Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 14 Jan 2026


Vun Xới Thửa Vườn Văn Nghệ Y Khoa
HANS KILLIAN
DƯỚI MẮT THƯỢNG ĐẾ
(HINTER UNS STEHT NUR DER HERRGOTT)
Bản dịch của Nguyễn Vĩnh Đức và Nghiêm Sỹ Tuấn
Bài 14
VĂN SỢI NGƯỜI PHỤ-TÙNG
Thật cũng có phần đúng khi người ta nói các thẩm phán, luật sư và các y sĩ giải phẫu thường đứng trước cùng mộttình trạng lưỡng nan. Họ đã phần nào quyết định tính mệnh của đồng loại, nhưng sau đó, họ không bao giờ gặp lại bị can hay bệnh nhân. Thật rất hiếm khi họ được biết tin tức của những người mà số mệnh trong khoảng một, hai giờ, đã được phó thác trong tay họ. Và còn hiếm hơn nữa, những khi việc đời cứ kết thúc vui vẻ như trong truyện thần tiên như trường hợp bác phụ tá kế-toán Trần-Văn-Sợi.
*
Có lẽ chưa bao giờ tôi gặp một người “xám” như Trần Văn Sợi. Chưa đầy ba mươi tuổi mà tóc hắn đã chớm ngả xám màu muối tiêu. Áo tây xám, cà-vạt xám, sơ-mi xám, rồi giày xám, bí-tất xám, và đến nỗi dây đồng hồ trông cũng xám nốt. Hắn đến bệnh viện những mong trút hết mọi điều khổ não chất nặng trong lòng. Dáng người nhỏ thó, Văn-Sợi còn cố thu người lại như muốn mình phải nhỏ hơn nữa. Vừa vào là hắn bắt đầu kể ngay những chuỗi ngày thống khổ:
– Bẩm, thưa bác sĩ, bác sĩ hiểu cho, cháu chẳng bao giờ gặp may trên cõi đời này cả. Cháu chỉ là một thứ “người phụ tùng”. Đã thế, cháu lại mắc một thứ “bệnh phụ tùng” nữa; khổ lắm, bác-sĩ ạ, khổ lắm!
Tôi cố ngắt lời hắn để xem “bệnh phụ tùng” là bệnh gì, nhưng hình như hắn chẳng để ý đến và cứ tiếp-tục kể khổ.
– Bẩm, nói vô phép khi cháu đi đại tiện, ở hậu môn cứ có những cục phồng phồng nổi lên. Bẩm ra cả máu nữa ạ, mà cũng nhức nhối lắm ạ. Cháu không bao giờ có đủ can đảm đi bác sĩ khám bệnh – cháu bao giờ cũng sợ – ngay cả bây giờ, xin bác sĩ đại xá cho, cháu sợ cả bác sĩ nữa. Bẩm, cháu có đến bà mụ trong xóm, dạ … bà ấy đã xem những cục này rồi ạ … Bẩm, cháu ngượng lắm, ngượng vì phải để bà ấy xem nhưng cháu cứ bụng bảo dạ: người ta là bà mụ, người ta xem chán đi rồi. Khám xong, bà ấy bảo cháu:
“Này, ông Sợi này” – vâng chính thế, bà ấy gọi cháu bằng “ông” bẩm, ông vì … bác sĩ hiểu cho cháu chỉ là một thứ “người phụ tùng”, bà ấy bảo cháu: “Ông Sợi ạ, ông bị trĩ hạ đấy”. Rồi bà ấy cho cháu hai thứ thuốc – trong uống, ngoài xoa, bà ấy bảo thế – vâng, một thứ để uống, một để nhét vào … đằng sau! Chắc bác sĩ biết thừa rồi chứ ạ? Nhưng bẩm cũng chẳng ăn thua gì cả, vì cháu không thích dùng, nó lỉnh kỉnh lắm. Chấu cứ bụng bảo dạ: cẩn thận đấy, kẻo lợn lành chữa thành lợn què rồi tiền mất tật mang thì khốn!
Dạ, cũng vì thế mà bây giờ cháu vẫn bị trĩ, và cái “của nợ” này cứ chảy máu hoài. Bây giờ, vâng, bây giờ cháu mới tự nhủ chẳng lẽ cứ để mãi như thế ru? Có người đi đứt vì đau phổi thì chắc cháu cũng đến đi đứt vì mấy “cái ấy” mất thôi. Chỉ nhìn qua cái hậu môn của Văn-Sợi tôi cũng thấy là bà mụ nói đúng những cục “của nợ” trông thật “ớn” quá.
– Chắc chắn là trĩ hạ rồi, bác ạ. Phải lấy nó đi, nghĩa là phải mổ. Trĩ để lâu ngày quá, chỉ có mổ mới khỏi thôi.
Văn Sợi giật nẩy mình kinh hoảng:
– Bẩm, bác sĩ nói thật đấy ạ? Bẩm, không thể được, mà mổ làm sao được chứ! Bác sĩ cứ nhìn cháu, cháu gầy ốm thế này chỉ còn có “nửa người” thôi … một “người phụ tùng” mà!
Vốn còm cõi, nhỏ thó, cháu đã yếu sẵn mà bây giờ lại còn yếu hơn nữa là khác. Bẩm bác sĩ cứ tin cháu đi, mổ thì cháu chết mất, chỉ có đánh thuốc mê không cũng đi đời nhà ma rồi còn gì. Vâng, thật thế, bẩm, bác sĩ đừng mổ cháu. Cứ cho cháu mấy thứ thuốc như của bà mụ cũng được ạ, bác sĩ hiểu cho cháu không còn mặt mũi nào lại nhà bà ấy nữa. Hay bác sĩ làm ơn làm phúc liệu xem còn có cách khác không? Cháu cắn răng cắn cỏ lạy bác sĩ đừng mổ cháu, tội nghiệp!
Tôi phải cố gắng lắm mới nhịn được cười. Tôi nghiêm giọng nói:
_Bệnh này phải mổ, bắt buộc phải mổ. Nếu tôi để bác mãi như thế này, bác sẽ mất rất nhiều máu, rồi người yếu dần đi, nó lử đi, rồi bác kiệt sức mà chết. Muốn khỏi “của nợ” này chỉ có một cách là mổ!
Văn Sợi bàng hoàng ngả người xuống ghế. Nghĩ đến những viễn tưởng đen tối, hắn lầm bầm nói những lời khó hiểu. Muốn hắn khỏi nghĩ ngợi lung tung, tôi hỏi:
_Nhưng nay, sao lại “người phụ tùng”? “Người phụ tùng” là sao chứ?
Đôi mắt hắn lóe lên một tia hãnh diện, nhưng cũng đượm vẻ buồn:
– Bẩm, cháu đã sáng tác ra ba chữ ấy: “người phụ tùng” là một tên tầm thường, không quan trọng gì cả, một tên vô tích sự chẳng ai thèm để ý tới, -Bẩm, cháu muốn nói là chẳng có những chân quan trọng nào, những người mặt to tai lớn, bụng bệ vệ, vẻ đài các nào để ý tới. Bẩm bác sĩ, cháu làm chân phụ tá kế toán trong một hang lớn; cháu chuyên kê danh sách về lương bổng. Từ sáng đến chiều, cháu chỉ viết có chữ số, thành hàng thành lối, rồi cứ đến cuối trang là cháu cộng lại. Công việc không khó lắm, nên cháu làm được. Nhưng phiền một nỗi là công việc dễ quá, nên đồng lương ít ỏi lắm, chỉ đủ vắt mũi đút miệng thôi ạ. Mà cháu lại không biết việc gì khác, nên cả đời cháu chỉ là một anh ký quèn ngồi cạo giấy, cộng cộng trừ trừ cho đến già. Dạ, ông sếp cháu có khi cũng quên cả tên cháu. Cả tháng, ông ấy chỉ nói với cháu chừng một vài lần, mà lại gọi cháu là “bác Thừng” hay “bác Chão”. Bẩm bác sĩ, đối với ông ấy, cháu chỉ là một thứ người phụ tùng, ông ấy nhớ tên cháu làm gì cho mệt đến thân.
Văn-Sợi ngừng lại để thở dài, mặt buồn thiu.
Tôi an ủi:
– Việc gì mà bác phải để tâm đến điều nhỏ mọn ấy. Ông chủ sự nào mà chả như vua con.
Ông chủ sự của bác chắc cứ tưởng mình là Nã-phá-luân chứ gì? Tôi chắc thế nào các bạn bác …
– Dạ, không? Bác sĩ không biết, chứ họ cũng thế cả. Đối với họ, cháu cũng chỉ là một người phụ tùng. Họ sống cuộc đời khác hẳn cháu. Họ có vespa, máy ảnh, họ có bồ có bịch; chủ nhật ngày lễ, anh chị dẫn nhau đi xem xi-nê; có người lại thích đi coi tuồng cải lương. Còn cháu, tối cắp ô về chiếc nhà tôn nóng như lửa đốt,
bác sĩ biết cháu làm gì không? Bẩm, cháu chui vào giường, ngủ như chết … Có một lần, mùa hè năm ngoái, cháu cũng muốn làm như bọn họ. Chủ nhật hôm ấy, cháu đi xe đò về miền quê chơi. Bẩm, cũng kỳ lắm – đi thui thủi có một mình, trong khi thiên hạ, kẻ cặp kè bồ bịch, kẻ sum họp gia đình, có vợ có con. Dạ, cháu buồn, cháu tủi lắm! Rồi lúc trở về, xe đò trật bánh, vâng, họ lái ẩu lắm ạ! Một ông to lớn như hộ pháp ngã đè lên cháu, dẫm bẹp cả mấy ngón chân cháu. Bác sĩ thấy không: cái số cháu là “người phụ ùng” nó thế đấy! Bây giờ lại bị trĩ nữa. Thật đã buồn về trận mưa rào, lại đau về nỗi ào ào gió thu. Bác sĩ có thấy rõ cháu là “người phụ tùng” không?
-Không, bác cứ tưởng tượng thế đấy chứ! Trĩ hạ là bệnh thường, nhẹ thôi. Nhưng vì bác để lâu quá nên nó mới to đến thế đấy! Không thể tránh được, phải mồ bác ạ!
Tôi phải nhấn mạnh cho hắn nghe, bao nhiêu nỗi cực khổ đau đớn đang chờ hắn, nếu hắn cứ khăng khăng giữ mãi thứ “của nợ” này. Tôi còn giải thích cho hắn rằng mổ không có gì nguy hiểm cả. Rồi tôi bảo hắn: “Chí nam nhi ta có ngại gì!” Dần dần, nỗi lo âu tan như mây khói. Nửa giờ sau, tôi cho đưa hắn ra văn phòng làm thủ tục nhập viện.
Thế là Văn Sợi đã nằm trong khu của tôi, chờ ngày mổ. Rầu rĩ nhưng hắn an phận chờ đợi giây phút “khủng khiếp” của cuộc giải phẫu, định sẽ làm hai ngày sau. Ngày hôm ấy, khoảng mười một giờ sáng, trong phòng rửa tay cạnh phòng mồ, toán chúng tôi đang sửa soạn để giải phẫu tiếp. Tiết đại thử, trời oi bức như miền nhiệt đới. Thời gian đi chậm chạp đến sốt ruột. Chân tay rã rời; mồ hôi nhễ nhại làm những tấm tablier cao su dày dính cả vào da thịt. Đến cồn rửa tay, mọi khi mát rượi mà hôm nay cũng nóng như nước hâm.
Phòng mồ, xây nhô ra khỏi các phòng khác, lồng toàn kính. Các kiến trúc sư đã khôn ngoan đoán trước là đến tiết giữa hạ, ánh sáng mặt trời tụ trên lồng kính này, sẽ nóng như thiêu như đốt, nên đã đặt một hệ thống tưới nước chảy đều trên mái. Nhưng hệ thống tân kỳ này có một khuyết điểm lớn, là chưa bao giờ được áp dụng, thành thử chiếc lồng bằng kính này hóa ra một lò lửa. Không khí nóng bức, sặc mùi ê-te làm ta tưởng như phòng tắm hơi. Mát-tít dán cửa mềm đến nỗi chảy cả xuống gạch hoa, kết thành từng vùng nhỏ; đi ủng cao su dẫm phải, dính nhơm-nhớp. Dù phải làm việc trong những điều kiện tồi tệ này, chúng tôi đã mồ gần hết những trường hợp phải hoàn tất nội trong buổi sáng. Chỉ còn cuộc giải phẫu thứ bảy và cũng là cuối cùng – mổ trĩ hạ cho Trần-Văn-Sợi. Bệnh nhân đã được tắm mát, được sửa soạn đầy đủ, và đang nằm trên bàn mồ. Bỏ hết quần áo đi, trông hắn lại càng thêm gầy ốm – đúng là chỉ còn có “nửa người” như hắn đã tự ví.
Bệnh nhân yên lặng, hai mắt nhắm nghiền, hoàn toàn chịu đựng, phó thác thân phận cho số mệnh. Một anh phụ tá bắt đầu chụp thuốc mê. Tôi ngạc nhiên thấy Văn-Sợi rất bình thản; chắc hẳn đã quyết định sẽ tỏ ra biết điều. Từ nãy đến giờ, qua cửa sổ phòng rửa tay, tôi vẫn quan sát hắn. Tôi hỏi anh bạn đồng nghiệp:
– Thế nào, hắn ra sao?
– Ngủ rồi, ông bạn ngoan lắm!
Anh kết luận hơi vội vã. Có lẽ Văn Sợi chỉ chờ khi nghe những câu này là khởi sự. Hắn vùng mạnh, giãy giụa, làm bật tung cái đai da thắt ngang bụng; hắn giật mạnh hai tay bị buộc vào bàn, rồi nhảy xuống đất. Tinh ranh như cáo, hắn đã đánh lừa chúng tôi: đáng lẽ phải hít thật mạnh, hắn chỉ hít có ít khí mê thôi. Giờ đây, hắn đứng sừng sững, trần như nhộng, giữa một đám các cô y tá hốt hoảng. Tôi suýt bật cười khi thấy hắn, theo bản năng, làm dáng điệu của Vệ nữ đảo Milo: hai tay ngây thơ xòe ra che cái mà một người có giáo dục không bao giờ được để lộ ra. Bỗng hắn hét lớn:
– Không … Tôi không chịu mồ … Tôi không chịu mồ nữa đâu!
Anh chuyên viên thuốc mê, nắm lấy cánh tay hắn, cố thuyết phục, nhưng những lý lẽ nêu ra, dù hùng hồn đến đâu, cũng bằng thừa. Văn-Sợi không thèm nghe nữa, cứ gân cổ mà hét, càng hét giọng càng the thé:
– Tôi không chịu mổ đâu !… Không! Tôi không chịu mổ mà!
Khi tôi đến gần, Văn-Sợi nín bặt. Trong khoảnh khắc, hắn nhìn tôi, mặt đượm vẻ kinh hoàng, làm như tôi là một quái vật hay quỷ dạ-xoa đang đứng trước mặt hắn. Bỗng nhiên, nhanh như cắt, hắn đẩy anh chuyên viên thuốc mê ra, quay gót, phá vòng vây của các cô y-tá, chạy thục mạng ra cửa phòng; rồi sau đó mất dạng.
Đúng lúc ấy, trong hành lang, ông Y sĩ trưởng – tục danh là “giáo sư Charlot” đang đi tới, bên cạnh có cô thư-ký riêng tóc vàng, thân hình nẩy lửa. Ông thất kinh, há hốc mồm khi thấy một người vọt ra, ba chân bốn cẳng chạy trước, đằng sau rầm rộ cả một đoàn y-sĩ và y-tá giải phẫu đuổi theo. Giây phút kinh ngạc đã qua, ông lấy lại bình tĩnh ngay. Ông gắt cô thư ký là sao lại đứng đấy như trời trồng, rồi oang oang truyền lệnh đặt bệnh viện trong tình trạng giới nghiêm. Cô thư ký, mặt đỏ bừng, chạy vào văn phòng, gọi điện thoại báo cho tất cả các khu trong bệnh viện. Nhà thương bây giờ giống như một ổ kiến bị kẻ thù xâm nhập. Từ từng dưới đến từng thứ bốn, phòng nào cũng huyên náo ồn ào. Các bệnh nhân chẳng hiểu ất giáp gì, bắt đầu hoảng hốt. Có người tưởng nhà thương bị cháy, tuột khỏi giường tay còn quấn băng, bó bột, mà cũng lê đến tận cửa sồ, kêu cứu ầm ĩ. Ngoài đường, khách thấy bệnh viện huyên náo, tụ tập lại bàn tán: có kẻ lại đổ xô cả đến cồng chính. Thấy thế ông gác-dan nắm tay đập vỡ kính đèn hiệu và ấn nút điện thoại tự động đến sở cứu hỏa. Trong khi ấy, chúng tôi vẫn đuổi theo Văn-Sợi, biệt danh “người phụ tùng”. Hắn chạy bổ đến hành lang bên trái dẫn đến phòng phụ nữ C2. Chợt thấy một cánh cửa, hắn dừng lại, mở ra, nhảy vọt lên một cầu thang phụ. Hắn láu cá đáo để: bắt chước chiến thuật của những chú thỏ rừng, cứ thấy chỗ nào rẽ được là xông vào, theo kiểu chạy chữ chi. Nhưng chúng tôi đã thoáng thấy hắn chạy qua cửa đó, nên chúng tôi bén gót.
Dần dần, viện binh của chúng tôi đến đông thêm: những anh phụ tá, những người đến thăm bệnh, và cả vài bệnh nhân nữa. Trong đám bệnh nhân, có một ông cựu thượng sĩ. Thấy đuổi bắt, máu nhà binh của ông lại hăng say nổi dậy. Bao vây địch! Ông quản rành lắm mà! Đặt bản doanh ở một chỗ hiểm yếu, ông quản, rõ ra dáng chỉ huy, ra lệnh cho người này, cắt đặt cho người kia; thành thử đã rối loạn lại càng rối loạn thêm.
Văn-Sợi đã đến từng thứ bốn; hắn lẻn vào lối đi đến phòng chờ của bệnh nhân. Hắn lao mình đẩy hai cánh cửa, bổ nhào vào một chiếc xe lăn đựng đồ băng bó, làm đổ tứ tung nào lọ, nào bình, nào bông, gạc, nào kéo, kẹp … nhưng “ông nhộng” đã lóp ngóp bò dậy mà tiếp tục chạy. Cách đây mấy thước, bà sơ bề trên cố cản đường Văn-Sợi. Thấy danh dự bệnh viện tổn thương, bà can đảm xông tới dang tay chặn hắn lại. Nhưng cuối cùng, bà mất tinh thần, lại để hắn lách mình chạy thoát. Hắn lại rẽ nữa, nhưng hành lang này là ngõ cụt. Bấy giờ tiến thoái lưỡng nan hắn đành nhào vào một căn phòng nhỏ và đóng sầm cửa lại. Chúng tôi đến chỉ vừa đủ để nghe hắn vặn tách ổ khóa lại.
“Ông nhộng” đang ở trong nhà cầu dãy C6!”
Tin ấy loan đi, nhanh như lửa bắt mồi thuốc súng. Từ tứ phía, đổ xô lại: y sĩ, y tá, y công, các cô đầu bếp, rồi bệnh nhân, đến nỗi khoảng hành lang trước nơi “ẩn dật” này giống khung cảnh một nơi hội họp. Phen này thì anh bạn cợt nhả kỳ cục có chạy đằng giời – anh bạn hết phá trật tự trong cái nhà thương bình yên này nữa nhé! Nhưng chẳng lẽ cứ đứng canh gác pháo đài này mãi sao! Bà sơ Alice, tướng người phốp pháp, trông coi dãy này, bảo chúng tôi hãy im lặng để bà thương thuyết đình chiến qua cánh cửa. – Nào, ông Sợi ơi! Phải biết điều một tí chứ? Có ai làm gì ông đâu mà sợ, đừng sợ mà … mở khóa ra đi … mở khóa đi ông!
Văn Sợi không trả lời. Bà sơ Alice giơ hai tay tỏ dấu “xin chịu”, nhường chỗ cho bà y tá ở khu giải phẫu của tôi, bà có tiếng là lúc nào cũng trầm nghị và bình tĩnh.
– Thế nào, ông Sợi, ông định ở lỳ đến bao giờ đây? Suốt đời hả? Đừng làm thế! Kỳ lắm! Vả lại, ông thầy không bắt mổ nữa đâu. Có gì mà sợ chứ!
Vẫn không có tiếng trả lời. Trái lại, có tiếng xì xầm trong khán giả. “Giáo sư Charlot” vừa thở hổn hển vừa bước tới, có vẻ muốn đem quyền hành mình ra giải quyết phải trái. Ông hét lớn, sau khi đấm vào cửa một cái rầm:
– Có mở cửa ra không nào? Sao ông lại giở chứng ra thế này? Chắc ông tưởng thế là hay lắm hả? Tôi ra lệnh cho ông mở cửa ngay tức khắc, ông có nghe rõ không? Tôi cảnh cáo ông trước: tôi sẽ gọi Cảnh sát, rồi ông sẽ biết, lúc ấy đừng có trách nhé!
Lần này, Văn-Sợi không im lìm nữa. Hắn lên tiếng, nhưng không chiều theo ý của “giáo sư Charlot”:
– Tôi chẳng biết, chẳng biết gì hết. Nếu tôi không muốn mổ, các ông không thể đem tôi ra mổ được. Tôi có ưng chịu, các ông mới được mổ, có phải không đã? Vậy thì còn lâu tôi mới ưng! Còn mở cửa này à? Tôi đâu có đến nỗi ngu ngốc thế! Tôi sẽ không rời khỏi nơi đây; chờ các ông đi rồi, tôi mới chuồn lẹ chứ!
“Giáo-sư Charlot” giơ hai tay lên trời, quay lại gắt với tôi:
– Anh phải tính sao đi chứ! Làm sao thì làm, bệnh nhân này của anh mà.
Đến lượt tôi cũng thử thương thuyết, nhưng vì nể ông y-sĩ trưởng hơn là tin chắc thành công. Tôi cố lấy giọng thuyết phục:
– Bác Sợi ạ! Bác nghe tôi một tí. Bác cũng nhận là cái trò này chẳng đi đến đâu cả. Thật tình, tôi không tin là bác lại có thể làm những điều như vậy. Vì hôm kia đây, chúng ta vừa hàn huyên trang nhã, mà hôm nay bác đã làm loạn cả nhà thương lên. Đừng trẻ con nữa; ra đi, căn phòng này đâu có đủ tiện nghi. Ra đi, về giường mà nằm. Chắc bác đang mệt, tôi không mồ hôm nay đâu. Tôi hứa với bác, bác cứ tin tôi.
Văn-Sợi cất tiếng, giọng cương quyết:
– Bác sĩ đừng nhọc công vô-ích! Đúng, chúng ta đã nói chuyện với nhau thân mật vui vẻ; nhưng tôi đã nói với bác sĩ rồi mà: ngay đến cả bác sĩ tôi cũng sợ mà! Không, bác sĩ ạ, tôi … cháu chỉ ở đây một lát thôi. Căn phòng không đến nỗi tệ lắm đâu!
Làm sao bây giờ? Chỉ còn một giải-pháp: gọi ông thợ khóa. Ông này, miệng cười hô hố, tay xách đồ lề, khật khưỡng đi đến và chưa đầy một phút, khóa cửa đã bật tung. Mọi người nghển cổ nhìn. Cánh cửa vừa mở, một tràng cười rộ lên trong cử tọa: Văn-Sợi, trong y phục của ông A-đam ngồi trên nắp cái chậu xí, hai cẳng
bó sát trước bụng. Hắn run rẩy như một chiếc lá, vừa sợ vừa thẹn. Mọi người xô lại nói với hắn, kẻ mai mỉa, kẻ vỗ về an ủi. Nhưng biết mình trần như nhộng, Văn-Sợi không chịu đứng dậy. Bấy giờ, một bà nhà bếp to lớn, mạnh mẽ cả tinh thần lẫn thể xác, vội cởi cái tablier ra, quấn vào bụng hắn. Như vậy, Văn-Sợi che được phía trước người; còn phía sau dĩ nhiên cũng cần được che kín, nhưng trong lúc bối rối, hắn chưa kịp nghĩ đến chi tiết này. Chúng tôi vây quanh hắn, giáo sư Charlot bên trái, tôi bên phải, những người khác đi sau như một đám rước. Khi đoàn quân chiến thắng dẫn độ hắn về, xuống từng dưới, vừa bước vào hành lang có cửa sổ trông ra đường, tiếng ồn ào bỗng nổi lên làm chúng tôi giật nẩy mình: tiếng động cơ rồ lớn, nhịp với tiếng còi hú liên hồi. Tôi ghé nhìn qua cửa sổ, không giữ nổi tiếng kêu: “Lính cứu hỏa!” Chiếc thang lớn vừa lọt cửa nhà thương, rẽ về bên phải rồi dừng lại trước tòa nhà của chúng tôi, tiếng phanh kít, rồi bánh xe làm vung vãi cả đá sỏi lót lối đi. Những ông lính vòi rồng, đội mũ đồng bóng loáng, nhảy xuống đất, trải các ống nước ra rồi chạy ồ vào nhà. Hơi hoảng, tôi quay lại phía tù nhân của chúng tôi. Giáo sư Charlot, mặt tái đi vì tức giận, nắm lấy hai vai Văn-Sợi lắc lấy lắc để như người ta rung cây cho quả rụng xuống.
– Thật không thể tưởng tượng được! Thật là bêu riếu cho cái bệnh viện này! Ngày mai, cả tỉnh sẽ bàn tán, chê cười! Chắc ông cứ tưởng ông thông minh lắm đấy, nhưng ông quá quắt lắm, quá lắm!
Mấy ông lính cứu hỏa đã chạy lên cầu thang, dẫn đầu là ông đội trưởng cao lớn trượng phu, nhảy bốn bực một lúc. Khi thấy chúng tôi ông hỏi lớn:
– Đâu? Cháy ở đâu?
Giáo sư Charlot giơ ngón tay trỏ tố cáo Văn-Sợi:
– Đây, ông này đây, vì ông này mà nên cơ sự. Ông ta chạy cùng hết trong bộ y phục khiếm nhã này, làm náo loạn cả bệnh viện lên.
Văn-Sợi thực đang ở một tình trạng khó xử. Rõ ràng là hắn chỉ muốn độn thổ cho xong.
Tôi khẽ thích cùi chỏ vào hắn.
– Thế nào bác, bác còn than mãi mình chỉ là “người phụ tùng” nữa hay thôi? Tôi cho rằng trong tấn tuồng này, bác đóng vai chính đấy.
Hắn thở thật mạnh. Trên môi điểm một nụ cười, mới đầu còn bẽn lẽn, rồi càng lúc càng tươi, toe toét đến tận mang tai.
– Bẩm, thưa bác sĩ, chính vậy ạ. Hừ, nếu bác sĩ còn muốn mổ cháu, cháu xin ký cả hai tay.
Tôi vẫn muốn mổ lắm chứ. Cuộc giải phẫu nhỏ này tiếp diễn nhanh chóng, không một trở ngại nhỏ. Khi được chở về phòng nằm, Văn-Sợi còn ngủ rất say, chứng tỏ hắn hít thuốc mê hăng lắm. Mấy ngày sau, chúng tôi thấy một sự thay đổi kỳ lạ trong mọi cử chỉ của hắn. Từ một bệnh nhân lúc trước luôn luôn nép mình sợ sệt, bây giờ hắn lúc nào cũng đói, háu ăn, và tự tin đến làm kinh ngạc mọi người. Hắn vui vẻ, gặp ai cũng bắt chuyện. Điều phi thường hơn nữa, là hắn bắt đầu “lấy le”. Hắn đã nổi danh vì cuộc phiêu lưu vừa rồi. Các bệnh nhân khác, các y-tá và ngay cả các y-sĩ, đều đến nói chuyện với hắn. Ai cũng muốn xem tận mắt con người đã chạy rông khắp các hành lang trong bộ y phục A-đam và đã làm náo loạn cả nhà thương. Ai đến cũng bảo hắn kể lại kỳ công của hắn. Và mỗi lần kể, hắn lại thêu dệt thêm những chi tiết bịa đặt
thật ngông. Khi hắn từ giã bệnh viện, không ai có thể nhận được nơi con người vui vẻ cởi mở này, cái ông phụ tá kế toán đã lạy lục xin tôi đừng mổ. Khi đến chào các cô y-tá, hắn dùng dằng thật lâu, rồi hắn lại khen tặng tôi – dĩ nhiên theo kiểu của hắn.
– Bẩm, thật không chê vào đâu được, bác sĩ ạ. Bác sĩ giỏi thật. Để cháu mách các bạn đến đây chữa bác sĩ.
Ba tháng sau, tôi lại thấy Văn-Sợi đến. Hắn ngồi xe cứu thương đưa một người bị tai nạn xe cộ đến bệnh viện.
– Bẩm, thưa bác sĩ, anh bạn đáng thương này làm cùng sở. Ảnh bị gãy cẳng. Cháu nói với ảnh ngay: Ô! không sao đâu, bồ ơi! Tớ biết một ông đốc mát tay số dzách; ông ấy búng tay một cái là xong. Ông đốc số dzách ấy là bác sĩ đấy. Bác sĩ đừng từ chối nhá
– bác sĩ làm tử tế, cẩn thận hộ cho.
Trong khi bệnh nhân được đem đi chiếu điện, Văn-Sợi ghé vào tai tôi tâm sự:
– Bác sĩ ạ, kể cũng lạ thật. Mà cũng chẳng qua là nhờ mấy “của nợ” của cháu ở … đằng sau. Cháu phải chịu đựng nó từ bao lâu nay, có phải không ạ? Nhưng bây giờ cháu chắc chắn là chính nhờ mấy “của nợ” ấy mà cháu mở mày mở mặt ra.
Tôi ngạc nhiên nhắc lại:
– Mở mày mở mặt ra à? Nhưng sao bác lại nghĩ thế?
– Vâng, để cháu xin cắt nghĩa bác sĩ nghe. Mồ xong, khi cháu đi làm việc lại, thật là “phọt-mi-đáp”! Bác sĩ nghĩ coi, chuyện mấy ông vòi rồng ấy mà, cả tỉnh ai cũng biết cả.
Ông sếp cháu cho gọi cháu lên ngay. Ôi chao! Ông ấy cứ rũ ra cười, cứ ôm bụng mà cười, vừa cười vừa vỗ đùi đen đét – cháu cứ tưởng ông ấy sẽ chết nghẹn vì cười mất.
Ông ấy nói: “Hà hà! Văn-Sợi ơi! Hay! Như thế mới đúng là một chiến công: lôi cả một đoàn vòi rồng đến chỉ vì muốn cắt một cục trĩ hạ! Bọn này cười vỡ bụng khi đọc báo! Văn Sợi ơi, anh sếp sòng lắm! Thôi, bây giờ cứ tiếp tục làm việc đi.”
Vâng, bác sĩ muốn tin cháu thì tin, chứ tự nhiên cháu thấy công việc không còn tẻ nhạt, buồn chán như trước nữa. Rồi tám ngày sau, xưởng của hãng ở ngoại ô nói cần một người kế toán giữ sổ lương. Vâng, có một mình mà trông coi lương bổng của hơn một ngàn thợ. Bác sĩ có biết ông chủ chọn ai không? Bác sĩ nhớ cho:
ông chủ chọn cháu, Trần-Văn-Sợi. Ông ấy lại tăng lương nữa chứ lị – nghìn hai một tháng, cũng khá đấy chứ ạ? Vâng, bác sĩ ạ, cháu hiểu rồi: chính vì mấy cục “của nợ”, bác sĩ đã cắt cho cháu, mà cháu không còn là một thứ “người phụ tùng”. Chỉ vì thế đấy thôi. Bởi vì bây giờ, cháu là một người đầy đủ, giống như mọi người.
Trăm sự cũng nhờ bác sĩ cả.
Tôi tiếp lời hắn trong khi bắt tay từ giã:
– Nhưng cũng nhờ mấy ông sở vòi rồng nữa chứ, như thế mới đúng chứ, bác Sợi nhỉ?
NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC
[Tình Thương Số 5, tháng 5.1964]
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.