This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Có những cái tên, nếu không nhắc lại hôm nay, rồi sẽ có một ngày chìm vào quên lãng.
Có những tiếng động cơ, tiếng Roto đã tắt từ hơn nửa thế kỷ trước, nhưng với những người từng sống trong chiến tranh, chỉ cần nghe lại một âm thanh cánh quạt H-34 là cả một vùng ký ức có thể ùa về.
Phi Đoàn 219, King Bee, Long Mã.
Họ không phải những người đi tìm chiến công để được tung hô. Họ là những phi công ngồi trong buồng lái, biết rất rõ phía trước có thể là lửa đạn, núi rừng, tử thần, nhưng dưới kia vẫn còn đồng đội đang chờ.
Một tiếng gọi trên máy vô tuyến:
— King Bee, chúng tôi cần các anh!
Và câu trả lời đôi khi chỉ vỏn vẹn:
— Nghe rõ. Chúng tôi vào.
Thế là cánh quạt quay.
Chiếc H-34 lao vào vùng nguy hiểm.
Không ai biết chuyến bay ấy sẽ kết thúc ở đâu.
Có người trở về. Có người mang theo thương tích suốt đời. Và cũng có những người đã để lại tên mình giữa núi rừng, không một lần trở lại.Advertisement
Nguyễn Quý An.
Đặng Quỳnh.
Vương Văn Ngọ.
Nguyễn Văn Thịnh.
Chung Tử Bửu.
Dương Ngọc Như…
Và biết bao người trai của King Bee mà lịch sử cần phải nhớ.
Bài viết này không nhằm tô son cho chiến tranh.
Đây chỉ là một lời Tri ân, một nén hương tưởng niệm dành cho những người đã từng bay.
Bởi đôi khi, điều khiến một người trở thành anh hùng không phải là họ không biết sợ.
Mà là biết phía trước là tử địa… vẫn quay đầu máy bay trở lại vì dưới đó còn anh em.
King Bee đã bay qua một thời máu lửa.
Nhưng câu nói ấy:
“DƯỚI ĐÓ CÒN ANH EM!”
có lẽ sẽ còn ở lại rất lâu trong ký ức của những anh em biệt kích, Nha kỹ thuật từng khoác áo và xâm nhập công tác.
….
Trong lịch sử Không lực Việt Nam Cộng Hòa, có những đơn vị khi nhắc đến, người ta không cần nói nhiều.
Chỉ cần nghe hai chữ:
KING BEE.
Là những người từng sống trong chiến tranh lập tức hình dung ra những chiếc H-34 nặng nề, tiếng cánh quạt dội xuống núi rừng, những phi vụ xuyên qua biên giới, những toán biệt kích nằm sâu trong vùng địch và một chiếc trực thăng phải lao vào giữa lửa đạn để đưa họ trở về.
Phi Đoàn 219.
Long Mã.
Và trong những phi vụ đặc biệt, người ta quen gọi họ bằng cái tên:
King Bee, Ong Chúa.
Đó không phải là một cái tên để làm đẹp cho chiến tranh.
Đó là cái tên được trả bằng những chuyến bay mà chỉ cần chậm một vài giây, hoặc lệch một bước châ, có thể không còn ngày trở về.
“KING BEE, VÀO!”
Hãy tưởng tượng một buổi trưa giữa núi rừng. Một toán biệt kích đang bị rượt bắt, đang bị bao vây. Đạn địch bắn chung quanh. Không có bãi đáp.
Rừng rậm đến mức trực thăng không thể đáp xuống.
Người toán trưởng dưới đất gọi:
— King Bee, đây là toán! Chúng tôi cần rút ngay!
Trong buồng lái, phi công nghe rõ.
— King Bee nghe.
— Không có bãi đáp!
Một khoảng im lặng.
— Cho tọa độ?
— Dưới tàng cây.
Phi công nhìn xuống. Một biển rừng xanh ngắt. Không thấy bóng người. Không thấy đất. Chỉ thấy những ngọn cây lay động dưới sức gió của trực thăng.
Một toán viên bên dưới móc khoen chữ D vào dây đang đong đưa dưới gió cánh quạt.
— Người thứ nhất!
Phi công Như kéo cần. Chiếc H-34 rung lên. Người toán viên được kéo qua ngọn cây.
— Người thứ hai!
Rồi người thứ ba.
Ba người lính treo lơ lửng giữa trời.
Chiếc H-34 rời khỏi khu vực.
Nhưng nhiệm vụ chưa xong.
Phía sau còn đồng đội. Và King Bee lại quay vào.
Đó mới là King Bee.
Trong những cái tên đáng được nhắc lại của Phi Đoàn 219, có Thiếu tá Nguyễn Quý An. Một trong những câu chuyện tiêu biểu được ghi lại về ông xảy ra ngày 17 tháng 1 năm 1969, trong một phi vụ hỗn hợp Việt, Mỹ.
Nhiệm vụ là đưa các toán đặc biệt vào sâu bên kia biên giới Lào. Nhưng giữa vùng địch, một trực thăng Mỹ trúng đạn và rơi. Bốn quân nhân Mỹ còn sống. Nhưng đang nằm giữa vùng nguy hiểm. Người ta có thể bay tiếp.
Có thể nói:
“Nhiệm vụ của chúng ta đã xong.”
Nhưng Nguyễn Quý An không làm như vậy.
Ông quay lại. Chiếc trực thăng lao xuống khu vực chiếc máy bay bị bắn rơi.
Dưới hỏa lực đối phương.
Và bốn quân nhân Mỹ được cứu ra.
Tài liệu hồi ký của những người từng viết về ông ghi nhận đây là một hành động đặc biệt can đảm.
Đó là khoảnh khắc làm nên danh tiếng một người phi công. Không phải vì ông đã bay được bao nhiêu giờ. Mà vì khi đồng đội gặp nạn,
ông đã quay lại.
Một cái tên khác không thể bỏ qua:
Đại Úy Vương Văn Ngọ.
Trong hồi ký của mình, ông kể lại những phi vụ mà ngày nay đọc lại vẫn thấy lạnh người.
Ngày 3 tháng 8 năm 1968, King Bee được giao nhiệm vụ giải cứu một toán biệt kích bị bao vây ở A Sầu.
Không phải một chuyến bay bình thường. Toán đang bị truy kích. Rừng núi dày đặc.
Bãi đáp gần như không có.
Phi hành đoàn phải đưa trực thăng vào giữa một khu rừng nguy hiểm để kéo từng người lên.
Ông viết lại những giờ phút ấy như một ký ức không thể nào quên. Sau phi vụ, Vương Văn Ngọ được trao Distinguished Flying Cross (DFC) của Không quân Hoa Kỳ; Đại úy Tưởng, người cùng phi vụ, nhận Silver Star.
Hãy thử hình dung một cuộc đối thoại:
— Anh Ngọ, dưới kia không có bãi!
— Tôi thấy rồi.
— Cây cao quá!
— Chuẩn bị dây.
— Địch đang bắn!
Người phi công nhìn xuống.
— Biết.
— Vậy mình vào sao?
Ông đáp:
— Anh em mình còn ở dưới đó.
Chỉ vậy.
Không cần một bài diễn văn.
Không cần những lời hô hào.
Anh em còn ở dưới đó.
Thế là đủ.
ĐẶNG QUỲNH, VƯƠNG VĂN NGỌ, NGUYỄN VĂN THỊNH…
Nhắc đến King Bee không thể chỉ nhắc một người.
Bởi một chiếc trực thăng không bao giờ chiến đấu một mình. Đằng sau người phi công là cơ phi. Bên cạnh là phi hành đoàn. Trên trời có máy bay quan sát. Có gunship yểm trợ.
Dưới đất là những toán đang chờ từng giây.
Và trong đội ngũ ấy có những cái tên mà những người từng khoác áo Không quân VNCH vẫn còn nhớ:
Đặng Quỳnh.
Vương Văn Ngọ.
Nguyễn Văn Thịnh.
Nguyễn Quý An.
Dương Ngọc Như.
Chung Tử Bửu.
Cùng rất nhiều King Bee khác.
Trong những hình ảnh hội ngộ của cựu quân nhân 219 nhiều năm sau chiến tranh, những cái tên ấy vẫn xuất hiện bên nhau như một gia đình chiến đấu cũ.
Họ đã từng ngồi chung trong những buồng lái nóng bỏng.
Từng nghe chung một tiếng radio.
Từng nhìn chung một khu rừng.
Và từng biết rằng:
Chuyến bay này có thể là chuyến cuối cùng.
Nhiều năm sau chiến tranh, tôi hỏi một cựu King Bee:
— Hồi đó anh có sợ không?
Ông cười nhẹ hều, vỗ vai tôi:
— Có chứ.
— Vậy sao vẫn bay?
Ông nhìn ra xa.
— Sợ thì vẫn phải bay.
— Tại sao?
Ông đáp:
— Vì dưới đó có người chờ mình.
Một câu nói rất đơn giản. Nhưng có lẽ đó chính là toàn bộ câu chuyện của King Bee.
Không phải họ không biết sợ.
Họ biết sợ.
Nhưng họ không để nỗi sợ quyết định mình phải làm gì.
Có những phi vụ King Bee phải đáp trong những điều kiện mà người bình thường khó có thể tưởng tượng.
Có khi chỉ một bánh trực thăng bám vào triền núi.
Có khi chiếc H-34 phải hovering trên ngọn cây.
Có khi người lính bên dưới được kéo lên bằng dây giữa một khoảng rừng không có lấy một mét đất trống.
Hồi ký của Vương Văn Ngọ còn ghi lại những phi vụ rước toán bằng dây, với sự phối hợp giữa máy bay quan sát O-2, gunship và các H-34 King Bee.
Nhìn từ dưới đất, người ta chỉ thấy một chiếc trực thăng.
Nhưng bên trong chiếc trực thăng ấy là cả một thế giới của thần kinh thép.
Chỉ cần gió đổi hướng.
Chỉ cần cây rung mạnh.
Chỉ cần phi công mất kiểm soát vài giây. Tất cả có thể biến mất. Đây là điều đáng nói nhất.
King Bee không phải những người bay để tìm vinh quang.
Họ bay để làm nhiệm vụ. Và trong nhiều trường hợp, nhiệm vụ ấy có nghĩa:
Đưa những người đang bị bao vây trở về.
Có những chuyến bay không có tiếng vỗ tay.
Không có khán giả.
Không có báo chí.
Không có ai đứng dưới đường băng chờ để trao hoa.
Chỉ có tiếng động cơ.
Tiếng đạn.
Tiếng radio.
Và những giọng nói ngắn ngủi:
— King Bee, vào được không?
— Được.
— Bãi rất xấu.
— Biết.
— Có địch.
— Biết.
— Vậy vào chứ?
Một giây im lặng.
— Vào.
Cánh quạt quay.
Chiến tranh đã qua hơn nửa thế kỷ. Những chiếc H-34 không còn bay.
Những sân bay ngày xưa đã đổi thay.
Những người phi công trẻ ngày nào giờ đã tóc bạc.
Có người còn sống.
Có người thương tật.
Có người đã ra đi.
Có người vẫn mang trong ký ức tiếng cánh quạt của chiếc H-34.
Và có những người bạn,
không bao giờ trở lại.
Nhưng lịch sử không nên quên họ.
Không phải để ca tụng chiến tranh.
Không phải để khơi lại hận thù.
Mà để nhớ rằng trong những năm tháng khốc liệt ấy, đã có những người Việt Nam mặc quân phục Không lực VNCH, ngồi vào buồng lái, biết rõ mình đang bay vào nguy hiểm nhưng vẫn cất cánh.
Nguyễn Quý An.
Đặng Quỳnh.
Vương Văn Ngọ.
Nguyễn Văn Thịnh.
Chung Tử Bửu.
Dương Ngọc Như….
Và tất cả những phi công, cơ phi, xạ thủ, phi hành đoàn của Phi Đoàn 219, Long Mã, King Bee.
Họ đã để lại một câu chuyện rất riêng trong lịch sử chiến tranh Việt Nam:
Có những người lính chiến đấu bằng súng.
Có những người lính chiến đấu bằng đôi cánh.
Và có những đôi cánh đã bay vào nơi không ai muốn bay tới, chỉ để đưa một người đồng đội trở về.
Ngày hôm nay, khi nhắc đến King Bee, hãy nhắc bằng sự trân trọng. Bởi giữa tiếng động cơ H-34 năm nào, giữa núi rừng Trường Sơn, giữa những tràng đạn từ dưới đất bắn lên, đã có những người phi công nhìn vào thẳng vào mặt tử thần và nói một câu rất bình thản:
“Dưới đó còn anh em.”
Rồi họ kéo cần.
King Bee cất cánh.
Long Mã bay.
Và những cánh chim ấy, dù đã nằm xuống hơn nửa thế kỷ,
Vết thương 43 năm: 43 năm qua, lần đầu tiên tôi được đọc bài viết của một người lính. Mà lại của một y tá MX. Lời văn mộc mạc và chân tình, nói lại những giây phút cuối của đời lính. Được vào danh sách thương binh của TQLC năm 2017, nhờ anh em TPB cùng hoàn cảnh giới thiệu. Trong niềm vui đồng đội, anh đã viết lại những giây phút tưởng chừng đã mất. Nhìn lại hình xưa, anh em quê nhà đặt lại là Thế nhí – vì quá nhỏ. Hiện tại gia đình đang ngụ một lều nát ở Cần Giờ. Vợ bán vé số, chồng bị tay và chân nên làm lặt vặt. Con gái đang học lớp 9, đi bộ hằng ngày, khoảng 1 giờ đến trường. Hôm nay, với cánh tay và chân tật, Anh ghi lại…Lạt Ma
Trước ngày diễn ra trận đánh tại Căn cứ Phượng Hoàng, Tiểu Đoàn 6/TQLC di chuyển từ căn cứ Barbara đến căn cứ Ái Tử rạng sáng ngày 8/4/1972. Hình như quân địch biết được các chiến sĩ Thần Ưng đến, chúng chào đón chúng tôi bằng những tràng pháo 130 ly và 122 ly được rót vào Căn cứ Ái Tử. Đại Bàng Thái Dương (Thiếu Tá Đỗ Hữu Tùng) Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6/TQLC điều động các Đại đội phân tán ra ngoài vành đai Căn cứ Phượng Hoàng. Riêng Trung đội Quân y được bố trí căn hầm gần hàng rào phòng thủ. Căn cư Ái Tử đang nằm trong tầm tác xạ của pháo binh địch. Tiếng nổ khắp nơi trong Căn cứ, khói lửa mịt trời và mọi người đều biết chuyện gì sẽ xảy ra trong trận pháo kích! Đến khoảng 9 giờ sáng, Y tá Đại đội chỉ huy Hạ sĩ Nguyễn Hải Hà đến bên tôi và nói:
– Anh nhận lệnh của Y tá Trưởng, Trung Sĩ Tuấn Phát đều phải về Đại đội 4 chứ không về Căn cứ Phượng Hoàng.
Vào lúc này Căn cứ Ái Tử bị pháo kích dữ dội. Tôi thoáng nghe có tiếng rít trên đầu, với phản xạ của người lính tôi vội nhảy xuống hố cá nhân, may mắn cho tôi, trái đạn nổ cách tôi khoảng hơn chục mét, toán Quân y bình an vô sự. Đến trưa tiếng pháo thưa dần rồi im hẳn, tình hình tạm thời im lặng, lúc này tôi cảm thấy đói vì trên đường di chuyển tôi chưa ăn uống gì, khui hộp trái cây nuốt vội cho đỡ đói.
Tình hình trong Căn cứ, các Chiến sĩ TQLC đang sửa chữa lại công sự sau khi bị pháo kích, riêng Toán Quân y không có việc gì làm, tôi chợt nghĩ: “Tại sao mình không xin Y tá Trưởng cho mình vào căn cứ Phượng Hoàng chơi sáng mai về?”
Tôi trở lại hầm Quân y xin y tá Trưởng, Trung sĩ Tuấn Phát giận dữ nói với tôi:
– Mày có bị điên không? Tụi nó đang pháo kích, mày vô đó làm gì? Bộ muốn chết hả?
Ông Thiếu Úy Long đang họp trên BC Tiểu đoàn chưa về nên chưa biết tình hình thế nào! Thiếu Úy Long là Sĩ quan trợ y, chỉ huy trực tiếp Trung đội Quân y Tiểu đoàn. Tôi tiếp tục nan nỉ, cuối cùng Y tá Trưởng cũng đồng ý và phán một câu:
– Ừ mày muốn chết thì cứ đi, ngày mai khi có lệnh là phải về trình diện liền!
Tôi vác ba lô và túi thuốc lên vai rồi chạy ra ngoài tìm phương tiện để đi, nếu không có thì phải cuốc bộ vào Căn cứ Phượng Hoàng. Đường dẫn vào căn cứ là con đường rất nhỏ, tôi còn nhớ rất rõ. May mắn cho tôi, lúc này có một xe GMC chở mìn chống tank cho căn cứ Phượng Hoàng. Tôi xin mấy anh Công binh cho tôi quá giang vào Căn cứ. Trên đường đi tôi thấy có một số quân nhân BĐQ đang di chuyển ngược hướng chúng tôi, với gương mặt hóc hác mệt mỏi.
Khi xe vừa vào Căn cứ tôi đã thấy Y tá Hà và Trung sĩ Vinh, Quân Y cánh B đang đứng trong hầm gần cổng trước. Không để hai người hỏi, tôi nói luôn:
– Em có xin phép anh Phát vào đây chơi với mấy anh, sáng mai em về.
Anh Hà trả lời:
– Tụi anh biết rồi. Trung sĩ Phát có báo cho tụi anh lúc em đang trên đường vào đây.
Anh cũng cho tôi biết có một bác sĩ mới về thay cho Thiếu úy Long Sĩ quan trợ y. Bác sĩ mới là Y sĩ Trung úy Huỳnh Văn Chỉnh, sau này tôi mới biết là Ca sĩ Trung Chỉnh! Bác sĩ Chỉnh cho tập họp các anh em Quân y về trình diện để ông biết mặt. Như vậy tôi ở đây đến sáng mai về luôn, lúc này anh Hà nói:
– Có đói không? Cơm vắt đó ăn đi.
– Cám ơn anh, em không đói.
Thấy cái hầm trước mặt khá kiên cố, tò mò tôi hỏi:
– Hầm phía trước là của ai thế anh?
Anh Hà chỉ tay về hướng hầm trả lời:
– Hầm đó của 2 cố vấn Mỹ và Ông Sữ Tiểu đoàn phó, còn hầm phía bên kia là của Ông Tài, Đại đội Trưởng đại đội 4.
Chúng tôi trò chuyện rôm rả. Khoảng 3 giờ sáng, địch quân bắt đầu pháo kích vào Căn cứ với cường độ vừa phải, tôi và các anh còn nhận ra đạn nổ nơi nào trong Căn cứ. Đến 5 giờ sáng địch ngưng pháo kích, tôi nói với anh Hà và anh Vinh tôi sẽ sang hầm của Đại úy Tài, nói xong tôi chồm tay lấy túi thuốc và sang hầm Đại úy Tài và Cố vấn Mỹ. Xuống đến hầm, dưới hầm bầu không khí im lặng, vẻ mặt mọi người hiện rõ nét lo lắng, không ai nói với tôi câu nào, lúc này địch quân bắt đầu pháo kích trở lại với cường độ dữ dội hơn lúc trước. Trong lúc Đại úy Tài liên lạc với các trung đội tiền đồn, ngoài hầm đạn pháo nổ vang trời. Trong hầm anh em chúng tôi thưởng thức những tách trà nóng, đạn pháo càng lúc càng dồn dập hơn. Vậy là tôi phải ở lại hầm của Ông Đại úy Tài.
Màn đêm buông xuống, ngoài trời tối đen như mực, rồi những tia chớp, những tiếng nổ đinh tai nhức óc như xé tạc màn đêm. Mệt mỏi tôi ngồi dựa vào vách hầm định chợp mắt một tí nhưng không tài nào ngủ được, chỉ mong cho trời mau sáng, nhưng thời gian như dài vô tận, chầm chậm trôi qua. Tất cả mọi người đều thức, nhìn nhau im lặng và chờ đợi. Ngoài kia vẫn còn những âm thanh của hỏa tiển 122 ly vang dội núi rừng.
Qua lỗ châu mai trời tối đen, hỏa tiển của địch vẫn tiếp tục rơi vào Căn cứ. Lúc này trên máy truyền tin của Đại đội, cánh tiền đồn báo về cho Đại úy Tài, Đại đội 4 là đã trông thấy chiến xa T54 đang dàn đội hình cùng bộ binh tùng thiết đang tiến về căn cứ Phượng Hoàng. Đại úy Tài xin Đại bàng Thái Dương cho pháo binh yểm trợ và soi sáng vì trời vẫn còn tối và sương mù dày đặc bao phủ các ngọn đồi nên hạn chế tầm quan sát. Hỏa châu soi sáng cả một vùng trời, chúng tôi ngồi dưới hầm mà đã nghe tiếng gầm rú của Tank T54 của địch. Toán tiền đoàn báo về là đã chạm súng với cánh quân đầu tiên của địch, tank T54 đang tiến thẳng vào vị trí phòng thủ của ta, cuối cùng toán tiền đồn xin rút lui và mất liên lạc. Khoảng 5 giờ sáng thì tank T54 đã xuất hiện bên kia đồi, mặt sau của căn cứ, T54 bắn trực xạ vào vị trí phòng thủ của ta và tiến thẳng vào hàng rào căn cứ. Quân phòng thủ chống trả mãnh liệt, buộc chúng rút lui xuống chân đồi chỗ con suối. Trong hầm mọi người chuẩn bị tư thế chiến đấu, bỗng liên tiếp có nhiều tiếng nổ gần căn hầm, có nhiều tiếng la, có một binh sĩ chạy xuống hầm với cánh tay đầy máu, lập tức tôi băng bó vết thương cho anh ta, và anh ta cho biết là tank T54 của địch đã vào đến hàng rào, và sắp vào đến đây. Tôi tiếp tục công việc cuối cùng là chích cầm máu và ngừa ATS cho anh.
Lúc này tuyến phòng thủ đã bị chọc thủng, tiếng gầm rú của tank T54 càng lúc nghe càng gần, nhìn qua lỗ châu mai thấy rõ bánh xích chạy qua. Mọi người trong hầm đều di chuyển ra khỏi hầm, riêng tôi đi sau cùng. Khi vừa ra đến cửa hầm thì chiếc tank T54 thứ hai chồm tới, tôi vội vàng trở lại xuống và núp lại trong hầm, định chờ cho chiếc tank T54 đi qua rồi chạy lên, nhưng định mệnh đã an bài cho số phận của tôi, chiếc tank T54 không chạy qua mà tiến thẳng vào cửa hầm ngay chỗ tôi núp khoảng 5 mét, đầu nó hướng thẳng vào cổng trước Căn cứ, nơi có một toán quân cố gắng rút lui, làm sao bây giờ? Tôi tự hỏi. Trong tay tôi không có một thứ vũ khí gì ngoài túi thuốc và 2 trái lựu đạn M67 đeo trên áo giáp. Tôi lục lọi và tìm kiếm, hy vọng còn sót lại vài khẩu chống chiến xa M72. Tôi thực sự thất vọng khi không tìm thấy một thứ gì. Dựa vào vách hầm, tay tháo trái lựu đạn M67 bẻ ngay chỗ an toàn, quan sát và suy nghĩ tìm cách vượt thoát. Trước mặt tôi là chiếc tank T54 đang nằm một đống, cũng may cho tôi là nó mãi mê nhìn về phía cổng nên không nhìn thấy tôi. Tôi lúc này trong tình trạng dở khóc dở cười tiến thoái lưỡng nan. Cuối cùng lợi dụng tên xạ thủ công 12 ly 8 đang mãi mê nhìn ra hướng nơi mà toán quân trong căn cứ đang cố gắng rút lui về hướng Căn cứ Ái Tử, tôi men theo vách hầm, tránh xa dần chiếc T54 của địch, 5 mét, 10 mét rồi 20 mét. Bây giờ nó không còn nhìn thấy tôi. Trên tay của tôi vẫn còn trái lựu đạn M67 nhưng không biết phải làm gì trong tình huống này. Nhìn sang phía bên kia đồi,thấy lố nhố bộ binh của địch đang di chuyển tiến về hướng Căn cứ. Phía Bắc Căn cứ một chiếc T54 đang ủi và phá các ụ lô cốt, phía con đường phía tây thì có tổng cộng 8 chiếc tank đang dàn đội hình lù lù tiến ngay cổng Căn cứ. Tại cổng có 1 chiếc tank T54 đang án ngự tại đó. Tôi hiểu bây giờ mình đã vào tử lộ, không còn đường thoát, có lẽ số phận mình đến đây là kết thúc. Cầm trái lựu đạn trên tay tôi thầm nhủ: “Nếu có chết thì phải chết cho xứng đáng của một chiến sĩ TQLC”, vậy là tôi ở yên vị trí và chờ đợi.
Lúc này tôi chợt nhớ về Phương Nam, nơi tôi được sinh ra và lớn lên, nhớ cha mẹ, anh em, bạn bè, mắt tôi cay xè, đôi dòng lệ lăn trào trên khóe mắt. Ở ngoài tôi nghe có tiếng la hàng sống chống chết vang khắp nơi, tôi lăn người xuống hố cá nhân và sẳn sàng cho mình một cái chết đúng nghĩa của một người chiến binh. Trên miệng hố tôi thấy có một tấm ván ép nên tiện tay kéo đậy miệng hố và hy vọng địch quân không phát giác ra mình, nếu nó gở tấm ván ra là cưa hai với tụi nó, ngón tay trỏ tôi thủ sẳn trong khóa an toàn của trái lựu đạn. Trên miệng hầm tiếng hàng sống chống chết vang lên khắp nơi. Tôi chợt nghe có tiếng bước chân đang tiến gần về phía hố của tôi, ngồi dưới hố tôi xoay người thủ thế. Bỗng trên đầu tôi vang lên 2 tiếng nổ của súng AK 47. Sau khi bắn xong tên vc bỏ đi, ngước nhìn lên tôi thấy ánh sáng xuyên lỗ thủng qua 2 lỗ đạn, tôi cảm thấy đau nhói, tôi biết rằng tôi đã trúng đạn nhưng không biết ở đâu? Sự việc diễn ra quá nhanh, tôi cảm thấy tay phải của tôi tê dại và không theo sự điều khiển của tôi, tay trái tôi lấy trái lựu đạn khóa chốt an toàn và để xuống chân, tiếp đến là lấy tay trái nắm chặt tay phải cho nó đừng lắc lực, lúc này tôi nhận ra là mình đã bị thương ở tay phải và còn 1 viên nữa không biết trúng ở đâu? Tôi thấy đau nhói và tê chỗ đùi trái, tôi cố gắng cử động chân trái để biết vết thương có nặng không? Tôi lấy tay sờ vết thương ở đùi trái, máu ước đẫm quần, tay phải của tôi lúc này đau nhức khủng khiếp, không thể làm gì với hai vết thương trong cái hố chật chội tối om này, tôi thầm nghĩ trước sau gì mình cũng chết, thôi cho mày thấy luôn, nghĩ xong tay trái tôi đẩy tấm ván ép qua một bên, lập tức bên tay tôi văng văng tiếng la: “ngụy, ngụy” và có hàng chục họng súng AK chĩa vào tôi, một tên trong bọn nó kêu tôi đứng lên vào leo lên hố. Tôi ngồi im và trả lời là không thể leo lên được vì tôi bị thương ở chân. Từ xa có tiếng hỏi lớn:
– Đâu, ngụy đâu?
Tên chỉ huy tay lăm lăm khẩu súng K54, tên này quát lớn:
– Đứng dậy.
Vẫn câu trả lời tôi không thể vì chân và tay của tôi bị gãy rồi, tên chỉ huy tiếp tục hỏi tôi:
– Súng mày đâu? Tao thấy trong này tụi bây ngoan cố chống trả mãnh liệt lắm mà!
Tôi trả lời rằng tôi không có được trang bị súng vì tôi là Y tá Quân y. Tên chỉ huy tiếp tục hỏi:
– Vậy túi cứu thương của mày đâu?
Tôi nói là tôi để trong hầm đằng kia, nó cho người xuống lấy và ra lệnh cho tên y tá của nó xem vết thương của tôi đúng như tôi đã nói với nó không. Sau khi xem vết thương, tên y tá báo cáo là đúng như vậy, thằng này bị gãy tay và chân. Vào lúc này pháo binh ta bắt đầu phản công, những trái lựu đạn từ trên cao nổ chụp xuống. Đây là lần đầu tiên tôi mới thấy loại đạn này. Bọn địch chạy toán loạn tìm chỗ ẩn nấp, tên y tá chạy không kịp, liền ngồi xuống hố với tôi, nó run lập cập. Tôi bảo tên y tá địch:
– Mày leo lên hố là chết liền.
Tên y tá ngồi im không nói một lời nào. Tôi hỏi nó:
– Trong túi cứu thương của mày có kéo không?
Nó trả lời tôi: “Có”.Tôi liền bảo nó lấy kéo rọc tay áo chỗ vết thương, tôi chỉ chỗ lấy thuốc sát trùng trong dây ba chạc của tôi ra sát trùng và băng vết thương cho tôi! Tên y tá làm theo hướng dẫn của tôi. Máu từ cánh tay không ngừng chảy, ướt cả hai băng cá nhân, tôi liền bảo nó lấy băng có tẩm thuốc, băng chặt bên ngoài và treo cánh tay bị thương lên. Pháo binh của ta tiếp tục rót vào Căn cứ, thoáng nghe tiếng gọi:
– Y tá đâu? Y tá đâu?
Nó liền đứng dậy chào tôi và chạy biến ra ngoài.
Tôi ngồi im tại hố cá nhân, nghe ngóng tình hình. Bây giờ trước mắt phải tránh xa tụi vc cái đã, rồi tính sau. Tôi liền chồm người và leo lên miệng hố. Đầu óc quay cuồng, choáng váng, tôi ngã ập xuống đất, không thể đi được, tôi nghĩ có lẽ tôi mất máu nhiều nên mới bị như vậy. Tôi nằm ngửa và quan sát tìm hướng về hầm chỉ huy, nơi đó an toàn để tránh miếng pháo chụp của phe ta. Hầm chỉ huy cách chỗ của tôi khoảng 15 mét. Tình cảnh lúc này khó khăn cho tôi, miểng đạn, cát đất bay mù trời, tôi nghĩ nằm ở đây không ổn. Trông thấy có cái thùng conex gần đó, tôi liền trườn vào, nằm thở hổn hển, mệt và khát vô cùng. Máu từ hai vết thương tiếp tục rĩ làm thấm ướt áo quần, bỗng tôi thấy có tia chớp lóe sáng, sau đó là tiếng nổ đinh tay nhức óc, cái thùng conex lay động mạnh. Tiếng mãnh đạn rít bên tai, một góc thùng bị bể và những tia nắng mặt trời chiếu qua những lỗ thủng xuống chỗ tôi nằm, cái thùng conex trúng mảnh đạn chứ không phải tôi, vậy tôi vẫn chưa chết, may mắn thật! Một lúc sau không còn nghe tiếng pháo của ta nữa, mà chỉ còn nghe tiếng gọi nhau í ới của địch quân.
Từ hướng đông có tiếng trực thăng bay tới rất gần và trời ơi nó bắn cái gì như bò rống, tụi vc ở ngoài hoảng loạn réo gọi la hét ầm ĩ, chắc có một số đi chầu diêm chúa. Trực thăng bắn và đảo hai vòng rồi biến mất. Trong cái thùng conex lổ chổ lỗ thủng, tôi lại cảm thấy không an toàn, tôi cố gắng lết ra ngoài để trườn về hầm chỉ huy. Nhưng ác thay vừa lết ra khỏi thùng thì tôi nghe tiếng máy bay khu trục cơ đang lù lù bay tới, lần này nó bay tầm thấp, khi bay ngang chỗ tôi nằm tôi còn thấy rõ viên phi công. Chắc người phi công cũng nhìn thấy tôi, tôi đưa tay chỉ về phía sau, ngụ ý hướng của địch quân, lúc đó tôi có nghe nhiều loạt đạn phòng không bắn về chiếc khu trục, trúng đạn chiếc khu trục rơi về hướng địch. Bọn vc trong Căn cứ reo hò vì đã hạ được chiếc phi cơ. Tôi vô cùng lo âu vì không biết bao giờ mới kết thúc. Mình đang trong tình cảnh bị thương, máu ra nhiều, không biết còn sống được bao lâu nữa! Tôi tiếp tục trườn về hướng hầm chỉ huy, cuối cùng thì tôi cũng tới được cửa hầm. Sức cùng lực kiệt tôi không thể xuống hầm, nên tôi nằm tại chỗ, phó mặc cho số phận, tới đâu thì tới, quá mệt!
Pháo binh của ta lại tiếp tục nả vào Căn cứ Phượng Hoàng, lần này dữ dội hơn. Đạn rơi đều khắp trong Căn cứ. Tôi nghĩ có lẽ bên ta muốn hủy diệt tất cả địch quân trong Căn cứ, không may cho tôi trong đó có người lính TQLC còn sót lại trong căn cứ. Những trái đạn pháo lại tiếp tục rơi. Tôi cố gắng chui xuống hầm một cách khó nhọc. Hai vết thương đau nhức khi tôi va chạm với các bậc lên xuống. Xuống đến hầm tôi thở hổn hển, tay chân gần như bất động. Căn hầm rung chuyển vì những trái đạn nổ trên nóc hầm, căn hầm như muốn sập. Nằm ở đây tôi nghe tiếng xích của xe tank T54 đều khắp nơi trong căn cứ. Nằm gần như bất động, máu chảy động vũng, mệt vô cùng, hơi thở yếu dần, khát khủng khiếp. Tôi thầm nhủ “hay là uống thử máu mình cho đở khát”, nếm thử một ít tôi thấy mặn và tanh quá nên đành thôi. Bỗng có tiếng nổ rất gần, một lúc sau có người chạy về phía căn hầm, tôi vội lết vào chỗ tối nơi góc hầm. Tụi nó không phát hiện ra tôi, trong bóng tối, tôi quan sát thấy tụi nó không đội nón cối mà đội nón của mấy tên trên xe tank.
Tôi nghe chúng nó xì xầm to nhỏ một lúc sau thì bỏ đi. Có mấy trái đạn lại rơi lên nóc hầm, căn hầm sạt một góc, tôi nghĩ sớm muộn gì cũng sập, ở đây nó đè chết luôn! Tôi cố gắng lết ra khỏi hầm nhưng rồi ngã quỵ. Một trái đạn pháo rơi gần cửa hầm, mảnh đạn văng tung tóe, lúc đó nếu mà tôi lên sớm một tí chắc là ôm nguyên một trái. Số của tôi chắc có ông bà che chở cho nên bao lần thoát hiểm, nên tôi van vái cho tai qua nạn khỏi. Đợi trái thứ hai nổ cách xa cửa hầm, lấy hết sức lực tôi bung người nhảy ra khỏi hầm. Trời đất như quay cuồng, tôi ngã ập xuống mà mắt vẫn mở nhìn về phía hầm của 2 cố vấn Mỹ, cách đó khoảng hơn chục mét có chiếc tank T54 nằm gần cái thùng conex hình như nó đang cháy, pháo của ta vẫn nả đều vào Căn cứ. Ở ngoài này không xong rồi.
Bản năng sinh tồn của tôi trỗi dậy mãnh liệt, một lần nữa tôi cố gắng lết xuống hầm. Ngồi dựa vào vách hầm, xem xét lại các vết thương, máu vẫn tiếp tục rỉ, miệng khô và đắng vì khát, cơn khát hành hạ tôi nên tôi quên nỗi đau của thể xác. Rồi tiếng pháo thưa dần rồi im hẳn. Một lúc sau có tiếng súng cá nhân, tiếng súng M16 vang lên ở phía ngoài cổng Căn cứ và tiếng la hét xung phong. Tôi vô cùng mừng rỡ là mình sẽ được các đồng đội cứu ra khỏi chỗ này. Nhưng lúc này tôi phải sáng suốt để nhận định tình tình. Khi quân ta tấn công và tái chiếm căn cứ, không biết là cánh quân nào, nhưng chắc chắn có một điều là họ sẽ thanh toán các mục tiêu (như căn hầm) bằng lựu đạn. Khoảng cách từ cổng Căn cứ là vài chục mét, tôi nghe có tiếng chân người tiến đến cửa hầm.
Tôi quyết định lên tiếng và la to lên:
– Tôi TQLC bị thương.
Đúng như tôi dự đoán, người trên hầm ra lệnh:
– Ra khỏi cửa hầm cho tôi thấy.
Nén đau tôi lết ra khỏi cửa hầm, tôi nhìn thấy hai người lính TQLC gương mặt họ ngụy trang một lớp màu đen, một người hỏi:
– Có vc ở dưới hầm không?
Tôi trả lời:
– Không.
Họ nhảy xuống hầm và lục soát, kế đến có 2 người lính nữa khiêng tôi ra khỏi Căn cứ. Có 1 vị sĩ quan của TĐ TQLC tôi không rõ là đại đội mấy! Ông nhìn tôi và nói:
– Tụi tao đã trả thù cho mày rồi đó.
Và chỉ về hướng chiếc xe tank T54 đang bốc cháy nằm la liệt. Lúc này có 1 toán quân nữa của ta cũng vừa đến, họ đang truy kích địch. Trong toán quân này có 4 người cùng Trung đội Quân y TĐ với tôi. Vừa thấy tôi họ la lên:
– Thằng Thế đây!
Họ vui mừng không tả xiết. Trung đội báo cáo tôi mất tích rồi. Nhìn cảnh tôi bị thương ai cũng xót thương. Hạ sĩ Y tá Minh nói:
– Thằng Thế nó bị thương nặng lắm, bây giờ là phải tải thương nó về TĐ có Bác sĩ Chỉnh ở đó.
Lúc này tôi cảm thấy lạnh và hơi thở của tôi yếu dần, không có băng ca tải thương. Anh Minh lấy cái poncho quấn ngang người tôi và nói:
– Em ráng chịu đau để anh vác em về hầm Quân y nơi Bác sĩ Chỉnh.
Các anh đở tôi lên vai của anh Minh, tay của anh Minh ôm hai chân tôi, đầu tôi gục sau lưng anh, mắt tôi nhắm nghiền, rên khe khẻ. Lúc này tôi không còn cảm giác đau nữa, tôi lịm dần và không còn biết gì nữa. Trong trạng thái lơ mơ tôi có nghe tiếng anh Hà, có ai chích thuốc vào bụng tôi. Khi tỉnh dậy tôi mới biết mình ở BV Quảng Trị. Tôi vừa trải qua một cuộc giải phẩu, anh Hà bước vào phòng là tôi đã hiểu là anh đã tản thương tôi ra BV này. Tôi hỏi là các vết thương của tôi có nặng không, anh Hà trả lời:
– Bác sĩ vừa mổ xong, không có gì nghiêm trọng, sẽ mau bình phục thôi.
Anh Hà trấn an tôi:
– Sáng mai sẽ chuyển em ra BV Nguyễn Tri Phương, Huế. Anh ở đấy với em, chờ tản thương xong anh sẽ trở lại hành quân.
Hôm sau ngày 10-4-1972 tôi được tản thương ra Huế, xúc động, bùi ngùi, tôi chia tay Hạ sĩ Hải Hà từ ngày ấy.
Và bặt tin cho đến nay, dù tôi đã tìm mọi cách để gặp lại. Ngày 12-4-1972 tôi được chuyển ra phi trường Phú Bài di chuyển về phi trường Tân Sơn Nhứt và chuyển tiếp về BV Lê Hữu Sanh của TĐ Quân y TQLC. Nơi tôi ra đi và ngày về không còn nguyên vẹn. Bây giờ tôi là một Thương phế binh./.
Vào tháng chín, tôi được chuyển đến bệnh viện hải quân Sasebo. Sự thay đổi này làm tôi hân hoan, tôi sẽ được gần nhà hơn, và tôi có thể gặp lại gia đình.
Bấy giờ mùa Hạ nóng bức đã trôi qua, và xe lửa lướt đi trong một bầu không khí ấm áp dễ chịu. Tôi mở rộng các cửa sổ, đẫm mình trong ánh mặt trời và gió dịu nhẹ của mùa Thu. Nước Nhựt chưa bao giờ đẹp hơn trước mắt tôi, với cảnh sắc Thu trên núi, trên đồi, dáng vẻ êm đềm lạ lùng của vùng quê trôi qua. Màu cây xanh thẫm và màu hoa đỏ tía điểm tô dọc theo hai bên thiết lộ.
Ba giờ sau khi rời khỏi Yokosuka, Fujikama đã ẩn hiện trong tầm mắt. Tôi nhìn ngắm một trong những hòn núi đẹp nhứt của nước Nhựt này không biết chán. Tuyết đã tan trên những con đường mòn chạy lượn cong trên đỉnh núi, thoắt ẩn thoạt hiện trong màn sương mù lấp loáng dưới ánh mặt trời. Phú Sĩ Sơn (Fuji) nhắc tôi nhớ lại Fujiko. Thiếu nữ ấy, quả thật, đã lấy tên núi này làm tên lót, nhưng hiện thời đối với tôi đã xa cách ngàn trùng.
Xứ sở êm ả và thanh bình. Chiến tranh không có ở đây, không có trong vòng hàng trăm nông trại, ruộng lúa nằm ngay ngắn, khoáng đạt và thịnh vượng dọc theo hai bên đường sắt. Chiến tranh đâu? Tôi chỉ nhìn thấy những gì mà trước kia tôi đã từng thấy, vả lại có phần đẹp đẽ hơn hồi tôi còn là một thiếu niên.
Má tôi chờ đón tôi ở nhà ga Fukuoka. Nơi đây xe lửa chỉ dừng lại ngắn ngủi và hành khách không được phép xuống xe. Tôi nghiêng thân hẳn ra ngoài cửa sổ để vẫy tay gọi má tôi. Thấy tôi, mặt má tôi rạng rỡ. Má tôi già đi nhiều lắm. Bây giờ má tôi chỉ trơ trọi một thân, mấy người con trai của bà đã ra đi hết rồi.
“Con khoẻ mạnh!” Tôi la lớn. “Con vẫn khoẻ mạnh, má! Ðừng lo cho con.”
Xe lửa chuyển bánh. Má tôi đứng trên sân ga, đôi mắt nhoà lệ. Bà vừa khóc vừa phất lá cờ nhỏ in hình mặt trời mọc. Buồn bã làm tôi suy nghĩ miên man. Không có ai trong số những người sinh sống ở đây, từ lão nông, thanh niên đến các đứa trẻ, xã trưởng, phát thư, cảnh sát hay thương gia đã bay trên Guadalcanal ở cao độ sáu ngàn thước để nhìn thấy cả một mặt đại dương rung chuyển vì hàng đoàn chiến thuyền Hoa Kỳ dài đến tận chân trời.
Cuộc chiến đã thay đổi. Ở Rabaul tôi chứng kiến Phi đoàn Lae là một tập thể những phi công ưu tú nhứt, các chiến tích không ngớt của chúng tôi làm bằng chứng, nhưng các phi công của Lục quân Nhựt ít kinh nghiệm và không được đào tạo gắt, như phi công Hải quân chúng tôi, đã thường xuyên rơi vào chiếc bẫy của kẻ thù. Ðến ngay cả tôi, cũng bị địch vồ lấy, suýt chết. Chúng tôi không còn làm chủ không trung nữa. Trời cao đã chuyển sang tay đối phương. Ðến một lúc nào đó, từ những tảng mây bên trên thiết lộ này, sẽ rơi xuống thảm bom như ở Rabaul.
Các bác sĩ ở Sasebo lại ra lịnh cho tôi nằm dưỡng bịnh thêm một tháng nữa. Thời gian trôi qua chậm chạp, nhưng cuối tuần lễ đầu tiên, tôi đã hoan hỉ vì có má tôi đến thăm với bánh quà mà tôi thích ăn hồi còn nhỏ. Tôi ngần ngại khi nói cho bà biết tôi đã đui một mắt bên phải. Trước sự kinh ngạc của tôi, bà bình thản nói: “Có sao đâu, con vẫn là một con người, con trai của má.”
Bà đến thăm tôi mỗi cuối tuần. Gặp má, tôi thường thật là thích thú nhưng tôi xin bà đừng đến nữa. Bà đã lớn tuổi, đường xa mệt nhọc, vả lại di chuyển bằng xe lửa càng ngày càng trở nên khó khăn. Các toa xe đều chở đầy ắp chiến cụ, chỗ dành cho hành khách bị thu hẹp và rất tồi tệ.
Ở Sasebo tôi thường nghĩ đến Hatsuyo, không biết nàng có còn giận tôi đã khước từ Fujiko, là bạn thân nhứt của nàng, cho đến khi tôi nhận thơ của Hatsuyo thông báo sẽ đến thăm ngay khi có thể, tôi mới an lòng.
Vào tháng 11-1942, một biến cố xảy ra, mà nếu ở hoàn cảnh nào khác tôi sẽ coi đó là một trong những biến cố lớn nhứt của đời tôi. Nhưng ở hoàn cảnh hiện thời biến cố ấy ít có ý nghĩa. Bịnh viện nhận được lịnh thăng cấp Chuẩn úy cho tôi. Con đường dằng dặc khởi từ một tân binh thủy thủ, với kỷ luật tàn nhẫn và hình phạt liên miên, đã đến điểm cuối của nó. Từng bước một, tôi đã leo lên, và bây giờ phần thưởng đã đến tay. Ðó là một chiến thắng hụt hẫng, nhưng có sự đền bù của nó. Tôi viết thơ báo cho má tôi và Hatsuyo biết tôi đã lên sĩ quan. Má tôi khuyên tôi không được phách lối, còn Hatsuyo cho tôi hay là nàng vui mừng khôn xiết suốt tuần lễ, gặp ai cũng khoe anh họ của mình là sĩ quan không quân.
Với thân phận mới, tôi có thể hoàn tất thời gian dưỡng bịnh còn lại tại gia. Tôi chợp ngay lời đề nghị của vị bác sĩ và lập tức rời khỏi bệnh viện đến vùng ngoại ô Fukuoka, nơi má tôi đã đến chung sống với người chị cả và anh rể của tôi.
Tháng kế đó là một tháng đầy tuyệt thú. Lần đầu tiên sau 10 năm, tôi được sống gần má tôi trọn 30 ngày. Hầu như mỗi ngày bà đều hỏi tôi: “Con nghĩ bao giờ sẽ hết chiến tranh, Saburo?”. Tôi biết bà nghĩ đến hai anh trai hiện đang chiến đấu ở hải ngoại. Và mỗi lần bà hỏi, tôi chỉ biết nói sự thật: con không biết.
Rồi má tôi nhìn quanh, để chắc không có ai xung quanh, bà khẽ hỏi: “Saburo, nói cho má biết chúng ta có thắng thật không? Những điều họ nói có thật không?” Tôi chỉ có thể đáp: chúng ta phải thắng.
Vài tuần lễ sau khi tôi đến ở nhà chị cả, một ông khách từ Ðông Kinh đến viếng tôi. Một thông tín viên của nhựt báo Yomiuri Shimbun, một trong những nhựt báo lớn nhứt ở Nhật Bản. Thông tín viên này cho biết tờ báo của ông ta muốn thực hiện một cuộc phỏng vấn độc quyền với phi công tài ba nhứt Nhựt Bản, vì cả nước đều muốn đọc những lời nói của chính tôi về cuộc chiến (Khi được gán cho danh hiệu phi công hạ nhiều phi cơ địch nhiều nhứt nước, tôi tự hỏi Ota, Nishizawa hiện thời đã hạ được bao nhiêu chiếc. Tôi chắc họ đã qua mặt tôi). Tôi không biết tôi có quyền đáp cuộc phỏng vấn này hay không. Tôi có thể phạm kỷ luật nếu tôi nói ra sự thật. Tôi gọi điện cho Sĩ quan Hành chánh ở Sasebo và trình bày vấn đề. Ông ta né tránh và nhấn mạnh rằng không có những quy định đặc biệt nào trong vấn đề này.
“Tôi không có quyền khuyến khích anh tiếp xúc với nhà báo,” ông ta kết luận. “Nhưng tôi phải nhắc anh nhớ rằng những lời nói của anh cần được cân nhắc cẩn thận, và anh phải chịu trách nhiệm những gì anh đã nói. Anh cũng phải luôn luôn nhớ rằng ở đây không tán thành mà cũng không ngăn chặn bất kỳ sĩ quan nào muốn trả lời một cuộc phỏng vấn của báo chí. Hãy cẩn trọng!”
Ðó là một lời đáp chắc chắn có tánh cách phủ định. Tôi quay vô phòng và nói cho viên ký giả biết Thượng cấp của tôi không hài lòng cuộc phỏng vấn mà ông ta yêu cầu. Nhưng ông ta không chịu bỏ cuộc một cách dễ dàng.
“Tôi nghĩ việc này không có gì gây phiền phức cho ông”, hắn cãi. “Tôi vượt bảy trăm dặm đường từ Ðông Kinh đến đây chỉ để tiếp xúc với ông! Xin ông cho tôi hỏi một vài câu thôi! Năm phút là cùng!”
Tôi sớm biết tôi ngu! Khả năng vặn hỏi và mưu mô sắp xếp moi tim của thằng cha này qua cuộc phỏng vấn thật kỳ dị. “Năm phút” của hắn trở thành ba ngày! Mỗi buổi sáng từ khách sạn trú ngụ, hắn lê thân đến nhà tôi ghi chép đủ thứ. Hắn gợi tôi nói đủ chuyện. Những câu hỏi của hắn đều tránh đề cập đến chiến tranh, cho đến khi tôi khám phá ra rằng những câu chuyện liên quan đến chiến tranh. Hắn sớm nhận ngay niềm lạc quan đã mất hết trong tôi, và những phi công chúng tôi ở Rabaul, mặc dù đạt được nhiều thành quả, nhưng hiện thời đang tham dự vào một trận đánh gian nan ở Guadalcanal, và nhận rất ít sự hợp tác của Lục quân Nhựt Bản.
“Chúng tôi cần nhiều chiến đấu cơ và những phi công kinh nghiệm hơn”, tôi nói với hắn trong lúc nổi nóng nhất thời. “Mỗi chiến đấu cơ đều phải xem xét lại toàn diện sau 150 giờ bay. Ngay cả những phi cơ chưa bắn một phát súng nào và chưa bao giờ nhận một viên đạn nào của địch quân, cũng phải xem xét lại. Hiện thời chúng tôi không thể làm gì hơn được. Một chiếc Zéro mang thương tích nhẹ, chúng tôi vẫn coi như còn trong tình trạng khả dụng và chỉ xem xét toàn thể sau 200 giờ bay.”
“Ông hiểu rõ hậu quả như thế nào khi một phi công lâm trận với một chiếc phi cơ mà những dụng cụ kiểm soát không đáp ứng mọi đòi hỏi? Chỉ những phi công tài ba nhứt mới mong tồn tại sau khi lâm trận với loại phi cơ như vậy. Nếu những phi công chân ướt chân ráo, được gởi ra hải ngoại để thay thế, họ không có được các căn bản của những phi công mà tôi đã từng bay chung, lúc đó có trời mới giúp được họ sống sót mà thôi. Những phi công Hải quân Hoa Kỳ mà chúng tôi đã từng đụng độ ở Guadalcanal là những phi công tài ba, và chiến pháp của họ siêu đẳng chưa từng thấy. Phi cơ của họ thì khỏi nói rồi.”
Tay phóng viên hài lòng hơn nữa. Hắn không thể nào che giấu sự phấn chấn, ngỏ lời cảm ơn rối rít và từ giã tôi. Tuy nhiên, sau đó tôi mới nhận thấy mình đã vấp phải một sai lầm quan trọng, khi đem nói hết mọi chuyện với hắn.
Một tuần sau đó, tôi trở lại bệnh viện Sasebo, và ghi tên xin tái khám tổng quát lần cuối cùng. Lần này sẽ quyết định việc bổ nhiệm trở lại của tôi. Lời xin được chấp nhận và tôi được sắp xếp một chiếc giường trong bịnh viện để ngủ cho đến khi cuộc khám bịnh nhiều ngày hoàn tất.
Sáng sớm hôm sau, tôi được gọi đến Phòng Hành chánh của Bộ Tư Lệnh Sasebo. Gương mặt của vị đại tá đỏ gay vì giận dữ.
“Chuẩn úy Sakai,” ông hét lên “anh là một thằng ngốc!”, “trong đời tôi chưa thấy sĩ quan nào thiếu suy xét như anh.”, vị đại tá thét lớn: “Tôi vừa nhận được công điện của Tổng Hành Dinh Hải quân ở Ðông Kinh, họ đã cấm đăng toàn thể bài phỏng vấn anh của báo Yomuiri Shimbun. Ði nói hết những chuyện mà anh đã làm, anh có điên không? Ðông Kinh đã khiển trách tôi nặng nề, với lý do thiếu kiểm soát thuộc cấp. Tôi sẽ không để cho chuyện ngu dại này xảy ra nữa. Bây giờ tôi nói cho anh biết, anh không hở một tiếng nào về nhiệm vụ chiến đấu của anh mà không hội ý trước với sĩ quan Tâm Lý Chiến. Anh hiểu chớ? Lặp lại sự dại dột này, không chỉ một mình anh mà chính tôi cũng phải ra toà án quân sự!” Vị đại tá đập bàn: “Tôi cảnh cáo anh lần này. Chớ có sắm vai ngu xuẩn, hiểu chưa?”
Tôi biết hoàn toàn! Tôi bị bịt miệng, nhưng tôi thông cảm cái thế của ông ta. Ðơn giản hơn hết, Sakai, hãy ngậm miệng của mày lại.
Tôi quay về bịnh viện, gặm nhấm những lời trách mắng vừa nhận lãnh.
Có người gọi tên tôi. Một binh sĩ chạy việc đứng nghiêm ở cửa chào tôi. “Gì đó?”. Tôi vội hỏi.
“Dạ thưa, Chuẩn úy có một ông khách. Một phi công hải quân lớn con, đang chờ Chuẩn úy ở phòng khách. Hình như ông ta nói tên là Nishizawa.”
“Hả?” Tôi la lớn: “Nishizawa, có thật hắn ta không?”
Tôi quên câu chuyện vừa xảy ra và chạy như điên ra phòng khách, chạm vào tên lính tà lọt muốn té lăn cù. Tôi mở cửa phòng và nhìn vô.
Một người đàn ông gọn ghẽ, to lớn, bước lui bước tới trong phòng, miệng ngậm thuốc. Ðây rồi! Hắn không thay đổi chút nào.
Hắn ngước nhìn tôi, cười rạng rỡ và thét lên “Sakai!..” Tôi la tên hắn “Nishizawa!”, chúng tôi ôm choàng lấy nhau, sung sướng không nói nên lời.
Tôi nắm chặt hắn rồi xô dang ra xa, “Ðể tôi nhìn anh coi!”. Tôi nói. “Ngon lành lắm! Phong độ lắm! Không bị thương à?” tôi hỏi nhanh.
“Không, Saburo,” Nishizawa đáp giọng vui vẻ. “Tôi vừa rời Rabaul hồi tháng 11. Không một vết trầy nào hết. Hình như đạn sợ tôi.”
Tôi phấn kích: “Ha! Ha! Chúng tôi đặt tên Ác quỷ Không trung cho anh thật thích hợp!” Tôi nói. “Quả thật anh là vị thần hộ mệnh của chúng tôi, lướt xuyên qua cả Lae lẫn Rabaul mà không một vết thương nào. Nishizawa, được gặp lại anh thật là tuyệt thú.” Tôi siết tay Nishizawa với niềm vui tột cùng.
“Anh cho tôi biết những chuyện đã xảy ra sau khi tôi ra đi. Chắc hiện thời anh là phi công hàng đầu của hải quân. Ồ! Tôi có thể tưởng tượng hình ảnh của anh trên không phận Guadalcanal,” Hắn khoát tay phản đối. “Ðưa tôi lên quá nhiều, Saburo,” hắn phàn nàn. “Tôi cũng không biết chắc số nạn nhân của tôi. Năm mươi hoặc có lẽ trên chút ít. Nhưng tôi vẫn còn thua anh xa.” Hắn mỉm cười. “Có lẽ anh không biết, nhưng anh vẫn còn là phi công số một.”
“Anh điên rồi!” tôi nói. “Tôi biết anh mà. Ngay từ trước đây tôi đã ngại anh qua mặt tôi rồi. Nhưng, nói tôi biết anh làm gì ở Sasebo?”
“Họ gởi tôi về Không đoàn Yokosuka” hắn đáp, mặt tiu nghỉu. “Một huấn luyện viên! Là công tác họ giao cho tôi, một huấn luyện viên! Saburo, anh có thể tưởng tượng cảnh cả ngày tôi bay vòng quanh với một chiếc phi cơ hai tầng cánh vừa cổ lỗ vừa xộc xệch, hò hét mấy tên ngu như bò, dạy cho chúng biết quành quẹo như thế nào, và làm sao giữ cho quần của chúng đừng ướt mẹp không?”
Tôi cười ngất. Hắn nói đúng! Nishizawa mà làm huấn luyện viên sao được!
“Ðó”, hắn tiếp, “sau một ít lâu ở đó, tôi cảm thấy muốn chết giấc. Vì vậy, tôi đã tình nguyện đi hải ngoại trở lại, họ vừa chịu buông tôi. Tôi nhận lịnh hồi sáng này, qua Phi Luật Tân. Do đó mà tôi phải gặp anh hôm nay. Sáng mai chúng tôi cất cánh.”
“Sớm vậy?”
“Tôi muốn như vậy, Saburo,” hắn đáp. “Bay quanh Yokosuka chán quá rồi. Tôi muốn chiến đấu. Tôi phải chiến đấu trở lại. Ở đây, tôi đang bị giết lần mòn.”
Tôi hiểu hắn. Thật vậy, tôi hiểu rõ hắn. Nhưng… có nhiều câu chuyện cần hỏi thăm, những người bạn khác của chúng tôi.
“Tôi ganh tị với anh, Nishizawa. Nhưng này, hãy nói chuyện Rabaul, kể cho tôi nghe về mấy người khác. Ðại úy Sasai bây giờ ở đâu? Và Ota, hắn có bay với anh không? Hai phi công bên cánh của tôi, Yonekawa và Hatori? Kể hết chuyện của họ cho tôi nghe đi.”
“Cái gì?” hắn nhìn tôi, đôi mắt trống rỗng. Ðôi mắt đong đầy nỗi tuyệt vọng. “Thì ra họ không nói với anh…”
“Anh nói gì vậy?” tôi hỏi.
Hắn khoát tay một cách yếu ớt.
“Anh sao vậy, Nishizawa? Mấy người kia được gởi về xứ với anh phải không?”
Hắn quay đi, lưng day về phía tôi. Tiếng nói của hắn đầy xúc động. “Saburo, họ…” hắn đặt một tay lên trán, rồi xoay mau lại “Chết hết rồi!”
Tôi không tin!… Chuyện đó không thể xảy ra được!
“Anh nói gì?” Tôi hét lên.
“Họ chết hết rồi! Anh và tôi, Saburo, anh và tôi… chúng ta là hai người duy nhứt còn sống sót của Phi đoàn Lae.”
Không thể là sự thật! Hai đầu gối tôi khuỵu xuống. Choáng váng, tôi dựa vô cạnh bàn, trong lúc đầu óc cố phân tích thảm kịch này. Làm sao…
Nishizawa bắt đầu kể. “Ðại úy Sasai ra đi đầu tiên. Vào ngày 26 tháng 8, hai tuần sau khi anh rời Rabaul, chúng tôi thực hiện một phi vụ càn quét ở Guadalcanal. Không phải như trước kia đâu, Saburo. Tôi không thể đếm bao nhiêu chiếc Wildcat cả thảy, nhưng chúng ùa đến như một giòng suối bất tận. Hết lớp này đến lớp khác. Chúng tôi không có một dịp may nào cả. Ðội hình chúng tôi phải phân tán mau đến nỗi không ai nhìn thấy phi cơ của Sasai rơi xuống! Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ phi cơ của ông ta hư hại và đã bay phía trước chúng tôi. Nhưng khi trở về Rabaul, ông ta mất tích… Ông ta không bao giờ trở về.”
Nishizawa lộ vẻ mệt mỏi. “Kế đó là Ota. Ðúng một tuần sau đó. Cứ mỗi lần ra đi là mỗi lần chúng tôi mất thêm phi cơ. Guadalcanal hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của địch quân. Ota đã ra đi giống như Sasai. Chúng tôi bị tấn công tứ phía, không ai nhìn thấy phi cơ của hắn rơi. Hắn không trở về căn cứ. Rồi khoảng ba hoặc bốn ngày sau đó, Yonekawa và Hatori bị bắn rơi. Cả hai chết cùng ngày. Nhóm 80 phi công thực hiện phi xuất hôm đó, chỉ có tôi, Ðại tá Saito, Trung tá Nakajima và 6 phi công khác trở về.”
Tôi chết đứng. Nishizawa lặng yên. Chuyện này hình như không thật. Làm sao mà họ có thể chết hết được? Họ là những phi công tài ba nhứt, làm sao họ có thể chết đồng loạt?
Bốn trong những người bạn tốt nhứt của tôi. Tất cả đều bị giết trong lúc tôi nằm như chết trong bịnh viện Yokosuka. Tôi hiểu tại sao tôi không nhận được tin tức về sự mất mát này. Nishizawa và Trung tá Nakajima đã giấu tôi, trong thời gian công việc chữa trị đôi mắt của tôi đang diễn tiến. Họ không muốn tôi xúc động sẽ ảnh hưởng đến thần kinh mắt.
Khuôn mặt những người đã chết chập chờn trước mặt tôi. Tôi nhớ lại Ota, nụ cười của hắn từ trong phòng lái lúc chúng tôi lộn nhào trên không phận Moresby. Yonekawa và Hatori, hai người luôn luôn bám sát sau đuôi tôi trong các trận không chiến, luôn luôn chăm chăm bảo vệ tánh mạng của tôi. Ðại úy Sasai luôn chăm sóc tôi những khi đau ốm, thương tích, ông ta… Và bây giờ, họ đã… chết. Tôi khóc nức nở, không xấu hổ, giống như một đứa trẻ òa khóc. Tôi khóc mùi mẫn, thân thể rũ rượi.
“Tôi là một tên khốn nạn!” Hắn nói. “Tôi không thấy họ rơi xuống! Tôi không bảo vệ được họ. Ngay cả khi họ mất tôi cũng không biết. Những bạn thân của chúng ta, Saburo, những bạn thân nhất của chúng ta. Tôi đã không làm gì để giúp đỡ họ hết!”.
Hắn ngồi xuống. “Không, không, điều này cũng không đúng. Tôi không thể làm gì được. Phi cơ địch đông vô số, không đếm xuể. Chúng như những tảng mây lấp đầy bầu trời.” Tiếng nói của hắn mòn mỏi.
Chúng tôi ngồi lặng yên hồi lâu, nhìn lẫn nhau cùng im lặng.
Đại tá Diep T Khanh và các Sĩ quan Lục quân Cannada (Ảnh của westpoint.edu).
Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, khiến nhiều người Việt Nam phần đông là Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hoà được chính phủ Hoa Kỳ giúp di tản khỏi Việt Nam và tái định cư tại Hoa Kỳ. Tiếp theo là những đợt thuyền nhân vượt biên thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển, từ đó đến nay có trên 2,2 triêu người Việt sinh sống tại khắp các tiểu bang và lãnh thổ Hoa Kỳ. Từ những Cộng đồng người Việt lớn mạnh và phát triễn, nhiều nam nữ thanh niên người Việt đã gia nhập và phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, tuy chưa có thống kê chính xác, nhưng ước đoán có thể có trên 5000 quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội hiện đại và hùng mạnh hàng đầu thế giới, họ mang cấp bậc từ Binh sĩ, Hạ sĩ quan, Sĩ quan lên đến cấp Tướng. Theo các tài liệu thu thập được thì có nhiều Sĩ quan phụ nữ gốc Việt mang cấp bậc từ Thiếu úy lên đến Đại tá, trong số đó có 31* vị mang cấp bậc Đại tá.
Danh sách 31 nữ Đại tá Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt:
Hải Quân:
HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van và gia đình trong buổi Lễ thăng cấp tại Ngũ Giác Đài ngày 29 tháng 09 năm 2021 (Ảnh của Nguyễn Văn Huấn, denhihocap.com).
– HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van, Bác sĩ Quân y Hải quân.
– HQ Đại tá Tuanh Halquist**, Bác sĩ nha khoa Hải quân
– HQ Đại tá Thu Luu. Bác sĩ nha khoa Hải quân.
– HQ Đại tá Hoan Nghiem, Bác sĩ nha khoa Hải quân.
– HQ Đại tá Ho Thi Hoa, ngành kỹ thuật cơ khí Hải quân (hồi hưu).
– HQ Đại tá Thu Phan Getka, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân (hồi hưu).
– HQ Đại tá Tran Ngọc Nhung, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân (hồi hưu).
HQ Đại tá Hoan Nghiem trong buổi lễ thăng cấp ngay 1 tháng 7 năm 2024 tại Bộ chỉ huy huấn luyện Quân y Hải quân (Ảnh của Mass Communication Specialist 2nd Class Jennifer Benedict).
Lục Quân:
– Đại tá Diep T Khanh. Tham mưu trưởng Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point).
– Đại tá Nguyen Kim Chi, giáo sư Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point).
– Đại tá Dana R. Nguyen. Bác sĩ Quân y Lục quân.
– Đại tá Jennifer D. Nguyen, Lục quân trừ bị.
– Đại tá Phuong T. Pierson (hồi hưu).
– Đại tá Danielle Jaque Ngo (hồi hưu).
Không Quân:
Đại tá An T. Duong, Không quân (Ảnh của afgsc.af.mil).
– Đại tá An T. Duong, Bác sĩ Quân y Không quân.
– Đại tá Tina H. Nguyen, Sĩ quan hành chánh, tài chánh Không quân.
– Đại tá Tam T. Dinh, Quân y Không quân.
– Đại tá Lynda K Vu, Bác sĩ Quân y Không quân (hồi hưu).
– Đại tá Mylene Tran Huynh, Bác sĩ Quân y Không quân (hồi hưu).
Thủy Quân Lục Chiến:
– Đại tá Elizabeth Pham, Không quân Thuỷ quân lục chiến.
– Đại tá Ly T. Fecteau (hồi hưu).
Đại tá Elizabeth Pham, Không quân Thuỷ quân lục chiến (Ảnh chụp khi còn mang cấp Trung tá của Mrs. K Tran, Mr. BMH chuyển).
Đoàn y tế công cộng (USPHS):
– Đại tá Jade Ariel Pham, Dược sĩ.
– Đại tá Nguyen Thanh Thuy, Điều dưỡng..
– Đại tá Diem Kieu Hoang Ngo, Dược sĩ.
– Đại tá Quynh Chi Tan Duong, Dược sĩ.
– Đại tá Mimi Thanh Uyen Phan, Dược sĩ.
– Đại tá Vu the ThuyAnh***, Dược sĩ.
– Đại tá Roli Luu.
– Đại tá Chau Minh Vu, Bác sĩ USPHS.
-Tân Đại tá Kimberly Nguyen.
-Tân Đại tá Caroline Le.
-Tân Đại tá Albright Hien.
Tân Đại tá Caroline Le, USPHS ( Ảnh chụp khi còn mang cấp Trung tá của dcp.psc.gov/OSG/apaoc/documents/APAOC-Newsletter—Winter-2019).
Cho đến nay đã có hơn 31 nữ đại tá gốc Việt phục vụ trong các Quân chủng Hải, lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ, nhưng vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp tướng!**** Chúng ta hy vọng một ngày không xa, sẽ có phụ nữ Việt Nam trỡ thành những nữ tướng trong quân đội Hoa Kỳ như một số phụ nữ gốc Nhật, Hàn, Hoa, Phi Luật Tân và gốc Á Châu-Thái Bình Dương, đó là Đề đốc Hải quân Seiko Okano, Thiếu tướng Không quân Susan Mashiko (hồi hưu) và Chuẩn tướng lục quân Miyako Schanely (hồi hưu) gốc Nhật; Chuẩn tướng Không quân Sarah H. Russ, Thiếu tướng Không quân Sharon K.G. Dunbar (hồi hưu)) gốc Hàn; Thiếu tướng Quân y vệ binh Quôc gia Lisa J. Hou, Thiếu tướng Không quân Carol A. Lee (hồi hưu), Phó Đề đốc Hải quân Alma M. Grocki (hồi hưu) và Chuẩn tướng Lục quân Coral Wong Pietsch (hồi hưu) gốc Hoa; Thiếu tướng Lục quân Suzanne Vares-Lum gốc Nhật-Hoa-Hawaii (hồi hưu); Phó Đô đốc Quân y Hải quân Raquel C. Bono, Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor V. Valentin, Phó Đề đốc Hải quân Babette Bolivar và Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor Mariano gốc Phi Luật Tân. Những nữ tướng Hải quân gốc Phi Luật Tân trên đã hồi hưu, theo các tài liệu tham khảo.
Tân Đại tá Kimberly Nguyen ( Ảnh chụp khi còn mang cấp Trung tá của x.com/usfcoph/status ).
Chú thích: *Có thể hơn 31 nữ Đại tá gốc Việt, vì trong danh sách 102 Đại tá gốc Việt có 2 Đại tá có thể là phụ nữ, đó là Đại tá lục quân Hang T Nguyen và Đại tá không quân Nga T Do ! Ngoài ra, có một số nữ Đại tá khác có họ giống họ Việt, nhưng chưa xác định được nguồn gốc; **HQ Đại tá (Navy Captain); ***Ghi theo họ tên từ các tài liệu; ****Không tìm thấy tài liệu Đại tá Danielle J. Ngô được thăng cấp Chuần tường và Đại tá Vu The Thuy Anh thăng cấp phó Đề đốc Hải quân từ các tài liệu của Lục quân, Hải quân, USPHS và United States Senate Committee on Armed Services!
Bài 31 Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt viết theo các tài liệu thu thập được để chia sẻ với bạn đọc. Sẽ có những thiếu sót ngoài ý muốn không sao tránh khỏi. Xin vui lòng lượng thứ. Trần Anh.
Nguồn: Congress.gov; Navy Personnel Command; Air Force’s Personnel Center; List of female United States military generals and flag officers; COMMISSIONED CORPS OF THE U.S. PUBLIC HEALTH SERVICE; bienxua-Những Nữ Tướng Hoa Kỳ gốc Việt trong tương lai.
Vào những ngày cuối năm 2006, có hai tin vui về hội hoạ: Một ông ở bên Tây về Việt Nam triển lãm, một ông ở Việt Nam lại đi Mỹ triển lãm.
Thái Tuấn Khép Lại Một Năm Nghệ Thuật
Ông thứ nhất chính là lão hoạ sĩ Thái Tuấn, năm nay 88 tuổi rồi, ông đã di chuyển sang Paris từ sau năm 1975. Giữa năm nay, ông lừng lững trở về Việt Nam, và như tôi đã có dịp tường trình trong một bài trước, ông “quyết tâm” sáng tác để có thể ra mắt những tác phẩm mới nhất vào dịp cuối năm này. Ông đã đạt được ước mong đó. Triển lãm Thái Tuấn được mang tên “Về Nguồn”, từ ngày 9 đến 21-12-2006, tại phòng tranh Tự Do đường Hồ Tùng Mậu Sài Gòn.
Tôi không về dự ngày khai mạc như ông muốn, sau đó vài ba ngày tôi mới về Sài Gòn. Chúng tôi hẹn nhau ở một quán cà phê rồi kéo đến triển lãm. Ðã qua hai ba ngày nên phòng tranh hơi vắng vẻ.
“Ông già” Thái Tuấn vẫn gầy và cao như con sếu, đón chúng tôi trước cửa. Mái tóc bạc trắng, giọng khào khào của ông đầy vẻ thân tình. Căn phòng hình chữ nhật dài, hai bên tường “toàn những con gái” đủ màu sắc như những cánh hoa báo hiệu mùa xuân.
Nguyễn Thụy Long nói với tôi:
– Tranh Thái Tuấn bao giờ chẳng thế. Treo gần bên nhau là một vườn ngự uyển, đứng riêng là một vẻ đẹp trong trắng của một nơi thôn dã nào đó. Không thể lẫn được với bất cứ một bông hoa, một vườn hoa nào khác.
Cặp vợ chồng bác sĩ Thân Trọng Minh đang săm soi từng bức tranh, dường như có ý định muốn mua một bức cho phòng mạch của mình. Ðây cũng là một cặp vợ chồng nghệ sĩ. Tuy là bác sĩ nhưng anh rất thích vẽ tranh, còn bà vợ là nữ họa sĩ Thanh Hằng, từng là hoa khôi của hội nữ nghệ sĩ Ngân Hà. Cạnh đó bà Nguyễn Thị Ngọc Dung, chủ nhiệm báo Cỏ Thơm từ Virginia về Việt Nam cũng đến dự triển lãm. Nguyễn Khắc Nhân, từ giã nghề làm báo ở Mỹ, đang có mặt tại Sài Gòn hiền lành đứng khoanh tay… chiêm nghiệm.
Anh Hải Sơn cho tôi biết:
– Tiếc quá, anh Tú Duyên vừa ở đây ra về. Các anh đến sớm một chút nữa là gặp rồi.
13 Bức Tranh Sáng Tác Ở Quê Nhà
Anh Thái Tuấn vui vẻ giới thiệu:
– Mười ba bức tranh trưng bày ở đây, hầu hết được vẽ từ khi về Việt Nam trong năm 2006 này. Nó đánh dấu giai đoạn trở về và tiếp tục sáng tác tại quê nhà.
Tính theo thời gian và không gian, sáng tác của họa sĩ được chia làm 3 giai đoạn: Trước năm 1975 tại Sài Gòn; sau năm 1975 ở nước ngoài và từ 2006 ở Việt Nam.
Ðó là một dòng chảy liên tục, từ thời gian dự thính ở Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương, Hà Nội đến tận hôm nay. Vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam luôn là nguồn cảm hứng của họa sĩ. Thời gian và không gian chẳng có ý nghĩa gì trong con đường nghệ thuật và quan niệm sáng tác của ông.
Trong số 13 bức tranh triển lãm lần này, chỉ có duy nhất một bức vẽ phong cảnh thôn quê Việt Nam, 12 bức còn lại diễn tả vẻ đẹp dịu dàng của thiếu nữ thuộc nhiều thành phần khác nhau. Ðặc biệt là những cô gái quê chít khăn mỏ quạ, mặc nâu sồng, ngồi chõng tre, đu đưa trên chiếc võng cói… Tôi thích nhất bức này. Ở người nghệ sĩ tài hoa Tô Ngọc Vân, nét vẽ thiếu nữ trên võng mượt mà, đằm thắm, đầy mơ mộng trở thành một tác phẩm điêu luyện độc đáo. Ở Thái Tuấn nét vẽ mộc mạc, tươi tắn, trẻ trung và sống thật, gần gụi với cuộc sống hơn.
Những bức khác, anh vẽ thiếu nữ mặc áo dài, hồi xưa gọi là “tân thời” của những cô gái Hà Nội vào trước thời 1945. Một dáng vẻ đặc biệt của Hà Thành thanh lịch mà ngày nay không còn nữa. Một nỗi tiếc nuối âm thầm của rất nhiều người song ít ai muốn nói ra.
Thái Tuấn muốn mời gọi người thưởng ngoạn được thấy, được cảm nhận, được rung động với nét đẹp thanh lịch của Hà Nội những “ngày xa xưa”.
Cái hồn Hà Nội chính là ở đó.
Nét vẽ của Thái Tuấn vẫn dựa trên tinh thần đơn giản, ông không dùng nhiều đường nét, rất ít màu sắc và bức nào cũng thường có những khoảng trống trong tranh. Ở đó là chỗ để những cánh hồn bay bổng.
Tôi không phê bình tranh của Thái Tuấn, chỉ xin tường trình những gì họa sĩ đã nói và khung cảnh triển lãm của ông mà thôi. Thái Tuấn đã khép lại một năm làm nghệ thuật của mình và của Sài Gòn hội họa năm nay.
Ở Sài Gòn, triển lãm tranh thì nhiều, nhưng hầu hết là những họa sĩ trẻ. Những “cây cổ thụ” như Thái Tuấn thuộc loại “đồ cổ” quý hiếm. Số người đến thưởng ngoạn khá đông, nhưng số người mua tranh lại quá ít. Những hàng tranh nhái mọc nhan nhản trên khắp các đường phố thu hút khách thập phương trở nên một lực lượng cạnh tranh náo nhiệt. Khách cần có một bức tranh của bất cứ danh hoạ nào trên thế giới là có ngay. Chỉ với cái giá rất “bèo”. Thế nên một số nhà hàng và một số “đại gia” mới nổi vẫn “chơi nghệ thuật” bằng thứ tranh nhái này “vừa rẻ vừa mới”!
Người Mang Hồn Việt Nam Đi Houston
Người thứ hai thì khác hẳn, anh mang tranh từ Việt Nam đi triển lãm ở nước ngoài, mở đầu cho một năm hội họa. Ðó là Ðằng Giao, một họa sĩ “chuyên trị” về sơn mài ở Việt Nam từ bao năm nay. Một điều Ðằng Giao thường nói rõ, chưa bao giờ nhận là học trò của danh họa Nguyễn Gia Trí, bởi cụ không bao giờ nhận học trò. Nhưng ngay từ khi còn trẻ, Ðằng Giao đã may mắn được cụ chỉ dẫn cho những kinh nghiệm làm tranh sơn mài của cụ. Sau đó là những năm tháng miệt mài, Ðằng Giao tự nghiên cứu được cách tạo mầu của riêng mình. Những gam màu đỏ và tím trên tranh sơn mài của anh vẫn là nét đặc trưng nhất.
Những Tác Phẩm Xứng Tầm Với Houston
Các đây 3 năm Ðằng Giao đã triển lãm tranh ở Mỹ.
Theo đúng dự tính của anh thì năm 2003, anh triển lãm ở 4 địa điểm. Santa Ana, San Jose, Virginia và Houston. Nhưng mới chỉ làm được ở 3 nơi, số tranh mang đi đã bán gần hết. Khi về, tôi hỏi:
– Sao không mang đi Houston triển lãm luôn cho hết?
Bề nào cũng là một chuyến đi?
Ðằng Giao lắc đầu:
– Houston gồm nhiều “đại gia” và cũng là nơi có nhiều người Việt thích tranh mang tính cách quê hương dân tộc đặc sắc. Không thể mang những tranh còn lại này sang đó được. Thà rằng tôi mang về, đợi một dịp khác, khi nào hoàn thành những tác phẩm xứng đáng với tầm vóc Houston mới dám mang sang.
– Ngày ấy là bao giờ?
– Chưa biết. Tôi vẫn quan niệm triển lãm không phải là cửa hàng bán tranh thuần túy. Chỉ khi nào tôi tự bằng lòng với chính mình mới triển lãm. Ðiều trước tiên tôi nghĩ đến là mang nghệ thuật, mang hình ảnh quê hương đến với kiều bào sau những năm tháng xa quê. Phòng triển lãm của tôi phải có hơi thở của quê nhà, có gió đồng nội, có phong tục tập quán của người Việt chúng ta. Có đình chùa miếu mạo, có vườn rau ao cá, bụi chuối sau hè, tàu dừa bên mương, có những mùa xuân với cành mai của miền Nam, cành đào của miền Bắc, tà áo dài tím của cô gái Huế… Ðấy mới là tranh của tôi.
Gian Nan Trên Giá Vẽ
Một thời gian không hạn định. Từ đó đến nay đã 3 năm ròng rã. Thỉnh thoảng trở lại Sài Gòn, tôi vẫn thấy Ðằng Giao cặm cụi suốt ngày trên giá vẽ. Anh chỉ có một người phụ tá, giúp làm những công việc lặt vặt, đóng khung, kiếm vải. Còn tất cả, anh đều tự tay làm lấy, từ việc chọn sơn, pha màu đến việc sáng tạo và cho tranh vào khung. Chu Vị Thủy, vợ anh, con của nhà văn quá cố Chu Tử, vào thời kỳ này lại đau yếu luôn nên cuộc sống của anh là một chuỗi gian nan.
Hồi anh chưa đi triển lãm ở Mỹ lần đầu, mỗi Chủ nhật chúng tôi thường đến nhà anh xoa mạt chược còm, cũng là dịp để anh em gặp nhau hàn huyên tâm sự hơn là đến những quán cà phê nhiều chuyện thị phi. Nhưng sau ngày anh triển lãm ở Mỹ về, chúng tôi không còn được gặp nhau như thế nữa. Anh từ bỏ mọi thú vui, đóng cửa, đắm mình trong phòng vẽ. Ðôi khi điện thoại đến cũng chẳng gặp anh được.
Hôm triển lãm tranh Thái Tuấn, chúng tôi mới gặp lại nhau. Buổi tối, bà chủ báo Cỏ Thơm mời cả hai họa sĩ đến quán Cơm Niêu Sài Gòn hội ngộ. Một ông là dấu chấm hết của năm 2006, một ông là người “mở hàng” cho năm 2007. Nguyễn Thụy Long và tôi cùng cậu con trai thứ hai của tôi 34 năm mới trở lại Việt Nam — được mời làm “khán giả ăn ké.” Anh Thái Tuấn cho biết đã có vài cái phòng tranh đang muốn mua lại 13 bức tranh của anh với giá của Gallery, nhưng anh còn chưa quyết định.
Ðằng Giao và Chu Vị Thủy cho biết sẽ triển lãm tranh ở Houston từ ngày 6 tháng 1, 2007 tại Hội Quán Văn Hóa nằm trong khu Saigon Houston Plaza.
Tôi hỏi:
– Vậy là tất cả đã được chuẩn bị sẵn sàng cho ngày “ra quân”? Lần này anh tính mang đi bao nhiêu bức?
Ðằng Giao vui vẻ:
– Ba năm nay, vẽ được bao nhiêu mang đi bấy nhiêu. Chu Vị Thuỷ tính toán rồi thông tin chính xác:
– 120 bức anh ạ. Ðóng “container” gửi theo máy bay cho chắc ăn, chứ lần trước gửi theo tàu chở hàng, chẳng biết chắc bao giờ nó tới. Tuy gửi máy bay có đắt hơn nhiều, nhưng nhanh và chắc. Tranh đã tới Mỹ rồi.
Ai Sẽ Làm Chủ Xuân Bất Tận?
Nguyễn Thụy Long tò mò:
– Vậy bức lớn nhất có bằng lần trước không? Ðằng Giao xua tay:
– Lớn hơn nhiều. Lần trước bức tranh “Lễ hội đầu năm” mỗi chiều 1m. Lần này bức lớn nhất có tên là “Xuân Bất Tận” tới 2m x 3m.
– Vậy giá phải đắt hơn?
–Tất nhiên rồi. Nếu bức tranh lần trước bán với giá 11 ngàn đô ở Santa Ana thì lần này có giá 30 ngàn đô. Một bức tranh “vĩ đại” cho mùa xuân, chỉ thích hợp với những căn phòng khách rộng.
Tò mò hơn chút nữa, tôi ghé tai Giao hỏi nhỏ:
– Ai là chủ nhân bức tranh lần trước vậy? Giao thì thầm:
– Dược sĩ Hoàng Trọng Tuệ. Ông này mua rất điệu. Muốn bớt cho ông chút ít gọi là làm duyên với nhau, nhưng ông bà Tuệ nhất định trả đúng giá.
Tôi lẩn thẩn nghĩ: Còn lần này chẳng biết “đại gia” nào ở Houston sẽ là chủ bức tranh “vĩ đại” này đây?
Bữa ăn gồm toàn những món “hồn quê”: canh cua rau đay cà pháo, thịt đông dưa chua, “canh tôm nấu với ruột bầu”, cá rô kho tộ, đúng với phong cách của hai họa sĩ chuyên về quê hương dân tộc.
Xin chúc cho hai cuộc triển lãm một “khép lại năm cũ” từ Tây về Việt Nam và một “mở hàng năm mới” từ Việt Nam sang “Tây” thành công.
Mùa hè không thấy phượng đỏ ve kêu, tuy vậy chúng tôi có được hai tuần nghỉ, dưỡng sức. Hai tuần tạm quên mặt mũi đồng hồ, tha hồ làm trái với quy định mà trước đây luôn nghe thần thời gian bảo ban, buộc cơ thể phải lên dây thiều cót két. “You were not born to just go to work, pay bills and die”. Hai tuần xài “đồng hồ không người lái”, sáng trưa chiều tối thì mặc xác mày, xin cho chúng tớ được nhàn cư vi có việc. Việc gì cơ? Có bất thiện không? Ồ, chỉ mỗi chuyện đầu bù tóc rối ngập mặt vào bao lưới mạng giăng bủa của internet để quên trời đất mưa dầm nắng hạn bên ngoài cảnh giới. Chây lười lao động, ăn qua loa, tắm qua quít, ngủ lai rai và chuyện trò chả có gì xôm tụ. Bạn than cô đơn bên kia đường giây điện thoại, ậm ừ cắt sóng rồi bạn vác bầu tâm sự tới gõ cửa. Bắt ghế ra ngồi trên vuông sân lộ thiên, cỏ ở đó vàng cháy trùng với dự báo thời tiết thành phố rướn thân dưới nắng lửa 30 độ C. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, chúng tớ từng chảy mỡ dưới nắng Lào bỏng rát, người miền Trung mà, chó ăn đá gà ăn muối, và con người ăn thức gì mà phát âm nghe nặng như đá tảng. Bà con cô bác xứ khác ưa làm tài khôn, chửi cha không bằng pha tiếng, Huế không nói lại nói là Huệ. Chả nhẽ tỏ tình thì thỏ thẻ: Ạnh yệu ẹm. Mỗi chữ đều phang cái dấu nặng bên dưới. Mẹ! Vừa phải thôi! Chắc bà con xa láng giềng gần chưa đọc qua câu thơ: “Em ơi giọng Huế có chi, mà trong hoa nắng thềm thì cơn mưa”. Bạn từng bất mãn để chính bạn diễu nhại ra yêu sách: Uộng cạ phệ đạ. Chuyện nhỏ. Xong ngay. Hai cái nồi ngồi trên hai cái cốc, và rõ là cà phê có người nái. Phải có sức người cà phê mới giải thuỷ được. Nước đen mun rơi tí tách nhằm giải hạn một thứ gì. Ông bà nói: Miếng trầu làm đầu câu chuyện. Con cháu thưa: Cà phê bón, mất ngủ, nổi mụn, chứa chất gây nghiện, nhưng thiếu nó, ôn mệ ơi, làm sao để mở miệng hến?
Bạn hỏi, có mở bờ lốc bờ leo không? Thành thực khai báo: Không. Bạn hỏi, rứa thì phây bút phây beo? Dạ thưa, no way. Nói chung tôi hổng có thứ để tự sướng. Bạn tỏ vẻ ngờ vực, như đứa ngồi trong bóng im trông ra thằng người dang nắng: E ông là đứa lạc hậu chăng? Việt Nam hả, hiện có 20 triệu người dùng Facebook mỗi ngày, tính riêng ở hạng tuổi từ 18 đến 34. Tôi nghe, bán tín bán nghi, tôi chỉ biết Bill Gates có lần nói: “Tất cả thông tin lẩn trốn dưới đầu ngón tay bạn”. Tôi đã đêm bảy ngày ba lùng sục vào cõi ta bà internet mà cũng bị mang tiếng lạc hậu sao cà? Chậm lụt đến thế thì thôi!
Bạn nói, tui mở facebook và tui đã lỡ nghiện nó, ông tin không? Tôi lắc ly cà phê đen đá và đắng: Vậy là thuộc diện xì-ke ma tuý, sao ông còn xúi dại vẽ đường cho hươu chạy? Tôi đi nhổ răng sâu nghe một thân chủ hỏi vị nha sĩ: Bàn chải đánh răng có gắn động cơ có tốt hơn bàn chải mình thường dùng? Nha sĩ không trả lời trực tiếp, ông chỉ nói: Sắm thêm một thứ dụng cụ có khác gì bác đèo vào thân một sự rắc rối? Hề, tôi rất chịu đèn thằng cha nha sĩ ấy. Sống, ta nên buông bỏ, nên tập đơn giản hoá mọi chuyện. Chữ phủi tay của người quân tử xét thấy nên đáng học ông ạ. Khoan, bạn nói, đi đâu mà vội, ông nghĩ sao về chữ vạn năng? Tui kể ông nghe lời ông Khổng Tử nói mà tui nhặt ra từ facebook: “Một thiếu phụ hỏi: Vì sao khi tôi ăn nằm với 3 gã đàn ông thì người ta kết án tôi là mất nết, lăng loàn, hư hỏng, xấu xa… trong khi một thằng đàn ông ngủ với 10 người đàn bà thì kẻ ấy chẳng bị lên án gắt gao gì sất? Khổng Tử đáp: Đơn giản thôi, một ổ khoá mà có đến ba cái chìa đều mở được thì rõ là ổ khoá ấy không tốt. Còn nếu chỉ 1 chìa mà mở được tới 10 ổ khoá khác nhau, vậy chìa khoá ấy phải gọi là… vạn năng”.
Chuyện ấy ông thu lượm từ phây bút, chuyện này thì tôi vừa xem từ nét, chụp lại từ trang nhật báo phát hành ở Đài Loan: “Mua một cô vợ VN bạn chỉ tốn 6000 Mỹ kim. 1/ Bảo đảm còn trinh. 2/ Bảo đảm giao hàng trong vòng 90 ngày. 3/ Không tính thêm lệ phí. 4/ Trong vòng một năm nếu “vợ” bỏ trốn, bạn sẽ nhận được một cô khác, hoàn toàn miễn phí.”
Thiệt là ngao ngán. Y như mua bán nô lệ. Cô vợ VN kia sẽ là cái ổ khoá không tốt để cho cả chục cái chìa tự tung tự tác mở banh ra. Khi nói, mặt bạn lộ vẻ buồn. Đời sống vợ chồng bạn từng trải qua sóng gió không vui. Bạn vô phúc có khi nhìn thấy một bức tranh khoả thân mà người trong tranh chính là vợ mình. Về nhà gọi vợ hỏi cho rõ trắng đen. Đời nào, anh xem thường em thế, cỡ em mà phải đi làm người mẫu à. Chắc tay hoạ sĩ kia đã vẽ theo trí nhớ. Y như một mẩu chuyện tếu, để chấm dứt khôi hài đen hai người đi đến giải pháp ly dị. Hiện tại, gia cảnh bạn: Độc thân tại chỗ. Bạn ghiền facebook, nói tội trời, để mong tìm một nữ lưu để điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa. Bạn cho hay, một cách chẳng nghi ngại, đã có lắm người nên duyên vợ chồng qua thế giới ảo. Vậy đó, mơ hồ, mông lung, không sờ nắm được, xa mặt cách lòng mà có khi lại biến thành hiện thực trần trụi, hoang đường hơn cả liêu trai chí dị. Sợ gây “nản lòng chiến sĩ” tôi chẳng dám làm bình loạn viên. Tôi chỉ kể cho bạn nghe một chuyện vui lượm được trên nét: “Cô con gái: Bố à, con yêu một người con trai đang sống xa con. Con ở Ấn-độ và anh ta thì sống tận Anh quốc. Chúng con gặp gỡ qua mạng, thành bạn nhờ facebook, nói dông dài không chán mỗi bận dùng skype. Và hiện tại, sau hai tháng chúng con đã thắt chặt mối quan hệ bằng những phương tiện thông tin điện tử. Con rất mong bố có lời chúc lành cho tụi con. Người cha đáp: Ôi! Thật hả con! Vậy thì hãy làm đám cưới trên Twiter, vui vẻ qua đường truyền của sóng. Mua con cái thông qua e-bay, gửi chúng nó qua g-mail và nếu con ngao ngán thằng chồng ấy thì cứ việc bán nó qua Amazon”.
Tôi mượn lời cổ nhân để thưa với bạn: “Lập thân tối hạ thị văn chương” khi bạn hỏi lóng rày tôi có gì phấn khởi cả tin về sạn đạo tôi dò dẫm bước. Hiểu ở khía cạnh nào đó, tôi luôn đón nhận niềm cô đơn khi đối mặt với khung hình trắng xoá. Có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ xin ly dị. Bạn nhìn, lại là ánh mắt của kẻ ngồi trong bóng dâm nhìn ra sân nắng. Và bạn kể chuyện tếu: Hai người bạn thân nói chuyện với nhau: Có lẽ mình phải ly dị mất. Sao vậy? Vì nửa năm nay người vợ chả nói với mình câu nào cả. Cậu điên à! Biết tìm đâu ra người vợ tuyệt vời như thế?
Ừ, viết văn là cách độc thoại, nói thầm cho mình nghe. Biết tìm đâu ra cái câm lặng vô bờ tuyệt vời đến thế? Tựa như vạch đầu gối ra mà tỉ tê. Tại cuộc đời giờ đây nó khiến xui vậy, đã biết bao kẻ tự rửa tay gát kiếm. Họ xuống núi đi giang hồ và họ tuyệt chẳng nhìn thấy bạn tâm giao. Hiền hữu ơi, nhà ngươi quả là thứ hàng hiếm. Có giao lưu qua lại e chỉ cực lòng khi đụng phải hàng nhái, khi ấy ta làm sao bày tỏ tấc lòng? Ông biết chuyện mới về Soan chưa? Bạn hỏi, rồi nói tiếp. Cô ta thật sáng suốt khi bỏ tui, bởi giờ này cô ở chung với một tay rất bộn bạc. Cà phê đã hết, tôi nghĩ giờ này nên cho bạn uống bia. Kể về người phụ bạc mình, rượu bia sẽ là chất giải khát trơn tru, khỏi đắng miệng. Và thuốc lá nữa chứ. Thuốc ba điếu, bia ba chai; ngày làm đêm nghỉ thầy lang khỏi mời. Kẻ chất chứa bao nỗi lòng vẫn thuộc câu ca dao cải biên nọ.
Bia mang ra khỏi tủ lạnh, bia đổ mồ hôi vì trời nắng nóng. Tê tái đổ xuống cổ họng, chảy tới đâu sảng khoái biết ngay khúc đó, hơn cả uống sâm nhung cao cổ cốt. Em giờ này trau chuốc tới diêm dúa, nhận không ra, em luôn ăn vận xiêm áo ơ hờ chễnh mảng khi đăng ảnh tạo dáng trên facebook như dem thèm bá tánh. Bạn tả tình tả cảnh, vòng vo tam quốc chơi xong khúc dạo đầu rồi tợp hết ngụm bia cuối. Em khoe mới được người bạn đời mua cho cái nhẫn hột xoàn to khủng tròng vào một ngón búp măng mà ở cổ tay đã đeo sẵn đồng hồ Cartier hoành tráng lấp lánh ánh hào quang. Hiện giờ hai cấy dôn nọ đang về quê hương giàu mạnh thăm thú, trú thân toàn ở những khách sạn cực choáng. Em cho hay “ảnh” là Việt kiều yêu nước, ký hợp đồng kinh doanh đầu tư về địa ốc và công ty trách nhiệm hữu hạn kia sẽ mang tên “ẻm”.
Một ngày kia, có lẽ tôi sẽ xiêu lòng đăng ký một tấm vé để rộng cẳng đi vào chốn giang hồ kia, facebook là gì mà nó lợi hại quá, y như thập diện mai phục. Sao nhất nhất cử động của người dưng mình đều rành rọt thế kia? Hơn cả trò chơi bịt mắt bắt dê. Hơn cả trốn tìm, đạp mạng. Song hành với ý định tìm vợ, bạn còn bỏ công dõi trông đường đi nước bước của người vừa vất bạn đứng bên đời lẻ loi. Nếu ở Việt Nam, có thể bạn mặc đồ dạ hành đêm hôm phi thân vào nhà đối tượng, trói lấy hai đứa kia, tra khảo nơi chôn cất tiền bạc, xong thì cắt cổ cả vợ lẫn chồng. Trước: Thù này phải trả. Sau: Cột được một cục tiền cho ấm đít. Thay đổi y phục, phi tang hung khí, đợi trời sáng ra bến xe đò trốn khỏi thành phố, đi càng xa càng tốt và đi tới một nơi mà suốt đời bạn chưa hề đặt chân tới. Vinh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Nội hoặc Hải Phòng. Giả dụ thế. Đừng dại lảng vảng ở những địa danh quen thuộc tựa Đà Nẵng Nha Trang Đà Lạt Sài Gòn Cần Thơ. Trước mắt là thế, công an nó có lần ra dấu vết hay không thì hạ hồi phân giải. Ở lãnh thổ hình chữ S, một ngày trung bình có tới 10 vụ giết người dã man, con người bạn thì ngó ngon cơm, có tư cách, có ăn học tử tế, rất uy tín thế kia thì e là bạn ung dung không sa lưới đâu. Phàm bọn tội phạm đều có nhân thân xấu, dân nghiện hoặc liên hệ tới xã hội đen. Bạn rung đùi đứng ngoài tầm ngắm của tổ nghiệp vụ chuyên án. Ối, chỉ là đứa bị vợ bỏ thôi mà, nó có nghiện ngập thì chỉ nghiện duy một thứ: Facebook.
Nói nghe kinh. Ông không CIA thì cũng tầm cỡ như CIB. Bạn phán, lời lẽ như cán bộ. Cán bộ mà khi truyền đạt tình hình thế giới đã nói tới phun nước miếng: “Chiến tranh trường kỳ giữa hai nước Một-răng Một rắc vẫn chưa tới hồi kết thúc”. Sau một tuần đả thông, dân ngu khu đen mới ngộ ra đó là Iran, Iraq. Chắc ông cán bộ nọ chả biết còm píu tờ, ổng hổng xài in tờ nét, ổng chả mặn phây bút. Và chắc ổng hiện đang nắm giữ một bộ phận không nhỏ trong tập đoàn lãnh đạo để vừa ký sắc lệnh, sẽ kiểm soát gắt gao và bỏ tù những đứa lợi dụng mạng lưới thông tin điện toán để nói xấu nhà nước. Lạ nhỉ, bạn nói, cô vợ cũ của tui ắt phải tin vào sắc đẹp chim sa cá lặn của mình mới liên tục mang ra khoe, thiệt vàng không sợ lửa. Còn ông nhà nước, chắc ổng toàn cả bê tông cốt tre nên ổng có tật giật mình, ổng sợ từ a tới z, ổng chẳng điện nước đầy đủ nên ông tìm đủ mọi cách che chắn đậy đằng thân phận. Hèn gì khi ngó lên bản đồ thế giới, Việt Nam là một chữ S đỏ lòm lòm vì mang chứng bịnh bóp nghẹt tiếng nói của dân. Sắc màu, bản thân chúng cũng mang sự khó hiểu. Đèn báo giao thông chuyển đỏ, bạn buộc phải ngừng lại. Thầy cô khi chấm bài phê điểm cho học sinh cũng dùng tới bút đỏ. Đỏ, tượng trưng cho khối cộng sản. Đỏ cũng ám chỉ cho những quốc gia lạc hậu. Ông có sướng không, khi được định cư trên lãnh thổ này? Một xứ sở mênh mông toàn cả màu xanh. Xanh không tượng trưng cho hy vọng. Xanh biểu tượng cho bảo vệ môi sinh. Xanh khẳng định rõ một điều, đó là thứ sắc màu của loài người văn minh tiến bộ. Quen sống thở cùng xanh, làm sao anh tiếp cận được với đỏ, ngoại trừ anh giả dại qua ải, nín thở qua sông bởi ải kia, sông nọ luôn bày biện bao oan ức tức tối, bao ngậm đắng nuốt cay, hằng hà những chuyện chướng tai gai mắt, bạo lực trên từng cây số.
Hết cà phê, cạn bia. Bây chừ biết uống gì hở ông? Chẳng lẽ đi ngược trình tự uống nước trà xong tới uống nước lạnh? Cả hai đều thuộc diện nhác chơi, nếu không e mang thân đi ký gửi một chỗ ngồi ở hàng quán thì tha hồ ăn nhậu. Thực tâm mà nói, phở riết cũng ngán, bún riết cũng oải, chè cháo thì ích gì cho buổi ấy! Bác sĩ luôn can ngăn, cai được thì nên cai, chứ xơi ba thứ mỡ màng ấy nó hại tim mạch máu me của ông lắm, nhớ? Cao huyết áp, tiểu đường, nhồi máu cơ tim. Tự dưng tai ù luôn nghe thứ gì như dế nỉ non. Khi không mắt mờ, trông chim hoá bướm. Bệnh tật định cư vào thân thể, y như đấy là tấm thực đơn in rõ bao món ăn đặc sản, may mà tấm thực đơn bèo nhèo kia không liệt kê thêm món Xi-đa, giang mai, lậu mủ. Ừ, biết đâu được. Có sao người ta mới nói: Ở đời có ai biết được chữ ngờ!
Tôi ngó bạn, nửa thân đang bị nắng liếm. Nói thật đi cha nội, khoảng đó ông ngon lành không? Ông liệt dương hay sao mà bị ẻm bỏ? Như bị dội một xô nước lạnh, bạn vùng bật dậy khỏi ghế. Bạn xổ tiếng Đan-mạch rồi than thở. Số ta không có cung thê tử, không luôn cả cung bằng hữu. Ta cô đơn và ta bất mãn, ngay cả nhà ngươi cũng nghi ngờ chuyện gối chăn phòng the phòng thiếc của ta chăng? Thôi ta thăng, chuyện trò nhiêu đó cũng đủ.
Bạn giũ áo ra về, những chai bia lăn đổ dưới sân cỏ. Có những biểu hiện cảnh báo về tuổi già, trong muôn một, đó là sự dỗi hờn giống như con trẻ. Và tôi, tôi biết mình già vì tôi thôi khôn ngoan, tôi vụng về lời ăn tiếng nói. Tôi không kiếm đâu ra mỡ để bôi lên miệng lưỡi. Căng thế! Tôi dọn dẹp vuông sân, trả lại cho nó cái yên bình như cũ. Tôi vào nhà kiếm thứ giải khát. Tủ lạnh trống trơn. Không biết hôm nay thứ mấy, lại phải đóng bộ vác thân đi siêu thị thôi. Chây lười lao động là thứ mà ai cũng lên án. Thêm nữa, muốn ăn phải lăn vô bếp. Ta không năng nổ lao động, ta không đổ thân vào bếp thì còn ai trồng khoai đất này!
Ngang qua quán phở Nhớ Quê tôi thấy bạn ngồi ở dãy bàn lộ thiên, bạn gục mặt vào tô xe lửa và ly chè ba màu đứng kề đợi bạn xơi tái. Bằng động thái của một kẻ trộm cướp, tôi lẻn vào nhưng bị cô chạy bàn phát hiện: Chú đi một mình hay sao ạ? Tôi chỉ tay tới chỗ bạn ngồi: Tôi sẽ trở lại, cô chịu khó trao cho bạn tôi một thông tin kẻo nó đợi chờ. Tôi mượn đỡ giấy bút của cô, hí hoáy viết: “Tuần sau đến chỗ tôi nói chuyện tiếp, nhé. Những chuyện không đầu không đuôi, chín bỏ làm mười mà luôn luôn chúng ta vụng dại gánh chịu dở dang không đi hết đường. Chúc ăn ngon miệng”.
Có một dạo, đi đâu tôi cũng nghe thiên hạ hát bài Con Chim Đa Đa, “sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa..” rồi đến bài Chị Tôi, “thế là chị ơi rụng bông hoa gạo”. Đúng như người ta nói, Thơ và Nhạc có ngôn ngữ riêng của nó. Một người không có nhiều chữ nghĩa như tôi, nhiều khi say mê hát một bài hát mà sau đó suy nghĩ mãi vẫn không hiểu rõ ngọn ngành, ý nghĩa một vài câu. Trong bài Chị Tôi, tôi cũng rất ư là lờ mờ cái sự kiện.. rụng bông hoa gạo..và trời cho làm thơ.. này lắm. Dù vậy tôi vẫn thấy bản nhạc phổ từ một bài thơ chỉ vỏn vẹn mấy câu này, khá hay. Mà ngay đến cái sự hay này tôi cũng mơ hồ, không biết có đúng là tôi biết thưởng thức thơ nhạc không, hay là chỉ vì có sự đồng cảm mà tôi thấy lòng mình xúc động. Bởi vì mỗi lần nghe ai đó hát bản nhạc Chị Tôi, tôi lại da diết nhớ đến bà Cô Út của tôi.
Từ lúc chưa tròn ba tuổi, tôi lớn lên trong cái bất hạnh của một người chưa hề có “bông hồng cài áo”. Mẹ tôi mất quá sớm, đến nổi tôi không bao giờ hình dung được khuôn mặt hiền từ phúc hậu của bà như lời cha tôi kể lại. Nỗi bất hạnh đó lại càng lớn hơn, khi tôi không có một bà chị nào để được dịp nhìn dung nhan Chị mà mơ tưởng đến bóng hình của Mẹ. Ba tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh đưa ra liên khu năm làm công tác “xóa nạn mù chữ”. Khi lớn lên một chút, bắt đầu nhận hiểu được đôi ba điều quanh mình, tôi chỉ biết là hai anh em tôi lớn lên ở nhà ông bà nội, và trong vòng tay yêu thương cùng giọng hát ru hời của bà Cô Út.
Cô út tôi lớn hơn tôi hơn một con giáp. Ở nhà quê nhưng bà có cái tên nghe rất lạ: Phạm Thị Mẫu Đơn. Cho mãi đến lúc đi học tôi mới biết được cái tên này, vì mọi người đều gọi cô là con Út hay cô Út. Sau này tôi hỏi ba tôi về cái tên trong giấy tờ của Cô, được ông giải thích: Sự thực thì tên trong acte de naissance (khai sanh hồi thời Pháp thuộc) của Cô út là Pham Thi Mau Dan (Phạm thị Mậu Dần), nhưng khi Cô tôi lớn lên và có chút nhan sắc, thì ông bà nội lại lo cho cái tuổi Dần cao số của Cô, nên khi có lệnh làm bản thế vì khai sanh tiếng Việt, ông bảo ba tôi xuống Huyện, nhờ ông anh họ làm chánh lục sự, sửa tên cô tôi thành Mẫu Đơn. Mang tên một loài hoa mà suốt cả một đời cô tôi không biết đó là loại hoa gì, chỉ nghe thiên hạ bảo loài hoa này đẹp lắm, thế thôi.
Có một điều chắc chắn là khi cô sinh ra Trời đã không “cho làm thơ”, vậy mà suốt cả một đời Cô vẫn bị “vấn vương với sợi tơ trời, tình riêng bỏ chợ tình người đa đoan”. Mà khổ thay, thằng cháu của Cô cũng dốt nát, chứ phải có tài năng một chút thì hôm nay nó cũng viết một bản nhạc hay chí ít cũng làm được mấy câu thơ để ca ngợi Cô. Vì so với người chị trong mấy bản nhạc Chị Tôi, bà Cô của tôi coi bộ còn thánh thiện và tội nghiệp hơn nhiều lắm.
Cô lo lắng chăm sóc hai anh em tôi không thua bất cứ một bà mẹ mẫu mực nào trên thế gian này. Lòng Cô lúc nào cũng ” bao la như biển Thái Bình rạt rào”, lời của cô lúc nào cũng “tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào” mà ông nhạc sĩ Y Vân đã từng ngợi ca, vinh danh người mẹ. Cô cũng là cô giáo vỡ lòng, dạy tôi hai tiếng i tờ, những câu tục ngữ ca dao. Lớn lên một chút, tôi được Cô ngồi bên cạnh dạy đọc truyện Chàng Nhái Kiển Tiên, Thạch Sanh Lý Thông, Phạm Công Cúc Hoa cho bà Nội tôi nghe mỗi tối. Mùa hè, tôi mê đá dế, Cô dẫn tôi ra trước hồ sen tìm bắt những con dế mun mà mỗi trưa Cô không ngủ, ngồi rình để nghe nó gáy từ chỗ nào. Thấy bọn trẻ hàng xóm thả diều, Cô cũng mò mẫm cả một ngày làm cho tôi cái diều to nhất. Tôi mê nuôi chim, Cô đi khắp nơi tìm mua cho tôi hai con chim keo màu xanh mướt và năn nỉ ông chú tôi làm cho tôi cái lồng thật đẹp. Những lần bị “ấm đầu”, tôi tha hồ nũng nịu, làm tình làm tội Cô tôi. Cô ngồi suốt bên cạnh, đắp lên trán tôi một cái khăn ướt, nấu cháo cá bỏ nhiều tiêu cho tôi ăn để “tháo mồ hôi”. Nghe nói Cô cũng ham học lắm, định xin ông bà nội cho học xong cái bằng primaire thì theo ông chú tôi đi dạy học mấy lớp nhỏ trường làng, Nhưng rồi mẹ tôi bất ngờ qua đời, bỏ lại hai anh em tôi. Cô đành phải nghỉ học ở nhà để chăm sóc hai thằng cháu dại, một đứa bốn tuổi và một đứa vừa mới lên hai. Năm tháng cô quanh quẩn trong nhà, làm công việc gia đình và lo lắng cho hai anh em tôi. Khi nào rảnh rỗi Cô nhờ ông chú của tôi chỉ cô học thêm mấy chữ tiếng Tây.
Cô chỉ có một người bạn thân, đó là bà cô họ của tôi. Hai người cùng tuổi và học chung một lớp. Khi Cô Út nghỉ học, thì bà cô họ này vẫn tiếp tục đi học mấy năm nữa, sau này làm y tá và lấy một ông chồng Tây, làm trong viện Pasteur của bác sĩ Yersin ở Nhatrang. Bà đi đó đi đây, lâu lâu trở về thăm quê vài bữa. Lần nào về cũng ghé lại thăm Cô Út tôi và trò chuyện cả đêm. Trông bà thật sang trọng. Cô Út thì trầm trồ những món nữ trang đắt tiền, nhất là sợi dây chuyền vàng có mặt ngọc thạch, thời ấy rất hiếm hoi. Còn tôi thì say mê chuyện đi đó đi đây mà bà cô họ thường kể cho cô cháu tôi nghe.
Dường như từ ngày bà cô họ đi theo chồng, Cô Út không còn ai tâm sự, nên Cô thường tâm tình với anh em tôi về chuyện tình duyên của mình. Có một ông thầy giáo dạy cùng trường với chú tôi, gốc Bình Định, khá bảnh trai, lớn hơn Cô hai tuổi, rất thương Cô và có nhờ người đến mai mối, nhưng Cô Út phần vì thương cảnh mồ côi của anh em tôi, một phần bị ám ảnh bởi những lời đồn đãi của thiên hạ: “tuổi Dần cao số, chỉ hạp với tuổi Dần”, nên Cô từ chối cuộc hôn nhân. Ông thầy giáo Bình Định buồn tình nên xin đổi đi xa, làm lòng Cô cũng xốn xang một dạo.
Năm tôi lên bảy, quê tôi có một trận lụt lớn, trận lụt tháng mười. Tôi nhớ loáng thoáng lời Cô tôi giải thích, vì “ông tha mà bà không tha, bà cho cây lụt hăm ba tháng mười”. Nước từ đâu không biết tràn qua, kéo theo nhiều nhà cửa cây cối và cả trâu bò. Nhà ông nội tôi rộng lắm, mấy cây cột lớn có chạm trổ nhiều hình cầm thú, có mái ngói âm dương và nằm trên một nền gạch khá cao, được bao bọc bởi đủ thứ cây ăn trái, vậy mà bây giờ chung quanh tôi chỉ thấy toàn nước và nước. Ông Nội ra lệnh cho Cô phải giữ kỹ anh em tôi trên bộ phản trong nhà. Hai ngày sau mưa gió đã tạnh, nhìn qua khe cửa, anh em tôi thấy nước ngập cả sân nhà (nhà ông bà nội tôi có cái sân vuông khá rộng bằng xi măng, có bờ thành thấp chung quanh), nên năn nỉ Cô Út ra bịt mấy cái lổ lù, không cho nước rút, và đứng trên thềm nhà canh chừng cho anh em tôi cởi truồng xuống sân bơi lội. Bất ngờ tôi phát hiện trong sân có mấy con cá, anh em tôi tha hồ hò hét rượt bắt cá. Ông Nội tôi nghe ồn ào, chạy ra nhìn thấy hai thằng cháu nội đang bì bõm trong cái sân ngập tràn nước lụt, ông không la chúng tôi mà rầy Cô Út tôi một trận, rồi cấm cung cô cháu tôi ở trên căn nhà thờ, lúc nào cũng đóng kín cửa, mà trước đây rất ít khi tôi dám tới đây, vì rất sợ mấy cái bàn thờ có treo những tấm hình và nhiều bài vị viết chữ nho, nhất là hai cỗ quan tài sơn đỏ, có hình con rồng con phượng hai bên. Cô tôi bảo đó là hai chiếc quan tài bằng gỗ quí để dành cho ông bà nội đến lúc qui tiên..
Thấy anh em tôi sợ, Cô Út trấn an bọn tôi bằng cách kể chuyện linh thiêng của những ông bà, tổ tiên đã khuất. Vong linh ông bà lúc nào cũng ở bên cạnh để phù hộ cho con cho cháu. Cô còn bảo nếu có ước mơ điều gì, thắp hương thành tâm khấn nguyện, ông bà sẽ ban cho những điều ước muốn đó.
Cô hỏi tôi, nếu bây giờ khấn nguyện xin ông bà, thì tôi sẽ mơ ước được điều gì. Nhớ tới chuyện đi đó đi đây mà tôi rất say mê mỗi lần bà cô họ có chồng Tây kể lại, tôi nhanh nhẩu:
– Con mơ ước mai mốt lớn lên con được đi đó đi đây như bà cô họ vậy.
Rồi tôi hỏi ngược lại Cô Út, Cô nhìn tôi cười:
– Còn Cô thì chỉ mơ ước được một sợi dây chuyền mặt cẩm thạch màu xanh như của cô ấy, và có khắc hai chữ MĐ chính giữa.
Tôi tin lời Cô, kéo tay Cô đến trước bàn thờ thắp hương để hai cô cháu vái lạy xin Ông bà ứng nghiệm cho những điều mơ ước. Cô chìu tôi, hai cô cháu quì trước bàn thờ. Cô thì im lặng, còn tôi thì nói thật to lời ước của mình. Tôi sợ ông bà già quá, lảng tai, không nghe rõ lời cầu xin của mình.
Mấy năm sau, tôi đành phải rời quê, chia tay Cô Út vào Nha Trang đi học. Cô may cho tôi mấy bộ đồ mới, bao nhiêu tiền dành dụm được cô sắm cho tôi một chiếc xe đạp có ghi đông hình chữ U mà tôi rất thích. Những năm học ở Nha Trang, dù tuổi đã lớn, nhưng lúc nào tôi cũng thấy thiếu vắng vòng tay và những lời trìu mến của Cô tôi. Mỗi lần nghỉ hè về quê, tôi vẫn quanh quẩn ở bên Cô, như thuở mới lên ba, lên năm ngày trước. Lúc này Cô tôi đang làm nghề thợ may, nhưng chỉ làm việc tại nhà, để tiện việc săn sóc ông bà nội tôi, đã đến lúc tuổi già sức yếu. Cô tự tay may cho anh em tôi mấy bộ đồng phục học trò. Mùa hè trời nóng, tối nào cô cháu cũng mang chiếu ra trải bên cạnh hồ sen trước nhà. Trong gió nội hương đồng, cô cháu nằm tâm sự thâu đêm.
Khi biết tôi đi lính, Cô Út buồn ghê lắm. Hết ngăn cản rồi năn nỉ tôi. Cô bảo tôi không thương Cô, nên bỏ Cô mà đi lính, biết bao giờ Cô cháu mới được bên nhau như những ngày xưa, rồi Cô biết còn ai để mà tâm sự.
Nhớ tới trận lụt tháng mười năm nào, Cô dạy cho tôi thắp hương khấn nguyện ông bà, tôi thủ thỉ với Cô:
– Con đi lính là nhờ Ông Bà trên bàn thờ đã ứng nghiệm cho con điều ước, được đi đó đi đây, đúng như Cô bày cho con đó.
Cô vừa cười vừa lau nước mắt.
Khi vào quân trường, hai người đầu tiên tôi viết thơ là Ba tôi và Cô. Tôi kèm theo tặng Cô tấm ảnh mặc quân phục, tóc vừa cắt ngắn ba phân. Cô viết thư khen “chú lính sữa của cô trông oai phong ghê lắm”.
Mấy tuần sau khi tôi được gắn alpha, Cô theo Ba tôi vào tận quân trường thăm tôi, mang theo cho tôi cả chục xoài tượng và mấy cái bánh rán (bánh cam) mà lúc nhỏ tôi rất thèm ăn.
Ra trường, trước khi trình diện đơn vị, tôi dành trọn mười lăm ngày phép quanh quẩn bên Ba tôi và Cô. Lúc này ông bà nội tôi đã qua đời và cô vẫn ở vậy chăm sóc ngôi nhà từ đường và lo việc cúng kỵ ông bà. Đêm nào Cô cũng niệm hương khấn vái thì thầm trước bàn thờ ông bà nội và má tôi, rồi bảo tôi cùng lại chấp tay lạy. Tôi nghe Cô xin ông bà và Má tôi phù hộ tôi, tránh được lằn tên mũi đạn.
Hơn mười năm trong lính, toàn là đánh đấm. Rất nhiều lần thoát chết trong đường tơ kẻ tóc, tôi tin vào những lời thì thầm khấn vái hằng đêm của Cô.
Lần đầu tiên về phép từ một chiến trường khói lửa ở cao nguyên, tôi dành dụm mấy tháng lương, và mất hai ngày ở thành phố Ban Mê Thuột tìm mua cho Cô sợi dây chuyền vàng có mặt cẩm thạch hình trái tim, loại đắt nhất. Tôi ngồi chỉ cho họ kẻ hai chữ MĐ thật đẹp chính giữa.
Tôi về bất ngờ. Khi mới bước vào cổng nhà nội, tôi thấy Cô đang quét lá dưới gốc cây xoài. Con chó không nhận ra tôi sủa inh ỏi, Cô dừng tay nhìn. Mãi khi tôi đến gần Cô mới nhận ra. Cô nắm tay tôi mắng yêu:
– Tổ cha mày, vậy mà Cô cứ tưởng là ông thầy nào.
Tôi cười đùa:
– A, chắc là Cô Út tưởng con là ông thầy Bình Định ngày xưa chớ gì.
Buổi chiều, sau khi cơm nước xong, tôi dắt tay Cô tôi lên căn nhà thờ để cùng tôi thắp hương và lạy ông bà. Khi đứng lên, tôi bảo Cô nhắm mắt lại để thấy một điều kỳ diệu, rồi choàng vào cổ Cô sợi dây chuyền tôi vừa mua tặng. Lúc mở mắt ra, Cô mân mê cái mặt cẩm thạch rồi cảm động nắm tay tôi:
– Cái này mắc tiền lắm. Con đi lính lương ba cọc ba đồng, lấy tiền đâu mà mua tặng Cô.
Tôi cười:
– Đâu phải con mua, mà là ông bà cho Cô theo lời ước của Cô đó chứ. Cũng như ông bà đã cho con bây giờ được đi đó đi đây rồi đây nè. Lời cầu xin của Cô cháu mình linh thiêng quá phải không Cô ?
Thời gian này ở quê nội tôi mất an ninh. Ban ngày tôi quanh quẩn bên cô. Đến chiều, Cô dắt tôi xuống nhà chú tôi ở bên huyện ngủ. Cô ở với tôi tới tối mịt mới về.
Ngày mãn phép, tôi trở lại đơn vị, Cô giặt ủi mấy bộ áo quần của tôi xếp vào túi xách, kèm theo một gói xôi đậu xanh, để ăn dọc đường. Ngồi trên xe đò, khi lấy gói xôi ra ăn, tôi thấy có một cái túi nhỏ may bằng vải, mở ra tôi mới biết, một xấp tiền mới tinh xếp ngay ngắn trong đó. Nhớ tới cô, nước mắt tôi cứ trào ra.
Tôi theo đơn vị lưu động nay đó mai đây, nên rất khó nhận thư từ hộp thơ KBC hậu cứ ở Ban Mê Thuột. Từ Quảng Đức, xuống Lâm Đồng rồi Phan Thiết. Mãi hơn nửa năm sau tôi mới nhận được cùng một lúc năm lá thư của Cô tôi gởi. Tôi mừng, khi Cô kể là có một ông thầy giáo gốc Huế, cùng tuổi dần với Cô, đã có một đời vợ, cùng làm nghề dạy học. Nhưng chỉ mới vài tháng sau đám cưới, người vợ trẻ bị chết cùng với mấy đứa học trò trong một trận pháo kích. Ông buồn quá, một phần không muốn mỗi ngày bị ám ảnh bóng hình của người vợ trẻ vừa mới chết oan, một phần không muốn nhìn thấy cái thành phố có những lăng tẩm uy nghi của một triều đại, nhưng đã để lại quá nhiều tranh chấp tôn giáo, phủ bóng mây mù chính trị lên từng ngôi trường, từng bục giảng. Bạn bè ông có mấy kẻ đã vào bưng. Ông xin chuyển vào dạy ở quê tôi vì có gia đình người bác ruột, ngày xưa làm xếp ga rồi lấy vợ ở lại đây luôn.
Tôi viết thơ cho Cô, lên mặt thuyết giảng tình yêu, nào chuyện “hữu duyên thiên lý năng tương ngộ” nào là “cả hai người cùng một tuổi Dần, thì sau này tát biển đông cũng cạn”.
Mấy tháng sau tôi nhận thư hồi âm của Cô, có kèm theo lá thư ngắn của ông Thầy Huế mà nội dung là một bài thơ ngợi ca người lính.
Tôi để dành tiền lương hằng tháng, chờ ngày về ăn đám cưới. Tôi đến một tiệm bán hàng thêu ở thành phố Phan Thiết đặt thêu một bức tranh có hình hai con cọp âu yếm nhau trong một rừng đầy hoa sim tím dưới ánh trăng để làm quà cưới cho Cô. Sau trận Mậu Thân, đơn vị tôi tiếp tục mỗi ngày sống trong lửa đạn. Tôi không nhận được lá thư nào của Cô tôi. Tôi nghĩ chắc là Cô đã làm đám cưới, nhưng không biết có theo chồng về thăm Huế hay không. Tôi lo cho Cô, khi biết cả thành phố Huế đang đắm chìm trong vành tang trắng.
Mấy tháng sau, tình hình trở lại yên tĩnh, được mười ngày phép, tôi khăn gói về thăm quê. Cô tôi vẫn sống âm thầm một mình trong nhà ông nội, Đám cưới không thành, không phải ông thầy Huế phụ tình, như một vài người bà con trong họ đã cảnh giác Cô từ lúc mới quen ông:” đừng có quá tin mấy chàng trai xứ Huế”. Oan ức và tội nghiệp cho ông. Ông về Huế ăn Tết và xin cha mẹ được cưới Cô tôi, nhưng rồi không ngờ phải cùng chịu chung số phận với mấy ngàn người bất hạnh. Ông mất tích trong đêm mùng hai Tết. Mãi đến ba tháng sau, người nhà mới tìm được xác của Ông trong một hố chôn người tập thể.
Cuối cùng thì.. Cô tôi “vẫn chưa lấy chồng! “. Trên bàn thờ, tấm ảnh nhỏ của ông Thầy Huế được đặt ở một góc khiêm nhường.
Năm 1975, miền Nam bất ngờ thua trận, tôi bị tù đày từ Nam ra Bắc, đến tận Lào Cai, Yên Bái. Ba tôi và ông chú bị bắt vào trại cải tạo trong Nam. Vợ con tôi cùng gánh chịu bao đắng cay hệ lụy, bơ vơ nheo nhóc. Lá chưa rụng mà phải về cội, vợ con tôi lại dắt díu nhau về ở với Cô tôi trong ngôi nhà xưa của ông bà nội, bây giờ trở nên trống vắng, nên chắc buồn và tĩnh mịch hơn xưa. Vợ tôi phải bươn chải làm ăn, nuôi bầy con bữa đói bữa no. Cô tôi bán đủ thứ trong nhà, và cuối cùng bán luôn cả sợi dây chuyền mặt cẩm thạch mà cô đã từng nâng niu như bảo vật, để lo cho mấy đứa con của tôi, và cùng vợ tôi dành dụm gởi cho tôi một ký lô đường và mấy lọ tép mỡ sau khi biết tôi vừa trải qua một cơn kiết lỵ, chỉ còn da bọc lấy xương. Tội nghiệp, tôi chỉ được phép nhận 200 gram đường và một lọ tép mỡ, số còn lại bị sung vào nhà bếp hậu cần, vì số quà gởi “ngoài qui định, không nằm trong chính sách”.
Tháng 6 năm 1976, ba tôi chết trong trại cải tạo Đá Bàn. Nhưng mãi đến năm năm sau tôi mới nhận được tin buồn. Tôi khóc đến không còn nước mắt.
Tám năm sau, tôi cũng được thả về. Lúc này vợ tôi không còn sống ở quê nội tôi, vì không tìm ra công việc gì làm, nên phải dắt theo hai đứa con nhỏ nhất trở lại Ninh-Hòa sống cùng ông bà già vợ của tôi, rồi chạy được cái “hộ khẩu” ở đây luôn. Còn bốn đứa con lớn thì vẫn ở lại quê nội tôi, nhờ cô tôi nuôi nấng. Sum họp được mới năm hôm, thời gian chưa đủ làm quen với mấy đứa con, mà lúc ra đi đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ, tôi được công an thị trấn Ninh Hòa gọi lên cho biết là chính quyền trên huyện không chấp nhận tôi tạm trú ở đây. Tôi bị gởi trả lại trại tù, rồi được chỉ định về “quản chế” tại nơi sinh quán. Cuối cùng, thì tôi cũng trở lại trong vòng tay của Cô tôi. Có điều bây giờ, Cô phải nuôi thằng cháu, đã gần nửa đời người, mà bỗng dưng trở thành vô gia cư nghề nghiệp. Ăn cơm nhà nhưng hằng ngày tôi phải đi đắp đê, làm thủy lợi cho “nhân dân”. Cô tôi bây giờ ốm yếu, đôi mắt buồn hiu hắt. Sau mấy năm khóc than cho những mất mát đổi thay trong gia tộc, Cô đã già nhiều trước tuổi. Vậy mà bây giờ còn phải lo gánh vác cho mấy cha con tôi. Đã vậy, ông chú của tôi, sau khi ở trại cải tạo về, phải dắt vợ và hai đứa con gái đi kinh tế mới. Bà thím bị sốt rét chết hai năm trước khi tôi về. Cứ vài hôm, ông chú phải tay dắt tay bồng đưa hai đứa con về đây gởi cho Cô tôi. Nhiều lúc âm thầm nhìn Cô “lưng còng uốn nặng kiếp long đong”, tôi nghẹn ngào muốn khóc, nhưng có lẽ tôi cũng không còn nước mắt.
Khi tính chuyện vượt biển, tôi tâm sự xin Cô cùng đi với chúng tôi. “Dù trôi nổi ở đâu, có cô bên cạnh là con mãn nguyện rồi”, Nhưng cô bảo Cô đã già, không muốn rời bỏ quê hương, hơn nữa còn phải trông coi ngôi nhà từ đường và mồ mả ông bà, không để cho hương tàn khói lạnh. Và còn phải phụ giúp ông chú tôi đang ốm đau, lo cho hai đứa con của chú ấy nữa.
Mấy ngày sau, tôi thấy Cô xuống tóc, và ăn chay trường. Đêm nào cũng quì trước bàn thờ. Tôi biết là Cô đang cầu nguyện cho tôi đi đến bến bờ. Hôm tiễn biệt, Cô nắm chặt tay tôi: “xin ông bà và cha mẹ con phù hộ cho vợ chồng con và mấy đứa nhỏ” rồi im lặng nhìn tôi với hai hàng nước mắt.
Thuyền ra đến hải phận quốc tế thì gặp bão. Mưa gió suốt mấy ngày, không còn trăng sao để mà định hướng. Tất cả đàn bà con nít xuống dưới khoang thuyền. Chỉ có bọn đàn ông chúng tôi ở lại phía trên chống chọi với phong ba. Trong những lúc nguy khốn nhất, tôi lại nghĩ đến Cô, nhớ những lời cầu nguyện của Cô mà lấy lại niềm tin và can đảm. Cuối cùng, một chiếc tàu chở dầu của Vương quốc Nauy đã cứu vớt chúng tôi trước khi cơn bão chính ập tới. Từ trên tàu, vị thuyền trưởng giúp chuyển hộ mỗi người ba cái điện tín cho thân nhân. Người đầu tiên tôi báo tin mừng là Cô.
Sau khi định cư, tôi thường xuyên gởi thư thăm Cô và kèm theo tiền để giúp Cô cùng gia đình ông chú, và xây lại mồ mả ông bà. Cô mừng ghê lắm. Lá thư nào Cô cũng viết thật dài, khuyến khích tôi cố gắng làm lại cuộc đời và dạy dỗ cho con cái phải biết sống theo đạo lý và đừng bao giờ quên quê hương, nguồn cội của mình.
Cô ở xa tôi cả nghìn trùng mà lúc nào tôi cũng tưởng Cô vẫn đang đâu đó bên mình. Mỗi lần gặp khó khăn, phiền muộn trên xứ người, cứ nghĩ đến Cô là lòng tôi phấn chấn. Bây giờ Cô đã già và chắc cũng yếu đi nhiều lắm. Vậy mà chỉ với hình bóng thôi, Cô đã cho tôi biết bao nghị lực.
Hai năm sau, tôi lại nhận được tin buồn. Ông Chú của tôi, sau bao năm chống chọi với bệnh tật mang về từ trại cải tạo, vừa mới lìa đời, giao hai đứa con gái lại cho Cô tôi nuôi nấng. Tội nghiệp cho Cô, đúng là “Trời không nín gió cho ngày Cô sinh”, tuổi già rồi mà phải còn cưu mang con cháu. Lá thư báo tin buồn này là lá thư cuối cùng Cô tự tay nắn nót viết cho tôi. Những lá thư sau đó, mấy đứa con gái ông chú tôi viết. Tôi lo lắng hỏi Cô, Cô chỉ bảo đôi mắt của cô bây giờ hơi kém, nhưng dặn dò tôi không phải gởi thuốc thang gì, vì ở trong nước Cô mua cũng được. Cô khẩn khoản muốn tôi đưa mấy đứa con về cho Cô gặp lại một lần.
Hơn mười năm sau, khi nghe nhà nước có chút đổi thay, gọi những người vượt biển có tội phản bội tổ quốc ngày xưa là khúc ruột ngàn dặm, tôi dắt theo ba đứa con lớn về thăm quê hương. Đúng hơn là về tìm ngôi mộ cha tôi chôn trong núi bên trại cải tạo Đá Bàn và thăm bà Cô suốt cả một đời bảo bọc chúng tôi. Nhớ lại kỷ niệm xưa, tôi nhờ cô con gái lớn ở bên Cali, đến khu Phước Lộc Thọ tìm đặt mua cho tôi một sợi dây chuyền vàng, có mặt màu xanh cẩm thạch, khắc hai chữ MĐ chính giữa. Tôi nghĩ có lẽ đây sẽ là món quà có ý nghĩa, đền bù lại sợi dây chuyền tôi tặng Cô lúc trước, và để cho Cô được trẻ lại những ngày xưa.
Tôi không báo trước ngày về, vì muốn làm cho Cô bất ngờ và không phải khăn gói vào tận Sài gòn để đón cha con tôi, như lời cô hứa.
Quê nội tôi, cái làng Phú Hội một thời trù phú như cái tên gọi, bây giờ sao mà cằn cỗi, điêu tàn. Khi bước vào cổng nhà nội, tôi xa lạ đến thẩn thờ. Ngôi nhà ngày xưa rộng lớn, hồi còn nhỏ tôi đi còn sợ lạc, sao bây giờ nhỏ nhoi, tiêu điều và hiu quạnh quá. Tôi đứng giữa cái sân gạch mà ngày nào trời lụt, anh em tôi tha hồ bơi lội như trong một dòng sông, bây giờ chỉ còn lại cái nền loang lổ, phủ đầy những lá của cây xoài già héo úa, một thời xum xuê làm “bóng mát thiên đường” để Cô cháu tôi ngồi đọc truyện cho bà nội tôi nghe trong những buổi trưa hè. Cái hồ sen tỏa hương thơm ngát ngày xưa, bây giờ là một cái ao cạn đầy cỏ dại. Chỉ còn lại tiếng dế than rên rỉ. Không nghe con chó sủa. Nó là con vật trung thành, không giống như một số người sau tháng tư năm nào, phản suy phù thịnh. Có lẽ nó cũng buồn mà chết rồi sau cuộc đổi đời của chủ. Tôi và ba đứa con lạc lõng trong ngôi nhà mà tất cả đã từng một thời lớn lên ở đó, với biết bao là kỷ niệm buồn vui. Trong nhà không có một ai, ngoài bóng dáng của chính mình ngày trước. Bước ra cửa sau, tôi đứng lặng người khi thấy Cô Út ngồi quay lưng, vãi thức ăn cho một bầy gà. Mái tóc Cô bạc trắng. Cha con tôi đến đứng phía sau lưng, mà Cô không biết.
Mấy đứa con tôi cười khúc khích, Cô quay lại. Tôi ôm chầm lấy cô, nghẹn ngào không nói nên lời. Tôi ngạc nhiên khi nghe cô hỏi: đứa nào đây? Chẳng lẽ mới mười năm mà cô không còn nhận ra tôi. Buông cô ra, tôi suýt hét lên, khi biết là đôi mắt của Cô đã mù. Tôi chỉ thốt lên được mấy tiếng “Cô ơi, thằng Ninh đây Cô”, rồi khóc nức nở.
Sau một khắc yên lặng, tôi nghe Cô cười, rồi đưa hai tay sờ lên đầu lên mặt tôi, rồi đến mấy đứa con tôi.
Tôi dìu Cô vào nhà. Nhưng cô bảo là cô đi được. Cô nói là cả một đời cô ở đây, mọi ngõ ngách và đồ đạc trong nhà như in trong trí. Tôi hỏi mấy đứa con ông chú đâu mà để cô ở một mình. Cô cho biết là nhờ dành dụm số tiền tôi gởi về, đứa lớn đã ra nghề thợ may, vừa lấy chồng, mở tiệm ở dưới huyện. Còn đứa nhỏ, Cô cho đi học làm y tá, vẫn còn ở với Cô.
Thấy chúng tôi về, mấy người hàng xóm sang thăm. Ai cũng nhắc lại cái thời anh em tôi còn bé và ca ngợi Cô tôi hết lời. Không biết ai nhắn tin, hai cô em, con ông chú tôi cũng về ngay, có cả thằng em rể. Sau này tôi mới biết nó chính là cháu họ của ông thầy giáo Huế, người tình của Cô Út ngày xưa.
Có sẵn chiếc taxi thuê bao, tôi mời Cô và mấy đứa em xuống phố ăn cơm, nhưng Cô không cho, bảo hai đứa em con ông chú làm thịt mấy con gà để mấy cô cháu vừa ăn vừa nói chuyện cho vui.
Cả một tuần sau, tôi bận rộn lo việc cải táng phần mộ của ba tôi từ Đá Bàn về chôn trong nghĩa trang gia tộc, bên cạnh ngôi mộ của má tôi và ông bà nội. Cô Út theo ra đến tận nghĩa trang, đưa tay sờ ngôi mộ mới xây của ba tôi, rồi khóc sụt sùi.
Hai tuần sau, tôi quanh quẩn bên cạnh cô tôi, kể lại hầu hết những kỷ niệm ngày xưa, và cuộc sống ở xứ người. Cô bảo có lần nằm chiêm bao, cô thấy ông thầy Huế về thăm Cô, nhưng người ông bê bết máu, Cô lấy khăn lau mãi mà máu vẫn cứ ứa ra.
Đêm nào trước khi đi ngủ, Cô cũng bảo cha con tôi thắp hương và lạy trước bàn thờ. Tôi lại nhớ tới những điều cô cháu tôi ước mơ thuở trước.
E dè mãi, đến đêm cuối cùng, khi đứng trước bàn thờ, tôi lấy sợi dây chuyền vàng có mặt cẩm thạch ra, đeo vào cổ cho Cô. Tôi ôm chặt Cô thì thầm: “xin cho con trả lại Cô cái điều mà ngày xưa cô mơ ước”. Ba đứa con tôi vỗ tay phụ họa: “đẹp lắm ! bà Nội ơi, đẹp lắm!”
Cô tôi không mân mê cái mặt cẩm thạch như lần trước, cách đây hơn bốn mươi năm, khi tôi tặng Cô, mà chỉ đứng lặng im, bất động. Tôi biết, trong đôi mắt mù lòa kia, dù không còn thấy cái mặt cẩm thạch màu xanh có khắc hai mẫu tự tên mình, nhưng Cô tôi đang nhìn thấy cả một quá khứ xa xăm, bao la và sâu thẳm như chính tấm lòng Cô.
Cuối cùng thì tôi cũng phải chia tay Cô, bỏ lại đằng sau dấu tích của cả một phần đời, mà tất cả vui buồn bây giờ đều đã trở thành kỷ niệm, nằm sâu chôn chặt tận đáy lòng. Tôi nghĩ, có lẽ đây là lần cuối cùng tôi gặp Cô.
Dắt ba đứa con bước ra khỏi cổng nhà ông Nội, tôi không dám quay đầu nhìn lại. Một câu hỏi chợt lóe lên trong đầu: Rồi mai này, tôi lại tiếp tục lưu lạc tha phương. Cũng như sợi dây chuyền mặt cẩm thạch tôi vừa mới tặng cho Cô tôi, liệu cái việc đi đó đi đây trên xứ lạ quê người của tôi, có còn là những điều mà Cô cháu tôi đã từng một thời mơ ước?
“Đất nước ta, ra ngõ đã gặp anh hùng”, đó là cái tự cao tự mãn của thời chiến, thời bình thì ra ngõ đã gặp lưu manh, chôm chỉa, vô đạo. Ngày nay, còn có thêm một thứ rất đáng hãnh diện khác là đã đoạt vô số kỷ lục trên toàn cầu. CS Việt Nam lại vừa đem về một kỷ lục còn to tát hơn cái kỷ lục Sea Games đồ bỏ, là trên thế giới hiện nay, chỉ có “nhà nước” ta là có kỷ lục với cái đồng tiền bự nhất hoàn vũ.
Hồ Hữu Hạnh, Phó Giám Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam vừa thông báo cho “toàn dân nghe chăng” rằng, bắt đầu ngày 17 tháng 12 năm nay, tiền cụ Hồ sẽ phát hành đồng bạc $50,000 và, – các bạn nghe cho kỹ -, và $500,000 bằng chất liệu polymer, và những đồng tiền kên để đánh bi, đánh đáo, lên tới $200, $500 và $1,000. Thưa các bạn, đó là sự thật, chúng ta chẳng nghe lầm chút nào cả. Như vậy, đất nước ta đích thị là một đất nước đã có quá nhiều kỷ lục để ghi vào sách Guiness. Thứ nhất là kỷ lục triệu phú, vì ở cái đất nước quái lạ này, làm triệu phú rất dễ, vì chỉ cầm trong tay có hai tờ giấy có vẽ mặt cha già. Chuyện lạ lùng mấy lâu nay ít người biết là đất nước ta lại chiếm thêm một kỷ lục của thế kỷ, là nơi có nhiều triệu phú hay tỉ phú nhất. Nếu dân số là 80 triệu, ít ra chúng ta cũng có 500,000 triệu phú. Chúng tôi cũng xin thưa rằng, về kinh tế, nước ta trước đây, còn có một cái kỷ lục khác, vừa vô địch vừa lạ lùng, như một quái thai của thời đại, là đồng tiền $30 của nhà phát minh Tố Hữu. Đó là chưa nói tới nhà văn, thi nô này, đã đem về cho CHXH Việt Nam thời đó một kỷ lục trong địa hạt khác, là trẻ con miền Bắc, mới sinh ra tiếng nói đầu lòng đã bập bẹ phát âm ngay được tên của lãnh tụ vĩ đại khát máu Stalin. Chúng ta phải nghĩ rằng, tệ lắm thì ông đại thi hào Tố Hữu, ít nhất cũng phải học xong bậc tiểu học, nhưng nghe đâu ông cũng có tới bằng “đít lôm”, thế mà cửu chương, bảng số thập phân không thuộc, phải bị các giáo viên đế quốc bắt quì xơ mít. Nếu khá hơn, thì đầu óc ông đã không méo mó để đẻ ra cái đồng “ba mươi”. Nếu ở chợ làng quê Thanh Lương, gia đình ông phải trả nợ cho người ta một nghìn đồng, thì phải gói làm ba gói $30 X 3 =$900 đồng, cộng thêm mười tờ giấy mười đồng nữa cho đủ số tiền $1000.
Tờ bạc $500,000 đã chứng minh rằng tiền cụ Hồ lúc nào cũng mất giá, dù in tới bạc một triệu đồng đi nữa thì giá trị của chúng cũng chẳng có là bao. Nhớ hồi ở Liên Khu Năm, bao gồm Nam, Ngãi, Bình, Phú, mệnh danh là vùng tự do, để đối lại vùng quốc gia, mà CS gọi là vùng chiếm đóng hay vùng Tề. Tiền cụ Hồ in ra là tiền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bằng thứ giấy rẻ tiền, dễ mục nát mà giá trị thì rẻ như bèo. Người ta kể chuyện trong vùng “tự do” ấy, một viên “lục thần hoàn” là thứ thuốc trị bá bệnh giá đã lên tới 25,000 tiền Cụ. Tiền cụ Hồ lúc mới in chỉ có loại 50 xu, một đồng cho tới 100 đồng nên mua một viên thuốc Tàu, tay đã cầm tới cả một xấp tiền. Còn nếu cần đi mua trâu hay mua ruộng thì tiền “cụ Hồ” phải cần đầy một gánh. Đồng tiền Cụ là đồng tiền phá giá rất nhanh, do đó mà tới ngày giải phóng, phải đổi tiền “ăn cướp” mà ăn cướp ngày tới ba lần, với lần đầu 500 đồng đổi lấy một đồng bạc bỏ trong ví mươi tờ bạc mới, quả là rất tiện lợi. Đồng bạc $500,000 dấm dúi cũng tiện nhiều cho cái công đoạn trình ký, xét hồ sơ, thăng thưởng, làm cho nền hành chánh công quyền được trơn tru và xã hội chủ nghĩa tiến nhanh, tiến mạnh làm giàu có thêm, không phải cho đất nước, mà cho giai cấp cầm quyền. Dù phải cải chính đi, cải chính lại nhiều lần về cái việc không bao giờ đổi tiền lần nữa, nhưng với giá trị đồng tiền cụ Hồ quá thấp kém hiện nay, nhìn quanh chẳng giống ai, nhà nước CS liệu có can đảm giữ mãi giá trị một đô la ăn $15,137 VN (giá thị trường hối đoái ngày 21/3/03) như hiện nay không, và chỉ cần 100 đô la Mỹ, chúng ta đã trở thành một triệu phú Việt Nam. Nhìn thế giới chung quanh, lấy đồng đô la Mỹ làm chuẩn, thì đơn vị “đồng” của Việt Nam là đơn vị đứng hạng chót. Đồng Euro của thị trường chung Âu Châu đứng hạng nhất với 1 Euro = 1,23530 đô, nghĩa là cao hơn đồng đô. Một đồng đô-la Canada và đô-la Úc gần bằng 3/4 đô la Mỹ (0,74884 và 0,73640), đồng đô la Singapore lớn hơn một nửa đô la (0,50548). Một peso của Mễ Tây Cơ bằng 0,08907 đô la. Trong vùng Đông Nam Á, 1yen Nhật Bản được 0,009274 đô. Bết lắm 1 đồng riel của nước láng giềng Kamphuchia cũng được 0,0002599 đô, và đơn vị đồng Việt Nam đứng hạng chót vì một đồng chỉ được 0,00006606 đô (sau dấu phẩy có bốn con zerô), nghĩa là hơn 1/15,000 một tí tẹo.
Trong tương lai, để cho dễ bề tính toán, và nhất là để phục vụ cho “khúc ruột ngàn dặm” về thăm nhà và để khách du lịch được giản tiện, khi đổi tiền ở sân bay hay các cửa hàng nhà nước, thì nay mai CS thế nào cũng đổi đồng giấy bạc lại. Lúc đó, dân chúng phải đem $1,500 theo trị giá hiện nay, xếp hàng để đổi lại một “đồng mới” (tạm gọi như vậy) cho nó phù hợp đồng tiền dương gian. Gọi là tiền ở dương gian là để phân biệt với đồng tiền âm phủ. Chúng ta chỉ cần bỏ ra một đô la thật, ra tiệm vàng mã là có thể mua được vài chục nghìn đồng tiền đô la giấy in, để đốt về cho những oan hồn dưới âm phủ, cũng đangcần tiền để sống. Như vậy đồng tiền dương gian giá trị gấp chục nghìn lần đồng tiền dưới âm phủ, và tiền CSVN hiện nay là một trong những đồng tiền âm phủ ấy. Đồng đô la Mỹ dù có bầm giập thế nào đi nữa cũng còn là đồng tiền mạnh, cho nên ngày nay giới nhà giàu ở Việt Nam chỉ giữ đồng đô la trong túi hoặc giả là trữ vàng, vì không ai tin tưởng vào đồng tiền cụ Hồ nữa. Có lẽ đồng tiền này chỉ để lưu hành trong giới dân giả, còn giai cấp thượng lưu thì chỉ dùng đồng tiền mạnh. Bây giờ, trên nhiều tiểu bang tại Mỹ, đã có nhiều con em của công chức cao cấp, có thế lực trong chính quyền CS và các nhà giàu sang du học. Phải nhìn sự ăn tiêu huy hoắc của giới này mới thấy mãnh lực của đồng tiền mạnh và tiềm năng giàu có của giai cấp mới. Không kể số tiền học phí hằng năm phải trả cho các trường đại học đối với một sinh viên ngoại quốc, những sự tốn kém về nhà cửa, xe cộ của giới “cậu ấm cô chiêu” cũng đủ làm cho con nhà nghèo ở đây thèm thuồng. Số tiền ấy không cần các cô cậu đem theo hay cha mẹ gởi qua, mà đã có sẵn trong trương mục ngân hàng. Đó là ba bốn tỷ bạc mà Việt Kiều chúng ta đã gởi về cố quốc hằng năm để nuôi sống vững vàng cả một chế độ và tích lũy cho gia đình cán bộ tiêu pha hoặc khi hữu sự đã có sẵn tiền ở quốc ngoại.
Trên nguyên tắc khi chúng ta gởi một trăm bạc về Việt Nam để giúp thân nhân, số tiền đó được giữ lại một ngân hàng tại Mỹ và qua một ngân hàng trung gian ở Singapore, tiền được đưa về Việt Nam để giao cho người nhận. Nhưng thực tế, ở Việt Nam chỉ nhận được một cái fax hoặc qua những đường dây điện thoại, các chủ nhân ông ở Việt Nam đã có sẵn một số tiền lớn tích lũy, sẵn sàng giao cho các cán bộ chân rết có mặt khắp ba miền, đưa đến cho người nhận trong vòng mười hai tiếng đồng hồ. Do vậy Việt Nam là nơi rửa tiền dễ dàng nhất cho các tổ chức tham nhũng hàng tỷ bạc của các công thần của chế độ. Mặt khác, ngày nay mặt cụ Hồ còn nằm chình ình trên tờ giấy bạc kể cũng quá lạc hậu, nhưng điều đó cũng để cho dân nhớ mãi đồng bạc cụ Hồ trước sau vẫn là một. Xưa nay và trước sau, đồng bạc này cũng vướng mùi bạc âm phủ, phải có lúc dân gian phải gánh từng gánh đi mua trâu mua bò. Nếu nhân dân còn biết nói lái hai chữ “bảng đỏ” và “lộng kiếng”, thì hai biểu tượng trên đồng tiền là sao vàng và bác Hồ trước sau gì cũng theo bác ra đi.
Đại tá Diep T Khanh, Lục quân (Ảnh của westpoint.edu).
Sài Gòn thất thủ ngày 30 tháng 4 năm 1975, khiến nhiều người Việt Nam phần đông là Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hoà đã được chính phủ Hoa Kỳ giúp di tản khỏi Việt Nam và tái định cư tại Hoa Kỳ. Tiếp theo là những đợt thuyền nhân vượt biên thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển, từ đó đến nay có trên 2,2 triêu người Việt sinh sống tại khắp các tiểu bang và lãnh thổ Hoa Kỳ. Từ những Cộng đồng người Việt lớn mạnh và phát triễn, nhiều nam nữ thanh niên người Việt đã gia nhập và phục vụ trong Quân đội Hoa Kỳ, tuy chưa có thống kê chính xác, nhưng ước đoán có thể có trên 5000 quân nhân gốc Việt đang phục vụ và chiến đấu trong Quân đội hiện đại và hùng mạnh hàng đầu thế giới, họ mang cấp bậc từ Binh sĩ, Hạ sĩ quan, Sĩ quan lên đến cấp Tướng. Theo các tài liệu thu thập được thì có nhiều Sĩ quan phụ nữ gốc Việt mang cấp bậc từ Thiếu úy lên đến Đại tá, trong số đó có 28* vị mang cấp bậc Đại tá.
Danh sách 28 nữ Đại tá Hải, Lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt:
Hải Quân:
HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van (Ảnh của paxriver.tricare.mil/).
– HQ Đại tá Josephine Nguyen Cam Van, Bác sĩ Quân y Hải quân.
– HQ Đại tá Tuanh Halquist**, Bác sĩ nha khoa Hải quân
– HQ Đại tá Thu Luu. Bác sĩ nha khoa Hải quân.
– Tân HQ Đại tá Hoan Nghiem, Bác sĩ nha khoa Hải quân.
– HQ Đại tá Ho Thi Hoa, ngành kỹ thuật cơ khí Hải quân (hồi hưu).
– HQ Đại tá Thu Phan Getka, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân (hồi hưu).
– HQ Đại tá Tran Ngọc Nhung, Bác sĩ nha khoa Quân y Hải quân (hồi hưu).
HQ Đại tá Thu Luu (Ảnh của linkedin.com).
Lục Quân:
– Đại tá Diep T Khanh. Tham mưu trưởng Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point).
– Đại tá Nguyen Kim Chi, giáo sư Học viện Quân sự Hoa Kỳ (West Point).
– Đại tá Dana R. Nguyen. Bác sĩ Quân y Lục quân.
– Đại tá Jennifer D. Nguyen, Lục quân trừ bị.
– Đại tá Phuong T. Pierson (hồi hưu).
– Đại tá Danielle Jaque Ngo (hồi hưu).
Không Quân:
Đại tá An T. Duong, Không quân (Ảnh của afgsc.af.mil).
– Đại tá An T. Duong, Bác sĩ Quân y Không quân.
– Đại tá Tina H. Nguyen, Sĩ quan hành chánh, tài chánh Không quân.
– Đại tá Tam T. Dinh, Quân y Không quân.
– Đại tá Lynda K Vu, Bác sĩ Quân y Không quân (hồi hưu).
– Đại tá Mylene Tran Huynh, Bác sĩ Quân y Không quân (hồi hưu).
Thủy Quân Lục Chiến:
– Tân Đại tá Elizabeth Pham, Không quân Thuỷ quân lục chiến.
– Đại tá Ly T. Fecteau (hồi hưu).
Tân Đại tá Elizabeth Pham, Không quân Thuỷ quân lục chiến (Ảnh chụp khi còn mang cấp Trung tá của Mrs. K Tran, Mr. BMH chuyển).
Đoàn y tế công cộng (USPHS):
– Đại tá Jade Ariel Pham, Dược sĩ.
– Đại tá Nguyen Thanh Thuy, Điều dưỡng..
– Đại tá Diem Kieu Hoang Ngo, Dược sĩ.
– Đại tá Quynh Chi Tan Duong, Dược sĩ.
– Đại tá Mimi Thanh Uyen Phan, Dược sĩ.
– Đại tá Vu the ThuyAnh***, Dược sĩ.
– Đại tá Roli Luu.
– Đại tá Chau Minh Vu, Bác sĩ USPHS.
Đại tá Diem Kieu Hoang Ngo, USPHS (Ảnh của linkedin.com).
Cho đến nay đã có hơn 28 nữ đại tá gốc Việt phục vụ trong các Quân chủng Hải, lục, Không quân, Thủy quân lục chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ, nhưng vẫn chưa có phụ nữ gốc Việt mang cấp tướng!**** Chúng ta hy vọng một ngày không xa, sẽ có phụ nữ Việt Nam trỡ thành những nữ tướng trong quân đội Hoa Kỳ như một số phụ nữ gốc Nhật, Hàn, Hoa, Phi Luật Tân và gốc Á Châu-Thái Bình Dương đó là Đề đốc Hải quân Seiko Okano, Thiếu tướng Không quân Susan Mashiko (hồi hưu) và Chuẩn tướng lục quân Miyako Schanely (hồi hưu) gốc Nhật; Chuẩn tướng Không quân Sarah H. Russ, Thiếu tướng Không quân Sharon K.G. Dunbar (hồi hưu)) gốc Hàn; Thiếu tướng Quân y vệ binh Quôc gia Lisa J. Hou, Thiếu tướng Không quân Carol A. Lee (hồi hưu), Phó Đề đốc Hải quân Alma M. Grocki (hồi hưu) và Chuẩn tướng Lục quân Coral Wong Pietsch (hồi hưu) gốc Hoa; Thiếu tướng Lục quân Suzanne Vares-Lum gốc Nhật-Hoa-Hawaii (hồi hưu); Phó Đô đốc Quân y Hải quân Raquel C. Bono, Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor V. Valentin, Phó Đề đốc Hải quân Babette Bolivar và Phó Đề đốc Quân y Hải quân Eleanor Mariano gốc Phi Luật Tân. Những nữ tướng Hải quân gốc Phi Luật Tân trên đã hồi hưu, theo các tài liệu tham khảo.
Chúc 20 nữ Đại tá Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến binh nghiệp.
Chú thích: *Có thể hơn 28 nữ Đại tá gốc Việt, vì trong danh sách trên 100 Đại tá gốc Việt có 2 Đại tá có thể là phụ nữ, đó là Đại tá lục quân Hang T Nguyen và Đại tá không quân Nga T Do! Ngoài ra, có một số nữ Đại tá khác có họ giống họ Việt, nhưng chưa xác định được nguồn gốc; **HQ Đại tá (Navy Captain); ***Ghi theo họ tên từ các tài liệu; ****Không tìm thấy tài liệu Đại tá Danielle J. Ngô được thăng cấp Chuần tướng và Đại tá Vu The Thuy Anh thăng cấp phó Đề đốc Hải quân từ các tài liệu của Lục quân, Hải quân, USPHS và United States Senate Committee on Armed Services!
Bài 28 Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt viết theo các tài liệu thu thập được để chia sẻ với bạn đọc. Sẽ có những thiếu sót ngoài ý muốn không sao tránh khỏi. Xin vui lòng lượng thứ. Trần Anh.
Nguồn: Congress.gov; Navy Personnel Command; Air Force’s Personnel Center; List of female United States military generals and flag officers; COMMISSIONED CORPS OF THE U.S. PUBLIC HEALTH SERVICE; bienxua-Những Nữ Đại tá Hải, Lục, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Đoàn y tế công cộng Hoa Kỳ gốc Việt.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.