Ông Đại Sứ

vietmessenger.com

Morris L. West

Bản dịch của Chu Việt

Post by Sơn râu 13 Dec 2025

Chương 5

Trên mặt trận quân sự đó là một ngày đầy thảm họa. Trận đánh ở Tân An đã thất bại lớn. Lối ba trăm Việt-cộng đã đụng độ với bốn trăm quân lính chính phủ có trọng pháo và đại liên yểm trợ. Đó là một trận chiếm đẫm máu dàn rộng trên sáu dậm vuông toàn ruộng lúa và vườn trải cây. Bọn Việt cộng đã để lại ba mươi lăm xác chết và mười hai bị thương nặng. Quân lính Cộng-hòa đã mất bốn mươi tám tử thương và trên sáu mươi bị thương nặng. Họ cũng bị mất ba đại liên, một móoc-chê và hơn tám mươi súng cá nhân do Mỹ chế tạo. Số vũ khí tịch thu được của Việt cộng ít hơn nhiều và phần lớn gồm những món vũ khí phẩm chất xấu của Trung-cộng và Tiệp-khắc. Kết quả của trận đánh là thêm một chiến thắng đáng kể cho bọn du kích mà báo cáo đã cho biết là đang tập trung gần Saigon hơn. Về phía Bắc gần biên giới Lào đã xẩy ra một thảm kịch ghê gớm hơn. Một chiến đấu cơ phóng pháo T-28 với một phi công Hoa-kỳ và một phi hành viên người Việt đã rớt ngay trong khu vực của bọn du kích. Tức thì một toán cứu trợ mười hai người trên hai trực thăng của Thủy quân Lục chiến được gửi đi từ Đà-nẵng. Họ bay thấp dọc thung lũng một con sông và cả hai bị súng từ hai bờ phía dưới bắn trúng. Một chiếc rởt ngay xuống lòng sông, còn chiếc kia lết qua được một ngọn đồi và lộn nhào xuống rừng.

Một toán cứu trợ thứ nhì gồm sáu trực thăng do phi công Hoa Kỳ lái và có xạ thủ người Việt đã tới nơi bị nạn. Cả toán này cũng bị dưới đất bắn lên dữ dội và có hai người bị thương, một tử thương nhưng họ đã dùng rốc-kết, na-pan và đại liên làm bọn du kích chạy tản mát. Khi đáp xuống cạnh hai chiếc trực thăng bị phá hủy, họ thấy cả mười hai người đã chết. Họ đã đem được xác về Đà Nẵng và ngày mai những xác này sẽ được chở về Saigon để chôn cất. Chính Đại-tướng Tolliver đã đem tin này đến cho tôi. Gương mặt gân guốc, già nua của ông căng thẳng vì tức giận và ông nguyền rủa sự vô ích đẫm máu của toàn thể tình hình.

« … Thế là trong khi cái tên Tổng Thống còn tân và nửa rồ nửa dại kia đứng tại diễn đàn Quốc hội mà gào lên sự phản bội, trong khi Hoa Thịnh Đốn còn đang be be cái giọng với trừng phạt và rút lui, thì bọn lính của tôi bị bắn rơi từ trên trời xuống và những tên lính Việt khốn nạn ngớ ngẩn đáng thương kia đổ máu như heo bị chọc tiết trong các thửa ruộng. Thế vẫn chưa đủ đâu, thưa ông Đại sứ!

Chưa đủ phần nửa đâu! Tôi sẽ nói cho Hoa Thịnh Đốn biết! Tôi sẽ nói cho các ông Tướng bự ở Ngũ giác đài biết và tôi sẽ nói cho Tổng Thống Cung và toàn thể cái thế giới khốn nạn này biết! Ngày mai khi họ đem xác những

lính của tôi về đây, tôi sẽ làm lễ quân táng cho họ để thiên hạ mở con mắt ra mà coi! Tất cả phóng viên báo chí ở Saigon đều sẽ có mặt và cả bọn chụp hình quay phim nữa, dầu rằng tôi có phải di súng vào ngực bắt họ đến chăng nữa. Dẫu sao và thể nào tôi cũng nói cho thiên hạ biết cái cuộc chiến tranh chó đẻ này có nghĩa như thế nào đối với những thằng phải cầm súng chiến đấu!… Tôi cũng muốn ông có mặt ở đó nữa, ông Đại sứ. Ông là đại-diện cho Tổng Thống chúng ta. Tôi cần có ông.»

« Đại tướng, tôi sẽ đến dự.»

«Thế còn Phùng Văn Cung? Họ cũng là những tử-sĩ của ông ta nữa!»

«Tôi không thể nhân danh ông mà nói được. Trong lúc này, tôi cũng không chắc có thể nói được với ông hay không nữa … »

Thế rồi bỗng nhiên tôi nghĩ ra được rất lạnh lùng và đểu cáng một cách  dùng những người chết để thâu lợi và để giải quyết cái vấn nạn do bài diễn văn của Cung đọc ở Quốc hội đã tạo ra. Tôi không muốn thảo luận về việc này với ai vì sợ lại bị bối rối bởi những ý kiến phản nhau. Hiện giờ đầu óc tôi nghĩ rất sáng suốt và tôi thấy có một cách chấm dứt sự cãi lộn rùm beng về chính trị này một cách mau lẹ và rất có thể làm được. Tôi đến thẳng văn phòng và đích thân gọi điện thoại cho Tổng-thống Cung.

Lần này thì không có sự chậm trễ nữa. Ông trả lời mau mắn, lễ độ và thân thiện, như một người đã đánh tan được sự xúc phạm đến danh giá của mình và giờ đây có thể tự tỏ ra mình đại lượng. Tôi không đả động gì đến diễn văn của ông tại Quốc-hội nhưng chỉ tóm lược lại những phúc trình mà tôi đã nhận được của Đại-tưởng Tolliver. Ông cho tôi biết là bộ tham mưu quân sự

riêng của ông cũng vừa cho hay những tin tức tương tự. Ông chính thức bầy tỏ cảm tình và yêu cầu tôi chuyển đạt lời chia buồn của riêng ông tới quyến thuộc những người tử nạn. Rõ ràng là ông đã bị xúc động sâu xa. Tôi xin ông cho phép tôi được hội kiến ngay mặc dầu đã muộn giờ rồi.

Tôi ngạc nhiên thấy ông thuận không chút ngần ngại và đề nghị tôi đến dùng cơm tối tại Dinh. Ông nói là sẽ chỉ có tôi với ông thôi và ông lấy làm mừng rỡ có cơ hội làm quen với tôi một cách thân mật hơn.

Thật là vượt quá điều tôi đã hy vọng. Tôi cũng phải thú nhận rằng ông đã làm cử chỉ ấy với một sự ưu ái vô ngần mặc dầu tính tôi hay hoài nghi, tôi cũng khòng thể nào tin được đó chỉ là chuyện tính toán. Mặc dầu những thảm kịch đã xây ra trong ngày, tôi lại bắt đầu thấy vui. Tôi là một ngoại giao đã khá lâu đời để hiểu rằng đường lối hay nhất để giải quyết một vấn đề là tạo ra một cuộc khủng hoảng để nó tự giải quyết lấy nó cũng như giông tố làm mưa rơi để tẩy sạch bầu không khí ung nhọt đi. Các lời tuyên bố công khai đã được nói ra; cả hai bên đều đã xả được nỗi bực tức xấu xa của mình. Máu đã đổ ở trên núi và dưới các đồng lầy. Cùng nhau tưởng nhớ đến người chết, có lẽ cả hai chúng tôi có thể cùng khám phá ra được sự bình tĩnh và tỉnh trí để phục vụ cho người sống.

Anne Beldon bước vào để báo cho tôi biết rằng báo chí đang chờ đợi tôi bình luận về bài diễn văn của Cung đọc tại Quốc hội. Tôi đọc cho nàng ghi một lời tuyên bố để phát ra cho báo chí nói rằng tôi đang nghiên cứu nội dung của bài diễn văn và tôi muốn dành mọi lời tuyên bố cho đến sau khi nghiên cứu xong. Trên bàn giấy tôi có một mảnh giấy của Harry Yaffa. Hắn nói sẽ đi ra ngoài cho tới sáu giờ tối nhưng muốn nói chuyện với tôi khẩn cấp. Tôi nhắn lại là tôi sẽ gặp hắn tại nhà tôi khoảng từ mười một giờ đến nửa đêm. Tôi mừng thầm là không phải nói chuyện với hắn trong lúc này. Tôi đã có quá nhiều điều gợi đến chết chóc và Yaffa đã bắi đầu trông càng ngày càng giống như một ông chủ hãng xe đòn lịch sự.

Sau cùng Mel Adams đem đến cho tôi bản tóm lược bài diễn văn của Cung để gửi kèm đi với bức điện mật mã cho Hoa-thịnh-đốn. Tôi bảo hắn gửi bản văn ấy đi như một tài liệu thông thường chỉ thêm vào lời báo cáo là tôi đã dàn xếp ngay một cuộc gặp gỡ với Tổng-thống Cung. Nếu có gì khẩn cấp phải báo cáo, tôi sẽ dùng công điện mã hóa và nhàn viên trực đêm sẽ gửi đi; nếu không, có thể hoãn lại được mười hai tiếng đồng hồ, « Thưa ông, đó là một ý kiến hay», Adams nói một cách khô khan. « Tôi nghĩ rằng chúng ta đã ăn quá nhiều những món « phản ứng mau lẹ» và «phản đối mãnh liệt.» Chúng ta cần có thì giờ nghỉ ngơi để sửa lông sửa cánh. Chúng ta đã điều hành công việc này như một cuộc đá gà quá lâu rồi!» Tôi không có điều gì để hưởng ứng lời nói khôn ngoan ý nhị ấy nên tôi cho đóng cửa văn phòng để đi về nhà tắm rửa, cạo râu và thay quần áo đi dự bữa cơm tối. Lúc xe chúng tôi đang trên đường đi tởi Dinh, hãy còn một tiếng đồng hồ nữa mới tới giờ giới nghiêm. Phố xá hãy còn linh gác nhưng trên các vỉa hè đã có nhiều người qua lại hơn trước. Các bar và tiệm ăn đều mở cửa và các cô gái ăn sương đã lên đường tuần tiễu trong các xe xích-lô và taxi. Ở Saigon, đức hạnh là một vấn đề luật lệ của chính phủ. Người ta chỉ có thể ngồi uống rượu với một cò chiêu đãi viên chứ không được nắm tay cô. Khiêu vũ công khai là một tội công xúc tu sỉ. Những bài ca yêu đương đều bị cấm như những lời xúi dục phạm tội đối với nền đạo đức. Các nhà chứa gái đều bị đóng cửa; giờ đây, nghề này được tiếp tục trên căn bản thỏa ước riêng và các mụ đầu nậu đã chuyển sang các nghề làm ăn khác.

Các ngả đường đi đến dinh vẫn còn được canh gác chặt chẽ và các mũi súng phòng không thận trọng chĩa lên nền trời đen tối. Tuy nhiên lần này chúng

tôi không phải chờ đợi lâu; lính gác vẫy tay cho chúng tôi đi qua không cần hỏi han và trên bực thềm Dinh, một vị phụ tá của Tổng Thống đang chờ để nghênh đón chúng tôi với sự lịch thiệp quá lộ liễu.

Cung tiếp tôi trong phòng khách riêng của ông, một căn phòng khoáng đãng nhưng lịch sự với các tường bọc gỗ trắc và đồ đạc theo kiểu thanh nhã của người Thụy-điển do các tiểu công nghệ gia Việt Nam đóng. Những bức tranh treo tường cũng được. lắm một bức tuyệt hảo của Rousseau, một bức của Gaugin thời sống trên các hải đảo, một bức tranh Ki-tô cứu thế của Rouault và một bức bình phong rộng lớn và tuyệt đẹp bằng gỗ trạm trổ cảnh Thiên-chúa Giáng sinh của một điêu khắc sư bản xứ. Tôi ngỏ lời khen tặng ông về khiếu thẩm mỹ của ông và ông nhận với một nụ cười và một lời bông đùa khô khan.

«Người Pháp là những nghệ sĩ giỏi, thưa ông Đại-sứ. Nhưng họ kém thành công trong vai trò quan cai trị thuộc địa.»

Một người hầu cận bưng đồ uống ra-whisky cho tôi và một ly nước trái cây cho Cung. Chúng tôi nói chuyện tầm phơ trong ít lâu và điều thấy rõ là mặc dầu ông cố gắng hết mình để tỏ ra khả ái, bản chất của ông vẫn là nhút nhát và gượng ép trong xã giao. Nếu muốn bữa ăn của chúng  thành công được một nửa, tôi phải giữ thế chủđộng mới được. Tôi ngỏ lời với ông muốn xin một đặc ận cá nhân.

« Việc gì thế, ông Đại-sứ?»

« Thưa giản dị lắm. Ngài và tôi đều trải qua một ngày mệt nhọc. Tôi muốn hưởng bữa ăn này với ngài và gác mọi công chuyện cho đến sau khi dùng cà-phê.»

Vẻ mặt ông tức thời tươi lên và lần đầu tiên tôi thấy có sự ấm áp trong giọng nói của ông.

«Tôi cũng mong muốn vậy. Trong cái nghề của chúng ta, muốn yên nghỉ thật là khó khăn và đôi khi nguy hiểm nữa. Vả lại bản chất tôi vốn là cô

độc và tôi chưa bao giờ biết nói chuyện dễ dàng cả. »

«Thôi, xin Tông-thống! Tôi chẳng bao giờ dám nói là ngài thiếu hùng biện cả? »

Nghe tôi nói vậy, ông cười lên tiếng và băng giá cũng tan luôn. Ông bắt đầu nói, mới đầu còn ngập ngừng rồi sau thao thao và sống động, về những ngày còn là sinh viên ở Ba Lê, những ngày tự lưu đầy ở Hoa-kỳ và đời sống của ông trong một gia-đình quan lại cổ khi còn nhỏ. Ông không thiếu óc khôi hài nhưng óc khôi hài ấy có tính cách đối chọi và đôi khi châm chọc nữa óc khôi hài của một người nhìn thấy nhiều ác ý hơn là điên rồ trong tấn hài kịch của loài người và it phẩm giá hơn là sự thoái hóa trong tấn bi kịch của điều kiện làm người. Òng thiếu sự nồng nhiệt nên không thể là một người không tưởng, nhưng ông là một nhà quan sát người rất giỏi và cũng là một nhà nghiên cứu thời cuộc rất am hiểu. Về đàn bà, ông tự nhận một cách đáng thương là không biết gì và tôi đoán chừng là ông sợ đàn bà. Ông có thái độ lạnh lùng phủ nhận sắc dục quá độ của người không chịu lấy vợ và thật dễ hiểu rằng thái độ ấy không làm cho ông thân thiết được với người Á-Đông, những người đã tự lâu đời dễ dãi với những liên hệ sắc dục và lấy sự khỏe mạnh về sắc dục của ông vua, ông chúa làm điều vinh dự của toàn dân. Bữa cơm ông thết tôi thật ngon; các rượu uống tuyệt hảo; nhưng tôi để ý thấy ông ăn rất ít và không uống chút rượu nào. Tuy nhiên điều làm tôi ngạc nhiên nhất là ông đã làm dấu thánh giá một cách khá tự nhiên và đọc kinh trước khi ăn. Khuynh hướng tòn giáo của cá tính ông làm tôi chú ý và tôi cố gắng làm ông nói ra bằng cách gợi những kinh nghiệm của tôi trong đạo Zen. Òng hỏi tôi một cách sát sạt và tỏ ra có một sự hiểu biết rộng rãi và chính xác về những hiện tượng soi sáng tâm linh trong các tôn giáo Đông và Tây. Ông nói thêm, một cách đáng buồn, rằn  ông chưa bao giờ cảm thấy cần phải đi tìm những kinh nghiệm tương tự. Rồi ông nói một điều làm tôi vô cùng chú ý.

« … Đó là vấn đề trạng thái tinh thần, thưa ông Đại-sứ và mức độ bất  mãn mà cá nhân cảm thấy với chính mình hay với khung cảnh xã hội mà mình là thành phần. Chẳng hạn như người Ấn-độ có tinh thần nồng nhiệt hơn là người Trung-hoa. Hắn phải sống trong một chế độ giai cấp cách biệt một cách cứng nhắc và võ đoán, trong khi xã hội Trung-hoa tùy thuộc vào sự liên tục tự nhiên của gia đình. Thế nên ở Ấn-độ ông thấy tôn giáo thần bí và siêu hình được khai triển, mà kết quả là sự gạn lọc cùng cực của Phật-giáo nguyên thủy.

«Điểm chính yếu ở Trung-hoa là tính chất thuần túy thực dụng của đạo Khổng. Bên Nhật thì tổ chức xã hội cứng rắn và phức tạp hơn cho nên có

những áp lực đối với cả nhân mãnh liệt hơn. Do đó, ông lại thấy ở bên ấy một sự gạn lọc cùng cực của tình cảm, cả nghệ thuật lẫn tôn giáo. Người

Việt-nam chúng tôi giống người Trung-hoa nhiều hơn; thế nên, với chúng tôi Phật giáo thuần túy đã thoái hóa thành một sự pha trộn của tôn-giáo

bình dân với lễ nghi của phái Đại-thừa, trong khi đó thì Thiên-chúa-giáo của chúng tôi ngả về một hình thức quá La-tinh. Chính tôi ít cỏ cảm tình với tính chất đơn giản trực giác của giáo điều mà lẽ ra tôi phải có nhiều. Bản chất tôi là một người Pharisee (1), một người theo thuyết Jensen (2) và ngay đến cái kỷ luật của lý trí và kinh nghiệm cũng không thay đổi được tôi nhiều … Người ta gọi tôi là nhà Đại-Thừa-Sai – nhưng muốn vậy phải là người có khuynh hướng tàn bạo và tôi đâu có tàn bạo».

« Thưa Tổng-thống, ngài thấy làm một người bao dung có khó khăn lắm không? »

«Không … không hẳn là khó khăn. Với tư cách riêng là một giáo dân Ki-tô, tôi rất sẵn sàng để cho mọi người tự hành tội mình theo cách mình muốn, nhưng trong đời sống công cộng-đặc biệt là trong đời sống công cộng ở Á-châu – ai cũng chỉ kính trọng người hùng mạnh mà thôi.»

(1) Tín đồ của một giáo phái Do-thái cổ xưa, rất mực tôn trọng luật lệ thành văn nhưng đồng thời cũng chấp nhận những luật lệ phép tắc cổ truyền.

(2) Nhà thần học người Hòa-lan, thế kỷ 17, tin tưởng ở thuyết tiền định và phủ nhận ý chí tự do.

«Như vậy thì người hùng mạnh cũng phải gắng làm cho mọi người yêu mến mình nữa chứ? »

Ông suy ngẫm về vấn đề ấy trong chốc lát đoạn ngập ngừng trả lời. «Đó là vấn đề cá nhân đối với tôi … Tôi luôn luôn cảnh giác về điều ấy …

Chính tôi không ưa người ta đụng chạm tôi và cái ý tưởng đi xoa đầu trẻ con trong làng và hôn hít các cô gái và các bà già quê mùa đối với tôi thực là xa lạ … Tôi biết rằng tôi có bổn phận làm thế. Nhưng không có tài nên tôi biết nếu có làm cũng vụng về lắm.»

Không biết lúc ấy ông là người thế nào nhưng chắc chắn ông không phải là một người cuồng tín và tôi chỉ còn biết kính phục ông đã tự bộc lộ bản chất mình một cách lương thiện. Ông cũng không phải là một người điên dại, mặc dầu sự tôn sùng lý trí theo kiểu Gô-loa của ông rất có thể sẽ phản lại ông, cũng như nó đã phản lại chính những người Gô-loa, bằng cách làm ông phạm phải những điều rồ dại tầy trời. Khi ăn xong, ông dẫn tôi tới một sân thượng nhìn xuống một khu vườn có tường cao vây kín. Trên tường có chăng giây thép gai và mỗi góc đều có chòi gác với người lính võ trang đứng, dáng đen xẫm và thê lương trên nền trời. Không khí ấm áp, yên tĩnh và đầy mùi hương hoa nhài. Cà-phê được dọn ra và một ly cô-nhắc đem tới cho tôi. Cung châm một điếu xì-gà hút, sự xa hoa đầu tiên tôi thấy ông dùng. Rồi ông ngồi ngả người về phía sau quan sát tôi qua những làn khói thuốc cuồn cuộn bay. Đôi mắt ông giờ đây như có màn che, vẻ mặt biến thành một thứ mặt nạ của ông vua học giả; giọng nói ông bỗng có những thanh sắc trịnh trọng, diều cợt của một ông quan.

«Thế là cuộc nghỉ ngơi ngắn của chúng ta đã chấm dứt, thưa ông Đại-sử. Chúng ta trở lại công việc thôi. Vị trí của chúng ta bây giờ ra sao?

«Nguy ngập lắm-cho cả hai chúng ta! »

«Vậy thì sao? »

«Vậy thì, thưa Tổng-thống, tôi sẽ trình ngài sự thật, có thế nào tôi xin nói thế. Với tư cách Đại-sứ của Hoa-kỳ, ngày mai đây tôi sẽ chuyển đạt lên ngài một văn thư chính thức phản kháng những lời buộc tội bất công và vô căn cứ mà ngài đã đưa ra chống lại nước tôi tại Quốc-hội. Tối nay đây, với tư cách riêng, tôi xin nói để ngài rõ là tôi không tán thành những sự trừng phạt mặc dầu tôi sẽ phải đưa ra nếu tôi được chỉ thị hoặc nếu tôi, cảm thấy buộc lòng phải làm như vậy. Tôi cũng xin nói để ngài rõ là tôi không tán thành sự vận động mới rồi ở Liên-hiệp-quốc và tôi nghĩ rằng ngài đã đối phó lại rất hay bằng cách mời mọc sự điều tra công khải … Nói như vậy để tôi cũng xin thưa với ngài rằng hồi chiều nay ngài đã đi quá xa.

Ngài tuyên bố những điều mà ngài sẽ thấy rằng rất khó mà rút lại được. Có thể là ngài đã làm thương tôn mối giao hảo giữa ngài và chúng tôi quá nhiều làm chúng tôi không bao giờ có thể hàn gắn lại được nữa. Tôi muốn hàn gắn mối giao hảo đó, xin ngài tin tôi! Tôi sẵn sàng cộng tác với ngài về mục  đích ấy. Nhưng ngài phải giúp tôi mới được.»

«Ông đề nghị tôi giúp bằng cách nào, ông Đại-sứ? »

«Tôi nghĩ ngài sẽ đồng ý rằng việc đó đòi hỏi một cử chỉ một cử chỉ của đôi bên và công khai, để cứu vẫn thể diện của chính phủ ngài và chính phủ tôi.»

«Cử chỉ là những điều nguy hiểm, thưa ông Đại-sứ. Mỗi cử chỉ là một ký hiệu mà ký hiệu đối với mỗi dân tộc đều có ý nghĩa khác nhau. Ở bên Mỹ, hôn nhau là sự chào hỏi thông thường. Ở bên Nhật một nước mà ông đã biết rõ nó lại là một sự công-xúc tu-sỉ. »

« Có vài cử chỉ mà tất cả chúng ta đều quen thuộc. Chẳng hạn như lòng tôn kính đối với người chết. »

« Xin đồng ý: Và ông đề nghị cử chỉ nào? »

« Ngày mai xác nhữug Thủy-quân Lục-chiến của chúng tôi và những chiến hữu Việt Nam của họ se được phi cơ đưa từ Đà Nẳng vào Saigon. Ở phi trường sẽ có một cuộc tiếp đón đầy đủ lễ nghi quân cách. Sau đó là lễ

mai táng, nghi thức tùy theo tôn giáo của mỗi người. Tôi xin yêu cầu ngài cùng tôi đến phi trường và cùng dự lễ mai táng. Làm như vậy, thì chúng ta cũng có thể mai táng công khai luôn những mâu thuẫn giữa hai bên.»

Ông mỉm một nụ cười mỏng manh với tôi và gật đầu ưng thuận. «Ông là một nhà ngoại giao giỏi đó, ông Đại-sứ. Tôi có lòng kính trọng ông lắm. »

«Thế là ngài đã ưng thuận? »

« Tôi đâu có nói thế. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải cứu xét rất kỹ lưỡng cái ý nghĩa của hành động công khai ấy và luôn cả những hậu quả của nó nữa. Trước hết, buổi lễ này sẽ do Bộ Tư-lệnh Quân-lực Hoa Kỳ tổ chức và điều khiển, có đúng không? »

« Đúng. »

« Nhưng đây là cuộc chiến của chúng tôi, đúng vậy không? Quân sĩ Hoa Kỳ đến đây với tư cách cố vấn chứ không phải chiến binh. »

« Dù ngài gọi là gì nữa, họ vẫn bị thiệt mạng như thường. »

« Nhưng đúng lý ra là chúng tôi có bổn phận phải tổ chức lễ nghi quân cách thay vì người Hoa-kỳ chứ?

« Thưa Tổng-thống, nếu ngài sẵn lòng tổ chức, tôi có thể nói là chúng tôi sẽ xin ưng thuận. »

«Nhưng giả thử tôi tổ chức lễ nghi đó rồi sao?»

«Thì thiên hạ sẽ hiểu đó là một cử chỉ đại lượng và xác nhận tình hữu nghị vững bền của chúng ta.»

«Ở Hoa-kỳ, thì có lẽ vày, vì dân chúng giầu tình cảm và dễ xúc động.  Nhưng ở đây, ông có biết điều gì sẽ xây ra không?»

«Điều gì vậy, thưa Tổng-thống?»

«Trong các làng mạc, trong các chợ búa ở thị thành, họ sẽ đem bàn tính ra. Họ sẽ đếm, bằng cách gầy những khoen gỗ-và chặc lưỡi nữa! Họ sẽ nói, ở Đà Nẵng có mười người Mỹ và hai người Việt chết thì Tổng-thống ông ấy làm lễ lớn và khóc ở đám táng. Còn ở Tân An có bốn mươi tám người Việt chết thì ông lại không thắp được lấy một nén hương cho họ … ông thấy không! Tổng Thống ông ấy là người Công giáo – ông là cái càng cùm kẹp cứng lấy chúng mình để chịu cảnh nô lệ ngoại bang.»

«Ngài có thật sự tin rằng điều ấy sẽ xẩy ra không?»

«Tôi biết lắm. Một vài ông tưởng của tôi sẽ làm cho điều ấy xảy ra. Các áo cà-sa vàng sẽ xầm xì về điều ấy từ nhà nọ sang nhà kia khi họ vác bát đi xin ăn. Bọn Việt-cộng sẽ in truyền đơn đi ném tại các thôn xóm ban đêm.»

«Nhưng ngài có thể trả lời được họ chứ?»

«Bằng cách nào?»

«Ngài hãy làm cho cử chỉ ấy được trọn vẹn. Ngài sẽ cùng tôi đi khắp trong nước. Dùng trực thăng bay từ ấp này qua ấp kia. Để cho họ nghe thấy tiếng ngài nói và cảm thấy sự hiện diện của ngài. Ngài có thể lấn át được tiếng xầm xì bàn tán và làm cho những kẻ âm mưu phải hổ thẹn!»

Trong một vài khoảnh khắc, tôi tưởng đã làm ông xiêu lòng. Ông ngồi đấy, đôi mắt hé mở, đầu rụt ngả trên ngực, đăm đăm nhìn ngọn xì-gà cháy đỏ rồi một cách từ tốn, ông ngửng đầu lên và nhìn tôi. Giọng nói ồng êm ái và đượm một vẻ ái ngại.

«Vậy mà ông vẫn chưa hiểu! Cái càng cua! Ông có biết ý nghĩa của nó như thế nào trong cái xứ này không, ông Đại-sứ ? Nó tượng trưng cho người ngoại bang bóc lột và thằng bù nhìn phục vụ cho quyền lợi của chúng. Cái kỷ ức của sự thống trị thực dân đã ăn sâu như cái gai đâm trong da thịt dân tộc chúng tôi. Tôi không thể cùng ông đi diễn hành trong một trực thăng Hoa-kỳ được. Nhưng nếu trực thăng là của tôi và ông là khách của tôi mời  ông thấy sự khác biệt chứ?

Bất kể tôi nhận sự giúp đỡ gì của ông, tôi vẫn phải luôn luôn tỏ ra độc lập mặc dầu là đối với ông dường như tôi có vẻ bướng bỉnh và bất chấp dư luận ngcại quốc. Không có cách nào khác để hy vọng bảo tồn được tự do, hòa bình và độc lập trong quốc gia này cả!»

«Vậy thì vì tình thương, thưa Tổng-thống, xin ngài đích thân đi với nhân viên của ngài! Xin ngài hãy đi đến các thôn ấp! Xin ngài hãy tự công bố chúng tôi là bạn chử không phải là kẻ thù của ngài. Ngài không thể cứ tiếp tục giam hãm mình một nơi như một nhà tu sắt đá nguyền rủa kẻ đem bánh đến cho mình trong khi kẻ thù tạo nên những truyền-kỳ để chế diễu mình!»

«Tôi không thể rời nơi này đi đâu được, ông Đại-sứ và ông cũng biết như vậy!»

«Lậy Chúa, tại sao không?»

« Bởi vì đây là trụ sở của chính phủ và nếu tôi rời khỏi, nơi này có thể nội trong một đêm rơi vào tay những kẻ phản nghịch và mưu phản.» Ông lấy bàn tay nhỏ nhắn chỉ các chòi canh và bóng đen của các lính canh. «Họ đứng đó không phải để làm cảnh đâu, thưa ông. Từ trước đến giờ đã có nhiều vụ mưu sát tôi và nhiều nỗ lực để àm mưu lật đổ tôi. Ngay trong

giờ phút chúng ta ngồi đây, có nhiều kẻ ở địa vị cao đã thề thốt trung thành với tôi, hiện đang âm mưu với nhạu. Ông phải biết rõ điều đó bởi vì các cuộc âm mưu hiện đang đươc tạo nên ngay trong tòa Đại-sứ của ông.»

« Thưa Tổng-thống, ngài không có quyền nói như vậy. »

« Tại sao không? Tôi đã cho công chúng rõ việc ấy rồi. » Ông ngồi thẳng người lại và cầm xì-gà xỉa vào ngực tôi. «Vậy thì được lắm! Tôi sẽ làm một cuộc mặc cả với ông. Ngày mai tôi sẽ dự đám tang với ông. Tôi sẽ cùng ông

đi khắp nước và tuyèn bố rằng chúng ta đã giải quyết xong các mâu thuẫn. Tôi sẽ cho thả những tên Phật-tử xách động và các sinh viên với một điều kiện!»

« Tôi xin nghe. »

« Là ông Harry Yaffa phải rời khỏi nước trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ.»

« Đó là một điều kiện không thể chấp nhận được. »

« Sao vậy? » « Bởi vì làm như vậy sẽ là công khai xác nhận rằng Hoa-kỳ đang âm mưu chống chính phủ. Nếu hôm nay ngài không đưa ra lời kết tội tại Quốc-hội thì tôi cũng có thể thu xếp cho Yaffa thuyên chuyển đi được. Nhưng giờ đây ngài đã làm cho điều ấy không thể thực hiện được! Tôi rất tiếc, rất lấy làm tiếc. »

«Tôi cũng rất lấy làm tiếc cho ông. Ông Đại-sứ.»

« Tại sao lại tiếc cho tôi?»

« Bởi vì, mặc dầu tôi mến ông rất nhiều và kính trọng kinh nghiệm của ông rất. nhiều, tôi thấy ông là một người không quả quyết. Tôi cũng nghĩ ông là một người rất đau khổ. Ông biết rõ sự thật, nhưng ông không dám chấp nhận những hậu quả của nó. Ông không thú nhận việc đó với tôi, không sao – đó là vấn đề ý tứ ngoại giao. Tối nay tôi đã gắng hết sức tự biểu lộ với ông một cách thành thật, tôi đã để ông thấy rõ những nhược điểm và sức mạnh của tôi. Tôi cho rằng ông cũng đã hiểu rõ. Nhưng ông chưa sẵn sàng chấp nhận – nói chi đến việc đánh cá theo những điều đó. Tôi rất hiểu rõ ông, òng Amberley. Ông là một người thông minh, trí thức. Sở dĩ tôi hấp dẫn ông là vì ông thấy tôi là một người lưu tâm đến những giá trị tâm linh, có làm lỗi nhưng lại đủ lương thiện để biết lỗi … Vậy mà mặc dầu biết thế, ông vẫn không muốn cho tôi một dấu hiệu tin tưởng hay tin cậy cá nhân nào. Ông nghi ngờ rằng tôi có thể có lý nhưng ông lại muốn duỗi ra trong trường hợp sai lầm. Ông giống như người đánh sóc đĩa lại muốn đặt luôn cả chẵn lẫn lẻ. Ông đòi hỏi một sự toàn bích không thể có được. Ông muốn một giải pháp đơn giản cho một vấn đề đã lâu đời và phức tạp. Ông không thể có được những thứ ấy trên thế gian này đâu. Ông muốn có một tên bù nhìn nhẩy múa

theo điệu nhạc của ông? Có ngày ông cũng sẽ tạo được cho ông một tên. Nhưng ông sẽ thấy rằng, cũng giống như thẳng Cuội, nó sẽ ăn gian nói dối và cái mũi đánh hơi lợi lộc của nó càng ngày càng dài ra. Ông gọi tôi là một nhà sư, một nhà tu kín. Có lẽ tôi như vậy thật. Nhưng tôi vẫn có một lương tri, mặc dầu nó không giống của ông, mặc dầu nó không mềm dẻo bằng lương tri của ông Harry Yaffa … »

« Thưa Tổng-thống, tôi có thể thưa với ngài một điều ngay bây giờ?»

« Ông là khách của tôi. Ông có quyền ăn nói tự do. »

« Vậy thì tôi xin phép thưa với ngài vài điều về Harry Yaffa. Tôi cũng chẳng ưa thích gì hắn. Tôi không thích nghề nghiệp hắn làm, nhưng đó là một nghề nghiệp mà tất cả chúng ta đều xử dụng bởi vì cần có nó. Trên phương diện cá nhân tôi thấy hắn thiếu cảm tình. Nhưng mặc dầu ngài hay tôi nghĩ gì về hắn, hắn đã giúp nước này một cách đắc lực. Không có hắn, chương trình ấp chiến lược của ngài có lẽ đã không tiến triển được xa bằng hiện nay. Ngài cũng không có được những toán Biệt kích Nùng hay những thuyền hải-tuần ở bờ Biển Đông. Không có những điệp viên của hắn ở Cam-bốt và Lào, ngài sẽ không thể kiểm soát nổi sự buôn lậu vũ khí trên sông Cửu Long … Còn điểm nữa, thưa Tổng-thống. Nếu có những âm mưu

chống lại ngài và tôi tin chắc rằng có thì đó là do chinh người Việt Nam. Nếu Ngài bị truất phế, ai sẽ nắm quyền lãnh đạo tại Dinh Gia-Long? Chắc chắn khòng phải là Harry Yaffa!

Ngài nói tôi đòi hỏi một sự toàn bích không thể có được trong mỗi giao hảo giữa chúng ta. Phải chăng là ngài cũng đang đồi hỏi một sự toàn bích cũng không thể có được như vậy? Ngài được võ  trang, nuôi dưỡng và trang bị bởi Hoa-kỳ, một nước mà nền chính trị vốn nhạy cảm với dư luận quần chúng nhất thế giới. Vậy mà ngài đã khiêu khích chúng tôi, chửi bới chúng tôi và kết tội chúng tòi là phản bội ngay giữa công chúng. Chửi cho xả hơi rồi ngài lại đòi hỏi các công dân của chúng tôi đưa cho ngài thêm tiền, thêm vũ khí!

Thưa Tổng-thống, ngài là người có lý trí! Nhưng chuyện ngài làm là sự điên khùng! Dẫu là Quốc hội của chúng tôi cũng không kiểm soát nổi một trăm tám mươi triệu dân. Ngài đang cần đến họ như thế mà ngài lại đi khiêu  khích họ như ngài đã làm hôm nay! »

«Liệu tôi có cần phải quỳ lậy họ không, ông Đai-sứ? Liệu tôi có cần phải ngả nón cầm tay đi xin như người ăn mày không, chỉ vì tôi đang giữ tuyến đầu cho Hoa-kỳ ở Á-châu? Tôi có bảy trăm triệu người Trung-hoa ở ngay cửa hậu nhà tôi! Tổi vẫn khiêu khích họ nhưng tôi vẫn còn đứng vững và chiến đấu cơ mà! Ông Đại-sứ, xin đừng quên đầu đuôi câu chuyện này. Chính là người Mỹ các ông đã đưa ra lời phản đối công khai đầu tiên về một hoàn cảnh mà các ông chỉ biết được có một nửa. Chính là các ông đã đưa ra sự đe dọa đầu tiên về những trừng phạt. Và đó là lỗi lầm lớn của các ông. Làm sao mà các ông có thể đe dọa nổi một kẻ đã vui lòng chịu chết?»

« Thưa Tổng-thống, như vậy có nghĩa là ngày mai sẽ không có sự hiện diện của ngài tại phi trường? »

«Tôi sẽ không đến, không thể đến được. Nhưng tôi sẽ cử ông Bộ-trưởng Ngoại-giao và nhân viên Bộ Tổng Tham-mưu đại diện cho tôi.»

« Ngài cũng không cùng tôi đi thăm viếng các khu vực quân sự nữa? »

« Còn Yaffa ở tại đây – thì không! »

« Ngài có sẽ chỉ thị cho thả các nhà sư và sinh viên đang bị giám giữ không? »

«Khi các cuộc điều tra của chúng tôi hoàn tất, mỗi trường hợp sẽ được tái xét tùy theo những dữ kiện của nó ».

« Với sự cam kết của thiện chí riêng cá nhân tôi và lòng mong muốn giải thích một cách thuận lợi cho ngài với Hoa-thịnh-đốn và với báo chí thế

giới – liệu ngài có cứu xét hay đưa một cử chỉ nào để hàn gắn sự sứt mẻ

đó? »

« Òng có đề nghị gì không? »

« Tôi nghĩ rằng nỏ phải xuất phát tự nơi ngài mới được, thưa Tổng-thống.»

« Trong lúc này tôi không thể đưa ra được điều gì. »

« Vậy là chúng ta lại lâm vào ngõ bí? »

« Đó là chính ông nói vậy, không phải tôi ».

« Vậy thì thưa Tổng-thống, tôi xin cáo biệt ngài. Xin cám ơn ngài đã cho ăn một bữa ngon ».

« Chào òng Đại-sứ. »

« Kính chào Tổng-thống. »

Lúc tôi bước ra khỏi Dinh đi vào đêm tối dầy đặc mây mù, sự khôi hài vĩ  đại của hoàn cảnh khi ấy làm tôi sững sờ. Khôi hài là hai người đã tỉnh ngộ vì tai họa lại có thể ngồi ăn cơm với nhau sần sàng để hàn gắn những mâu thuẫn và một tiếng đồng hồ sau lại có thể đầy nhau tới một cuộc cãi lý vô ích có thể làm thiệt mạng một triệu người và thay đổi hẳn lịch sử của những bán đảo Á-châu. Tôi giận dữ một cách cay đắng và buồn thảm. Càng nghĩ tôi lại càng thấy lời Cung phê phán về tôi như một lời chửi rủa có tính toán. Tôi có thể chấp nhận Muso Soseki chửi tôi bởi ông là thầy tôi về đường học đạo giải thoát, nhưng nghe con người ấy chửi tôi quả là một sự trắng trợn không thể tha thứ được và tôi không chịu nghe chửi như vậy. Với trạng thái tâm hồn đen tối như vậy tôi về tới tòa Đại-sứ và đọc một bức điện văn then chốt gửi Festhammer:

TỐI NAY TỔI ĐÃ DÙNG CƠM VỚI TỔNG THỐNG CUNG VÀ ĐƯA RA LỜI PHẨN ĐỐI MÃNH LIỆT VỀ BÀI DIỄN VĂN QUỐC HỘI-ĐÃ

ĐỀ NGHỊ CỬ CHỈ HÒA GIẢI ĐẦU TIÊN LÀ ÔNG HIỆN DIỆN ĐÁM TÁNG NHÂN VIÊN PHI HÀNH TRỰC THĂNG HOA-KỲ NGÀY MAI VÀ SAU ĐÓ CÙNG TÔI THĂM VIẾNG CÁC CHIẾN TRƯỜNG. TÔI ĐÃ ĐỀ NGHỊ HỢP TÁC HOÀN TOÀN ĐỀ TÁI THIẾT LẬP GIAO HẢO VÀ CỨU VÃN ĐƯỢC THẺ DIỆN CHO ÔNG VỚI BÁO CHÍ. ÔNG KHƯỚC TỪ NHƯỢNG BỘ ĐIỀM NÀY HAY BẤT CỨ ĐIỂM NÀO KHÁC. DO ĐÓ TÔI ĐỀ NGHỊ XỬ DỤNG QUYỀN LỰC DÀNH CHO TÔI VÀ CẮT ĐỨT MỌI VIỆN TRỢ KỀ TỪ 1200 GIỜ THỨ TƯ MÙNG CHÍN – ĐANG CHỈ THỊ TOLLIVER CHUÂN BỊ RÚT LUI NHÂN VIỀN

QUÂN SỰ ĐỢT ĐẦU – BÁO CÁO ĐẦY DỦ GỬI SAU – AMBERLEY.

Tôi kêu điện thoại cho Đại-tướng Tolliver và báo cho ông biết tin. Ông lầm bầm một cách không vui sướng và cho tôi một mẫu tin khác cho ngày làm việc của tôi được trọn vẹn: nhân viên của Phái bộ Quân sự Úc ở miền núi phía Bắc đã biết được danh tính của hai tiểu đoàn Việt-cộng mới và một tiểu đoàn khác đã được truy danh tính một cách chắc chắn do cuộc thẩm vấn tù binh sau trận Tân-an. Bác Hồ và đại kế-hoạch-gia quân sự của ông là Đại tướng Giáp đang triệt để lợi dụng các sự xáo trộn ở miền Nam và hoạt động đại quy mô của Việt-cộng có thể sắp xẩy ra ở khắp các khu vực. Tôi bảo Tolliver tôi muốn đi viếng thăm ngay các khu vực chiến trường. Điều đó lại làm ông kém vui hơn và ông đã mất mười phút tả cho tôi nghe các sự nguy hiểm. Tôi để ông nói xong rồi bảo ông tôi cần phải đi, dù chỉ đề cho Cung tiêu hóa xong liều thuốc của ông ta và suy nghĩ về một sự thay đổi lòng đạ.

Sau đó tôi trở về nhà rièng và thấyAnne Beldon đang thù tạc Harry Yaffa ăn trễ với cà-phê và bánh ngọt. Tôi cảm thấy nhói lên một nỗi ghen tuông khi thấy cảnh thân thuộc ấy và cũng do sự yếu đuối, tôi yêu cầu Anne ngồi lại

và ghi chép về cuộc thảo luận giữa chúng tôi.

Yaffa cũng đã gặp phải nhiều rắc rối. Luận điệu thách đố của bài diễn văn Cung đọc tại Quốc-hội đã làm cho những người âm mưu khiếp sợ. Họ tin rằng đó là dấu hiệu ông đã thắng trận ngoại giao với Hoa-kỳ và tự thấy mình đủ vững mạnh để đứng một mình. Ngoài ra cũng có những tin bị tiết lộ và cả phản bội trong hàng ngũ của họ nữa. Đã có nhiều viên chức cao cấp bị công an canh chừng công khai. Hai tướng lãnh trong chức vụ chỉ huy đơn vị đã bị thuyên chuyển về Saigon giữ chức vụ hành chánh để bị đặt trong tình trạng bất động và hết liên lạc với đơn vị của họ. Tựu chung là nếu muốn phong trào chống đối khỏi tan rã thì nhóm người âm mưu sẽ cần phải có một dấu hiệu rõ rệt và chắc chắn về sự ủng hộ của chúng ta.

Sự tin tưởng của chính Yaffa dường như đã tan biến mất, kể cũng lạ. Hắn nóng nẩy và thiếu thoải mái, tựa hồ như tất cả bài toán kỹ lưỡng của hắn đã trở thành vô nghiệm. Hắn tươi lên đôi chút khi tôi cho hắn biết rằng các sự trừng phạt sẽ được thi hành trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Tôi cũng kể cho hắn nghe việc Cung đã đòi  ỏi trục xuất hắn khỏi xứ và tôi đã khước từ. Nghe vậy, hắn gần như vui vẻ trở lại và nói với tôi rằng sự chấp thuận của cá nhân tôi đối với hắn rất quan trọng. Tôi thì tôi thầm nghĩ rằng việc đó chẳng đáng giá non vàng núi bạc gì nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận sự giả tạo đó bao lâu nó còn thuận lợi cho những mục đích của tôi.

Rồi bởi vì tôi vẫn còn tức giận với chính tôi và với Cung nên tôi đột ngột quyết định một việc khác.

« Anh Yaffa, tôi sẽ cho anh biết chuyện này và cô Beldon sẽ ghi chép lại. Anh với tôi mỗi người sẽ có một bản và tôi sẽ gửi một bản về Hoa-thịnh-đốn. Nếu tôi nói không được rõ, xin anh cho tôi biết và tôi sẽ sửa đổi lại bản văn theo ý anh nhưng một khi đã thành giấy trắng mực đen tôi muốn anh triệt để làm theo trong những giới hạn của nhiệm vụ giao phó. Nếu anh đi ra ngoài những giới hạn ấy, anh sẽ chịu trách nhiệm với tôi. Rõ chưa? »

« Thưa rất rõ, ông Đại-sứ. »

« Được! Cô Anne, chúng bắt đầu từ đây!

Trong lúc này rõ rệt là Tổng-thống Cung không có ý định thay đổi thái độ đối với Phật giáo. Cũng rõ rệt là ông sẽ không rút lại những lời tuyên bố đầy chủ ý và phá hoại tại Quốc hội. Bây giờ phải chờ xem ông có thay đổi thải độ hay không sau khi chúng ta cưỡng bách những sự trừng phạt. Nếu ông không thay đổi, có lẽ chúng ta phải cứu xét việc có thể yểm trợ một chính phủ khác có khả năng hơn để thống nhất đất nước và điều khiển chiến tranh … »

« Được không, anh Yaffa? »

« Được » Harry Yaffa nói.

« Bởi vậy, với tư cách Đại sứ Hoa Kỳ, tôi sẵn sàng cho phép sự tiếp xúc và tham khảo ý kiến với những người nào tỏ ra có thiện chí và khả năng thành lập một chính phủ thay thế nếu và khi nào thấy cần thiết. Tuy nhiên tôi không thuận việc chính thức hay mặc nhiên chấp thuận bất cứ hành động nào để lật đổ chế độ hiện tại chừng nào tôi chưa có đầy đủ tin tức về những

nhân vật tham gia và những phương pháp họ dự định xử dụng và chừng nào tôi chưa được Hoa-thịnh-đốn ưng thuận … »

« Được » Harry Yaffa nói.

« Tòi ủy thác cho ông Harry Yaffa nói rõ cho các người mà ông tiếp xúc biết rằng bất cứ trong trường hợp nào chúng tôi cũng không thể chấp

thuận một vụ ám sát chính trị. Tôi cũng ủy thác ông đòi hỏi cho được sự cam kết rằng trong trường họp có cuộc đảo chánh mà mặc dầu chúng tôi đã mặc nhiên ưng thuận, cá nhân của Tổng-thống Cung và nhân viên Nội-các của ông sẽ phải được bảo vệ … Ông Yaffa đã cho tôi biết rằng mặc dù có sự cam kết ấy, ông cũng không thể đích thân đảm bảo sự cam kết ấy sẽ được tôn trọng. Đó là một sự thoái thác hợp lý, nhưng điều đó không cho phép ông phủ nhận nhiệm vụ hết sức nỗ lực thi hành chính sách của chúng ta trong vấn đề này … Như vậy có được công bằng không, anh Yaffa? »

« Thưa ông Đại-sứ, theo ý tôi không thể gọi là công bằng được, nhưng tôi sẽ chấp nhận. »

« Sau hết, sự chấp nhận của chúng ta đối với bất cứ hành động nào nhằm truất phế chính phủ Cung sẽ được gọi bằng một ám danh, thỏa thuận trước giữa ông Yaffa và tôi. Chừng nào chưa có ám danh đó, Hoa Kỳ không thể

bị coi là đã cam kết ung hộ một chế độ mới …

Cô Anne, đây là một tài liệu Mật và các nơi nhận chỉ có tôi, ông Yaffa và Hoa-thịnh-đốn mà thôi.»

« Xin cám ơn ông Đại – sứ », Harry Yaffa nói với sự ưng thuận nhẹ nhõm. « Đó là một bước tiến trong hướng đi đúng – và ít nhất thì tôi cũng không còn hành động đơn độc nữa. Khi nào ông sẵn sàng tiếp chuyện với các tướng lãnh, xin cho tôi biết để tôi dàn xếp các cuộc gặp gỡ. »

« Tôi dự tính rời khỏi Saigon vài ngày để quan sát tình hình chiến sự. Nếu có người nào anh muốn tôi gặp trong các cuộc du hành, anh làm ơn cho tôi

biết. »

«Thưa ông Đại sứ, ngày mai ông có thể gặp một người, nếu ông muốn. Tên người đó là Trung-tướng Trân-hưng-Đạo. Ông ta sẽ đại diện cho Quân đội tại đám táng sáng mai. Đại-tướng Tolliver có lẽ sẽ mời ông ta về Bộ Tư-lệnh uống rượu sau buổi lễ. Hiện nay ông ta giữ chức vụ Phụ tá Tham mưu – trưởng, nghĩa là theo đường lối cai trị của Cung, chẳng có nghĩa lý gì cả. »

« Mình có thể tin ông ta được không, anh Yaffa? »

« Thưa ông, mình nên nói thế này thì hơn. Địa-vị của ông ta trong chính quyền rất là bất trắc. Ông đang tìm một sự thay đổi. Ông cho rằng chúng ta là những người có thể cho ông một cơ hội tốt. Sau đó thì ông chỉ việc lựa lời nói, tùy ý. »

Khi hắn đã đi khỏi, với sự hăng hái và tin tưởng một lần nữa, Anne Beldon ngỏ ý pha cà-phê mới cho tôi nhưng tôi tự rót một ly whisky uống rồi bắt đầu đọc cho nàng ghi lại bản tóm lược cuộc đối thoại giữa Cung và tôi.

Đã lâu năm hành sự trong ngành, tôi có một trí nhớ rất tốt về các lời nói và nhận biết rất tinh tường các nhịp điệu và uẩn ý của lời nói. Do đó, khi tôi chắp nối lại cuộc đàm thoại để ghi tốc ký, tôi tự thấy bắt buộc phải kết luận một cách khác hẳn cải kết luận đã đưa đến việc gửi công điện cho Festhammer và cam kết một cách nguy hiểm với Harry Yaffa.

Dĩ nhiên là tôi có thể biện minh cho hai hành động trên và không ai dám nghi ngờ sự phê phán của tôi được. Tôi là một người luôn luôn sẵn sàng

có mặt – con người đầy kinh nghiệm và liêm khiết, nhà thương thuyết lịch thiệp không bao giờ để tính tình lấn phần hơn trong sự phê phán. Nhưng trong cái giờ cuối cùng của một ngày đầy tai họa ấy, tôi biết là tôi đã tự

lừa dối tôi. Tôi đã làm một cuộc giải đoán cứu vãn được sự kiêu ngạo của tôi và kết tội tôi là đã gian lận. Cung đâu có chửi rủa tôi; tôi mới đích thực là kẻ bất định, kẻ không dám đánh cá với sự thật mà mình đã nhìn thấy nhưng lại cố trốn tránh nó, với sự xử đoán hoạt đầu.

Phùng Văn Cung đã hết sức thành thật với tôi ông đã cho tôi thấy những khuyết điểm cá nhân và những điều khó xử trong công việc của ông. Ông đã yêu cầu tôi tin nơi ông, nhưng tôi đã đòi hỏi cho kỳ được ông phải rút lại lời

nói một cách công khai và ngay tức khắc nghĩa là một sự hành quyết công khai sẽ làm cho uy tín người lãnh đạo quốc gia của ông bị triệt hạ ngay. Ông đã không yêu cầu tôi biện minh cho những sự bất thiện toàn của ông mà chỉ xin tôi cố chịu đựng vì sợ có những lỗi lầm lớn hơn. Còn tôi? Tôi đã không chịu khó kiên nhẫn, tôi đã kêu gào đòi hành động và thay đổi mau lẹ. Tôi đã mưu toan làm một cuộc đảo chính của riêng tôi. Này, coi đây!

Tôi là kẻ lạ mặt mới đến, nhưng hãy coi tôi đã làm được trò lạ gì! Một con thỏ trắng, hai con bồ câu còn sống, một khăn quàng cổ, một chùm nho, một màng trinh và một phép mầu một nhà độc tài đã cải hóa khôn ngoan hơn cả Thánh Thần!

Bản văn tôi chưa đọc xong nhưng lời lẽ đã như phèn chua trên đầu lưỡi nên tôi uống luôn thêm hai ly whisky nữa để cho trôi cái vị ấy đi. Nhưng đầu tôi thì đặc những bông gòn còn đôi bàn tay thì run rẩy. Rượu và một ý nghĩ khác chợt đến làm tôi choáng váng. Tôi đã yêu cầu ông Cung rút lại lời tuyên bố tại Quốc-hội. Nhưng làm sao mà tổi rút lại được những lời giả trá tế nhị mà tôi đã gửi về Hoa-thịnh-đốn? Sau cùng Anne Beldon gấp cuốn tập lại và khẽ nói: «Ông Đại-sứ, ông nên đi nghỉ. Ông đã làm việc mệt nhọc suốt ngày và còn ngày mai nữa».

«Tại sao lại ngủ để đùa với ác mộng? »

«Nếu ông muốn, tôi sẽ lấy cho ông một viên thuốc ngủ».

«Tôi không bao giờ dùng thuốc ngủ cả. Tôi đã uống một lần và thấy cứ muốn uống thêm, thật dễ sợ. Tôi muốn đi dạo một chút. »

Nàng cười một cách bao dung và lắc đầu. «Có chỗ nào mà đi. Thành phố thì đang thiết quân luật. Đi chưa được một trăm thước có lẽ ông đã bị lính bắn rồi.»

« Còn khu vườn. »

« Ông sẽ làm cho hệ thống báo động kêu lên. »

« Đó là một ý tưởng hay ho! Một khu vườn là một vật đáng yêu, Thượng-Đế dậy như vậy! Đặc biệt là khi mình trồng toàn giây bẫy và mắt quang điện … Cô có cho rằng có một con chim cu trong vườn không? »

« Một con chim cu? »

« Đó là một câu đố, cô Anne. Tối nay tôi đã tìm thấy câu trả lời … Xin lỗi đã giữ cô lại quá khuya. Thôi chúng ta đi nghỉ. »

Xuống dưới chân cầu thang tôi loạng choạng suýt ngã và nàng đưa một bàn tay ra để giữ cho tôi đứng vững. Tôi cẩn thận không dám đụng vào người nàng vì ngày mai đây tôi lại phải trở thành ông Đại-sứ ..

Đám táng của những nhân viên phi hành trực thăng là một vở kịch đáng chú ý về mọi mặt. Tôi là một diễn viên trong vở kịch đó và tôi hết lòng ngợi khen sự đạo diễn của Đại-tướng Tolliver. Đúng mười giờ ba mươi phút, tôi phải rời tòa Đại-sứ với các thuộc viên và vị tùy viên quân sự của tôi. Tôi sẽ tới phi trường lúc mười giờ năm mươi và đi duyệt toán lính chào danh dự tại sân bay. Mười một giờ chiếc phi cơ vận tải sẽ đáp xuống và quan tài sẽ được khiêng ra. Một vị tuyên úy quân đội sẽ đọc lời Tiễn biệt. Tôi sẽ đọc một bài diễn văn ngắn nhân danh Tổng-thống Hoa-kỳ rồi sau đó cùng ngồi với Đại-tướng Tolliver trong đoàn xe đi về nghĩa trang.

Tuy nhiên cũng giống như chuyện thường hay xảy ra trong kịch trường, cái tấn tuồng ở hậu trường còn có ý nghĩa nhiều hơn là cái tấn tuồng diễn trước ánh đèn sân khấu. Lúc chín giờ rưỡi, Mel Adams báo tin cho tôi biết rằng ông Bộ trưởng Ngoại-giao Việt Nam sẽ không có mặt tại buổi lễ ở phi trường. Ông đã bị đau bất thần đêm qua và bác sĩ bắt ông nằm nghỉ. Ông ta cho gửi tới lời thành thật cáo lỗi và những cảm tình chân thật. Vì khòng thấy nói có ai thay thế, nên rõ ràng là tất cả Bộ Ngoại-giao chắc cũng đang mắc phải cùng chứng bệnh trúng-thực ngoại-giao đó.

Chín giờ bốn mươi lăm Đại-tướng Tolliver kêu điện thoại cho tôi hay rằng vị tư-lệnh địa-phương tại Đà-nằng đã thu nhận xác chết của đoàn viên phi hành người Việt và ông đã được lệnh đem chôn cất họ tại Đà-nẵng với lễ nghi tối thiểu.

Nào đã hết đâu. Toán lính chào danh dự Việt Nam cho cuộc tiếp đón tại phi trường đã bị rút về và các đại diện chính thức của Việt Nam Cộng hòa chỉ còn có vị Phụ-tá Tham-mưu-trưởng và sĩ quan tùy viên của ông.

Tất cả chuyện đó rất là Á-đông tính và rất là hữu hiệu. Đùng một cái chúng tôi bị cô lập với dân chúng, với chiến tranh và với các chiến hữu của chúng tôi. Phương vị của chúng tôi được qui định còn chính xác hơn là bất cứ hiệp ước nào. Chúng tôi là những chủ nhà băng, những người tiếp tế vật liệu, những cố vấn quân sự. Những sự tổn thất của chúng tôi thật là đáng tiếc nhưng chỉ là một biến cố nhỏ trong cuộc đấu tranh đến mất còn của một quốc gia. Nếu chúng tôi muốn làm vụ chết chóc này thành một thứ bi kịch, thì đó là việc riêng của chúng tôi. Đại-tướng Tolliver rất giận dữ, mà giận dữ là phải. Còn riêng tôi, tôi dung dưỡng một sự đắc ý thầm kín. Thế là đã có sự biện minh cho hành động chính trị của tôi, nếu không phải là sự giải thoát đích thực cho lương tri bất an của tòi. Vậy mà khi tôi đứng trên sân bay nhìn chiếc phi cơ đồ sộ giãi dầu phong sương từ từ đỗ lại, tôi cảm thấy mủi lòng không cầm nổi nước mắt vì sự đơn giản tàn nhẫn của giờ khắc ấy.

Có tất cả thẩy mười chiếc quan tài bằng gỗ rừng xấu do thợ quê đóng. Đó là những tấm áo quan mộc. khòng có sơn dầu, khòng chạm trổ, trên mỗi nắp ván đều có một tên người và số quân khắc vào gỗ bẳng sắt nung đỏ. Quan tài được khiêng từ phi cơ xuống trên vai những người trai trẻ lỳ lợm, mặt mũi lởm chởm những râu ria như những anh hùng của một chuyện truyền-kỳ bạo động cổ xưa.Bọn lính đứng chờ để tiếp đón quan tài trông gọn gàng và sạch sẽ, vũ khí của họ sáng loáng trong ánh nắng buổi sáng. Nhưng những chàng trai trẻ đều mặc chiến phục và đồ trang bị bằng da và vải, súng lục đeo bên hông và dao găm giắt cao trên ngực. Má họ xương xẩu. mầu da xạm đen vì nắng và sốt rét rừng; mắt họ trông thiếu ngủ và buồn thảm. Họ bước đi một cách chậm rãi và hiên ngang có vẻ ngạo mạn đối với những kẻ đến viếng chào chiến hữu của họ một cách muộn trễ. Giữa hàng lính dàn chào có mười cỗ xe kéo đại bác, đứng cạnh mỗi cỗ xe là một trung-sĩ người da đen. Bọn người trai trẻ đặt những quan tài trên lòng các cỗ xe và những người trung-sĩ da đen trải lên mỗi quan tài một lá cờ Hoa Kỳ. Sau đó bọn người trai trẻ sắp hàng bốn người mỗi bên một chiếc quan tài như thể họ xác nhận quyền sở hữu đối với những người chết của họ. Máy quay phim kêu xè xè, các nhiếp ảnh viên chạy đi chạy lại một cách hỗn xấc trong khi vị tuyên úy tiến lên để đọc kinh Tiễn biệt. Tôi không nghe thấy những lời ông đọc vì tôi còn đang mải sắp đặt những lời nói của tôi và đồng thời phấn đấu với một tội lỗi nhói bén về sự giả nhân nghĩa của tôi.

Những người trai trẻ đã chết một cách hung bạo và sẽ được chôn cất ở đất khách quê người với tiếng súng và tiếng kèn. Đó là những người trai trẻ! Không phải là tôi, không phải là Tolliver, không phải là Cung, không, phải là Harry Yaffa mà là những người trai trẻ, những người thừa kế của quá khứ, những người tạo nên tương lai, những người có thể sinh con đẻ cái, gây dựng vườn tược, mở những cánh cửa mới vào kiến thức, nhìn thấy những viễn ảnh trên vùng núi non mà chúng ta đui mù không thấy được. Giờ đây họ lại là những kẻ đui mù và bị đất bùn làm câm miệng. Chỉ còn có những loài sâu bọ sinh sống trên ruột gan họ và những đóa hoa miền nhiệt đới mọc dầy đặc trên trái tim họ … Chúng ta đã tổ chức canh xác đêm cho họ, nhưng những kẻ hoạt đầu chinh trị như tôi đã biến cuộc lễ đó thành một sự nhạo báng.

Tôi rất thành thạo trong lễ nghi và tôi đã chuẩn bị một bài diễn văn chững chạc và đơn giản ca ngợi những kẻ đã chết cho chính nghĩa cao đẹp. Bỗng nhiên tôi biết là tôi không thể đọc bài điếu văn ấy ra được. Nếu tôi cố gắng,

những lời nói sẽ làm tôi nghẹn thở mất. Cha tuyên úy cầu nguyện vừa xong và kêu tôi lên trước máy vi-àm. Tôi nghe thấy một giọng nói không phải của tôi đọc lên một bài diễn văn khác trong khi các bóng đèn flash nỏ lốp đốp và các phóng viên cắm cổ ghi chép.

« … Tôi lấy làm hổ thẹn ngày hôm nay. Tôi hỗ thẹn là vì chúng ta phải tự tay chôn cất lấy người chết của chúng ta, như những quân thù, trong một xứ mà chúng ta đã được mời đến với tư cách bạn hữu và đồng minh. Tôi hổ thẹn là vì đồng tiền chúng ta chi ra, phi cơ và võ khí chúng ta mang đến đây, dường như được quí trọng hơn là những người cầm súng chiến đấu và chết xa quê hương như vậy.,. Thật là điều đáng buồn và khủng khiếp đối với tôi khi thấy ngay giữa cuộc chiến tranh để tự tồn này lại còn có những sự xáo trộn trong dân chúng, những sự tranh chấp về tôn giáo và sự tàn bạo trong các xà lim của cảnh sát công an và những trại giam. Những điều đó là cả một sự nguyền rủa đõi với những người trong chúng ta đã chết đi và đối với các chiến hữu đã chết của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa mà chúng ta không được phép kính điếu ở đây hôm nay … Giờ đây họ không còn nói được nữa; họ trông cậy ở chúng ta nói lên cho họ. Vậy mà chúng ta cứ mất công thảo luận công khai và cãi cọ riêng tư, đưa ra những lời buộc tội nhau đã được dự tính để báo chí hàng hàng ngày đăng lên trang đầu. Tôi lấy làm hổ thẹn vì tôi, là người do Tổng-thống chúng ta đưa sang để đem lại hòa thuận và hiệp ý, thì lại dấn thân vào những sự rắc rối vô hiệu quả. Giờ đây, trước mặt những người đã khuất, tôi nguyện sẽ hết sức cố gắng để gột rửa sự tủi nhục đó. Tôi khẩn cầu những người đang cầm vận mệnh đất nước này hãy cùng tôi đạt lấy cứu cánh đó … Xin Thượng Đế giúp đỡ tất cả chúng ta! »

Khi tôi từ máy vi-âm bước xuống, Đại-tướng Tolliver thì thầm với tôi

« Thưa ông Đại-sứ, thật là tuyệt diệu. Đội ơn Chúa đã có kẻ dám có gan nói

lên sự thật cho bọn khốn nạn đó nghe! »

Ông đã không hiểu rõ tôi nói gì; hay nói cho đúng hơn, do một tiểu xảo tự dối mình của bản năng, tôi đã khước từ không nói rõ ra. Cung vẫn còn là kẻ gian. Tôi vẫn còn là người anh hung bạch y, không sợ một ai không ai dám phiền trách. Nhưng giờ đây nói ra điều tôi đã biết trong trái tim bí ẩn của tôi thì đã quả muộn: nghĩa là, mặc dầu những lời cao đẹp tôi thốt ra, mặc dầu đức hạnh của tôi dã bị xuyên tạc, tôi cũng là một kẻ khốn nạn như họ.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment