vietmessenger.com
Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 7 Dec 2025

22. Nhớ Mẹ và nhớ chùa Khme Watt Xà Lôn ở gần làng Đại Tâm, tỉnh Sốc Trăng.
Tôi năng đọc tờ Sài Gòn Giải Phóng và nay gặp trong số 151, tr.12, có bài của Nguyễn Hữu Hiệp, nói về “Đàn Dơi ở Chùa Mã Tộc”. Lòng bỗng xúc động nhớ một cảnh chùa Thổ cũng ở tinh nhà Sốc Trăng, chùa nầy có phần cổ kính và phong phú không thua chùa Mã Tộc, vậy xin nhắc lại theo trí nhớ, vì sao biết dời, vật nay biến đổi không ngừng, cảnh tôi thấy năm trước, nay có còn chăng? Và đó là chùa Xà Lôn, trên con đại lộ quốc gia Thăng Long Minh Hải, chùa nầy cách làng Đại Tâm (Tài Sum, Xoài Cả Nả) độ chừng hơn bốn cây kí lô mét ngoài và tôi kể mấy địa danh lạ tai nầy, mấy ông mới có biết đến chăng!
Trước tiên, xin mạn phép hỏi mấy nhà cai trị cầm quyền ở tỉnh nhau rún của tôi và xin hỏi lẽ nào viết tên tỉnh, chữ Sốc, bỏ mất dấu và còn Sóc Trăng!
Tôi vả lại là người đã lỗi thời, quá già, nay 93 tuổi, chết nay chết mai chưa biết, nhưng vẫn biết hồi đời Tây còn ở đây, chúng viết Sóc Trăng, để gần như tiếng Pháp, còn dân chúng vẫn viết Sốc Trăng chữ Sốc có dấu mű, và đó là dựa theo tiếng Khmer Srock Kleang, người Tiều nói Khắc làng và cổ nhơn ta âm ra Sốc Trăng, chữ Sốc, xưa nay đã nhìn nhận là “làng Cao Miên”, mấy người mới, đáng lẽ nên giữ y và viết theo như cũ còn căn nguyên “đi đổi Sốc” là đi trao đổi buôn bán với người Miên trong Sốc, cũng như “đi Buôn” là đi trao đổi mua bán với người đồng bào Thượng và Buôn là làng Thượng (Buôn Mê Thuột).
Viết Sóc Trăng, tôi hiểu Sóc là mồng một, và làm sao mồng một có trăng? Sửa đổi cho hay cho có lý thì cũng nên, chớ đổi mất dấu mũ, tôi ở xa không dám cãi, nhưng tôi vẫn buồn. Chuyện cũ nhắc lại, tỷ như “cửa Trấn Di” tôi đã nói trong một bài báo nay không nhắc lại, Trấn Di đối với cửa Định An bên phía Trà Vinh, bên phía Sốc Trăng là cửa Trấn Di, mà nay cứ gọi cửa Trần Đề, khiến trẻ em hậu sanh lâu ngày hiểu lầm hiểu sai, tôi cho là tại người cầm đầu trong tỉnh không tôn trọng tên địa danh cũ và vẫn toan đổi mới.
Tôi cũng không hơi đâu cãi vã làm chi, và viết bài nầy, chung qui chỉ vì nhớ mẹ, và nhớ chút chuyện xưa, kể lại đây, giúp vui độc giả và người bản xứ, và nghe hay không tôi cũng không ép. Và xin cáo lỗi đã quá lần thẩn dài dòng. Mẹ tôi sanh năm Mậu dần 1878, mất năm Quí Sửu 1913, cách nay đã tám chục năm, vong hồn ắt đã đi đầu thai lớp khác và nơi mộ phần ở Sốc Trăng có lẽ quan tài đã mục, nắm xương đã hóa đất, nhưng con đây vẫn nhớ mẹ rành rành không quên, và tình mẫu tử, con còn tấc hơi thở nào, vẫn còn nhớ mẹ. Và quên làm sao dược, trong khi mẹ nằm xuống, thì con đây vừa tuổi đến mười một (11 niên), tấm thân cô quạnh, vừa biết ơn mẹ thì mẹ đã không còn.
Con nhớ lại, Ba của con, tánh nghiêm, con sợ lấm lét, mỗi việc con đều trông cậy và nhông nhẽo với mẹ, xin xu xin tiền ăn bánh cũng xin với mẹ, bị thầy giáo trong trường giọi u đầu, khi tắm mẹ hỏi, thì cũng học lại với mẹ, thằng cha thầy giáo dạy lớp tư nhì (cours préparatoire) tên Phan Thanh Viên, biết cha mẹ có tiền, nên giọi đầu con để ép Ba đứng ký tên bảo lãnh cho Viên vay bạc năm chục đồng (50$00) nơi tiệm chà chetty rồi cuối năm ấy, Viên xin đổi về tinh Bến Tre để số nợ lại cho cha tôi trả thế, Vân giữ về mô phạm mà đã lỗi với đạo làm thầy và phận sự làm người ngay thẳng như vậy không trách nay con nhắc tên thầy Viên ra và đính chánh Viên nầy không phải thuộc dòng họ quan Phan Kinh lược kia đâu và nay con bồi hồi nhớ mẹ và thầm trách năm 1913, Sốc Trăng còn quá nhà quê, dân trong tỉnh không dám chụp hình thâu ảnh để lại vẫn cứ tin máy ảnh sẽ hớp hồn người đứng cho chụp hình và thuốc men đời đó dở quá, mẹ nằm chỗ, rồi dau kiết, và thuở dó cứ nói “người nằm chỗ dau kiết, vô phương trị”, rồi cứ mời thầy Miên (Kơ me) đến đọc thần chú và thầy nhậu nhẹt cho no nê rồi nhận tiền cúng trở về sốc về làng, tên thầy bùa thầy ngãi đời đó, làm nghề ác ôn như vậy mà dược nhiều tiền hơn các bác sĩ chuyên khoa ngày nay và hồi đó dân tình còn quá dị đoan, mẹ tôi mất vào tuổi 33, lại biên trên giá triệu cước lên tuổi tam thập ngũ, để tránh tuổi Nhan Hồi và tôi vừa mười một, mất mẹ, bơ vơ mà không biết kêu chiu chít như gà và vẫn khóc thầm và phải tập bớt sợ và làm quen với người đào tạo ra mình và từ đó, mẹ đã mất, chỉ còn nương dựa vào cha và cha sanh mẹ đẻ, nay vẫn mừng cả hai làm tròn bổn phận duy Sển nầy thiếu sót chưa bồi bổ công sanh thành, và nay làm được chút gì gọi hữu ích cho xã hội thì cả cha lẫn mẹ vẫn không còn và câu “ơn cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như Đông Hải” quả là thấm thía.
Nhắc lại đã mồ côi mẹ rồi, mới học vào đời. Ba tôi rất tốt, nghiêm, ít nói nhưng rất mực thương con. Duy tiền mua bánh tại trường, vẫn bị thằng bạn lớn tuổi và to con hơn ăn hiếp Cái bánh xầy giá một xu (0$01) mua vào giờ ra chơi, nước mắm vừa chan, miếng ớt cay còn đó mà con tép ngon lành của cái bánh đã có thằng Chín con của thầy đội mã tà ăn giùm, không cho nó cắn thì nó đón đường đánh đá, chi bằng thí một miếng tuy chưa học tới gương Hàn Tín lòn trôn …
Năm 1912, lên lớp Tư nhứt (cours élémentaire) khỏi được tay thầy ác ôn Viên và may gặp thầy Dương, tánh hiền, về sau tôi gặp nơi Đại học Văn khoa Sài Gòn tôi chấm đậu một sinh viên tên Danh họ Nguyễn và đó là con thầy cũ tôi trả ơn muôn một. Kỳ bãi trường lớn, nghỉ học sáu chục ngày, bỗng cậu Hai tôi ở Xoài Cả Nả, ra nói với Ba tôi và lãnh tôi về làng quê mẹ, sắm sửa cạo đầu, cạo luôn cặp chưn mày, dể kịp ngày mai, ngày lành tháng chạp, lên chùa Xà Lôn, xuất gia đầu Phật, cậu tôi cắt nghĩa, nay tuổi đủ mười hai (thập nhị tuế), phải tu tắt đủ một ngọ (hại mươi bốn giờ) gọi báo hiếu theo lễ tục đàn thổ, trả ơn cho mẹ, để hồn mẹ sớm được siêu thăng, hoặc đầu thai qua lớp khác. Tôi hỏi cậu, không thuộc kinh kệ làm sao tu, cậu trả lời: “Cứ quì trước bàn Phật có một sư cả một ông sãi cả người Miên quì kế bên và đừng sợ, cứ sãi đọc chữ nào thì nhái y lại chữ ấy và đó là tu vậy”. Tôi hỏi với, còn cạo chưn mày là nghĩa gì, cậu tôi đáp: Tục người tu theo Miên, chưn mày là dấu ám hiệu cho việc tỏ tình với gái, nên phải cạo sạch bét cho khỏi bụng tà, còn tóc cạo trơn tru, nội hai tháng bãi trường đủ thì giờ cho tóc mọc.
Nhờ vậy, tôi được biết cảnh u tịch thiêng liêng của chùa Xà Lôn nầy. Năm trước đây, cách nay chừng bốn hay năm năm, tôi có dịp trở về Sốc Trăng viếng chùa Xà Lôn thì đã đổi thay cảnh vật không như vào năm 1912 kia nữa. Chùa cũ có lẽ lâu niên nên hư tệ và đáng trách người Miên không biết tồn cổ và đã ham theo mốt mới nên chùa Xà Lôn như tôi thấy lúc viếng, đã không còn cảnh như cảnh năm 1912.
Năm 1912, tôi bị cạo trọc lóc vừa tóc vừa chưn mày, lại bị trọn một ngày, hại mươi bốn giờ, cởi bỏ áo quần và mặc vào mình một áo sãi con màu vàng nghệ, không có áo lót và dưới thân không mặc quần, lạnh buốt phát run trọn một đêm nằm trên vạt tre ọp ẹp của nhà sàn cao cẳng là nhà tiếp khách của chùa, nhưng cũng may, với tuổi thơ, cơn ngủ đến không kịp đỡ và đã ngủ thẳng ống đánh một giấc ngon lành quên cả trời đất, rạng ngày hiện ra một cảnh thần thông biến ảo, nửa tin rằng thật nửa ngờ chiêm bao, – viết đến dây bỗng có khách đến nhà, lại phải tiếp và khi khách về thì bao nhiêu hứng đã mất, nay viết nối, bời rời như cơm nếp mắc mưa, – cảnh lạ lùng thấy có một lần đó (lúc 2 tuổi đầu và nay thuật lại như trên phim hát bớng … (viết tiếp ngày 7-12-1993).
Sáng sớm ngày vào tu tắt “một ngọ”, tôi bị đánh thức lối trời chưa rạng, tôi nghe ồn ào như nhóm chợ, điếc tai tiếng chim kêu chát chúa trên đầu, tôi vừa say ke, con mắt nhắm con mắt mở, bước ra khỏi nóc nhà khách thì thấy trên cao ngoài sân chùa không biết muôn thiên chim diệc đứng trắng xóa trên một sàng lớn như sân phơi lúa do nhánh và lá những cây cổ thụ điệp to (cây phượng của người Bắc), những nhánh và lá ấy chim diệc đã bẻ đã uốn lại từ hồi nào và làm nên sân phơi lúa như tôi nói đây và trên sân ấy, chim nhỏ chim con vừa mới nở đã rộn rịp như buổi nhóm chợ đông, tôi đang bần thần ngủ say thì thoạt thấy một sãi nhỏ, mặc áo màu vàng nghệ như tôi, tay cầm một cây tre dài, đầu ngọn chẻ ra làm hai và sãi con nầy vừa cầm cây tre lúc lắc, tiếng nghe lộp cộp lạc cạc vài tiếng như ra lịnh bắt im và tức thì, tiếng ồn ào im bặt, cảnh trí lặng trang và cậu tôi đã kéo tay tôi đưa vào quì gối trước bàn thờ Phật và kế bên tôi có ông sãi cả, trụ trì Watt Xà Lôn đang đọc kinh và tôi đang nhái lại và nay tôi chỉ nhớ có hai tiếng “Na mô” y như tiếng “Nam mô” của mình, còn bao nhiêu tiếng kinh kia tôi đã quên mất hết cả, chỉ biết và xin cải chính, sãi Miên không dùng chuông mõ và chỉ dùng tiếng trống ra hiệu lịnh trong chùa (những gì các sách báo ta thuật rằng chùa Phụng Sơn Tự ở Phú Lâm, trước có đào gặp chuông đồng của Kơ me, những tin như vậy là sai bét và nên đừng dùng đừng tin theo nữa), ấy với tuổi 12, tôi nhại ông sãi chùa Watt Xà Lôn, là tôi đã thành tâm cầu nguyện cho vong hồn mẹ tôi sẽ được siêu thăng tịnh độ và tôi đã trả được chút nào công mẹ tôi đã mang nặng đẻ đau. Ngày nầy, hôm nay, 7-12-1993, tôi đinh ninh hồn mẹ đã khỏi vòng khổ hải và chỉ duy còn một tôi, 93 tuổi, đang nhớ mẹ và mẹ đã không còn ngót tám chục năm rồi (1913 – 1993). Nói tắt lại, kinh trong chùa vừa tụng xong, một sãi cơn khi nãy, vừa ló đầu ra khỏi chùa và bước ra sân thì tức nhiên trên sàng điệp cao, tiếng diệc ồn ào trở lại như cũ, như vậy xin hỏi có linh thính hay linh thiêng thật không và độc giả ngày nay, giàu duy vật hơn duy tâm, có tin lời tôi thuật đây cùrg chăng? Tôi kể tiếp, sãi Miên, khi tụng hay đọc kinh, vẫn có dùng một quạt tròn có cán để che trước mặt cốt để chú tâm vào kinh và không tà tâm ngó liếc những gái những phụ nữ Miên đang quì trước bàn đức Phật. Tôi thuật dài dòng vừa tới đây thì có khách Việt kiều đến nhà nữa, và cái số tôi khi viết phải viết dứt đoạn mà cũng may, với tuổi 93 nầy, trí còn đủ minh mẫn và viết cũng chưa lộn xộn gì lắm (viết tiếp ngày 8-12-1993).
Ở chùa Miên Watt Xà Lôn nầy năm 1912 hay 1913 chim diệc đến tụ tập và làm ổ thật nhiều, số trên muôn thiên nhưng làm sao thống kê gì dược! Và thật kỳ diệu, chim diệc làm ổ trên cao, khi nào chim con rủi tớt xuống thì các sãi Miên sẽ lấy tre làm sàng nhỏ để chim con lên trên sàng ấy và đưa lên cao thì trên cao đã có chim lớn hay chim mẹ gắp để vào ổ như cũ, và đến đây tôi xin nói về tục người Miên tu nơi chùa, vẫn không trai lạt như sãi chùa Việt của ta và sãi Miên chỉ mỗi ngày thời một ngọ vào giờ trưa, và thức ăn là ăn của bố thí của người trong sốc trong xóm, sáng sớm mỗi sãi mặc áo màu vàng nghệ, rồi kéo nhau rời chùa xuống xóm và đứng sắp hàng dài, trước bụng mỗi sãi vẫn thủ một “bình bát” (tiếng Miên tôi còn nhớ là “tâu bâng bát” (đi xin cơm của tín đồ bố thí “khất thực như ta”), nhưng khất thực Miên hết sức dễ dãi, là dân cho món gì thì nhận đem về và xơi luôn món nấy, cho món chay thì tốt, cho món mặn cũng thực luôn không chối từ, mặc dầu không sát sanh nhưng nếu người trong xóm lén lượm chim diệc rớt rơi của chùa, đem về xào xáo rồi dâng cứrg cho sãi đi bâng bát, thì sãi vẫn đưa bình bát ra nhận, và như vậy sướng quá, xin cho tôi nói hỗn, nếu sãi có lòng bất chánh, cứ lựa nhà giàu đến xin cơm, thì tha hồ có rô ti, bít tết, chớ nào muối hột cá hôi … và dầu có tội sát sanh, thì đã có người dân cùng gánh chịu, sãi Miên tu như thế ấy và tôi chỉ tu có một ngày, chớ chi tu luôn cho đến ngày nay và vẫn còn sống như vầy có lẽ đã gần thành “chánh quả”! Nam mô! vô lượng Phật!
Chim diệc ở tỉnh Sốc Trăng, tôi còn nhớ có một năm xưa nọ, vào thời chủ tỉnh Tây tên Esquivillon cai trị nơi dinh quan Bố và cũng dinh Tòa Bố (tờa hành chánh) vẫn có rất nhiều chim diệc dến ở, ban đầu Esquivillon rất thích có người nịnh quan là minh chánh nên có chim đến chầu chực, duy về sau chim diệc sanh ra con mạt (mạt diệc) quá nhiều và bay xuống cắn ngứa, sanh ghẻ chốc, Esquivillon không chịu đựng nổi và phải bày ra đốt gỗ cho có khói, làm đống un nơi dinh và nơi tòa bố thì mới bớt có mạt và đã đốn mé bớt nhánh đuổi diệc bay đi nơi khác, và trong khi ấy, rời Watt Xà Lôn, về sau, mải ham tiền đã đốn bán các cổ thụ nơi chùa và cất chùa lại theo mốt mới, cột gỗ lớp xưa đã mục, sau thay thế bằng cột đúc xi măng và cột gỗ xưa vẫn có lớp sơn mài khéo đẹp, nay lại thay lớp sơn (laque), bằng mảnh kiếng mảnh gương, chói sáng hoa mỹ thật, đó là theo ý của sãi Miên tân thời, chớ lấy theo khoa tồn cổ và khảo cổ học, thì chùa Xà Lôn đã bớt cảnh phong quang cổ kính năm xưa và đáng tiếc.
Chùa Xà Lôn khi tôi đến tu một ngày thời đó, trên cao có chim diệc làm ổ, còn dưới ao nước chung quanh chùa vẫn có rất nhiều cá, loại cá bông sống lâu năm không ai dám câu dám bắt nên thật lớn vóc, gọi cá “tổ nái”, nhiều con lớn to đến như cái gối ôm và mình dài gần một mét (un mètre), có lịnh trên của vua Miên gởi xuống, ra lịnh ngư điểu sinh trong vùng chùa, cấm sát có người thuật cá bông nào lén câu (người câu trộm không dùng cần câu, và cột dây nhợ có tra lưỡi và cầm dây trong tay, nhiều khi cá cắn câu, giựt kéo quá mạnh, người câu lén té xuống nước, bị bắt thì bị đòn mà chẳng dám rên than.
Lúc tôi còn thơ ấu, và khi còn ở nhà Ba tôi ở thành phố Sốc Trăng, thì trong tính còn nhiều chùa Miên kiên cố và có danh, như ở Phú Nổ có chùa gọi Chùa Bốn Mặt (Watt Prha Buông Mutt) có một cổ Phật thời Angkor- Watt, và nơi vùng Thạnh Thới An, có chùa gọi Watt Bâng Sroc (địa danh nầy tôi viết chưa đúng), thuở ấy trụ trì sãi cả, tuổi nghe như đến trăm (bá niên) vua Cao miên ban sắc phong được mặc áo màu đỏ (luck Cà hom), ngự võng điều và dân Miên khi gặp ngài thì vẫn móp lạy kính cần, thậm chí dường như vua Miên cũng có thể lạy chào sãi vương, ý nghĩa không phải lạy người tu hành mà vẫn lạy sắc áo là áo đức Phật.
Bài nầy đã khá dài, tôi không muốn lợi dụng lòng nhẫn nại của độc giả, và xin tóm tắt, báo Sài Gòn Giải Phóng số 151 (4-12-1993) vẫn viết Sốc Trăng, Sốc không dấu mũ và trang 10 kể “Mở hội cúng trăng” tôi tiếc tuổi già không về chung dự và đọc báo biết đồng bào người Kơ Me trong tỉnh và các tỉnh lân cận Kiên Giang, Cần Thơ đều đem ghe ngo đến tranh tài, và những lễ ấy tôi xin múa bút: đầu mùa mưa, người Kơ me ở Sốc Trăng vẫn có lễ Chòl Psa (vào mùa là đua ghe rước nước để làm mùa) lễ nầy trùng hợp với lễ Cầu An (Kỳ Yên) của ta và khi hết mùa, như hiện nay, Miên làm lễ Chênh Psa (ra mùa, đưa nước trở về nguồn) và ngắt lúa mới đâm chày đâm cối vui làm “cốm giẹp” và gọi lễ ấy là “Ooc om bóc”. Đến đây tôi không dám nói nhiều, tôi chẳng qua là một đứa con của tỉnh Sốc Trăng, mà đã vong bản, nay phải la nơi nhau rún và từ năm 1947, chạy lên Gia Định nầy và trụ nơi đây luôn và đã quên lần tiếng Miên, là tiếng Mẹ Đẻ mà nay tôi không nói được nữa (duy còn hiểu sơ sơ tiếng mất tiếng còn, vì mãng đeo đuổi học tiếng Tây, nay tiếng Tây cũng thiên bất đáo, địa bất chí .. thiệt là uổng kiếp.
(viết 3 ngày 6, 7, 8 Décembre 1993)
(viết ngày 9-12-1993, có tin bão gió lớn từ Phi Luật Tân kéo qua)
Những dấu tích cũ ở Sài Gòn, ngày nay đã phá mất và tiếc đã muộn. Hơi gió Tết đã thổi, trời sáng nầy âm u, nha khí tượng báo tin phải đề phòng mà đề phòng cái gì chứ? Gió lớn sập nhà thì rán chịu, việc của ông trời, ổng làm là mình chọc cho ổng giận, và bão tố, động đất chỗ nầy, sóng thần chỗ kia, theo tôi đều là thiên tai, khi biết để tránh thì đã trễ. Hiểu theo tôi, một cách ngu tối, tuy vậy mà sướng hơn. Ngày xưa, khi có lũ lụt, mất mùa, ôn dịch hoành hành, thảy thảy đều qui cho vua thất đức. Nay vua đã không còn, qui tội cho ai? Mảng dựa theo khoa học, thiên lôi đánh cắt nghĩa đó là điện khí chạm nhau. Dân mất lòng tin hóa ra ngỗ nghịch. Học trò hết sợ thầy giáo, cắt nghĩa thầy giáo vẫn có được trả lương cha mẹ sanh thành, ơn đẻ đau dạy nhọc không lo trả, đành nào cắt nghĩa “mượn bụng mẹ nằm trong ấy chín tháng mười ngày?”, thôi, đừng tiếp nối như vậy nữa.
Ba ngày gần Tết, hãy nhớ tiếc vài chuyện cũ, nhắc lại để cắn hột dưa đỡ buồn.
1. Chuyện thứ nhứt: Tại sao phá bỏ đường xe lửa nối liền Sài Gòn xuống Mỹ Tho. Mà Mỹ Tho đã mất, bây giờ là Tiền Giang kia mà! Chớ chi đừng phá, chẳng là có thể đi về xứ cây trái, rẻ tiền hơn ngày nay, xe ô tô giành giựt!
2. Chuyện thứ nhì: Lại đã phá đường xe điện chạy từ Cầu Ông Lãnh lên Lái Thiêu, Thủ Dầu Một. Nếu còn, sầu riêng, măng cụt v.v .. đâu có cao giá như hiện nay và nhà, vi la của hãng ô tô ray của Tây ở Gò Vấp, khi Tây rút lui, bán giá rẻ rề mà bền chắc hết chỗ chê, thảy đều phá bỏ, hoặc dã đổi qua tay chủ khác, chẳng qua và theo tôi hiểu, ấy là tội của kẻ đi sau. Tôi không kể tên ra. Chỉ nhớ mụ Nhu, hùn vốn, hoặc xuất tiền ăn cắp quỹ viện trợ Mỹ, lập hãng xe ô tô buýt và muốn được độc quyền vơ vét của dân đen, nên đã giết chết những xe nói trên đây.
Khi tôi mới chạy lên đất Sài Gòn nầy, từ 1919 đến1923, tôi học trường Chasseloup – Laubat, buổi đó nơi đường Trần Quang Khải, lúc đó vẫn có một đường sắt nhỏ và có một xe lửa nhỏ, nối liền chợ Tân Định qua chợ Đa kao. Ban đầu, xe chạy không lấy tiền, gọi là xe chạy thí, nhưng trẻ nít leo lên ngồi chật ních, đuổi không chịu xuống, Tây phải bày ra thâu tiền xe và thâu bao nhiều mỗi chuyện: un sou (một đồng xu), như vậy mà mời được trẻ bớt đi.
Trở lại xe lửa, tàu hỏa của người Bắc.
– Đi Mỹ ăn mì, Mỹ đây là Mỹ Tho, ở Chợ Giữa có tiệm Tàu bán mì ngon số dách (số 1). Mỹ, chưa phải là Tiền Giang và Tiền Giang còn mì ngon không! Mỹ cũng không phải là Mỹ quốc U.S.A. Nay gọi Tiền Giang giết chết Mỹ (Mỹ Tho).
– Lên Lái Thiêu, ăn măng. Măng đây là măng cụt, tiếng Pháp là mangoustan, tôi tìm ra mangoustan, phải chăng là mangue d’Indoustan, nói ríu lại. Bỏ qua việc từ ngữ làm tàng ấy, kể chơi ngày trước lên Lái Thiêu, đi bằng xe điện chỉ tốn vài cắc (vài mươi xu) và có lệ vào vườn măng, bỏ ra một đồng bạc (1$00) nhưng đồng bạc ngày trước ấy, giá trị ngày nay tôi tưởng hơn một trăm ngàn tiền giấy hiện thời (100.00 đồng) về chiều đếm đủ một trăm trái, xin chớ quên giá trả chỉ Nhứt ngươn (1$00) vì có lệ buổi đó, khi khách đến vườn măng, trả tiền xong, chủ vườn cho tha hồ ăn líp (libre) ăn tại dưới gốc, bao nhiêu đều không kể và măng cụt có hai thứ, thứ măng đúng lứa, ngọt thanh và thứ măng non, hái xuống, bẻ vỏ ra, da màu ửng hồng thịt trong ngần như da đứa gái cập kê, cắn đụng răng, vừa dòn vừa ngọt vừa đầu lưỡi thanh thanh, khỏi trả tiền sướng quá, măng non tôi tưởng người nào từng nếm, trời đất cũng còn quên và ngày nay, xin hỏi măng cụt mỗi trái giá bao nhiêu và tôi nào còn tuổi còn rărg để biết! Ôi? Tuổi chẳng chờ ta! Và còn gì mà mến tiếc, muốn lột da sống đời? Lái Thiêu buổi đó, có làng tên gọi Ba Ri Tân Qui. Làng nầy còn hay đã đổi tên khác rồi. Nơi làng ấy có chiếc cầu treo và có sầu riêng ngon có tiếng. Lại có bưởi nhỏ trái và ngọt. Bọn Ba Tàu lên mua đem về Sài Gòn lấy giấy bạch bao ngoài, lấy dây nhợ dỏ cột treo lủng lắng vào dịp tết trung thu và bày đặt gọi bười ấy từ bên Tầu chở qua, bán giá cắt cổ (cắt cổ là giá bốn hay năm cắt bạc (0$40, 0$50) mỗi trái), trong khi bưởi đỏ bưởi lớn trái, giá chưa tới mười xu, thế mà đồng bào ta vẫn tin và vẫn mua rầm rầm và nay tôi nhắc lại vào năm 1919 ấy có phong trào “tẩy chay si noa” tẩy chay vốn là tiếng Quảng, nói qua Hán tự là Để chế, mà nói Để chế, có ai hiểu nổi, họa chăng có ông trời của Tàu biết hay chăng. Tôi nói bắt quàng và nhớ lại Lái Thiêu, nay gọi Sông Bé và bao nhiêu địa danh ở đây, nay đều đổi gọi theo tiếng mới, thiết tưởng đến đời mấy đứa cháu nội ngoại của tôi khi lớn lên và hiểu chút nào được thì tất cả tiếng nói giọng Miền Nam nầy dã bị Bắc Việt hóa mất hết rồi, không khác bên Tây địa tiếng Provencal, langue d’oc, langue d’oil gì gì đó thay thế nhau và thuở nào, cách nay chưa đầy nửa thế ký, có tên TÂN nào đó dựa hơi Tây khủng bố đồng bào Bắc ép nói Tân Sơn Nhứt, người nào nói “Nhất” thì bị “mò tôm” và hiện nay, phong trào ấy trở ngược dòng lại và mở tờ báo chí lại nghe và đọc viết Tân Sơn Nhất và chữ Nhứt” của tôi đã bị hạ bệ và hết xài rồi, buồn vậy thay và còn đâu tiếng địa phương, Bắc gọi “Mặt giăng” và Nam nói “Mặt trăng” và trong khi ấy trong các từ điển Bắc Trung Nam, chữ “trăng” mới là đúng chánh tá kia chớ? Tiếc vậy thay và xin hỏi vào trong nầy, ăn cơm trắng, uống nước Trị An, nước Đồng Nai hay nước Cửu Long, làm sao gọi nước Hồng Hà cho được và thử nghĩ núi Châu Thới ở Biên Hòa, ép gọi Chu Thái Sơn mà dân ở dây biết núi đó ở nơi nào hay sao và thử đừng nới “xe ô tô, xe hơi” và ra đường nói “mi gọi cho ta một “tự động xa”, rồisẽ cóxe ô tô mã binh chạy lại rước hay chăng?
Tô dây là một kẻ lẻ loi không theo đảng nào, nhưng cũng không biết nịnh bợ, tôi tiếc lấy tôi và cứ xin để cho tôi cứ tiếc, và tôi hiện đã tiếc: Ở đây, ở Thành phố Hồ Chí Minh và cùng khắp các tỉnh tôi biết được thì đều có nào
đường Chi Lăng, nào đường Bạch Đằng, v.v .. và v.v .. và như vậy, chỗ nào là Chi Lăng và Bạch Đằng cổ tích và thét rồi đều là Chi Lăng và Bạch Đằng hàm bà lằng tất cả hay sao và đâu là thiệt và dâu là giả tạo?
Trở lại Sài Gòn cũ, tôi tiếc đường và xe điện của Tây cũ, chạy đường nay gọi là đường Trần Hưng Đạo, thì đời Tây gọi Boulevard Gallieni và xe điện đường đó nối liền Sài Gòn vô Chợ Lớn, chỗ ngồi có ba hạng, hạng nhứt, có lót nệm và trải da trắng phếu, hạng nhì chỗ ngồi ván ép đánh vẹt ni vàng bóng và hạng ba chở hàng hóa, hoa quả rất tiện, còn dọc theo mé sông có xe gọi đường Route Basse (đường thấp, đường dưới), xe điện nầy chạy từ ga Bình Tây ra ga Chợ Lớn và kéo dài ra chợ Bến Thành và nối liền chạy ngang Sở Ba Son để chạy tuốt lên tận Gò Vấp, và khách lên xe xuống xe giá rất rẻ mà muốn đi tới nơi nào cũng dược và rất tiện, khỏi sắm xe đạp như nay chỉ cho bề bộn … và tôi còn nhớ tích một ông thợ già nhà ở Gò Vấp mỗi ngày và tuần lễ nào cũng y như tuần nấy, mỗi sáng và mỗi buổi chiều, ông đều nhờ xe điện mà đi đi về về và ông có tục mỗi lần lên xe hết thảy bộ hành đều thấy ông ngậm xì gà và sau rốt mới rõ lại ông chỉ xài có một điếu xì gà ấy trọn một tuần nhựt, mà không ai biết, cứ lên xe ông quẹt và châm và để cho thuốc xì gà của ông tự nhiên tắt, và về sau khí rõ tự sự, ông mới được tặng là “ông Xì gà tuần”.
Khi xe diện của Tây không cho chạy nữa thì có xe ô tô buýt thay thế và đường xe lửa Mỹ Tho cũng dẹp mất, nhưng xe đò ban đầu thấy gọn và tiện, tỷ như mấy ông mấy thầy ở Thủ Dầu Một, Lái Thiêu v.v .. đều có thể mua giấy tháng và có xe đò đưa rước để sáng lên xe ra Sài Gòn chiều lên xe trở về nhà, buổi trưa nán ở lại sở đạm bạc một tô hủ tíu dỡ lòng, như vậy có phải là rất tiện và rất dỡ túi cho dân hay chăng và đến ngày nay, ban sơ cũng có xe mới xe đò rất dẹp và rất nhẹ giá thay thế nhưng lần hồi sanh tệ, trẻ mất dạy lên xe, móc xé nệm tả tơi và thét rồi sanh tệ thêm nữa, nạn móc tứi nạn xe buýt chạy bất kể giờ giấc và mất trọng nếu không nói là coi rẻ khách bộ hành, như tôi nay, rất sợ xe buýt, còn xe lam, xe xích lô, thì lại sợ nỗi khác.
Lúc tôi làm nơi dinh thống đốc, người đầu phòng chủ của tôi là một quan đốc phủ nhà ở Phú Lâm, ông rất trong sạch thanh liêm, ông sáng đón xe lửa từ Mỹ Tho chạy lên, ông lên xe ra tới ga Bến Thành, ông xuống xe thả bộ vào dinh, đến chiều ông thả bộ trở lại ga mua vé lên xe Mỹ Tho trở về Phú Lâm tới nhà, những ảnh gương mẫu ấy nay không còn, thật là đáng tiếc.
Nay còn lại những gì độc giả vẫn biế hơn tôi, nói chi cho tốn giấy. Cái tệ nạn ngày nay một phần theo tôi là người quá đông, xe quá nhiều, còn đàng xá thì hóa ra quá hẹp, thêm nạn bít cổng, đào xé nát mặt đường và cứ đốn cây che mát và mở đồng hai bên lề thêm rộng, ngoài ra học sanh, sanh viên, đông nghẹt và ít biết tránh khách già đi bộ và tội nghiệp thay cho người tàn tật xê dịch làm sao! Ngoài ra, còn vấn đề cầu kỳ, cái thì quá cũ kỹ, có từ đời Tây nay đã mục chưn rệu mặt, cái tuy mới xây bằng xi măng cốt sắt nhưng làm sao chở nổi những xe xăng xe tải quá to quá nặng nề, cầu sập, v.v .. , tiền đâu cho kịp sửa chữa? Quả là nan giải và khó vậy thay cho người đứng đầu trong nước? Và giỏi gì cái viết nói vô can?
(viết ngày 10-12-1993)
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.