Cuốn sổ tay của người chơi cổ ngoạn

vietmessenger.com

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 13 Dec 2025

Chương 2

Chuyện Họa Sĩ Hòa Lan Van Meegeren bị kết tội phản nghịch vì bán tranh Cổ cho Thống Chế Đức Quốc Xã Goebels.

Dẫn.

Không có gì khó cho bằng sự giảo nghiệm tranh vẽ: đó là tranh cổ, đúng của các bậc đại tài đời xưa để lại, hay đó là tranh giả? Các triệu phú, tỷ phú không tiếc tiền với các chuyèn gia giảo nghiệm. Họ ăn rất mắc, mỗi lần giảo nghiệm một chữ ký, một tấm tranh. Vả lại một bức tranh cổ, giá cao hơn mấy lần gia tài lớn bên ta nhập lại. Nghề bán tranh bên Âu rất thịnh hành. Nhưng rốt lại, số tranh giả bên Mỹ, nhiều hơn số tranh sản xuất và có tổng kê đàng hoàng. Các vụ kiện đòi tiền giữa người mua lầm và người giảo nghiệm trật, nằm chất đống nơi các tòa án Âu châu, không làm sao kết thành án cho hết. Sau đây là một vụ án điển hình.

Ngày 29-10-1947, cách nay 21 năm,  tại kinh đô Hòa Lan, nơi thành Amsterdam, có đem ra xử một tội phản nghịch, vì bị cáo đã thông đồng với nghịch, khi bán một bức tranh cổ ký tên Van Vermeer cho thống chế Đức quốc xã Gobels. Nguyên năm 1947, cuộc chiến tranh đệ nhị thế chiến Âu châu đã chấm dứt và tòa đang kết tội Gœbels cũng như bao nhiêu tưởng Đức quốc xã khác vào tội đại ác gây chiến tranh, đầu dây mối nhợ của cuộc đại sát sanh những năm ấy. Còn Vermeer là tên gọi tắt của một đại danh họa Hòa Lan, tên thật là Vermeer de Delft (Jean), cũng ký Van der Meer, sanh tại Delft (1632-1675), khi còn sanh tiền sống vô danh lu mờ, ngày nay giới hội họa công nhận là một thiên tài, để lại những tranh vô giá, như các bức «Vue de Delft » (phong cảnh bến sông Delft, nay chưng bày tại viện bảo tàng La Haye), «La Liseuse » (mỹ nhơn đọc sách), «La Dentellière » (người đẹp đan đăng ten),

« Le Peintre dans son atelier » (Hoa sĩ trong phòng làm việc). Bán một tranh cổ ra khỏi nước đã là một tội. Nay bán một bức đại danh họa cho kẻ địch thù cỡ Gœbels, thì tội nặng vô số kể, đầu rớt dưới chân đao phủ thủ kề như chơi. Vậy ta hãy nghe kể lại vụ án nầy, như sau:

Buổi sáng hôm 29-10-1947, trong một xóm nhỏ có vẻ rất xưa của thành Amsterdam người ta thấy một ông già dậy rất sớm, vừa bửng tưng, đã ra khỏi nhà, khóa cửa cái cần thận và ung dung tự tại, bước từ bước đều,  hướng về tòa án; ông không vội vàng hối hả, vẫn thản nhiên bình tĩnh, tựa như chẳng có sự gì xảy đến cho mình. Nhưng nếu ai nhìn kỹ sẽ thấy lưng ông đã còm, mặt ông đã nhăn, tuy vậy mớ tóc trắng phau chạy viền trên trán cao, xem ông rất nghệ sĩ va rất phong lưu. Ông tên Van Meegeren, nay xin gọi tắt là V.M. cho dễ nhớ. V.M. vừa tới phòng số 4 là phòng xử đại hình. Một tốp phó nhòm xách máy ảnh bu lại như bầy kiến bu cục đường và các phóng viên những tờ báo lớn, cũng chạy lại không chịu thua về sốt sắng. Nhưng hai người lính gác lành nghề, đã giải thoát vòng vây và đưa khéo ông ta theo một cửa kín vào phòng xử, chỉ chỗ cho ông ngồi tề chỉnh nơi hàng bị cáo. Nơi các băng dành cho công chúng hiếu kỳ, đã có khá đông người, phần lớn là phú ông ngoại kiều vô tích sự, đang giụm năm giụm ba, nói chuyện xì-xào vì phiên tòa chưa bắt đầu.

Có nhiều mặt rat quen trong giới mỹ-thuật và chơi đồ cổ: nhà phê bình X. chuyên về tranh xưa, viên quản thủ viện bảo tàng, ông giám định có tuyên thệ, vài người buôn cổ ngoạn và không sót viên gõ búa ngà của phòng đấu giá phát mãi của đô thành.

Băng dành riêng cho nhà báo hôm nay cũng đầy chật các tay đại bút phóng viên. Xem qua cử chỉ khiêm tốn đạo mạo và nét mặt phúc hậu của ông già ngồi ghế bị cáo, tôi đâm ra ngại ngại, hay là bọn mình, luôn cả các tay lấy phòng xử đại hình làm rạp hát không tốn tiền mua vé, có phải chăng đã ngồi lộn phòng? Ông này xem hiền từ như vầy, làm gì mà tội đại hình? Đang nghĩ ngợi, bỗng có tiếng chuông reo. Cả phòng đều đứng dậy. Tiếng dõng dạc như thường lệ của thừa phát lại, tiếng bắt súng chào trong bầu không khí không có một con ruồi con muỗi dám bay, tòa bắt đầu xử.

– Ông tên là Han Van Meegeren? Ông là họa-sĩ? Ông 58 tuổi? Phải vậy không?

– Bằm, phải. Tiếng thốt nhỏ ri, nhỏ như hình vóc người đứng trước mặt tòa. Kế đó, viên lục sự bắt đầu đọc to cáo trạng. Trong phòng có tiếng xạo xự … Quan tòa phải yêu cầu công chúng giữ im lặng để tiếp tục xử.

– Ông, quan tòa hỏi, bị tố cáo là phạm tội mạo chữ ký. Theo cáo trạng, ông đã phạm tội tám lần cả thảy, sáu lần giả chữ ký của Vermeer, hai lần mạo chữ của Hooch, trên tám bức tranh nầy, phải khóng? Nói cho công chúng biết, Vermeer và Hooch là hai đại danh họa Hòa Lan của thế kỷ thứ 17.

Les disciples sur le chemin d’Emmaüs, illustration pour La Vie du Christ

La résurrection de Lazare

Rồi ông tòa dùng tay áo rộng có viền lông trắng, chỉ qua tám tấm tranh treo lung lẳng nơi vách, trước mặt quan tòa, mà sau lưng công chúng. Khi ấy mấy trăm con mắt đều chăm chú ngó theo tay chỉ, và bây giờ ai nấy mới để ý đến tám bức tranh treo nơi phòng đại hình, nay trở nên đồ tang vật, tranh tả cảnh mà treo trong phòng xử, quả không phải là đúng chỗ, vừa chướng chướng mất vẻ nghiêm trang, vừa như trơ trẽn.

Kế đó, nghe tiếng ôn tồn hiền hậu của quan tòa hỏi:

– Ông nhìn nhận các tội trạng này chứ?

– Dạ, bẩm tòa, tôi nhìn nhận.

Và lần lượt đến phiên những giám nghiệm viên và các nhân chứng khác đưa nhau ra trước vành móng ngựa khai lại đầu đuôi tự sự những gì nghe thấy trong mấy kỳ mua bán những tranh kia. Trong khi ấy, bị cáo vẫn giữ một mực điềm tĩnh lạ lùng, xác tuy ngồi đó mà hồn như ở đâu đâu.

Theo hình luật Hòa Lan, các tội ông đã phạm có thể đưa đến án mười năm tù. Nhưng ông vẫn bình chân như vại. Thỉnh thoảng nếu có ông giám định viên nào buộc tội ông quá nặng, khi ấy nếu nhìn kỹ sẽ thấy ông nhếch mép với dáng khinh bỉ ra mặt. Về phần thính giả, dường như họ lấy làm khoái trá, lát lát nghe tiếng cười khúc khích đó đây, vì không mấy thuở được nghe mấy ông đạo mạo giám nghiệm gia nầy khai ra giữa mặt tòa và giữa mặt công chúng, cái phần dốt nát bệ vệ của họ. Tưởng đâu là thánh là thần, dè đâu ngoài giấy, trong bùn với tre.

Bị cáo có vẻ buồn chán, quên mình là cây đinh của phòng xử, ý như muốn thầm trách ai đã làm mất công mất linh cho mình hôm nay như vầy! Khi các nhân chứng đã khai và bên nguyên bên bị, đã có trạng sư thay mặt, luân phiên đọc lập luận của mình, bên buộc bên cố gỡ, cãi nhau vài chập, đâu chẳng ra đâu, bỗng tòa dõng dạc tuyên bố: «Đình lại 15 ngày, sẽ đọc án». V.M. uể oải đứng dậy, bước ra khỏi tòa, vội kéo bâu áo lên, vì ngoài trời tuyết xuống trắng đường, gió thổi lạnh thấu xương. V.M. rời Pháp đình, ung dung đi đếm bước, theo đường mé kinh trở về nhà, trong trí như lúc sáng, không nao không núng.

– Nửa tháng nữa, V.M. lầm bẩm nói, mười lăm ngày nữa, tòa sẽ đọc án. Công chúng Amsterdam sẽ biết việc gì ta đã làm.

Và sau đây là việc khá ly kỳ mà V.M. đã làm và công chúng đang muốn biết.

Vào khoảng năm 1932, V.M. là một họa sĩ chưa ai từng biết danh. Ông ta sống vô tư lự, «gia tư nghỉ1 cũng thường thuờng bực trung »

1. Không ai biết mình, thì mình cũng không cần ai biết. Nhưng gẫm lại cũng tức. Bao nhiêu thằng tai to mặt lớn, có bằng cấp cao, có địa vị to, chúng có chi hơn mình? Phải làm cho chúng biết mặt. Ở đây, «trần ai vô tri kỷ», hà tất nắm nuối cho thêm nhục. Bọn bây giảo nghiệm viên, phê bình gia mỹ thuật, giám định viên, cả lũ, rồi sẽ biết ta. Nghĩ như vậy rồi V.M. nhứt đinh tạm lìa quê hương là thành phố Amsterdam, đề huề tay nắm tay, cùng người vợ trẻ, tìm nơi lập nghiệp mới. Vi V.M. nuôi một chi lớn, hy vọng đem hết tâm lực tài năng, vẽ cho được một tác phẩm xứng đáng như các tuyệt phẩm của đại danh họa Vermeer, để cho chúng nó sáng con mắt, ta không phải là phường giá áo túi cơm như chúng. Phải nhìn nhận cai dự ước của V.M. là quá vượt bực. Nhưng anh ta nuôi nấng suốt nhiều năm, dẫu nằm gai nếm mật, mà cũng quyết làm sao cho cái mộng, tuy hảo cầu phải thành sự thật cho được mới nghe. Và khi lê gót lưu vong ra nước ngoài, trên đường lang bạt kỳ hồ, V.M. không một ngày nào dám quên đại chí. V.M. tam định cư ở Roquebrune Cap Martin, gần Nice (miền Nam nước Pháp), nơi đây khí trời đầm ấm tư mùa, hoa tươi cỏ lạ không thiếu, phong cảnh xinh đẹp, lại có tòa lâu đài cổ của dòng qui tộc des Lascaris, thêm duyên.

Trước khi rời quê hương, rấn thân vào cõi lạ, V.M. gia tâm nghiên cứu đêm ngày những tuyệt phẩm của Vermeer trình bày tại viện bảo tàng ở Amsterdam và đọc ngấu nghiến những sách tham khảo về bút pháp của nhà đại danh họa nầy, vì khi đến xứ lạ làm sao tìm được các tài liệu hiếm có ấy, để khảo cứu nữa. Một ngày nọ, cũng như nhiều ngày đã trải qua trong các hiệu bán đồ lạc son chung quanh vùng Nice, V.M. xách về nhà một bức tranh cũ kỹ gói trong bọc giấy ăm-ba-la. Tranh nầy không có chút giá trị nào về mỹ thuật, nhưng

đối với V.M., đó là vật quý vô giá, vì quả là một bức tranh vẽ vào thế kỷ 17, đồng thời với các tranh tuyệt tác của Vermeer vẽ hồi xưa. Nay V.M. mua được đem về, lại phải bị bà xã làm trận, khóc lóc bỏ cơm bỏ cháo, vì cây diêm quẹt chẻ hai, xứ lạ quê người, anh không biết tiết kiệm đồng tiền, lại sanh sứa sắm thứ tranh không đáng một khúc bánh mì đỡ đói hay một bó củi hơ đỡ lạnh. V.M. dể cho trận cuồng phong qua khỏi rồi, bà xã

nguôi giận, V.M. mới òn ĩ cắt nghĩa tiết kiệm là từ đây đừng mướn tôi tớ, tự mình làm lấy, chồng xách nước quét nhà, vợ nấu ăn giặt giệm, nhờ vậy mà vợ chồng một cõi giang san, dẫu có lập kế xui mưu làm loạn cũng không một ai hay biết. Yên được bề đó rồi, V.M. sẽ lén không cho vợ thấy, o bế tẩy sạch lớp sơn dầu cũ và nhờ khéo tay, bền chí V.M. có được một tấm bố xưa, cùng một tuổi, một màu với những tấm tranh ký tên Vermeer đời trước. Cái khó đầu tiên đã vượt, thần tài đã hé cửa cho V.M. rồi đó. Trong khi ấy, V.M. mỗi ngày mỗi luyện tập theo bút pháp Vermeer và nhờ trì tâm khổ chí, chẳng bao lâu, V.M. vẽ được một bức đầu tiên giả mạo. Đó là bức Pháp gọi «les Disciples d’Emmaus» (Chúa Giê-su, sau khi Phục Sinh, hiện hình lần đầu cho các tông đồ thấy tại Emmaüs, gần Jérusalem). (Bức tranh giả nầy, sau đó được viện bảo tang Roymans Rotterdam (Hòa-lan) mua lên với một giá khổng lồ và treo suốt mấy năm trước thập mục sở thị, chỉ nghe tiếng trầm trồ khen ngợi và suốt thời gian ấy, không một ai biết đó là tranh giả).

Nay nói về phương pháp V.M. giả tranh cồ. Có thể nói là xuất thần quỉ một, ít ai nghĩ đến và không ai bắt chước kịp. Chẳng phải V.M. nhái được điệu vẽ của Vermeer và học được nét bút và các bí quyết xưa của nhà đại danh họa này, chẳng những V.M. kỹ càng đến lựa cho được một thứ bố xưa đồng một thời, một cách thức dệt với loại tranh mình muốn giả tạo, đàng này V.M. nghiên cứu cao siêu đến biết được Vermeer ba trăm năm trước quen dùng cọ vẽ kết bằng lòng con blaireau (một giống chồn phương Tây), nên va cũng sắm cho được một bộ cọ vẽ đủ cỡ lớn nhỏ kết bằng lông blaireau cho được mởi nghe. Các dụng cụ bí mật ấy, V.M. dùng rồi thì giấu rất kỹ, trong hộc tủ kín có khóa cẩn thận và V.M. không rời xâu chìa khóa phút nào. Cái tánh kỹ lưỡng và kín miệng ấy, V.M. đưa đến mức tuyệt xảo, vì muốn cho bà xã đừng nghi nan sự gì, nhiều phen

1. Nghỉ, đây viết dấu hỏi, nghĩa như hắn, y, nó (tiếng Nghệ Tĩnh).

V.M. giả vờ mời vợ vào phòng làm việc, giả đò đàm đạo thân mật để cho bà xã thấy rõ ràng mình vẽ tranh xoàng xĩnh đề giết thì giờ, như vậy dẫu có ngồi lê đôi mách cũng khỏi sợ lậu sự: mình có vẽ các bức tranh cỡ lớn.

Và nơi đây, chúng ta cũng nên biết nỗi khổ tâm của V.M., trước khi trở nên tên đại gian hùng, bán trời không chứng. chuyên giả tranh cổ đánh lừa thiên hạ, mà toàn là bọn triệu phú chuyên môn, hay bọn lắm tiền mua tranh có người bảo lãnh. V.M. nghiên cứu mỗi việc hết sức tỷ mỷ, dẫu một chi tiết nhỏ nhặt cũng không bỏ qua, ban đầu tưởng đó là những việc không quan trọng mấy, không dè sau rõ lại nhờ chú ý đề tâm từ chút nên V.M. thành công, trở nên nhà giả mạo chuyên môn, nếu không kể đó là phạm tội gian, thì rõ là một thiên tài, một bậc kỳ tài, một génie chớ còn gì nữa? Nói ra các nhà giả đạo đức sẽ cho là mình nguy biện chớ anh trộm mở được các ổ khóa bí hiểm, anh làm giấy bạc giả, anh khéo mạo chữ ký và tuồng chữ của người khác, mấy anh ấy theo tôi, đều là bực sư, bực kỳ tài trong thiên ha, hiếm vì không biết dùng tài nghề của mình cho đúng chỗ. Và nhiều khi những người lương thiện như thợ làm khóa và nhà chuyên môn vẽ giấy bạc nhà băng, cũng phải mời các sư tổ ra khỏi khám, để chỉ mách nghề hay cho mình học đạo. V.M. thắc mắc phải dùng dầu gì để vẽ y như thật màu dầu của Vermeer đã dùng cách ba trăm năm về trước. Khi tìm ra, thì V.M. là một nhà đại thông thái rồi chớ gì?

V.M. dư biết nếu dùng những thứ màu trước Vermeer đã dùng, nếu pha màu cũng dùng một thứ dầu y như Vermeer đã xài, nhứt là nếu cân đong cho thật đúng đồng cân đồng lượng như trước và khi nhại được y những lỗi tật nhỏ của Vermeer đã phạm và sau rốt làm sao cho bức tranh trở nên cổ, đồng một màu với các tranh cũ trưng bày ở các viện bảo tàng, thì chắc ăn như chơi. Nhưng V.M. vẫn muốn cho sau nầy không ai bắt tẩy mình được, nên khi tranh khô rồi, V.M. còn phải luyện nó trong một chất hóa học chỉ có một mình anh biết, đề tranh được đúng cổ. V.M. dư biết là tranh giả mà làm theo những cách ấy, coi vậy mà chỉ qua mặt vài nhà mới học chơi tranh hay các tay mơ, chở làm sao qua mặt được bọn cáo già và trong các tay lão luyện chuyên về giảo nghiệm trên trường buôn tranh quôc tế trước sau gì mình cũng phải gặp tổ sư bồ đề.

Cho nên về sau, V.M. phát minh được một thứ dầu tự minh chế luyện và khi lấy dầu ấy vẽ tranh, đến lúc hơ tranh ấy trong lò điện mà cũng tự anh chế ra, thì tranh sẽ có vẻ cổ đến ba trăm năm, giống như các tranh cồ tự nhiên của thời đại «tam bách niên tiền» mà V.M. cố bắt chước. Như vày chưa phải thiên tài à? Nhưng đến đây V.M. vấp phải một vấn đề gần như nan giải. Số là dầu cây gai (huile de lin) và dầu trái thầu (huile de pavot) mà thường các họa sĩ năng dùng, khi cho vào lò điện, với sức nóng vừa vừa thì còn chịu nổi, bằng gặp lửa nóng quá độ một chút thì mấy lớp sơn vẽ bằng hai thứ dầu này sẽ sủi bọt và phai màu, biến ra màu khác. Cho nên V.M. phải cần thận và chính anh ta tìm lại được đủ các màu và dầu sơn của ‘Vermeer dùng đời trước. Nói tỷ dụ nghe choi và không phải để bắc cầu cho các cha ngày nay: muốn có màu xanh da trời, danh từ  chuyên môn gọi «bleu Vermeer» thì V.M. chế bằng loại ngọc bích lapis lazuli, màn hoàng anh chế bằng một thứ mủ cây pha với thổ hoàng (le jaune s’obtient avec une résine durcie et de l’ocre) và nhiều màu khác, xin dùng tiếng Pháp cho đừng lầm lạc (.. une terre additionnée d’oxyde de fer, du rouge de cinabre, du blanc de plomb, etc). V.M. xây lén trong phòng làm việc, chính bà xã cũng không ngờ, một lò kín giữa một tủ sách lớn, lò nầy chạy bằng điện lực, làm bằng nhiều phiến đá không sợ lửa ráp lại, có máy gia giảm nhiệt độ, cũng do tay khéo léo của anh ta tự chế.

Nhưng kể về sự phát minh thần diệu của V.M. thì có lẽ là tìm ra một chất dầu dùng pha màu để vẽ mà không kỵ lửa, nóng đến độ nào màu cũng không đổi sắc và đó là huile de lilas (theo tự điển Đào Duy Anh là dầu Tử Dinh Hương, cây xoan). Nhưng sự phát minh dùng dầu huile de lilas đem lại V.M. một rắc rối ngộ nghĩnh bất ngờ. Đó là dầu xoan vẫn có mùi thơm tử-đinh-hương (lilas). Bỗng nhiên trong phòng làm việc của V.M., ngày như đêm phảng phất mùi lilas đặc-biệt ấy và đề đánh lạc dấu bà xã cũng như vài bạn thân, V.M. giả chước thinh không đâm ra say mê mùi lilas và từ ấy luôn luôn trên bàn làm việc đều có bình hoa xoan tươi thay mới không bao giờ dứt. Bước đầu xuân năm 1936, V.M. kết thúc cuộc thí nghiệm hơ tranh vẽ bằng dầu lilas chế với phénol và formaldéhyde. Nhắc lại, V.M. chọn bố đúng thời đại (thế kỷ 17) là để đồng thời với Vermeer. Nên nhớ, đó là một điều kiện rất quan trọng, vì người chơi tranh có kinh nghiệm năng giảo nghiệm giả chơn bằng cách đếm từ tao từ sợi bố của các bức họa cổ.

Tỷ dụ như bức chánh thức gọi «Résurrection de Lazare» (Sự hồi sinh của Lazare do chúa Giê-su hóa phép). Ai ai cũng biết bức tranh kiệt tác này, Vermeer vẽ vào lúc tuổi đôi mươi, tức lối năm 1650. Bức chánh (thiệt) khá rộng, cỡ 1, 10 X 0, 90. Khi giả tạo, V.M. tìm mua được một tấm tranh cùng một cỡ và một thời đại. Mua được rồi, mang về phòng, nội cách tháo, cũng trần ai. Không dám làm gãy hay trầy đầu một cây đinh cũ. Sau nầy đóng lại, sai một chút xíu cũng không được. Thậm chí mấy tấm da cắt vuông vuông để chêm lót cây dinh cung giữ y chỗ nào theo chỗ nấy, không sơ sót. Khi gỡ tấm bố ra khỏi khuôn tranh rồi, thì V.M. lấy bố ấy căng trên một tấm ván ép thật bằng phẳng, đoạn khởi sự cạo chùi lớp sơn vẽ cũ cho thật sạch và không động chạm gì đến mặt tấm bố. Ban sơ, V.M. làm y như mấy tên học trò bị sơn dính tay, nay lấy đá bọt thấm nước cọ mài cho sạch vết. Nhưng nhớ phải cọ hết sức nhẹ, không khéo lỡ tay, trầy da mặt bố một chút xíu, cũng lộ tay. Phải làm làm sao cho sau này đừng thấy dấu sơn cũ hoặc dấu trầy trên mặt bố, vì các giảo nghiệm gia thường dùng quang tuyến (rayon X) rọi vào từng mỗi phân vuông, nên không phải giả ngộ dối trá với họ được. Lúc chùi tấm tranh cũ này, chỗ sơn nào V.M. cũng tẩy êm thắm, duy đến những chổ trưoc vẽ bằng phấn chì, thì V.M. gặp một trở ngại bất ngờ. Nguyên hồi thế kỷ 17, các họa sĩ đời đó quen dùng phấn chì (blanc de plomb) vẽ thay màu trắng, nay thứ blanc de plomb nay, sau ba trăm năm, dính khắn vào bố, cọ mài cách mấy cũng không sạch. V.M. thấy vậy, đành chừa chỗ trắng trên tấm bố cũ. Nhưng như đã nói, V.M. là người đa mưu túc trí, nên sau đó khi vẽ thiệt thọ, V.M. đã có một sáng kiến tài tình là cũng vẽ trắng lại y như cũ mấy chỗ bôi không ra, thành thử mấy chỗ đó vẫn tiệp màu, con mắt thường không sao biết được. Tuy vậy vẫn còn một chỗ có vết trắng trộng cỡ đầu ngón tay út. V.M. không làm sao lấp khuất được, túng thế, V.M. dùng màu tiệp nhau phết nhẹ lên trên và đây là chỗ yếu nhứt trên bức tranh giả tạo phen nầy, may thời các giảo nghiệm gia sơ ý không rọi quang tuyến X, khiến nên khi bắt V.M. ra xử, chỗ đó vẫn không đá động đến, vì có ai ngờ chỗ vẽ màu trắng mà lại có ẩn tàng một vệt màu trắng cũ, cạo không ra.

Khi V.M. đánh lại lớp sơn nền xong rồi, V.M. mới khởi sự bắt tay qua phần khó nhứt của bức tranh là vẽ cho đủ mặt các tông đồ của Chúa, gọi «les Disciples d’Emmaiis ». Nhắc lại Emmaus là một ấp nhỏ bé tại xứ Judée-co, ở gần thành cổ tich Jerusalem và theo Kinh Thánh dạy, đây là nơi Chúa Giêsu xuất hiện lần đầu cho các môn đệ ngài thấy, sau buổi Phục sinh. Phần quan trong nhất, làm cho V.M. bối rối vô ngần là làm sao diễn tả cho thật thần tình gương mặt của Chúa. Các phần kia, V.M. lần lượt đã vẽ một cách thoát thần, nào nét mặt kinh tởm, nào nét kinh sợ, nào nét lấm lét của đám đệ tử, nhưng đến khi muốn hiện rõ gương mặt đặc biệt của Chúa lúc ấy, làm sao cho đúng với hai chữ «xuất thần», thì V.M. ngã lòng, gần như thúc thủ, không biết giải quyết thế nào cho ổn thỏa, khổ tâm nhứt là nay cách biệt Amsterdam đã lâu, bức tranh chánh, bức tranh mẫu ấy, hiện không có trước mặt, thì làm sao vẽ nổi nét mặt siêu phàm thoát tục của Chúa do ngòi bút thiên tài của Vermeer đã phác họa rồi. V.M. có nhớ mạy mạy trong trí, nhưng khi vẽ lên tờ bố khác thì không bằng bụng chút nào. Đã vẽ phác họa mấy lần mà không xong, vẽ esquisse hay essai rồi cũng thất bại, khi thất vọng đã thấy trước mắt, bỗng một buổi sáng sớm, vừa mở cửa dòm ra đường cái, V.M. giựt mình như quả có thần linh xuất hiện. Từ xa lù lù đi lại một tên khất tử Ý-đại-lợi hình như muốn tiến đến xin một khúc bánh mì cũ để gặm đỡ đói. Áo quần tuy tơi tả, nhưng nhìn nét mặt thì quả là gương mặt thanh thản bình dị, tha thứ, vừa xót thương vừa quảng đại, một gương mặt siêu phàm mà V.M. đang moi óc suốt mấy tuần nay mà  không sao vẽ lên tranh được.

V.M. lật đật mời anh khất sĩ vào phòng vẽ, đóng cửa lại, cho ăn cho uống tử tế và chỉ trả tự do cho chú chàng sau ba ngày bắt ngồi làm mẫu để V.M. vẽ đủ kieu chơn dung, nói rằng: «để nghiên cứu và vẽ chơi chớ không có ý gì khác». Khi đưa anh miễn tử lưu linh ra cửa, V.M. tặng anh một bộ y phục ấm lành lẽ và bất ngờ nhứt cho anh khất sĩ, là rờ trong túi có thêm một ngàn quan tiền nặng nặng, làm anh chàng giựt mình không biết là chièm bao hay tỉnh.

– Phiền bác đừng bảo tin cho phường vạn bác hay, vì nếu họ kéo đến thì tôi chỉ còn cách dọn nhà đi nơi khác.

Một tuần lễ sau, đem kỹ từ bắt tay vào việc đen đỏ là đã sáu con trăng tròn trặn, V.M. đã hoàn thành một kiệt tác nữa. V.M. lấy làm bằng lòng khi thấy bức tranh mạo tể này, từ biết cầm cọ vẽ đến nay, anh chưa họa bức nào được hoàn mỹ như vậy. V.M. vừa lấy bút, vừa huýt sáo, nhái chữ ký của nhà đại danh bọa đã từ trần từ ba trăm năm trước: I. MEER, tức Vermeer đó. Bảy giờ đến lượt làm một công việc rất khó khác nữa, là hơ bức tranh trong lò điện, để giả cổ, tức là làm cho tranh mới có màu cũ như tranh ba thế kỷ trước. V.M. lấy dầu lilas đánh một lớp mỏng trên mặt tấm tranh và có pha thêm chút đỉnh nhựa cây thay thế cho màu sơn. Anh vừa thoa dầu, mà lòng kôon xiết hồi hộp, ngực đánh nghe thình thịch. Công trình đến đây kể như thành tựu, nhưng lo một nổi đặt nó vào lò điện không khác thằng Poucet đi đôi hia bảy dặm, tấm tranh sẽ có màu cũ «Tam bách niên tiền» như mong muốn, hay chảy thành một tấm bố không hồn chẳng đáng một đồng xu?

Không biết dầu lilas và các loại thuốc màu dùng vẽ tranh nầy, có chịu nổi sức nóng 110 độ nầy chăng? Hay sẽ biến ra màu khác sắc khác, thì chết một của Tứ! Không tiếc cho công trình gam go trong sáu tháng sẽ bay trôi theo hơi, khói; chỉ ngại việc bất thành thì mình rõ là một tên vô dụng chi nhơn. Trước đây, mỗi lần pha một thứ màu để vẽ, V.M. đều thận trọng từ chút, nay nếu lúc đó có sơ sót chỗ nào, thì lát nữa hơi nóng của lò điện sẽ làm cho lộ ra: «xin Trên Cao phù hộ cho tôi!»

V.M. trong bụng sợ nhất là cái đốm trắng hôm trước không dám tẩy thật sạch, nay gặp sức nóng sẽ đậm màu hơn hay trở ra vàng vàng thì người ta cũng biết ngay, khổ quá! Lại nữa, như mấy chổ chấm thanh lục, tuy biết dư là dúng phương pháp của Vermeer hồi trước, nhưng cũng chưa chắc gì nó không biến thể, khi gặp sức nóng 110 độ trong lò. Nghĩ tới nghĩ lui, khổ ơi là khổ! Suốt hai giờ, V.M. cho điện chạy, rồi đi qua đi lại trong phòng, tay vẫn cầm một đồng hồ quả quit và canh chừng từ phút từ giây. Khi tắt điện, lấy tranh ra, V.M. thở nhẹ nhỏm, vì toàn tấm tranh xuống màu và ăn đều, toàn diện cổ như ý muốn. Khéo quả, hay quá, may phước quá! Cám ơn Trên Cao còn độ! Và chính V.M. khi nhìn tấm tranh cũng phải tấm tắc mình khen lấy mình: bức tranh này quả không thua thần bút Vermeer chút nào. Quả không chỗ nào chê! Như vầy, không ai dám nghi ngờ tranh giả đâu mà ngại! Nhưng vậy, cái khó chưa phải là hết. Cứ bình tỉnh mà xét, tấm tranh như vầy có vẻ còn sắc sảo quá. Nếu để như thế mà vội đem trình bọn giảo nghiệm cú vọ kia, thì chúng nó ăn thịt mình ngay. Bây giờ còn phải làm sao cho da trỗ rạn và cũ mèm thêm chút nữa, bổ túc những cái tinh vi mà lò điện kia không tạo ra được. Nghĩ rồi V.M. mới chế ra một ống tròn bằng thiếc Cao Bằng, bề kinh tầm độ sáu tấc Tây, hình giống cái hũ lô cán đường, đặt cái ống trên bàn viết, rồi cột sát tấm tranh kia ôm tròn cái ống rồi lấy tay vuốt nhẹ nhẹ và đều đều, vuốt hết sức kỹ, khiến cho lớp sơn dầu nứt rạn ra theo chiều ống thiếc, giống hệt tranh cổ lâu năm phải nứt và V.M. cũng không dám làm nứt quá nhiều, e mất tự nhiên thì bọn giảo nghiệm ma quái kia sẽ bắt được mối gian xảo của mình. Phương pháp của V.M. dùng tỏ ra rất hiệu nghiệm. Tấm tranh lấy từ ống ra, trên mặt trỗ lăn tăn lấm tấm lằn nứt mịn và đều giống y lằn nứt thường thấy trên tranh cổ.

Muốn để sau này có bằng chứng rằng tranh này của mình sảng tác cho không phải của ai vào đây, V.M. bèn lấy kéo cắt rọc một chút bìa và cất kỹ làm dấu tích. Xong rồi V.M. mới gắn bức tranh trở lại khuôn cũ của nó, nhưng phải dùng lưỡi cưa thợ mộc rà lại bốn góc khuôn, cho thật khít khao, vì tấm bố đã teo đôi chút khi bị hơ nóng trong lò điện; đoạn V.M. lấy đinh cũ và da cắt vuông cũ đóng lại đâu vào đó, xem giống hệt bức tranh lâu đời không hầy hấn chút nào, vì V.M. là tay kỹ lưỡng, trả đinh và da chỗ nào về chỗ nấy, không cho thấy dấu cạy dấu tháo nào  cả. Tranh gắn y vào khuôn của nó rồi, V.M. lại lấy mực Tàu bôi khắp mấy chỗ da rạn và khi mực khô thì mấy lằn rạn càng giống những kẽ rạn lâu đời bị bụi bặm bám vào kẽ sâu và đến đây là đã đến phần chót của các công việc giả một bức tranh cổ mà V.M. đã thực hành. Cách vài bữa sau, V.M. lên đường đi bán tranh. V.M. đáp tàu hỏa lên Paris, là nơi đô hội, đủ mặt các nhà sưu tầm cổ ngoạn, chơi tranh mắc tiền và đều là hạng triệu phú, tỷ phú thập phương. V.M. đem theo chỉ một mớ y phục đổi thay, không quên cái bàn chải răng và cây dao cạo, còn bức tranh căng nhứt thì gói kỹ trong lớp giấy ămbala thật dày. Vừa đến Paris, V.M. đi ngay lại ngân hàng lớn, ký thác bức tranh cho yên nơi yên chỗ rồi mới tìm phòng tá túc.

Qua bữa sau, V.M. tìm được văn phòng viên chưởng khế từng quen năm trước. Chào hỏi xong, V.M. thong thả thuật lại cho viên chưởng khế nghe câu chuyện đã đưa anh đến tìm, mà anh đã sắp đặt trước như vầy:

– Thưa chưởng khế, ông dư biết chúng tôi là hàng họa sĩ vô danh, nếu chỉ sanh nhai bằng cây cọ, thẻ màu,

thì không bao giờ đủ sống. Bụng đói chân phải chạy cho nên chúng tôi phải sống thêm nghề phụ, hoàn toàn lương thiện, là chúng tôi chuyên lùng kiếm tranh xưa mai một; nếu may thời gặp, mua lên bán lại thì cũng có đồng ra đồng vào, đỡ khổ. Hiện nay tòi được may mắn lạ lùng, có lẽ là ân huệ của ông bà để lại, hoặc trời nhỏ phước, hoàng thiên bất phụ thiện tâm nhơn. Tôi đến nhờ ông sẳn lòng giúp tôi bán một bức tranh thế kỷ 17, thuộc loại quí phẩm hạng quốc tế cũng nên. Ngừng một lát để chờ phản ứng của vị chưởng khế, nhưng không thấy nói gì, V.M. lại kể tiếp:

– Thưa ông, tôi quả quyết tranh tôi nói đây là một bức quí vô giá, đó là tranh cổ ký Vermeer, bấy lâu lưu lạc không ai thấy. Một gia đình vọng tộc, tôi xin giấu tên, có nhờ tôi xem giúp và cho ý kiến một bộ tranh do tổ tiên đề lại. Gia đình ấy bằng lòng bán đứt cho tôi một bức mà hiện tôi đã gởi cất tại ngân hàng Mỗ. Tôi dám cam đoan với ông, đó là tác phẩm mai một của Jan Vermeer một nhà đại danh họa Hòa Lan của thế kỷ 17, giá đáng ngàn vàng.

Có lẽ chưởng khế sẽ hỏi tại sao tôi không bán ên, tức nhiên có lợi nhiều, thay vì phải đến đây nhờ ông cho thêm phí tổn? Thưa chưởng khế, thú thật vì tôi mua nó mà hết vốn, nên nay cần bán gấp là một lẽ. Một lẽ khác nữa, chắc ông dư rõ, là giữa các chuyên môn giảo nghiệm và nhóm họa sĩ, ít có thuận thảo nhau lâu và không giấu gì ông, tánh tôi thì nóng, vì ăn ngay nói thật nên ít có cảm tình với họ. Nếu nay tôi đến ngay thương thuyết thì hỏng ngay. Nên tôi tưởng phải nhờ ông giúp cho một tay đắc lực, mà chắc ăn hơn. Tốn kém bao nhiêu có hệ gì. Bọn giảo nghiệm ở đây, ở Paris nầy, tôi đều quen biết hết. Hiềm gì tôi đả kích họ đã nhiều, cho nên ác cảm khó quên; ngày nay nếu tôi bổn thân xách bức tranh đến cầu họ giúp cho giấy chứng chỉ thì cũng bằng trong Tam Quốc, Lỗ Túc sách Kinh chân. Họ đâu có khứng, không chừng họ lại đặt điều kiếm chuyện, nghi kỵ nọ kia, gây rắc rối cho tôi thì có. Cho nên trong vụ nầy, chưởng khế giúp giùm tôi và cần thận hơn hết là không nên hài danh tánh tôi trong tờ mua bán. Như vậy chưởng khế sẵn lòng với tôi chứ»?

Ông chưởng khế ưng thuận, V.M. ra về đã yên tâm một phần. Cách vài bữa sau, nhơn đọc báo, V.M. thấy tin ông Bredius là nhà giảo nghiệm danh tiếng ở Hòa Lan hiện có mặt ở Paris. V.M. lật đật xách tờ báo trở lại tìm chưởng khế và yêu cầu đem tranh nhờ Bredius giảo nghiệm vì dịp may ít có. Chưởng khế nghe theo lời, tức tốc lãnh tranh nơi ngân hàng, bổn thân đem đến tìm ông Bredius và hai mươi bốn giờ sau là có giấy chứng của Bredius nhìn nhận tranh nọ là tranh cồ, chính do Vermeer, thế kỷ 17, sáng tác. Đã có chứng chỉ hợp thức, thêm chưởng khế nay là người đầy đủ uy tin, nên tranh bán cấp kỳ. Người mua không ai xa lạ, vốn là viện bảo tàng Boymans, ở Amsterdam (Hòa Lan), giá mua là 58.000 livres. Trừ ra tiền xe pháo, tiêu nghệ, tiền hoa hồng Bredius và hoa hồng chưởng khế, V.M. còn 40.000 livres: giàu rồi! Tranh được giao phó cho chuyên gia sửa chữa vào bế lại những chỗ trầy do V.M. tạo ra cho thật đúng cổ, rồi đem về Hòa Lan trưng bày tại viện bảo tàng quốc-gia, suốt mấy năm trường, trân trọng như một «quốc-gia chi bảo». Viện bảo tàng cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa và lấy làm mừng mua được vật báu. Trong khi ấy, V.M. tưởng mạo tể thành công như vậy là đủ, lòng dặn lòng không tái phạm làm chi. Bây giờ không ở Roquebrune nữa, có tiền rồi, dọn lên Nice ở cho sướng thân. Nhưng cổ nhân đã nói: «Ăn quen, nhịn không quen», ít lâu V.M. bắt bén, tự hỏi: «Sao không giả tạo tranh cổ khác»? Phen nầy đã thành thạo lắm rồi, nên bắt qua nhái nghệ thuật của Frans Hals và của de Hooch, đều là đại danh họa thế kỷ 17 của nước Hòa Lan. V.M. hăng hái làm việc không nghỉ tay và suốt mười hai tháng nỗ lực, tạo được sáu tranh mạo tễ khác:

Hai bức kể như kiều tập (échantillons), V.M. nhái điệu de Hooch và bản cho hai sưu tập gia ở Rotterdam, gọi đề làm quen. Sau hai nhà nầy thích quả, nên mua thêm của V.M. hai bức ký Vermeer, mà không biết là giả. Hai bức tranh nầy bán, không ký công tra, nên số thu định lối 68.000 livres. Cứ tính theo tỷ lệ số tiền bán tranh kỳ nhứt thì phen này, phần cua V.M. cũng không dưới 40.000 livres. Tháng tám năm 1939, bên Âu châu xảy ra cuộc đệ nhị thế chiến. Mây đùn sát khi, máu chảy tràn đồng. Lại một phen người giết người, đồ hại sanh linh. Khi giặc chưa khởi, V.M. cùng vợ đáp tàu hỏa, về thăm cố hương là Rotterdam. Nghe tin khai chiến, cũng chưa sợ. Định bụng rằng phen nay bạo phát bạo tàn, chuyến nầy sẽ mau điều đình và không dây dưa đâu. Vợ chồng sẽ trở về nhà, ở Cote d’Azur, việc gì mà lo? Sáu tháng sau, giặc đã không dứt, càng bành trướng thêm. Hòa Lan bị chiếm, dân chúng phải sống kham khổ thiếu thốn dưới gót sắt bách thắng của quân Đức. Sự sản của V.M. đang vững vàng đồ sộ, bổng bị tê liệt bất ngờ. Được bao nhiêu thì tiêu pha hoang phí, tính cho vô tận: mua một tòa lâu đài cổ ở Nice, tu bổ cho vừa con mắt, đến gần cạn túi, nay thinh khổng thinh không kẹt ở đây làm vầy, khổ chưa? Dẫu muốn bán hết sự nghiệp ở Pháp, qui nhứt thống về Hòa Lan, nay cũng không kịp. Chỉ còn một phương duy nhứt, giải thoát được cơn nguy, ấy là mạo chế tranh cổ thêm nữa. Nhưng hãy nói nho nhỏ, đừng cho ai biết!

V.M. bây giờ đã trở nên một tay xảo thủ, việc giả tạo tranh cổ đã trở thành một nghề chuyên môn. Chớ chi vẽ thực và ký thực tên mình, thì đâu có chuyện. Nhưng ngựa quen đường cũ, phải giả tranh cổ mới bán tiền nhiều hơn. V.M. vẽ thêm năm bức ký Vermeer giả nữa và lấy đề tài trong Thánh kinh, để dễ bề nói dối, vì V.M. biết không ai hiểu biết đời sống của Vermeer cho bằng mình, đã từng thích giúi vào vẽ, treo tóc lên rường khi tham khảo và nghiên cứu năm xưa về nhà danh họa trứ danh nầy, nhứt là khoảng đời của Vermeer, từ thanh xuân đến lão mai, sách vỡ nói rất lờ mờ, lại càng dễ cho V.M. lựa chọn đề tài và dễ bề nói khoác cho trôi việc dối trá của mình làm. Vẽ rồi năm bức, V.M. lại vẽ thêm một bức, gọi Cène. Nguyên Cene la tên cảa mot bức họa thật lớn của Leonard de Vinci vẽ năm xưa trong vách phòng ăn của tu viện Santa Maria delle Grazie, tại thành Milan ở Ý đại Lợi. V.M. dám nghĩ đến việc họa bức nầy thì cái kiêu ngạo của anh ta đã lên tới tuyệt đỉnh, vì dám sánh tài mình với bực hậu tổ nghề hội họa Tây phương. Nhưng khi V.M. có ý định rồi thì đem ra thực hành ngay. V.M. đem hết tài nghề và sở trường để vào đó, dường như muốn cho ngày sau đời biết tài mình cũng do bức tranh đại họa này. Khi bắt tay vẽ Cène được vài tháng, thì V.M., nguyên là người kỹ lưỡng, bèn nghĩ lại rằng: «Nếu mình vẽ phóng ứng như vầy, e có chỗ sơ hở. » Nghĩ như vậy, nen V.M. ngưng vẽ bức tranh lớn ấy để vẽ trong bố cắt rời, từng nét mặt và từng chi tiết nhỏ của mỗi nhơn vật, tức làm esquisses và quyết vẽ sao cho tuyệt diệu hơn bức «các tông đồ tại Emmaüs » cho được mới nghe. Khi muốn vẽ lại “đầu cổ chúa Gie-su”, V.M.phóng họa ra nhiều kiểu đề tìm lựa kiểu nào ưng ý nhất. Có một kiểu «gương mặt Chúa », khi vẽ rồi, đem làm cho cũ trong lò điện, lúc lấy ra, V.M. ưng ý quá nên khoe với một nhà buôn đồ cổ, dối rằng đó là phác họa cổ của chính họa sĩ Vermeer đời xưa đã vẽ cho một bức tranh nào mà nay ông đã quên tên.

Ông nầy nghe nói, mê quá nên cố nài cho được. Không dè vài tháng sau, V.M. trở lại nài nỉ hết lời rằng nay ông vừa tìm được một bức tranh lớn gọi Cène và ông nhớ ra rồi, vậy cái mẫu gương mặt kia, xin cho ông chuộc lại, giá nào cũng được, miễn sao ông được trọn bộ là toại nguyện. V.M. làm hộp như vậy, để sự việc ấy đồn ra, nên năm 1940, có một triệu phú sai giảo nghiệm viên đến mua vừa tranh lớn Cène, vừa tranh nhỏ esquisse, với một giá mắt kinh khủng: 215.000 livres. Một lần nữa, và mặc dầu chiến tranh, V.M. trở nên giàu sang như cũ. V.M. lấy tiền bán tranh, tậu nhà mua phố, lập lại một sự nghiệp kể dến trên năm chục bất động sản có lợi tức. Và trong nhiều tháng dài va sống phong lưu nhàn hạ, không làm gì động đến móng tay, gọi đề xả hơi, bù lại những năm lận đận, anh ta thường nhắc và cho rằng trần ai vô tri kỷ. Vào cuối năm 1940, V.M. bắt đầu cầm cọ và vẽ lại. Trong mười tám tháng, ông vẽ xong được ba bức tranh mạo tễ nửa và đây là ba tác phẩm sau chót của V.M. Nhưng lạ thay, nay đã giàu sang, có tiền nặng túi, thì tài nghề lại nhụt đi. Ba bức tranh sau rốt này, kém phần độc đáo và thua xa những bức khi xưa vẽ trong cảnh cơ hàn, ăn bánh mì mốc. với bánh sữa rẻ tiền. Chớ chi V.M. bán mấy bức tranh này trước cuộc đệ nhị thế chiến, thì ắt đã qua trót lọt và chưa bị lộ tầy. Nghĩ ra trời cũng hết sức chìu tên đại bợm này, nên khiến cho bấy lâu, không ai đề ý mà hỏi va vậy chớ trong một thời gian cũng không lâu gì mấy, từ năm 1932 đến năm 1940, mà làm gì va đào ở đâu ra và có hoài hoài những tranh cổ quí giá đến thế? Cuối năm 1943, V.M. bắt tay tạo bức tranh giả thứ tám của ông, bức tranh nầy cũng là một tuyệt tác của ông mà cũng là bức tranh xui xẻo sẽ đưa ông đến cửa tụng đình và vì sao ông lựa đề tài quái gở «Christ et la femme adultère » (Chúa Cứu thế và con dâm phụ). Người mua bức tranh nầy là vai tả phụ hữu bật hét ra lửa của Hitler, tức Thống chế của Đức quốc xã, tức ông Gobels. Nói cách khác, bức tranh đã đem lại cho V.M. ba chữ «Chấn Gia Thinh». V.M. danh nổi như cồn. Tranh này là tranh thứ sáu, giả tạo, mang chữ ký của Vermeer.

Christ et la femme adultère

Nói tuyệt tác, thật tình chưa đúng, vì tranh vẽ hối hả trong hai tháng thôi, nên nhiều chỗ còn để cho thấy sự hấp tấp của va và đã mất hết những nét tỷ mỷ kỹ càng, những chú ý cẩn thận của buổi đầu tiên, khi vẽ bức «les Disciples d’Emmaus » hay bức Cene.

V.M. vẽ tranh này đúng trên một tấm bố thế kỷ 17, nhưng đã làm biếng, không cạo lớp sơn cũ sạch sẽ như mấy lần trước, cho nên sau này khi rọi quang tuyến X, thì thấy rõ lớp sơn cũ và lớp sơn mới chập chồng nhau, và khi hơ nóng giả cổ trong lò điện, hai thứ sơn cũ mới ấy khắn nhau lại, cạo không ra. Sở dĩ tranh như vậy mà vẫn bán được, là chứng tỏ sự thiếu sót chuyên môn đáng trách, sự thiếu lương tâm nghề nghiệp của bọn trung gian môi giới giữa ông Thống chế Gobels, đã giàu quyền lực lại không thiếu gì tiền, với một họa sĩ phong lưu có địa vị lớn. Bọn môi giới ấy, bởi ham tiền, đã mất lương tâm. Nguyên do cuộc mua bức tranh ấy, là Thống chế Miedl được bộ hạ báo tin ở nhà V.M. có một bức tranh cổ quí giá. Miedl thật tình muốn tấn ơn nên nhắn với người giới thiệu thường đi mua cổ ngoạn cho Gœbels hay. Miedl không có ăn nhậu gì trong cuộc mua chác nầy, nên nếu buộc tội ông thì oan lắm. Ai ai ngày nay cũng biết khi Gœbels bị hạ bệ và tịch thu tài sản thì sự nghiệp của va không biết đến mấy tỷ mà nói, người đồn còn nhiều thùng chứa đồ cô-léc-xông vô giá nằm dưới đáy biền, tìm chưa ra, vì ý Gœbels tích tụ của báu là đề sau nầy dùng nó mà dựng cơ đồ đại sự, phục quốc hưng bang chớ không vừa. Trong vụ này, khi người trung gian thân tín về phúc trình thì Gœbels xuất tiền trả ngay, số tiền xộn xện lên đến 165.000 livres chớ không vừa. Kên kên quạ quạ thì ăn trên rừng, lòng tong cá chốt thì rỉa rứt dưới nước, tiền còm-mi-xông cúng đủ mọi mặt cô hồn các đảng rồi, chỉ tồn V.M. cũng còn lại 120.000 livres trong áp-pbe này. Trong hồ sơ lý lịch nơi tòa ản, thì vào đầu năm 1944, thân thế và sự nghiệp của V.M. có thể tóm tắt như sau:

– V.M. sống độc thân, vì đã ly dị vợ; người vợ tào khang, «tấm mẳn có nhau buổi hàn vi»;

– Tranh của V.M. giả mạo, trưng bày trong viện bảo tàng quốc gia Hòa Lan: những người giàu kinh nghiệm của các nước tới chơi, đều trầm trồ khen là tuyệt diệu;

– Tài sản, của chìm của nồi, nếu tính ra tiền, thì to tác không chỗ nói.

– V.M. không có con.

V.M. đang vẽ bức thứ 9, giả tạo tranh Vemeer nữa. Phen nầy va tính kiếm độ 1.000 livres để nhập vào két sắt.

Nhưng lúc ấy, V.M. đã năm mươi lăm tuổi đầu mà tóc đã muối tiêu, da nhăn, má cóp: già nhiều hơn số tuổi, cũng vì nay lắm tiền nên sanh sứa: đêm thì thức khuya trác táng, ban ngày thấm mệt, phải dùng bạch phiến, trước để tìm thêm khoái lạc, sau tìm yên-sĩ-phi-lý-thuần (inspiration) để có tơ-lơ-mơ, làm việc thêm hăng hái. Dẫu cho máy bằng sắt cũng phải mòn: vì vậy V.M. vướng bịnh đau tim mà chưa hay. Bây giờ chỉ còn có hai món giúp V.M. gượng sống: một là bạch phiến, hai là làm việc. Hai lẽ bổ túc nhau trong vòng lần quẩn: làm việc, tức giả tranh cổ bán cho thật mắc để có tiền mua ma túy va chích, nuốt, thầu ma túy, để có sức, có sáng kiến tìm ra tiền. Nhưng lúc ấy vừa hết giặc. Quân đội Đồng minh Anh Mỹ đổ bộ, giải thoát Hòa Lan khỏi ách chiếm đóng của bọn Đức quốc xã. Hitler đã binh bại, mạng cùng và tự tử. Mùa thu năm 1947, quân đội Đồng minh, khám xét đại bản doanh Berchtesgaden là chỗ an sau cùng của Hitler, gặp được bức tranh «Chúa Cứu-thế và con dâm phụ» lại cũng tìm được luôn tờ mua bán năm trước giấu trong vài thùng lớn chứa đồ báu vàt của Gœbels bỏ lại trong khi thoát thân, đào tỵ. Nhắc lại, trong tuần tháng năm năm 1945, có hai hiến binh đến tận nhà V.M. ở khu Keizergracht, tại Amsterdam, để hỏi chủ nhân vài tài liệu không quan trọng lắm. Hai công sai rất rụt rè lễ phép, phần khớp vì nhà cửa sang trọng, phần thấy một ông già đạo mạo, có vẻ tiên phong đạo cốt, phú quí như vầy há đâu phạm pháp cho đành. Nhưng cũng phải lấy khẩu cung cho có lệ và chi muốn ông nói cho biết, mách giùm cho mình tìm ra manh mối ai đã bán một bức tranh cổ và quí cho một tên thù nghịch hạng nặng, nặng cỡ một Nazi bự như Gœbels, tàn sát không biết mấy triệu sanh linh.

– Thưa ông, một hiến binh hỏi, ban sơ ông gặp và mua bức tranh cổ ký Vermeer bán cho Gœbels ấy, ở tại đâu?

Nhưng V.M. đã hết thời, khiến cho thần khẩu giục trả lời liền:

– Tại Ý Đại Lợi, trước khi xảy ra trận giặc vừa rồi. Nhưng tôi không nói gì nhiều hơn nữa được, vì tôi đã  trót hứa với chủ cũ giữ giùm thể thống của ông, vốn là một vọng tộc nay đã suy vi.

Hai hiến binh cười thầm mà không nói lời gì và xin cáo lui. Họ vừa bước ra khỏi cửa, V.M suy nghĩ và hối lại

không kịp, vì lời khai của mình ban nãy, làm sao lấy lại được, khi không mình tự trói mình nạp cho mật thám.

«Hai tên lính ban nãy, V.M. nói thầm đủ mình nghe, thuộc đội thám quân chánh trị. Chúng nó đã biết tranh ấy bán cho một tên A-lơ-măng. Thế mà mình nay lại khai tranh ấy trước mua tại Ý-đại-lợi, tức một nước thù nghịch khác của Đồng minh. Như vậy, minh sẽ bị buộc vào tội tư thông ngoại quốc, thông đồng với bọn phát-xich Ý và bọn Đức-quoc-xa Nazi. Cha ơi! Tội này nặng biết chừng nào! »

Và cái độ tội trọng ấy, chẳng bao lâu cơ quan cảnh sát đã tìm ra manh mối. Vừa qua ngày sau, V.M. bị mời ra trình diện Sở Cẩm với tội phản quốc. Thầy thẩm sát viên xuýt ngã người trên ghế ngồi, khi nghe V.M. mắng xối xả cho một hơi:

– Tôi thật tình tội nghiệp cho ông! Ông quả là đồ ngu, không biết gì hết! Tôi có dại gì bán tranh qui chánh Vermeer cho bọn A-lơ-măng? Chánh phủ đáng lẽ dựng hình đồng cho tôi mởi phải! Kỳ công lấy tiền Đức-quốc xã tôi xài! Ừ! Chinh tôi đây, Van Meegeren đã vẽ tranh đó và ký tên I.Meer đó chứ ai? Gœbels nó mua với giá bạc triệu một tấm tranh xoàng xĩnh do tên này vẽ ra. Và suốt tám năm nay, suốt tám năm trường, Van Meegeren nay đã phỉnh gạt mấy thằng thầm định viên bất tài của Chánh phủ đó! Tôi nói cho ông biết, chúng nó toàn là đồ ngu dốt, không biết gì về nghề nghiệp, mà làm mặt song tàn, chỉ giỏi vơ vét tiền còm.

Lính nghe đầy tai và chép không muốn kịp, nhưng lính vẫn không tin. Định cho ông già này, mất trí nói xàm.

Rồi họ lại nghi cho ông gia đặt chuyện như vậy đề dễ bề chạy tội «thông đồng quân địch, phản nghịch quốc gia ». Sau một đêm bị cầm lại bót, mà V.M. ngủ vùi như chết, rạng ngày, tới giờ làm việc, V.M. buộc Sở Cẩm viết tờ biên bản, đề ông khai hết tự sự, đầu đuôi gốc ngọn, ông nói đó là lời sảm hối của ông, mặc cho Tòa giảo nghiệm lại lời khai nầy.

Tờ biên bản viết xong, ông kỷ tên rành rẽ. Điều tra lại, thì tội phản quốc không đứng vững. Tòa lấy làm bối rối không biết dựa vào điều khoản nào mà buộc tội ông già nầy. Sau đó có một ông tòa tìm ra một sáng kiến khá ly kỳ. Ông đòi V.M. ra hầu, và hỏi:

– Nếu ông khai rằng chính ông vẽ được bức tranh « les Disciples d’Emmaüs » đó, vậy chớ ông có thể vẽ một tấm copie thứ hai tranh ấy lại được chứ?

– Sao lại vẽ copie? V.M. thưa. Tôi có thể thi thố tại đây tài nghệ của tôi cho quí tòa biết sức. Miễn ban cho tôi đủ phương tiện: một tấm bố cũ y như ý tôi chọn, đồ nghề thì lấy tại nhà tôi, và tôi sẽ vẽ lại trước mặt ai cũng được, một bức tranh theo nét bút Vermeer, cho ai đó là chuyên môn chứng kiến và giỏi phân biệt giả chơn! Như vậy, quí tòa bằng lòng chứ?

Tự nhiên tòa sẳn lòng chấp nhận lời yêu cầu của bị cáo. Tháng tám năm 1945, V.M. biểu diễn tài nghệ trước mắt sáu chuyên viên nhân chứng thay mặt đủ các nguyên cáo trong vụ án ly kỳ nầy. Đó là bức giả tạo thứ 9 tranh Vermeer. Phải nói, V.M. vẽ liên tiếp không nghỉ tay phút nào, ngoài giờ nghỉ ngơi cơm nước. Lính thay phiên canh gác, các nhân chứng cũng không nới phòng làm việc một giây phút nào. Một lần nữa, V.M. chọn một đề tài rút trong Thánh Kinh, và cũng dùng bố cũ của thế kỷ 17 kiếm được. Màu và dầu sơn thì từ nhà đem lại, đủ cả lò điện để hơ giả cổ, bút cọ bằng lông blaireau và ống thiếc tròn đề làm da rạn nhái rạn tranh xưa.

Đề tài bức tranh là «le Seigneur enseignant dans le Temple» (Chúa dạy học trong Thánh-đường).

Đến tháng mười, thì bức tranh hoàn thành. Các giám định viên và nhân chứng thảy đều công nhận đúng là tuyệt tác, giá trị không thua mấy tranh giả tạo trước. Người họa sĩ có thiên tài mà không ai biết thưởng thức. Túng nước phải liều nay chúng bay sáng con mắt ra thì đã muộn. Thiên tài phải chịu tù, nhưng cao vọng cũng thỏa mãn.

Luật lệ xứ Hòa Lan rất chậm. Phải đợi hai năm nữa mới kết thành án. Tòa buộc V.M. về tội gì? Chỉ có một lần, V.M. có nói duy nhứt một câu: «A mon avis, ce ta-bleau est un-Vermeer ». (Theo ý kiến tôi, tranh này là đúng của Vermeer.) Nhưng bao nhiêu ấy kbông đủ yếu tố buộc tội. V.M. còn có nói những câu na ná như vầy: «Đày là một bức tranh. Các ông nghĩ sao? Định trả bao nhiêu giá tiền bức tranh ấy? » Cũng không đủ để kết án V.M. Sau rốt, tòa phải dựa theo mặt luật sẵn có, tuyên án hư vầy: «Vì mỗi tám bức tranh đều ký tên khi là Vermeer, khi là de Hooch, vậy Van Meegeren phạm tội giả mạo tám chữ ký: Một năm tù ở. »

Không nghe nhắc chuyện tranh giả tranh thiệt, chỉ nghe nói «giả mạo chữ

ký ». Đúng mười lăm ngày sau, V.M. lê chân đến hầu tòa cũng với vẽ thản nhiên của một người bị khuẩy rầy trong tuổi già bóng xế. Án tòa «một năm tù» là nể bị cáo, kém sức khỏe rõ rệt. Tuyên án rồi, tòa chưa cho lịnh bắt giam và cho phép V.M. về nhà đợi lịnh.

Chiều hôm nghe đọc án, về nhà, V.M. lên cơn đau tim dữ dội. Một tháng sau bịnh tái phát. Kỳ nầy ông tắt hơi luôn, chưa kịp thì hành án tòa. Sống làm chi nữa? Mà gượng sống để làm chi? Sống giữ tam tùng thì trọn đời làm con gánh nước, con đòi, con ở. Thây kệ, làm như người ta, mà một thuở lên xe, ở nhà lầu, rồi tới đâu hay tới đó. V.M. muốn lương thiện, mà cất đầu không nổi. Thà làm như đã làm, một thằng gian, mạo chữ ký, mà tiếng tăm chấn động hoàn cầu. Vermeer, de Hooch, hai ông với tôi, khác nhau chỗ nào?

Kết luận.

– Thế gian lắm sự bất công. Cũng thì một bức tranh, khi ký tên thật của mình là họa sĩ vô danh, thì thiên hạ chê nhiều khen ít. Bức tranh ấy, dưới góc nếu có chữ ký họa sĩ đại danh, thì thiên hạ đua nhau giành giựt.

Giữa kẻ mua người bán, nước văn minh, thường có người đứng trung gian đề thẩm định giá. Cố nhiên phải trả tiền công. Trong khi ấy, người chơi tranh cổ giả và người giả tranh cổ, mãi còn. Tranh mua rất mắc tiền. Đợi cho tác giả nổi danh, có lẽ người mua đã chết trước. Tranh rất bề bộn. Kén chổ treo và tranh cỡ Picasso mà treo dộng đầu, chỉ để cho người đời đàm tiếu. Lấy làm giẻ chùi thì tiếc, cất trên gác sợ chuột nó khoét. Không bằng đồ sành, đồ sứ. Gặp giả, tao lấy mày làm mẻ kho, tao nướng trên lửa nóng, cho cháy da xám mặt. Mầy rên sèo sèo, tiền mất mà tao có bài học khôn.

(23-10-71)


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment