Chơi kiểu ‘Kampuchia!’

Đoàn Xuân Thu

baotreonline.com

February 3rd, 2021

Post by Sơn râu 31 Aug 2026

Tui nhớ Quái kiệt Trần Văn Trạch (1924 – 1994). “Triệu phú đến nơi. Năm mươi đồng thôi. Mua lấy xe nhà. Giàu sang mấy hồi… Mua số mau lên. Xổ số gần đến. Mua số mau lên. Xổ số gần đến!”.

Chuyện triệu phú kiểu nầy theo ông Trần Văn Trạch nói là xưa quá là xưa, là lạc hậu quá rồi, giờ đã nằm im trong cổ tích. Vì bây giờ ông nào trong nước, sáng dắt vợ con một bầy đi ăn phở Bắc móc xỉa một triệu đồng là chuyện thường ngày ở huyện. Bà con ‘Mít kiều’ trên thế giới thấy vậy đều lé mắt hết ráo!

***

Tui nhớ sau 75, CS bắt đổi tiền tới 2 lần để ăn cướp tiền mồ hôi nước mắt của thiên hạ. Ðộc đáo ở chỗ là có tiền mới có tờ 30 đồng nữa đó nhe. Thiệt là thiên tài xuất sắc của đảng ‘ta’! Vì không có nước nào trên thế giới lại in tiền ‘ngu’ như vậy.

Rồi: “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!” Ðói chết mồ tổ mà cứ nổ; cứ dóc tổ không hè!

Sau mấy chục năm, ăn cướp được miền Nam trù phú, với cái tài kinh tế, kinh đến thế, xà quay, xà quần, xàng tới, xàng lui, cuối cùng đảng ta cũng thực hiện được lời hứa với nhân dân: ai cũng là triệu phú, dù đói lòi hai cái lỗ tai, đói lòi bản họng!

Dân chí thú làm ăn, đầu tắt mặt tối thì triệu phú tiền đồng. Còn quan chí thú làm ăn (cắp) thì triệu phú tiền đô la Mỹ. Bị bà con mình chê rậm rề, tiền gì như giấy vàng mã! Quan anh chạm tự ái, tức quá bèn hô biến, biến bà con trong nước ngay cả mấy ông chạy xe ôm, ai cũng là triệu phú hết trơn, hết trọi.

Không ai thèm tiền xu, tiền cắc nữa. (Con nít nó quên luôn cái trò chơi chọi đáo của những ngày xưa thân ái ấy). Chỉ xài tiền giấy Polymer do thằng Úc nó in giùm 10, 20, 50, 100, 200, 500 ngàn đồng.

***

Tui có thằng bạn nhậu là triệu phú đô la Úc. Giàu nhưng nó chơi hơi bần. Mời tui đi nhậu xong là nói chơi kiểu ‘Kampuchia’, nghĩa là ‘chia’ nhau mà trả tiền.

Tui thì giữ cái phong tục của ông bà mình để lại: Ai mời nhậu thì thằng đó móc xỉa. Hổng có tiền thì đừng có kêu réo um sùm. Rồi bắt khách mời phải chơi kiểu ‘Kampuchia’. Làm như vậy không có văn nghệ văn gừng gì ráo trọi, coi sao đặng nè?

Thì thằng chả chống chế rằng: “Hồi từ trại tị nạn Bidong Mã Lai mới qua Úc, anh của chú mầy cũng khổ lắm đó. Phải chạy chiếc xe cà tàng, giá chỉ một trăm đô, đi giao bánh ‘pizza’ mỗi tối. Một hôm được một em ‘Mít kiều’ cảm thương chàng Trần Minh khố chuối (không có cái quần mà mặc) bèn cho tiền ‘tip’ được 5 đô. Anh của chú mầy ghé qua quầy vé số mua một tấm. Tối trúng được 20 triệu đô Úc.

Tui xỏ ngọt: “20 triệu đô Úc với hối suất bữa nay một đô Úc ăn 77 xu Mỹ thì anh cũng được hơn 15 triệu đô Mỹ rồi còn gì. Nếu chuyển qua tiền đồng của CS Việt Nam thì anh là tỉ, tỉ phú rồi đó cha nội!”

Anh giàu mà rít, keo kiệt quá! Thôi đừng hú mời tui nhậu nữa. Viết báo nghèo sặc gạch thì tiền đâu để tối nào cũng được anh mời nhậu rồi phải ‘Kampuchia’ với anh. Ðể tui đi Mỹ kiếm một ông ở tiểu bang Michigan, thị trấn Novi, ngoại ô phía bắc Detroit vừa trúng 1 tỉ đô hôm tối thứ Sáu rồi. Thằng chả chắc ăn như bắp (nướng) là không bắt tui phải chơi kiểu Mỹ hay theo kiểu ‘Kampuchia’ như của anh đâu.

Tranh Bảo Huân

***

Bà con mình bên Mỹ ai cũng biết vé số ‘Mega Millions’ chỉ 2 đô một vé. Trời độ cho mình trúng, rinh về một tỉ đô, phải mướn cả chục chiếc xe hàng chở tiền mới hết thì ai hổng ham hè?

Sỡ dĩ lô độc đắc lên tới 1 tỉ đô, nhiều thứ hai kể từ trước tới nay, vì 36 lần trước hổng có Chú Sam nào trúng hết ráo.

Thằng ông nội nầy nếu lãnh một lần, trừ thuế rồi vẫn còn được tới 530 triệu đô. Xài tới đời con, đời cháu, đời chắt, đời chít chắc cũng còn một ít.

Ngủ một đêm, sáng dậy từ một đứa ra đường ai cũng kêu bằng ‘thằng’ bỗng chốc nhảy tót lên: Một cũng ‘Sir’; hai cũng ‘Sir’!

***

Tuy nhiên thói đời mà! Giàu là đổi bạn; sang là đổi vợ. Nhưng cái nầy thì ngược lại: Trúng số rồi thì vợ bỏ chồng đi theo thằng mắc dịch, mắc phong!

Nên chuyện rằng: Một em về nhà đậu xe cái ‘kít’, chạy vào nhà la toáng lên. “Anh yêu chuẩn bị hành lý mau lên. Em vừa trúng số độc đắc!”

“Ối giời ơi đã quá xá đã! Mang theo quần áo nào?  Ði biển hay đi lên núi? Ði Mỹ tới New York, thủ đô tài chánh của toàn cầu hay đi Châu Âu tới Paris, kinh đô ánh sáng?”

“Quần áo ư? Anh mang theo cái nào cũng được rồi cút ra khỏi cái nhà nầy ngay!”

Lớn đầu cha nội nầy đâu có dại, nó đi thưa. Ông Tòa bèn phán rằng:“Râu tôm nấu với ruột bầu. Chồng chan vợ húp; gật đầu khen ngon!” Sao ‘con nữ’ không nghĩ tới thuở hàn vi, cục muối chia hai, cục đường em lủm hết hả? Nghèo thì cả hai cùng chịu; giờ giàu nhờ trúng số độc đắc thì phải ‘chai hia’ theo kiểu ‘Kampuchia’.

Sau khi bị em yêu đối xử tàn nhẫn (nại) như vậy, chàng dứt áo ra đi! Ôm tiền về xứ Mẹ, rước một em ‘Mít’ thơm như múi mít, qua để phụ chàng xài tiếp.

Thiệt là quá đã! ‘Kampuchia’ lô độc đắc với người xưa. Giờ thêm một lô độc đắc chân dài tới nách.

***

Ông bà mình từng dạy rằng: “Tiểu phú do cần cù; đại phú do Thiên”. Cần cù để làm giàu mệt lắm nên thú thiệt với bà con là tui hổng có ham. Tui thích ‘đại phú’ do Thiên hơn; vì không cần làm gì hết ráo. Và cũng có câu rằng: “Hay không bằng hên!”. Tui chọn hên cho nó ‘phẻ’.

Mà đang nghèo sặc gạch, muốn giàu, chỉ còn cách trúng số mà thôi. Vậy là tui ráng dành dụm chút đỉnh tiền đủ mua miếng thịt heo về luộc, cúng ông Thần Tài và van vái: “Con là Tèo! Nghèo quá xin ông Thần Tài ‘xóa đói giảm nghèo’ bằng cách cho con trúng số độc đắc, chừng vài chục triệu đô la Úc thôi cũng được!”

Cúng xong; rinh miếng thịt xuống, xắt mỏng, cuốn với rau sống, bánh tráng chấm mắm nêm đưa vô miệng. Cầm cái ly hột mít rượu ‘Hennessy’, quất nghe cái ót, trôi xuống cần cổ cho đời bớt khổ!

Nhưng chờ hoài mà không được; nên một hôm hơi quá chén, tui đâm hỗn, cự nự rằng: “Nè ông Thần Tài! Ông mà không cho thằng Tèo nầy trúng số là từ rày về sau không cúng kiếng gì ráo; cho ông đói nhăn răng ra để thông cảm với kẻ nghèo!”

Bất ngờ từ bàn thờ Thần Tài, một tiếng vang rền như sấm động:“Tổ cha cái thằng kia! Nghèo mà còn ngu, ngu mà còn dám hỗn ẩu với ta. Mi cầu xin ta cho trúng số thì ít nhứt mi phải mua vé số đi chớ!”

Vậy là tui quày quả đi mua ngay một tờ vé số! Chiều xổ trật lất. Té ra ông Thần Tài chơi trác, chơi ác cho Tèo tui leo cây thoa mỡ bò!

***

Em yêu của tui vốn là người không có máu cờ bạc, đổ bác, cười khè khè phán rằng: “Vé số là cái trò đểu cáng của chánh phủ đánh lên đầu mấy đứa nào Toán dở như hạch để anh vui vẻ móc túi ra mà không càm ràm gì sất!”

Theo xác suất thống kê chỉ rõ ra rằng: “Trúng gió còn dễ hơn trúng số nhiều! Xác suất trúng độc đắc của giải Mega Millions bên Mỹ là 1 trên 302 triệu.

Rồi xác suất bị trời đánh ‘ngỏm củ từ’ trên đường đi mua vé số còn cao hơn là trúng số!”

Em yêu của tui hổng mở miệng ra thì thôi. Mà mở miệng ra nói cái gì cũng đúng hết ráo hè! Tuy nhiên tui lại thấy có cái còn khó hơn trúng số. Ðó là cãi lộn với em yêu. Mua vé số còn cơ hội tới số; còn cãi nhau với em yêu là không có cửa ăn, thua chắc 100%!

ĐXT

Chuyện cuối năm

gio-o.com

Hồ Đình Nghiêm

tản mạn-2008

Post by Sơn râu 31 Aug 2026

Tuần rồi, một người con gái, chẳng hiểu do đâu cô biết được địa chỉ e-mail của tôi. Bức điện thư ngắn nhưng làm lòng tôi dấy lên nhiều cảm xúc. Đại diện cô, tôi xin thêm dấu sắc huyền hỏi ngã nặng và, đây là nguyên văn: “Xin chào chú, cháu là Trần Quỳnh Hoa, thầm lặng làm thơ đã sáu năm, nay gom nhiều bài ưa thích và có tham vọng in nó thành một tập. Đường đột xin chú một điều: Vui lòng viết cho cháu một cái tựa. Chúng ta sẽ nói nhiều hơn nếu chú bỏ công đến quán Starbucks gặp gỡ. Chủ nhật, một giờ trưa, métro Côte des neiges. Cháu sẽ mặc áo ấm màu đỏ cho chú dễ nhận. Hy vọng sẽ được gặp nhà văn mà cháu từng mến. 

Quỳnh Hoa. 

P.S: Cháu sẽ mang theo bản thảo và dĩ nhiên sẽ “hối lộ” chú bằng cách dành trả tiền cà-phê.”

Trong inbox, có lẽ đây là bức thư dễ thương nhất mà tôi có được. Tôi tắt computer, ngồi tưởng tượng ra một nhân dáng dịu hiền (đã làm thơ ắt hẳn cô phải hiền dịu!). Tên cô là Quỳnh Hoa, chắc tôi phải dẹp bỏ hết mọi thứ để mang tơi đội nón đi gặp cô. Trịnh Công Sơn từng viết: “Em mang cho ta một đóa quỳnh. Quỳnh thơm hay môi em thơm…” 

Đồng hồ lúc đó, với tôi, là cái gì đồng nghĩa với lười biếng. Hai cây kim của nó tuồng như đóng băng theo thời tiết giá lạnh bên ngoài. Nhưng dẫu sao, theo định luật của tự nhiên, đôi chân nó cũng phải cất bước (thuận theo chiều quay của kim đồng hồ!) Và sau chót, tôi đã nhìn thấy màu áo đỏ. Giữa con dốc nhiểu gió nó tựa một đốm lửa bùng cháy. Tôi rất ấm. Tôi nhủ thầm. Đó là phút giây tôi bắt gặp nụ cười long lanh sáng trong đôi mắt cô. Cái tinh anh của nó dường như biết xuyên thâu qua khoảng cách của mười mét đang nát vụn bởi bông tuyết vần vũ đầy trời Montréal. Thơ Haiku của Basho có bài: 

“Tuyết

mà chúng ta cùng

ngắm năm xưa

Bây giờ đã

rơi chưa

ngàn trùng.” 

Chao ôi! Đơn giản dường ấy, ngắn ngủi là thế, mà sao đọc lên lòng những luống ngậm ngùi. Chữ ngậm ngùi không đúng. Hụt hẫng cũng sai nốt. Đọng lại trong lòng là thứ nỗi niểm khó cắt nghĩa. Mất bao nhiêu năm người ta mới có thể làm nên một bài thơ có thần tựa thế, hở Quỳnh Hoa? Trong lãnh vực hội họa có một thứ gọi là Tỷ lệ vàng. Cái ấy nên hiểu là nó hoàn chỉnh tới độ không thể thêm thắt hoặc gạt bỏ một phân ly nào cả. Tựa như số đo vòng một vòng hai vòng ba trên cơ thể một cô người mẫu tuyệt sắc. Với thi ca thì sao? Bốn câu của Thâm Tâm có thể mang ra làm ví dụ? 

“Đưa người ta không đưa sang sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong…” 

Tuyệt! Tôi uống Expresso, và uống no đủ những điệu bộ, những biểu tỏ, những lời nói của Quỳnh Hoa. Cô gần như làm chủ buổi trò chuyện bởi tôi chỉ khoanh tay ngồi nghe, lòng đầy nghi hoặc: Tại sao lại gọi chú và xưng cháu? Bất quá tôi chỉ lớn hơn cô chừng mười lăm tuổi chứ mấy. Thôi Hiệu từng ta thán: “Mười lăm năm tựa một chợp mắt giữa cơn mộng dài!” Mười lăm năm. Khi Quỳnh Hoa cất tiếng khóc chào đời tôi vẫn ngu ngơ cười, chưa hề nếm qua khổ lụy của tình yêu; vẫn ngắm nhìn cuộc sống trôi qua bằng thứ nhãn quang đầy hồn nhiên của con trẻ. Tôi tin là sự ngờ vực, nỗi hoài nghi chỉ có thể đến sau khi Adam lỡ cắn vào trái táo trên khu vườn địa đàng. Sự mâu thuẫn hiện hữu: Trẻ con chẳng thể làm thơ, nếu có hẳn rất vụng. Và thi sĩ thì luôn ước ao mình có được chất hồn nhiên của chúng. Nguyễn Trãi hạ bút: 

 “Tam thập dư niên trần thế mộng,

Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi!” 

Tạm hiểu: “Hơn ba mươi năm mãi đắm chìm giữa cuộc đời nhiều huyễn mộng, tình cờ nghe chim hót, lòng những muốn sống lại thuở thơ ngây!” 

Bao nhiêu năm làm phận di dân sao trong đầu tôi thỉnh thoảng vẫn hiện về những câu, lẫn lộn trong ba bài thơ luôn có sức ám ảnh. Nó ám ảnh bởi nó hay. Nó hay bởi đọc nhiều lần vẫn bắt gặp nguyên dạng sự bồi hồi lẫn trốn đâu đó, dẫu đọc ở những thời điểm khác nhau, ở trạng thái tâm lý khác nhau, ở địa lý mỗi nơi mỗi khác. 

Đáy năm (chữ của Mai Thảo) bắt chước tiền nhân, gọi là ôn cố tri tân tôi xin cẩn trọng ghi lại đầy đủ ra đây, thế trầm hương, tỏa thơm những tâm hồn đồng điệu.

Bài 1 của Tuệ Sỹ: THƠ VÔ ĐỀ

“Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn”.

Bài 2 của Bùi Giáng: KHÔNG ĐỦ GỌI MỘT LẦN

“Mây đứng lại chân trời phủ khói

Dòng sông đi đò bến đợi ngu ngơ

Chiều trời đẹp tâm tình em không nói

Đất với trời chung một nghĩa bơ vơ

Chiều thổi đẹp gió về em không nói

Anh không chờ không biết đợi từ bao

Từ xuống mưa không biết tự phương nào

Dòng sông chảy ai người xin níu lại

Mưa có tạnh nhưng chân trời còn mãi

Những giọt sương là lệ ở trong mây

Dòng sông đi cho nước nói ngàn ngày

Rằng bề rộng không bến bờ em ạ

Anh đợi xuống đêm về đầu phủ toả

Mịt mờ xanh bù xõa ánh tơ giăng

Cười môi em duyên dáng như chị Hằng

Và lấp lánh mắt là sương trong lệ

Anh sẽ hỏi gió đêm về mở hé

Mở muộn màng là một chút mơ hoa

Mở ngàn sau hoài vọng chút phai nhòa

Và mất hút ở cuối trời nín lặng

Rồi từ đó về sau mang trái đắng

Bàng hoàng đi theo gió thổi thu bay

Anh chờ em không biết tự bao ngày

Đề thấy mãi rằng thơ không thể gọi

Sầu một thuở đất mòn không tiếng nói

Một ngàn năm trăng dãi tuyết băng buông

Anh gửi đi ngàn sóng cuộn thác nguồn

Để thấy mãi rằng thơ không thể gọi

Mùa xuân lại với chim về đã mỏi

Với cá về mây nước cũng lang thang

Anh nằm im nhắm con mắt mơ màng

Mở con mắt cũng mơ màng cỏ lá

Hờn phố thị để lạc hồn cõi lạ

Sầu phố xanh từ bữa nọ em đi

Tuyết trời Tây có nguôi lãng những gì

(trích từ Mưa Nguồn. 1973)

Bài 3 của Tô Thùy Yên: TƯỞNG TƯỢNG TA VỀ NƠI BẢN TRẠCH

“Đào Tử sắp lìa bỏ nơi nghịch lữ

trở về nơi bản trạch. Than ôi, thương thay!”

Đào Tiềm

*

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Gió đưa nhớ rải dọc trần gian

Trên đồng ngọn cỏ tranh khom mỏi

Đời nặng cơn bi lụy dịu dàng

Rồi thôi, im mãi, im vô vọng

Ta tiếc dài sao đã đến đây

Lờn rờn bóng lá đong đưa nắng

Thảm thiết giây leo quấn quít cây

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Ơn dày chôn trả đất bao dung

Cụm mây trôi rã trong trời lớn

Như giấc chiêm bao thấy giữa chừng

Con đường đi mỏi mà không tận

Lượn sóng trên ghềnh nhọn rách tơi

Ai thở dài chi cho não ruột?

Cơn mưa hư tưởng mơ màng rơi

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Về luôn như một tiếng kêu khơi

Đã buông trong bạt ngàn xanh ngắt…

Biển cử ai rần bãi rã rời

Chuồn chuồn vui đậu trên nhành lúa

Để lại bay đi lúc kịp buồn

Điệu hát nào lan man vướng vất

Như hơi ẩm mục mặt hồ sương

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Đóa hoa buông cánh khi tàn hương

Tiếng rụng tuyệt âm rền tịch mịch

Dòng sông tới biển nức tuôn, tuôn…

Các mùa chuyển động trong trời trống

Di điểu qua sông xẻ luống sầu

Ly biệt chẳng từ hạt cát ngọc

Tuần hoàn đến cả giọt sương châu

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Là rồi một chuyện kể chưa xong

Mùa hè cọ xát điên kim loại

Con qụa kêu ran giữa quãng không

Tàu chuối xác xơ reo ngất ngất

Nỗi đời bi thiết xé lưa tưa

Hòn ngói lia bay bay mặt nước

Chìm sâu dĩ vãng đục không dò

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Bãi bùn trơ trẽn thủy triều lui

Con còng ẩn nhẫn bò quanh quẩn

Càng nhẹ tênh trên cõi ngậm ngùi

Ta bằng lòng phận que diêm tắt

Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông

Thôi nói, bởi còn chi để nói

Núi xa, chim giục giã hoàng hôn

Tưởng tượng ta về nơi bản trạch

Áo phơi xanh phới nhánh đào hồng

Mùa xuân bay múa bên trời biếc

Ta búng văng tàn thuốc xuống sông.

Nếu Quỳnh Hoa đọc được ba bài thơ trên, hẳn Quỳnh Hoa sẽ hiểu do đâu tôi im tiếng; tôi trốn tránh cô thì đúng hơn. Tôi chẳng đủ can đảm để thốt lời gay cấn: Đừng in thơ nữa. Để hai ngàn đô ấy mà đầu tư vào những cuộc chơi khác, thực tiễn hơn, khỏe trí hơn. Đi du lịch để mở rộng tầm nhìn chẳng hạn. Em thấy không? (Chẳng chú cháu gì ráo!) Bản thân anh luôn nghiệm ra rằng làm thi sĩ là thứ đại khó (chuyện dễ nhất là chọc cho đàn bà giận hờn). Phải trải nghiệm, phải hy sinh đánh đổi- kể cả hạnh phúc- để cất công sàng lọc lúa, trấu, mọt, sạn thành những hạt gạo trắng ngần, tinh ròng. Ta đón nhận, hân hoan. Và dĩ nhiên, ta mang lòng tri ân về thứ tặng phẩm ngát hương kia. Xin hãy luôn ca tụng họ, nếu có thể. 

Nhà văn Lỗ Tấn viết: “Con đường, tự nó không hiện hữu mà do những dấu chân người tạo nên”. Ông còn nói một câu mà tôi luôn tâm đắc: “Đừng sợ người ta không biết tới mình, cái đáng sợ là khi biết, họ sẽ nghĩ gì về mình!” Xin gửi đến Quỳnh Hoa câu nói trên để thế một lời chào đầy thân ái. 

Em ơi, ngày mai trời lại tối! 

* Bên lề (phải): 

Trên Gío-o có đăng tải những bài thơ độc đáo của Ngu Yên và Hoàng Xuân Sơn. Tôi là kẻ ngoại đạo. Hai thi sĩ kia mới đủ nội lực để tản mạn về thi ca. Biết đâu bài viết này lọt được vào mắt hai “chàng”. Và đâu biết, mai này chúng ta đọc thấy “Chuyện đầu năm”: Nhà thơ cất tiếng, đưa ý kiến, nhằm can ngăn hoặc xúi dục những người can đảm tựa Quỳnh Hoa. (Em đừng mang tới hoa quỳnh, môi thơm dẫu đợi ta nào biết hôn!) 

* Bên lề (trái): 

Bài này chỉ xin được xếp vào hạng mục (mới thấy trên Gió-o): Thư  tín với tiểu tựa “LÂU LÂU MỘT LẦN” (Ôi, cái tựa thật gợi cảm!). Người Bắc có chữ “Ăn giả bữa”. Là ăn bù đắp, ăn over-time, ăn thế cho những lúc ốm đau nhác chơi liệt giường. Hàn Mặc Tử nói: Lâu quá sao anh không về chơi thôn Vĩ? Lâu-lâu-một-lần. Lạ thật! Sao không cho hai lần, ba lần? Lâu quá rồi, còn nhớ chăng? Để trả thù, để “tính tiền lời” cho những hôm “ngồi trên giếng mà khát nước!” 

Cám ơn nhà văn Lê thị Huệ đã vui lòng chuyển tải “lời quê góp nhặt dông dài” này. Cũng xin cám ơn ai đó đã góp ý về vấn nạn con dao Thái-lan trong chuyện ngắn “Mày biết đời là gì”. Viết văn và làm thơ, khi nghe được tiếng vọng từ phía người đọc cũng là một cách biết-đời-là-gì. Phải thế không Quỳnh Hoa? 

Lành thay! Lành thay! 

Hẹn gặp một lần khác. Lâu lâu một lần hay hai ba lần, thú thật cái đó tùy thuộc nhiều vào sức khỏe. Chốn tôi ở hàn khí dâng đầy, giá rét từ muôn hướng thổi về, cơ thể nghe hao gầy sa sút, co ro. 

 Buồn thay! Buồn thay!

Hồ Đình Nghiêm

© gio-o.com 2008

Lá rụng không về cội

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh    

July 11, 2009    

Post by Sơn râu 31 Aug 2026

Thứ bảy tuần rồi, ông Trương nhận được hai món quà, do ông bà sui vừa về thăm quê bên Việt Nam mang sang tặng. Hai món quà thực ra không đáng bao nhiêu tiền, nhiều lắm cũng chỉ bằng giá một tô phở bán ở Little Saigon, nhưng với ông nó lại là vô giá, đã làm ông xúc động, nghẹn ngào đến nỗi không thốt lên được hai tiếng cám ơn. Cả tuần nay, nhiều đêm ông trằn trọc mất ngủ, ban ngày ngồi thẫn thờ, hoặc chắp tay sau lưng lẩn thẩn một mình trong khuôn vườn nhỏ sau nhà, suy nghĩ mông lung.

Năm vừa rồi, con cháu đã tổ chức mừng Lễ Thượng Thọ cho ông, mặc dù ông thường cản ngăn điều ấy. Nhưng con cháu làm vậy là phải, vì gia đình ông trải qua bao đời sống trong gia phong lễ giáo, hơn nữa suốt một đời vào sinh ra tử mà ông sống được tới hôm nay cũng là lạ lắm. Con cháu không chỉ mừng ông mà còn phải cảm tạ Đất Trời.

Sinh ra ở vùng quê, một cái huyện nghèo, mà thơ mộng. Biển xanh nằm sát bên dãy trường sơn hùng vĩ, cực bắc tỉnh Khánh Hòa. Cuộc đời ông có nhiều may mắn bất ngờ. Vì sinh kế, cha mẹ ông phải vào Nam lập nghiệp. Ông được một người trí thức có lòng nhận làm dưỡng tử. Người này gốc Quảng Bình, tốt nghiệp kỹ sư công chánh từ École Centrale bên Pháp, vừa mới hồi hương và đang làm cho hãng thầu Descours &Cabaud đặc trách hai công trường xây cầu  NeakLuong và Norodom, cách thủ đô Nam Vang 6 – 10 cây số. Là “dưỡng tử” nhưng ông thường được xưng hô là “thầy trò”. Ông kỹ sư chưa lập gia đình. Để thuận tiện công việc làm, ông thuê một ngôi nhà đơn lập, nằm cạnh nhà của người bạn là một nhà giáo, và gởi gấm cậu dưỡng tử theo học. Thời đó Nam Vang không có một trường nào dành cho văn hóa Việt Nam, mà chỉ có trường Pháp và Miên. Ông kỹ sư sống ở Pháp hơn bốn mươi năm, thấm nhuần văn hóa Pháp, vì vậy “cậu bé” Trương tất nhiên chịu ảnh hưởng của người dưỡng phụ, nên học hành rất nhanh và sớm thi đỗ Diplôme.

Ngày 8 tháng 3 năm 1945, quân Nhật lật đổ chính quyền bảo hộ Pháp ở Đông Dương. Ông kỹ sư dưỡng phụ bị quân Nhật bắt đem đi mất tích. Không còn nơi nương náu, ông Trương chỉ còn con đường duy nhất là về lại quê xưa. Bảy tháng sau, quân Pháp từ Ban Mê Thuột đổ xuống đồng bằng như thế chẻ tre. Ông Trương, lúc này đã là một thanh niên, bị bắt. Khi Phòng Nhì Pháp thẩm vấn, ông đội (Phinh) thông ngôn dịch sai câu trả lời của ông Trương, làm cho viên sĩ quan Pháp hiểu lầm tức giận, đứng lên định tát vào mặt ông Trương. Nhờ lanh trí và với căn bản Pháp văn vững chãi, ông Trương trình bày tận tường sự việc,  làm cho vị sĩ quan Pháp ngạc nhiên, thán phục. Thay vì làm tù binh, ông Trương được đưa vào Nha Trang để làm thủ tục đồng hóa vào quân đội Pháp. Sau đó ông được sự giúp đỡ của một số Sĩ quan Pháp tốt nghiệp trường Võ Bị Saint Cyr, thi đỗ vào École Militaire InterArmes de Dalat (EMIAD) ( trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt). Tốt nghiệp với thứ hạng cao, ông được chọn làm huấn luyện viên cho các khóa Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch

Rồi từ ngày ấy ông biền biệt xa quê, nơi chôn nhau cắt rốn, cho tới hôm nay. Đúng ra, trong thời gian hơn sáu mươi năm ấy, ông chỉ sống ở quê mình vỏn vẹn có ba năm, khi ông bất ngờ được chọn về đây làm quận trưởng. Nhiều người cho đây là một điều may mắn. Hơn nữa lúc này là thời Đệ Nhất Công Hòa, tiêu chuẫn để chọn một quận trưởng rất khó khăn.Vậy mà khi nhận được Lệnh Bổ Nhiệm, ông đã xin từ chối. Ông biết làm việc ngay ở quê mình là một điều không dễ, bởi còn có nhiều người thân, em út trong nhà , bà con chú bác. Dù tình lý có phân minh, cũng khó tránh được đôi lời dị nghị.

Nhưng cuối cùng ông cũng phải mang balô, từ giã một tiểu đoàn thiện chiến, do chính ông dày công tổ chức và rèn luyện, về chính quê mình nhận trách nhiệm mới, nặng nề phức tạp. Lời khẩn cầu từ chối của ông không được chấp thuận. Lý do được Bộ Nội Vụ đưa ra: Ông (cố vấn) Ngô  Đình Nhu đang là dân biểu Quốc Hội (đảm trách hai quận thuộc tỉnh Khánh Hòa, trong đó có quận của ông), đề nghị Trung Ương bổ nhiệm một vị quận trưởng phải có đạo đức, lập trường kiên quyết chống Cộng, vừa có kinh nghiệm tổ chức chiến đấu vừa am tường địa hình và dân chúng trong quận. Trong danh sách những người được đề nghị, ông Trương là đối tượng duy nhất đáp ứng các tiêu chuẩn trên.

Ba năm, sau khi đã ổn định tình hình và tổ chức được một hệ thống chính quyền xã ấp cùng một lực lượng an ninh vững mạnh, xây xong một con đập lớn (Bình Trung) và ngôi trường trung học công lập đầu tiên cho quận, ông làm đơn xin được trở lại đơn vị cũ. Là một sĩ quan chiến đấu, ông không hứng thú với những thủ đoạn ở chính trường. Đơn chưa được xét, thì xảy ra cuộc đảo chính ngày 1.11.63. xóa bỏ nền Đệ Nhất Cộng Hòa một thời thịnh trị. Ông bị đám tướng tá “cách mạng” chụp cho chiếc nón Cần Lao, mặc dù ông là một phật tử ngoan đạo, thuần thành. Cuối cùng không tìm ra tội, họ phải chấp nhận đề nghị của ông: trả ông về quân đội. Ông được bỗ nhậm về Trung Đoàn 48BB biệt lập, đang quần thảo với địch quân trong Chiến khu D. Bàn giao công việc cho người kế nhiệm.Thêm một lần nữa ông phải ra đi trong thương tiếc của mọi người. Và ông cũng không ngờ, lần ra đi này cũng là lần vĩnh viễn xa quê.

Bao nhiêu năm lăn lộn ở các chiến trường, biết bao lần vào sinh ra tử, đơn vị ông đã tạo nhiều chiến thắng lẫy lừng. Bảo Quốc Huân Chương Đệ Ngũ rồi Đệ Tứ Đẳng ông được tưởng thưởng từ khi còn khá trẻ, được chính các vị nguyên thủ quốc gia trao gắn. Cũng có một thời ông được chọn về làm huấn luyện viên cho các quân trường lớn : Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, Võ Khoa Thủ Đức, Chỉ Huy Tham Mưu Đà Lạt. Ông cũng là đồng soạn giả của một số Binh Thư dành cho các cấp chỉ huy từ cấp đại đội, tiểu đoàn đến trung đoàn bộ binh.

Tình hình Vùng 1 Chiến Thuật ngày càng nặng nề, từ ngày đường mòn Hồ Chí Minh với những ống dẫn dầu từ Bắc vào Nam – không hiểu vì sao – gần như bỏ ngõ (?), để từng đoàn xe pháo Bắc quân xâm nhập. Từ những chiến trường khu D, Bình Long,  ông được điều ra tận vùng địa đầu hỏa tuyến, tái tổ chức một trung đoàn biệt lâp, với trang bị và nhiệm vụ phù hợp với một sách lược do chính cá nhân ông biên soạn lúc còn phục vụ tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu Đà Lạt.  Đó là kế hoạch“Chữ Tâm Trong Lũy Tre Xanh” (The Hearth Within The Green Bamboo Rampart), có nghĩa là phía quốc gia phải chinh phục được niềm tin của dân làng trước (và trong) kế Hoạch Bình Định & Xây Dựng Nông Thôn. Và cũng vì chính sách lược ấy, ông được thuyên chuyển đến vùng lãnh thổ này: Hai quận Hòa Vang và Điện Bàn thuôc tỉnh Quảng Nam được cơ quan MACV đề nghị làm thí điểm cho việc thực thi kế hoạch.

Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã tái tổ chức xong trung đoàn, lấy Tâm Lý Chiến làm hành trang cho binh sĩ mang vào vùng trách nhiệm, đến tận những nơi thâm sơn để theo dõi, bám sát và tiêu diệt các đại đơn vị Bắc quân xâm nhập. Mặc dù luôn bóp méo, viết sai sự thực, nhưng trong quân sử của đối phương không hề dám viết một dòng nào về hai Sư đoàn 304 và 324B của chúng đã đụng độ với lực lượng Hưng Quảng I của ta tại Quảng Nam. Bởi theo yêu cầu và chỉ điểm của đơn vị ông, một ngày, bốn phi vụ B52 trải thảm tại một khu vực nhỏ hẹp ở Gò Nổi (Phù Kỳ, huyện Điện Bàn) mà sau đó, các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã phải dùng Rome Plough của Sea Bee để vào chôn xác quân thù. Đủ biết số tử vong của địch cao biết chừng nào.

Trong hồi ký, Y sĩ Thiếu Tá Nguyễn Gia Thọ, nguyên là bác sĩ quân y của Trung Đoàn, đã viết về ông khi vị bác sĩ này mới về trình diện:

….Tôi có cảm tình ngay với vị chỉ huy mới, vừa lịch sự vừa dứt khoát, lệnh lạc rõ ràng, và coi quân y quan trọng cho đơn vị. Tôi hình dung lại dáng người của ông, cao gầy, mặt xương. Sau tôi biết ông là người có tú tài Pháp, sùng đạo Phật, đêm nào cũng thắp nhang khấn ngoài trời, và trong ngôn ngữ truyền tin, ông là Phượng Hoàng…..

và về chiến tích đầu tiên mà vị bác sĩ này được vinh dự góp phần, một ngày không xa sau đó:

….Kết quả cuộc tấn công của Việt Cộng: ta gần như vô sự, chỉ có Canh, xạ thủ đại liên, rớt từ chòi cao xuống, xương sống gãy một đốt đi lom khom và tôi, bị miểng đạn vạt mất mông bên trái, không ăn thua gì. Còn địch thì để lại trên một trăm xác chết ngoài hàng rào.
Sau trận đó, tôi được thưởng anh dũng bội tinh với ngôi sao bạc, và chiến thương bội tinh.

Đại Tướng Hoa Kỳ Louis C. Wagner, từng là cố vấn trưởng trung đoàn, được ông Trương đề nghị ân thưởng Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, trong tập bút ký nổi tiếng Steel and Blood, đã hết lời ca ngợi trung đoàn dưới sự chỉ huy của ông.

Nhưng với ông, người Mỹ đã làm cho ông thất vọng. Từ sự trở mặt của một đồng minh cho đến cả cái tình một thời chiến hữu.

Ngoài trách nhiệm nặng nề của người anh cả một đại đơn vị, ông còn trách nhiệm của người anh cả đối với những đứa em trai không cha, mẹ già, chu cấp lo lắng cho các em học hành. Ông cũng không thể dắt díu hết bầu đoàn thê tử theo ông ra vùng lửa đạn, nên phải gởi cậu trai lớn về quê ngoại Ninh Hòa và hai cậu con trai nhỏ cho hai người em trọ học ở Nha Trang. Sau này, tất cả các em và con trai đều theo bước chân ông vào quân ngũ. Có người là sĩ quan biệt động quân, người ở hải quân, không quân.

Trung Đoàn Biệt Lập của ông trở thành một đơn vị hàng đầu thiện chiến, luôn ở tuyến đầu lửa đạn. Cuộc đời ông lại gắn chặt dưới những giao thông hào, trong những lô cốt làm bằng những bao cát (được gọi là trung tâm hành quân) và đại gia đình ông bây giờ chính là những người lính chiến dưới quyền, cùng ông sống chết, nhục vinh.

Với khả năng lãnh đạo chỉ huy, đức tính cương trực liêm khiết, cùng bao nhiêu kinh nghiệm chiến trường, ông được tướng Ngô Quang Trưởng, điều về làm Tư Lệnh Phó cho một Sư Đoàn thiện chiến vào bậc nhất miền Nam. Một Sư Đoàn đã tạo nên bao chiến tích lẫy lừng cùng những vị Tư Lệnh và nhiều cấp chỉ huy nổi danh một thời của Quân Lực: Ngô Quang Trưởng, Phạm văn Phú,   …,  Lê Huấn, Võ Toàn, …

Đầu tháng 3/75, sau khi  Ban Mê Thuột thất thủ, Quân Đoàn II có lệnh triệt thoái khỏi Cao Nguyên theo Tỉnh Lộ 7. Một cuộc lui binh tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh. Tướng Ngô Quang Trưởng đau đớn nhận lệnh bỏ Quân Đoàn I,  trong khi người bạn đồng minh phủi tay và  chính quyền trung ương cùng cả một hậu phương rối ren, hổn loạn. Sư Đoàn của ông cũng cùng chịu chung số phận. Vị Tư Lệnh cùng vài vị trung đoàn trưởng tử nạn trực thăng, không ai tìm ra tung tích. Ông nhìn cả một đại gia đình tan tác mà trong lòng như có trăm ngàn vết chém. Cuối cùng ông cũng phải rời khỏi vùng đất địa đầu miền Nam, nơi có những người lính anh hùng,giẫm lên xác thù, cấm cờ trên Cổ thành Quảng Trị, có cố đô của một triều đại cũng từng một thời dẹp Bắc bình Nam, mở rộng cả một vùng giang sơn bờ cõi, nơi đã hơn 30 năm đứng vững trong bom đạn hung hãn của kẻ thù và những tranh chấp hận thù của những người nhân danh tôn giáo. Ông đã phải cắt ruột mà đi, không những chỉ bỏ lại máu xương, bao nhiêu nấm mồ đồng đội, cùng với những chiến tích vang dội một thời, mà còn cả một đứa con trai, cũng là lính chiến, rút lui theo đoàn quân lên tàu, nhưng chẳng bao giờ tới bến. Người con trai của ông đã nằm lại vĩnh viễn ở một nơi nào đó cùng với đồng đội – những chiến sĩ vô danh .

Như một phép màu, ông Trương đã được bốc đi vào đúng giờ thứ hai mươi lăm của cuộc chiến, khi địch quân cấm lá cờ oan nghiệt nửa đỏ nửa xanh trên nóc ngôi nhà ” Dinh Độc Lập”. Hôm đó người ông đi, mà hồn ông vẫn còn ở  lại trên quê nhà.

Đến Mỹ, ông tìm một nơi tạm cư vắng vẻ, cùng với một gia đình không trọn vẹn, sống âm thầm những tháng ngày còn lại. Ông tìm lãng quên trong sách vở, với những đứa cháu nội ngoại không hề biết quê hương nơi ông sinh ra và cả một đời chiến chinh và nỗi đau cắt ruột. Niềm vui duy nhất của ông bây giờ là tìm lại những đồng đội ngày xưa, nhắc nhớ nhau một thời trận mạc. Nhưng vui đó rồi lại buồn đó, khi bất chợt có ai nhắc lại tên một người đã mất hoặc vẫn còn sống mà khốn khổ lạc loài trên chính mảnh đất quê hương.

Những lúc rảnh rỗi, ông đóng cửa phòng, đọc sách, hồi tưởng lại cả một chuỗi quá khứ của đời mình, nhớ lại từng chi tiết trong các trận đánh, phân tích các điều thành bại rồi viết lại và lưu giữ trong computer. Lâu lâu ông lại mở ra đọc, nghiền ngẫm hằng giờ. Rồi thở dài. Ông tiếc thầm, vì những kinh nghiệm có được từ bao nhiêu máu xương này không còn biết đem truyền lại cho ai.

Nhiều lúc ông da diết nhớ quê, nhớ mồ mả cha mẹ tổ tiên, nhưng ông không bao giờ có ý nghĩ trở về, dù chỉ một lần, và chỉ một đôi ngày ngắn ngủi. Bởi một lý do đơn giản: ông nghĩ nơi ấy không còn là quê hương ông ngày xưa, mà chỉ còn là một vùng đất lạ lẫm, mà mỗi ngày, mỗi một phút, lũ cầm quyền vong bản, hèn mạt, bất tài, đua nhau bán rẻ quê cha đất tổ, cướp đi từng hạt cát của biển, hạt lúa của ruộng đồng, từng cành cây của rừng, từng tảng đá của núi và cả những giọt nước mắt, mồ hôi của những người dân khốn khổ, trong đó có nhiều người bà con của ông đã gần 50 năm chưa hề gặp lại. Ông cũng hổ thẹn, thấy chính mình có lỗi khi để quê nhà lọt vào tay bọn giặc man rợ, bất lương.

* * *

Suốt một tuần nay, buổi sáng nào, sau khi thức dậy, ông cũng rón rén đến bàn thờ, tìm hai món quà mà ông bà sui đã tặng : một chiếc nón lá và một bao nilon chỉ toàn là cát.

Hôm nay, ông ngồi thật lâu, dường như suy nghĩ một điều gì quan trọng lắm. Cuối cùng, ông đi tìm chiếc ghế, đứng lên đóng một cây đinh vào vách phòng khách, nơi mà trước đây ông luôn dặn dò, nhắc nhở vợ con mình không được làm điều ấy. Ông trịnh trong treo chiếc nón lá lên đó. Rồi ông lùi ra nhìn chiếc nón. Bất chợt trong nhạt nhòa nước mắt, ông nhìn thấy bóng dáng mẹ ông, nhớ tới bài văn xuôi rất học trò của ông Thanh Tịnh, mà ông đã bao lần đọc cho đám con cháu nghe đến độ thuộc lòng:

“….Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn  đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã đi lại lắm lần..”.

Ngày đầu tiên mẹ ông nắm tay dắt ông tới ngôi trường làng từ một thời rất xa xưa đó, bà cũng đội một chiếc nón lá .

Nhớ tới bao nilon cát, ông tìm một tấm nhựa mới, đổ hết cát từ trong chiếc bao hai lớp, lên tấm nhựa. Những hạt cát mà ông bà sui của ông đã hốt lên từ bãi biển ở quê ông, nơi mà thời còn nhỏ dại ông thường tụ tập tại đây tắm biển, vui đùa với đám bạn bè con nít, reo hò đón những chiếc ghe đầy cá của những bác ngư ông láng giềng trở về từ biển cả. Ông lấy cái lư hương trên bàn thờ xuống, lau chùi bên trong sạch sẽ, lót lên một tấm vải màu đỏ, rồi trịnh trọng bốc từng bốc cát bỏ vào. Những hạt cát đối với ông bây giờ là những hạt ngọc, trong lóng lánh ông tưởng chừng như bao nhiêu đôi mắt của người thân, của đồng đội, bạn bè, dù còn sống hay đã chết, bây giờ biền biệt ở nơi nào đó, mịt mờ trong cõi hư vô.

Ông chỉ bỏ vào chiếc lư hương một nửa số cát, nửa còn lại ông gói thật kỹ vào tấm vải đỏ, rồi bỏ vào trong một chiếc hôp thiếc, vốn là hộp trà kỷ niệm lễ cưới của thằng con trai út.

Ông dặn lòng, tối nay, ông sẽ thức khuya một đêm nữa, viết tờ di chúc cho vợ và các con. Cả một đời ông đã bỏ lại quê nhà, sang xứ người khi tuổi đã về chiều, ông chỉ còn biết đem hết công sức nuôi nấng, dạy dỗ các con. Trời không phụ lòng ông, tất cả con cái đều đã nên người, hiếu thảo. Mai này, khi nhắm mắt ra đi, ông cũng chẳng còn gì để lại, ngoài cuốn nhật ký ghi lại đời mình. Và bây giờ có thêm chiếc lư đồng, trong đó chỉ có những hạt cát quê hương, mà ông xem như “vật gia bảo” trên bàn thờ tiên tổ. Nửa số cát còn lại, ông cất kỹ dưới đầu giường và xin vợ con ông sẽ rắc trên di thể của ông trước khi đậy nắp quan tài.

Ông hình dung tới những chiếc lá trong cơn bão, tả tơi, tan tác, bị cuốn đi trong trời đất mênh mông, để không bao giờ được rơi về với cội. Lòng thấy xót xa. Bỗng bất chợt, ông nhìn lên bàn thờ, mắt ông sáng lên, rạng rỡ, khi nghĩ rồi đây bên cạnh mình còn có nắm cát của quê hương.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 31 Aug 2026

Ngày còn bé tí, ở trong một tỉnh ly nhỏ, buổi chiều tôi hay bị lôi cuốn bởi tiếng trống, chiêng, theo đám trẻ ra chợ xem gánh “Sơn Đông Mãi Võ” của các chú ba Tàu, mình trần trùng trục, sau khi đi quyền múa võ, tới màn bán thuốc trị bá bệnh. Để biểu diễn, người bán thuốc lấy ra một ống nghiệm đựng đầy một chất lỏng màu nâu đậm mà y nói đó là máu đen của người bị bệnh. Sau đó y mở một chai thuốc có dán nhãn gọi là thuốc “bổ huyết khu phong”, nghiêng chai thuốc rót từ từ vào trong ống máu, thuốc chảy tới đâu, máu đen trở thành ửng hồng tới đấy. Đó là bằng chứng thuốc đã lọc được máu và làm tan hết các thứ bệnh. Người lớn, trẻ con vỗ tay vang dậy cả khu chợ và sau đó quí ông già bà lão lần lượt xìa tiền mua thuốc một cách phấn khởi, tin tưởng. Kèm theo đó còn các loại dầu xức với các lời rao bình dân cho đến hôm nay, chúng tôi vẫn còn nhớ mồn một:“đàn bà đau bụng chổng khu, xức vô một tí xách cái dù đi chơi”!

Ngày nay, khi sinh sống tại Hoa Kỳ, trên một đất nước văn minh vào bậc nhất đại cầu, khoa học kỹ thuật tiến bộ vượt bực, người ta không phải là không còn nghe tiếng chiêng trống của đám “Mãi Võ Sơn Đông”. Trên thị trường, ngoài các thứ thuốc do các viện bào chế lớn tại Hoa Kỳ, được ghi đơn qua các phòng mạch bác sĩ, vô số thứ thuốc đi theo con đường dược thảo tung ra thị trường, dưới sự quảng cáo lớn lao tốn kém qua các cơ quan truyền thông, vàng thau lẫn lộn đã gây tốn kém cho những người “nhẹ dạ” không phải là ít, đôi khi gây những thiệt hại rất trầm trọng cho sức khỏe con người. Phong trào “noni” cũng có một thời ăn nên làm ra và luôn luôn là đầu cửa miệng của những người muốn hỏi thăm hay giới thiệu môn thuốc này cho nhau. Được như thế, sự quảng cáo phải rất là lớn rộng và tốn kém, khiến cho mọi người đều biết và mọi người đều nghe nói tới. Trong thị trường Mỹ, ta cũng thấy những “flyer” quảng cáo cho một thứ nước cốt “noni” mà cây mọc rất nhiều ở quần đảo Tahiti, có bác sĩ này bác sĩ nọ khen ngợi, nhưng không được ai tin dùng như cộng đồng Việt Nam ở đây. Chúng ta không những tiêu dùng tại chỗ mà còn cả một thị trường quê nhà, mua năm ba chai để biếu mẹ biếu cha. Người quảng cáo đoan quyết rằng thứ nước lỏng nâu nâu pha chế này chữa được bệnh ung thư, nhưng kết quả là người bị ung thư uống thuốc vẫn qua đời, chỉ có khác là trong máu các bệnh nhân có chứa nhiều chất “noni”. Có thế thôi!

Sở dĩ chúng tôi nói “phong trào” là câu chuyện này chỉ bùng lên một thời gian ngắn, như đợt sóng biển xô vào bờ hay gió thổi qua, rồi sau đó biến dạng (phong là gió, trào là nước biển dâng lên), cũng như phong trào chim cút trước khi chúng ta bỏ nước ra đi. Trong phong trào chim cút, người ta loan truyền là thịt và trứng chim cút rất bổ dưỡng, trị được bá bệnh, nhất là con cút đực (vì con cút đực vô tích sự quá, không đẻ được nên người ta muốn tống khứ đi). Nói là phong trào vì nó không vĩnh viễn. Nếu “noni” hiệu nghiệm như một viên aspirin trong suốt cả trăm năm cho nhân loại thì uống aspirin không phải là một phong trào. Rồi tiếp theo là “trà khổ qua” chữa được cholesterol được nhập cảng từ Việt Nam sang, trái mướp đắng rẻ như bèo, xắt phơi khô đóng gói cũng hái ra được đồng đô la của hải ngoại. Rồi trà giảm béo (giảm mỡ) cũng là quà xuất cảng cho bà con “núm ruột”. Hải ngoại không chịu thua cũng sản xuất năm bảy thứ trà, không những chữa được bệnh mỡ, mà còn có công dụng làm mát gan, lợi tiểu, ăn không tiêu, sút cân, làm cho làn da mịn màng, nói tóm gọn là gần như chữa được bá bệnh. Rồi nói tới viên “thần dược viagra”. Khi nó chưa ra đời, chưa gây chấn động hoàn cầu cho giới đàn ông bất lực, thì không có nhà sáng chế nào nhảy ra cứu nhân độ thế bằng cách kiếm giúp thứ thuốc gì mà “ông uống bà khen … hiệu nghiệm”. Đến khi viên thuốc lục giác màu lục được coi là thành công rồi, thì nhiều đầu óc vĩ đại khác mới bắt đầu “xuất chiêu”, làm ra những thứ thuốc mà theo quảng cáo: rẻ hơn, không phản ứng phụ, bệnh tim vẫn uống được, công hiệu lâu hơn, uống vào kết quả nhặm lẹ hơn. Thế mới chết người ta không? Sao quí vị không nói sớm, người tà đã đầu cơ lỡ mấy chục vỉ thuốc mua để dành rồi. Và như vậy thì nhân tài thế giới đâu có thiếu, ngay cả cộng đồng người mình ở hải ngoại còn chế ra được một thứ thuốc “viagra” khác, tốt hơn, bền hơn sau khi người ta đã chế rồi, như trên những quảng cáo hấp dẫn gần đây thôi. Tiếc rằng những phát minh kiểu này không được đưa ra cầu chứng hay phổ biến trong giới y học, để may ra đất nước mình có một cái “nobel y học” thì dân tộc vẻ vang biet mấy!

Quảng cáo không chỉ được lập đi lập lại trên truyền thanh truyền hình, báo chí mà còn bằng cách rỉ tai, “tuyên truyền xám” cũng như nhờ các “danh nhân” phát biểu ý kiến giúp. Nhiều khi vì nể nang nhau, và cũng vì uy tín của quí vị, bà con nghe lời quí vị mà dùng lầm thuốc, lộn trà thì chắc quí vị cũng gánh phần trách nhiệm, dù là không phải bị bắt bỏ bóp hay hầu tòa gì.

Mới đây thôi, cơn sốt “canh dưỡng sinh” cũng có thể gọi là một “phong trào” đã lan tràn từ quê nhà sang hải ngoại, hay từ hải ngoại về quê nhà thì chưa ai kiểm chứng được, nhưng nó đi vòng vo từ Nhật sang Tàu, Tàu sang Úc, rồi Úc sang Mỹ …. Người ta nói đây là phát minh từ bên Nhật từ năm 1994, mà nhà nghiên cứu phát sinh Teteishi Kazu, cũng chưa minh định được nghề nghiệp, văn bằng của ông ra sao. Ông Thạch Thượng Nghi bên Tàu dịch sang Hoa ngữ, rồi ông Trần Anh Kiệt bên Úc dịch sang Việt ngữ. Bây giờ bên quê nhà, canh dưỡng sinh đang lên “cơn sốt” bán đầy đường, đầy chợ và những người nhanh chân nhảy ra khai thác có lẽ cũng kiếm được chút tiền, không giàu có gì nhưng cũng đủ tiền chợ. Tại hải ngoại trong các chợ Việt, cũng bắt đầu cho bán “canh dưỡng sinh” với giá chỉ có 99 cents.

Đại khái, “canh dưỡng sinh gồm có các món củ cải trắng và lá, cà rốt, nấm đông cô, ngưu báng (Go bo – Tàu gọi là ngầu bòn), chúng tôi không nêu phân lượng và cách nấu ra đây hầu quí vị, vì chúng tôi không muốn phổ biến vị canh “thần diệu” này đến quí bạn. “Thần diệu” vì xin quí vị giữ bình tĩnh sau khi chúng tôi kê khai công dụng của nó  như sau: aids, xơ gan, ung thư, viêm cổ họng, xương sống, sạn thận, tiểu đường, thống phong, tim mạch và tất cả các chứng bệnh về mắt, về da … Nghĩa là bá bệnh, vả lại khi mà nó chữa được bá bệnh này thì nó còn được gọi là “canh trường thọ” mới đúng. Tiếc là ông Đường Minh Hoàng sinh bất phùng thời và loại canh này phát sinh quá trễ. Nếu canh này mà hay như vậy thì trên đời này cũng chẳng cần tới bác sĩ hay bệnh viện làm gì nữa. Người ta nói rằng ông Tateishi Kazy nhờ “canh dưỡng sinh” mà khỏe mạnh, xương cốt rắn chắc tới độ xe truck nặng 4 tấn đè lên người ông mà chỉ để lại vết bánh xe thôi. Tin không tin thì cũng “tùy người đối diện”, tuy vậy ăn thứ canh này vào thì cũng khỏe và cũng xin quí vị đừng ai thí nghiệm cho xe truck đè bậy lên người để “canh dưỡng sinh” phải mang tiếng xấu.

“Canh dưỡng sinh” là một thứ canh vô hại, quí vị cứ dùng như canh rau muống, canh dền (bổ máu), canh cà chua (bổ mắt) nhưng đừng đặt quá nhiều hy vọng vào việc chữa bệnh cho quí vị mà không chịu uống thuốc hay vận động thân thể. Cứ xem nó như một phong trào, có lẽ bên Nhật nó đã tàn lâu rồi thì ta mới lượm mà dùng lại. Cũng chưa có ai phân chất giúp trong “canh dưỡng sinh” coi những chất thuốc nào có thể được chữa những bệnh nào, kể từ bệnh thứ nhất trong danh sách là bệnh “aids” cho tới bệnh ngoài da. Ngoài ra nếu chúng ta có thêm vào công dụng như bệnh mất ngủ, bệnh lo buồn cũng chẳng sao, nhưng nhớ đừng thêm vào đó bệnh”tiểu đêm” ví mấy ông bà già dùng canh thì đi tiểu đêm là cái chắc. Nếu đã nói ở Nhật “canh dưỡng sinh” cũng là một “phong trào”, thì chúng ta đừng vọng ngoại mà cho rằng “phong trào” ấy có giá trị hơn các phong trào như kiểu “chim cút”, “noni”, “trà khổ qua” hay “trà giảm béo” của chúng ta. Nó chỉ lừa người ta được một thời gian, chứ không ai kiên trì để đợi kết quả. Mặt khác con người ta còn phải bỏ nó để chạy theo một “phong trào” khác.

Qua những phong trào, ai là người dễ tin và dễ trở thành nạn nhân nhất, chính phần lớn là quí vị cao niên, những người lo cho sức khỏe mình nhất. Và cũng vì vậy, cao niên là tầng lớp dễ bị dụ dỗ, dễ bị gạt nhất, dù ở ngay trên đất Mỹ. Chúng tôi sẽ xin trở lại vấn đề này trong số báo sau.

Thơ lửa

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Ba năm từ giã núi rừng

 Lên xe trông lại ngậm ngùi thương tâm

 Đèo cao, dốc núi, lũng, truông…

 Vực sâu lũ cuốn thây người bè cây

 Lối vào hẻm tối giăng mây

 Âm u cốc thẳm đọa đầy xác thân

 Da người xanh mướt lất lây

 Đêm dài đói lạnh trùng vây gặm mòn

 Phải chăng đây, địa ngục nan?

 Oan khốc một chốn đoạn trường quân Nam!

…              

 Đêm sâu sập tối nhà ga

 Mưa xô thác đổ, hằng hà tù nhân

 Vạn người bất động ngồi căm

 Chập chờn tàn lửa tàu rầm rập lăn

 Âm âm di chuyển phế thân

 Đống xương vô định lưu đầy về Thanh

 Qua trưa ghé trạm kinh thành

 Toa đen ám khói khách giành giật lên

 Hỗn âm trì siết tiếng rền

 Còn không chốn cũ 

 Của miền văn hoa?

…

Tàu đi trơ lại sân ga

Cô hàng tóc rối thảm sầu ngó mông

Xe lăn theo những hộ phần    

Nền nghiêng, cửa sập, gạch mòn, tường xiêu

Mái nhà đấp đổi phong rêu

Nẹp tre kẹp chặt kiểu miền sơn lâm

Nơi đây kiêu hãnh Thăng Long?

Sau xuân đoạt thắng lẫy lừng “75”

Lẽ nào tàu đã qua nhầm?

Lũ tù ngơ ngác thì thầm xôn xao

Phố xưa, cảnh cũ dãi dầu

Âm âm thảm não sau lần di cư (1)

 (1) Di cư 1954 – Triệu người từ Bắc vào Nam.

   Từ Yên Bái qua Hà Nội, vào Thanh Hóa

   23-25/8/1987

Thơ lửa

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Người tù – Con trâu và đám ruộng

Đế cuốc suốt ngày được dăm gốc (2)

Rễ luồng xuống sâu hơn một thước

Bùn đen, nước tụ qúa nhiều năm

Mục thối da chân, thịt loét sẫm

Cuốc, xới, bới, đào… Được bãi sình

Vuông vức ngắn, dài vài sào ruộng

Cán bộ hân hoan lời phẩm bình

“Bàn tay người – Khả năng chất lượng!”

…

Bước tới… Phá đồi ta xây đập

Thung lũng rộng ngang, tay ta lấp

Suối ngầm lẫn khuất dưới tranh dầy

Chận bít đầu ngòi nên trũng ngập

Có nước… Rõ thắng lợi một nấc

Nước vào bãi lầy thậm khẩn cấp

Rừng núi đổi thay nên ruộng đồng

“Đảng Ta” dự kiến quả vượt bậc!

…

Nổi trống, giương cờ buổi lập xuân

Giục dã thi đua tăng lao động

Trâu trại già nua không sức cày

Đưa tù xuống đồng thay con vật

Cày qua, bừa lại… Sục cỏ lúa

Đỉa đói giương vòi tựa sứa lửa

Gió bấc buốt xương, tóc vấy bùn

Nước lạnh siết sâu, lưỡi dao cưá

Ngang, dọc thửa ruộng… Ngày qua ngày

Cong lưng kéo cày từng bước gãy

Đầu năm mưa phùn giăng giăng bay

Lúa lên xanh đồng nên con gái

Một đêm lũ dâng thậm bất ngờ

Sáng đồng trống trắng trơ cành gai!

Không sợ! Quyết tâm bắt đầu lại

Chiêm Xuân chuyển nên thành Hè – Thu

Kinh nghiệm lần này sẵn có đủ

Kỳ thâu hoạch lúa ắt bội thu

Ta đoạt bạc vàng từ rừng rú!

 …

 Một đêm khẩn cấp lệnh chuyển trại

 Ba lô, túi xách nặng lên vai

 Ngang qua đám ruộng con trâu già

 Nhẩn nha đứng nhai đám lúa trụi! 

 Uổng sức thay trâu cày bừa sâu

 Phí phạm ngày dài suốt năm lao khổ

 Mất sạch,

 Toi công,

 Thân tù Việt cộng!

(1) Điển hình “tập trung học tập cải tạo lao động”

Nơi vùng núi rừng Yên Bái (1976-1978)

(2) Đế: Loại sậy lớn, thân cứng như mía

Samurai! Những trận không chiến dữ dội nhất lịch sử Thái Bình Dương

vietmessenger.com

Tủ sách Khoa Học Nhân Văn

Lê Thanh Hoàng Dân

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Martin Caidin

Nguyễn Nhược Nghiễm dịch

Trẻ Xuất Bản 1974

Ngày 3 tháng 8-1942, Rabaul gọi về hầu hết những phi công được chỉ định đến Lae trước đây. Việc thuyên chuyển này khiến chúng tôi hân hoan, vì nó hứa hẹn thoát khỏi các phi vụ tuần tiễu ở Buna và thoát khỏi cảnh bị oanh tạc hàng đêm. Chúng tôi không mang theo vật dụng gì, vì tin rằng sẽ sớm trở về. Chúng tôi sai lầm, bốn ngày đầu tiên ở Rabaul, chúng tôi phải thực hiện những phi vụ càn quét ở Rabi, phía Bắc Fiji. Màn lưới chiến đấu cơ đã được đối phương thiết lập nhanh chóng trên hòn đảo này, có thể so sánh với căn cứ Moresby.

Ngày 8 tháng 8, sau khi nhận lịnh tuần thám của Bộ Chỉ Huy, chúng tôi bước ngang qua phi đạo để tiến đến các chiến đấu cơ của chúng tôi. Lúc hầu hết 18 phi công đều ngồi trong phòng lái, nhiều liên lạc viên chạy ra la lớn rằng phi vụ bị bãi bỏ. Chúng tôi lập tức trở lại Bộ Chỉ Huy. Nơi đây đang lên cơn sốt. Liên lạc viên đưa tin chạy tới chạy lui. Các sĩ quan lướt qua chúng tôi với vẻ mặt đầy khẩn cấp. Trung tá Nakajima, cầm đầu phi vụ hôm nay, bước ra khỏi văn phòng của Phó Ðô đốc Kusaka, nói lớn với chúng tôi với vẻ tức tối: “Phi vụ bị bãi bỏ. Chúng ta sẽ đi nơi khác.” Ông chỉ một nhân viên đưa tin: “Anh, lấy cho tôi một bản đồ coi, mau lên!”.

Ông trải bản đồ lên một cái bàn rộng và bắt đầu vạch một đường thẳng với một chiếc compas. Ông cúi gằm trên bản đồ, không mảy may lưu ý đến bọn phi công chúng tôi. Tôi hỏi Ðại úy Sasai xem ông có biết việc gì xảy ra không. Sasai hỏi Nakajima và chỉ nhận mấy câu càu nhàu, rồi vị chỉ huy trưởng phi đoàn ba chân bốn cẳng vô văn phòng của Ðô đốc. Vài phút sau ông trở ra, và ra dấu cho các phi công tụ họp quanh ông. Những tiếng nói của ông không khác nào một trái bom: “Vào lúc 5 giờ 20 phút sáng nay, một lực lượng địch vô cùng mạnh mẽ bắt đầu đổ bộ lên Lunga, ở cuối bãi phía Nam của đảo Guadalcanal. Theo các báo cáo sơ khởi của chúng ta, quân Mỹ đã ném lên hòn đảo này một khối lượng người và trang bị khủng khiếp. Cùng lúc, họ cũng mở ra các cuộc tấn công ở Tulagi, trên đảo Florida. Tất cả thủy phi cơ của chúng ta tiêu hết không còn một chiếc. Khi Ðô đốc tư lịnh thảo xong kế hoạch, chúng ta sẽ cất cánh lập tức hướng đến Guadalcanal để tấn công các lực lượng địch trên bãi biển.”

Liên lạc viên phát bản đồ cho mỗi phi công. Chúng tôi xem xét và nghiên cứu hòn đảo còn xa lạ đó, nhưng bỗng nhiên trở nên quan trọng này. Nhiều người bàn tán: “Ở đâu lại hiện ra hòn đảo trời đánh này?” Một phi công nổi nóng la lên: “Ai đã từng nghe đến tên của một nơi chó chết như vậy chưa?”

Chúng tôi tính khoảng cách từ Rabaul đến Guadalcanal. Không tin nổi. Xa đến 1,040 cây số! Chúng tôi sẽ phải bay đi tấn công các đầu cầu đổ bộ của địch quân và trở về với khoảng cách đó. Khoảng cách chưa từng nghe nói đến. Ðiều này nghĩa là đường bay khứ hồi dài hơn 2,000 km, đó là không kể trường hợp gặp bão hoặc đụng độ giữa đường.

Như vậy cũng đủ để mọi suy luận ngưng lại. Chúng tôi lặng yên để nghe vị chỉ huy trưởng đưa ra lịnh mới. Vừa lúc ấy một liên lạc viên chạy ùa vô văn phòng Phó Ðô đốc Kusaka rồi trở ra với những báo cáo mới đưa về từ mặt trận. Chúng tôi nghe một binh sĩ đưa tin nói với Nakajima rằng tất cả liên lạc với Tulagi đều bị cắt đứt, và quân phòng ngự ở đó đã hy sinh đến người cuối cùng.

Nghe tin, mặt Sasai tái đi. Tôi phải hỏi năm lần bảy lượt xem có phải ông đau ốm hay không. Cuối cùng nhìn đăm đăm về phía trước, Sasai thì thầm: “Anh rể tôi chiến đấu ở Tulagi.” Nếu Tulagi bị địch quân chiếm đóng, anh rể của Ðại úy Sasai, Thiếu tá Yoshiro Tashiro không thể nào sống sót được. Ông ta sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. (Cái chết của Thiếu tá Tashiro được xác nhận sau đó).

Trung tá Nakajima ban lịnh: “Các anh sắp thực hiện một phi vụ chiến đấu dài nhất trong lịch sử.”, ông thông báo cho chúng tôi. “Ðừng trông chờ may mắn nào ngày hôm nay. Hãy hành động đúng theo lịnh đưa ra và quan trọng nhứt, đừng bay một cách liều mạng và phí phạm xăng nhớt của các anh. Phi công nào hết xăng trên đường từ Guadalcanal quay về, phải đáp xuống đảo Buka. Lực lượng Nhựt trên đảo này đã được chỉ thị phải theo dõi các phi cơ của chúng ta. Hiện tại, để bay đến Guadalcanal và trở về Buka có nghĩa là chúng ta sẽ thực hiện một không trình khứ hồi dài bằng không trình từ Ðài Loan đến phi trường Clark ở Phi Luật Tân trước đây. Tôi chắc chắn chúng ta có thể bay suốt khoảng cách này mà không gặp rắc rối. Nhưng sẽ có những chuyện bất ngờ, do đó tôi lặp lại lời cảnh cáo: Ðừng phí phạm nhiên liệu!”

Tại Ðông-Kinh sau chiến tranh, Trung tá Nakajima có nói với tôi rằng Phó Ðô đốc Jinichi Kusaka thay thế

Phó Ðô đốc Nishizo Tsukahara chỉ huy Không Hạm đội 11, muốn ông đưa hết chiến đấu cơ khả dụng ở Rabaul đến Guadalcanal vào ngày 7 tháng Tám. Nakajima phản đối, ông cho rằng chỉ nên mang theo mười hai phi công tài ba nhứt bên cánh của ông mà thôi. Bởi lẽ ông phỏng đoán phải mất ít nhứt phân nửa số phi công trong nhiệm vụ quá xa như vậy. Hai người thảo luận giằng   co cho đến khi đạt được sự đồng ý với con số 18 chiến đấu cơ.

Ngay khi nhận lịnh, các phi công chia ra thành từng tổ ba người. Tôi nói với Yonekawa và Hatori, hai phi công bên cánh của tôi: “Các anh sẽ đụng phi công Hải quân Hoa Kỳ lần đầu tiên trong ngày hôm nay. Họ nắm hẳn ưu thế do khoảng cách mà chúng ta phải bay. Hai anh phải luôn luôn cẩn trọng trong mọi chuyển động của mình. Tốt hơn hết là các anh đừng bao giờ rời xa khỏi tôi. Mặc kệ những gì xảy ra, bất kể diễn biến xung quanh chúng ta như thế nào, cứ bám chặt lấy phi cơ của tôi được chừng nào hay chừng nấy. Hãy nhớ, đừng có bay ra xa.”

Chúng tôi chạy ra phi cơ và chờ phi đạo trống. 27 oanh tạc cơ Betty cất cánh trước chúng tôi. Trung tá Nakajima đứng trên phòng lái của ông ngoắc tay. Lúc 8 giờ 30 sáng, tất cả chiến đấu cơ đều ở trên không. Nhân viên bảo trì và các phi công ở lại xếp hàng hai bên phi đạo vẫy nón chào và chúc chúng tôi may mắn.

Thời tiết đẹp, nhứt là ở Rabaul. Ngay cả núi lửa cũng im tiếng. Nó ngưng phun phún thạch từ tháng Bảy, và chỉ còn nhả ra một giòng khói mỏng lả ngọn về phía Tây.

Chúng tôi giữ vị trí hộ tống phía sau nhóm oanh tạc cơ. Tôi đã ngạc nhiên khi biết mấy chiếc Betty này mang bom thay vì thủy lôi, vũ khí thông thường để tấn công tàu chiến. Ðiều này khiến tôi lo lắng. Tôi biết rõ là vô cùng khó khăn khi phải tấn công các mục tiêu di chuyển trên mặt biển từ trên cao độ. Hồi ở Buna, mặc dù các oanh tạc cơ B17 địch có tiếng là oanh tạc chính xác, nhưng chúng đã phí hầu hết số lượng bom thả xuống các tàu chiến Nhựt.

Chúng tôi gia tăng cao độ lên 3,900 thước rồi bay về phía Ðông đến đảo Buka. Ðây là hòn đảo xinh đẹp đặc biệt, cách Rabaul khoảng 60 dặm. Màu xanh tươi sáng, và giống như hình móng ngựa, hòn đảo san hô này có cái tên ghi trên bản đồ là Ðảo Xanh. Tôi không bao giờ nghĩ rằng quang cảnh đầy màu sắc và hấp dẫn phía dưới sẽ cứu mạng tôi sau này.

Trên không phận Buka, đội hình hợp đoàn xoay về hướng Nam, dọc theo bờ biển phía Tây đảo Bougainville. Mặt trời chiếu xuyên qua mây. Sự oi bức khiến tôi khát nước, và đây cũng là hiện tượng mà chúng tôi thỉnh thoảng cảm thấy khi tiến vô đất địch. Tôi lấy một chai sô-đa trong hộp thức ăn và, không suy nghĩ, tôi mở nút. Tôi quên khuấy độ cao. Ngay khi nút chai vừa bật, nước sô-đa vọt lên dữ dội, áp lực thoát ra trong không khí hiếm hoi. Trong nhiều giây, nước sô-đa bao phủ hết mọi thứ trước mắt tôi. Chất đường trong nước có ga khô lại trên kiếng đeo mắt khiến tôi không nhìn thấy gì nữa. Tôi chửi toang cho sự ngu đần của mình. Mất hết 40 phút tôi mới lau sạch hết mọi thứ. Chưa bao giờ tôi cảm thấy lố bịch hơn. May thay các huấn luyện viên của trường phi hành Tsuchiura không nhìn thấy! Cũng may là các đồng ngũ và cả Ðại úy Sasai không nhìn thấy… nếu không họ sẽ cười nhạo đến tối. Tôi tự hứa sẽ không kể với ai chuyện này, trừ ra với Hatsuyo. Chắc là Hatsuyo sẽ cười khúc khích. Cô em họ của tôi đã lớn, đã trở thành một thiếu nữ khả ái và kỳ lạ là tôi hay nhớ đến Hatsuyo tuy vẫn nhận thư của Fujiko đều đặn. Tôi sẽ không kể chuyện sô-đa với Fujiko vì cần giữ thể diện, nhưng với Hatsuyo, chung huyết thống, tôi thấy gần gũi. Tôi lau kiếng như một bà nội trợ lau bếp, cho đến lúc tôi có thể nhìn thấy mọi hướng, chúng tôi đã bên trên đảo Vella Lavella, nằm giữa đường Rabaul và Guadalcanal.

Bay ngang New Georgia, chúng tôi gia tăng độ cao và lướt qua Russell trên 6,000 thước. Cách năm mươi dặm trước mặt chúng tôi, Guadalcanal hiện ra lờ mờ trên mặt nước. Ngay cả ở khoảng cách xa này, chúng tôi cũng nhìn thấy ánh lửa vàng hực nổi bật lên nền trời xanh bên trên hòn đảo đang tranh chấp. Hiển nhiên các trận đụng độ đã xảy ra giữa những chiến đấu cơ Nhựt đến từ các căn cứ khác Rabaul với phi cơ bao che của địch quân. Tôi nhìn xuống bờ biển phía Bắc Guadalcanal. Trong eo biển nằm giữa Guadalcanal và Florida, hàng mấy trăm vệt trắng chạy ngang dọc trên mặt nước, là tàu chiến của địch. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều chiến hạm và dương vận hạm cùng một lúc như vầy.

Ðây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một cuộc hành quân không-thủy-bộ hỗn hợp của Hoa Kỳ. Một cuộc hành quân to tát không thể nào tin nổi. Có ít nhứt 70 chiến hạm đang tiến vào các bãi biển, hàng chục khu trục hạm bao quanh, và nhiều chiến hạm ẩn hiện phía chân trời, khoảng cách quá xa khó có thể phân biệt hoặc đếm được.

Lúc ấy các oanh tạc cơ Betty chầm chậm vung rộng ra để thả bom. Ngay phía trên các phi cơ này là những đám mây nhỏ treo lơ lửng ở cao độ 4,000 m. Phía bên phải và ở trên cao, mặt trời chói loà xoá nhoà mọi thứ trước mắt. Tôi cảm thấy bất an, vì chúng tôi không thể nào nhìn thấy được chiến đấu cơ Mỹ nhào xuống từ góc đó. Ðiều lo sợ của tôi đã sớm thành sự thật. Không một dấu hiệu nào báo trước, 6 máy bay địch thình lình nhô ra khỏi ánh sáng loé mắt. Chỉ cần liếc qua, tôi thấy ngay những phi cơ này to lớn hơn mọi loại chiến đấu cơ Mỹ mà chúng tôi thường chạm trán. Tất cả đều sơn màu ô liu, chỉ phía dưới cánh là sơn màu trắng. Ðó là loại chiến đấu cơ Wildcat, Grumman F4F lần đầu tiên tôi đụng độ.

Mấy chiếc Wildcat, không biết có sự hiện diện của các chiến đấu cơ Zéro, chúi xuống tấn công các oanh tạc cơ Nhựt. Nhiều chiến đấu cơ của chúng tôi xông tới, và một số khai hoả ngoài tầm, hy vọng xua đuổi phi cơ địch. 6 chiếc Wildcat cùng lộn nhào tức thì và chúi xuống biến mất. Phía trên mặt nước cạnh đảo Savo, các oanh tạc cơ bắt đầu thả bom xuống nhóm chuyển vận hạm to lớn của địch quân. Tôi nhìn theo hướng bom rớt. Những cột nước dâng cao khỏi mặt biển, nhưng chiến hạm địch vẫn lướt tới, không hề rối loạn.

Hiển nhiên, cố gắng thả bom cho trúng các chiến hạm đang chạy từ độ cao 6,000 thước là một việc làm ngu dại. Tôi không thể nào hiểu được tại sao không sử dụng thủy lôi đã từng chứng tỏ sự hữu hiệu trong quá khứ. (Ngày hôm sau các oanh tạc cơ này quày lại, lần này mang theo thủy lôi để tấn công ở cao độ thấp. Nhưng bấy giờ thì đã trễ. Chiến đấu cơ địch đông như kiến bu quanh và nhiều chiếc Betty bị nhận đầu xuống biển trước khi tiến đến gần mục tiêu…) Sau khi trút hết bom, các oanh tạc cơ hai máy lạng qua trái và gia tăng tốc lực để trở về Rabaul. Chúng tôi hộ tống các oanh tạc cơ qua khỏi đảo Russell, ra ngoài tầm hoạt động của máy bay địch, và quày lại Guadalcanal. Lúc ấy khoảng 1 giờ 30 chiều. Chúng tôi lướt qua Lunga, tất cả 18 chiếc Zéro đều chuẩn bị lâm trận. Một lần nữa, trong ánh mặt trời chói chang gây mù loà, mấy chiếc Wildcat nhào xuống nhóm phi cơ của chúng tôi. Tôi là phi công duy nhứt phát hiện cuộc tấn công và lập tức, tôi chĩa mũi chiếc phi cơ của tôi thẳng đứng lên với những chiếc Zéro khác tiếp sau. Mấy chiếc Wildcat lại phân tán và chúi xuống theo nhiều hướng khác nhau. Chiến thuật lẩn tránh của đối phương không có vẻ rối loạn, và lối lẩn tránh này khá lạ. Có vẻ như phi công Mỹ không có ý định quyết chiến hoặc đang muốn dụ chúng tôi vào bẫy.

Tôi quay lại để kiểm soát các phi cơ bên cánh của mình. Nhưng, nhìn khắp nơi, tôi vẫn không thấy Yonekawa và Hatori ở đâu. Phi cơ của Ðại úy Sasai, với hai sọc xanh kẻ dọc theo thân, trở lại đội hình với nhiều chiến đấu cơ khác bay thành hàng phía sau ông. Nhưng vẫn không có hai phi cơ bên cánh của tôi.

Cuối cùng, tôi nhìn thấy họ bay khoảng 500 m phía dưới mình. Tôi há hốc miệng. Một chiếc Wildcat đơn độc truy đuổi ba chiếc Zéro đang cuống cuồng lẩn trốn. Chiếc Wildcat nhả từng tràng đạn. Tôi lắc cánh để báo hiệu cho Sasai và chúi xuống. Chiếc Wildcat đang bám sát, rót đạn vô cánh và đuôi của một chiếc Zéro. Trong lúc khẩn cấp, tôi bắn vội một viên đại bác. Lập tức chiếc Wildcat lảng ra bằng cách lộn nhào một vòng về phía phải, quành thật ngặt rồi vượt lên đâm thẳng vào phi cơ của tôi. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy một chiếc phi cơ địch nào bay mau lẹ và đẹp mắt như vậy. Mỗi giây các họng súng của nó mỗi chĩa vô sát bụng tôi hơn. Tôi lăn thật nhanh để tránh né. Chiếc Zéro rùng mình khi tôi hạ mạnh tốc độ xuống. Vồ trật, viên phi công địch lộn ngược trở lại. Tôi tăng gia tốc, lộn ngay về bên trái. Ba lần lộn nhào, tôi cho chiếc Zéro xoay tít để rớt xuống theo hình trôn ốc. Cả hai chúng tôi cùng giữ hai chiếc phi cơ xoáy hình trôn ốc này. Tim tôi đập liên hồi và đầu tôi như có sức mạnh ngàn cân đè lên. Mắt tôi nổ đom đóm. Tôi cắn chặt răng chịu đựng lực ly tâm. Nếu kẻ nào bỏ cuộc đầu tiên, lảng ra một hướng để giải toả áp lực, kẻ ấy sẽ đi đời. Ðến vòng xoáy thứ năm, chiếc Wildcat hơi lơi ra. Tôi sẵn sàng khai hỏa, nhưng đối thủ chúc mũi xuống, tăng gia tốc và, một lần nữa, viên phi công địch nắm vững cần lái. Ðáng nể!

Tuy nhiên, hắn sai lầm ngay phút kế đó. Thay vì tiếp tục vung trở lại vòng xoáy thứ sáu, hắn nhấn thêm ga, phá vỡ một góc vòng xoay và lộn nhào theo hình thắt nút dây. Tôi chĩa mũi ngay phía sau, cắt ngang đường bay của hắn. Và tôi cứ cắt như vậy nhiều lần, khiến cho hình thắt nút dây của hắn càng lúc càng thâu hẹp lại. Khi hai phi cơ còn cách nhau 50 thước, chiếc Wildcat bỏ lối bay cũ để vượt thẳng lên. Một lối tránh né mạo hiểm! Ở khoảng cách hiện thời, tôi không cần sử dụng đại bác 20 ly. Tôi rót 200 viên đạn đại liên vô phòng lái, nhìn thấy đạn soi thủng lớp kim khí mỏng và phá tan kiếng chắn gió của chiếc Wildcat. Mảnh sắt văng lên không trung. Tôi không thể tin nổi vào đôi mắt của mình. Chiếc Wildcat vẫn tiếp tục bay như không có việc gì xảy ra. Nếu phòng lái lãnh đạn như vậy, một chiếc Zéro sẽ bốc cháy lập tức. Tôi không sao hiểu nổi. Tôi gia tăng tốc lực, tiếp tục áp sát đối thủ, vừa đúng lúc chiến đấu cơ địch mất tốc độ. Làm trong một thoáng, tôi đã trượt ra phía trước chiếc Wildcat mươi thước. Tôi đưa lưng, chuẩn bị ăn đạn của đối phương.

Không một viên đạn nào bay đến! Các khẩu súng của chiếc Wildcat vẫn im lặng. Tôi hạ tốc độ cho đến khi hai phi cơ bay song song. Tôi mở cửa buồng lái để nhìn. Tôi có thể nhìn thấy viên phi công địch rõ ràng. Một người khổng lồ với gương mặt bầu bĩnh, mặc quân phục ka ki nhạt, có vẻ đứng tuổi.

Chúng tôi bay song song nhiều giây trong đội hình kỳ quái. Ðôi mắt chúng tôi gặp nhau qua khoảng không gian nhỏ hẹp giữa hai chiếc phi cơ. Chiếc Wildcat như một đống sắt vụn. Nhiều lỗ đạn soi thủng ở thân và cánh từ bên này xuyên suốt qua bên kia. Bánh lái sau đuôi phi cơ te tua, những miếng kim khí chĩa ra giống như một bộ xương. Tôi có thể hiểu tại sao viên phi công không khai hoả: máu ướt đẫm vai và chảy thành nhiều vệt xuống ngực hắn. Vậy mà phi cơ của hắn vẫn còn bay, không thể tin nổi. Nhưng tôi không thể hạ sát một người bất động, mang đầy thương tích, trong một chiếc phi cơ chỉ còn là một đống sắt nát. Tôi giơ nắm tay trái lên lắc lắc la lớn, biểu hắn hãy đánh nhau thay vì bay giống như một con bồ câu đất, mặc dù tôi biết chuyện đó khó xảy ra. Viên phi công Mỹ nhìn tôi có vẻ hoảng sợ, hắn giơ tay phải lên vẫy vẫy một cách yếu ớt. Như hắn muốn phân bua.

Tôi chưa bao giờ có cảm giác kỳ dị như thế này. Tôi đã giết nhiều người Mỹ trên không, nhưng đây là lần đầu tiên, trước một đối thủ kiệt lực mang đầy thương tích, tôi lại ngần ngừ. Tôi không biết có nên dứt điểm hắn hay không. Nhưng ý nghĩ của tôi rõ ràng là ngù ngờ. Bị thương hay không, hắn cũng là kẻ thù, một kẻ thù vừa hạ ba đồng bạn của tôi vài phút trước đây. Tuy nhiên, thật sự tôi muốn hạ chiếc phi cơ hơn là hạ viên phi công.

Tôi lùi lại và lướt đến sau đuôi chiếc Wildcat. Viên phi công cố thu hết năng lực cuối cùng để đưa chiếc phi cơ của hắn lướt lên. Tôi nhắm đầu máy và ấn cò đại bác. Một tiếng nổ bùng với lửa và khói túa ra. Chiếc phi cơ lật nhào và viên phi công nhảy dù ra ngoài. Phía dưới tôi, gần đúng trên bãi cát Guadalcanal, chiếc dù bung ra. Cuối cùng, tôi thấy viên phi công đáp xuống bãi biển.

Ba chiến đấu cơ Zéro khác đã trở về kết hợp bên cánh của tôi. Chúng tôi cùng vượt lên và quay trở lại Guadalcanal để kiếm phi cơ địch nữa.

Ðạn cao xạ bắt đầu nổ quanh chúng tôi. Những đốm đen khắp nơi. Chỉ vài giờ sau khi đổ bộ, các giàn cao xạ hạng nặng của địch quân đã được thiết lập trên bãi biển. Tôi biết rằng các lực lượng Nhật phải mất ít nhất ba ngày sau khi đổ bộ mới thiết dựng được các vị trí phòng không. Tốc độ di chuyển chiến cụ lên bờ của quân Mỹ nhanh chóng đến mức kinh ngạc.

Tôi trở lại cao độ 7,000 bộ với ba chiến đấu cơ phía sau. Chúng tôi bay xuyên qua những đám mây, và lần đầu tiên trong suốt mấy năm chiến đấu, tôi bị một phi cơ địch vồ mà không hay biết. Bất thình lình tôi sực nghe một tiếng phụp thật mạnh và một lỗ hổng nửa phân xuất hiện trên kiếng chắn gió bên trái của tôi. Lỗ hổng chỉ cách tôi vài phân. Tôi vẫn không nhìn thấy chiếc phi cơ nào khác trên không. Có lẽ viên đạn từ mặt đất bắn lên. Sau đó, tôi mới nhìn thấy loáng thoáng một oanh tạc cơ địch, không phải một chiến đấu cơ, đang lủi vô mây. Sự liều lĩnh của viên phi công địch đáng sợ. Với một chiếc oanh tạc cơ chậm chạp, hắn dám giỡn mặt với ba chiến đấu cơ Zéro của chúng tôi.

Chớp mắt, tôi đã ở phía sau đuôi hắn. Không phải oanh tạc cơ mà là phóng pháo cơ đâm bổ. Chiếc Douglas SBD Dauntless nhô lên hụp xuống nhiều lần rồi thình lình chui vô một đám mây. Ðâu thể để mất con mồi dễ dàng như vậy, tôi đeo dính hắn. Khoảng một vài giây, tôi chỉ thấy một màu trắng xoá khi chúng tôi lướt xuyên qua một tảng mây dày đặc. Ðám mây giống một ổ bánh kem mà chúng tôi đâm sầm vào đó. Nhiều phút trắng ngợp mờ mịt. Kế đó, chúng tôi thoát ra khoảng trống, tôi tiến sát như chớp và khai hoả. Tên xạ thủ phía sau đuôi chiếc phóng pháo cơ ngã chúi trên khẩu súng của hắn. Một loạt đại bác nữa rót vô đầu máy. Chiếc Dauntless lộn về phía trái mấy vòng, rồi chúi xuống dữ dội. Yonekawa thấy viên phi công nhảy dù ra. Ðó là sát thủ thứ sáu mươi của tôi.

Trở lên 13,000 bộ, tôi tìm kiếm những phi cơ khác của chúng tôi nhưng không thấy. Một vài phút sau, bay trên bờ biển Guadalcanal, tôi phát hiện một nhóm phi cơ bay cách phía trước mặt nhiều dặm. Tôi báo hiệu cho hai phi cơ bên cánh và lướt đến. Không lâu, tôi đếm rõ tám phi cơ địch tất cả, bay làm hai nhóm. Tôi ra dấu đánh nhóm bên phải nhường nhóm bên trái cho ba chiếc Zéro theo sau tôi. Ðối thủ bay trong một đội hình phòng vệ rất chặt chẽ, hình như là chiến đấu cơ Wildcat. Tôi có thể lướt từ dưới lên đánh tập hậu, và có thể hạ hai chiếc trong loạt khai hoả đầu tiên. Tôi tiến sát được chừng nào hay chừng nấy. Khoảng cách còn 200 thước, rồi 100 – 70 – 60 thước…

Tôi đã lọt vô bẫy! Phi cơ địch không phải chiến đấu cơ F4F Wildcat mà là phóng pháo cơ hạng nặng. Loại Grumman TBF Avenger trang bị thủy lôi! Loại phóng pháo cơ kiên cố bọc thép dầy và võ trang tận răng mà tôi chưa từng thấy trước đây. Từ phía sau, Avenger trông giống như chiếc Wildcat, nhưng khi lại gần mới thấy kích thước bề thế đồ sộ của nó với tháp súng đôi trên lưng và dưới bụng đều trang bị đại liên 50. Giống những chiếc xe tăng trên không. Hèn chi chúng bay theo một đội hình chiến lũy như vậy. Mấy chiếc Avenger đang đợi tôi, và bây giờ tôi bị chụp ở cả hai phía bên phải và trái với 16 khẩu đại liên một lúc. Tôi gia tăng tốc lực khẩn cấp. Tôi không thể giảm tốc lực để quay lưng. Nếu tôi bỏ chạy hoặc lộn nhào tôi sẽ lãnh đạn vô bụng phơi trần tức khắc. Chỉ còn một cách, cứ lao đến và khai hoả tất cả vũ khí trong tay. Tôi ấn nút hoả lực, gần như cùng một lúc với tất cả súng của địch quân. Tiếng đại bác nện và đại liên dội lên lấn át mọi tiếng động khác. Khi hai phóng pháo cơ Avenger phựt bốc cháy, đối phương chỉ còn cách trước mặt tôi đúng hai mươi thước. Ðó là tất cả những gì sau cùng tôi nhìn thấy. Một tiếng nổ dữ dội long trời chà nát thân thể tôi. Tôi cảm thấy hai lỗ tai như bị muôn ngàn lưỡi dao chọc thủng. Vũ trụ bừng lên trong lửa đỏ. Cảnh vật rực lên, sáng lóa và rồi đôi mắt tôi như mù hẳn. (Ba phi công bay theo tôi về báo cáo với Trung tá Nakajima, chỉ huy trưởng phi đoàn, rằng họ đã nhìn thấy hai chiếc Avenger rớt xuống cùng một lúc với phi cơ của tôi. Họ còn cho biết thêm, hai chiếc Avenger địch kéo hai vệt lửa khói dài. Ðó là nạn nhân chánh thức thứ 61 và 62 của tôi. Nhưng một báo cáo khác của người Mỹ sau chiến tranh phủ nhận sự mất mát các phóng pháo cơ Avenger cất cánh từ ba hàng không mẫu hạm hoạt động ở phía Tây Nam Guadalcanal. Có lẽ hai phi cơ này đã trở về tàu được. Khi chiếc Zéro của tôi chúi xuống, với tôi hôn mê bất tỉnh trong buồng lái, cả ba chiếc Zéro cùng chúi xuống với tôi. Họ phải bỏ dở cuộc săn tìm khi tôi biến mất trong một đám mây sà thấp.)

Sau nhiều giây trôi qua tôi mới hồi tỉnh. Một luồng gió mạnh mát lạnh quất vào tôi, xuyên qua tấm kính chắn gió đã vỡ nát. Nhưng tôi vẫn còn mất cảm giác. Tôi không nhìn thấy và khó khăn suy nghĩ. Mọi vật đều mờ mờ ảo ảo. Cần điều khiển ngả nghiêng như một bánh lái trước sóng. Ðầu tôi ngoẹo hẳn về phía sau, ngoẻo trên miếng tựa đầu. Tôi cố nhìn, nhưng mọi vật lờ mờ chập chờn nhảy múa trước mắt. Phòng lái hình như đã vỡ tung, kiếng bể nát hết, gió ru tôi vào cơn mê nửa mơ nửa tỉnh. Tôi không cảm thấy gì khác hơn là một sự chìm đắm êm ả dịu dàng. Tôi muốn ngủ. Tôi cố gắng thức vì biết rằng tôi đã bị bắn trúng, rằng tôi đang hấp hối, nhưng tôi không hề cảm thấy sợ hãi. Nếu chết là như thế này, không đau đớn, thì có gì đáng lo… Tôi đang ở trong một thế giới đầy mộng mị. Một sự ngây ngất tràn đầy trong trí não. Ảo ảnh bơi lội phía trước tôi. Thấp thoáng nhiều hình ảnh từ từ sáng dần… Với sự ngạc nhiên, tôi nhìn thấy ánh mắt âu lo của Hatsuyo rồi khuôn mặt má tôi hiện ra rõ rệt. Bà kêu lên: “Xấu hổ chưa! Xấu hổ chưa! Thức dậy đi, Saburo, thức dậy đi! Con làm như đàn bà con gái không bằng. Con đâu phải là một tên hèn nhát! Thức dậy đi! Thức dậy!”.

Dần dần tôi cảm biết những gì đang xảy ra. Chiếc Zéro lao về phía Ðông giống như một hòn đá. Tôi cố mở mắt ra và nhìn quanh, thấy màu sáng chói hực của lửa. Tôi nghĩ rằng chiếc phi cơ đang bốc cháy. Nhưng tôi không nghe một mùi khói. Tôi vẫn choáng váng.

Tôi nháy mắt nhiều lần. Sao lại như vậy? Mọi vật đều màu đỏ hết! Tôi đưa tay sờ soạng. Cần lái! Tôi nắm lấy nó. Vẫn không thấy gì hết. Tôi kéo cần lái về phía sau. Nhẹ nhàng. Chiếc phi cơ bắt đầu gượng lại sức chúi xuống, lấy lại thăng bằng và vượt lên. Áp lực của gió giảm bớt, không còn quật mạnh vô mặt tôi nữa. Một ý nghĩ đầy kinh hãi bao trùm lấy tôi. Là tôi có thể bị mù! Tôi hết còn cơ hội trở về Rabaul!

Tôi hành động theo quán tính. Ðưa tay trái về phía trước để nắm lấy cần gia tốc. Nhưng tay tôi bất động. Tôi cố co mấy ngón tay lại. Không có một cảm giác nào cả. Ðúng là nó đã liệt hẳn. Tôi nhấn hai chân lên bàn đạp bẻ lái. Chỉ có chân mặt của tôi còn cử động và chiếc Zéro lạng qua một bên khi bàn đạp bị ấn xuống. Chân trái của tôi tê liệt. Tôi nghiến răng cố gắng cử động lại một lần nữa. Vô ích.

Nguyên thân bên trái của tôi hình như đã bị liệt. Trong nhiều phút tôi cố nhúc nhích chân và tay trái, nhưng không thể nào cử động. Tôi không nghe đau đớn. Thật khó hiểu.

Ðôi má tôi ướt đẫm. Tôi đang khóc. Hai hàng lệ chảy xuống. Khối nặng trĩu trong tròng mắt tôi bắt đầu trôi đi. Nước mắt đã lau sạch máu đọng trong mắt tôi. Tai vẫn còn điếc câm, nhưng mắt có thể nhìn thấy tuy chỉ một chút ít, nhưng màu đỏ đã loãng dần. Ánh sáng mặt trời chiếu rọi vô phòng lái cho phép tôi nhìn thấy lờ mờ những dụng cụ bằng kim khí. Dần dần tôi nhìn thấy những đồng hồ hình tròn, nhưng không thể nhìn thấy chi tiết. Tôi xoay đầu và nhìn ra ngoài buồng lái. Những khối màu đen vĩ đại lướt qua dưới cánh phi cơ với tốc độ khủng khiếp.

Những khối màu đen chắc chắn là chiến hạm địch. Ðiều này có nghĩa là tôi chỉ cách mặt nước khoảng 300 bộ, dưới 100 thước. Thế rồi tai tôi vang lên những âm thanh lùng bùng. Thoạt đầu là tiếng máy phi cơ kế đến là tiếng súng. Các chiến hạm đang khai hoả vào tôi! Chiếc Zéro chao lắc lư giữa những lằn chớp loé của đạn cao xạ phát nổ. Lạ lùng thay, tôi không hề có một phản ứng nào. Tôi bất động, không tìm cách né tránh. Tiếng súng rơi lại phía sau. Tôi không còn nhìn thấy những khối màu đen trên mặt nước nữa. Tôi đã ra khỏi tầm súng. Nhiều phút trôi qua, tôi vẫn ngồi bất động trong phòng lái với muôn ngàn ý nghĩ lẫn lộn. Tôi lại muốn thiếp ngủ. Trong cơn ngầy ngật, tôi cũng biết rằng tôi không thể nào bay trở về Rabaul, và ngay cả Buka gần hơn Rabaul. Một thoáng, ý nghĩ đâm thẳng xuống biển với hết tốc lực đã lôi cuốn tôi, như một cách giải quyết nỗi tuyệt vọng của mình. Tôi trở nên ngu muội. Tôi cố mở mắt ra. Tôi nguyền rủa mình: Chết như vầy không phải! Nếu phải chết, tôi nghĩ, tôi phải chết cho ra hồn. Tôi đâu phải là một tay mơ chưa từng biết chiến đấu là gì? Tư tưởng của tôi chợt ẩn chợt hiện, tôi biết rằng bao lâu mà tôi còn kiểm soát chiếc phi cơ, bao lâu mà tôi còn có thể bay, tôi sẽ làm mọi cách lôi theo một hai kẻ thù trước khi chết. Chiến đấu cơ địch ở đâu? Tôi chửi rủa và la hét: Ðến đây? Tôi đây! Ðến đánh với tôi!…

Trải qua nhiều phút, tôi thịnh nộ như một tên điên trong phòng lái. Dần dần tôi bình tĩnh trở lại và ý thức hành động đáng buồn cười của mình… Tôi bắt đầu nghĩ đến những may mắn vô song đã khiến tôi sống sót cho đến bây giờ. Tôi đã gặp nhiều hiểm nguy trước đây, nhưng chưa lần nào hiểm nguy hơn lần này. Những viên đạn chỉ cách đầu tôi mấy phân, và gây cho tôi nhiều vết sướt, nhưng không trầm trọng mấy. Tôi có may mắn, tại sao tôi quăng nó đi? Và bỗng nhiên tôi muốn sống, tôi muốn quay trở về Rabaul.

Việc có ý thức đầu tiên của tôi là xem xét các thương tích. Tay trái tôi vẫn tê liệt, tôi đưa tay mặt lên rờ đầu một cách e dè như sợ những gì sẽ tìm thấy. Mấy ngón tay rờ nón phi công, cảm thấy nhớp nháp. Tôi biết đó là máu. Rồi tôi gặp một lỗ thủng trên nón, tôi thọc nhè nhẹ một ngón tay vô. Ðể coi bao sâu? Có vật cưng cứng chạm vô ngón tay tôi. Tôi sợ hãi chấp nhận sự thật. Ngón tay tôi lọt hẳn vô bên trong chiếc nón! Vật cứng đó không gì khác hơn là xương sọ của tôi do đạn phá ra. Có lẽ là hộp sọ bể. Ý nghĩ này làm tôi lặng người. Viên đạn có thể chui vô trong óc, nhưng chắc chắn không sâu. Tôi nhớ lại những gì đã từng học hỏi về thương tích trong lúc chiến đấu. Tôi không cảm thấy đau đớn, nhưng có lẽ vết thương đã làm tê liệt phần thân thể bên trái của tôi. Những ý nghĩ này đến chầm chậm. Làm sao có thể ngồi trong phòng lái chiếc phi cơ hư hại, nửa phần đui mù, nửa phần tê liệt, thọc mấy ngón tay qua lỗ hủng trên đầu của mình và tìm hiểu sự việc xảy ra một cách sáng suốt? Tôi ý thức những gì đã xảy ra, tôi cảm được chất máu nhớp nháp và lỗ hủng trên đầu của tôi, nhưng không ý thức sự nghiêm trọng thật sự của vết thương. Tôi biết tôi bị thương, chỉ có vậy thôi.

Tôi lại di chuyển mấy ngón tay trên mặt tôi. Nó sưng phù lên, nhiều vết sướt, và cũng có máu. Chiếc Zéro tiếp tục bay đều. Ðầu óc tôi dần dần sáng suốt thêm. Cử động của tôi chính xác hơn. Tôi hít một hơi thở thật mạnh. Không có mùi dầu khét, như vậy là cả máy lẫn thùng xăng không bị trúng đạn. Sự nhận biết này là nỗi vui mừng lớn nhất trong đời tôi. Với thùng xăng còn nguyên vẹn và máy móc không hư hại, chiếc phi cơ có thể nuốt hết khoảng không trình còn lại. Gió luồng vô chỗ thủng trên sọ vẫn còn rỉ máu. Tôi có thể bất tỉnh trở lại vì mất máu.

Bỗng nhiên đau đớn bao trùm lấy tôi. Mắt phải của tôi bắt đầu mờ dần khi cơn đau gia tăng kịch liệt. Tôi đưa tay dụi mắt. Cơn đau đến không chịu đựng nổi. Tôi lại dụi mắt. Tôi mù rồi!

Tất cả phi công Nhựt đều mang theo trong túi bốn mảnh băng vải hình tam giác. Tôi lôi ra một mảnh và phun nước miếng lên đó. Miệng tôi khô khốc và cảm thấy khát nước kinh khủng. Tôi đưa mảnh băng lên miệng để nhai cho đến khi một góc của nó trở thành ẩm ướt. Chồm về phía trước để tránh gió, tôi lau mắt với góc băng ướt. Có hiệu quả, tôi nhìn thấy chút ít. Một vài giây sau, khi tôi ngồi ngay ngắn trở lại, đầu tôi lại đau dữ dội, như có một chiếc búa gõ lên sọ. Tôi đắp ngay mảnh băng vô lỗ hủng trên đầu, nhưng khi tôi vừa lấy tay ra, gió thổi mảnh băng bay mất ra ngoài cửa kiếng bể.

Thất vọng tột cùng! Làm cách nào tôi có thể cột mảnh băng quanh đầu? Tôi phải cầm máu lại. Tay trái tôi tê liệt, tôi chỉ có thể sử dụng tay mặt để giữ mảnh băng, nhưng tay này phải giữ cần điều khiển. Tôi kéo mảnh băng thứ hai để đắp, nó lại bay mất khi tôi vừa lấy tay ra. Mảnh thứ ba và bốn cũng vậy. Tôi phải làm gì đây? Tôi hầu như rối loạn. Cơn đau gia tăng dữ dội hơn.

Tôi còn một chiếc khăn quàng bằng lụa quấn quanh cổ. Tôi tháo ra và đè một chéo dưới đùi bên mặt để gió khỏi cuốn đi. Sau đó tôi rút con dao bỏ túi dùng răng kéo lưỡi dao ra. Tôi cắn chặt một chéo của khăn quàng và cắt một đoạn, nhưng bị gió cuốn bay mất lập tức. Tôi không biết làm sao. Tuyệt vọng. Tôi cuống cuồng tìm giải pháp. Chỉ còn một đoạn khăn quàng.

Tôi khom người về phía trước để tránh gió, và bắt đầu nhét đoạn khăn vô bên trong chiếc nón phi hành ngay chỗ vết thương. Thành công. Tôi ngồi thẳng dậy và đưa chiếc phi cơ vượt lên. Cơn đau dịu xuống nhanh chóng. Máu ngưng chảy. Nhưng cơn buồn ngủ lại ập đến, tôi xô đuổi cách mấy cũng không được. Hơn một lần tôi chợp mắt, cằm gục xuống ngực. Tôi lắc lắc đầu, hy vọng cơn đau sẽ làm tôi tỉnh táo. Chiếc phi cơ đâm đầu xuống mấy lần. Cơn buồn ngủ vẫn không xua đuổi được khiến tôi nổi giận. Tôi đưa tay tát vào má thật mạnh nhiều lần. Tôi không thể tiếp tục lối này mãi được. Tôi sớm cảm chất máu mằn mặn. Má tôi sưng phù thêm, không khác nào ngậm một trái banh trong miệng. Nhưng không có cách nào khác hơn, tôi tiếp tục tát vào má nữa. Có lẽ thức ăn sẽ thắng cơn buồn ngủ. Tôi lôi hộp thức ăn ra và nhét bánh mặn đầy miệng. Tôi lại cảm thấy buồn ngủ hơn bao giờ hết. Tôi nhét thêm thức ăn vô miệng nữa, nhai thật kỹ trước khi nuốt.

Lát sau, tôi nôn mửa dữ dội làm chiếc phi cơ mất kiểm soát khi tôi vặn vẹo thân thể trong cơn nôn. Thức ăn tung toé đầy trên chân tôi và trên tấm bửng dụng cụ. Ngay cả sự khổ sở mới này vẫn không xua đuổi nổi cơn buồn ngủ ùa đến. Tôi lại tát má liên hồi cho đến khi không còn cảm giác nào nữa. Trong lúc tuyệt vọng, tôi đưa tay đập lên đầu, nhưng cũng vô ích. Tôi muốn ngủ! Ồ! Hãy cứ ngủ đi, quên mọi chuyện…

Chiếc phi cơ chao qua chao lại, bay xiên xẹo. Tôi cố giữ cần lái một mực, không biết rằng nhiều khi tay tôi rớt xuống bên trái hoặc bên phải khiến cho phi cơ xoay vòng dữ dội. Tôi sẵn sàng bỏ cuộc. Tôi biết không thể giữ mãi tình trạng này mãi mãi. Nhưng tôi nguyện với lòng sẽ không chết như một tên hèn nhát, bằng cách chúi xuống biển, ít ra tôi phải chết như một Samurai. Cái chết của tôi phải lôi theo nhiều kẻ thù.

Một chiến hạm. Tôi cần một chiến hạm địch để lao xuống. Thoát ra khỏi cơn tuyệt vọng tràn ngập, tôi quay chiếc Zéro hướng về Guadalcanal. Nhiều phút sau đó tôi tỉnh táo trở lại. Không còn buồn ngủ nữa. Không còn đau đớn nữa. Tôi hiểu hành động của mình. Nhưng tại sao lại chết bây giờ, nếu tôi có thể bay đến Buka hoặc ngay cả Rabaul? Tôi lại quay hướng chiếc Zéro và bay về phía Bắc. Một vài phút sau đó tôi lại muốn thiếp ngủ. Trí óc tôi u mê. Thế giới quanh tôi mù mịt. Tôi lại quày phi cơ, hướng về Guadalcanal. Quày đi quày lại năm lần như vậy. Tôi bắt đầu la khan nhiều lần. “Hãy thức tỉnh!”. Dần dần cơn buồn ngủ biến mất. Tôi nhắm hướng Rabaul. Hiển nhiên là nếu cứ bay về phía Bắc thì không gì bảo đảm tôi sẽ về tới căn cứ. Nhưng tôi không định nổi vị trí. Tôi chỉ biết nhắm hướng Rabaul một cách tổng quát. Tôi biết tôi ở phía Bắc Guadalcanal, nhưng không biết khoảng cách bao xa. Tôi nhìn xuống biển, nhưng không tìm ra một hòn đảo nào trong chuỗi đảo trải dài đến Rabaul. Chỉ chân mặt của tôi còn đạp bàn đạp điều khiển bánh lái được, như vậy chiếc phi cơ có thể đã xoay về phía Ðông của quần đảo Solomon.

Tôi rút tấm hải đồ dưới ghế ngồi. Nó vấy đầy máu. Tôi nhìn hồi lâu, chà tấm hải đồ lên quần để tẩy mấy vết máu, nhưng vô ích. Tôi cố định vị trí bằng cách nhìn mặt trời nhưng vô ích. Cả ba mươi phút trôi qua vẫn không có một hòn đảo nào xuất hiện. Có cái gì không ổn? Tôi hiện ở đâu? Bầu trời trong sáng hoàn toàn và đại dương trải dài vô tận.

Một hòn đảo! Cuối cùng, một hòn đảo, ngay trước mặt tôi. Nó ở mãi phía chân trời, nổi lờ mờ trên mặt nước. Phấn kích, tôi cười khan. Bây giờ, mọi việc yên rồi, tôi có thể định vị trí và chắc chắn tôi đang hướng về Rabaul. Tôi bay và tiếp tục bay, bồn chồn dõi mắt tìm kiếm bờ biển.

Hòn đảo biến mất. Nó đâu rồi? Tôi không nằm mơ chớ? “Hòn đảo” đang trôi qua bên phải tôi, đó là một đám mây sà thấp!

Tôi cố gắng xem lại la bàn. Tôi không thể nào đọc được những con số. Tôi cúi mọp về phía trước, mũi hầu như chạm vô mặt kiếng la bàn. Cuối cùng tôi đọc được. Tôi đang bay ở hướng 330 độ. Gần hai tiếng đồng hồ tôi không nhìn thấy hòn đảo nào cũng phải. Chiếc Zéro đang tiến ra trung tâm Thái Bình Dương! Soát lại hải đồ, tôi biết vị trí của tôi cách phía Ðông Bắc quần đảo Solomon 60 dặm. Chỉ phỏng đoán, nhưng đó là điều tốt nhất mà tôi có thể làm. Tôi xoay chiếc phi cơ về phía trái 90 độ và hướng đến một nơi mà tôi hy vọng là đảo New Ireland, nằm phía Ðông Bắc New Britain và Rabaul.

Những lượn sóng buồn ngủ lại phủ chụp lấy tôi. Nhiều lần làm tôi hoảng hốt giữ thăng bằng khi chiếc phi cơ đảo cánh hoặc lộn ngược. Tôi bay chập choạng xuyên qua bầu trời, lâu lâu cúi về phía trước xem la bàn, điều chỉnh hướng bay cho đến khi tôi chắc chắn phi cơ đang tiến đến New Ireland.

Nhưng bỗng nhiên cơn đau trên đầu gia tăng khiến tôi không còn buồn ngủ nữa. Rồi thình lình tôi tỉnh táo hẳn. Không một dấu hiệu báo trước, chiếc phi cơ tắt máy. Tôi biết bình xăng chánh đã cạn. Tôi còn một bình xăng phụ, nhưng phải mất một thời gian ngắn để chuyển qua. Khi mở nút chuyển tiếp xăng phải làm nhanh chóng và chính xác. Thông thường, công việc này tôi sử dụng tay trái và không có gì khó khăn. Nhưng hiện thời tay trái tôi đã liệt hẳn. Tôi phải sử dụng tay mặt, nhưng với qua phía bên kia phòng lái không tới.

Chiếc Zéro tắt máy rớt xuống biển chầm chậm và êm ái. Tôi cố gắng hết sức cuối cùng mở được.

Xăng không chảy qua ống, vì ống quá lâu nên đã thoát hết không khí. Tôi vội vã sử dụng bơm tay, dự trù cho trường hợp bất ngờ. Hiệu quả tức khắc. Với một tiếng rồ nhẹ, máy chạy trở lại và chiếc Zéro lướt êm về phía trước. Không phí một giây nào, tôi trở lên cao độ 500 thước.

Phi cơ bay chầm chậm. Tôi chỉ còn trong tay không đầy hai giờ nhiên liệu để đáp xuống hòn đảo do Nhựt chiếm đóng. Không đầy hai giờ, tôi sẽ sống hoặc chết.

Một giờ trôi qua… Trước mắt tôi vẫn chỉ là biển cả bao la và bầu trời xanh thăm thẳm. Thình lình tôi thấy một vật gì nổi trên mặt nước. Một hòn đảo! Lần này không lầm nữa, không phải là một đám mây trước mắt. Nhứt định là một hòn đảo. Hòn đảo Xanh, hòn đảo san hô có hình móng ngựa mà tôi đã để ý trên đường bay đến Guadalcanal sáng nay. Tôi soát lại bản đồ. Hy vọng tràn trề… Tôi chỉ cách Rabaul 110 km!

Sáu chục hải lý. Thông thường chỉ là một cái nhảy ngắn. Nhưng tình trạng hiện thời đầy bất thường và đang tồi tệ thêm. Tôi chỉ còn đủ xăng để bay trong vòng 40 phút. Chiếc Zéro lại bị hư hại trầm trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến tốc lực. Tôi bị thương nặng, tê liệt một nửa thân, mắt bên mặt mù hẳn và mắt trái nhìn thấy không rõ lắm. Tôi đã kiệt sức, và tôi phải tận dụng hết năng lực để giữ chiếc phi cơ thăng bằng.

Một hòn đảo khác, ngay trước mắt tôi. Ðây là đảo New Ireland, và phía xa xa là rặng núi cao 2,400 bộ. Vượt qua phía bên kia rặng núi đó, tôi có thể về tới Rabaul.

Tôi đã đâu mặt với hàng loạt chướng ngại vật phía trước khi tiến vô căn cứ nhà. Những đám mây dầy đặc tụ quanh các đỉnh núi, và đột ngột một cơn mưa bão thật dữ dội trút xuống. Dường như khó có thể vượt qua nổi. Kiệt quệ cả tinh thần lẫn thể xác, nửa đui nửa sáng, và trong một chiến đấu cơ hư hại trầm trọng, làm sao tôi có thể vượt qua một cơn mưa bão, nguy hiểm tột cùng ngay cả dưới những tình trạng bình thường?

Tôi đành bay vòng. Kim đồng hồ chỉ mực xăng của tôi càng lúc càng hạ thấp. Tôi chỉ còn vài mươi phút trên không. Tôi bặm môi và quay về hướng Nam. Chiếc phi cơ bay chầm chậm xuống eo biển George nằm giữa Rabaul và New Ireland. Hai vệt trắng xoá lướt trên mặt nước phía dưới cánh tôi. Tôi thấy hai chiến hạm Nhựt, có vẻ là hai tuần dương hạm hạng nặng, đang xả hết tốc lực chạy về hướng Nam, tức hướng Guadalcanal.

Tôi hầu như ứa nước mắt khi nhìn thấy hai chiến hạm. Tôi muốn chúi phi cơ xuống biển, một trong hai tuần dương hạm có thể cứu tôi. Hy vọng tràn ngập trong tôi. Rabaul lúc ấy hình như cách xa hàng triệu cây số. Tôi quần mấy lần trên hai chiến hạm, sẵn sàng đáp xuống mặt nước.

Tôi không thể thực hiện ý định của mình. Hai tuần dương hạm đang trên đường đến Guadalcanal để chiến đấu. Nếu chúng ngừng lại để vớt tôi lên, việc này không chắc lắm, nhiệm vụ thúc bách của chúng sẽ trì trệ. Không thể đáp xuống biển. (Nhiều tuần lễ sau này tôi mới biết đó là hai tuần dương hạm Aoba và Kinugasa, mỗi chiếc 9,000 tấn đang hướng đến Guadalcanal với tốc lực hơn 33 hải lý một giờ. Cùng với nhiều chiến hạm khác, Aoba và Kinugasa tấn công đoàn công-voa của Ðồng Minh ở Luga, đánh chìm bốn tuần dương hạm cùng gây hư hại cho một tuần dương hạm và hai khu trục hạm khác của địch quân).

Một lần nữa, tôi quay về hướng Rabaul. Ðồng hồ chỉ mực độ xăng cho thấy chỉ còn hai mươi phút bay nữa mà thôi. Tuy nhiên nếu không tiến về Rabaul được, tôi có thể đáp trên bãi biển. Thế rồi hòn núi lửa quen thuộc hiện ra ở chân trời. Ðã đến nơi rồi, Rabaul đã nằm trong tầm mắt.

Tôi phải đáp xuống. Việc này thật khó khăn vô cùng, với một nửa thân thể hoàn toàn tê liệt của tôi. Tôi cố đảo quanh phi trường, do dự, không biết làm gì. Tôi không biết rằng tôi đã bị báo cáo mất tích, tôi cũng không biết rằng tất cả các phi cơ khác đã đáp xuống hai giờ trước đó, ngoại trừ hai chiếc bị hạ ở Guadalcanal. Sau này Ðại úy Sasai nói với tôi ông không tin hai mắt của mình khi nhận ra chiếc Zéro của tôi xuyên qua ống dòm. Ông la tên tôi thật lớn, và tất cả các phi công khác túa ra khắp nơi trên phi đạo.

Lúc này tất cả những gì tôi nhìn thấy được là phi đạo nhỏ hẹp phía dưới. Tôi quyết định đáp xuống mặt nước cạnh bờ biển. Chiếc Zéro xuống chầm chậm. Tám trăm bộ, bảy, bốn rồi một trăm bộ, tôi chỉ còn cách mặt nước năm mươi bộ. Là 15 thước. Tôi lại thay đổi ý kiến. Cảnh máy bay vỡ tan trên biển và cái đầu bị thương của tôi đập về phía trước, là hình ảnh đáng sợ. Tôi khó mà sống sót được.

Tôi vượt lên và quày lại phi đạo ở cao độ 500 m. Lần này hoặc là tôi đáp xuống hoặc là không bao giờ nữa.  Chiếc Zéro hạ chầm chậm khi tôi đẩy cần điều khiển về phía trước. Tôi thả bánh xe. Tốc lực chiếc phi cơ giảm xuống. Tôi nhìn những dãy chiến đấu cơ xếp dài hai bên phi đạo đang xô chạy về phía tôi. Tôi phải tránh đụng các phi cơ đó. Tôi vượt trở lên, vì nhận thấy tôi đã xuống lệch quá xa về phía trái.

Sau khi quần đến lần thứ tư, tôi cố đáp xuống một lần nữa. Dù cho xăng còn rất ít trong bình, chiếc phi cơ vẫn có thể nổ nếu nó va chạm. Hàng dừa trồng ở đầu phi trường lờ mờ trước mắt tôi. Tôi lướt phía trên và cố điều chỉnh độ cao của tôi bằng những ngọn dừa này. Bây giờ… tôi đã ở trên phi đạo. Một cái xóc thật mạnh khi bánh xe chạm mặt đất. Tôi kéo ngược cần điều khiển và ghì chặt với tất cả sức mạnh để giữ cho chiếc phi cơ khỏi chạy xiên vẹo. Chiếc Zéro lao bánh và ngừng lại gần Bộ Chỉ Huy. Tôi cố mỉm cười, một làn sóng đen thẫm phủ chụp lên tôi.

Tôi cảm thấy như bị rớt chìm xuống đáy một hố sâu vô tận. Mọi vật hình như đều xoay tít dữ dội. Tôi nghe những tiếng thét gọi tên tôi vang lên xa xa. “Sakai! Sakai!” Tôi rủa thầm. Tại sao họ không giữ im lặng? Tôi muốn thiếp ngủ.

Màu đen biến mất. Tôi mở mắt ra nhìn thấy nhiều khuôn mặt bao quanh. Tôi đang nằm mơ, hay tôi đã thật sự trở về Rabaul? Tôi không biết. Mọi thứ đều không thật. Tất cả đều là mộng mị. Tôi chắc vậy. Những gì tôi đang thấy không thể là sự thật. Mọi thứ lại tan thành những lượn sóng màu đen sẫm trộn với những tiếng la lớn.

Tôi cố gượng dậy. Tôi bám vào buồng lái và cố đứng lên. Ðây là “Rabaul”. Cuối cùng, không phải là mộng mị. Thế rồi tôi ngã quỵ xuống hẳn. Không còn sức lực. Những cánh tay mạnh mẽ nhấc bổng tôi ra khỏi phi cơ.

Chó và người

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 30 Aug 2026

Nhà văn Hoa Kỳ, John Steinbeck, năm 1937, có viết truyện tựa là: ‘Of Mice and Men’, Chuột và Người. Tui nghi rằng ông thai nghén cuốn tiểu thuyết nầy vào năm Bính Tý, năm con chuột, tới năm Đinh Sửu, 1937, viết mới xong.

Thấy người sang tui hay bằng quàng làm họ. Thấy nhà văn nổi tiếng là tui bắt chước theo hè. Nên năm nay năm Tuất, Mậu Tuất, tui xin viết về ‘Of Dogs and Men’, nghĩa là “Chó và Người” vậy!

Trong 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Chó đứng gần hạng bét, chỉ trên được con Heo, tức Hợi.
Năm rồi, năm 2017, là năm Đinh Dậu, con gà, thì năm nay, năm 2018 là năm Mậu Tuất năm con chó. Cẩu hay khuyển, tiếng Hán Việt, còn tiếng Nôm là con chó.

Đừng viết về con chó lửa là cây súng lục. Tết mình cử! Vì móc chó lửa là móc súng ra sủa đằng mồm; thì anh em mình dẫu đang ngồi nhậu vui như Tết cũng phải bỏ hết mồi ngon, rượu quý , lồm cồm trốn dưới gầm bàn; rồi chạy mất dép mới mong bảo toàn được tính mạng.

***

Hồi thời tạo thiên lập địa, chó sói sống trong rừng. Thấy con chó nó khôn, siêng năng giỏi dắn nên con người bắt về thuần hóa để làm nô lệ cho mình.

Con người chơi cha con chó không hè! Như bắt chó đi săn, đi chăn cừu, kéo xe trượt tuyết. Bắt chó chạy đua để đánh cá ăn tiền gọi là đua chó. Rồi bắt chó đi kiếm tiền bằng cách dạy chó làm xiếc.

Ở Melbourne có mấy thằng Úc làm biếng, khoái chơi xì ke ma túy hoặc ăn nhậu tối ngày nên cần tiền, bắt chó đi ăn xin.

Ngồi trên hè phố, nằm chày bày, con chó cũng nằm chắp tay lạy ông đi qua lạy bà đi lại; kế bên có cái nón lật ngửa đầy những tiền xu, tiền cắc có cả tờ 5, 10 đô Úc nữa. Thu nhập cũng đủ cho hai thầy trò phè phởn sống! Chó và Người, cuối ngày, cười hề hề lượm tiền của thiên hạ.

Người ta thương tình cho tiền; không phải cho cái thằng làm biếng đó mà cho con chó; vì sợ nó đói.

(Chó Úc dạo nầy than phiền chánh phủ Úc dữ lắm vì vật giá gia tăng, thức ăn đóng hộp dành cho chó đã lên giá tới 10% lận đó.)

Ngoài ra, con người còn huấn luyện chó dẫn đường cho người khiếm thị.

Ngoài đường phố Melbourne, ngựa xe như mắc cửi, mỗi lần lái xe đi làm, thỉnh thoảng tui cũng thấy con chó dẫn đường!

Đèn đỏ chó biết dừng, chờ dấu hiệu đèn xanh dành cho người đi bộ kêu lốc cốc nó mới dẫn ông chủ khiếm thị của nó băng qua lộ. Hay hết biết!

Rồi Cảnh sát cũng huấn luyện chó để lùng sục xì ke ma túy hay để cắn mấy thằng tội phạm hung hãn mà mấy Thầy đội cũng ngán không dám nhào vô; bèn suỵt chó cho vô trước, gọi là Cảnh khuyển.

Quân đội cũng huấn luyện chó đánh hơi tìm bom mìn, lùng sục bọn khủng bố đang trốn dưới hầm gọi là Quân khuyển.

Chính vì vậy mà hồi chiến tranh Việt Nam, VC ghét chó lắm. Vùng xôi đậu, ban ngày quốc gia, ban đêm CS, là chó bị tụi nó bắt mần thịt, rựa mận, chả chìa, dồi chó… ăn nhậu ráo trọi.

***

Nghĩa là ở đâu có người là ở đó có chó! Chó đối xử với con người rất tốt ngay cả hi sinh thân mình biến thành cầy tơ bảy món, a đây rồi; còn con người chỉ biết lợi dụng lòng tốt của chó mà thôi!

Chó tốt nhứt là lòng trung thành. Ai cũng biết!

Chuyện rằng chú chó Hachiko sáng đều ra nhà ga xe lửa Shibuya tiễn ông chủ Eizaburo, một giáo sư Khoa Nông Nghiệp trường Đại học Tokyo đi làm. Hachiko ngồi đợi tới chiều để đón ông chủ về.

Nhưng ngày 21, tháng Năm, năm 1925, ông chủ không về nữa vì bị đột tử trong lúc làm việc do bị một khối u trong não.

Thiệt là: “Hẹn cùng ta: Lũng Tây nham ấy/ Sớm đã trông, nào thấy hơi tăm?

Ngập ngừng, lá rụng cành trâm/ Thôn trưa nghe dậy tiếng cầm lao xao!”

Rồi suốt 10 năm sau đó, Hachiko vẫn tiếp tục đến nhà ga vào buổi sáng đợi cho tới buổi chiều, ngay đúng giờ tàu đi và đến để chờ ông chủ mình về trong vô vọng.

Năm 1934, dân Nhật cho đúc một tượng đồng ngay trước cổng nhà ga khi Hachiko vẫn còn sống. Hachiko tuổi già, sức yếu chết một mình, cô đơn trên đường phố gần nhà ga Shibuya vào ngày mùng 8, tháng Ba, năm 1935.

Đây là một câu chuyện cảm động về một nghĩa khuyển tri tình nhưng tiếc thay sau đó chánh quyền quân phiệt Nhựt lại lợi dụng lòng trung thành tuyệt đối vô điều kiện của con chó Hachiko để kích động lòng yêu nước cực đoan, mù quáng trung thành vô lối với Thiên hoàng nhằm xô đẩy nhiều thế hệ thanh niên Nhựt Bản gia nhập vào quân đội Phù Tang, gây biết bao nhiêu tội lỗi cho dân các nước vùng Đông Nam Á trong đó có nước Việt Nam mình vào Thế chiến thứ Hai.

***

Chó Nhựt trung thành là vậy; chó Tàu Thời Tam Quốc cũng chơi ngon, dám hi sinh thân mình để cứu chủ nữa đó.

Chuyện rằng: Lý Tín Thuần nuôi con chó tên là Hắc Phong. Một hôm, Lý ra ngoài thành nhậu xỉn, loạng choạng về nhà không nỗi, bèn nằm phê ngay dưới bãi cỏ.

Xui cái là quan Thái thú đi săn, đốt cỏ để đuổi thú, khiến quần áo Lý bén lửa cháy.

Hắc Phong đến kéo chủ dậy nhưng chủ không động đậy. Chó bèn đến ngòi nước cách đó 35 bước, dầm mình cho ướt chạy về dập lửa cho chủ.

Cứ như vậy, chó chạy đi chạy lại nhiều lần, cuối cùng  mệt quá, kiệt sức, Hắc Phong nằm thè lưỡi chết ngắc.

Khi Lý tỉnh cơn say, thấy chó chết vì cứu mình thì báo cho quan Thái thú biết. Quan Thái thú phán: “Đúng là sự báo ân của loài chó còn hơn sự báo ân của con người. Con người đôi khi không bằng được con chó?”

Bèn cử hành đám tang cho Hắc Long rất long trọng và tôn làm nghĩa khuyển để răn dạy mấy chú ba Tàu khác đừng có manh tâm phản loạn. Hãy trung thành tuyệt đối với chủ mình, trung thành với chế độ phong kiến, với tầng lớp quan lại như là chó trung thành, xả thân vì chủ vậy!

Mấy ngàn năm sau, bà Tôn Nữ Thị Ninh, từng làm Đại sứ VC tại Liên Âu cũng học theo cái chiêu màu mè, ý đồ thâm độc của quan Thái thú Tàu hồi xưa!

Bà Ninh nầy nghe nói cũng có ăn học tiếng Tây, tiếng U rốp rốp như bẻ mía mà không hiểu về dân chủ, tự do, nhân quyền gì hết ráo mà mở miệng ra là tán láo.

Năm 2004, khi bị báo chí phương Tây chất vấn về tình trạng vi phạm nhân quyền trong nước thì bà Ninh phán một câu xanh dờn là: “Trong gia đình chúng tôi có những đứa con, cháu hỗn láo, bướng bỉnh thì để chúng tôi đóng cửa lại trừng trị chúng nó, dĩ nhiên là trừng trị theo cách của chúng tôi. Các anh hàng xóm đừng có mà gõ cửa đòi xen vào chuyện riêng của gia đình chúng tôi”.

Ê! Nói nghe kỳ quá he? Chánh quyền là đầy tớ của dân, phục vụ dân, dân làm chủ.

Chánh quyền đâu phải là cha là mẹ dân mà đóng cửa, bộp tai, đá đít nó rồi hàng xóm nhẩy vô can; còn tru tréo là chuyện nội bộ của tụi tui đừng có chỏ mỏ vào sủa nhe! Nghe sao đặng hè?!

Vì cái cặn bã lợi danh mà muối mặt trung thành với bọn CS cầm quyền cho mình ăn nhậu thì cứ làm. Đừng dạy đời những người bất đồng chánh kiến trong nước là: “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo!”.

Dân ngu khu đen, người làm chủ đất nước thấy chánh quyền tức đầy tớ của mình làm không chịu làm; mà chỉ ăn không, thì họ có quyền rầy đấy chớ!

Con chó trung thành với người chủ vì người chủ yêu thương chăm sóc nó.

Đó là một quan hệ hổ tương và rất công bằng!

Còn chánh quyền gì hở ra là bóc lột, áp bức, đàn áp nhân dân mà mở miệng ra là ra rả kêu gọi lòng trung thành làm sao được?

W.R. Koehler, một bậc sư tổ trong nghề dạy chó, đã từng phán rằng:

“Những con chó thông minh ít khi làm vui lòng những ai mà chúng không tôn trọng” “Intelligent dogs rarely want to please people whom they do not respect.”  –

***

Tui thì yêu chó; nhưng em yêu của tui thì ghét chó! Vì nhém chút nữa con chó đã làm tan vỡ tình mộng với anh yêu tức là tui đây nè!

Chẳng qua hồi xưa cách đây hơn gần nửa thế kỷ tui đeo đuổi, trồng cây si ngay lối đi, trước cửa nhà em mỗi chiều, chờ em tan trường về anh theo Ngọ về!

Tía em thấy vậy, nhà đã kín cổng cao tường mà ổng còn hù tui bằng cách treo trước cổng nhà hình con chó Berger, nhe hai hàm răng nhọn lễu với hàng chữ tiếng Anh là: “Beware of the Dog!”

Tui đâu biết tiếng Anh, tui chỉ biết tiếng em; nên một ngày bạo gan chặn em lại giữa đường để cho anh hỏi tận tường: “Beware of the Dog là gì vậy em Hai?”

Thì em cầm cái vạt áo dài đưa lên miệng cắn, e thẹn cắt nghĩa là: “Coi chừng chó dữ:”

Sau đó, em lại cố vấn cho tui là: “Never mind the Dog, beware of the owner!”

Tui không hiểu gì ráo! Về nhà giở từ điển Lê Bá Kông chổng mông ra tra mới hiểu lỏm bỏm là: “Đừng kể số gì tới con chó mà hãy coi chừng chủ của nó!”

Ối tưởng cái gì! Khi yêu, em là sư tử, tui còn chưa sợ huống hồ gì đem con chó ra hù tui chớ?!

Đẹp trai không bằng nói dai mà! Nói hoài cũng lọt lỗ tai. Em đồng ý ưng tui để hai ta vầy duyên can lệ.

Ngày rước dâu tui xin nhà bên vợ cho tui cái bảng: “Beware of the Dog”, “Coi chừng Chó dữ” về treo trước cửa nhà tui.

Em yêu hỏi nhà mình đâu có chó mà anh cần cái bảng nầy? Tui cười he he trả lời rằng: “Treo để hù thằng khác! Nhứt là thằng cha bưu tá phát thư; vì như em thấy đó con chó lúc nào thấy thằng chả là nó ùa ra sủa. Con chó còn hỏng tin thì mình ngu sao mà tin hé?

Đời mà em! Mình có vợ đẹp là đừng tin ai hết. Treo bảng coi chừng chó dữ cho nó chắc ăn.”

Kết luận: Chó và người! Chó luôn bị con người lợi dụng. Thiên hạ lợi dụng chó cho mưu đồ chánh trị xấu xa. Còn tui lợi dụng chó chỉ để bảo vệ tình ta thôi mà!

Happy New Year!