Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 6 Nov 2025

Phần 7

Tầm thù

Bầu trời kéo mây đen nghịt trên đường về, gió thổi chuyển mây từ hướng núi Tà Cú, cơn mưa sắp đổ đến mấy đám ruộng cần nước của ông để ruộng mềm cày vỡ đất, nhưng lòng ông Bảy dửng dưng. Đây là cảm giác vô cùng lạ lùng lần đầu tiên xuất hiện trong đầu ông với những mảnh ruộng mà từ lâu ông coi như da thịt, mồ hôi của mình.

Ông vào nhà ngồi thở dài trên sạp trước khi cơn mưa ào ào đổ xuống. Ông nhìn mưa, ông nhìn ra những mảnh ruộng mờ trong cơn mưa nặng hạt, ông quay vào trong nhìn mông lung lên trần nhà, xoay nghiêng nhìn bàn thở tổ tiên. Ông đứng dậy thắp nhang trên bàn thờ và trở lại chỗ ngồi cũ, hai tay ôm trán. Những sợi tóc bạc như dài ra theo giữa mấy ngón tay da nhăn guộc gầy của ông. Ông Bảy bỗng đập tay xuống sạp, nói một mình:

– Không! Tại sao có chuyện trắng tay vô lý như vậy, còn hơn là ăn cướp!

Nghèo khổ và chân lấm, tay bùn, đổ không biết bao nhiêu mồ hôi trên đồng ruộng của tổ tiên, của ông cha mình để lại từ thuở sinh thời đến nay, ông Bảy không hiểu nổi hai chữ bóc lột mà đám cán bộ chế độ mới dán trên lưng lớp trung nông như ông. Cái đầu mộc mạc của ông bắt làm việc, lời cán bộ xã huyện trong các buổi học tập ở xã nó quỷ quỷ, ma ma, nó mập mờ ẩn hiện trong tâm trí ông:

“Đảng và nhà nước vận động toàn dân bỏ hết ruộng đất vào hợp tác xã đế xã ta góp phần tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên đảng không bắt buộc đồng bào gom ruộng đất vào hợp tác xã… Thái độ của đồng bào sẽ được đảng đánh giá trong tinh thần cách mạng, văn minh, tiến bộ . . . “

Sau mấy hôm học tập đêm ngày, ông Bảy bắt đầu cảm thấy đau đớn, cái đau hằn trên gương mặt hốc hác của ông về viễn ảnh một ngày ông không còn làm chủ mấy đám ruộng, cái đau làm ông mất ngủ, cái đau cũng bắt nguồn từ những buổi học dông dài, nhàm chán, ngồi đến còng cái lưng ở xã để nghe cán bộ nói chuyện. Mọi người phải nghe thuyết giảng và học tập về đề tài: “Công tác vận động quần chúng vào hợp tác xã và tính ưu việt của sản xuất xã hội chủ nghĩa.”

Buổi tối sau cùng, ông Bảy từ xã trở về, ông ho húc hắc, tay cầm một khúc tre làm gậy, khập khểnh về nhà . Ông gọi đứa cháu mang cho ông hộp dầu cù là, sau đó lăn ra sạp gỗ cho thằng cháu đánh lưng ông như mọi hôm. Hai tay ông ôm chiếc gối dưới ngực, chống cằm lo lắng. Ông Bảy nhớ lại những gì cán bộ xã nói trong lớp học tập như sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, hợp tác xã sản xuất, làm chủ tập thể mà lần đầu tiên trong đời ông nghe và hiểu rất mơ hồ. Tuy nhiên, linh tính báo cho ông biết những điều bất thường mất mát ruộng đất chắc chắn sẽ xẩy đến cho ông và bà con trong xã .

Ông thấy tim ông trĩu nặng khi nghĩ đến viễn tượng đen tối mà theo đó, ruộng đất, mồ hôi nước mắt làm việc cả đời người bỗng chốc không cánh mà bay. Ba mẫu ruộng phì nhiêu, một cặp bò, một chiếc xe bò và máy bơm nước, rồi đây chỉ bằng vào miếng giấy lộn gọi là biên bản vào hợp tác xã mà tất cả thi nhau chui vào tay kẻ khác dưới tên đội, dưới tên hợp tác xã nông nghiệp, hay dưới tên gì đó của những kẻ mà đảng tự nhận là đại diện cho nhân dân.

Sống dưới chế độ mới chưa quá một năm, ông Bảy nghe người ta thổi vào tai bà con những chuyện thần kỳ như thể dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng cộng sản, đất nước sẽ hóa vàng, giang sơn sẽ chuyển dịch, càn khôn vũ trụ cũng lung lay . . . “Thằng trời đứng dang một bên. Để cho nông hội đứng lên thay trời” . . . .

Ông chưa hiểu thực tế và ngôn ngữ của những người cộng sản nó khác bà con miền Nam ra sao, nó khả thi ra sao, nó chính xác ra sao, nhưng ông quả thấy lớp người mới cầm quyền xã ông lộng ngôn, vô đạo với đất với trời; nhưng với bản tính cẩn trọng và thầm lặng, ông không bao giờ hở môi. Ông nhắm mắt lim dim suy nghĩ rồi bỗng nhớ ra điều gì như thể ông tìm ra được một tia hy vọng mong manh, sương khói nào đó, dù chỉ là một cái gì mờ ảo mà tay ông chưa chắc nắm tới, nhưng ông nghĩ biết đâu may ra nó giúp ông tìm được một lối thoát, giúp ông giải quyết chuyện đất đai, chuyện đã làm ông mất ngủ mấy đêm nay.

Ở đường cùng, ông Bảy chụp nắm bắt bất cứ sợi giây nào; giây thừng cũng được, giây cước cũng xong; ông muốn thoát khỏi vũng lầy bì bõm không thấy bờ để bước khỏi vũng lầy bằng mọi cách. Ông ngồi bung dậy, thằng cháu bất ngờ tuột khỏi lưng ông, văng cả hộp cù là. Nó sợ, nó khóc mếu máu. Mấy đứa con ông nghe tiếng thằng bé khóc, chạy ra:

– Cái gì vậy Ba? Thằng Tèo làm gì ông nội vậy? Cào xướt da ông nội như hôm qua phải không?

– Không! Không phải Tèo đâu? Tại tao đấy? Dậy đi con! Tí nữa ông Nội mua cho con mấy cây kẹo nhen!

Ông quay qua con ông:

– Tao qua nhà ông Ba Hạ một tí!

– Ba ăn cơm rồi hãy đi!

– Tao còn no! Tối về ăn cũng được!

Quả thật, cái ý nghĩ mình có thể giữ lại được ruộng vườn, vì cán bộ bảo không buộc bà con vào hợp tác xã, đã gieo cho ông một tia hy vọng bồng bềnh, không có gì chắc, song ông cũng mừng đến quên cả đói, và nó còn làm cái đau trên lưng ông biến mất.

Ông đi nhanh qua nhà ông bạn già. Con chó nhà ông Ba Hạ thấy có người chạy thốc vào nhà, nó nhảy chồm lên sủa dữ dội.

– Ông Hạ! ông Hạ! Ra đây tôi nói cái này!

Người bạn già của ông Bảy chống gối đứng dậy, chống gậy ra cửa:

– Cái gì mà gấp gáp vậy ông Bảy?

– Tôi nghĩ là mình có thể giữ lại được ruộng!

– Ủa! Tôi điên đầu về vụ này cả tuần nay? Vô kế khả thi rồi ? Làm sao giữ lại được ruộng đất? Bộ anh không đọc các chính sách nhà nước như đinh đóng cột sao?

– Biết ! Nhưng ra nhà sau tôi nói cho mà nghe !

– Ờ thì mình vào trong, để con Mực ở ngoài nó canh cổng!

Hai ông già chụm đầu vào nhau thì thầm:

– Ông nhớ trong buổi học tập ở xã chiều hôm qua, thằng cán bộ huyện nó nói “đảng không ép ai vào hợp tác xã” . . . ông nhớ không?

– À! Tui có nhớ nó nói như vậy, nhưng ai cũng sợ câu thòng thật đáng sợ. Anh có thấy ai mừng đâu ! Đố cha thằng nào lại muốn mất ruộng đất, mất trâu bò, nhưng mọi người im như thóc, chỉ ngó mặt nhìn nhau ? . . .

Ông Bảy ngó ra cửa sổ, ông sợ một bóng người lạ, một tiếng chó sủa sau hè, ông sợ cả một tiếng động vu vơ ngoài hiên nhà. Cả đời ông, trước đây ông đâu có sợ cái gì, tính ông ngay thẳng, công bằng với mọi người, trong thôn xã vợ chồng gây lộn nhau, người ta mời ông Bảy đến can ngăn, dàn xếp, mọi chuyện êm ấm trở lại, nhưng bây giờ ông lại bí chuyện của riêng ông, ông biết sợ những người của chế độ mới. Ông Bảy nhìn người bạn già như chờ đợi sự chia sẻ, chờ đợi một sự đồng cảm cho ông bớt cô đơn. Ông Bảy ngần ngừ rồi lên tiếng:

– Ừ, thì tôi cũng biết vậy, song tụi nó giấy tờ thì mình cũng giấy tờ! Tôi lại anh ngày mai lên xã trả lại giấy tình nguyện sung ruộng đất vào hợp tác xã. Mình nêu lý do là cán bộ huyện bảo đảng và nhà nước không có bắt buộc vào hợp tác, xem họ nói thế nào. Còn nước còn tát! May ra có thể làm thêm mùa này để có gạo cho gia đinh ăn. Giao hết cho họ rồi tính công điểm lao động để lấy lúa ăn thì được mấy hột!

– Tôi ngại cái bản mặt chầu quậu của thằng xã trưởng quá nhưng anh liều thì tui cũng liều, chứ chả lẽ tôi bỏ anh!

Hôm sau, ông Ba Hạ đến nhà ông Bảy thật sớm, tấm giấy tình nguyện gom ruộng vào hợp tác xã được bỏ cẩn thận trong bao “nylon”. Trên đường đi, hôm nay, ông có cảm giác gần gũi và thương yêu các mảnh ruộng của ông như chưa bao giờ ông cảm thấy trước đây. Ông nhìn những thửa ruộng mầu mỡ do cha ông để lại mà bàn tay ông vun xới mấy chục năm nay. Nó là tấc lưng, nó là mồ hôi, nó là khúc ruột của cả một đời người. Ông nghĩ tới mảnh giấy xã đánh máy sẵn mà ông có trong tay, chỉ cần một chữ ký nguệch ngoạc của ông là cả ruộng, cả bò, cả xe bò đều mọc cánh bay xa. Ông thấy ông Bảy cũng có lý: “Còn nước, còn tát!”

Ông Bảy ra cửa đón ông bạn già . Hai ly trà bốc khói bên hai mái đầu bạc trắng. Ông Bảy kéo hộc bàn lấy ra mảnh giấy tình nguyện vô hợp tác xã để lên bàn. Ông càu nhàu:

– Nó liệt kê cả tài sản mình vào, không thiếu một món, ký vào đây một dòng chữ ký như con trùn bò trên trang giấy trắng thì coi như tay trắng cả nhà . Trên đời này tại sao lại có một thứ cướp của người dân nhanh và kỳ lạ như vậy?

Ông Ba Hạ tiếp lời ông Bảy:

– Bộ anh không nghe người ta nói “30 năm mới có một ngày” sao? Lát nữa lên xã, không chừng mình sẽ bị tụi nó làm khó dễ mệt cầm canh. Tụi nó muốn thi đua làm xã đầu tiên trong huyện thành xã vô hợp tác xã hội chủ nghĩa!

Ông Bảy gọi người nhà dọn cơm. Mâm cơm võn vẹn chỉ có một tô cơm độn khoai mì, một dĩa rau lang luộc, dĩa nước mắm và mấy con cá khô. Ông Bảy không quên cúi xuống gầm bàn lôi ra một xị đế. Những ngụm rượu ấm bụng như theo máu chuyển sự can đảm lên đầu hai ông. Hai ông là những người đầu tiên hiếm hoi trong xã dám công khai trả phiếu vào hợp tác xã cho “chính quyền cách mạng xã” .

Ông Bảy và ông Ba Hạ không hẹn mà cùng lúc đều nghĩ đến tên xã trưởng Tám Thẹo, tên chăn trâu cho hai ông cách đây mười mấy năm, bỏ trâu theo Việt cộng, rồi giờ này chễm chệ trên ghế cầm quyền hét ra lửa, coi dân làng và hai ông chủ cũ như người xa lạ. Hắn xấc láo, mở miệng là bác, là đảng; các thứ gọi là “cách mạng, bác đảng” được hắn dùng như một đạo linh phù ghìm sắn trong tay, sẵn sàng tung mũ CIA và “ngụy phản động” lên đầu bất cứ ai nếu hắn muốn. Tám Thẹo mà ra tay thì dường như không ai thoát khỏi “trại tù cải tạo” mà ngày về lại gia đình như sương như khói ở cuối biển, đầu sông.

Không có bản án nào cả, công lý của nhà cầm quyền mới là quyền của đảng, là quyền tối hậu, không cần tòa án, không cần quan tòa, không cần luật sư biện hộ mà chỉ cần cái báo cáo của xã với chữ ký như con trùn mắc mưa của Tám Thẹo là nạn nhân vô tội phải chui vào tù. Vô cùng đơn giản!

Chưa hết, ngoài việc có thể tán gia, bại sản, tù đày vì tay Tám Thẹo, sau khi ra khỏi tù cải tạo, muốn về lại địa phương với vợ con thì cũng phải có ý kiến của Tám Thẹo. Tám Thẹo như một thứ tiểu vương gian ác. Ông Bảy và ông Ba Hạ bị ám ảnh trong đầu một Tám Thẹo chăn trâu ngày xưa chân chất, hiền lành và một Tám Thẹo xã trưởng của “cách mạng” ngày nay hợm mình, thâm độc. Ông Bảy ực một ngụm rượu cuối cùng rồi đứng dậy:

– Kệ cha nó! Tụi mình già rồi! Tụi mình liều thử một phát xem sao! Đi anh!

Tám Thẹo ngồi chồm hỗm trên một chiếc ghế đẩu mà bà con gọi là ngồi theo thế nước lụt, đầu hắn nghiêng một bên, miệng khi méo khi tròn cố viết mấy dòng chữ cua bò trên tờ đơn của nông dân. Hắn ngẩng đầu lên, đẩy tờ giấy sang một bên. Thấy hai ông già đứng trước cửa trụ sở xã, làm như không quen biết, hắn hất đầu cộc lốc:

– Gì đó?

Ông Ba Hạ hơi ngạc nhiên về thái độ khác thường của thằng chăn bò của ông khi xưa, ông từ tốn, rón rén bước vài bước về bàn giấy của Tám Thẹo:

– Tôi và anh Bảy có ít việc định nhờ chú !

Tám Thẹo bỏ hai chân xuống đất, đạp chân lên hai chiếc dép râu, cất giọng một cách trịnh trọng:

– Tôi bây giờ là đại diện cho nhà nước, cho cách mạng, cho đảng, ông nên nhớ tôi không còn là người ở của ông khi xưa, tôi đề nghị lần sau ông nói cho đúng khi đến đây gặp tôi làm việc. Tôi là chủ tịch xã ! Làm việc cho cách mạng phải “có hệ thống, có trật tự”, không thể xưng hô linh tinh, phải nghiêm túc mới làm việc được !

Tám Thẹo ngưng một chút, căng giọng hỏi:

– Hai ông muốn nhờ chuyện gì?

Cả ông Bảy và ông ba Hạ không hẹn mà cùng móc trong lưng quần 2 bọc “nylon”, trong đó có hai cái đơn tình nguyện góp ruộng và sức kéo vào hợp tác xã. Đó là hai tờ giấy chưa điền chi tiết và ký tên. Ông Bảy lên tiếng:

– Trình ông xã trưởng! Chiếu tinh thần các buổi học tập tuần qua, trong đó các cán bộ xã và huyện có vận động nông dân xã ta vô hợp tác xã nông nghiệp, nhưng cũng có nói là không bắt buộc. Trong tinh thần đó, chúng tôi xin hoãn lại việc vô hợp tác, và xin ở ngoài hợp tác để làm ăn vài ba năm nữa rồi sẽ tính…

Tám Thẹo khá bất ngờ, bỏ ghế đứng dậy:

– Ông Bảy nói sao? Bộ ông giỡn hả? Ông muốn chống chính sách đảng hả? Tôi đã báo cáo lên huyện là xã ta đã “hồ hởi phấn khởi” tình nguyện vô hợp tác xã một trăm phần trăm rồi! Ai xúi hai ông phá chính sách của đảng và nhà nước?

– Xin ông xã trưởng đừng nóng! Chúng tôi chỉ xin làm thêm một vài mùa lúa ngoài hợp tác để có lúa cho gia đình sống. Việc này, trong bữa học tập, cán bộ huyện có nói là không ép buộc gấp rút, chắc ông xã trưởng còn nhớ!

Thật vậy, chính Tám Thẹo cũng nghe và biết điều đó trong buổi học tập, nhưng Tám Thẹo không thấy ai có phản ứng gì. Tất cả đám đông im như thỏ con trước miệng cọp, Tám Thẹo chắc như bắp là trong không khí bừng bừng của “cách mạng”, đố có ông nông dân “gốc ngụy” nào dám lội ngược dòng. Tám Thẹo vẻ mặt hầm hầm hất mặt nhìn hai ông già, và hắn nghĩ bụng: “Hai lão già này có con, có rễ là quân ngụy trước 75, đang còn nằm trong trại cải tạo của cách mạng, lẽ ra hai lão phải là những người ngoan ngoãn xung phong nộp ruộng đất vô hợp tác xã, không ngờ hai lão có vẻ còn ngoan cố, cứng đầu..” Nghĩ như vậy, nhưng Tám Thẹo dường như có vẻ đuối lý, hắn vớt vát:

– Hai ông là trường hợp đặc biệt duy nhất gây khó khăn cho chính sách nhà nước. Hai ông muốn trả lại đơn thì để đơn trên bàn, tôi sẽ trình trên để lãnh đạo xử lý và làm việc với hai ông.

Tin hai ông Bảy và Ba Hạ giữ lại ruộng đất và trả đơn gia nhập cho xã chẳng mấy chốc lan nhanh khắp thôn xã. Và như một phản ứng giây chuyền lan rất nhanh, những người chưa ký tên tình nguyện vô hợp tác xã thì thừa cơ hội lờ luôn, những người đã lỡ ký đơn nạp cho xã rồi thì bức đầu bức tóc. Dù vậy, cho đến thời kỳ hết hạn mười ngày kể từ ngày kết thúc buổi học tập và vận động, xã chỉ nhận không tới 50 phần trăm đơn vào hợp tác, xem ra, toàn là những phần ruộng xấu mà nông dân cho vào hợp tác xã như thể “thí cô hồn” cho đảng và nhà nước.

Tám Thẹo cảm thấy bị xúc phạm, đây là thử thách đầu tiên kể từ ngay hắn bỏ trâu “đi làm cách mạng”. Hắn cảm thấy cái đầu ngày xưa chỉ biết chăn bò, cày ruộng, tá, dí, nay ngồi trên ghế xã trướng mà bị đông cứng, làm sao hắn không tức; làm sao hắn có thể báo cáo lên huyện cho rành rẽ , cho xuôi dòng chữ nghĩa! Hắn đã từng tự hào hắn là một du kích diệt Mỹ anh hùng thuở trước, nay được làm chủ tịch một xã anh hùng thì báo cáo về sự trì trệ hay thất bại của chiến dịch vận động nông dân vô hợp tác xã là điều Tám Thẹo khó mà chịu nổi. Nói dân xã mình phản động cũng không dám, đổ thừa cuộc vận động “không đạt yêu cầu” cũng không xong, trút trách nhiệm lên đầu các cán bộ huyện thì Tám Thẹo có gan trời cũng không dám phóng bút.

Chữ nghĩa của Tám Thẹo chỉ tròn trong một muỗng canh như cái đầu hạn hẹp trí thông minh của hắn. Trong cái đầu mù tịt chữ nghĩa của Tám Thẹo, bỗng lóe sáng một con đường thoát: “Đổ hết lên đầu ông Bảy và ông Ba Hạ khi huyện ủy mở khóa họp đợt hai để giải quyết những sự cố bất thường trì trệ của xã Tám Thẹo.”

Tám Thẹo không còn cảm thấy cô đơn khi hay tin “đồng chí” bí thư xã Ba Càng của hắn từ Hà Nội về sau thời gian về thăm nhà ngoài Bắc. Nghe nói Ba Càng là bí danh của tên bộ đội “sinh Bắc tử Nam” chuyên vác chân ba càng cho cây đại liên Đông Đức trong đoàn quân miền Bắc đi B, nhưng nhờ phúc đức gì đó của ông bà hắn mà hắn không chết ở chiến trường miền Nam, hắn nay là xếp Tám Thẹo. Tám Thẹo tổ chức một bữa nhậu thịt chó đón Ba Càng, và hắn tường thuật tất cả những khó khăn về việc vận động đồng bào vô hợp tác xã của xã hắn cho Ba Càng nghe. Ba Càng vô hết cả xị đế nhưng vẫn rất tỉnh, hắn nghiêng đầu sang Tám thẹo, nói nhỏ:

– Đồng chí đừng lo! Tôi đã có phương án giải quyết vấn đề. Mai tôi lên huyện làm việc!

Bẵng đi một tuần, xã cho người vát loa gọi đồng bào dự buổi học tập khẩn cấp đợt nhì trong chiến dịch vận động nông dân đem ruộng đất vô hợp tác xã. Lần này, các cán bộ cấp huyện về dự khá đông. Công an xã huyện chìm nổi ẩn hiện trong đám đông lô nhô chật hội trường. Và trong đám đông đó dĩ nhiên có mặt cả ông Bảy và ông Ba Hạ. Phần đầu chương trình buổi họp, cán bộ nông nghiệp huyện cũng đọc lại các văn thư chỉ đạo từ tỉnh, huyện đưa xuống, nhắc lại nhiều lần. Các cán bộ cộng sản tin rồi ra 100 phần trăm nông dân xã sẽ giác ngộ, sẽ đổ hết ruộng đất vào làm chung trong hợp tác xã nông nghiệp, để tỉnh, huyện mở đầu một thời đại cách mạng mới, văn minh, tiến bộ ở miền Nam trong chính sách hợp tác xã nông nghiệp xã hội chủ nghĩa..

Buổi chiều bắt đầu trở lại với phần thảo luận và giải đáp thắc mắc. Loa nhắc đồng bào thể hiện quyền làm chủ tập thể bằng cách mạnh dạn nêu câu hỏi hay thắc mắc để được “trên” giải đáp hay giải quyết. Loa gọi muốn vỡ loa, đồng bào nông dân chỉ ngáp và thủ khẩu như bình. Khi tiếng loa dứt, không khí trở nên im lặng, nặng nề . . .

Trên bàn chủ tọa, bí thư xã Ba Càng gốc từ miền Bắc, đứng lên xin phát biểu ý kiến, không khí hội trường như căng cứng, chờ đợi những điều bí thư xã phát biểu. Có lẽ ông Bảy và ông Ba Hạ là hai người sốt ruột nhất chờ đợi câu phát biểu của Ba Càng. Không khí nồng bức, cả trăm con mắt chăm chăm nhìn vào mặt Ba Càng, người ta chỉ nghe tiếng quạt lá phe phẩy rột rạc trong đám đông. Ba Càng quay về bàn chủ tọa và phát biểu:

– Kính thưa đồng chí chủ tọa! Xã chúng tôi đã thi hành và vận động ốết các chỉ thị của trên, nhưng dù chúng tôi dù đã cố gắng tối đa, số bà con gom ruộng đất vào hợp tác xã cũng không tới con số “đạt yêu cầu” . Quá trình làm việc và kết quả tiêu cực sau cuộc vận động đợt một đã buộc chúng tôi phải xét lại toàn bộ vấn đề. Song nghĩ lại, chúng tôi nhận ra rằng kết quả tiêu cực trong địa bàn. xã chúng tôi một phần cũng bắt nguồn từ các lời phát biểu và văn thư thiếu sức ép của trên . . .

Không khí bỗng như chuyển động trên từng gương mặt mọi người. Trên bàn chủ tọa, một cán bộ cấp huyện đứng bật dậy như một cái lò xo:

– Đồng chí nói sao? Thế là thế nào? Yêu cầu đồng chí khẩn trương nói rõ !

Ba Càng cúi xuống uống một ngụm nước, xong rồi hắn nhìn lên mái tranh hội trường, rồi nhìn một lượt khắp đám đông, dừng lại chỗ hai ông già. Sau cùng, hắn quay qua bàn chủ tọa:

– Kính thưa quý đồng chí kính mến, chính một đồng chí trên huyện đã tuyên bố trước đồng bào rằng đảng và nhà nước không bắt buộc bà con vô hợp tác xã trong buổi học tập trước, nhưng trong các văn thư liên hệ đến cuộc vận động nhân dân lại không có điều nào viết như vậy. Từ vấn đề cơ bản đó, nhân dân trở nên tiêu cực, không tình nguyện theo chính sách của nhà nước do đảng chỉ đạo. Xã chúng tôi là trường hợp điển hình. Vậy xin quý đồng chí lãnh đạo chỉ thị phương án tốt để chúng tôi hoàn thành tốt công tác do trên giao!

Đây là lời phát biểu làm bà con nông dân nặng ngực, trong lúc trên bàn chủ tọa, các cán bộ huyện nghiêng đầu thì thầm trao đổi ý kiến để tìm câu trả lời cụ thể có tác dụng. Người ta không hiểu tại sao bí thư Ba Càng lại tung ra một câu phát biểu vừa hóc búa, vừa quy trách vào cấp trên của Ba Càng và Tám Thẹo. Khi Ba Càng ngồi xuống, những giây phút nặng nề u ám trôi lềnh bềnh trong hội trường như chờ một cơn gió.

Gần mười phút đồng hồ ngột ngạt trôi qua mà bàn chủ tọa không ai lên tiếng. Để giải tỏa không khí có vẻ căng đó một cán bộ huyện đứng lên tuyên bố cho đồng bào nghỉ giải lao nửa giờ. Ngay sau đó, cả hội trường xôn xao, xúm nhau từng nhóm bàn tán chuyện ký đơn hay không ký đơn, chuyện câu hỏi của bí thư xã, chuyện câu trả lời của cán bộ huyện là câu gì. Và trong đám đông ẩn hiện những gương mặt âu lo, những nụ cười cay đắng, những phân vân về một tướng lai u ám của đời người, và trên những thửa ruộng vườn có chủ dù không cánh mà có thể bay xa kể từ hôm nay.

Buổi học tập bắt đầu trở lại. Khi mọi người ngồi vào chỗ, một cán bộ huyện đứng dậy. Mọi người im lặng chờ đợi Người ta chờ lợi một câu trả lời mà từng lời, từng câu, từng chữ của hắn có thể là những cộc mốc cắm như đinh đóng cột lên phần đất của ông bà họ để lại . Đất là đất mà họ đã làm chủ hàng mấy đời, mấy mươi năm chứ nào phải đất họ cướp giật của ai.

Ông Bảy và ông Ba Hạ hồi hộp, suýt nữa giật mình khi tên cán bộ huyện rời bàn chủ tọa và bước ra gần đám đông. Câu trả lời của hắn chính là chìa khóa, và gần như là quyết định sau cùng của chiến dịch vận động gom ruộng đất vào hợp tác xã. Hắn nhìn bao quát hết mọi người, gằn giọng bằng một giọng Bắc lạnh lùng.

– Tôi xin được thay mặt đảng và huyện trả lời đồng chí Ba Càng và đồng bào có mặt trong buổi họp hôm nay. Thưa các đồng chí! Thưa đồng bào! Cuộc chiến đấu thần thánh của đảng ta và nhân dân ta 30 năm qua đã thành công rực rỡ. Chúng ta đã giải phóng miền Nam, đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào, song chúng ta vẫn còn nhiều kẻ thù ẩn kín trong quần chúng chưa đánh gục được. Dưới ánh sáng quang vinh của chủ nghĩa Mác Lê, đảng ta coi kẻ thù của nhân dân là những đối tượng ngoan cố, đi sai đường nhà nước, hay không hưởng ứng đường lối đảng. Đảng là đuốc sáng, là chân lý, đảng không bao giờ sai lầm. Qua cuộc vận động vào hợp tác xã nắm bắt những tên và hộ nhân dân trong danh sách xong, các đồng chí có thể biết ai là kẻ thù của nhân dân, ai là người giác ngộ cách mạng.. .

Hắn gằn giọng, chậm và chắc nịch; giọng hắn như một lưỡi lê cắm phập vào thân cây chuối. Cả hai ông Ba Hạ và ông Bảy rùng mình, một luồng cảm giác lạnh chạy dài theo cột sống lưng, một thứ cảm giác lạnh người chưa bao giờ hai ông có trong suốt đời người. Hắn làm thinh một chút như chờ câu nói của mình thẩm nhập vào đầu mỗi người, thể như người thợ săn chờ liều thuốc độc của mũi tên phát tán trên thân thể con mồi, hắn nói tiếp.

– Các đồng chí nên nhớ kỹ rằng số kẻ thù của nhân dân và số nông dân giác ngộ cách mạng sẽ được minh chứng, hiện rõ qua báo cáo của các đồng chí trong danh sách nông dân vô và không vô hợp tác xã . Đây là thời điểm nhân dân, cách mạng, đảng và nhà nước nhận diện kẻ thù rõ nét nhất ! Các đồng chí nghe rõ chưa?

Những câu kết sau cùng trong phần trả lời của tên bí thư huyện như một quả bom nổ giữa đám đông, như một khối nước lạnh giội lên những cái đầu lớp nông dân đang phập phồng lo sợ trước một tên bạo chúa được quyền sinh sát trên các mảnh vườn rau ruộng lúa của mình, kể cả mạng sống và tương lai của đám con cháu nông dân bị cho là phản động. Lớp nông dân ngồi bên dưới lặng dính xuống ghế như trời trồng, vì họ thừa hiểu bí thư huyện nói cái gì và muốn cái gì. Một bản án tử hình cho đất hay một bản án tử hình cho người? Dường như cả hai!

Buổi học tập chấm dứt với những đợt bàng hoàng, lo sợ trong lòng mọi người. Mọi người ra về, tuy cũng con đường đó, cũng bờ ruộng đó, cũng con mương đó họ đã đi mòn gót chân từ thời thơ ấu đến thuở bạc đầu, nhưng hai chân ông Bảy và ông Ba Hạ lại cảm thấy xa lạ, nặng nề trong từng bước đi trên từng tấc đất ngày xưa của mình.

Tuần lễ kế tiếp, xã nhận hầu hết đơn tình nguyện gom ruộng đất vào hợp tác xã, câu nói “nhận diện kẻ thù” của tên bí thư huyện có tác động như một phép mầu “di sơn đảo hải” biến ruộng đất riêng của thiên hạ thành ruộng chung của hợp tác xã dưới sự chỉ đạo của nhà nước cộng sản. Tám Thẹo mở tập hồ sơ đơn tình nguyện, cẩn thận đếm từng mảnh giấy, hắn ngạc nhiên không thấy tên ông Bảy và ông Ba Hạ, hắn xếp tập hồ sơ, gọi tên du kích xã:

– Đồng chí mời hai ông Ba Hạ và ông Bảy ở thôn dưới lên xã gấp cho tôi làm việc!

– Báo cáo đồng chí xã trưởng! Tôi ở gần nhà ông Ba Hạ, tôi biết ông Ba Hạ bịnh liệt giường cả tuần nay sau bữa học tập tuần rồi. Sáng nay người nhà đưa ổng xuống nhà thương rồi !

– Vậy sao? Thôi thì mời ông Bảy cho tôi !

Tên du kích vát AK xuống nhà ông Bảy. Đang ngồi bên bình trà suy nghĩ mông lung, thấy tên du kích từ bờ ruộng đi vào cổng nhà ông, ông linh cảm có một điều gì vô cùng bất thường. Ông đứng dậy bước ra khỏi nhà, chưa kịp hỏi thì tên du kích đã nói trước:

– Ông xã trưởng biểu tôi mời bác Bảy lên xã làm việc!

– Chuyện gì và chừng nào?

– Ông xã nói là ngay bây giờ, và chuyện gì con không biết !

– Ngay bây giờ? Thôi mày về xã đi, để tao thay đồ cái đã !

– Dạ !

Ông Bảy lên xã với hai tay không. Tám Thẹo vừa thấy ông đã hất hàm hỏi:

– Sao? ông Bảy? Ông còn muốn đứng ngoài hợp tác xã nữa hay chờ xã gởi ông lên tỉnh, lên huyện làm việc?

– Cho tôi ngồi xuống ghế được không?

– Được! Xong rồi trả lời tôi đi !

Ông Bảy trầm tĩnh, nói bằng một giọng cương quyết:

– Tôi già rồi! Ôm ruộng của ông bà làm thì cũng chả sống được bao lâu. Tôi không ký đơn từ gì hếy! Ruộng đất của ông bà, cha mẹ tôi đó, các ông muốn lấy thì lấy! Tuần sau tôi và mấy đứa con đánh xe bò lên vùng kinh tế mới phá rẫy làm ăn. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi bỏ ruộng!

Tám Thẹo đứng dậy, đập bàn tay lên bàn:

– Ông Bảy mà đi kinh tế mới cũng phải có phép của xã, có lệnh của tôi ! Còn cặp bò, xe bò, mấy cái cày và bừa, và luôn cái máy bơm nước ruộng . . . cần cho hợp tác nông nghiệp cũng không được quyền đem ra khỏi xã !

Nói xong, mặt Tám Thẹo đỏ lên bừng bừng với cảm giác vừa giận vừa chiến thắng; chiến thắng của một tên từng chăn trâu, chăn bò, dậm ruộng cho ông Bảy mấy mươi năm trước, nay thành ông xã trưởng “cách mạng” quyền uy phun ra khói, khạc ra lửa. Ông Bảy bỏ ra về, không màng nói một lời từ giả Tám Thẹo. Ông khinh Tám Thẹo ra mặt. Ông như một kẻ sĩ chân chính chân lấm tay bùn ngẩng mặt cao, đứng thẳng người trước nghịch cảnh, trước bạo lực. Tám Thẹo hơi bất ngờ trước thái độ quyết liệt, bất cần của ông Bảy, nhưng hắn làm thinh.

Về đến nhà, ông sai thằng cháu ra quán mua hai xị đế, đêm đó ông say lướt khướt, ông say nhưng trong tai ông cứ văng vẳng câu thằng bí thư huyện: “Đây là thời điểm nhân dân, cách mạng, đảng và nhà nước nhận diện kẻ thù rõ nét nhất! Các đồng chí nghe rõ chưa ?” Độ nặng của đế không độc và nặng bằng câu nói của tên cán bộ cộng sản; vì cuối buổi học tập, chính nó đã làm cho khung trời như vỡ tan, nông dân đầy nghẹt hội trường choáng váng, loạng choạng, run rẩy trên đường về nhà.

Cơn say đã không làm nguôi nỗi tuyệt vọng đầy ắp những uất hận trong lòng ông. Ông thực sự nhận ra ông là một trong những nông dân bị nhà nước mới coi là kẻ thù ngoan cố chống nhà nước, chống cách mạng, chỉ vì chuyện ông từ chối gom ruộng đất vô hợp tác xã. Họ đã nhận diện ông như một thứ đối tượng họ cần triệt tiêu trên con đường máu xương, mồ hôi, nước mắt của muôn dân để “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”.

Ông Bảy nốc tiếp phần đế còn lại trong chai, rồi nằm xuống sạp gụ, và thiếp đi lúc nào không hay. Ông có cảm tưởng mình như đã chết từ ngày hôm nay!

Diver cheated death in North Sea miracle

bbc.com

6 April 2019

Debbie Jackson

BBC Scotland

Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Đây là câu chuyện có thật xảy ra bên Anh về một người thợ lặn suýt chết dưới độ sâu khoảng 300 ft (100m) được dựng thành film và đưa vào Netflix rất lôi cuốn, xin mời bạn đọc theo dõi qua bản tiếng Anh của BBC.

Chris Lemons’ story has been made into a documentary film

A North Sea diver cheated death after a catastrophic computer failure saw his boat drift away and his oxygen supply cut off.

Chris Lemons lay almost 100m (about 300ft) under the surface, resigned to ending his days in the dark water.

But the miracle of his colleagues’ superhuman efforts to save him, and his body lasting 35 minutes on a six-minute emergency air tank, saw him not only living to resume his diving job and marry his fiancée, but to suffer no ill effects of a lack of oxygen.

His extraordinary true story has been made into a documentary film, Last Breath.

Edinburgh-born Chris, who lives near Mallaig in the Highlands, is a saturation diver. This is a specialized type of diving which reduces the risk of decompression sickness due to use of a mixture of oxygen and helium.

Chris worked in the North Sea, diving from his ship the Bibby Topaz in a diving bell, repairing oil rig structures.

Chris Lemons Chris Lemons and his wife Morag Martin Chris Lemons

Chris Lemons and his wife Morag Martin

But what started as a normal day in September 2012 ended in a drama no-one thought Chris would survive.

Chris, with colleagues Dave Youasa and Duncan Allcock, were lowered 91m in their diving bell to fix a pipe on the sea bed at the Huntington Oil Field east of Peterhead in Aberdeenshire.

The ship was enduring 35-knot winds but Chris says that was standard weather for that time of year.

‘Get out of the structure’

Chris was in the middle of the repair when he heard an alarm.

He told BBC Scotland news: “We had a constant line of communication with dive supervisor Craig – up in the ship – through an earpiece in our helmets. “The first and only indication was to hear the alarm sounding in dive control, which was not unusual because they test them. “But it was quickly followed by Craig asking us to get out of the structure, get on top of it and get back to the diving bell as quickly as we could and we could tell from the urgency in his voice that this wasn’t a drill, this was something serious.”

Last Breath Footage from the rescue Last Breath     

Last Breath features real and reconstructed footage from the North Sea drama

What Chris and Duncan didn’t know was that the ship was moving away. The computer which kept the ship in position had failed.

What happened next was nothing short of a disaster.

Chris’s umbilical cable – a tether back to the diving bell and the ship, which provided the divers with breathing gas, hot water to keep the suits warm in the three-degree sea as well as light and electricity – became snagged on part of the metal structure.

Straight away he knew he was in serious trouble.

I had about five, maybe six minutes of gas to sustain me which wasn’t long enough

He said: “You had 8,000 tons of boat essentially pulling against you and I was basically an anchor to that in the bottom and there was only going to be one winner in that circumstance.

“The umbilical provides us with everything. The only thing we carry in addition to that is a bail-out bottle which is a set of normal diving cylinders on your back with emergency gas in them, but because of the depth you’re working at you use that extremely quickly so I estimated I had about five, maybe six minutes of gas to sustain me which it turned out wasn’t long enough.”

His colleagues could not give him any slack – the umbilical was pulled so tight it was bending a stainless-steel rack off the wall in the diving bell.

Last Breath Chris lay unconscious on the structure he was working on when his gas bottles ran out

Chris recalled: “First, the communications cable snapped. Then the gas hose stretched to the point I had nothing to breathe. I opened the supply on my back. This happened within about 30 seconds.

“Soon after that the umbilical snapped like a shotgun going off and I fell down to the sea bed. Nearly 100m (approx. 300ft) down in absolute darkness at two in the morning. I managed to find the structure we had been working on and found a way to climb up on top of that.”

But the diving bell wasn’t there and Chris began to calculate he had already used up about two or three minutes of gas. ‘This is where I would end my days’

The chances of rescue in that timeframe were almost non-existent.

Chris said: “I realized very quickly that the end was nigh. I was on a countdown clock and it was counting very fast.”

Last Breath, Chris lay unconscious on the structure he was working on. Last Breath

Chris’s colleagues thought they were recovering his body when they finally reached him

The realization saw a calmness descend upon Chris as he accepted his fate and blacked out.

He remembered: “I think once I accepted there was no hope of survival, I was powerless to do anything to save myself. A quiet resignation came over me.

“I remember it being a period of great sadness really, of disbelief. How I could find myself in this dark sad horrible place and this is where I would end my days. I thought of everybody at home and the chaos I would cause.”

His colleagues put in a superhuman effort to locate him, believing they were coming down to recover a body.

Dave hauled him to the diving bell where his colleague Duncan gave him two breaths. Miraculously – he spluttered to life.

It was 35 minutes after he had turned on his emergency supply of air.

With nothing to breathe for that long, Chris could easily have suffered brain damage. But he was fine.

Morag and Chris

Morag is grateful for Chris’s rescue: “I came ridiculously close to losing him and being robbed of the life we were going to have”

He said: “I assumed it was the extreme cold of the water that slowed my functions down. But the gas we breathe has a high concentration of oxygen which saturated my tissues and cells to allow me to survive.”

Chris was back in the sea with his team three weeks later and married fiancée Morag Martin a few months later.

And six years later, Morag is still grateful to Dave and Duncan.

She said: “My stomach still churns to hear the story. I came ridiculously close to losing him and being robbed of the life we were going to have.

“I’m extremely grateful to both of them.”

Last Breath is in cinemas from Friday.

DIVER cheated DEATH – Chris Lemons | Cave Diving Gone Wrong

Trên đây là một phần của film nói trên trên Youtube, nếu bạn không có trương mục Netflix để xem film này có thể coi tạm trên Youtube.

Hitler và lò thiêu sống dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Chương 2

Như đã định trước, sáng thứ hai, một viên cảnh sát đến kiếm tôi. Mặc dù chờ đợi trước, nhưng nghe tiếng giày ống dừng lại đột ngột trước cửa, tiếng chìa khóa xoay trong ổ, rồi cửa mở, và tiếng gọi tên, tất cả những âm thanh đó làm ta rợn óc. Do bản năng, ai cũng thường lùi sát vào tường.

Một chiếc xe đưa tù đi lại ngày đêm đã chở chúng tôi đến trường y tế, và đối với ngày đầu tiên nầy, vì chúng tôi quá đông, cuộc thẩm vấn sẽ kéo dài suốt ngày, tất nhiên là chẳng được ăn uống gì. Nhưng mọi chuyện đều trôi chẩy. Cố nhiên là đã có vụ dàn cảnh: tên giết người tỏ vẻ lơ đễnh phì phà điếu thuốc và lúc lắc chiếc gậy cao su, trong khi đồng nghiệp của y ngồi đánh máy các lời thú nhận”.

Thật là một lợi điểm vô giá nếu biết tiếng Đức. Trong trường hợp như thế, viên thông ngôn tự động chống lại ta. Đối với tôi, dẫn dải các người hỏi cung đi khắp nước Pháp là chuyện dễ dàng. Vì họ chẳng tìm thấy trên người tôi một tài liệu buộc tội nào, tôi tha hồ vẽ vời, và buổi tối trở lại phòng giam, bằng lòng với công chuyện trong ngày. Từ 48 giờ qua, đây là lần đầu tiên tôi ăn súp ngấu nghiến.

Sáng hôm sau, cuộc thẩm vấn tiếp tục, vẫn gặp may mắn như hôm qua. Biết tiếng Đức thật có phước thay.

Đến lần thứ ba, tôi ký vào cung từ.

– Tốt, bây giờ người ta sẽ kiểm nhận lại tất cả các lời khai nầy, viên thanh tra báo cho tôi biết.

Sau một tuần, thêm một người thứ tư nữa được đưa vào phòng chúng tôi: Paul, 21 tuổi, khuynh hướng De Gaulle. Anh ta báo tin Kiev đã được giải phóng; về phía Tây, vẫn chẳng có gì.

Thêm một người mới là có chuyện phiền phức vì vấn đề thiếu chỗ, nhưng rồi ai nấy cũng quen, anh ta kể cho chúng tôi nghe cuộc đời của anh, câu chuyện anh bị bắt, giúp chúng tôi trải qua những giờ dễ chịu.

Lúc nầy tôi mới lo, vì cuộc điều tra chắc sắp kết thúc và chắc họ sẽ đến kiếm tôi lại. Vì tất cả lời khai đều giả hay gần như thế, tôi phỏng tính trước hình thức điều chỉnh lời khai sao cho không ta hại quá.

Nhưng không, chẳng có gì xảy đến. Buổi sáng, khi cửa mở, lo âu biết bao, nhưng người ta chỉ gọi tù nhân thứ tư. Một đêm, anh ta trở về, gần như là vui vẻ: “Họ điên đầu ra rồi, họ bắt loạn cả lên vì bất cứ lý do gì và như thế là các cuộc điều tra phải chậm”. Tôi nghe câu nầy với tất cả lạc thú, và trong đêm, tôi ngủ bình yên.

Tháng 11 sắp chấm dứt và chúng tôi vẫn được để yên. Với một miếng bìa, chúng tôi chơi cờ tướng hoặc cờ đam lại thêm được một trò giải trí nữa. Về trò giải trí thì hiếm hoi quá! Chẳng có thư từ, quà cáp, chẳng có sách báo đọc, chẳng có thuốc lá, chẳng có gì cả! Chúng tôi bị đối xử như súc vật.

Chuyện hấp dẫn nhất là trò điện thoại. Tin tức được truyền qua các vách tường dày của các phòng giam bằng một hòn sỏi lượm được buổi sáng. Phương pháp rất giản dị nhưng dài dòng: A – một tiếng gõ, B – hai tiếng, cho đến Z – 25 tiếng, chữ W không kể.

Sau nhiều tiếng gõ, những chữ rồi những câu thành hình. Người ta viết tin bằng một cây viết chì được dấu kỹ và sau mỗi lần tin tức được tẩy đi.

Thường thường khi một tù nhân mới đến một phòng giam nào đó với tin sốt dẽo, tiếng gõ lách cách bắt đầu từ tầng nầy đến tầng khác, từ phòng nầy qua phòng kia. Biết bao là tin thất thiệt và biết bao là ảo mộng!

Một buổi sáng, toàn thể bị chấn động như một tiếng nổ mạnh. Chúng tôi trở lên phòng giam được một lúc, tiếng gõ bắt đầu, ông chủ tạp hóa không bao giờ cho ai mượn mẩu bút chì, đảm trách phần ghi chép. Ông ta sửa lại kính cận và bắt đầu làm việc:

“Đổ bộ ở Gênes 1, tiến quân vũ bão ở Ba-Lan

Làm sao có thể tả được nỗi sung sướng của chúng tôi! Như vậy là cuộc đổ bộ đã xảy đến rồi, đây có lẽ là phòng tuyến thứ nhì, sau cùng người ta sắp thấy hồi chung cuộc. Tiếng gõ tiếp tục vì mọi người đều đánh đi tin vui và ta có thể hình dung niềm phấn khởi lan tràn khắp nơi. Buổi tối, giọng một phụ nữ la to hơn thường lệ: “Chào các ông” một người nào đó trả lời: “Chào các bà”. Một người khác vẫn huýt sáo miệng một bản dân ca và có tiếng hét Vạn tuế ông Râu (Slaline), ta sắp gặp họ rồi” đó là dấu hiệu đi ngủ, nhưng đêm đó, không ai chợp mắt được. Tiếng động nặng nề và đều đặn của máy bay Đồng Minh hay hàng ngày trên đầu chúng tôi đã làm chúng tôi tỉnh ngủ.

– Chúng bay về phía Nam, – Paul la lớn. Các anh thấy thông tin đó đúng, chúng yểm trợ bộ binh đổ bộ tại Gênes.

Và rồi chúng tôi lại đi vào thế giới suy đoán, nhưng có lẽ chúng tôi hơi ồn ào, vì có tiếng hừ tiếp theo là tiếng gậy đập vào cửa.

Sáng hôm sau, lúc rửa mặt, không ai có thể xác nhận bản tin hay ít ra là nói cho biết tin từ đâu đến. Niềm phấn khởi của chúng tôi vốn không bao giờ cố định, lại bị rơi rụng một lần nữa, và đến chiều hôm đó, trở thành tệ hại.

Một tù nhân thứ năm được đưa vào phòng chúng tôi, một thanh niên công giáo nhiệt tâm tại Roanne. Anh ta loan báo là tất cả những điều chúng tôi biết điều sai lạc. Không có một bước tiến nào tại Ý đáng được thông báo, và ở phía Đông, một cuộc phản công của Đức đã cho phép họ lấy lại Jitomir và họ đang tiến về Kiev.

– Tôi rất buồn khi nói với các anh như thế, nhưng đó là sự thật.

Các cuộc chuyện trò tắt ngủm, trò chơi bị buông trôi và mỗi người chìm đắm trong suy tư. Tư tưởng của tôi đột nhiên tập trung vào cuộc điều tra kiểm chứng cung từ của tôi. Những ý tưởng đó đều đặn đến trong trí tôi. Cuộc điều tra chắc đã hoàn tất; thế tại sao họ chưa đến kiếm tôi? hay là họ đã liệt tôi vào hàng tử tội chờ hành hình. Một ngày nào đó tôi sẽ được chuyển lên các phòng giam trên cao, những phòng giam dành cho các tử tội. Và rồi tôi sẽ bị đem bắn bỏ. Trên báo chí, lại xuất hiện một cáo phó quen thuộc và người ta sẽ nói: “lại một tên nữa”.

Không, không thể như thế được! Tôi tự bắt buộc phải lạc quan, và luôn luôn, giống như sau các cơn khủng hoảng, tinh thần tôi bình thường trở lại dần. Lão già Bastié đề nghị một cuộc đấu cờ đam phục thù và tái phục thù, không khí được thay đổi một chút. Một hôm vợ và con gái lão ta được phép thăm chồng và cha. Lão được gọi một cách đặc biệt, và khi trở lên, lão ta mang theo một gói đồ. Thật bối rối. Không một ai được nhân quà, vậy là ông ta được ân huệ. Chúng tôi làm như không trông thấy gì và ra cái điều bị trò chơi cờ lôi cuốn. Nhưng lão ta thì tự nhiên như không, tên già khốn kiếp, lão nhai rau ráu kẹo sô-cô-la và bánh bích qui. Ai cũng biết ông ta là tay keo kiệt nhưng không ngờ đến nỗi thế!

Sau cùng ông ta phát cho chúng tôi mỗi người một chiếc kẹo. Chiếc kẹo cho tôi gần như làm tôi uất người lên vì bất bình.

Một buổi sang, sau giờ đi dạo, lúc đó đã bắt đầu tháng 12, người ta đến báo cho anh tài xế trẻ rằng anh ta sẽ được đưa sang Đức ngay tối hôm đó. Suốt ngày bận rộn cho sự ra đi của anh ta, nào là dự đoán, nào là chương trình. Ai cũng bối rối cảm động. Đó là người đầu tiên ra đi kể từ khi tôi bị nhốt ở đây.

Anh ta lên đường vào chập tối trước khi phân phát súp; mỗi người được hưởng lợi thêm một ít súp phần của người ra đi và anh ta đã đãi chúng tôi một cách ngoài ý muốn nhân cuộc ra đi nầy.

Với bốn người, cứ luân phiên nhau, chúng tôi có thể cảm thấy thoải mái. Nhưng rồi tiện nghi đó không kéo dài được lâu. Lyon chiến đấu chống quân chiếm đóng và quân chiếm đóng mất bình tĩnh, bạ ai bắt đó. Số lượng tù nhân được viết bằng phấn trên cửa phía hành lang giúp cho quân canh kiểm soát thường trực. Chúng tôi chú ý đâu đâu cũng năm hoặc sáu người trong khi chúng tôi vẫn có bốn. Tình trạng nầy không kéo dài được lâu, và một đêm người ta nhét vào hai đứa bé con khoảng từ 15 đến 17 tuổi. Chúng tôi nhìn nhau sững sờ:

– Nhưng chúng ta sẽ bị chết ngộp mất, phải khiếu nại. Anh biết tiếng Đức hãy đập cửa và nói với họ là chắc có lầm lẫn.

Tôi trấn an lão già Bastié và nói đừng nên bao giờ khiếu nại với bọn Đức và chúng tôi không phải là những người duy nhất gặp tình trạng đó. Nhưng với sáu người, đúng là ngộp thở. Đêm đến, chỉ có năm người được nằm và phải ép sát vào nhau. Người thứ sáu phải nằm ngang qua chân chúng tôi và phải tự lo liệu lấy với chiếc thùng vệ sinh luôn luôn đầy. Vì vậy chúng tôi phải luân phiên làm người thứ sáu. Lão già Bastié vì có tuổi nên được miễn. Hai tên mới đến đều là con nhà buôn bán, lộ vẻ tự thị và ngạo mạn. Một tên tóc hung, vẻ nhìn nham hiểm, môi mỏng luôn luôn mím chặt, ai trông thấy cũng phải đề phòng, không tin được. Tên kia tóc nâu, xoắn tít, có cái miệng dầy vẻ con cưng và tự động chấp nhận ý kiến của bạn mình. Chúng chẳng biết chiến tranh là gì nếu không phải là mọi chuyện đều tốt đẹp. Sự thật là chúng không dính dáng gì đến chiến tranh và chúng hoàn toàn không biết gì về vấn đề đó. Chúng tự cho rằng thuộc đạo quân bí mật. Một tổ chức kỳ cục tên A.S, như chúng vẫn gọi, thu nhận vào hàng ngũ những người ngợm như vậy! Nhưng khi nghe chúng thật dễ trông thấy một phần thời trẻ vàng son đang chơi trò Sherlock Holmes dưới danh nghĩa kháng chiến. Chúng bị bắt trong một cuộc bố ráp được thực hiện trong quán cà-phê thuộc, quyền sở hữu của cha mẹ Gerard, tên tóc nâu.

– Chỉ có gà mên súp nầy mà thôi sao? – Chú nhỏ la lên, hôm đầu tiên, – Ồ! Nhưng thế nầy không thể kéo dài được. Các ông thanh tra Gestapo ăn cơm với mẹ tôi luôn, bả sẽ tìm ra cách gởi đồ vào cho tôi.

Jean, tên tóc hung không nói gì, hay nói thật ít. Có cái gì đó ám ảnh anh ta, và anh ta như có vẻ đầy tâm sự. Sáng hôm sau, y được gọi, một mình. Lúc trở về vào chập tối, và khi cửa phòng đóng lại, y đổ sụm người xuống chỗ trống hẹp còn lại, và lập tức chúng tôi chú ý vẻ mặt tái mét kỳ lạ nơi y. Lúc nầy hình như thần kinh rung động đang làm anh ta bị kích thích. Hẳn là chú nhỏ đã biết thế nào là cuộc thẩm vấn trong ngày, nhưng tối hôm đó, chẳng ai dám nói câu nào. Không khí nặng nề như có bão tố, và thật là một quang cảnh kỳ dị với năm cái đầu bị khích động nhìn chăm chú cái thứ sáu cũng bị khích động không kém, trong một khoảng không gian nhỏ bé thế nầy.

– Ê! Các anh nhìn gì tôi dữ vậy? – Đột nhiên hắn hét. – Ê! ở đó, tôi đã khai, nhưng trước hết, họ không cần gì đến tôi cả, họ đã có tất cả địa chỉ. – Trong khi chờ đợi, quay sang Gerard, tên tóc nâu: – tao đã lợi dụng một chút, tao đã đớp với họ ở nhà má mày, Gérard ạ. Tao đã có thể nói chuyện với má mày rồi. Bả đã nói chuyện với ông thanh tra và mày sẽ nhận được đồ vài bữa nữa.

Hắn cố ra vẻ trấn tĩnh, cười nói và lôi Gerard vào câu chuyện, nhưng không xong, một “tên điểm chỉ” trong chúng tôi!

Người ta đến kiếm hắn cách hai ngày một lần, và trong khi vắng mặt hắn, chúng tôi “điện thoại” cho nhau, khốn thay, chẳng có gì mới lạ.

Giáng sinh đã đến! Đã từ vài ngày nay lão Bastié huýt sáo bài “Nửa đêm Thiên Chúa” và vì ông ta biết cả lời ca, chúng tôi quyết định học hát để hợp ca nhân lễ Giáng Sinh. Trong khoảng thời gian nầy, mọi người tạm quên các tư tưởng, sở thích để họ hát với lão thầy của chúng tôi. Lão ta thích thú thật sự khi điều khiển chúng tôi bằng ngón tay trỏ, và bắt chúng tôi khởi sự ca, giữ đúng nhịp. Viên quản lao cho phép tổ chức một lễ cầu kinh lại căn phòng tầng trệt, một ban nữ hợp ca được phép hát. Tất cả các tiết mục đều xảy ra ở đó. Ai nấy đều tỏ ra đầy vẻ tin tưởng ngu muội, nhưng điều đó cũng giúp mỗi người nghỉ ngơi bằng yên một chút.

Lễ đã xong, người ta đến kiếm lão Bastié, lão ta được phóng thích. Lão ta biết chuyện đó từ nhiều ngày qua, nhưng không muốn nói ra sợ người ta kiếm chuyện. Thật ra, bị bắt như nhiều người chỉ vì một sự vu cáo, lão ta đã được lợi nhân cơ hội gọi là ân xá nhân ngày lễ. Chắc là lão ta phải tin nơi Chúa ghê lắm sau biến cố nầy! Lão ta chúc chúng tôi may mắn và ôm tất cả đồ đạc đi theo, để cho người con rể, lão ta nói, cũng bị bắt, và bị giam đằng kia, cùng dãy lầu.

Lão ta cho chúng tôi hai trái bôm để ăn vào sáng hôm sau ngày lễ. Suốt đêm mọi người nghe lão hát như bò rống, và ngoài buổi cầu kinh và hai trái táo cằn cỗi, tất cả quà Giáng-sinh của chúng tôi là không ai có thể tìm được giấc ngủ!

Vì trong mùa lễ, quân canh được nghỉ phép nhiều, chúng tôi được đi xuống sân nhiều hơn thường lệ. Một lần tôi nghe có ai gọi lên, giọng quen thuộc đâu đó, nhưng, tôi không nhận ra. Một hàm râu nhiều tuần không cạo và những gì còn lại của người đàn ông đều xa lạ đối với tôi.

– Anh không nhớ sao, Pierre Rouen?

– Phải, tôi đây, lúc ấy, anh có ở đó không?

– Tôi bị chộp ở Grenoble ngày 11 tháng 11, đụng độ dữ. Nhân tiện, anh hiết không, Hubert, bạn anh ở Vichy đó, anh ta cũng ở đây, trên kia, phòng l27. Không, không, đừng sợ gì cả, anh ta không bị kết án tử hình đâu. Anh ta lãnh một viên vào đùi, nó hiện vẫn còn trong ấy. Chào anh, tôi ở phòng 50, hy vọng gặp lại.

Tôi chỉ biết anh ta sơ sơ, gặp một đôi lần, và chỉ biết anh ta đảm trách việc liên lạc giữa hai “vùng”. Thật vui thú khi gặp được bạn bè trong các hoàn cảnh như vậy điều đó làm ta nhớ lại các cuốn phim, các cuốn tiểu thuyết, nhưng lúc đó đâu có gì là điên tàng. Ít nhất là ta cũng cảm thấy bớt cô đơn.

Giữa Giáng-sinh và Tết dương lịch, Jean, tên điểm chỉ cũng đã ra đi. Chúng tôi như được trút gánh nặng, ít ra là bây giờ người ta cũng có thể nói chuyện. Một người khác ở Saint Fons thế chỗ y ngay đêm đó, một công nhân ngành kim khí. Luôn có khuynh hướng xã hội ngay từ thời đấu tranh bất hợp pháp và anh ta không hề dấu giếm quan điểm của mình.

– Đối với một nhiệm vụ như vậy, anh ta kêu lên. Họ không đủ cứng đối với đảng xã hội. A! nếu từ năm 1936 trở đi chỉ có một đảng công nhân duy nhất, chuyện nầy sẽ không bao giờ xảy ra. Khi tôi nghĩ rằng từ lúc chiến tranh Tây Ban Nha bùng nổ, chúng ta được cai trị bởi một người mơ mộng và trong vụ Munich, bởi một người say rượu 2.

——————————–

1Ý Đại Lợi.
2Ám chỉ Lêẻon Blum lãnh tụ Đảng Xã hội Pháp SFIO và Daladier, chính trị gia cấp tiến, ông ta đã kí hòa ước Munich.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Bài 24

Cuộc xét xử

Sáng hôm ấy, râu cạo nhẵn, tóc hớt gọn ghẽ, mình mặc một bộ đồ phạm nhân có sọc đỏ, chân đi giày, chúng tôi đứng trong sân đợi đến giờ được đưa ra tòa.
Chân Clousiot đã được tháo băng bột từ hai tuần trước. Anh ta đi bình thường, không bị khập khiễng.
Hội đồng trừng giới bắt đầu họp từ ngày thứ hai.
Sáng hôm nay là ngày thứ bảy, vậy trước chúng tôi đã có năm ngày xét xử các vụ khác: việc xét xử hai người cho kiến ăn tên A-rập đã choán hết một ngày. Cả hai đều bị xử tử, và từ đấy tôi không gặp lại họ nữa. Hai anh em Graville chỉ bỉ bốn năm cấm cố (vì thiếu bằng chứng về hành động ăn thịt người). Việc xét xử hai người đã kéo dài hơn nửa ngày. Trong phần còn lại, các phạm nhân can tội giết người bị xử năm hay bốn năm cấm cố.
Nhìn chung đối với mười bốn phạm nhân bị đưa ra xử, những hình phạt được ứng dụng đều có phần nghiêm khắc nhưng cũng đều chấp nhận được, không có trường hợp nào quá đáng….
Buổi xử bắt đầu lúc bảy giờ ba mươi phút. Chúng tôi đang đứng trong phòng xử thì một viên thiếu tá mặc quân phục kỵ binh lạc đà bước vào, có một viên đại úy bộ binh già và một viên trung úy đi theo phụ tá.
Ở bên phải tòa một viên giám thị đeo lon đại úy làm người đại diện cho Ban quản trị, tức cho phía buộc tội.
Hôm nay Hội đồng xét vụ Charrière. Clousiot, Maturette.
Chúng tôi đứng cách tòa khoảng bốn mét. Tôi có đủ thì giờ nhìn kỹ mái đầu dãi nắng gió sa mạc của viên thiếu tá bốn mươi, bốn nhăm tuổi ấy, với đôi thái dương ngả màu bạch kim. Một đôi mày rất rậm trên một đôi mắt đen và sáng quen nhìn thẳng vào mắt mọi người. Đó là một quân nhân thực thụ. Cái nhìn của ông ta không có gì tàn ác. Ông nhìn kỹ vào mắt chúng tôi, như thể cân nhắc, đánh giá chúng tôi trong vài giây.
Mắt tôi gắn chặt vào cái nhìn của ông một lát, rồi tôi cố tình cụp mắt xuống.

Viên đại úy đại diên cho Ban quản trị lên án chúng tôi một cách gay gắt quá mức, và chính điều đó sẽ làm cho ông ta thua cuộc. Ông ta gọi hành động đánh vào đầu mấy tên giám thị để vô hiệu hóa chúng trong chốc lát là một “cuộc mưu sát”. Về phần tên giữ chìa khóa A-rập, ông ta khẳng định rằng chúng tôi đánh hắn tới tấp như vậy mà hắn không chết chẳng qua là do một sự may mắn thần kỳ. Ông ta lại phạm một sai lầm nữa khi nói rằng chúng tôi là những tên khổ sai đã đem nỗi ô nhục của nước Pháp đi bêu riếu tận những nơi xa xôi nhất kể từ khi trại khổ sai được thành lập cho đến nay: “Đến tận Colombia. Những con người này, kính thưa quan chánh án, đã vượt qua hai ngàn năm trăm cây số để làm cái việc đó. Trinidad, Curacao, tất cả các quốc gia đó chắc chắn là đã phải nghe những lời vu khống hèn hạ nhất về chế độ trừng giới của nước Pháp.
“Tôi yêu cầu Tòa xử hai tội tách biệt với tổng số tám năm cấm cố: năm năm vì tội mưu sát, và ba năm vì tội vượt ngục. Đó là về phần Charrière và Clousiot.
Còn về phần Maturette thì tôi chỉ yêu cầu giam ba năm về tội vượt ngục, vì qua cuộc điều tra có thể thấy rõ tên này không tham dự vào cuộc mưu sát.
Quan Chánh án: 
– Tòa muốn được nghe kể hết sức vắn tắt về hành trình vượt biển này”.

Tôi kể lại chuyến vượt biển đến Trinidad, bỏ qua phần trên sông Maroni. Tôi mô tả gia đình Bowen với những hành động đầy tình nhân ái của họ. Tôi dẫn lại lời viên chỉ huy cảnh sát ở Trinidad: “Chúng tôi không có bổn phận phán xét hệ thống tư pháp của nước Pháp, nhưng chúng tôi không thể tán thành việc họ đày các phạm nhân của họ sang Guyane, và chính vì thế mà chúng tôi giúp các anh”; Curacao, Đức Cha Irénée de Bruyne, câu chuyện cái túi tiền florins, rồi xứ Co-lom-bia, tại sao chúng tôi đến đấy. Vài câu vắn tắt về mấy tháng tôi ở với người Anh-điêng. Ông thiếu tá im lặng nghe tôi kể, không lần nào ngắt lời. Ông chỉ hỏi thêm vài chi tiết về sinh hoạt của tôi trong bộ lạc Anh-điêng, một giai đoạn đã làm cho ông ta hết sức thích thú. Rồi đến các nhà tù Colombia, đặc biệt là cái chuồng giam ngầm của nhà tù Santa Marta.
– Cám ơn, những điều anh vừa kể đã giúp Tòa sáng tỏ thêm và đồng thời đã khiến cho Tòa rất quan tâm. Ta sẽ nghỉ mười lăm phút. Tôi không trông thấy các trạng sư bào chữa cho các anh ở đâu cả, vậy họ ở đâu?
– Chúng tôi không có trạng sư bào chữa. Tôi xin Tòa chấp nhận cho tôi được bào chữa cho các bạn tôi và cho bản thân tôi.
– Anh có thể làm việc đó, quy chế thừa nhận quyền tự bào chữa của anh.
– Cám ơn.
Mười lăm phút sau phiên tòa lại tiếp tục.
Quan Chánh án: 
– Charrière, tòa cho phép anh trình bày phần bào chữa cho các bạn anh và cho bản thân anh. Tuy nhiên chúng tôi báo trước để anh biết rằng Tòa sẽ tước quyền phát biểu của anh nếu anh tỏ ra thiếu tôn trọng vị đại diện của Ban quản trị. Anh hoàn toàn có quyền tự bào chữa một cách tự do, nhưng với những lời lẽ đứng đắn. Tòa nhường lời cho anh.
– Tôi xin Tòa dứt khoát gạt bỏ lời tố cáo chúng tôi mưu sát. Đây là một điều không thể tin được, và tôi xin chứng minh điều đó: năm ngoái tôi hai mươi bảy tuổi, còn Clousiot thì ba mươi. Chúng tôi đều đang tuổi sung sức, lại mới ở Pháp sang. Chúng tôi cao một mét bảy mươi tư và một mét bảy mươi lăm. Chúng tôi đã dùng hai cái chân giường bằng sắt để đánh người A-rập giữ chìa khóa và mấy người giám thị. Trong cả bốn người ấy không có ai bị thương tích gì đáng kể. vậy họ đã bị đánh một cách rất thận trọng vì chúng tôi nhằm làm cho họ choáng đi mà không làm cho họ bị thương, và chúng tôi đã đạt dược mục đích ấy. Viên giám thị buộc tội chúng tôi đã quên nói, hoặc không biết, rằng hai cái chân giường đều quấn giẻ rất kỹ để đừng làm ai bị thương. Quý Tòa gồm toàn những quân nhân chuyên nghiệp, nên biết rất rõ những tác hại mà một người đàn ông khỏe mạnh có thể gây ra khi đánh vào đầu một người khác, dù chỉ bằng má lưỡi lê. Thế thì xin Tòa hình dung với một cái chân giường bằng sắt một người đàn ông như chúng tôi có thể làm gì. Tôi xin lưu ý Tòa rằng trong bốn người bị tấn công không có ai phải vào bệnh viện.
Tôi nghĩ rằng khi một người tù chung thân vượt ngục, tội của người ấy không nghiêm trọng bằng tội của một người bị xử tù ngắn hạn hơn mà vượt ngục. ở tuổi chúng tôi người ta khó lòng có thể đành tâm chấp nhận rằng mình sẽ không bao giờ được sống lại nữa. Tôi xin Tòa khoan dung với cả ba chúng tôi.
Viên thiếu tá nói thì thầm mấy câu với hai người phụ tá, rồi ông dùng cái búa của Chánh án gõ lên bàn giấy.
– Bị cáo nhân, hãy đứng dậy 
Cả ba chúng tôi đứng lên, thẳng đơ như ba cái cọc, đợi lời tuyên án.
Quan Chánh án:
– Tòa gạt bỏ hoàn toàn lời buộc tội mưu sát; về khoản này tòa không cần tuyên án, dù là tuyên án tha bổng.
Về tội vượt ngục, các anh được Tòa thừa nhận là có tội ở mức thứ hai. Vì tội này Tòa xử các anh hai năm cấm cố.
Chúng tôi cùng nói một lượt: “Cám ơn thiếu tá”.
Tôi nói thêm: “Xin cám ơn Tòa”.
Trong phòng xử án, những tên cảnh sát đến dự phiên Tòa cứ ngẩn người ra.
Khi chúng tôi trở về phòng giam, mọi người đều hài lòng về tin này, không ai ganh tỵ. Ngược lại. Ngay cả những người bị xử nặng cũng thành thật mừng cho sự may mắn của chúng tôi.
Francois Sierra đến ôm hôn tôi. Anh ta mừng đến phát điên lên được.



Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Phần 6 – Giáng Sinh

Thủ mở cửa đẩy chiếc xe ra, chân anh đau như có ái đó lấy kẹp mà kẹp cả bắp chân. Nhìn lề dường trước mắt đất đá lổm chổm, cao như ngọn đồi mà ngao ngán. Con đường Quốc lộ đang đi lại được, tự dung cày ra, đổ đá, đổ đất từng ụ cả năm nay rồi để vậy, không biết bao giờ mới chịu làm! Thùy nhìn anh nhăn nhó, nói:

– Mười giờ đêm rồi, hay để sáng mai lên thăm anh ấy cũng được, đằng nào cũng chết rồi!

-Tội nó quá!

Thủ nói rồi đẩy lùi chiếc xe vào lại nhà.

Hơn hai mươi ngày nay, chân phải anh đau kinh khủng, cơn đau bắt đầu từ bắp chân, lan lên tới mông, mỏi như muốn kéo rị người anh xuống giữa nển nhà! Đêm nằm ngủ, phải ngủ nơi salon, thòng chân phải xuống mới đỡ đau! Bác sĩ chẩn đoán là đau thần kinh tọa, chích thuốc cả mười lăm ngày không giảm, bèn chích Terneurin vào bắp chân, không giảm được cơn đau mà còn đau hơn!

Cuốc điện thoại vừa rồi của Sáng, một người bạn thân báo tin Hướng vừa chết, có lẽ do trụy tim làm Thủ nghẹn ngào. Mới chiều nay, Hướng ghé thăm anh, thất thểu bước vào nhà với túi đồ nghề làm mộc, uể oải buông người xuống salon than thở:

-Cúp điện dài dài thế này làm không đủ tiền nuôi con! Thủ nhìn lên cái quạt trần vẫn xoay:

-Đâu có cúp!

-Tao gắn cửa cho ông Tá trong xóm, trong đó cúp toàn bộ. Mày đau sao vậy?

-Cái chân mấy năm nay đau âm ỉ, mấy hôm nay trở nặng, thần kinh tọa hay sao ấy!

-Sao không đi châm cứu?

-Tao ghét cái màn nằm ẹp chờ, ngày nào cũng vậy! Đang chích thuốc, không biết có đúng bệnh không mà chẳng thấy khá hơn chút nào!

Hướng lấy cái mũ vải trên đầu lau mặt, thở dài:

-Con với cái, hai đứa đang học Cao đẳng, bỏ ngang thị lại Đại học, nói không chịu nghe. Nó đậu thì mình chết!

-Sao vậy?

-Muốn vay lại tiền vay dành cho sinh viên thì phải trả tiền vay cũ, sau đó mới được vay lại cho khoản mới. Nó biết mình khổ, cứ học tạm Cao đẳng, sau này ra trường đi làm rồi liên thông Đại học thì đỡ mình biết mấy!

-Nó cũng sỉ diện với bạn bè, trả tiền cũ là bao nhiêu?

-Ba chục triệu hơn, cả hai đứa!

Thủ nhìn bạn mà thương xé lòng! Dĩ nhiên không vì một việc này mà Hướng bị trụy tim, nhưng cái nghèo, cái lo âu lâu nay thường trực trong lòng làm cho con tim ngày càng yếu! Trời vừa hửng sáng, Thủ uống vội chén trà rồi cố kìm cơn đau, chạy xe lên nhà Hướng. Anh đứng ngay cửa nhìn vào trong. Hướng nằm như đang ngủ trên chiếc giường kê giữa nhà, Khuyên, vợ của Hướng và bốn đứa con ngồi khóc rấm rức. Anh ngồi xuống nền nhà, ôm xác bạn mà khóc, anh hét lên: Hướng ơi, Hướng ơi!

Anh kêu tên bạn, trong lòng anh như trút tất cả nỗi uất ức giận hờn lên sự nghèo khó!

Khuyên cùng bốn đứa con nhào tới, ôm chồng, cha, khóc như mưa. Hướng vẫn nắm với gương mặt thanh thoát vô ưu. Thủ cảm thấy được hơi ấm từ thi thể của Hướng, anh ôm ghì bạn, nói trong thổn thức:

-Khốn khổ chi rồi cũng qua được, như bao năm nay đã qua, sao mày không ráng thêm vài năm nữa hở Hướng!

Anh ngồi như thế, nói với các con của bạn:

-Từ nay không còn Ba, mọi khó khăn đổ lên vai mẹ, các cháu cố gắng chấp nhận thiếu thốn, vượt qua cho được mấy năm học, Cao đẳng hay Đai học gì cũng được. Không có quyền chậm trễ năm nào cả nhé!

Cả bốn đứa lớn nhỏ “Dạ” rồi khóc. Đứa lớn nắm lấy cánh tay Thủ kéo anh dậy, dìu anh ngồi vào chiếc ghế gỗ. Bạn bè hôm qua thức khua cùng Hướng, gần sáng chạy về nhà một lát giờ đã lục tục kéo đến. Thủ cà nhắc ra ngồi với bạn.

Phùng, một người bạn hay đùa, nói:

-May nhà nghèo! Không có đồ đạc gì phải dọn dẹp bên trong, lát nữa gom mấy chậu bông ra sau nhà cho trống chỗ này đi là được!

Hai ngày nay chân Thủ đau hơn, nằm ẹp trong nhà, không lên thăm lại Hướng, sáng nay cũng không đưa bạn ra nghĩa địa được, Thủ lẩm nhẩm:

-Mày đi đi, con cái nó có số phần của nó, linh thiêng thì phù hộ cho nó khỏe mạnh. Mày đi sướng hay ở lại như tụi tao sướng hơn, chỉ mày có thể biết! Hồi chưa đau cái chân, tao mơ ước lo lắng đủ điều, giờ đau quá, tao mong đổi tất cả những gì có được, lấy cái khỏi đau thôi Hướng ơi!

Thùy, vợ của Thủ sáng đi đám tang, xong ghé thăm bên nhà ngoại về, vừa vào nhà vội vã hỏi:

-Chị Mai tới chích thuốc chưa?

-Chưa, chắc phải đi Sài gòn em ạ, anh đau lắm!

-Anh uống cái này xem có bớt đau không đã rồi tính.

-Cái gì vậy?

-Có thể anh bị hơi. Mấy người đi liệm xác chết về, thường xông và uống cái này.

-Ở đâu mà có vậy em?

-Em lên trên làng, nói chuyện anh đau, họ cho đó.

Thùy với xem chai rượu, còn một ít. Mấy ngày nay đau quá, anh bảo chị mua cho anh lít rượu. Khi đau thì anh uống ực một ly, có khi hai ly nhưng cũng chỉ êm êm được một lát rồi đau như cũ!

Chị trút gói giấy vào chai, bột gì trăng trắng, lắc mạnh rồi rót ra ly đưa cho Thủ. Anh uống vào gờn gợn ở lưỡi, có mùi như long não.

Thùy vào phòng thay đồ xong, đem cho Thủ tô bún mua dọc đường, anh ăn chầm chậm, có vẻ ngon miệng, không thấy ngán như mọi khi. Thùy cũng mừng.

Chưa được mười phút, anh nôn thốc tháo ra giữa nhà. Chị vuốt lưng anh rồi ra múc đầy thau nước, nhúng khăn lau mặt, lo lắng hỏi:

-Anh thấy trong người ra sao, mệt lắm không?

-Không sao đâu em!

Thùy lại đi thay thau nước, Thủ nôn nhiều hơn, anh với tay lấy chai dầu nhưng mắt hoa lên, không nhìn thấy gì, vừa lúc Thùy trở vào, thấy tay anh quéo lại, mắt trợn trừng, chị hét lên: Anh Thủ! Rồi chay ra xô mạnh hai cánh cửa hét lớn:

-Chương ơi, chị Lan ơi, anh Thủ bị tai biến!

Chị hét như vậy, không biết có ai nghe thấy không, hai tiếng “tai biến” làm chị liên tưởng tới bài đọc cách sơ cứu người trong trường hợp này, chị vừa khóc vừa vào phòng lấy cái kim may, đặt anh nằm xuống salon, chích mấy đầu ngón tay, ngón chân rồi hai dái tai. Chị lại chạy ra cửa hét.

Chương là hàng xóm sát nhà, nhưng là nhà sản xuất bánh kẹo nên lu bu đằng sau, nghe được liền chạy qua, hắn không cần hỏi han, kêu lớn qua quán cà phê phía đối diện:

-Có đứa nào bên đó qua phụ tao đưa anh Thủ đi cấp cứu với.

Hàng xóm và khách uống cà phê chạy qua nhà, Chương bồng ngang người Thủ, nhảy lên xe của một thanh niên, một người khác chở Thùy chạy theo.

Bệnh viện huyện xem qua, Huyết áp 190/90. Họ cho anh uống thuốc, anh tỉnh dần, rồi chuyển về bệnh viện tỉnh theo yêu cầu của Thùy với câu ghi: Nghi ngộ độc rượu, huyết áp tăng. ( người bệnh nhân nồng nặc mùi rượu!).

Oan cho anh, 17 năm không uống rượu vì bị ngộp tim, hôm nay uống hai ly, bị ói, bệnh án ghi như anh là một tay bợm!

Chân anh đau buốt, anh nói với Chương khi xe còn đợi làm thủ tục chuyển viện:

-Mồi cho anh diếu thuốc rồi bóp bắp chân cho anh với, đau lắm!

Chương mồi thuốc, vừa bóp vừa vuốt bắp chân, tay Chương mạnh nên đau lắm nhưng anh không dám nói. Một lát, nhớ là nhà không có tiền, anh nói với Chương:

-Chú về trước, chuẩn bị cho anh mượn ít tiền, chừng mười triệu, xe đi ngang đưa cho chị!

-Có cần em đi theo xuống bệnh viện không?

-Không cần, có gì thì chị gọi về. Chú cho anh gởi nhà.

Chương dạ nhỏ rồi đi. Là hàng xóm, sát vách nhau hơn hai chục năm, coi nhau như anh em. Chương làm ăn khá hơn, thiêu thốn tiền nong Thủ mượn đỡ nơi Chương. Con của Chương thương Thủ như bác ruột. Hồi các con của Thủ chưa vào Sài gòn học và đi làm, chúng như anh chị em với nhau. Tối ngủ chung, râm ran chuyện trò. Mấy năm nay bốn đứa con anh vào học và làm việc trong đó, ở nhà chỉ hai vợ chồng, anh dự tính năm tới chị về hưu sẽ chuyển vào ở với con.

Khi xe dừng lại trước nhà, Chương đưa tiền cho Thùy, Thủ nằm trong xe không thấy được nhưng anh nghe nhiều lời chào, chúc anh mau khỏe, có lẽ hàng xóm và bạn bè cũng đợi chào anh.

Về đến Bệnh viên Tỉnh. Bác sĩ, sau một hồi siêu âm tim và bụng, xem lại bệnh án hỏi:

– Chú uống có nhiều rượu không?

– Chú chỉ uống hai ly, không phải Huyết áp, Tim và ngộ độc đâu cháu. Chân phải chú đau lắm, hơn hai mươi ngày các Bác sĩ trên phòng y tế chích thuốc mà vẫn đau. Cháu xem dùm chú với!

– Đau chỗ nào chú?

– Đau nhất là bắp chân.

Bác sĩ trẻ siêu âm từ dưới bụng, dọc theo chân phải, chân trái, kết luận nhanh chóng:

– Chú bị tắc nghẽn đông mạch chi dưới rồi, chú hút thuốc nhiều không?

– Chừng hai gói mỗi ngày.

– Cũng nhiều nguyên nhân gây tắc động mạch, nhưng chú coi bõ thuốc lá đi. Chắc là phải chuyển chú vào Sài gòn, trong đó mới điều trị hoặc phẫu thuật thông động mạch được chứ ở đây không có đều kiện.

Lần đầu tiên Thủ nghe đến bệnh này.

– Có nguy hiểm lắm không cháu? Ý chú là có cần chuyển ngay không?

– Tính mạng thì không nguy hiểm gì nhưng giải quyết sớm thì tốt hơn.

– Ngày mai Chủ nhật, 20/11. Các con chú về thăm mẹ và thầy cô giáo. Chú muốn về nhà gặp các cháu rồi thứ Hai vào Chợ Rẫy cùng các cháu luôn được không, phương tiên chú tự lo?

– Cũng được, nếu đau quá chú uống thuốc giảm đau. Bệnh này đau lắm!

– Chú cảm ơn cháu. Cháu ghi cho chú loại giảm đau nào dùng được nhé.

.Bệnh viên Chợ Rẫy sau khi thăm khám, Thủ được đưa vào khoa “Lồng ngực và Mạch máu”, nằm ở lầu năm. Uống và chích thuốc mười hai ngày nhưng không tiến triển gì. Các bước siêu âm và chụp xi ti cũng đã làm xong nhưng cứ chờ làm Thủ chán nản! Cái mụt ở chân như muốn lở to ra thêm. Tối lại, đau quá anh ngồi, gần như cả đêm không ngủ.

Sáng nay, khi đứa em đưa anh đi vệ sinh về phòng, ngang qua bảng thông báo, anh thấy tên mình nằm trong số bệnh nhân chuẩn bị phẫu thuật thông mạch máu. Khi bác sĩ vào thăm bênh buổi sáng, anh hỏi:

-Chú phẫu thuật thông hai chân hay một chân vậy cháu?

-Chắc hai chân, chú tắc nhiều lắm. Hôm nay đi siêu âm tim lại.

Đã siêu âm tim một lần, bây giờ lại siêu âm tim. Từ phòng siêu âm về, không có thông bào gì về tim mà chỉ biết là chuẩn bị chuyển qua Khoa Tim, Thùy cùng các con anh lo lắng lắm nhưng không biết hỏi ai.

Khoa lồng ngực mạch máu ít bệnh nhân, qua khoa tim thì quá tải đến không có chỗ nằm, Thủ nằm chung giường với hai bệnh nhân khác, Thùy nằm ở sàn nhà, dưới giường, trải tấm chiếu nhỏ! Một bệnh nhân chung giường cho biết là có hai mươi lăm người bị tim ở bệnh viện Trà Vinh chuyển lên, theo một chương trình gì đó, hai tuần rồi chưa mổ được nên phòng chật. Họ có vẽ ốm nhưng không yếu, ăn uống, chuyện trò đùa cợt râm ran, náo loạn cả phòng!

Gần chiều, một Bác sĩ trẻ vào gọi tên Thủ rồi nói ngắn gọn:

-Chú chuẩn bị đóng 90 triệu, mai phẫu thuật. Thủ ngạc nhiêu hỏi lại:

-Phẫu thuật tim hay chân vậy cháu?

-Mổ tim.

Quá ngạc nhiên anh bật cười nhìn bác sĩ không nói gì. Bác sĩ trẻ nhìn anh nói trước khi ra khỏi phòng:

-Sẽ có Bác sĩ lớn tuổi đến nói chuyện với chú!

Lát sau, một bác sĩ trạc 50 tuổi, đến nhìn anh chằm chằm nói:

-Bệnh của anh thì đóng 90 triệu, mai mổ tim, sau đó cắt chân phải, hết!

Thủ cười gằn ngạc nhiên với thái độ của vị lương y, không biết ông này đem nổi bực dọc ở đâu, đến đây trút lên anh!

Một bệnh nhân trong số chờ phẫu thuật lên từ Trà Vinh hỏi to, tức tối:

-Tụi tôi chờ nữa tháng nay, đã nhổ răng, khám, siêu âm đủ cả rồi mà chưa mổ, chú này mới vào, đóng tiền mai mổ là sao?

-Ông này một mình, còn quý vị thì đông, lên lịch làm một lần nên phải chờ.

Bác sĩ đi rồi, Thùy nhìn anh rươm rướm nước mắt:

-Chạy đâu cho ra ngần ấy tiền đây anh?!

Nếu con đường trước mặt nhà không làm lại, nâng cao lên, thì vợ chồng Thủ không đến nỗi thiếu thốn, 90 triệu hay nhiều hơn cũng có thừa để lo, nhưng vừa qua anh dốc tất cả những gì dành dụm được lâu nay, sửa sang, nâng nền nhà lên cho bằng đường nhựa, thế là hết. Nhà vừa hoàn tất đúng một tháng, anh trở bệnh! Thủ trấn an vợ:

-Em đừng lo. Chờ anh chút.

Thủ gọi điện cho đứa cháu ngoại, đang là bác sĩ khoa thần kinh bệnh viện Phan Thiết, nó tốt nghiệp hệ chính quy cũng đã lâu, hôm nhập viện, nó muốn vào gởi gắm với các đồng nghiệp nhưng anh không muốn. Nghe qua, cháu anh nói:

-Mổ tim khó khăn ở chỗ hậu phẫu, xuất viện rồi cậu về lại Ninh Thuận xa quá, khó theo dõi, có gì vào lại cũng quá chậm. Theo con, cậu bị thế này đã lâu. Tim cũng có thể đã thích nghi, nếu giải quyết được các chỗ tắc nghẽn thì tim sẽ được cải thiện dần. Cậu từ chối phẫu thuật tim rồi xin phẫu thuật thông mạch chân lại thử xem bênh viên có chịu không!

Bênh viên không chấp nhận yêu cầu của anh. Thủ có ý định đến các bệnh viện tư, hy vọng họ có thể giải quyết, và dù tư nhân hay Chợ rẫy. cũng phải có thời gian để chạy khoản tiền quá lớn đối với kinh tế của Thủ. Anh nói với Thùy:

-Em nói với con xin xuất viện đi, về nhà rồi tính!

Đứa con gái lớn của anh vào trọ học ở Sài Gòn mấy năm nay, rồi các em cũng vào, nó khá nhanh nhạy với các việc gia đình, từ hôm anh vào viện, mọi thủ tục đều giao cho nó…Thùy nhìn anh lo lắng:

-Lỡ có chuyện gì thì sao anh?

-Chỉ có những cơn đau chân là đáng lo, nhưng giờ anh biết là cứ thuốc giàm đau mà uống, có ảnh hưởng về sau thì cũng chưa là bây giờ. Về ngoài mình, tính toán chuyện tiền nong rôi vào lại sau em ạ.

Nói với vợ như vậy nhưng trong lòng anh cũng lo lắng không kém. Với 90 triệu đồng cho ca phẫu thuật thì chỉ có bán nhà đi chứ khó xoay xở đâu ra. Chương hay bạn bè có giúp, cho mượn thì cũng chỉ vài chục triệu, tiền làm 

ăn có dư nhiều đâu. Còn chuyện trả lại nữa! Bán cho được nhà thì biết đến bao giờ!

Từ hôm đi bệnh viện đến nay, Trung, đứa em cột chèo giao việc nhà cho vợ, theo anh vào Sài gòn, túc trực thường xuyên lo cho anh, từ chuyện vệ sinh đến đẩy xe đưa đi siêu âm, thử máu…Không có xe đẩy, Trung ẵm, cõng anh đi. Bây giờ sắp lễ Giáng Sinh, chú ấy lại là lo việc Giáo xứ, không lẽ vì mình mà mất cả niềm vui. Thủ lại gọi cho con gái, bảo con xin xuất viện!

Lo xong thủ tục thì cũng đã chiều, bệnh nhân chung giường với Thủ, ở Nha Trang, nhập viện mười ngày nay, chờ phẫu thuật. Ban ngày về nhà con gái, tối đến ngủ ở bệnh viện. Thấy tình trạng bệnh của Thủ nói:

-Ở Nha Trang, có một ông thầy thuốc Nam, trị bệnh tắc đông mạch rất hay. Xóm tôi có bà bị bệnh này, châm tím hết rồi mà uống chỉ ba chai thuốc nước, loại chai ba xị, là hết đau.

Thủ mừng lắm, níu lấy ông ta hỏi:

-Anh có địa chỉ hay số điên thoại không, giúp tôi với!

-Để tôi gọi về cho con tôi, nhờ nó chạy tới hỏi. Nói rồi ông gọi ngay cho con, lát sau anh có trong tay địa chỉ và số điện thoại của cơ sở thuốc Nam. Thủ nói với Thùy:

-Mình đi thẳng ra Nha Trang tối nay luôn em ạ. Em nói Trung và con chuẩn bị đi.Tiền bạc thế nào em?

Thùy gọi con gái, hỏi. Con gái anh đếm tiền trong túi, rồi mở mấy bì thư mà bạn bè anh đến thăm, nói với Thùy:

-Tất cà tiền mẹ mượn chú Chương và bạn ba, bạn mẹ… thăm cho quà là 29 triệu, con thanh toán viện phí và mua thêm thuốc về nhà còn 22 triệu mẹ ạ.

Thùy nhìn Thủ:

-Không biết có đủ cho tiền thuốc Nam không!?

-Anh ấy bảo thuốc rẻ lắm!

Thủ vào bệnh viện Chợ Rẫy mười mấy ngày. Hôm đi, tiền nhà và mượn thêm Chương nữa chỉ 15 triệu. Ăn uống và sinh hoạt, viện phí đủ là quá mừng.Anh cảm ơn bạn bè, nghe tin anh nằm bệnh viện, đã thông bào cho nhau đến thăm. Biết anh khó khăn về tài chính, bạn nào cũng giúp, nhờ vậy anh bớt buồn và có tiền trang trải cho sinh hoạt.

Xe ra Nha Trang là xe giường nằm, nhưng vì không nằm được, Thủ ngồi suốt đêm. Cứ một giờ hay hơn chút thì anh uống một bịch sữa rồi nuốt một viên giảm đau! Khó khăn phiền toái nhất là chuyện vệ sinh, Trung cõng anh lên xuống xe, vào nhà vệ sinh dọc đường nơi các trạm dừng thật vất vả!

Đến Nha Trang, ngồi trên taxi Thủ gọi điện cho thầy thuốc Nam. Vào nhà, ông ấy như đang chờ.

Khi xuất viện, vết lở ở bàn chân chỉ bằng hai ngón tay, thấy khó nhìn nên anh đắp một miếng gạc lên vết thương, khi ông thầy gở miếng gạc, da dính theo thành một đám loét lớn bằng cả bàn tay! Xem vết thương và sờ xem bắp chân, ông thầy nói:

-Thuốc của tôi chỉ làm thông mạch cho máu xuống chi. Vết thương này anh phải dùng kháng sinh để chữa. Phải kháng sinh loại mạnh đó!

Thủ hơi thất vọng nhưng anh nghỉ nếu thông được mạch máu, thì chuyện chữa vết loét bằng kháng sinh chắc không khó. Thầy thuốc bán cho anh một tháng thuốc, thuốc viên chứ không phải thuốc nước như người bệnh chung phòng nói.

-Anh uống hết số thuốc này thì bệnh giảm, đây là tài khoản và số diện thoại của tôi, muốn lấy thêm thuốc thì cứ chuyển tiền vào tài khoản, tôi sẽ gởi xe đò đưa thuốc vào cho anh.

Từ nhà thầy thuốc, Thùy thuê xe taxi vào thẳng nhà. Mới mười mấy ngày mà Thủ thấy như cả năm. Hàng xóm, bạn bè đến thăm liên tục làm anh vui, nhất là niềm hy vọng vào thuốc Nam mà anh sẽ uống! Buồn cười nhất là bạn anh, số hút thuốc nhiều, cứ đưa chân cho anh xem rồi lo sợ căn bệnh “lạ” này! Thủ đùa:

-Đứa nào hút in ít thì không sao, còn nếu hút cỡ một gói một ngày thì coi chừng!

Bạn anh phần nhiều thuộc loại nhả khói như chiến hạm, có đứa nói liều:

-May, tao hút hai gói nên ngoại lệ rồi, ung thư phổi mau chết hơn!

Đã nghe vọng đến tiếng nhạc Giáng sinh. Anh về nhà đã hơn mười ngày. Hằng ngày, buổi sáng, Thùy làm vệ sinh cho vết loét rồi đắp một miếng gạc, xong xuôi mới đi dạy. Anh uống thuốc Nam, cách giờ uống thuốc Tây chừng hai tiếng. Kháng sinh và giảm đau, bao tử anh đã có dấu hiệu đau, nhưng chẳng biết phải làm sao!

Sáng nay, sau khi làm vệ sinh xong, Thùy nói như reo:

-Anh sờ bắp chân xem, hình như âm ấm chứ không lạnh như mọi khi! Thủ sờ xem nhưng không nhận ra. Thùy quả quyết trong nỗi mừng vui:

-Em thấy ấm lên thật mà, đễ em gọi Trung xuống sờ xem.

Trung nghe Thùy gọi, tất tả chạy xuống sờ chân Thủ, chần phải rồi chân trái:

-Em thấy có nóng hơn đó anh, hy vọng uống thuốc này một thời gian nữa thì máu xuống chân tốt.

-Mấy hôm nay chú làm gì?

-Về tới nhà là có việc ngay, em đang phụ làm máng cỏ và trang trí cho nhà thờ! Anh tính sao cái vụ mổ tim?

-Quên nó đi, ngoài “khả năng chi trả” của mình rồi thì nghỉ chi cho mệt. Trung cười, chỉ lên trần nhà:

-Phú cho Trời thôi!

-Anh Thủ!

-Gì vậy em?

Thùy trợn tròn mắt chỉ vào vết thương:

-Anh xem phải giòi không?

Thủ cúi gần hơn, nhìn chăm vào vết loét, có cái gì trăng trắng nhúc nhích, anh nhờ Thùy lấy cái kính, nhìn kỹ, đúng là giòi!

Thùy lấy bông thấm nước muối lau qua lại vết thương, thở dài:

-Thuốc kháng sinh không tác dụng, làm sao đây anh? mấy hôm nay em nghe có mùi hôi nhưng không nói!

-Anh cũng biết, để anh gọi nhờ Dũng xem sao.

Dũng là bạn của Thủ, Học Đại học Y khoa Huế, Tốt nghiệp năm 1979, bị chuyển lên Kom Tum, Dũng không tuân theo bố trí nên không được cấp bằng. Anh về địa phương hành nghề lâu nay nhưng không mở phòng mạch.

-Alô, mình nghe đây Thủ.

-Dũng đang ở đâu, ghé nhà mình chút được không?

-Chờ 15 phút, chuyền xong chai nước mình ghé lại.

-Cảm ơn Dũng, mình chờ nghe.

Dũng nhìn vết thương, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:

-Máu không xuống được bàn chân nên thuốc kháng sinh không đến được vết thương, tác dụng của thuốc rất ít, mình rất ngại hoại tử nặng dẫn đến nhiễm trùng máu, hay là vào Sài gòn lại đi!

Nghĩ đến niềm vui Giáng sinh của đứa em cột chèo, Trung. anh hỏi:

-Có chờ thêm được vài ba hôm không Dũng, qua Noel?

-Minh sợ không được, như thế này là nặng rồi! Thủ nhìn Thùy, như muốn hỏi ý. Thùy dứt khoát:

-Đi ngay tối nay thôi anh. Anh gọi Kháng hiệu trưởng, xin phép cho em.

Em gọi Trung báo cho nó biết.

-Tội chú ấy quá, còn ba ngày nữa là Giáng sinh rồi!

Cả Thùy và Thủ cùng im lặng, lát sau, Thủ nói như dò ý Thùy:

-Em, anh quyết định tháo khớp chân! Chấp nhận cụt chứ cứ loay hoay thế này có vẻ bế tắc, lo lắng mãi!

-Anh cụt một chân sao?!

-Anh thấy nếu điều trị thì lâu lắm, vào ra Sài gòn tốn kém, thêm phần lo lắng không yên, chưa nói đến chuyện có thể chửa hoài không khỏi! Con cái thì chỉ bé út là còn tốn kém, sang năm em về hưu thì có mấy đứa lớn lo cho nó, mình còn cái nhà, bán đi vào với các con, mắm muối qua ngày cũng được! Từ hôm bệnh đến giờ, em và các con vất vả. lo lắng. buồn phiền quá rồi, cụt một chân còn hơn là chết, anh sẽ làm những gì có thể làm với cái chân như thế, nghe em!

Thùy chưa hề nghĩ đến chuyện Thủ phải mất đi cái chân, hình ảnh Thủ tật nguyền chưa hề đến trong đầu chị bao giờ, nhưng con giòi xuất hiện sáng nay ở vết thương và nỗi lo sợ nhiễm trùng máu dẩn đến cái chết làm chị thấy nhẹ nhàng hơn khi Thủ đưa ra quyết định đột ngột này.

-Tháo khớp thế nào anh?

-Tháo khớp từ gối xuống, minh làm ở bệnh viện tư. Anh sẽ hỏi, tiền bạc hôm về nhà đến giờ bà con, bạn bè cho thêm cũng đủ, nhưng anh vẫn gọi vào cho cháu Vinh, phòng hờ nếu thiếu, nó lo giúp rồi sau tính lại.

Thủ lấy chiếc điên thoại xem lại tài khoản, còn kha khá, anh gọi cho một Bác sĩ ở Bệnh viện Hồng D. , Bác sĩ này anh quen khi con gái anh bị tai nạn, phẫu thuật bắt ốc ở ống chân. Bác sĩ trả lời:

-Chuyện tháo khớp gối không khó khăn gì, nhưng cháu đề nghị chú vào trực tiếp, khám rồi giải quyết chú ạ. Tình hình vậy thì nên vào sớm chừng nào tốt chừng đó. Chú cứ vào thẳng phòng cấp cứu của bệnh viện rồi gọi cho cháu.

Từ khi đi bênh viện, rồi tứ bệnh viện trở về, tư tưởng phải vào lại Sài gòn lúc nào cũng sẵn trong đầu Thủ và Thùy nên việc chuẩn bị không mất nhiều thời gian. Trung, với cái túi xách vào nhà trước giờ xe chạy chừng một tiếng. Thủ nhìn đứa em nói:

-Khổ cho chú quá, anh làm chú cực!

Xe vào đến sài gòn trời cũng vừa sáng, Trung gọi taxi, Thùy, Thủ và đứa con gài lên xe về Bệnh viện Hồng D., Vẫn chưa đến giờ làm việc, anh gọi cho bác sĩ quen, chừng 15 phút sau thì bác sĩ đến. Xem vết lở ở chân xong, bác sĩ lấy một cái túi nilon bao vết thương lại rồi gọi con gái anh vào trong:

-Với vết thương của chú thì không chỉ tháo khớp gối mà phải cắt bỏ trên gối! Bệnh viên Hồng D. làm được nhưng việc xử lý cái chân thải theo nguyên tắc môi trường thi không được phép, bây giờ cứ qua bệnh viện 115, sẽ có bác sĩ đón ở phòng cấp cứu. Vấn đề quan trọng nửa là làm công tác tư tưởng cho chú, làm sao để chú đứng quá sốc khi tỉnh dậy thấy mình bị mất một cái chân, đã có trường hợp hét la náo loạn, làm bậy…rất nguy hiểm!

Thùy nghe con nói lại, nhìn Thủ. Chị biết không hề có chuyện đó. Thủ đã tự ý chấp nhận mất cái chân trước khi vào đến đây. Xe taxi lại đưa Thủ qua bệnh viện 115. Đúng là có bác sĩ đón ở phòng cấp cứu.

Thủ kìm tiếng rên vì những cơn đau liên tục, anh muốn thiếp đi nhưng hôm nay lại có một số sinh viên thực tập. Họ mở bao nilon, cố chịu mùi thối, xem, chụp hình…dưới sự hướng dẫn của Bác sĩ giảng dạy, cũng là trưởng khoa “Lồng ngực và mạch máu” của bệnh viện.

Chừng 02 giờ chiều, Thủ được đưa đi siêu âm tim. Mấy tiếng sau thì bác sĩ gọi Thùy thông bào:

-Hoại tử nặng quá, không thể chờ qua đêm nay vì khả năng nhiễm trùng máu rất cao, đã nhiễm trùng máu thì rất khó chửa trị, chỉ có cách cắt bỏ phần chân bị tắc. Nhưng khó khăn là tim rất yếu, phẫu thuật cắt bỏ chân với tình trạng tim như vậy cũng rất đáng lo. Quyết định bây giờ tùy vào gia đình, chị bàn bạc rồi ký vào giấy đồng ý phẫu thuật hay không!

Thùy trở lại phòng cấp cứu, chị nhìn Thủ thật lâu rồi nói lại lời bác sĩ.

Thủ nắm tay Thùy:

-Cứ phẫu thuật đi em, bác sĩ khi nào cũng tính chuyện chắc ăn. Em và các con cầu nguyện xin bình an cho anh. Nếu phải chết trong khi phẫu thuật thì cũng đừng quá buồn, tin vào số phần của anh chỉ đến thế!

Các con anh đều có mặt, các cháu ở Sài gòn cũng đến thăm. Tất cả xúm quanh anh, khóc thút thít. Thủ đùa với Trung, cũng cho cả nhà bớt buồn:

-Chúa Trời đang bận lo sinh quý tử, không rảnh mà phán xét anh đâu! Trung cười đùa thêm:

-Đúng rồi, giờ này các Thiên thần đang tập hát, lôi sổ sách ghi công ghi tội ra rách việc lắm, cho qua!

Hộ lý bệnh viện đẩy chiếc băng ca nhôm sáng bóng đến. Trung ẵm anh qua, cô hộ lý nói:

-Thân nhân đi theo lối khác đến phòng phẫu thuật, có phòng chờ ở đó. Thùy vuốt tóc trên trán Thủ nói nhỏ:

-Trước khi vào phòng phẫu thuật, anh nhớ cầu nguyện lại.

Thủ nhìn Thùy, anh mỉm cười. Không rõ từ đâu, từ niềm tin nào, anh không tin mình sẽ chết:

-Ừ, anh nhớ!

Thủ đau đớn nằm trên chiếc băng ca rời phòng phẫu thuật. Thời gian phẫu thuật khá nhanh, thuốc mê cũng tan sớm. Phóng hậu phẫu đông đúc vì tai nạn giao thông vào những ngày sắp giáng sinh. Tiếng rên la náo loạn xung quanh làm Thủ chán nản. Anh không chết, con tim anh đã ngoan ngoãn nằm im, anh sờ xuống phần thân thể còn tê buốt, cắt khá cao, đau quá anh thử ngồi dậy, có phần đỡ đau hơn! Thì ra bác sĩ phẫu thuật đã băng chặt quá, khi ngồi dậy phần bắp vế anh đỡ bị ép, bớt đau. Anh ngồi như thế cho đến sáng, trông dùm những chai nước truyền cho bệnh nhân gần mình. Có người hết thuốc, máu chảy ngược về chai, anh hốt hoảng gọi cho y tá trực! Chừng hai tiếng sau, anh đau ước chừng không chịu nổi, gọi y tá hỏi:

-Cháu cho chú thuốc giảm đau với, đau quá! Y tá đến xem bệnh án, trở vào nói:

-Chú còn một bình giàm đau nhưng ba giờ sáng mới chuyền được,

-Bây giờ là mấy giờ rồi cháu?

-Hai giờ!

-Chú uống sữa được không cháu?

-Được, chú uống đi.

-Chú nghe nói sau phẫu thuật không được uống sữa hay nước mà? Y tá cười:

-Chú cắt chân chứ đâu có phẫu thuật bụng, sữa chú để đâu?

-Chú nhờ cháu ra phòng chờ bào thân nhân Trần Thủ đưa sữa dùm được không?

Y tá nam vui tính đi ra. Thủ mừng là qua y tá lấy sữa, Thùy có thể biết anh còn sống. Anh lại hỏi khi y tá vào:

-Chú thấy mấy người mổ sau chú được ra ngoài mà sao chù ở lại lâu vậy cháu?

-Bác sĩ chưa cho chú ra, có lẽ sáng mai, sau khi giao ban mới ra được.

Chú ngủ đi, nói nhiều mệt lắm!

Thủ không ngủ được vì đau và lo, sợ Thùy và các con anh tưởng anh đã chết nên mới lâu đưa xác ra!

Đau quá, Thủ cứ chờ được chuyền chai giảm đau. Rồi cũng tới lúc, đến với anh là Bác sĩ nữ gây mê anh khi phẫu thuật, anh hỏi:

-Sao chú lại ở trong này lâu vậy cháu?

-Tại trong toa thuốc chú uống trước khi phẫu thuật có Asperin. Giữ chú lại trong này phòng khi vết thương chảy máu, dễ theo dõi hơn. Sáng mai ra, chù ngủ đi cho khỏe.

Yên tâm với giải thích của bác sĩ và chai thuốc giảm đau, anh gục người vào thành giường ngủ ngồi chờ sáng!

Khi hộ lý vào đẩy chiếc băng ca của Thủ ra, anh mừng như được tái sinh! Nằm thì đau và vì muốn trống thấy Thùy cùng các con nên anh cứ ngồi vậy, mặc cô hộ lý bảo nằm! Thấy anh ra, Thùy củng các con anh hét lên, tiếng hét vượt lên trên những âm thanh huyên náo của phòng chờ khi thấy anh ngồi mà không nằm, không phủ tấm vải trắng kín người như xác chết, hình ảnh mà suốt đêm qua Thùy cứ lo lắng sợ hải! Thùy chạy nhanh hơn cả, chị nắm tay chị hộ lý dừng lại, ôm Thủ hôn vào môi anh thật dài, nụ hôn hệt như thũa mới yêu nhau mà phải vắng xa nhau hàng tháng!

Cô hộ lý bước nhanh và dài, Thủy cùng các con lúc thúc chạy theo. Hộ lý hỏi:

-Muốn nằm phòng nào đây?

Đêm qua thao thức chờ, Thùy có nghe thân nhân đến trước nói chuyện là có hai loại phòng, phòng bình thường và dịch vụ, phòng dịch vụ thì phí cao nhưng có các tiện nghi như tủ lạnh, TV…chị đáp nhanh:

-Chị cho phòng dịch vụ!

Một chọn lựa “xa xỉ”, khác với tính cách của anh chị lâu nay!

Yên vị trong phòng dịch vụ, giường bên có một cậu thanh niên bị đâm thủng ngực và mấy nhát ở bụng, đã phẫu thuật, đang nằm mê man.

Thùy vuốt ve phần chân cụt của Thủ qua lớp băng, nói trong nước mắt:

-Ngày mai là Giáng sinh, anh đã không chết, mất một cái chân mà được sống cùng nhau, cùng các con…may mắn lắm rồi anh ạ!

Thủ ôm ngang lưng Thùy:

-Ừ, anh cảm ơn em, cảm ơn em!

Anh nghĩ ngợi: Khi đã trót mang thân phận con người, ai cũng có một thập giá, thập giá nào cũng nặng như nhau, nhưng tùy vào thái độ tiếp nhận của người phải mang thập tự ấy, sẽ làm cho nó nhẹ bớt đi hay là nặng nề thêm…

Ngoài kia, tiêng còi xe cấp cứu vọng vào phòng, Thủ lại nghĩ và nhận ra rằng:

Nếu không chết, thì mọi tai ương đều là hồng ân. Vâng, lâu nay anh đã sống chan hòa với tha nhân, từng đón nhận khổ đau và hạnh phúc từ cuộc nhân sinh… bằng tâm hồn của mình chứ không phải bằng đôi chân…”

Sài gòn, mùa Giáng sinh 2015. (Kỷ niệm 05 năm, mất một chân.)

Mùa Xuân đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 5 Nov 2025

Phần 6

Nửa đêm nghe tiếng mẹ thở dài

Sau gần hàng chục năm “cày trong sở làm”, tôi bị hãng cho nghỉ việc cùng với hàng loạt nhân công khác. Cái lý do cho đám nhân công về nhà “rửa chén cho vợ” của ông chủ hãng nó rất ư là có “chính nghĩa”. Ông chủ bảo hãng sắp bị “băng-rắp” vì kinh tế suy thoái; cho nhân công nghỉ việc, ổng cũng buồn lắm, ổng nói lời cám ơn, ổng nói “so-ri”, và sau cùng chia tay, ổng nói thêm “gút-lắc!”..

Có mấy chị buồn ra mặt, mắt các chị dường có hơi sương. Có mấy anh cúi đầu sầu đời lo cho một tương lai lầm lũi chui vào đêm đen. Còn tôi, tôi có vẻ tỉnh bơ. Mấy thằng bạn trố mắt ngạc nhiên khi tôi bảo với ông chủ là ông đã cho tôi nghỉ việc rất hợp lúc, tôi cám ơn ông vì được nghỉ việc một cách có lý do chính đáng, chứ tôi mà bỏ việc ngang xương thì “nhà tôi” sẽ cằn nhằn là cái chắc, không đốt nhà là phúc đức ông bà!

– Người ta tìm việc không ra, còn anh thì xin thôi việc! Tiền nợ nhà băng, tiền “biu bộng”, tiền cơm áo, tiền con cái ăn học… Anh đào đâu ra tiền, anh nói tui nghe coi!?

Câu hỏi này sẽ thành một bản đơn ca có nhiều điệp khúc, bảo đảm sẽ được nàng hát không guitar hàng ngày rất ư là có “chính nghĩa”. Nay thì cái giấy nghỉ việc có trong tay, đâu phải do tôi ký mà tôi sợ! Nàng sẽ làm thinh, cao lắm là lo lắng, ngao ngán thở dài. Và cái đó nó “tiện việc sổ sách” cho tôi vô cùng. Nàng làm sao mà biết nguồn cơn nhảy múa trong lòng tôi! May ra chỉ có ông Trời và tôi!

Thật ra, hãng không cho nghỉ việc thì vài tháng sau tôi cũng xin nghỉ việc. Tôi đã đau lưng khá lâu vì làm công việc nặng, tôi cũng chán cái cảnh “sáng vác cơm đi, tối vác lon về”, rồi tiếp theo là hàng chục năm dài chong mắt với những ca đêm, tôi chán cái cảnh chạy hụt hơi với cái đồng hồ treo trên vách, và nhất là cái đồng hồ reo mắc dịch trên đầu giường phá hoại giấc ngủ say về sáng của tôi! “Dậy đi làm! Dậy đi làm! Reng reng! Reng reng!!!”. Trời ơi! “Đoạn trường ai có say giấc trên giường mới hay”!

Đôi lúc tôi thấy dường như đời mình vướng nghiệp tù, tù cộng sản vừa thoát xong, qua xứ này lại dính “cái tù phải đi cày để kiếm sống”. Cũng biết cái tù sau này ở xứ người thì có tiền nuôi vợ con, không bị nhà tù, công an, quản giáo đày đọa, nhưng theo tôi, cái gì làm cho người ta lệ thuộc, ràng buộc, khó nhọc, mất tự do… cũng đều có thể coi như là ở tù ráo trọi

Từ lâu, nhớ lại những ngày oằn lưng lao động trong tù vc, tôi thương cái lưng tội nghiệp của mình khi phải làm việc nặng, nên tôi đã dự liệu trong đầu một số công việc tương đối thong thả, tự do hơn để “xù” việc làm hiện tại; nên khi ông chủ hãng cho nghỉ việc thì tôi cám ơn ông, bắt tay ông xiết mạnh rồi hớn hở ra về. Mấy thằng bạn cùng sở ngạc nhiên về thái độ mất việc nhưng tỉnh bơ, vui vẻ của tôi. Tôi chia tay từ giã lũ bạn, và dường như trong mắt, trong đầu chúng nó, có thể nó nghỉ tôi sắp qua Florida đáp phi thuyền con thoi lên định cư ở mặt trăng với chị Hằng Nga!

Sau khi lương thất nghiệp chấm dứt với hơn sáu tháng nằm nhà, thoải mái và tự do, cái lưng không còn bị hành hạ, tôi mua một chiếc ghe nhỏ, hai tay lưới Salmon và một chiếc xe truck một tấn, bắt đầu một công việc mới xa nhà trên sông nước mênh mông, trên đường thiên lý vạn dậm… rày đây mai đó, khi ở đầu sông Skeena gần Alaska, lúc ở cuối sông Fraser gần tiểu bang Washington State, đầu Nam đầu Bắc trên đường bộ kéo dài sơ sơ cũng cỡ từ ải Nam Quan đến Mũi Cà Mâu

Tôi đã lái xe vượt qua lưng dãy Rocky Mountains dài và cao nhất thế giới, hiểm trở gấp trăm lần đèo Hải Vân ở Việt Nam, có điều khác với đường xá của nước Việt Nam cộng sản đầy ổ voi đến ổ gà từ Nam tới Bắc, đường xá Canada nó “hiện đại”, bằng phẳng như bộ ván của vợ chồng ông Đỗ Mười chở từ Nam về Bắc sau 75 trong chiến dịch đánh tư sản miền Nam!!! Tôi đã xuôi ngược trên con đường thiên lý đó từ thành phố tôi ở, Vancouver, đến cảng Ruppert gần Alaska, với chiếc xe truck chở mấy tay lưới, kéo theo chiếc ghe trên chiếc trailer… Mỗi năm, tôi xuôi ngược không dưới 3 ngàn cây số trên con đường dài ngút ngàn, thăm thẳm với đồi núi, với sương mù, với những mảng tuyết trắng trải rải rác hai bên đường đèo.

Có đi nhiều ở xứ người mới thấy tội nghiệp cho quê hương Việt Nam. Trên những nẻo đường vạn dậm tôi qua, xứ người chỗ nào cũng trù phú, an bình; người ta không có những trạm kiểm soát kinh tế, song kinh tế vẫn phát triển, dân lành ấm no, hạnh phúc; nếu không vượt đèn đỏ hay phóng xe quá tốc độ thì ít khi thấy cảnh sát hú còi dán cho cái ticket; tài xế muốn tắp xe ngủ chỗ nào theo bìa rừng cũng không ai thắc mắc, hỏi giấy hỏi tờ. Tôi đã từng ngủ dọc đường như thế trong hơn 5 năm trời lữ thứ tha phương.

Có những đêm trăng “một mình một ngựa” trên xa lộ 16 vạn dậm từ Đông sang Tây, Bắc tỉnh British Columbia, Canada; theo tôi suốt đêm là vầng trăng sáng như cái mâm đồng treo trên đỉnh Rocky Mountain, tôi bỗng nhớ đoạn ruột vầng trăng nhỏ của quê hương trên đỉnh Trường Sơn nghìn trùng xa cách. Vừa lái xe, vừa ngâm thơ, vừa hát quốc ca, vừa hát nhạc hùng để tỉnh ngủ, để chiếc xe truck nuốt thêm đoạn đường dài cho đến khi mắt mờ, tôi tắp xe ngủ bên vệ đường ven rừng. Tôi ngủ mê mệt, không biết trời, không biết đất, không biết trăng, không biết sao, cho đến khi giá rét ướp lạnh da lưng, tôi giật mình thức dậy, đề máy xe chạy tiếp..

Tôi lái xe hết đêm đến ngày, những vệt nắng sớm dệt từng mảng sáng vàng lên lưng núi rừng trùng điệp, xe lại vượt qua những đoạn đường hùng vĩ, vách núi một bên, sông lạch một bên. Nhiều lúc nhìn những cảnh đẹp thiên nhiên mà chợt nghĩ thầm, nếu cái đất nước giàu đẹp này, nếu những con đường thiên lý nên thơ này, mà con dốc trước mặt bỗng hiện ra một tên cầm AK, cờ đỏ, bắn vào xe thiên hạ như ở Việt Nam trước 1975, thì đất nước này không mấy chốc cũng sẽ trở thành hoang sơ, nghèo đói không thua gì những vùng đất nghèo nàn, xơ xác ở miền Trung Việt Nam dưới chế độ cộng sản.

Cái cẩm tú và an bình của nước người giúp tôi thoải mái lái xe liên tục hàng ngàn cây số mà không biết mệt, dù đôi lúc anh tài xế cũng cảm thấy vô cùng cô đơn. Có lần về lại nhà, tôi phone Hà Thúc Sinh và “dụ” tác giả Đại Học Máu nếu có gan rời Cali làm một chuyến Bắc du đi Canada mùa Hè, tôi sẽ đưa anh cùng tôi theo xe, đi về hướng Bắc, anh sẽ có dịp hít thở cái không khí trong lành khi xe trèo trên lưng dãy Rocky Mountain, hay ra biển rộng, hay trên sóng nước sông Skeena. Và có thể sau đó cái phổi bệnh hoạn của anh sẽ đầy ắp sinh lực trở lại, anh sẽ có dịp nhìn những nẻo đường đất nước của người ta mà tủi phận cho những nẻo đường Việt Nam của mình

Chuyến đi xa vào cuối tháng 9 năm 93, đã đưa tôi đên tận đầu đảo Queen Charlottes của Canada giáp ranh Alaska.

Muốn qua đảo này, người ta phải đi phà 6 tiếng đồng hồ từ thành phố Prince Rupert. Tôi dự trù làm việc ở Queen Charlottes một hai tháng rồi trở về Vancouver trước khi mùa Đông đổ tuyết lên đầu. Mặc dù có khá nhiều kinh nghiệm lái xe trên tuyết, nhưng tôi cũng rất ớn và lạnh cẳng khi vượt những đường quanh co, trơn trợt phủ đầy tuyết, sẳn sàng ném chiếc xe và tôi xuống vực sâu bất cứ đoạn đường nào. Tôi nghĩ bụng là phải bảo trọng thân thể và tay lái để còn có ngày về lại quê hương sau khi chế độ cộng sản “đi chỗ khác chơi”. Nhưng tôi không tránh được cái số..

Mùa Đông chưa đến, tôi chưa lái chiếc xe truck về Vancouver, nhưng chiếc máy bay đã bốc tôi một mạch từ đảo Queen Charlottes về Vancouver vì một tai nạn bất ngờ trên tàu. Tay trái tôi gãy cụp như cọng lá chuối bị bẻ ngang. Người ta đã chụp thuốc mê tôi, mỗ tay trái, kéo thẳng hai xương gãy, kẹp mỗi xương một mảnh kim loại đặc biệt, dùi xương, bắt ốc xương dính vào mảnh kim loại như mấy ông thợ mộc làm bàn ghế

Sau khi may lại thịt da trên cánh tay tôi, họ đẩy tôi xuống phòng hồi sức lúc nào tôi không hay. Khi tỉnh dậy, thuốc mê tan dần, điều duy nhất tôi biết là cơn đau kinh khiếp đang nhảy múa trên cánh tay trái sưng vù, băng kín như một đòn bánh tét lớn… Tôi cựa mình, dùng bàn tay phải mò mẫm, mân mê từng ngón tay trái tê rần, bất động, và chưa bao giờ tôi thấy bàn tay phải của tôi nó yêu thương bàn tay trái em nó trìu mến đến thế..

Bác sĩ cho tôi về nhà sau mấy hôm vật vờ trong nhà thương, và sau khi về đến nhà, tôi lại tiếp tục lừ đừ, đau đớn thêm cả tuần nữa. Dường như thuốc mê, thuốc ngủ và thuốc giảm đau còn đọng trong cơ thể, nên nó đã biến tôi thành một cơ thể yếu như sên

Mấy hôm bà xã nghỉ việc ở nhà, tôi được bà xã săn sóc, chiều chuộng cẩn thận. Ngày nàng phải đi làm, tối về lo cơm nước, buổi tối, nàng cẩn thận lót từng cái gốì dưới cánh tay gãy của tôi. Tôi cảm động và bỗng thấy mình yếu đuối trước cuộc đời. Tính tôi không muốn nhờ vả, không muốn lệ thuộc hay làm khổ ai, kể cả vợ con, nhưng tôi bất lực. Cơn đau càng hành hạ tôi, tôi càng cần thêm thuốc giảm đau. Tôi nhừ và yếu đuôi như một đứa bé lên cơn sốt mọc răng.

Những đêm đầu ngủ ở nhà, mỗi khi tôi cựa mình đau đớn, mò dậy tìm Tylenol thì vợ cũng thức giấc theo, kê lại gối dưới tay tôi. Mỗi đêm tôi cựa mình không biết bao nhiêu lần, và qua nhiều đêm thì dường như vóc dáng người vợ hiền cũng nhuốm mầu đêm trường, hốc hác thấy rõ. Tôi nhận ra điều này, nên có lúc để vợ ngủ say khỏi biết tôi cựa mình đau đớn, tôi bỏ gối xuống thảm nằm yên để khỏi phá giấc ngủ của vợ, nhiều lúc phải chịu đựng cơn đau cho tới sáng.

Lọ thuốc Tylenol cạn sạch, cơn đau nhức vẫn còn, vợ đi làm đầu tắt mặt tối đến chiều mới về nhà, tôi khật khừ chả buồn mua thêm thuốc. Tôi biết đêm tôi sẽ bắt đầu một giấc ngủ không có thuốc giảm đau, tôi phải trở giấc trong tình trạng nửa mơ nửa tỉnh nhiều hơn suốt đêm dài.

Nửa đêm, tôi mở mắt, thức giấc lơ mơ với cơn đau không tài nào ngủ lại. Nghiêng đầu nhìn vợ ngủ say, tôi giữ mình bất động. Cái yếu đuối và đau đớn của cơ thể trong đêm tối, dường như đã đẩy tôi trở về tuổi ấu thơ với Mẹ tôi bên cạnh giường trong những khi tôi đau yếu. Tôi chợt nhớ tới Mẹ tôi, người Mẹ mà mấy mươi năm nay tôi chưa một lần gặp lại. Tôi nhắm mắt, mơ màng, tự thả trôi mình ngược dòng dĩ vãng mông mênh, mờ ảo.

Trong bóng đêm tịch mịch, tôi bỗng có cảm tưởng như Mẹ tôi đang đứng cạnh giường. Rồi bỗng như tôi bị đẩy lùi lại một thời dĩ vãng xa xôi, nhỏ nhít trở lại với những phút giây của một thời thơ ấu bên cạnh Mẹ. Tôi lim dim mắt và lòng thương nhớ bao la trào dâng về hết cho Mẹ. Và tôi bồng bềnh trong mờ ảo, trong tiềm thức mông mênh, tận hưởng những phút giây phút ảo diệu thần tiên này.

Dường như tôi nghe tiếng Mẹ tôi thở dài đâu đó bên cạnh giuờng. Tôi chợt mở mắt ra như tìm kiếm một bóng hình yêu thương của Mẹ tôi trong bóng đêm. Hư hay thực, tôi không biết, dường như là hư, nhưng hai hàng nước mắt của tôi bỗng trào ra, lăn trên má, ứa tràn xuống gối tự lúc nào mà tôi không hề hay biết.

Tôi chợt thảng thốt gọi: “Má!” Và tôi giật mình tỉnh dậy, bàng hoàng tiếc nuối hình bóng mờ ảo của người Mẹ biến mất sau cơn mơ. Tôi biết mình vừa qua một cơn mơ ngắn bất chợt, nhưng tim tôi đau thắt lại, trí tôi bần thần lảng đảng nguyên một buổi sáng nắng trải đầy trời Bắc Mỹ ở bên ngoài khung của kính..

Hitler Và Lò Thiêu Sống Dân Do Thái

vietmessenger.com

Serge Miller

Bản Dịch: Người Sông Kiên và Lê Thị Duyên  

Post by Sơn râu 4 Nov 2025

Lời Nói Đầu

Một danh sách người Do-Thái Âu châu phải bị tận diệt đã được thiết lập và con số lên đến 11 triệu người, trong số có 330.000 Do-Thái Anh, 4.000 Do-Thái Ái Nhĩ Lan, 18.000 Do-Thái Thụy Sĩ và 6.000 Do-Thái Tây Ban Nha.

Rõ ràng là Hitler và tập đoàn đã tự coi mình là chúa tể của toàn thể quả địa cầu, từ Luân-đôn đến Paletinc, từ Madrid đến Mạc-tư-khoa.

Tuy nhiên, Himmler và đồng bọn phải thừa nhận ngay lẽ đương nhiên: là ngay ở thế kỷ thứ XX, càng cần phải có thì giờ và phương tiện vật chất để tàn sát hàng chục triệu con người.

Các sự lấy mót lại quần áo, giầy, nhẫn vàng, mắt kiếng và cả đến tóc đàn bà dùng để làm đệm, thảm cũng đặt thành một vấn đề không kém quan trọng.

Các con số trung bình như sau:

1. Tại tập trung Belzek, nằm trên đường Lablin đi Iwou: tối đa mỗi ngày giết được 15.000 người.

2. Trại tập trung Treblin Ka, cách Varsovie 120 cây số; tối đa giết được 20.000 người mỗi ngày.

3. Trại tập trung Sobibor, cũng ở Ba Lan tối đa giết được 20.000 người mỗi ngày.

Các “cơ xưởng giết người” ấy hoạt động ra sao? Xin đọc câu chuyện sau đây của tên SS Globocnick, con người đã được nhiệt liệt ngợi khen vì đã thay thế hơi ngạt phát ra từ ống xẹc-măn của một máy Diesel bằng khí acide-prussique, hữu hiệu và nhanh chóng hơn:

“Ở Belzek, trong bầu không khí nóng bức của tháng tám, mùi hôi hám đè nặng khắp vùng đến độ không còn có thể chịu đựng được nữa. Hằng hà sa số ruồi vo ve khắp mọi nơi. Sáng sớm chuyến xe lửa đầu tiên gồm 45 toa chở đến 6.700 người Do-Thái, mà 1.450 đã chết vì đói lạnh dọc đường. Ngay khi con tàu vừa dừng lại, đám người liền được lùa xuống một cách tàn bạo. Một máy phóng thanh ra lịnh: cởi bỏ hết quần áo, mắt kiếng, răng giả, nộp nhẫn vàng và nữ trang ở một gui-sê.

Đàn bà và con gái lần lượt đi ngang qua các anh “thợ hớt tóc” các “thợ” nầy bằng hai hoặc ba nhát kéo sởn gọn các mái tóc đi qua trước một. Tóc cắt được sẽ bỏ vào các bao.

Tiếp đó, đoàn người lên đường đến trại. Tất cả mọi người đầu trần truồng. Đi đầu tôi thấy một thiếu nữ đẹp tuyệt vời. Đa số người Do-Thái đã đoán trước được số phận đang chờ đợi họ: mùi hôi của thịt bị đốt cháy đã nói lên điều đó. Nhiều người lâm râm cầu nguyện.

Các phòng hơi ngạt đầy ắp. “Dồn họ vào” Thiếu tá Wirth ra lịnh. Bọn SS nhét họ vào từ bảy đến tám trăm trong khoảng rộng 25 thước vuông. Các cánh cửa đóng lại. Tôi nhìn đồng hồ chính xác đo thời gian; 50 giây, 70 giây… Chiếc máy Diesel không chịu chạy. Người ta nghe thấy tiếng la khóc của các người bị nhốt trong phòng. Cuối cùng, sau 49 phút sửa chữa; chiếc máy bắt đầu nổ. Thêm 25 phút nữa – qua các lỗ kiếng ở cửa sổ và nhờ vào ánh sáng các bóng điện trong hành lang, tôi nhân thấy, trong phòng hơi nầy, phần lớn người Do-Thái đã lìa đời. Ở phút thứ 32 người cuối cùng chết hẳn.

“Các người trong đội lao tác, củng người Do-Thái, mở toang các cánh cửa. Các người chết ép sát vào nhau, vẫn đứng sững như các cột trụ được trồng sát nhau. Lẹ lẹ – phải dọn dẹp căn phòng ngay để đón tiếp đoàn người kế tiếp.

“Đội lao tác nắm các xác chết lôi ra ngoài: tử thi nhơ nhuốc phân, nước tiểu, huyết kinh nguyệt. Hai mươi nha sĩ tù binh tay cầm móc sắt có nhiệm vụ cạy gỡ răng vàng. Nhiều tù binh khác lục lọi trong các nơi mật thiết nhứt của xác chết để tìm kiếm đồ trang sức hoặc các đồng tiền vàng…

Sáu lò thiêu xác vĩ đại hoạt động thường trực ngày đêm…

Các khổ hình khác đặc biệt thường được dành cho phụ nữ.

– Một tên SS để đùa giỡn đã rứt một em bé ngay trên tay người mẹ trước đôi mắt khiếp hãi của bà nầy, hắn ta quăng cục thịt sống nầy vào ảng nước đang đun sôi bên cạnh. Bà nầy muốn nhào theo con, tên SS nắm đầu bà ta kéo lại vừa cười rũ rượi. Người thiếu phụ khốn khổ ấy trở nên điên loạn trước khi bị đưa vào phòng hơi ngạt.

– Một lần khác, cũng để đùa giỡn, một nhóm sĩ quan SS đã chọn 50 thiếu nữ đẹp nhứt trong số những người mới vừa được đưa đến đồng thời cho lính dẫn đến 50 cụ già. Chúng bắt buộc họ làm tình với nhau giữa sân.

– Cũng để đùa giỡn, đám lính SS đã bắt vài chục thiếu nữ xinh đẹp nhứt trong số phụ nữ đang bị giam giữ trong trại (để chờ ngày vào phòng hơi ngạt), chúng lột hết quần áo và dùng cây đánh đập các cô gái nầy để ép buộc họ chạy vòng vòng trong sân, cùng lúc một số khác đã dùng dây thòng lọng quăng bắt từng cô một, như cao bồi bắt ngựa ở Texas, và lôi xềnh xệch về phía chúng, đoạn chúng đè cứng cô gái nằm dưới đất trong khi một tên từ từ tiêm thuốc độc mã-tiền-linh vào bắp vế cô gái, cô gái rướn người lên… đôi mắt trợn trừng, bọt mép bắt đầu sùi ra…

Các y sĩ SS đã thực hiện một loại thí nghiệm về giải phẫu sinh thể (thí nghiệm ngay trên con người sống và còn tỉnh) không tưởng tượng được, ngay cả trên các người đàn bà đang mang thai…

1

Đó là ngày 23 tháng 10 năm 1943, một buổi chiều thứ bảy. Lyon, bầu trời thường ảm đạm, hôm nay được sưởi ấm trở lại bằng một ánh mặt trời đến muộn.

– Lát nữa gặp lại, tôi nói với Charles, một người bạn từ thời niên thiếu hiện cũng đang ở trong tổ chức bất hợp pháp, tôi có hẹn lúc 8 giờ tại một quán nước trên đại lộ Philippe- Berthelot. Tôi sẽ trở lại sau. Nói với Nelly sửa soạn đồ đạc cho tôi.

Tôi đi đến chỗ hẹn trong tiệm café. Một người đàn ông bất ngờ đến sau lưng tôi, dí nòng súng lục vào hông và ra hiệu cho tôi đi theo. Chơi trò ma lanh bây giờ thật vô ích: Họ cả thảy là ba người thuộc sở mật thám Gestapo. Họ đã lùng tôi suốt 6 tháng nay. Phải có thể diễn tả từng giây mới đầy đủ cái cảm giác của tôi lúc đó, nhưng chẳng có một ai có thể làm như vậy.

Niềm hy vọng của tôi, mộng ước, tuổi trẻ, cha mẹ, bằng hữu và những điều khác nữa, hàng trăm chuyện, tất cả thoảng qua trong trí tôi như những ánh chớp trong vài giây đồng hồ, thời gian tôi bị dẫn qua đường, bởi vì thật khôi hài quá sức, quí ông nầy hẹn tôi đúng ngay trước cổng cơ quan của họ, nguyên là trường y tế. Thật thế, cơ quan Gestapo vùng Lyon đặt trụ sở trong tòa nhà nầy.

Tôi bị đẩy lên tầng thứ nhất. Tôi nghĩ đến người vô hình của Wells, trong các chuyện thần tiên, đến chúa, đến tất cả những nhân vật có thể mang lại phép lạ mà sách vở đề cập đến. Nhưng chẳng có gì xảy ra. Người ta đưa tôi vào một căn phòng. Bốn tên lực lưỡng nhào về phía tôi và cuộc tiếp đón đầu tiên được thể hiện bằng một đòn nốc ao đúng theo qui tắc. Vừa mới hồi tỉnh lại, một trận mưa câu hỏi bằng tiếng Pháp và Đức; toàn câu chọn lọc:

– Mầy tên gì?

– Mầy từ đâu đến?

– Ai đợi mầy?

– Hôm qua mầy ở đầu?

– Những người mầy đến gặp làm gì?

Cứ như vậy, hàng chục lần, và mỗi khi tôi tinh trả lời, lại thêm một trận mưa câu hỏi như thế nữa: Tại sao? Ở đâu? Làm sao? Ai? Cái gì?…

Tất cả chuyện đó kéo dài một lúc khá lâu, và trong khi tôi mơ mơ màng màng, đồ vật trong túi tôi bị mất hết. Một gia đình châu chấu trên một bông lúa mì.

– Hãy suy nghĩ kỹ, thứ hai đến mầy sẽ được thẩm vấn.

Không, có thể như vậy được không! Có lẽ đây là phép lạ được trông chờ. Thật vậy, bây giờ là tối thứ bẩy và quí ông đấy sắp đi du hí. Vậy là tôi có 36 tiếng đồng hồ để chuẩn bị các câu trả lời, thật tuyệt diệu. Tôi cảm thấy nhẹ mình bởi vì vừa bị đánh ngất, vừa bị tra hỏi, và nếu phải trả lời liền ngay khi vừa tỉnh lại người ta sẽ nói những điều dại dột và bị bọn bò mộng khai thác!

Tôi được dẫn xuống hầm của ngôi trường dùng làm phòng đợi, nơi đây một hành lang chính dẫn đến nhiều phòng, mỗi phòng giam, giữ từ 3 đến 5 người mới bị bắt và đang chờ được thẩm vấn. Im lặng gần như tuyệt đối và chỉ có tiếng động của xe cộ bên trên mặt đất mà thôi, bởi vì trong mỗi phòng giam, trên trần có một lỗ thông hơi nằm vừa ngang mặt lề đường. Tự do ở thật gần, đang trêu chúng tôi!

Gần đến nửa đêm, người ta đến kiếm chúng tôi, chúng tôi bị trói hai người làm một bằng dây và trước đó một viên thanh tra đã còng tay mỗi người lại.

Nhân viên SS bao quanh chúng tôi với súng tiểu liên, đoàn người xếp hàng một – chúng tôi tất cả chừng mười lăm người – tiến về phía cửa ra vào. Trong sân, một chiếc xe vận tải bỏ mui bít bùng chờ đợi chúng tôi. Chiếc xe thường chạy đi chạy lại giữa văn phòng tại trường y tế và lao xá của pháo đài Montluc, nơi giam giữ những người bị bắt. Sau nầy chúng tôi mới biết là từ ít lâu nay chiếc xe vận tải được hai xe du lịch hộ tống, bởi vì vài ngày trước đó, có một vụ phục kích trên đường phố, nhờ đó một lãnh tụ kháng chiến địa phương quan trọng đã trốn thoát được.

Chúng tôi bị dồn đẩy tàn bạo vào trong sân vì bên ngoài cần có chỗ cho 4 tên võ trang. Không bị còng và bị trói, đẩy nhau xuống lề đường là chuyện dễ dàng, nhưng ngoài mối nguy hiểm bị gãy chân gãy tay lại còn các cây súng sẵn sàng nhả đạn từ trong hai chiếc xe du lịch chạy theo sau,

Khi xe dừng lại, họ đẩy chúng tôi xuống thật nhanh – Chúng tôi ở trong sân chung quanh bao bọc bởi các bức tường thật cao, đây là bên trong pháo đài. Sau khi đi ngang qua một hành lang một sân khác rồi một hành lang khác, họ đẩy chúng tôi vào một gian phòng có chấn song sắt bao quanh, một tên lính đội nón sắt, cầm một danh sách, điểm danh từng người. Khi y gọi tôi, tôi nghe một tên phụ tá nói Zelle wei und sexig! (“xà lim” số 62).

Phòng giam 62 ở trên tầng thứ nhất, nằm khoảng giữa. Thật tối tăm, bởi vì chỉ có tầng dưới đất mới có đèn và chỉ là vài ngọn đèn đêm tù mù. Từ một xâu chìa khóa khổng lồ, y lựa ra một chìa mở cửa nào cũng được và mở cửa, tôi bị đẩy vào bên trong. Tôi vấp ngã trên một đệm rơm và tôi dọ dẫm bằng chân. Tôi biết là trong phòng đã có đông người.

– Có tin gì không?

Tôi được đón tiếp bằng câu hỏi ấy.

Hai giọng cùng nói:

– Quân Nga đã đến Kiev còn những đạo quân khác vẫn dậm chân tại La-mã, tôi trả lời nho nhỏ.

– Nhưng bộ anh điên sao, La-mã đã được giải phóng từ lâu.

Thế đó! Ở trong tù, bao giờ người ta cũng đi trước sự thật, hơn đâu hết, trong đó, hy vọng là nguồn sống của con người.

Tôi ngả người xuống gần hai kẻ lạ mặt, họ nói:

– Ngày mai sẽ làm quen với nhau.

Trái với lúc chiều, tôi cảm thấy gần như khỏe khoắn trong bóng tối như thế nầy. Sau tất cả những xúc động, tôi có thể hít thở một lúc và chuẩn bị cho các câu trả lời vào sáng thứ hai.

Tôi muốn ngó, nhưng không được. Người ta sẽ nghĩ gì trong căn phòng nhỏ ở công trường Colbert? Lúc thấy tôi không trở về tôi hy vọng anh em đã dời đi nơi khác. Đây không phải là lần đầu.

Gần tôi, tiếng ngáy ầm ĩ. Họ chắc đã quen quá rồi.

Sáng hôm sau tôi mới làm quen được với hai bạn đồng cảnh ngộ khốn đốn: một người bán thực phẩm và tạp hóa ở Saint-Étienne, tên Bastié và một tài xế xe vận tải của công ty Vercors, anh nầy đảm trách tiếp tế cho một chiến khu. Cùng lúc đó tôi quan sát căn phòng giam, tất cả các phòng giam của nhà lao Montluc đều giống nhau: 1.5 thước bề rộng, 2,2 thước bề dài, 2,5 thước bề cao, một cửa sổ nhỏ có song sắt trên cao để lấy ánh sáng và một thùng sô để tiêu tiểu. Hai chiếc đệm rơm mà ban ngày được chất gọn lại để có chỗ thay phiên nhau đi lại … ba bước bề dài, quẹo qua phát, và lại ba bước. Tường vách được viết đầy chữ giống như các vách tường của những nơi mà con người sống đau khổ. Có vô số tư tưởng và vô số mong ước. Một trong số đó, được viết bằng nét chữ lớn hơn cả, và viết bằng Đức ngữ: Nơi đấy một người dân Alsace đã sống khổ đau. Tôi đang suy đoán về dời sống tại đây của những người trước tôi, thì cửa phòng giam bật mở. Đây là cuộc đi dạo nổi tiếng mỗi sáng, trong thời gian nầy chúng tôi làm vệ sinh.

Người tài xế công ty Vercors (tôi quên mất tên) xách thùng vệ sinh và đi xuống thang lầu, tôi có thể quan sát toàn thể lao xá Montluc hay ít ra là đây nhà chính, nơi chúng tôi bị giam giữ: tầng dưới đất dành cho nữ tù nhân và hai tầng dành cho nam can phạm. Khắp nơi và theo hàng dọc, những cánh cửa phòng giam được đánh số.

Trong sân rộng chung 50 thước, chúng tôi đi vài vòng. Một đoàn người đi hàng một, người đi đầu xánh thùng vệ sinh của mỗi phòng giam, đi đến chỗ đổ thùng, tráng nước rửa ra rắc vào trong một ít cờ-lo (chlore) nếu còn. Sau đó, chúng tôi tắm rửa và trở lên phòng giam.

Trong công việc đó, tôi trở thành điểm nhắm của tất cả những người không quen ở đây, bởi vì tôi là kẻ mới đến. Mỗi lần lính gác có vẻ bớt chú ý, khắp chỗ vang tiếng thì thầm: “Có tin gì mới không?”

Nhờ bạn giam chung phòng, tôi biết sự thật hơn ngoài bao giờ cũng chậm hơn cái mà chúng tôi gọi là “đài phát thanh thùng xia” ở đây. Như thế, không muốn để họ mừng hụt, tôi ra hiệu không biết và tôi đọc trong cái nhìn của họ vẻ giận dữ và khinh thị.

Khi chúng tôi trở lên, và khi cánh cửa đóng lại phía sau chúng tôi, hai bạn tù giải thích với tôi chương trình trong ngày:

– Ngày nào cũng vậy, việc đó kéo dài chừng 10 phút, và đó là lúc thoải mái nhất trong ngày. Tất nhiên là còn có giờ ăn nữa, hai lần xúp một ngày với một phần bánh mì.

“Vì nhiều phòng giam xuống sân cùng một lúc, trong sân có chừng 20 người. Với may mắn, người ta có thể gặp bạn quen và trao đổi tin tức. Luôn luôn có tin tức, thường là tin giả, nhưng dần dà cũng được xác nhận. Và đó là thú vui duy nhất của chúng tôi, một tin tức là cả một sự ngạc nhiên thích thú trong ngày. Một ngày thật quá dài! May thay, còn có nhưng cơn đói bụng và tâm trí cũng bị hận rộn đôi chút vì chuyện đó. Sáng mai chắc họ sẽ đến kiếm anh, ngày nào cũng có thẩm vấn, và khi chấm dứt, nếu tốt đẹp, anh phải đợi, thường là trong 2 tháng. Sau đó là sang Đức để làm việc. Trừ phi nội vụ không có gì là trầm trọng quá, trái lại sẽ là chiếc cọc hành hình. Đã có nhiều người bị bắn. Nhiều tử tội khác còn đó, chờ từ 5 tháng rồi, thiu người trong các xà lim”.

Ông bạn bán tạp hóa ở Saint – Eticime nói với tôi như vậy. Nhỏ con và xanh xao, anh ta nháy mắt liên hồi và luôn miệng than vãn. Anh ta còn nói với tôi là đã chẳng làm gì cả, hy vọng sẽ được tha, rằng quân Mỹ sao tiến chậm quá, rằng anh ta không ưa dân Anh và rằng anh ta đã từng là hội viên phong trào cựu chiến binh, anh ta cũng còn nhận định rằng một cái gì đó đã làm cho quân Nga chiến đấu như sư tử. Anh ta nói đến tất cả chuyện đó như người độc thoại, với một giọng đều đều, trầm trầm bởi vì đôi khi quân canh đi tuần ngoài cửa nghe được.

Anh tài xế vận tải lắng nghe bạn nói, đó là một thanh niên: độ 17 tuổi, mắt phải bị thương vì các đòn tra tấn, tỏ ra vui vẻ vì đã trải qua nhiều lần với quân “Chlenbs” 1, các nhân viên hỏi cung Đức và vì cuộc thẩm vấn anh đã xong.

Bây giờ là chúa nhật, ngày đầu tiên của tôi. Bên ngoài, trời đẹp, anh chàng bán tạp hóa nói luôn mồm và tôi thì đang nghĩ đến Ba-lê. Giờ đây ở đó chắc là đầy người trên các đại lộ.

——————————–

1Tên một bộ lạc ở Maroc và biệt danh dùng để gọi bọn Đức.

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 4 Nov 2025

Bài 23

Cuộc vượt ngục của những kẻ ăn thịt người

“Nó chén mất cái chân gỗ rồi!” “Một ra-gu dùi gỗ, một!”.
Hoặc bắt chước giọng đàn bà: một suất bít-tết đàn ông rán kỹ không bỏ hạt tiêu nhé!”.
Giữa đêm khuya thỉnh thoảng lại nghe la lên một câu như vậy hoặc cả ba câu liền.
Clousiot và tôi cứ băn khoăn không hiểu tại sao lại có những câu nói ném ra một cách bâng quơ như vậy trong đêm khuya.
Cho đến chiều nay tôi mới biết căn nguyên câu chuyện. Người kể cho tôi nghe là một nhân vật của câu chuyện tên là Marius de la Ciotat, chuyên gia về két sắt. Khi đã biết rằng tôi có quen với bố anh ta, ông Titin, anh ta không ngần ngại nói chuyện với tôi. Sau khi kể cho anh ta nghe một phần trong chuyến vượt ngục của tôi, tôi hỏi: “Còn anh?” – hỏi lại như vậy là điều rất tự nhiên.
– ồ, tôi thì đã tham gia vào một chuyện rất xấu xa. Tôi e rằng chỉ vì một cuộc vượt ngục mà lĩnh năm năm cấm cố. Nó được mệnh danh là “cuộc vượt ngục của những kẻ ăn thịt người”. Những câu “Nó chén rồi” hay là “một ra-gu, v.v…” và thỉnh thoảng anh có nghe thấy là nói về hai anh em Graville.
“Chúng tôi có sáu người trốn từ Cây số 42. Trong bọn có cả Dédé và Jean Graville, anh ba mươi lăm tuổi, em ba mươi, vốn là người Lyon, một người Naples ở Marseille và tôi, người ở La Ciotat, rồi thì một anh chàng ở Angers có một chân gỗ và một cậu thanh niên hai mươi ba tuổi, được hắn dùng làm vợ. Khi ra khỏi sông Maroni thì ổn cả, nhưng ra đến biển chúng tôi không sao điều khiển được thuyền, và chỉ trong mấy tiếng đồng hồ đã bị giạt vào bờ biển Guyane thuộc Hà Lan.
“Thuyền bị đắm, mất sạch không vớt vát được chút gì lương thực cũng như đồ đạc. May mà hãy còn giữ được những áo quần đang mặc trên người. Nơi chúng tôi bị giạt vào không có bãi cát, biển vào thẳng trong rừng rậm. Chỗ này những cây bị gẫy gốc hay bị biển bứng lên cả rễ đan chi chít vào nhau.
“Đi suốt một ngày mới đến chỗ khô ráo. Chúng tôi chia ra làm ba nhóm, nhóm thứ nhất là hai anh em Graville, tôi với Guesepi đi với nhau, còn gã chân gỗ đi với thằng bạn nhỏ. Mỗi nhóm đi về một phía, nhưng mười hai ngày sau nhóm Graville và nhóm chúng tôi lại gặp nhau gần đúng ở chỗ đã chia tay nhau. Xung quanh toàn là bùn lầy, tìm mãi không có một lối nào qua được. Không cần phải tả cho anh thấy mặt mũi chúng tôi lúc bấy giờ ra sao. Suốt mười ba ngày chúng tôi không ăn gì ngoài mấy mẩu rễ cây hay mầm cây. Đói và mệt lả, hoàn toàn kiệt sức, chúng tôi quyết định là Marius và tôi sẽ thu hết tàn lực trở ra bờ biển, buộc một chiếc áo sơ mi lên một ngọn cây, càng cao càng tốt, để ra đầu thú với chiếc tàu tuần tra bờ biển đầu tiên của Hà Lan thế nào cũng sẽ đi qua đấy. Hai anh em Graville sẽ ở lại nghỉ vài giờ rồi đi tìm vết tích của hai người kia.
Tìm chắc cũng dễ vì ngay từ đầu chúng tôi đã thỏa thuận là sẽ bẻ cành cây đánh dấu những chỗ vừa đi qua.
Thế rồi mấy giờ sau, hai anh em thấy gã chân gỗ trở lại một mình.
– Còn thằng bé đâu?
– Tớ để nó ngồi lại cách đây rất xa, vì nó không đi được nữa.
– Cậu bỏ nó lại như vậy thật là quá tệ.
– Chính nó muốn quay lại.
Đến đấy Dédé nhận thấy cái chân duy nhất còn lại của hắn đi một chiếc giày của cậu bé. 
– Cậu lại còn bắt nó cởi giày ra cho cậu đi nữa. à! Khá thật. Mà cậu có vẻ khỏe khoắn lắm chứ không phải như chúng mình. Rõ ràng là cậu vừa được ăn.
– Đúng, tớ tìm được một con khỉ lớn bị què.

– Thế thì may cho cậu. – Đến đây Dédé đứng dậy, con dao lăm lăm trong tay, vì anh ta eảm thấy mình đã hiểu ra được một điều gì khi nhìn thấy cái túi dết của gã kia căng phồng lên.
– Mở túi dết ra. Cái gì ở trong ấy?
Hắn mở túi dết ra thì thấy có một súc thịt.
– Cái gì đấy?
– Miếng thịt khỉ ấy mà!
– Đồ khốn kiếp, mày đã giết thằng bé để ăn thịt!
– Không phải đâu Dédé, tớ thề như vậy. Cậu ấy mệt quá chết rồi, tớ có ăn một ít. Cậu tha cho tớ.
Hắn chưa nói hết câu thì con dao đã đâm sâu vào bụng hắn. Lục soát trong người hắn, Dédé tìm thấy một cái túi da có đựng diêm và tấm bìa quẹt.
Hai người giận điên lên khi thấy cái túi đựng diêm ấy vì như thế là khi chia tay nhau gã kia không chịu chia đều số diêm cho các nhóm khác. Thêm vào đấy lại đói nữa, thế là họ đốt lứa và bắt đầu nướng thịt gã chân gỗ ăn.

Guesepi đến trong khi hai người đang chén. Họ mời anh ta. Guesepi từ chối, ở bờ biển anh ta đã ăn mấy con cua và mấy con cá sống. Anh ta bên đứng nhìn từ bên ngoài cái cảnh hai anh em Graville nướng miếng thịt trên than hồng, dùng cả cái chân gỗ để đun bếp. Như vậy là trong hai ngày liền Guesepi đã trông thấy hai anh em Graville ăn thịt gã kia; anh ta lại còn trông thấy rõ những bộ phận họ đã ăn: cái bắp chân, cái đùi, bộ mông. 
Còn tôi, – Marius nói tiếp, – tôi đang đứng chờ ở bờ biển. Guesepi ra tìm tôi. Chúng tôi bắt cua và cá nhỏ bỏ đầy một cái mũ và đem về bếp anh em Graville để nướng. Tôi không trông thấy xác thằng chân gỗ, chắc họ đã lôi đi chỗ khác. Nhưng tôi có trông thấy mấy miếng thịt còn để ở một bên đống lửa, trên lớp tro.
Ba hôm sau, một chiếc tàu tuần tra bờ biển cho chúng tôi lên và giao chúng tôi lại cho trại tù Saint Laurent – Du-Maroni.
“Guesepi đã không chịu giữ mồm giữ miệng. Tất cả những người ở trong phòng này đều biết sự việc đã xảy ra, ngay cả bọn gác cũng biết. Tôi kể cho anh nghe vì ai cũng biết hết rồi; anh em Graville là người xấu tính, cho nên mấy người khác mới ném ra những câu mà anh đã từng nghe giữa đêm khuya.
Chúng tôi bị chính thức lên án về tội vượt ngục kèm theo tội ăn thịt người. Cái gay là ở chỗ để tự bào chừa tôi phái tố cáo anh em Graville, mà điều đó thì không thể được. Cả bọn, trong đó có cả Guesepi, đều phủ nhận việc này trong các buổi hỏi cung. Chúng tôi đều nói là hai người kia đã mất tích trong rừng. Tình cảnh của tôi là như thế đấy, Papillon ạ”.
– Tôi chia buồn với cậu, vì quả thực cậu chỉ có thể tự bào chữa bằng cách tố cáo người khác.
Một tháng sau, Guesepi bị giết bằng một nhát dao đâm vào giữa tim trong lúc đang đêm. Thậm chí người ta cũng chẳng cần tự hỏi xem ai đã giết hắn.
Đó là sự thật trong câu chuyện những người vượt ngục đã ăn thịt một người trong bọn bằng cách nướng hắn trên ngọn lửa đốt bằng cái chân gỗ của hắn, và trước đó bản thân người này đã ăn thịt thằng bạn nhỏ cùng đi với hắn.
Đêm ấy tôi nằm ở một chỗ khác trên sạp gỗ: người trước đó nằm ở đây đã bị chuyển đi nơi khác. Tôi lại xin mọi người xê ra một quãng, thế là Clousiot có chỗ nằm cạnh tôi.
Từ chỗ tôi nằm, dù chân trái bị cùm vào thanh sắt dài, ngồi dậy tôi vẫn thấy được những gì đang diễn ra ở ngoài sân.
Sự giám sát nghiêm ngặt đến mức các đợt đi tuần hầu như kế tiếp nhau không hở phút nào, và bất cứ lúc nào cũng có những đội tuần tra đi đến từ phía ngược lại với đội trước.
Bây giờ chân tôi đã đi được rất khỏe, và chí có khi nào trời mưa tôi mới thấy đau nhức. Vậy là tôi đã đủ sức để tiến hành một cuộc vượt ngục khác, nhưng bằng cách nào? Phòng này không có cửa sổ, chỉ có một dãy song sắt rất lớn ghép liền thành một bức rào chạy hết chiều ngang và lên đến tận mái. Vị trí của nó cho phép gió đông bắc thổi vào phòng lồng lộng. Tuy đã quan sát suốt cả tuần, tôi vẫn chưa tìm được một chỗ nào sơ hở trong cách giám sát của bọn canh ngục. Lần đầu tiên, tôi hầu như đã phải chịu rằng họ sẽ có thể đưa tôi vào nhà giam cấm cố ở đảo Saint-Joseph.
Nghe nói là nhà giam này rất khủng khiếp. Người ta gọi nó là cái nhà giam “ăn thịt người”. Thêm một tài liệu nữa: nó tồn tại đã tám mươi năm nay mà chưa hề có một người nào trốn ra ngoài được.
Dĩ nhiên một khi hầu như đã chấp nhận mình thua cuộc như vậy, tôi phải nhìn về tương lai. Tôi đã hai mươi tám tuổi, mà viên đại úy dự thẩm đòi giam tôi năm năm cấm cố. Rút ngắn thời hạn này là việc hết sức khó khăn. Vậy thì khi ra khỏi nhà giam cấm cố tôi sẽ được ba mươi ba tuổi.
Tôi còn có nhiều tiền trong plan. Vậy nếu tôi không vượt ngục được – điều này gần như chắc chắn nếu cứ theo những điều tôi được biết – ít nhất tôi cũng phải làm thế nào để giữ được sức khỏe cho tốt. Năm năm trong cảnh hoàn toàn cô độc khó lòng có thể chịu đựng nổi mà không phát điên. Cho nên tôi dự tính sẽ luyện tập ngay từ ngày đầu bị cấm cố cho bộ óc của tôi hoạt động thật ngăn nắp theo một phương trình được ấn định chính xác và đa dạng. Phải cố tránh đến mức tối đa những lối mơ tưởng “xây lâu đài ở Tây Ban Nha”*(*thành ngữ Pháp có nghĩa là mơ ước những chuyện hão huyên) và nhất là tránh mơ ước những cách trả thù. Vậy ngay từ bây giờ tôi đã chuẩn bị vượt qua sự trừng phạt khủng khiếp đang chờ tôi và ra khỏi nhà giam cấm cố với tư thế của người chiến thắng. Phải, chúng nó sẽ chẳng được xơ múi gì. Tôi sẽ ra khỏi nhà giam cấm cố với một thể lực tốt, hoàn toàn làm chủ những năng lực thể chất và tinh thần của mình.
Xác lập được những dự định này và điềm tĩnh chấp nhận những gì đang đợi tôi là một điều làm cho tôi thêm vừng vàng. Ngọn gió biển lùa vào phòng mơn trớn tôi trước khi thổi đến những người khác và thực sự làm cho tôi thêm sảng khoái.

Clousiot biết rõ khi nào tôi không muốn nói chuyện. Cho nên anh ta không quấy rầy những phút yên lặng của tôi, và chỉ hút nhiều thuốc lá. Nhìn thấy mấy ngôi sao ở trên trời, tôi nói với anh: 
– Nằm ở chỗ cậu có thấy sao không?
– Có anh ta nói, người hơi nghiêng về phía trước.
– Tôi thấy đừng nhìn sao thì hơn vì nó làm cho tôi nhớ những ngôi sao trong chuyến vượt ngục vừa qua quá. Cậu đừng buồn, chúng ta sẽ thấy lại hằng ngày trong một chuyến vượt ngục khác.
– Bao giờ? Năm năm nữa à?
– Clousiot ạ, cái năm mà chúng ta vừa được sống qua, tất cả những chuyện ly kỳ đã xảy ra đến với chúng ta, những con người mà chúng ta đã quen được biết chẳng lẽ lại không đáng giá năm năm cấm cố hay sao? Cậu thích ở Quần đảo ngay từ đầu hơn là đã dự cuộc vượt ngục ấy sao? Vì mấy năm cấm cố đang đợi chúng ta chắc chắn là những năm đọa đày, cậu tiếc là đã có mặt trong cuộc vượt ngục ấy sao? Cậu hãy trả lời thành thật đi, cậu có tiếc không? 
– Papi ạ, cậu quên mất một điều: tôi không hề được sống bảy cái tháng thần tiên của cậu ở làng Anh-điêng. Giá tôi đã cùng đến đấy với cậu, tôi cũng sẽ nghĩ như cậu, nhưng đằng này trọn thời gian ấy tôi lại phải ngồi tù.
– Xin lỗi cậu, tôi quên mất, tôi nói bậy.
– Không, cậu không nói bậy: dù sao tôi cũng rất hài lòng về chuyến vượt ngục của chúng ta, vì chính tôi cũng đã được sống những giờ phút không thể nào quên được. Chỉ có điều tôi cũng hơi lo sợ trước những gì đang chờ tôi ở cái nhà giam “ăn thịt người”. Năm năm cắm cố là một cái gì hầu như không thể qua nổi.
Tôi liền nói với Clousiot biết những điều tôi đã quyết định làm, và tôi cảm thấy anh ta có một phản ứng rất tích cực. Thấy bạn lấy lại được sức mạnh tinh thần, tôi rất mừng. Còn mười lăm ngày nữa chúng tôi phải ra tòa. Theo những lời đồn đại viên thiếu tá sẽ đến đây chủ tọa hội đồng trừng giới có tiếng là người nghiêm khắc, nhưng hình như lại là người rất trung trực. Ông ta không dễ gì tin vào những lời xúc xiểm của Ban quản trị nhà tù. Vậy nên coi đó là một tin mừng thì hơn.
Clousiot và tôi (vì Maturette ngay khi trở về trại đã bị nhốt vào xà-lim riêng) đều không chịu nhận một viên giám thị làm trạng sư bào chữa. Cả hai quyết định rằng tôi sẽ nói thay cho cả ba chúng tôi và sẽ bào chữa cho cả nhóm.



Số Mạng

Trạch An – Trần Hữu Hội

Giao Chỉ xuất bản 2017

Post by Sơn râu 4 Nov 2025

Phần 5 – Đáo hạn

Ngồi chờ đã hai giờ đồng hồ mà vẫn chưa thấy Hằng, Thụ nhấp nhổm nhìn ra cửa. Quán không có ai, bà chủ sau khi bưng ly cà phê cho anh rồi biến đi đâu mất làm anh muốn xin thêm chút đường cũng đành chịu!

Mấy năm rồi, từ ngày lập gia đình, anh trở thành khách hàng thường xuyên của Ngân Hàng. Lấy nhau, cả anh lẫn chị đều tay trắng. Anh làm đủ việc, từ đi rừng đốn gỗ lậu đến buôn gỗ vào Sài gòn…Gom được vài chục triệu, chưa kịp mừng thì chuyến kế tiếp bị bắt! Vay nóng nhiều chứ Ngân Hàng chỉ cho vay vài chục triệu không đủ làm vốn, được cái lãi thấp, có kỳ hạn trả nợ chứ không đòi bất thường như các chủ nợ chuyên cho vay nóng. Anh nhớ có lần nghe tin anh bị bắt gỗ trong Phan Thiết, bốn năm bà chủ nợ đến liên tục làm anh phải trốn lên Đà lạt cả nửa tháng. Ở nhà, chị Thu vợ anh khốn khổ với họ…

Từ ngày làm được cái sổ đỏ, dành dụm xây cái nhà, xem như có tài sản thế chấp, anh bắt đầu trở thành con nợ của ngân hàng, làm ăn theo hướng ổn định hơn là bán đồ lưu niêm, phim chụp hình, băng đĩa nhạc…kiêm luôn nghề thu băng.

Vừa lảm trả nợ xây nhà, vừa trang trải cho sinh hoạt của hai vợ chồng và hai đứa con, món nợ ngân hàng cứ tăng dần tử ban đầu ba mươi triệu, ba năm nay đã lên trăm triệu chẵn! Cái nhà anh ở mặt tiền đường Quốc Lộ nên cũng có giá, cộng với phí phần trăm chung chi cho cán bộ tín dụng qua mấy bà cò (*), anh mới vay được tới trăm triệu. Cứ đến hạn, cố làm sao chạy cho ra tiền lãi, còn tiền gốc thì đã có các cò tạm ứng, trả xong vay lại ngay, con nợ chỉ cần ký nhận còn cò nhận tiền…

Tiền phí dịch vụ, tức tiền lãi ngày trong thời gian chờ làm thủ tục trả, vay, có người lấy cao, có kẻ tình cảm thì lấy thấp. Cò không chỉ ứng tiền gốc, họ phải hỏi trước cán bộ tin dụng có cho vay lại không mới ứng tiền…Đã có những trường hợp dở khóc dở cười là sau khi trả xong cả gốc lẩn lãi, không vay lại được. Đòi gì được khách hàng nghèo rớt mồng tơi! Bởi vậy, cò phải là tay bản lĩnh trong quan hệ với ngân hàng và cả khách hàng…

Hằng là cò cứng cựa nhất trong số cò ở vùng này.

Quan hệ ngân hàng tốt và nhiều vốn. Hằng đẹp, mượt mà, lại góa chồng. Với cái tuổi ba chín, Hằng xem trẻ như mới chừng hai tám, ba mươi, nếu không bị cái tiếng sát phu thì chắc chị cũng đã có người tử tế chắp nối duyên tình từ lâu.

Anh chồng chị là một cán bộ huyện, đám cưới đúng ba tháng thì anh ta bị bênh uốn ván chết chỉ vì đạp cái đinh sét khi vào chăm đàn dê trong chuồng. Cũng may là đã kịp để lại cho chị thằng con trai trong bụng…Đâu khoảng chừng hai năm sau ngày chồng chết, một anh cán bộ Kiểm Lâm thương chị như điếu dổ, họ dự định làm đám cưới thì anh ta bị tai nạn chết khi vừa phóng xe ra từ cây xăng thường ngày vẫn đổ! Từ đó đến nay, nhiều người đàn ông nhìn chị khát khao…nhưng chị vẫn cô đơn. Ai cũng tin chị có số sát phu. Ba năm nay Thụ trở thành khách hàng của Hằng, lần đáo hạn này anh tính nhờ Hằng giúp cho anh tăng tiền vay lên trăm rưỡi triệu, một trăm trả lại cho Hằng còn dư năm mươi triệu mua cái máy photocopy, làm thêm dịch vụ này.

Anh vừa định gọi cho Hằng thì thấy cô ấy đến:

-Anh Thụ chờ lâu phải không?

-Ừ, kẹt gì thế?

-Anh có biết anh Kiên bên xưởng mộc không? Em vừa trả xong lãi và gốc hai trăm triệu, vay trung hạn, làm hồ sơ lại rồi nhưng vợ chồng lình xình, hôm qua đánh nhau ầm ỉ, đòi ly dị…Chuyện tới tai cán bộ tín dụng làm Ngân hàng không cho vay lại…

-Rồi sao, em uống gì anh gọi?

-Phải chờ vài hôm, êm êm rồi vợ chồng anh Kiên mời cơm tụi nó, diển tuồng kha khá, nó thấy cơ sở làm ăn…Có em nói vào là xong thôi. Em uống rồi!

Hằng vòng hai tay ôm cái túi trong lòng, cười với Thụ rồi quay người nhìn quanh quán, những bụi hoa Hoàng yến vàng rực và nhiều loại hoa trồng chậu rất đẹp…nhưng từ khi vào đến giờ, Thụ chưa hề đảo mắt bởi trong anh đang cộm lên nỗi lo âu thường trực cứ mỗi lần đáo hạn. Lần này, vay thêm năm mươi triệu anh lại càng lo hơn.

Năm ngoái, khi vay lại một trăm triệu, Hằng cho anh biết là càn bộ tín dụng nói nếu tính theo sổ đỏ, ngôi nhà mặt tiền của anh còn rất ít đất sau khi trừ đường dây điện cao thế phía sau và mốc lộ giới phía trước. Tính theo giá quy định của tài chính thì lô đất không đến sáu mươi triệu, mặc dù giá thị trường có thể lên đến vài trăm! Anh nói với Hằng cứ chung chi và giúp anh vay lại mức ấy…Nhưng rồi không tốn kém gì, tiền lãi vay ngày và đơn trương cho dịch vụ Hằng chỉ lấy anh hai trăm ngàn. Anh ngạc nhiên nhìn Hằng, cô ấy nói:

-Em chỉ lấy anh phí bên Tài nguyên môi trường thôi.

Năm nào cũng vay và năm nào cũng tốn phí cho Tài nguyên dù đất và nhà ở không hề thay đổi, tiền thì không nói nhưng cái công chờ đợi…Nhiều lần hồi chưa có Hằng, anh chờ có khi hai ngày mới đóng được con dấu. Trong phòng chờ của tài nguyên, lúc nào cũng đông, chỉ toàn những người nghèo, vay đôi ba chục, có người chỉ vay năm bảy triệu sửa cái chuồng bò…cũng phải đợi…Những khuôn mặt lo âu ngao ngán nhìn nhau… Nếu không hoàn thành hồ sơ thì phải qua ngày.

khác, kéo theo chậm trễ bên Ngân hàng và tăng lãi vay vốn nóng tính từng ngày của việc đáo hạn.

Cò giải quyết khâu này rất nhanh bằng cách riêng của họ!

Bây giờ vay thêm năm mươi triệu không biết Hằng có giúp anh được không!

Thụ tự nhiên hồi hộp như đứng trước cán bộ ngân hàng:

-Anh tính lần này cô giúp vay cho anh trăm rưởi, được không Hằng?

-Làm gì vay nhiều vậy anh Thụ?

-Anh làm thêm dịch vụ Photocopy.

Hằng nhìn Thụ, nghĩ tới Thu vợ Thụ, hơn năm nay bỗng bị bệnh tiểu đường và suy tĩnh mạch, vào ra Sài gòn liên tục.

-Trên một trăm là chuyển qua vay trung hạn, trả dần trong hai năm, nhưng phải có cơ sở làn ăn hay kinh doanh…Cái sổ đỏ lô đất của anh mà nó cho vay một trăm là nể nang em lắm rồi…

-Cô cứ chi thêm phí đi Hằng, anh cần làm thêm mới có dư ra chút ít chứ như hiên tại thì chỉ đắp đổi…

Hằng có vẻ suy tính…

-Anh đưa hợp đồng vay cũ cho em, gặp thằng cán bộ này mới đổi về…hơi khó. Có gì em gọi lại.

Thụ tin vào khả năng của Hằng nhưng vẫn lo âu. Hằng bỏ xấp hợp đồng vào túi xách, nói:

-Có thể phải lo cái giấy phép kinh doanh.

Gom hết tiền trong nhà mới đủ một triệu rưỡi. Thụ nhìn Thu đang lo lắng bồn chồn, anh nói cho vợ yên tâm:

-Có cái giấy phép kinh doanh thì tốn thêm thuế hàng quý, hàng năm, nhưng mình làm ăn dễ hơn em ạ. Em uống thuốc chưa? mệt thì gởi ai mua đại cái gì ăn cũng được, khỏi đi chợ.

Ba ngày nay Thụ bần thần, không biết Hằng có lo được không thì sáng nay nghe cô ấy gọi, bảo đang chờ anh trên huyện, mang theo một triệu rưởi đóng tiền làm giấy phép kinh doanh cho phòng Thông Tin – Văn Hóa.

Từ phòng TT-VH đi ra, Thụ cảm phục tài giao tế của Hằng. thêm tin tưởng vào lần vay này. Anh nhìn Hằng nói rất thật tình:

-Cô Hằng nói sao mà hay vậy?

-Tiền nói chứ em có nói đâu, anh xem cái phiếu thu chỉ hai trăm bốn chục ngàn mà mình đóng tới một triệu tư lận!

-Anh tính vay xong cũng phải chạy cái giấy phép kinh doanh, giờ cô làm dùm thế này anh đỡ khổ. Cho tiền cũng chưa chắc làm dễ thế này! Xe cô để ở đâu?

-Thằng con chở em lên, giờ nó đi Phan Rang rồi. Anh cho em qua ngân hàng, nếu sáng nay duyệt được thì nhận tiền luôn.

Thụ nhìn Hằng với đôi mắt biết ơn. Khi cán bộ tín dụng nhận hồ sơ rồi trình duyệt, thì xem như đã được vay. Không cưỡng được nỗi mừng, anh nắm lấy bàn tay Hằng bóp nhẹ, nhà đễ xe vắng vẽ, Hằng dựa người vào Thụ, anh ngây ngây trong mùi nước hoa và hơi ấm của cơ thể Hằng…

Đẩy chiếc xe quay đầu, Thụ nói như cố xua đi cảm xúc vừa bùng lên trong

anh:

-Cái thằng Hào leo thật nhanh, năm năm trước, hồi nó mới ra trường thực tập, ngơ ngơ ngáo ngáo…vậy mà giờ đã là phó giám đốc ngồi duyệt đơn vay!

Nhận tiền xong thì cũng vừa lúc Ngân hàng nghỉ việc.

Những lần đáo hạn trước, anh chỉ ký nhận nợ ở hợp đồng, mấy tờ phiếu chi nơi quầy thu chi tiền vay rồi chào Hằng, có khi cô ấy ghé nhà lấy phí dịch vụ, có khi anh mang xuống nhà, bao giờ cũng rẻ hơn những cò khác.

Lần này số tiền nhận ra có phần dư năm mươi triệu, Hằng để Thụ tự nhận. Cô nhân viên gầy nhom ở quầy chi tiền chuổi ra cho anh một cái túi nilon có in chử “Ngân Hàng Nông Nghiệp”, Thụ bỏ tiền vào túi trong khi các nhân viên cũng lục tục chuẩn bị ra về.

Anh tìm Hằng định chào và cảm ơn như mọi khi nhưng chợt nhớ Hằng không có xe. Lác đác vài con nợ nhếch nhác và cò trong sân, Thụ thấy Hằng nổi bật trong cách ăn mặc gọn gàng sang trọng, nước da trắng mịn với nụ cười, đang đứng chờ bên quầy rút tiền ATM ngay cổng ra vào.

-Có rắc rồi gì không anh Thụ?

Hằng hỏi khi đã ngồi sau xe, Thụ nói đùa rồi quay lại đưa túi tiền cho Hằng:

-Không, kiểm tiền xong cô thu ngân còn cười duyên khi cho anh cái túi nữa! Hằng cũng vui vẽ:

-Vay được tiền rồi thì thấy ai cũng dễ thương phải không?

Thụ cười thành tiếng, tâm trạng anh không còn nặng nề như những ngày trước.

Về đến nhà Hằng, ngôi nhà rộng và vắng vẻ, Hằng bật chiếc quạt trần ở phòng khách, vào trong rồi trở ra với cái túi có năm mươi triệu và ly nước.

Đặt ly nước và cái túi lên bàn, nhìn anh cười như chia niềm vui, hỏi:

-Anh dự tính khi nào mua máy Photocopy?

-Cũng phải sắp xếp nhiều thứ, Hằng cho anh gởi mấy cái phí dịch vụ, bao nhiêu vậy Hằng?

Hằng cười cười lắc đầu:

-Sang năm đáo hạn em lấy luôn.

-Sao được!

-Được, em chỉ bỏ chút công nói giúp anh thôi mà!

Thụ không tin là Hằng không chi phí cho nhân viên tín dụng, ít nhất cũng một triệu cho trường hợp của anh! Hằng lại đứng dậy đi vào trong, trở ra với cái túi nilon màu đỏ:

-Bánh người ta cho, anh mang về cho mấy nhóc.

Thụ nhìn Hằng, bất giác anh nắm tay Hằng rồi ghì mạnh…Hằng thở dồn dập đón nhận đôi môi tham lam của Thụ! Đôi tay Hằng cũng ghì lấy tay Thụ nhưng rồi buông ra trong tiếng nói ngắt quảng:

-Đừng anh… lỡ có chuyện gì…thì tội cho Thu và…mấy đứa nhỏ!

Thụ như không nghe thấy gì…Anh siết mạnh tấm thân run rẩy trong vòng tay, nhẹ đẩy Hằng nằm xuống salon…Hằng đưa hai bàn tay yếu ớt đẩy nhẹ ngực Thụ thì thào:

-Con em sắp về…Em có đi coi nhiều thầy, ai cũng nói cái số sát phu của em là có thật…

Thụ sựng người tỉnh lại, cơn rạo rực đang hừng hực chợt lắng xuống, anh đỡ Hằng ngồi dậy:

-Anh…anh… xin lỗi!

Hằng đưa tay vuốt tóc rồi quay qua nắm tay Thụ bóp nhè nhẹ:

-Quản lý thị trường họ cũng quản lý cả Photocopy, có rắc rồi gì thì gọi cho em…

Sài gòn, tháng 8 năm 2016. Trạch An-Trần Hữu Hội.

(*) Cò: Những người làm dịch vụ ứng tiền ra trả cho Ngân hàng khi đến hạn, lấy liền lãi, tiền công làm hồ sơ…

Mùa Xuân Đen

baovecovang2012.wordpress.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 4 Nov 2025

Mẹ chong đèn đợi canh khuya,
Đợi trăng về với bốn bề hư-không

Phần 5

Mẹ tôi, hai lần vĩnh biệt

Chắp tay Mẹ vái mấy vòng
Hiển-linh đâu?! Chỉ những dòng lệ sa

Hôm nay là ngày Mẹ, ngày Mother Day, tôi không thể không viết một dòng nào cho Mẹ tôi đang ở Việt Nam nghìn trùng xa cách, dù biết Mẹ tôi không thể đọc những dòng này.

Thành phố Vancouver, Canada bây giờ là giữ mùa xuân Việt Nam, nhưng lại gần cuối mùa Đông Bắc Mỹ, trời bỗng trở lạnh, những cơn gió đêm quét rụng những cánh hoa Anh Đào, rụng tơi tả trắng từng lớp trên lề đường như những bông tuyết cuối Đông. Nhìn qua cửa sổ, một vòm trời xám lạnh phủ chụp không gian, tôi thấy căn phòng trống vắng, cô đơn. Nhìn lên bàn thờ ông cụ, tôi nhớ Mẹ tôi da diết.

Năm 1980, sau những năm tù Việt cộng, tôi thực sự thấy rõ né hơn lần ban đầu khi vô trại tù, là quê hương dưới mầu cờ đỏ là tuyệt lộ, không thể sống như một con người tự do, và tôi phải ra đi. Tôi đã qua hàng chục chuyến đi thất bại; nhà cửa, tài sản, ruộng vườn “không cánh mà bay”, bay hết trơn vào tay đảng, cả nhà vào tù ra khám, xất bất xang bang, kể cả thằng nhóc sinh ra chưa đầy 3 tháng, đứa con đầu lòng của tôi ra khỏi lòng Mẹ mà không coi ngày

Chuyến vượt thoát sau cùng, không vàng không bạc, không còn một xu dính túi, trở thành dân “vô sản mà không chuyên chính” ngay trên quê hương mình, tôi đành phải cùng một số đàn em chơi trò “hải tặc”, mang súng ra biển, chộp một chiếc ghe con thoát ra biển bằng mọi giá, kể cả cái giá vùi thân giữa lòng biển, hay chết vì đấu súng với cộng sản, với cướp biển Thái Lan… Ôi, “một chiếc thuyền con bé tẻo teo” như chiếc của cụ Nguyễn Khuyến câu cá trên cái “ao thu lạnh lẽo nước trong veo” khi xưa, đã vượt trùng dương mà không chui vào lòng biển. Trời thương, lần này thì thoát!

Buổi chiều, trước khi “gom quân” ra biển, Mẹ hay tin, Mẹ tất tả tìm con, và bà cụ chỉ khóc, bà biết lần đi này của tôi là lần vĩnh biệt, bà biết nếu tôi không chết giữa biển rộng thì tôi cũng không bao giờ trở lại Việt Nam khi cộng sản còn cai trị đất nước. Tôi đã nói điều đó với Mẹ tôi, lạnh lùng trong nước mắt. Lời tôi như một lời nguyền đến nay tôi vẫn còn giữ nguyên không xê dịch một ly.

Trong bài thơ “Trấn thủ lưu đồn” tôi nhớ hồi còn bé học tiểu học, tôi nhớ có câu “bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”, tôi biết Mẹ tôi không ngủ trong đêm tôi bỏ nước ra đi; còn tôi thì lạ thay, tôi không có một giọt nước mắt khi phóng lên thuyền… Thuyền con là một chiếc F10 không mui, bánh lái chuyển qua lại để điều hướng ghe bằng một cây đòn với 27 người từ lớn đến thằng nhóc nhỏ của tôi.

Tôi nhìn ra biển rộng, nó như có một sức hút lạ lùng, kéo ghe chúng tôi ra biển, càng lúc càng xa bờ. Quay nhìn lại, dãy Trường Sơn lúc càng mờ dần. Khát vọng tự do, sự kinh sợ cộng sản và những chiếc ghe biên phòng của cộng sản đã xóa tan mọi luyến lưu, thương tiếc khi nhìn lại quê hương

Những hình ảnh yêu thương, quen thuộc, máu mũ… tưởng “quằn quại” trong tim tôi, nhưng không, tất cả đều biến mất dưới vòng cung của trái đất, kể cả dáng hình và những giọt nước mắt của Mẹ tôi trên đất liền của quê hương Bình Thuận

Ra đi bất chấp, coi như chết
Ta sống may nhờ chút chiêm bao!
Vĩnh biệt Mẹ! Vĩnh biệt quê hương! (17/04/1980)

Gần 30 năm, sau những năm tháng dài mòn mõi chờ con trong tuyệt vọng, Bố tôi ra đi ở tuổi 90. Ông vẫn tỉnh táo nhắc đến tôi trước giờ nhắm mắt, ông khóc và ông cụ mang xuống mồ hình bóng thư sinh lúc tôi còn trẻ. Tôi không về, có người bảo tôi bất hiếu, nhưng tôi không về. Tôi giữ lời thề xưa: “Không trở lại Việt Nam dưới mầu cờ đỏ!” Mất Cha, tôi vẫn còn Mẹ. Tôi không thể để Mẹ tôi ra đi theo Ba tôi mà bà cụ không nhìn được mặt con. Tôi quyết định cho người nhà đưa Mẹ tôi qua Bangkok để tôi thăm Mẹ, và Mẹ tôi được thăm đứa con 30 năm không thấy mặt

Tôi đến phi trường Bangkok một giờ trước chuyến bay của Mẹ tôi từ Sài Gòn. Tôi đợi Mẹ nơi chỗ nhận hành lý. Tôi thấy một bà cụ ngồi trên xe lăn và một nhóm nhỏ người nhà. Tôi giả vờ như một người xa lạ. Mẹ tôi, các em tôi chỉ cách tôi vài bước, không ai nhận ra tôi. Do mấy tấm hình Ba Mẹ gửi ra, tôi nhận ra tất cả

Tôi nhìn Mẹ và đoạn ruột. Sau cùng, tôi đứng dậy, đến vịn chiếc xe lăn và khom xuống ôm Mẹ. Bà cụ có vẻ ngạc nhiên tưởng tôi là một ông Tây tử tế nào đó. Vóc dáng, hình hài tôi đâu còn như ngày chia tay Mẹ tôi mấy mươi năm trước. Khi tôi cất tiếng:

– Mẹ nhớ con không?

Từng nghe tiếng tôi qua điện thoại, nghe tiếng tôi, Mẹ tôi nhận ra ngay, và bà bật khóc, chụp lấy tay tôi

– Trời ơi! Con ơi! Gần 30 năm nay Mẹ mới gặp lại con!

Bà nghẹn ngào với hai dòng nước mắt tuôn ra. Lúc đó, mấy đứa em mới nhận ra tôi:

– Trời! Anh Hai!..

Những ngày đoàn tụ, gặp nhau qua thật mau. Mỗi sáng thức dậy, Mẹ kể đủ thứ chuyện từ hàng mấy chục năm trước, nhưng làm sau 30 năm dồn đủ trọn 5 ngày. Trong khách sạn, Mẹ cứ nắm tay tôi như hồi tôi còn nhỏ. Và rồi Mẹ cũng đã phải buông tay tôi ra tại phi trường quốc tế Bangkok ngày 29/02/2008 để lên máy bay về lại Việt Nam

Tôi như kẻ không hồn nhìn theo bóng Mẹ khuất trong dòng người, và Mẹ tôi không hề nghe tiếng nghẹn ngào thì thầm của tôi… “Vĩnh biệt Mẹ! Vĩnh biệt Mẹ!…”

Tôi ngủ qua đêm ngay tại phi trường Bangkok để chờ chuyến bay về lại Canada sáng hôm sau. Mẹ tôi, lưng đã còng, mắt đã mờ, nhưng Mẹ còn đủ tỉnh táo để biết là ngày Mẹ mất Mẹ sẽ không thấy mặt tôi một lần nữa. Mẹ đã gần 90, Mẹ sẽ ra đi bất cứ ngày nào, và tôi cũng sẽ không về, trừ trường hợp đảng cộng sản “qua đời” trước ngày Mẹ tôi nhắm mắt! Mẹ thử sống thêm giùm cho con vài năm nữa được không Mẹ?!!!

Nhân ngày Mẹ (Mother Day) của xứ tạm dung, con viết những dòng này cho Mẹ, dù biết là Mẹ không đọc được bất cứ dòng chữ nào con viết. Mẹ tha thứ cho con, đứa con bất hiếu của Mẹ! Vĩnh biệt Mẹ lần thứ hai!

(Ngày Mother Day 2008)