This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tiếng động cơ xe hơi, tiếng giày đinh, tiếng kêu réo của bọn lính Lê dương đã đánh thức tôi, đâu hồi bốn giờ khuya.
Xe chạy ầm ầm ngang qua cổng biệt thự. Bà Henri đã ra khỏi nhà hồi nào… Ngọn đèn ở hành lang vẫn để sáng, suốt đêm. Một đóm lửa từ từ rề lại trên chiếc ghế bố, nơi tôi đang nằm. Tôi giả bộ nhắm mắt. Đóm lửa nọ đáp xuống sát mí mùng rồi từ từ rời ra: ông Henri Nhan dò chừng xem tôi còn nằm tại đây hay đã lẻn trốn!
Sau buổi lót lòng, ông Henri bảo tôi đem giấy mực tiếp tục viết nốt phần tiểu sử cận đại nhứt của đời ông, giai đoạn từ 1944 đến nay. Ông dẫn giải sơ sài vài nét chánh rồi ngồi trầm ngâm, lẩm bẩm từng chập:
– Chừng này, đoàn xe tới cầu số Một, lính sắp hàng xuống tàu… Con kinh cạn lắm, “tụi nó” chẳng có cắm chướng ngại vật, tàu của Tây hay lắm, chạy nơi nước cạn dễ dàng. Tàu tiến về Mốp Giăng theo lòng con kinh do tôi đào hồi năm 1936. Nếu chú ý, ông quan tư sẽ thấy rõ núi Ba Thê, núi Tượng, cái Sân Tiên trên núi… Chẳng hiểu nhà tôi biết cách giải thích không nữa? Đàn bà hời hợt lắm. Chắc thế nào đoàn tàu cũng ghé ngay bến, lên sân nhà tôi. Nhà bị phá hết rồi nhưng còn nền sân lót gạch phía trước…
Những điều ấy, ông chủ Nhan nói cho riêng ông ta nghe… Tôi giữ thái độ im lặng, cắm đầu viết. Ngòi viết chạy nhanh trên giấy nhưng tâm trí của tôi vẩn vơ tận đâu đâu. Rủi ông quan tư bị phục kích dọc đường, tình thế sẽ ra sao? Tánh mạng của tôi thật mỏng manh như… lông hồng, chỉ cần một ngọn gió nhẹ cũng đủ bay mất đất.
– “Năm 1945, vào tháng Ba, quân đội Nhựt đảo chánh Pháp. Bấy giờ ông Henri Nhan giữ thái độ bàng quan. Sở tình báo Đông Nam Á của Nhựt hoàng phái người đến dụ dỗ, mua chuộc, dọa nạt nhưng ông chẳng sờn lòng. Ông tin tưởng nơi sự biến chuyển của tình hình quốc tế: kháng chiến quân Pháp, dưới sự lãnh đạo của tướng De Gaulle nhứt định thành công, người Việt Nam nhờ đó sẽ được hưởng qui chế tự trị để tiến lần lần tới nền độc lập thật sự. Thống chế Bê Te là nhân vật lỗi thời.
Năm ấy, vào tháng Tám, ông lãnh chức cố vấn Thanh niên Tiền phong tỉnh Rạch Giá. Sau ngày Việt Minh cướp chánh quyền, ông bị chúng cưỡng bách, lạc quyên tất cả bốn kí lô vàng y. Đầu năm 1946, trung thành với tôn chỉ ‘minh triết bảo thân’ ông tản cư về vùng ‘giải phóng’ Minh Lương, chẳng thèm trở về đồn điền Mỹ Lâm. Ông dư hiểu rằng các tá điền thừa cơ hội ấy đập phá nhà cửa, bắt giết trâu bò của ông nhưng ông mỉm cười: Tình thế loạn lạc, ‘khôn cũng chết, dại cũng chết, biết là sống’, ‘mình đừng khiêu khích ai nhưng cũng đừng để ai khiêu khích mình’. Lúc tản cư, ông thấy bọn Việt Minh đã chủ trương nhiều điều sái quấy khiến ông không phục. Nghe tin ở Sài Gòn nhóm ‘Nam Kỳ tự trị’ phát triển ồ ạt, ông vui mừng, vượt vòng vây trở về chợ Rạch Giá, quy thuận với nhà binh Pháp và ông gặp những người bạn Pháp cũ… Ông mạnh dạn đánh điện về Sài Gòn, hưởng ứng thuyết phân ly, triệt để ủng hộ Thủ tướng Nguyễn văn Thinh nhưng đồng thời chỉ trích vài điểm quá nhu nhược của chính phủ Nam Kỳ tự trị.
Tôn chỉ của ông Nguyễn văn Nhan, tóm lại trước sau vẫn là: ‘Tranh đấu cho xứ sở. Nước Nam Kỳ của người Nam Kỳ. Tự do, Hạnh phúc, Sung túc’. Nhiều người vì chưa am hiểu bầu nhiệt huyết của ông, vội trách ông là phần tử cách mạng quá khích”.
Từ trong phòng, ông Henri Nhan lại trở ra, một tay cầm tấm bản đồ, một tay cầm ly rượu… Vừa ngồi xuống ghế, ông nhăn nhó:
– Chị ở đâu? Đem thêm một đôi vớ nữa cho tôi. Bữa nay sao tôi nhức bắp chân hơn mọi khi?
Trải tấm bản đồ lên bàn, ông gọi:
– Ông thơ ký… Ủa ông thi sĩ.
Nghe gọi đích danh, tôi ngẩng đầu lên:
– Thưa ông?
– Ông xem bản đồ… Điền đất của tôi, rõ ràng bao la bát ngát nào kém Domaine Agricole của Tây. Thật hãnh diện cho người Việt Nam. Mặc dầu cái “ê xen” rút lại, nó vẫn to hơn lòng bàn tay, trong khi đồn điền Tây Bẹt Te cũng chẳng lớn hơn bao nhiêu… Lẫm lúa tôi ở ngay “bon” này… Chuyến về, chắc chắn ông quan tư Ca Rê và nhà tôi đi con đường này, quẹo ra kinh này…
Tiếng phi cơ rền vang, càng rõ rệt. Hai chiếc săn giặc sơn đen ngòm tiến về phía đồn, ngay biệt thự, hạ xuống thấp để lộ màu cờ tam sắc dưới cánh rồi trở về hướng Đông bắc.
Ông Henri Nhan reo to:
– Đó, ổng đang trên đường về. Tụi máy bay đánh điện cho đồn hay. Hành quân quan trọng, đích thân quan tư Ca Rê chỉ huy, hèn gì! Dè đâu ổng lo châu đáo đến chừng đó. Chắc chắn ổng bình yên, thắng trận. Bằng không, quân tiếp viện kéo vô Mốp Giăng ầm ầm rồi. Nãy giờ, tôi mới hiểu thấu đáo câu nói của ông quan tư hồi trưa hôm qua. Khi tôi dịch câu chuyện Chúa Ngung, Ma Nương cho ổng nghe, ổng nói: “Năm 1914 – 1918 và 1940 – 1945 người Việt Nam giúp nước Pháp chống Đức. Đã đến lúc người Pháp hy sinh đổ máu giúp trở lại người Việt Nam”. Ổng còn hứa đem quyển tiểu sử của tôi về Pháp để xuất bản làm tài liệu lịch sử Đông Nam Á. Tiền bản quyền khá to. Tôi sẽ tặng ông thi sĩ sáu mươi phần trăm. Nhiều điều may mắn đang đến cho tôi và cho ông thi sĩ.
Đoàn “công voa” lính Lê dương đã tới. Trên chiếc xe đi giữa, bà Henri và ông quan tư Ca Rê ngồi bên nhau, họ đưa tay ngoắt trong khi ông Henri chạy ùa đến cổng, quên xỏ chân vào dép. Hai tay ông ta dang ra như hai cánh cửa sổ mở tung đón tất cả ánh mặt trời và không khí.
Bọn Lê dương hát inh ỏi, quơ tay làm dấu hiệu với bọn trong đồn.
Ông Henri Nhan đích thân mở cổng.
Bà đi nhanh vào nhà, dáng điệu nhảy nhót, miệng nói huyên thiên:
– Bình yên, vạn sự may mắn! Ông Ca Rê giữ bo bo cái tượng đá nữ thần Ba Tư, khen ngợi rằng cái ngôi sao của tôi quá tốt. Cuộc hành quân sở dĩ được toàn thắng… nhờ nụ cười hộ trợ của nữ thần… Ba Tư tái sanh là tôi đây! Tụi Tây nịnh đầm giỏi quá.
Ông Henri cau có:
– Mình cứ nói bá láp. Tới Mốp Giăng hả?
– Ông này hỏi lạ! Phải tới đó mới về đây chớ. Nhà cửa lưa thưa như… chòm mả. Dân tá điền chạy trốn ráo trọi. Cảnh cũ mà mình nhìn không ra. Phải có mình đi theo, chắc mình khóc quá. Ông Ca Rê lại miễu để “cuổm” cái pho tượng đá, bắt một người tá điền của mình, cái ông già lên xác mọi lần đó. Ông già đó cũng bướng quá! Ông Ca Rê muốn hỏi han sự tích, ông già nhè lên xác, múa tay múa chân, đòi vặn họng Tây, vặn họng luôn cả vợ chồng nhà mình! Ông già lên xác nói rằng Chúa Ngung, Ma Nương đã tặng tất cả đất đai cho cô gái năm xưa bị chủ… Nhan ám sát… Chúa Ngung, Ma Nương nói từ bốn năm nay vợ chồng mình không cúng miễu nên bị mất quyền hạn.
Gương mặt ông Henri biến sắc, môi tái lợt:
– Cái gì? Thằng xác đó nói xấu tôi à? Nó lên xác giả, để vu cáo tôi! Nó đâu rồi! Tôi phải giết nó. Tôi phải thanh minh với ông Ca Rê. Tại sao ông Ca Rê không đóng đồn luôn để gìn giữ cái miễu như ổng đã hứa với tôi?
– Thì mình cứ qua bên đồn mà hỏi. Ông Ca Rê bắt sống lão xác đó, còng tay còng chân đem luôn về đây. Ông Ca Rê nói đất của mình vô dụng chỉ để dành trồng cỏ, nuôi rắn… chẳng nhằm địa thế quan trọng, đóng bót uổng lính.
Ông Henri Nhan chạy tất tả ra cổng:
– Điệu này chắc tôi chết mà không nhắm mắt. Để tôi qua bên đồn mắng ông Ca Rê một trận!
Nhưng “người chết không nhắm mắt” giờ phút này chính là tôi.
Chờ ông Henri khuất dạng, bà nói khẽ:
– Ông thi sĩ về đi, hết công chuyện rồi! Vọc nước giỡn trăng, tôi biết trước mà. Ông cứ lãnh thêm trăm đồng. Đừng ở đây, đừng lẩn quẩn ở Xóm Biển lâu ngày không nên. Ông già bị bắt dường như mang giấy “lách xê” địa chỉ cư trú Xóm Biển như ông.
Tôi thừ người, như đứng giữa tư bề lửa đỏ. Bà vịn vào vai tôi, nói nhanh:
– Tôi mến ông lắm, rất tiếc chưa giúp ông được gì. Bấy lâu, tôi xem ông như người em đáng thương. Ông về đi, nhớ coi chừng coi đỗi. Đừng buồn. Sự việc trước sau gì cũng chỉ xảy ra như vậy thôi!
Hai ngày sau chúng tôi lên đường. Ba chúng tôi và ba người lạ mặt. Tôi không hiểu họ làm sao mà biết được, nhưng có đến một tá những cô gái bán bar đến tiễn đưa chúng tôi, cũng như gia đình Bowen và ông thống lĩnh đạo quân Cứu thế. Khi thấy một cô gái bán bar ôm hôn tôi. Margaret cười lớn bảo tôi: “Henri, anh làm gì mà đã đính hôn nhanh thế? Chẳng nghiêm túc chút nào!”. – Xin chào tất cả. Không, xin vĩnh biệt! Nhưng các bạn phải biết rằng các bạn đã có một vị trí quan trọng trong lòng chúng tôi, và vị trí ấy vĩnh viễn thuộc về các bạn. Chúng tôi xuất phát lúc bốn giờ chiều: một chiếc tàu kéo kéo chúng tôi ra khỏi cảng. Mấy đứa chúng tôi không khỏi có người lau nước mắt. Chúng tôi đã nhìn đến phút cuối tốp người ra tiễn chúng tôi đang vẫy những chiếc khăn mùi-soa trắng. Sợi dây cáp nối liền thuyền của chúng tôi với chiếc tàu kéo vừa được tháo ra thì tất cả ba cánh buồm của chúng tôi đã hứng gió căng phồng lên, và chúng tôi lao vào những đợt sóng đầu tiên trong số hàng triệu những đợt sóng mà chúng tôi sắp phải vượt qua trước khi đến đích.. Trên thuyền có hai con dao, một con tôi mang, con kia Maturette giữ. Cây rìu thì đặt cạnh Clousiot, cũng như con dao phát rừng. Chúng tôi biết chắc rằng ba người kia không có ai có vũ khí. Chúng tôi đã xếp đặt để đừng có lúc nào có hai đứa trong bọn chúng tôi ngủ dọc đường. Đến lúc mặt trời lặn, chiếc tàu huấn luyện của hải quân bắt kịp chúng tôi và đi kèm theo chúng tôi trong nửa tiếng đồng hồ. Sau đó nó kéo cờ tín hiệu từ biệt và bỏ đi. – Anh tên gì? – Leblond.. – Chuyến nào? Án gì? – Hai mươi năm. – Còn anh? – Cargueret. Chuyến 29, mười lăm năm, tôi người Bratagne. – Người Bretagne mà không biết đi thuyền sao? – Không – Còn tôi tên là Dufils, người Angers. Tôi bị xử chung thân vì đã nói một câu ngu xuẩn ở phiên tòa đại hình, chứ không thì tối đa cũng chỉ đến mười năm. Chuyến 29. – Câu gì thế? – Số là tôi đã giết vợ tôi bằng cái bàn là. Trong phiên xử, một viên bội thẩm đã hỏi tôi tại sao lại dùng bàn là đánh vào vợ. Thật ra tôi cũng chẳng biết tại sao, nhưng tôi lại trả lời tôi đã giết vợ bằng bàn là vì vợ tôi hay là sai nếp gấp. Theo ông trạng sư bào chữa cho tôi thì chính vì câu nói ngu xuẩn này mà họ xử tôi nặng đến thế. – Các anh ra đi từ đâu? – Từ một trại khổ sai lâm nghiệp gọi là Cascade, cách Saint-Laurent tám mươi cây số. Trốn đi chẳng khó gì vì ở đấy tự do lắm. Chúng tôi có năm người ra đi với nhau dễ lắm. – Sao lại năm người? Thế hai người kia đâu? Một phút im lặng khó chịu. Clousiot nói: – Này anh kia, ở đây toàn đàn ông với nhau cả, mà đã cùng thuyền với nhau thì chúng tôi phải biết. Nói đi! – Tôi sẽ nói hết cho các anh nghe, – người Bretagne nói – Quả thật khi ra đi chúng tôi có năm người, nhưng hai người quê ở Cannes hiện không có ở đây nói rằng họ những là dân thuyền chài miền duyên hải. Họ không chi một xu nào cho chuyến vượt ngục, nói là công lái thuyền của họ còn đáng giá hơn tiền bạc. Nhưng giữa đường chúng tôi mới thấy là cả hai đứa đều không biết một tí gì thuyền bè hết. Chúng tôi suýt chết đuối đến hai chục lần. Chúng tôi phải men theo bờ biển mà đi, lúc đầu là xứ Guyan thuộc Hà Lan, rồi đến Guyane thuộc Anh, rồi mới đến Trinidad. Ở khoảng giữa Georetown và Trinidad tôi đã giết chết cái thằng nói rằng nó có thể làm thuyền trưởng cho chuyến vượt ngục. Thằng ấy đáng chết, vì để khỏi mất tiền nó đã đánh lừa mọi người về năng lực hàng hải của nó. Còn thằng kia thì sợ bị chúng tôi giết nốt cho nên một hôm mưa bão hắn đã tự ý bỏ tay lái nhảy xuống biển. Chúng tôi đành xoay xở hú họa với nhau trên thuyền. Đã mấy lần chúng tôi để sóng tràn vào thuyền, chúng tôi lại để thuyền đâm vào đá may mà thoát chết. Tôi xin lấy đanh dự một gã đàn ông mà cam đoan rằng tất cả những điều tôi vừa nói đều hoàn toàn đúng sự thật. – Đúng đấy, – hai người kia nói. – Sự việc đã diễn ra đúng như thế, và cả ba đứa chúng tôi đều nhất trí giết thằng ấy. Anh nghĩ thế nào về chuyện này hả Pappilon? – Tôi không có vị thế để xét xử. – Nhưng nếu ở vào địa vị của chúng tôi thì anh sẽ xử sự như thế nào? – Người quê ở Bretagne hỏi gặng. – Cái này còn phải suy nghĩ đã. Muốn xét đoán một cách công bằng, phải sống qua sự việc lúc đó xảy ra, nếu không thì không thể biết đâu là sự thật.
Clousiot nói: – Tôi thì tôi cũng giết, vì đó là một lời nói dối có thể phải trả giá bằng sinh mạng của cả bọn. – Thôi được, đừng nói chuyện ấy nữa. Nhưng tôi có cảm giác là các anh đã bị một phen hoảng sợ đến mức bây giờ vẫn còn sợ, và các anh chịu lên thuyền với chúng tôi cũng là vạn bất đắc dĩ, phải không? – Đúng quá! – Họ đồng thanh trả lời. – Thế thì ở đây cấm không được hoảng hốt, dù có chuyện gì xảy ra cũng thế. Trong bất cứ trường hợp nào, cấm không ai để lộ ra ngoài là mình sợ. Ai sợ thì câm cái mồm đi. Thuyền này rất tốt, nó đã được thử thách. Bây giờ thuyền chở nặng hơn trước, nhưng nó lại cao hơn trước những mười phân. Điều đó thừa sức bù lại trọng tải. Chúng tôi hút thuốc, uống cà phê. Trước khi đi chúng tôi đã ăn no cho nên quyết định là đến sáng mai mới ăn bữa nữa. Hôm ấy là ngày mồng chín tháng chạp năm 1933, cuộc vượt ngục đã bắt đầu trong gian phòng dành cho phạm nhân nguy hiểm ở bệnh viện của trại Saint-Laurent cách đây bốn mươi hai ngày. Người cho chúng tôi biết điều đó là Clousiot, kế toán viên của nhóm. So với lúc khởi hành, tôi có thêm được ba vật quý: một cái đồng hồ bằng thép không thấm nước mua ở Trinidad, một cái địa bàn thứ thiệt được thiết bị treo hai chiều, rất chính xác, có cả “hoa hồng gió bốn phương”, và một đôi kính đen bằng mi-ca. Clousiot và Maturette thì mỗi người được một cái mũ lưỡi trai. Ba ngày trôi qua bình yên, không có chuyện gì xảy ra nếu không kể hai lần thuyền gặp phải những đàn cá heo. Nó đã làm cho chúng tôi toát mồ hôi lạnh, vì có một tốp tám con bày trò đùa nghịch với chiếc thuyền. Thoạt tiên chúng luồn dưới đáy thuyền theo chiều dọc và nhô lên ngay trước mũi thuyền. Nhiều khi chúng tôi đâm thẳng vào lưng nó. Nhưng làm cho chúng tôi hoảng hơn cả là trò chơi sau đây: ba con cá heo xếp thành hình tam giác, một con ở phía trước và hai con song song ở phía sau, đâm thẳng vào chúng tôi với một tốc độ khủng khiếp. Vừa đúng lúc sắp đâm vào thuyền, chúng đột ngột lặn xuống, rồi ngoi lên bên phải và bên trái thuyền. Mặc dầu gió rất mạnh và chúng tôi dong hết buồm phóng như bay, chúng lao còn nhanh hơn nữa. Trò chơi này kéo dài hàng giờ, chúng tôi hoa cả mắt, đến phát cuồng lên được. Chúng chỉ tính hơi sai một chút là thuyền chúng tôi lật ngay. Ba người khách của tôi không nói gì, nhưng mặt mày nhợt nhạt trông đến thảm. Giữa đêm thứ tư, một trận bão khủng khiếp nổi lên. Thật là kinh hồn tán đởm. Tệ nhất là các đợt sóng không hề đi theo một hướng. Nhiều khi chúng va vào nhau. Đợt thì dài, đợt thì ngắn, chẳng còn hiểu ra làm sao được nữa. Không ai thốt ra một tiếng nào. Chỉ có Clousiot thỉnh thoảng lại quát lên: “Nào, ông lái! Đợt này ông cũng sẽ đánh vỡ mặt nó ra như các đợt khác thôi?” Hay là: “Coi chừng có một đợt sóng từ phía sau đấy?” Có điều lạ là nhiều khi có những đợt sóng đến chênh chếch, gầm lên dữ dội, trên đỉnh đầy bọt trắng. Được tôi ước lượng tốc độ của nó và đoán trước góc tiếp xúc. Thế mà, đùng một cái, chẳng ra cái lô-gíc gì cả lại có một đợt sóng khác xô ngay vào đít thuyền lúc bây giờ đang dựng đứng lên. Nhiều lần những đợt sóng như thế đã chồm lên vai tôi, và dĩ nhiên một phần lớn nước ập vào thuyền. Cả năm người cầm xoong, lon, hộp, tát nước liền tay. Tuy vậy, chưa có lần nào nước ngập lòng thuyền đến hơn một phần tư, cho nên chúng tôi chưa bao giờ có nguy cơ chìm nghỉm. Phiên hội chợ kinh hãi này kéo dài suốt nửa đêm, gần bảy tiếng đồng hồ. Vì trời mưa, mãi đến tám giờ mới thấy bóng mặt trời. Bão đã yên, ánh mặt trời mới tinh khôi của buổi sáng được mọi người chào đón một cách hân hoan, dĩ nhiên kể cả tôi. Trước hết phải uống cà-phê đã. Một chầu cà-phê sữa Nestlé sôi sùng sục, mấy tấm bánh nướng của thủy thủ, cứng như sắt, nhưng nhúng vào cà-phê thì lại ngon tuyệt. Cuộc vật lộn với trận bão đêm qua đã làm cho chúng tôi kiệt sức hoàn toàn, và tuy gió hãy còn mạnh, sóng hãy còn cao và còn khá vô kỷ luật, tôi yêu cầu Maturette cầm lái thay tôi một lúc. Tôi muốn ngủ. Tôi mới nằm xuống chưa đầy mười phút thì Maturette loay hoay thế nào để cho một đợt sóng đánh ngang thuyền và nước tràn vào ngập đến ba phần tư.
Đồ đạc nổi lênh bênh trong lòng thuyền: các thứ lon hộp, cái lò dầu hỏa, mấy cái chăn… Tôi đứng dậy đi ra phía lái, nước ngập ngang bụng, và vừa có đủ thì giờ cầm lấy tay lái để tránh một đợt sóng vỡ đang đâm thẳng vào chúng tôi. Tôi bẻ lái giơ đít thuyền ra cho đợt sóng, khiến cho nó không tràn vào thuyền được mà chỉ đẩy chúng tôi về phía trước đến mười mét. Mọi người đều tát nước. Cái nồi lớn do Maturette sử dụng tát mỗi lần được mười lăm lít. Không ai bận tâm vớt vát những đồ đạc có thể trôi ra ngoài, ai nấy đều có một ý nghĩ cố định duy nhất: tát, tát cho thật nhanh chỗ nước đang làm cho chiến thuyền trở nên nặng nề, khó lòng có thể chống chọi lại các đợt sóng. Tôi phải công nhận rằng ba người mới đã xử sự không đến nỗi tồi như anh chàng người Bretagne, khi thấy cái hộp anh ta đang dùng để tát nước bị cuốn đi, đã tự mình quyết định không do dự đẩy cái thùng đựng nước ngọt ra khỏi thuyền cho đỡ nặng. Hai giờ sau, mọi thứ đã khô ráo, nhưng chúng tôi đã mất mấy cái chăn, cái bếp dầu, cái lò, mấy bị than, cái bi-đông xăng và cái thùng nước ngọt – tài sản cuối cùng này chúng tôi đã mất đi một cách tự nguyện. Đến giữa trưa, tôi định thay quần thì mới nhận thấy là cái va-li nhỏ của tôi cũng đã bị sóng cuốn đi từ bao giờ, cùng với hai ái áo vải tráng nhựa. ở đáy thuyền, chúng tôi tìm thấy hai chai rượu rhum. Bao nhiêu thuốc lá của chúng tôi đều bị mất hay bị ướt, cả cái hộp sắt tây đựng lá thuốc cũng không còn. Tôi nói: – Các cậu ạ trước hết phải uống một chầu rhum, liều lượng kha khá vào, rồi ta mở cái thùng đừng thức ăn dự trữ xem thử còn có những gì. à, còn mấy hộp nước quả, tốt. Ta sẽ chia khẩu phần để uống. Lại có những hộp bánh bích quy, các bạn ăn cho hết một hộp đi và dùng cái hộp không làm lò. Ta sẽ để mấy cái hộp sắt tây ở đáy thuyền để lót bếp, bên trên ta sẽ đốt lửa bằng ván thùng. Tất cả chúng ta đều đã trải qua một cơn kinh hoàng, nhưng bây giờ thì hiểm nghèo đã qua. Mỗi chúng ta phải trấn tĩnh lại để sẵn sàng đối phó với tình hình. Kể từ bây giờ trở đi, không ai được nói: tôi khát nước; không ai được nói: tôi đói; và không ai được nói: tôi thèm thuốc. Đồng ý không? – Đồng ý, Papi ạ. Mỗi người đã xử sự đúng mức, và Trời đã ra lệnh cho gió ngừng thổi để cho chúng tôi nấu một nồi xúp bằng thịt bò khô. Với một cà-mèn đầy xúp bỏ thêm bánh nướng khô, chúng tôi đã lót được dạ đày bằng một lớp chất đỉnh dưỡng vừa ngon vừa ấm, đủ để chờ đến ngày mai. Lại pha thêm một chút nước chè xanh cho mỗi người. Trong cái thùng còn nguyên vẹn, chúng tôi đã tìm thấy một tút thuốc lá. Cả thảy có hai mươi bốn gói nhỏ, mỗi gối đựng tám điếu. Năm người kia quyết định là chỉ có một mình tôi được hút, để cho tỉnh táo mà lái thuyền. Và để đừng ai ghen tị, Clousiot khước từ công việc châm dùm thuốc lá cho tôi; mỗi khi tôi cần hút cậu ta sẽ châm lửa thôi. Nhờ mọi người đều hiểu tình hình và hiểu nhau như vậy, giữa chúng tôi không xảy ra một biến cố nào khó chịu. Chúng tôi ra đi đã sáu hôm rồi mà tôi chưa ngủ được một giấc nào. Cũng may tối nay mặt biển phẳng lặng như tờ, tôi liền ngủ như chết gần năm tiếng đồng hồ. Đến mười giờ tối thì tôi tỉnh dậy, Biển vẫn lặng. Các bạn đã ăn tối trong khi tôi ngủ, để đành lại cho tôi một thứ cháo polenta quấy rất khéo bằng bột ngô, dĩ nhiên là bột ngô đóng hộp, và mấy thỏi xúc xích hong khói. Ngon tuyệt. Nước trà thì đã nguội, nhưng cũng không sao. Tôi vừa hút thuốc vừa đợi cho gió vui lòng nổi lên. Đêm hôm ấy trời chi chít những sao, đẹp kỳ diệu. Sao Bắc cực sáng hết cỡ và chỉ có chòm sao Thập tự phương Nam ăn đứt nó về độ sáng. Có thể nhìn rết rõ hai chòm sao Đại hùng tinh và Tiểu hùng tinh. Trời không gợn một chút mây, và trăng rằm đã lên cao trên bầu trời điểm sao. Anh chàng người Bretagne run cầm cập. Anh ta đã đánh mất cái áo vét, chỉ còn sơ- mi. Tôi cho anh ta mượn cái áo tráng nhựa. Chúng tôi đang bước sang ngày thứ bảy. – Các bạn ạ, chắc hẳn chúng ta không còn cách Curacao bao nhiêu. Tôi có cảm giác là tôi đã cho thuyền đi hơi quá lên phía Bắc, từ giờ tôi sẽ chuyển sang chính tây vì ta không được hụt quần đảo Antilles thuộc Hà Lan. Nếu không ghé được vào đấy thì rất nguy vì bây giờ ta không còn nước ngọt và bao nhiêu lương thực đều đã mất hết trừ số đồ hộp dự trữ. – Chúng tôi tin anh, Papillon ạ, – anh chàng người Bretagne nói. – Đúng, chúng tôi rất tin anh, – mấy người khác đồng thanh họa theo. Anh thấy thế nào là đúng thì cứ thế mà làm. – Cám ơn. Hình như những điều tôi vừa nói là giải pháp tốt nhất Suốt đêm hôm ấy đợi mãi chẳng thấy chút gió nào, mãi đến bốn giờ sáng mới có một ngọn gió vừa phải cho phép chúng tôi dong buồm. Ngọn gió này càng về sáng càng mạnh lên, thổi suốt ba mươi sáu giờ với một cường độ đủ mạnh cho thuyền đi nhanh, nhưng sóng thì lại nhỏ đến nỗi không vỗ vào mũi thuyền.
Một tuần lễ trôi qua, tội trạng của tôi được đúc kết và ghi chép lại thành một tập dày trên hai chục tờ giấy đánh máy. Thẩm vấn viên Công đọc lại cho tôi nghe một lần, rồi yêu cầu tôi ký tên cạnh tên ông ta nơi trang cuối cùng. Tôi nhanh nhẹn ký liền. Thế là xong việc!
Cũng từ hôm kết thúc hồ sơ, tôi không còn dịp gặp riêng ông Công lần nào nữa. Năm sau tôi được tin ông Công ra ứng cử chức dân biểu quốc hội, đại diện cho khu vực Hội-An nhưng không được dân tín nhiệm.
Ít bữa sau, hồ sơ của tôi được chuyển ra Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng.
Tôi thấy các ông Trung úy Cư, Thiếu úy Nồng, Trung sĩ 1 Ru cùng nhiều vị khác bị giam ở đây đã lâu, vậy mà hồ sơ của họ vẫn chưa thụ lý xong mới lạ!
Nghe tôi nói hồ sơ của tôi đã hoàn tất, ông Cư tò mò hỏi,
– Có chạy chọt hay sao mà lẹ vậy?
– Chạy chọt là sao?
– Thì dấm dúi tiền cho họ, họ bớt tội cho, đề nghị giảm khinh rồi gửi hồ sơ đi chứ gì nữa! Giả bộ ngây thơ hả?
Tôi nổi tam bành,
– Này! Ðừng có nói bá láp! Ông đánh bể mỏ bây giờ! Cái gì mà dúi tiền? Cái gì mà giảm khinh?
Thấy tôi sửng cồ, ông trung úy già vội làm hòa,
– Thì thấy cậu kết thúc hồ sơ nhanh quá, anh nghi, nên nói vậy. Thôi! Không phải thì bỏ qua nghe!
Sau đó chúng tôi hòa. Ông Cư cho tôi biết không phải ai cũng được đối xử nhân đạo như tôi đã được đối xử đâu. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, hai ông hạ sĩ quan và ông đảng viên Ðại-Việt không phải là những người tiếc những cú đấm ngàn cân giáng vào hàm, vào mặt quân ly khai, mà còn tận lực sử dụng nó một cách hăng say nữa! Quân ly khai nào ngoan cố, cứ chối tội hoài, thì biết tay các vị đó ngay.
Qua những lần tiếp xúc với các vị “đồng phạm” khác, tôi phát giác ra một điều: Khi bị hỏi cung, mọi người sợ bị phạt, cố tìm cách chối tội, đổ lỗi cho cấp chỉ huy đã ra lệnh cho họ tham gia lực lượng ly khai, chứ cá nhân họ không muốn như vậy.
Khổ một điều là cấp chỉ huy của họ giờ chót đã trở cờ, nên họ càng chối càng bị đánh; có người còn bị trấn nước, đội đá, quay điện, cho tới khi chịu nhận tội, ký vào bản tự tường trình họ mới được yên.
Hóa ra tội gì cũng nhận như tôi mà lại hay; vừa được an thân vừa giúp đỡ các thẩm vấn viên khỏi vận công vận sức.
Anh Thiếu úy Nồng và một thiếu úy khác, bạn cùng đơn vị với anh ta cứ luôn mồm oán thán cấp chỉ huy trực tiếp của hai anh là ông Ðại úy Kỳ, chi khu trưởng hay chi khu phó gì đó.
Sĩ quan và hạ sĩ quan tuy bị nhốt trong nhà giam của An-Ninh Quân-Ðội nhưng ẩm thực lại do gia đình lo liệu. Ngày ngày cứ vào giờ quân nhân của tiểu khu nghỉ trưa, nghỉ chiều, chúng tôi lại ai về nhà nấy ăn cơm, hai giờ sau quay lại, cứ như là công chức!
Ông Trung úy Cư có cô con gái lớn tên là Mai mười sáu tuổi. Sau giờ học, cô Mai làm việc thêu thùa để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Ngày ngày cô Mai đều ghé nhà giam đưa cơm cho bố một lần vào buổi trưa. Cô cũng đem cho bố những mẩu vải cắt sẵn để ông giúp cô, thêu phù hiệu, huy hiệu, hay lon đen, lon trắng của quân đội Hoa-Kỳ. Ðêm đêm, dưới ánh điện mờ, ông Cư cặm cụi kim chỉ cho tới khuya mới đi ngủ. Những lúc ngồi buồn, ông Cư hỏi tôi đủ điều, về gia thế, tuổi tác, vợ con. Tôi tình thực kể chuyện đời mình cho ông bạn già đồng cảnh này nghe. Biết tôi chưa có gia đình, ông Cư nói đùa,
– Ngày mai con Mai tới đưa cơm, cậu thích nó thì gắng làm quen với nó. Nó cũng dễ coi, nhưng hiền lắm, chưa có bồ.
Tôi đã nhiều lần nhìn tận mặt cô gái Huế này rồi. Ngày nào cô ấy chẳng ghé đây? Cô ấy có thể gọi là đẹp, vừa ngây thơ, vừa dịu dàng.
Hôm sau tôi được một cô bạn gái vào thăm. Ông Cư lịch sự tránh mặt bằng cách ra sân tản bộ.
Cô Hối, bạn tôi, vốn là người tôi quen từ trước ngày đi lính; Hối là học trò Trường Trung Học Tư Thục Diên-Hồng, nhà cô ấy ở trước trại Tây Hồ. Mẹ tôi không có cảm tình với cô này, chỉ vì Hối không phải là con nhà dòng dõi Bắc-Kỳ Di Cư.
Hối mang cho tôi một giỏ quà gồm bánh tét, giò, chả, bánh ngọt và thuốc lá. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau gần một tiếng đồng hồ thì ông trung sĩ trực văn phòng tới gõ cửa, báo cho biết đã hết giờ.
Cô Hối vừa khuất dạng, hậu quả của vụ thăm nuôi đã ập tới ngay: Ông Trung úy Cư không còn nhắc tới tên cô Mai nữa; ông cũng quên luôn chuyện khuyên tôi tìm cách làm quen với ái nữ của ông.
Cũng nhân vụ chính biến 1966 này mẹ tôi mới nhìn ra, gần chục gia đình Bắc-Kỳ Di Cư mà mẹ tôi nhắm hỏi con gái nhà họ về làm dâu, gặp cơn hoạn nạn, chẳng có ma nào đoái hoài tới gia đình tôi cả. Thậm chí có nhà còn vội vàng gả chồng cho con gái, đám cưới xảy ra nhanh như đám cưới chạy tang. Chỉ có một “con bé Quảng-Nam” mà mẹ tôi không ưa nhất lại liều mạng vào nơi tù tội thăm hỏi con bà. Sau này vì tôi ở Pleiku, Vùng 2, xa xôi cách trở, nên tôi và Hối không còn liên lạc với nhau.
Cuối tháng 8 năm 1966 tôi ra Ðà-Nẵng trình diện Sở 1 An–Ninh Quân Ðội. Trung tá Chánh sở 1 dẫn tôi lên trình diện Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm tân Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Vùng 1 Chiến Thuật. Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, là nguyên Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh. Ông này đã đứng trung lập trong thời gian đầu của cuộc chính biến Miền Trung. Sau đó ông Lãm chỉ xác định lập trường ủng hộ Tướng Kỳ vài ngày trước khi Không Quân Mỹ đổ quân của chính phủ trung ương xuống phi trường Ðà-Nẵng. Người mà Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm đã thay thế là Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu tướng Cao nhậm chức thay Tướng Ðính sau khi tôi giải tán tiểu đoàn vài ngày. Vì lập trường của Tướng Cao cũng chao đảo, không dứt khoát, nên ông ta bị bốc chức ngay.
Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm – nguồn flickriver.com
Tôi đứng nghiêm giữa phòng. Sau bàn giấy, ông Tướng Thiết Giáp ngồi dựa lưng trên ghế, trước mặt ông là chồng hồ sơ ghi tội trạng của tôi. Ông từ tốn nói,
– Mi anh hùng dữ hí! Tau cũng nể mi luôn! Tau phạt cho mi nhớ hí! Sau này có làm việc gì cũng phải suy tính thiệt hơn, đừng hồ đồ mà mang họa vào thân!
Ðầu tháng 9 năm 1966 tôi ra trình diện Quân Lao Mang-Cá, Huế, sau khi lãnh cái giấy phạt 30 ngày trọng cấm với tội danh “Sĩ quan vô kỷ luật. Tự ý dẫn đơn vị tham gia Phong Trào Phản Loạn Miền Trung”
May mắn là, lúc nhận sự vụ lệnh của tôi, Trung úy Ưng Dung, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm 1 Quản Trị Ðịa Phương đã kịp nhận ra tôi là đứa bạn thân của thằng cháu ông, nên ông không tống tôi vào giam trong quân lao. Ông cho phép tôi được về ở trong nhà trọ sát chùa Báo Quốc, cấm lang thang trong thành phố. Mỗi ngày tôi phải vào văn phòng trình diện ký tên trong sổ điểm danh một lần.
Thời gian này tôi thấy người bạn cùng bị giam ở Hội-An là anh Thiếu úy Nồng, mặt mày xanh xao, thất thểu trong đoàn lao công có lính canh dẫn đi làm tạp dịch. Tôi không rõ tương lai đời anh thiếu úy kém may mắn đó đi về đâu.
Ngày 1 tháng 10 năm 1966 tôi được tự do lang thang bên bờ Hương Giang để chuẩn bị hôm sau sẽ từ giã Huế.
Thời gian này Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã bị đưa vào Pleiku thay cho Tiểu Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân di chuyển ra Ðà-Nẵng. Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân đã có người chỉ huy mới là Ðại úy Nguyễn Kim Biên.
Ðại úy Nguyễn Thừa Dzu đã đi luôn, theo nghề Cảnh-Sát, không một lần quay lại thăm đơn vị cũ. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 ông Dzu đã trở thành một trong số những người Việt-Nam tị nạn đầu tiên có mặt trên xứ Hoa-Kỳ.
Tôi được trả về đơn vị gốc là Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân, nên phải trình diện Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân ở Biển Hồ. Vì tôi không mang theo hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Nguyễn Ðức Ninh, Chiến Ðoàn Trưởng Chiến Ðoàn 2, cho tôi làm một công việc làng nhàng là chức vụ phụ tá hành quân cho Ðại úy Nguyễn Văn Huân.
Nghe tin tôi trở về, anh em binh sĩ của Ðại Ðội 3/11 ùn ùn kéo nhau tới tụ hội trong căn gia binh của Trung sĩ Cẩn, mở tiệc nhậu mừng tái ngộ. Thầy trò chúng tôi ngồi bên nhau chuyện trò om sòm cho tới khuya.
Trưa hôm sau thì Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân có lệnh lên đường vào vùng. Trước giờ vào sân tập họp, đàn em để lại cho tôi một bao cát gạo trắng, một chai tàu vị yểu con mèo, một cái nồi nấu cơm cá nhân, và một bó củi. Binh 1 Trần Ðược trao cho tôi một túi chứa bạc cắc và dặn tôi nếu đi Pleiku thì dùng nó để trả tiền xe Lamb.
Thời gian này đang là giữa mùa Ðông, mà ban đêm thì Pleiku lạnh lắm. Mấy chú đàn em lại quên không kiếm cho tôi một cái mền hay poncho để đắp khi đi ngủ, nên tôi phải đốt một bếp lửa giữa nhà, rồi ngồi bó gối hong cho đỡ rét. Tới khi mệt quá, tôi lăn quay ra chiếu, ngủ chưa được hai tiếng đồng hồ thì trời đã sáng rồi. Hôm sau tôi vào bộ chỉ huy kể chuyện này cho Ðại úy Kính nghe. Ông Kính vội ra lệnh cho anh thủ kho phát cho tôi một cái mền nhà binh và một cái poncho.
Trong hai ngày kế tiếp tôi chỉ loanh quanh trong hậu cứ của Tiểu Ðoàn 11 và Chiến Ðoàn 2 rồi về căn cuối cùng của trại gia binh, nằm bên lề đường vào sở trà Biển Hồ, nấu cơm rồi ngồi ăn với xì dầu.
Trưa ngày thứ tư thì tôi lên xe Lamb ra phố tìm đường tới chùa Tỉnh Hội Pleiku.
Tôi vào chùa xin gặp mặt thầy trụ trì để trao một cái thư tay của Ðại đức Thích Chơn Phát. Người tiếp tôi trước khi được giáp mặt thầy trụ trì là ông trung úy đặc trách Phật Vụ của Quân Ðoàn II. Ông trung úy này tên là Nghiêm, tốt nghiệp khóa 14 Võ-Bị. Trung úy Nghiêm bảo tôi ngồi chờ trong văn phòng ông rồi nhanh nhảu mang cái thư tay đi tìm thầy trụ trì. Chừng năm phút sau tôi được đưa lên phòng khách của chùa. Thầy trụ trì đã đọc những lời gửi gắm nhờ vả của thầy tôi, ông nhìn tôi rồi nói thật nhỏ,
– Con đừng tới đây thường xuyên. Chùa đang bị theo dõi. Tới đây thường sẽ bất lợi cho con.
Nói xong thầy trao cho tôi một cái bì thư khá dày. Tôi được Trung úy Nghiêm dẫn ra cổng rồi bắt tay từ biệt. Năm 1979 tôi gặp lại ông Nghiêm trong trại tù Nam-Hà A. Tôi nhắc lại chuyện xưa, thì ông đã quên.
Về tới Biển Hồ, tôi bóc cái bì thư, thấy năm ngàn đồng nằm trong đó. Mấy tháng rồi tôi không có lương, nên nhận được sự giúp đỡ này, tôi cảm động vô cùng.
Cũng nhân cái cớ tôi không có hồ sơ quân bạ, nên Trung tá Ninh dễ dãi cho tôi miễn hành quân, cứ nhởn nhơ, lang thang trong phố, đôi khi cả tuần lễ tôi không ghé về Biển Hồ.
Các ông Trung sĩ Hai, Trung sĩ Nghiễm trong ban Biệt Cảnh, tuần tra của Biệt Ðộng Quân trong thành phố Pleiku đều biết tôi là sĩ quan phụ tá của ông Ðại úy Huân, nên chẳng làm khó dễ gì nếu gặp tôi nửa đêm, nửa hôm còn lang thang trong phố. Ngày qua ngày, tôi sống như một lãng tử bất cần đời.
Có một thời gian tôi tá túc trong nhà vợ chồng Trung úy Trọng, Trưởng ban 1 Chiến Ðoàn. Nhà này nằm trên đường Phan Ðình Phùng, Pleiku. Bên kia đường là một dinh cơ ba tầng lầu mới xây. Dinh cơ này có một cô tóc thề ngang vai, ngày ngày cắp cặp đi về. Tôi đã đôi lần cố tình đi ngược chiều gật đầu chào cô với tư cách là người hàng xóm lịch sự, nhưng cô ta làm lơ không thèm để ý.
Không ngờ, giữa trưa một hôm, chắc là ngày lành, tháng tốt (!) tôi nghe trên sân thượng nhà cô có tiếng gọi,
– Ông thầy ơi! Ông thầy ơi!
Ngẩng mặt lên, tôi nhận ra người đứng trên gác là Binh 1 Lê Hữu Hường, thuộc cấp cũ của tôi ở Ðại Ðội 3/11. Hường là một trong những người chứng kiến hình ảnh một thiếu úy Võ-Bị mới ra trường, chiều ngày 10 tháng 2 năm 1966 đáo nhậm đơn vị bằng cách đeo bám cửa sau một chiếc xe đò đầy khách chạy đường Hội-An, Ðà-Nẵng; Hường cũng là một trong hai mươi ba người của Trung Ðội 1, Ðại Ðội 3 đã tập họp trên Gò Phật, Thanh-Quýt, Ðiện-Bàn, Quảng-Nam để chào đón tôi về làm người chỉ huy. Từ sau trận Tháp Bằng An, Ðiện Bàn, Quảng-Nam, ngày 22 tháng 2 năm 1966, tôi trở thành sĩ quan đại đội trưởng của Hường cho tới sáng 20 tháng 5 năm 1966 là ngày thầy trò chia tay nhau nơi sân sau chùa Phổ- Ðà, Ðà-Nẵng.
Hường vui mừng, rối rít mời,
– Ông thầy qua đây chơi!
Tôi qua đường, Hường cũng vừa mở cửa. Quay vào trong nhà, anh ra lệnh,
– Con Lê đâu? Pha trà! Pha trà mau! Nhà có khách!
Cô hàng xóm của tôi ló đầu sau cầu thang,
– Thưa cậu, con đây, có trà ngay!
Tôi ngồi chơi với Hường chừng nửa giờ sau thì cáo thoái.
– Nhà này là nhà chị tôi. Lâu lâu tôi ghé thăm. Còn con Lê là cháu gọi tôi bằng cậu. Nó tuy ngổ ngáo nhưng dễ thương lắm. Ðể hôm nào tôi giới thiệu Thiếu úy cho nó nhe!
Về tới cửa nhà mình, tôi lần túi lấy bao thuốc lá. Chợt nhớ ra mình vừa bỏ quên chiếc bật lửa Zippo trên bàn nhà chú Hường đành quay lại tìm.
Tới cửa, tôi nghe hai cậu cháu anh Hường đang trò chuyện với nhau.
Tiếng cô cháu trách móc ông cậu,
– Cậu quen cái ông lính kiểng này hả? Cháu thấy ông ấy chẳng làm ăn gì cả. Chắc ổng là dân chuyên môn trốn hành quân, suốt ngày lang thang đi đếm cột đèn. Cậu lánh xa ông ta đi! Cậu ơi!
Tiếng ông cậu nạt cô cháu,
– Mi đừng có nói bá xàm, bá láp! Im cái mồm đi! Không biết cái gì mà cũng léo nhéo, tầm bậy, tầm bạ!
Nghe thấy thế, tôi quay lưng biến nhanh.
Lúc sau Hường qua gõ cửa,
– Ông thầy bỏ quên cái bật lửa.
– Ừ! Tôi cũng mới biết, nhưng chưa kịp chạy qua thì chú đã đem nó sang đây.
Hường chào tôi rồi hẹn,
– Lần tới, về nghỉ dưỡng quân, tôi sẽ dẫn ông thầy và con Lê vào rạp Thanh Bình coi ciné. Ði chơi chung vài lần là ông thầy và nó sẽ quen nhau.
Ngờ đâu, chỉ ít lâu sau, tôi biết tin Hường tử trận khi xác nó đã được đưa về tới quê nhà Hội-An rồi. Nó đền nợ nước trong lúc xung phong chiếm một mục tiêu trong vùng Tây Bắc quận Dak-Tô.
Tôi được “tha ra khỏi trại cải tạo” (câu ghi trong lệnh tha) ngày 2 tháng 7 năm 1982. Tính từng ngày là 7 năm 8 ngày, nhưng vì năm 1976, 1980 là năm nhuận, nên phải cộng thêm 2 ngày. Do đó, tính ra là tôi ở “Tù Cải Tạo” đúng 7 năm 10 ngày. Tôi tính kỹ, không phải để “hận thù” như người Cộng Sản chủ trương hận thù, mà chỉ là, như người xưa nói: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”.
Lệnh tha ghi mấy câu buồn cười: gọi là “Học Tập Cải Tạo”, nhưng có câu: “tha ra khỏi Trại Cải Tạo”. Ghi như vậy là mâu thuẫn. Đã là “tha” thì còn “học tập” gì nữa! Tha là tha khỏi trại giam, trại tập trung, chớ ai lại tha ra khỏi… trường học bao giờ!
Nhớ hồi tôi mới về Trại Suối Máu, năm 1976, nghe bạn tù cải tạo kể lại, khi bị đưa vô trại nầy để “học tập”. Linh mục Phan Phát Hườn, Giám Đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo, nêu thắc mắc với “ông chỉ huy” ở trại (theo tôi biết tên là Phán, trung tá Bộ Đội Việt Cộng), rằng “đã gọi là “học tập” thì phải có “Ngày Khai giảng”, “Ngày Bế giảng” của khóa học, chớ sao lại không có qui định thời gian nào cả. Vậy đây là Trại Tù giam cứu hay Trường học Tập Cải Tạo?”
Dĩ nhiên là mấy tay bộ đội ở đó phải ngọng luôn dù chúng có ngây thơ tin rằng đây chỉ là học tập, cải tạo, hay đây chính là trại tù!
Đây là cái bẫy do Cộng Sản giăng ra để “hốt trọn ổ” số “ngụy quân, ngụy quyền” của miền Nam. Cái bẫy nầy, có thể bọn to đầu như Trần Văn Trà, Võ Văn Kiệt ở trong Nam biết cả đấy. Có biết và dù không đồng ý đi nữa, thì cũng không làm gì được với đám Lê Duẫn, Lê Đức Thọ ở ngoài Bắc… còn như đám tép riu, cỡ như trung tá Phán, chỉ huy Trại Suối Máu, thì giống như những người mù sờ voi, “sờ thấy sao thì hay vậy”.
Điều buồn cười thứ hai là câu: “Can tội: Đại úy” vì cấp bậc của tôi trong chế độ cũ là “Đại úy”. Có người thì ghi Can tội: Trung úy, thiếu úy hay trung sĩ… Cấp bậc là một cái tội? Buồn cười chưa? Họ không nghĩ ra được một cái tội gì khác mà ghi hay sao? Hay tôi không có tội gì cả nên họ phải ghi “can tội đại úy”, ghi cho ghi vậy hay sao?
Trương Đình Gòn, Đội trưởng Đội 19 là đội cũ của tôi nói: “Ghi gì kệ mẹ nó. Về cái đã.”
Nhìn các bạn tù, biết cấp bậc và chức vụ của họ, người ta đoán chừng Cộng Sản VN có qui định hạn tù cho chúng tôi cả đấy, nhưng họ không nói ra, mục đích là để “tung hỏa mù”.
Năm kia, năm ngoái, có mấy đợt tha: Tết (cũng là dịp “Thành lập đảng 3 tháng 2), giữa năm hay “Ba ngày nễ nớn” (Ba ngày lễ lớn – gọi là nễ nớn là chúng tôi có ý ghẹo mấy tên Công An, Bộ Đội nói ngọng, ngày 2 tháng 9 với ngày gì nữa, tôi cũng quên mất rồi, nhớ làm gì ngày lễ ấy), một số thiếu úy, trung úy đã được tha. Hồi đầu năm, nhân dịp Tết, cũng có một số cấp úy được tha.
Như vậy, có thể đoán chừng rằng: Hạn tù của cấp thiếu úy, trung úy là 5 năm.
Bây giờ, bảy năm – như tôi là 7 năm 10 ngày – là tới hạn tù của “bò tam” (tức đại úy, tiếng chúng tôi thường gọi đùa). Lượt tha nầy có Trương Đình Gòn, như tôi nói, cấp bậc là đại úy, Lê Quang Dung, và một số bạn tù nữa, cũng “can tội đại úy” cả.
Dĩ nhiên cũng có trường hợp đặc biệt: Anh bạn Trần Phú Trắc, – đúng ra là là bạn với Hùng Móm, em tôi -, cũng đại úy, cũng Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia cấp quận, mãi tới 5 năm sau mới “được tha”, chỉ vì Trắc là cháu Tông Tông”. (Tông Tông là tiếng chúng tôi gọi đùa cái chức của Tổng Thống Thiệu đấy).
Dĩ nhiên, trại trưởng cũng có thể đề nghị giữ lại vài người, với lý do đặc biệt nào đó, chẳng hạn những “ông” khách không mời mà đến (thường xuyên) của cát-xô, tức là “mấy thằng ông nội” chống Cộng thường xuyên, thường trực, chống triền miên, chống mệt (mà không) nghỉ.” như “ông Nguyễn Cẩm” thằng bạn nối khố của tôi, từ năm học lớp ba cho đến khi thành niên, hoặc có “thành tích trốn trại” như “ông” Nguyễn Lô. Hai “ông” nầy là “dân Quảng Trị tui” đấy.
Sau tết, tôi đang ở Trại Ngoài, có khi gọi là Trại C, trại mới xây ở dưới chân đồi Phượng Vĩ, thì bỗng nhiên, một mình tôi bị chuyển vô Trại Cây, hay Trại B, là trại tôi đã ở khi tôi mới từ Trại Suối Máu bị chuyển về đây.
Bất thần bị chuyển trại một mình, tôi buồn hơn lo. Tại trại cũ nầy, tôi có nhiều bạn, già hơn tôi cũng có, như cụ Niệm, như Ngô Văn Tăng, như anh Nguyễn Đình Niệm, như Giáo Sư Đào Quang Huy, trẻ tuổi hơn tôi thì vô số kể, đếm không xuể, cũ cũng nhiều mà mới “đi thăm Lăng Bác về” (câu thường gọi đùa mấy ông bị đày ra Bắc) mới về, cũng không thiếu chi. Cũng có một vài người tôi “quan hệ”, bị anh em can tôi, biểu đừng. Chẳng hạn trường hợp anh Trần Ngọc Nam.
Anh Trần Ngọc Nam, người trông như Tây lai, nguyên là Việt kiều ở Miên trốn về. Sống sót ở Miên sau vụ “cáp duồn” của Lon Nol, nhưng tới khi Khmer Đỏ cai trị, anh đem vợ con lên ghe chạy trốn, xuyên dòng Cửu Long mà về Việt Nam. Gia đình anh có nhiều người bị Khmer Đỏ giết. Anh hận xứ Chùa Tháp, hứa với lòng là không bao giờ trở về cái xứ man rợ đó nữa, mặc dù, như anh ta kể, hồi nhỏ, anh là bạn học của mấy ông hoàng, con của ông Hoàng Si-Ha-Núc, như Ranariddh. Có lần được anh bà Hoàng Monique cho theo ông hoàng con vào cung điện hoàng gia chơi.
Tôi tin anh chàng Nam nầy bởi vì, đây là lần đầu tiên tôi nghe tới “tên cúng cơm” ông hoàng con nầy, cũng như Nam bảo rằng Bà Hoàng Monique là người Việt lai Tây – chuyện nầy ngày trước tôi có biết – và bà không được tấn phong hoàng hậu, việc nầy tôi mới nghe Nam nói.
Tôi là người tò mò nên ưa nghe mấy chuyện đó cho vui, nhưng tôi “quan hệ” với anh ta là vì có lần anh bị bệnh trĩ, đi cầu máu ra nhiều quá. Nghe người ta nói tôi cũng bị bệnh trĩ, và nhà tôi có “tiếp tế” cho tôi mấy chai thuốc ta, cầm máu hay lắm, nên anh ta đến xin. Tôi cho anh ta thuốc ngay tức thì. Sau đó, anh ta lại mấy lần đem rau muống đến cho tôi. Người ta bình phẩm gì về Nam, tôi không nhớ, tôi chỉ nhớ đến những gì anh ta đối xử với tôi, nhất là khi tôi mang “khăn gói” chuyển trại, anh ta đến giúp tôi và khóc khi tôi mang vác đồ theo “cán bộ” đi ra khỏi trại. Tôi khó quên những giọt nước mắt của anh ta lúc đó. Trên đường đi vô trại trong, tôi cố giữ lòng bình thản, tự an ủi rằng đâu cũng là tù. Đã là tù thì kén chọn làm chi, và đếm xem thử xem tôi đã đi đủ “Chín tầng địa ngục” chưa! Chưa đủ “chín tầng” thì khoan nghĩ tới ngày về.
Thật ra, bọn Công An chuyển tôi vô trại trong có lẽ vì họ sợ tôi trốn trại.
Trung Úy Đoan, là “cán bộ thường trực”, thường gặp tôi để nhờ tôi đóng sách. Sau đó, trung úy Đoan, vì là bộ đội chuyển ngành nên có mâu thuẫn với mấy tên trung sĩ Công An chính gốc – lớn lên thì vô Công An chớ không vô bộ đội trước như trung úy Đoan. Anh chàng thiếu úy Lại Xuân Hùng là Công An thành phố bì “đì” nên phải lên chỗ “rừng rú” nầy. Rừng rú là chữ của anh ta đấy. Mỗi lần Hùng gom thư của “trại viên”, thường là một bao lớn, Hùng biểu tôi khỏi đi lao động, ở nhà mang bao thư lớn theo anh ta ra Bưu Điện Gia Rây, rồi anh ta bảo “Anh đi ăn hủ tiếu đi. Tôi chờ.”
Một hôm, tôi đang ngồi ăn hủ tiếu, Lại Xuân Hùng đứng chờ bên kia đường. Hai tên trung sĩ Công An của trại tôi, một tên là Khoái, tên kia là Nhâm vào quán. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi, hỏi tôi một cách khó chịu sao tôi lại ngồi ở đây. Tôi nói là tôi đi bỏ thư với Lại Xuân Hùng.
Hôm đó hai tên nầy bị mấy thanh niên ở Gia Rây chọc quê. Vừa vào quán, thấy hai tên Công An, một anh gọi chủ quán:
_ “Cho tôi một cái nồi ngồi các cốc!”
Anh thanh niên thứ hai tiếp theo:
_ “Cho tôi tô phở thịt chó.”
Lại tới anh thứ ba:
_ “Cho tôi tô nước rửa chén!”
Hai tên Công An vội bỏ ra khỏi quán. Có lẽ hai tên ấy “quê” với tôi đấy. Trước mặt tù thì hung hăng, phách lối; trước dân thì ngậm câm, sợ bị dân đánh cho! Tên Công An Khoái thì lùn, ác, hay bắt bẻ tù như mấy ông lý trưởng, chánh tổng trong các làng quê Việt Nam, thường được mô tả trong các tiểu thuyết của Tô Hoài, Ngọc Giao… Còn tên Nhâm thì hai môi tím thâm. Tướng nầy là tướng ác vô cùng!
Do những sự việc như vậy, mà tôi bị chuyển trại bất thình lình bởi vì cứ cái cách tôi “quan hệ” với trung úy Đoan và Lại Xuân Hùng như thế, tôi trốn trại rất dễ. Cũng có thể vì tụi nó “kênh” nhau mà “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết oan”.
Thật ra, cũng khó chết oan. Vô trại trong, tôi bị “biên chế” vào một đội hầu hết là “dân đi thăm Lăng Bác” về, phần đông trẻ hơn tôi. Dần dần, tôi quen anh Trần Minh Hải, tức nhà thơ Cao Châu. Ông nầy đã tới Mỹ rồi, lại theo “Việt Nam Thương Tín” mà về, bị bắt đi tù, bị đưa ra Bắc, bị đưa về trại trong. Đêm đêm, chúng tôi nằm bên cạnh nhau, để “nói chuyện thơ” với nhau cho đời tù bớt… cô đơn. Trần Minh Hải lớn hơn tôi cỡ năm, ba tuổi.
Trần Minh Hải, nguyên là thiếu tá QĐVNCH, không rõ đơn vị nào. Anh đắc cử làm xã trưởng xã Phan Thiết. Xã nầy lớn và giàu có, xã trưởng có xe hơi (xe của xã) để đi công tác.
Phan Thiết nguyên là thị xã, có một thời gian, thị trưởng là ông Phạm Ngọc Thìn. Bà Thìn là Huỳnh Khanh, nữ tài tử đầu tiên trong cuốn phim “Cánh Đồng Ma” của ông Đàm Quang Thiện, cũng là cuốn phim truyện đầu tiên của Việt Nam. Nhạc sĩ Hoàng Nguyên, dân “Quảng Trị tui”, là con rễ ông bà Thìn. Hoàng Nguyên bị lật xe, tử nạn năm1973, khi còn phục vụ trong QĐVNCH.
Trần Minh Hải nói với tôi anh biết câu chuyện tình nầy của Hoàng Nguyên. Hoàng Nguyên cũng bị dằn vặt không ít về chuyện tình của anh với cô con gái “Chúa đảo Côn Sơn” khi anh ấy bị tù côn đảo. Hải cũng nói rằng Phan Thiết là “quê hương” của văn nghệ miền Nam, ý anh ta là có nhiều ca sĩ, nhạc sĩ xuất thân ở xứ nầy như Nhật Trường, Anh Khoa, Thanh Thúy…
Khi làm xã trưởng, Trần Minh Hải có xây một cây cầu tại thị xã, phía biển, “Để – như anh nói – cho bọn trai gái hẹn hò nhau ra đó chơi”. Anh đặt tên cầu là “Đoạn Tình Kiều”, nhưng anh chưa thấy ai thất tình mà nhảy xuống cầu tự tử, như cô Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường vậy.
Tối thứ Bảy, đội trưởng, nguyên là một thiếu tá Cảnh Sát, ngành Đặc Biệt, thường tổ chức hát nhạc vàng chơi. Họ kêu tôi hát, tôi từ chối. Trần Minh Hải bảo tôi:
_ “Đột nhiên anh tới đội nầy, tụi nó nghi là Công An gài anh vào để theo dõi tụi nó. Anh nên tham gia với tụi nó đi.” Tôi nghe lời.
Tôi chưởi thề:
_ “Đ.m. Anh Cảnh Sát Đặc Biệt nào mà không đa nghi thì nên giải nghệ cho xong.”
Có lần Cao Châu nói về Xuân Diệu, bảo rằng Xuân Diệu làm tình hay. Tôi phản bác:
_ “Sau 1954, ở miền Nam, nhiều tay làm thơ tình hay hơn Xuân Diệu nhiều. Xuân Diệu chỉ là “bắt chước.”
_ “Bắt chước sao?” Trần Minh Hải hỏi.
_ “Anh thấy đó. “Tôi nhớ Rimbeau với Verlaine…” là bắt chước thơ Tây. Hồi đi dạy, tôi giảng cho học trò bài thơ “Đây Mùa Thu Tới”, có câu “Những nàng thiếu nữ buồn không nói, Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì” là tôi chê dữ lắm. Cái đó là bản chất tiểu tư sản, giống như Nguyễn Văn Tý “Mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ” vậy. Sau nầy, Nguyên Sa làm thơ tình cũng hay, cũng chịu ảnh hưởng thơ Tây. Ông ta có mấy câu “Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc”, cũng là tiểu tư sản, nhưng là cái tiểu tư sản học trò, không phải là của bọn thống trị xã hội, nghe cũng không tệ!”
_ “Vậy anh cho ông nào làm thơ tình hay?” Anh Hải lại hỏi.
_ “Vũ Hoàng Chương. Vũ Hoàng Chương sau 1954 thôi. Thơ tiền chiến có vẻ “show up” hơn là thơ từ trong trái tim mà ra. “Trước đây mười chín năm, Tôi vừa hai mươi tuổi, Em cũng vừa trăng rằm”… Nhưng trước 1945, ông có hai câu thơ hay lắm!”
_ “Hai câu gì?” Hải hỏi tôi.
Tôi đọc:
Em ơi lửa tắt bình không rượu,
Đời vắng em rồi vui với ai?!
_ “Thì cũng tiểu tư sản vậy?” Anh Hải nói.
_ “Nhưng mà tiểu tư sản học trò. Học trò thì dễ thương! “Hỡi núi Nùng xưa với linh hồn Bách Thảo, Còn nhớ ta chàng tuổi trẻ tóc bay. Làm học trò nhưng không sách cầm tay, Có tâm sự đi nói cùng cây cỏ.” Đinh Hùng đấy! Tôi cũng một thời lang thang như vậy. Bọn bạn học của tôi thường gọi tôi là “thằng lãng tử”, “Bánh xe quay nhanh, Chiếc thân xe rung rinh…” ! Tui dân Quảng Trị, vĩ tuyến 17 mà Ba Mươi tháng Tư, tui đang ở Hà Tiên. “Bánh Xe Lãng Tử” của tôi đi xa nhất Việt Nam Cộng Hòa chớ gì?!… Phải không?”
Trần Minh Hải nói:
_ “Anh có định kiến với giai cấp tiểu tư sản, phải không?”
_ “Không quái gì! Quả đúng như rứa! Cộng Sản nhận định về giai cấp tiểu tư sản không sai đâu. Anh cứ coi “Ngọc châu chấu”, so với “Tứ Cộng Sản” trong “Dòng Sông Thanh Thủy” của Nhất Linh thì thấy hai giai cấp đó khác nhau như thế nào! Hai giai cấp nầy mà đấu nhau thì tiểu tư sản thua là cái chắc. “Các anh trồng những dòng hoa đại lộ, những dòng hoa cổ lỗ, những dòng hoa đau khổ quá đi thôi”. Ngồi ở thành phố mà thương vay khóc mướn cho người dân đồng quê chân lấm tay bùn, thì làm sao thắng được Cộng Sản. Phải “Về Đồng Quê” như những bài hát đầu thời kháng chiến của Phạm Duy, của Phạm Đình Chương, về với nông dân như Đỗ Tấn nói vậy, phải “Đứng giữa đồng nâu, giữa những người cuốc bẫm cày sâu”, để mà thấy: “Tư tưởng nào cũng từ đất mà ra” thì mới thắng Cộng Sản được.”
_ “Vậy anh cho tiểu tư sản không được việc gì?” Trần Minh Hải phản lại nhận xét của tôi.
_ “Đâu phải vậy! nông dân vô sản biết gì mà tranh đấu! Chính tiểu tư sản mới có trình độ để nhận biết mình bị bóc lột, dân tộc mình bị bóc lột, bị nô lệ mới đấu tranh chớ! Anh nhớ lại “Cách Mạng Tháng Tám” mà coi. Tiểu tư sản cả đấy! Biểu tình ở Hà Nội, cướp chính quyền, Nam Bộ Kháng Chiến… là do ở tiểu tư sản cả! Chính họ hướng dẫn cho vô sản đi theo. Vô sản chỉ là cái đuôi của tiểu tư sản. Vô sản biết gì!”
_ “Nhưng Cộng Sản là vô sản!” Anh Hải nói.
_ “Cộng sản chỉ loại bọn tiểu tư sản ra khỏi hàng ngũ kháng chiến, khi họ có đủ cán bộ xuất thân từ vô sản. Không có giai cấp tiểu tư sản thì không có Cộng Sản. Chính giai cấp tiểu tư sản đã “đẻ” ra các đảng Cộng Sản trên khắp thế giới. Anh cứ đọc lại lịch sử Cộng Sản là thấy ngay thôi!”
_ “Tôi thấy anh phức tạp đấy.” Anh Hải kết luận.
Thế rồi tôi được tha về trước, xa Trần Minh Hải, cũng nhớ anh ta nhiều đấy!
Sáng Thứ Sáu,ngày 2 tháng 7 năm 1982, sau khi “điểm tâm” bằng một khoanh khoai mì và một chén nước lạnh do đảng Cộng Sản của “Chú Duẫn” ban cho, hầu như toàn trại, ngoại trừ mấy ông già gần đất xa trời với mấy ông người bệnh, tất cả tập trung tại sân trại, ngồi theo từng đội để được gọi đi “lao động là vinh quang”, chuẩn bị cầm cuốc đi cuốc đất trồng khoai mì, “xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa”…
Đang ngồi tập trung giữa sân thì thượng sĩ Thắng, “cán bộ giáo dục” đi vào, tay y cầm một tập giấy. Mọi người “ồ” lên. Như cảnh từng diễn ra trước kia, hôm nay có người được tha.
Thượng sĩ Thắng tới sát mấy đội ngồi giữa sân, nói gì đó, tôi không nghe rõ vì anh em tù nói chuyện ồn ào. Tuy nhiên, tới khi y bắt đầu đọc tên thì mọi người đều im lặng. Tên tôi được đọc sau khoảng chừng mười tên đọc trước. Sau tên tôi, thượng sĩ Thắng đọc vài ba tên gi đó nữa thì chấm dứt. Anh em lại xôn xao.
Nghe tên xong, tôi đứng lên đi vô láng. Phan Thành Long, bạn tù, thuộc “đội cấp dưỡng”, tức nhà bếp, đi theo tôi. Tôi giao hết thức ăn khô được vợ tôi tiếp tế cho Long, cả mấy bộ đồ lao động, rách như xơ mướp, vá chùm, vá đụp. Có một số thư từ vợ tôi gởi, sợ Công An buộc phải đốt, không đem về được, tôi cũng giao cho Long, dặn hễ có đi chợ Gia Rây thì giao cho chị H. bán hàng ở chợ ấy. Về nhà xong, ít lâu sau, tôi sẽ lên lấy. Đây là những vật kỷ niệm gia đình, tôi không bỏ được. Xong, tôi thay “bộ đồ vía”, thứ quần áo đẹp mặc vô để gặp gia đình khi được thăm nuôi, đeo kiếng, đội mũ, chờ cán bộ dẫn ra Văn Phòng Trại làm thủ tục ra về.
Một lúc sau, “cán bộ Lâm”, “cán bộ trực trại” vô gọi chúng tôi tập trung ra văn phòng.
Lệnh tha đã được trại trưởng Trịnh Văn Thích ký sẵn. Nhận lệnh tha xong, mỗi người được cấp ba chục đồng lộ phí. Xong, anh em chúng tôi kéo nhau ra ga xe lửa Gia Rai, ở đó, có xe Lam, đi ra Ngã Ba Ông Đồn, đón xe đò mà về Saigon.
Anh bạn Trương Đình Gòn không về Saigon. Mẹ và vợ con anh, trước 30 tháng Tư, từ Huế chạy vô Saigon, nhưng không ở Saigon được, vì không có hộ khẩu. Mẹ anh dẫn con dâu và các cháu nội về Long Khánh kiếm đất trồng màu, sinh sống qua ngày. Một vài người bạn khác thì quay trở ra miền Trung, quê quán họ ngoài đó: Đà Nẵng, Nha Trang, Tam Kỳ.
Tôi về tới bến xe Ngã Ba Tam Hiệp thì phải sang qua xe nhỏ về Bến Xe Miền Đông. Từ đó, tôi đi xe ôm về nhà.
Mấy năm tôi vắng nhà, vợ tôi với các con dời chỗ ở mấy lần. Khi tôi ra đi thì gia đình tôi ở Xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng cũ. Sau vụ “đánh tư sản”, gia đình tôi về Lô 6- Cư Xá Thanh Đa, được ít lâu thì lại dời về 120 Nguyễn Công Trứ, Saigon. Cuối cùng dọn về 313 Lô A, cũng Cư Xá Thanh Đa.
Khi về Xứ Bùi Phát, tôi đã nghĩ rằng không nên để con ở nơi nầy. Khu vực nầy hơi phức tạp, có thể có ảnh hưởng đến việc học hành và tính tình con cái. Tôi từng dạy cho học trò của tôi bài “Mạnh mẫu dời nhà” nên tôi bị ảnh hưởng về câu chuyện ấy. Bây giờ, khi tôi xuống xe ôm, nhìn lên hàng chữ “Lô A”, lô nầy nằm kế chợ Thanh Đa, tôi lại nghĩ rằng, chỗ nầy không phải là nơi tôi để cho con tôi ở. Chắc là phải dời nhà đi. Tuy nhiên, cuộc sống người dân Việt Nam hồi bấy giờ đâu như ai nghĩ. Đời sống của tất cả mọi người, không những khó khăn mà còn nghiệt ngã, ác nghiệt hay khắc nghiệt… tiếng nào cũng hợp cả. Cái ăn, cái mặc do chính quyền kiểm soát, ban phát, từng loon gạo, từng bó rau thì câu chuyện “Mạnh mẫu dời nhà” chỉ là chuyện cổ tích, thậm chí có thể coi như chuyện “thần thoại”.
Việc chạy trốn đi khỏi xã hội ấy, về chính trị, và hơn nữa, về kinh tế, là việc ai ai cũng nghĩ đến, hy vọng hoặc dấn thân vào đó. Càng dấn thân, càng bị phỉnh gạt, lừa đão, và… tù tội. Người ta chỉ khác nhau có một điều: đầu hàng trước số phận hay tiếp tục phấn đấu để tìm, không phải cho mình, mà cho con cái mình một tương lai.
Thế rồi tôi tìm đường ra đi. Vả lại, bấy giờ, những người từng tham gia Hội Nhân Quyền lại mon men gặp nhau trở lại, có người lại bị Công An bắt, có người chết trong tù… khiến tôi cũng “lạnh giò”. Việc ra đi lại thêm động cơ thúc đẩy. Cũng vài ba lần vượt biên, và cũng như mọi người, công việc bị thất bại, và cũng như mọi người, bị gạt, bị lừa là điều mọi người thường phải gánh chịu.
Có lần Công An lại đến nhà tìm, khiến tôi không dám về nhà. Nhà chị em tôi, tôi cũng không dám tới. Chắc chắn Công An sẽ lần theo những đường giây máu mũ ấy mà tìm. Tôi trốn trên một căn phòng nhỏ ở trên tầng cuối cùng ngôi nhà ba tầng. Nhà của một người bạn gái, quen thân với nhà tôi. Phải là họ gồng mình lắm mới dám chứa chấp một tên tù Cải tạo mới được tha, lại can tội “tổ chức vượt biên”.
Một hôm, người bạn cũ thời niên thiếu, anh Lương Thúc Trình, cựu đại úy Thiết Giáp, cựu giáo sư trường Trung Học Trần Cao Vân ở Quảng Tín, tình cờ gặp vợ tôi. Biết tôi trốn ở đó, Trình đến thăm. Chờ khi trời sắp tối, Trình kéo tôi xuống ngồi uống càphê ở một cái quán cóc bên lề đường Trương Minh Giảng cũ.
Trình trốn cải tạo, bỏ xứ đem vợ con đến ở Trà Cổ, là Hố Nai 4, làm nghề nhảy tầu, tức là mua vài chục ký sắn khô từ Hố Nai, đem về bán ở Saigon, kiếm đủ ít tiên,
Con đường tôi đã đi và may mắn thành công, sau không ít lần thất bại.
Dường như ông chủ Nhan đã thức suốt buổi trưa để chờ đợi mớ giấy nháp của tôi. Ông ta gật đầu từng chập, sau cùng đưa ra ý kiến:
– Thế là xong, nhưng phần nhập đề còn yếu. Ông thi sĩ quên chuyện Lộc Giác Chân Nhân rồi à? Từ Lộc Giác Chân Nhân mình bắc cầu qua Chúa Ngung, Ma Nương nghe mới xuôi tai.
Tôi viết nhanh:
– “Trên đường lập quốc, dân tộc Việt Nam lập nhiều kỳ công rạng rỡ, chém tre đẵn gỗ để cày cấy giữa rừng ma. Giai thoại Lộc Giác Chân Nhân tiêu biểu cho miền cực Bắc: Tục truyền rằng ở vùng sơn cước tỉnh Cao Bằng, xưa kia có người tiều phu sống dai hơn trăm tuổi. Một hôm, ông ta gọi đứa con trai đến mà bảo: ‘Lát nữa đây cha chết, hóa thành con nai. Kiếp trước của cha là con nai, nhờ tu luyện nhiều kiếp nên mang xác người. Con hãy gỡ cái gạc trên đầu cha, dùng dây mà kéo như kéo cày. Khi nào cái gạc vướng vào cây cỏ, còn dừng lại, cày cuốc tại đó ắt sẽ phát đạt’.Nơi miền Tây Nam Việt Nam, có chuyện Chúa Ngung, Ma Nương nhắc nhở cho người đi khai hoang về đức tính khiêm tốn, sùng bái tiền nhân. Khắp vùng Rạch Giá, Cà Mau, tục lệ ‘tá thổ’ mướn đất của ma, của Chúa Ngung, Ma Nương chẳng nơi nào rõ rệt bằng ở xóm Mốp Giăng, gần Óc Eo, núi Ba Thê – vị trí quan trọng đánh dấu sự ‘dung hòa’ giữa văn hóa các nước Đông Nam Á, đặt nền móng cho ‘dân tộc tính’ Việt Nam. Ông Nguyễn văn Nhan với tấm lòng nồng nhiệt yêu mến quê hương đất nước đã khôi phục và bảo tồn tục lệ cổ truyền giàu ý nghĩa ấy…”.
Xem xong, ông Henri Nhan đứng dậy, đem tất cả xấp giấy qua đồn Lê dương.
– Tôi sẽ trình bày tỉ mỉ. Nhứt định ông quan tư Ca Rê hài lòng. À, ông thi sĩ ở nán chờ tôi. Biết đâu vào giờ phút chót mình cần thêm bớt vài chi tiết cho câu chuyện suôn sẻ hơn. Nó thuộc vào hàng chuyện cổ tích “có thể diện” trên quốc tế đó.
Tôi ngồi chờ. Bà chủ thức giấc, mắng khéo chị ở:
– Nãy giờ sao chị chưa pha cà phê cho ông thi sĩ?
– Thưa, pha luôn…
– Ờ, tôi một ly, nhà tôi một ly.
Dường như bà chủ chẳng chú ý nhiều đến công việc “chạy chọt” của chồng. Rửa mặt chải tóc xong, bà đến hành lang nói khẽ:
– Ở xứ người, cái gì cũng ngộ. Từ việc quảng cáo kiểu áo kiểu quần, quảng cáo dầu thơm đến mục chiêm tinh học! Tôi cắt một cái “bông” trong báo gởi qua giáo sư F.N. nhờ đoán vận mạng giùm, cả tuần rày sao chưa thấy trả lời. Bên mình… mấy ông thầy Tàu mù đôi khi đoán khá quá. Như hồi năm kia, hai ba ông mù đều đoán tôi gặp người chồng giàu có, nhưng chồng tôi sẽ suy sụp vì thời cuộc. Trong khi đó, ngôi sao của tôi sáng lên!
Cánh cửa sắt ngoài cổng từ từ mở. Ông Henri Nhan chạy nhanh vào, gương mặt tươi rói:
– Ông quan tư chịu quá. Ngày mai hoặc đêm nay, ổng đi Mốp Giăng, mình à.
Bà Henri hơi giựt mình:
– Chuyện gì? Tối nay ông ăn tiệc trước với ổng?
– Mình hãy chuẩn bị đi theo ổng để chỉ rõ thêm đường đất. Rồi về mặc sức mà ăn tiệc.
– Tại sao ông không đi? Nhà binh thiếu gì bản đồ. Đàn bà như tôi đi theo làm gì thêm nguy hiểm… cho tôi.
Ông Henri gãi đầu lia lịa:
– Khổ quá! Tôi nói mà mình chậm hiểu. Mình chỉ cần mặc áo bà ba, quần lãnh đen được rồi. Đầu đuôi cuộc hành quân diễn ra chớp nhoáng trong vòng bốn tiếng đồng hồ. Xa hai mươi cây số chớ mấy? Gặp mặt tôi, dân tá điền họ thắc mắc. Chẳng lẽ tôi đem cái tượng đá trong miễu mà nạp cho Tây, còn gì thể diện tôi? Thế nào ông quan tư cũng nhơn dịp đó đóng bót rải rác dọc đường… Mai chiều yên tĩnh, tôi vô sau.
Bà Henri cau mày:
– Ừ! Tôi đi cho, đi vài tiếng đồng hồ chớ gì! Mà phải có ông quan tư, tôi mới đi. Tụi lính Lê dương ăn nói xô bồ xô bộn lắm. Tối nay đi hả?
– Bí mật quân sự, chừng đi thì họ kêu mình!
Linh tính như báo trước một sự trục trặc sắp xảy ra trong đời tôi. Đành rằng nếu không có tôi tiếp tay vào việc viết chuyện Chúa Ngung, Ma Nương, trước sau gì ông Henri Nhan cũng tìm cách đạt mục đích riêng. Nhưng lương tâm của tôi bứt rứt lạ thường: Tiếng súng sẽ nổ hai bên đường, tiếng máy tàu ầm ầm, chuột phải chạy toán loạn, bưng sen dồi dập, những nông dân ngơ ngác sẽ cúi mình núp sau bờ cỏ hoặc lặn trầm xuống nước, miệng ngậm cọng bông súng để thở… Mệt quá, tôi đứng dậy nói khẽ:
– Thưa ông, chuyện tạm xong. Xin ông cho tôi về nhà, sáng mai tôi trở lại.
Ông Henri trợn mắt:
– Bộ ông… giỡn sao chớ? Tối nay, ông phải ở đây luôn. Chẳng đặng đi đâu cả! Lịnh của ông quan tư Ca Rê đó! Ổng muốn giữ bí mật quân sự, dầu đối với lính của ổng. Cả nhà tôi, từ giờ phút này đến khi có lịnh mới của ổng, chẳng ai được đi chợ. Rủi cuộc hành quân tiết lộ bị đánh úp dọc đường ai chịu trách nhiệm đây?
Rồi ông trỏ vào ngực mình:
– Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn trước quân đội Pháp. Tôi cúi đầu thở dài, trở lại ghế ngồi day vào trong nhà, đưa lưng ra phía hai cái họng súng ô buýt đen ngòm.
Ông Henri lên nhà trên, nói vọng xuống:
– Chiều nay tôi uống rượu trừ cơm. Bà nhớ: khi nào nghe ngoài cửa nhận ba hồi chuông tức là năm phút sau bà đi với ông quan tư. Đêm nay, dặn chị ở nhớ ngủ sẽ thức, đừng để họ kêu réo nhiều lần.
Chiều hôm ấy, tôi ăn lua láo một chén cơm, ăn chung mâm với chị ở… Tôi tủi thân trong cảnh giam lỏng bất thình lình này… Trong phút giây, tôi thử tưởng tượng đến kế hoạch tẩu thoát. Hàng rào ngôi biệt thự quá thấp, trèo ra dễ dàng, Nhưng trèo để làm gì? Về Xóm Biển gặp lão Tư Hiếm, tôi sẽ ăn nói ra sao? Nói thật về cuộc hành quân của Pháp chăng? Rủi bề gì, tai vách mạch rừng. Nhưng quân đội Pháp sẽ lên đường vào giờ nào? Đêm nay hay là sáng mai? Vắng mặt tôi, ông Henri sẽ báo động… Còn về nhà để nằm yên một chỗ, tự giam hãm giữa khói thuốc và tiếng sóng biển, thức đêm với nỗi tâm tư đen tối thì về làm gì? Tôi tự an ủi:
– Mình nên ở đây để bảo vệ sanh mạng cho mình và cho lão Tư Hiếm.
Trên nhà, vợ chồng ông Henri nói chuyện thì thào, cãi to tiếng vài câu. Máy thâu thanh bỗng vang lên vài điệu nhạc. Lính Lê dương bên đồn tập họp điểm số. Trời lại mưa.
HQ Thiếu tá Amy Truong, Bác Sĩ nha khoa (ảnh của USS BOXER LHD 4).
Theo nguồn tin từ trang nhà Bộ chỉ huy nhân lực Hải quân (Navy Personnel Command) thông báo danh sách Hải quân Thiếu tá* được Hội đồng thăng cấp Hải quân (PROMOTION SELECTION BOARD CONVENING ORDER) chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá* năm 2025, cho tài khóa YF-26, trong số hàng trăm HQ Thiếu tá được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá năm nay có 12 HQ Thiếu tá gốc Việt.
Năm 2024, có 9 HQ Thiếu tá gốc Việt được thăng cấp HQ Trung tá.
Năm nay, 2025, Sĩ quan HQ Thiếu tá Hoa Kỳ gốc Việt có 3 HQ Thiếu tá ngành tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers); 1 HQ Thiếu tá ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) và 8 HQ Thiếu tá ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá.
HQ Thiếu tá Billy Nguyen, Y tá ngành sức khoẻ tâm thần Quân y Hải quân (ảnh của Naval Hospital Pensacola).
Danh sách 12 HQ Thiếu tá gốc Việt** ngành tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers), ngành yểm trợ Hải quân và ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và trừ bị được chọn đề cử thăng cấp HQ Trung tá:
Le Ho T; Tran Henry Nghi Thanh; Dinh John Jr, ngành tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers).
Nguyen Nhan Van Jr, ngành yểm trợ tác chiến (Restricted Line Officers)
Vu Megan Thuy; Tam Tiffany Joy, Bác Sĩ (Staff Corps Officers).
Alfaro Amy Truong; Tran Kenny Hiep; Hoang Kenneth Vu, Bác Sĩ nha khoa (Staff Corps Officers).
Nguyen Billy Argus, Y tá (Staff Corps Officers).
Au Thomas Harry, Luật sư Quân pháp Hải quân (Staff Corps Officers).
Pham Thomas Tuyen, Tuyên uý, Linh mục Công giáo (Staff Corps Officers)/
HQ Thiếu tá Henry Tran, Sĩ quan ngành tàu ngầm (Submarine Officer) (ảnh của linkedin.com).
Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Hải quân (Navy Officer Promotion System), thì sau 3 năm mang cấp Thiếu tá, khoảng 70% Sĩ quan Thiếu tá sẽ được thăng cấp Trung tá, cũng theo tài liệu Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024, thì Hải quân Hoa Kỳ có 10487 HQ Thiếu và 6614 HQ Trung tá phục vụ hiện dịch toàn thời (Active-Duty Military Officers).
Cần biết thêm về các ngành của Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ, xin được tóm lược:
Ngành Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers và Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).
-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan Hải quân không chiến (Không quân của Hải quân), Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân). Những Sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các Phi đoàn Không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như Sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.
-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan hải vận chiến lược (Strategic Sealift Officer); Sĩ quan giao tế ngoại giao; Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan tình báo Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office).
-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, Nha sĩ, Điều dưỡng và Chuyên viên y tế thuộc Bộ chỉ huy Quân y Hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh (Công binh Hải quân) và Sĩ quan tiếp liệu Hải quân thuộc Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân; Sĩ quan luật sư quân pháp và Sĩ quan Tuyên úy tôn giáo trực thuộc Bộ hải quân.
Hình minh họa của military.com/navy/officer-ranks.military.com/navy/officer-ranks: Cấp hiệu HQ Trung tá ngành tác chiến Hải quân (Unresricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers) Hải quân Hoa Kỳ***
Theo tài liệu lưu trữ trên các trang nhà Navy Personnel Command và Congress.gov thì có trên 60 HQ Trung tá gốc Việt đang phục vụ trong Hải quân Hoa Kỳ (Không tính nhiều vị đã hồi hưu).
Chúc 12 tân HQ Trung tá Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến hải nghiệp.
Nguyễn Quân
Chú thích: *Ghi theo cấp bậc HQ Thiếu tá (Navy Lieutenant Commander) và HQ Trung tá Hoa Kỳ (Navy Commander); **Ghi theo họ và tên 12 HQ Thiếu tá gốc Việt trên các bản danh sách, có một sô HQ Thiếu tá mang họ và tên giống người Việt được đề cử thăng cấp Trung tá, nhưng chưa định được họ gốc Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa?; ***Cấp hiệu HQ Trung tá ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) không có ngôi sao như HQ Thiếu tá ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers), thay thế cho ngôi sao là huy hiệu của ngành chuyên môn.
Nguồn: Navy Personnel Command; congress.gov; military.com/navy/officer-ranks; Defense Primer: Military Officers – Updated June 4, 2024; en.wikipedia.org; linkedin.com; bienxua-9 Hải Quân Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá năm 2024.
Tôi nhớ lai rõ mồn một, như thể mới hôm qua, cái đêm tự do đầu tiên trong thành phố thuộc Anh này. Chúng tôi đi khắp nơi, say sưa vì ánh đèn điện, vì cái cảm giác ấm áp trong lòng chúng tôi, luôn luôn hoà đồng với linh hồn của cái đám đông tươi cười và sung sướng của dân thành phố đang sống tràn đầy hạnh phúc. Một cái quán rượu đầy những thủy thủ và những gái nhiệt đới đang đợi họ để dốc túi họ. Nhưng những cô gái này không có gì dơ dáy, không thể so sánh với những giới mãi dâm của Paris, Le Havre hay Marseille. Đây là một cái gì khác hẳn. Thay vì những bộ mặt bự phấn, hằn sâu những dấu vết của trụy lạc, với những đôi mắt long lên như trong cơn sốt và đầy vẻ xảo quyệt, đây là những người con gái thuộc đủ các màu da, từ cô gái Trung Hoa cho đến cô gái Phi Châu da đen, qua trung gian của màu sô-cô-la nhạt với mái tóc trơn phẳng, đến người con gái Ấn Độ hay Java: bố mẹ họ vốn thuộc những chủng tộc khác nhau đã tiếp xúc với nhau trong những đồn điền trồng cacao hay trồng mía, hoặc cô gái thổ dân lai Trung Hoa hay lai Ấn Độ với cái vỏ ốc bằng vàng cài trong mũi, cô gái Llapane với những đường nét La Mã cổ đại, gương mặt màu đồng đỏ được soi sáng bằng đôi mắt to lạ lùng, đen nhánh, sáng rực, với hai hàng mi rất dài, ưỡn bộ ngực để hở rất rộng như muốn nói: “Hãy nhìn bộ ngực của tôi đây: hoàn hảo đến thế là cùng”, tất cả những cô gái ấy, mỗi cô cài lên mái tóc những bông hoa có màu sắc khác nhau, đều bộc lộ những cảm xúc nồng cháy của tình yêu, khiêu khích những ước vọng lứa đôi, mà không có chút gì là tục tĩu, không có chút gì là thương mại; những cô gái ấy không làm cho người ta có cảm giác là họ đang làm một công việc để kiếm sống, vì họ có vẻ như đang vui chơi thực sự và người ta thấy rằng tiền bạc đối với họ tuyệt nhiên không phải là cái chính ở đời. Như hai con bọ vừng bay quờ quạng đâm vào những ngọn đèn, Maturette và tôi hai đứa cứ la cà từ bar này đèn bar khác. Mãi đến khi bước chân tới một quãng trường nhỏ tràn ngập ánh đèn tôi mới nhìn thấy giờ trên cái đồng hồ của một ngôi nhà thờ hay đền đài gì đấy. Hai giờ. Đã hai giờ sáng Thôi chết rồi, phải về thật mau. Chúng tôi đã lạm dụng tình thế: Chắc hẳn ông thống lĩnh của Đạo quán Cứu thế phải nghĩ về chúng tôi những điều chẳng hay một chút nào. Phải về ngay thôi. Tôi chặn một chiếc tắc-xi và leo vội lên, chỉ một lát sau là về đến khách sạn: two dollars! Tôi trả tiền, và chúng tôi trở về khách sạn, rất xấu hổ. ở gian tiền sảnh, một nữ chiến sĩ của Đạo quân Cứu thế, tóc vàng, rất trẻ – khoảng hai mươi lăm hay ba mươi tuổi là cùng – ra đón chúng tôi một cách vui vẻ nhã nhặn. Cô ta không hề có vẻ ngạc nhiên hay bực bội khi thấy chúng tôi về muộn như vậy. Sau vài câu thăm hỏi bằng tiếng Anh mà chúng tôi đoán là thân ái và niềm nở, cô ta trao cho chúng tôi cái chìa khóa buồng và chúc chúng tôi ngủ ngon. Chúng tôi đi ngủ. Trong va-li, tôi thấy có để một bộ pyjama. Lúc sắp tắt đèn, Maturette nói với tôi: “Dù sao chúng mình cũng nên cám ơn Đức chúa lòng lành đã cho chúng ta nhiều món quà như vậy trong một thời gian ngắn ngủi như vậy. Anh thấy thế nào hở Papi?” – Cậu hãy cám ơn giúp tôi cái ông Chúa lòng lành của cậu một thể: đó là một anh chàng rất khá. Và đúng như cậu đã nói một cách rất hay ho, anh ta quả đã tỏ ra hào phóng lạ lùng đối với chúng ta. Tôi chúc cậu ngủ ngon. – Nói đoạn tôi tắt đèn.
Cuộc hồi sinh này, chuyến đi từ mộ địa trở về với cuộc sống này, cuộc trốn thoát khỏi cái huyệt mà người ta đã chôn tôi xuống, tất cả những nỗi xúc động liên tiếp và cái đêm đã làm cho tôi được nhập vào cuộc sống trở lại cùng với đám dân đảo ở quanh tôi, tất cả những cái đó đã kích thích tôi mạnh đến nỗi tôi không sao ngủ được. Tôi nhắm mắt lại, nhưng trước mắt tôi không phải là bóng tối mà là những hình ảnh muôn màu muôn sắc như trong một ống kính vạn hoa: những hình bóng, những sự vật, cả cái mớ đa dạng của những cảm giác pha trộn vào nhau, dồn dập đến với tôi không hề theo một trật tự thời gian nào hết, tuy rất rõ nét nhưng lại hết sức lộn xộn: phiên tòa Đại hình, nhà lao Conciergerie, rồi thì hòn đảo của những người hủi, rồi thì Saint-Martin-de-Ré, Trobuillard, Jésus, trận bão biển… Trong một điệu vũ quái đản, dường như tất cả những gì tôi đã sống qua trong một năm đều muốn hiện ra cùng một lúc trong gian phòng trưng bày những kỷ niệm của tôi. Tôi cố xua đuổi những hình ảnh ấy đi mà không sao xua đuổi được. Nhưng ngộ nghĩnh nhất là những hình ảnh ấy đều bị trộn lẫn với những tiếng lợn kêu, những tiếng ho cò gáy, tiếng gió hú, tiếng sóng gầm và tất cả những tiếng đó đều được bao trùm trong tiếng những cây đàn cò một dây mà mấy anh nhạc công ấn Độ đã chơi ban nãy trong các quán bar chúng tôi đã đi qua. Cuối cùng tôi ngủ thiếp đi vào lúc tờ mờ sáng. Vào khoảng mười giờ có tiếng gõ cửa phòng. Đó là luật sư Bowen tươi cười đến thăm chúng tôi. Chào các bạn. Hãy còn ngủ kia à? Chắc hôm qua về khuya hả? Đi chơi phố có vui không? – Chào luật sư. Vâng. chúng tôi về khuya quá, luật sư thứ lỗi cho. – Ơ kìa, có gì mà thứ lỗi! Sau tất cả những gì các ông đã phải chịu đựng thì đó là điều hoàn toàn bình thường. Nhất định các ông phải tận hưởng cái đêm đầu tiên được làm người tự do chứ! Tôi đến để cùng đi với hai ông ra Sở Cảnh sát. Các ông phải đến trình diện với cảnh sát để tuyên bố chính thức rằng các ông đã vào lãnh thổ xứ này một cách bất hợp pháp. Làm xong cái thủ tục này ta sẽ đi thăm ông bạn bị thương của các ông. Từ sớm họ đã chiếu điện cho ông ấy. Ta sẽ biết kết quả sau. Sau khi rửa mặt và mặc áo quần thật nhanh, chúng tôi đi xuống phòng dưới, nơi ông Bowen và ông thống lĩnh đang chờ chúng tôi. – Chào các bạn, – ông thống lĩnh nói bằng tiếng Pháp đặc giọng Anh. – Xin chào tất cả. Các vị có khỏe không? Một nữ sĩ quan của Đạo quân Cứu thế nói với chúng tôi: – Các ông thấy Port of Spain thế nào? Có dễ chịu không? – Ồ, thưa bà rất dễ chịu! Chúng tôi rất thích. Sau khi uống tách cà-phê, chúng tôi đến Sở Cảnh sát Chúng tôi đi bộ vì sở chỉ cách khách sạn khoảng hai trăm thước. Tất cả các cảnh sát viên đều chào chúng tôi và nhìn chúng tôi không có vẻ gì tò mò đặc biệt. Chúng tôi bước vào một văn phòng trang nghiêm sau khi đi qua trước mặt hai người lính canh da màu gỗ mun mặc quân phục ka ki. Một viên sĩ quan trạc ngũ tuần, sơ-mi và ca-vát đều bằng vải ka li, ngực đeo đầy huy chương và huy hiệu, đứng dậy. Ông ta mặc quần soóc ông ta nói bằng tiếng Pháp: – Chào các ông. Các ông ngồi xuống. Trước khi ghi nhận chính thức lời khai của các ông, tôi muốn được nói chuyện với các ông một chút. Hai ông bao nhiêu tuổi? – Tôi hai mươi sáu tuổi, còn bạn tôi mười chín. – Các ông bị xử vì tội gì? – Tội giết người. – Các ông bị xử án gì? – Khổ sai chung thân. – Thế thì không phải là vì tội giết người đơn thuần, mà là vì tội giết người có chủ ý? – Thưa ông không phải, tôi chỉ bị buộc tội giết người. – Còn tôi thì giết người có chủ ý, – Maturette nói – Lúc bấy giờ tôi mới mười bảy tuổi. – Ở tuổi mười bảy người ta có ý thức về việc mình làm, – viên sĩ quan nói. – Ở Anh, nếu tội trạng ấy đã có bằng chứng rõ ràng, anh sẽ bị treo cổ. Thôi được, nhà chức trách của nước Anh không có bổn phận phê phán cách xử án của nước Pháp. Những điều mà ta phản đối là việc đày phạm nhân sang Guyane thuộc Pháp. Chúng tôi cho rằng đó là một hình phạt vô nhân đạo và không xứng đáng với một quốc gia văn minh như nước Pháp. Nhưng có điều đáng tiếc là các ông không thể ở lại Trinidad hay bất cứ một hòn đảo thuộc Anh nào khác. Điều đó không thể được. Vì vậy tôi yêu cầu các ông xử sự một cách trung thực và không tìm cách trì hoãn việc ra đi, không lấy cớ đau ốm hoặc viện một lý do nào khác để ở lại sau khi đã hết hạn tạm trú. Các ông có thể nghỉ ngơi tự do ở Port of Spain từ mười lăm đến mười tám ngày. Chiếc thuyền của các ông hình như cũng tốt. Tôi sẽ cho đưa nó về đây bảo quản ở cảng. Nếu cần sửa chữa gì, thợ mộc của Hải quân Hoàng gia sẽ sửa chữa cho các ông. Khi ra đi các ông sẽ nhận được tất cả các thứ lương thực cần thiết, một cái địa bàn tốt và một tấm bản đồ hàng hải. Tôi hy vọng rằng các nước Nam Mỹ sẽ chịu tiếp nhận các ông. Các ông đừng đến Venezuela vì các ông sẽ bị bắt và bị cưỡng bức làm việc trên các đường cái cho đến ngày họ trao trả các ông cho nhà chức trách Pháp. Sau một lầm lỗi nghiêm trọng, một con người không thể vĩnh viễn bị cường bức phải trở thành người bỏ đi. Các ông trẻ và khỏe mạnh, dung mạo của các ông rất dễ có cảm tình, cho nên tôi hy vọng rằng sau những nỗi cay cực mà các ông đã phải chịu đựng, các ông sẽ không chấp nhận rằng mình đã bị đánh gục vĩnh viễn. Chỉ riêng cái việc các ông đã vượt biển đến tận đây cũng đủ chứng minh điều ngược lại. Tôi lấy làm sung sướng được làm một trong những nhân tố giúp các ông trở thành những người tốt và có trách nhiệm. Tôi xin chúc các ông may mắn. Nếu các ông có vấn đề gì khó giải quyết các ông cứ gọi điện thoại về số này, sẽ có người trả lời các ông bằng tiếng Pháp. Ông ta bấm chuông gọi, và một người mặc thường phục đến tìm chúng tôi. Trong một gian phòng có nhiều người mặc quân phục cảnh sát hoặc thường phục đang ngồi đánh máy, một viên chức ghi nhận lời khai của chúng tôi.
– Các ông đến Trinidad vì mục đích gì? – Để nghỉ ngơi. – Các ông từ đâu đến? – Từ Guyane thuộc Pháp. – Để vượt ngục, các ông có làm thêm điều gì phạm pháp, có gây thương tích hoặc làm thiệt mạng người khác hay không? – Chúng tôi không làm ai bị thương nặng cả. – Sao các ông biết? – Chúng tôi được biết như thế trước khi lên đường. – Tuổi của các ông, vị thế hình sự của các ông đối với nước Pháp (v.v…) – Thưa các ông, các ông cớ mười lăm đến mười tám ngày để nghỉ ngơi ớ đây. Các ông hoàn toàn tự do muốn làm gì thì làm trong thời gian đó. Nếu các ông đổi khách sạn, xin các ong báo cho chúng tôi biết. Tôi là trung sĩ Willy. Đây là danh thiếp của tôi, có hai số điện thoại: số này là điện thoại chính thức của Sở, còn số này là nhà riêng của tôi. Dù có xảy ra chuyện gì, khi cần đến sự giúp đỡ của tôi các ông cứ gọi điện ngay cho tôi. Chúng tôi biết rằng sự tin cậy của chúng tôi đối với các ông là đúng chỗ. Tôi tin chắc rằng các ông sẽ xử sự đúng đắn. Lát sau ông Bowen đưa chúng tôi đến bệnh viện. Clousiot mừng lắm. Chúng tôi không kể lại cho cậu ấy nghe cái đêm vừa qua trong thành phố. Chúng tôi chỉ nói rằng người ta để cho chúng tôi muốn đi đâu thì đi. Clousiot sửng sốt hỏi: – Không có người áp giải à? – Phải, không có ai đi áp giải hết. – Chà, cái dân roastbeef (ý cậu ta muốn nói người Anh) kỳ quặc thật! Ông Bowen từ nãy đi tìm ông bác sĩ, bây giờ đã trở lại với ông ta. Ông bác sĩ hỏi Clousiot: – Ai đã lắp lại chỗ xương gãy trước khi buộc nẹp ván vào ống chân? – Tôi và một người khác nữa, bây giờ không có ở đây – Ông đã lắp rất đúng, thành thử không cần phải làm gãy lại cái xương chân. Xương bánh chè đã được ghép lại rất khớp. Bây giờ chỉ cần bó bột và lắp thêm một que sắt để ông có thể đi lại chút ít. Ông thích ở lại đây hơn hay là đi với các bạn ông? – Tôi đi với họ thôi. – Thế thì sáng mai ông có thể đi với họ. Chúng tôi cảm ơn rối rít. Ông Bowen và ông bác sĩ lui ra để cho chúng tôi ngồi lại suốt buổi sáng và buổi trưa với bạn chúng tôi. Hôm sau, chúng tôi vui như ngày hội khi cả ba chúng tôi tụ tập đáy đủ trong căn phòng ở khách sạn, cửa sổ mở rộng và bao nhiêu quạt đều chạy để cho căn phòng thật thoáng khí. Chúng tôi không ngớt khen ngợi nhau về gương mặt khỏe mạnh sáng sủa và về dáng dấp bảnh bao trong những bộ áo quần mới. Khi thấy câu chuyện lại quay về quá khứ, tôi nói với các bạn: – Chuyện quá khứ thì bây giờ ta hãy cố gắng quên đi, chỉ nên nghĩ đến hiện tại và tương lai mà thôi. Chúng ta sẽ đi đâu? Colombia chăng? Panama chăng? Hay Costa Rica? Cần phải hỏi ý kiến ông Bowen xem thử ở những nước nào ta có nhiều khả năng được chấp nhận hơn. Tôi gọi điện đến văn phòng luật sư của ông Bowen, nhưng không có ông ở đấy. Tôi gọi về nhà ông ở San Fernando, người cầm ống máy lên là cô con gái ông luật sư. Sau khì trao đổi mấy lời thăm hỏi ân cần, cô ấy nói: – Ông Henri ạ, gần bến khách sạn, ở Chợ cá, có những chuyến xe buýt đi San Fernanđo. Sao ông không đến chơi nhà chúng tôi vào buổi chiều? Ông đến nhé, tôi đợi ông đấy! Thế là cả ba chúng tôi lên xe đi San Fernando. Clousiot trông thật bảnh trong bộ áo quần bán quân sự màu thuốc lá của cậu ta. Chuyến đi trở về ngôi nhà đã đón tiếp chúng tôi nồng hậu như vậy làm cho cả ba chúng tôi đều xúc động. Dường như hai người phụ nữ ấy cũng hiểu nỗi xúc động của chúng tôi, vì họ cùng nói một lúc: “Thế là các bạn đã lại trở về ngôi nhà của các bạn. Các bạn ngồi xuống đi cho thoải mái”. Bây giờ hai nữ chủ nhân không còn gọi chúng tôi là “Monsieur” nữa, mỗi lần nói với chúng tôi họ đều gọi bằng anh hay gọi thẳng tên riêng như chỗ thân tình: “Henri, anh cho tôi xin hũ đường”; Andre (Đó là tên riêng của Maturette) anh ăn thêm miếng bánh pudding nữa nhé?” Bà Bowen và cô Bowen ơi, tôi hy vọng rằng đến giờ này Trời đã ban thưởng cho hai người vì lòng nhân hậu tuyệt vời đối với chúng tôi, và xin cầu mong cho tâm hồn cao đẹp của hai người, đã đem lại cho chúng tôi những niềm vui xán lạn như vậy trên quãng đường đời còn lại, sẽ chỉ gặp toàn hạnh phúc tột độ mà thôi. Chúng tôi bàn bạc với hai mẹ con bà Bowen, quây quần xung quanh một tấm bản đồ trải ra trên bân. Nhưng khoảng cách mà chúng tôi sẽ phải vượt qua còn rất lớn: một ngàn hai trăm cây số để đến cảng gần nhất của xứ Colombia là Santa Marta, hai ngàn một trăm cây số để đến Panama; hai ngàn năm trăm cây số để đến Costa Rica. Ông Bowen đã về. Ông nói: “Tôi đã gọi điện cho tất cả lãnh sự quán, và bây giờ tôi có thể thông báo một tin mừng: các bạn có thể ghé Cuarcao vài ngày để nghỉ ngơi. Nước Colombia thì chưa có gì rõ ràng lắm về cách xử lý đối với người vượt ngục. Theo chỗ ông lãnh sự được biết thì xưa nay chưa bao giờ thấy có những người vượt ngục đến Colombia bằng đường biển. Panama và những nơi khác cũng thế”. – Tôi biết một chỗ an toàn cho các anh, – cô Margaret, con gái ông Bowen, nói. – Nhưng chỗ ấy xa lắm, đến ba ngàn cây số là ít. – ở đâu thế? – Cha cô hỏi – Xứ Honduras thuộc Anh. Ông thống đốc xứ này là cha đỡ đầu của tôi. Tôi nhìn các bạn và nói: “Vậy thì mục tiêu sẽ là xứ Honduras thuộc Anh”. Đó là một thuộc địa của Vương quốc Hợp nhất* (*United Kingdom, tên gọi chung cho các xứ Anh-Cát-lợi, Tô Cách-lan, Bắc Ai-len) phía nam giáp nước cộng hòa Honduras, phía bắc giáp Mexico. Chúng tôi ngồi suốt buổi chiều vạch tuyến đường vượt biển trên bản đồ, với sự giúp đỡ của Margaret và mẹ cô. Chặng thứ nhất Trinidad – Curacao, một ngàn cây số. Chặng thứ hai: từ Caracao đến một hòn đảo bất kỳ sẽ gặp trên đường đi. Chặng thứ ba: Honduras thuộc Anh. Vì không thể nào lường trước được tất cả những gì có thể xảy ra giữa biển, hai bà quyết định rằng ngoài các món lương thực mà cảnh sát sẽ cung cấp cho chúng tôi phải đem theo một cái thùng nữa đựng các món ăn dự trữ đóng hộp: thịt, rau quả, mứt, cá, v.v… Margaret nói với chúng tôi rằng cửa hàng siêu thị “Salvattori” sẽ vui lòng biếu chúng tôi số đồ hộp đó. Và cô nói thêm một cách hồn nhiên: – Nếu họ từ chối thì mẹ tôi sẽ mua thôi. – Không được đâu, cô ạ. – Thôi anh im đi, anh Henri ạ. – Không được đâu mà, vì chúng tôi có tiền. Chúng tôi không thể lạm dụng lòng tốt của các vị trọng khi có thể tự mình mua lấy các thứ đó. Chiếc thuyền của chúng tôi đang ở Port of Spain, đậu dưới một cái mái che của hải quân Anh. Chúng tôi từ biệt gia đình ông Bowen, hẹn là trước khi lên đường sẽ đến thăm họ một lần cuối. Tối nào cũng vậy, đến mười một giờ, chúng tôi đều ra khỏi nhà một cách đều đặn như thực hiện một nghi lễ tôn giáo. Clousiot ngồi xuống một cái ghế đá trong công viên nhộn nhịp nhất của thành phố, Maturette và tôi thay phiên nhau ngồi với cậu ta trong khi người kia đi dạo phố. Chúng tôi ở đây đã được mười ngày. Clousiot đi lại không đến nỗi khó khăn lắm nhờ cái que sắt luồn dưới lớp bột bó chân. Chúng tôi đã biết cách ra cảng bằng xe điện. Chúng tôi hay ra đấy vào buổi chiều hay buổi tối. Đã có mấy quán bar ở cảng biết mặt chúng tôi và coi chúng tôi như khách quen. Những viên cảnh sát trực đều chào chúng tôi, ai nấy đều biết chúng tôi là ai và ở đâu đến, không bao giờ có ai ám chỉ bất cứ điều gì. Nhưng dần đần chúng tôi nhận thấy rằng trong các quấn bar biết mặt chúng tôi, họ tính tiền các món ăn thức uống rẻ hơn so với khách thủy thủ. Mấy cô gái chiêu đãi cũng vậy. Thường thường khi mấy cô ngồi ở bàn các thủy thủ, các sĩ quan hay khách đu lịch, họ uống lấy uống để và tìm cách làm cho khách tiêu xài càng nhiều càng tốt. ở những quán bar có nhảy đầm, họ không bao giờ chịu nhảy với khách nếu chưa được khách mời uống mấy cốc. Nhưng với chúng tôi, tất cả các cô đều có thái độ khác. Họ ngồi chơi với chúng tôi rất lâu mà chẳng chịu uống gì phải năn nỉ lắm họ mới chịu uống một chầu để chúc sức khỏe chúng tôi. Nếu họ chịu uống thì đó không phải để nhắp cái ly tý hon trứ danh của họ mà là uống một cốc bia hay một cốc whisky và soda thực sự. Tất cả những điều đó đều làm cho chúng tôi rất vui lòng, vì đó là một cách gián tiếp để nói với chúng tôi rằng họ biết rõ tình cảnh của chúng tôi và đồng cảm với chúng tôi: Chiếc thuyền đã được sơn lại và lắp thêm mặt đường viền cao mười phân. Cái trụ đáy đã được củng cố lại. Những đường gân bên trong lòng có chỗ nào bị hư hại, chiếc thuyền vẫn tốt nguyên. Cột buồm đã được thay thế bằng một cái cột mới cao hơn nhưng nhẹ hơn cái cũ; lá buồm foc và cái buồm chéo bằng bao bố được thay bằng vải toan tốt màu gạch. ở sở hàng hải, một thiếu tá thuyền trưởng đã trao cho tôi một cái địa bàn có “hoa hồng gió bốn phương” (họ gọi là compass) và giảng giải cho tôi biết cách dùng địa đồ để xác định ước chừng vị trí của thuyền trên biển. Đường đi của chúng tôi vạch theo hướng tây 1/4 bắc để đến Curacao. Ông thiếu tá hải quân giới thiệu tôi với một sĩ quan hàng hải chỉ huy chiếc tàu huấn luyện Tarpon. Ông này hỏi tôi xem thử tôi có vui lòng xuống thuyền vào khoảng tám giờ sáng mai và lái thuyền ra khỏi cảng một chút không. Tôi chẳng hiểu như thế để làm gì nhưng tôi cứ hứa. Sáng hôm sau, tôi và Maturette có mặt ở sở hàng hải đúng giờ đã hẹn. Một thủy thủ xuống thuyền với chúng tôi, và tôi cho thuyền ra khỏi cảng dưới một làn gió xuôi. Hai giờ sau, trong khi chúng tôi đang thử lật buồm để vào cảng rồi lại ra cảng, thì thấy một chiến hạm tiến về phía chúng tôi. Trên boong tàu, toàn bộ thủy thủ đoàn và sĩ quan mặc quân phục trắng đã xếp hàng chỉnh tề. Họ đi qua gần sát chúng tôi và hô “Urra!” rồi họ đi vòng lại một vòng và hạ cờ hai lần. Đó là một cách chào trọng thể mà tôi không hiểu ý nghĩa cho lắm. Chúng tôi trở về phần cảng của sở hàng hải khi chiếc chiến hạm đã đậu ở bến. Thuyền của chúng tôi được buộc vào kè xây. Người thủy thủ ra hiệu cho chúng tôi, chúng tôi đi theo anh ta lên tàu. Viên thuyền trưởng đứng trên cầu quan sát tiếp chúng tôi. Một tiếng còi có chuyển giọng đón chào chúng tôi, và sau khi giới thiệu chúng tôi và với các sĩ quan, họ đưa chúng tôi đi trước hàng ngũ các học sinh quân và hạ sĩ quan đang đứng nghiêm. Viên thuyền trưởng nói với họ vài lời bằng tiếng Anh, rồi họ giải tán. Một sĩ quan trẻ tuổi giảng giải cho tôi hiểu rằng ông thuyền trưởng vừa nói với các học sinh quân đang được huấn luyện trên tàu rằng chúng tôi đáng được các thuỷ thủ khâm phục vì đã vượt qua một hành trình dài như vậy trên chiếc thuyền nhỏ bé này, và chúng tôi sắp thực hiện một hành trình còn dài hơn và nguy hiểm hơn nữa. Chúng tôi cảm ơn viên sĩ quan về cái vinh dự lớn lao đó. Ông ta tặng chúng tôi ba bộ áo bằng vải tráng nhựa sau này sẽ rất có ích cho chúng tôi. Đó là những bộ áo không thấm nước màu đen có một cái fermeture éclair to tướng, có đính thêm mũ chụp sau cổ. Hai ngày trước khi lên đường, luật sư Bowen đến thăm chúng tôi và chuyển lời yêu cầu của viên tổng giám đốc cảnh sát đề nghị chúng tôi đem theo ba người bị đày biệt xứ vừa bị bắt cách đây một tuần. Theo lời khai của họ, họ được các bạn họ ghé thuyền cho đổ bộ lên đảo trước khi tiếp tục vượt biển đi Venezuela. Tôi không muốn làm theo yêu cầu này, nhưng chúng tôi đã được đối xử một cách quá ư cao thượng để có thể từ chối. Tôi xin gặp họ trước khi trả lời. Một chiếc xe cảnh sát đến đón tôi. Tôi gặp qua ông Tổng giám đốc, tức viên sĩ quan đeo lon đã chất vấn chúng tôi hôm chúng tôi mới đến. Trung sĩ Willy làm phiên dịch. – Các ông có khoẻ không? – Cám ơn ông, khỏe cả. – Chúng tôi đang cần các ông giúp cho một việc. – Nếu có thể giúp được, chúng tôi rất vui lòng. – Ở nhà lao của chúng tôi có ba người Pháp bị đày biệt xứ. Họ đã lén lút trên đảo mấy tuần và khai rằng đã bị các bạn bỏ lại đây và đi tiếp. Chúng tôi nghĩ rằng họ đã đánh đắm chiếc thuyền của họ, nhưng mỗi người đều khai là không biết điều khiển thuyền bè gì cả. Chúng tôi nghĩ rằng đó là một thủ đoạn để ép chúng tôi phải cấp thuyền cho họ. Chúng tôi phải tìm cách cho họ đi: nếu không, tôi sẽ buộc lòng trao họ cho viên cảnh sát trên chuyến tàu Pháp đầu tiên ghé qua đây, và đó là một điều rất đáng tiếc. – Thưa ông tổng giám đốc, tôi sẽ hết sức cố gắng chiều theo yêu cầu của ông, nhưng tôi muốn nói chuyện với họ đã. Chắc ông cũng hiểu rằng nhận chở trên thuyền mình ba người lạ là một việc nguy hiểm. – Tôi hiểu. Willy, xin ông lệnh đưa ba tù nhân người Pháp ra sân. Tôi muốn gặp riêng họ cho nên yêu cầu viên trung sĩ lui ra. – Các anh bị đày biệt xứ, phải không? – Không, chúng tôi là tù khổ sai. – Thế tại sao các anh nói là bị đày biệt xứ? – Chúng tôi nghĩ rằng họ có cảm tình với một người chỉ phạm pháp vụn vặt hơn là với một người đã phạm tội nặng. Chúng tôi đã thấy rõ rằng nghĩ như thế là lầm. Còn anh, anh là ai? – Một phạm nhân khổ sai. – Chúng tôi không biết anh. – Tôi thuộc chuyến áp giải sau chót, còn anh? – Chuyến 1929. – Tôi thì thuộc chuyến 1927, – người thứ ba nói. – Đây, ông tổng giám đốc có gọi tôi đến để yêu cầu tôi cho các anh cùng đi với chúng tôi. Chúng tôi đã ba người rồi ông ta nói rằng nếu tôi từ chối, trong hoàn cảnh các anh không có người nào biết đi thuyền buồm, ông ta sẽ phải giao các anh cho chuyến tàu Pháp đầu tiên ghé qua đây. Các anh thấy thế nào? – Vì những lý do chỉ liên quan đến chúng tôi, chứng tôi không muốn vượt biển nữa. Chúng tôi có thể giả vờ ra đi với các anh, rồi anh sẽ thả chúng tôi xuống ở cuối đảo và sẽ tiếp tục vượt biển. – Tôi không thể làm như thế được! – Tại sao? – Tại vì tôi không thể đền đáp những cách xử sự tốt đẹp của họ bằng một hành động gian dối được. – Thiết tưởng anh phải dành ưu tiên cho dân khổ sai trước khi nghĩ đến bọn roastbeef chứ! – Tại sao? – Vì anh là dân khổ sai. – Đúng, nhưng dân khổ sai có lắm thứ khác nhau đến nỗi giữa các anh và tôi rất có thể còn khác nhau hơn là giữa tôi và bọn roastbeef. Cái đó còn tùy ở cách nhìn nhận. – Vậy là anh để cho họ trả chúng tôi cho nhà chức trách Pháp hay sao? – Không, nhưng tôi cũng sẽ không cho các anh xuống trước khi đến Curacao. – Tôi tự thấy không đủ can đảm để vượt biển thêm chuyến nữa, một người trong bọn họ nói. – Các anh nghe đây, hãy xem chiếc thuyền đi đã. Có lẽ chiếc của các anh dùng để đến đây quá tồi. – Được, để xem, – hai người kia nói. – Tốt. Tôi sẽ yêu cầu ông tổng giám đốc để cho các anh đến xem thuyền. Chúng tôi đi ra cảng, có trung sĩ Willy đi theo. Ba người kia có vẻ tin tưởng hơn sau khi xem chiếc thuyền.
Bàn thờ Phật xuống đường cản trở sự di chuyển của quân đội – nguồn Flickr.com
Kỳ 4
Ðầu tháng 6, Quân Trấn Hội-An mở một đợt hành quân hỗn hợp, bao vây và lục soát Long Tuyền Tự. Tôi tránh mặt bằng cách chui vào nằm trong cái rương dùng làm giường trong liêu tỳ kheo.
Buổi lục soát chấm dứt bằng vụ bắt bớ những người tình nghi phá rối trị an. Ba sư tăng lớn tuổi là Thích Như Sơn, Thích Như Quý và Thích Như Luận đã bị Cảnh Sát bắt về Quân Trấn để thanh lọc.
Lúc này trong chùa chỉ còn lại tôi, thầy Thích Chơn Phát, chú Thích Như Hạnh cùng hai chú tiểu bé con, đầu còn mang miếng vá, tôi không biết pháp danh, đó là chú Quýt và chú Chín.
Thấy tình hình không yên, sợ những người bị bắt sẽ khai tên tôi ra, nên mờ sáng hôm sau, tôi và sa di Như Hạnh ra đầu tỉnh đón xe đi Ðà-Nẵng lánh nạn.
Ít ngày sau, núp bên cửa sổ nhà người bạn, tôi xót xa chứng kiến hình ảnh anh Tôn Thất Trực, dưới bộ dạng của một nhà sư, áo lam, đầu trọc, bị trói ngoặt cánh khuỷu, đứng gục đầu trên xe Jeep mui trần, chạy chầm chậm trên đường Phan Chu Trinh Ðà-Nẵng. Người ta chở Tôn Thất Trực diễu quanh thành phố nhiều vòng để làm nhục anh. Tôi không rõ số phận Thích Như Huệ ra sao.
Như vậy, Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm xong chùa Tỉnh Hội, Hội–An. Nếu tôi không thoát khỏi vụ lục soát ngày hôm trước, chắc số phận cũng không hơn gì anh Tôn Thất Trực.
Tuần sau, thấy tình hình đã tạm yên, tôi bèn rời Ðà-Nẵng, trở lại Hội-An. Về tới chùa tôi mới hay, ngay chiều ngày tôi và chú Hạnh đi Ðà-Nẵng, những chư tăng bị bắt ngày hôm trước đã được tha. Chú Phong về chùa không gặp tôi nên đã bỏ chùa đi mất rồi.
Tôi nghĩ bụng, gia đình chú Phong ở ngoài Quảng-Trị, nếu Phong về được với gia đình thì không còn điều gì phải lo lắng cả.
Thời gian dài sau đó, tôi quen với nếp sống tu hành đạm bạc. Tôi ngủ trong liêu tỳ kheo cùng thầy Thích Như Luận. Như Luận lớn hơn tôi vài tuổi và là đệ tử lớn nhất của Ðại đức Thích Chơn Phát.
Ngày qua ngày, tôi chuyên tâm đọc những sách nghiên cứu về triết lý Phật Giáo. Rồi tôi say mê cái triết lý thoát tục này lúc nào không hay. Tôi đã có ý định rũ bỏ nợ đời, theo đuổi đường tu cứu vớt chúng sinh. Thầy Chơn Phát đặc biệt theo dõi chuyện học tập của tôi. Qua nhiều lần đàm đạo, thầy nhận xét rằng,
– Chú Tùng có thiên tư hơn người. Nếu chuyên tâm, chỉ một thời gian rất ngắn, chú có thể trở thành một thiền sư đi thuyết giảng được rồi.
Vậy là, như người “thi băng, nhảy lớp” tôi mặc nhiên trở thành đệ tử thứ nhì của thầy trụ trì, chỉ đứng sau tỳ kheo Thích Như Luận.
Tôi vốn là người quen nhẫn nhục, siêng năng từ nhỏ, không từ nan bất cứ công việc nặng nhọc nào. Từ cuốc đất, tưới rau, bổ củi, tới quét sơn, quét vôi, rào vườn, đào mương…việc gì tôi cũng làm được cả. Tôi làm việc tất bật suốt ngày, nên quên cả thời gian, quên hết muộn phiền. Gặp lúc rảnh rỗi thì tôi và các chú sa di lại quây quần bên nhau xung quanh bàn cờ tướng hay cùng nhau ngâm nga những câu thơ Tản Ðà.
Từ ngày quân chính phủ trung ương chiếm cứ chùa Tỉnh Hội thì người đi lễ Phật dồn về Long Tuyền Tự ngày càng đông. Các chú sa di cứ phải luân phiên leo lên cây chay sau cổng chính hái những chùm chay chín đỏ xuống cho các cô nữ sinh thăm viếng chùa.
Trong số bốn, năm chú tiểu thường leo cây hái chay tặng khách có một anh chàng leo nhanh như khỉ, lúc nào cũng nhe răng cười, nhưng không hề mở miệng nói chuyện với ai. Các cô tưởng nhà sư trẻ tuổi, mặt mày sáng rỡ này bị câm, nên ánh mắt nhìn chàng ta có chứa chất chút gì áy náy xót thương. Các cô đâu có biết chàng ta không mở miệng được chỉ vì chàng không “thông thạo” tiếng Quảng (Nam), chàng là người Hải-Dương. Các cô cũng chẳng ngờ được rằng dưới bộ quần áo tu hành màu lam, cái cốt giấu bên trong của chàng lại là cốt lính.
Thời gian như thoi đưa. Ngày nào cũng thế, buổi sáng, mặt trời dịu dàng, e dè, khép nép, chầm chậm ngoi lên từ cồn cát hướng Ðông; buổi chiều, mặt trời sưng vù, đỏ lừ lừ như mặt anh chàng say rượu, vội vàng lủi xuống núp sau lưng hàng phi lao nơi cồn cát hướng Tây. Hàng sầu đông vườn sau vẫn còn tiếng chim cu xanh gáy “gù! gù! gù!” để dụ dỗ nhau, nhưng tiếng ve sầu thì mỗi ngày một thưa đi, nhỏ dần… chắc tụi ve sầu mải mê ca hát quên ăn quên uống, nên bị cái nắng cháy da của mùa Hè thiêu chết dần mòn hết rồi! Chồng sách nghiên cứu và chỉ dẫn con đường về xứ Phật trên đầu giường của tôi mỗi ngày mỗi cao hơn.
Một hôm có hai người khách lạ tới vãn cảnh chùa. Họ đi loanh quanh dò xét khắp nơi, dáng điệu thật đáng nghi. Khuya hôm đó có tiếng chó sủa vang từ ngoài cồn cát về tới xóm lá bên đường sát Long Tuyền Tự. Rồi có tiếng người đập cửa ầm ầm,
– Mở cổng! Mở cổng ra mau!
Thì ra đó là một toán du kích Việt-Cộng địa phương. Trước đây họ vẫn lâu lâu ghé về thu thuế một lần. Nhưng từ thời có sự hiện diện của Quân-Ðội Ðồng-Minh thì họ không dám bén mảng gần vùng này nữa.
Thầy Như Luận khuyên tôi ẩn mình trong rương để đề phòng bất trắc.
Cái rương đa năng này tháng trước là nơi tôi ẩn núp trốn lánh một cú bố ráp của người Quốc-Gia, hôm nay tôi lại chui vào rương để trốn tránh người Cộng-Sản.
Tôi nghe tiếng cánh cổng chùa kêu ken két, rồi có tiếng người ra lệnh,
– Mời tất cả sư sãi trong chùa này ra tập trung trước sân cho tôi kiểm tra. Mau lên!
Sau đó là tiếng lên cò súng “lách! cách!” cùng tiếng dép guốc “lộc cộc!” rộn rịp của chư tăng.
Tên chỉ huy Việt-Cộng ra lệnh,
– Tất cả ngồi xuống đây! Không ai được đi đứng lộn xộn! Sư trụ trì nghe tôi hỏi đây: Chùa đang chứa chấp một tên chỉ huy Biệt Ðộng Ngụy có đánh trận Kỳ-Lam hồi tháng 2, mau giao nó ra đây!
Thầy Chơn Phát trả lời,
– Tất cả mọi người trong chùa này đều có mặt ở đây. Toàn là sư sãi cả, làm gì có lính Ngụy mà giao? Các ông muốn bắt ai thì bắt đi!
Bọn du kích chia nhau đi lùng sục khắp nơi. Từ điện thờ tới nhà bếp, gác chuông, bể nước, nơi nào cũng bị ánh đèn pin rà xét kỹ càng. Chúng không ngờ hai cái giường trong liêu tỳ kheo, có chiếu trải ở trên, bên dưới lại là hai cái rương có thể chứa người nằm duỗi chân thoải mái.
Chừng nửa giờ sau bọn du kích rút đi.
Chờ cho tiếng chó sủa xa dần rồi im bặt, thầy Như Luận mới về phòng kêu tôi chui ra khỏi chỗ trú ẩn. Tình trạng an ninh của tôi thời gian này đúng là đang nằm trong thế trên đe, dưới búa. Ban ngày thì sợ quân Quốc-Gia, ban đêm lại sợ quân Cộng-Sản, lúc nào cũng nơm nớp, bồn chồn.
Không rõ ai đã tiết lộ tin Việt-Cộng nửa đêm đột nhập Long Tuyền Tự tìm bắt một sĩ quan Biệt Ðộng Quân, mà hai ngày sau ông Ðại úy trưởng đồn Quân-Cảnh đã đích thân lái xe ra hạch hỏi thầy trụ trì rằng có sĩ quan “phản loạn” nào còn đang trốn trong chùa không?
Thấy tình hình có vẻ không yên, thầy Chơn Phát tính chuyện cho tôi rời chùa đi tá túc nhà bạn bè một thời gian, sau đó tìm đường vào Sài-Gòn đổi tên họ rồi vào chùa tu luôn.
Sinh viên Phật tử Huế của Nguyễn Đắc Xuân biểu tình xé cờ Mỹ, đốt Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ trên đường Đống Đa
Hai ngày sau tôi từ giã thầy tôi rồi khăn gói lên đường.
Lựa lúc mặt trời đứng bóng, trạm gác Cảnh-Sát trước quán tạp hóa của nhà cô Hòa không có ai, tôi vội băng qua bãi cát nóng cháy lẩn vào khu xóm nhà bên Bến Xe Hội-An, Ðà-Nẵng.
Còn cách bến xe chừng vài nhà, tôi đụng đầu Ðỗ Khế, một anh bạn bảy năm cùng lớp Trung Học Trần Quý Cáp. Khế đang nghỉ Hè. Nó không đi lính như tôi mà thi vào Sư Phạm Toán. Nó dúi cho tôi ít tiền và khuyên tôi xuống nhà thằng bạn Huỳnh Ngọc Thành ở ngoại ô mà trốn.
Tôi nghĩ, nhà thằng Thành nằm trên đường đi Cửa Ðại, xa trung tâm Hội-An, nhưng lại sát rào nhà thằng bạn Ngô Rân, mà bố thằng Ngô Rân lại làm Cảnh-Sát. Trốn trong nhà thằng Thành chắc cũng không ổn.
Cuối cùng, tôi tính chuyện đi bộ ra Lai Nghi, rồi quá giang xe lên Vĩnh-Ðiện vào nhà thằng bạn Ðặng Xuân Nghĩa tá túc ít lâu. Nhà thằng Nghĩa nằm trên Quốc lộ 1, ngày nào cũng có xe tốc hành Sài-Gòn chạy qua.
Ra khỏi thành phố, tôi thủng thỉnh theo lề quốc lộ mà đi. Bất chợt, một chiếc xe tuần cảnh từ trong khu đóng quân của Thiết Giáp chạy ra quẹo về thành phố. Tôi đi bên lề trái đường nên tôi và chiếc xe chỉ cách nhau chừng hai thước khi gặp mặt. Xe tuần cảnh chạy được vài chục thước đột nhiên quay ngược lại dừng sau lưng tôi. Một người ngồi trên xe lên tiếng gọi,
-Cậu Long! Cậu Long ơi!
Thế là tôi bị bắt!
Trung sĩ Quân Cảnh Lê Danh Ba nhảy xuống xe cười hì hì,
– Ðã có kế hoạch sáng sớm mai đột nhập chùa Long Tuyền để bắt cậu rồi, không ngờ lại gặp mặt cậu ở đây! Thôi! Cậu lên xe về Quân Trấn đi!
Trung sĩ Lê Danh Ba gốc Bảo An Ðoàn là dân Bắc-Kỳ Di Cư. Những gia đình Bắc-Kỳ Di Cư ở Hội-An đều quen biết nhau hết. Với một số gia đình, tôi được coi là cái gương tốt cho lớp đàn em, con cái của họ noi theo.
Trung sĩ Lê Danh Ba là người bạn lâu đời của gia đình tôi. Ông chứng kiến tôi lớn lên từ tuổi mười bốn cho tới khi tôi trưởng thành. Năm mười tám tuổi, trong một lần tập quay xà ngang, tôi bị ngã dập ngực, ông đã bỏ ra nửa tháng trời vất vả, ngày ngày tới nhà tôi đắp thuốc cho tôi lành bệnh. Cuối năm 1963, ông cũng ra tận sân ga Ðà-Nẵng để tiễn tôi lên đường tòng quân.
Trung sĩ Ba nhường ghế trưởng xa cho tôi rồi nhảy sang thay chỗ cho tài xế. Ông nói,
– Hồi tháng trước, chúng tôi vây chùa, bắt được thằng cận vệ của cậu, nhưng tôi đã lén thả nó ra. Những tưởng cậu đã đi đâu mất rồi, không ngờ cậu vẫn còn loanh quanh ở Hội-An.
Tôi chán nản,
– Quốc, Cộng đều truy nã tôi, tôi biết đi đâu bây giờ?
– Cậu có còn nhớ chuyện Việt-Cộng nó treo giá cái đầu của cậu một vạn đồng sau trận Tháp Bằng-An, Kỳ-Lam không? Nay cậu bị Quốc-Gia bắt còn may mắn trăm lần hơn là bị Cộng-Sản bắt.
Xe chạy tới ngã ba, một đường về Chùa Cầu, một đường về tiểu khu. Thời gian này, nhà tôi ở cách Chùa Cầu hơn trăm thước. Trung sĩ Ba dừng xe, rồi nói,
– Hay tôi thả cậu về nhà, tắm rửa, nghỉ ngơi, mai tôi tới đón cậu vào tiểu khu trình diện. Tôi tin chắc rằng cậu sẽ không trốn đi, làm cho tôi bị liên lụy.
Tôi cảm động,
– Chắc chắn tôi không làm bác bị vạ lây đâu! Cám ơn bác nhiều.
Trung sĩ Ba thả tôi xuống trước cửa nhà rồi lái xe đi.
Mẹ tôi thấy con mình bình an trở về, mừng quá khóc òa.
Tám giờ sáng hôm sau xe tuần cảnh tới đón tôi vào tiểu khu. Trung sĩ Ba giao tôi cho Ban Thẩm Vấn của Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam. Ông Thiếu úy Cao Xuân Hương, dân Quảng-Bình, là trưởng ban thẩm vấn, phụ tá cho ông là hai hạ sĩ quan và một đảng viên Ðại-Việt tên là Công người Quảng-Nam.
Trong thời gian bị giam giữ trong Ty An-Ninh Quân-Ðội Quảng-Nam tôi chỉ giáp mặt Thiếu úy Cao Xuân Hương ba lần. Lần đầu là ngày Trung sĩ Lê Danh Ba giao tôi cho ông ta. Lần thứ nhì là ngày hồ sơ của tôi hoàn tất. Lần thứ ba là ngày tôi từ giã ông ta để lên đường trình diện Sở 1 An-Ninh Quân-Ðội ngoài Ðà-Nẵng. Hai lần đầu ông Hương còn đeo lon thiếu úy, lần thứ ba, cuối tháng 8 năm 1966, tôi gặp ông để chào từ giã thì ông đã lên trung úy. Mãi mười sáu năm sau (1982) tôi mới gặp lại ông ở Trại Cải Tạo Z30C Hàm -Tân. Tôi và ông Hương bị giam trong cùng một nhà, nhưng khác đội sản xuất. Tôi làm công việc cuốc đất trồng rau. Còn ông Hương làm công tác đổ thùng. Ông Hương được Việt-Cộng tha ra khỏi trại cải tạo trước tôi năm năm.
Ban thẩm vấn chiếm hai dãy nhà trong tiểu khu để giam giữ những quân nhân phạm tội tham gia lực lượng ly khai. Tôi bị đưa vào căn nhà chứa sĩ quan và hạ sĩ quan. Căn nhà này có nhiều phòng, cứ hai người ở một phòng. Có khoảng mười sĩ quan và hạ sĩ quan đang bị giam. Tôi ở chung phòng với ông Trung úy Cư, Sĩ quan Hành Chánh Quân Y của tiểu khu. Trừ Trung sĩ 1 Lê Văn Ru ra, tôi chỉ biết mặt anh Thiếu úy Nồng của Chi Khu Hiếu-Nhơn; anh này học ngang lớp với tôi và đi lính trước tôi vài năm.
Bên nhà giam thứ hai thì nhốt những quân nhân ly khai hàng binh sĩ. Anh lính được phân công đi nhặt rác trong sân ngày hôm đó là một Binh nhì Biệt Ðộng Quân. Vừa thấy mặt tôi, anh ta đã nhào tới, ôm tôi, rồi khóc rưng rức,
– Trời ơi! Thẩm quyền cũng bị bắt vào đây ư? Ðại úy Trực đã bị họ còng tay dẫn đi mất tiêu từ lâu rồi! Còn em và anh Pha nằm ấp ở đây mấy tháng nay, ngày nào cũng bị đánh. Khổ lắm! Thẩm quyền ơi!
Tôi chẳng biết nói gì để an ủi người đàn em này. Nó chỉ là một binh nhì nấu cơm cho Ðại úy Tôn Thất Trực; thầy nó hết thời, nó cũng bị vạ lây. Tôi bèn an ủi thằng em,
– Chú đừng lo! Chú là binh nhì, quá lắm người ta nhốt chú ít lâu, rồi cho chú giải ngũ, càng sướng.
Nghe tôi nói có lý, thằng em cũng bớt buồn phiền. Nó chỉ cho tôi một người đang bị quỳ gối trước sân, hai tay cố giữ một tảng đá khá nặng đặt trên đầu, rồi nói,
– Hạ sĩ Pha đó thẩm quyền! Ngày nào anh Pha cũng bị phạt đội đá hai tiếng đồng hồ, tội nghiệp lắm thẩm quyền ơi!
Người đang quỳ gối, đầu đội đá đã nhìn thấy tôi, anh ta hơi nghiêng đầu, chớp chớp hai mắt để chào tôi.
Tôi gật đầu chào lại và giơ tay vẫy vẫy vài cái an ủi anh ta. Hạ sĩ Pha là tài xế của Ðại úy Tôn Thất Trực. Pha ra dấu cho tôi tới gần, nó thì thào,
– Thầy ơi! Thầy có biết số phận thầy Trực của em bây giờ ra sao không? Em lo lắng quá! Em sợ người ta xử tử thầy em! Tội nghiệp thầy em!
Nghe chú Pha hỏi, tôi chợt nhìn ra cái giá trị cao vời trong con người của một anh tài xế đang quỳ gối giữa sân kia! Trong hoàn cảnh khốn cùng như hiện nay mà người lính ấy còn lo lắng tới sự an nguy của thầy mình; đây quả là một tấm gương hiếm thấy, đáng cho tôi cảm phục.
Tôi trấn an Pha,
– Em yên tâm, anh Trực không sao cả, anh Trực còn sống.
Tôi thấy mắt Hạ sĩ Pha chợt đỏ, hai hàng lệ từ từ lăn trên má nó.
Ðầu tháng 8 tôi bị gọi lên văn phòng gặp ông đảng viên Ðại-Việt tên Công để thụ lý tội trạng.
Ngay phút đầu tiên ông tra tấn viên lành nghề này đã áp đảo tinh thần đối phương bằng cách la lối ồn ào, đập bàn, quát tháo, hăm he,
– Anh phải khai thật rõ ràng, thật chi tiết tội trạng của anh, nếu không, đừng trách tôi nặng tay!
Chờ ông ta dứt lời, tôi tỉnh bơ:
– Chắc chắn anh đã biết, tôi lớn lên ở thành phố này, là một sĩ quan Võ-Bị, một đại đội trưởng Biệt Ðộng Quân. Chỉ cần anh không kết tội tôi là Việt-Cộng, còn bất cứ tội gì, tôi cũng nhận hết, khỏi dài dòng mất công.
Miệng nói, mắt tôi nhìn chằm chặp vào mặt ông ta. Ông ta quay mặt sang hướng khác.
Kể ra thì cái ông Công này cũng biết điều, hay là ông ta thuộc loại cáo già, nên nghe tôi thẳng thừng ra điều kiện, ông ta không thèm lớn tiếng dọa nạt nữa, mà chỉ đưa ra một đống câu hỏi trên giấy, bắt tôi đọc, rồi viết trả lời. Trả lời xong, phải ký tên. Ðúng là “giấy trắng mực đen”, sau này tôi hết đường phản cung.
Khi tôi từ chỗ bùng binh chợ Bến Thành băng qua đường, hướng về phía “Quỹ Tiết Kiệm” – “Con Gà Ấp Trứng Vàng” cũ – thì thấy một ông già băng qua đường Phạm Hồng Thái, cũng vừa tới chỗ tôi định tới. Thấy ông, thấy cái dáng quen thuộc của ông, tôi gọi thầm trong trí “Ông Già Nho”. Rồi tôi bươn bả đi tới gặp ông để chào hỏi.
Kể từ khi tôi gặp ông lần đầu tiên cho tới giờ, tính ra đã mười mấy năm. Mười mấy năm rồi! Nhanh thật! Tôi còn nhớ rõ như in hôm gặp ông lần đầu tiên ở trường Taberd.
Ông còn quắc thước, mạnh bạo, mập mạp, da dẻ hồng hào tuy tóc ông đã bạc. Đầu tóc đẹp như kiểu tài tử ciné Đoàn Châu Mậu nhưng gọn và trông sạch sẽ hơn.
Đêm ấy là đêm 24 tháng 6 năm 1975. Theo lệnh của Ban Quân Quản Thành Phố Saigon, chúng tôi tập trung đi “học tập cải tạo” mười ngày, trình diện tại trường Taberd nầy: Địa điểm dành cho các quân nhân biệt phái.
Ông Năm Nho là sĩ quan Cảnh Sát biệt phái Hạ Nghị Viện, còn bọn chúng tôi phần đông là quân nhân biệt phái theo các bộ, phủ. Lần đầu tiên gặp nhau, ai nấy đều lạ lẫm nhau.
Với ông Năm Nho, người già nhất đám, chúng tôi nhường ông vài ưu tiên: Cái bàn thầy giáo để ông ngủ, mời ông ăn bánh kẹo chúng tôi mang theo hoặc mua lén bánh mì và mời ông cùng ăn. Những ngày ở đây, tuy chính quyền có cho cơm ăn nhưng không đủ thiếu vào đâu cả.
Tối đó, ông Năm Nho không chịu ngủ trên bàn thầy giáo. Cái bàn cao, ông sợ té. Ông xuống nằm với chúng tôi trên cái bục gỗ trước bảng đen lớp học. Một số đông ngủ trên băng ghế học trò hay trên nền xi-măng.
Trước giờ ngủ, chúng tôi ngồi quanh ông nghe ông kể chuyện.
Vì ông làm Trưởng phòng Công xa ở Hạ Nghị viện, nơi cung cấp xe cộ cho các ông dân biểu đi đây đi đó, nên chúng tôi tò mò hỏi về các ông dân biểu. Ông dân biểu nào “di tản chiến thuật” trước thiên hạ, ông nào ôm khăn gói mang của cải vàng bạc dọt lẹ trước đồng bào, ông nào tự tử và ông nào ba thành phần, chờ một cái ghế ngon lành trong chính phủ “hòa hợp hòa giải”… Dĩ nhiên, không thiếu những “Chuyện tình “nàng kiều lá đổ” với “Anh Châu ơi!” hay bà tự xưng là “Ba thành phần có bầu trong khám Chí Hòa khi chồng vào thăm”.(1) Bấy giờ thì “cháy nhà ra mặt chuột”! Không hẳn trong anh em chúng tôi không có tiếng chưởi tục cùng với nhiều tiếng thở dài.
Cộng Sản nhìn vấn đề rất khác chúng ta.
Chúng cho rằng “biệt phái” có nghĩa là thành phần tình báo biệt phái qua các phủ bộ để theo dõi, kềm kẹp những người ở phủ bộ đó. Khác với miền Nam, người được biệt phái vì có khả năng chuyên môn. Ai cũng là “tài nguyên quốc gia” hết và đều gọi bị động viên đi lính cho bộ Quốc Phòng. Vì nhu cầu, nhiều người từ quân đội được biệt phái về cơ quan cũ. Chẳng hạn bác sĩ, sau khi bị trưng tập có thể trở về lại bộ Y Tế, bệnh viện; kỹ sư thì về bộ Công Chánh, giáo sư, giáo viên thì về bộ Giáo Dục.
Cái “kẹt” của ông già Nho là sĩ quan Cảnh Sát biệt phái Hạ Nghị Viện. Cộng Sản có thể nghĩ rằng ông Năm Nho qua Hạ Nghị Viện đâu có phải để lo xe cộ cho dân biểu khi họ cần. Đó chỉ là bề ngoài, bên trong là theo dõi các dân biểu, nhất là những dân biểu thiên Cộng, thiên tả, ba thành phần, v.v… Biết đâu, ông ta lại chẳng đã có tên trong sổ đen trong mật khu rồi.
Khi trình diện, chúng tôi chưa nghĩ ra điều đó. Ai lại có thể có nghĩ ra một chuyện động trời như thế. Nhưng vào trại được một thời gian ngắn, làm xong bản tự khai, bị cán bộ kêu lên “làm việc”, điều tra, “hành tỏi” đủ điều thì bấy giờ mới sáng mắt ra. Văn Vĩ còn chạy xe ôm nữa là.
Các người khác có thể lấy bằng cấp chuyên môn chứng minh chuyện biệt phái được. Ông già Nho chứng minh ra sao?!
Ông nói rằng ông Chủ Tịch Hạ Viện rút ông về vì là bà con. Cộng Sản làm sao tin được. Vã lại, khai có liên hệ đến mấy ông lớn, ông già Nho càng thêm sợ liên lụy. Chức càng lớn thì “nợ máu với nhân dân” càng nhiều. Khai liên hệ càng thêm nguy hiểm. Có thể ông già Năm sợ như thế.
Chỉ một năm sau mà thôi, sau khi mỗi người phân tán mỗi trại rồi gặp nhau ở trại Suối Máu, Biên Hòa, thấy lại ông Năm tôi mừng thiệt nhưng tôi thấy lo cho ông lắm. Ông xuống lắm, xuống lắm rồi, không chắc ông qua khỏi cái “đại hạn” nầy.
Nước da hồng hào của ông bây giờ xám ngoét như da người chết. Má hóp lại làm cho cái miệng hô ra. Hai con mắt chui sâu vào hai cái hố, lờ đờ như mắt con bò già. Đầu tóc bạc đẹp và gọn hồi trước bây giờ bờm xờm như ổ quạ. Râu! Nhất là râu: sợi bạc, sợi đen lẫn lộn, lổm chổm; sợi thẳng, sợi vênh như cái bàn chải đánh răng cũ bị quăn vì bỏ vào nồi nước sôi. Da mặt, da tay nhăn nhúm trông như mớ giẻ rách đùn lại.
Ông không còn đi đứng nhặm lẹ như hồi mới gặp ông lần đầu tiên nữa. Ông lụm cụm, khó nhọc khi đứng ngồi, khi đi lại. Tay ông run run chống chiếc gậy tre. Đã có cái gậy mà ông đi cũng không muốn nỗi. Mỗi khi đi nhà xí, ông phải lọng cọng chống gậy đi ngang trước nhà tôi ở. Thấy ông, tôi chợt nghĩ dại: “Có ngày ông ngã ngoài cái cầu tiêu cao đó”.
Thôi hết! Cuộc đời ông có thể chấm hết ở đây, trong trại cải tạo nầy. Ngày đi thì có mà ngày về thì không! Ông già rồi, ốm yếu như thế, làm sao qua khỏi. Người ta trẻ trung cũng còn bỏ xác đâu đó, huống chi ông! Chỉ một năm trong trại, ông già đi hơn mười năm.
Thế mà không!
Cái bản năng sinh tồn Tạo Hóa ban cho con người thật là kỳ diệu!
Ông ta đi cùng với tôi thêm ba trại cải tạo nữa. Ông ta không chết như tôi đã lo. Cuối cùng, ông “được tha ra khỏi trại cải tạo” (như lệnh tha đã ghi), trước tôi một năm, vì can tội “Đại-úy” (Giấy tha cũng ghi như vậy).
&
Tôi đi thẳng tới trước mặt ông Năm, nắm tay ông, chào hỏi:
– “Bác Năm, khỏe không?”
Ông ta dừng lại, nheo nheo mắt nhìn tôi tới nửa phút, nhận ra người cũ, mừng rở:
– “Ủa! Anh Sáu! Trời! Về hồi nào?”
Tôi cười:
– “Về gần ba năm nay rồi. Nhiều khi muốn lên thăm bác mà không có dịp đi trên ấy!” – Ông Năm Nho ở Biên Hòa. Trước khi về, ông ấy có cho tôi địa chỉ – “Không ngờ hôm nay gặp bác ở đây, mừng lắm.”
Ông Năm nhìn tôi, mặt hơi nghiêm lại, nói:
– “Hôm nay tôi về thăm thằng con trai tôi. Nó ở bên Tây về được nửa năm nay chớ ít khi tôi đi Saigon lắm. Lâu ngày, gặp anh em, thiệt là mừng. Nhiều khi nhớ anh em lắm”.
Nói chuyện một chút, khi tôi dợm đi thì ông Năm bảo:
– “Có bận gì không? Lại tôi chơi. Gần đây thôi. Con tôi nó mới chuộc lại căn nhà của nó. Mình nói chuyện chơi”.
Tôi cũng chẳng có việc gì gấp. Tôi thất nghiệp ba năm nay, từ hồi cải tạo về tới giờ nên đi theo ông Năm.
&
Nhà con trai ông Năm chẳng có ai, ngoại trừ ông ta và tôi. Đây là căn nhà cũ của con ông trước 1975. Hồi đó, anh ta làm việc cho một công ty người Pháp tại Việt Nam. Sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam, anh ta đem vợ con vượt biên khoảng cuối thập niên 1970, rồi định cư ở Pháp. Nay công ty cũ của anh ta làm việc chuẩn bị trở lại Việt Nam đầu tư, nên anh ta cùng với ông giám đốc cũ về Saigon để làm việc trở lại. Khi anh ta vượt biên, căn nhà cũ bị chính quyền tịch thu, nay thì, theo ông Năm, con trai ông đã “chuộc” lại nhà.
Sao gọi là “chuộc”?
Có bán, cầm, thế mới gọi là chuộc! Đây là họ tịch thu, nay trả lại. Sao gọi là “chuộc”? Tôi hỏi ông Năm những ý như thế.
Ông Năm cười:
– “Tôi sinh trưởng ở trong Nam nầy, từ nhỏ chí lớn, chưa bao giờ thấy luật pháp nó kỳ cục như đời bây giờ. Người ta có nói đời bây giờ không có luật lệ gì cả cũng được. Mạnh ai nấy làm quyền. Ai có quyền nấy! Lớn có quyền lớn, nhỏ có quyền nhỏ. Ai cũng có quyền, ai cũng làm chủ. Hễ có chức thì có quyền. Bản chất, tôi nói là bản chất người Việt mình có c1ái tính nô lệ”.
Tôi ngạc nhiên nỏi:
– “Việc đòi nhà có chi liên hệ đến Tây, Tàu mà bác Năm nói tới chuyện làm nô lệ”.
Ông Năm giải thích. Ông ta đã già mà giọng nói vẫn còn sôi nổi:
– “Chớ sao không? Tôi hỏi anh có ai vì lý, vì luật mà đòi được nhà không? Con tôi lấy được nhà là nhờ Tây, không phải do người Việt mình hiểu mà thông cảm, mà giúp đỡ nhau, giải quyết theo luật lệ, có lý có tình. Tại sao người Việt mình không nói với nhau, không thể nói trên cái… (ông ta ngập ngừng tìm chữ)… cái chỗ công bằng, bình đẳng và tôn trọng luật pháp, tôn trọng quyền lợi của nhau. Kể từ hồi Cộng Sản vô tới giờ, luật lệ là do ai có súng trong tay. Luật lệ là của người có quyền lực, là để bảo vệ quyền lợi của người có quyền lực. Họ nhân danh “cách mạng”, nhân danh nhân dân rồi muốn lấy cái gì của ai thì lấy. Cứ có cái tiếng “cách mạng” là được rồi. “cách mạng” yêu cầu cái nầy. “cách mạng” yêu cầu cái kia. Cái nhà anh đang ở, cái xe anh đang đi. Nếu “cách mạng” yêu cầu thì anh phải giao nhà, giao xe mà không có một sự đáp ứng nào cho hợp tình, hợp lý. Nếu anh không chịu! “cách mạng” sẽ hỏi anh một câu: “Do đâu mà anh có nhà. Do đâu mà anh có xe?”. “Tay sai đế quốc”, “bám gót thực dân”, “bóc lột nhân dân”, v.v… mới có nhà, có xe. Hỏi thế có nghĩa là anh sẽ bị tịch thu nhà, tịch thu xe. Không chừng còn phải đi cải tạo nữa để từ bỏ những tư tưởng ăn bám, bóc lột. Chi bằng họ đòi gì, mình giao nấy, may ra còn có giữ được cái mạng sống. Thế nhưng, chính họ mới là bóc lột, ăn bám. Chính họ là người có tinh thần nô lệ, chịu làm tay sai. Điều nầy, trong trại, anh em mình bàn bạc nhau đã nhiều, anh biết rồi chớ gì?”
Tôi cười nói:
– “Điều đó, mấy năm bác Năm ở chung trại với tôi, biết hết rồi. Cái mà Cộng sản “cải tạo” chúng ta đều có kết quả ngược hết. Tôi muốn biết chuyện cái nhà nầy tại sao lại dính tới chuyện tinh thần nô lệ?”
– “À!” – Ông Năm cười nói tiếp. – “Có gì đâu! Có lệnh trung ương trả nhà cho những ai ở ngoại quốc về phục vụ tại Việt Nam, nên con tôi xin nhà lại. Nhưng luật thì có luật mà cho lại không cho. Con tôi phải nói với thằng chủ Tây của nó. Thằng chủ Tây can thiệp thẳng với Trung ương. Trung ương cần Tây, sợ mất lòng Tây. Trung ương đang “bắt giò” Tây nên OK liền. Nhưng đến khi lấy nhà thì phải chuộc.”
– “Nó bắt chuộc thì nó sợ gì Tây?” Tôi nói.
Giọng ông Năm vẫn sôi nổi:
– “Tại sao không?! Trả nhà là do chánh sách. Chánh sách do đâu mà có. Đâu có phải họ thấy việc trả nhà là hợp tình, hợp lý. Họ thấy công khó người ta, mồ hôi nước mắt người ta mà trả lại cho người ta. Trả nhà, có nghĩa là nuốt không trôi nên phải trả. Trả cái nầy để được cái khác lớn hơn. Không bao giờ có sự hợp lý, công bằng, có tình cảm hay thông cảm trong việc nầy cả. Cũng giống như hồi ba mươi tháng Tư không có “tắm máu”. Chẳng qua “Giết không được tha làm phúc” chớ chẳng có chi là “khoan hồng nhân đạo”. Không giết thì cho đi cải tạo, là giết lần giết mòn con người ta, có tha về thì cũng là “xương bậu nát, thì da bậu mòn.” (2) Vậy mà mình cũng không chết! Hay chưa?”
Nói xong, ông Năm cười hề hề!
Trong khi đó, tôi đọc một câu trong “Cung Oán Ngâm Khúc” cho ông Năm nghe:
“Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa?!
Một lúc, ông Năm lại tiếp:
– “Anh xem có kỳ không? Phải chờ Tây nó can thiệp họ mới trả nhà cho con tôi. Có phải vậy là sợ Tây, là tinh thần nô lệ không? Hồi trước mình có sợ Tây sợ Mỹ gì đâu?! Láng cháng có thằng bị mình “quýnh” bỏ mẹ luôn. Cộng Sản có dám đụng tới “đại ca” của họ không?”. Ông Năm nói tiếp: “Nói thiệt, con tôi không muốn nhờ Tây. Nó muốn người mình nói chuyện với nhau, hay hơn. Nhưng con tôi nói thì ai nghe. Ai them nghe?! Vậy nó mới kêu Tây đòi nhà cho nó. Thành ra, anh xem “tình dân tộc, nghĩa đồng bào” cái con mẹ gì đâu, “hòa hợp hòa giải” mẹ gì đâu?!”
– “Còn chuộc?” Tôi hỏi.
– “Thì mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy quyền. “Rừng nào cọp nấy”. Trung ương biểu trả nhưng địa phương thấy cái nhà ngon quá, trả thì tiếc, bèn bày ra cớ nầy cớ kia để trì hoãn, làm khó. Con tôi phải “ló” tiền ra mới lấy được nhà. “Có ba trăm lạng việc nầy mới xong”. Anh thấy có đúng không?”
Nói xong, ông nhìn tôi. Cả hai chúng tôi đều cười.
Một chốc ông Năm nói:
– “Thôi! Mời mời! Ham nói chuyện để lâu mất ngon.”
Con trai ông Năm phải đi Hà-Nội gấp với chủ Tây, chỉ kịp mua cho ông Năm con vịt quay và mấy ổ bánh mì. Nước uống có sẵn trong tủ lạnh.
Ăn xong miếng thịt, ông Năm lại hỏi:
– “Anh nghĩ thằng cha coi nhà đất ở Saigon hồi nầy có giàu không?”
– “Hễ mà hòa bình, xây dựng nhiều thì nhà cửa, đất đai lên giá. Ở cái đất Saigon nầy, xưa giờ, giá nhà đất bao giờ cũng lên. Tôi thấy chỉ mấy tháng gần ba mươi tháng Tư, người ta lo bán nhà mà chạy lấy thân nên nhà cửa mới xuống. Nhưng nó chỉ như cơn lốc. Cộng Sản ngất ngư, ngoại quốc tới, Việt kiều về thì giá nhà đất lại lên. Ai nắm trong tay nhà đất Saigon thì người ấy giàu. Triệu phú, tỉ phú dễ như trở bàn tay. Chỉ có sau đó thì lộn xộn lắm, người ta tranh giành nhau. Tài sản của người ta, nhà nước cướp bóc trắng trợn đâu có được.”
Một lúc sau tôi nói:
– “Như bác Năm nói thì sau nầy, khi Cộng Sản sụp đổ rồi thì việc tranh tụng nhà đất rắc rối lắm. Người ta đòi nhà, đòi đất mà nhà nước, cán bộ thì bán hết rồi, lấy chi trả?”
– “Làm gì được ông nhà nước, làm gì được ông cán bộ. Dù chế độ có sụp đổ thì người ta cũng cao chạy xa bay… ”
Bỗng ông Năm chợt hỏi tôi:
– “Anh biết vụ “đánh tư sản” chớ?”
– “Thì cũng như bác vậy. Mình ở trong tù. Chỉ nghe nói lại.” Tôi trả lời.
– “Đúng là anh em mình ở trong trại, không biết gì. Ngoài nầy, nghe nói mần dữ lắm, nhứt là ở miệt Chợ-Lớn. Tới những mười lăm, mười sáu chú Ba tự tử vì bị cướp tài sản một cách trắng trợn, có luật pháp nhà nước Cộng sản yễm trợ.” Ông Năm nói.
– “Việc nầy tôi có nghe nói. Mấy anh chị tôi là nạn nhân. Giống y như trong Kiều.” Tôi nói.
– “Giống y như trong Kiều là giống làm sao?” Ông Năm hỏi.
Tôi không trả lời ông mà đọc một hơi mấy câu Kiều:
“Hàn huyên chưa kịp dãi dề
Sai nha bỗng thấy bốn bề xôn xao
Người nách thước kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi
Già giang một lão một trai
Một giây vô lại buộc hai thâm tình
Đầy nhà vang tiếng ruồi xanh
Rụng rời giọt liễu tan tành gối mai
Đồ tuế nhuyễn, của riêng tây
Sạch-sành-sanh vét cho đầy túi tham.”
Ông Năm cười đắc ý, nói:
– “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”. Bộ ông Nguyễn Du là tiên tri hay sao mà ông tả y chang vậy, không sai một chút nào như người ta kể lại.”
– “Không phải đâu bác Năm. Chuyện cô Kiều cả ngàn năm trước, chuyện ông Nguyễn Du cả mấy trăm năm trước với đời bây giờ cũng rứa thôi, có khác chi nhau. Nghe nói ở bên Tây, bên Mỹ, dân chủ mới không có chuyện cướp bóc, lộng quyền. Chưa dân chủ là còn có kẻ cai trị, kẻ bị trị.
Kẻ cai trị thì cướp bóc kẻ bị trị, cướp bóc có luật pháp hay cướp bóc không có luật pháp cũng là cướp bóc cả thôi.” Tôi nói.
Ông Năm than thở:
– “Thiệt đời bây giờ chẳng còn “nhứt điểm lương tâm”. Người ta ăn ở tàn tệ quá!”
Tôi nói:
– “Khi đã không có lương tâm thì người có học, người không có học đều như nhau. Đậu ông nghè, ông cống ra làm phụ mẫu chi dân mà chỉ có lòng tham thì cũng giống như anh hoạn heo.”
Ông Năm cau mặt hỏi tôi:
– “Bộ hoạn heo thiệt không?”
– “Tôi nói với ông Năm một điều rất khẳng định. Không có cái chi dấu ai được hết. Trước sau người ta cũng biết. Đời xưa còn “Ở đây tai vách mạch rừng” nữa là. Đó là không nói như người xưa “lương tâm mình biết”.
Ông Năm băn khoăn nói:
– “Hoạn heo thì biết chi mà cai trị đất nước. Cộng Sản họ dùng những người gì đâu không! Tội nghiệp cho dân mình thiệt!”
– “Không biết thì học. Vừa làm vừa học, khắc biết. Hồ Chí Minh nói vậy mà. Chỉ khổ cho dân bị đem ra làm vật thí nghiệm.”
Một lúc, ông Năm nói, giọng hơi trầm xuống:
– “Ở bên Âu Mỹ, người ta đi làm tổng thống, thủ tướng là mưu cầu cái danh, không phải mong cái lợi. Chết để cái tiếng là ông tổng thống giỏi, thủ tướng giỏi. Bên xứ mình, ra cầm quyền cốt là để tìm cái lợi trước tiên. Thành ra, hễ có quyền thì có tham nhũng, hối lộ… Dân mình không ngóc đầu lên được là vì người mình như vậy. Nói dân chủ, tự do bên xứ mình khó lắm.”
Tôi hỏi:
– “Ông Năm có nghĩ rằng cũng vì cái lợi mà người ta phản bội, dối trá, lật lọng, v.v… ”
– “Đương nhiên!” Ông Năm nói. “Anh không thấy theo Tàu rồi chưởi Tàu. Chưởi Tây rồi lại theo Tây. Chưởi Mỹ rồi ôm chân Mỹ. Cái đó nhục nhã lắm. Không những nhục nhã cho họ mà còn nhục nhã cho dân mình. Người Nhật đầu hàng Đồng minh. Cho vậy là nhục nhã. Nhưng chính họ cũng nhờ Mỹ mà lên hàng cường quốc kinh tế, họ có làm chi nhục nhã như người Việt mình đâu!”
Tôi góp ý:
– “Người Cộng Sản họ thực tế lắm! Chính Hồ Chí Minh cũng nói với cán bộ “Có thực mới vực được đạo”. Có thể vì vậy mà họ chấp nhận những cái xấu. Xấu không quan trọng. Bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ bền vững mới là quan trọng. Dù như thế nào thì sau nầy, bản thân họ, con cái họ cũng sướng. Chỉ tội cho người mình. Hồi xưa thì cũng tham nhũng lắm, nhưng cũng nhiều người rất trong sạch. “Đứt phim” rồi, biết bao nhiêu người đói khổ. Như mấy ông tướng, tá, sĩ quan “Vị Quốc Vong Thân”. Con cái họ bây giờ chắc khổ cực lắm!”
– “Cái đó là sự vô ơn của đồng bào mình. Những ai hy sinh, ai còn sống nhưng tật nguyền, vợ con họ tội nghiệp hết sức. Tôi thường nghĩ những người dám tử ở trận tiền là người có khí phách. Họ có cái tiếng mà không có miếng nên bây giờ vợ con khổ”.
Tôi hỏi:
– “Tôi nhớ ông Năm có kể chuyện ông Ngoại của ông Năm ngày xưa là chủ điền. Cháu ngoại ông chủ điền ruộng cò bay thẳng cánh. Vậy mà khi vào trại cải tạo, hột cơm không có mà ăn. Phi lý thiệt.”
Nghe vậy, ông Năm kể chuyện cũ:
– “Ông ngoại tôi, hồi tôi còn nhỏ, hay rầy tôi dữ lắm. Nhà chủ điền, lúa đầy sân, bạc đầy nhà. Vậy mà khi tôi biết khôn, ăn xong, còn dính hột cơm trong chén là bị rầy. Ông tôi gọi hột cơm là hột ngọc trời cho, phải biết quý trọng, không được phí phạm”.
Tôi góp ý:
– “Văn hóa người Việt mình là vậy đó. Không được phí phạm, phải biết quý trọng công khó người khác, quý trọng công lao người nhà nông, quý trọng ơn nghĩa, thủy chung. Ông bà mình ngày xưa hay vậy mà sao bây giờ người ta để mất cả. Chiến tranh nầy, “cách mạng” nầy, “cách mạng xã hội chủ nghĩa” nầy, “cách mạng Văn hóa” nầy, đều đem lại những kết quả đảo ngược. Chắc rồi văn hóa tiêu ma hết ông Năm ạ”.
Ông Năm lại kể:
– “Hồi tôi lớn, mỗi năm đi học về, – Trước tôi học ở Saigon, sau ra “du học” ở Hà-Nội, – cách sống cởi mở hơn. Xong vụ mùa, tôi lên Saigon kêu gánh hát về hát cho tá điền của ông ngoại tôi coi chơi. Năm nào trúng mùa, hát cả tuần lễ mới dứt. Thấy tôi biết thương tá điền, ông bà ngoại tôi vui lắm. Hai ông bà thường nói: “Mình giàu có cũng là nhờ họ” cho nên ông bà ngoại tôi không để cho tá điền đói rách bao giờ, sợ người ta chê là thất đức.”
Tôi hỏi:
– “Trong trại, mình không có cơm ăn, bác Năm có nghĩ là do nhơn quả không. Tự mình gây ra cái nhơn ác.”
Ông Năm suy nghĩ một hồi lâu rồi nói:
– “Có chớ anh! Tôi kiểm điểm lại đời tôi, ông bà cha mẹ tôi, có ai làm điều chi thất đức mà giờ nầy tôi khổ làm vậy? Già rồi không có chén cơm mà ăn. Quả thật tôi thấy ông bà ngoại tôi nhơn đức lắm. Giống như người dân trong Nam nầy vậy, ông bà thường nghĩ tới chuyện tu hiền, không phải chỉ nói miệng mà cốt ở việc làm. Người bình dân cứ nghĩ ăn chay là tu, có chuyện gì xuống tóc là tu. Ông ngoại tôi biết vậy là không đúng. Tu là tu ở cái ý của mình trước, cái tâm của mình trước, cái miệng của mình trước và làm việc gì giúp đỡ cho ai hoạn nạn, nghèo khó. Căn bản là ở chỗ đó chớ. Đó là cái gương cho ba má tôi, cho bản thân tôi. Tôi nghĩ cái gian khổ bây giờ không phải là tự mình anh à! Đó là cái nạn nước. Mấy chục năm nay, từ sau hồi Tây – Nhựt đánh nhau tới giờ, đúng là dân mình mắc nạn”.
Ngưng một chút, ông Năm lại nói tiếp:
– “Tôi nghĩ như ở trong Nam nầy, đó là cái vựa lúa của cả nước. Mấy năm hòa bình còn dư thừa xuất khẩu, vậy mà bây giờ người dân không có chén cơm ăn. Cái nầy đâu phải lỗi một người dân mà lỗi ở chế độ. Cái nạn nước tạo ra cái chế độ ấy”.
Thấy tôi ham ngồi nghe, nảy giờ ngưng ăn, ông Năm lại nói:
– “Thôi, mời, mời. Ăn chút đi”. Rồi ông gắp một miếng thịt bỏ vào chén cho tôi, nói: “Miếng ức nầy ngon.”
Tôi nói:
– “Hồi nầy trông ông Năm khỏe lắm. Rán sống với con cháu”.
Ông ta cười:
– “Cũng nhờ con! Hồi còn ở bên Tây, nó gởi tiền về nuôi. Về thì nó đem tiền về cho. Tôi chỉ có hai vợ chồng, sống dư giả… ”
Tôi lại hỏi:
– “Anh ấy vô dân Tây chưa?”
– “Vô, vô rồi.” Trả lời tôi, ông Năm cười. “Không tin mấy thằng Việt Cộng nầy được. Vô dân Tây, lỡ có gì kẹt, Tây nó can thiệp. Dân của Tây mà. Tụi Cộng Sản có nhiều cái chủ quan lắm. Nó đẩy người ta vào cái thế phải chống lại nó.”
Tôi ngồi nói chuyện với ông Năm, nhắc chuyện cũ hồi còn trong trại cải tạo, nhắc tới người nầy người nọ. Có người ra khỏi trại đã lo vượt biên, đi lọt hay lại vào tù, v.v… Chúng tôi nói lu bu rất nhiều chuyện. Dù sao, ngồi nhắc lại chuyện cũ, buồn vui lẫn lộn.
Hồi về trại Xuân Lộc, trong đội của tôi, ông Năm Nho và ông Âu Văn Minh là hai người già nhất đội. Cả hai được liệt vào thành phần lao động nhẹ, nghĩa là khỏi ra ngoài rừng phá rừng lấy đất, khỏi ra bãi cuốc đất trồng sắn, trồng khoai như mọi người trong đội. Hai ông được ở nhà lo việc quét nhà, quét sân, v.v…
Năm 1979, khi Trung Cộng đánh 6 tỉnh dọc biên giới Việt-Trung, đội của tôi bị bọn cán bộ theo dõi gắt gao hơn những đội khác vì trong đội có nhiều thành phần “an ninh, tình báo”. Chúng thay quản giáo. Thằng cán bộ mới nầy tên là Lở, không phải là “Lỡ Chuyến Đò” hay “Lỡ Bước Sang Ngang” gì đâu, mà chính là lở đất, lở đá hay lở ghẻ, lở mụt gì đó. Nó chưa tới hai mươi tuổi, theo chân “bác” vào Nam không phải để “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” gì cả mà vì thấy người ta đi Nam về, ai cũng có cái đài, cái đổng, cái đa (3) nên ham mà vào Công an. Nó tưởng vào “Thành phố Bác” kiếm chác, ai ngờ bị “trên” đưa vào nơi khỉ ho cò gáy nầy, trông coi mấy thằng tù rách rưới, ăn mặc người không ra người, ngợm không ra ngợm, nên y đâm chán. Chán thì y hành hạ tù cho đỡ chán. Hành hạ tù là chánh sách của “đảng” cho mấy thằng tù khỏi được tha về mà quậy phá “cách mạng”.
Đội tôi bây giờ không được cho đi xa vào gần bìa rừng, sợ chúng tôi trốn. Công việc hằng ngày chỉ quanh quẩn kế hàng rào trong, đặc biệt là công việc đào hầm phân người mới hoai, đem phơi khô để các đội khác tới lấy đem bón rau muống, làm giàu “xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa”.
Trong khi chúng tôi lội xuống hầm moi phân lên phơi thì thằng cán bộ Lở bắt hai ông già ngồi đập nhỏ những cục phân phơi vài ba nắng đã khô. Cục phân khô phải đập cho nhỏ ra để bón vào gốc rau cho khỏi… hao cứt! Cục cứt cũng phải tiết kiệm!!!???
Một hôm, đến kiểm soát việc làm của hai ông già, thằng cán bộ Lở bảo ông Năm:
– “Anh kia (Bọn Cộng Sản lớn bé, già trẻ gì chúng đều gọi bằng anh, chị hết. Ai cũng là “Cháu ngoan Bác Hồ” nên mọi người đều ngang nhau), tại sao anh cầm cái cây mà đập phân?”
– “Thưa cán bộ, tôi phải lấy cái cây nầy…”
Tên cán bộ Lở lớn tiếng:
– “Không được. Anh không được dùng cái cây. Anh phải lấy tay mà bóp cho nát ra”.
Nghe thế, ông Năm lúng túng nói:
– “Thưa cán bộ, tôi lấy cái cây nầy… ”
Ông Năm nói chưa dứt câu thì thằng cán bộ Lở xông tới, với một thái độ thật hung dữ, nó giật phắt cái cây trên tay ông Năm mà quẳng ra xa. Vừa làm miệng nó vừa la lối:
– “Không được dùng cái cây. Anh nghe rõ chưa. Tôi không cho phép anh dùng cái cây”.
Ông Năm chần chừ, ông sợ dơ, ông sợ bệnh. Phân người thiếu gì vi trùng. Trong trại có biết bao nhiêu người bệnh, nhiều bệnh rất nguy hiểm, ngặt nghèo. Phân của họ đổ cả vào hầm phân.
Thấy thái độ ông Năm, thằng cán bộ Lở bèn xấn tới, tay vung lên, hăm dọa:
– “Tôi ra “nệnh” cho anh. Anh có chấp hành không thì bảo? Hay để tôi “xử ný” bây giờ. Vừa nói, tay kia của nó chụp vào cây súng lục đeo bên hông.
Thấy nó hung dữ quá, ông Năm sợ. Ông từ từ đưa tay ra nắm cục phân khô, trong khi nơi mắt ông hai dòng nước mắt tuôn ra.
Thằng cán bộ Lở thấy ông Năm khóc, quay mặt đi và cười sung sướng, đểu cáng.
&
Câu chuyện ấy và cái cười của thằng cán bộ Lở làm xôn xao anh em trong trại mấy hôm liền. Dĩ nhiên, ai cũng thấy rõ cái lưu manh, đểu cáng của đám người tự xưng “cách mạng”, “giải phóng”.
Trong khi nói chuyện với ông Năm, tôi nhắc tới thằng cán bộ mà tôi gọi là “thằng mất dạy” ấy. Rồi tôi hỏi ông một cách thẳng thắn:
– “Người miền Nam như bác Năm, vốn dĩ tính tình hiền hòa, chất phác. Nhưng liệu bác Năm có quên được câu chuyện đó hay không?”
Ông Năm không trả lời liền câu hỏi của tôi. Ông nhìn tôi một lúc rồi nhìn ly nước đang cầm trên tay, chậm rãi nói:
– “Gia đình tôi mấy đời thờ Phật, cũng muốn lấy ân báo oán chớ không muốn lấy oán báo oán làm chi. Chắc rồi mai đây, thế nào thằng Cộng sản Hà Nội nó cũng kêu gọi “hòa hợp hòa giải”. Tôi không biết những người mà cha mẹ, anh em họ bị Cộng Sản giết, họ có “hòa giải” được không! Chớ còn riêng tôi, cái chuyện thằng “cán bộ” bắt tôi ngồi bóp cứt khô để mà cười mai mỉa, tôi đau lòng lắm anh à! Ông bà cha mẹ ăn ở bất nhơn thất đức, con cái mới phải đi xúc cứt như vậy. Vì vậy, nhiều khi tôi muốn quên nhưng “Cũng khó mà quên được”.
hoànglonghải
(1) Giám thị khám Chí Hòa cho biết bà Ngô B. Th. Khi bị giam ở khám nầy xin được khám thai sau khi chồng vào thăm.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.