Nửa đời còn lại

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 30 Nov 2025

Chương 15.

Vài chuyện cũ còn nhớ về đường phố Sài Gòn ngày xưa.

Cách nay vài năm, trong báo có đăng tin người bỏ xứ đi xa, nay muốn biết địa chỉ một thân nhơn, cho địa chỉ: “số nhà số mấy? và đường gọi “d’Adran” nhưng báo chí không đăng trả lời, tôi định là không biết. Nay tôi tìm ra, vậy xin cho hay, nhưng đã muộn:

– Đường ở Chợ Cũ Sài Gòn tên gọi “đường d’Adran” đó là đường gọi “rue Georges Guynemer” tức đường bắt đầu sau tòa tạp tụng và nối liền mối đường Đỗ Hữu Vị chạy tuốt xuống đụng mé sông mang tên đường mé sông ấy là quai de Belgique, chỗ cầu móng cũ nay đã hư tệ. Tên mới tôi xin chừa vì tôi không rành.

Georges Marie Guynemer là phi công Pháp, sanh trưởng tại Paris (24-12-1894) tuổi vừa 22, đã bắn hạ rất nhiều máy bay của địch (A lơ măng) chức đại úy đeo ba lon và đã có ngũ đẳng bội tinh, và sau tử trận mất tiêu thỉ thể và xác máy bay, đất không chôn được xác anh hùng và hồn thiêng bất tử vẫn tồn tại phiêu phiêu trên mây bạc. Ngày 26 Avril 1920, hội đồng đô thành Sài Gòn chọn tên người vị quốc vong thân, đặt thay tên đường cũ “rue d’Adran”, nhờ đó mà tôi biết được, lúc nhỏ, theo Ba tôi lên trên nầy năm 1919, đã từng cha con dạo phố và để chưn nơi đường nầy, và nhớ bên mé hữu, kể từ đường Đỗ Hữu Vị đi xuống mé sông thì sau và ngang miếng đất trống Tổng Ngân khố, đất trống do phá bỏ chợ cũ còn đất lại và mé tay mặt đó có một tiệm thợ bạc lớn, treo bảng hai chữ “Kim Ngọc” và thân phụ tôi dạy cho biết đó là lò ông thợ cha của hội đồng quản hạt tên Khá (Trần Văn Khá) tức rể của đốc phủ Vịnh (Nguyễn Văn Vịnh, trước có ngồi làm ở tỉnh Sốc Trăng), ông Vịnh là bào huynh của Duyên (giáo sư) của Liễn (dược sư) người gốc làng Tân Trụ (Chợ Lớn) v.v…Tên ď’Adran kéo qua nhắc lại Bá Đa Lộc, nay đã bị phá mồ (lăng Cha Cả) nhưng tưởng nên ghi lại để cho người đến sau được rõ, đó là:

Những chỗ cũ, tên cũ cần ghi lại để biết:

1. Trường gọi “collège d’Adran” ở đâu?

2. Place Pigneau de Béhaine?

3. Statue Pigneau de Béhaine?

1. Collège d’Adran. Danh từ nầy thay đổi nhiều lần và nhiều người lầm lộn với trường gọi “des stagiaires” v.v … Tôi biết sao thì nói là: Collège   d’Adran: năm 1862, qua năm 1910, đổi làm Ecole des Filles Françaises; qua năm 1922, xây cất thêm và đặt “Ecole Normalde d’in tuteurs” (đào luyện giáo viên) sau thêm lớp cao cấp “écoles primaires supérieures” để qua nhiều trào và nôm na vẫn gọi “Trường Sở Cọp” vì cọp Sở Thú gần bên. Năm 1942, đời Thống đốc Tây Rivoial, lấy tên cũ gọi là “collège d’Adran” nhưng tên nầy không tồn tại.

2. Place Pigneau de Béhaine. Đó là chỗ trước Nhà thờ, tượng đồng hình Bá Đa Lộc đứng che chở cho đông cung Cảnh, tuy bị hạ bệ từ lâu, nhưng bệ đá màu đỏ tươi rất đẹp, vẫn không hề hấn và giữ lại làm bệ tượng Maria bằng thạch cao nay còn thấy.

Nhắc lại đây, Place nầy trước ở chỗ gọi Place de l’Horloge (đời Amiraux) là chỗ nay có vườn cây nơi đường Đồng Khởi, giữa 2 đường La Grandière và Espagne, đồng hồ chỉ giờ đời Tây qua sau dẹp đã có đồng hồ lớn tòa Bưu chính (Hôtel des Postes).

Xin nhắc luôn Cathédrale (nhà thờ lớn) đặt tên Vương cung thánh đường ấy, thì khởi công xây cất từ năm 1879, (như vậy đã trên 100 năm) nhưng vườn ấy có lúc bị bỏ thiếu sự chăm nom, đợi đến 1893, vườn mới được tu bổ lại, và tên đặt làm Place Pigneau de Béhaine là có từ 1920.

3. Statue Pigneau de Béhaine. Đã nói tượng đồng nầy ở trước nhà thờ lớn. Đó là tượng do Dormier chế tác và được dựng Mars 1902. 4. Nói lại đây, có stèle (bia đá) đặt nơi hông viện bảo tàng Bách Thảo, là do Taboulet xin dựng lên để ghi chỗ ở xưa của Đức Cha Cả, bia nầy dựng năm 3 Octobre 1936, có Phạm Quỳnh chứng kiến. (Chữ Pháp “décédé” đối với một chức sắc lớn của Gia tô giáo, lựa dịch trên bia “tịch” thì là chữ mượn của đạo Phật? Năm trước ra Huế, tôi gặp một tượng d’Adran và đông cung, tượng giấy bồi và giấu trong kho kín Tôn Nhơn Phủ …

(viết ngày 29-9-1993 tức 14-8 Quí Dậu, trung thu tiền nhứt nhựt)

Dị đoan, đồng diêu, ca dao

Người mới, đời mới, thuyết Mác Lê cũng mới, dị đoan đã bớt người tin theo. Tôi thuật lại đây hàm bà lằng cuốc chí, ai tin cùng không cũng mặc và tôi cứ thuật. Lúc tôi được bảy, tám tuổi, tôi ở châu thành Sốc Trăng, trong xóm có một nhỏ hai dòng máu, tên Hên (Hưng), sau thuần lại và làm hương hào và gọi hương hào Hên, lúc còn học lớp chót và nhỏ hơn tôi vài tuổi, nhưng tánh tình Hên ương ngạnh không ai chịu nổi. Chính nó bày ra hay nó học lỏm ở đâu rồi truyền cho chúng tôi, là mỗi khi muốn ngạo ai, chọc tức

ai, thì nó hô lớn: “Bồ kề!” rồi nó bắt chúng tôi phải vỗ tay và lặp lại hai tiếng ấy. Không ai hiểu nghĩa là gì, chính người lớn cũng lây chứng và nhại theo “Bồ kề!” và sau đó nó còn bày ra nói nguyên dọc “Bồ kề! ác táp lách xi cu la Canh ti nả. Bồ kề!”.

Không nói và la theo nó thì nó đánh, nó giọi trên đầu, mượn cha phải nói theo cho khỏi chuyện gì. Trong xóm có một trưởng lão, tức một ông già chệc Tiều, cao lớn, mặt đỏ au, tóc bạc trắng búi một bì bi (đuôi sam nhỏ xíu, thắt lòng thòng sau lưng, tay cầm một ống điếu tre dài nơi đầu có gắn một nồi thuốc hút, cái đầu ngậm vào mồm là một ống đá cẩm thạch rất đẹp, mỗi khi chúng tôi ra đường đụng đầu với ông lão nầy thì thằng Hên hô to: “Bồ kề? Bổ cu ông già?” và lẹ như chớp nháng, tức thì ông nổi tam bành, chơn rượt, tay bổ tưới ống điếu vào đầu đứa nào chạy không kịp thì lãnh đủ, miệng ông chửi: “Lù má mẩy là thằng xích câm xa”, chúng tôi chạy ra xa, khỏi tầm tay thì đứng lại hô Bồ kề như cũ.

Ngày nay chuyện xưa kể lại dông dài mà nhơn vật cũ đâu còn móng nào, trừ kẻ hèn nầy tuổi đã 92 và nhờ chưa xuống dưới gặp lại bạn cũ, tôi lần mò tìm hiểu và nay phân tích lại cho các bạn trẻ biết, thì:

– Bồ kề? là tiếng Triều Châu, phiên âm Hán tự là “Bất hảo” (đúng ra bồ ềnh (bất an) là Bồ hố? bất hảo, hoặc đủ chữ là “Bồ xừ phềnh an! (Vô sự bình an) nhưng không hiểu sao mà thằng Hên bày ra hai chữ Bồ kề! Và nguyên câu “ác táp lách xi cu la Canh tỉ nả!” Đúng ra là tiếng Tây “La tablette de chocolat de la rue Catinat” câu nầy là tôi sắp đặt lại về sau cho có nghĩa còn hồi đó, đúng ra thằng Hên nó theo mẹ lên Sài Gòn rồi khi trở về Sốc Trăng nó truyền bá ra làm vậy. (Xin các bạn trẻ rán hiểu lấy). Còn “bổ cu ông già,” tôi không cần giải thích cho thêm rắc rối, bổ cu (beaucoup) như dễ hiểu dễ biết quá mà!

Tôi đánh máy đến trang nầy rồi tự thấy mừng vì tuy tuổi đã hơn chín chục mà trí nhớ vẫn còn sắc bén, và bình tâm xét lại, tôi sanh năm 1902, và cái năm sanh ra có câu “Bồ kề! ác táp lách” ấy, có lẽ là lối năm 1910, và đúng như sử sách ghi chép lại, thì năm 1911, Tân hợi, là năm bên Trung Quốc xảy ra vụ làm cách mạng lật đổ nhà Thanh và từ bên Tàu cho đến đâu đâu có Chệc Tàu ở, thì họ đều cắt đuôi, bỏ đeo bì bi (đuôi sam) trên đầu, và đúng y chang câu đồng dao do thằng Hên bày hát: và đúng với một sự tôi cho là kỳ, là lạ, là vào mấy năm 1910, 1911 ấy, tre trồng trong rẫy ở Sốc Trăng, tôi thấy trước mắt, hễ trồng cắm rễ vào dất thì tre mọc èo uột lâu lắc, và nếu dộng ngược gốc tre cắm xuống đất thì tre vẫn mọc và mọc mạnh mọc mau là khác và câu tục ngữ địa phương để lại và nay tôi nhắc ra đây, còn người mới, tin cùng không tôi cóc cần biết và câu kinh nghiệm ấy là: “Trồng tre trở gốc về trời! Ông Bồn về Tàu, thằng chệc đứt đuôi!” (tôi giải thích thêm: ông Bồn, tức là vị thần của người Hoa thờ nơi các chùa miễu của họ, Bổn cảnh thành hoàng, nói tắt. Ông Bổn về Tàu, tức là năm Tân Hợi ấy (1911), người Hoa nhiễm tiến bộ văn minh, một phần dân Tàu, bớt tin dị đoan, bỏ hay nhẹ bớt tục thờ cúng và đã đưa ông Bồn về …)

Tục người Tàu dưỡng tóc kết đuôi sam, theo Ba tôi nói lại, là có lẽ tục của dân tộc Mãn Châu (Mandchourie) có lẽ họ thờ “động vật tổ” (totem) của họ là “lư: là con lừa, cho nên y phục đại lễ Thanh triều, tay áo lất lên như móng lừa, họ lễ bái, lạy khúm núm như lừa quì bái và tóc trên đầu vẫn cạo chung quanh sạch bách, chỉ chừa một lọn kết và kèm thêm tóc giả hoặc chỉ tơ đỏ đen làm bì bi và nghĩa kín ít nói cho biết là họ ngầm muốn tỏ ra: “tứ xứ di tồn Trung Quốc” (ý đen là vốn di man (man là người phương Nam nước Tàu), bốn dân “mọi” ấy cạo sạch, chỉ chừa người Hán còn lại, v.v ..

Xin thêm, năm cách mạng Tân Hợi, quốc kỳ Trung Quốc ban đầu là cờ ngũ sắc (Hán, Mãn (mandchou), Mông (Mongol, Mông Cổ), Hồi (Mahométan), Tạng (Tibétan)).

Chính vậy cho nên ngày nay họ chưa chịu buông tay cho độc lập cho tiểu quốc nầy. Tôi đã sa đà vì tôi viết để nhắc việc cũ cho quên việc rối trong nhà, cô bác anh em đọc rồi xin bỏ qua cho. Vạn tạ.

(29-9-93) Trung thu tiền nhứt nhựt, nói làm vầy cho khỏi dị đoan cữ 5, 14, 23 …)

(viết thêm ngày 30 Septembre 1993)

Về hai chữ Bồ kề ở Sốc Trăng nghe lúc bé thơ. Về hai tiếng Tiều ở Sốc Trăng đến nay còn ít ai cắt nghĩa: “Bồ kề”. Xin thưa lại: “Trong một bài viết nơi trước, tôi đã nói “Bồ kề” là “bất hảo” của người Triều Châu, nhưng nay tôi gẫm lại và dám quả quyết: “Bồ kề” không phải tiếng Tiều chi cả, và rõ lại có lẽ đó là hai tiếng “Bồn kèn” ở Sài Gòn thuở những năm 1910 – 1911 hoặc trước đó vài mươi năm và Bồ kề như vậy là “Bồn Kèn” (kiosque à musique) do Tây khi mới qua, họ xây tại Bồn Nước ngày nay trước hãng Charner cũ và Bồn Kèn nầy mắt tôi đã thấy, vẫn là một bệ xây đá  xanh tám góc vuông vức, mỗi chiều thứ năm trong tuần, họ sai sơn đá đem kèn đem trống đến và tấu nhạc võ lên … – Ông bà nhà quê lớp xưa để lại thành ngữ “đánh mũi đích” (musique)

– Thơ Huỳnh Mẫn Đạt “… nhạc Tây hơi trỗi lạ …”

– Thơ cỡ Bùi Hữu Nghĩa: “Tò le kèn thổi tiếng năm ba …” và như vậy tôi dám chắc ở Sốc Trăng trẻ nhỏ lớp tôi những năm lối 1910 – 1911, có thằng Hên là con ý Bang Chu, ý nầy dắt nó lên Sài Gòn dạo chơi và nó mua về Sốc Trăng thứ bánh kẹo chocolat hiệu Nestlé (ở Sài Gòn mang về) “và mang theo hai tiếng “Bồn kèn” mà nó lặp lại và biến ra Bồ kề là như vậy …

Tiếng Tàu, tiếng Quảng (Quảng Đông) và tiếng Tiều (Triều Châu) của tôi, là những tiếng học đường học xá, nhưng tôi dám chắc vẫn có căn có bồn.

Nhắc lại: đồng dao hay câu do thằng Hên dạy chúng tôi hát thuở ấy: “Ác táp lách xi cu la Canh ti nả Bồ kề” là tiếng Tây ba trợn, “la tablette de chocolat Catinat Bồn kèn”.

Cũng vào những năm 1911, cách mạng xảy ra bên nước Tàu lật đổ nhà THANH, thì tại Sốc Trăng nhóm người Tàu cũng dẹp theo tục cúng cô hồn tháng 7 (lễ vong xá cô hồn) và thay thế vào lễ giựt giàn là lấy tiền cúng ma cho vào kết (caisse) hội từ thiện (lập nhà thương, lập trường học, chẩn

bần tiếp tế, v.v..) chớ trước 1911 ấy thì lễ cúng cô hồn tháng 7 ở Sốc Trăng, tôi còn nhớ: Sốc Trăng có ba nhóm người Tàu, thì có ba nghĩa địa chôn:

– Nghĩa địa dành cho người Phước Kiến, đường Bãi Xàu (ông Tiêu ốm nhom); – Nhóm Quảng Đông, nghĩa địa cũng ở đường qua Bãi Xàu và ông Tiêu cũng ốm teo …

– Nhóm Tiều, nghĩa địa ở trên đường đi ra Đại Ngãi, thì ông Tiêu (Tiêu điện ma vương) mới thật là cao lớn dình dàng, cao gần gần ba mét, áo giáp xanh lè rực rỡ, tay cầm cây giản thật lớn, lẫm liệt oai phong, trên mão có bóng hình Phật Bà Quán Âm để trị bớt tánh hung Tiêu điện cho bớt ăn thịt hồn ma bóng quỉ, và đáng ghê sợ hơn cả, ngó ông mà khiếp vía là ông Tiêu nầy le lưỡi dài tới bụng! Nay tôi nhớ lại và nhắc lại nghe chơi, để trẻ sắp nhỏ trong nhà được biết, quãng những năm 1910 – 1911, từ Sốc Trăng muốn lên Sài Gòn phải đi thuyền, theo ghe chài chở lúa, hoặc đi tàu thủy (lối 1920 v.v..) chớ đường bộ chưa có.

Khi lên tới Sài Gòn nhà ngủ Nam chưa có, phải tìm nhà quen hoặc ở nhà tiếp khách của Ba Tầu và thuở đó ở Sài Gòn và Chợ Lớn, vẫn người Tàu gần như làm chủ, vì Nhà Nước Tây nhắm mắt chỉ lo thâu thuế và đã để chệc khách muốn làm chi chi cũng được, Tây giao cho bảy bang (Thất phủ miếu, thờ Quan Đế) mà kỳ thật nói 7 bang mà đếm chỉ có Phước Kiến (chành lúa, người Phước Kiến), Hẹ (Ha kas, ít người, chuyên bán và làm thịt thú: dê, trừu, bò …), Tiều (Triều Châu, làm rẫy, làm mướn coolie gánh lúa) và Quảng (Quảng Đông), buổi ấy người Tầu khác, như Bắc Kinh, Tô Châu, chưa có, và mỗi năm rằm tháng giêng (Thượng nguyên), rằm tháng 7 (Trung nguyên), rằm tháng 8 (Trung thu) và rằm tháng 10 (Hạ nguyên) những lễ Tàu ấy thường thì đường lớn (Quảng tống cái, rue de Canton), đường Thủy binh (rue des marins) đều có “cộ 7 bang” (ép người Chà Ấn độ bán vải, nhập cho đủ số 7 bang) đều có bong bằng tre bên giấy hoa hòe xanh đỏ, gọi “Thể lâu” và làm lễ cúng tháng 7 cô hồn rất lớn và mỗi khi như vậy thì ở Sốc Trăng người Tàu hưởng ứng theo và bang Triều Châu lúc ấy bang trưởng là Lưu Liễu, ngoài gọi Bang Tư (thứ 4) người Tiều mẹ Việt, bang Tư nầy quen giao thiệp với mấy ông mấy thầy trong tòa bố tòa án, và quen tánh ăn to xài lớn (sanh nghiệp là chứa bài, vì vậy sau bị hạ và chết bị đâm lối năm 1946), bang Tư nầy tổ chức cúng cô hồn tháng 7 rất trọng thể, nơi nghĩa địa (Nhị tì) mướn đến hai gánh hát Tiều, một “thùng xanh hay thùng đỏ”, tiếng Tiều là áng láng, xe láng, (láng là rương, áng là đỏ, xe là thanh, xanh) còn gánh khác nữa là gánh thùng sơn màu đen gọi “ô láng” của bà bang Bủi Thiêm nhà ở châu thành, ngay khu chợ Sốc Trăng do hai người con trai là chủ gánh hát (tôi quên tên) và em của chủ gánh hát là cũ Cụi, cũ là cựu, cậu, và Cụi là Quế, cũ Tư Cụi nầy, là công tử nửa mùa, hai người con gái nay còn là cô Hai (vợ Xã Liên) và cô Ba, nay có chồng và ở đường Nguyễn Thông (Sài Gòn).

Mỗi rằm tháng 7 ở Sốc Trăng ấy, là một ngày lễ, vui lớn, nay không còn gặp nữa và ở nghĩa địa Tiều nơi đường đi Đại Ngãi nầy, vui và đông nghẹt khách dạo chơi, quán bán cháo Tiều bán vịt luộc, hủ tíu cá, quán bán chả giò, nem bún, v.v… đếm không xiết và vui không chỗ nói …

Ở Sài Gòn cũng như ở Sốc Trăng, nhạc Tây chưa có, chỉ có kèn lính tập (clairon) còn nhạc Tàu thì tôi nhớ có:trống Bắc cấu (trống Quảng Đông) và “Tùa lầu cấu (Đại lão cổ) là trống nhạc Tiều, phèng la, chụp chõa Quảng, và hát Tiều ở Nghĩa địa Tiều ở Sốc Trăng, tôi nhớ họ hát sáng đêm và vẫn hai rạp hát chọn một tuồng tích và hát thi đua với nhau, tiếng Tiều là hát “siêu tạo” cứ gánh thùng đen hát Tam Quốc thì gánh nọ cũng đổi lớp và hát Tam Quốc y theo, đôi bên bày ra thí võ trên sân khấu rồi kình chống nhau, kéo nhau xuống sân cỏ rồi đánh vật với nhau đổ máu trầy da và đúng ngày rằm cúng ngọ xong thì bày ra thí giàn, quăng thẻ gỗ từ trên giàn cho người đứng dưới tranh giành lấy thẻ ấy vào miễu cho ủy ban tổ chức coi theo số thẻ cây mà phát thưởng, và những vật thưởng ấy gồm cốm nếp, thịt heo tươi, lễ vật cúng kiến cho hồn ma (bánh ếch, bánh tét v.v …) và nhứt là rau muống kết làm giỏ tre gọi “đụng”, đụng đây là tiếng chuyên môn, theo chính tả Lê Ngọc Trụ diễn là vật góp mua từng con vật (heo) cắt xả, rả ra miếng lớn, chia nhau, nhưng đây là thịt chặt từng đùi, từng miếng lớn kết lại trong đụng ngoài che bằng rau muống, và như vậy đụng rau muống thì giàn ở Sốc Trăng những năm 1910 – 1911 đó vẫn bị dân giành giựt nhau dữ hơn đụng bánh trái khác và xin cho tôi nói tha cầu biệt dạng, vừa rồi tôi có xem chớp diễn ti vi tuồng Hồng Lâu Mộng của hãng Hong Kong, tôi rất bất mãn và không tiếp xem đến mãn tuồng, tuy vậy tôi được phép cho ý kiến và tôi bất mãn vì hãng phí mấy trăm triệu đô la mà diễn lại vẫn không tuân theo niên kỷ đời Tào Tuyết Cần viết về đời Thanh Khương Hi, Kiền Long, vì Vương Hi Phụng, công tử Di Hồng (Bảo Ngọc) làm sao uống trà trong tách (tasse Hồng Kông đời nay) và bắt người xem phim đời nhà Thanh còn mê tín, bắt mạch (chẩn mạch), hốt thuốc, ăn mặc y phục, v.v… đều lai căng, nachronique, bất tuân thời đại, và Bảo Ngọc, 19 tuổi đã có vợ, đi thi đỗ cao và bỏ nhà đi tu … mà diễn viên theo trong phim theo tôi là kép trộng tuổi, đẹp trai xứng đáng thật nhưng niên kỷ chưa đúng, riêng các tiểu thơ, tỷ tắc, con đòi, Tạp Nhân, Bảo Thoa v.v .. đều theo tôi là gái 16, 17 còn trong phim đều trộng tuổi hơn tuy rằng vẫn là người đẹp. Tôi nói dông dài và muốn chờ xem nếu có thể được là chờ xem phim sẽ quay lại và giữ đúng nề nếp tục lệ hơn.

Theo tôi, đời nào vẫn nên giữ và diễn lại cho gần đúng vào đời ấy thì mới gọi là “làm văn hóa” Hồng Lâu Mộng còn tin thần thánh ma quỉ, và năm 1910 – 1911, ở Sốc Trăng còn tin á rắc, tin ông Tà, ngày nay người Miên dùng thuốc Tây và như vậy tôi cho là “đã lạc ông Bổn” và đã mất căn cội.

Đã lỡ sa đà xin sa đà luôn và cho nói luôn, chuyện cũ nhớ lại, năm 1921, quan 5 Colonel Đỗ Hữu Chẩn đem xác em là quan 3 Đỗ Hữu Vị về và làm lễ an táng tại vườn Bà Lớn đường Nguyễn Trãi ngày nay, thì đường nầy mang tên là đường Frères Louis và còn sầm uất tre mọc đầy hai bên lề đường và đường vẫn còn trải đá ong, ngày đem xác từ tàu đậu nơi bến Nhà Rồng (Messageries Maritimes) trường Chasseloup có biệt phái một tốp học sanh và tôi được cử thay mặt 2ème année, theo các anh lớp 3è và 4è và lớp quartier européen, cả thảy độ 4, 5 chục đứa, có thầy gác (surveillant) dẫn ra trường, đi bộ xuống bến tàu rồi theo xe chở quan tài, cuốc bộ dọc theo đường Catinat, tới Frères Louis rồi đến vườn (nghĩa trang họ Đỗ Hữu) nghe đọc diễn văn rồi cuốc bộ về trường, chung qui đi bộ nổi trên mười cây số đường mà không thấy rằng dài, và nay nhớ lại, sao dời vật đổi, họ Đỗ Hữu đã lu mờ, chính bộ sắc phục chức Capitaine Aviateur, nỉ đen nút xi vàng của Đỗ Hữu Vị, tôi vẫn thấy cất giữ chung với áo triều phục bông bạc màu xanh da trời của Nguyễn Thông, viện bảo tàng có còn giữ lại hay đã dẹp đâu rồi?

Nơi đường Nguyễn Trung Trực ngày nay, đời thuộc địa tây, gọi rue Filippini, ngày nay ban đêm đi còn rùng rợn, vì có bụi da sum sê thật lớn, lá xào xạc như có ma treo võng chờ nhát kẻ gan thỏ, đọc sách cũ nhớ có kể lại Filippini nầy (1834 – 1887) vốn là quận trưởng (préfet) bên Pháp, qua đây bổ nhiệm làm thống đốc Nam kỳ, chẳng may qua đời ở Sài Gòn và làm đám ma thật lớn, định chở xác về xứ và trối trăn làm linh xa, bàn đưa thật cao và khi di táng, bắt mé nhánh cây để đừng vướng ngọn linh xa và đã mé nhánh quá trớn và mé thế nào, khiến người những Pháp dọc theo đường đời linh xa đều phàn nàn và cho rằng lễ táng vượt bực và về sau nhựt báo Tây kể lại đúng là một trò cười vì dường như xác đã dời về xứ âm thầm từ trước. Rõ lại Filippini đã làm rộn dân chúng lúc chết hơn là lúc sống. Ở đây đã sáng suốt giữ lại những con đường đầy ân tình cũ: Pasteur, Calmette, trường Marie-Curie, tưởng cũng nên nhắc ơn Yersin đã cho ta nghỉ mát Đà Lạt … và nhớ lại nhà trứ danh Thảo mộc học Pierre (1833 – 1905) tôi đã từng thấy một bia đá xinh xinh nơi Vườn Bách Thảo, nay có còn hay chăng? Tội nghiệp cho ông, ông bỏ công sưu tầm, nghiên cứu Cam bốt, Nam kỳ Thủy chân lạp, Xiêm quốc Thái Lan, vùng Đông Mã Lai Á, xong rồi về nước Pháp, trải nửa đời người, từ 1879 đến 1899, soạn được bộ “Thảo mộc học” danh vang hoàn cầu, ông được cấp mỗi năm 6.000 franc để ông tiếp tục soạn sách nghiên cứu, thế mà hội đồng quản hạt rị mọ viết thơ đòi ông phải nạp trong năm và cho hoàn toàn bộ sách ấy bằng không sẽ bị truất chút bổng cấp ấy, ông thua buồn trả lời nước Anh vẫn cấp mỗi năm 60.000 francs để ông Hooker nghiên cứu cũng như ông nhưng về thảo mộc của Ân Độ, thơ ông gởi năm 1903 cho hội đồng quản hạt mà không quảng lượng ấy, để qua năm 1905, ông từ trần, với mớ tuổi 72, và với câu đau đớn, tôi xin chép lại đây: “Me reposer? (có người hỏi như vậy), me reposer? jen’en ai pas le temps la vie est si courte” và tôi dịch: “Đâu có thời giờ cho tôi nghỉ? Đời cụt ngắn kia mà!”

Làm tàng nói về đường lộ tên Tây, xin nói luôn: Đời thuộc địa Pháp, nơi xóm Lò Heo Cầu Ông Lãnh cũ, có một đường ngắn từ Douaumont qua Galliéni tên “Belland”. Nhớ lại, người Tiều làm nghề trồng rau, ta gọi “Chệc Rẫy”, nay lão tây nầy phải gọi là gì? Lão có công năm 1897 mua hột giống từ Ceylan Lanka (Sirilanca ngày nay) mua 1.000 hột cao su về răm giống ở Suối Giao, chỉ mọc 37. Không ngả lòng, qua 1899, mua 1.000 nữa, nhưng phen nầy cho 600.

Belland mừng quá, qua năm 1901 đặt mua 15.000 rồi 1902 cũng 15.000 nữa và được tuần tự 4.300 rồi 9.000 cây cao su con. Và từ 1904, liên tiếp đất nầy có vườn trồng hévéas cho mủ như bây giờ đã thấy. Nhớ thêm và tức cười, có một Tây chủ vườn cao su to lớn ở Biên Hòa, Bà Rịa gì đó, một bữa nọ, lão ta đến khu có mấy chục gốc cổ thụ cao su, (chỗ trước kia là bộ văn hóa của Ngô Trọng Hiếu đó mà), cây đã quá già, không ai lấy mủ, mủ ứ lại, gốc nổi u nổi nần như cổ nổi bướu của mấy bà già thầy lễ thầy giác … có người tọc mạch hỏi “cây nầy là cây gì?”

Lão lắc đầu trả lời: “Không biết!” Mà trời đất ôi! Ông cha ông lấy nước chúng tôi, hút máu rúc rỉa tận cốt tủy chúng tôi, suốt tám chín chục năm, ông được sai qua đây làm chủ vườn mà không nhìn ra cây nầy, hèn chi ông Giáp cho các ông một bài học ở Điện Biên Phủ, cũng vừa!

Trên đây tôi nhắc ông Pierre, chủ đầu tiên của vườn bách thảo. Bia đá ghi công ông nơi vườn, không biết còn mất thế nào, còn con đường ở Dakao, mang tên của ông sau đổi tên là đường Phạm Đăng Hưng, rồi nay là đường Mai Thị Lựu. Mỗi lần tôi đi trên đường nầy, để đến nhà bạn Vĩnh Bảo nghe tranh nghe kìm, tôi nhớ và ngậm ngùi cho  ngôi chùa nay gọi “Phước Hải tự” mà cơ khổ, đó đâu phải là chùa thờ Phật và đó là “Ngọc Hoàng điện” kia mà. Tôi chưa vào trong và không biết thay đổi thế nào? Duy theo tôi, đổi mà làm chi? Giữ lại như cũ, có lẽ, thâm thúy và cao kiến hơn. Tôi còn giữ của nơi nầy một viên gạch do một sư già cho năm trước. Gạch màu trắng y như màu sành sứ Giang Tây, vuông vức đo đúng 20 phân bề dài, 10 phân bề ngang, và 5 phân 1/2 bề gáy, đo mét Tây xinh xắn, viên nào y như viên nấy, tôi tâng tiu dùng làm gối nằm để xứng với sập “quí phi sàng” nơi nhà, mỗi khi đi mây về gió, thì gợi lại cảnh một khu u tịch của cái chùa mà vẫn là điện Ngọc Hoàng nầy. Tôi quên nói cho rõ hơn: viên gạch có một cạnh phủ lớp men xanh thật dày, và lớp men xanh ấy, đó là viên xanh bắt chỉ của khu u tịch nầy. Một bữa, trời chạng vạng nhá nhem, cũng không hiểu vì duyên cớ gì tôi lọt vào chốn nầy, tôi đang ngắm nghía lần hồi văn thật xanh thật khéo trên vách tường đã rêu phong nọ, dưới chơn vách là một bụi tre già lốm đốm màu vảy đồi mồi, lá múa lơ thơ, đong đưa hai cây quạt lá cũ treo nhún nhắn bên cạnh mấy chùm tóc rối phất phơ theo chiều gió, một mụ Bắc sồn sồn lom khom đang lăm băm vái van khấn nguyện gì đó, à phải rồi, chỉ còn một hôm nầy nữa, ngày mai nầy là sang Tết năm mới, quạt kia, mớ tóc kia quạt để cho mát, tóc rối gỡ ra treo đầy cầu mong hết rối rắm vò đầu xuân nhựt v.v .. , mụ đang trút cỗi mớ sầu tư, tôi lật đật và khép nép tránh chỗ cho lời khấn của mụ được như nguyện, trong chùa hay điện, nghe dội ra ba tiếng chuông và trống buổi kinh chiều, mụ ôi, than thở mà chi, đời vẫn là đời và đời nầy ai lại khỏi mang mền chút ưu tư riêng, tôi mảng nghĩ ngợi xa gần, thoạt nhìn lại sau lưng, mụ sồn sồn không thấy nữa, chỉ thấy ba tóm nhang nhá nhem, một luồng hương nhẹ thoảng … phải chăng: ba hồi chiêu mộ, một vũng tang thương, sẽ gội sạch trong buổi năm tàn tháng hết nầy.

(viết ngày 15-8-1993)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment