vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 29 Nov 2025

Chương 14.
Nhắc lại những trường day nghề đời Tây tôi đã biết.
(Dạy Công Nghệ, Kỹ Nghệ)
Theo tôi hiểu, chánh phủ thuộc địa Pháp, khi đặt chơn vào nước mình, (tôi muốn nói đất Nam kỳ) sau khi lấy được sáu tỉnh, họ chỉ mong đào tạo một số người để làm tay sai cho họ. Tỷ dụ đầu tiên là đào tạo người coi việc biên chép (thơ ký) và người làm thông ngôn giữa họ và người bồn xứ (indigène), thì họ lập ra trường dạy chữ Tây và tiếng Tây, tiêu biểu là trường Trung học gọi Collège Chasseloup-Laubat và sở dĩ họ chọn tên ông nầy đặt tên cho trường là để nhớ ơn và công của lão, với chức bộ trưởng bộ gì đó, có lẽ là bộ Thủy binh (Marine) và tuy chẳng hề đến Nam kỳ, nhưng lão khăng khẳng một mực xin hoàng đế Napoléon III, đừng nghe lời nhượng hay bán lại cho ta và quyết giữ đất nầy làm thuộc địa. Chasseloup- Laubat đột ngột chết năm 1878 và được dựng hình nơi quê quán ở Marennes năm 1874, trong khi tại Sài Gòn nầy, tên ông được chọn để đặt tên cho con đường và cũng tên trường, và đường nầy thay cho đường cũ kỳ cựu nối liền làng Phú mỹ vô tới Chợ Lớn trước gọi Boulevard, sau đổi còn là “rue” và nay gọi đường Nguyễn Thị Minh Khai, thay thế cho tên cũ, “Xách Lu” (Chasseloup), qua Hồng Thập Tự, rồi xuống làm đường Chữ Thập Đỏ, một thời gian sau tôi nhớ mại đường nầy lại mang tên Xô Viết Nghệ Tĩnh hay Tịnh gì gì đó, và đến đây, muốn viết có chút ích lợi, tôi sẽ ghi vào đời Tây, đường ban sơ đặt tên là đường Stratégique (đường chiến lược), lần 2 đổi gọi đường số 25, qua lần 3 đặt thiệt thọ là rue Chasseloup-Laubat kểtừ năm 1865 và tới năm 1955, mới có tên Việt là đường Hồng Thập Tự. Và tôi rất mừng vì đã tuổi 92 khỏi đi học nơi nhà trường vì thú thật làm sao nhớ nổi bao nhiêu tên đổi thay liền liền như vậy. Không phải tôi dám nói đến đụng chạm, nhưng quả trước đây tôi từng viết và tưởng riêng mình là thổ công đất Sài Gòn này, nhưng nay tôi mới rõ và tự thẹn sức học và biết về môn Sử Địa của tôi vẫn còn kém và thua xa sức biết của một anh làm nghề đạp xe xích lô đương thời, anh xích lô phải thuộc làu và biết rành tên đường tên phố hiện hữu thì mới mong hành nghề và kiếm đủ tiền nuôi vợ nuôi con, chớ như tôi đã già, thì làm sao theo dõi và biết được.
Như phần viết trên đây, tật ham nói sa đà, tôi đã kéo dài và nói nhiều về đường và xuýt lạc đề quên nói tóm lại, khi người Pháp đã có thơ ký và thông ngôn, khi đó họ mới nghĩ qua mớ tay sai khác và họ đã đào tạo lập ra mấy trường sơ đẳng và dạy về kỹ nghệ ở Nam kỳ, tại Sài Gòn, như sau:
a. Trường dạy về máy tàu và máy xe ô tô, tên gọi Ecole des Mécaniciens Asiatiques, sau đổi gọi Ecole Rosel (tên người sáng lập) nay là trường Trung học cơ khí, ở đường Huỳnh Thúc Kháng.
b. Trường dạy bá nghệ, tên Pháp là Ecole Pratique d’Industrie đường Hồng Thập Tự.
c Trường dạy vẽ ở Gia Định (Ecole de dessin à Gia Định)
d. Trường dạy về đồ mộc ở Thủ Dầu Một, vì nơi đây có gỗ danh mộc nhiều.
e. Trường dạy về nghề đồ gốm ở Biên Hòa, vì đất sét ở đây nhiều và hạp nghề.
Tôi kể như trên mà không biết trường nào có trước, trường nào có sau, duy tôi xin kể nhiều về trường Rosel, vì ông nầy là ân nhơn đỡ đầu cho tôi khi tôi thi đậu ra trường và ông cũng nên gọi là ân nhơn của nhiều thế hệ người hành nghề về máy, máy tàu như máy xe hơi, chính ông Tôn Đức Thắng cũng là môn đệ của Rosel trong khóa dạy ban sơ, như tôi đã hiểu.
Rosel, người lùn, không hơn 1 mét 50, nhưng có bề ngang, đi đứng nhậm lẹ, tay bằng miệng miệng bằng tay, tiếng nói rồn rảng như máy nổ, có thể nói ông là thực dân xấu nhứt, ông hay rầy và quở các học trò trường ông, nhưng xin cho tôi cải chính minh oan cho ông và tôi dám quả quyết Rosel là người thương và giúp ích cho người Việt ta nhiều hơn các Tây ở đây tôi đã biết. Rosel là kỹ sư về máy nơi Sở Ba Son (Arsenal) ông xin tách khỏi bộ Thủy binh và ông đã lập ra trường, ban đầu đặt trí và tạm ở chung với trường Bá Nghệ đường Chasseloup-Laubat, năm tạo lập kể là 1906, nhưng qua năm 1908, là thiệt thọ ở nơi hiện nay (đường Huỳnh Thúc Kháng) và năm 1948 nhớ công cán đào tạo nên đặt trường tên là Ecole Rosel. Theo tôi Rosel giỏi nghề giao thiệp, nhờ sửa chữa máy tàu máy xe mà ông thân thiện với các tai to mặt lớn và nhờ giúp nhiều cho thống đốc, khiến nên khi sắp hạng và định lương cho học trò trường, Rosel đã òn ỷ và xin được sắp hạng người học trò của ông được ăn lương ngang hàng với lương thơ ký ngạch Soái phủ, ngang thơ ký dinh Thống đốc (ông cắt nghĩa phải được lương cao thì ông mới tuyển được nhiều người học nghề máy). Ngoài số lương hậu hỷ, thầy thợ dạy nơi trường, ông đều cấp nhà ở khỏi tiền. Vào năm 1922, hai trường dạy nghề đều giao cho Rosel làm hiệu trưởng và gọi chung là Ecole Technique Spéciale de Sài Gòn. Rosel sanh năm 1866 ở Toulon, đậu bằng diplôme trường quốc gia mỹ nghệ của tỉnh Aix, đi lính thủy dưới quyền Thủy sư đề đốc Amiral Courbet, dự trận đánh ở Tonkin, xin nên bộ nhận chức đốc học trường Máy từ 1906 và năm về hưu 1924, được phong chức mécanicien en chef và đặc biệt phong chức mécanicien-inspecteur (thanh tra các trường dạy máy). Lúc kẻ hèn là tôi làm việc giấy, coi về mua vật liệu cho trường, tôi ngán vì học tiếng Pháp mà lần hồi quên mất vì quanh năm chỉ quen với nào bù lon (boulon), nào long đền (rondelle), một phần khác vì nợ bao đồng quá nặng, tôi xin thuyên chuyển và đổi về làm bút toán nơi tòa bố tỉnh Sa Đéc, thì tại trường Máy còn hai công chức kỳ cựu là ông Phạm Công Nghiệp, coi về trả tiền mua vật liệu, ông Nghiệp suốt ba chục niên làm nơi trường, sau mắc bịnh tâm thần, ông Rosel cho ở nhà dưỡng bịnh ngót đôi ba tháng lãnh lương đủ và trọn, một ông nữa là Đinh Văn Long, gọi Nhứt Long, vì chức giáo và nổi tiếng dạy Pháp văn, đào luyện nhiều thế hệ sốp phơ lái ô tô và thầy đội coi máy tàu các tỉnh Nam kỳ và cấp bằng có gạch chữ “ancien élève de l’Ecole dé Mécaniciens Asiatiques, chữ viết tay mực son, những chuyên viên ấy đều được trọng dụng, tỷ như người tôi mang ơn nuôi cơm không nhận tiền là Phạm Văn Lẫm, nhiều năm làm sếp máy hãng mía làm đường ở Hiệp Hòa và như Tư Dền, Sáu Hòa, Hòa Nhỏ, cả ba lái xe cho quan tây lớn và lương thật cao, Dền sốp phơ mà lương 60$ mỗi tháng và chức là major dạy lái và chạy xe cho thống đốc Cognacq
đến Pagès. Rosel, thình lình đang mạnh khỏe, một đêm vào năm 1939, ông dùng cơm tối, bị mắc nghẹn, phu nhơn định sai người đi rước bác sĩ Viel, Rosel cản lại rằng họ ăn giá mắc (10$ thay giá ban ngày là 5$), hà tiện năm đồng bạc, đêm ấy ông nghẹt thở và năm ấy tôi không hay và rất tiếc không được tiễn một quan thầy đỡ đầu tốt bụng. Duy anh Nguyễn Văn Thành, có nhà ở Kho Đạn gần vườn thảo cầm, một tay lo việc tẩm liệm và quan tài của Rosel được đưa xuống tàu chở về an táng ở quê nhà tại Toulon. Khu trường Máy do Rosel tạo lập, chiếm trọn một vuông đất bao gồm bốn đường cái quan trọng, mặt hậu trổ ra đường Hàm Nghi, từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to, Sở Ba Son hiện được tôn trọng và có tượng đồng ông Tôn Đức Thắng, tôi tiếc và viết lại đây không rõ tượng đồng bán thân của Rosel có còn hay đã dẹp nơi lầu thượng trên căn phòng Trường Máy cũ, nhà nầy đã cất lại làm trung học.
Nhắc lại ông Emmanuel Rosel, tuy được kể về hưu năm 1924 như đã nói nơi đoạn trên, nhưng ông vẫn được lưu dụng tại chức cho đến ngày mãn phần, thọ 73 tuổi, vả lại những gì tôi nói đây đều do ký ức nhớ chớ không thấy hoặc riêng tôi tôi chưa gặp sách nào kể cho rành về mấy trường công nghệ ở Miền Nam nầy, vậy tôi kể luôn, nơi đường cũ Chasseloup-Laubat, vẫn có một trường tên Pháp gọi “Ecole Professionnelle d’Industrie” sau goi Ecole Pratique d’industrie, tôi không biết lập năm nào và hiệu trưởng tên gì tôi không biết, duy tôi biết lối 1928, vẫn đặt dưới quyền thanh tra của ông Rosel, và trường dạy về làm đồ mộc, học trò ra trường vẫn được tuyển vào xưởng mộc của Tây, là kỹ sư Foinet và một hãng gọi Etablissement Lamorte, đóng bàn, ghế gỗ giá ty, rất khéo, hãng nầy có đặc quyền mua gom gỗ Giá Tỵ và khi nào hàng nầy dư dùng mới bán gỗ Giá Ty ra cho các tiệm Tàu mua về đóng thùng đựng nước và bàn ghế cho dân dùng. Theo tôi biết, trường Bá nghệ đường Chasseloup nầy có một Tây chức là phó giám đốc tên Robert và một phó giám đốc khác tên Thưởng (đốc Thưởng) ông nầy, tôi xin kể lại là thân phụ của ba người trai thảy đều khác lạ: một người là Nguyễn Văn Huấn, làm thơ ký Ngân khố, vào đời tổng thống Pétain, có lịnh sa thải công chức bê bối, Huấn làm việc ở Kho bạc Cần Thơ, viên kho bạc Pháp công trực, không ưng hạ cấp Huấn và phúc trình binh vực Huấn rằng Huấn làm việc trôi chảy, còn tánh tình cứng cỏi, thì không đáng phải bị khiển trách; một người trai nữa là Nguyễn Văn Thìn, là người đã kết bạn với danh kỵ Ba Trà, tôi đã kể trong quyển “Sài Gòn tạp pín lù” và mấy cô lưu lạc; một người trai thứ ba là Nguyễn Văn Khai, làm thông ngôn tòa đại hình Sài Gòn, đẹp trai, nói tiếng Pháp rất thành thạo, người vợ là một huê khôi, nhưng mạng yểu, thường ngồi xe ô tô dạo phố với Ba Trà, khi mãn phần, chồng là Khai khóc và đề bia mộ đá: “Elle a vécu ce que vivent les roses, l’espace d’un matin” (câu nầy tôi nhớ mại và không đạt đúng nguyên văn).
Một trường thứ 3 tôi biết là trường dạy vẽ ở Gia Định, nay vẫn còn, vẫn đào tạo và dạy môn vẽ dessin, luyện công chức sau nầy bổ qua trường Công lộ (Travaux Publics) vẽ họa đồ nhà, vẽ kiểu xây cầu cống, v.v .. và trường nầy cũng đào tạo dessinateur du cadastre et arpenteur, dạy vẽ địa đồ ruộng, đo đất ruộng vườn. Tôi nói đây có phần lộng ngôn nói hỗn, nhưng già rồi nên không sợ ai mà không nói. Sở dĩ theo tôi hiểu, người Tây qua đây là để khai thác thuộc địa, gánh vàng gánh bạc về nước họ, nhưng luật trời chí công, họ như mẹ gà, ấp mớ trứng vịt, nay vịt con đã trộng và đều nhảy xuống nước lội te te trong khi mẹ gà trên bờ kêu trời mà chịu. Những năm 1930 lối đó, bên Pháp có phong trào “Mặt trận bình dân” (Front Populaire) và ở đây, học trò đã trưởng thành và trở nên sinh viên, Pháp muốn giữ sự kìm chế, nên phải mở ở Hà Nội các trường từ Cao đắng (écoles supérieures) đổi tên làm Đại Học (Lycée, Faculté, v.v…) khi ấy mới có nhơn tài bản xứ học với những họa sư giỏi Tardieu, v.v … và trở nên những Nguyễn Gia Trí, những Nguyễn Sáng v.v .. nhưng đến vấn đề nầy, tôi xin nhường lời cho các nhà nghệ thuật kể lại và tôi chỉ biết những chuyện vặt vạnh những chi tiết nhỏ, thuật lại nghe chơi, và xin nói cho công bình, người Pháp qua đây bỏ xác và đổ máu rất nhiều, nhưng kết quả vẫn ngoài ý muốn của họ.
Kể sơ như về ruộng điền thì ngoài Bắc có Puginier, trong Nam có Evêque d’Adran, hội Mission Evangélique Miền Hậu Giang và trên Nam Vang làm chủ, về tiền tệ, bày ra đúc tiền điếu, đúc bạc trắng, thì Ba Tàu ở Chợ Lớn làm đầu nậu, đúc tiền Chinh (do Sùng Trinh nhà Minh), ăn trên đầu Tây thuộc địa, và Tây Thuộc Địa mảng chạy giấy tờ sang bên Tây, ru chánh phủ và Nội các Tây ngủ say, ở bên nầy bày ra lấy độc trị độc, cho phép hội lập ra, nào Cao Đài, nào Hòa Hảo, nào Phật, nào Gia tô, tranh nhau giành nhau, rốt cuộc binh Nhựt thua ở đâu mà vẫn chạy tràn về đây, gom lúa, thâu cao su, lật đổ toàn quyền Đơ cu (một cu còn chịu không nổi!) và rất cuộc như ngày nay đã thấy, tôi không cần nói nhiều.
Riêng về trường mỹ nghệ, tôi nhớ ở Thủ Dầu Một trước có lập trường dạy làm đồ mộc, và nhờ đó sanh ra những nhà làm đồ mộc nhờ khai thác và đốn cây danh mộc thiên nhiên trên rừng, tỷ như rừng vùng Bình Thuận (cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận), có cây quí, gỗ trắc, cẩm lai, mun, gõ đỏ (gọi cây bên theo tiếng Thổ) nay còn địa danh Tánh Linh, theo tôi là viết và nói sai, chớ thật ra đó là “đất Tấn Linh” vì theo tôi biết ngày xưa ông bà ta để lại: và để lại rất phân minh và rất rành rọt, tiếc thay chúng ta không nghe và không biết áp dụng, tỷ như ở Lục tỉnh ngày xưa, mỗi bên kinh, rạch, mé sông thì đặt ra tỷ như mé tả là chữ Nhiêu (tổng Nhiêu Khánh, Nhiêu Hòa), mé hữu là chữ Phong (Phong Mỹ, Phong Điền) hễ đọc ra là biết ngay thuộc bên nào, và hễ dưới sông thì chữ Tấn (Vàm Tấn là Đại Ngãi (Sốc Trăng Vàm Tấn lại là tiếng mượn của Đàn Thổ, Kơ me) và Tấn Linh mới có nghĩa, chớ Tánh linh, theo tôi thì vô nghĩa. Và nơi Tấn Linh nầy ngày xưa Pháp định mở đường xe lửa (xe hỏa) và dạy đốn gỗ rừng, lúc đó rừng nầy cây gốc thật to thật quá lớn, vả lại rừng thường ngập lụt nên thợ rừng hủy hoại gỗ súc, bày ra làm giàn trò cao và chỉ đốn nội khúc trên của cây gỗ lớn, đổ thừa dưới đất có đỉa có vắt, có thú dữ (cọp voi), tre trúc cũng dùng câu liêm móc giựt chỉ dùng đoạn trên (tre, trúc) và về sau, khi gỗ đã trở nên quá quí mới nhớ lại mà cho thợ rừng đào mốc lấy lại những gốc cây bỏ lóng trước, và khi ấy mới biết tiết kiệm, cưa lại theo mặt gỗ đứng, lấy từng lớp mỏng và dùng làm mặt bàn tròn, có thứ to lớn, đến 1 mét 80 c/m kính tâm hoặc đến 2 mét, nay rất quí hiếm và trước đây còn lại nơi Thủ Dầu Một và nơi Lái Thiêu, hai nhà của hiệu Thuận Hòa và của nhà Nguyễn Long Thao, làm và bán bàn viết mặt đá, ván ngựa (gọi ván ba tức gồm ba tấm ván), ván hai hay ván đôi (có hai tấm) và ván một (chỉ một tấm) v.v. Ở Thủ tôi biết có một người thợ rất khéo và đã chế tạo ra một chiếc xe đạp, chỉ sợi dây sên (chaine) là bằng thép, còn sườn, vành, v.v .. đều toàn bằng gỗ, xe vẫn chạy như xe kim khí, và người thợ mộc nầy đã được phần thưởng xứng đáng. Nhưng xe không được phổ biến và chỉ để thấy người thủ công của ta vẫn hoa tay giỏi. Tóm lại, nghề như vẽ tranh như nay đang thạnh hành, thì có lúc, trong xứ vẫn thiếu vật liệu (thiếu màu vẽ, thiếu giấy, thiếu đất trắng và đồ nội hóa kém sút, cho nên trường dạy làm đồ gốm ở Biên Hòa, theo tôi biết, một đoạn lối 1950-60, lò gốm Biên Hòa sản xuất gốm kém thua lúc Pháp còn ở đây, phải nói Pháp dạy rất kỹ và rất khó tánh, sinh viên làm món chưa vừa ý, họ đều bỏ không cho nung. Còn ngày nay, tôi chịu thua và không biết được.
Đến đây, bài đã quá dài, và giấy còn thừa, tôi xin nhảy qua giới chơi đồ cổ và kể lại thời Bollaert ông nầy toan xin làm một món gốm, thị trường trả lời vật liệu thiếu (thiếu borate) không làm được. Xin chở ra một cổ vật sang Pháp, thì bị cản trở, nhưng món ấy vẫn chở ra khỏi đây vì chở bằng tàu chiến nên chở dễ dàng.
Nay việc cũ, nhắc lại và xin độc giả bỏ qua cho: trong bốn ngành mỹ nghệ:
1. Về máy móc, tôi làm nơi trường Máy ông Rosel ngót sáu năm từ 1923 đến 1928, tôi mua tôle thiếc lợp nóc chuồng gà Mỹ của thống đốc, được đặc hạng 18 tháng mà thăng lên một cấp, ông Favier phó và ông Rosel cho tôi theo xe để học. lái xe, nhưng tôi thừa dịp để xe đi dạy người khác, còn tôi thì xuống xe và dùng thì giờ đi với chị em và đến nay tôi vẫn không biết lái xe.
2. Về tranh, tôi xét không đủ tiền theo kịp các tay điên tiền. Khi làm nơi viện quốc gia ở vườn thú ở đây, tôi thấy cả mấy chục tấm tranh vẽ màu, mực Tầu, vẽ dầu, có một bức màu ba phụ nữ Bắc, Trung, Nam, ngồi chùm nhum trên sàn nhỏ, tôi cho là rất khéo, những tranh ấy đều do họa sư Pháp vẽ, không biết hiện nay về đâu?
3. Về gốm, mặc dầu tôi chơi gốm cổ, nhưng tôi không sắm gốm Biên Hòa, chỉ có đôi gốm do đời Tây để lại và nay rất khó kiếm. Nay gốm mới tôi không quan tâm nữa.
4. Rốt cuộc, tôi thích đồ mộc, vì theo tôi đồ mộc Thủ và Lái Thiêu, gỗ tự nhiên trắc, cẩm lai, lâu niên thành cổ. Mộng mẹo cho thật khít khao, để lâu năm thì quí. Nhà Tân Hanh, trước ở đường Nguyễn Trãi, khi chủ mất, nhà bị bán, chủ xin được yên thân vùi xác trong một chiếc hòm cây Giá Tỵ, kỳ dư liễn, hoành sơn son thiếp vàng, vô số kể, treo đầy vách, nay về tay ai.
– Tôi đã bỏ qua nhiều dịp tốt, nay tiếc đã muộn. Nhà Tái Hiệp Hòa ở Chợ Lớn, tôi gặp năm nọ đã lâu, 12 (mười hai) chiếc ghế gỗ mun, do thợ Bà Rịa làm năm 1900 hay lối đó, ra giá mỗi ghế 600 bạc cũ đời Thủ hiến Trần Văn Hữu, cả thảy giá 7.200, tôi cò kè trả bớt không được, khi về nhà lấy tiền trở lại chủ nhựt sau thì ghế đã bán mất, tiếc quá. – Nhà Huê Hưng chứa cả kho đồ mộc kiểu đời Thanh, sập ba thành, bàn mặt đá quí giá rẻ mạt, nhưng mua về không chỗ chứa, nay đâu còn? Nhà Huê Hưng cũng đã dẹp.
– Lúc ở Sa Đéc, chủ Quảng Đông tiệm mộc tên Đăng Quán, quen thân, một hôm tôi mời chơi bài thiên cửu, Quán nói mắc dỡ nhà cũ cho kịp sáng chủ nhận tiền, sau đó Quán cho biết phải đỡ nhẹ lấy bộ cột cho kịp lúc vì cột ấy toàn gỗ mun, mà người chủ bán nói cột sơn dầu hắc bán giá cột chụm củi và rõ lại người chủ ấy là bạn học bên Tây đồng song với bác vật Lưu Văn Lang, tên Lương Văn Mỹ, kỹ sư công chánh.
Tôi gần đây đã gặp một bộ ghế cây trắc giả bắt chước bàn ghế dây mây đan (rotin tressé) mộng khít rịt, tôi mua không kịp, nay về đảo Đài Loan, đáng tiếc, hoặc tại tôi vô duyên.
(viết tiếp từ 27-9-1993)
Tôi viết ba lăng nhăng trối mặc tôi, các bạn trẻ xài được thì cứ xài …
Nay tôi nhớ lại, năm 1919, khi tôi được chấm cho vào học nơi trường Trung học tây Chasseloup-Laubat, lúc ấy chưa có người quen ở Sài Gòn ưng làm correspondant tức người bảo chứng cho học trò ở xa nhà là tôi, (sau tôi xin được ông Thanh, em ông Cao Đắc Lỹ là chú của bạn đồng song tên Tệt (Trước, Tre) nhận cho tôi ở đậu ngày nghỉ lễ hay chủ nhựt, nhưng tôi cũng ít đến sẵn tánh nhút nhát, nhà ông Thanh nầy nhớ số 90 đường dEspagne, và có chứa ông Nguyễn Văn Sâm, làm chánh trị bị giết trên xe buýt, cũng người Sốc Trăng, nhắc lại năm 1919, tôi thường ghé một nhà ở đường Mạc Mahon, ngang dinh Toàn quyền, mỗi khi ra trường ngày nghỉ lễ, vì nhà nầy là trụ sở của một trường do một ông Tây làm quan to ở Bắc, về hưu, nên vô Sài Gòn xin được lập trường lớn dạy nghề thêu thùa, nhưng tuyển học trò trong Nam không ai vào học, vỏn vẹn năm 1919 ấy, chỉ có bốn người học trò, một nữ ba nam, trong số có anh Hải, con ông Quản tên Đủ, làm nghề đóng sách cho tòa bố ở Sốc Trăng, anh Hải nầy có tên khác là Chơn, nhận làm correspondant cho tôi, về sau anh học lươn khươn không ra gì, rồi bỏ học, lại trở nên đứng dọn bàn rồi thăng lên là đầu bếp cho Bussière, tham biện chủ tỉnh tỉnh Sốc Trăng, có dắt Chơn (Hải) sang Pháp làm bồi (boy à tout faire) bồi dọn bàn mà lãnh nấu bếp luôn, chính anh Chơn khi đi bên Tây rồi trở về, đã nói với tôi, tưởng đâu ông chủ là Bussière, chức ở bên nầy là quan cai trị chủ tỉnh, thế mà ở bên Pháp, ông chỉ có duy nhứt một con bò cái nuôi để lấy sữa và nhà ở của ông và vườn của ông là nhà mướn, vườn mướn, còn lúc học thêu ở Sài Gòn, học trò gì mà chỉ một nữ ba nam, không thấy thầy đến dạy, bốn người ở chầu chực, chờ lãnh tiền cơm rồi thua buồn lần hồi bỏ học, ông chủ trường là ông Georges Bois, lặn hụp rồi cũng mất tăm mất dạng và trường dẹp luôn, day qua tôi có bạn là Tăng Thiện Lăng, học lớp nhứt ở Sốc Trăng, năm 1919, lên đây học trường Máy của ông Rosel, Lăng trong lúc học năm đầu (1ère année), lén lấy sắt lấy thép, lấy chì, của nhà trường, rồi lén lút đúc bàn tay sắt (tên tiếng Pháp là coup de poing américain) và đúc lưỡi búa thép, lưỡi bề ngang 4 hay 5 c/m, cán bằng gỗ cứng, búa lợi hại và bén ngót, dùng để đi đánh lộn giữa học trò các trường tại Sài Gòn thì chém hay búa đầu nhau, học trò trường Chasseloup chia ra có hai phe, phe dân tộc Nam, gồm hai nhóm, nhóm có học bổng chánh phủ hoặc làng xã tỉnh hạt cấp, nhóm khác không học bổng và do cha mẹ khá giả xin được cho con vào học, hai nhóm nầy nói chí tình, đều lo học hành và giữ hạnh kiểm tốt, duy trường Chasseloup vẫn có một nhóm thứ 3 mà có lẽ là nhóm chánh, gồm học trò dân tộc Âu Pháp, chữ gọi “quartier européen” nhưng kỳ trung đó là dân tộc phức tạp Tây lai có, Chà và đen, dân Pháp có, mà phần lớn là Ba Tầu, con Chệc nhà giàu trong Chợ Lớn hoặc con các bang trưởng Quảng Đông hay Triều Châu ở Lục tỉnh gởi lên, thảy đều có máu mặt, thảy đều là con nhà giàu sụ, tóm lại thảy đều là công tử mất dạy, học không lo học chữ và nghĩa và học những thói xấu, tập làm công tử bột, làm trai hư “có mèo” có bồ bạn gái trường Áo Tím (nữ trung học Gia Long) hoặc bạn gái “đầm lai” trường áo trắng Nhà Phước (do các dì phước, cũng gọi bà phước (soeur ou révérendre mère carmélites gọi tắt Nhà Phước, Nhà Trắng) hoặc học trò nữ quốc tịch Âu Pháp trường Ecole des filles françaises, sau gọi trường Marie Curie, nhưng nói đây như vậy là tôi nói tằm ruồng vô trật tự và xin nói cho chính đáng (hay chí đáng), riêng phận tôi, ai mặc ai, tôi giữ phận tôi – và Ba tôi hy sanh, nhịn ăn nhịn mặc, gởi lên tôi đây để học chữ Tây, cơm nhà áo mẹ, tôi học rất chuyên cần và rất phát, không dám làm phụ lòng Ba tôi, cho nên nói chí tình Chơn (Hải) rồi Tăng Thiện Lăng, mỗi chủ nhựt hay ngày nghỉ lễ, thường đến đón tiếp tôi từ cổng cửa lớn trường Chasseloup là để cùng nhau đi hoặc ăn sáng, tô hủ tíu ba xu, hoặc uống giải khát “Au Rendez vous des Poilus” là quán ở đường Amiral Courbet, chuyên bán cà phê, nước ngọt, sau nầy Lăng học đủ ba năm nơi Trường Máy Rosel và được bổ nhiệm làm đội máy coi tàu và giữ kho gọi Vọng Thoàn, nơi tỉnh nhà Sốc Trăng và phân tay với tôi, thi đậu và làm thơ ký quét bu rô làm tôi mọi cho chánh phủ Tây,Hơn Nửa Đời Hư là vậy, nói càng xấu nhục …
Trở lại như đã nói rồi trường Trung học collège Chasseloup-Laubat lập ra từ năm 1874, nhưng tương đương với trường công và chánh thức của Tây bày ra, nhưng một vì khó có phương tiện nhập học trường công nầy, hai là một lẽ riêng hiểu của tôi là dạy chữ mà ít lo và để tự do phóng túng về đạo đức, một lẽ thứ ba là về sau có phong trào Tây không theo Thiên chúa giáo, hoặc theo đạo Tam Điểm (loge maconique), ghét và nghịch với đạo Gia tô, nên bên Gia tô giáo nảy lập ra một trường nay đồ sộ và còn tại chỗ duy đã đổi cách dạy dỗ khác, tôi muốn gọi và nói và cám ơn tuy không có học trường nầy và đó là Institution Taberd, trường chọn tên như vậy, nhưng người tạo lập, sáng tạo và tự xuất tiền lập công đức lớn thật lớn này là ông Kerlan, mà tôi xin kể sơ lược như vầy:
Kerlan, trước tiên là người thế tục (laique) (không theo đạo Gia tô. Tên họ đủ là Henri, Marie Thérèse, Alexandre Juhel des Isles de Kerlan. Sanh năm 1844 tại Angers (Maine et Loire), khu paroisse de la Trinite. Học trường collège de Combrée, và tuy không theo đạo nhưng được tuyển cho nhập học ngày 26 septembre 1864 nơi trường chủng viện Séminaire des Missions Entrangères. Được phong mục sư prêtre ngày 15 juin 1867 và ngày 16 aout được cắt về xứ Nam kỳ.
Đến địa phận nầy, đức Cha Mgr Miche sai đi Bà Rịa, trước giữ chức Trợ tế (vicaire) rồi lên làm mục sư (curé). Tiếp theo đó, được cho làm phụ tá cho cha R.P. Gernot giữ họ đạo dòng Cái Mơn. Đến năm 1871, được làm mục sư (curé) địa phận Sài Gòn. Kể từ đây, ông chuyên và bành trướng làm toàn việc thiện. Ông xuất tiền nhà, tiền của ông có, lập năm 1874 (đồng thời đồng niên với trường Bổn Quốc collège Chasseloup) ông lập Institution Taberd nầy. Trường chuyên dành cho trẻ lai bị bỏ rơi … , tiếc thay danh ấy thọ nhưng mạng lại yểu, Kerlan về với Chúa ngày 27 Mars 1877, lên trái trời (petite vérole noire (trái đen), tức lên trái (variole) do một bịnh nhơn lây cho. Trường Taberd mở rộng, xây lầu, cất cao và rộng thêm mãi, nhưng nay tôi không vào bên trong được và không biết nơi sân trong của trường có còn tồn tại tượng đồng bán thân của Kerlan chăng, tượng nầy do Thủy sư Đề Đốc Dupré dựng lên và đến ngày 14 Mai 1877 Dupré đặt tên Kerlan cho một con đường mới nối đại lộ Norodom qua đường Lucien Mossard.
(viết ngày 27-9-1993)
Trường Taberd hữu ích và đã đào tạo khá nhiều công chức cho chánh phủ thuộc địa Pháp. Môn dạy chữ rất hay, thi đậu rất nhiều, nhưng cũng dạy kinh, các thầy dòng có tục hết lòng dạy bọn đẹp trai, gọi tục ấy là “cộ” Ra trường quen kinh và theo Gia tô giáo cũng bộn. Từ những năm 1920 về sau, trong Nam người như của cải, phát mạnh, lúa có giá, dân sanh đẻ mau, Nhà Nướcthuộc địa mở ra lớp dạy và luyện thi tú tài, gọi “tú tài bản xứ” lớp ấy mở tại trường Chasseloup học sinh học tấn phát, thi đỗ bằng Brevet Supérieur, Baccalaureat français rồi “lô canh” rồi tăng collège thành lycée trường lang sa, tách nhóm Việt qua lập trường Pétrus (1928) và môn dạy lấy cấp bằng thấy kiếm ăn được, trường nở ra:
– Trường Nguyễn Xích Hồng, mời giáo sư Pháp dạy, lương tính mỗi giờ 5$00.
– Trường Huỳnh Công Phát nối lấy chỗ và N.X.H. chạy vô Gia Định.
– Trường Chấn Hưng hay Chấn Thanh ở Cầu Muối (Ông Lãnh).
– Trường Huỳnh Khương Ninh, học trò ương ngạnh, giấu thầy nghề võ, học môn xành tả (thần đả) thử sức chém đứt lưng xảy ra án mạng …
– Trường Nguyễn Phan Long, ông chọn rể, gả con, nghĩa tế, công tử con nhà giàu lớn ở Sốc Trăng, tên Giang Đông Đẩu, ông Long thấy không dạy được, vận động cho Đẩu qua Pháp, Đẩu trở về chở theo một ô tô nhớ như hiệu Alpha-Roméo, đăng bộ tại Paris, qua Sài Gòn, lính cò phạt, phải gởi giấy phạt sang Paris, lính Tây, cò (cẩm) Pháp chịu thua, Đẩu về làm công tử tại quê nhà ở quận Long Phú (Bang Long) chủ quận đốc phủ Lê Quang Trường cũng chạy mặt.
Trường mở rộng xuống Cần Thơ cũng có trường tư, trường Đồng Nai của Đoàn Quan Tấn và một trường nữa của Lê Bá Cang ở Sài Gòn thì ở Cần Thơ có trường Hậu Giang (Bassac của Phạm Văn Bạch). Rồi nào trường của Cao Đài, của Hòa Hảo, trường Nguyễn Tích Thiện ở châu thành Sốc Trăng, giám thị trường là Phan Văn Hùm, sau trường đổi chủ và giao cho thầy cũ lớp nhứt, trường tỉnh Sốc Trăng là ông Trần Văn Điền, là thầy đào tạo ra tôi ngày nay, với ân sư dạy lớp nhì (cours moyen) là ông Trần Tấn Chức.
(viết tiếp ngày 28-9-1993, nối bài “Vườn ông Thượng”)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.