vietmessenger.com
Morris L. West
Bản dịch của Chu Việt
Post by Sơn râu 7 Dec 2025

Chương 3.
Tiếng cồng vẫn còn rên rỉ khi chiếc xe cắm quốc kỳ của chúng tôi tiến trong thành phố về đêm, Rồi bỗng nhiên tiếng cồng im bặt và chúng tôi nghe thấy tiếng súng nỏ ở phía xa. Mel Adams chỉ những quân lính đứng gác dọc hè phố, những xe vận tải đậu ở mỗi ngã tư và nói:
“Cung là một chiến thuật gia giỏi thật. Tất cả thành phố chắc cũng được bố trí như vậy”.
Harry Yaffa đang đứng đợi chúng tôi tại cổng tòa Đại sứ. Hắn nhẩy vội vào trong xe và đóng sập cửa lại. Trông hắn có vẻ mệt đừ và phờ phạc. “Họ đang tấn công chùa Xá Lợi và ba, bốn chùa khác trong thành phố. Tôi vừa nhận được tin từ Huế, Đà Lạt và Đà Nẵng điện thoại về Các nơi đó cũng bị tấn công như vậy. Thưa ông Đại sứ, ông nên đích thân đến quan sát vụ này.”
“Đồng ý”.
“Tòi không đồng ý, thưa ông Đại sứ”. Lần đầu tiên từ khi đến đây tôi mới thấy Mel Adams sống động. Giọng hắn nói cứng cỏi và đột ngột. “Tôi nghĩ như vậy là kém ngoại giao. Làm vậy, ông phải công khai tuyên án không chút dè dặt ngoại giao nào nữa. Báo chí sẽ có mặt tại đó. Ông không thể tránh khỏi bị chụp hình mà ông sẽ bị chụp hình như một người thụ động đứng coi sự hành hung của cảnh sát. Tôi nghĩ như vậy là điều không hay”.
Harry Yaffa lạnh lùng hỏi, “Liệu có tệ hơn là đến Phủ Tổng thống ngày mai với tin tức sao lại không? Ông Cung đã soạn ra tấn tuồng nhỏ này chỉ vì muốn cho ông Đại Sứ xem thôi. Thôi đi! Mel ơi! Phủi sạch mạng nhện đi. Đâu phải là chuyện ngoại giao ý nhị. Đây là chiến tranh.”
“Tòi đã nói rõ lập trường của tôi,” Adams cứng cỏi đáp. “Dẫu là chiến tranh đi nữa, ông cũng cần có chỗ để bố trí lực lượng. Làm như thế, ông hết chỗ cựa quậy.”
Đã đến lức tôi phải can thiệp. Tôi cần phải giữ thể diện cho cả hai người.
“Anh Mel, đó là một sự nguy hiểm, anh trình bày thật có lý, quyết định là ở tôi. Thôi chúng ta đi”.
Câu nói chưa ra khỏi miệng tôi thì Bill Slavich đã nhấn mạnh ga, quẹo gấp một góc phố trên hai bánh và tiến thẳng về phía chùa với tốc độ tối đa. Tiếng súng bây giờ nhiều hơn và khi lại gần, chúng tôi có thể nghe thấy những tiếng la hét, kêu gào và tiếng xôn xao tức giận của đám đông tụ tập. Các ngả tiến về phía chùa đều bị những rào gỗ ngăn chặn và do cảnh sát dã chiến võ trang với trung liên và súng phóng lựu đứng gác. Một đám đông tụ tập ở các rào cản và quân đội đang đẩy họ trở lui với báng súng. Khi xe chúng tôi thắng gấp lại có hai người cảnh sát chạy tới. Rồi họ nhìn thấy lá cờ cắm trên xe và rút lui. Yaffa và tôi trèo lên mui xe để nhìn qua lớp người.
Cổng chùa đã bị phá toang và bên trong có xe thùng cảnh sát đậu. Chúng tôi quan sát thấy cảnh sát đang xô đẩy một toán sư sãi về phía những xe thùng. Các sư sãi đều tơi tả và đầy thương tích. Một nhà sư bị chẩy máu nhiều do vết thương trên sọ. Sau lưng họ một ni cô đang kêu thét lên và vật lộn trong tay một sĩ quan cấp úy. Chúng tôi nghe thấy tiếng la từ một tầng lầu cao và nhìn lên, chúng tôi thấy một người mặc áo vàng nhẩy từ cửa sổ xuống sân dưới. Từ phía bên trong chùa lại có nhiều tiếng súng nổ và những tiếng nổ ục của lựu đạn cay. Đám đông la hét chửi rủa lính gác.
Hai người phóng viên sóng đôi rời khỏi đám đông và vội vã tiến lại phía chúng tôi. Một người dơ cao chiếc máy ảnh và dùng đèn flash chụp tôi đứng trên mui xe. Bạn hắn tự giới thiệu:
“Tôi là Cavanna, phóng viên hãng thông tấn Associated Press. Có phải ông là ông Amberley?”
“Đúng vậy”.
“Ông có điều chi bình luận về những diễn biến tối nay?”
“Có. Tôi đã thấy bạo động và tàn ác. Là một đại diện của Hoa-kỳ, tôi rất tiếc sự việc đã xây ra. Tôi không có điều gì bình luận thêm cho tới khi tôi có thì giờ thảo luận về vấn đề này với Tổng thống Cung”.
“Sáng nay một nhà sư đã tự thiêu trước mắt ông. Còn đêm nay thì xảy ra vụ này. Đày là ngày đầu tiên ông nhậm chức Đại sứ tại miền Nam Việt Nam.Thưa ông Đại sứ, ông có điều chi bình luận về sự sắp đặt thời gian ấy?”
“Tôi sẽ đưa ra lời bình luận tại buổi họp báo vào hai giờ chiều mai. Còn bây giờ, thế là đủ rồi”.
Tại các rào cản lại có một sự náo nhiệt bạo động mới. Một vỏ chai được liệng tới rồi tiếp theo là một trận mưa rào những gậy gộc và đá. Cảnh sát từ phía sau rào cản tiến lèn và đẩy lui những người đứng xem về phía sau. Họ làm việc đắc lực một cách tàn nhẫn. Lại có thêm nhiều sọ vỡ và một thiếu nữ trẻ bị đẩy sấp xuống rồi bị đám đông rút lui dẫm bừa lên. Cảnh sát nâng cô ta dậy và khiêng đem về luôn những xe thùng. Đám đông
đang từ từ bị đẩy lui về phía xe chúng tôi.
Yaffa kêu lên, “Thôi bọn mình chuồn đi. Đi theo tôi.”
Hắn đưa chúng tôi ngồi vào xe thật mau lẹ và xe chúng tôi chuyển bánh quẹo qua góc phố gần đấy tiến vào sân trụ sở U.S.A.I.D. ngay bên cạnh đất nhà chùa. Nhân viên ngụ tại trụ sở đều mặc quần áo ngủ kéo đầy ra ngoài. Một thiếu phụ trẻ đang băng bó những vết thương cho một nhà sư mặt bị lưỡi lê đâm toạc. Một nhà sư khác ngồi nép mình vào bức tường cuối vườn, rên rỉ và lấy tay xoa bóp hàm dưới bị bể. Một nhân viên U.S.A.I.D. tiến lại gần tôi. Hắn ta tức giận và bị xúc động.
“Thưa òng Đại Sứ, họ đang giết người ở trong đó. Giết người không ghê tay! Chúng ta có ngăn chặn được không?”
Harry Yaffa đốp chát lại, “Không, chúng ta không cản được. Vậy cử bình tĩnh. Đem hai nhà sư kia vào bên trong, chỉ thị cho lính gác là nếu có ai phá rào vào đây thì nổ súng trước rồi hỏi sau. Kèu Đại tướng Tolliver cho ông biết chuyện đã xẩy ra và xin ông cho một bác sĩ đến đây ngay cùng với một toán lính gác nữa.” Rồi hắn quay lại phía tôi. “Thưa ông Đại-sú, nếu ông đã xem đủ rồi, chúng ta nên quay về tòa Đại Sứ.”
Tôi đã xem quá đủ. Sự bạo hành vô lý của quang cảnh vừa rồi làm tôi bất mãn. Tôi sôi sục vì tức giận. Tôi quay lại nói với Mel Adams.
“Anh ở lại đây, anh Mel! Hãy thâu lượm tất cả tin tức anh có thể lấy được về vụ này và báo cáo cho tôi sáng sớm mai Hai vị tu sĩ này được sự che chở của Chánh phủ Hoa kỳ. Nếu ai muốn hỏi gì, phải hỏi tòa Đại Sứ.”
Adams gật đầu và nhắc thêm tôi “Thưa ông Đại Sứ, có lẽ mình thông báo cho tất cả các tòa Đại Sứ khác biết về việc đã xẩy ra thì hay lắm.”
“Tôi sẽ lo việc ấy,” George Groton nói: “Thưa ông Đại Sứ, ông có cần thêm nhân viên lại làm việc không?”
“Có chứ. Kêu cho tôi cô Beldon và nhân viên nòng cốt. Trong vài giờ nữa chúng ta sẽ có nhiều việc lắm.”
“Còn anh sẽ làm gì, anh Yaffa?”
“Tôi có công việc riêng,” Yaffa nói một cách cứng cỏi. “Bill Slavich sẽ đưa ông về. Tôi sẽ ghé lại tòa Đại sứ sớm nhất nếu có thể.”
Trên đường về qua những đường phố đầy lính gác, tôi cố nén cơn giận và bình tĩnh duyệt lại những biến cố trong vòng mười hai tiếng đồng hồ vừa qua. Thật rõ ràng là những biến cố đó đã được tính toán để làm tôi mất uy tín và đưa tôi vào một thế yếu khi phải thương lượng với Tổng thống.
Tôi sống ở Á-châu đã khá lâu để hiểu cái “thể diện”, hay nói một cách khác, sự phô trương quyền lực trước quần chúng để thay cho uy tín cá nhân, quan hệ đến thế nào. Việc tôi được bổ nhiệm làm Đại sứ là một đòn nặng đánh vào uy tín cá nhân của Tổng Thống Cung. Bởi vậy cho nên như một người Á đông chính cống, ông phải dìm tội xuống để biểu lộ tư thế của ông. Nhưng ngoài việc gây khó dễ cho tôi, còn nhiều chuyện khác nữa, nên tôi cần phải sáng suốt, không thể nhận định một cách hấp tấp được. Tổng thống Cung là một chinh trị gia quá khôn ngoan nên không thể nói ông đã phô trương bạo lực thỉ vì mục đích muốn phô trương bạo lực. Phải nhớ rằng hành động của ông bao giờ cũng phù hợp với con người của ông người đã lãnh đạo xứ sở sau sự thảm bại ở Điện-biên-phủ, người đã định cư gần một triệu người ty nạn miền Bắc, đã làm hồi sinh nền kinh tế quốc gia và bẻ gầy thế lực của Bình-xuyên – bọn thủy khấu đã kiểm soát năm ngàn binh lính và toàn thể lực lượng cảnh sát công an Saigon. Òng đã thoát khỏi hàng chục âm mưu và nắm lại được quyền kiểm soát nhiều giáo phái võ trang, nhiều lãnh chúa phong kiến và quân nhân mưu phản. Chính ông đã kêu gọi Hoa kỳ huấn luyện và thống nhất quân đội, đồng thời viện trợ qnân cụ cần thiết để chiến đấu chống bọn du kích của Hồ-chí-Minh. Ông cũng vừa là một triết gia vừa là một chiến lược gia chính trị. Vậy không thể bảo ông đã hành động vì một lý do không đáng kể.
Không một người đầy đủ lý trí nào mà lại muốn thắng một trận giặc bằng cách tung ra một cuộc đàn áp tám mươi phần trăm dân chúng của mình. Bởi vậy ít nhất ông cũng phải có một lý do xác đáng nào đó để biện minh cho hành động chống các nhà sư là tinh hoa của tín ngưỡng Phật giáo. Tôi nhớ đến tài liệu tồi đã nghiên cứu trong hồ sơ mà Festhammer đưa cho tòi. Đó là một bản báo cáo của CIA nói về sự xâm nhập của cán bộ Cộng sản vào hệ thống sư sãi của Phật giáo. Bản báo cáo gồm những hoạt động ở Thái Lan, Lào, Cam-bốt và Việt-nam. Báo cáo nói rằng ở Thái Lan, Phật giáo thuộc phái Tiểu-thừa, sư sãi đều được tập trung dưới sự bảo trợ của Hoàng gia nên có thể kiểm soát được sự xâm nhập của Cộng-sản. Trong hệ thống Đại thừa, lỏng lẻo và tản mát hơn, sự kiểm soát rất là khó. Các nhà sư trẻ và quá khích đã bắt đầu tiếm quyền của những vị sư già và chân tu hơn. Chiếc áo cà-sa vàng là một vỏ che đơn giản và an toàn cho sự lũng đoạn trong các chùa chiền và trong dân chúng. Đó là luận cứ của Cung và ông ta có thể đem ra biện minh một cách hùng hồn ở bất cứ một diễn đàn nào. Sau những vụ rối loạn ở Huế mà kết quả là chín người bị quân chính phủ giết chết, các nhà sư đã tổ chức những cuộc mit-tinh công khai và đọc những bài diễn văn nẩy lửa kết án chính phủ. Trong một nước đang có chiến tranh, không thể tha thứ được sự phá rối trật tự công cộng như vậy. Ngay ở điểm này nữa, chứng cớ dường như có thể biện minh cho những biện pháp an ninh mạnh. Nhưng còn bạo lực như tôi đã thấy ở chùa Xá Lợi là một sự điên rồ về chính trị không thể tha thứ được và với tư cách ông đại sứ Hoa-kỳ, tôi có bổn phận phải tách rời tôi và xứ sở tôi khỏi sự điên rồ ấy.
Khi chúng tôi về tới tòa Đại sứ, một sự ngạc nhiên khác đang chờ đợi tôi, Một nhà sư đứng tuổi đã trốn thoát khỏi trong gang tấc và lính gác thủy quân lục chiến đã phải chĩa súng ngăn cản người cảnh sát đang đuổi theo. Nhà sư nói được tiếng Pháp nhưng không biết nói tiếng Anh. Tôi ngồi tiếp chuyện ông gần một tiếng đồng hồ trong khi Anne Beldon ghi chú lời ông thuật lại vụ tấn công chùa. Tôi nhận thấy ông không phải là một nhân vật đáng kể. Ông có vẻ nông cạn, tầm thường và hiểu biết rất ít, Ông kể cho tôi nghe diễn tiến vụ tấn công chùa từng giai đoạn một nhưng khi tôi hỏi ông về tính chất, lịch sử. tổ chức, thái độ và những vấn đề khó khăn của Phật giáo Việt-Nam thì ông lại không thể cho tôi biết gì hơn nhữug điều mà ai nấy cũng đều biết xen lẫn với sự nguyền rủa gia đình Cung một cách thậm tệ. Tôi không thể hình dung nhà sư này trong vai trò tử đạo nhưng ông có vẻ là một người chuyên sách động. Tự nhiên tôi đem đối chiếu sự nguyền rủa cay độc của ông với cái kỷ luật tự thân cao thượng của nhà sư Muso Soseki. Tuy nhiên ông cũng cho tôi biết hai sự kiện quan trọng. Cảnh sát lúc đến tấn công đã chuẩn bị sẵn một danh sách. Bất cứ nhà sư nào có tên trong danh sách đều bị kết tội cấu kết với Cộng sản. Cảnh sát cũng đã chiếm đoạt hộp đựng tro của nhà sư đã tự thiêu sáng nay, nhưng còn trái tim cháy đen đựng trong một cái bình đã biến đâu mất, Rõ ràng là Cung, một tín đồ Thiên chúa giáo am hiểu, đã không muốn có ai tử đạo trên ngưỡng cửa nhà mình.
Sau đó điện thoại từ các nơi khác bắt đầu gọi về. Ở Huế, binh sĩ đã phá phách một ngôi chùa và ăn cắp hết của cải trong điện thờ. Từ một cây cầu dẫn đến một ngôi chùa khác, đã xây ra một trận đánh ác liệt. Có ba mươi người chết và hàng trăm bị thương. Tổng kết ước lượng có gần một ngàn người đã bị bắt tại các nơi trên toàn quốc. Tôi thảo một bức công điện dài gửi cho Hoa Thịnh Đốn và nhiều công điện khác gửi cho các đại diện Hoa Kỳ ở Lào, Cam Bốt và Thái Lan. Tới sáu giờ sáng chúng tôi hãy còn làm việc và chúng tôi nghe thấy chính tiếng Tổng thống Cung trên đài Saigon. Ông công bố trình trạng khẩn trương và thiết quân luật trèn toàn quốc. Òng trao cho quân đội toàn quyền truy tầm, bắt giữ người tình nghi. Lệnh giới nghiêm và kiểm duyệt toàn bộ những liên lạc trong và ngoài nước được ban hành. Trước khi ông dứt lời thì Yaffa bước vào và báo tin rằng Saigon đã bị quân từ tiền tuyến kéo về trấn đóng, các cửa ngõ thành phố đều bị đóng kín. Liên lạc đien thoại khắp nước bị cắt đứt. Hệ thống liên lạc của chúng ta vẫn hoạt động nhưng một cách chính thức thì Việt-nam đã bị cô lập với thế giới bên ngoài.
Mọi sự việc đều xảy ra quá mau lẹ và quá đầy đủ nên chắc phải được đặt kế hoạch từ lâu, trước khi tôi đến. Bởi vậy tòi phải coi như đó là một biện pháp để ngăn chặn một sự đe dọa thực sự đối với chính quyền. Còn hậu qnả ra sao, tôi chỉ có thể ước đoán. Và bây giờ thì tôi phải hành động. Anne Beldon mang đến cho tòi đồ điểm tàm có cà phê đen và bánh bích quy mặn. Tôi cạo râu một cách vội vã với một dao cạo đi mượn và lên đường đến dinh Tổng Thống cùng với Mel Adams và ông Giám đốc Nghi lễ của tôi. Tất cả đường xá dẫn tới
Dinh đều được kiểm soát bởi một hệ thống điếm canh và rào cản. Chúng tôi phải mất mười lăm phút mới qua khỏi hàng rào lính canh đầu tiên. Mặc đầu vậy, trong Dinh vẫn còn một vẻ yên tĩnh trang nghiêm. Một thư ký người Việt đến giải thích với chúng tôi với sự lễ độ rõ rệt là chúng tôi đã đến sớm trước giờ hẹn một tiếng đồng hồ và Tổng Thống vì công vụ bề bộn bất thường, đã buộc lòng phải để chúng tôi chờ đợi trong chốc lát.
Mel Adam giải thích một cách lạnh lùng rằng bởi lý do Hoa Kỳ có dính líu trong tình trạng khẩn cấp này nên việc ông Đại Sứ đến sớm là do lòng cung kính đặc biệt đối với Tổng thống. Người thư ký nói để chúng tôi yên lòng rằng Tổng Thống đã hiểu biết điều ấy và cố gắng tiếp chúng tôi thật sớm.
Trà và thuốc lá đã được dọn ra mời chúng tôi trong lúc ngồi chờ. Thời gian chờ đợi cũng là một vấn đề thể diện cho nên tôi đã tính thầm một giới hạn là mười phút, sau đó tôi sẽ kiếu từ. Đúng tám phút mười lăm giây sau, tôi được đưa vào diện kiến Phùng Văn Cung. Ông là một người nhỏ bé. nước da nâu và thấp hơn tôi một đầu người. Ông vận bộ đồ tuýt so trắng tinh với cà vạt lụa mầu xám cài hột kim cương. Nước da ông bóng mịn, mắt sáng và vui cười; trõng ông như vừa mới tắm gội xong mà có lẽ ông cũng vừa tắm gội xong. Ộng chào hỏi tôi một cách trịnh trọng bằng một thứ tiếng Pháp nặng giọng của người Việt Nam. Một người
hầu cận bưng trà tới và trong khi chúng tôi dung trà, ông hỏi thăm sức khỏe tôi và bầy tỏ hy vọng rằng cuộc hành trình của tôi được êm đẹp. Trong khi nói ông luôn luôn nở một nụ cười. Cặp mắt sáng và khôn ngoan của ông cố tìm trên vẻ mặt tôi xem có chút cảm xúc nào không. Ông nói về vị cựu đại sứ một cách ưu ái và nhờ tôi chuyển hộ lời chào và vấn an. Ông khen ngợi tôi về công việc tôi làm ở bên Nhật và ngỏ ý chia buồn với tôi về việc nhà tôi qua đời bên ấy. Ông cho tôi biết rằng ông đặc biệt quan tâm đến sự kiện tôi là một người học đạo Phật theo đường lối Zen. Ông tin chắc rằng như vậy tôi sẽ hiểu biết rõ hơn về tình hình khó khăn tại miền Nam Việt Nam. Thế là gậy ông lại đập lưng ông. Tôi không dè ông am hiểu nhiều đến như vậy. Ông không hề lộ vẻ đắc ý, trái lại vẫn dịu dàng tiếp tục phần khai từ của ông. Ông tin rằng tôi hài lòng
về chức vụ mới đảm nhiệm và nếu tôi cần việc gì riêng tư, xin đừng e ngại gọi thẳng cho ông hoặc bất cứ nhân vièn nào trong bộ tham mưu của ông. Ông ngỏ ý tiếc rằng tôi đặt chân đến xứ này không đúng vào một ngay tốt đẹp hơn nhưng ông chắc tôi thông hiểu tình trạng khẩn cấp của xứ sở này. Tôi trả lời không chắc chắn là đã hiểu rõ lắm. Trái lại, tôi đang cần ông chỉ dẫn cho tôi. Tới đó là chấm dứt những sự xã giao lịch thiệp và chúng tôi đi thẳng vào thực chất của cuộc hội kiến. Cung ngả người về phía sau ghế, chắp hai tay trên phía ngực và thao thao trong một cuộc thuyết trình thật hùng biện.
“Thưa ông Đại Sứ, ông từ một quốc gia đang hòa bình đến một quốc gia đang có chiến tranh. Đây khòng phải là một buổi lễ uống trà của người Nhật. Đây là vấn đề sống còn của chúng ta. Chúng tôi đang bị đe dọa từ bèn ngoài và phá hoại từ bên trong. Chúng tôi ước lượng có đến ba mươi ngàn quân Cộng sản được huấn luyện kỹ càng đang hoạt động trong nước chúng tôi. Bọn chúng được sự hỗ trợ của sáu mươi ngàn du kích và cán bộ. Những cán bộ này đã được huấn luyện để xử dụng mọi phương tiện, dù phương tiện nào, xâm nhập hàng ngũ chúng tôi, reo rắc sự phản bội và phá rối trật tự. Có một vài tu viện Phật giáo đã biến thành những cơ sở chỉ huy cho hoạt động tình báo và xâm nhập. Ở vào địa vị tôi, ông sẽ làm thế nào? Cứ để mặc chúng tự do sinh sôi nảy nở ? Cứ để cho chúng thi hành công tác của Hồ chí Minh dưới cái vỏ cà sa vàng? Cứ để chúng mang súng đạn và tin tức tình báo trong các giỏ đi ăn xin? Chắc ông Đại sứ cũng không đến nỗi ngây thơ đến thế … Tôi. biết rằng báo chí ngoại quốc viết về tôi như một kẻ chủ trương đàn áp. Điều đó không đúng sự thật. Tòi có điên rồ đàu mà lại khuyến khích những sự tranh chấp tôn giáo trong một nước đang có chiến tranh. Tôi cũng được biết một số công chức và cộng sự viên của tôi đã phạm lầm lỗi. Vụ bạo động đầu tiên ở Huế là một trong những lỗi lầm ấy. Tôi xin thẳng thắn công nhận và đã chuẩn bị để sửa chửa. Tôi đã sẵn sàng hòa đàm hữu nghị với Đại hội đồng Phật giáo. Tôi có yêu cầu họ liệt kê cho tôi những điều thống khổ và những gì mà họ coi là yêu sách chính đáng. Nhưng ông hãy xét xem họ đã làm gì? Trước hết họ đòi hỏi tôi một lời tự thú nhận trách nhiệm cá nhân mà mục đích duy nhất là làm nhục và hạ uy tín tòi. Tôi từ chối điều đó nhưng tôi vẫn sẵn sàng thảo luận về những vấn đề của họ. Mặc dầu các cuộc thương thuyết đang diễn tiến, có một vài nhà sư quá khích đã kêu gọi lật đồ chính phủ trong những buổi mít tinh công khai …Dù trong thời bình cũng không có nước nào cho phép một sự vô trật tự công khai như vậy. Liệu ông có cho phép điều ấy xẩy ra ở Little Rock, Birmingham và Hoa Thinhđốn không? Dĩ nhiên là không! Liệu ông có mong tôi cho phép điều ấy xảy ra trong một nước đang đổ máu vì chiến tranh khuynh đảo không? Nếu tôi để yên, thì tôi sẽ không trung thực với trách nhiệm của tôi nữa”.
Đó là luận cứ mà tôi biết thế nào ông cũng trình bầy ra, và lời lẽ òng giãi bày có vẻ rất thuận tai. Tôi cố gắng giữ vẻ bình thản để nói cho ông biết những cảm nghĩ của tôi về vấn đề đó.
“Thưa Tổng Thống, trên đại cương, tôi xin đồng ý với ngài ở điểm một nước đang có chiến tranh không thể tha thứ được sự rối loạn nội bộ. Nhưng đêm qua tôi đã dự kiến cuộc tấn công chùa Xá Lợi”.
“Thưa ông Đại Sứ, tôi biết. Tôi đã biết sau đó nửa giờ. Tôi cần phải thưa với ông rằng sự hiện diện của ông khi ấy là một sự thất thố trên phương diện ngoại giao”.
“Trái lại, thưa Tổng Thống! Tôi đến đây với tư cách đại diện cho chính phủ đồng minh của ngài trong cuộc chiến tranh này. Tôi có bổn phận phải tự mình tìm hiểu tình hình càng đầy đủ càng tốt. Đêm qua tôi đã thấy sự tàn bạo tệ hại nhất sự tàn bạo có tính toán và không cần thiết! Và điều đó, thưa Tổng Thống, tôi xin phép nói ngay là một điều thất thố về phương diện ngoại giao! Trong vòng mười tiếng đồng hồ qua, sự tàn bạo đó đã lan tràn khắp nước. Đố ai biết được thế giới bên ngoài sẽ phản ứng ra sao”.
“Ông nói đến thế giới bên ngoài! Thưa ông Đại Sứ, thế giới bên ngoài đối với chúng tôi xa cách như mặt trăng! Chúng tôi là một bán đảo của miền Đông Nam Á. Chúng tôi là một dân tộc bị quá phân. Bóng tối của Trung Hoa đã đè lên chúng tôi hàng bao thế kỷ nay. Trung Hoa đã chiếm đóng nước chúng tôi trước đây và bây giờ chúng lại muốn chiếm đóng nữa. Biên thùy thế giới của chúng tôi, thưa ông Đại Sứ, là biển cả và Trung Hoa. Còn về phía Tây, bất quá chỉ nhìn xa được đến Miến Điện … Thử hỏi có ai khóc cho chúng tôi ở Sydney, Ba-lê hay Luân-đôn?”
“Thưa Tổng-thống, có người Mỹ khóc cho nước Ngài.” Tôi nói một cách cay đắng. “Họ đổ mồ hôi ra để trang trải cho nước ngài. Họ chết cho ngài ở đây, ngay trên uước ngài! Vậy ngài đã nguyền rủa họ và nguyền rủa cả tôi nếu ngài nói như vậy.” Lời tôi vừa nói đã làm ông chuyển động và cũng làm ông xấu hổ nữa. Ông quá thông minh nên không thể không nhận biết. Ông nói một cách trầm lặng.
“Xin lỗi. Tôi đã nói nhiều hơn điều tôi muốn nói … Tôi xin ghi nhận món nợ của chúng tôi đối với Hoa Kỳ. Nhưng khi giúp đỡ chủng tôi, quý ông không được đòi hỏi bắt chúng tôi lệ thuộc hay phê phán chúng tôi theo những tiêu chuẩn riêng của quý ông.”
“Thưa Tổng-thống, bởi vì chúng ta là bạn hữu nên thế giới phê phán chúng ta như một. Ngay như dân của ngài thế nào cũng trách cứ chúng tôi về vụ tấn công đẫm máu đêm qua.”
Bỗng nhiên ông giận dữ. Ông cầm một tập ảnh ném qua mặt bàn cho tôi. “Ông sợ máu lắm sao, ông Đại Sứ? Nó làm ông lộn mửa? Ông hãy xem những tấm hình này để biết một vài vụ đẫm máu khác đó là điều xẩy ra khi bom Việt cộng nổ ngay giữa chợ! Ông hãy xem bọn Cộng sản tàn sát cả một gia đình dưới miệt quê dám chống đối chúng như thế nào! Ông hẩy xem bình ảnh một người đàn bà có chửa bị bọn chúng lấy lưỡi lẻ khoét bụng ra sao! Liệu tôi có thể đối xử ngọt ngào được với bọn đã mưu đặt ra những vụ ấy rồi lại giả nhân nghĩa trốn tránh nơi cửa Tam Bảo không..? Đây là Á châu chứ không phải Genève hay Manhattan! Ở đây người nắm giữ quyền bính phải là người hùng có võ trang một người biết lấy máu trả nợ máu. Tôi theo đạo Thiên chúa. Cũng như ông, tôi đâu có ưa thích gì máu. Nhưng tôi hiểu rõ dân tộc tôi hơn ông.”
Những tấm hình ấy làm tôi muốn lộn mửa. Tôi gấp tập ảnh lại và đưa trả ông. Đồng ý với ông thật quá dễ nhưng tôi không dảm. Bằng mọi giá tôi phải kéo òng ra khỏi con đường nguy hiểm nàv.
“Thưa Tổng Thống, chính bởi ngài là người theo KiTô giáo nên ngài không thể để cho sự tàn bạo vô lý xảy ra như tôi đã chứng kiến đêm qua. Chắc ngài cũng nhìn thấy rõ. Đó là tiếp thêm một khí giới khác cho Việt-cộng. Ngài là một tín ngưỡng thiểu số đàn áp đa số. Ngài muốn mở một cuộc thánh chiến với mọi Phật tử Á châu? Nếu vậy ngài sẽ được toại ý, tôi xin hứa chắc. Và báo chí thế giới sẽ kết tội ngài như một kẻ cuồng tín mù quáng.”
“Báo chí thường hay nói láo, thưa ông Đại-sứ! Và cho rằng họ có nói sự thật đi chăng nữa thì họ cũng chẳng điếm xỉa gì đến hậu quả!”
“Họ đàu có thể nói láo được về vụ đẻm qua, thưa Tổng Thống. Cả tôi cũng vậy. Chiều nay khi báo chí hỏi tôi, tõi sẽ nói sự thật mà sự thật sẽ kết tội ngài và chính quyền của ngài. Còn hơn thế nữa, nó sẽ gây một tiếng vang ở bèn Mỹ. Người Mỹ sẽ hỏi tại sao họ lại mất tiền mua võ khí cho ngài và gửi con cái họ sang chiến đấu cạnh ngài. Tôi sẽ trả lời họ ra sao? Tôi sẽ ăn nói ra sao với Bộ Ngoại giao và Tổng Thống của tôi?
“Thì ông cứ cho họ biết hết sự thật! Cứ để họ phát hành những tấm ảnh kia! Cứ cho biết rằng nửa số cán bộ phá hoại nằm trong các chùa chiền là do cơ quan tình báo của chính quý ông cung cấp tên tuổi. Ông cứ đáp trực thăng đi coi tận những nơi đang có cuộc chiến tranh thực sự trong các thôn xóm và ấp chíến đấu, nơi những người Thượng ở phía Bắc và người dân vùng châu thổ ở phía Nam. Hãy bỏ qua những đô thị, nơi mà dân chúng bị lệch lạc và đầu độc của những ý tưởng phù phiếm cho Pháp để lại hay mượn trong báo chí Mỹ. Dầu cho Saigon, Huế và Đà Lạt có bị thất thủ nội trong một đêm, chúng tôi vẫn còn chiến đấu. Ông đừng để ai đánh lừa! Tôi vẫn còn làm chủ tình thế và tôi không sợ hãi đâu. Chúng tôi sẽ qua khỏi những cơn bệnh này bất chấp cả báo chí thế giới. Sau Điện biên Phủ, tôi đã tái thiết lại đất nước này. Tôi sẽ tiếp tục xây dựng có ông hay không cũng vậy!”
Tự nhiên tôi thấy cảm phục sự can đảm bướng bỉnh của con người ấy. Ông ngồi trên một thùng thuốc súng. Lưỡi lê chĩa trước ngực và sau lựng ông mà ông vẫn sẵn sàng chiến đấu. Nhưng tôi có nhiệm vụ phải đưa ra một cảnh cáo. Tôi nói một cách rõ ràng và chính xác.
“Thưa Tổng-thống, tôi xin ngài đừng cầu viện thần linh. Chính phủ tôi đã ủy thác cho tôi gửi đến ngài một thông điệp. Nếu ngài không chuẩn bị chấm dứt những sự chia rẽ giữa tín đồ Ki Tô giáo và Phật tử, giữa các tướng lãnh và các nhà cầm quyền, thì có thể ngài sẽ phải chiến đấu một mình không tiền bạc, không võ khí hay quân đội Mỹ gì hết!”
Tôi ngạc nhièn thấy ông đón nhận một cách bình tĩnh. Cặp môi ông ním và soắn lại thành một nụ cười. Ông hỏi một cách mềm mỏng:
“Ông thật sẳn sàng đi xa đến thế sao, ông Đại Sứ? Ông có thật sự sẵn sàng rút lui khỏi đây và để cho Cambốt, Lào và Thái Lan sụp đổ như đống bài lá? Đây là chỗ đứng cuối cùng của ông ở Á châu. Liệu ông có sẽ bỏ rơi nó bởi vì tôi không thể hứa với ông một điều không ai làm nổi? Ông đòi hỏi đoàn kết chấm dứt những sự chia
Rẽ! Lậy Chúa, thưa ông Đại Sứ, sao ông có thể khờ dại đến vậy! Là một quốc gia. chúng tôi già hơn Hiệp Chủng Quốc cả ngàn năm vậy mà chúng tôi cũng chưa đoàn kết được! Tất cả tổ chức xã hội chúng tôi đang hướng về sự tan rã, sự chia rẽ và biến thành những thành trì quyền bính nhỏ. Cũng như người Ý trước thời Garibaldi, chúng tôi đến nay chỉ có một ý thức bán khai về sự thống nhất quốc gia chúng tôi có những mười bốn triệu ngườiViệt, Thái, Mường, Yao, Mèo, Tầu, Khờme và Chàm. Ông đừng trông cho một phép lạ nơi tôi. Vậy ông có sẵn sàng bán đứng dân tộc chúng tôi vì ông không thấy phép lạ ấy?”
“Tôi được chỉ thị thông báo cho ngài biết rằng chúng tôi sẵn sàng làm như vậy, thưa Tổng Thống.”
Ông nhún vai rồi lại mỉm cười. “Được, ít nhất chúng ta cũng biết rõ lập trường của nhau. Xin ông thông báo cho chính phủ ông hay rằng tôi sẽ cứu xét một cách rất nghiêm chỉnh lời cáo tri mà ông vừa đem đến cho tôi. Ông có thể tin cho họ biết rằng tôi phản đối kịch liệt cái mà thật sự ra là một tối hậu thư chính trị. Ông cũng cho họ hay rằng tôi biết cơ quan C.I.A. của ông hàng ngày vẫn tiếp xúc với một vài phần tử chống đối đang muốn lật đổ chính quyền hợp pháp của nước này và đưa ra một chính phủ quân nhân.
Ông cũng có thể nói rằng tôi yêu cầu được chính thức thông báo để biết ông Đại Sứ hay CIA là đại diện thật sự và hợp pháp của chính phủ Hoa Kỳ.”
Đó là một đòn thật khôn ngoan, làm tôi chưng hửng. Tôi liền trả miếng một cách mãnh liệt!
“Thưa Tổng-thống, tôi có thể trả lời ngài ngay ở đây và ngay bây giờ là tôi và chỉ có mình tôi thôi, là đại diện chính thức của chính phủ Hoa Kỳ”.
“Tôi rất hài lòng nghe ông Đại-sứ nói vậy. Nhưng có lẽ ông Đại-sứ muốn nghiên cứu một bản báo cáo mà tôi sẽ gửi cho ông, về hoạt động của CIA?
“Thưa Tổng thống, tôi sẽ sung sướng được nghiên cứu bản báo cáo ấy và tôi cam đoan sẽ đệ ngay một bản lên thượng cấp tôi ở Hoa Thịnh Đốn.”
“Được lắm. Tôi muốn biết cả ông lẫn họ sẽ bình luận ra sao. Còn một điểm khác nữa, ông Đại Sứ. Tôi được tin rằng ba nhà sư ở chùa Xá Lợi đã tìm đến ẩn náu với người Mỹ. Tôi rất muốn được biết ông sẽ tính sao với họ.”
“Chúng tòi tính sẽ che chở cho họ cho đến khi nào được chính thức đảm bảo là họ sẽ không bị hãm hại sau khi rời khỏi nơi trú ngụ của chúng tôi.”
“Tôi sẽ nghĩ lại về việc này, thưa ông Đại Sứ. Có thể tôi sẽ quyết định để họ ở lại với quý ông. Có thể lâu ngày ông sẽ thấy họ là một chướng ngại. Còn một vấn đề chót. Cuộc họp báo của ông đã được loan báo vào hai giờ chiều nay. Òng có dự định tiết lộ lời lẽ trong tối hậu thư của ông vào dịp này khòng?”
“Hiện nay thì chưa, chúng tôi mong muốn sẽ không buộc phải tiết lộ nó ra chút nào cả. Chắc chắn ngài có đủ thời giờ để cân nhắc. Tôi sẽ sẵn sàng đón chờ ngài bất cứ lúc nào ngài muốn gọi tôi đến.”
“Xin cám ơn ông Đại-sứ.” Ông đứng dậy và chìa tay.” Tôi chỉ xin nói thêm là tôi rất sung sướng được gặp òng và tôi hy vọng rằng cuộc gặp gỡ này sẽ là bước đầu để cho quý quốc và nước tôi hiểu biết nhau một cách tốt đẹp hơn”.
“Thưa Tổng Thống, phần tôi cũng hy vọng như vậy. Tôi thực hết lòng hy vọng như vậy.”
Tôi rời khỏi Dinh Tổng Thống trong một trạng thái vô cùng giao động. Tôi cần có thì giờ và sự khuyến cáo khôn ngoan để tìm ra lẽ phải trong cái mớ ý tưởng hỗn độn mà cuộc hội kiến với Cung đã gieo vào đầu óc tôi. Bởi vậy tôi quyết định không trở về tòa Đại Sứ và đem Mel Adams về nhà để nói chuyện riêng. Cả hai chúng tôi đều mệt đừ người vì công việc đêm rồi nên chúng tôi đi tắm. Tôi đưa Mel Adams mượn một áo sơ-mi sạch rồi chúng tôi ngồi trong phòng làm việc ôn lại những điểm chính của cuộc hội đàm với Cung.
Tôi nhận thấy Adams là một nhà cố vấn sáng suốt và thẳng thắn. Hắn không tìm cách che dấu những sự nghi ngờ của chính mình và hắn cân nhắc mỗi vấn đề với sư vô tư đáng khen.
“…Thưa ông, về một điểm tôi thấy phải đồng ý với Cung. Thật ra chúng ta đã đòi hỏi một phép lạ nếu chúng ta muốn ông đoàn kết được xứ sở nội trong một đêm. Khi ông đi thăm các thôn ấp ông sẽ thấy cái tổ chức gia đình, bộ lạc chặt chẽ và chuyên đoán đến mực nào. Theo truyền thống lịch sử, họ bao giờ cũng ngờ vực những kẻ ngoại cuộc, mặc dù là ông tướng, nhà cai trị hay ngoại nhân như chúng ta. Phật giáo tự nó cũng có thể là một ảnh hưởng chia rẽ bởi vì nó chấp nhận nhưng không thể thống nhất được tất cả các khuynh hướng dư luận và hành động. Tây phương chúng ta coi Phật giáo như môt tôn giáo của chiêm ngưỡng và thầm lặng nhưng trong Phật giáo cũng có những truyền tính bạo động nữa. Phật giáo bao giờ cũng có những môn phái nhập thế và đôi khi sự nhập thế biến hóa thành những biểu hiện kỳ lạ. Ông đã thấy những điều xẩy ra với môn phái Soka Gakkai bên Nhật … Tôi phải đồng ý với chứng cớ là cũng có một sự khuynh đảo phát xuất từ các chùa. Nhưng khuynh đảo là một danh từ tô mầu. Đối với rất nhiều người Việt thì Hồ Chí Minh là Bác Hồ nhà ái quốc cao thượng và cách mạng đã thành công, trong khi Phùng Văn Cung là một tên phản động được sự ủng hộ của tư bản Mỹ …
“Cả chúng ta nữa cũng góp phần vào sự tan rã. Chúng ta quá duy thực. Chúng ta đòi hỏi cái kết quả ngắn hạn và thường không đủ kiên nhẫn để tìm hiểu những hậu quả về sau. Chúng ta tra định nghĩa sự vật bằng những danh từ chính xác và sự định nghĩa ấy phản lại ta, đưa ta vào những lập trường cố định khòng sao rút ra được.
Cũng như Kim Môn, Mã Tổ và truyền kỳ về hai nước Trung Hoa. Đó cũng chỉ là một truyền kỳ nhưng chúng ta đã tạo ra nó và bị kẹt luôn vì nó. Đó là lý do tại sao tôi không ưa Harry Yaffa. Hắn là một chuyên viên tình báo thượng thặng. Nhưng lúc nào hắn cũng quá sẵn sàng để hành động: hắn không có ý thức gì về lịch sử, về liên tục hay về hậu quả cả. Cứ đưa cho hắn một hoàn cảnh nào đó là hắn sẽ cố công thay đổi nó liền. Mà hắn cũng được tổ chức để làm như vậy nữa. Khi một hành động thất bại là hắn lại sắp đặt một hành động khác ngay, nội trong một đêm.
“Hành động! Hành động! Chúng ta là một dân tộc đã được giáo dục để hành động. Hãy đứng lên và tiến bước! Hãy đi về miền Tây, hỡi người trai trẻ! Nơi các đồi núi phía ấy có đầy vàng! Ông đã biết phương Đông. Ông cũng biết sự huyễn dụ ấy nó phản phúc như thế nào. Và đối với người dân quê nơi đồng ruộng thì hành động có nghĩa gì? Cộng-sản đến, mang theo luôn cả một triết lý nhưng còn chúng ta thì hứa hẹn gì sau khi im tiếng súng? Dân chủ ư? Tự quyết ư? Ai cũng quên mất rằng chính tổ tiên mới là người thực sự nắm quyền bính của bộ lạc. Và với họ, thì làm sao mà đưa lá phiếu đến được? “Đã nhiều lần tôi tự hỏi, nếu ở vào địa vị ông Cung, tôi sẽ làm gì? Thứ thật rằng tôi cũng không biết chắc phải làm gì. Làm sao mà đả phá được cái đầu óc quan liêu, lãnh chúa nơi các tướng lãnh? Nếu cho họ thêm một miếng bánh, họ tưởng họ có quyền đòi một miếng to hơn. Phân chia quyền bính và thế lực một cách bình đẳng đâu có cứu vãn được thể diện. Ông vẫn còn phải chứng tỏ rằng ông quan trọng hơn anh hàng xóm. Trên phương diện chính trị thì phương pháp chia để trị của Cung là hợp hơn cả. Trên phương diện quân sự thì dĩ nhiên nó đưa đến sự bê bối như hiện nay”.
“Hãy xem vấn đề Phật giáo. Tôi tin rằng ông Cung thành thật muốn thương thuyết với họ. Nhưng ông sợ rằng khi chìa bàn tay ra thì họ sẽ muốn đớp luôn cả cánh tay ông đi. Các nhà sư trong chùa chiền đâu có chiến đấu trong cuộc chiến tranh này; nghề nghiệp của họ miễn cho họ việc đó. Cho nên theo ông Cung thì họ không có quyền gây mầm xáo trộn trật tự công cộng có hại cho người chiến sĩ đang chiến đấu khổ cực trong vùng châu thỏ … Về điểm này nữa, đó cũng là một quan điểm hữu lý.” Hắn cười một cách không lấy gì làm sung sướng và tự rót lấy một tách cà phê nữa. “Thưa ông, ý kiến của tôi không lấy gì làm xây dựng cho lắm, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải tìm hiểu tình hình rất kỹ lưỡng trước khi dấn thân vào một cuộc đổi thay. Ông đã hạ tối hậu thư. Kết quả bày giờ ra sao?”
“Ông Cung sẽ suy nghĩ về vấn đề này; sau đó ông sẽ tiếp xúc với tôi.”
“Riêng òng trông đợi ông Cung sẽ làm gì?”
“Anh Mel, nếu anh hiểu kiểu tôi nói thì tôi nghĩ rằng bây giờ òng phải làm một cử chỉ rõ rệt và công khai để mời Phật giáo thương thuyết hữu nghị và chấn chỉnh lại ngay những điều thống khổ thực sự của họ. Tôi nghĩ rằng ông phải thả ngay những sinh viên và sư sãi đang bị giam cầm. Sau đó ông mới có thể bắt mọi người tuân theo pháp luật và trật tự được.”
“ Theo ông, tôi không tin rằug ông Cung sẽ làm nổi như vậy. Dầu sao ông cũng không thể làm hết tất cả mọi việc ấy được.”
“Tại sao không?”
“Bởi vì bạo động chưa chấm dứt hẳn. Ở trong Dinh, tôi nghe nói sẽ còn nhiều vụ rối loạn nữa.”
“Do ai làm? Phật-tử?”
“Không, do sinh viên làm. Nội nhật ngày hôm nay họ sẽ bắt đầu biểu tình và như vậy lại có một vụ đẫm máu nữa: lại thêm dùi khui, thêm đạn, thêm bắt bớ, không hiểu rồi sẽ ra sao?”
“Hoa-kỳ lại công khai phản đối một lần nữa.”
“Rồi để sĩ quan của Đại tướng Tolliver phải dẫn quân lính Việt Nam đi hành quân, Phật tử cũng như tín đồ Thiên chúa giáo, trong khi con cái họ vào tù! Đẹp nhỉ? “
“Vậy ta hãy xét đến dự án của Yaffa. Cho là chúng ta hỗ trợ một cuộc đảo chính. Cung ra đi. Ai sẽ cai trị xứ sở? “
“Một hội đồng tướng lãnh.”
“Lại các ông lãnh chúa nữa.” *
“Vâng, nếu ông muốn nói vậy.”
“Các hội đồng tướng lãnh có tiếng là không được vững bền.”
“Tôi đồng ý với Yaffa cho rằng các tướng lãnh sẽ đoàn kết hơn nếu không có Cung cầm cương nẩy mực.”
“Còn anh nghĩ sao, Mel?”
“Khó tin lắm.”
“Liệu họ có đoàn kết nổi quân đội không?”
“Việc này tôi cũng không tin được.”
“Nâng cao tinh thần chiến đấu có được không?”
“Khó nói chắc.”
“Họ có cai trị nổi xứ này không?”
“Với quân đội, có lẽ họ điều hòa được một cách tốt đẹp hơn. Nhưng còn việc họ có cai trị nổi, gây phấn khởi nổi cho quân đội và đem quân đội ra khỏi sự thất vọng và ngờ vực hay không, tôi không biết. Tôi không tin rằng một tưởng lãnh nào trong bọn họ hay tất cả các tướng lãnh có thể làm nổi điều mà Cung đã làm được sau Điện Biên Phủ. Tôi không tin rằng có một tướng lãnh nào trung thực như Cung hay, có ý thức đạo đức như Cung đã có. Kể ra thì cũng lạ. Đấy là điểm mà Bác Hồ mạnh nhất ở miền Bắc. Họ Hồ là một nhà lãnh đạo cách mạng với một triết học Mác-xít đã hoàn toàn khai triển. Cung cũng là một triết gia; nhưng cái chủ thuyết Nhân vị mà ông đã mượn của người Pháp không được nhân dân hưởng ứng vì đó là một sản phẩm tế nhị của giống Gôloa. Tòi nghĩ rằng nó chẳng có ý nghĩa gì đối với quảng đại quần chúng cả. Nếu Cung là một chính trị gia xuất thân từ đám thường dân, có tài và có hấp lực cá nhân khả dĩ hướng dẫn được quần chúng thì ông có thể bắt họ nghe theo Kant, Hegel, Aquinas hay quỉ quái đại nhân gì nữa cũng được bởi vì dân chúng đã biết đến thành tích của ong va kinh trong thanh tích ay. Nhưng ông lại không có cái huyền lực ấy. Ông chỉ là người sống đơn độc, một nhà độc tài, một tín đồ Thiên Chúa giáo và điều này cũng chẳng giúp ích gì cho ông.”
“Vậy tôi yêu cầu anh biểu quyết: Cung hay là một Hội đồng tướng lãnh? Anh sẽ chọn lá phiếu nào?”
“Thưa ông tôi cũng chẳng biết nữa,” Mel Adams lặng lẽ nói. “Tòi rất mong mình biết được. Có lẽ tôi đã bị lôi cuốn theo một nỗi tuyệt vọng âm thầm giống như chính người Việt vậy. Có lẽ lẽ Yaffa nói đúng khi hắn kết tội tôi là bất định và bất động. Xin ông hiểu cho rằng không phải vì tôi sợ hãi, chỉ tại tất cả những hành động của chúng ta đã buộc chúng ta theo một con đường không dẫn đến đâu cả … “Hắn dứt lời và ngồi một lúc trong im lặng; mắt nhìn xuống những mu bàn tay dài và dễ kích động của mình. Tôi cảm thấy một nỗi đau đớn vì thương hại cho hắn bởi vì sự bất định của hắn cũng giống như của tôi. Tôi cũng cảm thấy một sự kính nể nữa bởi vì hắn đã sẵn sàng nhận lấy trách nhiệm về sự bất định của mình. Sau cùng hắn ngửng đầu nhìn tôi với đôi mắt u buồn. “Thưa ông, toi muon trình bày với ông vài điều. Sau khi nghe tôi nói ra, có thể ông muốn chặt đầu tôi. Tôi sẽ sẵn lòng dâng đầu tôi trên một khay bạc. Đại tướng Tolliver là người Mỹ duy nhất ở đây có được một mớ chỉ thị lương thiện. Ông được lệnh chiến đấu trong một cuộc chiến không thể thắng được nhưng chẳng có ai trông đợi ông thắng trận cả. Với òng và với Ngũ giác đài, chỉ là một trận trì hoãn chiến. Nếu người Việt chia rẽ nhau, ông chiến đấu với một quân đội chia rẽ; nếu họ đoàn kết được với nhau ông chiến đấu với một quân đội đoàn kết và trách nhiệm tối hậu không phải đổ lèn đầu ông mà là Bộ Tổng Tư Lệnh QĐVNCH. Với chúng ta thì lại khác. Hoa thịnh đốn đang yêu cầu chúng ta can thiệp trực tiếp vào chính quyền của nước này. Ông đã đến đây với một tối hậu thư mà lời lẽ thật ra nói rằng, mày phải làm cái này cái nọ, nếu không chúng ông sẽ cho mày phá sản và triệt thoái sự yểm trợ quân sự đi. Trên một đẳng cấp khác, CIA cũng can thiệp vào nữa. Chúng ta đang làm tất cả những điều ấy nhân danh dân chủ và tự quyết. Nhưng sự thật là một nước cờ chính trị và quân sự để ngăn chặn Trung Hoa và giới hạn sự lan rộng của các cuộc cách mạng bản xứ, những cuộc cách mạng bắt rễ từ sự bóc lột thực dân, sự bạo ngược của lãnh chúa và sự thối nát trong chính qnyền.
“Thưa ông, tôi xin nói thẳng là những người duy nhất trong nước này thật sự biết mình chiến đấu cho cái gì chính là những tín đồ Thiên chúa giáo. Nếu nước này trở thành Cộng sản, họ biết rằug Giáo hội của họ sẽ bị quét sạch trong một nửa thế hệ, trong khi Phật giáo sẽ ngã theo như họ đã từng làm ở Trung Hoa. Đó là lý đo tại sao tôi hiểu Tổng Thống Cung và thông cảm với ông mặc dầu tôi biết những lỗi lầm ông đang mắc phải. Đó cũng là lý do tại sao tôi cho rằng chúng ta cũng đang phạm một lỗi. Chúng ta đang tìm kiếm một người mới và một chính sách mới nhưng chúng ta vẫn không biết chúng ta muốn gì. Thành thử chúng ta đi ủng hỗ anh nài thay vì con ngựa. Và bởi vì chúng ta hấp tấp nên chúng ta vớ lầm phải auh nài khác. Đó là điềm mà tự tôi thấy bất đồng ý kiến với chính sách của chúng ta ở Đông Nam Á. Tôi là một công bộc của chính sách ấy và tôi cố gắng làm một công bộc tốt, lương. thiện, nhưng tôi không còn tin tưởng ở chính sách ấy nữa.”
Đó là một lời thú nhận đau lòng của một người đã phục vụ lâu năm trong ngành.
Tôi coi như đã được một lời khen tặng vì hắn đã chọn tôi để thổ lộ sự thú nhận ấy. Thật từ tốn, tôi hỏi hắn một câu khác:
“Anh Mel, nếu anh được yêu cầu qui định chính sách, anh sẽ qui định như thế nào?”
“Tôi sẽ trung lập hóa. Tôi sẽ trung lập hóa trong lúc chúng ta còn đủ sức mạnh để mặc cả. Sau đó tôi sẽ rút lui và để cho nước này tự quyết định lấy tương lai của mình.”
“Và để cho Bác Hồ lên nắm quyền trong một hay hai năm sau? “Mel Adams nói một cách huỵch toẹt.
“Bây giờ ông ta cũng đang nắm quyền rồi bởi vì người thật sự muốn đoàn kết xứ sở lại không có tài làm nổi; bởi vì chúng ta bị phá sản về đủ mọi thứ, ngoại trừ võ khí, người và tiền bạc; bởi vì khi mặt trời lặn đi thì người dân quê nơi đồng ruộng chẳng thấy đuốc soi ở đâu cả mà chỉ thấy sự tối tăm của nỗi chán chường nơi chính mình … Vậy bây giờ, thưa ông, nếu ông muốn tôi từ chức, tôi sẽ từ chức.”
“Anh Mel, anh có muốn từ chức không?”
“Không, tôi không muốn.”
“Vậy anh muốn làm gì?”
“Tôi nghĩ rằng tôi vẫn có thể giúp ích được: ở đây dẫu chỉ là một tiếng nói đối lập. Tôi nghĩ rằng ông có một cơ hội có lẽ mỏng manh để làm Cung thay dổi và bảo tồn được những thắng lợi mà ông đã tạo ra. Nhưng sẽ không dễ dàng đâu vì lũ chó săn sẽ sủa theo gót ông để âm mưu một cuộc đảo chính và bắt đầu một thời đại mới. Tôi muốn chơi ván bài lương tâm trong một thời gian. Tôi muốn kiểm soát lại những tin tức họ đưa lại cho ông và chỉ cho ông thấy sự thật chôn dấu ở đâu.”
“Anh Mel, đó là một vai trò bạc bẽo. Cả tôi, tôi cũng không bảo đảm là sẽ biết ơn anh đâu.”
“Thưa ông, đây không phải vấn đề ơn huệ, chỉ là vấn đề tự trọng của riêng mình tôi thôi. Nếu Cung xuống, họ sẽ giết ông ta. Thà tôi cứ đánh ván bài lương tâm còn hơn là đóng vai một tên sát nhân chính tri.”
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.