Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 7 Dec 2025

6. Y Sĩ Đại Úy Nguyễn Thanh Giản.

Trang Viết Cuối Cùng Cho Bạn Tôi

Nguyễn Thanh Giản sinh năm 1940, tỉnh Thái Bình, Bắc phần, trung học Chu Văn An, tốt nghiệp Y Khoa Sài Gòn 1965, Bác sĩ Quân Y Quân Lực VNCH 1965-1975. Tù cải tạo 1975-1977. Định cư Hoa Kỳ 1983. Viết văn với bút hiệu Hải Đăng, tác phẩm đã xuất bản: Kỷ Niệm Trên Đồi (tập truyện) 1994; Nỗi Đau của Mẹ (tập truyện) 1998; Kể Bên Bếp Lửa (truyện dài) 2003. Mất năm 2015.

Ngày được tin Bác sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn tỉnh nguyện đi binh chủng Nhảy Dù, một người ban chung lớp nói với tôi:

_Thằng Tuấn mà đi Nhảy Dù thì chắc dù nó bay lên chứ không xuống đâu! Tôi mỉm cười nhưng không ngạc nhiên vì biết anh nhỏ con, cao có 1.58 mét và nặng chỉ có 40 ký. Tuy nhiên vì đã chơi thân với nhau kể từ khi còn trung học và suốt 7 năm đại học nên tôi biết rõ anh có lý do để chọn binh chủng Nhảy Dù, một binh chủng chiến đấu anh dũng và có kỷ luật cao. Ngay từ khi còn ngồi ghế trung học, chúng tôi cũng đã có những đêm thức trắng bàn luận với nhau, nào là văn chương triết lý, như là vận nước lâm nguy, nào là ước vọng của những người trai thời loạn. Cái hoài bảo của chúng tôi thời đó thật là to lớn quá, cái lý tưởng tuyệt vời quá, những cả hai chúng tôi đều băn khoăn trong lòng là không biết mình sẽ làm được cái gì?

Thế rồi ra trường, mỗi đứa được điều động đi một ngã. Lần cuối cùng tôi được gặp Tuấn là ở quận Cam Lộ, thuộc tỉnh Quảng Trị. Lúc đó người ta đang xây dựng một hàng rào điện tử gọi là hàng rào McNamara để ngăn chận Cộng quận từ Bắc xâm nhập vào Nam. Người dân ở quanh đó bị bắt buộc phải đời đi nơi khác.

Họ được tạm cư ở những trai làm bằng lều vải do Mỹ cung cấp. Trên một khu đất rộng, những căn lều vải được cất lên san sát, Mùa hè với những cơn gió Lào thổi về như thiêu đốt và mặt đất cát nóng bỏng. Thực phẩm và nước uống cũng do trực thăng hoặc những đoàn xc Mỹ chở tới, Tôi được giao nhiệm vụ coi sóc sức khỏe của đồng bảo ở các trai này, goi là công tác Dân Sư Vụ. Bộ Chỉ huy của tôi đóng ở Đông Hà, mỗi sáng tôi được chở tới Cam Lộ để khám bệnh cho đồng bào đến chiều lại về vì ở Đông Hà an ninh hơn. Nhưng thường thì buổi chiếu tôi không muốn về. Tôi muốn ở lại cùng với anh em y tá của tôi một phần, một phẩn nữa tôi muốn sống thật gần gũi với những người dân quê lam lũ. Nhiều người dân ở trong các lều thấy tôi đến thăm ho buổi tối, tăng thuốc bổ hay cho trẻ em vài cái kẹo, ho rất quý. Tôi thường nói chuyện, tâm sự với họ tới khuya. Quan hệ giữa tôi và đồng bào ở đó trở nên thân mật, có lần tôi bị ốm phải về Quảng Trị tĩnh dưỡng mấy ngày. Đến khi trở lại họ thăm hói tôi một cách ân cần. Một người dân chất phác hỏi:

– Bác sĩ đau làm chúng tôi nhớ bác sĩ quá. Bác sĩ không đi khám bênh được sao không nhờ bà bác sĩ khám giùm?

Tôi cho họ biết vợ tôi không phải là bác sĩ nên đâu có biết khám bệnh, thì họ đồng thanh nói:

– Thì ông chỉ cho bà cách khám bệnh và cho thuốc cũng được chớ có sao!

Những người dân quê này thật hiển lành chất phác và dễ thương quá, họ không hiểu thế não và phải học ra sao để làm bác sĩ. Tôi đành giải thích theo lối họ:

– Đồng ý tôi có thể dạy vợ tôi cách khám bệnh nhưng vợ tôi phải học rất siêng năng. Tối nào cũng phải thức ít nhất 12 giờ đêm để học bài, nếu không thuộc tôi phải dùng roi đét vào đít. Cứ như thế 7 năm thì bà ấy mới có thể chữa bệnh được!

Mọi người cười ồ lên có vẽ hiểu. Tôi thương những người dân quê này quá, họ chẳng khác nào gia đình của tôi, nhưng tôi chỉ có thể ở với họ một thời gian ngắn rồi sẽ ra đi. Chiến tranh vẫn kéo dài, ngày một thêm ác liệt, rổi tai họa nào sẽ giảng lên đầu họ? Tôi làm sao có thể chia sẽ với ho mãi được! Một buổi chiều, tôi đang đùa giỡn với đẩm trẻ con thì Tuấn ở đâu đi tới. Anh mặc bộ đồ Dù khá mới, da dẽ đã sạm nắng, đầu tóc vẫn hớt kiểu móng lừa. Tiểu đoàn anh đi hành quân ở Cùa mới về. nghe nói tôi ở đây nên anh tới thăm. Thấy tôi, anh nói giỡn:

– Bác sĩ không lo khám bệnh lại đi giỡn với trẻ con.

Tôi mới anh vào trong lều mở nước ngọt mời anh và các y tá uống. Đêm hôm đó, trong căn lều vải giữa đồng khô cỏ cháy chúng tôi được địp nằm bên nhau ôn lại những ký niệm xa xưa, thời còn cắp sách tới Đệ Tam B6, Đệ Nhi B6 của trường Chu Văn An đã gần mười năm về trước. Chỉ khác là lần này chúng tôi nằm ở vùng tiền tuyến, tiếng đạn nổ chung quanh như nhắc nhở rằng những chết chóc điêu linh của cả dân tôc vẫn là một thực thể không biết đến ngày nào mới chấm dứt. Sáng hôm sau, tôi bắt đầu một ngày làm việc mới thì gặp trường hợp một em bé bị sưng ruột đư. Tuấn cũng nắn bụng em bé và đồng ý với sư chẩn đoán của tôi, Đứa bé cần được đưa đi nhà thương để mổ ngay. Nhưng vừa nghe tới chữ mổ là cha mẹ nó ẳm chạy ra ngoài ngay. Họ cho mổ là việc ghê gớm lắm, con họ bị đem đi mổ chắc là sẽ chết và thân xác không vẹn toàn, có khi không được trả xác về nhà nữa là khác. Trong đầu họ nghĩ đến ông thầy thuốc Nam, ông y tá quen thuộc hay cùng làm là ông thẩy pháp có thể cứu được đứa bé. Tôi bối rối chưa biết xử trí ra sao, anh em y tá định giữ bé lại nhưng mẹ nó đã lanh lẹ ẳm chạy về lều. Tuấn nói với tôi:

– Để tao khám bệnh thế mày bữa nay. Mày đã quen với dân chúng ở đây rồi, hãy đến tận nơi giải thích cho họ: chỉ có cách giải phẩu mới cứu được đứa bé mà thôi. Tao biết mày có tài thuyết phục hay lắm mà.

Tôi tới tận lều giải thích mãi cha mẹ đứa bé vẫn không nghe. Sau phải nhờ nhiều người quen nói thêm vào, cha mẹ đứa bé mới đồng ý đem nó đi Quảng Trị với điều kiện tôi cũng phải đi theo và cha mẹ nó thì luôn luôn ở bên cạnh. Tôi bèn gọi máy bay trực thăng tản thương rồi tất cả cùng đi. Chỉ một tuần lễ sau đứa bé bình phục hoàn toàn nhưng lúc đó Tuấn đã xa tôi rồi. Tôi còn nhớ đêm trước hôm chia tay Tuấn nói với tôi:

– Cuộc chiến này nếu không làm sáng tỏ được là chúng ta chiến đấu cho tự do dân chủ thì rất nguy. Nó sẽ trở thành cuộc chiến của những thằng ở thành phố đánh nhau với những thằng ở miền quê. Những thằng ở thành phố tinh khôn hơn nhưng chỉ là thiểu số, miền quê trông có vẻ khờ khạo nhưng nắm giữ hầu hết tiềm lực của dân tộc. Mày tranh thủ được nhân tâm dân chúng miền này là rất tốt. Nếu bên mình mà làm được như vậy thì bọn Việt cộng sẽ thua nhanh chóng. Cuộc chiến đã trở thành cuộc tranh thủ nhân tâm, mình không làm thì bọn Việt cộng tinh ranh sẽ làm và sự sụp đổ của miền Nam sẽ là điều không tránh khỏi. Sự tiên đoán của Tuấn đã xảy ra. Ngày miền Nam sụp đổ, anh không còn nữa nên tránh được cái tủi nhục của những người bại trận. Còn chúng tôi lũ lượt kéo nhau đi từ nhà tù này tới nhà tù khác …

Tuy nhiên lời tiên đoán của Tuấn đến bây giờ lại sắp được chứng nghiệm một lần nữa. Chiến thắng của Việt cộng tôi cho chỉ là tạm thời, nếu họ không biết thay đổi chính sách. Vì khi huyênh hoang với chiến thắng, họ quên mất bài học cũ, bài học chinh phục nhân tâm. Và cho đến nay, hầu hết những người tượng trưng cho sức mạnh dân tộc đã quay lưng lại với họ. Những thể chế chính trị rồi sẽ qua đi nhưng tình bạn của chúng tôi vẫn còn mãi mãi. Dù Tuấn đã chết gần ba mươi năm, nhưng năm nào vào những kỳ họp bạn chúng tôi vẫn không quên anh. Năm nay các bạn bên nhà tổ chức tất niên thật linh đình, họ quay cả video gửi qua cho tôi: sau phần nhắc nhở công ơn các thầy cô cũ, tới phần tưởng niệm các bạn cùng lớp đã ra đi. Anh Trần Quang Nhiếp đã nhắc đến tình bạn của chúng tôi và Nghiêm Sỹ Tuấn như sau:

Tuấn thân mến,

Hôm nay theo truyền thống 3B6, 2B6, bọn tao lại họp mặt vui chơi trong đầu năm mới. Năm nay xôm tụ hơn mọi năm vì Giản, Mậu, Thuần gửi tiền về nhiều. Vui với nhau nhưng vẫn nhớ tới những thằng đã ra đi. Ra đi về nơi vĩnh hằng chưa hẳn đã là điều bi thảm nhưng không có mày thì cũng không vui trọn vẹn. Hơn ba mươi năm trời rồi nhưng cuộc vui họp mặt đầu năm chúng tao vẫn giữ. Hai mươi mấy năm rồi mày đã vui với nấm mộ cỏ xanh, bọn tao vẫn không quên. Cây điệp già ngoài sân trường Chu Văn An vẫn còn đó, mái trường cũ kỹ vẫn còn đó. Nước chảy qua cầu có đến hàng tỉ mét khối rồi, thằng nào cũng xế bóng, kể cả thằng Kim Anh em út, râu tóc nó đã lơ thơ sợi bạc. Có thằng đã có rể, có cháu. Vậy mà bọn tao vẫn cảm một điều rất thật là mình vẫn còn trẻ lắm, vẫn còn là chú học sinh Chu Văn An phá phách năm nào với nhiều kỷ niệm.

Tao còn nhớ hồi ở 3B6, thằng Trí ngồi ở cuối lớp chọc mày. Mày ngồi ở giữa lớp trừng mắt nhìn nó, thế là hai đứa đấu mắt với nhau đến hai ba phút mới thôi. Ra trường Y khoa mày cũng đấu mắt với cuộc đời như vậy. Tao lại còn nhớ tới cái đầu tóc mày ngày đó, cắt theo kiểu móng lừa. Thầy Tuyên trong lúc cao hứng đã gọi

mày là thằng Bờm, cả lớp cười ầm lên. Thế là cái tên thằng Bờm dính với mày cho đến tận bây giờ. Ba mươi lăm năm, thời gian trôi qua mau kinh khủng. Người ta ở đời, đầu đội trời chân đạp đất, bọn tao cố gắng chống trời nhưng phần lớn bọn tao mất mát nhiều. Có thằng trắng tay ở cái tuổi năm mươi. Có thằng phải làm lại cuộc đời từ con số không. Ấy thế mà hôm nay gặp nhau bọn tao vẫn vui, chắc mày ở đâu đó trong trời đất cũng vui chung với tụi tao phải không Tuấn?

Tuấn thân mến,

Tao nhớ lại cái ngày 13 tháng 8 năm 1968, Nhã lại nhà tao với đôi mắt đỏ hoe báo tin mày chết mà sao lòng tao lúc đó vẫn dửng dưng. Tao vẫn không tin chuyện đó xảy ra. Mày đi xa, nay đây mai đó nhưng vẫn thường viết thư cho tao, lâu lâu lại có lá thư của mày ở đâu đó gửi về. Có lần mày viết thư về bảo cái ba lô của mày lỗ chỗ thủng vì đạn, những bài thơ tao gửi cho mày cũng bị đạn xé. Lúc đó hình như mày đang ở Phù Cát thì phải, tao đã thở phào nhẹ nhõm. “Không sao, không sao miễn là mày còn sống, còn viết thư cho tao là được.”

Tao cũng còn nhớ ngày mày được nghỉ phép lại nhà tao chơi, chân đi cà nhắc, miệng phì phèo điếu Bastos xanh quen thuộc. Tao hỏi sao vậy? Mày nói bị ở đầu gối, nhẹ thôi, nhưng không sao, không sao, vẫn còn vác xác đi thăm mày mà. Thế rồi mày lại ra đi, tao không biết đi đâu. Hai ba tháng không nhận được thư mày, rồi Nhã đến báo tin mày chết ở Khe Sanh. Thế có vô lý không! Nhã về rồi, tao ngồi một mình đọc lại những bài thơ tao gửi cho mày, có một bài lục bát ngắn, mười câu thôi, sao nó lạ quá. Có cái gì đó khó giải thích giữa bài thơ và cái chết của mày. Một điềm báo trước chăng? Tao đọc lại mày nghe nhé:

Lòng trai ra đã khi nào

Ngoảnh trông lại thuốc cháy bao nhiêu tàn

Mày xiên mũi dọc vai ngang

Mắt xâm yêu đã nhuốm vàng khói xanh

Hỡi đêm quỷ nhập tàn canh

Máu ta có chảy lạnh tanh chiến hào

Hoả châu có nổ trên cao

Hãy đưa ta một chén trào rượu cay

Rồi ta súng đạn cầm tay

Rừng sâu đất hiểm lại bày cuộc chơi

Tuấn ơi, mày đã bỏ cuộc chơi hơn 20 năm rồi. Cái quạt mo, thằng Bờm có cái quạt mo. Cái mộng văn chương của mày đó, mày cũng để lại cho đời. Hôm nay tưởng nhớ mày, tao xin được đại diện bạn bè nơi đây đọc cho mày nghe một bài thơ tao viết khi mày nằm xuống:

Sáng nay mưa đầu mùa

Nhà ngươi nằm dưới mộ

Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi

Xanh um từng đám cỏ

Ta nghe hơi thở ngươi

Vẫn dồn lên mặt gỗ

Ôi núi rừng Khe Sanh

Giao thông hào còn đó

Người yêu có khóc chăng?

Hỡi thằng ba mươi tuổi

Những bài thơ cổ phong

Có mang về chín suối

Ngươi chết như giỡn chơi

Cần chi vài giọt lệ

Tặng ngươi một đóa hồng

Trên nấm mồ nhân thế.

Tuấn ơi, quả thật mày chết như giỡn chơi, đâu có cần vài giọt lệ xót thương của bất cứ ai, kể cả của bọn tao là bạn mày. Bọn tao chung vui hôm nay không quên các bạn như Phan Văn Hùng, Trần Tử Tư, những đứa cùng lớp với mình nay không còn nữa. Tình bạn của chúng ta có lúc tưởng như phai nhạt theo năm tháng, có lúc gặp nhau chỗ này, khi gặp nhau chỗ khác và rất đỗi vô tình. Nhưng thật ra không phải vậy đâu, nó tiềm ẩn đó thôi. Hứa với mày là bọn tao vẫn giữ mãi, giữ mãi cái tình bằng hữu 3B6, 2B6 đáng quý của chúng ta, cho dù Giản, Mậu, Thuần cùng một số những đứa khác hiện đang sinh sống ở xứ người, đúng như mong muốn của bọn mình ngày nào cách đây ba mươi lăm năm dưới gốc điệp già giữa sân trường Chu Văn An thân yêu.

NGUYỄN THANH GIẢN

[trích Quân Y Quân Lực VNCH 2000]


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment