Nửa đời còn lại

vietmessenger

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 11 Nov 2025

5. Chương 5

Văn minh mua quá mắc

1. Văn minh qua đây, chẳng những lấy của chúng ta từ giọt mỗ hôi, từ chút hơi thở, từ nước miềng nước bọt, chỉ đến lao lực nông, công, bao nhiêu ấy chưa vừa lòng, thêm chiếm đoạt vợ con của mình, luôn cả cứt đái, mà ta bất ngờ không để ý đến. Tôi không nói ngoa, trước đây vài chục năm thời Pháp còn ngồi làm chủ, thâu thuế, thuế muối, thuế rượu nhà máy thay cho rượu nếp, ai nấu lỡ rượu để bắt được, Tây đoan bỏ tù, dở nhà, tan hoang sự nghiệp.

Phân người, nghe nối bên Tàu, lấy làm quí, vì rau cải hoa quả vô phân người là xinh tốt ngon lành.

Người mình dùng nhiều thành ngữ để gọi: đi cầu là mới đây, khi có cầu tiêu, trước kia, ở mé sông thì gọi đi sông, ở đồng thì đi đồng, tiếng rộng là đi ngoài, ở Huế, khi tôi ra đó làm giảng viên đại học, tôi đến ngủ đêm nhà một bạn vong niên lớn hơn tôi trên mười niên, sáng ngày, tôi ngỏ ý, ông chủ nhà trao cho tôi một cây cuốc rồi dạy “đi vườn”, v.v..

Tây mấy năm sau, trước khi rút lui có trật tự, dạy thành phố phải biết giữ vệ sinh và phát mỗi căn phố một thùng lớn, dạy phóng trong đó và ban đêm có người cỡi xe có hai bò kéo, đến thay thùng khác, gọi “đồ thùng” và mớ hốt được, ban đầu đưa qua Láng Thọ (tiếng gọi giọng Pháp là “lang tô” cách xa bến tàu đi Tây Nhà Rồng một đỗi xa, như là gọi trổng là Nhà Bè, cũng được. Chót hết, trước khi nghĩ ra làm, cầu tiêu có hầm chứa, thì cứt đổ thùng góp về, bên nghĩ ra phơi khô (rả cứt giất đầu nằm), Tây không có vách lá làm đầu nằm, nên phơi cứt cho khô, xếp lại nói tội, như chiếc đệm, cân kí lô và bán ra nước ngoài làm phân bón, vừa thâu tiền vào túi, thâu thuế vào kho, vừa gọn vừa có ích.

Thậm chí lang sa tranh chức nghị sĩ ngồi bàn cãi nơi quốc hội cũng cần thế lực lá thăm, và có ai mạnh sức cho bằng tên chà nhớ như tên là Moutou, lãnh chức thầu khoán sở đổ thùng, dưới tay có đến mấy ngàn ít nữa là mấy trăm của người làm việc làm cọp rằn sở đổ thùng Sài Gòn luôn lục tỉnh, một ngày trước ngày đầu phiếu, bầu nghị sĩ quốc hội Pháp, hoặc cử hội đồng quản hạt ở Nam kỳ, Moutou mời tất cả người làm công có thẻ cử tri, đãi một bữa nhậu lớn, thâu hết các thẻ cứ tri, nhốt một đêm các chủ thẻ, rạng ngày cho xe ca Moutou vẫn viết tay và có làm dấu sẵn, rắt rắt lọt vào thùng phiếu không sai chạy một thẻ nào, khi kiểm phiếu, rất dễ tra, đứa nào ngoan cố bỏ thăm cho người khác, sẽ mất sở làm, ông nghị Outrey, ông nghị ra tranh de Beaumont, tôi không dám chắc có dùng phép tà thuật nầy hay là không, nhưng ở tỉnh, người có quốc tịch lang sa vẫn số ít, tham biện chủ tỉnh như Moutou, cũng dùng phép ấy để lấy thăm cho căn đi đa của Nhà Nước chọn, và khi đắc cử, ông nghị như vậy, tiếng Tây gọi là gì, chớ trong miệng người dân quen ăn mắm ăn muối, cũng không biết chữ Hán và vẫn gọi lén là “nghị cứt”.

2. Đã dùng chứ “lén” luôn dịp xin nói qua cây “chó lén”. Danh từ nấy, ngày nay, người ngoài kia vô đây và trẻ em sanh sau, chả hiểu chó lén là gì. Tôi bỏ công gần suốt một đời người, nay mới rõ quọt quẹt, chó lén, Pháp gọi “allume Feu” (allumer là đốt, feu là lửa), hỏi qua tiếng Tàu, gần xuống lỗ, mới biết “chó lén” là tiếng Tiều hay Quảng, viết ra Hán tự là “Tố lượng”, (tố là làm, như chữ vi; và lượng, hoặc là ánh sáng, hoặc là phơi ngoài trời cho khô), và nói “tố lượng” như nói tự động xa, mẹ ai mà hiểu, và nối

“xe hơi, ô tô” và nói chó lén thì mấy mười năm về trước hiểu là một vật làm ra lửa để đốt thuốc hút, nguyên xưa Tàu hút điếu bình, vo thuốc nhỏ sợi, nhét vào nồi điếu, tay cầm chó lén, vo vo đầu cọng dây cho lửa mau bắt, và lẹ miệng thổi phụt một cái, tức nhiên lửa bén có ngọn, châm vào thuốc, hít một hơi, điếu trong có chứa nước, tiếng nghe dòn dã, hút xong phải biết cách thổi nhẹ cho thuốc hút rồi văng rớt ra khỏi miệng điếu và làm qua mỗi khác, nếu cục mịt nhà quê, không phải bực phong lưu, khi thổi, thổi quá mạnh, hơi thối làm văng nước tứ tung, cô ả làng chơi sẽ cười cho. Chó lén làm bằng giấy súc, giấy thật xốp thì mau bắt lửa… Trước khi có giấy súc, chó lén, gọn hơn hết là cục đá lửa, dùng một miếng sắt thật sắc, cọ mạnh vào cục đá lửa, lửa xẹt ra, lấy một chút bùi nhùi cầm nơi tay nọ hứng cục lửa xẹt, tức khắc bùi nhùi bắt cháy và ta sẽ có lửa đủ dùng, hút thuốc, chăm đèn, nhúm lửa nấu cơm hay đốt nhà cũng được.

Hết chó lén, hết bùi nhùi đá lửa, Tây lấy nước Nam, bày ra làm hộp quẹt, sản xuất ở Bến Thủy ngoài Bắc, thâu tiền dân ta cho đã, rồi văn minh lền lền, chế ra quẹt máy, rồi nay quẹt ga (gaz), cạo đầu khô dân ta, xin lỗi, khí tục, không còn miếng da mẹ đẻ.

3. Day qua dầu đốt. Xưa ông bà ta đốt cho sáng ban đêm dùng dầu mù u, dầu dừa, đã là sang, dùng sáp nơi cung nơi điện, đèn dội nhều nhão dơ dáy, dùng đuốc, chữ gọi là chúc, đèn đám cưới còn sót lại danh từ “hoa chúc”, Tây và Mỹ bày ra ban đầu bán dầu lửa, rất nhẹ giá, sáng và sạch hơn dầu mỡ cá, mỡ chuột, ban sơ dụ khị, cây đèn tặng không không tính tiền, khi dân ta bắt đầu ăn quen mua dầu lửa, sẽ tăng giá lần lần, dầu nẩy, trong Nam gọi nôm na là “dầu lửa”, ngoài Bắc văn vật gọi dầu hóa, và tiếng gọi chung thống nhất là dầu hôi, vì sáp mới thơm tho, dầu phộng đèn đốt thuốc phiện vẫn thơm và lửa dịu mát, dầu dừa cũng tốt nhưng giá cao, chừng tấn bộ thêm bày ra đèn ét xăng có măng sông, rồi đèn khí đá cạt bia, qua đèn điện, đèn nê ông, ngày xưa đẹp nhứt là bóng trăng, nay trăng mờ vì đèn chớp bóng, đèn tân thời đủ thứ, từ rọi sáng đêm trường, ánh sáng đèn bọc ở ác, dùng làm khí cụ tra khảo hành tội người lạc hậu yêu nước.

4. Thuốc hút. Ban đầu thuốc nội hóa, thuốc rê vấn bằng lá non, túng thiếu vấn thuốc bằng giẻ rách cũng xong, điếu thuốc dán cột nhà, mót lại, càng ngon, (nhứt gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu), tội nghiệp cho người ghiền thuốc, lúc bị giam cầm, khi ra ngoài khám khuẩn bách lượm một tàn, kéo một hơi, ngon thấu mây xanh. Văn minh lần lần hút thuốc lào, điếu cầy điếu tre, thuốc Gò (Gò Vấp), thuốc rê (thuốc rê là thuốc xắt kéo ra từ thẻ dài, bánh thuốc, Huình Tịnh Của), thuốc vấn hiệu Bastos, hiệu Mélia, trong gói có kèm một hình gái đẹp, hiệu Corona có kèm một đót tre, giá hai cắc (0$20), hiệu Cotab, từ sáu xu một gói (0$06), tăng một cắc hai xu (0$12), rồi leo thang lên một cắc tám (O$18), đến giá hai cắc tư (0$24), tôi ở Sốc Trăng chạy lên đây, lòng buồn hút mỗi ngày hai gói Cotab, sau vì giá leo thang tôi bớt lại hút một ngày một gói, rồi hai ngày một gói, khi lên tới giá 0524, tôi bò không hút nữa, và nay, thính thoảng:

“Thuốc cho thì hút, thuốc mua thì đừng”, và bụng vẫn nhớ Phù Dung nhưng sợ lính bắt. Bây giờ tiến bộ nhiều, thuốc ba con số 5, thuốc 79 của Mỹ để nhồi điếu cối, thuốc vấn lo le, trách ai ăn giấy bỏ bìa, bạn Sơn Nam nay hút thuốc có đầu lọc và ngoài Huế, một lần nọ tôi thấy nơi nhà khoa trưởng một điếu cầy, bạn đáng thương Doãn quốc Sĩ xin cho kéo thử, khoa trưởng cười cười nhậm lời, anh Sĩ kéo và ho sặc sụa, có chêm phiện mà không nói!

5. Và v.v.. Máy hát, hiệu Pathé, của Thầy Năm Tú, hát cho hãng Pathé Pho no… ban đầu máy có ống loa, tiếng nói từ ống tròn như ống chỉ phát ra, sau thay ống bằng dĩa, hiệu

Asia, v.v.., rồi hát bóng từ câm qua có tiếng nói, Má Bảy bát bài “Dè đờ già múa” J’ai deux amours, mon pays et Paris…) rồi nay có Bạch Tuyết xây nhà dịch thể cung điện, bạn Sơn Nam được mời đến viếng mà tôi đây có nào mời. Cục xà bông hiệu Marseille bị hãng Trương Văn Bền cướp nghề, nhà giàu ngày xưa thuở đàng cựu đời ông Tự Đức, sắm rương xe giường hòm, nằm trên nắp giường tưởng đâu là chắc, bọn gian hai đứa khiêng nhẹ nắp giường đặt qua chỗ khác, vết hết vàng bạc đến sáng mới hay, Tây bày tủ sắt hiệu Bauche, hiệu Fichet ăn cướp đến nhà đưa một cây đinh dài hai tấc, biểu chủ nhà tự mở tủ, nếu không bằng lòng, cướp sẽ đóng cây đinh vào lỗ tai, sau tủ sắt không đủ đảm bảo gới tiền gới kim cương hột xoàn, vào ngân hàng, chờ cuối tháng đến lãnh tiền lãi, nay có nạn tín dụng thằng trời đánh họ Phạm đã dong qua Xiêm hú chuột, thẳng Mười Hai gì đó, chờ ngày ra tòa, vuột như vuốt lươn, trời ơi là trời, khổ ơi là khổ.

Tôi giỏi nói mà cũng bị, nào dám thở than, nhớ mấy chục năm trước bị kẹt trong khám ở tính quê, gặp một chị quen, cùng bị nhốt, chị than với tôi đã bị thằng chủ bót mật thám, Tây cà lăm Philippino làm nhục, chị hứa khi nào ra khỏi vòng Đủ lý, thì tự vận chớ không bao giờ chịu mang tiêng nhơ, vừa rồi gặp lại, còn sống nhăn, hỏi, chị liếc cho một liếc dài thậm thượt, vừa háy, vừa rủa:

– Ứ cái anh nầy! Khéo nhắc chuyện cũ!

Bao nhiêu nạn nhơn bị mất tiền, đều nếm văn minh mà không tiện cắt nghĩa, trong số có người chơn thật vớt vất an ủi, thiểu chi người bỏ luôn cho xong, của hoạnh tài, bắt phú.

Không ghi số. Một dấu hiệu văn minh là chụp hình, nhiếp ảnh, ban đầu sợ máy ảnh hớp hồn, khi chụp xỏe bàn tay đủ năm ngồn, nay tân tiến chụp hình nổi, vá víu, khéo vô song, đi nhà số, đi cưới lựa vợ, xin đừng tin tấm ảnh. Nói nữa làm chi?

(viết ngày 11-8-1990)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply