Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

PHÙ SA xuất bản 1964

Post by Sơn râu 23 Oct 2025

Phần 4.

… Hăm ba tháng Mười, mưa dại gió may

Ngoài khơi Hòn Tre, chiếc tàu tuần chạy tới lui qua lớp mưa thưa, màu cờ tam tài lu mờ chỉ còn hiện lên một đốm đỏ lợt lạt. Đoàn ghe lưới nằm lúc lắc trên bãi bùn, con mắt sơn trước mũi ghe trông phờ phạc như con mắt cá chết. Sóng đánh từng hàng dài trên mặt biển dâng cao, gợi hình ảnh những luống cày quanh sườn đồi… Trước khi tan vỡ trên bãi bùn, bọt sóng vung ra, rơi lấm tấm trên ngọn mấy cây bần đã bị ngập mất gốc mất cành.

Nhà của lão Tư Hiếm day mặt theo hướng gió xuôi, cửa cái vẫn mở; lão bắc ghế ngồi sát hàng ba, làn khói thuốc tuôn thoăn thoắt vươn mạnh lên bầu trời quá thấp.

Nhà của tôi bên này đâm ngang lưng gió, mưa hắt thỉnh thoảng đưa từng luồng ướt át. Tôi vói tay khép cửa lại. Chắc chắn lão thừa hiểu rằng tôi đã về nhà. Đúng ra, tôi phải đích thân đến gặp lão từ hồi trưa, liền sau khi rời khỏi nhà ông Henri Nhan. Nhưng gặp để nói chuyện gì? Kế hoạch trở về Mỹ Lâm của ông Henri Nhan chưa có gì rõ rệt, quan tư Ca Rê sẽ áp dụng chiến thuật nào? Vào ngày giờ nào? Tất cả thuộc về phạm vi bí mật quân sự. Biết chừng đâu quan tư Ca Rê hứa ẩu để làm vừa lòng một “nhân vật bổn xứ”; lực lượng Lê dương cần được sử dụng ở những trường hợp thiết yếu; “đại sự” hơn. Vả lại, lão Tư Hiếm chẳng còn tài sản nào ở Mỹ Lâm cả. Một mình lão tài nào chống nổi, nếu muốn chống lại.

Trận mưa dai dẳng bên ngoài đem tới cho tôi một duyên cớ để trì huỡn việc gặp mặt lão Tư Hiếm. Lật qua lật lại mấy trang giấy hồi sáng, tôi hút nối đuôi một lượt ba điếu thuốc rồi viết sạch sẽ cho xứng đáng với số tiền nhận trước năm trăm đồng.

“Ông Henri Nguyễn văn Nhan sanh ngày… năm… Thân phụ là cụ Nguyễn văn Mổ, người làng Đức Mỹ, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, đậu Cử nhân kỳ thi Ất Mão tại trường Tứ Quảng, sung Cẩm Y Vệ Thị Lang, sau thuyên chuyển vào đất Gia Định nhận chức Vệ úy trong cơ binh của quan Tổng đốc Nguyễn văn Mỗ. Nhơn thành Gia Định thất thủ, ngài Vệ úy treo ấn từ quan, ẩn sĩ qui điền không chịu hợp tác với tân trào, về mở trường dạy học tại Phú Cường, Bình Dương. Dịp này cụ sánh duyên cùng bà Vương Thị… hạ sanh được một đứa con trai duy nhất đặt tên là Nguyễn văn Nhan, tự Nhàn Vân, biệt hiệu Nhật Luân.

Lúc còn nhỏ, ông Nguyễn văn Nhan tỏ ra thông minh dĩnh ngộ hơn người, mới tám tuổi đã thuộc làu Tam Tự Kinh, Minh Tâm Bửu Giám. Trong hoàn cảnh mồ côi cha mẹ quá sớm, ông luôn luôn phấn đấu lập thân, tiết kiệm tiền ăn quà để mua sách vở cố theo chương trình sơ học tại tỉnh nhà (Bình Dương . Ông Đốc phủ sứ Trần văn M. bạn đồng môn của ông hồi xưa còn nhớ lại một giai thoại kỳ thú: Phen đó, thầy giáo bày cuộc thi thủ công, đầu đề: chiếc tàu thủy. Các học sinh được dịp trổ tài. Đứa này đóng tàu bằng giấy bồi, dùng keo dán mấy kẽ hở, cắt ống trúc làm ống khói. Đứa kia – con nhà khá giả – được cha dẫn ra tiệm bán sắt tây, bày kiểu cho thợ đóng tàu nhỏ bằng thiếc, trong tàu có bố trí cái nồi “sốt de” tí hon, khi đốt ngọn đèn cầy lên, nước sôi thổi hơi ra đẩy chiếc tàu tiến tới.

Ngày chấm thi, thầy giáo đặt một chậu nước khá rộng giữa sân. Chiếc tàu bằng giấy bồi lần lần chìm vì keo rã. Riêng chiếc tàu chạy bằng hơi nước đáng chú ý hơn hết nhưng các học sinh nhao nhao phản đối vì nó do người lớn tuổi chế tạo. Đến lượt ông Nguyễn văn Nhan trình bày chiếc tàu của mình. Thân tàu chỉ là một khúc cây mốp (gỗ nhẹ tiện sơ sài. Thầy giáo phê phán: “Nó không chìm, nó được chính tay học sinh tạo nên nhưng nó không xê dịch được”. Tức thì ông Nguyễn văn Nhan móc trong cái lon thiếc đem ra một con tôm còn sống nhăn. Ông cắm cái gai to lớn ở đầu con tôm vào phía sau lái tàu. Ai nấy trố mắt; chiếc tàu vừa thả xuống, tức thời con tôm nọ búng mình… mũi tàu phóng tới rẽ sóng, xắn vào vành cái thau, dội trở lại, chuyển qua hướng khác rồi vẫn xắn tới. Các học sinh vỗ tay, hò reo tán thưởng kiểu “tàu… con tôm”, chạy máy tự động ấy. Thầy giáo phải mệt nhọc lắm mà không kéo các học sinh trở về vòng kỷ luật được. Quan đốc học hoảng hốt chạy tới, thay vì rầy la các học sinh, ông tìm cậu Nguyễn văn Nhan, khen ngợi nức nở: “Trò đây quả thật là ông trạng Lương Thế Vinh tái sanh. Ngày xưa Lương Thế Vinh lúc còn bé đã biết đổ nước xuống lỗ để đem trái bưởi lên. Ngày nay, trò sáng chế ra kiểu tàu… tự động này, tài trí đâu kém?”.

Khi theo học năm thứ ba ban Cao tiểu, ông Nguyễn văn Nhan tuy thường được ghi tên vào bảng danh dự của toàn trường về đạo đức, về năng lực nhưng ông lại tỏ vẻ tư lự, đăm chiêu. Ông bắt đầu làm thơ, gởi đăng các báo ở Sài Gòn với nội dung thán phục các vị anh hùng cứu quốc kim cổ, từ Đông sang Tây: Gởi chiến sĩ mười bốn Juillet phá ngục Bách Ti, Vịnh ông Tôn Văn, Tâm sự Thủ khoa Huân… Nhơn phong trào lạc quyên ủng hộ các học sinh Đông Du do quan phủ Gilbert Trần Chánh Chiếu đề xướng, ông Nguyễn văn Nhan đã nhịn ăn quà sáng, gởi giúp được một đồng bạc trong thời kỳ giá lúa mười lăm xu một giạ.

Nhà cầm quyền thực dân đâu để yên cho chàng thanh niên giàu nhiệt huyết ấy. Sở Mật thám Pháp gây áp lực, khiến quan giám đốc ra lịnh đuổi ông Nguyễn văn Nhan khỏi trường. Chán nản, ông đi ngao du sơn thủy, lê gót lãng du khắp Hà Tiên, Bạch Mã, đảo Phú Quốc… tìm cơ hội khác hầu gióng hồi chuông cảnh tỉnh bé nhỏ, khiêm tốn nhưng hữu hiệu cho quốc dân…”.

Mưa chưa tạnh. Ăn xong cơm chiều, tôi nằm im nghe sóng biển vỗ ầm ầm lên bãi. Ngọn đèn dầu leo lét bỗng phựt lên cao hơn ống khói, gió biển tạt mạnh qua khe cửa hé mở.

Lão Tư Hiếm bước nhanh vào, vuốt mấy giọt nước trên mặt:

– Ở nhà một mình buồn quá, tôi qua đây thăm thầy. Mưa gì mà mưa hoài. Ở miền biển, thầy thấy điều gì đặc biệt không? Nước mưa trên mặt mình, nó mặn đắng như nước biển.

Tôi đáp:

– Có lẽ chất mặn của mồ hôi thấm lâu đời trên trán mình, thưa bác.

Lão gật đầu, cúi mặt xuống tránh ánh đèn, hồi lâu mới nói:

– Bữa nay, thầy làm việc rồi chớ? Ông chủ Nhan mướn thầy viết chuyện đời xưa ở Mốp Giăng, ở Mỹ Lâm thiệt sao?

Tôi ái ngại, che giấu một tiếng thở dài rồi cố ra vẻ hồn nhiên:

– Dạ, thiệt chớ. Chiều nay tôi ở nhà viết. Ổng căn dặn tôi tả lại vùng đất hoang ở Mốp Giăng ngày xưa, nào chuột, nào bưng sen, cảnh nê địa trước khi ổng tới khai khẩn. Nếu còn nhớ rõ cảnh xưa, nhờ ông giúp tài liệu. Tôi viết nhắm chừng, hồi nào tới giờ chưa từng tới Mốp Giăng.

Đột nhiên, lão day mặt lại:

– Vùng Mốp Giăng đã trở thành “đất thuộc” từ lâu rồi. Ổng tới làm chủ lúc sau này. Ổng chẳng bao giờ thấy chuột bầy, thấy bưng sen gì ráo! Miệt Mốp Giăng xưa kia do nhiều người tứ xứ tới mạnh ai nấy khai phá, cắm ranh, khai diện tích sơ sài rồi đóng thuế cho làng… Dè đâu… Thôi… tôi nói ít, thầy ăn học nhiều, chắc hiểu rộng hơn. Nếu tôi nói lỡ lời, thầy bỏ qua cho.

Lại chuyện cường hào ỷ thế thực dân Pháp, cưỡng chiếm đất đai! Thời xưa, lắm tay mưu sĩ lên Sài Gòn xin khẩn những “lô” đất chưa có ai đứng tên trong địa bộ quản hạt rồi họ mướn người chuyên về trắc địa đến quy định ranh giới. Lô đất ấy nghiễm nhiên thuộc về quyền sở hữu của họ. Đứng về mặt pháp lý thực dân phong kiến, mảnh vườn đất nhỏ của người nông dân “tiền phong khai hoang” mặc nhiên bị sáp nhập vào đồn điền của kẻ đến sau nhưng hiểu rành về quy chế điền địa hơn.

Tôi đánh tan bầu không khí oi bức nọ, đưa câu chuyện trở lại địa hạt khác, êm dịu hơn:

– Thưa bác, chuột ở Mốp Giăng hồi xửa hồi xưa chắc nhiều lắm? Mấy bưng sen còn không? Mỗi bưng rộng bao lớn? Nhiệm vụ tôi là viết chuyện đó cho ổng.

– Thầy cho tôi điếu thuốc. Hồi tôi còn nhỏ, tôi thấy dân chúng Mốp Giăng sống nhờ chuột. Mùa nước nổi, chuột cắn đuôi nhau nối liền thành một sợi dây dài, chẳng biết nó từ xứ nào tới để đi về đâu. Tụi nó lội chập chững, con này nương sức của con kia… Mỗi tháng, mình gặp năm sáu bầy như vậy. Nước giựt xuống, chuột làm ổ, trời sa mưa, cỏ non mọc nhú lên, tha hồ xây rọ mà bắt. Cứ dùng đăng sậy bao chung quanh một vùng cỏ lớn rồi lần lần mình siết vòng vây… bắt hàng trăm con. Mình ăn thịt chuột trừ cơm. Chuột bị chặt đuôi, lột da nằm dài trông thật giống con heo con… Thôi thì chuột rô ti, chuột bằm nhỏ xào lá cách lá lốt, chuột kho tiêu. Ăn không hết, mình bày ra khô chuột, treo lủng lẳng hàng trăm con từ trên kèo nhà. Lại còn mắm chuột nhận đầy lu, mỡ chuột thắng đầy hũ. Đèn thắp bằng mỡ chuột, sáng lắm… Nghe nói lâu lâu có người gặp con chuột bạch ngậm trong miệng “hột ngọc chuột” sáng ngời… Ôi thôi! Chuyện con chuột kể tới sáng thầy nghe không hết.

– Còn cái bưng sen ngày xưa?

– Nó còn hiển hiện đó. Rải rác đôi ba mẫu đất, đầy loại sen bạch, sen hồng. Cuối mùa mưa, gương sen cằn cỗi, hột sen khô nổi lình bình đen mặt nước; mình cứ đem thúng mà xúc, mỗi người xúc một buổi sáng hằng năm sáu chục lít đem bán cho Huê kiều… Nhưng dân mình ưa làm ruộng hơn là xúc hột sen.

– Dạ thưa bác, tại sao bây giờ hết chuột?

– Mấy năm sau thiên hạ làm ruộng nhiều nơi, chuột chia nhau tứ tán kiếm ăn, mỗi bầy đi một chỗ. Hồi xưa chuột đói vì ít ai làm ruộng. Đám ruộng nào bị tụi nó bu lại, kể như còn rơm trơ cọng.

– Còn sen? Tôi tưởng mình nên để vài lõm xem chơi. Sen mọc nhiều, hao đất quá.

– Nó là thứ xa xí. Muốn trừ sen, thêm đất làm ruộng, mình phải đào kinh cho nước rút bớt… Nói chí miệng, ông chủ Nhan hồi đó muốn mở mang đất đai lắm, ngặt ổng ít vốn. Ổng hứa với tá điền: nếu ai nấy đều góp lúa đầy đủ cho ổng, ổng mua thêm vài chục ngàn mẫu đất nữa cho bằng điền Tây của ông Kho… Ngặt vì… vợ lớn của ổng chết, ổng buồn. Hai vợ chồng không con. Rồi cưới bà sau này, cũng không con…

Lão chép miệng, hút điếu thuốc nữa:

– Thôi tôi về, khuya rồi. Lát nữa sợ mưa lớn.

Thấy câu chuyện còn hấp dẫn, tôi mời lão ở nán. Lão từ khước:

– Hút thuốc vấn không quen, để tôi về bển hút ống điếu cây ớt núi. Tháng rộng ngày dài, mai chiều tôi nói thêm. Chỉ sợ thầy không muốn nghe. Còn nhiều chuyện ở Mốp Giăng, ngậm ngùi lắm!

– Bác cứ nói. Tôi đi lấy cái ống điếu qua đây cho bác. Hay là tôi qua nhà bác cho tiện.

– Phải à! Thầy qua bên tôi đi. Hồi chiều tới giờ mảng lo nói chuyện, tôi quên thắp nhang.

Mưa cứ rơi đều đều. Đèn đường phía chợ ửng sáng một vầng quá rộng. Biển đen ngòm, bãi bùn, sóng nước và Hòn Tre lẫn lộn dưới vòm trời thiếu trăng. Lão Tư Hiếm vào nhà trước. Tôi bước vào chậm hơn, đưa tay đóng cánh cửa lại cho bớt lạnh. Lão nói nhanh:

– Ban đêm đóng cửa nói chuyện rì rào trong nhà, thiên hạ hồ nghi. Cứ để vậy.

Thắp nhang xong, lão hút thuốc uống trà, hớp từng hớp một.

– Tôi còn câu chuyện cổ tích này, liên quan tới cái ngôi đình làng không bao giờ xây cất ở làng Mỹ Lâm, trong điền ông chủ Nhan.

Tôi gật đầu, lộ vẻ nóng nảy:

– Tại sao chẳng bao giờ xây cất? Làng Mỹ Lâm quá nghèo à? Lạ vậy!

– Số là năm đó, lâu lắm rồi… Hồi còn bà chủ trước lận kia, hồi ông chủ Nhan… chưa làm điền chủ, ổng còn là hương quản, ngày hai bữa đạp xe máy lại nhà việc. Ruộng trúng ba bốn mùa liên tiếp, dân làng ai nấy mừng vui ăn tết tưng bừng, cờ bạc suốt tháng Giêng qua tháng Hai. Ngày rằm tháng Giêng, mấy ông kỳ lão đành bơi xuồng ra chợ Rạch Giá, thuộc làng Vĩnh Thanh Vân để dự lễ kỳ yên lạy tạ Thành hoàng bổn cảnh, thay mặt giùm cho dân làng Mỹ Lâm. Thật là mất thể diện. Tại sao làng Mỹ Lâm lại chẳng cất được một ngôi đình riêng biệt? Nghĩ vậy, ai nấy hùn tiền kẻ ít người nhiều. Ông chủ Nhan – hồi đó là hương quản Nhan – được cử làm thủ quỹ vì trong tổng số năm ngàn đồng lạc quyên, phần ông góp tới hai trăm đồng, nhiều hơn mọi người khác. Người lãnh thầu mua về một mớ gạch đá, rồi xin lãnh thêm tiền để mướn nhân công, mua thêm vôi cát, xi măng. Rủi thay, đêm nọ người thầu bị bọn cướp giết chết trên đường về Rạch Giá. Hương quản Nhan đến nơi làm “ăn kết” chạy tờ về quan trên để cho biết: xác người thầu nọ chẳng có một đồng xu dính túi! Mặt khác, nhơn danh thủ quỹ, hương quản Nhan trưng ra hai cái biên nhận tổng cộng bốn ngàn chín trăm năm mươi đồng do người thầu ký tên, lãnh trước rồi… Dân làng nhìn nhau, lắc đầu, bàn tán thì thầm.

Tôi hỏi nhanh:

– Họ hồ nghi ông chủ Nhan sắp đặt giết người thầu để giựt tiền lại?

Lão ung dung hút thêm điếu thuốc, im lặng giây lâu:

– À, thầy đoán chừng như vậy thì tôi nghe vậy. Tôi đâu dám nói gì hơn. Ai đã mắt thấy tai nghe… mà đề quyết thủ phạm là ai! Chỉ biết vài tháng sau, hương quản Nhan xin từ chức, đi Sài Gòn rồi trở về làm chủ của “lô” đất đã có sẵn huê lợi ở Mốp Giăng. Ổng thề chẳng bao giờ đứng ra góp tiền cất ngôi đình khác. Ổng muốn tránh tiếng dị nghị của người đời khi có cuộc lạc quyên thứ nhì. Ổng nói “Thà cất riêng một cái miễu trong điền để tạ ơn đất nước, do tiền túi của một mình tôi xuất ra thôi”.

– Cái miễu đó còn không?

– Còn chớ. Linh hiển lắm. Tôi nói cho thầy nghe hồi bữa hổm rồi mà. Thờ Chúa Ngung Ma Nương. Mai mốt nhứt định ông chủ Nhan nhắc tới tích đó. Tôi nhớ mờ ớ vậy thôi. Nói nhiều quá, mình mang tội với người sống và người chết… Thầy đừng chép vô sách vở, nguy lắm.

Trở về bàn viết, tôi thao thức mãi. Đêm ấy, qua khe cửa, tôi thấy ngọn đèn chong bên nhà lão Tư Hiếm còn leo lét đến nửa đêm. Phải chăng lão cố tình đánh một đòn ly gián giữa tôi và ông bà Henri Nhan? Nhưng, đứng về phía của tôi mà xét, tôi cần tiền ăn cơm, tôi đã lãnh tiền trước của bà Henri Nhan rồi. Tôi tin rằng quyển tiểu sử mà tôi đang soạn thảo chẳng bao giờ in ra. Mà dầu có in thì cũng chẳng ai thèm đọc! Tôi thầm cám ơn lão Tư Hiếm đã nhắc nhở khéo léo cho tôi về ý thức tôn trọng sự thật, bất cứ về vấn đề gì. Câu chuyện ông Henri Nhan giết người rồi kiếm tiền đút lót cho quan Tây để khẩn đất tuy đáng chú ý nhưng tôi chưa vội tin, vì chính lão cũng bảo là còn trong vòng giả thuyết.

Đã quá một giờ đêm.

Viết gì bây giờ? Chuyện mắm chuột, chuyện hột sen. Và đừng đi xa hơn. Tôi ngáp dài, nhướng đôi mắt hơi cay, viết lia lịa, tùy hứng… nhưng trong khuôn khổ, tránh những chi tiết quá lộ liễu khiến ông Henri Nhan có thể hồ nghi rằng tôi đã liên lạc với người tá điền xưa nào của ông để tìm tài liệu.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply