Phan Lạc Phúc
Văn Nghệ xuất bản California USA 2000
Bìa Khánh Trường
Phụ bản Họa sĩ Thái Tuấn (Pháp)
Duy Thanh (Mỹ) – Ngọc Dũng (Mỹ)
Post by Sơn râu 21 Oct 2026



Sydney ngày … tháng 1.1996
Bạn Huy Trâm thân,
… Ở bên này, nhớ bạn lại đem tập thơ “Đồng Xanh” của bạn gửi cho ra đọc. Đọc đi đọc lại nhiều lần rồi. Tôi mới dần dần nghiệm ra lời bạn nói bữa ở trại cải tạo Thanh Phong: “Tôi thừa hưởng cái gàn của ông nội tôi”, (cụ Bảng Nông Sơn Nguyễn Can Mộng ở Thái Bình). Cái “hay chữ” của dòng dõi không nói làm gì (nó thuộc về vấn đề gene) nhưng mà tôi muốn nói đến cái phong cách “Nhà Nho” của bạn, mặc dù bây giờ bạn đang sống giữa thời buổi đảo điên điên đảo cuối thế kỷ 20 này. Đi tù khổ sở, lao dịch nặng nề mà bạn ta tối tối vẫn lỉnh kỉnh uống trà như một ông đồ Nho. Uống trà trong lán tù cải tạo không đơn giản đâu. Quy định của trại vào buồng rồi là tuyệt đối cấm, không đun nấu mà cũng không trà lá. Công an “bò vàng” đi rà soát suốt đêm như cú, như cáo … ở trong lán còn đội này, đội khác, còn “ăng ten” chìm nổi thiếu gì. Thế mà bạn ta vẫn kiếm được một cái đèn đốt bằng dầu hôi bé tí từ một cái hộp cá được một bàn tay thần tình nào đó chế biến ra. Quẹt một chút lửa, từ những cái lỗ tròn tròn vòng trong vòng ngoài trên mặt cái vỏ hộp cá bỗng phụt lên những tia lửa nhỏ cong cong trông giống một bông cúc vàng nóng bỏng. Đèn cháy rất êm để khỏi “phiền hàng xóm”. Một cái khung sắt nhỏ bên trên được làm bằng rayon xe đạp có công dụng như một cái kiềng đang đỡ một cái “gô” nhôm. Chúng tôi đang đun nước. Đến đây tôi xin anh em bạn tù cải tạo cho phép tôi được nhân danh các bạn mà tuyên dương công ty Guigoz bên Hòa Lan. Không ngờ một cái vỏ hộp sữa bột mà nó lại giúp đỡ bạn tù chúng ta nhiều đến vậy. Công dụng chính của nó là đựng nước, đựng thức ăn vừa nhẹ vừa kín vừa bền. Công dụng phụ của nó là đi ra bãi “tập kết” đợi điểm danh đi làm thì lấy cái gô ra làm cái ghế ngồi tạm đỡ mỏi chân. Đi tắm thì làm gáo múc nước. Như bây giờ thì cái gô đang là cái ấm đun nước pha trà. Khi nước sôi rồi, chóng sôi lắm vì đun ít nước, chúng tôi bỏ trà vào hãm. Chừng 5 phút rồi mới mở nắp gô ra. Hương trà đậm và đắng. Càng đắng bao nhiêu càng sướng bấy nhiêu. Uống trà trong tù không có kiểu cách lôi thôi như nhà Nho xưa … “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần” rồi là chén tống chén quân … Ở đây cái gô đại diện cho hết thảy. Vừa là ấm đun nước, vừa là ấm pha trà vừa là ly, là tách uống trà luôn; chuyền tay nhau mà uống. Công dụng của cái gô như vậy, hay là những “biến tấu” của nó không biết thế nào mà nói ra cho hết được. Đi tù cải tạo nhất là tù ra Bắc thì cái chuyện đầu tiên phải lo là đói. Đói mờ mịt càn khôn, đói nát xương lòi da. Nhưng bạn tôi thì có bao nhiêu “của cải vật chất” đều lo liệu cho trà hết. Vào mùa Đông, trại phát cho tù mỗi người một bộ quần áo vải màu tím. Ở rừng sâu Thanh Hóa gần Hạ Lào, cái rét nó kinh khủng lắm, cắt thịt cắt da. Nhưng bạn tôi lại đem bộ quần áo mới đi đổi “chui” với đồng bào địa phương lấy ba lạng trà “móc câu”. Người ta có của cải thì “quy” ra gạo, ra thức ăn, ra thuốc lào … bạn tôi lại “quy” ra trà. Không may cán bộ quản giáo nó bắt được nó mới đưa bạn ta vào kiên giam 10 ngày. Mất tiêu luôn cả chì lẫn chài, quần áo cũng mất mà trà cán bộ tịch thu … Ông Huy Trâm ôi ngày ấy tôi “xì-neẹc” ông “làm ăn” sơ hở mà cũng thương ông quá. Bữa ông được ra, tôi mới nấu một bát mì với rau “cải trời” để ông ăn cho lại sức. Tôi còn nhớ là khi tôi từ trại Tân Lập (Vĩnh Phú) đến trại Thanh Phong (Thanh Hóa) thì ông đã ở đấy rồi. Bạn bè gặp lại nhau mừng quá. Ông vội vàng hỏi thăm tôi ngay “ông có biết ông cụ tôi ở Tân Lập?” Thưa ông, tôi biết chứ, biết rõ là khác. Tôi vẫn không quên ngày xưa vào khoảng đầu thập niên 60, tôi thường đến nhà ông ở cuối đường Nguyễn Trãi “gạo bài” trong dịp đi học lại. Buổi tối ông cụ thường đưa tụi mình ra Lacaze ăn mì vịt, ăn chè phục linh, chuyện trò rất vui. Ông cụ lúc nào cũng rất là “gentleman” ngay cả với bạn bè của con. Tôi cũng được hưởng chút ân huệ ấy. Ở trại K5 Tân Lập (tôi từ K1 đổi lên) dù là trong trại cải tạo, ông cụ vẫn “gentleman” như thường. Ngày chủ nhật ông cụ tắm rửa sạch sẽ, mặc bộ quần áo đẹp nhất, đầu tóc chải gỡ đàng hoàng đi thăm bạn tù. Tôi có đến gặp ông cụ. Đặc biệt ngày ấy tôi đói thuốc lào lắm, ông cụ lại không hút nên tôi được ông cụ dúi cho mấy lần. Thuốc lào trại phát, không phải ba số 8 nhưng mà đỡ khổ. Có bữa tôi nghe tin ông cụ vô nằm bệnh xá. Tưởng qua quýt bình thường thôi, nên tôi không để ý. Ông ở tù rồi ông biết, người nào vô bệnh xá, có khi anh em đồng cảnh còn mừng cho vì như thế là khỏi phải đi làm. Nhưng mà thật bất ngờ một buổi chiều đi làm về, nghe anh em nói lại “Cụ phó Chưởng lý N.M.N. mất rồi.” Tôi thảng thốt quá. Sáng sớm hôm sau, lấy cớ khai bệnh tôi đến bệnh xá định thăm cụ lần cuối nhưng mà nó đưa cụ vô cái nhà “xác” đằng sau, nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Một vị Chưởng lý mà nằm xuống thảm như thế. Không thân nhân, không bè bạn nằm một mình trong một căn nhà tranh lụp xụp gọi là nhà xác có rào kẽm gai bao quanh, có những con chuột cống chạy vô chạy ra thậm thụt. Cái cảm tưởng “lạnh lẽo” ấy nó vẫn ở trong đầu óc tôi nên khi ông hỏi, tôi sợ “shock” cho ông quá nên chỉ nói loanh quanh. Ông có nói với tôi: “Dạo đổi đời năm 1945 … cụ Bảng mất, sau đó ông bác tôi mất. Tôi sợ thời kỳ này đến lượt ông cụ tôi và đến tôi.” Cái quan niệm ấy nó ám ảnh ông hoài nên những ngày ở Thanh Phong, tôi cứ phải lên gân để nói với ông rằng “đã có ánh sáng ở cuối đường hầm”. Và để ông khỏi suy nghĩ nhiều, tối tối tôi lại đến với ông uống trà, rồi “đem bộ quân cờ ra đây mình đánh vài ba ván cho nó quên đi”.
Khi ông được đổi về Nam, khoảng Giáng sinh năm 80, nó mới “cách ly” các ông vào một khu, trước khi lên tàu. Ở trong khu cách ly ấy, ông mới “bắn” ra cho tôi một bài thơ “tạm biệt”; Nhận bài thơ ông gửi, xưa nay tôi thơ thẩn ít lắm mà tôi cũng viết được ít dòng tặng ông, trước khi chia tay:
Huy Trâm này Huy Trâm
Mai bạn về trong đó
Cho tôi gửi lời thăm
Bạn bè ta tất cả
Xin thăm người mẹ già
Bao năm rồi tựa cửa
Xin thăm đàn trẻ thơ
Bao năm rồi vắng bố
Xin thăm người vợ hiền
Bao năm rồi lỡ dở
Uống giọt nước mắt thầm
Trong vô cùng thương nhớ …
Nhưng mà trời cũng trông lại. Tôi đi tù 10 niên được về. Ông tù 7 niên, về rồi lại đỗ “tú tài” (tái tù) trở lại 3 năm nữa vì vụ liên hệ đảng phái gì đó. Nhưng mà rồi chúng ta cũng gặp lại nhau cuối thập niên 80 ở Sài Gòn. Tôi ở ẩn trong một khu vườn Hóc Môn. Bạn nguyên là một ông biện lý mà bây giờ hàng ngày cùng vợ con “vê” ô mai lóc coóc đạp xe đạp đi gửi ô mai ở các cửa hàng, các chợ. Nói bạn đừng giận, thời “nín thở qua sông” đó các bạn cũng rách bươm. Tôi đến nhà ở ngõ gần trường đua tôi biết. Nhưng khi nào bạn “về quê Hóc Môn” chơi với tụi tôi thì thế nào cũng có quà cáp đầy đủ. Không nhiều đâu, nhưng lễ nghĩa con nhà Nho là vậy. Tôi có ông bà cụ nhạc đã có tuổi, nên lúc nào ông bà xuống chơi cũng có chút quà cho các cụ, có ô mai cho đứa con gái út tôi M.T. Lúc nào lâu lâu chưa thấy ông xuống, bà nhạc tôi lại nhắc … “Không thấy ông Tòa bạn con xuống chơi.” Ngày ấy ông nhạc tôi mất, ông cũng đúng theo lễ nghĩa, đem vàng, hương lễ vật xuống viếng ông cụ. Ông ơi, cái nhà Hóc Môn của tụi tôi, một cái nhà ọp ẹp, trong lát gạch tàu thô sơ, thế mà khi viếng ông cụ tôi ông lại quỳ xuống gạch mà làm lễ. Chúng tôi vừa ái ngại vừa ghi ơn ông nhiều lắm, ông Huy Trâm.
Ông theo Tây học, học luật theo truyền thống gia đình, nhưng mà theo tôi nghĩ, đó chỉ là bề ngoài. Bề trong ông vẫn là một anh nhà Nho. Nhà Nho ở ngoài đời dù có làm ông gì, bà gì đi nữa thì ở nơi thôn ổ, xóm làng, chỗ anh em bè bạn là vẫn cứ xuề xòa, giản dị “người quân tử ăn chẳng cầu no … ” Cho nên phong cách của ông nó mới lừng khừng tàng tàng như vậy. Không phải ông cố ý đâu. Con người ông là như thế. Một số người còn cho rằng ông man mát …Cũng không lấy gì làm lạ “Quân tử nhất ngôn là quân tử dại, quân tử nói đi nói lại là quân tử khôn”. Ông bạn tôi không khôn được như người ta. Văn thơ của ông thì theo cách nhìn của tôi cũng nằm trong khuôn khổ ấy. Những năm mà Sài Gòn sôi nổi về buồn nôn, phi lý … tôi thấy thơ ông vẫn điềm đạm ca dao. “Lời lời châu ngọc” cuốn sách phê bình nhận định văn học của ông xem ra cũng khá là “cổ điển” (tôi hiểu chữ cổ điển trong nghĩa tích cực của nó). Thơ văn ông khi đi tù và bây giờ ở hải ngoại, dù qua bao năm lao tù khổ ải, con người xuống cấp, xã hội đảo điên nhưng ông vẫn giữ được trong ông sự khoan hòa nhân ái. Đau khổ là số phận người. Mình chấp nhận nó, không chạy trốn. “Bất ưu nhân, bất oán thiên” không trách người mà cũng chẳng oán trời. Ngay những tháng năm còn ở với ông trong trại cải tạo Thanh Phong, ông đã thư cho em gái ông, cô Trang N. gửi kinh Phật cho ông. Ông còn hứa sẽ đưa cuốn “Phật Học Nhập Môn” cho tôi đọc. Nhưng mà tôi chưa gặp được cơ duyên ấy. Kinh chưa tới thì ông đã vô Nam, tôi còn ở lại.
Những ngày chúng ta gặp nhau trở lại cuối thập niên 80 ở Sài Gòn, ông có mang kinh Phật xuống Hóc Môn cho tôi. Nhưng nói ông bỏ lỗi, tôi chưa kịp đọc và cũng chưa tụng được biến kinh nào. Nhưng “mẹ cháu” thì từ ngày đó lại bắt đầu kinh kệ. Sang đến Úc này vẫn nhớ mang theo. Cái duyên cũng không biết thế nào mà nói trước. Nhưng chúng tôi xin cảm ơn tấm lòng của bạn. Hình như ở Mỹ bây giờ ông vẫn còn kinh kệ. Do đó nên nghe nói ông khá gần gũi với bậc thiền giả Nghiêm Xuân Hồng và là bạn thiền của vợ chồng em tôi Phan Lạc Tiếp ở San Diego. Những người em tôi mấy năm nay đều “gắng sức tu học”. Các em tôi viết thư cho tôi nói rằng “Trong số các bạn thiền, rất vui sướng có ông là bằng hữu”. Như vậy thì có tuổi một chút, bạn ta lại tìm giải thoát nơi giáo lý nhà Phật. Cũng là truyền thống xưa nay của Nhà Nho. Mỗi Nhà Nho chân chính ở nước ta đều “tam giáo đồng nguyên”. Bạn ta cũng không ngoài cái thông lệ ấy. Mấy tháng trước, bạn lại gửi cho tôi một cuốn sách viết chung với một người đồng chí hướng, nói về thời cuộc, kinh tế, chính trị. Tôi cũng đã đọc và nhận thấy những điều tác giả viết ra có nhiều điều hữu lý. Bạn vốn là một luật gia, nên luận cứ của bạn sít sao, chặt chẽ “nghề của chàng … ” Và mới đây, em tôi P.L. Tiếp lại cho hay là bạn ta vừa ra một tờ báo. Về chuyện này, tôi nghĩ là tôi có đôi chút kinh nghiệm. Thưa ông bạn, tuy gọi chung là làm báo nhưng trong nghề này chia ra 2 loại người: người làm báo và người viết báo. Người viết báo thì trong thời buổi này, ai viết cũng được miễn là biết đọc biết viết, hay dở “tùy người đối diện”. Nhưng người làm báo Việt Nam hải ngoại thì theo tôi, càng lúc càng phiền. Người làm báo là phải chọn một đường lối (policy) nào đó trong muôn ngàn đường lối, phải biết cách phát hành báo, biết cách lấy quảng cáo, biết cách làm cho tờ báo đến tay người đọc. Tôi không ở bên Mỹ nhưng nghe nói là báo ở miền bạn đang cư ngụ Santa Ana, ra lền khên mà thường là báo “chợ” nên theo tôi, làm báo hết sức khó lúc này. Không biết bạn ta là người viết báo hay làm báo đây. Viết báo thì bạn thừa khả năng, nhưng làm báo thì mấy năm nay không gần bạn, không hiểu lúc này bạn tôi ứng xử như thế nào? Nhưng thực lòng tôi lấy làm lo cho bạn nếu bạn tôi dấn thân vào nghề “làm báo”. *
Trước đây tôi vẫn thường nghe một câu tục ngữ Pháp “La presse, c’est l’anti chambre de la politique”. (Báo chí là buồng bên của chính trị). Mà làm chính trị theo tôi, với những đòi hỏi khắc nghiệt của nó không biết bạn ta có phù hợp được không? Bạn ta là nhà luật, nhưng theo tôi với cốt lõi của nhà Nho như bạn, bạn thích hợp với một vai trò “cố vấn pháp luật” hơn là một người thực thi pháp luật. Thưa bạn, Hàn Phi là nhà lý thuyết của Pháp gia, nhưng người thực hiện Pháp trị lại là Lý Tư là Thương Ưởng. Chuyện là chuyện xưa, nhưng đời nay không khác bao nhiêu đâu. Bạn học lý thuyết Hàn Phi, đồng ý. Nhưng bạn có bạo liệt được như Lý Tư – Thương Ưởng hay không? Và kết cuộc của Lý Tư, Thương Ưởng như thế nào, bạn rõ hơn tôi.
Cho nên, tôi nghĩ là lúc này bạn ta nên rong chơi ngày Trời tháng Bụt hơn là dấn thân vào chốn gió tanh mưa máu. Thưa ông bạn nhà Nho. Tôi xin tạm dừng ở đây. Nhớ nhau, giấy ngắn tình dài.
Thăm chị H.A. và các cháu.
Thân,
Tái bút: Có bài thơ bạn làm ở trại cải tạo nói về việc bạn đi trồng rau lang, gửi cho cháu H.Đ., tôi thích lắm mà sao không thấy trong Đồng Xanh.
(1995)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.