Kỹ nữ bên Tây

saigonnhonews.com

Đoàn Xuân Thu

 Post 25 tháng 11, 2025

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

(Hình minh họa: Unsplash)

Nhắc chuyện kỹ nữ bên Tàu thì đầy nước mắt, còn nói đến kỹ nữ bên Tây thì phải đổi giọng đôi chút. Bởi bên Tây, nghề bán phấn buôn hương không phải là “phận bạc,” “kiếp hồng nhan” như văn chương Á Đông hay than thở.

Ngược lại, nhiều cô xem đó là một nghề chuyên nghiệp, có đăng ký kinh doanh đàng hoàng, có đóng thuế thu nhập, có bảo hiểm sức khỏe, có quỹ hưu trí như ai. Nói trắng ra, kỹ nữ bên Tây là… “tiểu thương,” mà vốn liếng lại là thứ trời cho, khỏi cần vay ngân hàng.

Trước khi bàn chuyện sâu hơn, xin kể câu chuyện có thật tại tiểu bang Victoria, Úc Châu – nơi tôi đang sống. Ở đây, luật pháp không cấm nghề mại dâm. Và kết quả là: 50 lầu xanh treo đèn đỏ, 18 dịch vụ gái gọi, 75 cơ sở vừa nhà thổ vừa gái gọi, và thêm 520 thương vụ nhỏ lẻ do chủ tự điều hành. Nếu tính thêm số kỹ nữ hoạt động tại nhà riêng, trong nhà thổ chui, hoặc trên đường phố thì con số này chắc phải nhân đôi.

Nhưng điều làm ta giật mình là suy nghĩ của họ. Một kỹ nữ Tây chưa chắc nghèo. Ngược lại, nhiều người xem nghề này là… cơ hội phát triển kinh tế cá nhân.

Lấy ví dụ em kỹ nữ 29 tuổi ở Tây Úc – câu chuyện mà báo chí Úc từng đăng. Em khởi nghiệp lúc 18 tuổi, khi đang là thợ cắt tóc trong một hộp đêm. Lương bèo, làm mệt, mà bị khách sàm sỡ hoài. Hai người bạn cùng phòng – là “công nhân tình dục chuyên nghiệp” – rủ cô vào nghề. Và em suy nghĩ một buổi chiều rồi… chịu liền.

Lý do? Em nói rất thật:

“Tôi năng động về chuyện phòng the. Tôi nghĩ mình có thể kiếm nhiều tiền từ sự năng động đó.”

Nghe xong mà tôi muốn xỉu. Phụ nữ Á Đông nếu nói vậy chắc bị họ hàng chửi thấy thương luôn, nhưng bên Tây thì đó là… tuyên ngôn nghề nghiệp.

Suốt 11 năm làm nghề, em xây dựng thương hiệu riêng: ảnh đẹp, tư thế duyên dáng, lời quảng cáo lịch sự. Giá dao động từ 450 đến 600 đô mỗi giờ. Khách toàn loại “tai to mặt lớn,, thích thuê phòng khách sạn 4-5 sao. Nhiều ông còn bao cô bay xuyên bang hoặc ra nước ngoài thư giãn.

Lịch làm việc của em cũng rất… văn phòng:

-Ngày thường: 2–3 tiếng.

-Cuối tuần: “tăng ca” vì khách đông.

Có những khách chỉ muốn cô ngồi ăn tối, trò chuyện, chứ không phải chuyện ấy. Nói thiệt, bạn gái nhiều ông còn không chịu ngồi nghe lâu vậy. Thành ra, kỹ nữ bên Tây đôi khi giống như nhà tâm lý học phiên bản sexy, vừa nghe chuyện đời, vừa giải tỏa stress, vừa tính tiền theo giờ.

Em không chỉ kiếm tiền – em còn biết giữ tiền. Tài khoản hưu trí có, bảo hiểm tư có, đầu tư bất động sản có, tiền tiết kiệm có. So với nhiều thanh niên Úc suốt ngày ăn mì gói chờ tuần sau lãnh lương, em kỹ nữ này đúng là đại gia trẻ tuổi.

Nhưng cuộc đời nào cũng có mặt tối. Em tâm sự:

“Nghề này làm hư một phần cảm xúc tình yêu. Tôi vẫn yêu được, nhưng khó giữ được.”

Lý do dễ hiểu: khi chuyện thân xác trở thành dịch vụ, thì tình cảm dễ bị bào mòn. Em kể đã từng yêu một khách hàng. Hai người quen nhau ba năm rưỡi. Em bỏ nghề để yêu cho trọn vẹn. Nhưng rồi chia tay. Em quay lại nghề cũ trong cay đắng.

“Đồ Sở Khanh!” – em chửi như vậy. Đọc mà thương, mà cũng… buồn cười.

(Cũng như Kiều với Thúc Sinh đấy thôi)

Em nói thêm điều khiến nhiều người giật mình:

“Tôi chỉ chấp nhận một vợ một chồng. Nếu tìm được đúng người, tôi sẽ dừng ngay.”

Mâu thuẫn của nghề là ở chỗ đó: bán tình dục nhưng lại mong tình yêu thuần khiết. Nghe ngược đời, nhưng lại rất người.

Dưới mắt nhiều học giả phương Tây, mại dâm là lĩnh vực không bao giờ có lời giải. Một nhà nghiên cứu xã hội từng phát biểu: “Mại dâm làm tổn hại phẩm giá phụ nữ. Họ không chọn nghề này; họ là nạn nhân của sự thống trị phái nam.”

Câu này nói đúng một phần – nhưng không trúng hết mọi trường hợp. Xã hội Tây phương, dù hiện đại, vẫn tồn tại đủ kiểu kỹ nữ: Vì nghèo mà làm; Vì nghiện ma túy mà làm; Vì bị buôn người mà làm, Và một nhóm ít ỏi – vì tự nguyện.

Trong số tự nguyện, có người xem đây là con đường làm giàu nhanh nhất, nhẹ nhàng hơn đổ mồ hôi trong nhà máy. Nhưng bên dưới vẻ tự tin khoe thu nhập cao, họ vẫn đối diện nguy hiểm: bệnh tật, bạo hành, khách bẩn tính, xã hội đánh giá, gia đình từ mặt.

Không phải ai cũng sống được như cô gái Tây Úc vừa kể.

Cho nên, nghề kỹ nữ bên Tây dù được hợp pháp hóa vẫn không thể trở thành “nghề như mọi nghề.” Luật pháp có thể quản lý, nhà nước có thể thu thuế, nhưng cảm xúc, tâm lý, nhân phẩm thì không có bộ luật nào bảo vệ trọn vẹn.

Và dẫu họ tự tin đến mấy, họ vẫn dễ trở thành nạn nhân của lòng tham và sự lợi dụng. Bởi đàn ông… thời nào cũng vậy: rất giỏi nói lời đường mật để rồi quay mặt bỏ đi.

Nhưng cũng phải nói công bằng: xã hội Tây coi kỹ nữ thoáng hơn. Không ai chửi họ là “đồ làm nhục tổ tông”. Không ai dùng văn chương để mạt sát. Nhiều nơi còn có công đoàn dành riêng cho “công nhân tình dục”, có văn phòng pháp lý hỗ trợ kiện khách hàng bạo hành, quỵt tiền, xâm phạm quyền cá nhân.

Tây mà! Việc gì cũng có thể tổ chức thành nghiệp đoàn.

Kết lại câu chuyện kỹ nữ bên Tây, ta thấy rõ hai mặt: Một nghề được hợp thức hóa, có thu nhập cao, có quyền lựa chọn; nhưng đồng thời, là một nghề làm hao mòn trái tim và dễ đẩy người ta vào vùng tối.

Dù họ gọi bản thân là “doanh nhân kinh doanh vốn tự có,” thì rốt cuộc, đó vẫn là nghề lấy thân xác làm phương tiện. Mà bất cứ thứ gì đem ra đổi lấy tiền, thì sớm muộn cũng hao đi phần hồn của nó.

Xã hội có thể đổi thay, luật pháp có thể nới rộng, nhưng cái giá mà phụ nữ phải trả trong nghề này, dù ở Đông hay Tây, vẫn luôn đắt hơn đàn ông nghĩ rất nhiều.

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Chương 15.

Vài chuyện cũ còn nhớ về đường phố Sài Gòn ngày xưa.

Cách nay vài năm, trong báo có đăng tin người bỏ xứ đi xa, nay muốn biết địa chỉ một thân nhơn, cho địa chỉ: “số nhà số mấy? và đường gọi “d’Adran” nhưng báo chí không đăng trả lời, tôi định là không biết. Nay tôi tìm ra, vậy xin cho hay, nhưng đã muộn:

– Đường ở Chợ Cũ Sài Gòn tên gọi “đường d’Adran” đó là đường gọi “rue Georges Guynemer” tức đường bắt đầu sau tòa tạp tụng và nối liền mối đường Đỗ Hữu Vị chạy tuốt xuống đụng mé sông mang tên đường mé sông ấy là quai de Belgique, chỗ cầu móng cũ nay đã hư tệ. Tên mới tôi xin chừa vì tôi không rành.

Georges Marie Guynemer là phi công Pháp, sanh trưởng tại Paris (24-12-1894) tuổi vừa 22, đã bắn hạ rất nhiều máy bay của địch (A lơ măng) chức đại úy đeo ba lon và đã có ngũ đẳng bội tinh, và sau tử trận mất tiêu thỉ thể và xác máy bay, đất không chôn được xác anh hùng và hồn thiêng bất tử vẫn tồn tại phiêu phiêu trên mây bạc. Ngày 26 Avril 1920, hội đồng đô thành Sài Gòn chọn tên người vị quốc vong thân, đặt thay tên đường cũ “rue d’Adran”, nhờ đó mà tôi biết được, lúc nhỏ, theo Ba tôi lên trên nầy năm 1919, đã từng cha con dạo phố và để chưn nơi đường nầy, và nhớ bên mé hữu, kể từ đường Đỗ Hữu Vị đi xuống mé sông thì sau và ngang miếng đất trống Tổng Ngân khố, đất trống do phá bỏ chợ cũ còn đất lại và mé tay mặt đó có một tiệm thợ bạc lớn, treo bảng hai chữ “Kim Ngọc” và thân phụ tôi dạy cho biết đó là lò ông thợ cha của hội đồng quản hạt tên Khá (Trần Văn Khá) tức rể của đốc phủ Vịnh (Nguyễn Văn Vịnh, trước có ngồi làm ở tỉnh Sốc Trăng), ông Vịnh là bào huynh của Duyên (giáo sư) của Liễn (dược sư) người gốc làng Tân Trụ (Chợ Lớn) v.v…Tên ď’Adran kéo qua nhắc lại Bá Đa Lộc, nay đã bị phá mồ (lăng Cha Cả) nhưng tưởng nên ghi lại để cho người đến sau được rõ, đó là:

Những chỗ cũ, tên cũ cần ghi lại để biết:

1. Trường gọi “collège d’Adran” ở đâu?

2. Place Pigneau de Béhaine?

3. Statue Pigneau de Béhaine?

1. Collège d’Adran. Danh từ nầy thay đổi nhiều lần và nhiều người lầm lộn với trường gọi “des stagiaires” v.v … Tôi biết sao thì nói là: Collège   d’Adran: năm 1862, qua năm 1910, đổi làm Ecole des Filles Françaises; qua năm 1922, xây cất thêm và đặt “Ecole Normalde d’in tuteurs” (đào luyện giáo viên) sau thêm lớp cao cấp “écoles primaires supérieures” để qua nhiều trào và nôm na vẫn gọi “Trường Sở Cọp” vì cọp Sở Thú gần bên. Năm 1942, đời Thống đốc Tây Rivoial, lấy tên cũ gọi là “collège d’Adran” nhưng tên nầy không tồn tại.

2. Place Pigneau de Béhaine. Đó là chỗ trước Nhà thờ, tượng đồng hình Bá Đa Lộc đứng che chở cho đông cung Cảnh, tuy bị hạ bệ từ lâu, nhưng bệ đá màu đỏ tươi rất đẹp, vẫn không hề hấn và giữ lại làm bệ tượng Maria bằng thạch cao nay còn thấy.

Nhắc lại đây, Place nầy trước ở chỗ gọi Place de l’Horloge (đời Amiraux) là chỗ nay có vườn cây nơi đường Đồng Khởi, giữa 2 đường La Grandière và Espagne, đồng hồ chỉ giờ đời Tây qua sau dẹp đã có đồng hồ lớn tòa Bưu chính (Hôtel des Postes).

Xin nhắc luôn Cathédrale (nhà thờ lớn) đặt tên Vương cung thánh đường ấy, thì khởi công xây cất từ năm 1879, (như vậy đã trên 100 năm) nhưng vườn ấy có lúc bị bỏ thiếu sự chăm nom, đợi đến 1893, vườn mới được tu bổ lại, và tên đặt làm Place Pigneau de Béhaine là có từ 1920.

3. Statue Pigneau de Béhaine. Đã nói tượng đồng nầy ở trước nhà thờ lớn. Đó là tượng do Dormier chế tác và được dựng Mars 1902. 4. Nói lại đây, có stèle (bia đá) đặt nơi hông viện bảo tàng Bách Thảo, là do Taboulet xin dựng lên để ghi chỗ ở xưa của Đức Cha Cả, bia nầy dựng năm 3 Octobre 1936, có Phạm Quỳnh chứng kiến. (Chữ Pháp “décédé” đối với một chức sắc lớn của Gia tô giáo, lựa dịch trên bia “tịch” thì là chữ mượn của đạo Phật? Năm trước ra Huế, tôi gặp một tượng d’Adran và đông cung, tượng giấy bồi và giấu trong kho kín Tôn Nhơn Phủ …

(viết ngày 29-9-1993 tức 14-8 Quí Dậu, trung thu tiền nhứt nhựt)

Dị đoan, đồng diêu, ca dao

Người mới, đời mới, thuyết Mác Lê cũng mới, dị đoan đã bớt người tin theo. Tôi thuật lại đây hàm bà lằng cuốc chí, ai tin cùng không cũng mặc và tôi cứ thuật. Lúc tôi được bảy, tám tuổi, tôi ở châu thành Sốc Trăng, trong xóm có một nhỏ hai dòng máu, tên Hên (Hưng), sau thuần lại và làm hương hào và gọi hương hào Hên, lúc còn học lớp chót và nhỏ hơn tôi vài tuổi, nhưng tánh tình Hên ương ngạnh không ai chịu nổi. Chính nó bày ra hay nó học lỏm ở đâu rồi truyền cho chúng tôi, là mỗi khi muốn ngạo ai, chọc tức

ai, thì nó hô lớn: “Bồ kề!” rồi nó bắt chúng tôi phải vỗ tay và lặp lại hai tiếng ấy. Không ai hiểu nghĩa là gì, chính người lớn cũng lây chứng và nhại theo “Bồ kề!” và sau đó nó còn bày ra nói nguyên dọc “Bồ kề! ác táp lách xi cu la Canh ti nả. Bồ kề!”.

Không nói và la theo nó thì nó đánh, nó giọi trên đầu, mượn cha phải nói theo cho khỏi chuyện gì. Trong xóm có một trưởng lão, tức một ông già chệc Tiều, cao lớn, mặt đỏ au, tóc bạc trắng búi một bì bi (đuôi sam nhỏ xíu, thắt lòng thòng sau lưng, tay cầm một ống điếu tre dài nơi đầu có gắn một nồi thuốc hút, cái đầu ngậm vào mồm là một ống đá cẩm thạch rất đẹp, mỗi khi chúng tôi ra đường đụng đầu với ông lão nầy thì thằng Hên hô to: “Bồ kề? Bổ cu ông già?” và lẹ như chớp nháng, tức thì ông nổi tam bành, chơn rượt, tay bổ tưới ống điếu vào đầu đứa nào chạy không kịp thì lãnh đủ, miệng ông chửi: “Lù má mẩy là thằng xích câm xa”, chúng tôi chạy ra xa, khỏi tầm tay thì đứng lại hô Bồ kề như cũ.

Ngày nay chuyện xưa kể lại dông dài mà nhơn vật cũ đâu còn móng nào, trừ kẻ hèn nầy tuổi đã 92 và nhờ chưa xuống dưới gặp lại bạn cũ, tôi lần mò tìm hiểu và nay phân tích lại cho các bạn trẻ biết, thì:

– Bồ kề? là tiếng Triều Châu, phiên âm Hán tự là “Bất hảo” (đúng ra bồ ềnh (bất an) là Bồ hố? bất hảo, hoặc đủ chữ là “Bồ xừ phềnh an! (Vô sự bình an) nhưng không hiểu sao mà thằng Hên bày ra hai chữ Bồ kề! Và nguyên câu “ác táp lách xi cu la Canh tỉ nả!” Đúng ra là tiếng Tây “La tablette de chocolat de la rue Catinat” câu nầy là tôi sắp đặt lại về sau cho có nghĩa còn hồi đó, đúng ra thằng Hên nó theo mẹ lên Sài Gòn rồi khi trở về Sốc Trăng nó truyền bá ra làm vậy. (Xin các bạn trẻ rán hiểu lấy). Còn “bổ cu ông già,” tôi không cần giải thích cho thêm rắc rối, bổ cu (beaucoup) như dễ hiểu dễ biết quá mà!

Tôi đánh máy đến trang nầy rồi tự thấy mừng vì tuy tuổi đã hơn chín chục mà trí nhớ vẫn còn sắc bén, và bình tâm xét lại, tôi sanh năm 1902, và cái năm sanh ra có câu “Bồ kề! ác táp lách” ấy, có lẽ là lối năm 1910, và đúng như sử sách ghi chép lại, thì năm 1911, Tân hợi, là năm bên Trung Quốc xảy ra vụ làm cách mạng lật đổ nhà Thanh và từ bên Tàu cho đến đâu đâu có Chệc Tàu ở, thì họ đều cắt đuôi, bỏ đeo bì bi (đuôi sam) trên đầu, và đúng y chang câu đồng dao do thằng Hên bày hát: và đúng với một sự tôi cho là kỳ, là lạ, là vào mấy năm 1910, 1911 ấy, tre trồng trong rẫy ở Sốc Trăng, tôi thấy trước mắt, hễ trồng cắm rễ vào dất thì tre mọc èo uột lâu lắc, và nếu dộng ngược gốc tre cắm xuống đất thì tre vẫn mọc và mọc mạnh mọc mau là khác và câu tục ngữ địa phương để lại và nay tôi nhắc ra đây, còn người mới, tin cùng không tôi cóc cần biết và câu kinh nghiệm ấy là: “Trồng tre trở gốc về trời! Ông Bồn về Tàu, thằng chệc đứt đuôi!” (tôi giải thích thêm: ông Bồn, tức là vị thần của người Hoa thờ nơi các chùa miễu của họ, Bổn cảnh thành hoàng, nói tắt. Ông Bổn về Tàu, tức là năm Tân Hợi ấy (1911), người Hoa nhiễm tiến bộ văn minh, một phần dân Tàu, bớt tin dị đoan, bỏ hay nhẹ bớt tục thờ cúng và đã đưa ông Bồn về …)

Tục người Tàu dưỡng tóc kết đuôi sam, theo Ba tôi nói lại, là có lẽ tục của dân tộc Mãn Châu (Mandchourie) có lẽ họ thờ “động vật tổ” (totem) của họ là “lư: là con lừa, cho nên y phục đại lễ Thanh triều, tay áo lất lên như móng lừa, họ lễ bái, lạy khúm núm như lừa quì bái và tóc trên đầu vẫn cạo chung quanh sạch bách, chỉ chừa một lọn kết và kèm thêm tóc giả hoặc chỉ tơ đỏ đen làm bì bi và nghĩa kín ít nói cho biết là họ ngầm muốn tỏ ra: “tứ xứ di tồn Trung Quốc” (ý đen là vốn di man (man là người phương Nam nước Tàu), bốn dân “mọi” ấy cạo sạch, chỉ chừa người Hán còn lại, v.v ..

Xin thêm, năm cách mạng Tân Hợi, quốc kỳ Trung Quốc ban đầu là cờ ngũ sắc (Hán, Mãn (mandchou), Mông (Mongol, Mông Cổ), Hồi (Mahométan), Tạng (Tibétan)).

Chính vậy cho nên ngày nay họ chưa chịu buông tay cho độc lập cho tiểu quốc nầy. Tôi đã sa đà vì tôi viết để nhắc việc cũ cho quên việc rối trong nhà, cô bác anh em đọc rồi xin bỏ qua cho. Vạn tạ.

(29-9-93) Trung thu tiền nhứt nhựt, nói làm vầy cho khỏi dị đoan cữ 5, 14, 23 …)

(viết thêm ngày 30 Septembre 1993)

Về hai chữ Bồ kề ở Sốc Trăng nghe lúc bé thơ. Về hai tiếng Tiều ở Sốc Trăng đến nay còn ít ai cắt nghĩa: “Bồ kề”. Xin thưa lại: “Trong một bài viết nơi trước, tôi đã nói “Bồ kề” là “bất hảo” của người Triều Châu, nhưng nay tôi gẫm lại và dám quả quyết: “Bồ kề” không phải tiếng Tiều chi cả, và rõ lại có lẽ đó là hai tiếng “Bồn kèn” ở Sài Gòn thuở những năm 1910 – 1911 hoặc trước đó vài mươi năm và Bồ kề như vậy là “Bồn Kèn” (kiosque à musique) do Tây khi mới qua, họ xây tại Bồn Nước ngày nay trước hãng Charner cũ và Bồn Kèn nầy mắt tôi đã thấy, vẫn là một bệ xây đá  xanh tám góc vuông vức, mỗi chiều thứ năm trong tuần, họ sai sơn đá đem kèn đem trống đến và tấu nhạc võ lên … – Ông bà nhà quê lớp xưa để lại thành ngữ “đánh mũi đích” (musique)

– Thơ Huỳnh Mẫn Đạt “… nhạc Tây hơi trỗi lạ …”

– Thơ cỡ Bùi Hữu Nghĩa: “Tò le kèn thổi tiếng năm ba …” và như vậy tôi dám chắc ở Sốc Trăng trẻ nhỏ lớp tôi những năm lối 1910 – 1911, có thằng Hên là con ý Bang Chu, ý nầy dắt nó lên Sài Gòn dạo chơi và nó mua về Sốc Trăng thứ bánh kẹo chocolat hiệu Nestlé (ở Sài Gòn mang về) “và mang theo hai tiếng “Bồn kèn” mà nó lặp lại và biến ra Bồ kề là như vậy …

Tiếng Tàu, tiếng Quảng (Quảng Đông) và tiếng Tiều (Triều Châu) của tôi, là những tiếng học đường học xá, nhưng tôi dám chắc vẫn có căn có bồn.

Nhắc lại: đồng dao hay câu do thằng Hên dạy chúng tôi hát thuở ấy: “Ác táp lách xi cu la Canh ti nả Bồ kề” là tiếng Tây ba trợn, “la tablette de chocolat Catinat Bồn kèn”.

Cũng vào những năm 1911, cách mạng xảy ra bên nước Tàu lật đổ nhà THANH, thì tại Sốc Trăng nhóm người Tàu cũng dẹp theo tục cúng cô hồn tháng 7 (lễ vong xá cô hồn) và thay thế vào lễ giựt giàn là lấy tiền cúng ma cho vào kết (caisse) hội từ thiện (lập nhà thương, lập trường học, chẩn

bần tiếp tế, v.v..) chớ trước 1911 ấy thì lễ cúng cô hồn tháng 7 ở Sốc Trăng, tôi còn nhớ: Sốc Trăng có ba nhóm người Tàu, thì có ba nghĩa địa chôn:

– Nghĩa địa dành cho người Phước Kiến, đường Bãi Xàu (ông Tiêu ốm nhom); – Nhóm Quảng Đông, nghĩa địa cũng ở đường qua Bãi Xàu và ông Tiêu cũng ốm teo …

– Nhóm Tiều, nghĩa địa ở trên đường đi ra Đại Ngãi, thì ông Tiêu (Tiêu điện ma vương) mới thật là cao lớn dình dàng, cao gần gần ba mét, áo giáp xanh lè rực rỡ, tay cầm cây giản thật lớn, lẫm liệt oai phong, trên mão có bóng hình Phật Bà Quán Âm để trị bớt tánh hung Tiêu điện cho bớt ăn thịt hồn ma bóng quỉ, và đáng ghê sợ hơn cả, ngó ông mà khiếp vía là ông Tiêu nầy le lưỡi dài tới bụng! Nay tôi nhớ lại và nhắc lại nghe chơi, để trẻ sắp nhỏ trong nhà được biết, quãng những năm 1910 – 1911, từ Sốc Trăng muốn lên Sài Gòn phải đi thuyền, theo ghe chài chở lúa, hoặc đi tàu thủy (lối 1920 v.v..) chớ đường bộ chưa có.

Khi lên tới Sài Gòn nhà ngủ Nam chưa có, phải tìm nhà quen hoặc ở nhà tiếp khách của Ba Tầu và thuở đó ở Sài Gòn và Chợ Lớn, vẫn người Tàu gần như làm chủ, vì Nhà Nước Tây nhắm mắt chỉ lo thâu thuế và đã để chệc khách muốn làm chi chi cũng được, Tây giao cho bảy bang (Thất phủ miếu, thờ Quan Đế) mà kỳ thật nói 7 bang mà đếm chỉ có Phước Kiến (chành lúa, người Phước Kiến), Hẹ (Ha kas, ít người, chuyên bán và làm thịt thú: dê, trừu, bò …), Tiều (Triều Châu, làm rẫy, làm mướn coolie gánh lúa) và Quảng (Quảng Đông), buổi ấy người Tầu khác, như Bắc Kinh, Tô Châu, chưa có, và mỗi năm rằm tháng giêng (Thượng nguyên), rằm tháng 7 (Trung nguyên), rằm tháng 8 (Trung thu) và rằm tháng 10 (Hạ nguyên) những lễ Tàu ấy thường thì đường lớn (Quảng tống cái, rue de Canton), đường Thủy binh (rue des marins) đều có “cộ 7 bang” (ép người Chà Ấn độ bán vải, nhập cho đủ số 7 bang) đều có bong bằng tre bên giấy hoa hòe xanh đỏ, gọi “Thể lâu” và làm lễ cúng tháng 7 cô hồn rất lớn và mỗi khi như vậy thì ở Sốc Trăng người Tàu hưởng ứng theo và bang Triều Châu lúc ấy bang trưởng là Lưu Liễu, ngoài gọi Bang Tư (thứ 4) người Tiều mẹ Việt, bang Tư nầy quen giao thiệp với mấy ông mấy thầy trong tòa bố tòa án, và quen tánh ăn to xài lớn (sanh nghiệp là chứa bài, vì vậy sau bị hạ và chết bị đâm lối năm 1946), bang Tư nầy tổ chức cúng cô hồn tháng 7 rất trọng thể, nơi nghĩa địa (Nhị tì) mướn đến hai gánh hát Tiều, một “thùng xanh hay thùng đỏ”, tiếng Tiều là áng láng, xe láng, (láng là rương, áng là đỏ, xe là thanh, xanh) còn gánh khác nữa là gánh thùng sơn màu đen gọi “ô láng” của bà bang Bủi Thiêm nhà ở châu thành, ngay khu chợ Sốc Trăng do hai người con trai là chủ gánh hát (tôi quên tên) và em của chủ gánh hát là cũ Cụi, cũ là cựu, cậu, và Cụi là Quế, cũ Tư Cụi nầy, là công tử nửa mùa, hai người con gái nay còn là cô Hai (vợ Xã Liên) và cô Ba, nay có chồng và ở đường Nguyễn Thông (Sài Gòn).

Mỗi rằm tháng 7 ở Sốc Trăng ấy, là một ngày lễ, vui lớn, nay không còn gặp nữa và ở nghĩa địa Tiều nơi đường đi Đại Ngãi nầy, vui và đông nghẹt khách dạo chơi, quán bán cháo Tiều bán vịt luộc, hủ tíu cá, quán bán chả giò, nem bún, v.v… đếm không xiết và vui không chỗ nói …

Ở Sài Gòn cũng như ở Sốc Trăng, nhạc Tây chưa có, chỉ có kèn lính tập (clairon) còn nhạc Tàu thì tôi nhớ có:trống Bắc cấu (trống Quảng Đông) và “Tùa lầu cấu (Đại lão cổ) là trống nhạc Tiều, phèng la, chụp chõa Quảng, và hát Tiều ở Nghĩa địa Tiều ở Sốc Trăng, tôi nhớ họ hát sáng đêm và vẫn hai rạp hát chọn một tuồng tích và hát thi đua với nhau, tiếng Tiều là hát “siêu tạo” cứ gánh thùng đen hát Tam Quốc thì gánh nọ cũng đổi lớp và hát Tam Quốc y theo, đôi bên bày ra thí võ trên sân khấu rồi kình chống nhau, kéo nhau xuống sân cỏ rồi đánh vật với nhau đổ máu trầy da và đúng ngày rằm cúng ngọ xong thì bày ra thí giàn, quăng thẻ gỗ từ trên giàn cho người đứng dưới tranh giành lấy thẻ ấy vào miễu cho ủy ban tổ chức coi theo số thẻ cây mà phát thưởng, và những vật thưởng ấy gồm cốm nếp, thịt heo tươi, lễ vật cúng kiến cho hồn ma (bánh ếch, bánh tét v.v …) và nhứt là rau muống kết làm giỏ tre gọi “đụng”, đụng đây là tiếng chuyên môn, theo chính tả Lê Ngọc Trụ diễn là vật góp mua từng con vật (heo) cắt xả, rả ra miếng lớn, chia nhau, nhưng đây là thịt chặt từng đùi, từng miếng lớn kết lại trong đụng ngoài che bằng rau muống, và như vậy đụng rau muống thì giàn ở Sốc Trăng những năm 1910 – 1911 đó vẫn bị dân giành giựt nhau dữ hơn đụng bánh trái khác và xin cho tôi nói tha cầu biệt dạng, vừa rồi tôi có xem chớp diễn ti vi tuồng Hồng Lâu Mộng của hãng Hong Kong, tôi rất bất mãn và không tiếp xem đến mãn tuồng, tuy vậy tôi được phép cho ý kiến và tôi bất mãn vì hãng phí mấy trăm triệu đô la mà diễn lại vẫn không tuân theo niên kỷ đời Tào Tuyết Cần viết về đời Thanh Khương Hi, Kiền Long, vì Vương Hi Phụng, công tử Di Hồng (Bảo Ngọc) làm sao uống trà trong tách (tasse Hồng Kông đời nay) và bắt người xem phim đời nhà Thanh còn mê tín, bắt mạch (chẩn mạch), hốt thuốc, ăn mặc y phục, v.v… đều lai căng, nachronique, bất tuân thời đại, và Bảo Ngọc, 19 tuổi đã có vợ, đi thi đỗ cao và bỏ nhà đi tu … mà diễn viên theo trong phim theo tôi là kép trộng tuổi, đẹp trai xứng đáng thật nhưng niên kỷ chưa đúng, riêng các tiểu thơ, tỷ tắc, con đòi, Tạp Nhân, Bảo Thoa v.v .. đều theo tôi là gái 16, 17 còn trong phim đều trộng tuổi hơn tuy rằng vẫn là người đẹp. Tôi nói dông dài và muốn chờ xem nếu có thể được là chờ xem phim sẽ quay lại và giữ đúng nề nếp tục lệ hơn.

Theo tôi, đời nào vẫn nên giữ và diễn lại cho gần đúng vào đời ấy thì mới gọi là “làm văn hóa” Hồng Lâu Mộng còn tin thần thánh ma quỉ, và năm 1910 – 1911, ở Sốc Trăng còn tin á rắc, tin ông Tà, ngày nay người Miên dùng thuốc Tây và như vậy tôi cho là “đã lạc ông Bổn” và đã mất căn cội.

Đã lỡ sa đà xin sa đà luôn và cho nói luôn, chuyện cũ nhớ lại, năm 1921, quan 5 Colonel Đỗ Hữu Chẩn đem xác em là quan 3 Đỗ Hữu Vị về và làm lễ an táng tại vườn Bà Lớn đường Nguyễn Trãi ngày nay, thì đường nầy mang tên là đường Frères Louis và còn sầm uất tre mọc đầy hai bên lề đường và đường vẫn còn trải đá ong, ngày đem xác từ tàu đậu nơi bến Nhà Rồng (Messageries Maritimes) trường Chasseloup có biệt phái một tốp học sanh và tôi được cử thay mặt 2ème année, theo các anh lớp 3è và 4è và lớp quartier européen, cả thảy độ 4, 5 chục đứa, có thầy gác (surveillant) dẫn ra trường, đi bộ xuống bến tàu rồi theo xe chở quan tài, cuốc bộ dọc theo đường Catinat, tới Frères Louis rồi đến vườn (nghĩa trang họ Đỗ Hữu) nghe đọc diễn văn rồi cuốc bộ về trường, chung qui đi bộ nổi trên mười cây số đường mà không thấy rằng dài, và nay nhớ lại, sao dời vật đổi, họ Đỗ Hữu đã lu mờ, chính bộ sắc phục chức Capitaine Aviateur, nỉ đen nút xi vàng của Đỗ Hữu Vị, tôi vẫn thấy cất giữ chung với áo triều phục bông bạc màu xanh da trời của Nguyễn Thông, viện bảo tàng có còn giữ lại hay đã dẹp đâu rồi?

Nơi đường Nguyễn Trung Trực ngày nay, đời thuộc địa tây, gọi rue Filippini, ngày nay ban đêm đi còn rùng rợn, vì có bụi da sum sê thật lớn, lá xào xạc như có ma treo võng chờ nhát kẻ gan thỏ, đọc sách cũ nhớ có kể lại Filippini nầy (1834 – 1887) vốn là quận trưởng (préfet) bên Pháp, qua đây bổ nhiệm làm thống đốc Nam kỳ, chẳng may qua đời ở Sài Gòn và làm đám ma thật lớn, định chở xác về xứ và trối trăn làm linh xa, bàn đưa thật cao và khi di táng, bắt mé nhánh cây để đừng vướng ngọn linh xa và đã mé nhánh quá trớn và mé thế nào, khiến người những Pháp dọc theo đường đời linh xa đều phàn nàn và cho rằng lễ táng vượt bực và về sau nhựt báo Tây kể lại đúng là một trò cười vì dường như xác đã dời về xứ âm thầm từ trước. Rõ lại Filippini đã làm rộn dân chúng lúc chết hơn là lúc sống. Ở đây đã sáng suốt giữ lại những con đường đầy ân tình cũ: Pasteur, Calmette, trường Marie-Curie, tưởng cũng nên nhắc ơn Yersin đã cho ta nghỉ mát Đà Lạt … và nhớ lại nhà trứ danh Thảo mộc học Pierre (1833 – 1905) tôi đã từng thấy một bia đá xinh xinh nơi Vườn Bách Thảo, nay có còn hay chăng? Tội nghiệp cho ông, ông bỏ công sưu tầm, nghiên cứu Cam bốt, Nam kỳ Thủy chân lạp, Xiêm quốc Thái Lan, vùng Đông Mã Lai Á, xong rồi về nước Pháp, trải nửa đời người, từ 1879 đến 1899, soạn được bộ “Thảo mộc học” danh vang hoàn cầu, ông được cấp mỗi năm 6.000 franc để ông tiếp tục soạn sách nghiên cứu, thế mà hội đồng quản hạt rị mọ viết thơ đòi ông phải nạp trong năm và cho hoàn toàn bộ sách ấy bằng không sẽ bị truất chút bổng cấp ấy, ông thua buồn trả lời nước Anh vẫn cấp mỗi năm 60.000 francs để ông Hooker nghiên cứu cũng như ông nhưng về thảo mộc của Ân Độ, thơ ông gởi năm 1903 cho hội đồng quản hạt mà không quảng lượng ấy, để qua năm 1905, ông từ trần, với mớ tuổi 72, và với câu đau đớn, tôi xin chép lại đây: “Me reposer? (có người hỏi như vậy), me reposer? jen’en ai pas le temps la vie est si courte” và tôi dịch: “Đâu có thời giờ cho tôi nghỉ? Đời cụt ngắn kia mà!”

Làm tàng nói về đường lộ tên Tây, xin nói luôn: Đời thuộc địa Pháp, nơi xóm Lò Heo Cầu Ông Lãnh cũ, có một đường ngắn từ Douaumont qua Galliéni tên “Belland”. Nhớ lại, người Tiều làm nghề trồng rau, ta gọi “Chệc Rẫy”, nay lão tây nầy phải gọi là gì? Lão có công năm 1897 mua hột giống từ Ceylan Lanka (Sirilanca ngày nay) mua 1.000 hột cao su về răm giống ở Suối Giao, chỉ mọc 37. Không ngả lòng, qua 1899, mua 1.000 nữa, nhưng phen nầy cho 600.

Belland mừng quá, qua năm 1901 đặt mua 15.000 rồi 1902 cũng 15.000 nữa và được tuần tự 4.300 rồi 9.000 cây cao su con. Và từ 1904, liên tiếp đất nầy có vườn trồng hévéas cho mủ như bây giờ đã thấy. Nhớ thêm và tức cười, có một Tây chủ vườn cao su to lớn ở Biên Hòa, Bà Rịa gì đó, một bữa nọ, lão ta đến khu có mấy chục gốc cổ thụ cao su, (chỗ trước kia là bộ văn hóa của Ngô Trọng Hiếu đó mà), cây đã quá già, không ai lấy mủ, mủ ứ lại, gốc nổi u nổi nần như cổ nổi bướu của mấy bà già thầy lễ thầy giác … có người tọc mạch hỏi “cây nầy là cây gì?”

Lão lắc đầu trả lời: “Không biết!” Mà trời đất ôi! Ông cha ông lấy nước chúng tôi, hút máu rúc rỉa tận cốt tủy chúng tôi, suốt tám chín chục năm, ông được sai qua đây làm chủ vườn mà không nhìn ra cây nầy, hèn chi ông Giáp cho các ông một bài học ở Điện Biên Phủ, cũng vừa!

Trên đây tôi nhắc ông Pierre, chủ đầu tiên của vườn bách thảo. Bia đá ghi công ông nơi vườn, không biết còn mất thế nào, còn con đường ở Dakao, mang tên của ông sau đổi tên là đường Phạm Đăng Hưng, rồi nay là đường Mai Thị Lựu. Mỗi lần tôi đi trên đường nầy, để đến nhà bạn Vĩnh Bảo nghe tranh nghe kìm, tôi nhớ và ngậm ngùi cho  ngôi chùa nay gọi “Phước Hải tự” mà cơ khổ, đó đâu phải là chùa thờ Phật và đó là “Ngọc Hoàng điện” kia mà. Tôi chưa vào trong và không biết thay đổi thế nào? Duy theo tôi, đổi mà làm chi? Giữ lại như cũ, có lẽ, thâm thúy và cao kiến hơn. Tôi còn giữ của nơi nầy một viên gạch do một sư già cho năm trước. Gạch màu trắng y như màu sành sứ Giang Tây, vuông vức đo đúng 20 phân bề dài, 10 phân bề ngang, và 5 phân 1/2 bề gáy, đo mét Tây xinh xắn, viên nào y như viên nấy, tôi tâng tiu dùng làm gối nằm để xứng với sập “quí phi sàng” nơi nhà, mỗi khi đi mây về gió, thì gợi lại cảnh một khu u tịch của cái chùa mà vẫn là điện Ngọc Hoàng nầy. Tôi quên nói cho rõ hơn: viên gạch có một cạnh phủ lớp men xanh thật dày, và lớp men xanh ấy, đó là viên xanh bắt chỉ của khu u tịch nầy. Một bữa, trời chạng vạng nhá nhem, cũng không hiểu vì duyên cớ gì tôi lọt vào chốn nầy, tôi đang ngắm nghía lần hồi văn thật xanh thật khéo trên vách tường đã rêu phong nọ, dưới chơn vách là một bụi tre già lốm đốm màu vảy đồi mồi, lá múa lơ thơ, đong đưa hai cây quạt lá cũ treo nhún nhắn bên cạnh mấy chùm tóc rối phất phơ theo chiều gió, một mụ Bắc sồn sồn lom khom đang lăm băm vái van khấn nguyện gì đó, à phải rồi, chỉ còn một hôm nầy nữa, ngày mai nầy là sang Tết năm mới, quạt kia, mớ tóc kia quạt để cho mát, tóc rối gỡ ra treo đầy cầu mong hết rối rắm vò đầu xuân nhựt v.v .. , mụ đang trút cỗi mớ sầu tư, tôi lật đật và khép nép tránh chỗ cho lời khấn của mụ được như nguyện, trong chùa hay điện, nghe dội ra ba tiếng chuông và trống buổi kinh chiều, mụ ôi, than thở mà chi, đời vẫn là đời và đời nầy ai lại khỏi mang mền chút ưu tư riêng, tôi mảng nghĩ ngợi xa gần, thoạt nhìn lại sau lưng, mụ sồn sồn không thấy nữa, chỉ thấy ba tóm nhang nhá nhem, một luồng hương nhẹ thoảng … phải chăng: ba hồi chiêu mộ, một vũng tang thương, sẽ gội sạch trong buổi năm tàn tháng hết nầy.

(viết ngày 15-8-1993)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Bài 49

Nhà lao El Dorado

Hai giờ sau, chúng tôi đến một khu làng lớn ở cửa biển, tự xưng là thành phố và lấy tên là “Guiria”. Xã trưởng đích thân trao chúng tôi cho cảnh sát địa phương. Tại Sở cảnh sát chúng tôi được đối xử cũng tạm được, nhưng lại bị hỏi cung, và người hỏi cung, chẳng hiểu biết gì, nhất định không công nhận là chúng tôi từ Guyane thuộc Anh, nơi chúng tôi đã được tự do, đến đây. Ngoài ra khi y bảo chúng tôi giải thích cho y biết tại sao chúng tôi đến Venezuela trong tình trạng cùng quẩn và kiệt lực đến thế này, sau chuyến đi ngắn ngủi từ phố George đến vịnh Paria, y cho là chúng tôi đã giỡn mặt y khi chúng tôi kể chuyện gặp bão ở biển.
– Hai tàu chở chuối đã bị đắm mất tiêu cả người lẫn hàng, trong cơn gió lốc, một tàu hàng chở bốc-xít cùng bị đắm, tất cả thủy thủ đều chết, thế mà các anh trên cái thuyền dài có năm mét, bị mưa bão vùi dập, lại thoát được? Ai tin nổi chuyện này? Ngay người điên đi ăn xin ở chợ cũng không nghe được. Các anh nói dối.Có một cái gì ám muội trong những điều các anh vừa kể. – Xin ông cứ hỏi tin tức ở thành phố George thì biết.
– Tôi không muốn người Anh cười tôi.
Viên thư ký hỏi cung đần độn và ương bướng, đa nghi và kiêu căng, không biết đã báo cáo thế nào, và gửi báo cáo đi cho ai. Dù sao thì một buổi sớm kia, chúng tôi cũng bị gọi dậy từ năm giờ, bị xích tay và đưa lên xe đến một địa điểm xa lạ.
Làng Guiria nằm trong vịnh Paria, đối diện với Trinidad như tôi đã nói. Nó còn có lợi thế là ở cửa sông Orenoque một con sông rất lớn, gần bằng sông Amazon. Năm đứa chúng tôi bị xích trong một chiếc xe tải trên đó còn có mười cảnh sát viên, đi về hướng Ciudad Bolivar, thủ phủ quan trọng của bang Bolivar. Chuyến đi trên những con đường đất hết sức nhọc nhằn cảnh sát cũng như tù, bị xóc lên xóc xuống, xô đi xô lại như những bao tải đựng hồ đào trên mái xe, còn lắc lư hơn ngồi trên cộ lết, cuộc hành trình kéo dài năm ngày. Đêm thì mọi người ngủ trên xe, sáng hôm sau lại tiếp tục phóng như điên đến một nơi nào chẳng biết. Cuộc hành trình đến sụn xương sống này, vượt qua hơn một ngàn ki-lô-mét cách bờ biển đến một vùng rừng nguyên thủy, theo một đường lộ bằng đất từ Guidad Bolivar đến El Dorado. Khi đến làng El Dordo, thì cả lính lẫn tù đều phờ phạc.
Nhưng El Dorado là gì? Trước hết đó là niềm hy vọng của dân Tây Ban Nha đi chinh phục Châu Mỹ, thấy dân Anh-điêng ở vùng này có vàng, đã chắc mẩm là ở đấy có một núi vàng, hay ít ra cũng là núi nửa đất, nửa vàng. Cuối cùng, El Dorado chỉ là một làng nằm trên con sông đầy những giống cá chuyên ăn thịt, chỉ trong vài phút có thể ăn nghiến ngấu hết một con người hay một con thú, những con cá điện, gọi là trembladores, cứ lượn quanh mồi, người hay vật, truyền điện rất nhanh vào mồi để rồi hút máu của nạn nhân mà thịt xương đã bị giòng điện phân hủy. ở giữa sông có một hòn cù lao, và trên cù lao có một trại giam. Đó là nhà tù khổ sai El Dorado của xứ Venezuela. Khu giam tù khổ sai này là nơi cực nhọc, man rợ và vô nhân dạo nhất mà tôi được thấy trong đời, vì ở đây tù nhân bị đánh đập tàn nhẫn. Đó là một khuôn đất vuông vắn mỗi bề dài một trăm năm mười mét lộ thiên, có dây thép gai bao quanh. Gần bốn trăm nhân mạng nằm giữa trời trong mưa nắng vì quanh khu đất này chỉ có vài tấm tôn kẽm.

Không nghe chúng tôi nói lấy một lời, không giải thích gì về quyết định này, họ tống chúng tôi vào trại giam El Dorado, ba giờ trưa, khi chúng tôi còn chết mệt vì chuyến đi xa và bị xích trong xe. Ba giờ rưỡi, chúng hỏi tên và ghi tên chúng tôi, họ gọi chúng tôi lại giao cho hai đứa trong bọn tôi mỗi đứa một cái xẻng, ba đứa kia mỗi đứa một cái cuốc. Năm tên lính, súng và roi gân bò trong tay, có một hạ sĩ chỉ huy, đứng vây quanh chúng tôi, buộc chúng tôi phải đến nơi làm việc, nếu không sẽ bị đánh. Chúng tôi hiểu ngay rằng đây là do chỉ huy trại giam muốn ra oai với chúng tôi. Lúc này mà kháng lệnh là rất nguy hiểm. Cứ làm đã, rồi sau sẽ hay.
Đến chỗ làm việc của tù nhân, họ bắt chúng tôi đào một đường hào ra phía đường giao thông mà họ đang mở ở giữa rừng. Chúng tôi làm tùy theo sức từng người, không nói gì, cũng không ngẩng đầu lên. Chúng tôi nghe thấy tiếng chửi rủa và những tiếng đánh đập đã man mà tù nhân luôn luôn phải chịu đựng. Không một ai trong bọn chúng tôi bị đánh một roi gân bò.
Buổi làm việc ngay khi vừa đến trại giam là để cho chúng tôi thấy rõ các tù nhân bị đối xử ra sao. Hôm ấy là thứ bảy. Sau giờ làm, còn đầy mồ hôi và bụi đất, chúng tôi bị đưa vào trại, vẫn không qua một thủ tục nào.
– Năm thằng dân Cayenne lại đây. – Tên hạ sĩ giám thị gọi. Tên này là người lai, cao một mét chín mươi, tay cầm một cây roi gân bò. Nó là một tên đần độn thô lỗ chỉ chuyên giữ trật tự ở bên trong trại giam. Họ chỉ cho chúng tôi chỗ mắc võng ở nơi trống trải gần cổng ra vào trại giam, nhưng tại đấy cũng có một cái mái tôn, ít ra chúng tôi cũng được che nắng che mưa.
Đa số tù nhân là người Colombia, số còn lại là dân Venezuela. Không một trại cải hối nào của tù khổ sai có thể ví với cái cảnh ghê tởm của trại lao động khổ sai này. Một con lừa bị đối xử như những người ở đây chắc phải chết mất. Nhưng gần như tất cả mọi người đều khỏe mạnh, vì thức ăn thức uống ở đây rất dồi dào và ngon lành.
Bọn chúng tôi họp ngay một cuộc hội nghị quân sự nhỏ. Nếu có ai trong bọn chúng tôi bị lính đánh, tốt nhất là chúng tôi ngưng làm việc, nằm ra đất và dù bị đối xử ra sao cũng không đứng dậy. Thế nào cũng phải có một người chỉ huy đến và chúng tôi sẽ hỏi tại sao chúng tôi không phạm tội gì mà lại phải ở trong trại giam khổ sai này? Hai người đã mãn hạn tù là Guittou và Barrière đã lên tiếng đòi phải rả họ về Pháp. Rồi chúng tôi quyết định gọi hạ sĩ giám thị đến. Tôi sẽ nói chuyện với y. Y được mệnh danh là Negro Blanco (Mọi Trắng). Guittou đi kiếm y. Tên đao phủ tới, tay vẫn cầm roi gân bò. Cả năm chúng tôi vây quanh y.
– Các anh muốn gì?
Tôi nói:
– Chúng tôi chỉ nói với anh một lời thôi, chúng tôi sẽ không phạm một lỗi gì trái với quy chế ở đây, do đó anh không có lý do gì để đánh bất cứ ai trong chúng tôi. Vì chúng tôi thấy anh đánh bất kể ai, đôi khi chẳng có lý do gì, chúng tôi mời anh đến để nói với anh rằng ngày nào anh đánh một người trong bọn chúng tôi anh sẽ chết ngay. Anh hiểu chưa?
– Rồi, – tên Mọi Trắng nói.
– Một kiến nghị cuối cùng nữa.
– Gì thế – Y nói, giọng nghe đùng đục.
– Nếu những gì tôi vừa nói với anh cần được nhắc lại cho người khác, thì người đó phải là một sĩ quan chứ không thể là lính được.
– Đồng ý, – y nói rồi đi. Sự việc này xảy ra ngày chủ nhật là ngày mà tù nhân không phải đi làm. Một sĩ quan tới.
– Tên anh là gì?
– Papillon.
– Anh chỉ huy những người dân Cayenne này à?
– Chúng tôi có năm người, ai cũng là chỉ huy cả. 
– Thế thì tại sao người nói chuyện với giám thị lại là anh?
– Vì tôi nói tiếng Tây Ban Nha khá hơn mọi người kia.
Đấy là một đại úy quân cảnh vệ quốc gia. Y nói với tôi rằng y không phải là chỉ huy đơn vị này. Có hai sĩ quan cao cấp nhưng họ không có mặt ở đây. Kể từ khi chúng tôi đến, y giữ quyền chỉ huy. Hai viên sĩ quan kia thứ ba mới về.
– Anh đã nhân danh anh và nhân danh các bạn anh, dọa giết giám thị nếu các anh bị y đánh. Có đúng thế không?
– Đúng thế đấy, và lời đe dọa đó cần được coi là một lời hứa chắc. Bây giờ tôi nói thêm cho ông biết là chúng tôi sẽ không bao giờ tạo ra lý do để các ông trừng phạt thể xác chúng tôi. Đại úy cũng biết là không có tòa án nào xét xử chúng tôi vì chúng tôi không phạm tội gì ở Venezuela cả.
– Tôi không biết. Các ông đến trại không có giấy tờ gì hết, chỉ có một giấy của giám đốc ở làng viết là “những người này phải làm việc ngay sau khi đến nơi”. 
– Vậy thì ông hãy đối xử cho công bằng, vì ông là quân nhân, và ông phải đợi cấp chi huy của ông đến đã. Ông phải báo cho lính của ông biết và đối xử với chúng tôi khác với các tù nhân khác. Tôi nhắc lại để ông biết chúng tôi không phải và không thể là những kẻ bị đem ra tòa xử vì chúng tôi không hề phạm tội gì ở Venezuela. 
– Được, tôi sẽ ra lệnh như vậy. Tôi mong rằng các ông không nói dối tôi.
Tôi có thì giờ nghiên cứu các tù nhân suốt buổi chiều chủ nhật đầu tiên này. Điều thứ nhất làm tôi ngạc nhiên là tất cả tù nhân đều khỏe mạnh về thể xác. Điều thứ hai là họ bị đánh như cơm bữa nên họ quen chịu đựng đến nỗi ngay cả chủ nhật là ngày nghỉ, họ có thể dễ dàng tránh được việc đó bằng cách giữ mình cẩn thận, nhưng hình như họ đi tìm một khoái cảm bệnh tật trong khi đùa với lửa một cách ngông cuồng. Họ không ngừng phạm những điều cấm kỵ: chơi xúc xắc vào nhà tiêu hôn hít một cậu pê-đê, ăn cắp của bạn, ăn nói thô tục với những người đàn bà trong làng vẫn mang quà bánh hay thuốc lá cho tù nhân. Mấy người đàn bà này cũng trao đổi hàng hóa với họ. Một cái rổ đan, một đồ vật chạm được đem đổi lấy ít tiền hay vài bao thuốc lá. Thế mà cũng có những tù nhân tìm cách cướp giật qua hàng rào dây thép gai những thức mà các bà đưa ra mời chào rồi chạy biến lẫn vào đám đông, không chịu đưa ra món hàng mà lẽ ra họ phải đem đổi. Kết quả là những hình thức roi vọt, được áp dụng bừa bãi chẳng đâu vào đâu đã làm cho da thịt họ chai lì, tạo nỗi khiếp sợ trong trại giam mà chẳng có lợi gì đối với trật tự xã hội, cũng như chẳng cải tạo được những con người khốn khố này. Nhà giam cấm cố ở đảo Sant-Joseph với cảnh im ắng của nó còn ghê rợn hơn thế này. ở đây, sự sợ hãi chỉ trong chốc lát, tù nhân có thể nói chuyện với nhau ban đêm, ngoài giờ làm việc và ngày chủ nhật, lại được ăn uống đầy đủ, cho nên rất có thể chịu đựng được án tù của mình, vốn không hao giờ quá năm năm. Chúng tôi hút thuốc, uống cà phê và trò chuyện với nhau cho qua ngày chủ nhật. Vài tù nhân người Colombia mon men đến gần. Chúng tôi gạt họ đi một cách nhã nhặn nhưng kiên quyết, phải để cho mọi người thấy chúng tôi là một loại tù đặc biệt, nếu không thì hỏng hết.
Sáu giờ sáng hôm sau, ngày thứ hai, ăn xong bữa sáng thịnh soạn, chúng tôi đi làm cùng các tù khác. Sau đây là cách khởi đầu công việc, hai hàng người đứng đối diện với nhau, năm mươi tù nhân, năm mươi lính, mỗi tên lính phụ trách một tù nhân. Giữa hai hàng người là năm mươi dụng cụ, cuốc, xẻng hay rìu. Hai hàng người theo dõi nhìn nhau. Hàng tù nhân thì lo lắng, hàng lính thì hung hãn.
Viên đội hô: “Tên Mỗ… lấy cuốc
Kẻ khốn khổ đó hối hả vác cuốc lên vai, và đâm đầu chạy đi làm việc. Viên đội lại hô “numéro” có nghĩa là (đội viên số một, hai ba v.v….” tên lính mang số đó lao theo người tù và lấy roi gân bò quất y. Cảnh tượng hãi hùng này diễn ra mỗi ngày hai lần. Trên đường từ trại giam đến nơi làm việc, người ta có cảm giác đấy là những kẻ chăn lừa chạy theo đánh con lừa của mình chăn.
Chúng tôi chờ đến lượt mình, lo sợ đến lạnh người. May thay, nó không như thế.
– Năm người Cayenne, lại đây! Các anh trẻ, cầm cuốc, còn hai người già kia cầm hai cái xẻng đây. 

Chúng tôi bắt đầu đi không phải chạy nhưng cùng là rảo bước, có năm tên lính và một tên cai giám sát, và cứ thế chúng tôi đến công trường lao dịch của trại. Ngày lao động hôm nay dài và nản hơn ngày đầu tiên. Những người bị chú ý nhiều nhất đã kiệt sức, la hét như điên và quỳ xuống lạy van, xin lính đừng đánh họ. Buổi chiều, họ phải gom những mớ củi cháy dỡ thành một đống lớn. Một số phải quét dọn ở phía sau. Mỗi tên lính dùng roi gân bò quật người tù y phải giám sát để người này nhặt các mảnh vụn rồi chạy đem đến khu trung tâm trại. Phải chạy như ma đuổi, một số tù phát điên thật sự và trong lúc vội vã đôi khi họ cầm củi ở đầu còn cháy đỏ. Tay bị bỏng, bị quất roi tới tấp, nhiều khi họ dẫm cả bàn chân đất lên đống than hồng hay một cành củi còn bốc khói ở dưới đất, cành tượng quái dị này kéo dài ba giờ. Không ai trong bọn tôi phải tham gia việc dọn sạch bãi đất mới khai quang này. Cũng là may, vì chúng tôi vừa cắm đầu cuốc đất, vừa nhắn nhau bằng những câu ngắn gọn là mỗi đứa chúng tôi sẽ nhảy xổ vào năm tên lính, kể cả giám thị, cướp súng của chúng và bắn vào lũ man rợ đó.
Hôm nay thứ tư, chúng tôi không ra chỗ làm việc. Hai sĩ quan chỉ huy đội cảnh vệ quốc gia gọi chúng tôi lên bàn giấy. Hai quân nhân này rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi đến El Durado mà không có tài liệu gì chứng tỏ là có một tòa án nào đã gửi chúng tôi đến đây. Họ hứa với chúng tôi là ngày mai sẽ hỏi lên giám đốc cơ quan hình sự. Cũng không lâu la gì, hai viên thiếu tá chỉ huy đội cánh vệ trại giam này quá là nghiêm khắc, có thể nói là trấn áp, nhưng lại đứng đắn, vì họ đòi giám đốc trại phải đích thân đến giải thích cho chúng tôi rõ. Ông ta đã đến, cùng đi với người em rể tên là Russian và hai sĩ quan đội cảnh vệ quốc gia:
– Francese. Tôi là giám đốc trại El Dorado đây. Các anh muốn nói với tôi điều gì vậy?
– Trước hết, tòa án nào đã ra lệnh giam chúng tôi vào trại lao động khổ sai này? Bao nhiêu lâu và về tội gì? Chúng tôi đến Irapa ở Venezuela bằng đường biển. Chúng tôi không phạm một tội nhỏ nào. Vậy thì chúng tôi ở đây vì lẽ gì? Và các ông bắt chúng tôi phải làm khổ sai là nghĩa lý gì?
– Trước hết, hiện nay đang là thời chiến, vậy chúng tôi phải biết rõ các anh là ai.
– Đúng, nhưng điều đó không giải thích được việc chúng tôi bị tống vào trại giam này.
– Các anh đã trốn tránh pháp luật của nước Pháp vì vậy chúng tôi cần phải biết rõ họ có đòi lại các anh không.
– Tôi thừa nhận điều đó, nhưng tôi vẫn cứ hỏi: tại sao lại đối xử với chúng tôi như chúng tôi đang phải chịu án?
– Bây giờ các anh tạm ở đây căn cứ vào điều luật về “vaguesét maleantes”* (*vegueset maleantes (tiếng Tây Ban Nha): luật đối với những người vô cư đi lang thang) trong khi còn điều tra thêm về các anh.
Cuộc tranh luận sẽ còn kéo dài nếu một sĩ quan không đưa ý kiến riêng của mình ra để cắt đứt vấn đề.
– Thưa ông giám đốc, thật ra chúng ta không thể đối xử với năm người này như các tù nhân khác. Trong khi chờ báo cáo về Caracas về hoàn cảnh đặc biệt này, tôi đề nghị sử dụng những người này vào việc khác chứ đừng bắt họ làm đường.
– Những người này nguy hiểm lắm, họ đe dọa sẽ giết giám thị nếu họ bị đánh. Có đúng không?
– Thưa ông giám đốc, chúng tôi không chỉ đe dọa người đó đâu: chúng tôi sẽ giết ngay bất cứ kẻ nào dại dột đánh một người trong chúng tôi.
– Nếu là lính thì sao?
– Cũng vậy thôi. Chúng tôi không làm gì để phải chịu một chế độ như thế này. Luật lệ và chế độ lao tù của nước chúng tôi có thể khủng khiếp và vô nhân đạo hơn của các ông, nhưng bị đánh như súc vật, chúng tôi quyết không chấp nhận.
Viên giám đốc đắc ý quay về phía các sĩ quan của mình: “Các ông đã thấy họ là những người nguy hiểm chưa?” Viên thiếu tá lớn tuổi hơn ngập ngừng một chút rồi kết luận, làm mọi người kinh ngạc:
– Những người Pháp vượt ngục này nói có lý, không điều gì ở Venezuela chứng minh được là họ phải chịu đựng các hình phạt tuân theo luật lệ của trại giam này. Tôi công nhận họ nói đúng. Cho nên có hai diện, thưa ông giám đốc: hoặc ông cho họ làm việc gì khác với các tù nhân thường, hoặc họ không đi làm việc. Để họ chung với mọi người, có ngày họ sẽ bị lính đánh thôi.
-Chúng ta sẽ xét việc đó sau. Bây giờ, cứ để họ ở lại trại. Mai, tôi sẽ cho các ông biết phải làm gì. 
Viêm giám đốc cùng người em rể ra về.
– Tôi cảm ơn các sĩ quan. Họ cho chúng tôi thuốc lá và hứa trong buổi điểm danh tối sẽ thông tri cho sĩ quan và binh lính là tuyệt đối không được đánh chúng tôi bất cứ vì lý do gì.
Chúng tôi ở đây đã được tám ngày. Chúng tôi không phải làm việc. Hôm qua chủ nhật, đã xảy ra một sự việc khủng khiếp. Những người tù Colombia đã rút thăm để xem ai phải giết tên giám thị Mọi Trắng. Thăm rơi vào một người trạc ba mươi tuổi. Họ đã làm cho anh ta một cái muỗng bằng sắt, cán được mài trên nền xi- măng thành một mũi xiên rất nhọn, hai cạnh đều sắc. Người ấy đã can đảm nhận lời cam kết. Anh đâm tên Mọi Trắng ba nhát ở gần tim. Viên giám thị được cấp tốc đưa đi bệnh viện, thủ phạm giết người bị trói vào một cây cột ở giữa trại. Bọn lính đi tìm các vũ khí khác Như một lũ điên, chúng dùng roi vọt quất tứ tung.
Trong cơn tức giận sôi sục, do tôi chưa cởi quần kịp cho nó soát, một tên lính đã quật một roi gân bò vào đùi tôi. Barriére liền cầm một chiếc ghế dài và giơ lên toan phang vào đầu nó. Một tên lính khác dùng lưỡi lê đâm suốt qua cánh tay anh trong lúc tôi cũng đá vào bụng tên lính đã đánh tôi làm y nằm sóng soài ra đất.
Tôi vừa nắm lấy khẩu súng rớt dưới đất thì một có tiếng hô lớn:
– Ngừng lại tất cả! Không được đụng đến mấy người Pháp. Anh người Pháp cũng bỏ súng xuống! – Đó là đại úy Floran đã gặp chúng tôi hôm đầu tiên chúng tôi đến trại.
Ông ta can thiệp đúng vào lúc tôi sắp bắn vào đám lính. Không có ông, chúng tôi chắc có thể giết được một hai tên lính, nhưng chúng tôi cũng bỏ xác một cách ngu ngốc ở cái xứ Venezuela sơn cùng thủy tận này, trong khi chúng tôi đã đi gần tới đích.
Nhờ có sự can thiệp kiên quyết của viên đại úy, bọn lính rời nhóm chúng tôi để đi hành hung chỗ khác. Và đến đây chúng tôi đã chứng kiến một chuyện ghê tởm cực kỳ khó lòng có thể tưởng tượng được.
“Tội nhân” bị trói vào một cái cột ở giữa trại giam và bị ba người, một tên giám thị và hai tên lính, đánh liên tục đến nhừ tử, từ năm giờ chiều đến sáu giờ sáng hôm sau. Đánh đập một con người cho đến chết cũng mất khá nhiều thời gian. Những lúc ngừng đánh (chỉ mấy giây thôi), là để hỏi tội nhân xem tòng phạm là những ai, ai đã đưa cái muỗng, ai đã mài sắc nó. Anh ta không tố giác ai, mặc dầu người ta đã hứa với anh là hễ anh nói ra, cuộc tra tấn sẽ ngưng ngay. Anh ta ngất đi nhiều lần. Họ đổ hàng xô nước cho anh tỉnh lại. Mức độ cao nhất là lúc bốn giờ sáng. Những kẻ tra tấn thấy da thịt nạn nhân không phản ứng nữa dù chỉ là co lại khi bị đánh, nên họ đã dừng lại.
– Nó đã chết chưa? – Một sĩ quan hỏi.
– Không biết nữa.
– Cởi trói ra, bắt nó quỳ sấp xuống
Bị bốn tên lính giữ chặt, người tựa quỳ ở tư thế gần như bò bốn chân. Bấy giờ một tên đao phủ lấy roi gân bò quất một phát thẳng theo các khe giữa hai mông đít, đầu ngọn roi chắc còn đi xa tới quá bộ phận sinh dục. Cú đánh của kẻ tra tấn điêu luyện này làm tội nhân cuối cùng phải rên lên một tiếng. Viên sĩ quan nói:
– Tiếp tục đánh. Nó chưa chết.
Anh ta bị đánh cho đến sáng. Trận đòn xứng đáng với thời Trung Cổ này, có thể làm chết một con ngựa, lại không làm tội nhân chết hẳn. Sau khi họ để anh ta yên một giờ không đánh, và sau khi họ dội vài xô nước vào người, anh ta vẫn còn sức để đứng dậy, tuy cũng được bọn lính đỡ thêm. Anh ta đứng thẳng một lát, không cần tựa vào ai, viên y tá đến cạnh, tay cầm một ly nước:
– Uống tí thuốc xổ đi, mày sẽ hồi lại, – một sĩ quan ra lệnh.
Tội nhân do dự rồi uống liều thuốc một hơi. Một phút sau, anh ta ngã vật ra, vĩnh viễn nằm xuống. Trong cơn hấp hối, từ miệng anh thốt ra một câu: “Đồ ngốc, chúng nó đầu độc mày rồi”.
Tất cả các tù nhân, kể cả chúng tôi, không có ý định làm gì, dù động đậy một ngón tay. Mọi người, không trừ ai, đều khiếp sợ. Đây là lần thứ hai trong đời, tôi muốn chết đi cho xong. Trong khoảng vài ba phút, tôi chú ý đến khẩu súng của một tên lính đứng gần tôi cầm hờ hững. Tôi chỉ kìm lại được khi nghĩ rằng có thể chưa kịp lên qui-lát và bắn vào đám lính thì đã chết rồi.
Một tháng sau. Mọi Trắng lại trở về, và hơn bao giờ hết vẫn là nỗi khiếp sợ của trại giam. Tuy nhiên số nó đã được định đoạt là phải chết ở El Dorado. Một đêm, một người lính gác đã chĩa súng vào nó khi thấy nó đi qua.
– Quỳ xuống, – người lính ra lệnh.
Mọi Trắng tuân theo.
– Cầu kinh đi, mày sẽ chết.
Người đó để nó cầu một bài kinh ngắn rồi hạ nó bằng ba phát súng. Có những tù nhân nói rằng người lính kia ghê tởm thấy tên đao phủ này đánh các tù nhân quá ư man rợ nên đã giết nó. Lại có người kể rằng Mọi Trắng đã tố giác người lính nọ với cấp trên của anh ta, nói rằng nó đã biết anh ta từ hồi ở Caracas trước lúc đi quân dịch theo nó hồi ấy anh ta là một thằng kẻ cắp. Nó đã được chôn cất gần người tù tội nhân, chắc hắn đã từng là kẻ cắp nhưng cũng là một con người có lòng dũng cảm và một phẩm giá khác thường.
Tất cả những sự việc ấy đã làm cho quyết định về chúng tôi bị chậm lại. Các tù nhân khác cũng không được đưa đi làm việc trong mười lăm ngày. Barrière được một bác sĩ trong làng chữa cho khỏi vết thương do lưỡi lê đâm.
Lúc này chúng tôi đã được kính nể. Hôm qua Chapar đã đi làm đầu bếp cho giám đốc ở trong làng. Guittou và Barrière đã được trả tự do vì tin tức về chúng tôi đã được thông báo từ Pháp. Vì hai người đã mãn hạn tù nên họ được thả. Tôi đã khai một tên Ý. Tên thật của tôi cùng với dấu tay và án tù chung thân của tôi đã được thông báo. Deplanque với án hai mươi năm cũng như án của Chapar đều được thông báo, vị giám đốc có vẻ tự hào khi cho chúng tôi biết tin tức nhận được từ bên Pháp, ông nói:
– Tuy nhiên, vì các anh không làm việc gì xấu ở Venezuela, nên các anh chỉ bị giữ một thời gian, sau đó các anh sẽ được trả tự do. Nhưng muốn được vậy, các anh phải làm việc, có thái độ tốt: các anh đang ở trong thời kỳ cần theo dõi.
Nhiều lần nói chuyện với tôi, các sĩ quan phàn nàn về việc khó kiếm ra rau tươi ở trong làng. Trại có một khu nông nghiệp nhưng không có rau, mà chỉ trồng lúa, bắp, đậu đen thôi. Tôi đề nghị sẽ trồng cho họ một vườn rau nếu tôi có hạt giống. ý kiến được chấp thuận ngay.
Điều lợi nhất: Deplanque và tôi được ra khỏi trại, và vì có thêm hai người tù biệt xứ bị bắt giữ ở Luidad Bolivar, nên họ đã nhập bọn với chúng tôi. Một người tên Toto, là dân Paris, người kia dân Corse. Bốn chúng tôi đã làm hai căn nhà nhỏ bằng gỗ tốt, mái lợp lá cọ Deplanque và tôi ở một căn, hai cậu nọ ở căn kia. 
Toto cùng tôi làm những cái bàn cao, bốn chân bàn đặt trong những cái lon đổ dầy dầu hôi để kiến không lên ăn hạt giống. Chúng tôi đã có ngay những cây cà chua, cà tím, đưa tây và đậu xanh. Chúng tôi bắt đầu cấy lên trên những tấm ván vì cây con đã đủ sức chống được kiến. Để trồng cà chua mới, chúng tôi đào một cái hố lúc nào cũng có nước ở bên vườn. Làm như vậy cho cây luôn có độ ẩm và ngăn cách loại ký sinh vốn rất nhiều ở nơi đất chưa được khai thác này.
– Cái gì thế này nhỉ, – Toto gọi tôi. – Anh thử xem hòn đá cuội này, nó sáng biết chừng nào.
– Cậu rửa sạch đi xem.
Rửa xong cậu ta đưa cho tôi coi. Đó là một viên thạch anh, to bằng gạt đậu. Rửa sạch rồi, mặt cắt của nó bóng hơn nhiều vì nó có một lớp vỏ kết rất cứng bao quanh.
– Có phải là kim cương không nhỉ?
– Câm miệng đi Toto, nếu là kim cương thì không phải ba hoa, mày không thấy nếu chúng ta may mắn vớ được một cái mỏ kim cương thì sẽ ra sao à? Giấu đi, để tối về xem sao.
Buổi chiều, tôi dạy toán cho một viên hạ sĩ đang chuẩn bị thi lên cấp sĩ quan. Con người rất mực cao thượng và thẳng thắn ấy (anh đã chứng tỏ những đức tính ấy trong tình bạn dài hai mươi lăm năm với (tôi), bây giờ là đại tá Frasnciseo Bolsgno Utrera. 
– Franclsco, có biết cái gì đây không? Có phải thạch anh không?
– Không phải -Sau khi xem xét rất tỉ mi anh nói – – Đây là kim cương. Anh giấu kỹ đừng cho ai trông thấy. Anh tìm thấy nó ở đâu?
– Dưới gốc cà chua.
– Lạ thật. Có phải anh lấy nước ở sông lên tưới cà chua không? Khi múc nước sông anh có cào xuống đáy làm cho cát lẫn vào nước không?
– Rất có thể như vậy.
– Vậy thì đúng rồi. Viên kim cương này anh đã mang từ dưới sông Rio Caroni lên đấy. Anh có thể tiếp tục kiếm dưới sông đi, nhưng cũng để ý xem trong vườn có còn những viên khác không, vì không bao giờ người ta lại chỉ tìm được có một viên đá quý. Đã kiếm ra một viên ở đâu thì thế nào cũng còn những viên khác. 
Toto bắt tay ngay vào việc.
Chưa bao giờ cậu ta làm nhiều như vậy, đến nỗi hai anh bạn kia, vốn không được chúng tôi kể lại việc này, phải nói:
– Làm vừa vừa tôi Toto, xách nước sông kiểu đó thì chẳng bao lâu sẽ lao lực mà chết. Đã thế lại còn tha cả cát về nữa.
– Đề cho đất tươi hơn các cậu ạ, – Toto đáp, – Đất có lẫn cát, lọc nước tốt hơn.
Mặc cho chúng tôi trêu chọc. Toto cứ tiếp tục xách nước không ngừng. Một hôm vào lúc giữa trưa cậu ta bị ngã ngay trước chỗ chúng tôi đang ngồi ở bóng râm. Trong đống cát văng tứ tung, có một viên đá to bằng hai hạt đậu. Một lần nữa lớp vỏ bộc bị vỡ, nếu không cũng chẳng ai biết. Cậu ta vồ lấy viên đá một cách quá vội vã.
– Này, có phải kim cương không? – Deplanque nói bọn lính bảo là dưới sông có kim cương và vàng đấy.
– Bởi vậy tôi mới xách nhiều nước thế chứ. Các anh cũng thấy là tôi không ngốc chứ. – Toto nói, mãn nguyện vì đã biện minh được cho sự hăng hái của mình. 
Nói tóm lại trong sáu tháng Toto đã có được sáu bảy ca-ra kim cương. Tôi có độ mười hai ca-ra cộng thêm hơn ba chục viên đá nhỏ, và như vậy đã là hàng kinh doanh được rồi, theo lối nói lóng của dân thợ mỏ. Nhưng một hôm tôi kiếm được một viên hơn sáu ca-ra sau này đưa về Caracas dũa đi còn được gần bốn ca-ra. Hiện tôi vẫn còn giữ nó và đeo thường xuyên ở tay. Deplanque và Antartaglia cũng gom góp được vài viên đá quý. Tôi vẫn còn cái plan trong nhà giam cũ, và tôi đã cất cả vào đấy Bọn họ thì lấy những khúc sừng trâu nhọn đầu để làm chỗ giấu các vậy báu nho nhỏ ấy.
Chẳng ai biết gì về việc này, trừ ông đại tá tương lai, lúc này dang là hạ sĩ Francisco Bolagno. Cà chua và các cây khác mọc đều, các sĩ quan trả tiền rất sòng phẳng số rau mà hàng ngày chúng tôi đem lên bếp của họ.
Chúng tôi được tương đối tự do. Không có ai canh gác khi chúng tôi làm việc và ngủ ở hai căn nhà nhỏ. Chúng tôi không bao giờ đi vào trại giam. Chúng tôi được kính nể và đối xử tử tế. Tất nhiên mỗi lần gặp giám đốc là chúng tôi lại năm nỉ để ông cho chúng tôi được hưởng tự do. Lần này ông cũng đáp: “Sắp sửa rồi”. Nhưng chúng tôi ở đây đã được tám tháng mà vẫn chẳng có gì thay đổi. Tôi đã bắt đẩu tính chuyện trốn đi. Toto không chịu, cả mấy cậu kia cũng vậy. Để nghiên cứu giòng sông, tôi kiếm được một cuộn dây và cái lưỡi câu.
Tôi bán cá, đặc biệt loại cá Caribes chuyên ăn thịt, có con nặng đến một ký, hàm răng bố trí như răng cá mập, và cũng khủng khiếp như thế. 
Hôm nay, có chuyện náo động, Gaston Duranton, còn gọi là thằng Khoèo, đã trốn biệt mang theo bảy mươi ngàn bolivar trong két sắt của giám đốc. Câu chuyện về gã giang hồ này khá độc đáo.
Khi còn nhỏ, nó đã ở nhà trừng giới ở đảo Cleron, làm thợ ở xưởng giày tại đó. Một bữa, sợi dây cu-roa dùng để chuyển chiếc giầy đặt trên đầu gối đưa xuống dưới chân nó bị đứt. Nó bị gãy xương hông. Vì chữa chạy không chu đáo, cái xương hông chỉ liền có một nửa: suốt quãng dời niên thiếu và một phần tuổi trưởng thành chân nó cong queo, người nó vẹo một bên. Nhìn nó đi thật là khổ tâm. Thằng nhỏ gày ốm, thân hình vẹo vọ, khó nhọc kéo lê cái chân không còn điều khiển được nữa. Nó vào trại giam năm hai mươi lăm tuổi. Vì phải sống những thời gian dài ở các trại cải tạo, nên không có gì lạ khi ra khỏi đấy, nó trở thành kẻ cắp.
Ai cũng gọi nó là thằng Khoèo. Không mấy người biết tên nó là Gaston Duranton. Nó khoèo, vậy người ta gọi nó là thằng Khoèo có sao đâu. Tuy vậy vẹo vọ như vậy, nhưng nó cũng vượt ngục ra khỏi trại giam và đến được Venezuela. Chuyện ấy xảy ra dưới thời lão độc tài Gomez. Rất ít tù khổ sai thoát khỏi sự đàn áp của lão ta. Chỉ có vài trường hợp ngoại lệ, trong đó phải kể đến trường hợp bác sĩ Bougrat vì bác sĩ đã cứu được tất cả dân chúng đảo ngọc trai “Margarita” khỏi bệnh dịch sốt vàng da.

Thằng Khoèo bị bọn “Sagrada”, tức đội cảnh sát đặc biệt của Gomez bắt và đưa đi làm đường ở Venezuela. Các tù nhân Pháp và Venezuela bị xích vào những hòn lê có in lõm hình hoa huệ Toulon. Mỗi khi tù nhân khiếu nại điều gì, thì người ta lại nói với hắn: “Nhưng mà những thứ dây xích, xì ga ma-ni, hòn lê này là từ trước của mày đem sang đấy chứ? Trông bông huệ kìa!” *(*Hoa huệ vốn là biểu trưng của Vương quốc Pháp kể từ triều đại nhà Capet)
Tóm lại, thằng Khoèo trốn khỏi trại lưu động làm đường. Vài ngày sau, nó bị bắt, và bị đưa trả về nơi giam lưu động nọ. Trước tất cả tù nhân, nó phải nằm sấp trần truồng để chịu một trăm roi gân bò. 
Rất hiếm người chịu đựng nổi trên tám mươi roi. Điều may cho nó là nó gầy ốm, và khi nó nằm bụng sát đất roi không đánh vào gan, bộ phận dễ bị dập nếu bị đánh mạnh. Lệ thường ở đây, sau mỗi lần bị roi vọt hai mông đít bị băm nát, là phải xát muối vào vết thương rồi để nằm ngoài nắng. Nhưng người ta cũng lấy lá cây dày để che đầu cho nó, vì người ta chấp nhận cho nó chết vì đòn roi chứ không thể để cho nó chết nắng được.
Thằng Khoèo lại sống sót được sau nhục hình kiều thời Trung cổ này và lần đầu tiên nó đứng lên, thì lạ thay, nó không còn “khoèo” nữa. Trận đòn đã làm cho chỗ xương nối lệch lại trật khớp và trở về đúng chỗ. Lính và tù đều reo lên coi đó là một phép mầu, và chẳng còn ai hiểu ra sao nữa. Ở cái đất nước mê tín này, người ta cho là Chúa đã thưởng cho nó và đã chịu đựng sự tra tấn một cách xứng đáng. Từ ngày ấy, nó không bị xích, cũng không phải đeo hòn lê nữa. Nó được che chở và chuyển sang việc phân phối nước cho các tù khổ sai. Thân hình nó đã mau nhờn nở nang và ăn được nhiều, nó trở thành một thanh niên cao lớn như lực sĩ. Nước Pháp biết là có những tù khổ sai phải làm đường ở Venezuela. Cho rằng những năng lực này sẽ được áp dụng tốt hơn hết ở Guyane thuộc Pháp, thống chế Franchet d’Esperey được cứ đi công cán để đề nghị với vị độc tài đang vui vì không phải bỏ tiền và cũng có nhân công – trả lại những người đó cho nước Pháp. Gomez chấp nhận, và một chiếc tàu đã cập bến Puerto Cabelle để đón những người này về. ở đấy, có những pha hài hước kinh khủng vì có những người từ các nông trường làm đường ở khắp nơi đến chưa biết chuyện thằng Khoèo.
– A! Marcel khỏe chứ!
– Cậu là ai nhỉ?
– Thằng Khoèo.
– Cậu rỡn mặt với tôi đấy hả! – Tất cả những ai được Gaston chào hỏi đều trả lời như vậy khi thấy chàng trai cao dẹp vừng vàng trên đôi chân thẳng tắp này. Thằng Khoèo còn trẻ và thích đùa nên luôn miệng gọi những ai nó quen trong khi mọi người xuống tàu, và dĩ nhiên, không ai thừa nhận là thằng Khoèo lại có thể đứng thẳng dậy được. ở trại tù khổ sai, tôi được chính nó và những tù khác ở đảo Royale kể lại chuyện này.
Nó lại vượt ngục năm 1943, và trôi giạt về El Dorado. Vì nó đà sông ở Venezuela rồi, nên dĩ nhiên nó không để lộ chuyện nó còn là tù, và nó được giao việc nấu bếp thay cho Chapar chuyển sang làm vườn. Nó ở trong làng cùng với giám đốc, nghĩa là ở bên kia sông.
Trong phòng làm việc của giám đốc có một cái két sắt đựng tiền của trại. Ngày hôm đó, nó lấy cắp bảy mươi ngàn bolivar, tương đương với gần hai mươi ngàn đô-la lúc bấy giờ. Do đó xảy ra chuyện náo động ở khu vườn chúng tôi: ông giám đốc, ông em rể và hai viên chỉ huy đội cảnh vệ làm rum beng lên. Ông giám đốc muốn đưa chúng tôi vào trại. Hai viên sĩ quan không chịu. Họ bảo vệ chúng tôi cũng là bảo vệ việc tiếp tế rau xanh của họ. Chúng tôi cuối cùng cũng thuyết phục được ông giám đốc là chúng tôi không cung cấp được cho ông tin tức gì cả; nếu chúng tôi biết được thì chúng tôi có thể cũng đã đi với nó, rằng mục đích của chúng tôi là được tự do ở Venezuela chứ không phải ở Guyane thuộc Anh, địa điểm duy nhất mà nó có thể đến được. Lần theo vết đàn kền kền đã ăn xác nó, người ta tìm thấy thằng Khoèo chết trong rừng cách trại bảy mươi ki-lô-mét, rất gần biên giới Guyane thuộc Anh. Cách giải thích thứ nhất, cách giản tiện thứ nhất, là nó đã bị người Anh-điêng giết. Về sau, có một người bị bắt ở Giudad Bolivar trong khi đang đổi những tờ giấy bạc năm trăm Bolivar mới tinh. Nhà Ngân hàng đã phát số tiền cho giám đốc trại El Dorado nắm được số hiệu của tập giấy bạc và thấy đấy chính là số tiền bị mất cắp. Tên kia thú nhận và tố giác hai tên khác. Nhưng không sao bắt được hai tên này. Đó là câu chuyện về cuộc đời và cái chết của anh bạn thân của tôi, Gaston Duranton, còn gọi là thằng Khoèo. 
Một số sĩ quan lén lút dùng tù nhân vào việc mò vàng và kim cương ở dòng sông Rio Caroni. Cũng có kết quả khả quan, không nhiều lắm nhưng cũng đủ để kích thích những kẻ đi tìm kim cương. Phía dưới vườn tôi có hai người làm việc suốt ngày với cái nón kiểu Tàu lật ngửa, đầu nhọn ở dưới, vành tròn ở trên. Vì kim cương nặng nhất nên nó lắng xuống đáy nón. Đã có một người chết vì đã lấy cắp của “chu”. Chuyện tai tiếng này làm việc khai thác “mỏ” lén lút phải chấm dứt.
Ở trại có một người, xăm khắp cả thân trên. Trên cổ có dòng chừ: “Đù mẹ thợ hớt tóc”. Tay phải y bị liệt. Miệng y méo xệch và cái lưỡi to thường thè lè ra, dớt dãi chảy dòng dòng làm ai cũng thấy là y bị chứng liệt nửa người. Y là người ở đâu? Không ai biết. Y đến đây trước chúng tôi. Y ở đâu tới? Có điều chắc chắn y là tù khổ sai hay là dân bị biệt xứ đã vượt ngục. Trên ngực y có xăm dòng chữ Bat d’Af (tức Bataillon d’Afrique – tiểu đoàn Phi châu viết tắt). Dòng chữ cái đó cũng như “Đù mẹ thợ cắt tóc” ở phía gáy, làm người ta biết ngay mà không sợ lầm rằng y là tù khổ sai.
Lính và tù đặt tên cho y là Picolino. Y được đối xử tử tế và ngày ngày nhận ba lần xuất ăn chu đáo, có cả thuốc lá. Đôi mắt xanh của y rất sinh động, và cái nhìn của y không phải lúc nào cũng buồn. Khi y nhìn người nào y mến, đồng tử mắt y long lanh lên vì vui thích. Ai nói gì với y, y hiểu hết, nhưng y không nói được, cũng không viết được; tay phải y bị liệt còn bàn tay trái của y lại mất ngón cái và hai ngón khác nữa.
Cái thân tàn ma dại này đứng bám lấy hàng rào dây thép gai hàng giờ liền, đợi tôi mang rau đi ngang, vì đấy là con đường ngày ngày tôi qua lại để mang rau đến bếp của sĩ quan. Buổi sáng, mỗi lần đem rau đến đó, bao giờ tôi cũng dừng lại nói chuyện với Picolino. Y đứng dựa vào dây thép gai, nhìn tôi bằng đôi mắt xanh rất đẹp, đầy sức sống, trong một thân thể gần như đã chết. Tôi ôn tồn nói chuyện với y, và y dùng đầu và mi mắt để lộ cho tôi thấy là y đã hiểu chuyện của tôi. Bộ mặt tê liệt của y lóe sáng lên một chút, và đôi mắt long lanh ấy muốn nói với tôi biết bao nhiêu điều Bao giờ tôi cũng cho y một vài món quà: một mớ cà chua, rau diếp, hay dưa leo, ăn ngay được với nước sốt dầu giấm, hay một quả dưa bỏ nhỏ, một con cá nướng lò than. Y không đói, vì thức ăn ở nhà tù Venezuela rất dồi dào, nhưng những món của tôi cũng lạ miệng so với bữa ăn chính thức. Cùng với quà tặng đó, bao giờ tôi cũng kèm theo vài điếu thuốc. Việc thăm hỏi ngắn ngủi của tôi với Picolino đã trở thành một thói quen cố định làm cho lính và tù gọi y là “Con trai của Papillon”.


Mùa Xuân đen

vietmessenger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào
Post by Sơn râu 30 Nov 2025

31. “Tản mạn” Nhân mùa Phật Đản 2008

Trước ngày Phật Đản 2008, tôi chộp được bản tin của Thông Tấn Xã VC chạy như sau:

Hà Nội (TTXVN) – Ban tổ chức Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 cho biết, 1.500 đại biểu cửa 600 đoàn đến từ 95 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đăng ký Đại lễ, diễn ra từ ngày 13 đến 17/5 tại Hà Nội. Đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 – Phật lịch 2552 là một lễ hội tôn giáo, đan xen tinh hoa văn hóa, nghi lễ truyền thống Phật giáo của các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây là lần đầu tiên Đại lễ được tổ chức tại Việt Nam, và là dịp để giới thiệu những tinh hoa văn hóa của Phật giáo và dân tộc Việt Nam đến thế giới.

Ban tổ chức cho biết Đại lễ sẽ được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, với các phần nghi lễ tôn giáo trang trọng và ấn tượng. Trong thời gian diễn ra Đại lễ có Chương trình nghi lễ-văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, Phật giáo Việt Nam hòa đồng cùng quốc tế, và triển lãm giới thiệu Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc phát triển vững bền.

Các đại biểu cũng sẽ tham gia các chương trình văn hóa, văn nghệ và tham quan di tích lịch sử và thắng cảnh tại Quảng Ninh và Ninh Bình. Đặc biệt trong đêm bế mạc, hàng nghìn đại biểu cùng các tăng ni, phật tử trong và ngoài nước sẽ tham gia lễ đốt nến cầu nguyện vì hòa bình./.

Tôi là một người theo đạo Phật không giống ai, ít khi đi chùa, nghe tụng kinh thì hiểu không nổi, Thầy tụng lâu quá thì tôi buồn ngủ, cái lưng đau phải dựa vào tường, nếu không thì có thể té lăn ra sàn chánh điện, ăn mặn nhiều hơn ăn chay, chấp ngã nặng, hễ nghe ai bênh cộng sản thì nổi nóng muốn phát ngôn tiếng “Đỗ Mười”. Thành ra, ngày cuối đời chắc tôi khó chui vô Niết Bàn cùng bà con cô bác…

Còn nữa, tôi còn cái tội không trọng tăng, tức mấy ông Thầy quốc doanh. Bất chấp ổng thuyết, ổng tụng ra sao, nhưng ổng mà mê và ca tụng cộng sản là tôi từ liền, có điều kiện là tôi “kê” Thầy mà không sợ phạm giới! Cái ông Thầy Chân Quang nào đó trong nước giảng kinh trong mấy cái cassette bán ra nước ngoài, nghe hay hay, nhưng lâu lâu lại ca tụng đảng và “bác Hù”, tôi bực mình ném mấy cái tape vô thùng rác!

Ba Má tôi thường bảo “Phật tại tâm“, thành ra tôi tự an ủi là không chừng trong tim tôi có Phật. Tôi đi đâu trái tim tôi nằm trong lồng ngực đi theo đó, và Phật ở cùng tôi. Tôi cố làm điều thiện, nghĩ điều thiện, yêu lẽ phải, thương người, trừ VC… cho chắc ăn.

Ngày xưa ở Vạn Hạnh, tôi học văn học Việt Nam từ thầy Nguyễn Đăng Thục, và văn học Phật giáo từ Thầy Thích Minh Châu. Sau này bị VC đi trong các trại tù, tôi cay cộng sản, ra nước ngoài nghe tin Thầy Thích Minh Châu làm đại biểu quốc hội VC, tôi coi như Thầy đã chết “từ muôn trăng thế kỷ“! Người theo đạo Phật đúng nghĩa không thể tin và làm việc cho kẻ ác, mà VC là kẻ ác. Theo kẻ ác là phản Phật.

Nếu theo kiểu lý sự của tôi mà xét cho cạn tàu ráo máng, thì bên trong Việt Nam ngày nay có hàng ngàn ông Thầy theo kẻ ác. Theo tin thiên hạ đồn rằng ở hải ngoại chừ cũng có nhiều Thầy “đổi giọng chim đa đa” để về Việt Nam cùng đảng ta dự Phật Đản do VC tổ chức ở Hà Nội? Nếu đúng vậy thì công đức, nghiệp quả của quý Thầy coi như đi đoang là cái chắc!

Năm nay, nhân Phật lịch 2552, chế độ Hà Nội “cắc cớ” “đăng cai” với LHQ để dành tổ chức Đại Lễ Phật Đản tại Trung Tâm Hội Nghị Quốc Gia Hà Nội mà theo tin của VNTTX của Hà Nội thì có đến 1500 đại biểu của 600 phái đoàn từ 95 quốc gia trên thế giới tham dự. Tôi hiểu ngay là cộng sản đã dùng Đại lễ Phật Đản cho nhu cầu tuyên truyền chính trị, còn mấy ông Tây phương, thượng tọa, đại đức, giáo sư, tiến sĩ … nhận lời mời của Hà Nội hay Phật giáo quốc doanh nhà nước là họ bị mà con mắt, chẳng hiểu gì cả. Đối với cộng sản, dường như thế giới vẫn còn khờ khạo như con nít. Tôi có lộng ngôn không? Tôi có vọng ngữ không? Nam Mô A Di Đà Phật, không!

Một chế độ cướp của dân, hành hạ dân, coi dân như cỏ rác, coi Phật, chùa chiền, kinh kệ như phương tiện làm giàu và che mắt thế gian, vô cùng tàn nhẫn, ác độc với đồng loại… thì tổ chức Đại Lễ Phật Đản là xúc phạm Đức Thế Tôn.

Trong tháng 3/2008 vừa qua, trong một cơ duyên không ngờ, thay vì về Canada, tôi bọc một vòng qua Denver ra mắt tập “Blood & Tears on Truong Son Mountain” (Máu và Nước Mắt trên lưng Trường Sơn), ở lại Denver 3 hôm, tôi thăm chùa Như Lai, thăm Thầy Thích Chánh Lạc… và trong một buổi giảng, tôi nghe Thầy “dũa cộng sản rất nặng tay” và Thầy cắt bớt phần giảng, cho tôi 15 phút nói chuyện.

Trước chánh điện, lạy Phật xong, tôi nói chuyện Bi, Trí, Dũng của mấy ông Thầy quốc doanh trong nước cho nó không lâm vào phần tục lụy nhiều mà mang tội. Tôi nói chuyện Phật dạy mà! Tôi nói ông Thầy nào không xót thương, không đau với nỗi đau của chúng sinh và Phật giáo đồ Việt Nam dưới tai ách của cộng sản, ông Thầy đó không có chữ Bi của nhà Phật; ông Thầy nào mà 33 năm nay không nhận ra, không thấy được tội ác của đảng CSVN đốì với đồng bào và Phật giáo, ông Thầy đó không có chữ Trí của Phật; ông thầy nào có được Bi, được Trí mà còn run sợ trước bạo quyền, không dám nói lời thật, không dám bênh vực đạo pháp, lẽ phải, ông Thầy đó không có chữ Dũng của nhà Phật. Không có Bi, không có Trí, không có Dũng… thì không thể là con Phật, không thể làm tăng sĩ hoằng dương Phật pháp được, ngoại trừ làm SƯ QUỐC DOANH. Nếu không có cả Bi, Trí, Dũng mà tiếp tay cho cộng sản dưới màu áo cà-sa, ông Thầy đó là VIỆT GIAN.

Nói đến dây, tôi sợ ai đó quăng lên một cái ghế hay đèn cầy vì tội vọng ngữ, ai ngờ bà con Phật tử vỗ tay ào ào. Tôi vui hết biết, vì được bà con chia sẻ những điều mình nói thật và thẳng từ trái tim và khối óc của mình.

Bạch Đức Thế Tôn! Từ Tây Tạng, qua Miến Điện, đến Việt Nam… Chúng sinh oan khổ dưới kiếp nạn của cộng sản Tầu và cộng sản Việt Nam, con không nghĩ Đức Thế Tôn sẽ có mặt tại Hà Nội trong các ngày 13, 14, 15, 15, 17 tháng 5 này, bất chấp lời tụng kinh của bao nhiêu Thầy từ 95 nước kéo về. Họ là những kẻ không BI, không TRÍ, không DŨNG, họ tụng kinh với khoảng không, với nhang khói dưới mầu cờ đỏ nhuộm thấm máu xương của lương dân Việt Nam!

Bạch Đức Thế Tôn! Trước ngày đản sinh Phật, con không nói điều này không được, con phải nói, dù mai này có phải chui xuống địa ngục, không được lên Niết Bàn cũng nói! Nam Mô Ai Di Đà Phật! Một lần nữa, lạy Đức Thế Tôn! Xin đừng về Hà Nội năm nay!

Vô chùa tụng hết hồi kinh
Bạch Phật cứu độ chúng sinh bao lần?
Phật ngồi đẫm lệ phân vân
Trái tim Bồ Tát vô ngần khổ đau….

Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

Chương 14.

Nhắc lại những trường day nghề đời Tây tôi đã biết.

(Dạy Công Nghệ, Kỹ Nghệ)

Theo tôi hiểu, chánh phủ thuộc địa Pháp, khi đặt chơn vào nước mình, (tôi muốn nói đất Nam kỳ) sau khi lấy được sáu tỉnh, họ chỉ mong đào tạo một số người để làm tay sai cho họ. Tỷ dụ đầu tiên là đào tạo người coi việc biên chép (thơ ký) và người làm thông ngôn giữa họ và người bồn xứ (indigène), thì họ lập ra trường dạy chữ Tây và tiếng Tây, tiêu biểu là trường Trung học gọi Collège Chasseloup-Laubat và sở dĩ họ chọn tên ông nầy đặt tên cho trường là để nhớ ơn và công của lão, với chức bộ trưởng bộ gì đó, có lẽ là bộ Thủy binh (Marine) và tuy chẳng hề đến Nam kỳ, nhưng lão khăng khẳng một mực xin hoàng đế Napoléon III, đừng nghe lời nhượng hay bán lại cho ta và quyết giữ đất nầy làm thuộc địa. Chasseloup- Laubat đột ngột chết năm 1878 và được dựng hình nơi quê quán ở Marennes năm 1874, trong khi tại Sài Gòn nầy, tên ông được chọn để đặt tên cho con đường và cũng tên trường, và đường nầy thay cho đường cũ kỳ cựu nối liền làng Phú mỹ vô tới Chợ Lớn trước gọi Boulevard, sau đổi còn là “rue” và nay gọi đường Nguyễn Thị Minh Khai, thay thế cho tên cũ, “Xách Lu”  (Chasseloup), qua Hồng Thập Tự, rồi xuống làm đường Chữ Thập Đỏ, một thời gian sau tôi nhớ mại đường nầy lại mang tên Xô Viết Nghệ Tĩnh hay Tịnh gì gì đó, và đến đây, muốn viết có chút ích lợi, tôi sẽ ghi vào đời Tây, đường ban sơ đặt tên là đường Stratégique (đường chiến lược), lần 2 đổi gọi đường số  25, qua lần 3 đặt thiệt thọ là rue Chasseloup-Laubat kểtừ năm 1865 và tới năm 1955, mới có tên Việt là đường Hồng Thập Tự. Và tôi rất mừng vì đã tuổi 92 khỏi đi học nơi nhà trường vì thú thật làm sao nhớ nổi bao nhiêu tên đổi thay liền liền như vậy. Không phải tôi dám nói đến đụng chạm, nhưng quả trước đây tôi từng viết và tưởng riêng mình là thổ công đất Sài Gòn này, nhưng nay tôi mới rõ và tự thẹn sức học và biết về môn Sử Địa của tôi vẫn còn kém và thua xa sức biết của một anh làm nghề đạp xe xích lô đương thời, anh xích lô phải thuộc làu và biết rành tên đường tên phố hiện hữu thì mới mong hành nghề và kiếm đủ tiền nuôi vợ nuôi con, chớ như tôi đã già, thì làm sao theo dõi và biết được.

Như phần viết trên đây, tật ham nói sa đà, tôi đã kéo dài và nói nhiều về đường và xuýt lạc đề quên nói tóm lại, khi người Pháp đã có thơ ký và thông ngôn, khi đó họ mới nghĩ qua mớ tay sai khác và họ đã đào tạo lập ra mấy trường sơ đẳng và dạy về kỹ nghệ ở Nam kỳ, tại Sài Gòn, như sau:

a. Trường dạy về máy tàu và máy xe ô tô, tên gọi Ecole des Mécaniciens Asiatiques, sau đổi gọi Ecole Rosel (tên người sáng lập) nay là trường Trung học cơ khí, ở đường Huỳnh Thúc Kháng.

b. Trường dạy bá nghệ, tên Pháp là Ecole Pratique d’Industrie đường Hồng Thập Tự.

c Trường dạy vẽ ở Gia Định (Ecole de dessin à Gia Định)

d. Trường dạy về đồ mộc ở Thủ Dầu Một, vì nơi đây có gỗ danh mộc nhiều.

e. Trường dạy về nghề đồ gốm ở Biên Hòa, vì đất sét ở đây nhiều và hạp nghề.

Tôi kể như trên mà không biết trường nào có trước, trường nào có sau, duy tôi xin kể nhiều về trường Rosel, vì ông nầy là ân nhơn đỡ đầu cho tôi khi tôi thi đậu ra trường và ông cũng nên gọi là ân nhơn của nhiều thế hệ người hành nghề về máy, máy tàu như máy xe hơi, chính ông Tôn Đức Thắng cũng là môn đệ của Rosel trong khóa dạy ban sơ, như tôi đã hiểu.

Rosel, người lùn, không hơn 1 mét 50, nhưng có bề ngang, đi đứng nhậm lẹ, tay bằng miệng miệng bằng tay, tiếng nói rồn rảng như máy nổ, có thể nói ông là thực dân xấu nhứt, ông hay rầy và quở các học trò trường ông, nhưng xin cho tôi cải chính minh oan cho ông và tôi dám quả quyết Rosel là người thương và giúp ích cho người Việt ta nhiều hơn các Tây ở đây tôi đã biết. Rosel là kỹ sư về máy nơi Sở Ba Son (Arsenal) ông xin tách khỏi bộ Thủy binh và ông đã lập ra trường, ban đầu đặt trí và tạm ở chung với trường Bá Nghệ đường Chasseloup-Laubat, năm tạo lập kể là 1906, nhưng qua năm 1908, là thiệt thọ ở nơi hiện nay (đường Huỳnh Thúc Kháng) và năm 1948 nhớ công cán đào tạo nên đặt trường tên là Ecole Rosel. Theo tôi Rosel giỏi nghề giao thiệp, nhờ sửa chữa máy tàu máy xe mà ông thân thiện với các tai to mặt lớn và nhờ giúp nhiều cho thống đốc, khiến nên khi sắp hạng và định lương cho học trò trường, Rosel đã òn ỷ và xin được sắp hạng người học trò của ông được ăn lương ngang hàng với lương thơ ký ngạch Soái phủ, ngang thơ ký dinh Thống đốc (ông cắt nghĩa phải được lương cao thì ông mới tuyển được nhiều người học nghề máy). Ngoài số lương hậu hỷ, thầy thợ dạy nơi trường, ông đều cấp nhà ở khỏi tiền. Vào năm 1922, hai trường dạy nghề đều giao cho Rosel làm hiệu trưởng và gọi chung là Ecole Technique Spéciale de Sài Gòn. Rosel sanh năm 1866 ở Toulon, đậu bằng diplôme trường quốc gia mỹ nghệ của tỉnh Aix, đi lính thủy dưới quyền Thủy sư đề đốc Amiral Courbet, dự trận đánh ở Tonkin, xin nên bộ nhận chức đốc học trường Máy từ 1906 và năm về hưu 1924, được phong chức mécanicien en chef và đặc biệt phong chức mécanicien-inspecteur (thanh tra các trường dạy máy). Lúc kẻ hèn là tôi làm việc giấy, coi về mua vật liệu cho trường, tôi ngán vì học tiếng Pháp mà lần hồi quên mất vì quanh năm chỉ quen với nào bù lon (boulon), nào long đền (rondelle), một phần khác vì nợ bao đồng quá nặng, tôi xin thuyên chuyển và đổi về làm bút toán nơi tòa bố tỉnh Sa Đéc, thì tại trường Máy còn hai công chức kỳ cựu là ông Phạm Công Nghiệp, coi về trả tiền mua vật liệu, ông Nghiệp suốt ba chục niên làm nơi trường, sau mắc bịnh tâm thần, ông Rosel cho ở nhà dưỡng bịnh ngót đôi ba tháng lãnh lương đủ và trọn, một ông nữa là Đinh Văn Long, gọi Nhứt Long, vì chức giáo và nổi tiếng dạy Pháp văn, đào luyện nhiều thế hệ sốp phơ lái ô tô và thầy đội coi máy tàu các tỉnh Nam kỳ và cấp bằng có gạch chữ “ancien élève de l’Ecole dé Mécaniciens Asiatiques, chữ viết tay mực son, những chuyên viên ấy đều được trọng dụng, tỷ như người tôi mang ơn nuôi cơm không nhận tiền là Phạm Văn Lẫm, nhiều năm làm sếp máy hãng mía làm đường ở Hiệp Hòa và như Tư Dền, Sáu Hòa, Hòa Nhỏ, cả ba lái xe cho quan tây lớn và lương thật cao, Dền sốp phơ mà lương 60$ mỗi tháng và chức là major dạy lái và chạy xe cho thống đốc Cognacq

đến Pagès. Rosel, thình lình đang mạnh khỏe, một đêm vào năm 1939, ông dùng cơm tối, bị mắc nghẹn, phu nhơn định sai người đi rước bác sĩ Viel, Rosel cản lại rằng họ ăn giá mắc (10$ thay giá ban ngày là 5$), hà tiện năm đồng bạc, đêm ấy ông nghẹt thở và năm ấy tôi không hay và rất tiếc không được tiễn một quan thầy đỡ đầu tốt bụng. Duy anh Nguyễn Văn Thành, có nhà ở Kho Đạn gần vườn thảo cầm, một tay lo việc tẩm liệm và quan tài của Rosel được đưa xuống tàu chở về an táng ở quê nhà tại Toulon. Khu trường Máy do Rosel tạo lập, chiếm trọn một vuông đất bao gồm bốn đường cái quan trọng, mặt hậu trổ ra đường Hàm Nghi, từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to, Sở Ba Son hiện được tôn trọng và có tượng đồng ông Tôn Đức Thắng, tôi tiếc và viết lại đây không rõ tượng đồng bán thân của Rosel có còn hay đã dẹp nơi lầu thượng trên căn phòng Trường Máy cũ, nhà nầy đã cất lại làm trung học.

Nhắc lại ông Emmanuel Rosel, tuy được kể về hưu năm 1924 như đã nói nơi đoạn trên, nhưng ông vẫn được lưu dụng tại chức cho đến ngày mãn phần, thọ 73 tuổi, vả lại những gì tôi nói đây đều do ký ức nhớ chớ không thấy hoặc riêng tôi tôi chưa gặp sách nào kể cho rành về mấy trường công nghệ ở Miền Nam nầy, vậy tôi kể luôn, nơi đường cũ Chasseloup-Laubat, vẫn có một trường tên Pháp gọi “Ecole Professionnelle d’Industrie” sau goi Ecole Pratique d’industrie, tôi không biết lập năm nào và hiệu trưởng tên gì tôi không biết, duy tôi biết lối 1928, vẫn đặt dưới quyền thanh tra của ông Rosel, và trường dạy về làm đồ mộc, học trò ra trường vẫn được tuyển vào xưởng mộc của Tây, là kỹ sư Foinet và một hãng gọi Etablissement Lamorte, đóng bàn, ghế gỗ giá ty, rất khéo, hãng nầy có đặc quyền mua gom gỗ Giá Tỵ và khi nào hàng nầy dư dùng mới bán gỗ Giá Ty ra cho các tiệm Tàu mua về đóng thùng đựng nước và bàn ghế cho dân dùng. Theo tôi biết, trường Bá nghệ đường Chasseloup nầy có một Tây chức là phó giám đốc tên Robert và một phó giám đốc khác tên Thưởng (đốc Thưởng) ông nầy, tôi xin kể lại là thân phụ của ba người trai thảy đều khác lạ: một người là Nguyễn Văn Huấn, làm thơ ký Ngân khố, vào đời tổng thống Pétain, có lịnh sa thải công chức bê bối, Huấn làm việc ở Kho bạc Cần Thơ, viên kho bạc Pháp công trực, không ưng hạ cấp Huấn và phúc trình binh vực Huấn rằng Huấn làm việc trôi chảy, còn tánh tình cứng cỏi, thì không đáng phải bị khiển trách; một người trai nữa là Nguyễn Văn Thìn, là người đã kết bạn với danh kỵ Ba Trà, tôi đã kể trong quyển “Sài Gòn tạp pín lù” và mấy cô lưu lạc; một người trai thứ ba là Nguyễn Văn Khai, làm thông ngôn tòa đại hình Sài Gòn, đẹp trai, nói tiếng Pháp rất thành thạo, người vợ là một huê khôi, nhưng mạng yểu, thường ngồi xe ô tô dạo phố với Ba Trà, khi mãn phần, chồng là Khai khóc và đề bia mộ đá: “Elle a vécu ce que vivent les roses, l’espace d’un matin” (câu nầy tôi nhớ mại và không đạt đúng nguyên văn).

Một trường thứ 3 tôi biết là trường dạy vẽ ở Gia Định, nay vẫn còn, vẫn đào tạo và dạy môn vẽ dessin, luyện công chức sau nầy bổ qua trường Công lộ (Travaux Publics) vẽ họa đồ nhà, vẽ kiểu xây cầu cống, v.v .. và trường nầy cũng đào tạo dessinateur du cadastre et arpenteur, dạy vẽ địa đồ ruộng, đo đất ruộng vườn. Tôi nói đây có phần lộng ngôn nói hỗn, nhưng già rồi nên không sợ ai mà không nói. Sở dĩ theo tôi hiểu, người Tây qua đây là để khai thác thuộc địa, gánh vàng gánh bạc về nước họ, nhưng luật trời chí công, họ như mẹ gà, ấp mớ trứng vịt, nay vịt con đã trộng và đều nhảy xuống nước lội te te trong khi mẹ gà trên bờ kêu trời mà chịu. Những năm 1930 lối đó, bên Pháp có phong trào “Mặt trận bình dân” (Front Populaire) và ở đây, học trò đã trưởng thành và trở nên sinh viên, Pháp muốn giữ sự kìm chế, nên phải mở ở Hà Nội các trường từ Cao đắng (écoles supérieures) đổi tên làm Đại Học (Lycée, Faculté, v.v…) khi ấy mới có nhơn tài bản xứ học với những họa sư giỏi Tardieu, v.v … và trở nên những Nguyễn Gia Trí, những Nguyễn Sáng v.v .. nhưng đến vấn đề nầy, tôi xin nhường lời cho các nhà nghệ thuật kể lại và tôi chỉ biết những chuyện vặt vạnh những chi tiết nhỏ, thuật lại  nghe chơi, và xin nói cho công bình, người Pháp qua đây bỏ xác và đổ máu rất nhiều, nhưng kết quả vẫn ngoài ý muốn của họ.

Kể sơ như về ruộng điền thì ngoài Bắc có Puginier, trong Nam có Evêque d’Adran, hội Mission Evangélique Miền Hậu Giang và trên Nam Vang làm chủ, về tiền tệ, bày ra đúc tiền điếu, đúc bạc trắng, thì Ba Tàu ở Chợ Lớn làm đầu nậu, đúc tiền Chinh (do Sùng Trinh nhà Minh), ăn trên đầu Tây thuộc địa, và Tây Thuộc Địa mảng chạy giấy tờ sang bên Tây, ru chánh phủ và Nội các Tây ngủ say, ở bên nầy bày ra lấy độc trị độc, cho phép hội lập ra, nào Cao Đài, nào Hòa Hảo, nào Phật, nào Gia tô, tranh nhau giành nhau, rốt cuộc binh Nhựt thua ở đâu mà vẫn chạy tràn về đây, gom lúa, thâu cao su, lật đổ toàn quyền Đơ cu (một cu còn chịu không nổi!) và rất cuộc như ngày nay đã thấy, tôi không cần nói nhiều.

Riêng về trường mỹ nghệ, tôi nhớ ở Thủ Dầu Một trước có lập trường dạy làm đồ mộc, và nhờ đó sanh ra những nhà làm đồ mộc nhờ khai thác và đốn cây danh mộc thiên nhiên trên rừng, tỷ như rừng vùng Bình Thuận (cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận), có cây quí, gỗ trắc, cẩm lai, mun, gõ đỏ (gọi cây bên theo tiếng Thổ) nay còn địa danh Tánh Linh, theo tôi là viết và nói sai, chớ thật ra đó là “đất Tấn Linh” vì theo tôi biết ngày xưa ông bà ta để lại: và để lại rất phân minh và rất rành rọt, tiếc thay chúng ta không nghe và không biết áp dụng, tỷ như ở Lục tỉnh ngày xưa, mỗi bên kinh, rạch, mé sông thì đặt ra tỷ như mé tả là chữ Nhiêu (tổng Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa), mé hữu là chữ Phong (Phong Mỹ, Phong Điền) hễ đọc ra là biết ngay thuộc bên nào, và hễ dưới sông thì chữ Tấn (Vàm Tấn là Đại Ngãi (Sốc Trăng Vàm Tấn lại là tiếng mượn của Đàn Thổ, Kơ me) và Tấn Linh mới có nghĩa, chớ Tánh linh, theo tôi thì vô nghĩa. Và nơi Tấn Linh nầy ngày xưa Pháp định mở đường xe lửa (xe hỏa) và dạy đốn gỗ rừng, lúc đó rừng nầy cây gốc thật to thật quá lớn, vả lại rừng thường ngập lụt nên thợ rừng hủy hoại gỗ súc, bày ra làm giàn trò cao và chỉ đốn nội khúc trên của cây gỗ lớn, đổ thừa dưới đất có đỉa có vắt, có thú dữ (cọp voi), tre trúc cũng dùng câu liêm móc giựt chỉ dùng đoạn trên (tre, trúc) và về sau, khi gỗ đã trở nên quá quí mới nhớ lại mà cho thợ rừng đào mốc lấy lại những gốc cây bỏ lóng trước, và khi ấy mới biết tiết kiệm, cưa lại theo mặt gỗ đứng, lấy từng lớp mỏng và dùng làm mặt bàn tròn, có thứ to lớn, đến 1 mét 80 c/m kính tâm hoặc đến 2 mét, nay rất quí hiếm và trước đây còn lại nơi Thủ Dầu Một và nơi Lái Thiêu, hai nhà của hiệu Thuận Hòa và của nhà Nguyễn Long Thao, làm và bán bàn viết mặt đá, ván ngựa (gọi ván ba tức gồm ba tấm ván), ván hai hay ván đôi (có hai tấm) và ván một (chỉ một tấm) v.v. Ở Thủ tôi biết có một người thợ rất khéo và đã chế tạo ra một chiếc xe đạp, chỉ sợi dây sên (chaine) là bằng thép, còn sườn, vành, v.v .. đều toàn bằng gỗ, xe vẫn chạy như xe kim khí, và người thợ mộc nầy đã được phần thưởng xứng đáng. Nhưng xe không được phổ biến và chỉ để thấy người thủ công của ta vẫn hoa tay giỏi. Tóm lại, nghề như vẽ tranh như nay đang thạnh hành, thì có lúc, trong xứ vẫn thiếu vật liệu (thiếu màu vẽ, thiếu  giấy, thiếu đất trắng và đồ nội hóa kém sút, cho nên trường dạy làm đồ gốm ở Biên Hòa, theo tôi biết, một đoạn lối 1950-60, lò gốm Biên Hòa sản xuất gốm kém thua lúc Pháp còn ở đây, phải nói Pháp dạy rất kỹ và rất khó tánh, sinh viên làm món chưa vừa ý, họ đều bỏ không cho nung. Còn ngày nay, tôi chịu thua và không biết được.

Đến đây, bài đã quá dài, và giấy còn thừa, tôi xin nhảy qua giới chơi đồ cổ và kể lại thời Bollaert ông nầy toan xin làm một món gốm, thị trường trả lời vật liệu thiếu (thiếu borate) không làm được. Xin chở ra một cổ vật sang Pháp, thì bị cản trở, nhưng món ấy vẫn chở ra khỏi đây vì chở bằng tàu chiến nên chở dễ dàng.

Nay việc cũ, nhắc lại và xin độc giả bỏ qua cho: trong bốn ngành mỹ nghệ:

1. Về máy móc, tôi làm nơi trường Máy ông Rosel ngót sáu năm từ 1923 đến 1928, tôi mua tôle thiếc lợp nóc chuồng gà Mỹ của thống đốc, được đặc hạng 18 tháng mà thăng lên một cấp, ông Favier phó và ông Rosel cho tôi theo xe để học. lái xe, nhưng tôi thừa dịp để xe đi dạy người khác, còn tôi thì xuống xe và dùng thì giờ đi với chị em và đến nay tôi vẫn không biết lái xe.

2. Về tranh, tôi xét không đủ tiền theo kịp các tay điên tiền. Khi làm nơi viện quốc gia ở vườn thú ở đây, tôi thấy cả mấy chục tấm tranh vẽ màu, mực Tầu, vẽ dầu, có một bức màu ba phụ nữ Bắc, Trung, Nam, ngồi chùm nhum trên sàn nhỏ, tôi cho là rất khéo, những tranh ấy đều do họa sư Pháp vẽ, không biết hiện nay về đâu?

3. Về gốm, mặc dầu tôi chơi gốm cổ, nhưng tôi không sắm gốm Biên Hòa, chỉ có đôi gốm do đời Tây để lại và nay rất khó kiếm. Nay gốm mới tôi không quan tâm nữa.

4. Rốt cuộc, tôi thích đồ mộc, vì theo tôi đồ mộc Thủ và Lái Thiêu, gỗ tự nhiên trắc, cẩm lai, lâu niên thành cổ. Mộng mẹo cho thật khít khao, để lâu năm thì quí. Nhà Tân Hanh, trước ở đường Nguyễn Trãi, khi chủ mất, nhà bị bán, chủ xin được yên thân vùi xác trong một chiếc hòm cây Giá Tỵ, kỳ dư liễn, hoành sơn son thiếp vàng, vô số kể, treo đầy vách, nay về tay ai.

– Tôi đã bỏ qua nhiều dịp tốt, nay tiếc đã muộn. Nhà Tái Hiệp Hòa ở Chợ Lớn, tôi gặp năm nọ đã lâu, 12 (mười hai) chiếc ghế gỗ mun, do thợ Bà Rịa làm năm 1900 hay lối đó, ra giá mỗi ghế 600 bạc cũ đời Thủ hiến Trần Văn Hữu, cả thảy giá 7.200, tôi cò kè trả bớt không được, khi về nhà lấy tiền trở lại chủ nhựt sau thì ghế đã bán mất, tiếc quá. – Nhà Huê Hưng chứa cả kho đồ mộc kiểu đời Thanh, sập ba thành, bàn mặt đá quí giá rẻ mạt, nhưng mua về không chỗ chứa, nay đâu còn? Nhà Huê Hưng cũng đã dẹp.

– Lúc ở Sa Đéc, chủ Quảng Đông tiệm mộc tên Đăng Quán, quen thân, một hôm tôi mời chơi bài thiên cửu, Quán nói mắc dỡ nhà cũ cho kịp sáng chủ nhận tiền, sau đó Quán cho biết phải đỡ nhẹ lấy bộ cột cho kịp lúc vì cột ấy toàn gỗ mun, mà người chủ bán nói cột sơn dầu hắc bán giá cột chụm củi và rõ lại người chủ ấy là bạn học bên Tây đồng song với bác vật Lưu Văn Lang, tên Lương Văn Mỹ, kỹ sư công chánh.

Tôi gần đây đã gặp một bộ ghế cây trắc giả bắt chước bàn ghế dây mây đan (rotin tressé) mộng khít rịt, tôi mua không kịp, nay về đảo Đài Loan, đáng tiếc, hoặc tại tôi vô duyên.

(viết tiếp từ 27-9-1993)

Tôi viết ba lăng nhăng trối mặc tôi, các bạn trẻ xài được thì cứ xài …

Nay tôi nhớ lại, năm 1919, khi tôi được chấm cho vào học nơi trường Trung học tây Chasseloup-Laubat, lúc ấy chưa có người quen ở Sài Gòn ưng làm correspondant tức người bảo chứng cho học trò ở xa nhà là tôi, (sau tôi xin được ông Thanh, em ông Cao Đắc Lỹ là chú của bạn đồng song tên Tệt (Trước, Tre) nhận cho tôi ở đậu ngày nghỉ lễ hay chủ nhựt, nhưng tôi cũng ít đến sẵn tánh nhút nhát, nhà ông Thanh nầy nhớ số 90 đường dEspagne, và có chứa ông Nguyễn Văn Sâm, làm chánh trị bị giết trên xe buýt, cũng người Sốc Trăng, nhắc lại năm 1919, tôi thường ghé một nhà ở đường Mạc Mahon, ngang dinh Toàn quyền, mỗi khi ra trường ngày nghỉ lễ, vì nhà nầy là trụ sở của một trường do một ông Tây làm quan to ở Bắc, về hưu, nên vô Sài Gòn xin được lập trường lớn dạy nghề thêu thùa, nhưng tuyển học trò trong Nam không ai vào học, vỏn vẹn năm 1919 ấy, chỉ có bốn người học trò, một nữ ba nam, trong số có anh Hải, con ông Quản tên Đủ, làm nghề đóng sách cho tòa bố ở Sốc Trăng, anh Hải nầy có tên khác là Chơn, nhận làm correspondant cho tôi, về sau anh học lươn khươn không ra gì, rồi bỏ học, lại trở nên đứng dọn bàn rồi thăng lên là đầu bếp cho Bussière, tham biện chủ tỉnh tỉnh Sốc Trăng, có dắt Chơn (Hải) sang Pháp làm bồi (boy à tout faire) bồi dọn bàn mà lãnh nấu bếp luôn, chính anh Chơn khi đi bên Tây rồi trở về, đã nói với tôi, tưởng đâu ông chủ là Bussière, chức ở bên nầy là quan cai trị chủ tỉnh, thế mà ở bên Pháp, ông chỉ có duy nhứt một con bò cái nuôi để lấy sữa và nhà ở của ông và vườn của ông là nhà mướn, vườn mướn, còn lúc học thêu ở Sài Gòn, học trò gì mà chỉ một nữ ba nam, không thấy thầy đến dạy, bốn người ở chầu chực, chờ lãnh tiền cơm rồi thua buồn lần hồi bỏ học, ông chủ trường là ông Georges Bois, lặn hụp rồi cũng mất tăm mất dạng và trường dẹp luôn, day qua tôi có bạn là Tăng Thiện Lăng, học lớp nhứt ở Sốc Trăng, năm 1919, lên đây học trường Máy của ông Rosel, Lăng trong lúc học năm đầu (1ère année), lén lấy sắt lấy thép, lấy chì, của nhà trường, rồi lén lút đúc bàn tay sắt (tên tiếng Pháp là coup de poing américain) và đúc lưỡi búa thép, lưỡi bề ngang 4 hay 5 c/m, cán bằng gỗ cứng, búa lợi hại và bén ngót, dùng để đi đánh lộn giữa học trò các trường tại Sài Gòn thì chém hay búa đầu nhau, học trò trường Chasseloup chia ra có hai phe, phe dân tộc Nam, gồm hai nhóm, nhóm có học bổng chánh phủ hoặc làng xã tỉnh hạt cấp, nhóm khác không học bổng và do cha mẹ khá giả xin được cho con vào học, hai nhóm nầy nói chí tình, đều lo học hành và giữ hạnh kiểm tốt, duy trường Chasseloup vẫn có một nhóm thứ 3 mà có lẽ là nhóm chánh, gồm học trò dân tộc Âu Pháp, chữ gọi “quartier européen” nhưng kỳ trung đó là dân tộc phức tạp Tây lai có, Chà và đen, dân Pháp có, mà phần lớn là Ba Tầu, con Chệc nhà giàu trong Chợ Lớn hoặc con các bang trưởng Quảng Đông hay Triều Châu ở Lục tỉnh gởi lên, thảy đều có máu mặt, thảy đều là con nhà giàu sụ, tóm lại thảy đều là công tử mất dạy, học không lo học chữ và nghĩa và học những thói xấu, tập làm công tử bột, làm trai hư “có mèo” có bồ bạn gái trường Áo Tím (nữ trung học Gia Long) hoặc bạn gái “đầm lai” trường áo trắng Nhà Phước (do các dì phước, cũng gọi bà phước (soeur ou révérendre mère carmélites gọi tắt Nhà Phước, Nhà Trắng) hoặc học trò nữ quốc tịch Âu Pháp trường Ecole des filles françaises, sau gọi trường Marie Curie, nhưng nói đây như vậy là tôi nói tằm ruồng vô trật tự và xin nói cho chính đáng (hay chí đáng), riêng phận tôi, ai mặc ai, tôi giữ phận tôi – và Ba tôi hy sanh, nhịn ăn nhịn mặc, gởi lên tôi đây để học chữ Tây, cơm nhà áo mẹ, tôi học rất chuyên cần và rất phát, không dám làm phụ lòng Ba tôi, cho nên nói chí tình Chơn (Hải) rồi Tăng Thiện Lăng, mỗi chủ nhựt hay ngày nghỉ lễ, thường đến đón tiếp tôi từ cổng cửa lớn trường Chasseloup là để cùng nhau đi hoặc ăn sáng, tô hủ tíu ba xu, hoặc uống giải khát “Au Rendez vous des Poilus” là quán ở đường Amiral Courbet, chuyên bán cà phê, nước ngọt, sau nầy Lăng học đủ ba năm nơi Trường Máy Rosel và được bổ nhiệm làm đội máy coi tàu và giữ kho gọi  Vọng Thoàn, nơi tỉnh nhà Sốc Trăng và phân tay với tôi, thi đậu và làm thơ ký quét bu rô làm tôi mọi cho chánh phủ Tây,Hơn Nửa Đời Hư là vậy, nói càng xấu nhục …

Trở lại như đã nói rồi trường Trung học collège Chasseloup-Laubat lập ra từ năm 1874, nhưng tương đương với trường công và chánh thức của Tây bày ra, nhưng một vì khó có phương tiện nhập học trường công nầy, hai là một lẽ riêng hiểu của tôi là dạy chữ mà ít lo và để tự do phóng túng về đạo đức, một lẽ thứ ba là về sau có phong trào Tây không theo Thiên chúa giáo, hoặc theo đạo Tam Điểm (loge maconique), ghét và nghịch với đạo Gia tô, nên bên Gia tô giáo nảy lập ra một trường nay đồ sộ và còn tại chỗ duy đã đổi cách dạy dỗ khác, tôi muốn gọi và nói và cám ơn tuy không có học trường nầy và đó là Institution Taberd, trường chọn tên như vậy, nhưng người tạo lập, sáng tạo và tự xuất tiền lập công đức lớn thật lớn này là ông Kerlan, mà tôi xin kể sơ lược như vầy:

Kerlan, trước tiên là người thế tục (laique) (không theo đạo Gia tô. Tên họ đủ là Henri, Marie Thérèse, Alexandre Juhel des Isles de Kerlan. Sanh năm 1844 tại Angers (Maine et Loire), khu paroisse de la Trinite. Học trường collège de Combrée, và tuy không theo đạo nhưng được tuyển cho nhập học ngày 26 septembre 1864 nơi trường chủng viện Séminaire des Missions Entrangères. Được phong mục sư prêtre ngày 15 juin 1867 và ngày 16 aout được cắt về xứ Nam kỳ.

Đến địa phận nầy, đức Cha Mgr Miche sai đi Bà Rịa, trước giữ chức Trợ tế (vicaire) rồi lên làm mục sư (curé). Tiếp theo đó, được cho làm phụ tá cho cha R.P. Gernot giữ họ đạo dòng Cái Mơn. Đến năm 1871, được làm mục sư (curé) địa phận Sài Gòn. Kể từ đây, ông chuyên và bành trướng làm toàn việc thiện. Ông xuất tiền nhà, tiền của ông có, lập năm 1874 (đồng thời đồng niên với trường Bổn Quốc collège Chasseloup) ông lập Institution Taberd nầy. Trường chuyên dành cho trẻ lai bị bỏ rơi … , tiếc thay danh ấy thọ nhưng mạng lại yểu, Kerlan về với Chúa ngày 27 Mars 1877, lên trái trời (petite vérole noire (trái đen), tức lên trái (variole) do một bịnh nhơn lây cho. Trường Taberd mở rộng, xây lầu, cất cao và rộng thêm mãi, nhưng nay tôi không vào bên trong được và không biết nơi sân trong của trường có còn tồn tại tượng đồng bán thân của Kerlan chăng, tượng nầy do Thủy sư Đề Đốc Dupré dựng lên và đến ngày 14 Mai 1877 Dupré đặt tên Kerlan cho một con đường mới nối đại lộ Norodom qua đường Lucien Mossard.

(viết ngày 27-9-1993)

Trường Taberd hữu ích và đã đào tạo khá nhiều công chức cho chánh phủ thuộc địa Pháp. Môn dạy chữ rất hay, thi đậu rất nhiều, nhưng cũng dạy kinh, các thầy dòng có tục hết lòng dạy bọn đẹp trai, gọi tục ấy là “cộ” Ra trường quen kinh và theo Gia tô giáo cũng bộn. Từ những năm 1920 về sau, trong Nam người như của  cải, phát mạnh, lúa có giá, dân sanh đẻ mau, Nhà Nướcthuộc địa mở ra lớp dạy và luyện thi tú tài, gọi “tú tài bản xứ” lớp ấy mở tại trường Chasseloup học sinh học tấn phát, thi đỗ bằng Brevet Supérieur, Baccalaureat français rồi “lô canh” rồi tăng collège thành lycée trường lang sa, tách nhóm Việt qua lập trường Pétrus (1928) và môn dạy lấy cấp bằng thấy kiếm ăn được, trường nở ra:

– Trường Nguyễn Xích Hồng, mời giáo sư Pháp dạy, lương tính mỗi giờ 5$00.

– Trường Huỳnh Công Phát nối lấy chỗ và N.X.H. chạy vô Gia Định.

– Trường Chấn Hưng hay Chấn Thanh ở Cầu Muối (Ông Lãnh).

– Trường Huỳnh Khương Ninh, học trò ương ngạnh, giấu thầy nghề võ, học môn xành tả (thần đả) thử sức chém đứt lưng xảy ra án mạng …

– Trường Nguyễn Phan Long, ông chọn rể, gả con, nghĩa tế, công tử con nhà giàu lớn ở Sốc Trăng, tên Giang Đông Đẩu, ông Long thấy không dạy được, vận động cho Đẩu qua Pháp, Đẩu trở về chở theo một ô tô nhớ như hiệu Alpha-Roméo, đăng bộ tại Paris, qua Sài Gòn, lính cò phạt, phải gởi giấy phạt sang Paris, lính Tây, cò (cẩm) Pháp chịu thua, Đẩu về làm công tử tại quê nhà ở quận Long Phú (Bang Long) chủ quận đốc phủ Lê Quang Trường cũng chạy mặt.

Trường mở rộng xuống Cần Thơ cũng có trường tư, trường Đồng Nai của Đoàn Quan Tấn và một trường nữa của Lê Bá Cang ở Sài Gòn thì ở Cần Thơ có trường Hậu Giang (Bassac của Phạm Văn Bạch). Rồi nào trường của Cao Đài, của Hòa Hảo, trường Nguyễn Tích Thiện ở châu thành Sốc Trăng, giám thị trường là Phan Văn Hùm, sau trường đổi chủ và giao cho thầy cũ lớp nhứt, trường tỉnh Sốc Trăng là ông Trần Văn Điền, là thầy đào tạo ra tôi ngày nay, với ân sư dạy lớp nhì (cours moyen) là ông Trần Tấn Chức.

(viết tiếp ngày 28-9-1993, nối bài “Vườn ông Thượng”)

Papillon Người tù khổ sai

vietmessenger.com

Henri Charrière

Bản dịch Thái Huy Quang

VÀNG SON xuất bản 1973

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

Bài 48

Nước Venezuela – Các ngư dân ở Irapa.

Tôi đã khám phá ra một thế giới mới, những con người, một nền văn minh hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Những phút đầu tiên trên đất Venezuela vô cùng cảm động, và phải một tài năng hơn hẳn cái vốn liếng chữ nghĩa ít ỏi của tôi mới giải thích, diễn đạt, vẽ lên nổi cái không khí tiếp đón nồng nhiệt mà những người dân hào hiệp ở đây đã giành cho chúng tôi. Đàn ông, da trắng hay da đen, nhưng đa số là da màu sáng như màu da trắng bị rám nắng vài ngày, hầu hết mặc quần xắn đến đầu gối.

– Tội nghiệp, sao trông các ông thảm hại đến vậy – cánh đàn ông nói.

Làng dân chài nơi chúng tôi đến là làng Irapa, một công xã thuộc một bang tên là Sucre. Các cô gái và các thiếu phụ, hơi nhỏ người nhưng duyên dáng vô cùng, và cả các bà già nữa không trừ một ai, đều biến thành nữ y tá, xơ từ thiện hay mẹ bảo trợ chúng tôiHọ tập họp ở một căn nhà đã mắc sẵn năm cái võng len, kê sẵn bàn cho chúng tôi, họ lấy dầu ca-cao xoa lên thân thể chúng tôi từ đầu đến chân, không bỏ sót một centimét da bị tróc. Chúng tôi lả đi vì đói và mệt, vì phải nhịn ăn quá lâu ngày nên bị mất nhiều nước. Những người vùng ven biển này biết là chúng tôi cần ngủ nhưng cũng phải cho ăn chút ít một.

Mỗi đứa chúng tôi nằm trên võng, vừa ngủ, vừa được các nữ y tá bất ngờ bón cho ăn từng miếng. Tôi quá mệt mỏi, khi được đặt lên võng, những chỗ da bị trơ thịt ra được xoa dầu ca-cao rồi, sức lực của tôi đã hoàn toàn tan biến đâu mất và tôi cứ mơ mơ màng màng ngủ, ăn và uống mà không biết gì hết.

Một món gì giống cháo bột sắn ở quê tôi không được dạ dày rỗng tuếch của tôi tiếp thu. Mà không phải chỉ mình tôi như vậy. Tất cả chúng tôi đã nhiều lần nôn ra một phần hay tất cả những món ăn mà các bà các chị đã đưa vào mồm chúng tôi từng muỗng một.

Dân trong làng này nghèo xác xơ. Nhưng tất cả mọi người, không trừ một ai, đều giúp đỡ chúng tôi. Ba ngày sau, do được tập thể này săn sóc và do tuổi còn trẻ, chúng tôi đã gần lại người. Chúng tôi ngồi dậy hàng giờ dưới mái lán lợp bằng lá dừa râm mát, các bạn tôi và tôi đã trò chuyện với người làng. Họ không dư dả để lo chúng tôi có quần áo mặc ngay một lúc. Và những nhóm nhỏ đã được hình thành. Nhóm này chuyên lo cho Guittou, nhóm nọ, cho Deplanque. Độ gần mười lo cho tôi.

Những ngày đầu, họ cho chúng tôi mặc đủ thứ đồ hú họa, cũ kỹ nhưng rất sạch. Bây giờ, mỗi khi có điều kiện, họ mua cho chúng tôi chiếc áo sơ-mi mới, cái quần dài, sợi thắt lưng hay đôi giày vải. Trong số phụ nữ săn sóc tôi có những cô gái trẻ, dân tộc Anh-điêng pha trộn với máu Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha. Một cô tên là Tibisay, cô kia là Nenita. Các cô đã mua cho tôi một cái áo sơ mi, một cái quần dài, một đôi giày vải mà họ gọi là “aspargate”, đế giày bằng da, không có gót, phần che chân là sợi vải tết lại. Chỉ có cổ chân và gót chân được bao bọc còn ngón chân thì để hở.

– Không cần hỏi các anh từ đâu đến. Cứ trông các anh xăm mình, chúng tôi cũng biết là các anh đã vượt ngục từ trại giam của Pháp.

Bút ký chiến trường – Người lính dần đi xa

Phan Nhật Nam.

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

Khi Beo Gấm trở về núi cũ.. (*)
(*) “Beo Gấm Chiến Trường”: Danh hiệu của Tướng Quân Lê Quang Lưỡng, Nguyên Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù/QLVNCH. (1972-1975)

1. Mở trận. Năm 1963, anh là viên thiếu úy hai-mươi tuổi, vừa ra trường, đến trình diện Tiểu Đoàn 7 Dù, doanh trại đóng tại phi trường Biên Hòa, căn cứ Không Đoàn 23. Anh ngơ ngác lạc lõng giữa đám sĩ quan xa lạ, sành sõi, lớn tuổi cùng chung đơn vị trong buổi đầu tiếp xúc – Những “ông sĩ quan nhảy dù” – Anh gọi họ như thế. Anh cũng rơi vào tình cảnh bối rối, ngần ngại đối với những người lính cứng cỏi, dạn dày chiến trận mà anh nhận nhiệm vụ chỉ huy. Thế nên, có dịp rảnh rỗi,  anh theo xe lam ba bánh qua vùng Ngã Ba Tam Hiệp, tìm đến những gã bạn thân quen cùng khóa như một cách tự nâng đỡ – Những thiếu uý thuộc Tiểu Đoàn 5, chung hệ thống Chiến Đoàn 2 Dù với tiểu đoàn của anh. 
..Thằng nầy chung khóa với tôi, đại úy. Hắn là một trong mấy đứa nhỏ tuổi nhất khóa! Thiếu Úy Hiếu giới thiệu anh với viên đại đội trưởng. 
– Không cần nói, tao nhìn là biết ngay. Viên đại úy tỏ vẻ thông cảm, cách thân mật của kẻ đàn anh.. Mầy ở đây với thằng Hiếu, ra ngồi chơi ngoài quán, hoặc xuống dưới câu lạc bộ, đừng đi đâu xa. Lát nữa, tao cũng có chuyện bên tiểu đoàn 7, để tao chở về bển.. Mầy ở đại đội của ai?
– Thưa đại úy.. Tôi.. em ở đại đội ông Phát. Anh lúng túng, ngượng ngập, tội nghiệp. 
– Phát “râu” hả? Ổng bạn tao, mầy ở với ông Phát là có phước, ổng chịu chơi, dễ tính. Đụng phải đại đội thằng “Lh” là chết ngay. Cái mặt ngơ ngơ như mầy chịu gì nổi mấy giả! 
Khi viên đại úy bước đi, anh nói với Hiếu: Đại đội trưởng của mầy vui quá, bên tao, mấy ông đại úy nghiêm lắm, nhất là tiểu đoàn trưởng. 
– Nhảy dù ở đâu cũng vậy, tiểu đoàn trưởng ở đây còn nghiêm hơn nữa, nhưng “ông Lưỡng tao” dễ lắm, cả tiểu đoàn ai cũng quý và phục ổng. Ổng cùng khóa với ông tiểu đoàn trưởng như tao với mầy vậy, nên không hề có chuyện mất lòng. Anh nhận thực lời bạn với ý nghĩ: Hóa ra, trong nhảy dù cũng có một “Ông Đại Úy” xuề xòa, dễ tính và “hay” như vậy. 
Và Đại Úy Lê Quang Lưỡng chứng thật nhận xét trên của những viên thiếu úy sau đó ngay trên chiến địa.

Mật Khu Đỗ Xá nằm giữa hai tỉnh Quảng Ngãi-Kontum vốn là vùng bất khả xâm phạm thuộc Liên Khu V cộng sản do Tướng Nguyễn Đôn chỉ huy. Từ chiến tranh 1946 -1954, nơi nầy đã là căn cứ địa an toàn của toàn vùng Nam-Ngãi-Bình-Phú, nối liền đường chiến lược lên cao nguyên, qua Lào. Binh đoàn viễn chinh Pháp không hề có khả năng hành quân xâm nhập trong suốt thời gian dài chín năm chiến tranh. Năm 1960, khởi cuộc Đông Dương lần hai, Đỗ Xá thêm một lần lập lại chức năng quan trọng của mình với danh xưng “Khu an toàn giải phóng”. Nhưng danh hiệu nầy hoàn toàn bị phá vỡ trong ngày 27 tháng 4, 1964 khi chiến dịch tấn công Đỗ Xá bắt đầu. Từ phi trường Quảng Ngãi, nơi đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân, 18 trực thăng H34 đợt đầu tiên đồng loạt đưa toàn bộ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, mũi nhọn xung kích của  cánh quân B vào trận địa. Phía cộng sản không chỉ bố trí súng chống máy bay chung quanh bãi đáp, nhưng dài theo thung lũng dọc đường bay trực thăng chuyển quân. Chúng ta nghe lời kể từ Đại Úy “Woody” Goodmansee, trưởng toán trực thăng võ trang (nay đã là Trung Tướng Lục Quân hồi hưu).. “Trong đợt đầu, trực thăng bay thấp khoảng 100 bộ, tất cả bốn trực thăng Dragon đều thả khói hai bên trực thăng (để ngụy trang). Tôi có thể thấy các lằn đạn xoẹt ngang dọc từ cả hai bên (lộ trình bay). Trong một vòng bay từ tây sang đông, tôi bị một súng phòng không 50 ly nhắm bắn từ phía nam, một lằn đạn xoẹt qua dưới bụng trực thăng.. (1) 
Đấy là cảnh tượng trên không, dưới đất, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù bị tấn công ngay tại bãi đáp, Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng Ngô Quang Trưởng tung hết bốn đại đội xung kích lẫn đại đội chỉ huy cự địch. Khẩu 57lyKhông Giật của đại đội chỉ huy công vụ (vốn là súng phá công sự, chống chiến xa) nay biến thành vũ khí bắn thẳng để bảo vệ cận phòng bộ chỉ huy tiểu đoàn, bởi bốn đại đội tác chiến đã được lệnh dàn ngang tràn ngập mục tiêu trong thời hạn ngắn nhất. Đại Úy Lê Quang Lưỡng dẫn đầu Đại Đội 54 xung phong tràn qua phòng tuyến giặc, chiếm lĩnh trận địa, không để phía đối phương có đủ thời giờ thu gọn chiến trường, tổ chức đội hình rút lui. Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn II đích thân chỉ huy trận địa từ trên không; trực thăng chở ông và các Tướng Lữ Lan, Trần Văn Minh (Tư lệnh không quân sau nầy) phải bay sát ngọn cây để tránh đạn phòng không, nhìn xuống thấy dạng hình lớp lớp áo rằn ri chuyển động như rừng chuyển sóng. Không nao núng bởi thế trận căng thẳng, lại vốn là chỉ huy trưởng tiên khởi của Liên Đoàn Nhảy Dù (1955-1959), Tướng Trí hiểu rõ năng lực tác chiến của các thành phần đơn vị, nhân sự chỉ huy đang có mặt trên chiến địa (các Thiếu Tá Phan Trọng Chinh, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 50 Bộ Binh; Thiếu Tá Sơn Thương, Liên Đoàn Trưởng Biệt Động Quân trước kia đã là những sĩ quan nhẩy dù thuộc quyền của Tướng Trí), ông thả nốt biệt động quân vào trận, tiếp sức nhảy dù cày sạch vùng bất khả xâm phạm gọi là Đỗ Xá. Chỉ riêng ngày thứ hai của cuộc hành quân, phía biệt động đã tịch thu được một đại liên 30ly, một trung liên, sáu tiểu liên, và 144 súng cá nhân, một ngàn bịch chất nổ, một số lượïng lớn quân trang, lựu đạn, mìn và tài liệu quan trọng. Cuối trận, tổng số vũ khí có thêm hai phòng không 52 ly, một đại liên 30 ly và 69 súng cá nhân với 62 xác đếm tại hiện trường; 17 tù binh bị bắt. 
Cuộc hành quân chấm dứt đúng một tháng sau, 27 tháng 5 do Trung Đoàn 50 Bộ Binh của Thiếu Tá Phan Trọng Chinh hoàn tất quét sạch toàn vùng Đỗ Xá khi Nhảy Dù và Biệt Động Quân đã kết thành vòng đai chận bít không để lực lượng cộng sản chạy lẫn vào vùng núi phía tây, hoặc về phía nam Tây Nguyên. Số lượng vũ khí và nhân mạng phía cộng sản bị thiệt hại như kể trên không phải là một thắng lợi quân sự quá to lớn, nhưng đứng về mặt chính trị đã chứng minh điều quan trọng: Sau những xáo trộn chính trị, tình hình quân sự không ổn định (1963-64), Quân Lực VNCH đã lấy lại sức mạnh chiến đấu cơ hữu, có khả năng thực hiện những cuộc hành quân lớn cấp trung đoàn, sư đoàn, nếu như những sĩ quan tham mưu, chỉ huy được yểm trợ xác đáng, và nhất là để họ toàn quyền điều động đơn vị quân binh theo thực tế chiến trường chứ không là một biểu diễn bề mặt vì mục tiêu chính trị.

Mặc biến động chính trị bày cảnh hỗn loạn cực độ ở Sàigòn, người lính nơi chiến địa vẫn vững chắc tay súng. Tháng Giêng 1965, Chiến Đoàn 2 Dù xử dụng Tiểu Đoàn 7 Dù làm thành phần nút chặn để không cho lực lượng cộng sản chạy thoát ra ngã Quốc Lộ 15 (đoạn nối Sàigòn-Vũng Tàu dọc chân núi Ông Trịnh, vùng có tên Mật Khu Hắc Dịch) và hai Tiểu Đoàn 5, 6 nhẩy trực thăng xuống ngay giữa lòng mật khu, xong cùng lúc lùa địch từ núi ra quốc lộ. Trong đêm tối, viên thiếu úy Tiểu Đoàn 7 nằm sát trên đất, lắng tai nghe phía tiểu đoàn bạn hô rền xung phong sau mỗi đợt trực thăng bắn yểm trợ tiếp cận.. Đạn, bom chém cành lá cây rừng từng tràng rần rật, rung sâu mạch đất. Có lúc, viên sĩ quan trẻ tuổi kia tưởng chừng như toàn khu rừng đồng bốc cháy, và hắn thấy ra dạng hình hàng loạt người xô đẩy, săn đuổi, chạy vùn vụt qua vũng lửa chập chờn vàng tươi, tiếng thét âm âm gào rợn. Bình minh đến từ lúc nào không biết (do lửa đã thay ánh sáng mặt trời xé toang màn đêm) khiến cánh quân Tiểu Đoàn 7 thấy rõ khu rừng hầu như bật tung, rơi rụng hết cành lá, chỉ còn trơ trụi những thân cây xám đen, dựng đứng tua tủa, nghi ngút khói. Qua màn khói dày, viên thiếu úy nhận ra “Ông Lưỡng Tiểu Đoàn 5” đi ngã nghiêng giữa đám cây rừng gãy đổ ngỗn ngang. Khi đi ngang gã thiếu úy, Đại Úy Lưỡng cười vui: “..À thằng em, thấy anh Ba (Đại úy, mang huy hiệu cấp bậc Ba Hoa Mai Vàng) đánh giặc ngon không mậy?” Lần nầy, gã thiếu úy đã có phần cứng cáp, dạn dĩ, y đứng thẳng, đưa tay chào kính với lời kính phục: “Tụi em nằm đây suốt đêm, chờ bên đại úy đuổi vi-xi chạy ra”. Mầy còn nước không? 
“Dạ không, hai ngày nầy lính em cũng không ăn gì hết.” Ờ há, hôm nay còn tết đó mầy.. Đại Úy Lưỡng chuyển câu chuyện qua với những sĩ quan bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 7 đi tới. Cách nói dung dị, từ tốn với âm sắc dễ dàng của người miền Nam.

2. Tác Chiến là một Nghệ Thuật. 
Dẫu mới thành hình cuối năm 1965, nhưng dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng, Tiểu Đoàn 2 Nhẩy Dù đã không hề vấp phạm khuyết điểm (coi như là tất nhiên) của một đơn vị tân lập. Đầu năm 1966, tiểu đoàn khai trận ngay trên Vùng Tuyến Lửa, nam sông Bến Hải. Có thể do công tác điều nghiên kỹ, phía cộng sản nhất quyết diệt gọn Tiểu Đoàn 2 Dù để đột phá mắc xích vòng đai điện tử phía nam khu Phi Quân Sự, hàng rào phòng thủ mà Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara đánh giá có khả năng ngân chận sự xâm nhập quân đội miền Bắc. Nhưng phía chỉ huy quân sự cộng sản của mặt trận Trị-Thiên đã nhầm lẫn khi khai 
chiến cùng với lực lượng Dù gồm hai Tiểu Đoàn 2 và 6. Thế nên, thay vì đánh vỡ được mắc xích như dự định, lực lượng cộng sản lại bị quân nhảy dù quét sạch ra khỏi nam sông Bến Hải, vùng thôn Diêm Hà Trung, Diêm Hà Thượng.. Và hàng rào điện tử cắm được mốc đầu tiên trên những cồn cát bắt đầu từ mạn Bắc Cửa Việt (nơi Sông Đồng Hà đổ ra biển). 
Để tưởng thưởng cho chiến công khai trận, cũng để đơn vị bổ sung quân số sau thiệt hại không tránh khỏi, tiểu đoàn được đưa về giữ an ninh vòng đai ngoại ô Sài Gòn, vùng Xã Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc, Bà Điểm, Hốc Môn, Gia Định. Và như trong câu chuyện thần kỳ, vào một buổi chiều, một đại đội của tiểu đoàn sau ngày hành quân lục soát, bất ngờ gặp phải Tiểu Đoàn Đặc Công của Tỉnh Đội Gia Định.. Lính nhảy dù (do không phải mang ba-lô vì đang hành quân lục soát) tốc chiến xung phong ngay vào đội hình của đơn vị đặc công. Phía cộng sản núng thế trước một địch thủ quá cường mãnh, vừa đánh vừa lui về vùng kinh rạch Xuân Thới Thượng để trở lại khu an toàn Đức Hòa, Đức Huệ, hoặc vùng du kích Củ Chi, Tỉnh Hậu Nghĩa. Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng được tin khẩn báo, huy động toàn thể bốn đại đội tác chiến vây chặt khu vực hành quân.. Bộ đội đặc công cùng đường phải rút vào những ấp Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc, dựa vào giao thông hào, và thành ấp để kháng cự. Không có ưu thế chiến trận do được chuẩn bị trước như thường thủ đắc, không công sự, hầm hào ẩn núp, tác chiến, đơn vị đặc công bị đánh tan ngay sau cuộc giao tranh ngắn ngủi, phải phân tán từng đơn vị tiểu tổ, cá nhân nương bóng tối chém vè vào vùng lau sậy, kinh rạch. Thây người chết nằm chật cả một vùng đồng trống, máu đẫm ướt sênh sếch những gốc chân rạ khô se của những thửa ruộng mới gặt. Thắng lợi quá lớn xẩy ra nơi một vùng cận kề Sài Gòn khiến báo chí, giới chức cao cấp hành chánh, quân sự trung ương có cơ hội đến đến thăm viếng đông đảo. Lần đầu tiên, họ được chứng kiến tận mắt sức chiến đấu thượng phong của binh đội Nhảy Dù Quân Lực Cộng Hòa, dẫu đối phương là đơn vị đặc công sừng sỏ, hậu thân những đơn vị du kích địa phương đã dựng nên những kỳ tích huyền thoại “Bộ đội Mười-tám thôn vườn trầu Hốc Môn, Bà Điểm”, hoặc chiến công vang dội dòng “An Phú Đông nơi hàng dừa xanh soi bóng..”
trong chiến tranh chống Pháp năm xưa. Nay, thời, thế đã đổi, và người cũng đã đổi. Và, tính chất cuộc chiến đã hẳn là thay đổi. Một thời gian sau không lâu, cũng trên đất Gia Định nầy, chúng ta sẽ chứng kiến những chiến công khác của “Lê Lợi 612” (3) với những tiểu đoàn nhảy dù dưới quyền. Lẽ tất nhiên luôn có mặt Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, đơn vị đầu đời của ông.

Với những chiến công thâu đạt cấp kỳ như trên vừa kể, Tiểu Đoàn 2 là đơn vị đầu tiên của Lữ Đoàn Nhảy Dù được ân thưởng Giây Biểu Chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu sau chưa đầy một năm thành lập. Tiểu đoàn cũng là đơn vị độc nhất có một giàn đại đội trưởng thuần cấp bậc đại úy, không riêng đối với nhảy dù mà chắc rằng cũng của toàn quân lực. Đơn vị sẽ chứng tỏ tiếp năng lực vượt trội của mình nơi những chiến trường kế tiếp để trở nên biểu trưng huyền thoại: Đơn vị Không Hề Thất Bại với Người Chỉ Huy có danh hiệu Beo Gấm Chiến Trường.

Mùa đông 1967, vùng Bắc Tây Nguyên, Tỉnh Kontum với những vị trí chiến lược Dak Tô, Dak Sút (“Dak: Suối”) bao quanh bởi các cao độ Ngok Jrong; Ngok Niay; Ngok Wank.. với đỉnh Ngọc Linh trấn thủ (cao 8520 bộ; “Ngọc” do phiên âm từ “Ngok: Núi”) là những vị trí chiến thuật mà phía cộng sản quyết tâm chiếm giữ để nối vùng Tam Biên (Mặt Trận B3) xuống đồng bằng Nam-Ngãi (phần Trận Đỗ Xá đã trình bày tổng quát). Hơn thế nữa, Bộ Tổng quân ủy Hà Nội còn có mục tiêu chiến lược (bao gồm yêu cầu chính trị-quân sự) muốn chứng minh Chiến Thuật Lùng và Diệt do Tướng Westmoreland chủ trương không khả năng thực thi đối với cuộc chiến Miền Nam. Phối hợp với Sư Đoàn 4 Bộ Binh (đơn vị Mỹ nổi tiếng ở mặt trận Triều Tiên 1950-1953), từ giữa năm 1967, Lữ Đoàn 173 Nhẩy Dù Mỹ được đưa vào vùng để thực hiện mục tiêu Lùng và Diệt của Tướng West. Trận chiến kéo dài suốt mùa mưa qua mùa khô giữa ba trung đoàn/Sư Đoàn 320 Bộ Binh Bắc Việt với các đơn vị: Trung Đoàn 503/LĐ173Dù/Mỹ, Trung Đoàn 8, và 12/SĐ4BB/Mỹ bất phân thắng bại. Đơn vị hai bên thay phiên nhau chiếm đóng và phản công lấy lại những ngọn đồi quanh lòng chảo Quận Dak Tô. Điển hình, trận đánh ngày 19 tháng 11 trên Đồi 875 (Cao độ 875 thước), Mỹ xử dụng Tiểu Đoàn 2/TrgĐ503/LĐ173 tiến chiếm mục tiêu, gặp phải thế trận phục kích của Trung Đoàn 174/SĐ320/BV bao vây; phi cơ Mỹ được gọi đến giải vây, lại ném nhầm quả bom 500 pound vào đội hình quân bạn gây thiệt hại trầm trọng. Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn 173 Nhẩy Dù, Sư Đoàn 4 Bộâ Binh phải tăng cường tiếp viện đơn vị lâm chiến. Nhưng mãi đến 22 tháng 11, trận chiến vẫn chưa kế thúc, bởi bộ đội Bắc Việt áp dụng chính xác, khôn ngoan phương thức tác chiến, kỹ thuật tránh bom, pháo Mỹ bằng cách: “Bám chặt thắt lưng địch mà đánh” – Thêm tai nạn dội bom nhầm trong ngày 19/11 làm giới chức Mỹ không dám khai triển toàn diện sức mạnh của phi, pháo cơ hũu. (4) 
Chiến Đoàn 3 Nhẩy Dù do Trung Tá Nguyễn Khoa Nam chỉ huy gồm các Tiểu Đoàn 2, 3, 7 nhận lệnh vào vùng dứt điểm trận địa. Và trận chiến đến đây không còn là thuần túy diễn tiến quân sự giữa hai phe lâm chiến, nhưng đã là mục tiêu để giới chức lãnh đạo của tất cả các bên đánh giá lại khả năng đơn vị và chiến lược, chiến thuật áp dụng. Toàn thế giới, quốc hội, báo chí Mỹ đồng trông vào hoạt động quân sự của Mỹ và Nam Việt Nam ở vùng Tây Nguyên xa khuất nầy để lượng định “Ai Thắng Ai” nơi diễn trường Đông Dương. Cuối cuộc, sau lần xung kích dứt điểm với ba tiểu đoàn, Chiến Đoàn 3 Nhẩy Dù đã dựng nên Lá Cờ Vàng cùng chiếc nón Đỏ giữa vũng rừng bốc màn khói đục, trên đất đá điêu tàn của Đỉnh Ngok Wank, Cao Độ 1416; cũng chấm dứt mưu định đánh chiếm Tây Nguyên trong chiến dịch mùa khô 1967. Chiến cuộc 1972, hay 1975 (phía cộng sản chủ công thực hiện) tại Tây Nguyên sau nầy chỉ là bản sao lại với kinh nghiệm rút tỉa được từ những trận đánh ở những năm 1965, 1967 – Chiếm đóng được Tây Nguyên tức chiếm được Miền Nam – Giá máu của bao nhiêu quân binh qua những chiến công giữ vững Tây Nguyên đã không được người gọi là “Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu” lưu tâm đến trong lần ra lệnh rút bỏ cao nguyên ngày 17 tháng 3, 1975 – Đưa đến hệ quả (tất nhiên) toàn diện sụp đổ Miền Nam, 30 tháng Tư, 1975.

Công trận lừng lẫy nâng cấp Trung Tá Chiến Đoàn Trưởng Nguyễn Khoa Nam nên thành Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng, (Sau biến cố Mậu Thân (4/1968), Chiến Đoàn Dù biên chế thành Lữ Đoàn). Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng được đề nghị giữ chức vụ Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn I Dù, dẫu trên cấp số tổ chức phải là một 
chức vụ với cấp đại tá. Năm 1967 chấm dứt để sắp chứng kiến trận thư hùng mới bắt đầu từ Giao Thừa Mậu Thân, 1968. Và Chiến Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng lại thêm một lần. Chúng ta nên nhắc lại yếu tố: Người Lính Lê Quang Lưỡng chỉ kinh qua những chức vụ chỉ huy trưởng các đơn vị tác chiến kể từ một ngày xa xưa năm 1955 mãi đến hôm ấy. Và những ngày dài lửa đạn sau nầy..

3. Giữa những vũng lửa.. 
31-Tết Mậu Thân, 1968.
Huế là một mặt trận quan trọng thứ hai sau Sài Gòn, là nơi phía cộng sản chiếm đóng được một phần thành phố, khu vực Quận Tả Ngạn Sông Hương (bao gồm Thành Nội, khu dân cư Chợ Đông Ba, Gia Hội) trong thời gian từ 31 tháng 1 đến 24 tháng 2, 1968; thành lập được một tổ chức chính trị, Liên Minh Dân Tộc, Dân Chủ, Hòa Bình. Việc tấn công chiếm đóng Huế tuy đưa đến hậu quả thất bại quân sự (đối với lực lượng cộng sản), nhưng Hà Nội lại chứng tỏ sách lược “Tổng Công Kích-Tổng Nổi Dậy” có cơ sở thực tiễn, phát triển đúng các bước chiến lược song song với những chiến dịch quân sự, và họ đạt được thế thượng phong 
thuận lợi chính trị qua khai hội Hội Nghị Paris (1968-1973). Mặt trận Huế có nhiều giai đoạn với nhiều đơn vị tham chiến: Sư Đoàn I Bộ Binh với Đại Đội Trinh Sát Hắc Báo; Chiến Đoàn A/SĐ/TQLC; Liên Đoàn Biệt Động Quân; Thiết Đoàn Chiến Xa; Pháo Binh, và các lực lượng diện địa, cảnh sát thuộc Tiểu Khu Thừa Thiên của phía VNCH; Và thành phần Thủy Quân Lục Chiến, Không Kỵ Mỹ thuộc phía đồng minh. Nhưng do chủ đề của bài viết, chúng tôi chỉ khai triển giai đoạn đầu của chiến dịch (từ 31/1-12/2/1968) với Chiến Đoàn 1 Dù của Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng. Trước Tết Mậu Thân 1968, Chiến Đoàn Dù gồm ba Tiểu Đoàn 2,7,9 chịu trách nhiệm toàn vùng từ Huế đến Quảng Trị suốt từ mùa Hè 1967. Ngày 28/1/1968, bộ chỉ huy Chiến Đoàn 2 của Trung Tá Đào Văn Hùng bàn giao vùng trách nhiệm lại cho Chiến Đoàn 1 của Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng, ba tiểu đoàn kể trên vẫn giữ nguyên nhiệm vụ chỉ định, chỉ thay đổi những vị trí theo phối trí như sau: Tiểu Đoàn 2 chịu trách nhiệm vùng quận Quảng Điền (Đông-Bắc Huế), vùng sình lầy dọc Phá Tam Giang phía đông Quốc Lộ I; Tiểu Đoàn 7 đóng quân ở Căn Cứ Tử Hạ (Cây số 17 – Trên Quốc Lộ I, đoạn Huế-Quảng Trị), chịu trách nhiệm vùng núi Tây Quốc Lộ I; Tiểu Đoàn 9 tăng phái cho Tiểu Khu Quảng Trị (cách Huế 70 cây số về hướng Bắc). Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn 1 cùng với Pháo Đội C của Đại Úy Bùi Đức Lạc đóng cùng vị trí với Tiểu Đoàn 7. Đêm Giao Thừa, Tiểu Đoàn 9 ở Quảng Trị bị tấn công trước hết. Đại Đội 94 đóng ở Tri Bưu, làng Công Giáo cực Tây thành phố bị tràn ngập bởi một tiểu đoàn cộng sản; Đại Đội Trưởng Thừa, hai Trung Đội Trưởng Lộc, Hổ đồng tử trận. Chiến trận được mô tả khách quan như sau qua ghi nhận của viên cố vấn Mỹ: “Đại Đội 94 còn chừng 10 đến 15 người do một hạ sĩ quan chỉ huy (đúng ra là Chuẩn Úy Chỉ – Pnn) , tìm đường về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn đóng tại Hạnh Hoa Thôn (ngỏ vào Quảng Trị – Pnn); đại đội nầy bị tràn ngập bởi Trung Đoàn 812 Bắc Việt (thật sự là Tiểu Đoàn Đặc Công của đơn vị nầy – Pnn) . Phần lớn lính nhảy dù chết tại vị trí chiến đấu, trong số có Cố Vấn John Church – Đúng như tinh thần của Chiến Binh Nhảy Dù – Chiến đấu đến người lính cuối cùng!”(5) Nhưng sau thiệt hại ban đầu, Tiểu Đoàn 9 tổ chức lại thế trận, cùng các lực lượng bộ binh và diện địa Tiểu Khu Quảng Trị bẻ gãy mũi tiến công của binh đội cộng sản; các đại đội của TĐ9 khép chặt vòng vây, diệt gọn các lực lượng xâm nhập thuộc Trung Đoàn 812, thây chết nằm chật cánh đồng Chi Khu Mai Lĩnh. Mặt trận Quảng Trị mau chóng kết thúc trong ngày Mồng 4. Không chút nghỉ ngơi, Tiểu Đoàn 9 trực thăng vận liền vào Thành Mang Cá (nơi đặt Bộ Tư Lệnh SĐIBB với Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng), tăng cường Chiến Đoàn 1 thực hiện nhiệm vụ quan trọng: Bảo vệ Thành Mang Cá, tiến ra giải tỏa các cứ điểm trong Thành Nội, để đạt kết thúc quét sạch toàn diện lực lượng cộng sản chiếm đóng thành phố Huế, hiện thực hùng tâm giữ nước của Quân Dân Miền Nam – Cũng để chứng thực cùng lịch sử – Có hay không có cuộc xâm lăng gọi là “Giải phóng Miền Nam” trên vùng đất khổ nạn đau thương nầy. Từ ngày Mồng Một Tết (30 tháng 1/1968) khi hay tin Tiểu Đoàn 9 bị tấn công ở Quảng Trị, Thiếu Tá Lê Quang Trưởng từ Thành Tử Hạ (Cây Số 17) cùng Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn đã vào đến Mang Cá để chứng thật cùng Tướng Ngô Quang Trưởng điều cao quý cảm khích: Những Người Bạn Chiến Đấu luôn có mặt cùng nhau – Tình bạn trong sáng giữa những người lính chiến không chút tỵ hiềm được hình thành từ ngày tuổi trẻ hơn mười năm trước (Dẫu hai người nay cách nhau một khoảng cách về cấp bậc (Chuẩn Tướng-Thiếu Tá), tuy rằng đã cùng chung một khóa sĩ quan, với một đơn vị đầu đời, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù). Thiếu Tá Lưỡng tổ chức những quân nhân tiền trạm của ba tiểu đoàn Dù (những quân nhân chuyên trách truyền tin, tiếp tế, tải thương..) thành những đơn vị chiến đấu – Và chính thành phần quân nhân tác chiến tại chỗ nầy đã giữ vững Mang Cá trong đợt tấn công đầu tiên của Tiểu Đoàn 12 Đặc công cộng sản. Mang Cá đã là mục tiêu điểm hẹn của tất cả mọi mũi tấn công do chính Thủ Trưởng đơn vị E6 (E: Trung đoàn) Nguyễn Trọng Đấu chỉ huy với ý niệm chỉ đạo chiến dịch – Chiếm được Mang Cá 
có nghĩa đánh sập được trung tâm đầu não của phía quân lực cộng hòa. Biết rõ như thế, nên đêm Mồng Một, hai Tiểu Đoàn 2 và 7 được lệnh bôn tập từ Quảng Điền, An Lỗ về Huế bằng phương tiện đôi chân trên quãng đường mười-bảy cây số dày đặc phục kích. Tiểu Đoàn 7 bị chận ngay tại làng Đốc Sơ, Cầu An Hòa, mối nối phía Tây vào khu vực Hoàng Thành Huế, Đại Úy Nguyễn Lô và đại đội của anh, mũi nhọn xung kích của Tiểu Đoàn 7 bị thiệt hại nặng, tiểu đoàn phải phân tán mỏng quanh những mồ mã, nhường mục tiêu lại cho Tiểu Đoàn 2; Đại Úy Nghi, tiểu đoàn phó TĐ2 chịu phận tử thương trong đợt xung phong đầu tiên. Hai tiểu đoàn tiếp nương nhau băng qua hào rộng, vượt Cầu An Hòa, chiếm Cửa Chánh Tây, sân bay Tây Lộc, bao quanh Thành Mang Cá một vòng đai vững chắc, để từ đây dần chiếm lại Đại Nội do đơn vị Hắc Báo/SĐIBB trách nhiệm trấn giữ, nhưng do ít quân số phải rút lui từ đêm trước. Ngày mồng Bốn (2/2/68), được tăng viện Tiểu Đoàn 9 từ Quảng Trị vào, vòng đai nhảy dù dần nới rộng ra, từ Mang Cá qua Hồ Tỉnh Tâm, Cửa Đông Ba, Cửa Thượng Tứ (Chánh Nam), đường ra khu dân cư, phố chính Trần Hưng Đạo. 

Ngày 12/2, sau hơn hai tuần liên tục tác chiến, quân số tham chiến của Chiến Đoàn 1 Dù chỉ còn lại khoảng left align imagemột tiểu đoàn (thiệt hại hơn 1/3; có đại đội bị hoàn toàn bất khiển dụng) và các mục tiêu chiếm đóng xong lại không đủ quân số phòng giữ, nên chiến đoàn được lệnh bàn giao vùng trách nhiệm lại cho đơn vị bạn, Lữ Đoàn A/SĐ/TQLC. Để từ đây, các đơn vị Quân Lực VNCH hiệp cùng binh đoàn TQLC/Mỹ thực hiện nên khung cảnh bi hùng của cuộc chiến giữ nước: Lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ được kéo lên trên Kỳ Đài giữa mưa mờ mùa Xuân xứ Huế tang tóc, sáng ngày 24 Tháng 2, 1968.Trở lại Sàigòn, Chiến Đoàn 1 Dù được chỉ định ngay nhiệm vụ bảo vệ vòng đai thủ đô, mặt trận phía tây, đường đi về Tây Ninh, Hậu Nghĩa trong Chiến Dịch Trần Hưng Đạo, tiếp Chiến Dịch Toàn Thắng quét sạch, diệt gọn lực lượng cộng sản bôn tập từ những mật khu miền Đông Nam Bộ đánh chiếm Sàigòn từ đêm Giao Thừa Mậu Thân (29/1/1968). Với biên chế mới nên thành cấp lữ đoàn, Trung Tá Lê Quang Lưỡng tiếp tục giữ chức Lữ Đoàn Trưởng. Thật ra, ông đã có quyết định thăng chức từ ngày 1 tháng 1, 1968 – Ngày nhận nhiệm vụ chỉ huy Chiến Đoàn 1.

32- Toàn Thắng, 1970.
Từ giữa năm 1969 qua 1970, Lữ Đoàn I Dù thống thuộc Sư Đoàn Dù phối hợp với Đệ Nhất Sư Đoàn Không Kỵ Mỹ (1stCAV), Sư Đoàn 25 BB/Mỹ; Sư Đoàn25BB/VNCH trong khuôn khổ các cuộc Hành Quân Toàn Thắng dưới quyền Tư Lệnh Quân Đoàn III Tướng Đỗ Cao Trí, đã quét sạch toàn vùng mật khu tưởng như bất khả xâm phạm thuộc các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Long, Phước Long (Sông Bé), những vùng đất mang tên “Chiến Khu Đ; Khu Tam Giác Sắt..v.v”, để chuẩn bị sau nầy cho một kế hoạch lớn, quan trọng hơn một chiến dịch quân sự thuần túy. 
Năm 1970, để thực hiện sách lược “..chận đứng cuộc xâm lăng (của Bắc Việt) đối với quốc gia ấy (Miền Nam Việt Nam), cũng để công cuộc Việt Nam Hóa chiến tranh, và kế hoạch rút quân Mỹ được tiếp tục”(6), chính phủ Mỹ chấp thuận kế hoạch phối hợp và yểm trợ quân lực VNCH hành quân vượt biên đánh chiếm 
bản doanh Trung ương cục cộng sản miền Nam, bí danh “R” – Mục tiêu nằm rộng, sâu trên đất Miên song song với hai vùng lãnh thổ Vùng III và IV của miền Nam (bao gồm các Tỉnh Sông Bé, Bình Long, Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Kiến Tường); và những binh trạm cộng sản đối diện những tỉnh Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuộc thuộc Vùng II Tây Nguyên. Ngày 1 tháng 5, đại quân Miền Nam gồm 50,000 người theo ba mũi tấn công vào đất Miên dưới ba kế hoạch hành quân mang Danh Hiệu: Bình Tây (Vùng II); Toàn Thắng (Vùng III); và Cửu Long (Vùng IV). Riêng tại Vùng III chiến thuật, các cuộc Hành Quân Toàn Thắng (Chỉ danh từ 42 – 46) có những mục tiêu quan yếu nằm trong hai vùng đất mệnh danh, “Lưỡi 
Câu” – Đối diện các Tỉnh Phước Bình (Sông Bé); Bình Long; Tây Ninh); và “Mõ Vẹt” – Đối diện với Tỉnh Hậu Nghĩa, Kiến Tường (Vùng VI). Lực Lượng Nhảy Dù huy động toàn bộ ba lữ đoàn chiếm đóng các căn cứ hỏa lực (CCHL) được đặt tên từ A (Anne), B (Barbara).. đến V (Vichy) xen kẻ với các đơn vị Không 
Kỵ Mỹ (CAV) chạy dài từ Tây Ninh sang Sông Bé, để từ đấy dùng làm căn cứ tấn công vào đất Miên song song với lực lượng Không Kỵ Mỹ, có thiết giáp và phi pháo Mỹ yểm trợ. Chỉ riêng cuộc Hành Quân Toàn Thắng 42, cánh quân phía Bắc gồm Nhảy Dù, SĐ25BB, BĐQ tiến sâu vào đất Miên đến 60 cây số (quân lực Mỹ chỉ được phép vào sâu 30 cây số – Lệnh Tổng Thống Nixon), truy kích Trung Ương Cục cộng sản phải chạy trốn lên vùng Kratié; tịch thu 2000 vũ khí các loại, 308 tấn đạn dược; phía cộng sản bị thiệt hại nặng về nhân mạng với 3, 588 tử thi để lại trận địa (dù phần lớn bộ phận đã được lệnh tránh tác chiến, rút đi không kịp mang theo kho tàng, quân trang dụng). Hành quân Toàn Thắng 43 tiếp theo cũng có kết quả tương tự, gây thiệt hại cho đối phương 3,190 tử thương; và quan trọng hơn hết, toàn bộ khu vực hậu cần gồm căn cứ huấn luyện, bệnh viện giải phẫu đồng bị phá hủy. Quân lực cộng hoà tịch thu hơn hai triệu đạn, 300 xe vận tải của bộ phận chuyển vận.
Tổng kết toàn bộ cuộc hành quân qua Campuchia, chuyên viên quân sự ước tính thiệt hại to lớn của phía cộng sản, với nhân lực bị tổn thất nặng (11,349 chết; 2328 tù binh bị bắt), và quân trang bị, kho tàng bị phá hủy – Số lượng người và vũ khí có khả năng tổ chức, trang bị cho 54 tiểu đoàn trong một năm. Về mặt trận chính trị, chế độ Lonol có điều kiện duy trì vững chắc do tình hình quân sự được cải thiện: Đường Số 4 nối Nam Vang – Hải Cảng Shihanouk được khai thông khi quân lực VNCH chiếm đóng, kiểm soát được vị trí chiến lược Kompong Speu.(7)Nhưng thành quả lớn nhất của cuộc hành quân là số lượng 50,000 người Việt (hoặc Miên gốc Việt) được giải thoát ra khỏi cuộc tàn sát của “Lính Campuchia bao gồm Lính Lonol, lính Shihanouk, lẫn lính Kmer đỏ” nhân dịp sau khi Lonol đảo chính lật đổ chính quyền Shihanouk, cũng là dịp để tàn sát người Việt với oán thù nuôi dưỡng hằng thế kỷ – Nay trút xuống thêm do sự chiếm đóng của phía quân đội cộng sản. Quân và Dân mang căn cước Việt Nam Cộng Hòa hứng chịu toàn phần hậu quả của trận cuồng phong lịch sử hung hãn nầy. 
Màn đầu của chiến dịch “Cứu Dân” được thực hiện do khi Lữ Đoàn 1 điều động đơn vị cơ hữu, Tiểu Đoàn 1 Dù vào hành quân phía bắc Trại Lực Lượng Đặc Biệt Kà-tum (Thuộc Tỉnh Bình Long, sát biên giới Miên-Việt). Tiểu đoàn giải cứu được một thanh niên người Việt sống sót sau cuộc tàn sát ở đồn điền Mimot (Khu đồn điền người Pháp trong lãnh thổ Campuchia). Người nầy cầu xin quân Dù tiếp cứu hàng ngàn người dân đang bị kẹt trong vùng Mimot và sắp sửa lính Miên “cáp-yuồn – Chặt đầu – Cáp: chặt; Yuồn: Việt”. Đại Tá Lưỡng (vinh thăng từ 1/1/1970) khẩn cấp chuyển lời cầu xin đau thương nầy đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn đang họp cùng Tướng Đỗ Cao Trí. Tướng Trí khẩn lệnh Đại Tá Lưỡng xử dụng trực thăng cơ hữu của Việt Nam trong đêm tối đỗ ngay Tiểu Đoàn 2 Dù (đơn vị đầu tiên của Đại Tá Lưỡng) xuống đồn điền Mimot. Lính Miên không phải là địch thủ của lính Dù nên toàn bộ bị bắt sống và hàng ngàn đồng bào sau đó được di chuyển liền về Thiện Ngôn bằng GMC của quân đội.(8) Cuộc hành quân giải cứu có mặt đủ tất cả những giới chức cao cấp nhất của mặt trận: Trung Tướng Đỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Đoàn III, Thiếu Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Nhảy Dù; Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng, và nhiều sĩ quan tham mưu cao cấp của Quân Đoàn III cùng Sư Đoàn Dù.. Bởi vị tư lệnh cao nhất của chiến trường, Tướng Quân Đỗ Cao Trí đã cùng hai đại đội đầu tiên nhảy xuống khu đồn điền Mimot ngay trong đêm. Có một điều cần phải nói rõ thêm: Bản doanh bộ chỉ huy cộng sản của Tướng Trần Văn Trà không xa khu vực Mimot, nhưng “bộ đội giải phóng” án binh bất động để mặc lính Campuchia tàn sát “đồng bào người Việt của họ” vì lý do “bảo mật vị trí, công tác”, cũng như không muốn mất lòng “bạn – Bạn nào hở trời (!?)” đang cho họ mượn đất lập căn cứ theo tinh thần “anh em quốc tế vô sản (!)”. Một lý do nữa có thể dùng giải thích đối với hành vi bất nhân, vô đạo nầy là: Những người Việt (hầu hết là đàn bà, con trẻ) để mặc bị giết do đã bị phía cộng sản (Cộng sản Việt, bất kể Nam hay Bắc) quy kết, xếp loại: “Ngụy”-Ngụy Dân thuộc Ngụy Quân; Ngụy Quyền”. Người cộng sản (Việt cộng, nếu muốn gọi đúng, đủ danh từ, bản chất) vốn nhiều lần im lặng.. Im lặng (và vỗ tay reo mừng) khi quân Pháp giết “Người cách mạng quốc gia” giai đoạn 1939-1945. Im lặng lần Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa (tháng 1/1974); im lặng như lớp lớp sóng biển đông chìm lấp vạn thây người ba nước Đông Dương bị hải tặc Thái, Mã giết hại những ngày họ liều chết vượt biên sau 1975, để sau nầy những người sống sót trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, đơn vị đồng bào thân thương, một vấn đề “bức xúc” của những người cầm quyền ở Hà Nội. Màn hí kịch bi thảm cực độ nầy hiện tại đang diễn ra với cách dàn dựng trân tráo tàn nhẫn nhất được tiếp tay bởi những nhân sự tên gọi Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ, Nhất Hạnh.. Và nhiều kẻ nữa. Sự thật đơn giản trên hình như đã, đang được (thật ra là bị) nhiều người trong chúng ta quên khuất. Quên theo nghĩa của một tiến triển hợp lý, tự nhiên.

33-Hạ Lào, 1971. 
Hành Quân Lam Sơn 719 được khai diễn như một thử thách do toan tính từ những yêu cầu chính trị – Những đòi hỏi chính trị của người Mỹ nơi Toà Bạch Ốc, Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn, và những người Việt cầm quyền tại Dinh Độc Lập, Sàigòn. Đối lại, Bộ Tổng Quân Ủy ở Hà Nội không phải đợi đến tháng Hai, năm 1971 (khi cuộc hành quân khai diễn) mà từ 1959, đã quyết định thành lập Đoàn 559 để thiết lập, kiến tạo đường giây tiếp vận Bắc-Nam chạy dọc theo hai triền Tây-Đông Trường Sơn. Đến năm 1971, công tác đã hoàn thành một đường giây hậu cần chiến lược, triển khai lực lượng và cơ sở vật chất ở nam sông Gianh -Quảng Bình để tạo chân hàng chi viện cho các chiến trường miền Nam, và bảo đảm chiến dịch của chiến trường Trị-Thiên kế cận miền Bắc (9). Đường giây nầy trước tiên (1959) do Thượng Tá Võ Bẩm trách nhiệm (chỉ xử dụng chủ yếu đường Tây Trường Sơn với nhân lực, cơ giới còn là thứ yếu); đến năm 1965, đường phía Đông được hoạch định để nên thành một hệ thống xa lộ (với ống dẫn dầu vào tận các ngã rẽ xuống đồng bằng Trung-Nam Bộ, tổng cọng chiều dài 20,000 cây số) do những chuyên viên xây dựng cao cấp như Phan Trọng Tuệ, Bộ Trưởng Bộ Giao Thông kiêm Tư lệnh lực lượng Đường 559; Tuệ được Hoàng Văn Thái, Tổng cục phó Tổng Cục Hậu Cần (phân biệt với Tướng Hoàng Văn Thái, Tổng Cục Chính Trị) thay thế vào năm 1966. Tất cả đặt dưới quyền Đồng Sĩ Nguyên, Tư Lệnh Bộ Đội Trường Sơn từ 1966 đến 1975. (9Bis) Bởi không biết rõ, đủ những điều trên (hoặc cố tình như không biết), nên những người soạn thảo kế hoạch hành quân Việt-Mỹ ước tính trong vùng Hạ Lào, tại vị trí tiếp vận Tchépone, dọc Đường Số 9 chỉ có khoảng từ 11,000 đến 12, 000 lính Bắc Việt, chủ yếu là thành phần phụ trách tiếp vận, bảo vệ đường giây, với số vũ khí nặng có chừng 1400 đến 2000 đơn vị. Vì ước tính như thế, nên những giới chức Mỹ-Việt chỉ đạo cuộc hành quân nghĩ rằng sẽ chiếm phần ưu thắng khi huy động hết lực lượng trừ bị quốc gia gồm hai Sư Đoàn Dù và TQLC; xử dụng Sư Đoàn I Bộ Binh, một Liên Đoàn Biệt Động Quân/Quân Khu I làm thành phần xung kích có pháo binh diện địa của quân khu, và cơ hữu của các đơn vị yểm trợ; Lữ Đoàn I Thiết Kỵ tăng cường, phối hợp hành quân. Tổng cộng đạo quân gồm từ 15,000 đến 16,000 người. Về phía Mỹ, phi cơ B52 của không lực; chiến đấu cơ của hải quân; trực thăng của bộ binh đảm trách phần yểm trợ bao vùng, không yểm chiến thuật, và không vận, dẫu bị hạn chế bởi Tu Chính Án Cooper – Church cấm xử dụng không quân Mỹ trên đất Lào. Sư Đoàn 101 Nhảy Dù và Lữ Đoàn 1/Sư Đoàn 5 Bộ Binh Cơ Giới Mỹ đảm trách phần an ninh bên trong lãnh thổ Việt Nam, phần tiếp giáp với khu vực hành quân của Lam Sơn 719; Pháo Đội 108 Mỹ với pháo tầm xa 175 ly đóng ở Khe Sanh yểm trợ tăng cường cho pháo binh của đơn vị Việt Nam (10) Phần viết tiếp theo sẽ giới hạn diễn tiến cuộc hành quân qua hoạt động của Sư Đoàn Nhẩy Dù liên quan đến Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn I Dù, Đại Tá Lê Quang Lưỡng.

Điểm tiếp vận Tchépone thuộc vùng Binh Trạm 604 và 611 (Lưu ý những phiên hiệu để biết, chúng được xây dựng từ những năm 1960, 1961), nằm trên Đường Số 9 (nối Quảng Trị và Savannakhet của Hạ Lào) cách xa biên giới Lào-Việt khoảng 20 miles (30 cây số). Với ước tính như phần trên vừa trình bày, giới chức quân sự Mỹ-Việt có suy diễn: “Giá như phía cộng sản có tăng cường thêm quân số, lực lượng trừ bị cho chiến trường nầy cũng không thể quá hơn một sư đoàn (!)” Ngày 8 tháng Hai, 1971, chiến dịch bắt đầu với Lữ Đoàn I Dù gồm hai tiểu đoàn cơ hữu (1, 8) tùng thiết chiến xa của Lữ Đoàn I Thiết Kỵ vượt qua Căn Cứ Hỏa Lực Bravo của Tiểu Đoàn 5 (cứ điểm bảo vệ hậu tập) tiến đến Bản Đông, vị trí nằm giữa đoạn đường tới Tchépone. Ngày 9, Tiểu Đoàn 9 trực thăng vận xuống chiếm đóng Bản Đông, làm đầu cầu cho cánh quân bộ của Lữ Đoàn 1 và Lữ Đoàn Thiết Kỵ. Mưa lớn làm con đường biến thành một bãi lầy, dính chắc chiến xa và bộ binh, thêm các thành phần thuộc Trung Đoàn 64/SĐ320CS ngăn chận, phá quấy liên tục, nên đoàn quân chỉ có thể di chuyển được một đoạn ngắn tối thiểu trong hai ngày 9, 10.. Mãi đến ngày 11, Tiểu Đoàn 8 của Trung Tá Văn Bá Ninh, thành phần tiền phong của lữ đoàn mới tiếp xúc được với Tiểu Đoàn 9 ở Bản Đông, thiết lập nên Căn Cứ Hỏa Lực A Lưới, cũng là Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 – Thành phần xa nhất của mũi tiến quân trên Đường Số 9. Tiểu Đoàn 1 khám phá một kho quân trang, quân dụng; Tiểu Đoàn 8 tìm thấy 2000 chiếc xe đạp của Trung cộng còn mới, và 1000 chiếc cũ đã xử dụng, kho nhiên liệu để chạy động cơ máy nổ, quân xa; Tiểu Đoàn 9 tung quân lục soát quanh căn cứ khám phá một trung tâm huấn luyện rất quy mô ngụy trang dấu kỹ trong một khu rừng rậm.. Những thu hoạch chiếm cứ của Lữ Đoàn I Dù tuy quan trọng nhưng không phải Mục Tiêu Lớn của chiến dịch; khi chiếc sườn thiết lập trên Đường 9 đã vững, bộ 
tư lệnh hành quân tiếp khai triển lực lượng bảo vệ hai mặt bắc, nam của con lộ huyết mạch. Mặt Bắc, đổ bộ hai Tiểu Đoàn 21 và 39 Biệt Động Quân thiết lập hai Căn Cứ Hỏa Lực Ranger South và Ranger North (Các căn cứ thường có ám số, hoặc ám danh với danh tự Mỹ để dễ liên lạc trên tầng số không lục với phi cơ, pháo binh Mỹ yểm trợ) trong hai ngày 8 và 11/2; trực thăng vận hai Tiểu Đoàn 2 và 3 Dù xuống tại hai cao điểm đặt tên Căn Cứ 30, Căn Cứ 31; Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 3 Dù đóng tại Căn Cứ Hỏa Lực 31 (Cao độ 456 thước) với Tiểu Đoàn 3 của Trung Tá Lê Văn Phát. Về mặt nam Đường 9, các tiểu đoàn của Trung Đoàn 3/SĐIBB trực thăng vận chiếm đóng các căn cứ có tên Hotel, Blue, Don, Delta và Delta1. Sư Đoàn TQLC đóng tại Khe Sanh và những cao độ như đỉnh Cô Rốc (cao 800 thước) ở phía Nam làm thành phần trừ bị cuộc hành quân. Tính đến ngày 11/2 tình hình được đánh giá là khả quan với hai cạnh sườn Đường Số 9 được bảo vệ khá kỹ, thời tiết tương đối tốt, Lữ Đoàn 1 của Đại Tá Lê Quang Lưỡng cùng lực lượng thiết kỵ của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật sẵn sàng vượt tuyến xuất phát A Lưới để tiến chiếm Tchépone như dự tính. Nhưng một điều thậm vô lý đã xẩy đến mà hôm nay hơn ba-mươi năm sau vẫn không được giải thích: Chiến trận bỗng nhiên bị chận đứng lại – Suốt bốn ngày từ 11 đến 14 không một lệnh nào đến cùng với Sư Đoàn Dù, cụ thể đối với Lữ Đoàn I của Đại Tá Lê Quang Lưỡng với Thiết Kỵ của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật , thành phần xung kích đang sẵn sàng tiến chiếm Tchépone bằng ngã đường bộ. 
Sau nầy (Sau 30/4/1975), Tướng Hoàng Xuân Lãm có giải thích (về việc ngưng tiến quân trong những ngày 11-14/2/71) như sau: “Vào ngày thứ hai của cuộc hành quân (9/2), chiếc trực thăng chở những sĩ quan cao cấp của quân đoàn gồm Trưởng Phòng III, Trưởng Phòng IV bị bắn rơi có tấm bản đồ Hành Quân Lam Sơn 719.. Nên Tướng Lãm án binh sau tuần lễ đầu là để hoàn tất kế hoạch điều động cho phù hợp với tình hình, vì nhờ tấm bản đồ của Trưởng Phòng III/Quân Đoàn (Phòng Hành Quân), đối phương đã biết được ý định điều quân, lực lượng tham chiến, cũng như kế hoạch lui binh của ta.”(11) Việc đình hoãn cuộc tấn công thì được Tướng Davidson, Trưởng Phòng Quân Báo (Phòng II), Bộ Tư Lệnh MACV tìm hiểu qua một lý do khác: “Trong cuộc họp ngày 12/2 với Tướng Lãm và các tư lệnh chiến trường, Thiệu nói với Lãm: “Cẩn thận khi tiến quân về hướng Tây, và hủy bỏ cuộc hành quân nếu như quân đội cộng hòa bị tổn thất đến số 3000 thương vong..”(12). Không biết ai đã là người đã thực sự ra lệnh đình hoãn cuộc tiến quân, chỉ biết quân đội cộng hòa đã mất đi một số ngày thuận lợi vô cùng quý giá. Và trong những ngày quyết định kia, phía cộng sản, đã từ thái độ phân vân ở những ngày đầu tháng Giêng.. “Khi chúng đổ quân vào Đông Hà, trong anh em cán bộ chúng tôi vẫn còn những câu hỏi thắt mắc: “Liệu chúng nó ra Miền Bắc hay sang Lào?”(13) đến cách thức quyết định có những hành động cụ thể ..”Cũng trong ngày 9 (9/2), Trung Đoàn 88 vừa đặt ba-lô xuống là chiến đấu ngay” (14) Phía Mỹ-Việt, hẳn cũng có người thấy ra điều vô lý nguy hại kia, nên ngày 14/2, Tướng Abrams, Tư Lệnh Quân Lực Mỹ tại VN đích thân đến gặp Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng để thúc dục đến mức như van nài phải thực hiện kế hoạch tiến chiếm Tchepone như dự liệu (15). Ngày 14 qua đi không động tỉnh. Quá nôn nóng bởi tình hình tắc nghẻn, người lính thuần thành kinh nghiệm Abrams bay ra Đông Hà với Tướng Viên, và Tướng Sutherland, Tư Lệnh Quân Đoàn XXIV (Lực lượng Mỹ ở Vùng I) trực tiếp gặp Tướng Lãm để thúc dục việc khai triển Sư Đoàn I BB ở phía nam Đường 9, để giữ an toàn cho Thiết Kỵ-Nhảy Dù (trên con đường) tiến chiếm Tchépone. (15Bis) Nhưng tất cả thúc dục đã là vô ích. Năm ngày mất đi là thời gian đủ để ba Sư Đoàn 304, 308, 320 khai triển, tổ chức toàn hảo thế trận với hai trung đoàn chiến xa hạng nặng có pháo tầm xa 130 ly, 122 ly yểm trợ.. Cơn bão lửa sẵn sàng chụp xuống cùng lúc với quyết định cuối cùng của Tổng Thống Thiệu nói cùng Tướng Lãm trong ngày 19/2: “Lưu ý nguy hiểm đối với sư đoàn 308 với chiến xa T34, T54.. Hãy cẩn thận, từ từ cho tăng cường lục soát về hướng Tây-Nam” (16)

Chúng ta không được phép khe khắt, chủ quan, thiên lệch khi tìm hiểu, tra cứu đối với người và việc thuộc về lịch sử; nhưng phải có bổn phận khách quan nhận ra những khuyết điểm của quá khứ để tránh lỗi lầm cho tương lai – Mà đôi khi (rất nhiều khi) tương lai là một sự đã rồi không khả năng, cơ hội phục hồi (như trường hợp hôm nay với quân lực và chế độ Việt Nam Cộng Hòa). Sau chiến trận Hạ Lào, riêng về mặt quân sự, các sư đoàn bộ binh, nhảy dù, TQLC; lữ đoàn thiết kỵ; chiến đoàn BĐQ; các đơn vị pháo binh, công binh.. đã gánh chịu phần tổn thất (vũ khí, phương tiện, quân số, khả năng tác chiến..) vô cùng trầm trọng mà cá nhân người lãnh đạo Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu qua chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Đội phải hoàn toàn trách nhiệm chứ không ai khác. Những tính toán chính trị và sai lầm chiến lược, chiến thuật về chiến dịch Hạ Lào đã đưa đến hậu quả tất nhiên nơi chiến trường với giá máu của vạn quân binh tham chiến. Căn cứ Ranger North và Ranger South của Biệt Động Quân bị tràn ngập ngày 24/2 bởi lực lượng Trung Đoàn 102/SĐ308; chiều ngày 25/2, Căn Cứ 31 của Lữ Đoàn 3 Dù thất thủ; 
với quân số thực tế chỉ gồm hai Đại Đội 33 và 34 (-), Pháo Đội C/TĐ3PB/ND, và thành phần chỉ huy của lữ đoàn phòng thủ nên không thể nào đương cự đối với những đợt tấn công cấp trung đoàn có chiến xa yểm trợ, sau khi đã bị tê liệt toàn diện bởi pháo tầm xa cường tập hủy diệt. Trên chiến trường, nơi Đồi 31 đã xẩy ra thảm kịch.. “Ba phần tư ngọn đồi (Đồi 31 của Lữ Đoàn 3 Dù; Tiểu Đoàn 3 Dù-Pnn) đã nằm trong tay địch. Chúng tôi chỉ còn giữ được một phần bộ chỉ huy tiểu đoàn, lữ đoàn, nhưng không còn ai ở trong những vị trí đó.. Sau khi tái phối trí lực lượng, chúng tôi được lệnh trực tiếp của tiểu đoàn tổ chức một cuộc phản kích toàn bộ trên trận tuyến, cố gắng chiếm lại những vị trí đã mất với hy vọng không quân (Mỹ) sẽ yểm trợ hữu hiệu.. Đợt phản kích không đủ sức mạnh để đạt hiệu quả mong muốn, và từ dưới chân đồi tràn lên một đợt sóng biển người và xe tăng..”(18) Thất bại của các đơn vị (nhảy dù, biệt động quân) trong việc bảo vệ các căn cứ có những nguyên nhân cụ thể, và ảnh hưởng tương quan.. Hoặc vì trường hợp một cá nhân: “Vào lúc nầy (15 giờ 20 chiều ngày 25 tháng 2, 1971-Pnn), một phản lực cơ F4 của Hoa Kỳ bị bắn cháy, Toán Điều Không Tiền Tuyến (FAC) đã phản ứng bằng cách ngưng yểm trợ Đồi 31 để ưu tiên dồn nỗ lực vào việc cấp cứu phi công” (19); Hoặc đấy là tình hình chung: “Đêm chót (25/2/1971), Bắc Việt pháo kích liên tục cho đến sáng, (quân binh Đồi 31) không ngóc lên được. Không quân Hoa Kỳ lại yểm trợ không hữu hiệu.. Khi chiến xa và bộ binh của Lữ Đoàn 1 Đặc Nhiệm đến nơi thì Đồi 31 đã mất” (19Bis). Do không biết tình hình đích xác ở Đồi 31, Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng cố gắng lần cuối, dùng hai đại đội của Tiểu Đoàn 8 do Thiếu Tá Phú, Tiểu đoàn phó chỉ huy cùng một lực lượng thiết kỵ gồm năm chiến xa M41 và một số thiết vận xa MPC của Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh cố đánh giải vây và tiếp viện Căn Cứ 31. Nhưng khi lực lượng tiếp cứu tới nơi thì phần lớn Đồi 31 đã do lực lượng cộng sản kiểm soát. Cuộc hành quân giải vây biến thành cuộc hành quân tái chiếm, và trận xa chiến giữa hai bên diễn ra qua ba đợt trong những ngày từ 25 đến 28 gây nên tổn thất lớn cho đôi bên cả chiến xa lẫn nhân mạng. 
Tiêu diệt xong Căn Cứ 31, lực lượng cộng sản mặt Bắc Đường 9 tập trung vào Căn Cứ Đồi 30 do Tiểu Đoàn 2 Dù trấn giữ. Với can đảm, khôn ngoan, và bình tĩnh tuyệt vời, viên sĩ quan Ban 3 Tiểu Đoàn, Đại Úy Trần Công Hạnh đã điều động phi cơ AC130 thả trái sáng, và hướng dẫn phi cơ chiến thuật Mỹ (Hạm Đội 7 bay vào) yểm trợ tiếp cận để phần còn lại của tiểu đoàn rút bỏ căn cứ vào lúc 9 giờ sáng ngày 3/3/1971 sau khi phá hủy những khẩu pháo binh nặng của lực lượng pháo Quân Đoàn I, và cơ hữu của pháo binh Dù . 
Khi dãy căn cứ mặt Bắc bị nhổ bỏ, Lữ Đoàn I Dù đối diện cùng lần với ba sư đoàn Bắc Việt, cũng do đối phương đã biết rõ kế hoạch tiến chiếm Tchepone bằng đường bộ bị hủy bỏ, và lữ đoàn cùng các thành phần cơ hữu chỉ còn đợi lệnh rút lui theo một kế hoạch đã hoàn toàn bạch hóa bởi sự kiện bản đồ hành quân đã bị mất từ ngày 9 tháng Hai. “Lê Lợi 612” siết cau vầng trán.. Những thành phần sống sót của hai Tiểu Đoàn 2, và 3 đã mất hết khả năng chiến đấu, đạn không còn,  thương binh không tải thương được, người chết không thể lấy về – Những người chết hằng quen biết, những người bị địch bắt giữ quá thân thiết như Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Phan, Lữ Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Thọ.. Và bao nhiêu quân binh nhớ mặt thân yêu của hai Tiểu Đoàn 2, Tiểu Đoàn 5, những đơn vị đầu đời thân thiết của ông; những tiểu đoàn thuộc quyền cơ hữu: 1, 8, 9.. Beo Gấm của Chiến Trường dần nhận rõ ra sự bất lực của chính mình và đơn vị – Tất cả đã rơi vào chiếc bẫy sập xuống. 
Sau khi Tiểu Đoàn 4 và 5 do hai viên sĩ quan lừng lẫy của Sư Đoàn I Bộ Binh, Trung Tá Lê Huấn và Thiếu Tá Trần Ngọc Quế chỉ huy “đặt chân” xuống Tchépone, chiến dịch Hành Quân Lam Sơn 719 được đánh giá coi như đạt “mục tiêu bề mặt”, và lệnh triệt thoái được khởi đầu vào ngày 9 tháng 3. Bấy giờ, Lữ Đoàn 1 chỉ còn trông cậy vào sức của riêng mình để tồn tại và rút lui khỏi vùng chiến trận mà đến lúc nầy quân số địch đã lên đến 40,000 người – Gấp bốn lần số lượng ước tính ban đầu. Nếu ngày khởi cuộc, Căn Cứ A Lưới là đầu cầu xa nhất của mũi tấn công, thì nay là cứ điểm rút lui sau cùng, khi các căn cứ Lolo và Sophia của bộ binh đã di tản. Toàn bộ gánh nặng cuộc hành quân triệt thoái của cánh quân bộ binh trên Đường Số 9 đè nặng lên trách nhiệm cá nhân Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 hằng ngày Lê Lợi 612 phải xử dụng trực thăng để thống nhất liên lạc giữa các đơn vị bị phân tán sau những thiệt hại lớn; các chỉ huy trưởng đơn vị hoặc chết, hoặc bị thương như trường hợp toàn ban chỉ huy của TĐ1 và TĐ7 Dù đồng bị nạn. Ngày di tản khỏi A Lưới, mọi người đồng có ý kiến Đại Tá Lưỡng nên dùng đường bộ để được an toàn hơn, nhưng do ý muốn ở lại với những đơn vị thuộc quyền, nên ông là người cuối cùng lên trực thăng. Chiếc tàu bị bắn rơi sau năm phút cất cánh, Đại Úy Hồng Thu, người thân tín (theo ông từ ngày ở Tiểu Đoàn 5) nhảy đè lên che thân Đại Tá Lưỡng. Chiếc trực thăng Mỹ hộ tống hạ xuống, Thu đẩy ông lên gấp.. (Phải sống với người như thế nào “Lê Lợi 612” mới có người đàn em sẵn sàng liều thân như thế). Rừng núi Hạ Lào dưới thân máy bay mờ khói đạn. Mắt người lính kiên cường thoáng mờ màn nước.. “Đích Thân Lê Lợi” hẳn không khóc cho lần sống sót của bản thân. Ông khóc cho bao người chết không về. Những người sống cùng ông từ rất lâu.

34-An Lộc, 1972. 
Bỗng chốc thị trấn nhỏ về cực đông-nam miền Nam, phần cuối con Đường 13 trở thành địa danh vang dội toàn thế giới… Guernica, Arden, Berlin của Thế Chiến lần thứ Hai không còn ý nghĩa khi so với thị trấn bề dài 1800 thước và bề ngang từ cửa Phú Lổ đến hàng rào phòng thủ tiểu khu đo đúng 1000 thước. Trên diện tích bé nhỏ này, lại nhỏ hơn nữa của những ngày “tử thủ”, khi thành phố “co” lại với khoảng 900 thước bề dài còn lại – Một ô vuông cây số hứng chịu gần 60 ngàn quả đạn, đạn đại bác bắn tập trung từ mười vị trí trở lên trong 100 ngày vây khốn. 
Trong qui ước truyền tin quân đội, chữ A được đánh vần là “Alpha” hay “Anh Dũng”. An Lộc cũng bắt đầu với chữ A, thế nên chúng tôi gọi “An Lộc là Anh Dũng” – Tỉnh từ này đã được dùng quá nhiều, đến độ nhàm chán, nhưng ngoài nó ra không còn một danh từ nào xác thực và đúùng đắn hơn. Phải, An Lộc là Anh  Dũng. Chiến đấu ở An Lộc- Sống ở An Lộc- Chết ở An Lộc là Anh Dũng. Phẩm tính của người và sự kiện nơi An Lộc là tỉnh từ giản dị đầy đủ nầy.

Đường 13 chạy từ Ngã Ba Chơn Thành đến An Lộc đo được 30 cây số, tiếp tục về hướng Bắc thêm 18 cây số nữa là Lộc Ninh, bên kia biên giới là Snoul, qua Snoul con đường ngã theo hướng Tây-Bắc để tới Kratié, nằm cạnh bờ Cửu Long. Nép bên bờ trái con sông, đường chạy tiếp về phía bắc để gặp Stungsteng, vị trí chiến thuật quan trọng của đường giây ông Hồ từ Bắc vào. Khởi đầu cuộc chiến “Đông Dương lần thứ Hai (1960)”, những công thần đầu tiên của Trung ương Cục Miền Nam đã lần mò, tìm kiếm, ráp nối lại con đường.. Bắt đầu từ vùng suối Đá, suối Chà Là, suối Ma.. Bình Long, Phước Long, băng qua biên giới, đến những “mật khu” đã vang danh theo chiều rộng thế giới: Lưỡi Câu, Mõ Vẹt. Trong cuộc chiến năm 1970, đại quân Miền Nam từ Bình Long, Tây Ninh, đồng loạt xua quân qua biên giới, quét sạch, diệt gọn các nơi chốn nầy (Đã trình bày ở phần trên về kỳ tích của nhiều đơn vị có sự góp công của Lữ Đoàn I Dù). Nay, hai năm sau, những ngày đầu 1972, một lực lượng cộng khác, thứ cộng nguyên gốc, theo một kế hoạch được bảo mật tinh vi, chuẩn bị yểm trợ cho mục tiêu chính trị (Hình thành ở Hòa Hội Paris được khai mạc từ 1968) từ miền Bắc xuôi theo Đường 13 vượt qua Snoul cùng ào vào Lộc Ninh với ba sư đoàn chính qui thượng thặng, sau khi được giàn đại pháo 130ly đã dọn sẵn đường. Sau Lộc Ninh là An Lộc. Và thị trấn nhỏ bé của miền cực đông-nam Nam bộ, bắt đầu co vào trong một thế gọi là “tử thủ”. Địa ngục có thật bắt đầu từ ngày đầu tháng 4-72 ở đây. Nơi An Lộc.Những đơn vị, người lính kiệt liệt của An Lộc đã được nói tới nhiều nhưng chắc không đầy đủ, vì An Lộc không những chỉ có Tướng Lê Văn Hưng với các Trung Đoàn 8, 9, 48, 52/ Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Đại Tá Nguyễn Văn Huấn với Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù; Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân, và Đại Tá Trần Văn Nhật với thành phần cơ hữu của Tiểu Khu Bình Long.. Còn có Lữ Đoàn I Nhẩy Dù với Đại Tá Lê Quang Lưỡng, đơn vị tham chiến từ ngày 7-4, “bắt tay” An Lộc lần một vào ngày 17-4; và lần thứ hai, sau trận đánh trên tất cả các trận đánh, Tiểu Đoàn 6 Dù “clear” hai cây số còn lại vào đến Xã Thanh Bình (khu đồn điền Xa Cam) trong “bốn mươi-lăm phút chiến trận”. An Lộc được “bắt tay” lần thứ hai lúc 17g45 Ngày 8 Tháng 6, 1972.

Đến Lai Khê ngày 5 tháng 4, 1972, Lữ Đoàn 1 Dù nhập cuộc ngay ngày sau. Đại Tá Lê Quang Lưỡng nhìn con đường sáu-mươi cây số trước mặt với những hiểm nghèo cao nhất đang chờ đợi. Lê Lợi di chân lên mặt đường như thể đo độ cứng của con đường, sự chịu đựng của mặt nhựa, nhưng thật ra ông đang ước tính bao nhiêu mìn bẩy, ổ phục kích nơi những cây số phía Bắc.. Ở Bầu Bàng, Bầu Lòng, Chơn Thành, Suối Tàu Ô. Ông nói cùng Ngọc Long (Danh hiệu truyền tin của Trung Tá Ngọc, Lữ Đoàn Phó) và Tố Quyên (Thiếu Tá Bùi Quyền, Trưởng Ban Hành Quân) : Con đường dài quá, tụi nó có đủ yếu tố thuận lợi.. Địa thế, quân số, hỏa lực để chơi mình bất cứ lúc nào, ở đâu, nếu chúng muốn. Mình có ba tiểu đoàn, nghe thì nhiều, thực tế không bao nhiêu, mình lại phải phân tán.. Nhưng nhiệm vụ phải thi hành khẩn cấp, mình chỉ còn có được con đường khốn nầy – Vậy mình phải đi lên nó.. Đi theo kiểu chân chim: “Thằng 8” (Tiểu Đoàn 8) đi trước, đóng quân lại; “Thằng 5” theo đường cũ leo cao hơn.. “Thằng 6” đi sau hết. Pháo sẽ theo thằng 5 ở bước đầu; thằng 8 ở bước sau. Giai đoạn I, mục tiêu 1 là Bầu Bàng; mục tiêu 2 là Chơn Thành. Đến Chơn Thành, lập thêm đầu cầu phía Bắc mình sẽ qua giai đoạn II. Các tiểu đoàn trưởng 5, 6, 8, cùng gật đầu đồng ý, vì họ cũng không thấy có biện pháp tốt hơn kế hoạch “Bước chân chim” với ý chí “Cố Gắng” như khẩu hiệu của binh chủng. Ngày 7 tháng 4, Tiểu Đoàn 8 vượt tuyến xuất phát, lấy con đường làm chuẩn, mở rộng đội hình ra hai bên, đến hoành độ 48 thì ngừng lại. Tiểu Đoàn 5 vượt qua mặt TĐ8, bung quân tối đa để lục soát và tránh phục kích. Mấy trăm con người chìm hẳn vào vũng xanh đậm của rừng dày đan lá. Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Chí Hiếu kẹp sát ống liên hợp vào mang tai, linh cảm nguy biến hẳn sẽ tới.. Súng nổ, thoạt đầu chỉ có hướng trước mặt, đoàn quân dừng lại, lập tức hướng cánh trái súng dồn dập đổ xuống: Tiểu đoàn cộng quân dựa thế vào giải mô đất của đường rầy xe lửa cũ (Lộ trình Sàigòn-Lộc Ninh, đã bị bỏ phế từ đầu thập niên 60) để tấn công chia cắt đội hình nhảy dù. Chỉ còn một phương cách – Phản tấn công vào thế trận đối phương. Trận chiến kéo dài nửa ngày, cuối cùng Bắc quân rút lui về hướng tây; thương binh nằm chật vùng rừng, ngỗn ngang trên đất. Tiểu Đoàn Trưởng Hiếu nhìn vào bản đồ: Bàu Hót, toạ độ 78051.. Còn bao nhiêu cái bàu nữa mới tới được An Lộc? Chiến trường mới qua được một ngày.
Từng cây số đường được nhích lên khó khăn, gần đến Chơn Thành độ căng cứng chiến trường càng hiện rõ. Lê Lợi đã nghe ra “mùi” địch – Mùi của pháo, cối mà chắc chắn sẽ mãnh liệt không kém như kỳ ở Hạ Lào – Chỉ mới đây. Năm ngoái. Đại Tá Lưỡng cau cau chiếc trán. Quyền nầy, cố gắng xin mấy trực thăng, ngày mai mình “thẩy” Thằng 6 lên trên Chơn Thành, xong cho lục soát về ngược lại. Đâu ai bắt buộc mình phải đi từ dưới nầy đi lên để rơi vô phục kích của tụi nó?! Bùi Quyền (Sĩ quan thủ khoa Khóa 16 Đà Lạt), Thiếu Tá Trưởng Ban 3 (Ban Hành Quân) nhìn người chỉ huy kính phục.. Anh nghĩ thầm: Lê Lợi hay thật, biết cách chuyển đổi thế trận để đối thủ không thể lường được.Ngày 9, có trực thăng, Tiểu Đoàn 6 bất thần nhẩy lên phía Bắc Chơn Thành, xong quay ngược lại để đón Tiểu Đoàn 5 từ Bầu Bàng vọt lên. Đúng hai giờ chiều, hai tiểu đoàn “bắt tay” nhau cái rụp ở Chơn Thành. Lê Lợi gật gù tự đánh giá: Tụi nó kông biết mình làm trò gì với cú nhẩy của Thằng 6.. Đi lên hay đi xuống? Thêm một ngày tương đối bình yên đi qua. Đại Tá Lưỡng cởi đôi giày. Toàn ban tham mưu lữ đoàn bắt chước. Mỗi chiều được cởi giày là một hạnh phúc! 
Thêm hai ngày đẹp đẽ đi qua, lữ đoàn đi được ba-mươi cây số về phiá bắc. Đối với một địa thế bằng phẵng, tốc độ tiến quân hiện tại kể là quá chậm, nhưng Lê Lợi không muốn đơn vị tăng phái, Thiết Đoàn Kỵ Binh 1/5 của Đại Tá Đức mở vào quá sâu, dễ bị lún lầy, và bộ binh nhẩy dù không bảo vệ cạnh sườn được. Ngày 12, lại theo chiến thuật “bước chân chim”: TĐ8, pháo binh Dù, và thiết kỵ nhảy bước lớn từ cực Nam (của đoàn quân) qua mặt Chơn Thành, đến ngang TĐ5 bỏ pháo binh lại, tiếp tục “mu” lên hướng Bắc. Lê Lợi nói lời hy vọng: Nếu “Thằng 8” tới được Suối Tàu Ô, thì hy vọng tuần sau mình “đụng” nó- Nó, tức là An Lộc với quảng cách còn lại khoảng mười cây số. 
Nhưng hy vọng của ông vỡ tung như bọt nước: Tiểu Đoàn 8 vừa chạm tới “Hoành độ 72”, cách con suối khoảng hơn một cây số thì đụng. Quân cộng sản không cần ngụy trang, chựïc sẵn ở vị trí phục kích. Lê Lợi rung tay, ép sát ống liên hợp máy truyền tin vào tai nghe các đơn vị báo cáo dồn dập: Tụi nó gom tôi và con cái ông Đức (Thiết Đoàn Trưởng 1/5 Chiến Xa) thành vòng tròn.. Pháo dữ quá, đề-lô tụi nó theo sát đây.. Chúng bắn không phí một quả! Đào Thiện Tuyển, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 8 nói nhanh giữa tiếng đạn. Sau TĐ8 là TĐ5, Nguyễn Chí Hiếu bảo cáo đỉnh đạt, điềm tỉnh: Trình Lê Lợi, tôi chưa có vị trí, pháo binh cũng thế. Chúng pháo từ xa, cối gần hơn, và B40, 75(Ly) Không Giật chỉ cách tôi khoảng 50 thước. Dứt. 
Ngày 13 tháng 4, tình hình bế tắc nghẹt thở: Tiểu Đoàn 8 bị vây kín; 5 bị cô lập; 3 Pháo Dù chưa thiết lập xong các vị trí pháo; bộ chỉ huy lữ đoàn và TĐ6 kẹt cứng trong vòng đai chi khu Quận Chơn Thành. Như nước tràn chiếc ly rạn nức, Đại Tá Trương Hữu Đức, Thiết Đoàn Trưởng 1/5 tăng phái hành quân với Lữ Đoàn 1 tử nạn trực thăng, và người em thân thiết của Lê Lợi: Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù tử trận nơi Căn Cứ Charlie, chiến trường Kontum. Đại Tá Lưỡng có cảm giác “tê cứng” trong khoảng khắc rất rõ. Lữ Đoàn 1 trở lại Chơn Thành, giao vùng trách nhiệm cho đơn vị bạn, Sư Đoàn 21 Bộ Binh để nhận nhiệm vụ mới – Phải vào An Lộc bằng một đường khác. Đến nhanh hơn. Khẩn thiết hơn. Bởi lúc 7 giờ 15 sáng ngày 13 “khốn nạn” nầy, xe tăng T54 cộng sản đã vào sát hầm chỉ huy của Tướng Lê Văn Hưng. Toàn bộ chỉ huy mặt trận không còn ai, không còn thời gian (tính theo từng ngày, giờ một) để giải bài toán An Lộc ngoài LêLợi Lê Quang Lưỡng và những tiểu đoàn nhảy dù thuộc quyền của ông.

Chiếc trực thăng chỉ huy ở một cao độ rờn rợn lạnh người lượn vòng thứ năm trên An Lộc. Đại Tá Lưỡng hỏi Thiếu Tá Quyền..
– Thấy cái đồi ở phía đông-nam không?
– Thấy đại tá.
– Chỗ đó. 
Vâng, mình đi thêm một vòng để thấy rõ hơn đại tá.. LêLợi gật đầu đồng ý, ra dấu cho Quyền bảo phi công quay lại đường bay. Không cẩn thận không được. Bao tính mạng quân binh tùy thuộc vào quyết định về vị trí nầy: Bãi đáp trực thăng đổ quân. Cũng là đầu mối để thực hiện kế hoạch tăng viện, giải vây An Lộc, chứng thực cùng cả nước và thế giới sức chiến đấu của người lính Miền Nam. 
.. Mình sẽ xuống cái ấp gì đây Quyền; ấp tên nghe lạ quá? Lê Lợi chỉ xuống xóm nhỏ nằm ẩn dưới màu xanh của khói rừng mờ đục và cũng do đạn pháo liên tục..
– Dạ, ấp Srok Ton Cui, chắc là tên Miên. Quyền kiểm chứng lại trên bản đồ.
.. Ừ, cái ấp đó được dãy đồi phía tây-bắc che dấu; trực thăng khi vào vùng sẽ bay sát ngọn cây từ dưới lên, tránh được “đề-lô” tụi nó quan sát. Thả ở đó mình có bất ngờ vì nó cứ tưởng mình không bao giờ dám đỗ quân ở hướng đông (Đông Thị Xã An Lộc); nó giữ chặt phía nam vì đó là đường về của mình.. Mình nhẩy xuống ấp đó, xong chiếm ngay mấy cái đồi chung quanh là giữ được đầu cầu. Phải hết sức cẩn thận trong líp đầu tiên thả “Thằng 6”. Vâng đại tá. Quyền không bàn gì thêm. Lê Lợi đã “đánh hơi” chiến trường không chút sơ hở.

Ngày 14 tháng Tư, bãi đáp là một đoạn đường nhựa ở Ấp Srok Ton Cui, Đường 245 nối từ Xa Trạch vào đồn điền Quản Lợi, tây-nam An Lộc, cách nhau bởi hệ thống đồi với cao độ 150 thước. 14 giờ 30, chiếc trực thăng đầu tiên đỗ Đại Đội 62/Tiểu Đoàn 6 Dù do Đại Úy Ngô Xuân Vinh chỉ huy xuống vùng ruộng của Ấp Suối Rô dưới chân đồi không tên (Cao độ 176 thước) thay vì nơi Ấp Ton Cui như đã ấn định. Vinh lúng túng không biết điều quân theo hướng nào do lộn bãi đáp; nhưng Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh và bộ chỉ huy tiểu đoàn đã xuống kịp.. Đánh lên đồi đi! Giữ lấy nó để làm an ninh bãi đáp cho mầy thằng (đại đội) xuống sau.. Đỉnh dục Vinh gấp vì đang lúc khó khăn nhất của cuộc hành quân không vận. Để em xin trong An Lộc bắn lên trên đó mấy trái cho ăn chắc, lên khơi khơi ngán quá! Vinh vào thẳng tầng số pháo binh An Lộc xin tác xạ yểm trợ. Pháo An Lộc đã “tiêu” gần hết, “rỏ giọt “cho Vinh đúng ba trái! Dứt tiếng nổ, Vinh xua quân lên đồi.. Địch chỉ là một toán tiền đồn nên Đại Đội 62 thanh toán trong mấy mươi phút chóng vánh. Đỉnh đưa bộ chỉ huy lên đồi đặt tên “Đỉnh E” (Chữ thứ Sáu-Con Số 6 của tiểu đoàn). Đại Đội 61 xuống tiếp, chiếm cao độ đông-bắc của E, đặt tên E2. Nhưng chiến trận không chỉ lànhững thắng lợi bình yên suông xẻ nầy, phát hiện được cuộc trực thăng vận, pháo cộng sản từ phía bắc, và 75 ly không giật từ cơ sở cao-su Tân Lợi (Ba cây số đông-bắc An Lộc) cùng dập xuống E và E2. Lính Tiểu Đoàn 6 vội vàng đào hố dưới giàn lưới đạn với chiếc ba-lô là vật che chở chiếc đầu mong manh. Tiểu đoàn trưởng Đỉnh; Nghiêm (Sĩ quan Ban 3); Cố vấn Morgan tất cả đồng bị thương vì mảnh pháo.. Đỉnh đè tay lên miếng băng, nói nhanh với Vinh: Mầy gắng giữ thằng E nầy, tao xuống dưới kia, có bãi tải thương, và giữ bãi cho ngày mai. Mầy thâm niên coi luôn “Thằng 1” bên E2. E cũng có tên nguyên thủy, Đồi Gió – Gió lửa và gió bão như một tên tiền định. 
Ngày 15 tháng 4, bộ chỉ huy lữ đoàn, hai Tiểu Đoàn 5, và 8 xuống bãi bình an. Lê Lợi lên Đồi E họp với hai tiểu đoàn trưởng 5 và 8 Dù.. 
– Mình đi liền, anh Ninh (Tiểu Đoàn Trưởng TĐ8), đưa thằng con vào An Lộc, nhưng khoan vào hẳn, tới ngang chỗ con suối thì đợi tôi. Tôi và Hiếu (TĐ5) vào Ấp Sóc Gòn, mình dọn đường vào thật sạch, có gì bung ra lại, hoặc để cho đơn vị khác sau nầy vào dễ dàng hơn. Đồi Gió-An Lộc chỉ cách quảng bốn cây số qua những sườn đồi thoai thoải của rừng cao su Phú Hòa, chuyển quân bình thường chỉ mất khoảng hơn hai giờ.. Nhưng vì đây là An Lộc, Đại Tá Lưỡng hiểu rõ độ chật của chiến trường, và đấy cũng là chiếc bẩy đang siết chặt nên ông không thể không cẩn thận khi đến với nó. Ngày 16, để Tiểu Đoàn 6 ở lại giữ Đồi Gió, Lê Lợi sấn hai “Thằng 5 và 8” song song tiến vào An Lộc. Tiểu Đoàn 5 chia làm hai cánh vào ấp Sóc Gòn, quân đang đà di chuyển bỗng nhiên khựng lại.. Dân ùa ra như thác lũ băng qua con đê nhỏ.. Lính mình.. lính mình.. Toàn là đàn bà, con nít, những người đàn ông già lão. Tiểu Đoàn Trưởng Hiếu (TĐ5) dạn dày kinh nghiệm, dặn các đại đội trưởng: “Cẩn thận, nó lùa dân đi trước để mình bị trói tay, thế nào cũng đụng ở đây. Đợi đến sát ấp là nhào vào, không cần tiền pháo yểm.” 
Bìa làng đến gần.. 100, 80, 50.. thước, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù – Đơn vị Nhảy Dù Việt Nam hai lần nhảy xuống Điện Biên Phủ 1954. Tiểu đoàn đã khai sinh bốn vị tướng lãnh cho quân lực – Và cũng là đơn vị đầu đời của Đại Tá Lê Quang Lưỡng, vị tướng tương lai của trận chiến 1972 là Người Thứ Năm – Con Số Năm định mệnh của chính nó cũng như của Người Lính Đại Diện: Lê Lợi Lê Quang Lưỡng. Đơn vị bách thắng hôm nay đứng trước Ấp Sóc Gòn với một trạng huống kỳ dị: 
Họ phải xung phong vào một mục tiêu với tư thế cá nhân chiến đấu để giữ an toàn cho người dân.. Hai lần, ba đợt.. Tiểu đoàn không sao dứt điểm mục tiêu. Cuối cùng, khi chắc chắn những người dân còn kẹt lại đã rời ấp, Lê Lợi quyết định dội trận lửa. Hai-mươi phi tuần khu trục Việt Nam và Mỹ lần lượt thay nhau vào vùng. Khu vực của ấp từ một dạng hình lục giác (Ấp Chiến Lược kiểu mẫu xây dựng từ đầu thập niên 60) nay không còn một hình thù nào nữa, ngỗn ngang gò đống bốc khói điêu tàn. Nhưng so với An Lộc bên cạnh, Ấp Sóc Gòn chỉ là một lò than nhỏ. Ngày 17, Bộ chỉ huy lữ đoàn cùng TĐ5 rời bỏ Ấp Sóc Gòn, di chuyển song song với TĐ8 theo đường Tỉnh Lộ 303 vào An Lộc. Từ suối Quản Lợi, Tiểu Đoàn 8  vào thẳng vòng đai thị xã lúc 7 giờ sáng sau khi diệt xongnhững chốt nhỏ.. Nhảy Dù! Nhảy Dù! Người lính Tiểu Khu Bình Long nhảy ra khỏi hố phòng thủ, anh báo hiệu cho những ngưòi lính cùng tuyến.. Nhảy Dù! Nhảy Dù! Phải ở trong cảnh chết mới hiểu được độ xúc động khi nhìn thấy bạn đến tiếp cứu. Phải từ sự chết, người dân mới thấy ra nỗi hân hoan sống lại khi nhìn ra vóc dáng anh lính cộng hòa giữa vũng lửa. Một Giờ, chiều ngày 17 tháng 4, 1972 Đại Tá Lữ Đoàn trưởng Lữ Đoàn 1 Dù bước chân vào trong vòng đai An Lộc. An Lộc được cứu viện lần thứ nhất.
.. Không còn gì hết Quyền hả? 
– Vâng. Kinh thật. 
Hai người trao đổi câu nói ngắn. Đại Tá Lưỡng mượn chiếc xe jeep của Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân do Quyền cầm lái chạy như bay qua gò đống, hầm hố và xác người. Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh còn hai hộp bia và chai bia lớn..
– Mời anh Lưỡng. Tốt quá. Có được anh tôi vững tâm. Ông tướng mới nhất quân lực cười tươi trên nét mặt lo âu.. Có anh, tôi mừng lắm! 
Trên đường đến Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long của Đại Tá Trần Văn Nhật, Đại Tá Lưỡng hỏi Quyền.. Mầy biết tao vào An Lộc bằng cách nào không? 
Quyền không hiểu ý câu nói, anh đưa mắt hỏi thầm.. À, tao vào bằng lưng, chân bị vọt bẻ quá, phải xoay lưng đi ngược.. Cái mặt mà sưng bằng cái lưng là không  khá. Khó lắm đó mầy. Quyền nghĩ thầm.. Lê Lợi 612 biết nói đùa quá. Cách đùa rất chính xác. Vượt hẳn hết ý niệm từ trước, bỏ xa trí tưởng tượng đã xếp đặt, An Lộc không “hư” từng khu, không đổ từng khóm, An Lộc vỡ nát, vỡ tan tành, vỡ vụn… Không còn sự sống trên mặt đất, không còn dấu vết người trên mặt đất, thành phố chìm dưới hầm, sâu dưới đất, càng sâu càng tốt như một ổ mối khổng lồ dưới lớp đất bùn bề mặt. Một diện tích rộng chưa tới cây số vuông đã có lần nhận được 8000 viên đạn như trong đêm 11 rạng 12 tháng 5; 8000 viên đạn loại xuyên phá chưa kể hỏa tiễn và cối tung hoành trên mảnh đất chỉ bằng khu vực Đa Kao. Mỗi thước vuông đất phải nhận hơn 10 trái đạn. Đạn delay (công phá, nổ chậm) xuyên xuống đất hơn một thước mới nổ. Không cần phải trúng ngay hầm chỉ cần nổ bên cạnh cũng đủ xô ngã vách hầm. Dân và lính thụ động co rút dưới hỏa ngục đổ từ trên trời xuống trong hơn hai tháng. Pháo không phải từng cơn, từng giờ, từng loạt, pháo đầy trời như mưa, pháo ào ạt như gió, pháo kín mít như mây. Pháo không vạch từng đường như Mậu Thân, pháo không đi từng luồng như ở Hạ Lào. Pháo và trời chan hòa trộn lẫn như mưa bay giăng giăng che kín không gian của những ngày xuân mưa bụi. Dưới bầu trời đầy những đóa hoa tử thần đó. An Lộc co quắp, vật vã, tan thành mảnh, phất phới bay như tờ giấy xé nát được tung lên giữa trời gió lớn. Một hỏa tiễn nâng chiếc xe jeep bay bổng, khối sắt nặng 1/4 tấn vừa rơi xuống chạm mặt đất lại bị thổi ngược lên cao, nhẩy lên một mái hầm như hộp thiếc nhỏ bị quay cuồng vì những viên đạn tinh nghịch chính xác trong phim cao bồi Mỹ.. 
Lê Lợi và Tố Quyên đứng im, nhìn kỹ thêm một lần trước An Lộc điêu tàn. Hai người lính không thể nói thêm một lời nào. Họ cúi thấp người, bước xuống chiếc hầm của Đại Tá Trần Văn Nhật – Bộ chỉ huy Tiểu Khu Bình Long (20)

Không phải đợi đến lúc bước xuống căn hầm chỉ huy ngột ngạt của Tiểu Khu Bình Long, Đại Tá Lưỡng mới thấy ra sự chật chội thụ động của chiến trường, nhưng từ khi cùng Quyền bay trực thăng trên các cao độ vùng đông-nam An Lộc, ông đã biết rất rõ độ ngặt nghèo thu hẹp của trận địa. Ông cần một nút thoát hơi cho An Lộc, và đối với đơn vị của ông – Đồi Gió, cao độ “E” của Tiểu Đoàn 6 Dù là điểm thở quan yếu nầy. Vì từ cao điểm “E”, An Lộc có được một bàn đạp để khai triển lên Bắc hay xuống Nam do được dãy cao độ 160, 175, 140 bảo vệ cạnh sườn phía Đông. Vì lý do nầy, Tiểu Đoàn 6 và pháo đội 105ly của Tiểu Đoàn 3 Pháo Dù giữù nhiệm vụ trấn đóng yết hầu mặt trận An Lộc là những đơn vị hứng chịu những mũi nhọn tiến công nặng nề nhất kể từ ngày bước xuống Đồi Gió. 
Chúng ta theo dõi diễn tiến chiến trận của đơn vị nầy.. Khi Đại Đội 62 của Vinh “con” lên Đồi Gió chiều ngày 14 tháng Tư thì bộ chỉ huy cộng sản mặt trận Bình Long cũng nhận ra cuộc đổ quân tăng viện, và dồn tất cả hỏa lực của vùng Bắc; Tây-Bắc An Lộc đồng đổ xuống vùng Đồi Gió, nơi có ba cao độ nổi rõ lên tạo  điểm chuẩn để pháo binh địch rơi xuống không trật một trái ra ngoài mục tiêu. Cũng bởi, phía chỉ huy cộng sản tại mặt trận đã xác định rõ qua một công điện gởi về Trung ương cục R: “Một D (Tiểu Đoàn) Ngụy Dù chiếm Đồi Gió, gây khó khăn cho việc chiếm Bình Long, phải diệt gọn “D Ngụy” với tất cả phương tiện”(21) 
Song song với chỉ thị của Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng qua việc để lại Đồi Gió bộ chỉ huy nhẹ của lữ đoàn với Lữ Đoàn Phó Trung Tá Lê Văn Ngọc, Đại 
Đội 3 Trinh Sát, và pháo đội 105ly ND; Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, Tiểu Đoàn Trưởng 6 Dù cũng không hoàn toàn thụ động đối với tình thế ngặt nghèo dưới cơn mưa pháo. Đỉnh nhận định: “Nó phân tán pháo binh, tập trung hỏa lực để bắn mình.. Tại sao mình không phân tán các “đứa con” ra ngoài để tránh pháo, cũng để phòng thủ lưu động được toàn miền? Đỉnh phối trí các “đứa con” theo thế trận: Đại Đội 63 của Đại Úy Hoàng trấn giữ ngã Ba đường 245, Bắc của Ấp Ton Cui; Trung Úy Cao Hoàng Tuấn chỉ huy ĐĐ64 giữ phần chính của ấp. Khi các đại đội đã vào vị trí. Đỉnh tự hỏi: “Dẫu đã có một hàng rào phía đông của “E”, nhưng không hiểu đồi có giữ được không?” Thắc mắc của Đỉnh không kéo dài lâu, phía cộng sản cho liền đáp số. Đại Đội 63 bị tấn công trước, ngay vào lúc buổi trưa ngày 17 với một lự c lượng quân số áp đảo, bởi phía chỉ huy cộng sản cũng đã hiểu ra rằng: Ấp Ton Cui là “bãi đáp trực thăng hữu dụng để tăng viện An Lộc”; nhưng thêm ước tính nhầm là bộ chỉ huy TĐ6 vẫn còn ở tại ấp nên họ đã sử dụng một quân số vượt trội để quyết “diệt gọn” bộ chỉ huy tiểu đoàn. Đại Đội 63 có  được vị trí phòng thủ nên giữ tuyến chắc chắn; đến chiều tối, Đại Đội 64 được lệnh kéo lên tăng cường bởi Trung Tá Đỉnh hiểu rõ thêm ý đồ của đối phương. Quảng cách hai đại đội khoảng chừng 600 thước, nhưng Trung Úy Tuấn phải mất năm giờ mới “bắt tay” được đại đội bạn. Hai viên đại đội trưởng nói cùng nhau: 
“Một mình tao nó đánh không xong, nay hai đứa sức mấy tụi mình bị lũng.” Từ An Lộc, Đại Tá Lưỡng theo dõi diễn tiến trận đánh của Tiểu Đoàn 6, và ông cũng thấy ra rằng nếu TĐ6 bị bứng khỏi khu vực Đồi Gió có nghĩa, các đơn vị của lữ đoàn hoàn toàn mất hẳn với liên lạc bên ngoài – Lần tiếp vận của Lữ Đoàn 1 hoá ra  chỉ tăng cường quân số cho đạo quân bị vây ở An Lộc thêm đông đảo. Ông trầm ngâm bảo Quyền: Hỏi bên Mỹ, rồi xin ở quân đoàn phi vụ “Daisy Cutter – Bom BLU-82B” (22) thả xuống cho tụi “Thằng Đỉnh”.. Phải có thứ nầy mới ăn thua đủ với bọn chúng!! Trái bom từ bụng chiếc phi cơ vận tải võ trang AC130 (Phi cơ AC130 thiết trí giàn phóng lựu 20, 40ly; đại liên 7.26ly; đại bác 105ly, chuyên trách công tác yểm trợ cận phòng, thả bom dọn bãi, phá chướng ngại vật (thiên nhiên) lớn, thả trái sáng yểm trợ tác chiến đêm) chứa 15,000 cân Anh thuốc nổ và mãnh thép rơi bằng dù chính xác vào giữa đội hình đơn vị cộng sản chấm dứt cuộc huyết chiến rạng sáng ngày 18 giữa tiếng reo hò của binh sĩ hai đại đội 63, 64. Ngày 18 tương đối bình yên, Trung Tá Đỉnh đưa Đại Đội 61 xuống thay thế để hai Đại Đội 63, 64 trở lại đồi với lời khen ngợi: “Làm trưởng ấp một đêm là giỏi lắm  rồi.. Lấy được hai K54 (súng ngắn của người chỉ huy) như vậy nó đánh hai toa phải là cấp tiểu đoàn, và thằng tiểu đoàn trưởng thế nào cũng đã về với bác nó!”.
Hai-mươi bốn giờ “bình an” của ngày 18 đi qua nhanh chóng để bão lửa phục thù của Bắc quân ào xuống. Đồi Gió hay cao độ 175 dần nát vụn dưới cơn pháo cường tập liên hồi, đồng thời phá nổ tung kho đạn dã chiến của pháo đội 105ly của pháo đội/TĐ3Pháo Dù. Tiểu Đoàn Trưởng Đỉnh và cố vấn Peyton đồng bị thương cùng với 32 quân binh.. Trong hầm chỉ huy của Đại Tá Nhật, Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng biết đã đến lúc địch quyết tâm dứt điểm Đồi Gió, khóa cửa ngõ vào thị xã trước khi thanh toán mục tiêu chính: Cứ điểm trung tâm phòng thủ An Lộc. Ông mau mắn quyết định: Tiểu Đoàn 6 không còn nhiệm vụ giữ  pháo binh, tiểu đoàn trưởng toàn quyền điều động đơn vị để giữ thế trận. Trên Đồi Gió, Đỉnh lẫm bẩm:”Chỉ 48 giờ mất toi sáu khẩu pháo và ngàn quả đạn, thêm một lô thương binh không tải thương.. Ở làm gì nơi cái đồi quái quỷ nầy nữa.” Dọt! Đỉnh để lại hai Đại Đội 63, 64 do Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng trấn giữ, đẩy Vinh “con” xuống lại Ấp Ton Cui với lời dặn: “Mầy cố gắng bắt tay “Thằng 1” (ĐĐ 61) dưới kia để có bãi tản thương, tiếp tế, ở trên nầy nó pháo mờ người không làm ăn gì được.” Từ chân đồi đến ấp chỉ khoảng 400 thước nhưng Vinh với ĐĐ62 phải mất hẳn một đêm 19 mới đi thấu. Quân binh hai bên trộn với nhau như gạo và trấu, chỉ còn cá nhân chiến đấu qua cách sờ nón sắt để phân biệt ta hay địch! Đêm 19 chuyển qua ngày 20 với tiếng kèn thúc quân vang dội dọc Đường 245, cùng lúc, đầu con đường, nghe rõ tiếng động cơ máy nổ của tăng T54 rầm rầm di chuyển.. Đỉnh rung tay: Bỏ mẹ, nó dứt điểm mình rồi! Tăng T54 ầm ầm tiến lên Đồi Gió trước (ý hẳn phía cộng sản ước tính bộ chỉ huy TĐ6 vẫn còn ở trên đồi) .. Tiểu Đoàn Phó Phạm Kim Bằng cùng hai đại đội trưởng Hoàng, Tuấn cùng ra giao thông hào với khinh binh, đợi chờ những chiếc tăng lố nhố lính Bắc quân tùng thiết xông lên. Trận chiến không cân sức dần tàn vào trưa ngày 20 với kết thúc bi thảm: Tiểu Đoàn Phó Bằng bị bắn tung một mắt; Đại Đội Trưởng Tuấn hứng ngay quả 75 ly, giã từ đời ở số tuổi 23. Bằng buông ống liên hợp máy truyền tin thều thào bảo Hoàng khi máu chảy xuống ướt đẫm mặt: “Thay tôi, dẫn hai đại đội về Đồi 169, đem theo thương binh, chết để lại.” 
Thanh toán xong Đồi Gió, quân cộng sản tập trung, điểm danh, chuyển lệnh ngay trên Đường 245 trước khi thanh toán phần còn lại của Tiểu Đoàn 6 ở Ấp Ton Cui. 
Không lẽ đời mình tàn tại cái chỗ khốn nạn nầy hay sao Nghiêm? Đỉnh than nhẹ với Nghiêm, sĩ quan Ban 3 khi chờ lệnh Lê Lợi. Hơn hai-mươi bốn giờ của ngày 19 và 20 tháng Tư, Đại Tá Lưỡng không hề chợp mắt, ông ngồi cạnh máy truyền tin theo dõi và ra từng lệnh ngắn cần thiết đến Tiểu Đoàn 6 bởi ông biết rõ: Sinh  mạng đơn vị đang đụng trận ngoài kia hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi quyết định của ông. Ông cũng phải dấu đi mối đau riêng tư về tin Thiếu Tá Bằng bị thương nặng – Bằng là một trong đại đội trưởng thân yêu của ông từ ngày mở trận Tiểu Đoàn 2 ở năm 1965 – Ông sống cùng, với bao nhiêu người đã nằm xuống, tưới máu lên từng ngày, giờ chiến địa. Phải vô cùng khó khăn Lê Lợi mới lập lại được liên lạc với Đỉnh (do các tầng số âm thoại bị phá bởi phía Bắc quân dò được các tầng số âm thoại đang xử dụng) qua hệ thống máy cố vấn Mỹ với trạm chuyển tiếp trên Núi Bà Đen (Tây Ninh), nơi cách An Lộc 100 cây số đường chim bay..
..Đây Lê Lợi 612.. Đỉnh chong đôi mắt mệt mỏi nghe rõ từng chữ: “Sẽ có ba line B52 đánh xuống chỗ anh, cách anh chỉ 500 thước thôi (phi cơ B52 dùng trong công tác yểm trợ chiến thuật CAS (Close Air Support) trên lý thuyết phải có khoảng cách an toàn hai cây số), ở ba hướng, Bắc, Đông, và Nam, xong anh theo  hướng Đông-Nam đến bờ Sông Bé có trực thăng rước về.. Gắng lên, đời anh và tôi chỉ có một lần”. Ba line B52 đánh xuống như cơn địa chấn, 500 thước đối với bom 500 cân Anh thả một loạt 24 trái (số lượng tối thiểu tùy theo cự ly bay, và giờ hoạt động trên mục tiêu) (23) quả thật không còn “khoảng cách an toàn” nào nữa. Những chiếc B52 vừa đi qua, Đỉnh báo cáo cùng “612”: Xong rồi, xin Lê Lợi màn khói. Không có khói, thôi anh và con cái dọt đi. Tôi nghe. Đỉnh nói với hơi thở hụt Rừng còn nguyên độ nóng trận bom, nồng mùi lửa, khói trộn tro than bốc dày che khuất bầu trời xanh ánh trăng.. Đại úy đại đội trưởng Vinh “con” đi khi binh số 1; Thiếu tá trưởng Ban 3, Nghiêm tiếp làm khinh binh số 2; và người thứ ba, Tiểu đoàn trưởng Đỉnh. Tiểu Đoàn 6 Dù, hậu thân của 6th B.E.P, đơn vị đầu đời của viên sĩ quan kiệt liệt Đại Úy Đỗ Cao Trí lần đầu tiên buộc phải chấp nhận thất bại, im lìm rời khỏi chiến trường. Khởi đi từ 01 giờ 42 phút ngày 21 tháng Tư, tiểu đoàn bị phục kích thêm hai lần nữa, bởi đi theo suối thì gặp các căn cứ cộng sản; đi trên cao độ thì bị pháo.. 5 Giờ chiều tại trãng trống để đợi trực thăng đến bốc đi, đơn vị lại bị phục kích thêm một lần thứ ba – Lê Lợi biết rõ những điều nầy nhưng ông chấp nhận – Bởi chỉ tìm được đường sống trong ngã chết, vì hướng Đông-Nam là an toàn khu nơi đặt bộ chỉ huy tiền phương của mặt trận Bình Long, nên phía cộng sản không thể nào nghĩ ra rằng: Lữ Đoàn Trưởng Lê Quang lưỡng đã chọn làm hướng lui quân cho Tiểu Đoàn 6 khi ông đã dội B52 xuống những hướng đối chiếu.

Tan hàng ngày 21 tháng Tư, nhưng Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù với châm ngôn của binh chủng đã thực hiện và hoàn tất sự cố gắng qua từng người lính – Phần đông lại là tân binh, quân phạm được ân xá cho trở về quân đội trong thời buổi nước nhà nguy biến. Với quân số 412 người vừa được bổ sung sau thiệt hại Đồi Gió mà 3/4 là tân binh.. Có cậu lính trẻ vốn là Nhân Dân Tự Vệ tập bắn XM16 cặp hông như bắn súng Thompson thời Thế chiến thứ Hai. Nhưng “tập bắn” cũng chỉ là cách nói để tạm yên lòng vì một tháng nơi Căn Cứ Lai Khê (Bộ tư lệnh tiền phương của Quân Đoàn III), thành phần tân binh khác lạ kia của Tiểu Đoàn 6 chỉ được huấn luyện kỹ thuật tác chiến, tác xạ bằng.. lý thuyết suông! Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Văn Đỉnh thúc dục các đại đội trưởng..Các ông cố gắng dạy tụi nó được phút nào hay phút đó.. Tập tháo ráp súng, tập tác xạ, nhận thủ lệnh khi giữ đội hình khi di chuyển.. Tập riết bằng miệng rồi cũng nên quen chứ bộ. Mình cố gắng dạy đám lính mới nầy để đánh phục hận vụ Đồi Gió hôm tháng Tư. Không có gì thay đổi thì đầu tháng Sáu mình go! Trước sau gì tiểu đoàn mình cũng phải trở lại An Lộc. 
Ngày 4 tháng Sáu, 1972 như một câu chuyện thần kỳ về lần chuyển hóa những con người bình thường bỗng nhiên hóa thân nên những chiến sĩ lẫm liệt. Với đám tân binh chưa được một lần tác xạ đạn thật, Tiểu Đoàn 6 Dù dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Đỉnh với giàn đại đội trưởng, trung đội trưởng sống sót từ trận Đồi Gió như được thúc dục bởi một nguồn lực muốn chứng tỏ quyết tâm lập lại danh dự người lính, nên từ khi xuống bãi đáp Bàu Đồng Lô, tiểu đoàn dưới sự dẫn đầu của Lộc, Đại Đội Trưởng Đại Đội 61 đã đi như ánh chớp qua các mục tiêu..Ấp Đức Vinh1, Đức Vinh 2, cách An Lộc đúng năm cây số đường thẳng. Để hiện thực trong trận chiến cuối cùng ngày 6 tháng 6, 1972.. Hai Đại Đội 61, 62 rời khỏi khu đóng quân , xếp hàng hai bên ven đường. Gần hai trăm con người lẫn nhanh vào kku rừng phía tây..Nhào vào..Nhào vào sâu hơn nữa.. Hai đại đội trưởng hét vang thúc lính tấn công theo hướng Tây-Đông. Đại đội 62 của Vinh bảo về bộ chỉ huy tiểu đoàn bố trí qua theo mặt Bắc- Hướng An Lộc. Khi tất cả đã ở yên trên các vị trí chỉ định. Tiểu Đoàn Trưởng Đỉnh hạ lệnh lần cuối: 63 bọc xuống phía Nam, không cho tụi nó chạy lui; 61, 62, 64 dánh từ Tây sang Đông, bao giờ đến đường rầy thì ngừng lại đợi lệnh. Dàn hàng ngang và đánh thật nhanh. Nhanh đến mức có gã lính mới lần đầu tiên thấy lính Miền Bắc quá gầy yếu, nhỏ bé.. Hắn ta nhào vào quên cả tác xạ! Pháo địch bắn cản đổ xuống như trút. Mặc! Đỉnh thúc tiểu đoàn ào tới theo cách bộ đội cộng sản tránh bom “bám chặt thắt lưng kẻ thù mà đánh”. Bị thương ném lui ra đằng sau để Tiểu Đoàn Phó Tùng (đã bị thương khi xuống bãi trực thăng ngày 4) thâu nhặt, bảo vệ.. Ào tới! Ào tới! Đánh kiểu “Blích -kiết” của tụi Đức, bảo lính vừa đi vừa bắn.. Đừng cho tuị nó ngóc đầu!! 
Chiến trận chấm dứt sau năm giờ tiến quân thần tốc với kết quả, tiểu đoàn 1 chết, 63 bị thương đổi lại 90% địch chết tại hầm. Và cuối cùng ngày 8 tháng 6.. Cứ theo chiến thuật như ngày hôm kia..Xung phong! Xung phong! Tiếng hét, đạn nổ.. Lựu đạn M26; phóng lựu M79; hoả tiễn M72 chêm vào với đạn súng tay như một chuỗi pháo liền bất tận.. Những cán binh cộng sản còn sống thuộc hai đại đội C7, C8 bỏ giao thông hào, từng cặp một (bị xiềng vào nhau bởi một dây xích – để không cho phép bỏ chạy khi tác chiến) chạy tản ra đồng trống.. Bỏ ba-lô.. Bỏ ba-lô đuổi theo.. Đuổi theo đừng cho thằng nào chạy thoát!! Lính tân binh thâm niên công vụ 16 ngày lần đầu đụng trậân không biết sợ, cặp súng vào hông đuổi theo đám cán binh thất thế.. Hai đại đội bị “dứt nọc” sau 2giờ12 phút chiến trận với một tù binh độc nhất sống sót còn lại: Tù binh Nguyễn Văn Tiền. Thừa thắng xông lên, Vinh trở quân đánh vào mục tiêu hướng Bắc – Mục tiêu chính nằm ở ngã tư đường vào đồn điền Xa Cam – Cửa ngỏ An Lộc. Bộ phận cộng  sản bố trí hướng về phía Bắc (hướng của Tiểu Đoàn 8 Dù) xây lưng về hướng tiến quân của đại đội của Vinh.. Tất cả để cò vào vị trí “auto”.. Bắn! Bắn! Những tấm lưng thịt người nẩy lên bừng bực..Đạn đi qua thịt người, găm vào đất. Đất vốn màu đỏ sậm trở nên đỏ tươi. Đỏ gắt. Đỏ ướt. Đơn vị cộng sản chạy dạt về hướng tây. Gặp Đại Đội 63 của Thái Tường. Lính Tiểu Đoàn 8 cách nơi đụng trận khoảng 800 thước, đứng dậy khỏi hố chiến đấu hoan hô lính Tiểu Đoàn 6 dứt điểm, diệt gọn mục tiêu. 
17 giờ 45 Vinh “con” bắt tay Hồng Ni (TĐ8) cách tấm bảng “Đồn Điền Xa Cam” 100 thước. Trước mặt hai người bạn (cùng Khóa 20 Thủ Đức) An Lộc được buổi chiều bình yên bốc khói bếp nấu cơm. 
Trên trực thăng bay đến An Lộc, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 (Chỉ huy tổng quát cuộc hành quân giải tỏa An Lộc), Nguyên Tư Lệnh Phó Sư Đoàn Dù, cũng là Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù có câu trả lời với Lê Lợi..
– Hoàn Mỹ (Chuẩn Tướng Hậu) xem con cái tôi đánh có đẹp không?
– Không, không thể nói chúng nó đánh đẹp, mà phải nói là quá đẹp. Cũng không được nữa, phải nói lỗi lạc và phi thường. Đại Tá Lưỡng vốn quen biết Chuẩn Tướng Hậu từ rất lâu, ngày cùng ở Tiểu Đoàn 5.. Nhưng chưa bao giờ nghe ông Hậu nói một câu với những tỉnh từ nồng nhiệt như thế. Nhưng theo ý của người viết đoạn ký nầy, món quà “đẹp” nhất là cảnh người lính nhảy dù đem cơm khô, trái cây hộp; bác sĩ, y tá ra trực hai bên Đường 13 để chửa bệnh, biếu phần “cơm dằn đường” cho đồng bào. “Cơm dằn đường” – Ai sinh ra loại cơm đau đớn tội nghiệp như thế hở trời?!(24)

4. Trận chiến tàn cuộc
Suốt năm 1972, Lữ Đoàn 1 trong khuôn khổ Sư Đoàn Dù là một trong những đơn vị của toàn quân lực đã có mặt trên toàn ba vùng đất lửa: Trị-Thiên; Tân Cảnh, KonTum, và nhất là chiến công vừa kể trên trong kỳ tích giải cứu, phá vòng vây của địch tại An Lộc. Riêng về vùng Trị Thiên, kể từ tháng 5, 1972 sau khi Tướng Ngô Quang Trưởng nhận chức Tư Lệnh Quân Đoàn I, toàn bộ Sư Đoàn Nhảy Dù được chỉ định tăng phái hành quân dài hạn tại Vùng I, là đại đơn vị trách nhiệm toàn vùng Tây-Bắc mặt trận Trị-Thiên với vùng hành quân bao gồm từ tây Quốc Lộ I vào Trường Sơn trấn giữ mặt núi, đối diện với những sư đoàn chính quy cộng sản trên cao độ Động Ông Đô, đỉnh cao nhất của Trường Sơn, trấn giữ thế trận hai sườn đông- tây để những đơn vị bạn, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân, lực lượng Địa Phương Quân Tiểu Khu Quảng Trị dựng nên kỳ tích lịch sử: Dựng Cờ Vàng lên Cổ Thành Quảng Trị, 14 tháng 9, 1972.
Sau Hiệp Định Paris, 1973 Sư Đoàn Nhảy Dù là lực lượng chiến lược chống giữ cả hai mặt Bắc và Nam đèo Hải Vân. Vùng trách nhiệm kéo dài qua ba tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên-Quảng Nam, chịu áp lực từ phía cộng sản có thể tập trung quân dứt điểm toàn vùng theo chiến thuật Đông-Tây: Cắt Thừa Thiên (Bắc Hải Vân) theo chiều ngang của Sông Bồ (An Lỗ, Quảng Điền, Thừa Thiên); hoặc từ Quận Thường Đức đổ xuống đồng bằng Quảng Nam (Trận Mật Khu Đỗ Xá, 1964 kể bên trên là hiện thực bước đầu của ý niệm chiến lược nầy của phía cộng sản – Không phải chỉ riêng đối với giai đoạn chiến tranh 1960-1975, mà xuyên suốt trong diễn tiến chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) để hoàn tất sự chia cắt Vùng I Chiến Thuật theo chiều ngang Nam Hải Vân. Với tình thế chống địch cả hai đầu, sư đoàn nay đặt dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng. Thêm một lần Tướng Quân phải tìm cách thế để đơn vị tồn tại, chiến đấu, và vượt thắng bằng khả năng quân sự độc đáo, bản lãnh riêng. Do hạn chế bởi các điều khoản Hiệp Định Paris: Không được tăng quân số và áp dụng biện pháp thay thế “Một Đổi Một” (Chương II-Điều 7); cùng sự cắt giảm viện trợ Mỹ (Điển hình từ 1Tỷ47 rút xuống còn 1Tỷ, xong 700 Triệu, để kết thúc với 654 Triệu cho tài khóa 1975) (25) – Tướng Lưỡng cùng ban tham mưu sư đoàn sáng tạo nên kế hoạch: Tạo dựng những “Đại Đội Đa Năng” với quân số cơ hữu của sư đoàn bằng cách giảm thiểu đến mức tối đa các thành phần tham mưu, yểm trợ, kể cả trung tâm huấn luyện. Thế nên, cuối năm 1973, sư đoàn đã có đến 12 Đại Đội Đa Năng làm thành phần trừ bị cho chính mình – 12 đại đội hay là 3 tiểu đoàn – Tức là một lữ đoàn trừ bị. Với cách biên chế, tổ chức mới mẻ nầy, sư đoàn hoàn tất được một lần hai nhiệm vụ: Bảo vệ mặt Bắc Hải Vân với Lữ Đoàn II và một Tiểu Đoàn Đa Năng; thành phần còn lại của sư đoàn chiếm đóng, bảo vệ  mặt Nam Hải Vân qua cuộc tiến công từ Đại Lộc lên Cao Điểm 1062 – Chế ngự toàn vùng Thường Đức, vùng núi cực tây Quảng Nam-Đà Nẵng. Quận Thường Đức cách Đà Nẵng 50 cây số đường chim bay, với những cao điểm 1235 và 1062 kiểm soát được toàn vùng cận sơn và đồng bằng. Nhưng không chỉ như thế – 
Nếu chiếm giữ được Thường Đức, lực lượng cộng sản sẽ mở một được một đường hành lang thông suốt chạy từ Bắc Kontum (vùng Dak To, Dak Pek, Dak Nhét đã chiếm được từ tháng 4/1972) xuống vùng bình nguyên (khỏi phải dùng đường từ Kontum, Pleiku ở phía Nam, xa xôi, với quá nhiều trở ngại); chưa hết con đường nầy còn nối với mặt trận Trị-Thiên (Bắc Hải Vân) mà không cần băng qua đất Lào. Vùng Cao Độ 1062 do đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội Miền Bắc trấn giữ: Sư Đoàn 304 Điện Biên, và SĐ2CS tăng cường từ Mặt Trận B3 (Tây Nguyên). Trận chiến trên các cao điểm chung quanh 1062 bắt đầu từ ngày 8 tháng 8/ 1974 chấm dứt vào cuộc phản công cuối cùng ngày 8 tháng 11 cùng năm do bảy Tiểu Đoàn Nhảy Dù 1, 2, 3, 6, 7, 8, 9 trong số chín tiểu đoàn có mặt tại vùng hành quân đã liên tục tác chiến, đánh ngày, đêm, cận chiến, du kích, đột kích, trận địa chiến.. Có thể nói đây là chiến trận lớn nhất sau cái gọi là “Hiệp định tái lập hòa bình tại Việt Nam”. Người lính nhảy dù trả giá cho ngọn đồi và hòa bình với sinh mạng 500 chiến sĩ; 2000 người bị thương trận. Cuộc huyết chiến tại cao điểm 1062 tạm kết thúc đợt giao tranh thứ nhất (cuối tháng 8/ 1974) với 200 xác bộ đội cộng sản (kiểm kê sơ khởi); 40 tù binh bị bắt tại trận địa. Trương Công Phê, Sư đoàn trưởng Sư Đoàn 304 (còn có danh hiệu “Sư Đoàn Thép”) có kết luận: “Sư Dù là một sư mạnh”. Nhưng phần thưởng lớn lao nhất, hãnh diện là lời của đồng bào Đại Lộc: “Nhảy Dù tới bà con ơi! Nhảy Dù tới! Chúng ta không chạy nữa, quay lại làm ăn như cũ, đừng sợ gì nữa!” (26) Phải, đồng bào đã từng nói như thế ở Huế, Mậu Thân 1968; và mới đây, năm 1972 ở An Lộc, Bình Long, và tiếp theo ở Quảng Trị chỉ trong khoảng tháng 4, tháng 5.
Ngày 1/1/1975, một lần nữa để đáp ứng tình hình chiến trường càng ngày càng trở nên khốc liệt khó khăn, dưới quyền tổ chức và quyết định của Tướng Lưỡng, Sư Đoàn Nhảy Dù thành lập Lữ Đoàn IV Nhảy Dù, và tiếp theo sẽ là Lữ Đoàn V Nhảy Dù. Lữ Đoàn IV Nhảy Dù do Trung Tá Lê Minh Ngọc giữ chức lữ đoàn  trưởng, gồm:
– Tiểu Đoàn 12ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Nghiêm.
– Tiểu Đoàn 14ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu tá Nguyễn Đức Tâm.
– Tiểu Đoàn15ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Phú.
– Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh ND, Tiểu Đoàn Trưởng Thiếu Tá Đặng Hữu Minh.
– Đại Đội 4 Trinh Sát do Trung Úy Trần Chí Mỹ giữ chức đại đội trưởng đang hình thành.
Riêng kế hoạch phát triển thêm Lữ Đoàn V Nhảy Dù đang được hoàn chỉnh, bởi chưa có lữ đoàn trưởng, chỉ thành lập được ba Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn gồm có các Tiểu Đoàn 16, 17 và 18 với dự tính: Tiểu Đoàn16ø do Trung Tá Phạm Kim Bằng làm Tiểu Đoàn Trưởng. Tiểu Đoàn 17ø, Thiếu Tá Lê Hữu Chí; Tiểu Đoàn 18 do Thiếu Tá Hồng Thu dự trù đảm nhiệm. Tiểu Đoàn 5 Pháo Binh; Đại Đội 5 Trinh Sát chưa được thành hình. (27)

Sau ngày 10, tháng 3, 1975 khi mặt trận Vùng II suy sụp trầm trọng bởi lần di tản bộ tư lệnh cùng toàn thể các đơn vị khỏi Tây Nguyên bắt đầu từ ngày 17 tháng 3, 1975. Tình hình quân sự Miền Nam trở nên cầm đầu đã mất hết khả năng kiểm soát, lãnh đạo đất nước. Riêng Bộ Tổng Tham Mưu, quyền điều hành, quyết định nằm trong tay một viên tướng chuyên ngành tiếp vận, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân – Một trong những nhân tố chính của tổ chức siêu tài chánh-kỹ nghệ “Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội” với đồng tiền máu của mỗi người lính góp vào trong những năm 1968-1972. Trong tình huống cực kỳ khó khăn, nguy biến kia, Sư Đoàn Nhảy Dù lại được lệnh rời bỏ Đà Nẵng, và bị xé ra từng mảnh nhỏ, dàn mỏng trên những trận địa không chiều sâu, hở cạnh sườn, thiếu yểm trợ không quân, thậm chí đến không có pháo binh diện địa hỏa yểm tiếp cận. Cuối cùng không thành phần trừ bị, tiếp ứng (28).. Tất cả để thực hiện một sách lược gọi là “Đầu bé – Đít to” của chính đương kim Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. “Đầu bé”ù là vùng Quảng Trị, Thừa Thiên, vùng đông dân cư Bình Định, Khánh Hòa; và “Đít to” tức là vùng Sài Gòn-Chợ Lớn, đồng bằng Sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ. Nhưng thực tế diễn tiến chiến sự đã cho thấy: Không có một kế hoạch nào tồn tại được, bởi đây là một kế hoạch đặt trên sự lừa dối, và bất lực trước tình thế – Cũng như không một thân thể nào tồn tại được khi đã bị bẻ gẩy sống lưng – Thủ phủ vùng Tây Nguyên, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Thị Xã Pleiku hoàn toàn bị bỏ ngỏ, rơi vào tay cộng sản không tiếng súng kể từ ngày 17 tháng 3, 1975. Trước tình trạng cực độ vô lý: “Chưa đánh đã có lệnh tháo chạy” đã có lúc, Tướng Quân Lê Quang Lưỡng ngỏ ý thẳng với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: Hãy để Sư Đoàn Dù về Sài Gòn (đang tăng phái hành quân tại Vùng I của Tướng Trưởng) lật đổ con người đã không còn năng lực lãnh đạo, và càng ngày càng lộ rõ ý đồ phá vỡ sức chiến đấu của quân lực điển hình qua việc xé lẻ hai Sư Đoàn Nhảy Dù, TQLC; Lữ Đoàn Thiết Kỵ, các Liên Đoàn Biệt Động, Biệt Kích.. Những lực lượng xung kích, tổng trừ bị quốc gia.(28Bis) Điển hình Lữ Đoàn 147/Sư Đoàn TQLC vừa bị bức tử nơi bến phà Thuận An chưa xong việc đếm xác, đến lượt hai Lữ Đoàn 258 và 369 vô cớ rút từ Huế vào Đà Nẵng, xong từ Đà Nẵng vào Sài Gòn.. Tàu thủy đến ngang NhaTrang lại được lệnh trở lui tái chiếm Đà Nẵng!! Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù không còn được quyền ra lệnh cho các đơn vị trực thuộc, bởi tất cả lệnh điều động (cấp tiểu đoàn) chỉ được phát xuất từ Dinh Độc Lập. 
Rời Huế (cuối tháng 3) trong hoàn cảnh hỗn loạn của cuộc rút quân vô cùng phi lý, và vô kế hoạch của người nắm giữ vận mệnh quốc gia, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu; lại tiếp nhận lệnh điều động trực tiếp từ “Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nguyễn Văn Thiệu”, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Văn Phát gồm các Tiểu Đoàn 2 (Thiếu Tá Trần Công Hạnh); Tiểu Đoàn 5 (Trung Tá Bùi Quyền): Tiểu Đoàn 6 (Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành – Khác với Nguyễn Văn “Thành Râu”, Tiểu Đoàn Trưởng 11). Gọi là ba tiểu đoàn nhưng thực sự toàn bộ các đơn vị phải phân tán dọc trục lộ Quốc Lộ 21 thành những chốt nhỏ cấp tiểu đội để có thể liên hoàn yểm trợ nhau trong tình huống đơn độc chiến đấu. Đối lại phía cộng sản, sau khi chiếm xong toàn bộ Ban Mê Thuộc kể từ 15 tháng 3, và không cần phải củng cố vị trí vừa chiếm xong (rút kinh nghiệm của Mậu Thân 1968; Tổng Công Kích 1972) hai Sư Đoàn 320, và F10 đồng lần rời bỏ Ban Mê Thuộc, bôn tập theo Quốc Lộ 21 về phía bình nguyên duyên hải. Hai Sư Đoàn F10 và 325 với một lực lượng tấn công từ Miền Bắc vào gồm: 2376 xe các loại, trong đó có 100 xe tăng; thiết giáp; gần 185 pháo lớn từ 85 đến 155 ly; hơn 100 khẩu cao xạ.. (29) Số lượng quân trang, vũ khí nầy chỉ riêng cho mặt trận Ban Mê Thuộc, chứ thật sự để xâm lăng Miền Nam, quân đội cộng sản Hà nội đã chuyển vào Miền Nam từ 1974 đến tháng Tư/1975 một tổng số 823,146 tấn quân dụng vũ khí “gấp 1.6” số lượng tiếp vận trong 13 năm từ 1960 đến 1973!! Về quân số, chỉ hai năm 1973-74 đã nhập ngũ thêm 150.000 tân binh để gởi vào Nam thay thế 68,000 quân thiệt hại, với 8000 cán bộ chuyên môn các ngành (30). Tóm lại 16 sư đoàn bộ binh của miền Bắc kéo vào không thiếu một đơn vị mà đích thân Kissinger đã phải kêu lên ngao ngán sau khi nghe báo cáo từ tướng Weyand sau lần qua lượng định tình hình Việt Nam (28/3 đến 4 tháng /4) tại buổi họp tại Phòng Bầu Dục tòa Bạch Ốc với hầu hết quan chức cao cấp của chính phủ Mỹ: “Hiện tại, toàn thể quân lực Bắc Việt Nam đã ở Miền Nam… Chỉ cần một Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (Mỹ) là đủ chiếm đóng hết Miền Bắc. Rõ ràng Hiệp Định (tái lập) Hòa Bình Paris đã bị vi phạm trầm trọng” (31) Phải có học vị tiến sĩ  (xuất thân ở Đại Học Harvard), với chức vụ ngoại trưởng Liên Bang Bắc Mỹ mới biết được điều đơn giản nầy thì quả tình con người được tiếng là tài giỏi, thông minh nầy cũng không “khá” hơn bao nhiêu người tầm thường khác. Ba Tiểu Đoàn 2, 5, 6 không yểm trợ, không trừ bị tiếp ứng bị lực lượng hai sư đoàn cộng sản tràn qua như một điều tất nhiên sau ngày Nha Trang bỏ ngỏ, 31 tháng 3. Cũng là ngày Huấn Khu Dục Mỹ (gồm các Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động; Pháo Binh, Bộ Binh) tự tan rã.

Phòng tuyến của chiến lược “Đầu bé- Đít to” kia lại thêm lần điều chỉnh, củng cố với một “cái đầu” tại Phan Rang (quê nội của Nguyễn Văn Thiệu). Vùng Phan Rang với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân không hề là vị trí phòng thủ hữu hiệu của bất cứ hình thái chiến tranh nào. Bởi đối phương có thể hành quân tiếp  cận đến Phan Rang bằng nhiều hướng: Quốc Lộ I (Hướng Bắc từ Cam Ranh, Nha Trang đánh vào); Quốc Lộ 11 từ Đà Lạt đánh xuống từ phía Tây-Bắc; từ bờ biển đổ bộ vào (hướng Đông); hoặc đánh vòng từ hướng Nam lên theo Quốc Lộ I. Thành phần binh lính trách nhiệm phòng thủ Phan Rang vốn là những đơn vị đã 
bị thiệt hại lớn ở mặt trận Vùng I (Trung Đoàn 4, 5/SĐ2BB); các Tiểu Đoàn 31, 36, 52 Biệt Động đã mất sức do đã phải tác chiến liên tục từ mặt trận Chơn Thành (Vùng III); Về phía nhảy dù, Lữ Đoàn 2 vừa bị thiệt hại ở mặt trận Khánh Dương, nay được thay thế bởi Lữ Đoàn 3 với Đại Tá Nguyễn Thu Lương Lữ Đoàn Trưởng; Trung Tá Trần Văn Sơn Lữ Đoàn Phó, chỉ huy ba Tiểu Đoàn 3, 7, 11. Toàn thể đạo quân nầy phải chiến đấu tự tồn, không tiếp tế, không yểm trợ đối mặt với đại quân của Quân Đoàn 2 Bắc Việt do Trung Tướng Lê Trọng Tấn chỉ huy, gồm hai đơn vị chủ lực SĐ325 và SĐ3 của Tây Nguyên (vẫn tiếp tục làm thành phần mũi nhọn tấn công mãi cho đến mặt trận Long Khánh (cuối tháng 4) sau nầy), ngoài ra còn có Đoàn 968 vừa thành lập từ Lào bôn tập về), cùng lực lượng chủ lực, du kích địa phương. Với tương quan lực lượng quá chênh lệch như thế, nên dù người lính cộng hòa có nỗ lực chiến đấu kiên trì bao nhiêu cũng không thể giữ vững các vị trí chiến thuật dọc Quốc Lộ I, có thể ngăn cản đà tiến quân của phía cộng sản (chưa kể đến tình trạng suy sụp, đỗ vỡ tinh thần do lo lắng về gia đình của những đơn vị di chuyển từ Miền Trung vào). Ngày 16/4 toàn bộ cấp chỉ huy cao cấp của mặt trận gồm Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu Lương, và nhiều liên đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng đều bị bắt. Trong tình hình ngặt nghèo dồn dập diễn ra, “Đích Thân Lê Lợi 612” đúng danh hiệu “Đích Thân” luôn có mặt cùng mỗi người lính trong những giờ phút gay go nhất. Tướng Quân bay ra Phan Rang, trên chiến địa Khánh Dương đầu tháng 4 để trực tiếp chỉ huy các phi vụ “móc” con cái “Thằng Quyền (Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5); Thằng Hạnh (TĐ2); Thằng Thành (TĐ6).. Tướng Quân tiếp nặng lòng đau đớn cùng lần lui quân bi phẫn của Lữ Đoàn 2 từ phi trường Phan Rang với kết quả, TĐ11ND mất liên lạc toàn bộ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Thành, cùng một số chiến sĩ trung kiên đồng lọt vào tay địch! Trong trận chiến tuyệt vọng này, Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ Đoàn Phó, và nhiều chiến hữu khác của đoàn quân nhảy dù đồng bị hy sinh với niềm uất hận không thể đền bù. Chỉ mỗi TĐ3 Dù do Trung Tá Lã Quý Trang chỉ huy còn 100 chiến sĩ được trực thăng được trực thăng bốc từ bãi bể nam Thị Xã Ninh Chữ, Phan Thiết. Riêng TĐ7ND của Trung Tá Nguyễn Lô bảo toàn quân số do được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu rút ra khỏi Phan Rang trước khi trận đánh khai diễn.

Lữ Đoàn I ND do Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh Lữ Đoàn Trưởng, Trung Tá Lê Hồng Lữ Đoàn Phó gồm ba Tiểu Đoàn 1, 8, 9NDø, Đại Đội 1 Trinh Sát, Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh, Đại Đội 1 Quân Y, Đại Đội 1 Công Binh tăng phái Sư Đoàn 18 Bộ Binh do Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn chỉ huy tổng quát, trấn giữ Quận Lỵ Xuân Lộc, chận đứng bước tiến từ hướng bắc của quân đoàn cộng sản vào Thủ Đô Sài Gòn. Lươc lượng diện địa phòng thủ Long Khánh LĐ1ND đã làm tròn trách nhiệm giao phó, không để cho địch quân tiến thêm được một tấc đất, buộc đoàn quân “Sinh Bắc – Tử Nam” của dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải trả một giá đắt với 6000 xác chết; 37 chiến xa bị phá hũy. Riêng đối với một đơn vị cấp lữ đoàn, với thiệt hại nghiêm trọng phải chịu đựng sau hơn gần hai tuần chiến đấu liên tục (10/4-21/4) chống chọi nhiều đợt tấn công của Quân Đoàn 4 CS gồm ba sư đoàn bộ binh 6, 7, 431 được hai lữ đoàn xe tăng 203, 204 tăng cường hành quân, dưới yểm trợ của đại pháo tầm xa, có các đơn vị đặc công đánh xuyên phá, mở cửa.. Cuối cùng Lữ Đoàn 1 Dù lại phải đảm nhận thên nhiệm vụ cuối cùng: Bảo vệ tập hậu đoàn quân rút lui gồm các thành phần của Sư Đoàn 18 Bộâ Binh, Tiểu Khu Long Khánh, các thành phần pháo binh cơ hữu và diện địa, lại thêm hàng chục ngàn dân chúng đi theo.. Nên bất chấp ngăn cản của phủ tổng thống do đích thân Tổng Thống Thiệu ra lệnh; bộ Tổng tham mưu với Tổng Tham Mưu Trưởng Khuyên, Đại Tá Lưỡng điều động trực tiếp, xử dụng TĐ 7 Dù và hai chi đoàn chiến xa M113/ Lữ Đoàn 3 Thiết Kỵ của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi làm thành phần tiếp cứu. Lực lượng hỗn hợp nầy xuất phát từ Phước Tuy (Bà Rịa) đi ngược lên Tỉnh Lộ 2, đón thành phần triệt thoái của Sư Đoàn 18, Tiểu Khu Long Khánh, và Lữ Đoàn I Dù về Bà Rịa an toàn. Nhưng cuối cùng, đêm 28 rạng ngày 29/4/75, quân CSBV cường tập tấn công vào lực lượng Nhảy Dù ở Láng Cạn, Bà Rịa, lính các Tiểu Đoàn 1, 8, 9 đánh trả quyết liệt, liên hoàn bảo vệ đơn vị đến Giờ Thứ 25 mới rút xuống Vũng Tàu để lui về Gò Công, từ đây di tản ra hạm đội. Có thể nói Lữ Đoàn 1 ND là đơn vị có quân số đông đảo nhất đã di tản ra khỏi nước. 
Được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu, Lữ Đoàn 2 Dù sau khi rút khỏi Phan Rang về Sàigòn, đặt thuộc quyền điều động của Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh QĐIII/QKIII. Tướng Toàn đã tạm thời chỉ định Trung Tá Nguyễn Lô, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ7ND kiêm nhiệm chức vụ Lữ Đoàn Trưởng LĐ2ND trách nhiệm,  điều động hai Tiểu Đoàn 5 và 7, chận đứng địch trên tuyến Biên Hòa – Xa lộ Đại Hàn – Sàigòn do Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh/Lực Lượng Xung Kích/QĐIII (LĐ3KB/LLXKQĐIII) chỉ huy tổng quát. Nhiệm vụ chính của LĐ2ND là tiến quân bên phải đường sắt hướng về Sàigòn; đến ngoại ô Bắc Sàigòn, co cụm lại, bố trí dọc xa lộ Biên Hòa, chặn địch vào thủ đô. Sau 30 tháng Tư, 1975 người đi qua vùng nầy vẫn còn thấy những xác Lính Nhảy Dù chết trong trận chiến giờ cuối cùng bảo vệ Miền Nam.

Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù do Trung Tá Trần Đăng Khôi làm Lữ Đoàn Trưởng, Trung Tá Bùi Quyền Lữ Đoàn Phó với ba Tiểu Đoàn 2, 5, 6 Nhảy Dù từ Phan Rang được rút về đóng ở trại Hoàng Hoa Thám, Tân Sơn Nhất. Đây là đơn vị đã đánh trận cuối, vô cùng ác liệt ngay trong lòng Thủ Đô Sài Gòn-Chợ Lớn, tiêu diệt  nhiều chiến xa T54, T59, và PT76 của địch từ Bà Quẹo, Ngã Tư Bảy Hiền, Lăng Cha Cả, Trường Đua Phú Thọ, và Chợ Lớn v.v.. Tới giờ phút chót của buổi sáng 30 tháng Tư, các chiến sĩ LĐ3ND vẫn vững tay súng giữ vị trí được giao phó, đơn vị chỉ buông vũ khí sau khi Dương Văn Minh nghe lệnh đầu hàng. Tất cả cấp chỉ huy của lữ đoàn, và các tiểu đoàn đều cùng ở lại cùng anh em binh sĩ, chịu hoàn cảnh tù tội khắc ngiệt nơi Miền Bắc, không người nào dưới mười năm đày ãi, khổ sai: Các Trung Tá Phạm Kim Bằng, Trần Đăng Khôi, Nguyễn Lô, Bùi Quyền.. Thiếu Tá Trần Công Hạnh, Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Đức Tâm, Ngô Xuân Vinh.
Cấp đại úy, trung úy không thể kể đủ vì quá đông. Điều đáng hãnh diện là hầu hết sĩ quan nhảy dù đồng chứng tỏ bản lĩnh kiên cường của Người Lính Mũ Đỏ trong hoàn cảnh khắc nghiệt của trại tù làm đối phương dẫu đang ở vị thế kẻ thắng trận cũng phải kiêng dè, kính nể. Trường hợp của các Trung Tá Phạm Kim Bằng, Nguyễn Lô; Thiếu Tá Trần Công Hạnh là những điển hình rõ nét nhất. 
Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tân lập do Trung Tá Lê Minh Ngọc làm Lữ Đoàn Trưởng, với ba Tiểu Đoàn 12, 14 và 15 Nhảy Dù, có đầy đủ quân số tác chiến và đã đưa vào hoạt động thật sự ở Đà Nẵng, Quân Đoàn I/Quân Khu I. Được rút về Sài Gòn giữa tháng 2/75, biệt phái cho Biệt Khu Thủ Đô để ngăn chận CSBV ở cửa ngõ  Thủ Đô Sài Gòn qua cư xá Thanh Đa, xa lộ Biên Hòa, cầu Tân Cảng.

Vào thời điểm Sài Gòn bắt đầu rơi vào tình trạng hỗn loạn, chấm dứt cuộc chiến uất hận, Người Lính Nhảy Dù cùng chiến hữu Liên Đoàn 81 Biệt Kích, Lữ Đoàn Thiết Kỵ.. vẫn chiến đấu kiêu hùng cho đến viên đạn sau cùng, lấy chính xác thân để chận chiến xa của quân thù trên Cầu Xa Lộ, trên đường phố Sài Gòn. Trong  một cao ốc đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, hai sĩ quan và sáu binh sĩ nhảy dù tử thủ cho đến khi hết đạn, họ cho nổ hai quả lựu đạn cuối cùng để tự sát trên sân thượng. Tại Ngã Tư Hồng Thập Tự – Lê Văn Duyệt, đồng bào chứng kiến bốn chiến sĩ nhảy dù trang bị đại liên M60, phóng lựu M79; và họ đã quyết chiến đấu tới cùng cho đến khi hết đạn, xong bình tỉnh bước ra ngoài, nắm vai nhau, thành một vòng tròn.. Họ nổ trái lựu đạn sau lời hô quyết tử.. Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Nhảy Dù Cố Gắng! Nhảy Dù! Nhảy Dù!
Điển hình là những vụ tự sát tập thể hoặc cá nhân của những Lính Mũ Đỏ: Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng bảy chiến sĩ tại góc đường Trần Hưng Đạo-Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn; Chuẩn Úy Tô Chiêu Minh Đại Đội 204/Quân Cảnh Dù chết ngay trước cổng Trường Trung Học Đắc Lộ, Tân Việt trước cổng Trại Hoàng Hoa  Thám – Ngôi nhà vĩnh cữu của Người Lính Nhảy Dù. Còn rất nhiều trường hợp lẫm liệt hy sinh với lần đất nước tiêu vong.

Cùng lúc, tiếp theo những tướng lãnh, sĩ quan cao cấp Vị Quốc Vong Thân: Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long.. Còn có những Người Lính khác – Những Người Lính Nhảy Dù chết khắp nơi. Những cái chết không ai hay, những người chết không ai biết tính danh đã làm màu Mũ Đỏ thêm thắm tươi sắc máu Trung Nghĩa, và Giải Băng Tang Đen dài cùng nỗi Đau Thương của toàn Dân Tộc.

Lần Chào Kính Cuối Cùng.. 
Lịch sử, quân đội của nhiều dân tộc thường kết liền với danh tính của những cá nhân kiệt liệt – Những người dựng nên các triều đại, chỉ huy những chiến dịch lớn, quyết định vận mệnh của dân tộc, quân đội ấy.. Hán Cao Tổ, Lưu Bang (202 Trước CN); Minh Thái Tổ diệt Nhà Nguyên ( 1368). Đối với Nước Việt, những chiến thắng Vân Đồn, Vạn Kiếp (1285) của đời Nhà Trần gắn liền với danh hiệu Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Và gần đây, danh tính những danh tướng Eisenhower, Patton (Mỹ); Montgomery (Anh), Rommel (Đức); Yamamoto (Nhật).. cùng lần được nhắc nhở với những sự kiện chính trị-quân sự quan trọng của quốc gia họ trong tiền bán Thế Kỷ 20. Sau chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954) không thể không nói đến Võ Nguyên Giáp, De Lattre..v.v. Riêng với Miền Nam, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, kỳ diệu đáng tự hào thay, suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1954-1975), từ những xung đột giáo phái ở những năm khởi đầu nền Đệ Nhất Cộâng Hòa thành lập ở Miền Nam (1955-1963) tiếp cho đến ngày tàn cuộc 30 tháng Tư, 1975, luôn bền bỉ đứng trong hàng quân, và kiên cường chỉ huy chiến đấu: Người Lính Nhảy Dù – Đích Thân 612 Lê Lợi Lê Quang Lưỡng – Không một năm tháng ngơi nghỉ. Không một chiến dịch vắng mặt. 
Hiện diện trong cơn pháo tập. Giữa trùng vây. Đầu tuyến xung kích. Cảm động biết bao và đáng kính phục dường nào. Đích Thân luôn hứng chịu đầu ngọn cuồng phong bão lửa. Đích Thân luôn có mặt cùng “con cái”. Đích Thân luôn có mặt với “mấy thằng em”.

Vĩnh Biệt Lê Lợi- Đích Thân 612!!

Viết lần Nhất – Ngày 1 tháng 11, 2005
Ngày Các Thánh trên Trời
Và Người Lính dưới mặt Đất. 
Viết lại lần Hai- Tháng 7 
Ngày Rằm Xá Tội Vong Nhân -Tháng 8, 2013
Phan Nhật Nam

Mùa Xuân đen

vietmessneger.com

Hải Triều-Lê Khắc Anh Hào

Post by Sơn râu 29 Nov 2025

30. Dòng đời cho đến hôm nay

Thuở nhỏ dường như tôi không có học lớp mẫu giáo, hay có thể có mà tôi không biết. Tôi chỉ mang máng nhớ có học trong một ngôi trường gạch nhỏ gần Cây Trôm cách thành phố Phan Thiết khoảng 5, 6 cây số gì đó về hướng Ma Lâm, nhưng không biết đó là lúc học sổ hàng rào hay học đánh vần. Tôi chỉ nhớ trường nằm phía Tây liên tỉnh lộ 8 đi Ma Lâm.

Thời đó, tôi không biết Ma Lâm là gì, liên tỉnh lộ 8 là gì, chỉ biết trường nằm không xa cái bàu nước mà mỗi lần đi học, gặp ông thầy, đám trẻ tụi tôi đều trịnh trọng ôm sách cúi đầu chào.

Chiến tranh, chả nhớ năm nào, khoảng 1946, 1947 hay 1948 gì đó, thằng nhóc có biết mẹ gì đâu, chỉ biết chạy theo cha mẹ, chạy theo dòng đời loạn lạc, rày đây mai đó, cho đến một hôm, ông già liên lạc được một ông chú ruột đang ở thành phố, ông dắt tôi về Phan Thiết giao cho ông chú nhờ nuôi thằng nhóc, cho thằng nhóc đi học. Thế là tôi từ tên học trò nhà quê chuyên đá dế rơi tòm vào nhà thờ Tin Lành Phan Thiết trước Chùa Ông. Chú ông già tôi chính là cụ mục sư Lê Khắc Chấn.

Tôi ở trong nhà thờ, hàng ngày đi học chung với hai thằng em chú bác khác tên Lê Khắc Minh và Lê Khắc Quang (nay đã bò qua 6 bó, sống ở Cali). Ba thằng nhóc tôi đi học ở trường tiểu học Đức Nghĩa. Tại đây, ngoài hai nhóc con ông chú, tôi còn nhớ duy nhất thằng bạn thời tiểu học là Lê Giao, sau này cùng chui vô Phan Bội Châu với tôi. (nay dường như Lê Giao ở Hòa Lan).

Ngày đến trường xếp re dưới cây thước bảng gõ cọc cọc trên bảng, tên của ông thầy nay đố mà tôi nhớ, chiều về cả đám lại ngán cây chổi lông gà của ông tôi, tức cụ mục sư Lê Khắc Chấn. Cụ rất nghiêm, lười biếng, lạng quạng là ăn chổi… Cũng vì “ba đứa chúng mình” gây lộn vì chuyện gì đó mà tôi cóc nhớ, nên cả ba nhóc bị một trận chổi phạt “tưng bừng” của ông cụ…

Sau trận đòn này, nằm đêm tôi nhớ những con dế, những gốc rạ, những đêm trăng vằng vặc, những ngày câu cá bên bờ suối… và tôi xin phép ông tôi để về quê trở lại. Tôi rời trường Đức Nghĩa phóng về Trinh Tường ở với Bà Nội. Nhà bà Nội tôi cách trường Trinh Tường chừng vài đám ruộng. Tôi vô trường này bắt đầu từ lớp nhì.

Trường này được coi là “giao lộ” giữa thành phố và nông thôn, nửa quê, nửa tỉnh, thành phần học sinh từ thôn quê có, từ thành phó cũng có. Thằng bạn duy nhất mà tôi nhớ tên là Huỳnh Ngọc Phẩm, sau này cũng chui vô Phan Bội Châu cùng lớp tôi. Phẩm cũng là tên học rất ngầu, viết chữ đẹp, khi học ở Tứ 3, tôi làm báo tường, Phẩm là tên viết bản in.

Tôi và Huỳnh Ngọc Phẩm vô Phan Bội Châu một lượt. Tôi nhớ như in ngày thi vô đệ thất Phan Bội Châu, dù bà Nội tôi biết tôi học vào hạng “siêu nhất nhì trường làng”, bà cũng không tin thằng nhóc con nhà nghèo “không cha, không mẹ” như tôi lại có thể lọt vô cái nhà trường “lừng danh” như Phan Bội Châu. Bà nghĩ trên 2 ngàn thằng nhóc, đa số là con cái tinh hoa con nhà giàu, sẽ bít cửa tiến thân của thằng cháu nhà quê của bà. Bà mua một con gà trống tổ chảng, làm thịt, cúng vái. Bà vái cái gì đố tôi mà biết, lâm râm cái chi bố tôi mà hay…

Mà linh thiệt! Thi xong, tôi về nhà hồi hộp! Vô đệ thất Phan Bội Châu thuở ấy như ngày nay ngồi trong phi thuyền chờ đếm 10 xuống đến zero! Hôm sau xuống trường Nữ Phan Thiết xem dán bảng kết quả, tai tôi lùng bùng thấy tên mình đứng thứ 17 trong số 50 tên nhóc chằng chịt những Đinh, Lê Lý, Trần, Đặng, Nguyễn… chút nữa quên, Mai, Lại…. Bố khỉ! Viết thiếu hai tên Mai Thiết, Lại Thế Thiết sợ nó nói tôi kỳ thị họ hàng…

(Tôi sau này là dân Bộ Binh, hai thằng này, một thằng là dân Pháo binh Dù, một thằng là mũ nâu BĐQ thứ hét ra khói, ra lửa…)

Trở lại chuyện xưa. Khi thấy tên mình trên bảng đậu, tôi xem lại năm sinh, sợ lộn tên thằng phải gió nào mà mừng hụt thì quê, thấy đúng là chàng, tôi phóng xe đạp cùn, chạy một mạch về nhà…

– Nội! Nội đâu rồi! Có cái này hay lắm Nội!

Nội tôi bỏ nồi cơm sau bếp bước vội ra:

– Cái gì mà mày la làng la xóm vậy?

– Con đậu vô đệ thất Phan Bội Châu rồi!

– Thiệt không con?

Nội tôi mừng rỡ, song hỏi lại lần nữa .

– Thiệt không con? Thiệt không con?

– Thiệt mà Nội! Con coi đúng tên con, đúng họ con, đúng ngày sinh con mà!

Nội tôi ôm tôi vào lòng. Bà mừng, bà hãnh diện và cảm động lắm. Bà nhớ những đêm tôi học bài bằng đèn dầu, nhà không có bàn học, lấy bộ ván làm bàn, chân quỳ dưới đất viết bài, hay nằm sắp trên ván làm bài. Chuyện tôi vô đệ thất Phan Bội Châu là điều ngoài sự mơ ước trong đầu bà. Rồi bà chợt buột miệng:

– Chắc nhờ Nội cúng con gà trống van vái Trời Phật phò hộ đó con!

– Con đâu biết Nội! Nhưng Nội có biết không? Trong trường con học ngầu lắm, bộ Nội tưởng con bết hả! Con và thằng Phẩm là hai đứa nhứt nhì trong lớp đó Nội! Con mà ngu thì con gà trống làm gì nổi để đậu được Nội!

– Thôi đừng cãi nữa! Thằng cứng đầu! Đi ăn cơm đi! Mai Nội cho tiền mua sách vở và quần áo để vô trường!

Ngày đầu tiên nhập học, lớp đệ thất mới toanh của tôi là một tập hợp “loạn xà ngầu” của những thằng nhóc quê có, tỉnh có, tuổi tác, vóc dáng khá cách biệt. Già nhất lại là hai tên nhà quê lên tỉnh học, tên nhỏ con nói tiếng trọ trẹ giọng Huế làm tụi tôi chú ý tên Hoàng Công Bình, đến từ đầu cầu Phú Long.

Tên cao thủ nhà quê, to, cao nhưng đạo mạo đáng nể tên là Huỳnh Ngọc Ghênh, đến từ Mũi Kê Gà gần Bình Tuy. Ông thầy hướng dẫn đầu tiên tên gì, tôi đố mà biết, “ra lệnh” bọn tôi bầu chọn trưởng lớp và phó lớp. Tụi tôi ngó nhau, “nhất trí” đồng loạt chỉ tên to con, đạo mạo đáng nể:

– Anh Huỳnh Ngọc Ghênh làm trưởng lớp thầy!

Ông thầy ghi vào sổ Thất 3: Trưởng lớp Huỳnh Ngọc Ghênh.

– Còn phó lớp, các em chọn ai?

Cặp mắt mấy thằng nhóc rà qua lại như “radar rà mìn”, rồi chả biết sao, cả đám đồng loạt:

– Anh Hoàng Công Bình thầy!

Ông thầy lại lui cui ghi Hoàng Công bình làm phó trưởng lớp dưới tên Huỳnh Ngọc Ghênh. Xong rồi, thầy giao lớp lại cho hai ông Trưởng, Phó mới toanh rồi ra khỏi lớp, đi về phòng ông hiệu trưởng, tôi quên mất, dường như là thầy Lê Tá thì phải.

Lớp mới còn ồn ào. Ghênh đứng dậy, lên bục nhìn xuống như một ông tướng cồ lô, ra lệnh:

– Các anh về lại chỗ ngồi! Và giữ trật tự!

Chả hiểu tại sao cái đám nhóc vô trật tự mới gặp nhau buổi đầu lại tuân lệnh Ghênh răm rắp. Khi Ghênh vừa về lại bàn đầu thì thầy hướng dẫn lớp trở lại. Như một cái máy mới ra lò, Ghênh đứng dậy và hô lớn:

– Cả lớp đứng dậy!

Như mấy ông nhà binh, cả lớp đứng dậy cái ào để chào thầy. Khi thầy vào ghế ngồi, Ghênh hô: “Ngồi xuống!” Cả lớp ngồi xuống êm ru. Buổi học đầu tiên bắt đầu, nề nếp, trật tự, nghiêm trang. Và bọn nhóc Thất 3 tụi tôi dường như đứa nào cũng thấy mình đổi đời, lớn hơn thêm. Tui bây giờ là một học sinh trung học trường Phan Bội Châu số một rồi nha! Từ Tiểu học vô Trung học là một nấc mới vươn lên từ chuỗi đời thơ ấu.

Thời gian bào mòn đời người trong cõi tử sinh phù du bèo bọt. Thời gian bào mòn lại không khốc liệt bằng chiến tranh, bom đạn. Chiến tranh đã tàn phá và cướp đi không biết bao nhiêu tuổi xuân của lớp tuổi chúng tôi, người ngã xuống giữa chiến trường, người vùi thân trong tù ngục, người chết giữa biển đông, người ra đi vì bệnh tật…

Lớp chúng tôi đã đi chung với nhau từ đệ nhất cấp lên đệ nhị cấp, và sau đó chia tay trước sân trường Phan Bội Châu. Chiến tranh cuốn hút mỗi đứa vào một lộ trình sinh tử khác nhau. Đặng Hùng đã chết rất sớm khi chưa rời ghế Phan Bội Châu trong một trận đá banh, đạp đinh và bị “tetanus” trong năm đệ tứ, Trần Thành Bang chết trận, Đỗ Hữu Vịnh chết bệnh sau 75 tại Việt Nam, Nguyễn Văn Chúc ngồi xe lăn năm 71 khi dắt đại đội hành quân vướng mìn VC; Huỳnh Ngọc Ghênh, trưởng lớp, ra khỏi Đại Học Huế, chui vào Thủ Đức, ra trường làm nghề thẩm vấn tù binh tại Trung Tâm Thẩm vấn tù binh Biên Hòa, sau 75 bị đưa ra Bắc và chết trong tù. Tin anh em tù Bắc cho hay Ghênh bị VC hành quyết trong một vụ trốn trại, giờ không biết mồ mã anh ở phương nào.

Hiện nay tôi không biết chính xác lớp tôi ai còn, ai mất. Người trưởng lớp Huỳnh Ngọc Ghênh đã ra đi, ông phó lớp Hoàng Công Bình, sau thời gian dài làm hiệu trưởng dưới chế độ đen thui… nay đã về hưu. Tôi không biết làm sao có thể đếm được anh em ai còn ai mất. Đại gia đình Phan Bội Châu có cái truyền thống rất là hay, là cứ hai năm tổ chức hội ngộ một lần, và trong các cuộc hội ngộ đó, mình gặp bạn cũ, người xưa, mò tin anh em, bè bạn… Vui có, buồn có, nước mắt có, hạnh phúc có… Cái gì cũng có, nhưng người muôn năm cũ thì chắc không còn gì “để nhớ để thương”!

Hè năm 2006, Lại Thế Thiết và phu nhân không biết đi đâu lại lạc đến chốn Vancouver và ghé nhà thăm tôi. Trong bữa cơm trưa tại nhà, hai đứa tôi có “điểm danh” những anh em trong lớp, và Thiết không ngờ lớp mất quá nhiều. Thôi thì còn được đứa nào mừng đứa đó. Nếu Hội Ngộ PBC 2008 tại DC mà “hàng thần lơ láo” lớp tôi chỉ có mình tôi giữa hàng bánh căn mì Quảng… thì làm sao tôi nuốt cho vô. “Hỡi cô ngồi đổ bánh căn! Cô ngồi múc bột biêt chăng tôi buồn!”

Mùa Xuân tóc trắng mắt cay

Nghìn xưa còn đó những ngày liệt oanh.

Du tử – Núi Ba Sơn – Tưởng khúc Phạm Nhuận

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 30/06/2013  

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

Nhà thơ Du Tử Lê và tác giả

như cơn gió mùa thu hao trầy cũ
mang thầm tiếng Hà-nội xưa về
áo khoác lính trông nguyên cự phách
cơ thể nhẹ dường thất lạc số quân
dẫu di tản vẫn nguyên vẹn thường trú
suối nguồn thơ giữa lau sậy bãi bồi

người tự nhận moa là kẻ homeless
con dốc ngược thắp thuốc nghẹn montréal
khi tôi chết hãy mang tôi ra biển
cà phê đen tuồng như quên bỏ đường
khói giạt bay nói chi lời muối xát
cứ sống thở bởi thánh nữ vẫn cần tôi
con dế tự tử là chuyện riêng của nó
mai chúng ta ấm bụng phở góc đường
che dung dị mây vẫn trôi tiền kiếp
đội nắng mưa băng tuyết mỗi hạn kỳ
khúc Hát Tê mãi chưa buông dấu chấm
ngày tôi chết hậu vận hẳn còn xa

tôi vẫn thích giọng thơ người kể
dù ngỗn ngang vướng phải những ngắt rời
chấm phết ấy tựa địa hình sông núi
xa muôn trùng người ở tận cali

ngày huỡn đãi ngó lui nhìn ảnh cũ
nhớ áo lính thôi máng hoa mai
ở đây đôi khi tôi làm đứa du thủ
tròng áo lưu vong thử vác nặng câu thơ.

Núi Ba Sơn

Sơn là núi, khe đồi nằm lũng thấp
mây mang thân lưu trú để sa sầu
Sơn là người cũng thấy mình hư ảo
em thơ đi lục bát cắt đường đau
chốn mù sương bỏ về trong tịnh khẩu
xô ai ngồi nhật nguyệt mòn bên vai

núi nặng lắm nghìn cân so họ Tạ
có vàng không chiều dâng lên Hoàng xuân
sao núi lặng nghe đời nghiêng nhạc Trịnh
sóng xô chân vỡ vị mặn bạc đầu

giở trang kinh ghi vội lời vĩnh quyết
hỏi han giùm núi nhẹ chút phù vân?
cõi nhân gian ôi tuyệt cùng bạc bẽo
xin trôi thân ẩn bóng núi bên triền
tưởng mây bay va vào khung viễn mộng
choàng vai nhau vơi đầy tình hư không

(Phong là gió, có khi xem hiền hữu
nhờ cưu mang
thổi hộ lòng
cho giạt tới muôn phương
đùa nhẹ thoảng lời giễu nhại cuối:
gió đưa nhời ấy về giời
tôi xin ở nại hứng đời trắng tay).

* thi sĩ hoàng xuân Sơn
văn sĩ song thao tạ trung Sơn
nhạc sĩ trịnh công Sơn
ba Sơn chụm lại
chẳng màng núi cao
tiếc là chẳng được hân hạnh
quen thêm ngọn núi nào khác
cho đủ Thất sơn vây bọc
buồn thay buồn thay!

Tưởng khúc Phạm Nhuận

người ở lại hay phiêu bồng biên giới
dòng sông xưa nghi hoặc sóng thôi bồi
con nước cũ ngại triều dâng thấm rượu
đẫm vào thơ mai ta đi nào kịp vẫy tay chào

người vẫn hiểu càn khôn bày giới hạn
khoảng trống lặng nhuốm vàng hề rêu rong
ở thành nội còn bay hoài sợi tóc
nhớ giùm cho sương khói một phương trời

chén rượu đầy tịnh không ai chia cạn
giọt chiều tà hoen sẫm st-denis
rót câu kinh từ mịt mùng trôi tụng
mang tôi về diện bích bóng hình xưa

đường có xa vô thường để nhìn mặt
bao năm qua chim trốn tuyết quên lời
hót cho đời những tiếng thanh tao
nguyền quá khứ cứ yêu không ngần ngại

ngày đóng lại cài then không bằng hữu
đêm phôi pha chìa khóa rời mất tăm
tôi phá mồi trên chiếu đời mông quạnh
trang thơ rời mặt trời và dòng sông.

* Trong bài có vay mượn một vài ảnh hình và chữ nghĩa cá biệt của nhà thơ Phạm Nhuận. Lại nghe giờ này người ưa trì chú tụng niệm. Lành thay!

Hồ Đình Nghiêm

Giờ giấc? Chuyện chết giấc!

Đoàn Xuân Thu

August 22nd, 2025

Post by Sơn râu 27 Nov 2025

1.

Tưởng chuyện “giờ giấc” chỉ là việc ngó đồng hồ mà biết sáng hay chiều, ai dè bước ra khỏi Việt Nam mới thấy đời không đơn giản mà đang giỡn.

Mở mắt ra ở Melbourne trời 4 độ C lạnh run, răng va lập cập như đàn kiến đang gõ trống. Gọi cho em bên Little Sài Gòn hỏi em ăn sáng phở hay mì thì em nói trong nắng hạ hoàng hôn em ăn instant noodle tức em ăn mì gói cho đỡ đói.

Sao kỳ vậy? Thưa quý vị, tại vì Trái Đất không nằm phè ra cho dễ hiểu, mà nó lại… nghiêng. Cái trục nghiêng 23.5 độ ấy khiến Bắc bán cầu và Nam bán cầu “không chơi chung được mùa nào”.

Cho nên, tháng Tám ở Việt Nam là mùa Hè đổ lửa, còn ở Úc – Melbourne chẳng hạn – lại là giữa mùa Đông lạnh teo bugi, nếu có bugi. Còn ai không có bugi thì lạnh cái khác…

Khi người Việt trong nước đang ngồi quạt mo, Úc đã lấy áo len. Khi bà con ở Sài Gòn hớn hở đón Xuân thì Úc đang… lá Thu rơi. Bán cầu lệch mùa, dân tình lệch cảm xúc, đó là chuyện thường tình!

2.

Múi giờ – chuyện đau đầu từ kinh tuyến!

Địa cầu có 360 độ, người ta chia đều ra 24 múi giờ, mỗi múi 15 độ kinh tuyến. Mỗi nước nằm chỗ nào thì canh giờ theo múi giờ chỗ đó.

Giờ quốc tế gọi là GMT, giờ Việt Nam là GMT+7, Melbourne là GMT+10 vào mùa Đông, và… GMT+11 vào mùa Hè (vì có vụ gọi là “giờ tiết kiệm ánh sáng” – Daylight Saving Time).

Hậu quả là: có hôm mình gọi điện về Việt Nam hỏi “Sáng chưa?”, bên kia trả lời: “Sáng sớm… hôm sau rồi ông ơi!”

Tranh Bảo Huân

Chưa hết! Có lần em Út Đẹt ở Little Saigon (California) gọi điện về Melbourne thăm người yêu cũ – một anh chàng tị nạn mới qua Úc. Cô gọi lúc 10 giờ sáng giờ Cali, tưởng anh đang nhâm nhi cà phê sáng. Ai dè bên Melbourne là… 3 giờ khuya. Chàng đang ngủ ngon lành, ke ướt đầy mồm, ngáy như trâu rống, mộng thì điện thoại reo vang như còi báo cháy! Bị đánh thức giữa giấc mơ ăn bò viên rạp Đại Đồng Cao Thắng, chàng nổi nóng, không thèm bắt máy. Kết quả: nàng giận, không thèm gửi $100 như đã hứa. Vậy là chỉ vì múi giờ mà tan tình ta, mất tiền em cho. Khổ chưa?

Bảo Huân

3.

AM, PM và mối tình oan trái với đồng hồ 12 giờ.

Giờ giấc trên thế giới có hai phe: một bên dùng hệ 12 giờ (thường là Mỹ, Úc, Philippines), bên kia dùng hệ 24 giờ (quân đội, bệnh viện,  chánh án, y tá).

Hệ 12 giờ chia ngày ra AM và PM:

* AM (Ante Meridiem) = Trước trưa, từ nửa đêm đến 11:59 sáng.

* PM (Post Meridiem) = Sau trưa, từ 12:00 trưa đến 11:59 khuya.

Chuyện tưởng đơn giản, nhưng thử hỏi: 12 AM là mấy giờ?

Nếu bạn nói “12 giờ trưa”, xin chúc mừng… trễ máy bay! Vì 12 AM là nửa đêm!

Một ông Mít kiều mới qua Úc đặt vé máy bay đi Sydney “12 AM” mà tưởng trưa, ra sân bay lúc 11 giờ sáng, bị hãng bay nó cười: “Bay đi hồi khuya rồi, ông nội!”

Trong khi đó, hệ 24 giờ thì đỡ nhầm: 12 giờ trưa là 12:00, 5 giờ chiều là 17:00, 11 giờ đêm là 23:00.Nhưng nhiều người Mỹ lại kêu: “Khó thấy bà làm sao nhớ?” – thế là họ trung thành với AM-PM, rồi sau đó… la làng vì lỡ hẹn.

4.

Đồng hồ từ đâu ra? Ai bày ra cái vụ 24 giờ này?

Trách ai bây giờ? Hãy trách… người Ai Cập cổ đại. Chính họ là người đầu têu chia ngày thành 24 giờ.

Lý do? Nghe rất “nghệ”: bốn ngón tay (trừ ngón cái) mỗi ngón có 3 đốt, cộng lại 12 đốt. Dùng ngón cái đếm, được 12 giờ. Hai bàn tay là 24 giờ. Đơn giản, tiện tay, khỏi cần máy tính!

Chữ “giờ” tiếng Anh là “hour”, bắt nguồn từ Latin “hora”. Phát âm tiếng Mỹ là /ˈaʊɚ/, tức là chữ “h” câm – giống như tình yêu cũ, thấy có mà thật ra… mất mẹ nó rồi!

Một giờ có 60 phút, một phút có 60 giây, vậy một giờ = 3600 giây. Ai rảnh thì cứ đếm, còn tui thì chừng nào tới giờ cơm bụng đói là biết thôi.

5.

Múi giờ và những tai nạn dở khóc dở cười.

Thời đại Zoom, Skype, FaceTime… chỉ cần sai giờ là hỏng hết. Tình yêu xuyên biên giới mà không canh đúng giờ là tiêu:

– Em đang rót rượu đỏ nhậu thì anh… đang ngáp ngủ.

– Anh nói “nhớ em” thì bên kia… hết pin.

– Hẹn họp 10 giờ sáng giờ New York, nhưng sếp ở Melbourne vô trễ 14 tiếng, mất hợp đồng 2 triệu đô, giờ ngồi bán cà phê dạo.

Chưa hết, nhiều bạn trẻ du học Úc, học online lớp bên Anh, họp nhóm với bạn ở Mỹ, mà mẹ thì gọi điện từ Việt Nam lúc 3 giờ sáng… Lịch học, lịch họp, lịch ăn, lịch ngủ – lộn tùng phèo như cháo lòng không có huyết heo và giò cháo quảy.

6.

Kết luận: Đồng hồ thì có số, nhưng đời thì… loạn cào cào.

Người ta hay nói: “Thời giờ là vàng bạc.” Ừ thì đúng, nhưng vàng này hay đổi giá, còn bạc thì lúc trắng lúc đen. Đời đen bạc là thế đấy!

Thời gian là một chiếc áo may sẵn, nhưng không ai mặc vừa. Người thì thấy nó chật – trễ chuyến bay, trễ cuộc hẹn, trễ tình yêu. Kẻ thì thấy nó rộng – ngồi chờ cuộc gọi không đến, đợi tin nhắn không về.

Với dân viễn xứ như tui, thời gian không chỉ là mấy con số chạy lòng vòng trên mặt đồng hồ. Nó là cảm giác “lạc nhịp” với quê hương. Là khoảnh khắc nhớ mẹ thuở xưa, miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương lúc trời khuya lạnh lẽo. Là khi muốn hỏi “má hết bịnh chưa?” thì ở bên kia… má đang đi chợ.

Tái bút – Tình giờ vẫn còn … nguyên vẹn.

Từ Melbourne – nơi đang là mùa Đông, tôi xin gửi lời chào đến Little Saigon – nơi chắc đang hè chói chang. Nếu có ai hỏi: “Bây giờ là mấy giờ?” – tôi chỉ biết trả lời: “Giờ là… giờ nhớ nhau!”

Còn đúng mấy giờ? Xin coi đồng hồ! Hay… hỏi trái tim mình.

ĐXT