Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 22 Oct 2026



Hôm ấy là ngày 11 tháng 9 năm 1980. Tôi nhớ mãi ngày này vì đó là một ngày bão rừng khủng khiếp khi chúng tôi đang đi cải tạo. Trại tù K2 Thanh Phong nằm giữa vùng rừng núi mịt mù, xa tít tắp ở miền sâu Thanh Hóa gần với Hạ Lào. Tháng 9 dương lịch nhưng âm lịch là đầu tháng 8. Sau những trận mưa Ngâu dai dẳng, con suối thường ngày leo lét một dòng nước xanh ghê rợn, bước xuống rụng long chân, bữa nay cuồn cuộn một dòng nước đục lờ mang theo những cành khô củi mục chảy băng băng …
Như một điều bắt buộc, trại tù nào cũng phải nằm gần một “điểm nước”, tức là phải gần sông, gần suối để lấy nước ăn và cho tù tắm giặt. Cứ chiều đến, khi kẻng (một vỏ quả bom 250 ký) khua lên gắt gỏng 1 hồi 3 tiếng tan tầm, là tù các ngả kéo về đi tắm suối, mỗi đội một khu riêng cho dễ kiểm soát. Ở trên bờ có quản giáo ngồi trông và công an áp tải mang AK đứng gác. Mỗi đội tù chừng 35 đến 40 người thường có cả già lẫn trẻ “ngụy quân, ngụy quyền” lẫn lộn. Già thường là cấp bậc cao, trẻ cấp bậc nhỏ nhưng chức đội trưởng, đội phó thường được trại tù giao cho người trẻ vì trại cho rằng tổ chức như vậy có năng suất cao hơn.
Một bạn tù thâm niên nhận xét rằng: Cứ ở tù cùng đội với nhau chừng dăm ba tháng là biết nhau hết, cả thể xác lẫn tinh thần. Tinh thần anh ra sao cứ xem cách anh cư xử với cán bộ, với anh em, cách anh làm, anh ăn là biết liền. Còn thể xác thì chiều nào cũng cởi truồng tồng ngồng thế kia thì còn giấu vào đâu được nữa. Mà cũng không ai để ý đến vấn đề giấu giếm “cái của nợ” ấy làm gì, phiền phức, vô tích sự. Khi người ta đói quá, khát quá, bẩn quá thì người ta sống theo bản năng một động vật trước tiên và đó cũng là chủ đích của chế độ lao tù Cộng sản. Có con vật nào phải lo dấu cái “giống” của nó bao giờ đâu. Nhưng ở tình trạng động vật nguyên thủy thì anh già trông thảm hại hơn anh trẻ rất nhiều. Có ai ngờ cái anh trông như con đười ươi già, miệng rụng hết răng, tóc lơ thơ vài sợi bạc, trơ sọ dừa trắng hếu, bụng ỏng đít teo mà lại là chỉ huy phó một quân trường danh tiếng. Anh già kia thì lùn như cái nấm, lòi dom thoát ra ngoài cả tấc, vừa đi xuổng suối vừa ấn khúc ruột già kia vào hậu môn lại là tham mưu trưởng một sư đoàn. Một anh liên đoàn trưởng Công binh, cận thị nặng đến 9, 10 độ, kính xoáy vòng trong vòng ngoài như cái giếng, đi tắm lên không biết kính bỏ đâu, cứ bò như con cua. Còn anh kia, chân đi tập tễnh, ghẻ lở đầy người mắc bệnh thiên trụy cái bìu xệ một bên, sưng lên bằng cái ấm tích, cứ đi tắm là lê la ngồi xuống suối, gỡ từng cái vảy ghẻ mân mê … lại là Trưởng khối chiến tranh chính trị một quân đoàn. Mấy anh tù trẻ, còn có sức chịu đựng, còn mạnh chân khỏe tay, chắc thế nào cũng có lúc đặt câu hỏi: “Tại sao mấy anh già kia lại có thời là thượng cấp của mình được nhỉ?” Cái cảnh buổi chiều tù cải tạo đi tắm nó mang cái không khí “luyện ngục” trong Hài kịch thánh thần (La comédie divine) của Dante ngày trước.
Buổi sáng hôm ấy (11 tháng 9.1980) khi nghe tiếng mưa rơi tầm tã trên mái tôn, khi nghe tiếng sấm xa gần rền rĩ như ông Trời chuyển bụng, tôi đã nói với bạn tù và cũng là bạn “cờ” nằm cạnh: “Được lắm ông bạn ơi, ông Trời hôm nay điệu nghệ.” Điệu nghệ nghĩa là ngay từ sớm đã mưa rơi nặng hạt ngay. Mưa như thế thì tù mới khỏi ra sân “tập kết”, khỏi đi làm. Nếu chỉ sấm chớp nhì nhằng, mưa rơi lấm tấm là trại tham công tiếc việc cứ bắt tù phải xuất trại đi làm như thường. Đi làm trời mưa thì nhiều điều khốn khổ. Đường trơn mưa ướt, áo quần thiếu thốn lạnh run, nhưng mà cực nhất là cái nạn vắt. Những con vắt bầy nhầy, lần khân theo hạt mưa chui vào ống quần, bám vào tay, rơi xuống cổ. Giống vắt có biệt tài hút máu rất êm. Có anh bị vắt cắn suốt đêm sáng dậy thấy ngứa ngáy ở vùng hạ bộ, nhìn xuống thấy máu chảy tùm lum như đàn bà thấy tháng.
Cũng không phải trại thương gì tù cải tạo. Nhưng trời mưa nặng hạt, khả năng quan sát bị giới hạn, 1 quản giáo và 1 công an viên áp tải không đủ sức quán xuyến một hiện trường rộng rãi hàng 2, 3-hectare nên trại mới cho tù nghỉ, sợ tù trốn: Một điều cấm kỵ nhất của trại giam. Từ khi ra Bắc đến giờ, nghe nói anh em ta vượt ngục cũng nhiều nhưng ít khi nào đi thoát. Những anh nào trốn trại mà bị bắt lại thường là bị đánh chết ngay tại chỗ, hay là bị đem ra xử bắn, ít ra cũng bị kiên giam cho đến khi chân không đủ sức đi, mắt không còn đủ sức nhìn nữa mới thôi …
***
Được tổ đãi 1 bữa nghỉ ngơi như thế này, mặc kệ trời mưa, mặc kệ sấm chớp, chúng tôi, mấy anh em bạn tù trong “hội cờ” liền rủ nhau tổ chức một cái giải “vô địch trong lán”. Mỗi lán có 2 đội. Mỗi đội cử 2 người đại diện, bắt thăm đấu chéo như là vào bán kết. Giải thưởng là 1 gói mì “Con Cua” mà một nhà Mạnh Thường Quân trong lán mới được thăm nuôi trao giải. Trong khi đang đói mờ mịt, một gói mì “xuất khẩu” như thế kia thật vô cùng giá trị. Ở đội tôi xưa nay vốn có 1 tay cờ rất “chì”, nước “pháo gánh” của anh rất là kiên cố, ít ai phá thủng. Nhưng mà mấy bữa nay, anh bận rộn, không còn ngó ngàng gì đến cờ quạt nữa. Anh vừa được thăm nuôi. Kéo vô trại một xe cải tiến nào gạo, nào mì, nào cá khô, nào lạp xưởng, nào kẹo, nào đường … đủ thứ trên đời làm những con ma đói trong lán chảy nước miếng dài cả thước. Anh thường là người hay cùng anh em bàn bạc về thế cờ, và đặc biệt hay nói lời nghĩa khí, cứ như là Tống Giang sắp sửa cùng hào kiệt trong thiên hạ dựng cờ nghĩa “thế thiên hành đạo”. Mấy hôm nay anh bận rộn vì anh còn phải lo “quản lý” số quà mà anh vừa được nhận. Anh xếp quà của anh thành một đống như cái mả Đạm Tiên ở đầu nằm; anh lấy bao nylon, lấy vải bố che chắn cẩn thận, và hình như anh còn làm dấu y như là điệp viên 007 làm dấu nơi lưu trữ tài liệu mật. Khi đi đâu về, anh nhìn ngó đăm đăm xem có mất dấu không?
Có suy suyển chút nào không? Nằm cạnh bên anh là một người bạn tù đồng khóa. Khi gặp lại nhau trong tù sau một cuộc chuyển trại, lại được về cùng đội với nhau thì hai anh thân thiết với nhau lắm. Hai anh, một anh thấp, một anh cao nhưng mà xem ra tương đắc. Đến bữa, hai anh vẫn thường ngồi với nhau chia nhau từng củ sắn, lát khoai …Nhưng từ khi anh bạn cờ, thấp-người-tính-kỹ có thăm nuôi thì anh bận rộn quá mà quên đi người bạn cũ, không còn ăn uống chuyện trò với nhau nữa. Anh rất nghiêm, ít cười, ít nói quan trọng hẳn lên.
Ở trong trại bấy giờ đội văn nghệ đang tập vở cải lương “Làm lại cuộc đời” trong đó có một câu hát rất được truyền tụng: “Từ ngày cô ấy bỏ đi, ông đại tá trở nên buồn rầu …”
Bây giờ thấy anh bạn già thấp người tính kỹ bỗng chốc hóa ra người nghiêm nghị, anh em trong đội liền “tự biên tự diễn” mà hát rằng “Từ ngày ông ấy thăm nuôi, mặt ông ấy trở nên lạnh lùng … “
***
Trại K2 được thiết lập trên một ngọn đồi thấp ngay bên bờ suối. Ngọn đồi trước đây là khu nhà mồ của đồng bào thiểu số, mới được san lấp đi làm trại tù. Chắc là trên ngọn đồi này ngày trước cây cối um tùm lắm vì bên các lán trong trại bây giờ vẫn còn nổi lên những gốc cây bằng lăng được phạt sát gốc. Trong những giờ phút nghỉ ngơi, anh em tù thường coi gốc bằng lăng như một cái bàn thiên nhiên để ăn cơm, uống nước.
Hai bạn tù chia tay
Ăn bữa cơm tương biệt
Bên gốc cây bằng lăng
Một chiều đông gió rét
Bày hai chén bo bo
Đĩa nước muối trong suốt … (PLP)
Vì là đất đồi nên các lán tù nằm trên những thế đất cao thấp khác nhau. Chỉ có sân tập kết ở giữa trại, trước hội trường là tương đối bằng phẳng và cao ráo nhất. Đây là một trại tù “dã chiến” mới thành lập ở rừng sâu, phạm nhân toàn là loại ác ôn, nợ máu. Lán của chúng tôi nằm thấp nhất, sát hàng rào cấm, bên một gốc bằng lăng cao vút còn sót lại. Ở cái lán này mùa nực mát hơn vì gần nước lại nhờ được ẩn nấp dưới tàng cây. Nhưng mùa rét thì lại lạnh hơn nhiều. “Đến mùa gió bấc thổi nguồn cơn thật bối rối” vì bao nhiêu gió từ dưới suối thổi lên, lán chúng tôi nhận hết. Nhưng cái đáng ghê sợ nhất là vì gần sông, gần suối nên lán chúng tôi nhiều chuột, nhiều rắn hơn các lán kia nhiều. Chuột “xã hội chủ nghĩa” ở đây nó “khinh người” lắm, cứ khơi khơi chạy qua chạy lại kiếm ăn, coi tù không có kí lô nào hết. Hay là vì nó sinh sôi nảy nở nhanh quá mà không có gì ăn nên bất cứ ở đâu có hơi bột, hơi đường, hơi mỡ là chúng đổ xô đến nhấm nháp, cắn phá tưng bừng. Cứ chập tối sau khi phát “cái gọi là cơm” xong, cán bộ trại giam đi kiểm soát tù và bắt đầu điểm danh vào lán. Các đội phải đứng ngoài sân, xếp hàng đôi rồi lần lượt vào buồng. Một bữa, đang đứng nghiêm trong hàng, một bạn tù bỗng nhiên mặt mũi thất thần, miệng kêu ú ớ, chỉ tay vào buồng. Nơi anh nằm, có suất bánh mì luộc buổi chiều chưa ăn, hai con chuột cống đang hè nhau ngậm chiếc bánh của anh khiêng đi. Chạy vào được đến nơi thì chuột đã tha suất bánh của anh vô nhà cầu rồi băng ra ngoài đồng mất dạng.
Trong đội tôi còn có một anh già nguyên gốc biện lý được anh em phong chức “Phân cục trưởng” bởi vì anh chuyên trách nhà cầu. Lán nào cũng có một nhà cầu ở cuối. Tối đến, trại nhốt tù vào trong buồng, cửa đóng then cài, xích sắt quàng vô khóa lại là tù cứ việc ăn ngủ, họp hành, ỉa đái luôn trong đó. Hôm sau, cái việc dọn dẹp cứt, đái để riêng ra một nơi cho đội rau làm phân bón là công việc của phân cục trưởng. Trong cái nghề này, cái cần thiết nhất là xà bông. Thiếu xà bông là khó mà hành cái nghề này suôn sẻ được. Làm việc xong, người anh từ đầu đến chân nó hôi thối quá. Mà xà bông trại phát vừa không đủ dùng, vừa bèo nhèo, thiếu chất lượng. Anh em nào có quà, hay có thăm nuôi tặng ông biện lý già cục xà bông là ông nhe răng sún “vô cùng cảm tạ”. Ông vừa nhận được từ người bạn thân nửa cục “xà bông Cô Ba” từ miền Nam gửi ra. Ông quý lắm, không dám để xà bông ở ngoài mà gói cục xà bông lại, nhét vào túi quần nhà binh cũ, chui vào màn đi ngủ. Nhưng sáng dậy, ông thấy chuột đã cắn thủng màn, cắn thủng luôn cả cái quần nhà binh, tha cục xà bông quý giá của ông mang đi. Thấy chuột “xã hội chủ nghĩa” nó phá tù quá mạng, một vài anh em mới phát biểu riêng với nhau rằng “tại sao chuột nó chơi mình như vậy mà mình không chơi lại nó. Mình đang đói lòi xương lõ đít mà mỗi con chuột không phải là một cục chất đạm hay sao?” Phát biểu nghe được quá. Từ đó đêm đêm có phong trào đập chuột. Chuột đập xong đem vô nhà cầu, kiếm con dao “tự biên tự diễn” làm bằng nẹp sắt, cắt bỏ đầu, bỏ ruột vứt chuồng xí rồi lấy giấy đốt lên, nướng chuột mà ăn. Chuột nướng giấy sơ sài chỗ sống, chỗ chín nên trong ngữ vựng tù có thêm danh từ “chuột tái”.
Ở trong tù có câu châm ngôn “cái gì nhúc nhích là ta chén liền” nhái bắt được còn xé xác ăn sống, con rết nghìn chân thuộc loại độc vật mà tù vớ được cũng nướng lửa sơ sịa, vặt bỏ đầu, tách vỏ bỏ đường gân đỏ chạy suốt sống lưng đi rồi nhai ngấu nghiến, ngọt như tôm. Chuột mà nướng ăn là “đẹp” quá. Chuột đồng, chuột chù, chuột cống, chuột nhắt, nhiều thứ chuột, nhưng đối với tù không có “phân biệt đối xử”, chuột nào cũng ăn được hết. Trong số những người đập chuột và nướng chuột ăn, người tích cực nhất là ông bạn già phân cục trưởng của tôi. Chắc chuột cắn màn, cắn quần áo của ông, cắp đi cục xà bông quý giá nên ông thù giống chuột. Hay là ông bạn tôi đói quá, thèm chất đạm, nên mới hăng say đến thế. Trong cái ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn dầu vặn nhỏ, tôi thấy ông bạn Biện lý của tôi từ trong nhà cầu đi ra, trên miệng còn dính một chút máu, chắc là từ một miếng thịt chuột nào chưa chín hẳn.
Trong lán, mới đầu chỉ có dăm ba người đập chuột, nướng chuột. Sau này phong trào phát triển lên tới 7, 8 người. Mà cái nhà cầu nhỏ xíu làm sao chứa được nhiều người như vậy. Chuyện sầm xì đến tai cán bộ – mà trong lán cũng không thể nào tránh khỏi mấy đứa “thối mồm”, ăng ten ngắn, ăng ten dài cho quản giáo. Một cuộc họp trong lán được đề ra nhằm ngăn cấm tuyệt đối chuyện nướng chuột trong nhà cầu. Vấn đề không đơn thuần là “đói quá nướng chuột ăn” mà được nâng lên hàng quan điểm, thành ra “âm mưu đốt trại, phá nhà tù”.
Trong các trại tù tôi đã đi qua mẫu số chung là nơi nào cũng rất nhiều chuột. Trong trại tù Tân Lập (Vĩnh Phú) tôi có kinh nghiệm đau thương về chuyện này. Vĩnh Phú gần Sơn Tây quê cũ, nên vợ chồng cô em gái tôi còn lại ở quê nhà tới thăm nuôi. Để tiện cho việc bồi dưỡng khỏi phải nấu nướng lôi thôi, vợ chồng cô em mang cho 5 kí bánh “bích quy” khô; cứ mang theo 5, 6 cái bánh ăn giữa buổi là vững bụng rồi. Vừa mới thăm nuôi, chưa kịp ăn, bánh còn để dưới gầm sàn, hôm sau, đụng đến gói bánh đã thấy chuột ăn hết không còn một miếng, chỉ còn gói giấy bèo nhèo – đựng mấy cục cứt chuột tròn xoe. Chuột ở đây đang thừa thắng xông lên, chuột lộng hành như trong “Trại súc vật” của G. Orwell.
***
Ngoài cái nạn chuột, lại còn cái nạn rắn. Ở đâu cũng gặp cái giống bò sát kinh hoàng. Những con rắn hổ mang to bằng cườm tay, thấy đoàn tù đi ngang đột nhiên cất cao đầu, phì mang bạnh thở phì phì, cái lưỡi đỏ chẻ ra làm 2 ngạnh thò ra thụt vào như một mũi đinh ba tẩm thuốc độc. Ở trên cây, những con rắn lục xanh rờn màu lá ngón (1), “bay” từ cành này sang cành khác lẹ như tên. Tù nhân không ai bảo ai, tới trại K2 này mỗi người đều tự sắm cho mình 1 cái gậy. Để chống mà đi những khi lên đèo, xuống dốc nhưng cần thiết nhất là nhỡ có gặp rắn dọc đường thì có cái mà phòng thân. Gậy này không cần to, không cần cứng mà cần nhẹ mà dẻo. Lấy được một khúc song (một giống mây rừng to bằng ngón chân cái) làm gậy là tốt nhất. Vừa đủ chắc lại có độ đàn hồi khi chống đi lên dốc, vừa nhẹ nhàng dễ sử dụng. Một anh bạn tù nguyên là biệt kích, đã học qua khóa chiến tranh rừng rậm, sình lầy cho biết rằng “đừng có sợ rắn, rắn nó phải sợ mình”. Anh bạn tù biệt kích này cho anh em nhiều kinh nghiệm quý giá. Anh chỉ cho bạn tù cách đánh rắn – “Phải phạt ngang cổ rắn, đừng bổ thượng” – cách chọn nấm hoang “nấm nào nhiều màu sắc ly kỳ đừng có đụng vào”, cách chọn trái cây trên rừng “trái nào chim ăn được là mình ăn được”.
Anh cho hay là quy luật mưu sinh trên rừng là phải nghi ngờ những gì có nhiều màu sắc. Nấm màu đỏ, màu xanh, màu nâu sậm là nấm độc. Con rắn độc nhất, nguy hiểm nhất là con rắn có nhiều màu, con rắn mai gầm có khúc đen, khúc trắng, khúc vàng. Những con rắn màu nâu nhạt thường lao vun vút qua đường, hay là bơi ngoe ngoảy trên sông dưới suối kia là không có gì đáng sợ cả. Đó là rắn nước, cắn không nguy hiểm gì, mà thịt nó ngon lắm. Anh bạn biệt kích này là người giải tỏa phần nào cho anh em cái “mặc cảm” rắn. Một hôm trên đường đi lĩnh gạo trên K1 về anh mang theo xác một con rắn hổ trâu to bằng cổ chân, dài hơn cái đòn gánh, anh hạ được dọc đường. Giữa hiện trường không có gia vị nào khác, anh liền bày ra món ăn tại chỗ “rắn nướng sả ớt”. Sau bao ngày them thịt, thèm mỡ, món rắn nướng kia rất hạp khẩu vị anh em. Từ đó, tù không những không sợ rắn mà còn tìm rắn mà “ăn”. Chỉ có rắn lục trên cây là tù chưa với tới được, còn rắn hổ mang, hổ trâu, hổ đất, hổ hành, hổ gì đi nữa tù cũng đập chết nướng lên ăn. Hết ăn rắn là ăn con rết. Ở đây rết rừng rất to, bằng 2 ngón tay, dài cả tấc. Từ một gốc cây ẩm mốc, con rết rừng nghìn chân màu đỏ sậm chạy rào rào trên lá khô giống như một đoàn tàu hỏa đang di chuyển. Đập phải mau tay mau chân kẻo nó cắn cho một cái là mang họa. Rết cắn không chết người nhưng chỗ bị rết cắn sưng to, đau nhức vô cùng. Ăn con rết này cũng là do anh bạn biệt kích kia chỉ vẽ. Đập chết con rết xong, lấy một nhánh tre phạt nhọn đầu, xọc vào bụng con rết, nướng than. Khi thấy vỏ cứng bên ngoài con rết nứt ra là chín. Bỏ đầu, gỡ vỏ, thịt rết trắng bóc, ngon và thơm như tôm càng. Anh em tù gọi rắn là “cá trên cây”, gọi rết là “tôm dưới đất”.
Đi làm ngoài hiện trường, anh em tù liền lợi dụng thời gian hút thuốc, uống nước để đi “cải thiện”, đánh rắn, đập rết, hay là mò con cua, bắt ếch nhái nướng ăn. Giờ nghỉ nửa buổi, thường kéo dài chừng 15 phút, anh em đem chiến lợi phẩm ra chỗ lều đun nước, nướng lên. Thét rồi, tù đi cải thiện đi kiếm ăn nhiều quá, mất công mất việc nên quản giáo mới ra nghiêm lệnh “đúng theo nội qui của trại, phải ăn nóng, uống sôi, không được nướng rắn rết, ếch nhái, không được ăn uống sống sít nữa.”
***
Trong khi anh em đói dài phải cật lực kiếm ăn trên rừng, dưới suối thì ông bạn thấp người tính kỹ vẫn vững như kiềng ba chân. Ông vừa có cả một cái mả Đạm Tiên những đồ tiếp tế xếp trên đầu nằm. Thiếu gì thức ăn. Có hôm ông mang theo một nửa gói mì xuất khẩu để sẵn vào cái lon guigoz. Đến giờ nghỉ ông ra lấy nước sôi đổ vào. Độ chừng vài ba phút, ông ngồi riêng ra một chỗ, mở nắp lon guigoz, lấy cái muỗng “i-nốc” xì xụp múc ra ăn. Có hôm ông mang theo ít bánh mì khô cùng với một gói đường trắng, giờ nghĩ ra bờ suối ngồi ăn bánh mì chấm đường lắc cắc. Ông bạn già đồng khóa với ông, cao người mà ốm yếu, đến giờ nghỉ cứ thấy ngồi một chỗ, không thấy chạy đi chạy lại lo kiếm thêm miếng ăn, miếng uống như người ta. Ngay cả lá rau, trái ớt ông cũng không màng đến. Có người giục giã thì ông chép miệng nói rằng “tôi già rồi, chậm chân chậm tay, nghỉ ngơi vài phút là hơn.” Ông bạn thấp người, tính kỹ khi ăn uống xong thường la cà vào chỗ người bạn già đồng khóa, vừa xỉa răng vừa nói “cái mì Con Cua dạo này ăn được lắm. Chả thua gì mì Thái Lan”. Hoặc là “cái bánh mì khô này nhà tôi mua ở Như Lan đấy. Nhất Sài gòn. Để lâu mà ăn vẫn cứ ròn như thường.” Anh bạn già đồng khóa nghe xong nuốt nước miếng mà không biết trả lời sao. Anh bạn biệt kích vốn người còn trẻ, lại hay “sốt tiết” nên mới thưa lại với ông bạn thấp người tính kỹ rằng “của ông thì ông ăn, nhưng ăn xong xin ông tha cho, đừng hành hạ con tì con vị anh em nữa.”
Một hôm, ông bạn già thấp người tính kỹ lại biểu diễn một màn đặc sắc. Ông mang ra hiện trường cả một cây lạp xưởng dài bằng gang tay đỏ ngời bóng lưởng. Đến giờ nghỉ ông lấy cành tre xọc vào cây lạp xưởng mà đem nướng. Mùi mỡ chảy xèo xèo, mùi thịt nướng cháy cạnh, bay lên thơm nức. Chợt một tiếng quát, từ anh công an áp tải mang AK, vang lên:
– Anh kia … cải thiện linh tinh, nướng con gì?
– Tôi nướng lạp xưởng.
– Nấu nướng vi phạm nội qui. Vứt đi ngay, vứt … Tôi bảo vứt đi ngay …
– Không, đây là lạp xưởng.
Anh công an áp tải đi lại gần hơn, nhìn kỹ, gặng hỏi:
– Lạp xưởng là con gì? (1)
– Nó không phải là con gì, mà là thịt nướng.
Anh công an cúi đầu xuống gần hơn, nhìn kỹ, hít một hơi dài rồi nói khẽ:
– Á à, thơm nhỉ.
***
… Trong sự lộng hành của chuột, ở trong lán chúng tôi ông bạn thấp người tính kỹ dạo này phiền hơn hết. Cái đống quà của ông bị chuột hỏi thăm đều đều. Nó cắn rách vải, gậm nát bao nilon lôi mì của ông ra ăn. Cái gói cá khô, lạp xưởng ông đã cẩn thận treo lơ lửng trên đầu nằm, tưởng rằng chuột không cách gì với tới, nhưng đêm đến chuột theo giây màn cũng leo được tới nơi, tha cá khô của ông ra nhấm nháp. Chuột không những cắn phá ban đêm, ban ngày chuột cũng làm ăn tích cực. Ban ngày anh em đi làm vắng cả, chỉ có ông bạn “phân cục trưởng” trực buồng làm vệ sinh, quét dọn là quanh quẩn trong lán, hoặc thỉnh thoảng có anh em nào ốm đau không đủ sức lao động mới được ở nhà. Ông bạn biện lý trực buồng cũng không phải lúc nào cũng ở trong buồng. Ông phải gánh phân, đổ nước tiểu, dọn dẹp, làm vườn, dọn cỏ, quét tước trong ngoài, rồi xong việc còn phải ra ngoài đi tắm; trong khi ông biện lý trực buồng bận rộn ở ngoài, ở trong chuột tha hồ làm loạn.
______________________________________________________________________________________
(1) Lạp xưởng là món ăn riêng của dân thành thị ngoài Bắc. Ở miền quê, từ khi cải cách ruộng đất, món ăn của tư sản, phong kiến như lạp xưởng không còn tồn tại.
Vài bữa nay, ông bạn cao-người-đồng-khóa nằm sát bên ông bạn thấp người tính kỹ, lên cơn sốt rét nghỉ ở nhà. Ban đêm khi lên cơn rét thì nó rét từ trong xương rét ra, rét rung giường chuyển chiếu bao nhiêu áo mặc cũng không vừa, mặc cả áo mưa, chui đầu vào bao tải mà vẫn không hết rét. Ông bạn trẻ biệt kích thương anh già lạnh quá, nằm đè lên người cho ấm mà cũng không thấm vào đâu. Ban ngày hết cơn sốt rét thì nó lại lên cơn sốt nóng. Nóng vàng da vàng mắt, mồ hôi vã ra như tắm, người bải hoải như từng đốt xương sắp sửa long ra, tay chân gân cốt rã rời nhấc không muốn nổi. Hình như có một đàn kiến vô hình nó đang âm thầm rúc rỉa máu xương mình. Mình đang sống hay mình đang chết đây, mình tỉnh hay là mình mê đây. Mình đang thoát xác bay lên thiên đường hay là đang hốt hoảng sa vào địa ngục. Đang bàng hoàng tỉnh tỉnh mê mê, ông bạn cao-người- đồng-khóa bỗng giật mình thức dậy. Anh em đã đi làm về. Bên đầu nằm, ông bạn thấp-người-tính-kỹ đang trong cơn giận dữ:
– Thế này thì quá lắm rồi. Hết chuột phá đến người phá … Ông chỉ những hạt đậu phọng, những cọng mì rơi vãi cạnh đống quà của ông, mà nói:
– Thế này là người ăn chứ đâu phải là chuột ăn. Người nằm chình ình thế này, chuột đâu có dám …
Cái mà ông thấp-người-tính-kỹ gọi là “người” ở đây thì còn ai vào đây nữa, chỉ có ông hay là ông biện lý trực buồng ở nhà, nhất là ông lại nằm ngay bên cạnh. Đang sốt mà ông nghe trong miệng tràn lên một nỗi đắng cay. Tình ngay lý gian, ông không biết nói làm sao nữa. Ông nghiến răng lại mà tập nhịn cho quen; chợt có một bàn tay nắm lấy tay ông. Nhìn lên thì là ông bạn già biện lý. Ông bạn già bưng một cái lon guigoz còn tỏa khói, ngồi xuống mà nói rằng:
– Thôi ông ơi, chuyện đâu còn có đó. Còn sốt quá đây mà. Tôi sáng nay ra suối, kiếm bậy ít rau sam, lấy chút cơm khô nấu cho ông bát cháo …
***
Cái lán của đội chúng tôi thấp nhất trại, nằm bên hàng rào cho nên ngoài chuột, rắn cũng hay lên đây kiếm chác. Rắn tới bờ suối kiếm ếch nhái, hay là quanh quẩn bên nhà, kiếm chuột. Thỉnh thoảng lại nghe vng lên tiếng kêu thảm thiết của một con ếch, con nhái nào xấu số bên bờ suối đang bị rắn ăn. Rắn ngậm con mồi trong miệng, nuốt dần, con ếch, con nhái sắp chết vẫn cố kêu lên những tiếng kêu cứu cuối cùng tuyệt vọng. Nhưng dạo này ban đêm, chúng tôi lại nghe thấy một tiếng kêu rùng rợn khác. Không phải tiếng chí chóe thường ngày của ếch nhái, mà là tiếng kêu chít chít liên hồi và khẩn cấp của một con chuột nào đang bị rắn nuốt dần vào cổ họng. Tiếng chuột kêu rít lên trong đêm rồi sau đó nghẹn dần trong bóng tối. Chúng tôi nghĩ đến những con rắn mai gầm trườn đi trong đêm khuya, khoang đen, khoang trắng, khoang vàng, thứ rắn độc nhất chuyên kiếm ăn buổi tối.
Ông bạn già biện lý trực buồng cho hay là chỗ gốc cây bằng lăng trong hàng rào có một tổ rắn mai gầm cực lớn. Có lần đi dọn rác, ông đã nhìn thấy những khúc đen, khúc vàng, khúc trắng to bằng cườm tay trườn đi lừ lừ từ hố rác vào gốc cây. Một đôi rắn mai gầm “cổ thụ”. Giống rắn này kịch độc, cắn là khó thoát, chỉ ít phút sau là người nạn nhân tím ngắt, trào đờm … cho nên để bù trừ, giống rắn này chậm chạp. Nếu giống rắn này nhanh và dữ như rắn hổ mang, chắc người chung quanh khó sống. Thấy rắn mai gầm cỡ lớn mà bạn tôi, tay biện lý già sẵn có đòn gánh trong tay mà không dám đánh. Làm sao đánh được một lúc 2 con. Nhỡ ra một con chạy thoát, hoặc đánh chẳng dập đầu, biết đâu rắn chẳng đi trả thù, báo oán. Tổ rắn lại nằm dưới gốc cây bằng lăng, trong khu vực hàng rào trại, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Ông bạn biện lý trực buồng đã có lần chỉ cho thấy bên rãnh sau nhà, hai vệt tròn dài bằng cườm tay in hằn trên nền rãnh ướt. Dấu vết di động của đôi vợ chồng rắn mai gầm đi kiếm ăn. Loại rắn này, theo truyền thuyết dân gian, thích ăn tàn lửa, tro than, cho nên ở nhà quê, tối trời thắp đuốc đi đêm khi về gần tới nhà phải dụi đuốc xuống ao chuôm, không để tàn lửa rơi vãi gần nhà, sợ rắn mai gầm tìm đến. Cũng theo anh biện lý trực buồng thì từ khi có phong trào đập chuột, nướng chuột trong nhà cầu, đôi vợ chồng rắn mai gầm mới đi tìm tàn lửa vào trong lán kiếm ăn, đồng thời rình chuột. Chuột ở trong lán, càng ngày càng sinh sôi nẩy nở quá nhiều. Chuột quá nhiều cho nên đã xảy ra “tai nạn”. Một anh tù già yếu thận, ban đêm phải dậy đi đái vài ba lần. Đêm tối nhập nhoạng một ngọn đèn dầu, anh già mắt nhắm mắt mở cứ thế mà bước cao bước thấp vào nhà cầu. Chuột quá nhiều không thèm tránh người nên anh già mới giẫm phải 1 con chuột cống. Con chuột cống, để trả thù hay để thoát thân đã cắn anh tù già một cú ngập răng vào cổ chân, máu ra lênh láng. Đêm đêm nghe tiếng chuột đang chết dần trong miệng rắn rít lên thê thảm lúc ở đầu nhà, lúc ở sau nhà, đám tù hiểu rằng trong lán này đang có một cặp rắn mai gầm đang cuộn khúc đâu đây rình rập. Giẫm phải một con chuột thì nhiều lắm là bị thương chảy máu, nhỡ giẫm phải rắn mai gầm, nó bập cho một phát thì tránh sao khỏi trợn mắt, trào đờm. Tay biệt kích chuyên môn về mưu sinh thoát hiểm cũng phải nói “Ban ngày mình không sợ bất cứ loại rắn nào. Nhưng ban đêm thì phải nể loài kịch độc.. “
Trong giấc ngủ chập chờn của tù cải tạo, có ánh lên rờn rợn những vảy rắn mai gầm lấp loáng …
***
Mưa rơi tầm tã từ nửa đêm. Sáng ra mưa lại càng nặng hạt. Mưa lớn, tù được nghỉ đi làm, hội cờ “chung kết” giữa hai đội trong lán càng lúc càng căng thẳng. Ngũ, lục pháo đụng bình phong mã, cả 2 kỳ thủ không ai chịu nhường ai. Đánh đến gần trưa, mà tỉ số vẫn còn 1-1, cái giải “gói mì con cua xuất khẩu” không biết về tay ai. Con suối nằm bên cạnh trại, đã trở thành một con sông lớn. Hôm nay, không đội nào xuất trại, nên bữa trưa không có rau cỏ gì, anh em ăn sắn luộc chấm nước muối. Những khi trời mưa như thế này, suối nhỏ trở thành song lớn thì miền thâm sơn cùng cốc Thanh Phong bị sông suối cắt ra thành từng mảnh nhỏ, ở đâu ở đó, không còn thông thương liên lạc gì với nhau được nữa. Có khi “chớp bể mưa nguồn” kéo dài hàng tuần lễ, xe lương thực vào không được, tù lẫn cán bộ đói dài dài. Đến quá trưa ngày 11 tháng 9 năm 1980, tù trại K2 Thanh Phong nhớ mãi ngày này, vì mưa càng lúc càng to, mưa rừng kinh khủng quá. Mưa như bao nhiêu nước ở trên nguồn dưới bể tích tụ hết về đây, đem đổ lên ngàn. Mưa như thác dội, như trống ngũ liên báo lụt gõ thình thình trên mái tôn. Không những mưa lại còn bão nữa. Sấm chớp đùng đùng. Hội cờ chung kết đành phải bỏ dở nửa chừng vì anh em vừa phát hiện nước suối đã dâng cao, mấp mé lán chúng tôi, ở địa thế thấp nhất của trại. Càng về chiều mưa càng to, bão càng lớn. Nước bây giờ đã bắt đầu tràn vào lán chúng tôi. Đã có loa thông báo của trại, lán ở dưới thấp sửa soạn di tản lên hội trường, ở giữa trại, nơi tương đối cao ráo nhất. Một vài anh em định đội mưa mà đi, nhưng vừa ra khỏi lán lại vội trở vào ngay vì mưa quá to, bão quá lớn. Những lán ở trên cao, bão làm bật tung những mái tôn bay vun vút ngoài sân. Gió quá mạnh muốn bay người lên khỏi mặt đất. Những tấm tôn bay đụng vào cây cối, rít lên những tiếng kinh hoàng. Đi ra ngoài mà bị những tấm tôn kia chém phải chắc khó toàn tính mạng.
Lán chúng tôi thấp nhất, lại ở dưới tàng cây bằng lăng nên khuất gió mái nhà tôn không bị bão hất tung lên. Nhưng nước suối đã bắt đầu ngập trong lán. Những con chuột tránh lụt, bơi lõm bõm, bò lên sàn chỗ chúng tôi nằm, chạy vung tứ tán. Trong cơn giận dữ của đất trời như thế này, không ai tính đến việc đập chuột, vì có đập được cũng không biết lấy gì mà nướng. Trong khi đó bạn tù biệt kích lại lăm lăm cầm trên tay cây gậy dài bằng song. Lúc ấy giờ, mưa gió ầm ào, sấm rung, bão giật cho nên nói không còn ai nghe được nữa. Bạn tù biệt kích ngúc ngoắc hai tay làm dấu rồi cầm gậy đập ra cái ý rằng nước lụt, rắn giống như chuột có thể bò lên sàn, phải sẵn sàng mà đánh rắn. Nước dưới sàn lên rất mau, vừa ngập chân cột đã mấp mé tầng dưới. Nhà tù nào của Việt cộng, nhà “chính quy” cũng như nhà “dã chiến”, đều có 2 tầng, tầng dưới và tầng trên. Nhà tù chính quy thì tầng dưới bằng xi măng hoặc gỗ, tầng trên lót ván. Nhà tù dã chiến như trại Thanh Phong này hai tầng đều làm bằng cây rừng lót phên. Để sửa soạn cho việc di tản của lán chúng tôi, cán bộ trại tù và lính công an bảo vệ, đã cởi trần đội mũ cối, mang súng AK, đem dây thừng buộc từ lán chúng tôi qua những hàng cây mọc bên đường trong trại cho lên tới hội trường, để tù nắm theo dây thừng mà bước, không bị nước lụt cuốn trôi hay gió bốc bay đi. Phần khác, quan trọng hơn, sợ nước lụt tù trốn nên cán bộ và lính công an luôn luôn có mặt tại chỗ sẵn sàng can thiệp.
Phần lớn anh em tù trong lán đều trên răng dưới “lựu đạn” nên khi nước sắp ngập từng dưới, anh em tự động rút lên từng trên. Chỉ có ông bạn già thấp-người-tính-kỹ, vì có cả một cái mả Đạm Tiên quà cáp nên ông phải lo chuyển quà lên hội trường cho chắc ăn. Quà cáp khá nhiều ông phải chia ra làm 2 gói lớn, bọc giấy nilon bên trong, trùm mền bên ngoài cẩn thận. Ông chỉ vận cái quần đùi, trên mặc áo thun, ngoài dậm thêm một cái áo mưa, đầu đội mũ cối để nhỡ mái tôn có va phải đầu cũng không đến nỗi nào. Ông khoác gói quà lên lưng, nhún nhẩy vài ba cái lấy đà rồi ông mới bước ra ngoài lán. Lúc bấy giờ nước trong lán đã lên cao, đến ngang ngực ông bạn thấp người tính kỹ. Hôm nay mưa gió từ sớm nên ông bạn già biện lý “phân cục trưởng” chưa kịp làm ăn dọn dẹp gì hết. Những cục phân từ trong nhà cầu bập bềnh nổi trên mặt nước, cục vàng, cục nâu sậm trôi đi.
Vừa bước ra khỏi lán chợt ông bạn thấp-người-tính-kỹ hét lên một tiếng thất thanh chúi người ngã xuống. Ở ngay chỗ ông vừa ngã, thấy có nổi lên những khúc vàng, khúc trắng, khúc đen uốn lượn trên làn nước đục. Đôi vợ chồng con rắn mai gầm tránh lũ lụt vừa bơi đến, có lẽ cũng từ trong nhà cầu thoát đi. Mọi người chưa kịp định thần thì bỗng có một người nhảy ùm ngay xuống. Đó là ông bạn cao-người-đồng-khóa nằm bên cạnh, đang sốt rét ngã nước, thấy bạn lâm nguy nên vội vàng nhảy tới tiếp tay, bất kể ông đang đau ốm, bất kể mưa to bão lớn, bất kể đôi vợ chồng rắn mai gầm kịch độc, bất kể ông bạn láng giềng đồng khóa đối với ông “của nặng hơn người”. Ông nắm vội được tay ông bạn thấp người tính kỹ, lôi dậy và định kéo ông trở lại trong buồng. Hai anh già, một ốm yếu, một đang sợ hãi thất thần nên cứ lúng túng mãi ở cửa lán, nước đang réo ầm như thác. Ông bạn biệt kích phải nhảy xuống mới đưa được hai ông bạn vào nhà. Ông bạn thấp người tính kỹ tuy đã ngã xuống mà tay vẫn còn nắm được gói quà. Đem vô nhà, đưa vội lên từng trên, xem trong người có bị vết rắn cắn nào không? Cả 3 người vừa ở dưới nước lên, không ai bị vết cắn nào. May mắn làm sao cái giống rắn mai gầm kịch độc mà hiền, không mổ bậy. Trời đã sâm sẩm tối mà cơn thịnh nộ của đất trời không
giảm. Nước bây giờ đã ngập đầy nhà và mấp mé tầng trên. Ngồi trong cửa sổ nhìn ra thấy cây cối xa xa cúi rạp đầu trước cơn bão lớn, nước mênh mông bể Sở sông Tần. Nhìn mái nhà nổi trên mặt nước tôi bỗng liên tưởng đến cơn Đại Hồng Thủy trong Thánh Kinh, mái nhà này là chiếc bè của Noah mang theo những tàn tích cuối cùng của con người và muông thú.
Ông bạn biện lý trực buồng ướt như chuột lội, lần theo dây thừng xuống bếp trở về cho hay buổi chiều không có cơm cháo gì. Nhà bếp cũng đang chạy lụt không thổi nấu. Nghe tiếng rú của bão rừng từ xa, cộng với những tiếng ầm ầm dậy đất, lán tù rung lên từng đợt, chúng tôi biết là có những cây đại thụ trong rừng vừa ngã xuống. Liệu cái nhà này còn đứng vững được bao lâu. Mỗi khi cơn bão kéo tới, chúng tôi thấy như có thiên binh vạn mã đang chạy rầm rập trên đầu, mái nhà tôn rung rinh chao đảo. Một vài bạn tù lấy tấm mền đội lên đầu, giả thử như cái nhà có đổ xuống cũng đỡ được phần thương tổn. Trong sự căng thẳng và sợ hãi tột cùng chợt vẳng lên những tiếng kinh cầu “Jêsu Ma lạy Chúa tôi”, “Lạy Đức Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn.” Chợt một tiếng sét nổ ngang trời kèm theo một tiếng rầm kinh thiên động địa, cái nhà chợt sáng lên chao đảo như muốn chúi xuống nước. Một tiếng thét “Cây bằng lăng đổ rồi”. Từ tầng trên căn nhà nhìn xuống, thấy cây bằng lăng dài bằng suốt 1 căn nhà ngã nằm dài ngay bên cạnh lán, chúi xuống suối, gối đầu vào hàng rào trại. Cây đổ kỳ diệu như có một phép lạ thần thông tránh không phạm vào lán của đám tù nhân khốn khổ. Tù còn đang thảng thốt, chợt có tiếng súng AK nổ liên hồi ngoài cửa. Cán bộ trực trại cùng công an bảo vệ súng ống lăm lăm, mặt đằng đằng sát khí bước vào hô lớn “Ai ở đâu ở đó, điểm danh?” Cây cổ thụ bằng lăng đổ xuống hàng rào vô hình trung đã mở một lối ra cho đám tù cải tạo. Lán chúng tôi nằm ngay cạnh đó nên phải kiểm soát đầu tiên. Mấy anh bạn tù lên hội trường từ sớm cũng được gọi về đủ mặt. Điểm đi điểm lại thấy thiếu mất một người:
Anh bạn biện lý già “phân cục trưởng”, trực buồng.
– Có ai thấy anh trực buồng đi đâu không? Cán bộ trực gay gắt hỏi. Một bạn tù trong lán ngập ngừng cho biết:
– Mới thấy anh trực buồng ôm cái can nhựa, nói là đi xuống bếp lấy nước uống cho anh em.
Cán bộ trực xuống bếp, lên hội trường, sục sạo các buồng bên cạnh cũng không thấy anh biện lý già đâu cả. Công an lùng sục, đèn bấm loang loáng trong đêm, mà vẫn không tìm thấy người vắng mặt. Anh bạn già biện lý đã theo nước lụt thoát qua hàng rào chỗ cây bằng lăng vừa đổ ra đi. Anh ôm theo cái can nhựa theo dòng nước bơi ra. Đúng là phản xạ bất thường của một người tử tù, liều thân trong cơn mưa bão nghiêng trời lệch đất mong tìm lấy một hy vọng sống. Từ lúc anh ra đi, cả lán tù chúng tôi vừa lo sợ vừa hồi hộp. Cả đêm hôm ấy bão đã giảm đi nhưng mưa vẫn còn nặng hạt. Nước vẫn réo ầm ầm. Anh bạn trẻ biệt kích nhìn ra ngoài trời giông bão khẽ làm dấu thánh. Trưa hôm sau, nước lên mau mà rút cũng mau, công an K2 hợp cùng K1, K3 đi kiểm soát từng bụi cây đám cỏ suốt một vùng Như Xuân mà vẫn không bắt lại được người tù trốn … Ở đây chưa có ai trốn trại mà đi thoát, chỉ có cơn bão rừng kinh khủng lần này, một anh biện lý già ôm một cái can nhựa vượt sóng ra đi là không thấy trở về.
Các bạn tù K2 Thanh Phong năm cũ, có ai biết anh bạn tù biện lý anh Nhơn của chúng ta hiện giờ đang ở đâu không? Anh đã đến được một bến bờ tự do hay là anh đã bỏ thân ở một đầu sông ngọn suối?

Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.