Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 12 Dec 2025


Nhà văn Trần Hoài Thư Và Niềm Hối Lỗi Muộn Màng
Trần Hoài Thư bút hiệu, tên thật Trần Quí Sách, sinh năm 1942 tại Đà Lạt, trung học Quốc Học Huế, đại học Sài Gòn; GS trung học Trần Cao Vân Quảng Tín. 1967, khóa 24 SQTB Thủ Đức Phục vụ 4 năm tại đại đội Thám kích Sư đoàn 2, bị thương 3 lần. Sau đó làm phóng viên chiến trường vùng IV. Sau 1975, tù cải tạo hơn 4 năm, 1980 vượt biển, định cư tại Mỹ, tốt nghiệp Cao Học Toán Ứng Dụng. Làm cho công ty điện toán IBM trước khi nghỉ hưu.
Viết Về Nghiêm Sỹ Tuấn
TRẦN HOÀI THƯ
Đã cộng tác với Bách Khoa, Văn, Văn Học, Vấn Đề, Khởi Hành, Ý Thức … Tác phẩm: Trước 1975, Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang, Những vì sao vĩnh biệt, Ngọn cỏ ngậm ngùi, Một nơi nào để nhớ. Sau 1975: 16 Tập truyện, Tạp bút và 7 Tập Thơ. Từ 2001, cùng Phạm Văn Nhàn sáng lập tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Trần Hoài Thư đã có công phục hồi bộ báo Tình Thương từ Thư viện Đại học Cornell.
I. Chuyện làm số báo 83
Bạn xa:
Bạn hỏi tôi, vậy thì “10 khuôn mặt văn nghệ chết trận” chủ đề của số báo 83 này có gì đặc biệt? Tôi xin trả lời: Có chứ. Một Nghiêm Sỹ Tuấn, người y sĩ tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, với ba bài tiêu biểu 3 lãnh vực khác nhau. Một thuộc lãnh vực sáng tác. Một thuộc nhận định biên khảo. Và một thuộc dịch thuật. Ông thông thạo Đức ngữ, dù trẻ nhưng bảo thủ. Có một chuyện bên lề là khi sưu tập về tác giả Nghiêm Sỹ Tuấn, tôi may mắn có một người bạn đồng hành. Đó là nhà văn / bác sĩ Ngô Thế Vinh. Chúng tôi đã chia nhau đánh máy bài vở. Cả hai chúng tôi đều chỉ gõ bằng hai ngón. Và tôi nói đùa là 4 ngón chúng ta họp lại gõ đại hồng chung để kêu cố bác sĩ Tuấn về hầu giúp chúng ta có được hình ảnh bài vở tư liệu về ông!
Và đây là một tấm hình quý giá của Nghiêm Sỹ Tuấn, chụp lúc ông là sinh viên y khoa năm cuối, để chúng ta thấy hình ảnh một ông đồ hơn là một sinh viên y khoa và sau này là trung úy y sĩ Nhảy Dù:
Rồi đến nhà thơ Trầm Kha – bút hiệu của cố đại úy hải quân Nguyễn văn Đồng, người nằm xuống trong trận hải chiến Hoàng Sa. Chỉ có tạp chí này mới đăng tất cả 6 bài thơ quý hiếm của Trầm Kha – trong số có hai bài lục bát. Bạn sẽ có dịp đọc những câu mà hồn phách của Lục Bát và của ngôn ngữ như nhập vào từng chữ một cách diệu kỳ!
Ví dụ 2 câu sau đây của Trầm Kha tôi rất tâm đắc:
Lưng ngàn tóc có xanh mây?
Em ơi! Áo phủ cho gầy thời gian!
Rồi đến Nguyễn Phương Loan, người pháo thủ chết ở Pleime, thơ làm nhiều nhưng thơ bay vào cát bụi và hư vô. Toi quen NPL, và từng ngưỡng mộ NPL qua những bài thơ mà tôi được đọc trước đây. Tôi muốn NPL có mặt trong số báo này. Vì NPL là một thi sĩ. Nhưng biết tìm thơ NPL ở đâu? Lục thư mục Cornell thấy họ có lưu trữ tạp chí Sóng số 1 xuất bản lúc NPL làm thơ ký tòa soạn. Mừng quá, vội làm thủ tục mượn qua Interlibrary loan, nhưng thư viện cho biết là có người khác đã mượn trước rồi! Nhưng may mắn tôi tìm được hai bài đăng trên báo Tình Thương! Rồi một Doãn Dân, với giấc mơ tập truyện Bàn tay cho Yến. Anh mong được mấy ngày phép để về Saigon nhìn mặt mũi đứa con tinh thần của mình, nhưng giấc mơ ấy đã bị vụn vỡ tan tành cùng với thịt da banh ra như xác pháo trên đường Huế-Quảng Trị vào mùa hè năm 1972. Thêm một lần Bàn tay cho Yến có mặt, để bạn thấy ngòi bút của người cựu sĩ quan Sư Đoàn 22 BB, được đổi về Saigon nhưng sau đó bị đày ra Sư Đoàn 3 ngoài Quảng Trị. Một Song Linh, một sĩ quan của tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến. Tôi đã tìm được bài đầu tiên trong đời viết văn của anh và bài cuối cùng trước khi anh nằm xuống. Bài đầu đăng trên Sáng Tạo và bài cuối đăng trên Khởi Hành. Mặt khác có một bài viết của Tuấn Huy về cái chết của Song Linh rất cảm động. Tôi đã đánh máy bài này. Vừa gõ vừa rưng rưng.

THƯ QUÁN BẢN THẢO
Số 83 tháng 1-2019
chủ đề: 10 khuôn mặt văn nghệ hy sinh trong chiến trận
(1) 7RẨM KHA – (2) Y UYÊN – (3) PHAN HUY MỘNG. (4) NGHIÊM SỸ TUÂN.
(5) TRÂN NHƯ LIÊN PHƯƠNG (6) – Nhc si DZUNG CHINH. (7) HOÀI LỮ
PHƯONG (6) * Nhạc si DEUNGCHINH21 HO
(8) DOÂN DÂN · (9) NGUYỄN PHƯƠNG LOAN. (10) SONG LINH
Sáng tác đóng góp của Nguyễn An Bình, Ngọc Bút, Tô Thấm Huy, Trần Vạn Giá, Uyên Hà, Trang Luân, Trần Dzạ Lữ, Phạm văn Nhàn, Nguyễn thị Liên Tâm, Lê văn Trung, Viêm Tịnh, Cái Trọng Ty, Cam li Nguyễn thị Mỹ Thanh, ..
Bìa Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 83 tháng 01.2019 với chủ đề: 10 khuôn mặt văn nghệ hy sinh trong chiến trận, trong đó có Y sĩ Trung úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn.
[tư liệu Trần Hoài Thư]
Một Hoàng Yên Trang / Trần Như Liên Phượng, một thầy giáo gầy guộc như lau sậy, vậy mà vẫn chấp nhận vào nơi gió cát, đầu quân vào đơn vị tác chiến. Không phải vì muốn trở thành người hùng, nhưng vì cái tiết tháo của kẻ sĩ! Và truyện “Lên Đường” chỉ gởi đến tòa soạn Văn Học hai ngày trước khi anh nằm xuống!
Rồi Hoài Lữ, Phan Huy Mộng, Dzũng Chinh, rồi Y Uyên …

II. Khuôn mặt văn nghệ
Bạn xa:
Hằng năm ở Huế có truyền thống ngày lễ “Cúng âm hồn” hay “Cúng cô hồn”. Ít ra người sống vẫn còn nhớ đến những cô hồn vất vưởng, không nấm mồ, bị bỏ quên, xiêu lạc …
Câu hỏi: Còn những người làm văn nghệ của miền Nam chết trận thì sao? Có liệt họ vào hàng ngũ “cô hồn” được không?
Câu trả lời là KHÔNG!
Họ hữu danh chứ không phải vô danh. Họ đã có một thời mà tên tuổi, thơ, văn, nhạc của họ thấm đẫm vào trái tim người. Thơ họ vẫn còn đó, văn họ vẫn còn đó. Tên tuổi họ vẫn còn đó mà.
Họ có xứng đáng là khuôn mặt văn nghệ không?
Xứng đáng!
Giả dụ họ chưa chết. Doãn Dân được bình an sống ở Saigon. Giả dụ Song Linh về làm bên cạnh Du Tử Lê, Tô Thùy Yên vì anh nổi tiếng ngay từ thời Sáng Tạo. Giả dụ Hoàng Yên Trang / Trần Như Liên Phượng nhịn đói vài ngày để lúc khám nhập ngũ được hoãn dịch. Giả dụ Nghiêm Sỹ Tuấn sau hai lần bị thương có đầy đủ điều kiện để từ giã chiến trường trận mạc và đồng đội tiểu đoàn 6 Nhảy Dù … Giả dụ Hoài Lữ (Lữ Đắc Quảng) – em ruột của tướng Lữ Lan – nhờ vào bóng của anh. Mới 19 tuổi đã xuất bản tập thơ. Thơ được báo Mai dành hết sức trang trọng. Giả dụ Nguyễn Phương Loan còn sống chịu làm thơ đăng báo, giả dụ Phan Huy Mộng không tình nguyện vào Biệt Động Quân … thì chắc chắn chúng ta sẽ có thêm tác phẩm, có thêm những áng thơ văn hay nhạc bất hủ để đời.
Cái chết của họ được vinh danh, chẳng lẽ về mặt văn nghệ, sự đóng góp của họ cho văn chương miền Nam không được vinh danh hay sao?
Đó là lý do thúc đẩy chúng tôi thực hiện số báo này. Bạn có đồng ý không?
III. Niềm hối lỗi muộn màng
1.
Trong bất cứ thời nào, ở đâu, có lẽ thành phần bác sĩ, y sĩ, nôm na là thầy thuốc, là thành phần được trọng vọng và được ưu đãi nhất. Bởi vậy, có lẽ niềm ao ước của bậc làm cha mẹ, là không ít thì nhiều mong con trong tương lai trở thành một bác sĩ. Không phải ở VN ta, mà cả quả đất này cũng nên. Tôi đọc ở đâu đó, bên Nhật, các bậc cha mẹ mang bông hoa đến ngoài trường y khoa và cầu khẩn khấn vái Đấng quyền năng ban may mắn cho con mình được trúng tuyển.
Một câu hỏi là họ có phải là “kẻ sĩ”?
Thú thật, trong thời chiến, tôi có cái nhìn hơi khe khắt về đội ngũ trí thức, dĩ nhiên trong đó có thành phần y sĩ, bác sĩ này. Ngay bản thân tôi, được Quân Y viện Ban Mê Thuột chuyển về Cộng Hòa hai lần để giám định về mắt và tai, cũng phải trở lại mặt trận, tiếp tục mang lại cái kính cận dầy có buộc sợi dây lưng quần đàn bà.
Nhưng mà không sao, nhờ vậy tôi mới trở thành nhà văn và viết về chuyện chiến trường mà không hổ thẹn là viết “phịa”! Không phải tôi vơ đũa cả nắm. Vẫn có những vị bác sĩ, y sĩ mà tôi nể vì, ngưỡng phục. Ví dụ bác sĩ Hà Thúc Nhơn chẳng hạn.
2.
Nhưng từ khi thực hiện chủ đề báo Tình Thương, tiếng nói của sinh viên Y Khoa Saigon vào những năm 64, 65, 66, 67 tôi có cơ hội để mở tầm nhìn về cái thế giới “chuẩn y sĩ này hơn. Nó giúp tôi thấy rõ về vai trò của kẻ sĩ trong một xã hội mà quyền lực là súng đạn và kỷ luật, để thấy thế nào là nhiệt huyết của tuổi trẻ trí
thức ở thành phố. Dù là tờ báo sinh viên y khoa, nhưng nó là tờ báo rất có uy tín ngoài công chúng thời bấy giờ. Nó có mặt ở các sạp báo ở thủ đô và cả toàn quốc. Có tòa soạn riêng. Làm việc trên tinh thần dân chủ và “Team work”, “team brain“. Dám viết, dám nói. Tôi không thể đếm bao nhiêu trang bị bôi đen, cả trang hay một phần và khi ra trường, những người trong nhóm chủ trương lại chọn những binh chủng dữ dằn nhất và đầu quân:
Chủ nhiệm Phạm Đình Vy đi Thủy quân lục chiến, Chủ bút Ngô Thế Vinh (từ số 9 … ) về Biệt Cách dù, Tổng thư ký tòa soạn Trần Xuân Dũng (từ số 1 đến số 8) về TQLC, Thư ký tòa soạn Nghiêm Sỹ Tuấn (từ số 1 đến số 13) và Trang Châu (từ số 14) cùng về Nhảy Dù …
Và một người trong nhóm chủ trương ấy đã nằm xuống tại Khe Sanh. Đó là bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn.
3.
Nghiêm Sỹ Tuấn giữ chức vụ Thư ký tòa soạn đúng một năm từ số 1 (tháng 1 năm 64) đến số 13 (tháng 1 năm 65) …Ông ít sáng tác, nhưng nghiêng nhiều về nhận định, biên khảo và dịch thuật. Rành tiếng Đức nên ông và Nguyễn Vĩnh Đức (rành tiếng Pháp) cùng hợp tác dịch tập truyện Dưới Mắt Thượng Đế qua hai bản: Một bản tiếng Đức (nguyên bản) và một bản tiếng Pháp. Khó có một bản dịch nào lại thận trọng và kỹ lưỡng như vậy.
Văn dịch của hai dịch giả rất trong sáng, dễ hiểu mặc dù tác phẩm đề cập nhiều đến vai trò thầy thuốc và cõi siêu hình … Chúng tôi đã đánh máy truyện ngắn Tờ Di Chúc của tập truyện dịch “Dưới Mắt Thượng Đế” để quý bạn đọc thấy được sự dễ hiểu và trong sáng này.
Ngoài ra, ông cùng với Hà Ngọc Thuần dịch tác phẩm Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker.
Trong lúc ông là sinh viên, ông có một bài tản mạn về nỗi đau đớn của con người, và bổn phận của người y sĩ:
… Do đó, y-học luôn-luôn tìm mọi cách để hoàn-tất công cuộc khắc phục đau đớn thể-xác, khởi từ những giây phút đầu tiên của đời sống nhân-loại trên mặt trái đất. Và nếu thuở xưa, làm hết đau đớn được coi như một việc “thiêng liêng”, thì ngày nay, làm hết đau đớn lại chính là bổn phận thiêng liêng tối-thiểu của người y-học)
(Xin đọc bài Niềm Đau Nỗi Khổ của Nghiêm Sỹ Tuấn đăngở phần sau)
Và ông đã thực hiện cái bổn phận thiêng liêng tối thiểu ấy, không phải từ phòng mạch, bệnh viện, mà ngay ngoài mặt trận. Tôi đọc được trên Internet, hai người bạn học cũng cùng binh chủng Dù với ông kể lại về cái chết của ông như sau:
“Anh hy sinh khi đứng dưới hố cá nhân săn sóc vết thương cho một thương binh nằm cáng trên miệng hố. Anh chết liền (khoảng 6 giờ chiều) khi cuộn băng (bandage) còn cầm trên tay!” (BS Trần Đức Tường, Y sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 3 ND)
… Tin dữ từ mặt trận đưa về. BS Nghiêm Sỹ Tuấn học cùng lớp, là BS dân y trưng tập, tình nguyện về TĐ6ND, cũng chỉ còn một tháng nữa là mãn nhiệm kỳ phục vụ cấp Tiểu đoàn bị tử trận tại Khe Sanh khi đang săn sóc thương binh. Anh đã 2 lần bị thương, một ở Dakto, một ở Cao Lãnh. (Trần Đoàn – Y sĩ trưởng tiểu đoàn 2 ND).
4.
Cái chết của người y sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn có lẽ chỉ được nhắc nhở tưởng tíếc qua đồng đội đồng môn và bạn hữu, đặc biệt trong giới y khoa. Nhưng không phải ông chỉ là y sĩ, mà còn là nhà văn và dịch giả, là người thư ký đầu tiên của tạp chí Tình Thương. Trong ba-lô của ông có lẽ có nhiều bản thảo. Không biết sau khi ông nằm xuống những bản thảo kia trôi dạt ở đâu hay là theo chủ của chúng cùng xuống tuyền đài. Chúng tôi chỉ biết dựa vào những số báo Tình Thương để viết về ông. Và chỉ biết dùng hai ngón tay gõ vào trái tim mình như thể gõ vào chuông vào mõ, vào đại hồng chung của chốn không cùng cho một khuôn mặt văn nghệ nằm xuống trong chiến tranh.
IV
Theo lời kể của bạn bè, bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn có nhiều cơ hội để từ giã mặt trận, nhưng ông vẫn sát cánh bên đồng đội của ông. Có một lần ông được đề bạt đi học khóa chuyên môn về giải phẫu một năm, nhưng ông yêu cầu sau khi mãn khóa phải cho ông về phục vụ tại Bệnh viện Đỗ Vinh của Nhảy Dù ông mới chấp nhận. Thấy cấp trên không bảo đảm, ông từ chối. Vì sao vậy? Tôi bỗng hỏi tôi. Vì sao? Tại sao bốn năm trời tôi lại có mặt ở đơn vị thám kích? Có phải: “Sống bên em chết bên bạn?” Em nào? Một người yêu bé nhỏ ở hậu phương? Hay cũng có thể là em gái giang hồ tìm quên sau khi về dưỡng quân ở hậu cứ. Bạn nào? Có phải là bạn bè đồng đội của mình. Có phải là những hạ sĩ, binh nhất, binh nhì, là trung sĩ, trung sĩ nhất, là chuẩn úy, thiếu úy … những người đã cùng chia sẻ với mình trong cơn hoạn nạn nguy khốn hay cùng chung với nỗi vui nỗi buồn. Cần gì cái chết nhẹ như lông hồng hay da ngựa bọc thây. Những ví von rập khuôn từ đâu, được mấy ngài nho sĩ thổi phồng, để trở thành những ví von không tưởng. Cả một đất nước hết chiến tranh này tiếp đến chiến tranh khác triền miên và biết bao kẻ đã tham dự, bộ không tìm ra một câu thâm trầm ý nghĩa sao.
“Sống bên em chết bên bạn”, câu nói nằm lòng của người lính trận. Nhớ lắm những chén rượu dưỡng quân: “Tôi hỏi ông thầy, bạn bè là cha mẹ hay vợ con là cha mẹ. Khi ông thầy tử trận ai mang xác ông thầy? Khi ông thầy bị thương ai cõng ông thầy?” Biết rằng, họ khích rượu mình, họ muốn mình cho chó ăn chè, hay họ muốn thử mình, nhưng cũng phải nâng chén mà nốc. Bởi vì chỉ có họ mới là cha mẹ, mới hiện diện bên mình trong khi lâm nạn. Bởi vì chính mồ hôi của họ là mồ hôi của mình. Máu của họ là máu của mình. Nước mắt của họ là nước mắt của mình. Không ai hiểu mình bằng họ và không ai hiểu họ bằng mình. Đâu cần huynh đệ chi binh khi mặt trời thì xa ngàn dặm khi mặt trăng thì không bao giờ soi gần những thân phận thấp hèn. Ngôn ngữ chữ nghĩa đâu cần phải là nho chùm, mượn điển tích này điển tích nọ, mà là ngôn ngữ từ trái tim, đọc lại người trong cuộc tự nhiên phải xôn xao xúc động. Đó là một thứ ngôn ngữ ngang tàng và đầy bi tráng được phát sinh từ sự thật, chứ không phải từ những hư tưởng viển vông của những tay thi sĩ văn sĩ nhạc sĩ chưa nếm mùi tân khổ là gì.
“Sống bên em, chết bên bạn”. Đã quá thừa hiểu miệng lưỡi của những kẻ lợi dụng xương máu của họ để vinh thân phì gia, để có những kẻ hầu hạ mà không trả tiền công, hay có những cận vệ súng ống rình rang còn hơn lãnh chúa. Đã quá biết những giọt nước mắt cá sấu. Đã quá phẫn nộ vì những bất công:
Kẻ mập ở nhà lon sáng bóng
Lính gầy vác võng vác tai ương
Nỗi buồn nghèn nghẹn nồi cơm sống
Khói bốc cay theo khói chiến trường …
(thơ THT)
Khói làm cay mắt bạn cũng làm cay mắt tôi.
TRẦN HOÀI THƯ
New Jersey, 01.2019
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.