vietmessenger.com
Nguyễn Đình Toàn
234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam
Post by Sơn râu 20 Oct 2025

108. Xuân Vũ
Về tiểu sử Xuân Vũ người ta được biết: ông tên thật là Bùi Quang Triết, sinh năm 1930 tại Mỏ Cầy, tỉnh Bến Tre [tức Kiến Hòa]. Sau hiệp định Genève ông tập kết ra Bắc. Ở Hà Nội, như lời ông cho biết, ông thấy chế độ nó kỳ cục quá, ông đã vào thẳng trụ sở của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến để xin về Nam. Hành động ngây thơ, dại dột này đã làm khổ ông rất nhiều sau đó. Xuân Vũ đã phải đem hết sức lực, văn tài ra phục vụ “kháng chiến” như một cách “đái công chuộc tội” để chờ cơ hội thoát ly khác. Năm 1967, ông được đưa vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh và năm sau 1968, Xuân Vũ đã tìm được cách rời bỏ hàng ngũ cộng sản, vượt thoát vào Sài Gòn tìm tự do, theo chính sách khi ấy gọi là Chiêu Hồi.
Chuyến vượt trường sơn 1967 cũng là cơ hội khiến ông viết được cuốn “Đường Đi Không Đến” và cuốn sách này đã được giải thưởng Văn Học của Việt Nam Cộng Hòa. Sau ngày miền Nam sụp đổ, rất nhiều cán bộ miền Bắc vào Sàigon, đã đi lùng kiếm ông để trả thù, vì họ cho rằng, Xuân Vũ đã đánh họ một đòn chí tử.
“Chúng ông đến chứ sao không đến và đang đi tìm mày đây”.
Họ đã nói như vậy. Rất may là Xuân Vũ đã đi thoát vào những ngày rối ren
cuối cùng trước hôm 30 tháng 4. Trong cuốn Tôm Hùm Huýt Sáo viết và xuất bản ở Mỹ sau này, Xuân Vũ cho biết:
“Khi tôi về Sài Gòn, tôi có nói rằng tôi sẽ dùng những ngày còn lại của mình để viết ra cho hết cái bụng của tôi về Cộng Sản. Viết về cái sự kỳ cục của chủ nghĩa cộng sản mà tôi phải chạy bạt mạng trốn khỏi nó năm 1967. Sống trong lòng cộng sản tôi đã thấy nó kỳ cục. Thoát ra khỏi lồng nó, ngồi nhìn lại, tôi thấy nó càng kỳ cục hơn, đúng như cảm nghĩ đầu tiên về nó. Và càng ngày nó càng trở nên kỳ cục, siêu kỳ cục đến quái gở”.

Tâm sự với bằng hữu có lần ông nói:
“Sống trong lòng chế độ CS rồi mới thấy được cái nó vô nhân và hiểm độc đến mức nào, và chỉ muốn vượt thoát thôi. Nhưng khó mà thoát ra nổi.
Đến khi ra ngoài rồi thì lại thấy một sự phi lý khác, là nói xấu về chế độ đó một cách đúng mức thì ít ai tin. Vì vậy mà người miền Nam sau 1954, nghe dân di cư vào Nam nói xấu cộng sản, chỉ bảo lại tuyên truyền luận điệu của chính quyền. Ngày nay nhiều người ra hải ngoại rồi, đã nếm mùi cộng sản trong nước, khi nghe nói về chế độ cộng sản cũng không tin nó tệ hại đến thế”.
Nhà văn Minh Võ, người đã dành 40 trang trong cuốn “Phản Tỉnh Phản Kháng Thực Hay Hư” của mình để viết về Xuân Vũ cho biết, ngoài viết văn, Xuân Vũ còn làm rất nhiều thơ. Sau đây là “Bài Thơ Một Đời” Xuân Vũ chép tặng Minh Võ:
Khi xuân vắng bóng trên đồng lúa
Là xuân đang ngủ ở trên mây
Giữa trời xuân hái thêm hương nhụy
Đền ơn cha mẹ, tạ ơn thầy
Sắc đẹp, uy quyền đều hủy diệt
Thế gian còn lại chữ mà thôi
Cuộc sống trải ra trang giấy đẹp
Càng viết càng say nét mực ngời
Đất nước cho tôi cây bút thép
Viết đã lâu mà mực chưa vơi
Tổ quốc cầm tay tôi nắn nót
Phập phồng dòng chữ ánh vàng tươi
Đại Nam sống mãi cùng trời đất
Lương tâm của thế kỷ hai mươi
Xuân Vũ quan niệm “chữ như nước, đâu cũng tới được”. Cuộc đời như một cuốn sách. Cuốn sách khép lại. Xác phàm sẽ trở về với cát bụi nhưng hồn thiêng vẫn còn đó.
Như cuốn sách vẫn tồn tại.
Chữ làm sáng chính nghĩa.
Yêu văn chương, yêu chữ nghĩa, Xuân Vũ đã viết như tự hiến thân mình cho một chính nghĩa. Ông đã dùng những kinh nghiệm của bản thân để nói cho mọi người thấy rõ những sự thực gần như không thể tin nổi, những sự thực làm bại hoại đời sống dưới chế độ cộng sản, nói cho mọi người thấy những sự thực ấy là một bổn phận thiêng liêng, một lý tưởng, vì nó có ý nghĩa như là để cứu vãn đời sống đang bị một thế lực đen tối vùi rập.
Không nhờ Xuân Vũ người ta không thể nào được biết, những công thần của chế độ cộng sản như Nguyễn Tuân mà cũng có lúc đã phải thốt lên:
“Thật là kỳ quặc! Người ta sợ cả những cái không đáng sợ. Cấm những cái không đáng cấm, còn những cái đáng cấm thì lại không cấm. Tao mà còn sống được đến ngày nay là nhờ tao biết sợ chúng mày ạ!”.
Chế Lan Viên thì bảo:
“Có một thời người ta ném tất cả những viên đá quý để nhặt những viên sỏi. Khi cần thì chẳng tìm thấy nữa”.
Còn Xuân Diệu thì cho biết:
“Mỗi lần đứng lên nói về thơ Bác, tôi phải khóc để người ta phát cho tôi cái phiếu 2 lạng rưỡi thịt heo”.
Nhưng câu nói mang tai họa cho Xuân Diệu nhiều nhất có lẽ là câu: “Tố Hữu chỉ đứng tới đầu gối Nguyễn Du”.
Theo Xuân Vũ, nói như vậy là chạm tới “mình rồng” rồi. Nhưng “ở trên” không thèm nổi giận mà bảo đám tay sai nổi giận dùm mình.
Cứ xem cái cung cách cư xử ấy người ta đủ thấy cái lắt léo, hiểm nguy của cuộc sống quanh đó. Tất nhiên, những chuyện Xuân Vũ kể lại trong cuốn sách của ông, đến nay, có thể coi như đã cũ. Xuân Diệu đã chết. Tố Hữu cũng đã chết trước khi không còn chút quyền hành nào.
Nhưng người đọc không khỏi thấy buồn nản và tự hỏi:
Tại sao người ta có thể đối xử với nhau như vậy? Một xã hội như thế, tại sao nó cứ tồn tại mãi? Vì tự coi việc viết văn của mình như một hành động cứu vãn đời sống, nên Xuân Vũ đã không ngừng viết cho đến khi tắt thở. Ông viết dễ dàng, câu kệ không cầu kỳ, đôi khi còn mộc mạc nữa là đằng khác. Nhưng cũng chính nhờ thế, những gì ông viết ra người đọc có thể hiểu ngay, không có sự nhầm lẫn. Ông để lại một sự nghiệp khá đồ sộ gồm trên 80 tác phẩm lớn, nhỏ. Có những cuốn dày cả ngàn trang. Trong cuốn “Văn Nghệ Sĩ Miền Bắc Như Tôi Biết” Xuân Vũ đề cập tới các tên tuổi quen biết như: Nguyễn Tuân, Văn Cao, Hoàng Cầm, Xuân Diệu, Kim Lân, Hoàng Lập Ngôn, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Bính …
Giới thiệu cuốn sách nhà xuất bản viết:
“Tập hồi ký của nhà văn Xuân Vũ chẳng những ghi lại những quan hệ cá nhân của ông với những nhà văn lớp trước tiền chiến, ghi lại những bài học từ các danh nhân ấy mà còn ghi lại những bi kịch trong lòng của từng người một, mỗi bi kịch mỗi khác. Đối với những người sống bên ngoài mảnh đất xã hội chủ nghĩa thì thật là vô cùng khó đoán ra. Không ai có thể nghĩ rằng, một câu thơ mấy chữ mà đã làm cho tác giả bị tước quyền viết 30 năm, một chữ viết hoa hay không hoa đã được cả trăm nghệ sĩ đem ra phân tích chính trị hai đêm liền … “.
Xuân Vũ viết về từng người riêng biệt như ông đã thấy hay gần gũi, quen biết, cùng cái cách thế họ ứng phó với hoàn cảnh và giao tiếp với nhau.
Nói là ứng phó với hoàn cảnh, thực ra chỉ cần gói gọn trong một câu: họ đã chịu đựng hoàn cảnh như thế nào. Chỉ có chịu đựng chứ không có gì khác. Tất cả các phản ứng, nếu có thể gọi như thế, thực chất, cũng chỉ là để cho
nhẹ bớt đi một chút cái sức nặng phải gánh chịu. Vậy thôi. Và người ta hiểu tại sao, những truyện cười gay gắt nhất, đắng cay nhất, người ta nghe thấy bất cứ ở đâu, lúc nào, hàng ngày, thường xuất phát từ miền Bắc. Những truyện cười ra nước mắt mà, Đảng nghi mgờ rằng, chúng đã được sáng tác bởi chính giới văn nghệ, trí thức, như một thứ khí giới của những kẻ bất lực.
Người ta chỉ nhìn thấy những người có quyền hành chứ không thấy lòng kính trọng. Người ta có thể còn chút lòng thương xót đối với nhau, nhưng chẳng ai giúp gì được ai chứ đừng nói gì đến cứu nhau.
Được biết Xuân Vũ từng đi tập kết ra Bắc rồi lại vượt tuyến vào Nam, trong suốt những năm ông ở lại miền Bắc, có thể nói, gần như không có lấy một nụ cười trong cuộc sống, dù là của ông hay những người chung quanh.
Nói gần như, bởi vì, cũng có lúc ông kể lại trận cười phun cả rượu, chẩy nước mắt do Nguyễn Tuân tạo ra cho ông và “thằng bạn Nam kỳ văn sĩ” như ông viết. Nhưng nếu đọc đoạn văn ấy, phải đọc nguyên văn từng chữ một, nên không tiện trích ra đây, người ta mới thấy Xuân Vũ và người
bạn của ông có vừa cười vừa khóc cũng phải.
Ở các trang 114-115, chương nói về Văn Cao, Xuân Vũ viết:
“Sau khi đè bẹp Nhân Văn Giai Phẩm, đảng cho toàn thể văn nghệ sĩ ‘đi thực tế. Tôi không rõ Văn Cao đi đâu và Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán đi đâu, nhưng đi đâu thì cũng bị đảng khinh rẻ và còn tệ hơn nữa bị coi như ‘kẻ thù của nhân dân’. Tôi thường thấy Văn Cao chẳng còn chơi với ai hoặc không ai dám chơi với anh. Thời đó, họa sĩ Nguyễn Sáng, người Mỹ Tho than rằng: ‘Chơi với chó không sợ bị phản hơn là chơi với người’. Bởi vì không ai dám tâm sự với ai. Sợ bị báo cáo. Tố Hữu sẵn sàng nghe những báo cáo bí mật để sắp hạng các văn nghệ sĩ”.
Cái không khí kinh hoàng ngộp ngạt đó nay còn không? Biến thái của nó ra sao? Về cái chết của Nguyễn Bính, “người đã theo kháng chiến hết nghĩa, hết tình”, Xuân Vũ cho biết [trang 272]:
“Không một tờ báo nào ở Hà Nội loan đăng cáo phó Nguyễn Bính. Hội Nhà Văn không gửi ai đến viếng hương hồn nhà thơ”.
Bạn bè xưa đứng trong Thi Nhân Việt Nam với nhau giờ dửng dưng coi như pha. Xuân Diệu, Anh Thơ, Thanh Tịnh, Chế Lan Viên … toàn là ủy viên Hội Nhà Văn không một người nào tỏ ra xúc động, cũng như từ lâu không nhắc nhở tới anh”.
Xuân Vũ từ trần lúc 2 giờ 22 phút trưa ngày 1 tháng giêng năm 2004 tại Texas Hoa Kỳ.
Xin cầu chúc cho hương hồn ông được an nghỉ.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.