Banco Papillon – Giang Hồ Tung Cánh

vietmessenger.com

Henri Charrière

Dịch giả: Đinh Bá Kha

ĐỜI MỚI xuất bản 1974

Post by Sơn râu 26 Sep 2025

Google image edited by Sơn râu

5. Caracas

CUỘC hành trình rất nhọc, nhất là đối với Picolino. Khoảng một ngàn cây số, hai mươi giờ đường trường cộng với trạm nghỉ. Chúng tôi ghé lại Ciudad Bolivar vài giờ rồi sau khi qua sông Orénoque tráng lệ trên một chiếc phà, chiếc cam nhông chạy như điên, may mà lão tài xế là người bản xứ mạnh như văm.

Cuối cùng trưa ngày hôm sau, chúng tôi đến Caracas. Đã 4 giờ chiều. Ngay trong một lúc, tôi bắt gặp đô thị rộng lớn này. Cảnh náo nhiệt người qua kẻ lại thu hút tôi không chỗ chê.Năm 1929: Ba Lê. Năm 1946: Caracas. Mười bảy năm đã trôi qua, tôi không hề thấy một đô thị lớn. Đành rằng có các thành phố Trinidad, Georgetown, nhưng tại hai thành phố này tôi chỉ ở có vài tháng.

Caracas rất đẹp, rất kiêu sa với những ngôi nhà một tầng, chung quanh có dãy núi Avila, nằm sóng sượt trong thung lũng. Tọa lạc trên độ cao chín trăm thước, Caracas hưởng một mùa xuân bất tận, không quá nóng cũng không quá lạnh.

“Tôi tin tưởng nơi anh, Papillon”, bác sĩ Bougrat lặp lại bên tai tôi, như thể ông ta chứng kiến giây phút chúng tôi bước vào đô thị rộng lớn và đông đúc này.

Đâu đâu cũng thấy dân chúng đủ màu da, không một chút kỳ thị chủng tộc, từ màu trắng đến màu đen. Tất cả mọi người, từ người da đen đến người da màu gạch hoặc màu trắng tinh thuần nhất, cả khối dân đủ màu sắc ấy sống trong cảnh vui tươi vô cùng ngoạn mục đối với con mắt của người mới đến.

Nắm tay Picolino, tôi đi vào trung tâm thành phố. Charlot đã cho tôi địa chỉ một bạn cựu phạm hiện là chủ nhân một nhà trọ lấy tên Maracaibo.

Vâng, mười bảy năm đã trôi qua, một cuộc chiến tranh đã sát hại hàng trăm ngàn người cùng lứa tuổi tôi thuộc nhiều quốc gia trong đó có nước Pháp quê hương của tôi. Từ năm 1940 đến 1945, họ cũng bị bắt giam, bị chết hoặc bị thương, tàn phế suốt đời. Papillon, bây giờ mày ở đây, trong một đô thị lớn! Bây giờ mày 37 tuổi, mày trẻ, mày khỏe, mày hãy nhìn quanh mày những con người mà đa số đã ăn mặc rất khiêm nhường: họ đang cười toe toét. Tiếng hát không những vang lên trong không khí phát ra từ các đĩa nhạc thời trang, mà còn rộn rã trong lòng tất cả mọi người. Hầu hết mọi người thì đúng hơn bởi vì dĩ nhiên ta thấy ngay một số không mang xiềng xích, nhưng tệ hơn, họ chịu cảnh cùng khổ và không biết làm cách nào tự vệ trong cảnh tranh sống của đô thị lớn.

Một đô thị quả là đẹp mắt! Thế mà mới bốn giờ chiều. Đến đêm mới ra sao nữa với hàng triệu ngọn đèn điện như những vì tinh tú? Chúng tôi chỉ mới ở vào một khu bình dân không sang trọng chút nào. Tôi xài lớn:

– Ê, tắc xi.

Ngồi bên tôi, Picolino cười như một đứa trẻ thơ, miệng sùi bọt mép. Tôi lau môi cho nó, nó cảm ơn tôi bằng ánh mắt sáng lên và run lên vì xúc động. Đối với nó, ở được thành phố một đô thành lớn như Caracas, trước hết là niềm hy vọng tìm được bệnh viện và giáo sư đủ tài biến thân tàn ma dại của nó thành một con người bình thường. Hy vọng quả thật mầu nhiệm. Nó cầm tay tôi trong tay nó khi chúng tôi lướt qua hết đường phố này đến đường phố khác, quanh chúng tôi toàn người là người, nhiều đến đỗi che kín các hè phố. Lại còn xe cộ, tiếng còi, tiếng rú của xe cứu thương, của xe chữa lửa, tiếng rao của bọn bán hàng rong, bọn bán báo buổi chiều, tiếng thắng rít lên của một xe vận tải, tiếng kiềng xe điện, tiếng chuông xe đạp, tất cả tiếng động, tiếng kêu inh tai nhức óc, chúng tôi choáng váng, những tiếng ồn làm điên đầu người khác, đối với chúng tôi có một tác dụng ngược hẳn, là đã thức tỉnh chúng tôi và cho chúng tôi hiểu rằng chúng tôi đã được ghép chặt vào nhịp độ quay cuồng của đời sống máy móc hiện đại, nên thay vì bực bội, chúng tôi cảm thấy vô cùng sung sướng.

Không có gì lạ nếu tiếng ồn đã làm chúng tôi xúc động. Từ bao nhiêu năm chúng tôi sống trong im lặng! Từ 17 năm, tôi chỉ biết sự im lặng, im lặng trong nhà giam, trong ngục thất, trong nhà cấm cố, im lặng của rừng sâu và của biển cả, im lặng của những thôn vắng có những người đang sống yên vui.

Tôi nói với Picolino:

– Chúng ta bước vào hành lang của Ba Lê, Caracas là một đô thị chính cống. Ở đây người ta sẽ chữa trị cho mày, còn tao, tao sẽ tìm con đường để thực hiện vận mạng của tao, mày tin như vậy đi.

Nó siết chặt tay tôi, một giọt lệ rơi từ khóe mắt. Bàn tay nó nồng ấm tình thân ái nên tôi giữ lại để tận hưởng cảm giác kỳ diệu, và vì cánh tay mặt của Picolino bị tê liệt, nên chính tôi đã lau giọt nước mắt cho người bạn được tôi đùm bọc.

Chúng tôi đến ở tại nhà trọ của anh cựu phạm Emile S. Anh ta không có ở nhà, nhưng vợ anh, một phụ nữ Venezuela, khi được biết chúng tôi từ Callao đến, biết ngay chúng tôi là ai và vội vàng để cho chúng tôi một phòng có hai giường và mời chúng tôi dùng cà phê.

Tôi đặt Picolino nằm sau khi đã giúp nó tắm. Nó mệt và rất xúc động. Khi tôi ra đi, nó ra hiệu lung tung. Tôi biết nó định nói: “Anh trở lại, nhá! Đừng bỏ tôi một mình ở đây nhá!”

– Không đâu, Picolino. Tao chỉ ở ngoài phố vài giờ rồi về ngay.

Bây giờ tôi ở trong lòng đô thành Caracas. Đã 7 giờ tối khi tôi đến công trường Simon Bolivar, công trường lớn nhất thành phố. Ánh sáng rực rỡ khắp nơi, muôn ngàn muôn sắc. Tôi mê nhất các biển quảng cáo đèn màu ngoằn ngoèo như những con rắn bằng lửa khi ẩn khi hiện giống trong một vũ khúc dưới quyền điều khiển của một tay phù thủy.

Công trường rất đẹp. Ở giữa là tượng đồng cao lớn của Simon Bolivar cưỡi ngựa đồ sộ. Tác phong hùng dũng được diễn tả với nhiều nét cao quí của tâm hồn người anh hùng dân tộc. Tôi ngắm dưới mọi góc cạnh vị hào kiệt giải phóng Châu Mỹ La Tinh rồi tôi buột miệng chào nho nhỏ để mọi người khỏi nghe: “Kính chào Ngài! Được đứng dưới chân Ngài, con người của Tự Do, quả là một phép màu, tôi chỉ là một thằng khốn nạn luôn luôn tranh đấu cho Tự Do mà Ngài là hiện thân!”.

Tôi trở về nhà trọ, cách công trường bốn trăm thước, hai lần mới gặp Emile S. Nó nói Charlot đã viết thư tin cho nó biết chúng tôi sẽ đến. Chúng tôi rủ nhau đi uống để nói chuyện tiện hơn.

Emile kể cho tôi nghe: “Tôi ở đây đã 10 năm rồi. Tôi đã lập gia đình, có một đứa con gái, vợ tôi là chủ nhà trọ này. Vì vậy, các anh ở đây phải trả tiền nhưng chỉ trả nửa giá thôi (Tình tương thân kỳ diệu giữa bọn cựu phạm khi một đứa gặp khó khăn). Nó tiếp: “Thằng đi với anh đó, phải là một người bạn lâu năm không?”.

– Anh đã thấy nó rồi sao?

– Chưa, nhưng vợ tôi nói. Nhà tôi nói nó là một thứ thân tàn ma dại? Nó bị mất trí phải không?

– Trái lại, và đó mới là bi đát. Nó hoàn toàn minh mẫn, nhưng miệng, lưỡi và hông bên phải xuống đến mông của nó bị tê liệt. Tôi biết nó trong tình trạng ấy ở El Dorado. Không ai biết căn cước của nó, là một tên bị tù hay bị cấm cố.

– Anh không biết gì nó mà lại mang nó theo. Ngay việc nó có phải là một người tốt, một người lương thiện hay không, anh cũng không biết. Ngoài ra còn là một gánh nặng cho anh.

– Tôi nhận thấy như vậy từ tám tháng nay tôi lo cho nó. Ở Callao tôi kiếm được mấy thiếu nữ săn sóc nó. Dù sao cũng tội nghiệp.

– Anh định thế nào?

– Nếu có thể thì đưa nó vào bệnh viện. Hoặc kiếm một cái phòng nhỏ cũng được, nhưng có chỗ tắm và cầu tiêu, để săn sóc nó cho đến khi nào tìm ra chỗ gởi nó.

– Anh có tiền không?

– Một ít, nhưng tôi phải cẩn thận, vì tuy tôi hiểu tiếng Tây Ban Nha nhưng nói rất tồi và như thế tôi tranh sống rất khó.

– Vâng, ở đây không dễ dàng gì đâu, thợ thì nhiều, chỗ làm thì ít. Dù sao, Papillon, anh cứ yên trí ở nhà tôi một thời gian để tìm ra công ăn việc làm.

Tôi hiểu. Emile tuy tốt bụng nhưng nó cũng bực bội. Chắc vợ nó đã phác họa một hình ảnh ghê tởm và Picolino, với chiếc lưỡi lòng thòng và những tiếng kêu như súc vật. Chị ấy hẳn nghĩ đến cảm tưởng xấu của các khách trọ.

Ngày mai tôi sẽ đem thức ăn lên phòng. Tội nghiệp Picolino đang ngủ trên chiếc giường sắt nhỏ cạnh tôi. Mặc dù tao trả tiền ăn và tiền trọ cho mày, người ta vẫn không thích mày ở đây. Mày thấy không, người bệnh bao giờ cũng làm phiền người khỏe. Đời là vậy. Mày chỉ được một nhóm người chấp nhận nếu nhân cách của mày có đem một cái gì đến cho họ hoặc là mày phải hoàn toàn vô tính để không gây phiền phức cho ai hết. Người ta phải chịu đựng một con người bất động như chiếc bàn chiếc ghế. Nhưng mày đừng lo. Dù tao không có những cử chỉ mềm mại như các cô ở Callao, mày vẫn có bên cạnh một người bạn, hơn thế: một tay giang hồ nhận mày làm em nuôi và sẽ làm tất cả để mày khỏi chết đói như một con chó.

Emile cho tôi nhiều địa chỉ, nhưng không nơi nào tôi tìm ra việc làm. Tôi đến bệnh viện hai lần để tìm cách đưa Picolino vào đó. Không thể nào được. Người ta cho biết không còn giường trống và theo giấy tờ, nó được ngục thất El Dorado phóng thích lại càng khó nữa. Hôm qua, người ta hỏi tôi vì sao và do đâu tôi lo cho nó, nó thuộc quốc tịch nào vân vân… Sau khi tôi kể cho viên thư ký bệnh viện biết viên quản đốc ngục thất El Dorado giao nó cho tôi, và tôi đã cam kết lo cho nó, lão thư ký khả ố kết luận:

– Thế thì, nó đã được phóng thích vì anh cam kết sẽ nuôi nấng nó, anh cứ tiếp tục giữ nó và săn sóc nó ở nhà anh. Nếu không đủ khả năng thì trước kia anh cứ để nó ở trong đó.

Lúc lão hỏi địa chỉ của tôi, tôi cho lão một địa chỉ láo, tôi không tin thằng cha khốn nạn ấy, nó điển hình cho hạng công chức tép riu muốn cho mình là quan trọng!

Tôi dẫn Picolino đi gấp. Tôi thất vọng cả cho nó lẫn cho tôi. Tôi cảm thấy không thể ở nhà Emile, vợ nó phàn nàn cứ phải thay ra trải giường hằng ngày. Thế mà mỗi buổi sáng tôi đã rửa kỹ mấy chỗ bẩn, nhưng vì lâu mới khô, nên dễ thấy. Tôi phải mua một chiếc bàn ủi để là cho khô chỗ giặt.

Làm gì bây giờ? Tôi cũng không biết. Chắc chắn là phải tìm một giải pháp sống. Lần thứ ba, tôi tìm cách đưa Picolino vào bệnh viện mà không được. Từ bệnh viện đi ra, đã 5 giờ. Đã vậy thì phải làm mạnh và tôi quyết định dành trọn buổi chiều đẹp trời này cho bạn tôi. Tôi đưa nó đến Calvario, một hoa viên rất đẹp đầy hoa lá vùng nhiệt đới ở trên một ngọn đồi nằm tại trung tâm đô thị Caracas.

Tại đây, ngồi trên ghế đá, ngắm cảnh trí huy hoàng, chúng tôi ăn bánh thịt và uống một chai bia. Rồi tôi đốt hai điếu thuốc, một cho Picolino, một cho tôi. Picolino hút rất khó khăn, nước bọt ướt cả điếu thuốc. Nó linh cảm giờ phút này nghiêm trọng, tôi muốn nói với nó một điều gì sẽ làm cho nó lo âu. Cặp mắt nó khổ sở có vẻ muốn nói với tôi: “Nói đi, nói mau đi. Tôi biết anh đã có một quyết định quan trọng. Tôi van anh, nói đi”.

Vâng, tất cả những điều ấy tôi đọc rõ trong mắt nó như viết trên giấy. Thấy nó như vậy tôi rất đau lòng, nên tôi ngần ngại. Cuối cùng tôi nói mau:

– Picolino, đã ba ngày nay tao cố tìm cách đưa mày vào bệnh viện. Không thể nào được, người ta không nhận mày. Mày hiểu chứ?

– Vâng, mắt nó nói.

– Vả lại, chúng ta không thể đến tòa Lãnh sự Pháp vì họ dám nhờ Chính Phủ Venezuela dẫn độ chúng mình lắm.

Nó nhún vai.

– Mày nên nghe tao. Phải chữa cho lành, mà muốn chữa phải được điều trị. Đó là vấn đề chính. Thế mà mày biết tao không đủ tiền để điều trị cho mày. Bây giờ thế này: Chúng ta đi chơi với nhau đêm nay, tao đưa mày đi xem chiếu bóng rồi sáng mai, tao dẫn mày đến công trường Simon Bolivar, mày không đem theo giấy tờ gì hết. Tại công trường, mày nằm dưới chân pho tượng rồi không nhúc nhích nữa. Có ai bảo mày đứng dậy hay ngồi xuống, mày cứ từ chối. Chắc chắn là sau một lúc người ta sẽ gọi cảnh sát đem xe cứu thương tới. Tao sẽ chạy theo bằng tắc xi để xem người ta đưa mày đến bệnh viện nào. Tao sẽ chờ hai ngày trước khi đến thăm mày, tao sẽ đến vào giờ thân nhân vào thăm để có thể trà trộn trong đám đông. Lần đầu, có lẽ tao sẽ không nói gì với mày, nhưng lúc đi ngang qua giường mày, tao sẽ để lại một ít thuốc với một ít tiền. Được chứ? Mày đồng ý không?

Nó đặt cánh tay còn mạnh trên vai tôi rồi nhìn thẳng vào mặt tôi. Ánh mắt nó vừa buồn khổ vừa tri ân. Cổ họng nó co lại, nó cố gắng phi thường để từ miệng méo xệch phát ra một tiếng gần như tiếng: “Vâng, cảm ơn anh!”.

Ngày hôm sau, mọi việc diễn tiến như đã dự định. Mười lăm phút sau khi Picolino đến nằm dưới chân tượng Simon Bolivar, ba bốn ông lão đang hóng mát dưới bóng cây đã báo cảnh sát. Hai mươi phút sau một xe cứu thương đến xúc nó. Tôi đi theo bằng tắc xi.

Hai ngày sau, trà trộn vào đám người vào thăm bệnh nhân, tôi tìm thấy ngay Picolino trong phòng thứ ba trong số các phòng tập thể tôi đi qua. Rất may nó nằm giữa hai người bệnh nặng nên tôi có thể nói ít câu với nó mà không sợ. Trông thấy tôi, nó mừng hết lớn và múa máy hơi nhiều.

– Người ta săn sóc kỹ cho mày chứ?

Nó gật đầu.

Tôi nhìn tấm biển nơi chân giường nó: “Tê liệt hoặc sốt rét rừng với biến chứng phụ. Cần theo dõi mỗi hai giờ”. Tôi để lại cho nó 6 gói thuốc hút, diêm và 20 đồng bạc.

– Picolino, tao đi nhá!

Trước ánh mắt thất vọng và van lơn của nó, tôi nói thêm: “Đừng lo, tao sẽ trở lại thăm mày!”. Tôi không nên quên rằng tôi rất cần cho nó. Tôi là mối liên hệ duy nhất của nó đối với thế gian này.

Tôi ở đây độ 15 ngày, các tờ giấy một trăm đồng tiêu rất mau. Cũng may là lúc đến đây, tôi đã có một số quần áo tử tế. Tôi tìm được một căn phòng không tốt lắm, nhưng đối với tôi cũng là nhiều tiền. Không có viễn ảnh một người đàn bà nào. Vậy mà con gái Caracas khá đẹp, thanh nhã và rất nhanh nhẹn. Điều khó là làm quen. Lúc bấy giờ là vào năm 1946, phụ nữ không quen ngồi một mình trong các quán cà phê.

Một đô thị lớn có nhiều bí ẩn. Để tự vệ, phải biết cái bí ẩn ấy, và muốn biết phải có thầy. Các vị thầy hè phố đó là ai? Cả một đám người bí mật với những ngôn ngữ, luật lệ, tập quán, thói hư tật xấu, mánh lới riêng để mỗi ngày có thể xoay xở kiếm đủ sống trong 24 giờ. Kiếm sống, càng lương thiện càng tốt đó là vấn đề không dễ đâu.

Tôi cũng có những lối xoay xở nho nhỏ, rất buồn cười, không ác chút nào. Ví dụ, một hôm tôi gặp một anh Colombie trước kia ở El Dorado.

– Bây giờ anh làm gì?

Nó nói hiện giờ nó kiếm sống bằng cách xổ số một chiếc Cadillac lộng lẫy.

– Trời! Anh giàu đến nỗi làm chủ một chiếc Cadillac?

Nó cười ngặt nghẽo, rồi giải thích đầu đuôi công chuyện:

– Chiếc Cadillac của ông Giám đốc một ngân hàng lớn. Ông ta lái lấy, đúng chín giờ sáng đến nơi rồi đậu rất kỹ lưỡng cách ngân hàng một trăm, một trăm năm mươi thước. Tụi tôi hai đứa. Một đứa trong bọn, không phải bữa nào cũng đứa đó để khỏi bị để ý, theo ông đến cổng ngân hàng đứng cạnh. Khi có nguy cơ, nó sẽ thổi một tiếng còi đặc biệt, không thể lầm lẫn với bất cứ tiếng còi nào khác. Việc này chỉ xảy ra có một lần. Thế là từ khi ông ta đến, đến khi về vào lúc một giờ, tụi tôi treo trên xe một tấm vải rất đẹp viết chữ đỏ như thế này “Bán vé số trúng chiếc Cadillac này. Các số đi đôi với các số của cuộc xổ số Caracas. Tháng tới sẽ xổ”.

– Ồ, hay thật! Thế là anh bán vé số xổ một chiếc Cadillac không phải của anh? Anh to gan thật! Thế còn bọn cảnh sát?

– Bọn ấy thay đổi luôn, với lại chúng không láu cá, nên không bao giờ nghĩ đây là một trò lừa bịp. Nếu chúng để ý hơi nhiều thì tụi tôi cho một vài vé, thế là mỗi đứa cảnh sát về nhà mơ thấy mình trúng chiếc Cadillac. Nếu anh muốn kiếm một ít tiền với tụi tôi, tôi sẽ giới thiệu với thằng bạn hợp tác với tôi.

– Lắc túi bọn nghèo cực, anh không thấy phần nào lưu manh sao?

– Anh lầm! Mỗi vé giá 10 đồng nên người khá giả mới mua nổi. Thế thì có hại gì đâu.

Thế là sau khi gặp anh bạn cộng tác, tôi tham gia vào công việc làm ăn này. Papillon, thế này, không bảnh lắm, nhưng cần phải ăn, phải ngủ, phải tươm tất sạch sẽ nếu không được bảnh bao, và giữ lâu chừng nào hay chừng ấy mấy viên kim cương đã đem theo từ El Dorado cùng hai tờ 500 đồng tôi vẫn cất kỹ trong hậu môn như lúc còn ở trong tù. Tôi vẫn dùng cách cất tiền ấy vì hai lẽ: nếu để trong phòng khách sạn ở trong một khu phố khả nghi, có thể bị mất cắp, còn để trong túi thì có thể bị rơi mất. Dù sao, tôi đã cất của trong ruột già như vậy hơn 14 năm. Thêm một năm, bớt một năm, không nghĩa lý gì, mà tôi lại được yên trí.

Công việc bán vé số kéo dài hơn 15 ngày và có thể kéo dài nữa nếu một ngày kia, không có một khách hàng vì quá thích nên mua đến hai vé và nhìn ngắm tỷ mỷ chiếc xe tuyệt đẹp đó đang mơ được trúng. Thình lình nó ngẩng lên, la lớn:

– Kìa! Chiếc xe này có phải là của Bác sĩ Fulano giám đốc ngân hàng không?

Lạnh lùng, bình tĩnh, anh người Colombie đáp:

– Đúng vậy. Ông ta đã giao cho chúng tôi để xổ số. Ông ấy cho làm như vậy sẽ cao giá hơn là bán trực tiếp.

– Quái thật… ông mua vé nói.

– Nhất là xin ông đừng nói chuyện ấy với ông ta, anh người Colombie nói vẫn với thái độ hết sức bình tĩnh. Ông ta đã bắt chúng tôi hứa không nên nói cho ai biết vì nếu có người biết sẽ kỳ cho ông ta lắm.

– Tôi hiểu, quả thật là không ngờ đối với một người như ông ta.

Khi ông khách đi hơi xa xa, về phía ngân hàng, chúng tôi lập tức gỡ tấm biển xếp lại. Anh Colombie cầm chiếc biển biến mất, còn tôi thì đến cửa ngân hàng tin cho bạn đồng lõa biết đã dẹp hết rồi. Trong thâm tâm tôi cười bể bụng và tôi không khỏi đứng lại gần cửa ngân hàng để xem công việc tôi đoán sẽ xảy ra. Quả thật không sai. Ba phút sau, ông giám đốc ngân hàng cùng đi ra với người mua vé đa nghi. Theo cách ông vung tay ghê gớm và đi thoăn thoắt, tôi đoán ông nổi giận thực sự.

Sau khi nhận thấy, có lẽ không ngạc nhiên, không còn ai chung quanh chiếc Cadillac, họ chậm rãi đi trở lại và ghé vào một quán cà phê uống một ly rượu tại quầy. Vì người mua vé không nhận ra tôi, nên tôi cũng vào quán để xem phản ứng của họ.

– Quả chúng nó gan thật! Có phải vậy không thưa bác sĩ?

Nhưng ông chủ chiếc Cadillac, như tất cả mọi người dân Caracas thích hài hước, cười thẳng thắn và nói:

– Tôi nghĩ nếu tôi đi bộ ngang qua đó, chúng cũng có thể gạ bán vé xổ số xe của chính tôi và do vì tôi thường đãng trí nên tôi dám mua lắm! Dù sao phải công nhận là khá khôi hài!

Thế là công việc xổ số của chúng tôi bị khai tử. Mấy thằng Colombiens biến mất. Về phần tôi, tôi đã kiếm được một ngàn năm trăm đồng, đủ sống hơn một tháng. Đó là điều quan trọng.

Ngày tháng trôi qua, quả thật không dễ gì tìm được một công việc làm đáng kể. Thời kỳ này các người theo Pétain cùng những người chủ trương hợp tác với Đức bỏ nước Pháp trốn sang đây để tránh búa rìu của luật pháp. Vì không biết rõ sự khác biệt giữa những người theo Pétain với những người hợp tác với Đức, nên tôi xem họ đều là cá mè một lứa và gán cho họ một nhãn hiệu: cựu mật vụ của Đức. Bởi vậy, tôi không tới lui với họ.

Một tháng đã qua mà không có gì thay đổi quan trọng. Lúc còn ở Callao, tôi không nghĩ rằng tạo cho mình một địa vị là một điều khó như vậy. Cùng quá, tôi phải đi từng nhà để bán một thứ lọc cà phê đặc biệt dùng cho các công sở. Lối rao hàng của tôi quá dễ và quá ngốc nên tôi phát tởm: “Thưa ông Giám Đốc, ông cũng hiểu mỗi lần nhân viên của ông đi xuống uống một ly nhỏ cà phê (một tập tục thông thường ở Venezuela), họ phí phạm rất nhiều thì giờ, nhất là khi nào trời mưa, trong lúc ấy, ông Giám Đốc mất tiền. Có chiếc lọc cà phê này tại công sở, ông sẽ không bị thiệt nữa”. Có lẽ họ không bị thiệt, nhưng tôi nhiều lúc bị thiệt. Nhiều lão giám đốc trả lời vào mặt tôi:

– Ồ, anh biết đấy, ở Venezuela, chúng tôi sống bình thản ngay trong công việc làm ăn cũng vậy. Thế nên nhân viên của chúng tôi được phép xuống uống một ly cà phê trong giờ làm việc.

Với bộ mặt thông minh vì trên tay có cầm chiếc bình lọc cà phê đi ngoài phố, tôi đã xáp mặt với Paulo võ sĩ, một bạn cố tri thời Monmartre.

– Kìa! Anh có phải là Paulo võ sĩ…

– Còn anh là Papilion?…

Nhanh như chớp, nó nắm tay tôi kéo vào một quán cà phê:

– Đúng là một ngẫu nhiên kỳ lạ!

– Mày làm gì lại cầm chiếc bình lọc cà phê đi trên hè phố như vậy?

– Để bán, thật là thảm hại. Vì lấy ra để vào nhiều lần nên cái hộp giấy đã vừa rách mất.

Tôi kể cho nó nghe tình cảnh của tôi rồi hỏi nó:

– Còn mày?

– Chúng ta uống cà phê, đi chỗ khác tao nói cho nghe.

Sau khi trả tiền, chúng tôi đứng vậy, tôi với tay lấy chiếc bình lọc cà phê.

– Để nó ở đây, tao cam đoan với mày, mày sẽ không cần đến nó nữa.

– Thật hả?

– Chắc mà.

Tôi bỏ chiếc bình đau khổ lại trên bàn và hai đứa bước ra.

Một giờ sau, tại nhà tôi, sau khi trao đổi vài kỷ niệm về Monmartre, Paulo tấn công. Nó có một vụ làm ăn ghê gớm tại một xứ gần Venezuela. Nó tin tưởng nơi tôi. Nếu tôi nhận lời, nó sẽ thâu nhận tôi vào đoàn.

– Dễ hết sức, như nằm trong túi rồi vậy bạn ạ! Tao nói rất đứng đắn với mày: sẽ có nhiều mỹ kim đến nỗi phải dùng bàn ủi để là cho giẹp bớt nếu không chỗ đâu để cho hết.

– Ở đâu, cái vụ làm ăn phi thường đó?

– Đến nơi mày sẽ biết… Tao không thể nói gì trước hết.

– Chúng mình bao nhiêu người?

– Bốn. Một thằng đã có mặt tại chỗ rồi. Tao đến đây để tìm một thằng nữa. Thằng này mày biết mà. Nó là bạn của mày, thằng Gaston.

– Đúng, nhưng từ lâu tao không gặp nó.

– Tao thì gặp nó luôn, Paulo cười nói.

– Thật mày không thể nói cho tao biết gì thêm về vụ làm ăn này sao?

– Papillon, không thể được. Tao có lý do của tao.

Tôi suy nghĩ rất nhanh. Trong hoàn cảnh của tôi, tôi không còn cách gì lựa chọn. Hoặc là tiếp tục đi lang thang với một bình lọc cà phê hay bất cứ vật gì ngu ngốc nhất trên tay hoặc là trở lại phiêu lưu mạo hiểm để sớm có một số bạc lớn. Từ lâu nay tôi biết Paulo rất đứng đắn, và nó đã tính cần đến bốn đứa thế thì vụ này cũng khá quan trọng. Về mặt kỹ thuật, chắc hẳn là một vụ khả quan. Và như vậy nó hấp dẫn tôi nhiều, phải công nhận điều đó. Thế thì, Papillon, Banco nhá?

– Banco!

Ngày hôm sau, chúng ta lên đường.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply