This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Long là Vườn ông Thượng là chưa đúng. Vườn ông Thượng, cũng gọi là công viên Tao Đàn. Phiên dịch Parc Maurice. Tôi không hay giỏi hơn ai, chỉ được cái già (tuổi 92) và là mọt sách.
Tôi lại ham nói, nay xin nói về công viên tên Pháp gọi “Parc Maurice Long” và có một tên Tây khác nữa là “Jardin de la ville”. Theo tôi hiểu “parc” là vườn, công viên, hoa viên, gọi như vậy đều được. Có người đã nói và có lẽ nói ẩu là Vườn Tao Đàn, có người gọi là Vườn Ông Thượng và Thượng đây là toàn quyền Pháp tên Maurice Long.
Tôi nghe thì tức tức, nhưng cãi cọ, cãi giống làm chi, cũng là người kiếm cơm bằng viết lách như nhau. Nay tôi nói như dưới đây, nghe hay không, cũng mặc. Theo tôi tra cứu trong sách đã có, thì Maurice Long làm toàn quyền cõi Đông Dương đến hai kỳ, lần 1 từ 21-2-1920 đến 17-11-1920; và lần thứ 2, từ ler-4-1921 đến 14-4-1922. Nhưng Maurice Long khi ở Pháp trở lại kỳ nhì, khi tàu đến Colombo, ông vướng bịnh thiên thời (choléra) và tắt thở ngày 15-1-1923 quan tài được chở về Pháp theo chiếc André Lebon. Cho hay làm đến chức toàn quyền mà cũng bị giặc trời như ai, quả trời xanh có mắt.
Còn danh từ “vườn ông Thượng”, theo tôi, ông Thượng đây là kính trọng không dám gọi tên và chỉ gọi theo chức tước, Thượng đây là ông Tả quân có lăng mộ thờ nơi Bà Chiểu, ngài có miếu thờ trấn chận trước dinh tòa bố của Tây mà không bị Tây phá và ngày xưa, đất của ngài, chạy dài suốt từ lăng miếu đến khỏi dinh Toàn quyền Tây cũ và ăn lấn luôn vườn Tao đàn nên dân chúng gọi “vườn ông Thượng” là vậy. Năm 1920, học trò trường Chasseloup- Laubat bỏ trường làm “reo” (grève) lần thứ nhứt ở đây – có tôi trong số nghịch ngợm nầy, thì đã có danh từ “vườn ông Thượng” từ lâu từ đời cố hỷ nào cũng không chắc. Nay tôi xin trích dẫn ra đây lai lịch Parc Maurice Long nhưng không chỉ tôi cóp theo sách nào. Đầu tiên, vườn nầy vẫn thuộc và dính liền với hoa viên dinh Toàn quyền cũ. Vào năm 1869, Phó Thủy sư đô đốc Contre-Amiral Chier, với trách nhiệm làm toàn quyền, ra lịnh cắt đứt phần sau của hoa viên và giao cho đô thành làm vườn công cộng cho dân chúng dạo chơi, nhưng suốt ba chục năm trường, đô thành nhận lãnh mà không làm gì theo ý toàn quyền là phải nối dài đường Taberd (nay là Nguyễn Du) chạy nối giáp tới đường Verdun (C.M.T.8 nay) và khai thông vườn với ba cổng (cửa) lớn Taberd, Verdun, Chasseloup (nay đã có rồi).
Đến năm 1899, hoa viên nầy bị bỏ rơi, đô thành không thiết tha đến và vì vậy, có việc vườn bị cắt đất bán chia tam xẻ tứ và nảy ra có: âm nhạc.
– Hội hiếu nhạc “société philharmonique” chiếm một khoảnh (1896) nay quốc gia.
– Hội Tam Điểm (Loe Maonnique) chiếm một phần (1897) và năm nầy có đường Miss Cavell (nay Huyền Trân công chúa).
– Cùng một lúc, có một thực dân Pháp đề nghị xin mướn trọn hoa viên trong 15 năm để lập vườn trồng cây vani, y cho dân được dạo chơi trong vườn, chừng ấy đô thành mới tỉnh ngộ và không chấp nhận lời bao thầu như vậy.
– Năm 1902, hội Câu lạc bộ Thể thao “Cercle Sportif” thành lập chiếm một phần.
Đến ngày 26-2-1923, hội đồng đô thành mới thật thức dậy và để tưởng niệm toàn quyền làm khá nhiều việc ích cho xã hội và đặt tên là Parc Maurice Long. Nhưng vườn vẫn còn bị chia cắt vì thống đốc Krautheimer, năm 1926 và 1927 lập nơi góc Chasseloup và Verdun Viện Dục nhi “Institut de Puériculture”, năm 1932 trở nên trụ sở bộ Y tế và hội A.M.A.S.
Đến đây, tôi nghẹt lối, hồng biết gì thêm nữa, duy nay còn dư chút giấy, tôi xin thêm: Về Maurice Long, Tây với Tây phá nhau, nên đã có báo đối thủ, nhạo chơi và đặt tên lại là Maurice Scieur de Long và scieur de long là thợ xả súc gỗ thành gỗ ván, đố v.v .. , nhưng toàn quyền vẫn cười và không giận.
Một đàng khác, năm 1947, từ Sốc Trăng tôi chạy lên đây, và khi chạy lên xóm Cù lao ở chung với bà Năm Sa Đéc, trên đường gọi đường Võ Di Nguy, mé trái từ viện bảo tàng về xóm, nơi một quán nhỏ bé của một anh thợ hớt tóc quen nhau từ ở Sốc Trăng, khi tôi ngồi cho thợ cắt tóc, chợt tôi thấy treo trên vách, một bức ảnh vẽ dâu màu, là ảnh Maurice Long, miệng ngậm ống điếu cối, râu ria xồm xàm, tóc tai bù rối, tôi chăm chú nhìn thật kỹ, thì đó là một bức họa độc đáo, nói ra đây thì tục và đó là ảnh một con đầm lõa thể nằm lõa lồ, tóc thả xuống, hai vế dựng ngược lên và mồm của toàn quyền Pháp là cửa mình của mụ đầm. Tôi nài mua, anh thợ hẹn sẽ bán … sau tôi trở lại thì anh thợ nầy dọn đi mất!
(viết thêm ngày 26-9-1993)
Công viên Tao Đàn, tên Pháp Parc Maurice Long, tên xưa vẫn là Vườn ông Thượng và một lần nữa, tôi xin lặp lại rằng ông Thượng đây, chính là ngài Tả quân có lăng mộ và miếu thờ ở Bà Chiểu, mà xưa kia không một ai dám gọi ngài bằng tên tộc, chính chức phẩm cũng tránh và kính nể gọi Ông Thượng là đủ, thậm chí ngài làm thái giám, thì dân chúng ở đây cũng kiêng cữ không dám nói chữ “giám” và dùng chữ “giếm” để thay thế. Một tên Pháp khác là Jardin de la ville, thì rất phân minh rồi, duy còn một danh từ mượn của tiếng Tây là “Vườn Bờ Rô” Bờ rô là gì, đến nay còn phân vân bất nhứt, mạnh ai nấy nói và giải thích, không ai nhượng cho ai:
– Một thuyết, do anh giáo Trần Văn Xường, dạy ở Chợ Lớn, nay đã khuất, Xường, tiếng Tàu, tức là Tường, vẫn cho rằng, hoặc người Tây coi sóc vườn có tên là ông Bureau, hoặc giả, ông nầy làm trên văn phòng (bureau) và khi người phu làm vườn muốn lãnh tiền thì lên “bureau” mà lãnh, nên gọi vườn như vậy. Nay anh Xường đã không còn, tôi xin miễn luận.
– Một thuyết thứ 2 là theo như tôi đã nghe người tuổi tác dẫn giải cho biết, thì “Bờ rô” có lẽ do chữ “préau” của Pháp. Vả lại, hiển nhiên:
– “Préau” là sân có lợp nóc để tránh mưa gió của các tu viện, bịnh viện, ngục thất và học đường, mỗi lycée nào cũng có, trường Chasseloup có một préau, không biết nay ra thế nào, và préau nầy ở mé đường Lê Quí Đôn, sát cửa vào. Vậy tôi xin chừa danh từ “Vườn Bờ Rô” cho người cao kiến dạy lại. Riêng như tôi biết và chứng cớ rành mạch thì nơi mé sân túc cầu, phía đường Huyền Trân, lúc đầu tôi có thấy một bệ khá cao và rộng, đời Tây, họ làm nơi diễn tuồng, diễn thuyết, có khi dọn làm sân đánh võ “boxe” và gọi “préau”.
Qua năm có bày hội chợ, gọi kermesse, lối những niên 1930- 35 gì đó, thì họ đặt thêm nhiều chậu kiểng cau vàng và lấy préau nầy làm “théâtre de verdure” rạp hát ngoài trời hoặc lộ thiên gì đó và vợ chồng tôi vẫn có đến dự.
Nay nói luôn bắc cầu qua vài địa danh tiếng Tây, nay đã lạc lối, tỷ như:
– Service de pyrotechnie, đã dịch “Sở kho đạn”, tưởng khỏi cần dài dòng …
Có 3 địa danh đều do chữ “ma” khởi đầu:
– Thành “Ô Ma” là thành lính tập “tirailleurs”, Pháp gọi Camp des Mares. Khu đất rộng bao la hà lãng, nay lấy làm trường Đại học Sư phạm, v.v …, trước khi thuở đàng cựu, có miếu thờ cô hồn và Ngũ Hành, có chứa hai con sấu to dữ và nơi mé Nguyễn Cư Trinh, tôi có gặp sau Tây dỡ mất là một trại thật lớn lợp ngói có rất nhiều cột gỗ và mối ăn, gọi Hiển Trung Từ do chúa Nguyễn Ánh lập thờ công thần (có thờ lính Pháp tên Manuel (Mạnh Hòe) nữa và đời Tây thì để luôn làm miếu của Trại Lính Tập, Hiển Trung Từ nầy vẫn liệt vào hàng cổ tích (monuments historiques), nhưng đến kỳ Tây trở lại thì nhà binh Tây dỡ bỏ … Chính lối năm 1948 hay 1949, tôi đi với ông Pierre Dupont vào đây tìm trụ sở miếu Hiển Trung, có gặp một ngôi mộ cổ kiên cố và đã lạc lối khó biết đường về.
Sau đó là cơ quan mật thám (service du sureté) v.v…Lính tập gọi tirailleurs là lính người Nam và người gốc Đàng Thổ (khmer) Nam kỳ, bị Tây bắt đi lính và tập luyện dạy biết bắn súng, khi còn là trai đúng tuổi quân dịch thì rất sợ làng xã bắt đi lính nhưng khi nhập ngũ xong thì trở về làng
và làng xã đều lánh mặt vì sợ trả thù. Khu Thành Ô Ma nầy gồm khu rộng chung quanh theo tên cũ là đường Arras, Frères Louis, Nancy va đường xe lửa Biên Hòa – Hà Nội, mé đường ngang rạp chớp bóng thẳng lên nhà thương bà Từ Dũ ngày nay và dọc theo đường sắt cũ, trước kia thường ngập lụt, và gọi “Đường nước Nhỉ” – tên ấy chọn thật đúng, nước ứ đọng thường. Trong sách Trương Vĩnh Ký để lại và tạp chí Excursions et Reconnaissances cũ, có nói trước khi biến ra Thành Ô Ma, thì Tây có lập sở Nuôi Ngựa (Haras) sau dời về Tân Sơn Nhứt.
– Một địa danh cũ nữa là Mare’s aux Poissons, truy ra ngày xưa khi Tây qua đây, thú tiêu khiển ngày được nghỉ lễ hoặc ngày chủ nhật, để giết thì giờ, họ ít đi săn bắn vì cũng ít an ninh, nên thông thường họ thích đi câu cá, còn phụ nữ Pháp thì chiều chiều ngồi xe song mã, thắng hai ngựa, chạy vòng chung quanh Sài Gòn – Gia Định và gọi Tours de l’inspection, dạo vòng quanh đường tuần tra. Quan viên, nhứt là kỹ sư quan võ thì câu nơi Thành Ba Son, tiếng Pháp là Mare’s aux Poissons, nhưng đã có người diễn khác và rằng có một thợ tên “Son” thứ ba, nên đặt gọi Ba Son. Tôi biết một giai thoại có một thợ Sở Ba Son, có tánh lập dị, thích hút xì gà (cigar) (thuốc cuốn để nguyên lá) và ngày nào, chiều ra sở đón xe lửa về Gò Vấp ai ai cũng vẫn thấy cụ ta ngậm xì gà, sau mới rõ một tuần cụ chỉ ngậm duy nhứt một điếu, cứ lên xe là quẹt đốt rồi để tắt v.v… chừng ấy dân Gò Vấp mới đặt tên cho cụ là “Ông Xì gà tuần”.
Một thuyết nữa là Trại chữa ghe tàu Ba Son, Pháp vẫn gọi “bassin de radoub” bassin là ụ nước, radoub là sửa chữa ghe tàu, từ Bassin biến ra Ba Son, dễ ợt!
Vậy tôi xin chừa độc giả mặc tình chọn lựa. Ngày xưa chúa Nguyễn lập và tàu đi biển vẫn gọi tàu ô, vì lập nơi Ba Son, nên nay khó làm cầu bắc ngang qua Thủ Thiêm, khiến Thủ Thiêm ngó ngang Sài Gòn mà không phát triển được.
– Một địa danh nữa là “Ô Cấp” tức Pháp là “je vais au cap”, và cap là cap Saint-Jacques, tức đi Vũng Tàu. Tôi không cần nói dài. Độc giả dư biết.
– Còn 6, 7 cơ sở nhà binh cũ của Tây, xưa thuộc cơ mật, ít cho nói, nay xin kể mà không dẫn giải.
– II ème R.I.C. Onzième Infanterie Coliniale là Thành Sơn đá, khu Đại học Lâm Nông tên chánh thức là Caserne Martin des Pallières (lập lối 1870 đến 1873). Sau khi binh Tây rút lui về xứ, tôi đề nghị và kiến trúc sư Lê Văn Lắm cắt Thành Sơn đá làm thông thương và có đường Đinh Tiên Hoàng nối dài tới Chasseloup như hiện nay.
– Khu lính thủy (Marine) gọi Garnier;
– Trại San đầm Gendarmerie Le Lièvre;
– Khu Pháo thủ (Artilletie) (cam Virgile);
– Tòa án nhà binh (Tribunal Militaire, Justice Militaire;
– Direction du Génie;
– Direction d’artillerie
– Bureau de recrutemant la Grandièrem, v.v.
Khi Tây qua đây, ở Miền Nam, vẫn do quan võ cai trị nên dinh họ ở gọi dinh Phó Soái, vì chánh soái, tức là quan Toàn Quyền Đông Dương. Chính trạng sư (luật sư) Blancsubé (đường Lăng Xi Bề) (1834 – 1888) năm 1879 tranh đấu và thắng được, giành quyền cai trị trả về quan văn mới có bỏ chức Phó Soái (La Lăng De: de La Grandière và gọi dinh thống đốc v.v .. Blancsubé ở Tòa binh vực cho nhóm Chà Ấn bán vải, trước đây còn câu rao hàng “Première qualité? Mêm xôi (Même chose) Blancsubé!” và vải bán vo vo.
Le Guittou cũng tán thành. Anh ta cũng nghĩ rằng chắc phải có những nước tốt hơn và sống dễ chịu hơn ở Guyane thuộc Anh. Chúng tôi bắt đầu chuẩn bị một cuộc trốn chạy khỏi thành phố George. Đúng là đi khỏi đất Guyane thuộc Anh là phạm một tội nặng. Chúng tôi đang ở trong thời chiến mà không đứa nào trong bọn tôi có hộ chiếu. Chapar, sau khi được thả, đã từ Cayenne trốn đi và đã ở đây đã ba tháng. Y làm kem cho một hiệu bánh của người Tàu và được trả công một đô-la rưỡi một ngày. Y cũng muốn đi khỏi thành phố Georege. Một anh tù người Dijon, tên là Deplanque, và một dân Bordeaux cũng muốn tham dự cuộc vượt ngục. Quých và anh cụt thì thích ở lại. Cả hai thấy ở đây tốt hơn. Vì cửa sông Demerara bị kiểm soát rất ngặt nghèo và nằm trong tầm các ổ súng máy, phóng ngư lôi và đại bác, chúng tôi sẽ làm một tàu đánh cá y hệt một chiếc tàu đăng ký ở thành phố George và chúng tôi sẽ giả làm chiếc tàu đó để ra đi. Tôi tự trách mình đã không biết ơn Indara và đã không đáp ứng lại cho xứng đáng với tình yêu tuyệt đối của nàng đối với tôi. Nhưng tôi không thể làm khác được, nàng cứ đeo dính lấy tôi, làm tôi khó chịu, tôi đâm bực bội. Những con người giản dị, rõ ràng là không kiềm chế nổi ham muốn của mình, không chờ người mình yêu phải đòi hỏi mới hiến thân: Cô gái Ấn Độ này xử sự đúng như hai chị em Anh-điêng ở Guagira đã từng xử sự với tôi. Khi tình dục các cô nảy nở, các cô tự hiến mình. Và nếu ta không chiếm đoạt các cô thì đó là điều rất nghiêm trọng. Một nỗi đau thật sự, dai dẳng nảy nở trong bản ngã thầm kín nhất của họ và việc ấy làm tôi phát bẳn vì tôi không muốn làm khổ Indara cũng như hai chị em Anh-điêng kia và tôi phải ép mình để trong vòng tay tôi, Indara được thỏa mãn đến mức tối đa. Cuộc đào tẩu của chúng tôi được chuẩn bị rất kỹ. Một chiếc thuyền rộng và dài có một lá buồm tốt, có cả buồm mũi và bánh lái loại tốt nhất được sửa soạn rất thận trọng để cảnh sát không để ý thấy được. ở Penitence Rivers, nhánh sông nhỏ đổ vào sông Demerara, chúng tôi dấu thuyền của chúng tôi về phía xuôi so với khu chúng tôi ở. Nó được sơn và mang số như một thuyền đánh cá đã đăng ký tại thành phố George. Nếu đèn pha chiếu vào thì chỉ thấy có thủy thủ là khác. Để gạt mọi người, chúng tôi không đứng lên, vì những người Tàu trên thuyền mà chúng tôi đội lốt đều nhỏ và gầy, còn chúng tôi thì cao lớn và khỏe mạnh. Mọi việc diễn ra êm ru, và chúng tôi ra khỏi sông Demerara êm thấm. Tuy vui mừng vì đã ra đến biển mà không bị lộ, điểm duy nhất làm tôi không tận hưởng trọn vẹn thành tựu này, là cái tội đã đi trốn như một thằng ăn trộm không báo trước được cho nàng công chúa Ấn của tôi. Tôi không vừa lòng về mình. Cô em, bố cô và cả giòng giống cô chỉ làm điều tốt với tôi, còn tôi tôi đã bội bạc. Tôi không tìm những lý lẽ để biện minh cho thái độ của mình. Tôi chỉ thấy những gì tôi làm là không lịch sự và tôi không hài lòng về tôi chút nào. Tôi cố tình để lại trên bàn sáu trăm đô-la, nhưng những thứ tôi đã nhận được không thể trả bằng tiền bạc. Chúng tôi phải đi hướng Bắc – Bắc bốn mươi tám giờ. Tôi lại trở về với ý nghĩ trước đây của tôi là đến Honduras thuộc Anh. Muốn vậy, phải vượt biển hai ngày. Cuộc đào tẩu gồm năm người: Le Guittoun, Chapar, Barrière, một gã người Bordeaux, Deplanque, một gã người Dijon, và tôi Papillon, thuyền trưởng.
Chúng tôi đi được độ ba mươi giờ thì gặp một trận bão kinh khủng tiếp theo là một trận gió xoáy. Sấm, chớp, mưa, sóng lớn hỗn độn, gió trên biển quăng quật điên cuồng, kéo chúng tôi đi một cách thảm hại, chúng tôi không sao chống đỡ nổi. Tôi chưa từng thấy, hay tưởng tượng thấy cảnh nào tương tự như thế. Theo kinh nghiệm bản thân, đây là lần đầu tiên, gió vừa thổi vừa xoay chiều đến độ các luồng gió alizé bị xóa sạch hoàn toàn và trận gió điên cuồng làm chúng tôi xoay tít như chong chóng. Cứ thế này độ tám ngày khéo chúng tôi lại trở về trại giam mất. Sau này, đến Trinidad, tôi mới được ông Agostini lãnh sự Pháp cho biết là cơn bão này rất đặc biệt. Nó đã cưa gãy hơn sáu ngàn cây dừa ở đồn điền ông. Cơn bão hình mũi khoan này đã tiện cả vườn dừa của ông ở ngang thân. Có những căn nhà bị bốc lên cao, đưa đi xa, rồi rơi xuống đất hoặc xuống biển. Chúng tôi mất hết: thực phẩm đồ đạc cùng những thùng nước ngọt. Cột buồm bị gãy ở độ cao hai mét và nghiêm trọng hơn cả là bánh lái cũng bị vỡ. Phúc làm sao, Chapar vớt được một cái chèo nhỏ trông như một thứ xẻng, và tôi đã dùng cái xẻng đó để lái thuyền. Ngoài ra chúng tôi phải ở truồng lột hết quần áo để ghép lại thành buồm. Tất cả áo vét, sơ mi, quần dài đều được đem ra dùng. Cả năm chúng tôi đều mặc xi-líp. Cái buồm làm bằng quần áo và víu lại với nhau bằng một cuộn dây thép nhỏ còn sót trên thuyền, được đem gắn vào mẩu cột buồm cụt, đã đẩy cho thuyền chúng tôi tạm đi được. Gió alizé lại thổi đúng hướng và tôi lợi dụng nó, lái thẳng về phía Nam để tới bất cứ nơi nào, kể cả Guyane thuộc Anh. ở đây, hình phạt gì đối với chúng tôi cũng được hoan nghênh. Thái độ của tất cả các bạn chúng tôi trong và sau cái mà tôi không gọi là bão, vì gọi thế chưa hết ý, mà phải nói là cơn tai biến, cơn hồng thủy, hay cơn cuồng nộ, đều chững chạc. Chỉ sáu ngày sau, trong đó có hai ngày gió yên sóng lặng hoàn toàn, chúng tôi mới thấy đất liền. Với mẩu buồm thủng lỗ chỗ, nhưng vẫn được gió đẩy đi, chúng tôi không thể lái thuyền theo ý mình được. Cái giầm con cũng không giúp chúng tôi lái được vững vàng, chắc chắn. Lái phải ở trần, toàn thân chúng tôi cháy xém làm sức đề kháng của chúng tôi cũng giảm sút. Mũi đứa nào cũng tróc hết da, trơ cả thịt. Cả môi, chân, da giữa hai đùi và bắp vế đều cũng tróc hết da. Cơn khát nước hành chúng tôi đến nỗi Deplanque và Chapar uống cả nước mặn. Sau khi uống, hai đứa lại càng khổ hơn. Mặc dù khát và đói cùng cực, có một điều tốt là không ai, hoàn toàn không một ai kêu ca. Cũng không đứa nào khuyên nhủ đứa khác điều gì. Đứa uống nước mặn cũng như đứa dội nước biển lên người nói là cho mát rồi tự nhận thấy rằng làm như vậy các vết thương lại càng loét sâu hơn và khi nước bay hơi thịt da lại càng đau nhức hơn. Chỉ một mình tôi là còn một mắt mở được và lành lặn, mắt tất cả các bạn đều mưng mủ và phải nhắm nghiền vì mi mắt cứ dính bết vào nhau. Mắt tuy đau nhưng vẫn phải rửa vì bắt buộc phải mở mắt để nhìn cho rõ. ánh mặt trời chiếu thẳng đứng càng làm cho các vết thương của chúng tôi đau vô cùng, tưởng chừng không sao chịu đựng nổi. Deplanque sắp phát rồ, đòi nhảy xuống nước. Đã gần một giờ, tôi thấy lờ mờ đất liền ở phía chân trời. Tất nhiên, tôi hướng ngay về phía đó mà không nói gì, vì tôi chưa chắc là đúng. Chim chóc lượn quanh chúng tôi, như vậy là tôi đã không lầm. Tiếng chim đã báo cho các bạn tôi biết. Bị ánh nắng và sự mệt mỏi làm cho u mê đi, họ nằm dài ở lòng thuyền lấy tay che mặt cho đỡ nắng. Guittou sau khi súc miệng để cố nói cho được đã bảo tôi:
– Papi, cậu có thấy bờ không? – Thấy rồi. Theo cậu đoán thì độ bao nhiêu lâu chúng tôi tới bờ được. – Độ năm bảy giờ nữa. Các cậu ơi, tớ cũng chịu hết nổi rồi. Tớ cùng bị phỏng da như các cậu, mông đít tớ còn trơ cả thịt và bị cọ sát với ghế và nước biển. Gió không mạnh, thuyền không đi nhanh được, cánh tay tớ luôn bị chuột rút, bàn tay tớ cũng tê cứng, từ lâu không nắm nổi giầm lái nữa. Các cậu có bằng lòng làm thế này không? Ta hạ buồm xuống, che làm mái để tránh nắng như thiêu như đốt này cho đến tối. Cứ mặc cho thuyền tự nó trôi vào bờ. Phải làm như vậy, nếu không, một cậu nào hãy ra cầm lái thay tớ. – Thôi đi Papi, đừng làm vậy. Cứ làm như cậu nói và tất cả vào ngủ trong bóng râm, chỉ để một người canh thôi. Tôi lấy quyết định chung của anh em lúc trời đang nắng, vào hồi mười ba giờ. Được thỏa thuận một cách tự nhiên như con vật, tôi nằm dài ra lòng thuyền và thế là cũng được ở trong bóng râm. Các bạn tôi dành cho tôi nơi tốt nhất ở đằng mủi để hứng được gió. Người gác phải đều chìm ngay vào cõi hư vô. Mệt nhoài, lại có bóng râm che ánh nắng gay gắt, chúng tôi đã ngủ thiếp đi. Một tiếng còi thét lên làm chúng tôi choàng dậy. Tôi vén buồm lên, bên ngoài là đêm tối. Không biết mấy giờ? Khi tôi về chỗ ngồi, bên bánh lái, một làn gió mát mơn trớn thân thể bị tróc hết da của tôi, và tôi thấy lạnh. Nhưng khoan khoái biết bao vì không bị cháy da thịt nữa. Chúng tôi dỡ buồm ra. Sau khi lấy nước biển rửa mắt – may cho tôi là tôi chỉ bị một mắt đau và mưng mủ – tôi đã nhận thấy rất rõ đất liền ở bên phải và bên trái tôi. Chúng tôi đang ở đâu vậy? Tôi nên đi về phía nào bây giờ? Chúng tôi lại nghe tiếng còi rúc một lần nữa. Tôi biết là tín hiệu từ phía phải tới. Không biết người ta muốn nói cái quái vì với chúng tôi? – Cậu bảo chúng ta ở đâu nhỉ? – Chapar hỏi. – Thật sự tớ cũng không biết gì. Nếu miền này không phải là nơi trơ trọi và là một cái vịnh thì có lẽ chúng ta ở mỏm đầu của Guyane thuộc Anh, phần đất dài đến tận sông Orenoque là biên giới tự nhiên với Venezuela. Nhưng nếu miền đất bên phải lại bị cắt khỏi phía bên trái bởi một quãng hơi rộng, thì cái bán đảo này lại là một hòn đảo và đấy là Trinidad. Bên trái sẽ Venezuela, và chúng ta đang ở trong vịnh Ria. Trí nhớ của tôi về cái bản hải đồ mà tôi đã có dịp nghiên cứu đã cho tôi thấy được tình trạng nước đôi này. Nếu bên phải là Trinidad và bên trái là Venezu ela, chúng tôi sẽ chọn phía nào đây? Quyết định này liên quan đến vận mạng của chúng tôi. Với gió nhẹ như thế này, đi vào bờ không khó lắm. Lúc này, chúng tôi chưa đi về hướng nào cả. Đến Trinidad, là gặp “dân ăn thịt bò rán” cũng một chính quyền như ở Guyane thuộc Anh. – Chắc chắn sẽ được đối xử tử tế, – Guittou nói. – Phải, nhưng họ sẽ quyết định thế nào khi ta rời khỏi lãnh thổ của họ trong thời chiến một cách lén lút và không có giấy phép nữa? – Thế Venezuela thì sao? – Cũng chưa biết sẽ ra sao – Deplanque nói – Dưới thời Gomez làm tổng thống, tù nhân phải làm đường vô cùng cực khổ, rồi bị họ trả cho nước Pháp, ở đấy họ gọi tôi là dân Cayenne. – Nhưng bây giờ không như vậy nữa rồi, đang là thời chiến mà. – Theo như tôi nghe được ở Georgetown thì họ không tham chiến, họ trung lập. – Chắc không? – Chắc chứ! Nếu vậy thì rất nguy hiểm cho chúng ta. Chúng tôi đã nhận ra ánh sáng đèn trên bờ phải và cả bên bờ trái nữa. Lại tiếng còi, lần này hú ba lần. Những ánh đèn tín hiệu từ bờ biển bên phải hướng về chúng tôi. Đằng trước, hai mỏm đá nhọn rất to, đen ngòm nổi trên mặt biển. Chắc vì vậy mà họ hú còi để báo cho chúng tôi
biết là có nguy hiểm. – Ồ phao nổi kìa! Có cả một chuỗi dài. Sao ta không neo vào một cái để chờ trời sáng nhỉ. Hạ buồm xuống đi Chapar. Y hạ ngay những mẩu quần và áo sơ mi mà tôi gọi một cách hợm hĩnh là buồm. Tôi dùng giầm hãm thuyền, cho mũi tiến sát gần một cái “phao” đầu mũi thuyền, may còn một đoạn thừng buộc chắc vào vòng sắt nên bão không dứt dứt được. Chúng tôi đã neo xong thuyền không neo vào cái phao kỳ cục này vì nó nhẵn thín chẳng có chỗ nào để buộc, mà neo vào sợi dây cáp nối nó với một phao khác. Thuyền chúng tôi đã được buộc chắc vào sợi cáp hẳn là dùng để phân ranh giới một luồng nước gì đó. Chẳng bận tâm đến những tiếng còi từ bờ bên phải cứ tiếp tục réo lên, tất cả chúng tôi nằm trong lòng thuyền, dùng buồm đắp lên người để che gió. Người tôi bị gió lạnh ban đêm làm tê cóng đã ấm dần lên, rất dễ chịu, và chắc tôi là một trong những người đầu tiên đã ngáy lên như sấm. Khi tôi thức dậy, trời đã sáng rõ và rất quang đãng. Mặt trời đang mọc, sóng hơi to, và nước biển trong vắt màu xanh ve chứng tỏ đáy biển toàn san hô. – Ta làm gì bây giờ nào? Phải lên bờ chứ? Tớ chết vì đói và khát mất thôi. Đây là lần đầu tiên có người phàn nàn sau những ngày nhịn nhục, đến hôm nay đúng là bảy hôm. Chúng ta ở quá gần bờ, nên có lên bờ cũng chẳng có tội! – Chapar nói vậy. Ở chỗ tôi ngồi, trông xa về phía trước, qua hai tảng đá to từ dưới biển nhô lên, tôi thấy rất rõ chỗ bờ biển bị nứt đôi. Như vậy bên phải đúng là Trinidad rồi, và bên trái là Venezuela. Hẳn là chúng tôi đang ở trong khu vực vịnh Paria, và nếu nước màu xanh chứ không phải vàng do đất phù sa của dòng sông Orenoque, thì như thế tức là chúng tôi ở trong luồng nước của cái lạch chảy giữa hai quốc gia rồi đổ ra biển. – Ta làm gì bây giờ? Các cậu biểu quyết đi, việc này rất quan trọng nên tôi không dám tự quyết một mình. Bên phải là đảo Trinidad của Anh, bên trái là Venezuela. Các cậu muốn đi phía nào? Căn cứ vào tình trạng thuyền của bọn ta và tình hình sức khỏe chung, chúng ta phải lên bờ càng sớm càng tốt, trong chúng ta có hai người đã được tự do là Le Guittou và Corbière còn lại ba người: Chapar, Deplanque và tớ có thể gặp nhiều nguy hiểm nhất, cho nên chúng tớ phải quyết định. Các cậu thấy thế nào? Đến Trinidad là khôn ngoan hơn, Venezuela là xứ lạ.
Chúng ta chẳng cần phải tự quyết định dâu: chiếc hải thuyền kia sẽ quyết định cho chúng ta, – Deplanque nói. Đúng là có chiếc hải thuyền đang tiến nhanh về phía chúng tôi. Nó đã dừng lại cách chúng tôi ngoài năm mươi mét. Một người trên thuyền đó cầm loa. Tôi trông thấy một lá cờ, không phải là cờ Anh. Lá cờ có nhiều sao rất đẹp, cả đời tôi chưa thấy nó bao giờ. Chắc đấy là cờ Venezuela. Sau này là “cờ của tôi”, cờ của tổ quốc mới của tôi, đối với tôi và đối với bất cứ người bình thường nào khác đó là vật tượng trưng cảm động nhất, tập trung trong một mánh vải những đức tính cao quý nhất của một dân tộc lớn, dân tộc tôi. – Quien son vosotros? (Các anh là ai?) – Chúng tôi là người Pháp – Es tan locos? – (Các anh có điên không?) – Sao vậy? – Porque son amarados a mina (Vì sao anh neo thuyền vào mìn) – Vì thế mà các ông không dám đến gần phải không? – Phải, cởi dây ra ngay đi. – Xong rồi đây. Trong nháy mắt, Chapar đã cởi dây thừng ra. Chúng tôi đã neo thuyền vào một chuỗi mìn nổi, không hơn không kém. – Phúc tổ các anh không bị nổ tung lên đấy, – thuyền trưởng chiếc hải thuyền sang kéo thuyền của chúng tôi, giải thích với tôi như vậy. Rồi từ hải thuyền, họ chuyển cho chúng tôi càphê, sữa hộp và thuốc lá. – Các anh đến Venezuela đi, các anh sẽ được đối xử tử tế tôi bảo đảm với các anh như vậy. Chúng tôi không thể nào kéo các anh vào tận bờ được, vì chúng tôi phải cấp tốc đi đón một người bị thương nặng ở hải đăng Barimas. Nhưng các anh nhất thiết đừng cố đến Trinidad, vì mười phần chắc chín là các anh sẽ va phải mìn, thế là… Sau câu tạm biệt “Adios, buena suerte” (chúc các anh may mắn) chiếc hải thuyền quay đi. Họ để lại cho chúng tôi hai lít sữa. Chúng tôi sửa sang lại buồm. Đã mười giờ sáng rồi, dạ dày chúng tôi đã phỏng phao lên, do có cà phê và sữa, rồi phì phèo điếu thuốc trên môi, tôi cho thuyền xô ào vào bãi cát mịn, ở đó độ năm mươi người đã tựu tập để xem những ai đi trên chiếc thuyền kỳ lạ: cột buồm thì cụt, buồm là áo sơ mi, áo vét và quần ghép lại với nhau.
Trong thời gian thực tập ngắn hạn trên các đơn vị bờ, trước khi chính thức đổi xuống chiến hạm, Tần nghĩ là mình có chút ít may mắn khi được lệnh thuyên chuyển đến căn cứ Hải quân Cát Lở, tức Duyên đoàn 33 ở Rạch Gừa. Chỉ cách Vũng Tàu vài cây số. Quay trở về Sài Gòn cho một cuối tuần rong chơi kể cũng gần và thuận đường đi. Với lại, cần gì, những con sóng biển Vũng Tàu từ bãi Trước vòng qua bãi Sau, đang làm nền cho biết bao nhiêu bóng sắc giai nhân, mỹ miều yểu điệu trong đôi ba vuông lụa nhỏ, chắc chắn sẽ làm cuộc đời Tần tươi hẳn lên. Ở đó, biết đâu Tần lại có thêm một mối tình biển mặn, sẽ làm con tim đang tơi tả của chàng càng thêm rướm máu! Ô hay, phải chăng những cái đau đớn do tình yêu mang lại bao giờ cũng là những cái đau đớn thèm thuồng?
Quả đúng như lời Thành nói lúc trước, chuyện đi thực tập Ðệ thất Hạm đội chỉ tùy thuộc vào trình độ sinh ngữ chớ không phải thứ hạng đậu cao thấp trong kỳ thi mãn khóa. Thủ khoa mà yếu Anh văn như Trần Ngọc Ðiềm đi nữa thì vẫn phải lê gót đến Duyên đoàn, Giang đoàn nếm mùi súng đạn của Việt cộng thôi. Rồi không hẹn mà gặp, Thành lại công tác cùng một đơn vị với Tần trong giai đoạn này. Trong bộ ba “ngự lâm pháo thủ” của Ðệ nhị Hải sư, giờ, chỉ có Thắng là được diễm phúc… lênh đênh trên mặt biển Thái Bình Dương.
Kể ra trong số sáu đứa gửi đến thực tập tại Duyên đoàn 33, Duyên đoàn La-ve Con-Cọp, mà có được một thằng bạn thân thì cũng là trường hợp hi hữu. Bởi vậy không tay bắt mặt mừng sao được khi tình cờ gặp lại nhau:
– Ê, đù me, sao mầy lại có mặt ở đây, Thành? Tao cứ tưởng mầy đã xuống chiến hạm Mỹ ở Tân cảng từ lâu rồi chớ!
Thành cười vang:
– Còn lâu, tao cũng đâu có giỏi gì hơn mầy. Gì chớ Anh ngữ thì tao chê! Hồi ở trung học, Pháp văn là sinh ngữ một của tao mà, bởi vậy cho nên…
Tần an ủi bạn:
– Ðậu cao như mầy, tài năng lãnh đạo như mầy mà mấy giả không biết đem chuông đi gióng xứ người thì kể ra cũng dở, có mắt không tròng. Chớ còn mấy thằng lẹt đẹt ở phía sau như tao, thì sao cũng được!
Thành phân bua:
– Giỡn hoài mậy! Chưa chắc tụi đi thực tập Hạm đội Bảy lại sướng hơn tụi mình à nghen. Chỉ cần một tuần lễ gặm bánh mì thôi là tụi nó… nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương, nhớ phở, nhớ hủ tiếu ngay. Một hai tháng trời không cơm cháo, chà, dài quá, đù me chắc tao chịu không thấu!
– Ừa, mầy nói cũng có lý đó! Vả lại, tao mới nghe mấy cha khóa đàn anh của tụi mình nói là ở ngoài Vũng Tàu có nhiều mục, nhiều chỗ ăn chơi lắm mầy ơi. Quán nhậu, snack-bar, tắm hơi, vũ trường… món nào cũng có hết. Ðã vậy, lại chàng ràng chộn rộn, vui nhộn hơn Nha Trang nhiều!
– Còn vụ hành quân, diệt Cộng thì sao?
– Hải quân mà hành quân, diệt Cộng cái gì mậy? Theo tao nghĩ thì cùng lắm là tối tối mấy giả dẫn lính đi kích xung quanh căn cứ, bảo vệ vòng đai. Còn ghe duyên đoàn thì hiển nhiên tuần tiễu quanh năm suốt tháng ở ngoài khơi lẫn trong vịnh của cửa sông Cần Giờ, Soài Rạp. Mà thử hỏi, mấy năm nay có bắt được chiếc tàu xâm nhập nào của Việt cộng ở vùng này đâu? Tụi nó chẳng có dại gì mà chui vào hang cọp 33 đầu rằn, mầy biết hôn?
– Chưa chắc! Sở dĩ không bắt được tàu xâm nhập trong vùng này thì cũng có thể là màng lưới ngăn chận của Hải quân mình rất hữu hiệu đó mầy!
– Mà thôi, bỏ chuyện đánh giặc đó qua một bên đi! Hãy đem đồ đạc của mầy cất vô phòng đặng rồi tao với mầy phóng ra phố chơi! Hải quân Thiếu úy mới ra trường vẫn còn lèng xèng lắm, không có cấp số xe Jeep mầy à! Lại cứ nhảy xe Lam như hồi nào mình ở quân trường…
Những ngày đầu ở căn cứ Cát Lở, phải nói là những ngày vui. Bởi vì các đại niên trưởng khóa đàn anh cũng có phần nào dễ dãi đối với các sĩ quan thực tập. Có lẽ “đoạn trường” này ai nấy đều đã qua cầu. Hoặc giả, cũng có lẽ chẳng ai muốn các tân Thiếu úy mới mãn khóa, không kinh nghiệm chiến trường, lại được vinh thăng Trung úy kèm theo anh dũng bội tinh với nhành dương liễu ở ngay đơn vị mình. Dễ mang tai mang tiếng với đời lắm!
Tuy nhiên, cũng phải làm một vài việc cho ra vẻ để… báo cáo. Bởi thế, vào một chiều trời vừa tối hẳn, Trung úy Tâm liền âm thầm dẫn tất cả sáu sĩ quan thực tập cùng hai tiểu đội lính… đi kích. Tần rất đỗi ngạc nhiên vì mục này chàng chưa từng học qua ở trong trường. Không thấy nói đến trong bất cứ một chương nào của hàng hàng lớp lớp sách vở Hải quân. Nhất là khi Tần được phát mấy ve thuốc thoa muỗi và vác trên vai ống hỏa tiễn không giựt chống chiến xa M-72. Trời đất, làm như mình là sĩ quan bộ binh không bằng. Trong khi đó, Thành cũng lận vô lưng vài chai thuốc chống muỗi và thủ khẩu phóng lựu M-79. Hai đứa vừa nai nịt vừa yên lặng nhìn nhau cười tủm tỉm.
Không biết tin tức tình báo ghi nhận Việt cộng chuyển quân, xâm nhập vũ khí như thế nào mà giờ này cả bọn, quan cũng như lính, cứ mon men lần ra bờ sông, tìm những gò đất cao đóng chốt. Trên lối mòn ẩm mục, thỉnh thoảng Tần bước trật chân xuống trũng sâu, đạp lên những cành khô gãy vụn chìm trong nước biển mặn, làm phát ra những tia lân tinh lấp lánh như đóa hoa ánh sáng kỳ diệu. Lạ quá, chẳng khác gì những đóa hoa sen nở rộ dưới chân đức Phật! Thích quá, vì chàng bỗng thấy tâm hồn mình rất thanh bình an lạc trong cõi trời đất mông lung, trải rộng vô bờ bến này!
Thành và Tần tìm được một cái gò lớn, bằng phẳng như một cái mả lạn đầy cỏ. Lại phải sống cảnh màn trời chiếu đất? Ðâu có được! Hai đứa bèn lui cui tháo trong ba lô moi ra tấm poncho, phủ lên cỏ làm chiếu, rồi thêm một cái mền vải dù rằn ri làm… màn. Lệnh im lặng vô tuyến đã ban hành nhưng hai đứa nằm kề nhau không tán gẫu không được. Tần gợi chuyện:
– Số hai thằng mình lông bông quá! Phải chi hồi đó chịu khó nghe Lab, cố gắng học thêm Anh ngữ, đừng trốn ra hàng dương hút thuốc ngó trời thì đỡ rồi. Giờ này nếu không ở bên Tàu thì cũng ở bên Phi, nếu không ghé Macao, Hồng Kông thì cũng vô vịnh Subic Bay. Ê, mà mấy giả có ra lệnh cấm hút thuốc không ta?
– Cấm cái gì, tao đã nghe mùi thuốc lá nặc nồng đánh bạt cả mùi bùn! Nhưng mấy giả đã dặn nếu có hút thì phải lấy tay che lại, bụm lại vì đốm sáng rất dễ nhận trong ban đêm.
Tần mò gói Kool trong túi lấy ra một điếu, quay mặt xuống đất bật hộp quẹt châm lửa, rít một hơi dài. Ðã thiệt, cho một điếu thuốc giữa rừng hoang! Tần hỏi bạn:
– Hút không mậy? À, rồi còn vụ canh gác, mật khẩu ra sao hả?
– Hút đi, tao có gói Pall Mall! Chắc là cả bọn chùm nhum một chỗ, với tay ra là đụng, cho nên khỏi cần mật khẩu! Còn canh gác thì có đám lính đã nhận lệnh công tác hết rồi! Phía sau lưng mình là đường cái, chỉ cần lo cái mặt sông thôi. Mà khoảng này sông rộng quá, trông như biển, còn khuya mới thấy ghe, bè của Việt cộng bằng mắt thường.
– Hình như Trung úy Tâm có mang theo ống viễn vọng kính hồng ngoại tuyến gì gì đó mầy à! Nhưng rồi sao, chẳng lẽ mấy giả định dẫn đám mình ra đây ngủ một giấc rồi dẫn về?
– Giỡn hoài mậy, mầy phải thức trắng đêm và lõ con mắt cho thiệt lớn, đặng ngó chừng Việt cộng tới mà làm thịt nó!
– Tao buồn ngủ rồi, mầy có ngon thì ở đó ráng thức canh Việt cộng đi! Chừng nào tụi nó tới hãy dựng tao dậy đặng tao thụt cho tụi nó một quả M-72 cho tụi nó biết tay!
Nói xong, Tần dụi thuốc rồi chui vô mền, cuộn tròn như con tôm và… ngủ thiệt. Ðược một giấc khá lâu, chàng bỗng giựt mình thức dậy vì mực nước biển đã lên ngập cả giày. Dụi mắt, ngó dáo dác xung quanh mới hay mình đang nằm trên một hòn đảo nhỏ, nước với nước bao bọc tứ bề. Thành vẫn còn ngồi xổng lưng, bó gối chờ Việt cộng. Tần hỏi:
– Mấy giờ rồi mậy, Thành? Bộ mầy không ngủ à?
Thành gắt gỏng:
– Ði kích Việt cộng mà ngủ cái mẹ gì mậy!
Biết thằng bạn mình đang bực, có thể vì Trung úy Tâm tính sai gió nước hoặc vì lạ chỗ ngủ không được, cho nên Tần im lặng. Thành cũng im lặng. Một hồi, Tần nói giả lả:
– Ê, rồi mấy chả phải tính sao đây, hả? Nếu cứ ngồi không chờ nước lên như vầy hoài thì chỉ cần một hai giờ nữa là chắc hai thằng mình phải mang chưn vịt lội vô bờ mất…
Mà rồi đúng như Tần dự đoán, chẳng mấy chốc có lệnh rút quân không kèn không trống, trong vòng trật tự. Ðịch không hề xuất hiện và ta suýt bị chết ngộp, chết trôi vì… nước.
Chẳng biết có phải vì ảnh hưởng của sự… bất phân thắng bại trong vụ đi kích có hình thức vừa rồi hay không, mà từ đó mãi về sau toán sĩ quan thực tập chỉ làm việc, học hỏi tại đơn vị. Theo dõi mọi diễn biến tại trung tâm hành quân trong những vụ hành quân phối hợp với Ðặc Khu Vũng Tàu, Rừng Sát. Quan sát lối điều hành công tác dân vận, chiêu hồi. Xem xét việc bảo trì chiến đĩnh, nhận và phân phối hàng tiếp liệu… Kể ra cũng lắm việc phải làm!
Thời gian qua, phải nói bọn Tần đã sống những ngày vui, an nhàn tại căn cứ Cát Lở. Nhưng, rất tiếc, những ngày vui lại thường hay mắc phải cái chứng bịnh: qua mau! Và dĩ nhiên, không có một cái vui nào mà không tiềm ẩn bên trong một nỗi buồn nho nhỏ. Vì sau giờ làm việc, những lần ra phố nhậu nhẹt, hoặc tắm biển, hoặc đi thăm những danh lam thắng cảnh của thành phố biển mặn lừng tiếng ở miền Nam này, đối với Tần, đều dần dần đâm ra nhàm! Chẳng có gì mới lạ hết! Bởi biết trước tánh mình mau chán, cho nên bên cạnh những thường nhật của cuộc đời, Tần vẫn hay dành thì giờ tìm vui trong các thú giải trí tâm linh như đọc sách, viết thư. Ðọc sách, ngoài việc thuần túy… mua vui cũng được một vài trống canh, theo chàng, còn để mở mang kiến thức, am tường những điều hay lẽ phải của tiền nhân thánh hiền để lại, cùng thưởng thức những cảnh trời tươi đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên mà tác giả đã cố công vun xới, trình bày, vẽ ra. Còn viết thư thì đối với chàng chỉ có mỗi một mục đích duy nhất: nhận và đọc thư của những người thân quen. Ðể gần gũi, gắn bó thêm và dễ dàng theo dõi cuộc sống của họ. Như bức thư của Thắng vừa mới gửi tới cho Tần chẳng hạn:
Hạm đội Bảy, ngày…
Tần thân mến,
Cũng gần hết giai đoạn hai của chương trình thực tập, tao mới có chút thì giờ rảnh rỗi viết thư thăm mầy. Ðể tao kể sơ sơ cho mầy nghe về chuyến đi của tao. Có nhiều cái hay mà cũng lắm cái dở mầy ơi!
Trước hết là tao không được thực tập trên các Khu trục hạm Ð hay DE, Destroyer hay Destroyer Escort, hoặc Thiết giáp hạm, Cruiser, như phần lớn bạn bè cùng khóa, mà trên một LST tàng tàng như mấy chiếc 500 của mình thôi. Ðặc biệt hơn một chút là loại LST này có trang bị súng 76ly2 đôi thay vì cà-nông Bofors, 40ly đôi. Mỗi gắp đạn cũng có bốn viên, thả xuống nòng bằng máy viễn khiển thay vì bằng tay.
Như mầy biết, tàu Mỹ thường hoạt động dài hạn ở ngoài khơi, từ 3 đến 6 tháng ròng rã mới trở về bến. Sở dĩ tụi nó làm được là vì tụi nó có tàu tiếp tế thường xuyên. Hằng tuần. Không riêng gì dầu mà là đủ mọi thứ, gồm thực phẩm tươi, thực phẩm khô (khỏi cần phải đi chợ, kiểm thực gì ráo), phim ảnh giải trí (toàn phim tình cảm mới toanh nghen mậy), thư từ, sách báo… Mỗi lần có nhiệm sở tiếp tế cũng vui lắm. Tụi nó hẹn nhau ở một vị trí nào đó, rồi vì tàu tao nhỏ nên phải tăng vận tốc cho kịp với tàu cung cấp và chạy song song, cách nhau chừng 20, 30 thước. Bên kia bắn đạn, phóng dây nhỏ sang trong khi bên này tụi tao phải đội nón sắt. Rồi dây nhỏ kéo dây lớn, dây lớn kéo ống dầu và dây highline. Ống dầu thì để chuyển dầu còn dây highline dùng để chuyển thực phẩm và nhân viên đi bờ (phải ngồi vào một cái thúng có móc, bởi vậy tụi tao hay gọi dây highline là dây tử thần). Biển êm không nói gì, gặp lúc biển động đi bờ kiểu này cũng dễ bị rớt xuống biển lắm nghen mậy.
Ngoài việc đi ca xây tua thường xuyên 24 trên 24 như trên tàu mình, ở tàu Mỹ có cái lạ là không cho phép nhân viên uống rượu, mặc dù trên tàu vẫn có đầy đủ beer và whisky. Cứ mỗi chúa nhựt, tàu sẽ thả trôi lềnh bềnh, rồi thả you-you xuống cặp một bên hông ít sóng, làm chỗ nhâm nhi cho những ai muốn uống rượu. Phải đu xuống bằng thang dây máng trên thành tàu, kể cũng cực khổ cho những đồ đệ của Lưu Linh như tụi mình đó mầy. Nhiều thằng Mỹ con uống say mèm không leo lên nổi phải dùng cần trục, móc dây ngang bụng câu lên… Trong khi ở tàu mình, chuyện nhậu nhẹt rượu chè coi bộ tự do, văn minh tân tiến hơn nhiều hả Tần?
Tuy nhiên, việc ăn uống trong carré sĩ quan rất là quan liêu, quan lại mầy ơi. Ngay cả khăn ăn của các sĩ quan cũng đều có thêu tên riêng nữa mầy. Và có bồi Phi Luật Tân bưng khay đi vòng quanh mời từng người, xong, còn phải đứng hầu một bên, phòng khi có ai muốn ăn thêm món đó thì gọi tiếp. Yes sir, yes sir… đàng hoàng nghen mậy. Sao tao thấy tủi hổ và tội nghiệp cho tụi chiêu đãi viên da vàng này quá chừng.
Bọn tao ba thằng, gồm hai thằng Hóa, Chình cơ khí và tao, vừa ghé cảng Yokosaka (đọc là Yo-Kos-Ka) ở Nhật. Có gặp Thư và Cân cơ khí bên Ð. Năm thằng tao nhập bầy đi Tokyo chơi. Ý là có mua cuốn tự điển Anh-Nhật mà cũng không nói chuyện được với dân bản xứ. Cách phát âm chữ Nhật dị kỳ, bí hiểm lắm. Ngay cả việc tìm ga xe lửa tốc hành cũng khó. Ấy vậy mà lúc thằng Thư làm trò khỉ, giở giọng “hú, hú…, xịch, xịch…, Tokyo” thì nó lại hiểu mới là vui chớ mậy. Nó chở tui tao thẳng tới nhà ga luôn! Kể cũng tức cười mầy ơi! Tụi tao có đi tuốt lên Tháp Tokyo, cao hơn Tháp Eifel bên Tây 13 thước, trình giấy thông hành cho tụi nó đóng dấu làm kỷ niệm. Sau đó, lại vòng lên hướng bắc đi thăm núi Phú-Sĩ, đâu cũng khoảng 100 dặm bằng xe lửa tốc hành. Thấy tuyết phủ đầy trên đỉnh, trắng hếu!
Với hai trăm đô-la đổi được lúc xuống tàu, có lẽ tao sẽ mua quà lặt vặt hết để về cho bà con và bạn bè mỗi người một món. Vì tao chẳng biết phải mua cái thứ gì để về bán lại có lời, mầy à! Vả lại, lúc về hình như tụi nó sẽ gửi tụi tao theo Boeing 747, cho nên chắc cũng không thể mang theo những món hàng cồng kềnh và nặng ký được.
Thôi, để dành đó, lúc về lại Việt Nam gặp mầy nói tiếp cho đã! Còn mầy với thằng Thành dạo này ra sao? Có gì vui không? Về Sài Gòn thăm em điều chi hả? Tao rành mầy quá! Có đi ăn mì vịt tiềm và nhậu nghêu luộc chấm nước mắm ở Nguyễn Tri Phương giùm tao không? Ở đây tụi tao thèm cơm lắm mầy ơi, đồ ăn Mỹ ăn ba lần phải nghỉ một bữa vì nó không tiêu! Chán quá trời…
Bạn thân của mầy,
Thắng
Chỉ bấy nhiêu thôi mà Tần cảm thấy mình như đang chơi vơi với bạn trên vòm trời xa lạ Ðông Kinh. Ai lại không thích du hành xứ người một lần trong đời cho biết! Nhưng, mỗi người mỗi hoàn cảnh khác nhau! Tần không có chỉ tay xuất ngoại thì chắc suốt đời phải sống quanh quẩn với quê hương, xóm giềng thôi… Chẳng biết Thắng có nhận được lá thư nào gửi từ Việt Nam trong thời gian lênh đênh trên tàu Mỹ không nhỉ? Hừ, phải chi có Thắng ở gần bên thì Tần sẽ có dịp trao đổi và xem thư “bồ” của nhau như hồi nào còn ở trong trường. Vì Tần cũng vừa có thư của Phượng, cô giáo làng sư phạm Qui Nhơn:
Quảng Nam, ngày…
Anh Tần thương mến,
Không ngờ Phượng ni còn diễm phúc được đọc thơ anh. Tưởng là đường đời đôi ngả chia ly rồi chớ. May phước mà con Trâm còn lui tới địa chỉ cũ của hắn ở ngoài phố, rứa là nhà bà dì của nó. Bằng không, chắc là chẳng bao giờ mình có dịp nối lại đường… tơ (lỡ đánh rơi chữ h rồi), anh hỉ?
Nghĩ chẳng mấy chốc mà Phượng đã tốt nghiệp, đi dạy còn mấy anh thì đã ra trường, mãn khóa. Nhớ lại hồi mới gặp nhau, rứa mà đã hai năm qua, ngày nớ răng mà mình hồn nhiên thơ dại quá. So với bây chừ, tuổi đời ngày một thêm chồng chất, tâm hồn Phượng cứ ngày một thêm già đi, cằn cỗi, tối tăm. Phượng những tưởng các anh sẽ có dịp trở lại Qui Nhơn vài lần nữa, nhưng than ôi, chẳng bao giờ… Buồn hỉ? Phải chi Phượng biết trước được chuyện đời, lắm khi chỉ xảy ra một lần rồi thôi, thì ngày nớ có lẽ Phượng cũng dám bỏ trường trốn ra ngoài đi chơi với anh một đêm lắm! Như con nhỏ Trâm tê! Ngày ni nghĩ lại, tưởng như mình đã vô tình đánh mất một cơ hội bằng vàng, tiếc ơi là tiếc. Nói rứa chớ anh nào có nghĩ gì đến Phượng? Với ngần ấy nữ sinh duyên dáng ở xứ thùy dương, thì anh còn tìm mô ra thì giờ cho cô giáo làng nội trú nữa, đúng rứa hỉ?
Phượng bây chừ đã xa anh thêm một xí nữa vì Phượng đã đổi tuốt về miền khô cằn sỏi đá: quận Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mí lại trường Phượng đang dạy nằm sâu trong đất liền, chớ không sát bờ biển như xưa, lúc tá túc ở trường sư phạm Qui Nhơn, cho nên không làm răng mà Phượng thấy được bóng dáng con tàu của anh… Buồn năm phút! Nhưng mà, biết mô được, lần ni lại chẳng là hữu duyên thiên lý… anh nờ!
Thôi, ít hàng thăm anh, cho phép Phượng dừng bút. Chúc anh luôn vui vẻ, yêu đời. Phượng bận phải trở lại… gõ đầu đám trẻ! Cho Phượng gởi lời thăm các anh Thắng, Thành, Ðức… nếu anh có dịp gặp lại bạn anh..
Vẫn mến thương anh như ngày nào,
Hoàng thị Túy Phượng
TB: Anh Tần ơi, rứa là con nhỏ Hằng sắp sửa làm đám cưới. Cũng là cựu giáo sinh Qui Nhơn. Hình như trong đám bạn của Phượng chẳng có đứa mô chịu lấy chồng dân… hai quần hết. À, Phượng vẫn còn giữ hai tấm bóng của anh trong bóp, một chụp ở Hòn Chồng và một chụp trên tàu lớn. Gởi tặng anh tấm bóng mới nhứt của Phượng để anh thấy Phượng đã đổi thay
Ðã đổi thay? Ðúng, phải như vậy mới được chớ! Vì nhớ ngày nào Phượng và Hằng của Thắng ỷ mình có chút nhan sắc, đã chổng đảnh làm cao, coi bọn Thắng với Tần không ra cái thể thống… quan tàu gì cả. Giờ, có lẽ em đang “mống chuồng” mà không tìm được ý trung nhân chăng? Tần cười thầm! Xui cho mầy quá đi Thắng ơi, Hằng của mầy sắp sửa đi lấy chồng rồi! Phải chi có Thắng ở đây thì Tần sẽ có dịp bắt bẻ thằng bạn mình đủ mọi điều trước khi cho nó xem thư của người em gái hậu phương… xa! Tần không ngờ là mình được đọc cái thư chứa chan tình cảm như vậy. Ðiện Bàn là đâu? Quảng Nam là đâu? Chắc rồi sẽ có ngày nào đó, Tần tìm cách đặt chân tới! Nếu HQ-406 của chàng có dịp đi công tác vùng ngoài… nớ! Phượng ơi, em hãy ráng đợi chờ anh!
À, sao không nghe Phượng nhắc nhiều đến Trâm của Thành ha? Biết đâu lại cũng đang sắp sửa đi lấy chồng như Hằng, Tần đoán mò! Câu chuyện này chỉ cần hỏi ngay thủ phạm, Thành, thì biết liền. Nhưng Tần không thèm đá động tới vì dạo sau này Thành như có ý muốn dấu bạn, dấu Thắng và Tần những liên hệ mật thiết với Trâm. Khi yêu thương đã đi lần đến hôn hít, ăn nằm thì phải biết! Mà hình như trong bộ ba cô giáo làng thì Hằng thân với cả hai, Phượng và Trâm, Tần nghĩ. Tuy nhiên, có lẽ Hằng nghiêng về Phượng hơn vì cùng một tánh ý dè dặt, không buông thả như Trâm. Còn giữa Phượng và Trâm thì chắc là chơi với nhau cũng chỉ trên cương vị để… chơi vậy thôi chớ không mấy thân lắm thì phải, Tần lại đoán mò!
Mà thôi, dẹp cô giáo qua một bên đi! Tần xếp lại tờ thư, đặt tấm ảnh đã đổi thay, đã già dặn của Phượng lên trên rồi dồn cả hai vào phong bì. Bây giờ Tần cần phải quay về với Loan, cô học trò nhỏ có đôi tay dài như vượn của chàng. Vì trước đây, như chàng đã tự hứa, rằng, anh nguyện sẽ đền bù cho em… Tần không ngờ Loan mỗi ngày một đẹp ra. Với tấm hình kiểu cọ, mới chụp gửi cho chàng, phía sau có ghi dòng chữ Gửi anh yêu quí, Loan , thì bảo đảm, nếu Thắng mà thấy được thì nó sẽ… lé mắt luôn! Khuôn mặt trái soan đều đặn, đôi mắt tròn mở lớn với nét mơ màng và ướt át hơn cả cặp mắt bồ câu, sóng mũi dọc dừa thẳng đứng tự nhiên, và đôi môi trái tim hồng mịn cười chúm chím… Tần phải chu mỏ, hôn một cái… “chụt.” Tất cả được ôm ấp bởi mái tóc cắt ngắn, uốn dợn, xõa xuống bờ vai trần trắng ngần. Lại thêm bàn tay búp măng năm ngón, thon dài và nhọn như mũi viết đang ngại ngùng e ấp nâng một bên cằm nữa chớ, sao mà em… kiểu vở dễ thương chi lạ!
Mỹ Tho, ngày…
Tần yêu quí của em,
Em không ngờ anh đã dành những ngày phép ra trường để đến với em, cùng em vui chơi khắp phố phường tỉnh lẻ của hai đứa mình. Kể ra, anh tìm được nhà em thì cũng là tài lắm đó. Vì như anh đã biết, sau Mậu Thân, toàn bộ khu bờ giếng trên đã được phóng đường, phân lô lại, lộn xộn hết trơn. Lúc nhìn anh trong bộ quân phục trắng như bông bưởi, thiệt tình, em ngỡ như mình đang sống trong mơ. Còn em, em có giống con lọ lem không khi bất chợt tiếp anh trong bộ bà ba mặc ở nhà, không son phấn sửa soạn chi hết vì em đang lui cui làm bếp? Chắc là quê mùa, xấu xí lắm hả anh?
Không đâu em, đó chính là hình ảnh khó quên mà anh sẽ mang theo suốt cuộc đời này! Như em đã có lần nói trong thư, “cái gì thật tình cờ không sắp đặt trước thường vẫn hay làm lòng mình thêm vương vấn.” Nhưng, những điều em nhắc về em hình như vẫn còn thiếu một điểm đặc biệt nào nữa, à, tóc mai em sợi vắn sợi dài đang lấm tấm vài giọt mồ hôi, trong như những giọt sương mai đọng lại hai bên bờ thái dương. Có thể nhờ vậy mà thêm vào đó, đôi má em sao mà hồng và đôi môi em sao mà mọng đỏ… Phải chi không có má và chị em của em quanh mình lúc ấy, thì em biết anh sẽ làm gì em không? Có lẽ anh sẽ ôm em vào lòng, hôn lấy hôn để những môi, những mắt, những mi! Và rồi ngay sau đó anh sẽ tiếp tục ăn tươi nuốt sống em vì anh đã thấy đôi gò ngực em phập phồng dưới làn áo mỏng, ươn ướt mồ hôi…, ôi, sao mà tình không chịu được!
Rồi lần đầu tiên trốn nhà, hò hẹn đi chơi với… trai sao em run quá, hồi hộp quá. Nhứt là lúc anh cầm lấy tay em đi dạo bờ sông. Em cứ lẩn tránh đôi mắt quyến rũ, sáng như sao đêm vời vợi của anh, nhìn sang bên kia cồn Rồng, những chiếc thuyền con và đò ngang bé bỏng. Anh có để ý điều này không? Rồi anh lại choàng tay qua lưng em, khe khẽ ôm em như chuyền hơi ấm, làm em bắt rùng mình vân vê tà áo phất phơ bay. Nhưng lần lần em lại cảm thấy dạn dĩ hơn. Nói năng ý tứ hơn chớ không còn lắp bắp, vụng về, nhớ trước quên sau nữa… Anh đừng cười em nha! Ngẫm nghĩ lại, cái gì cũng vậy, nếu là lần đầu tiên bất chợt đến với mình thì vẫn thường hay đi vào đời mình bằng một nét thật đậm, anh nhỉ! Anh yêu, em nói thế để anh hiểu rằng, có thể em không phải là người con gái đầu tiên đến với anh, nhưng ngược lại, với anh em đã có mối tình đầu. Vì vậy, em mong rằng anh hãy cẩn thận, nâng niu… chớ đừng đang tâm vò nát nó nghen anh .
Loan ơi, những lời của em nói ra đây sao mà làm cho lòng anh xót xa chi lắm! Tuy em không hẳn là người tình đầu của anh, nhưng chính em là người trong mắt anh ngay từ thuở bé! Tình yêu chưa đến được chỉ là vì ngăn cách bởi tuổi tác, vóc dáng đó thôi. Hơn nữa, em là học trò của anh mà, em không nhớ sao? Thầy giáo mà đi yêu học trò mới lớn, ngực vun chum chúm vú cau thì coi sao được! À, ngẫm nghĩ lại, với anh, hình như cái gì cũng vậy, nếu hễ bạo phát thì cũng sẽ bạo tàn. Bởi vậy, em khỏi lo, vì bây giờ chắc là anh cũng đã có chút ít kinh nghiệm trên bước đường tình!
Mà này anh ơi, nếu không gì trở ngại thì khoảng hai tuần nữa em sẽ có mặt ở Sài Gòn, để lo thi vào lớp Cán sự Y tế, trong hai ngày… Em sẽ tá túc tại nhà của cô Hai em ở đường Cao Thắng, nhà số… Hi vọng rằng cuối tuần ấy, sau ngày thi, mình sẽ gặp lại nhau nếu anh được phép hoặc có thể… vì em một lần, chịu khó nhảy dù về thủ đô chơi. Em những mong được gần bên anh, phút nào hay phút nấy…
Thư vắn tình dài, chắc anh đã hiểu nỗi lòng của người con gái đang yêu và đã được yêu.
Em của anh,
Loan
Tần đã đọc đi đọc lại bức thư của Loan không biết bao nhiêu lần rồi mà lần nào lôi ra đọc lại cũng y như vậy, vẫn thấy lòng mình nôn nao, lâng lâng khó tả. Vì tình yêu đã đến với Loan thật trang trọng, trong trắng và ngây thơ. Phải chăng nó đẹp quá, thánh thiện quá tuy cũng không kém phần mong manh quá. Bởi thế, bằng mọi giá, Tần phải cố giữ cho nó đẹp, đẹp mãi, không phai! Loan ơi, sao anh nhớ em quá chừng chừng trong cảnh chim hồng lẻ bạn này!
Và thật hên cho hai đứa chúng mình vì cuối tuần em thi xong thì cũng là ngày anh chấm dứt chương trình thực tập. Anh được phép trở về Sài Gòn du hí vài hôm trước khi trình diện Hạm Ðội. Mà cho dầu nếu không có phép đi nữa thì anh cũng sẽ, không phải riêng gì… vì em một lần… mà còn cho chính anh nữa chi, bay về thành phố hoa đèn với người tình yêu dấu. Anh cần phải sống những phút giây đáng sống với em, trước khi quăng mình vào sương khói phong ba, thật sự sống đời một trời một biển của người lính tàu…
Vancouver đang dang tay đón mùa xuân với rừng hoa Anh Đào mặc áo trắng rực rỡ dọc theo đường lên đồi Queen Elizabeth Park. Đầu tháng 4 đang ấm mấy ngày, trời bỗng phủ những cơn mưa lạnh như những ngày vào Đông, những kẻ tha hương tuổi vừa qua sáu bó sầu đời nhớ về quê cũ ngậm ngùi nghe những đóm lửa hồng dĩ vãng còn âm ỉ nóng.
Sáng nay, Ngọc Hoài Phương gửi cho tờ Hồn Việt số tháng Tư 2007, đang buồn giở trang báo, bỗng thấy có chạy đăng nửa trang chúc mừng ngồ ngộ ở trang Hồn Việt số 89: Mừng bạn 65 tuổi.
Người có cái diễm phúc được chúc mừng tên Vũ Đình Ích. Anh Ích mà tôi chưa hân hạnh được quen được chúc là “đã tròn 65 tuổi và hãy tiếp tục chơi với đời thêm 65 năm nữa!” Chắc gần bằng tuổi con cháu ông Bành cổ! (Chả biết lão Bành Đức Hoài của Tầu có là cháu chít mấy trăm đời gì không?)
Tôi nghĩ Ngọc Hoài Phương và các bạn anh định lằn ranh già trẻ ở mốc 65 nên mới chơi cái trò ngộ nghĩnh này. Một lô bạn bè tôi, trong đó có nhà thơ Trần Thúc Vũ đã không may mắn vượt qua cái mốc này. Mới đó mà anh mất đã gần 2 năm…
Nhiều người khi qua tới xứ tự do, không bị công an và quản giáo VC kềm kẹp, cũng lăn ra chia tay đời trong khoảng 55 đến 65.
Cách đây vài năm, họa sĩ Chóe sau khi ra tù ở Sài Gòn sống nín thở một thời gian, mò được qua Virginia chữa bệnh dự định hết bệnh anh ở luôn không về lại thiên đường mù VC, anh cũng không trèo qua khỏi con số 65 này và ra đi vĩnh viễn nơi đất tự do. Tôi và Chóe một thời thủ trang 3 Sóng Thần, cả hai đều bị rắc rối với cục ANQĐ vì những loạt bài chống tham nhũng khi còn mặc áo nhà binh, VC vô chiếm xong Sài Gòn, hai thằng bị tống vô tù VC tiếp. Đúng là “sinh nghề tử nghiệp!?” Nhưng mà mình có sống bằng cái nghề cầm bút đâu hở Trời!
Những cựu sĩ quan tù “cải tạo” từ trong lò tù VC ra nước ngoài như mấy cái cây mục, nước tự do tưới sống được bao nhiêu hay bay nhiêu, cây nào yểu thì đi trước 65, cây nào nhờ hồng phúc ông bà cố tổ thì lết qua khỏi 65 để từ từ bò tới mốc cây số 75 hay xa hơn.
Thành ra, kể từ đây, anh nào chưa qua con số 65 thì vẫn được coi là trung niên, tức loại còn được coi là thanh niên già. Mà già trẻ gì cũng vẫn là thanh niên. Thanh niên lại là rường cột của nước nhà. Vậy ai chưa qua tuổi 65 mà ngồi nhà không chịu tham gia tranh đấu chống cộng, đấu tranh cho tự do dân chủ thì chúng ta cứ gọi họ là thành phần trốn quân dịch! Còn đã như vậy mà lại đi đi về về xứ CHXHCNVC xoèn xoẹt thì phải gọi là thành phần đào ngũ bỏ anh em mới đúng văn phạm.
Chà! Coi bộ thành phần đào ngũ này hơi nhiều đó bà con. Mùa xuân năm nay, VC xài luật rừng mạnh tay, coi chừng về Việt Nam lâm nạn chạy không kịp! Để khỏi mích lòng người đời hai bên lằn ranh 65, kẻ viết bài này không dám viết lời kết, mà chỉ xin chạy mấy dòng thơ nhân cái quảng cáo chúc mừng “Mừng bạn 65 tuổi” của Ngọc Hoài Phương và các bạn anh.
Luận về đồ xưa, sách cũ và nói thêm về lăng Phạm Đăng Hưng ở Gò Công.
Đồ cổ ngoạn
Xin hỏi đồ xưa là gì và sách cổ khác với sách cũ thế nào? Tôi trả lời lẹ, những việc ấy tôi đã có nói rồi trong bộ “Hiếu cổ đặc san”, nay sách ấy đã bán hết, nay không cần lặp lại và xin tóm tắt gọn:
Lấy một tỉ dụ nhỏ, khi tôi năm 1947 bỏ chạy từ Sốc Trăng lên Sài Gòn, kết bạn với Năm Sa Đéc, mướn một chòi lá mỗi tháng trả ba đồng, ở xóm Cù lao đường Võ Di Nguy cũ, trước chòi có một dây bầu, lúc ấy vận cũng vừa đỏ, Viện Bảo tàng trong Thảo cầm viên mời tôi vô làm thơ ký trả lương công nhựt, tôi thấy giàn bầu kết chà tre, tôi bèn lựa một nhánh trúc con, cắt làm cán bút, trở vô làm theo lối tạm bợ chạy gạo qua ngày, cán bút ấy là một nhánh tre quèn, nhưng đối với tôi nay là vật kỷ niệm, trở nên vật xưa.
Xin lấy một tỉ dụ khác, cũng lúc ấy, tôi lượm một miếng gỗ trắc đáng cho vào bếp chụm, tôi đưa cho một thợ dân làng Đình Bảng, tôi tuyển vào viện bảo tàng làm phu gác đêm và gặp tay khéo có hoa tay, miếng gỗ trở nên một cây dao rọc giấy và cây dao ấy tôi vẫn giữ, kể như hai vật nầy, nếu rớt rơi giữa đường, ít ai ngó ngàng đến, chẳng qua biết giá trị hay là không, cũng tùy người.
Cán bút tre và dao rọc giấy nầy, nay đổi bút Waterman hoặc dao rọc mạ vàng, tôi cũng không ưng. Trái lại đời Tây trở qua, Bollart và ông Bảo Đại kéo nhau ra một hải đảo, ký kết với nhau gì đó và đổi nhau hai cây bút máy mắc tiền, nhưng tôi dám chắc hai ông không giữ hai bút kia đâu, rất đổi ngai vàng còn bỏ, huống hồ vật ti tiểu, có tiền muốn mua lúc nào lại chẳng được.
Và nghĩ lại cũng buồn, trên kia một nước lân bang nọ, người ta biết củng cố ngôi, còn ông nầy lại bỏ ngôi, âu cũng vận mạng gì đó, chớ chi ông biết nhẫn nại và chịukhó một thời gian, thì ắt cũng được đất phong hầu, nói nữa không hay.
Mấy hàng trên đây, tôi cố viết để tả nỗi lòng, nhưng đọc giả khi đọc ắt là nhức mắt vì tôi nói quá mơ hồ, làm sao hiểu được nỗi lòng của tôi, ấy chẳng qua là tại tôi bất tài, viết không được hết ý, kỳ trung tôi muốn giải thích, “chơi đồ cổ” cũng như “chơi sách xưa sách cũ” đều là phải có chút năng khiếu và chút ít thiện chí, chớ không phải có nhiều tiền, rồi ỷ của, mua quấy mua quá, rồi tự hào “đã biết và thành thạo chơi đồ xưa!”.
Tôi xin lấy tỷ dụ của tôi mà nói: Năm 1928, khi tôi được từ Trường Máy Ecole des Mecaniciens Asiatiques ở Sài Gòn, được thuyên chuyển về làm việc bút toán nơi tòa hành chánh cũ tỉnh Sa Đéc, lúc ấy, tôi quả có lòng ham muốn và muốn học chơi đồ xưa, nhưng tôi nào biết ất giáp gì và mấy lần tôi có dịp đi ngang hai nhà buôn đồ xưa, nhà ông Tư Muôn và nhà ông Thợ Thiệu, tôi vẫn thấy chưng bày nhiều dĩa “ám long” cũng gọi dĩa long ám, có mây xanh xanh vẽ trên lòng dĩa màu trắng đẹp, hỏi giá, trả lời “mỗi dĩa 5$00″, nhưng nào tôi dám mua, xin nhớ 5$00 lúc ấy (lối 1928) giá trị tương đương hoặc nhiều hơn 50.000 đồng giấy ngày nay (1993); lại nữa, lúc ấy, tôi đang không đủ tiền chợ tiền cơm, tiền đâu có mà sắm sanh đồ chơi quí giá.
Trái lại ngày nay, những dĩa ám long long ám ấy đã không còn thấy nữa, hoặc đã xuất ngoại, hoặc đã cất giấu trong tủ “nhược thâm trân tàng” chăng?
Về sách báo cũ, sau ngày 30-4-1975 cũng đã biến mất, nay mấy nhà bán sách cũ, nếu còn giữ được thì bán giá “mắc như vàng” tôi nào dám rớ. Chung qui, mọi vật đều tương đối, thay đổi về giá tiền và về giá trị tùy thời. Người biết chơi, không nên tị hiềm và phải ở theo thời mới được. Vừa rồi, tôi nhơn đọc báo, thấy trên tờ Văn Nghệ số 110 (từ 7 đến 13 th. 10, 1993) có bài “Nỗi buồn Lăng Mộ” của Nguyễn Hoài Nhơn viết và tỏ ý than tiếc cho mộ Phạm Đăng Hưng, ngoại tổ vua Tự Đức bị phá hư và không ai lo tu bổ, nay tôi không có ý làm quảng cáo nhưng xin tán đồng ý của tác giả Hoài Nhơn và tôi thầm trách làng xã ở Gò Công có di tích cũ mà không biết giữ gìn, trái lại tỷ như ở hạt Sa Đéc vẫn có lăng mộ ông Nguyễn Thành Nhơn, ông Nhơn nầy là quan lớn đời vua Gia Long, vẫn không nghe bị phá phách gì và theo tôi chắng qua hai chữ may và rủi và có lẽ mộ lăng ông Nhơn được ở ném về địa phận một vùng yên tịnh, có làng xã biết giữ gìn di tích cũ xưa, và trái lại ở Gò Công, làng xã đã không biết bảo tồn lăng mộ P.Đ.H. và thêm nữa cháu con dòng họ Phạm cũng không biết bảo thủ lăng mộ của ông bà để lại và nhứt là từ ngày họ Nguyễn Phước đã có người bất tài (B.Đ.) kế vị, không được như trên kia, hoàng tử đất Angkor, B.Đ. đã bỏ nước ra đi, và nhà Ngô Đình lên ngồi ghế tổng thống chỉ lo củng cố địa vị họ mình và thêm nữa chính Ngô Đình Nhu, học bên phương Tây mà áp dụng trật lất lấy gương Khu Chiến lược của Mã Lai Á hay của Nam Dương quần đảo đem về đây thi hành lỏng lẻo, khiến nên đã đuổi dòng Phạm Đăng không cho ở nơi nhà cũ, bỏ trống nhà nầy phải theo lịnh Đình Nhu ra ở dưới quyền kiểm tra của ấp Chiến Lược tai hại kia và đến đây xin cho tôi nhắc lại chuyện xưa, năm đó, Tây còn ở đây, tôi đã làm tài khôn dẫn dắt đưa nhơn viên và hội viên hội Pháp Société des Etudes Indochinoises (hội cổ học Ấn Hoa) đến Gò Công viếng di tích “nhà cổ P.Đ.H.”, thì năm ấy, nhà cửa dòng họ của bà Từ Dũ Thái hậu, lúc ấy, đã tiêu điều, đồ từ khí trong nhà, như lư hương và đồ thờ phượng (chưn đèn, lư đồng) đã bán hoặc bị mất cắp từ trước, (buổi đó tôi không xem phần lăng mộ, nên nay xin miễn bàn đến) và trở lại nếu mộ cũ P.Đ.H. ngày nay bị phá bị làm cho hư tệ, tôi xin qui tội cho nhà Ngô Đình trước và sau đó xin mạn phép trách làng xã Gò Công, thật là quá lơ là và không lo gìn giữ bảo tồn di tích cũ xưa. Nay thì đã muộn, lăng mộ điêu tàn, dầu có xuất tiền muôn bạc triệu sửa chữa cũng không làm sao còn y như cũ. Ở Huế thì lăng mộ Kiên Thái Vương cũng điêu tàn, duy như tôi đã từng thấy nhiều nơi từ Thổ Nhĩ Kỳ nơi Istanbul, qua La Mã (Rome) Pháp đền đài vua chúa nơi nơi đều giữ lại kỹ càng và lấy đó làm phương làm chỗ khai thác du lịch, v.v .. , duy có nước mình, dân ương ngạnh quá nhiều, khiến lăng bà Thái hậu Từ Dũ thì bị đào và ăn cắp vàng nữ trang, mộ cấp nhà giàu như mộ bà Hà Minh Phải ở Tân Sơn Nhứt cũng bị đào và kẻ trộm đã lấy cắp đầu lâu của bà H.M.P. miệng có ngậm kim cương lớn hột mà tên trộm lúc đào tìm không thấy và những sự việc hư tệ phá hoại như vậy, chỉ tạm nên trách giáo dục còn non, dân tín còn thiếu và không tiền không bề thế thì trách làng trách xã cũng nên tội nghiệp cho làng cho xã và riêng tôi, tôi phải chịu tội nói oan …
Trở lại vấn đề chơi đồ cổ và chơi sách hiếm, theo tôi phải có bản lĩnh trước đã rồi sẽ nói về phương tiện và may rủi về sau. Chung qui tôi có phần dị đoan và xin độc giả bỏ qua cho … Và âu cũng là “vận, hạn”.
Tôi đã bắt quàng nói về lăng mộ cũ, nay nói qua đồ cổ và sách cũ, theo tôi, chánh phủ nên cứ cho chơi, cho dân chơi líp (libre) mà chúng khỏi làm chính trị! Lời nói ấy là lời một kẻ già nói tầm xàm bá láp, xét lại ngày xưa già nên nết nên trên cao chấp nhận lời của hội nghị Diên Hồng, còn nay già như tôi, tưởng nên câm miệng lại là hơn, tuy vậy, đã trót và lỡ lời, thì cũng nên nói luôn, còn chấp nhận cùng chăng là của người cao kiến khác.
Pascal Fosco từ khu mỏ bốc-xít xuống. Y là một trong những kẻ đã âm mưu dùng võ khí cướp bưu điện Marseille. Tòng phạm với y đã bị chém đầu. Pascal là người tốt nhất trong bọn chúng tôi. Tuy là thợ máy giỏi, anh chỉ kiếm được bốn đô-la một ngày, nhưng vẫn tìm cách nuôi một hay hai tù nhân gặp khó khăn. Khu mỏ đất nhôm này ở rất sâu trong rừng. Xung quanh mỏ, hình thành một làng của công nhân và kỹ sư. Trên bến, chất quặng được đổ suốt ngày xuống nhiều tàu để chở đi. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ tại sao ta không mở quán ở cái nơi khỉ ho cò gáy này nhỉ? Tối đến, những người sống ở đấy chắc buồn đến chết. – Đúng đấy. – Fosco nói với tôi, – quả là chẳng có quái gì để giải trí. Và vài hôm sau, một cái thuyền nhỏ, sau hai ngày ngược sông, đã đưa Indara, Quých-Quých, anh Cụt và tôi đến mỏ Mackenzie. Nơi các kỹ sư, quản đốc, và thợ chuyên môn ở thì gọn gàng sạch sẽ, có những căn nhà nhỏ đủ tiện nghi, nhà nào cũng chăng lưới thép để muỗi không vào được. Trong làng thì lại tồi tàn quá. Không có nhà nào bằng gạch, đá hay xi-măng, chỉ có những túp lều vách đất và tre, mái bằng lá cọ rừng, hoặc lợp tôn kẽm là cùng. Bốn quán nước có bán cả thức ăn, đều dơ bẩn khủng khiếp mà vẫn đông nghịt khách. Các thủy thủ đánh lộn với nhau để mua một ly bia không ướp lạnh. Không quán nào có tủ lạnh. Pascal nói có lý, có rất nhiều việc làm được ở chốn hẻo lánh này. Nói cho cùng thì tôi đang ở trên đường vượt ngục; đây vẫn là một chuyến phiêu lưu, nên tôi không thể sống bình thường như các bạn khác được. Làm việc là để kiếm sao vừa đủ sống, chứ tôi chẳng mấy để tâm. Vì ở đây hễ trời mưa là đường xá lầy lội, nên tôi chọn một địa điểm tương đối cao ở phía sau khu trung tâm. Tôi tin là dù trời mưa nơi tôi ở cũng không bị nước vào trong nhà hay xung quanh nhà. Trong mười ngày, được thợ mộc da đen ở mỏ giúp, tôi đã dựng lên một phòng hình chữ nhật dài hai mươi mét, rộng tám mét. Ba mươi bàn mỗi bàn có bốn ghế có thể chứa được một trăm hai mươi người ngồi thoải mái. Một cái bục cao để các nghệ sĩ lấy chỗ biểu diễn, một quầy rượu, rộng đúng bề ngang quán và có hơn một chục ghế cao. Bên cạnh quán rượu là một căn nhà khác có tám phòng, vừa đủ cho mười sáu người ở rộng sãi. Khi tôi về Georgetown để mua các dụng cụ, ghế, bàn v.v….. tôi mướn luôn bốn cô gái da đen đẹp người để phục vụ khách hàng. Daya đã làm ở tiệm ăn, cũng quyết định theo chúng tôi. Một người phu sẽ gõ trên cây đàn piano mà tôi mới thuê được. Chỉ còn lo việc tiết mục trình diễn. Sau nhiều khó khăn vất vả và ba hoa hươu vượn, tôi cũng thuyết phục được hai cô gái Nam Dương, một cô Bồ Đào Nha, một cô Tàu và hai cô tóc nâu bỏ nghề làm điếm để trở thành nghệ sĩ thoát y. Một tấm rèm đỏ cũ mèm mua lại ở một tiệm lạc-son được dùng làm màu sân khấu. Tôi tổ chức đưa tất cả những người này lên khu mỏ bằng một chuyến đi đặc biệt trên một chiếc thuyền của ngư dân Tàu. Một tiệm rượu nhận bán chịu cho tôi đủ các thứ đồ uống có thể có được. Tiệm đó tin tôi, tôi sẽ trả tiền hàng tháng những gì tôi đã bán được, sau khi kiểm hàng. Và tiệm đó sẽ gửi dần cho tôi những thứ rượu tôi cần. Một cái máy hát cổ lỗ sĩ và những đĩa hát đã mòn sẽ phát nhạc khi anh nhạc sĩ đàn pianô của tôi ngưng hành hạ cây đàn. Đủ loại áo ngoài, váy lót bít tất đen và màu, nịt treo tất, còn rất tốt, tôi chọn mua vì màu sắc sặc sỡ của chúng tại nhà một người ấn đã gom từ đóng đồ bỏ đi của một gánh hát rong, sẽ là “trang phục” của các “nghệ sĩ” tương lai của tôi. Quých đã mua gỗ cây và giường. Indara thì mua ly tách và những gì cần cho một tiệm rượu, tôi lo rượu và vấn đề nghệ thuật. Gói gắm xong những việc đó trong một tuần, phải cố gắng cật lực. Cuối cùng rồi cũng xong, dụng cụ và người chiếm cả một thuyền.
Hai hôm sau, chúng tôi đến nơi. Sự có mặt của mười cô gái ở giữa rừng thẳm này là một cuộc cách mạng thật sự. Mỗi người xách theo một gói đồ đã leo lên “Quán tre”, tên tôi đặt cho hộp đêm của tôi. Những cuộc tập dượt bắt đầu. Dạy các “nghệ sĩ” của tôi cởi áo quần không phải là dễ. Trước hết tôi nói tiếng Anh và những lời chỉ dẫn của tôi không được hiểu kỹ, sau nữa là vì các cô chỉ quen thay quần áo thật mau cho xong rồi tống khách đi cho nhanh. Còn bây giờ thì trái hẳn, các cô càng làm từ từ bao nhiêu, lại càng hấp dẫn bấy nhiêu. Đối với mỗi cô, lại phải có một chiến thuật khác. Cách làm cũng phải phù hợp với quần áo. Cô nàng “Hầu tước phu nhân” mặc coóc-xê hồng và váy phồng, trong là quần rộng viền đăng-ten trắng, thoát y chầm chậm, sau tấm bình phong có cái gương to phản chiếu để khán giả có thể ngắm lần lượt từng mảng da của nàng.
Rồi cô “Mau lên” một cô gái có cái bụng phẳng nhẵn, tóc nâu, da màu cà-phê nhạt, một bản mẫu tuyệt đẹp của một cuộc lai máu, chắc hẳn là giữa một gã da trắng với một cô da đen màu sáng. Nước da cô này như hạt cà-phê mới bắt đầu rang hơi vàng chút xíu càng làm nổi bật thân hình cân đối của cô. Mớ tóc dài xoăn tự nhiên rủ xuống đôi vai tròn trĩnh tuyệt vời của cô bộ ngực cao đầy đặn, tuy hơi nặng mà vẫn không kém phần hống hách, chĩa ra hai đầu vú màu chỉ hơi xẫm hơn màu da một chút, giương cao lên ngạo nghễ, đẹp vô cùng. Đấy là cô “Mau lên”. Tất cả quần áo của cô này đều mở bằng khóa kéo “féc-mơ-tuy”. Cô mặc quần cao bồi để trình diễn, đầu đội một cái mũ rộng vành và một cái áo ngắn, tay áo có tua bằng da. Theo tiếng nhạc quân hành, cô xuất hiện trên sân khấu và tháo giày bằng cách đá tung từng chiếc lên. Quần dài cô mặc xẻ hai bên. áo chẽn được mở ra thành hai mảnh bằng khóa kéo ở mỗi bên tay. Với khán giả, cách làm này tác động thật dữ dội vì bộ ngực trần bật lên, như cái lò xo bị nén quá lâu. Đùi và thân trần trụi, cô dang hai chân, tay chống nạnh, vẻ thách thức, cô nhìn thẳng vào đám khán giả, rồi lột mũ, ném lên một chiếc bàn gần sân khấu nhất. Hôm khai trương, Quán Tre đông tưởng muốn vỡ. Ban tham mưu của mỏ đến đủ mặt. Đêm vui kết thúc bằng khiêu vũ và khi các khách cuối cùng ra về thì trời đã sáng. Thắng lợi hoàn toàn, không thể nào ước mong được hơn thế. Cũng phải chi phí tốn kém nhưng giá cao nên bù lại được, và quán ở giữa rừng, cho nên tôi hoàn toàn tin chắc là có nhiều đêm không có đủ chỗ cho khách. Bốn cô gái chạy bàn của tôi phục vụ không xuể. Các cô này mặc váy rất ngắn, cổ áo khoét sâu, đầu buộc khăn ma-đra đỏ, cũng làm khách mê mẩn. Indara và Daya mỗi người giám sát một phía, khách trong quán gọi gì, thì đã có anh cụt tay và Quých ở quầy rượu cho đưa tới ngay. Còn tôi phải có mặt ở khắp nơi, chỗ nào trục trặc thì chỉnh đốn ngay, chỗ nào có gì lúng túng thì chỉ dẫn kịp thời. – Ăn chắc rồi – Quých nói khi chỉ còn lại các cô gái phục vụ, các nữ nghệ sĩ và chủ quán trong gian phòng rộng. Chủ và người làm ai cũng mệt lả nhưng vui mừng vì thấy kết quả. Tất cả mọi người sửa soạn đi ngủ. – Papillon, dậy đi chứ? – Mấy giờ rồi? – Sáu giờ chiều rồi. – Quých nói với tôi. – Cô công chúa của anh đã giúp chúng ta đấy. Nàng dậy từ hai giờ dọn dẹp xong xuôi sẵn sàng để đêm nay lại bắt đầu nữa. Indara mang một bình nước nóng đến. Sau khi tắm rửa, cạo râu tươi tỉnh và khoan khoái, tôi ôm ngang lưng Indara rồi cùng bước vào Quán Tre, mọi người xúm lại hỏi han rối rít. – Ông chủ ơi, tình hình khá chứ? – Em thoát y có được không? Theo ông chủ thì chỗ nào không được nào? – Em hát gần đúng, phải không ông? Cũng may là khán giả dễ tính cả. Cái nhóm mới thành lập này rất dễ mến. Lũ điếm biến thành nghệ sĩ này rất coi trọng công việc của mình và tỏ ra sung sướng từ bỏ được nghề cũ. Việc buôn bán không thể nào khấm khá hơn thế này được. Chỉ có điều khó khăn duy nhất là quá nhiều khách đàn ông lẻ loi mà quá ít đàn bà.
Tất cả các khách hàng đều muốn được ngồi kèm một cô gái, nhất là một nghệ sĩ nếu không được cả đêm thì cũng phải lâu hơn bây giờ. Thế là họ ganh ty nhau. Thỉnh thoảng, lỡ ra có hai phụ nữ ngồi cùng một bàn, là khách hàng phản đối ngay. Các cô gái da đen cũng được quý chuộng, trước hết các cô cũng đẹp, nhưng chủ yếu là vì ở trong rừng này không có đàn bà. Tuy bận ở quầy, thỉnh thoảng Daya cũng chạy ra bàn và trò chuyện với tất cả mọi người. Khoảng hơn hai mươi khách được thường thức sự hiện diện của cô gái ấn này vì sắc đẹp của cô quả là hiếm có. Để tránh sự ganh tỵ và đáp ứng yêu cầu của khách đòi phải có một nghệ sĩ ngồi tại bàn mình, tôi bày đặt trò sổ số. Sau mỗi tiết mục thoát y hay ca hát, một bánh xe to có ghi số từ 1 đến 32, – mỗi bàn một số, riêng quầy rượu là hai số – sẽ quyết định cô gái vừa biểu diễn sẽ phải đến bàn nào. Muốn chơi xổ số, phải mua một vé, giá tương đương với tiền một chai whisky hay sâm banh. Tôi cho là làm như vậy có hai điều lợi. Thứ nhất là tránh được những sự khiếu nại. Ai trúng số sẽ được nghệ sĩ ngồi cả giờ tại bàn mình mà chỉ phải trả tiền một chai rượu, được phục vụ theo cách sau đây: trong khi nữ nghệ sĩ chỉ còn cái quạt lông che thân thì tôi cho bánh xe quay. Nó chỉ vào số nào thì cô gái đứng lên một cái mâm gỗ sơn bạc và bốn chàng trai khỏe mạnh nhấc bổng mâm lên, đưa tới cái bàn may mắn trúng số. Cô nàng mở chai sâm banh và, vẫn cứ trần truồng như vậy chạm cốc một lượt rồi xin lỗi và đi vào để năm phút sau trở lại ngồi vào chỗ, lần này ăn mặc đàng hoàng. Trong sáu tháng công việc chạy đều, nhưng mùa mưa đã qua, một loạt khách mới đến. Đó là những người đi tìm vàng và kim cương được tự do đi thăm dò trong rừng ở cái đất phù sa màu mỡ này. Đi tìm vàng và đá quý bằng những phương tiện cổ hủ cực nhọc vô cùng. Họ thường chém giết hay lấy cắp của nhau. Cho nên tất cả có vũ khí và khi đã có một túi vàng nhỏ hay một nắm kim cương là họ không cưỡng được sự cám dỗ, lao vào ăn tiêu như điên. Bán được một chai sâm-banh, mỗi cô gái cũng được hưởng một tỷ lệ khá lớn. Từ đó, vừa hôn khách, vừa đổ sâm banh hay whisky vào xô đựng đá cho chai mau hết, làm chỉ trong nháy mắt. Có vài người tuy đã uống rồi, nhưng vẫn thấy được cái mánh này và phản ứng dữ dội đến nỗi tôi phải cho gắn chặt bàn và ghế xuống sàn nhà. Với loại khách mới này, điều phải xảy ra đã xảy ra. Cô gái ấy được người ta gọi là “Hoa Quế” Da cô cũng giống màu cây quế thật. Cô gái mới tới này, được tôi vớt từ khu nghèo khổ của thành phố George, có lối thoát y làm cho khách phát cuồng lên. Khi đến lượt cô ta biểu diễn, phải đem một cái ghế tràng kỷ lên sân khấu, cô ta không chỉ cởi quần áo và những kỷ xảo đặc biệt tinh vi, mà sau khi đã trần như nhộng, lại còn nằm dài ra ghế và tự vuốt ve mơn trớn mình. Những ngón tay thon dài của cô lướt trên da thịt trần tụi của mình, mân mê thân thể mình từ tóc đến ngón chân. Không một chỗ nào trên thân thể mà cô lại không mó máy đến. Khỏi phải nói rõ cách phản ứng của những con người thô lỗ của miền rừng rú này, nhất là khi họ đã sặc sụa hơi men. Tính vốn vụ lợi. Hoa Quế bắt khách mua vé xổ số cho tiết mục của cô ta với giá hai chai sâm banh chứ không phải một như những cô khác. Sau khi mua vé nhiều lần hòng dành được Hoa Quế mà không được lần nào, một gã thợ mỏ vạm vỡ, có bộ râu đen rất rậm, khi cô gái Ấn của tôi đi mời mọi người mua vé số cho lần thoát y cuối cùng của Hoa Quế, chỉ còn cách mua cả ba mươi vé xổ số (tức chỉ trừ hai vé của quầy rượu). Sau khi trả tiền sáu mươi chai rượu sâm~banh, tin chắc là mình sẽ trúng, chàng rậm râu tin tưởng chờ Hoa Quế thoát y rồi đợi quay số. Hoa Quế cũng bị kích thích rất mạnh vì từ tối đã uống quá nhiều. Khi cô ta biểu diễn lần cuối thì đã bốn giờ sáng. Ngấm rượu, cô lại càng tỏ ra dâm đãng và có những cử chỉ trắng trợn hơn bao giờ hết. Vù vù? Bàn cò quay đã bắt đầu chạy và con cò bằng sừng sẽ chỉ số trúng. Chàng rậm râu, sau khi xem cô bé Hoa Quế biểu diễn, đã bị kích thích đến tột độ. Anh chàng ngồi đợi, tin chắc là người ta sắp đưa cô ta trần truồng, trên cái khay bạc, đến cho y, chỉ che có cái quạt lông che thân, hai chai sâm banh được kẹp giữa hai cái đùi tuyệt đẹp. Nhưng tai hại thay, anh chàng mua ba mươi vé lại thua. Số 31 trúng, nghĩa là quầy rượu được. Thoạt tiên y chưa hiểu ra, mãi đến khi cô nghệ sĩ được nhấc lên đặt ở quầy rượu y mới vỡ lẽ. Thế là cái gã ngốc ấy phát điên lên, xô bàn nhảy ba bước tới quầy rượu. Y rút súng lục bắn ba phát vào cô gái, tất cả sự việc này diễn ra trong khoảng chưa đầy ba giây. Hoa Quế đã chết trong tay tôi. Tôi đến đỡ cô ta lên sau khi đánh gục thằng thú vật ấy bằng một cây dùi cui của quân đội Mỹ mà lúc nào tôi cũng mang trong người. Do tôi bị vấp phải một cô chạy bàn đang cầm khay nên tôi can thiệp chậm, làm thằng súc sinh có đủ thì giờ gây ra chuyện rồ dại này. Kết quả là cảnh sát bắt Quán Tre phải dẹp tiệm và chúng tôi phải trở về Georgetown. Chúng tôi ai trở về nhà người ấy. Indara cô gái Ấn chính cống định mệnh chủ nghĩa, chẳng thay đổi tính nết chút nào. Với cô, sự sụp đổ này chẳng có gì quan trọng. Tìm việc khác mà làm, có vậy thôi. Các chú Tàu cũng thế. Chẳng có gì thay đổi trong nhóm, chúng tôi vẫn ăn ý với nhau. Chẳng ai trách một lời về cái sáng kiến kỳ cục của tôi lấy gái ra để mở số, cái sáng kiến đã là nguyên nhân của sự tai tiếng. Chúng tôi gom góp tiền nong dành dụm được, để trả tất cả các món nợ và đưa đỡ một món tiền cho bà mẹ Hoa Quế. Chúng tôi chẳng băn khoăn lo lắng gì. Tối nào chúng tôi cũng đến quán rượu, nơi các cựu tù nhân vẫn tụ tập. Các buổi tối vẫn vui, nhưng thành phố George trong hoàn cảnh chiến tranh bị hạn chế nhiều đã làm tôi mệt mỏi. Thêm vào đó nàng công chúa của tôi không bao giờ ghen nên tôi lúc nào cũng được tự do. Bây giờ cô nàng đeo tôi từng bước và ngồi hàng giờ cạnh tôi bất cứ tôi ở đâu. Những khả năng buôn bán ở thành phố George trở thành phức tạp. Và có một ngày, tôi bỗng nảy ra ý muốn rời đất Guyane thuộc Anh này sang một nước khác. Chẳng có gì phải sợ, lúc này đang có chiến tranh, không nước nào trả chúng tôi về chỗ cũ, ít ra đấy cũng là điều tôi ước đoán.
Những ngày hè ở Nha Trang thật là nóng, không thua gì Sài Gòn, Cà Mau. Ðất trời như đang nung nấu bởi hai lò lửa thiên nhiên, một nằm sâu bên dưới các tầng lớp nham thạch và một trải rộng bên trên không gian mờ mịt, đến độ sỏi cát cũng sắp sửa bốc khói, thành hơi. Chim chóc không dám đáp xuống tìm mồi, chỉ lo kiếm chỗ lẩn khuất trên cành. Những cây bàng, những ngọn dương khô héo. Nhựa đường từ từ chảy ra, mềm nhũn, lấp lánh ánh sao trưa. Gió từ biển khơi mang đầy hơi ẩm liên tục thổi vào bờ, đã không làm giảm sút nhiệt độ trong người mà lại càng tăng thêm sự bứt rứt khó chịu. Rít chịt, nhớp nhúa vì lớp mồ hôi đầy muối tươm ra như mật dưới làn áo trận dầy cui, hâm hấp nực nồng.
Ðã vậy còn thêm cái nóng của mùa thi cử nữa chớ! Nào là Hàng hải cận duyên, viễn duyên, Hàng hải thiên văn, Lý thuyết thuyền bè, Hải hành tập đội, Vận chuyển chiến thuật, Tiếp tế và cứu vớt ngoài khơi, Hải pháo, Ngư lôi, Thủy lựu đạn, Truyền tin, Cờ đèn, Radar, Sonar…, môn nào cũng phải ôn tập, chuẩn bị! Ðể thi cuối khóa! Học hành bao nhiêu năm đậu rớt chỉ một vài giờ là vậy! Ngoại trừ môn lái chiếc tàu há mồm con con dùng để đổ bộ, cặp cầu ở Cầu Ðá là thoải mái nhứt. Như một buổi đi câu bằng thuyền máy vậy thôi, Tần nghĩ.
Cũng may là dạo ấy Tần chẳng còn một mảy may gì liên hệ, dính líu, dây dưa với… người ở ngoài kia phố. Nên chàng có đủ thì giờ thanh thản và tâm trí an bình để dò lại bài. Chuyện học thi mà bị người tình chi phối thì cũng dễ rớt lắm chớ chẳng phải chơi. Kể từ buổi đi thực tập giông bão trở về, nhận được tấm giấy ghi vội của Hiền để lại ở cổng trường đến nay, Tần đã thề với lòng là không bao giờ trở ra phố Nha Trang lần nữa. Một cách dứt khoát, quyết liệt! Và chàng đã làm!
Em đến thăm anh ngay trong ngày đám hỏi của em, mà xui xẻo cho em quá, anh không có mặt ở trường để cho em tỏ rõ nỗi niềm tâm sự. Và còn để, biết đâu, con đường tình em đi lại không rẽ sang một hướng khác? Giờ, tất cả đã quá trễ và không thể nào thay đổi được nữa rồi, số phần hai đứa mình coi như trời đất đã an bày, định sẵn. Có lẽ hai đứa mình chỉ có duyên mà không có nợ, anh ơi! Thôi thì từ nay, anh đường anh, em đường em, anh nhé! Chúc anh may mắn ở đoạn cuối đường! Vĩnh biệt tình anh! Vĩnh biệt anh!
Em của anh,
Lê thị Hiền
Thử hỏi, khi nhận được những dòng chữ như vậy, Tần có một chọn lựa nào khác hơn ngoài việc tự giam mình trong bốn bức tường vòng đai? Chàng đã suy nghĩ rất nhiều, đêm qua đêm, mà không tìm ra một phương cách giải quyết nào tạm gọi là ổn thỏa hết! Xách súng ra chợ Xóm Mới phá làng, ngăn cản việc hôn nhân của Hiền chăng? Nếu chàng thật sự muốn ngồi tù! Giết nàng rồi chĩa súng vô đầu? Ích lợi gì với hai cái xác không hồn chớ! Duy chỉ còn cách là lựa lời quyến dụ, lôi Hiền ra khỏi gia đình và khăn gói bỏ trốn theo mình? Nhưng, liệu phải trốn đi đâu? Trong khi chàng vẫn còn phải bó gối chồn chân, dậm cẳng tại chỗ ở chốn quân trường này! Ðể rồi cuối cùng, ngay cả việc ra nhà chị Diệu, với mục đích gặp lại Hiền một lần cuối, cũng đã làm Tần không khỏi phân vân.
Thôi thì hãy gắng tìm quên trong sách vở. Thời gian bao giờ cũng là liều thuốc thần tiên mầu nhiệm, biến những gì đậm nét trở thành mờ phai, biến những gắn bó thành phôi pha. Chàng tự an ủi với mình như vậy. Tuy nhiên, cái đau khổ và khó khăn cho chàng là ngày qua ngày, Thành, Thắng và bạn bè chàng cùng những người tình và bạn gái của chúng vẫn tiếp tục nhởn nhơ, vui chơi khắp phố chợ. Bọn nó kể lại cho chàng nghe những chuyến đi cuối tuần ngày một gần đến… giờ chia tay, anh ra chốn biên cương, tôi nơi sa trường! Chúng nhắc nhở đến Hiền, người chàng yêu mến gần hai năm trời qua mà trong phút chốc bỗng trở thành vắng xa, mây khói. Chàng mới hiểu, cái tìm quên dễ thường lại càng hay đưa đến cái nhớ nhung, ray rứt khó lay. Thời gian hình như dài ra, không gian hầu như trống trải. Tuy vậy, lòng dặn lòng, chàng cần phải cố gắng và can đảm hơn nữa để lướt qua cơn bão tình biển mặn này thì họa may, trong tương lai, chàng mới có thể làm được việc gì lớn lao hơn cho chính bản thân mình. Anh hùng nào mà lại không có những phút giây hệ lụy mỹ nhân, nhưng cái chiến thắng cuối cùng vẫn là làm sao vượt được ra khỏi vòng vây đó. Và chàng nhứt quyết không thể để cơn giông tố tình yêu kia cuốn trôi đi cuộc đời mình! Bất chợt, chàng thầm nở một nụ cười!
Những ngày thi rồi cũng qua, những môn thi rồi lại vắng… Hầu hết các khóa sinh đều đậu, duy chỉ một số nhỏ thiếu may mắn, năm tên, tức khoảng ba bốn phần trăm, rớt. Mà phải nói, nếu không có đậu, rớt thì không phải là cuộc thi, hẳn ai cũng nghĩ vậy. Nhưng, trong đời binh nghiệp nói chung, sinh viên sĩ quan Hải quân nói riêng, những đứa rớt vì kỷ luật là những đứa khổ đau nhứt. Trong số đó có Ðức, chàng thanh niên Khánh Hòa mà cũng là bạn thiết của bộ tam-xên miền Nam: Thành, Tần và Thắng. Chỉ vì hắn có vợ, có gia đình ngoài Nha Trang. Chỉ vì hắn thường xuyên nhảy rào. Chỉ vì hắn nhiều tù tội. Ô hay, ngẫm nghĩ lại, Tần không khỏi giựt mình cho thân phận của chính bản thân, vì cũng lắm ngày tù tội vậy! Có phải chăng chàng đã dừng chân đúng lúc? Có phải chăng chàng đã vượt thoát được vòng vây tình ái oan nghiệt đó đúng thời? Hay, có phải chăng Hiền đã có ý tự nguyện, giúp ích chàng trong bước đường tiến thân, vào đời?
Những đứa rớt đã tự động rời trường với những công điện bổ nhiệm đặc biệt, khẩn cấp trong tay. Chỉ còn lại đám đỗ đạt, đang chờ đợi làm lễ ra trường. Hằng ngày phải tập dợt diễn hành, tập dợt tung hô. Và chiều chiều, ban văn nghệ văn gừng cũng không quên tập dợt ca nhạc cho đêm dạ vũ… ra khơi, lướt sóng. Chỉ là những nghi lễ, phong tục của trường mà Tần vẫn thản nhiên, trầm lặng theo dõi. Vì chàng vẫn còn giữ mãi lời thề không trở lại Nha Trang! Vì ở đó, một Nha Trang thiếu vắng bóng Hiền thì không thể là một Nha Trang mến yêu đối với Tần được!
Khác với các khóa đàn anh đi trước, ngay sau khi ra trường các khóa sinh tốt nghiệp đều được gởi đi khắp bốn vùng chiến thuật, ở các đơn vị bờ lẫn biển, đằng này con cái Ðệ nhị Hải sư chỉ được phân phối cho độc nhứt mỗi một đơn vị mà thôi: Hạm Ðội. Tất cả các tân Thiếu úy, cơ khí cũng như chỉ huy, đều phải xuống tàu, đi tàu, phải nếm mùi… ôi, biển cả giờ đây ta mới biết với người ta! Một truyền thống, tập tục mới đã được đẻ ra, dựng lên cho trường Hải quân và cho các khóa đàn em đi sau!
Rồi cũng vì chịu khó nằm nhà, giam mình trong trại mà Tần đã có mặt trong một số không lớn lắm, khoảng một phần ba khóa thôi, khi có còi tập hợp đi lên giảng đường để… chọn tàu. Trên tấm bảng đen rộng lớn, cả trăm chiếc tàu lớn nhỏ được vẽ lên, trông như hàng hàng lớp lớp những chiếc lá cắt ngang, bao bọc bên trong một số tàu dẫn đầu bằng hai chữ HQ. Bên cạnh những chiếc lá đó, còn có thêm hai con số đi kèm, số sĩ quan tiếp nhận cho hai ngành chỉ huy và cơ khí. Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có ba nhóm tàu: tàu tuần, tàu chuyển vận và tàu linh tinh như trục lôi, rà mìn, chở dầu.
Xong xuôi đâu đó, vị sĩ quan phụ trách bắt đầu kêu tên từng người theo thứ hạng từ cao xuống thấp. Thủ khoa, vắng mặt! Từ hạng nhì đến hạng bảy, tức Trương Viết Thành, tất cả đều đang bận đi bờ! Thứ tám, có mặt, chọn LST (Landing Ship Tank), Dương vận hạm Thị Nại, HQ-502, tàu đổ quân, vận tải. Một gạch nhỏ được ghi lên bảng trong tiếng chộ, u…, vang dậy. Nên biết rằng, dân đậu cao thì phải chọn tàu tuần dương mới đúng với mộng hải hồ! Ðến thứ mười hai mới có “anh hùng… rơm” chọn PCE (Patrol Craft Escort), Tuần dương hạm Ngọc Hồi, HQ 12. Chúng bạn liền cùng nhau vỗ tay hoan hô anh chàng… khùng, muốn thi gan cùng sóng gió! Lại thấy lác đác những bộ đồ trắng mới đi bờ về nhảy vô nhập cuộc. Nếu tên mình chưa kêu thì còn hên, bằng không phải ráng chờ cho đến lúc kêu tên anh bạn cầm đèn đỏ. Rồi mới bắt đầu tắt đèn làm lại. Nhưng, lụi hụi không mấy chốc đã đến người thứ hai mươi sáu, Nguyễn Phước Thắng. Vắng mặt, vì bận đi coi xi-nê ngoài phố, Tần đoan chắc như vậy! Kể như thằng bạn thân của mình đã đánh mất cái cơ hội được ưu tiên chọn tàu rồi, Tần nhủ thầm!
Giảng đường đã lên đèn và bên ngoài trời tối hẳn. Gió đêm xào xạc cành cây dọc theo hàng cửa sổ lớn hai bên hông. Không khí đã có phần nào mát dịu lại. Tần ngó mông ra vệ đường lấp lánh bóng người đi, áo trắng lẫn lộn áo treillis. Bọn này coi bộ vô tư, đang hồn nhiên nói cười đùa giỡn, có lẽ vì chưa hay, chưa biết… cái mục chọn tàu. Mà như vậy biết đâu lại hóa hay, Tần nghĩ. Mình cứ vớt vát của thừa của bỏ của bạn bè và lỡ sau này nếu có lọt vào một chiếc tàu cũ mục, sắp sửa phế thải đi nữa thì cũng có lý do để bào chữa, đổ thừa cho số mệnh. Còn bây giờ mình ngang nhiên chọn lựa những chiếc mình có quyền chọn lựa, nhưng rồi biết đâu được lúc bước chân xuống tàu, lắm khi lại vỡ lẽ ra là đã chọn lầm những chiếc không đúng như ý mình mong muốn, suy tưởng. Ðã vậy còn hồi hộp, đau tim nữa. Vì ai cũng biết mình đậu, nhưng không ai biết mình đậu hàng thứ mấy hết, mới chết. Lắm lúc phải chờ hoài mỏi cả cổ, như Tần đây.
Tuy nhiên, giờ phút mong đợi rồi cũng đến với Tần. Nguyễn Hương Tần, thứ sáu mươi bảy! Chà, đã tròm trèm gần nửa khóa! Giờ, phải chọn tàu nào đây chớ? Tàu tuần dương, tuần duyên thì bảo đảm là không có mặt Tần rồi! Chàng những muốn tìm một chốn dung thân trên LST, nhưng mới đó mà đã hết chỗ, lẹ thiệt. Thì ra những tên đồng bệnh với Tần cũng nhiều lắm. Thôi thì hàng thứ đến phải chọn là LSM (Landing Ship Medium), Tần nghĩ vậy. Dầu gì đi nữa thì đây cũng là tàu há mồm, nếu không ủi bãi dài dài thì cũng thường xuyên cặp cầu bốc hàng nhận hàng, chớ không neo ngoài vịnh như tàu chiến, lắc lư con tàu… đậu như cái trứng vịt thả lội trong thau nước lớn.
Nói chung trong công tác lựa tàu, với Tần, đầu tiên là tàu chục (10, tuần dương), tàu hai và ba trăm (200, 300, tuần giang), tàu sáu và bảy trăm (600, 700, tuần duyên) thì chê, nhưng hết tàu năm trăm (500, chuyển vận hạng nặng) rồi thì chọn tàu bốn trăm (400, chuyển vận hạng trung)! Kế tiếp là nhắm vào qui luật chung về mới cũ của Hải quân, trong những chiếc hàng chục, hàng trăm đó cứ chọn chiếc nào có số lớn nhứt là chắc ăn. Vì đó là chiếc mới lãnh về, mới bàn giao, mới gia nhập hạm đội. Và đương nhiên phải… mới hơn những chiếc cùng loại là cái cẳng. Cho dù, lắm khi chỉ là mới sơn đi nữa. Với những lý luận sơ đẳng đó, Tần chọn Hải vận hạm Hậu Giang, HQ-406. Xong, kể như chim trời cá nước, giờ chỉ mong trong thì nhờ mà nếu đục thì ráng chịu vậy thôi. Dân hải quân, thân trai mười hai bến nước mà lị.
Vừa ngay lúc đó, Thành đi bờ về, mon men tìm đến Tần:
– Ê, có nghe kêu tên tao chưa mậy? Ủa, sao mà mầy không chọn tàu tuần, đi chận bắt tàu xâm nhập chuyên chở vũ khí của Cộng sản Bắc việt, lại chọn HQ-406, coi bộ yếu quá vậy?
Tần ung dung trả lời từng câu hỏi cho Thành:
– Tên mầy đã kêu qua rồi, cùng với mấy thằng đỗ đầu! Còn sở dĩ tao chọn HQ-406 là tại vì tao muốn đi du lịch. Mầy coi nè, Huế, Ðà Nẵng, Qui Nhơn, Phan Thiết, Phan Rang, Phan Rí, Cà Mau, Côn Sơn, Phú Quốc… đất nước mình có rất nhiều chỗ mình cần phải đặt chân tới, mầy đồng ý không? Cho biết với người ta, mậy! Ði tàu tuần ngoài biển mầy thấy được gì, ăn cái giải gì? Trời, mây, gió, nước… nhìn hoài chán thấy mẹ! Mầy mà muốn đi tàu tuần thì khỏi cần phải đứng đợi ở đây, cứ về phòng tắm rửa một mách cho mát mẻ rồi trở lại cũng còn dư chỗ cho mầy chọn!
– Hừm, tao tưởng đâu máu hải hồ của mầy cũng còn đầy trong huyết quản chớ!
Cũng trong bộ tiểu lễ trắng phau như Thành, từ phía sau lưng Tần, Thắng nhào tới câu vai hai bạn, chêm vào:
– Thôi Thành ơi, từ ngày con Hiền cho nó de, tao thấy hình như tinh thần lẫn thân xác của nó bệ rạc, xuống dốc thấy rõ! Mầy đừng có chê nó nữa! À, tao mới nghe thằng Bích nói tên tao cũng đã kêu rồi, phải đúng như vậy không mậy Tần?
Úi chà, tinh thần và thân xác của Tần đã sa sút, xuống dốc dữ như vậy sao? Ðến nỗi thằng bạn mình cũng đã nhận ra! Có lẽ Thắng nói đúng, Tần khỏi cần phải đính chính làm chi. Nhưng, mất cái này thì phải được cái kia, đâu có ai chịu thua lỗ hết mọi bề. Ðèn nhà ai người nấy sáng, Tần trả lời giả lả với Thắng:
– Ừa, tên mầy cũng đã kêu rồi! Hai thằng bây đều thuộc vào hàng đậu cao! Trong tương lai có thể được gởi đi thực tập trên Ðệ thất Hạm đội đó, chuẩn bị va-li đi là vừa.
Thành phân bua:
– Vừa phải thôi Tần, mầy định cười mũi tao đó hả! Ði thực tập Hạm đội Bảy đâu phải nhờ đậu cao mậy, chỉ cần trình độ Anh ngữ thôi. Ðiểm ECL cỡ tám chục trở lên như thằng Thắng đây thì có hi vọng. Chớ còn tao với mầy thì có cơm cháo, nước tương gì. Mà thôi, như mầy nói, để tao về phòng tắm rửa, thay đồ nhẹ cho thoải mái rồi hãy đến đây chọn tàu cũng không muộn. Vả lại tao thấy chẳng cần thiết cho lắm, tàu nào cũng là tàu, thế nào rồi mình cũng có một chiếc lái cầm rai với người ta, hơi sức đâu mà lo.
Thắng nghi ngờ hỏi lại, bàn ra:
– Thiệt vậy à? Thôi, mầy đừng có nghe lời thằng Tần xúi dại mà bán lúa giống. Ở lại đây chờ với tao thêm một chút nữa coi. Hết chỗ tốt rồi nên tụi nó chọn lẹ lắm.
Quả đúng như lời Thắng nói, chẳng bao lâu đã đến tên cầm đèn lái và quay vòng lại người đậu thủ khoa. Chỉ còn một lô tàu tuần duyên PGM (Patrol Gunboat Motor) là còn nhiều chỗ trống. Thôi thì Kiến Vàng (HQ-603), Keo Ngựa (HQ-604), Kim Qui (HQ-605), Mây Rút (HQ-606), Nam Du (HQ-607)…, toàn là tên các hòn, các đảo dọc duyên hải miền Nam, chiếc nào cũng được, chọn phứt một chiếc cho xong. Chọn sớm nghỉ sớm, anh em ơi, Thắng nói thầm…
Sau cả tuần tập dợt, lễ ra trường rồi cũng tuần tự diễn ra theo đúng lịch trình. Có diễn hành, đàn anh trước đàn em sau. Có diễn văn chào mừng, nhắn nhủ của Tư lệnh Hải quân. Có tuyên thệ, tung hô, vất mũ lên trời. Một biểu tượng chung của các quân trường trong ngày vui của các sĩ quan tốt nghiệp, mãn khóa. Tất cả đều được thi hành long trọng, nhịp nhàng trước một khán đài đông nghẹt quan khách, với đầy đủ mọi thành phần quân dân cán chính và tôn giáo! Ðúng là một buổi lễ có một không hai cần phải tham dự và đáng ghi nhớ trong đời binh nghiệp.
Tuy nhiên, niềm vui buồn lẫn lộn và khó quên nhứt phải nói là những gì đã xảy ra trong giờ phút chia tay, bịn rịn kẻ ở người đi. Mà đêm dạ vũ mãn khóa là một hình ảnh khắc ghi trong tâm trí. Cũng có thể chỉ ngần ấy những người thân quen, chỉ ngần ấy bộ mặt quen thuộc, nhưng, sự đổi ngôi chắc chắn là không thể nào tránh khỏi! Nếu muốn đem so với ngày nào, trong buổi dạ vũ gắn alpha! Từ những cặp mới chạm mắt nhau lần đầu đó, bây giờ, có cặp đã thành vợ chồng hoặc giả đã đám hỏi, đính hôn. Cũng không thiếu những cặp vẫn còn giữ lằn ranh không là gì của nhau, lững lờ dan díu qua ngày. Lại có những cặp rốt cùng chỉ còn là tình bạn bâng quơ. Và cũng có những cặp đã rã bèn ngay từ ngày đầu, đã không còn muốn gặp nhau, nhìn nhau nữa!
Ðêm nay, đêm dạ vũ ra trường của gia đình Ðệ nhị Hải sư, được tổ chức trong khuôn viên phạn xá sinh viên sĩ quan. Với sự trang trí ở mức độ trung bình, gồm những hoa đèn bằng giấy màu dán mắc trên tường. Chỉ cần ánh sáng và âm thanh thôi… Hạnh, đã không thể đến dự được vì Ðức ra trường sớm hơn dự trù một hai tuần. Trong khi Hiền, Thúy và Thảo đều có mặt đông đủ, như chúng bạn đã thông báo cho Tần biết. Nhưng, đi với những partner riêng, không còn lẻ loi đơn độc như ngày nào mới quen bọn Tần, Thắng và Thành. Tần bận phụ giúp trong ban nhạc nên chàng cũng chẳng màng, trong lúc Thắng và Thành cứ chạy lạo xạo, qua lại nhiều nhóm nhỏ mới quen qua sự giới thiệu của bạn bè.
Ðêm càng về khuya, những bản nhạc tình càng thêm du dương rả rích. Nhằm phụ họa theo những lời giã từ nhớ mãi không quên. Người ra đi trên ngàn trùng sóng nước và em ở lại hậu phương. Chẳng đặng đừng, sau khi giao cặp dùi trống cho Ðường Trí Minh đánh tiếp, Tần len lỏi đi tìm Hiền… Và giờ này, tay trong tay, dìu nhau trong một bản slow ướt át theo lời ca lỡ làng duyên phận… Thôi rồi còn chi đâu em ơi. Có còn lại chăng dư âm thôi. Trong cơn thương đau men đắng môi. Yêu rồi tình yêu sao chua cay … Với hàng hàng lớp lớp kéo nhau ra đứng chật sàn nhảy. Tần gợi ý cùng Hiền:
– Lâu ngày gặp lại em, anh thấy em cũng chẳng gì khác xưa, vẫn duyên dáng như thuở nào mình mới quen nhau…
Hiền gạt ngang, hỏi lại:
– Tại sao bấy lâu nay anh không ra nhà thăm em? À, như vậy chứng tỏ là anh đã nhận được cái note của em rồi, phải không? Tại sao anh không nghĩ là em chỉ giận anh, hù anh một phát thôi?
Có chuyện như vậy sao? Tần hơi giựt mình, phân vân một hồi rồi từ tốn giãi bày:
– Anh biết em nói thiệt, Hiền ơi. Vì nếu em chỉ giận anh, hù anh một phát thôi thì có lẽ trong vòng hai hoặc lâu lắm là ba tuần sau, em sẽ phải ghé lại trường thăm anh! Anh tin chắc như vậy! Ðằng này, em đã bặt vô âm tín…
Hiền yên lặng. Tần khẽ thở dài, tiếp:
– Thân em bây giờ coi như là gái đã có chồng!
– Dầu gì đi nữa thì giữa mình với nhau cũng vẫn còn tình bạn chớ anh!
Tần nói lẫy:
– Không được, với em, anh chỉ có hoặc không có tình yêu thôi! Làm gì có cái tình bạn vớ vẩn giữa những kẻ đã từng yêu nhau, sống chết với nhau, trao thân… gởi phận cho nhau chớ!
Hiền vói tay bụm miệng Tần nhưng không kịp! Nàng nói nhỏ:
– Anh có điên chưa mà ăn nói như vậy, hả Tần? Anh không sợ mọi người nghe hết cả sao? Anh không nghĩ gì đến thân em đang sống trong cảnh cá chậu chim lồng hay sao, hả?
Tần bâng khuâng siết nhẹ Hiền vào lòng. Tiếng kèn saxo trầm bổng, vô tình như đã gieo rắc những xa vắng, réo gọi vào con tim. Tần vụt nhớ ra:
– Này Hiền, em nhớ phải viết thư cho anh nghen? Anh rất cần những dòng chữ của em trong những cơn bão bùng, mưa gió ngoài biển khơi. Ðể anh sẽ ghi cho em KBC của Hạm Ðội và số tàu, em cứ gởi về đó thì thư em sẽ tới tay anh…
Hiền giẫy nẩy:
– Không được đâu anh ơi, anh nên nhớ rằng, thân em bây giờ coi như là gái đã có chồng?
– Nữa! Em không nên đùa dai trên nỗi đau khổ của anh như vậy nghen Hiền!
– Ô hay, em chỉ lập lại những gì chính miệng anh đã thốt ra kia mà!
Nửa như trách móc, nửa như muốn hỏi Hiền lần cuối, Tần nói:
– Hiền, nói thiệt cho anh nghe đi, vì đâu mà em nỡ đoạn tình với anh chớ?
– Số phần hai đứa mình như em đã nói, chỉ có duyên mà không có nợ, thôi thì đành xin hẹn kiếp sau…
Hiền bỗng vùi đầu vào ngực Tần nức nở! Gì nữa đây? Tần bàng hoàng ôm chặt lấy Hiền trong vòng tay! Khổ quá, chàng không hiểu nổi tánh ý Hiền, chợt vui chợt buồn như đứa trẻ con. Chàng cảm thấy bối rối vô cùng và càng đâm ra bán tín bán nghi về cái trách nhiệm và bổn phận của mình đối với người tình nhỏ. Trong bất giác, chàng chợt hiểu ra, là mình đang mang một tội lỗi rất lớn đối với người yêu. Có phải chỉ vì chàng đã chưa làm hết sức mình… Bản nhạc đang đi dần vào đoạn cuối. Chàng kín đáo rút khăn tay lau nhẹ bờ mi Hiền và khẽ vuốt đường ngôi trên tóc. Âu yếm dìu Hiền lách ra khỏi đám đông, trả lại cho người đàn ông hơi đứng tuổi, đầu óc Tần bỗng quay cuồng, như điên như dại. Ôi, cái cảnh chia tay này sao mà, bỗng dưng, quá đau lòng tê tái!
Một bản tình ca với nhịp điệu khoan thai khác lại trổi lên, lời ca man mác như bài ru tình cũ. Tình ngỡ đã phôi pha, nhưng tình vẫn còn đầy. Người ngỡ đã xa xăm, nhưng người vẫn quanh đây. Những bước chân mềm mại đã đi vào đời người. Như từng viên đá cuội rớt vào lòng biển khơi … Rớt vào lòng biển khơi? Tần không còn can đảm nào để ở lại tiếp tục cuộc chơi, một mình lủi thủi trở về phòng trong cô đơn vắng lặng! Có còn ai để cho chàng trút nỗi tâm tư? Bàn tay thái cực đạo đai đen một đẳng này của chàng, cộng thêm với sự oán hờn ông tơ bà nguyệt đã gieo xuống đầu chàng, Tần bảo đảm bao nhiêu vách tủ, hộc bàn trong phòng rồi sẽ bị vỡ tan từng mảnh vụn…
Những đau thương do thiên tai đổ vào Việt Nam hàng năm, nhất là miền Trung được ghi đậm trong câu hát “Trời hành cơn lụt mỗi năm…” Lũ lụt, bão tố, sóng thần, động đất… là do thiên tai. Thiên tai đè nặng lên giải đất hình cong chữ S ngay từ thuở khai thiên lập địa, từ thuở tổ tiên ta dựng nước. Và dân tộc vẫn trường tồn. Thiên tai cứ coi như là mệnh số không tránh được, nhưng còn nhân tai? Nhân tai có là mệnh số hay không mà nó đeo đẳng dân tộc ta hơn 3/4 thế kỷ nay, mà đến bay giờ cũng không biết ngày nào thoát.
Nhân tai lớn nhất trong dòng lịch sử dân tộc Việt chính là sự ra đời, và tồn tại của cộng sản Việt Nam. Đại họa của dân tộc đến từ nhân tai loại này nặng nề oan khiếp hơn thiên tai. Chẳng có cơn lũ lụt nào trong lịch sử giết nhiều người hơn trong cuộc chiến tranh phi nghĩa từ miền Bắc, mà chỉ riêng trận tổng công kích phản trắc năm Mậu Thân 68 cộng sản đã tàn sát, đã chôn sống gần 7 ngàn nhân mạng đồng bào tại cố đô Huế. Và gần đây nhất, vụ sập cầu Cần Thơ gây thương vong hàng trăm đồng bào vô tội cũng chính là do nhân tai, do con người.
Thưa vâng! Tại Việt Nam, trong các công trình xây cất quy mô, người ta hay nhắc tới các “cụm từ” “rút ruột“, “bê tông cốt tre” hay “móc ngoặc thi công“… để cuối cùng, đường nứt, đê vỡ, cầu sập, ổ gà thành ổ voi nằm…
Hiện nay, nhà nước VC đang điều tra. Điều tra vụ cầu Cần Thơ sập do lỗi tại ai, điều tra để tìm ra tội hay để chạy tội… Trời biết! Nhưng lần này, vì công trình xây cất cầu Cần Thơ có dính tới bàn tay người Nhật nên đại diện chính phủ Nhật đã ngỏ lời tạ lỗi đồng bào nạn nhân, và hứa sẽ đền bù thiệt hại về nhân mạng. Không biết số tiền bạc triệu đô này có dám “tự động không người lái” bốc hơi bớt hay không, nhưng chắc chắn lần này, nhà nước VC đang nhức đầu vì Nhật gửi một phái đoàn điều tra qua Việt Nam tìm hiểu chuyện cầu sập. Đối lập Nhật trong quốc hội càng la làng chuyện này thì ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Minh Triết và ông Nông Đứt Mạnh càng cần uống Tylenol # 3 mỗi đêm là cái chắc.
Để cầu phước cho tai qua nạn khỏi, ông Nông Đứt Mạnh tháng rồi bay qua xứ đói Bắc Hàn đầy phi đạn, ôm hun hít thắm thiết Kim Dung II và phán sẽ chở qua tặng Bắc Hàn 20 ngàn tấn gạo. Hai chục ngàn tấn gạo này mà tặng cho bà con nạn nhân cầu Cần Thơ thì công đức biết chừng nào!
Mấy ông nhà nước VC không nghĩ đến chuyện đó vì cho rằng thế nào bà con hải ngoại cũng làm chuyện đó: Chuyện “cứu trợ nạn nhân cầu Cần Thơ sập“, chuyện “máu chảy, ruột mềm“, “chuyện lá rành đùm lá rách” là chuyện nên làm. Nhưng những ai “giàu lòng bác ái, đang lo tổ chức gây quỷ cứu trợ nạn nhân cầu Cần Thơ ” xin làm ơn đọc giùm cái thông báo sau đây:
“Thống nhất giao Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc Thành phố Hồ Chí Minh làm đầu mối tiếp nhận các nguồn tiền – hàng do các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị, cá nhân vận động và tổ chức đoàn đi thăm hỏi, động viên, hổ trợ các gia đình bị nạn. Nghiêm cấm việc tổ chức đi thăm hỏi riêng lẻ…”
Đây là chỉ đạo của thường trực ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc hổ trợ các nạn nhân vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ.
(Trích báo trong nước October 11/2007/Yahoo/Công Lý và SựThật’s Blog)
Tin trong nước cũng cho hay công an đã có mặt gần như thường trực quanh quẩn nhà các nạn nhân để ngăn cấm theo dõi những ai thăm viếng, nhất là hỏi thăm tin tức vụ sập cầu. Vậy thì các vị đại ân nhân, từ bi, bác ái ở Paris, ở Cali, ở Houston, ở Toronto, ở Vancouver, Canada đang tổ chức gây quỹ cứu trợ nạn nhân cầu Cần Thơ và đồng bào hảo tâm, có cần nên nhắc mấy ông VC ở Sài Gòn dẹp cái thông báo trên đây hay không cho bà con hải ngoại được đem tiền về giao tận tay các gia đình nạn nhân? Chuyện này khó xẩy ra trong tình huống khó khăn của đảng ta.
Mấy năm trước đây, Thầy Quảng Độ dùng ghe thuyền đi cứu lụt ở miền Tây, VC cho xuồng máy đuổi theo như xi-nê, thu cha nó hết những gói quà vì nói là cứu trợ không có phép, không qua Mặt Trận Tổ Quốc thành Hồ… và Thầy Quảng Độ bị kết tội làm “diễn biến hòa bình“. Hoàn cảnh Thầy Thích Quảng Độ giờ bị giam lỏng khó khăn ra sao, chỉ có mấy ông khờ nhà quê mới không biết.
Những ai giàu lòng từ bi hơn Thầy Quảng Độ, cứ gom tiền, mang tiền về Việt Nam, ném cổ Mặt Trận Tổ Quốc, ném cổ công an xuống sông, rồi gõ cửa tận nhà dân cho tiền xem ông Nguyễn Tấn Dũng có làm gì không?
Tôi viết những dòng này, với tin tức đầy đủ, thiện chí đầy mình, để quý vị liệu cách mà làm chuyện từ thiện, “lá lành đùm bọc lá rách“. Chúng tôi quả không muốn quý vị về thành Hồ xong, chưa trao cho nạn nhân một đồng nào mà cuộc đời quý vị tả tơi rách nát vì vi phạm luật VC.
Hay nếu muốn an thân, quý ân nhân cứu trợ cứ quyên thật nhiều tiền, về Việt Nam giao hết cho Mặt Trận Tổ Quốc thành Hồ nhờ họ phân phối, rồi lên máy bay dzọt lẹ ra nước ngoài cho chắc ăn! Bà con nghĩ sao!
Bến là một nơi cuộc đời tị nạn CS trôi theo dòng đời cuồng lũ. Với tôi đó là bến Footscray.
Footscray là một cái tên bắt nguồn từ Foots Cray, một ngôi làng nhỏ nằm bên dòng sông Cray, cách London, Anh quốc không xa. Giờ đây, Footscray là một vùng ngoại ô tấp nập của thành phố Melbourne, cách trung tâm khoảng 5 cây số về phía tây. Nằm trong thành phố Maribyrnong, Footscray là một vùng đất sôi động với sự pha trộn tinh tế giữa khu dân cư, thương mại và công nghiệp.
Từ thời xa xưa, Footscray vốn là đất của hai bộ tộc thổ dân Wurundjeri Woi Wurrung và Boonwurrung thuộc quốc gia Kulin, đã sinh sống trên vùng này hơn 40,000 năm.
Người Châu Âu đầu tiên đặt chân đến đây là Charles Grimes vào năm 1803.
Sau cơn sốt vàng những năm 1850, Footscray bừng tỉnh, phát triển thành khu công nghiệp nhộn nhịp. Nhưng ngày nay, với sự đổi thay của thời gian, nơi đây đã trở thành trung tâm văn hóa đa dạng, là điểm đến cho nghệ sĩ, người sành ăn và những ai mê sự sôi động của cuộc sống đa sắc tộc.
Góc đường Barkly và Nicholson năm 1954,
Hãy thử nhớ lại những con đường mà bất cứ ai từ bà con mình đến đây đều quen mặt: Barkly Street, Droop Street, Geelong Road, Irving Street, Moreland Street, và Whitehall Street.
Năm 1954, góc đường Barkly và Nicholson là một nơi không mấy khác biệt so với hôm nay. Tuy nhiên, những con người đã đi qua đây trong tấm hình đen trắng cách nay 70 năm thì chắc chẳng còn ai hiện diện. Từ đó đến nay, vùng đất này chứng kiến sự thay đổi không ngừng của thời gian và con người.
Tuy nhiên, điều khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn cả là câu hỏi:
“Barkly là ai mà được tên đường mang danh?
Và Sir Francis Nicholson là ai mà tên ông cũng được đặt cho đường phố nổi tiếng nơi đây?”
Sir Henry Barkly – Người kiến tạo nước Úc. Sir Henry Barkly, sinh ngày 24 tháng 2 năm 1815 tại London, là một nhà quản lý thuộc địa tài ba người Anh. Ông giữ chức Thống đốc tiểu bang Victoria từ năm 1856 đến 1863, một giai đoạn trọng đại trong sự phát triển của vùng đất này.
Trong nhiệm kỳ của mình, Barkly đã giám sát việc mở rộng hệ thống đường sắt, góp phần thúc đẩy kinh tế và giao thông, đồng thời là người sáng lập Đại học Melbourne, một trong những biểu tượng học thuật hàng đầu nước Úc hiện nay.
Sir Henry Barkly
Danh hiệu “Sir” mà ông mang là một sự tôn vinh của Hoàng gia Anh dành cho những người có đóng góp xuất sắc cho đất nước và các thuộc địa. Trước khi đến Victoria, Barkly từng làm việc ở British Guiana và Jamaica, còn sau đó ông giữ chức Thống đốc ở Mauritius và Thuộc địa Cape.
Cái tên Barkly không chỉ được ghi nhớ qua những con đường như Barkly Street mà còn lưu danh trong lịch sử thuộc địa và phát triển của Úc. Ông mất ngày 20 tháng 10 năm 1898, nhưng dấu ấn của ông vẫn còn mãi với thời gian.
Sir Francis Nicholson – Người đặt nền móng cho nước Úc mới
Sir Francis Nicholson (1753–1818) là một nhân vật không kém phần quan trọng trong lịch sử thuộc địa Úc. Ông giữ chức Phó Thống đốc New South Wales từ năm 1800 đến 1804, rồi là Thống đốc Van Diemen’s Land (Tasmania ngày nay) từ 1804 đến 1808.
Ông nổi tiếng với những nỗ lực ổn định đời sống và phát triển các thuộc địa đầu tiên của nước Úc. Nicholson đặc biệt quan tâm đến việc cải thiện nông nghiệp và quản lý tù nhân, những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nền tảng xã hội mới.
Tên tuổi của ông cũng được đặt cho nhiều địa danh, trong đó có Nicholson Street – một trục đường quan trọng ở Footscray, góp phần ghi nhớ công lao của ông trong công cuộc khai phá và phát triển vùng đất mới.
Sir Francis Nicholson
Riêng tôi, ít nhất một tuần một lần, ông bạn thân Chín Triệu, dân gốc Xóm Vạn Chài cuối đường Trần Quang Khải Tân Định Sài Gòn, lại xách xe, mang theo chai rượu chát (red wine) rủ rê tôi xuống nhà hàng Thanh Vinh – tọa lạc bên tay trái góc Barkly và Nicholson để lai rai, nói dóc chơi.
Đó là nơi mà bao ký ức cũ – từ năm 1954 đến hôm nay – vẫn còn vẹn nguyên như tấm hình đen trắng in dấu thời gian. Đôi khi, chúng tôi nhìn nhau mà tự hỏi, mấy ai trong số những người xưa cũ còn hiện diện giữa chốn phồn hoa này?
Tôi vẫn nhớ lời em yêu của tôi, tức bà La Sát, bà chằn lửa của tôi tức là con vợ tôi thường hay nói, mỗi khi tôi dành nhiều thời gian “tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc”.
Em rầy tôi như má rầy con vậy:
“Cơm không nấu chỉ biết ăn. Ăn xong chén không rửa. Đồ không giặt! Tối ngày cứ tụ bè tụ đảng đi nhậu để nói dóc không hà! Thiệt là đồ vô tích sự!”
Ha ha! Có lẽ trong mỗi câu chê trách ấy là cả một tình cảm thân thương, một sự quan tâm lặng thầm mà chỉ người trong cuộc đời nô lệ mới thấu hiểu.
Và cũng bởi lẽ, như tôi vẫn nói với con cái mình: không phải cứ đi học trường lớp mới là học. Học là cả một cuộc đời, học trong từng phút giây sinh hoạt, học trong những cuộc chuyện trò, học trong men rượu và trên những con phố quen thuộc.
Footscray hôm nay là minh chứng sống động cho sự giao thoa giữa lịch sử và hiện đại, giữa văn hóa bản địa và ảnh hưởng Âu Mỹ, giữa quá khứ công nghiệp nặng nhọc và tương lai đô thị hóa năng động.
Tên tuổi Sir Henry Barkly và Sir Francis Nicholson không chỉ là dòng chữ trên các bảng tên đường mà còn là những biểu tượng cho lòng kiên trì, sự phát triển và cống hiến cho vùng đất Úc xa xôi này.
Và với riêng tôi, dù có đôi khi bị gọi là “đồ vô tích sự”, thì Footscray vẫn là mái nhà, là miền ký ức, là nơi tình bạn và những câu chuyện đời thường vẫn còn vang vọng bên những con phố thân quen.
Khi nhắc đến “Apollo”, ai cũng nghĩ ngay tới phi thuyền Mỹ đưa Neil Armstrong bước xuống Mặt Trăng năm 1969. Hồi đó, dân Sài Gòn xem TV đen trắng, thấy ông bước xuống, thò chân lên bề mặt trăng, cả xóm reo hò: “Mỹ đã lên cung trăng, còn tao thì chưa lên được lầu Á xẩm bán hủ tiếu mì đầu hẻm!” – tưởng đùa mà thật. Thế nhưng, ít ai biết bên kia bán cầu, ở nước Úc xa xôi, cũng có một địa danh mang tên Apollo Bay – nghĩa là “Vịnh Apollo”.
“Bay” trong tiếng Anh là vịnh, một eo biển nhỏ ôm lấy mặt nước như vòng tay mẹ. Apollo Bay nằm chễm chệ trên Great Ocean Road, huyền thoại du lịch ven biển tiểu bang Victoria, cách Melbourne khoảng 187 km. Nếu lái thẳng, mất chừng ba tiếng rưỡi, còn ai thích thong thả vừa ngắm biển, vừa chụp hình cột mốc 12 Apostles thì cả ngày cũng chưa hết cảnh đẹp.
Còn “Apollo” là ai? Apollo là vị thần Hy Lạp, quản Mặt Trời, âm nhạc, tiên tri và cả bệnh dịch – vừa đáng kính vừa đáng sợ. Tên nghe oai, lãng mạn và dễ nhớ, nên người Mỹ mượn đặt cho chương trình bay lên Mặt Trăng của NASA hồi thập niên 1960. Một ông khoa học ngồi nghĩ: “Muốn đưa con người lên Mặt Trăng, phải chọn tên gì cho thật kêu?” – thế là Apollo ra đời, cưỡi cỗ xe Mặt Trời, bay ngang trời, đi vào sử sách.
Và cũng chính Apollo Bay, tên gọi mượn theo chiếc thuyền buồm Apollo từng ghé vịnh, đã trở thành thị trấn ven biển độc đáo. Ban đầu năm 1853, nơi đây gọi là Middleton. Năm 1881 đổi sang Krambruk – theo tiếng thổ dân Gadubanud nghĩa là “cửa sông”. Nhưng dân Úc thấy khó đọc quá, đến 1898 thì đổi Apollo Bay cho dễ xưng hô.
12 Apostles tại Apollo Bay
Trước khi người Châu Âu đến, Apollo Bay là lãnh thổ bộ tộc Gadubanud. Họ sống nhờ hải sản, săn thú rừng, hái trái cây. Gadubanud tin rằng, thần Mặt Trời đi ngang vịnh mỗi sáng, soi sáng mặt nước, giúp cá tôm sinh sôi. Họ tổ chức lễ hội cầu cá, vừa múa hát vừa khấn thần Apollo (hoặc vị thần tương đương), để bữa cá hôm đó “mập lù, tươi rói”. Khi mực nước lên cao hoặc sóng lớn, họ tin “Thần Sóng tức giận”, phải nhảy múa, đánh trống cầu thần dịu lại. Ai từng đứng giữa gió biển lạnh thấu xương mới thấy “lễ hội sinh tồn” ấy không phải trò đùa. Chính sự tôn kính thiên nhiên ấy hình thành mối quan hệ mật thiết giữa con người, biển và thần thoại, nét văn hóa mà người Châu Âu đầu tiên cũng phải kính nể.
Nghịch lý thay, trong khi phi thuyền Apollo bay lên trời, ở Apollo Bay, cảnh sát lại lo giữ… một cái xà lim nhỏ dưới đất. Một bên thăm thẳm vũ trụ, một bên lụp xụp nhà gỗ giam tù, thật đối nghịch mà cũng dễ thương.
Đồn cảnh sát Krambruk mở cửa ngày 7 tháng 3 năm 1888. Ban đầu là căn nhà gỗ 7 phòng, gồm bếp, phòng ăn, phòng tắm, hành lang, văn phòng; ngoài sân có chuồng cho một con ngựa và một… xà lim nho nhỏ. Thú vị là cả đồn chỉ có một anh cảnh sát kỵ binh. Ven biển, trộm cướp ít, chủ yếu nhậu xỉn đánh nhau, một ông “phú lít”là đủ.
Người ta kể, hồi chưa có xe hơi, cảnh sát cưỡi ngựa tuần dọc bờ biển, dân địa phương còn gọi ông là “ông kỵ binh một mình một ngựa”. Vừa làm cảnh sát, vừa kiêm… bạn nhậu bất đắc dĩ, ai say cũng đưa về xà lim nghỉ một đêm. Có lần, một ông đánh cá bị nhốt mà vẫn còn say, la lên: “Thả tao ra, tao phải ra khơi, cá nó không chờ đâu!” – cảnh sát chỉ lắc đầu: “Biển thì chờ được, mày ra lúc này thì chết chìm, vợ mầy thằng khác “thịt”, đừng có giỡn ngu!”
Neil Armstrong đáp xuống mặt trăng bằng phi thuyền Apollo 11 – nguồn Britanica
Đến thập niên 1970, chính quyền xây đồn gạch 3 phòng ở số 31 đường Nelson, có nhà giam phía sau. Rồi mở rộng thêm hai lần trước khi đóng cửa năm 2005. Ngày 17 tháng 11 năm 2006, đồn cảnh sát Apollo Bay hiện đại khai trương số 35a đường Nelson, góc Cartwright, có trung sĩ chỉ huy và 5 cảnh sát viên làm việc 16 tiếng mỗi ngày. Bề thế, văn minh, nhưng cái xà lim nhỏ bé 1957 vẫn in đậm ký ức dân địa phương.
Ngày nay, Apollo Bay không chỉ có đồn cảnh sát mà còn là điểm du lịch nổi tiếng. Mùa đông, du khách nô nức ra bờ biển xem cá voi mẹ dẫn cá voi con bơi ngang vịnh. Người Úc mê món tôm hùm Apollo Bay. Cảnh sát vui vẻ: “Cái đó thì không bắt, chỉ bắt thằng nào nhậu xỉn quậy mát trời ông Địa mà thôi!”
Nhìn lại mới thấy, Apollo Bay thật kỳ lạ. Một bên giữ an ninh cho làng chài, một bên mở cánh cửa vũ trụ. Một bên giam mấy ông say xỉn, một bên đưa Neil Armstrong bước vào lịch sử nhân loại. Thế mới thấy, đời có khi tréo ngoe mà cũng vui: thần Apollo trên trời chắc cũng cười, vì cái tên vừa gắn với ánh sáng huy hoàng, vừa gắn với… xà lim miền biển Úc, lại thở cùng sóng biển, rừng già và lễ hội Gadubanud.
Cùng một chữ Apollo, từ thần thoại Hy Lạp, phi thuyền Mỹ, tới một vịnh nhỏ Úc, tạo nên một câu chuyện vừa lịch sử vừa phiếm luận. Apollo Bay – nơi thiên nhiên, văn hóa, và luật lệ hòa quyện một cách vừa nghiêm túc vừa hài hước, để người đời sau còn cười vui khi nhắc tới: ánh sáng mặt trời, cá tôm tươi rói, tôm hùm đỏ au, cá voi tung bọt trắng trời, và một xà lim nhỏ nhắn nhưng in sâu vào ký ức.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.