Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 13 Jan 2026

Dưới mắt Thượng Đế

13. Thiên đường đã mất

KANS KILLIAN

(ENTER UNS STENT NUR DER HERRGOTT)

NOH IRE SY-TUAN

Google image

Cách đây mấy năm, trong một tác-phẩm có minh-họa với tựa đề Khuôn Mặt Khổ Đau (Facies Dolorosa), tôi đã cố ghi qua ống kính những sự thay đổi đau đớn trên nét mặt. Buổi nay, tôi chọn trong đám người bị đày đọa trong đau khổ này, hình ảnh hai đứa trẻ mà những thay đổi trên nét mặt đã hằn tận đáy tâm hồn. Bệnh hoạn trong trường hợp thứ nhất chỉ là nguyên nhân gián tiếp của những sự cần cỗi khốc liệt và thảm thiết.

Còn trường hợp thứ hai tôi xin để độc giả suy-nghĩ và kết luận. Tuy-nhiên, chính trường-hợp sau này – mặc dầu về phương diện thuần túy y học chỉ là một giai đoạn, nhưng khắc sâu vào tâm khảm tôi, đã chỉ rõ thật tàn nhẫn những giới hạn của quyền lực y học.

Cô bé tên Johanna, vừa đúng mười lăm tuổi. Thật là một thảm cảnh khi Johanna được đưa tới bệnh viện. Thoạt tiên, chuông điện thoại reo vang. Ở đầu dây, tiếng nói của một cảnh sát viên run run vì cảm động. Ông ta vừa chứng kiến tai nạn: một chiếc xe khổng lồ chất đầy hàng ủi nhào cô bé xuống đất và cán lên bụng; cô bé kêu thất thanh, rồi ông tài, luống cuống cho xe “de” thế là chiếc xe lại cán lên nạn nhân một lần nữa.

– Nó không kêu nữa … mà cũng không động-đậy gì cả …nhưng còn thoi-thóp …

Vừa đặt ống nói xuống tôi lại nhận được điện thoại của viên y sĩ cứu cấp ở ngay nơi xảy ra tai-nạn:

– Xe cứu thương đến nhanh lắm nhưng tôi không chắc đứa bé còn sống khi được chở tới anh.

Tôi báo ngay cho phòng giải phẫu, rồi chạy đến liền, nhân tiện gọi luôn hai người phụ-tá. Mấy cô y tá đã sửa soạn xong bàn mổ. Chúng tôi cởi áo “blouse”, buộc “tablier” cao su, rồi bắt đầu rửa tay. Không để mất thì giờ, tôi dặn dò trước anh bạn đồng nghiệp phụ trách sang máu cho nạn nhân:

– Anh cho phân loại máu ngay. Chắc đứa bé mất nhiều máu lắm: anh cho truyền máu liền. Anh cứ lo phận sự của anh, gọi một cô y tá giúp anh một thể. Khi đứa bé tới là bắt tay vào việc. Năm phút sau, người gác cổng bệnh viện điện-thoại báo cho biết xe cứu thương đã về. Rồi tiếng chân bước nặng nề của những bác y công khiêng băng ca, tiếng nói của cô y tá trưởng:

– Đây, đây … Nhẹ nhẹ thôi! Các bác đặt xuống đây được rồi. Khi đẩy cánh cửa trước ra, tôi đã thấy hai bà sơ đang quỳ gối cầu kinh cạnh nạn nhân. Đứa bé đã chết rồi sao? Nhưng mà không, – nó còn thở. Một cô y tá cởi quần áo nạn nhân ra. Hơi bối rối, tôi cúi xuống quan sát. Thoạt nhìn, đứa bé không đến nỗi bị thương nặng lắm: một vài vết sây-sát và sưng bầm trên bụng, chỗ bánh xe đè lên. Nhưng mặt xám ngoét cắt không còn hột máu, đôi mắt đen, đồng-tử mở rộng, đảo như mất thần. Trong trạng thái bất-tỉnh gần như hôn mê, cô bé chỉ thở rất nhẹ. Anh phụ tá chép miệng:

“Hỏng!” Tôi chỉ lắc đầu. Tôi cảm tưởng như Thần Chết đã lướt tay trên khuôn mặt khả ái này. Bắt mạch ở tay không thấy gì, chỉ còn động mạch cổ là đập rất yếu và nhanh. Có điều lạ, nạn nhân không bị gãy xương: xương sườn, xương chậu và xương sống còn nguyên vẹn. Mới mười lăm tuổi, xương còn dẻo, nên đã uốn dưới sức nặng mà không gẫy. Nhưng chắc chắn nạn nhân đã xuất huyết trong bụng rất nhiều. Lá lách chắc đã nứt vỡ. Các bộ phận khác hay một trong những động mạch lớn trong bụng cũng có thể bị rách. Hiển nhiên, chúng tôi phải mổ bụng ra xem. Cô bé được đặt nằm trên bàn mồ. Bình dưỡng khí đã mở sẵn.

Ngay lúc ấy, anh nội trú mở cửa bước vào.

– Xin phép giáo sư. Người cha em nhỏ đang ở ngoài hành-lang, cứ đòi vào. Ông ta nói đứa bé đã chết rồi mà còn giấu ông.

Mặc dầu đã cố khuyên giải, ông ta chạy tìm điện-thoại cho vợ hay. Ông ta hét thật to: “Con Johanna đang hấp hối. Anh chắc nó đã chết luôn rồi. Đem giấy tờ bảo-hiểm lại cho anh ngay … “

Đang bận trông coi sửa soạn giải-phẫu, tôi nghe câu được câu chăng. Anh bạn trẻ phụ trách truyền máu loay hoay mãi không cho kim tiêm vào tĩnh mạch tay được; có thể các mạch đã xẹp lại vì mất nhiều máu quá. Tôi bảo anh:

– Thôi, rạch da mà tìm cho dễ!

Anh nội trú vẫn đợi tôi trả lời. Hơi mất bình tĩnh, tôi quay lại:

– Ra bảo ông ta im đi. Làm gì mà ầm ỹ vậy! Đứa bé còn sống, người ta đang sắp mồ cho nó đây.

Hai phút sau, bình máu bắt đầu chảy. Cô y tá xếp những tấm “champ” phủ kín người nạn nhân, chỉ để hở vùng giải phẫu ở bụng. Tôi đeo găng cao su và cầm dao giải phẫu. Đặt dao phía trên rốn, tôi rạch một đường thẳng ở giữa bụng, suốt qua da tới lớp sợi của mô liên-kết. Dưới lớp màng bụng còn nguyên vẹn ánh lên một chút nước đo đỏ: chắc máu đã chảy đầy bụng. Thật vậy, vừa rạch màng bụng ra, tôi thấy một vũng máu ngập các bộ phận. Hai người phụ tá đặt ngay đồ đề phanh thật rộng đường mổ ra.

Ngờ ngay lá lách bị nứt, tôi thọc tay trong vũng máu rồi lần lên phía trái. Ngay chỗ lá lách, thường nằm dưới hoành cách mô, tôi chỉ thấy những cục xốp như hải miên. Lá lách đã hoàn toàn bể nát. Tôi lôi một cục ra để xem xét: không còn nghi ngờ gì nữa, đúng là một mảnh lá lách.

– Đưa máy hút đây! Nhanh lên!

Tay phải tôi nắm đầu ống hút cho vào bụng trong khi tay trái đầy dạ dầy và ruột từ bên trái vào giữa. Như thế tôi hy vọng sẽ thấyđáy vũng máu, vị trí thông thường của các mạch lá lách. Nhưng hút hoài mà máu ở đâu cứ chảy ra. Tuy thế trong khoảnh khắc một giây đồng hồ, tôi cũng thoáng thấy máu đỏ tươi vọt ra từ một động mạch, theo với nhịp tim. Cầm chiếc kẹp dài đợi sẵn ở tay cô y-tá, tôi kẹp được động mạch lá lách trước khi nó lại chìm mất dưới lớp máu phun như thác. Giờ đây, nguy hiểm nặng nề nhất đã tránh khỏi; tôi chỉ còn phải tìm xem máu có chảy ở đâu ra nữa không. Tôi tiếp tục hút, gỡ các cục máu đông, nhưng máu đen ở tĩnh-mạch vẫn cứ ri rỉ. Hiển-nhiên là còn một bộ phận khác nữa bị rách. Tôi nghĩ ngay đến gan, một bộ-phận cũng dễ bị va chạm làm nứt như lá lách. Tôi lần tay xem mặt trên lá gan. Ngón tay tôi đụng ngay một vết nứt khổng-lồ, kéo dài từ đỉnh lá gan đến tận túi mật, gần như cắt lá gan ra làm đôi.

Tai nạn thật thảm khốc: mọi hy vọng cứu sống hầu như tiêu tan. Làm sao đứa trẻ đáng thương này sống sót nổi với hai vết thương ghê gớm như vầy? Dù sao tôi không có quyền bỏ cuộc, tôi phải cố khâu lại lá gan đã nứt từ trên xuống dưới này lại. Một lần nữa, linh tính cô y tá cực kỳ mẫn nhuệ. Không đợi bảo, cô đưa cho tôi một cái kẹp kim-khâu kẹp sẵn một cái kim tròn nhẫn. Đúng là thứ kim phải dùng trong trường hợp này, những kim sắc ba cạnh chỉ làm rách thêm những mô mềm. Cho đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ những phút hồi hộp này. Tay trái bọc lá gan để kéo nó xuống, tôi khâu bằng tay phải. Người phụ tá nhẹ nhàng buộc mối chỉ ruột mèo. Khâu xong, tôi lại bắt đầu rút máu, đồng thời lấy hết những mảnh lá rách ra. Tôi cố nén một tiếng thở dài nhẹ nhõm: máu đã ngưng chảy, nạn nhân thôi còn lo mất máu nữa. Ít ra trong lúc ấy, nguy hiểm đã vượt qua. Trong mấy phút chót, tôi không cần mất nhiều thì giờ xem xét tình trạng chung cho cô bé. Toán truyền máu hoạt động rất hữu  hiệu; áp huyết lên, máu tuần hoàn rất khả quan. Anh bạn trẻ phụ trách truyền máu có thể mỉm cười tán đồng. Chuyên viên đánh thuốc mê cũng tỏ ra rất xứng đáng, chỉ cho mê rất nhẹ, cốt để gìn giữ cho cơ thể rất suy yếu của cô bé. Toán phụ tá này làm tôi rất hãnh-diện.

Sau khi đã xem tỉ mỉ dạ dày và ruột non, tôi lần lượt khâu màng bụng, lớp cơ bụng rồi tới da. Tuy cuộc giải phẫu cực kỳ nặng, tình trạng chung của cô bé cũng chẳng đến nỗi nào. Mặt vẫn còn xanh mét, nhưng đôi môi đã thoáng chút ánh hồng, như hứa hẹn buổi bình minh một cuộc đổi mới. Có điều cô bé thở còn yếu quá. Tôi cho chích một mũi thuốc trợ sức. Kết quả thấy ngay: hô-hấp và tuần-hoàn mỗi phút mỗi khả quan.

Thế mà chúng tôi vẫn chưa dám cho cô bé xuống bàn mổ.

Mãi một giờ sau – sáu-mươi phút chờ đợi lo âu, chúng tôi mới chắc là sự kích-ngất mổ đã qua: nhịp thở đều đặn, đồng tử thâu nhỏ lại như thường, và hai má hồng lên một chút. Bấy giờ chúng tôi mới yên tâm trao bệnh nhân cho các cô y tá. Tôi ra ngoài hành lang, theo sau là hai anh phụ tá. Chúng tôi mở rộng cửa sồ, tự thưởng một lồng ngực đầy khí xuân trong trẻo lòng lâng lâng yên tĩnh. Hai anh phụ-tá hút thuốc. Anh thứ nhì -vốn có tâm hồn thi-sĩ, thi-hứng dạt-dào – nói một mình giữa hai làn khói thuốc:

– Em bé đáng thương này nằm trên băng-ca – làm tôi tưởng đến một đóa phong quỳ đang úa …

Nghe tiếng chân vội vã trong hành lang, tôi quay đầu lại. Anh nội-trú khi nãy đi vào, bước gần như chạy. Anh vừa gây với người cha cô bé.

– Ông ta cứ quyết rằng con ông đã chết ngay tại chỗ. Hắn đòi tiền bảo-hiểm, hình như lên tới 20 ngàn mã-khắc. Bà vợ cũng mang biên lai đến rồi, ông chồng cứ dí vào mắt bắt tôi xem …

Tôi khẽ gắt:

– Để tôi liệu với ông này!

– Họ đợi giáo-sư ở phòng khách lớn.

– Được, để họ đợi.

Tôi thấy hai vợ chồng đang ngồi trên ghế. Thấy tôi, cả hai bật dậy. Người chồng, nhỏ thó, mảnh-khảnh, da mặt nhăn nheo như một quả ô mai, mắt cận thị hấp háy sau cặp kính gọng mạ kền, nhìn tôi vừa giận dữ vừa nham hiểm. Người vợ, cao hơn chồng một cái đầu, cúi đầu vẻ nhăn nhó.

– Chính tôi vừa mổ cho con gái ông bà xong. Ông bà muốn nói chuyện với tôi?

Người chồng không để tôi dứt lời:

– Thưa bác-sĩ, đúng thế, – con tôi đã chết rồi, phải không? Xin bác sĩ đừng nói quanh, vô ích; chúng tôi đã sẵn sàng chờ đợi … sẵn-sàng chịu đựng … bác sĩ cứ nói … chứ xe đè như thế thì …

Tôi ngắt lời:

– Không đâu. Con gái ông bà còn sống. Tôi còn có thể nói với ông bà rằng chúng tôi mong sẽ cứu sống được hẳn.

Người vợ ấp úng:

– Thưa bác sĩ, thế thì, thần diệu quá … tuyệt quá rồi còn gì?

Nhưng chúng tôi biết là không thể như thế được. Bác sĩ cứ nói sự thật với chúng tôi.

-Tôi xin nhắc lại là con bà sống. Đáng lẽ ông bà phải vui lên mới phải chứ, sao lại còn nghi ngờ gì?

Người chồng công nhận:

– Thưa bác sĩ, chắc chắn là chúng tôi vui mừng. Nhưng …

Ông ta ranh mãnh nhìn tôi rồi tiếp:

– Bác sĩ chắc cũng hiểu là tôi muốn chính tôi thấy nó sống …

– Bây giờ chưa phải lúc.

Thế là ông ta lồng lên:

– Tôi muốn thấy mặt con tôi, ngay bây giờ! Tôi muốn mắt tôi thấy rõ nó sống hay nó chết! Tôi có quyền, – tôi là cha nó. Nếu ông phản đối, tôi sẽ đi báo cảnh sát.

Tôi phải cố gắng lắm mới giữ được bình tĩnh; tôi nói:

– Chỉ khi nào tôi cho phép, ông mới được gặp mặt con gái ông. Dĩ-nhiên không phải hôm nay, cũng không phải ngày mai hay ngày kia. Với tư cách một người thầy thuốc, tôi có trách nhiệm về sinh mạng bệnh-nhân. Và khi chúng tôi đang cố sức cứu con gái ông, không ai được vào thăm nó cả. Còn ông muốn báo ai thì báo.

Tôi bỏ đi, không muốn nghe lời phản-đối của ông ta.

Đêm ấy, Johanna tỉnh lại dần dần. Trong đôi mắt bất định mở lớn, hiện rõ vẻ ngạc nhiên kỳ lạ của những trẻ em hồi tỉnh sau một cuộc đánh thuốc mê lâu dài. Một ánh mắt như nhìn lên từ vực thẳm hãi hùng, một vẻ mặt còn rung động nét kinh nghiệm khủng khiếp của nỗi đau đớn đầu tiên. Khi bệnh lâu khỏi, vẻ linh-động ấy lắng xuống, chuyển thành một vẻ u uất hoàn toàn, khiến nét mặt non trẻ trở nên cần cỗi đến não lòng. Ngồi ở đầu giường cô bé, tôi tự hứa hết sức tránh cho em sự thay đổi kia. Nhưng định mệnh đã không để tôi giữ lời …

Nhờ được nghỉ-ngơi tĩnh-dưỡng hoàn-toàn và được truyền một chai máu với một chai huyết tương và dung dịch đường, cô bé phục hồi mau lạ thường. Được bốn ngày, chúng tôi đã có thể coi như xong việc. Bây giờ tôi mới cho cha mẹ em vào thăm. Cô y tá được tôi giao cho nhiệm vụ săn sóc bệnh nhân mấy bữa sau có thuật lại cho tôi buổi viếng thăm đáng nhớ này.

– Mày đấy hả, Johanna? – lời người cha – Bây giờ mày thấy thế nào? Đau nặng phải không? Tao thấy rõ quá mà.

Cô y tá cải chính:

– Đâu có, Johanna khá mạnh rồi đấy; chứ hôm chở đến đây thì ai tưởng được rằng …

Bà mẹ xen lời:

– Tôi chẳng tưởng tiếc gì hết. Mặt mũi rũ ra như lá héo thế kia! Khổ thân con tôi, người ta có cho con ăn đủ không? Con gầy quá. Ở đây chắc thuốc men họ cũng keo-kiệt từng ống từng viên đấy, con nhỉ?

Cô bé nói nho-nhỏ:

– Con có được chích thuốc mà.

Người cha kêu lên:

– Chích hả? Tao phản-đối cái thủ đoạn ám-muội này. Nào, người ta chích gì cho mày?

– Con đâu có biết, cô bé nói nhỏ rồi nước mắt chợt tuôn trào.

Cô y tá vội giải thích:

– Thuốc trợ tim đấy thôi. Em đang cần mà.

Người cha đã hùng hồ khiêu khích:

– Tôi không muốn chích cho con gái tôi. Tôi cấm hẳn.

– Thế thì xin ông nói với y sĩ trưởng. Chúng tôi chỉ biết theo huấn lệnh của bác-sĩ.

Vừa nói cô y tá làm như vô tình để tay lên nút chuông điện. Một phút sau, cửa mở, nhường chỗ cho bà y tá trưởng lầu, một bà đã đứng tuổi có đủ kinh nghiệm đối phó với những người khách quấy rầy. Bà ta chỉ liếc qua cô bé còn đang nức nở, rồi dõng dạc:

– Mời ông bà ra ngay cho!

Hai vợ chồng riu ríu ra ngay, chẳng kịp giã từ con gái.

Chiều hôm ấy, Johanna lại sốt. Khi viên y-sĩ trực định chích thuốc trợ-tim, cô bé khóc, nói như van xin:

– Đừng, xin bác-sĩ đừng chích. Cha cháu đã cấm!

Thấy cô bé cứ khăng khăng không chịu đưa tay cho chích, lại sợ rằng nài ép quá sẽ làm cô bé mất tinh-thần viên y-sĩ phải báo cho tôi. Tôi đến, nói, giọng hiền-từ:

– Thế nào, Johanna, làm sao thế … tôi biết em lắm mà. Cha mẹ em, cứ để tôi nói cho. Nào đưa tay đây, tôi chích cho tim nó khỏe lên một tí.

Cô bé nhìn tôi như sợ sệt, do dự một giây rồi bằng lòng cho chích. Cả nhà thương đều biết chuyện ông bố tham tiền, đang tâm hắt hủi con gái mình. Thế là một hiện tượng lạ-lùng xảy ra: các bà sơ y tá, những người đã hy sinh lạc thú làm mẹ, tất cả đều lại nâng niu cô bé, tận tâm săn sóc, đến có thể nói rằng không một tình mẫu tử nào hơn được. Các bà chiều cô bé đủ mọi điều, cho cô cơ man kẹo bánh: hễ rảnh một tí là chạy đến kể chuyện hay đọc sách cho nghe. Hơn thế nữa, khi cha mẹ cô tới thăm, các bà vây quanh bệnh nhân một thành lũy bằng mũ vải trắng, bằng tình thương và uy quyền khiến cho người cha không sao có thể nóng giận mà nói năng khả ố được nữa.

Nhờ bầu không khí tràn ngập thương yêu, cô bé phục hồi rất mau. Năm tuần sau khi mồ, cô bé đã trở về nhà được. Thỉnh-thoảng cô trở lại, mang cho các cô y tá và tôi, vài bông hoa hái ở mấy khu rừng kế cận. Trong dáng bộ, trong nụ cười, chẳng còn dấu vết của sự sợ hãi vì tai nạn hay của những nỗi đau khổ dài dặc. Chừng sáu tháng sau, cô bé cùng người cha chính-thức trở lại thăm nhà thương. Ông này đã khởi tố đòi hãng bảo-hiểm, người chủ xe và tài xế bồi thường về thiệt hại vật chất lẫn tinh-thần. Tòa xử trước khi phán quyết, nhờ tôi khám lại cho cô bé thật kỹ-lưỡng nhất là tình trạng lá gan. Chúng tôi khám trong hơn hai giờ, thật cẩn thận, thật tỉ mỉ, nhưng không sao tìm được một dấu vết nhỏ, dĩ nhiên ngoại trừ vết sẹo mổ. Tình trạng sức khỏe phù hợp với kết quả cuộc khám-nghiệm: Johanna hoàn toàn mạnh, đôi má rám nắng hồng, nụ cười hồn nhiên trông thật xinh. Trong chứng thư, tôi chỉ ghi một hệ số tàn tật 15 phần trăm. Tôi không thể ghi hơn lên: gan vẫn tốt như thường, không có một vết dính nào cả ở màng bụng; còn như lá lách bị cắt thì chẳng có chi là khó chịu. Nhưng người cha không đồng ý như vậy. Thấy tôi tỏ vẻ vui mừng vì cô bé đã hoàn-toàn bình phục, ông ta suýt nữa nổi cơn tam bành. Ông nói sủi cả bọt mép:

– Bác sĩ không thấy nó khập khiễng à? Cả đời nó sẽ khập khiễng. Một đồ bỏ, người ta đã làm con gái tôi thành đồ vô dụng thảm thương. Trông thảm hại chưa!

Rồi ông ghé vào tai con:

– Sao con chưa nói với bác-sĩ … nói đi … con còn đau bụng lắm mà … Đau thế nào thì nói đi … Nói đi, ngốc ơi là ngốc!

Quá sợ-hãi, cô bé chỉ còn biết lắc đầu.

Tôi bình-tĩnh bảo:

– Em cứ nói thật đi, Johanna. Có thật em còn đau bụng không?

Vẻ bối rối hiện rõ trong ánh mắt hốt hoảng. Người cha tàn nhẫn nắm chặt cánh tay cô bé:

– Nói đi, nói với bác sĩ mày còn đau bụng đi! Đau ở đâu thì nói đi, con.

Rơm rớm nước mắt, cô bé nuốt nước bọt rồi quay lại nhìn tôi nói lí-nhí:

– Dạ thưa, không ạ, không phải thế ạ. Cháu không còn đau đớn gì cả.

Tôi suýt buột miệng khen lòng can-đảm của cô bé. Trước mắt tôi vẻ hồn nhiên trên khuôn mặt tươi trẻ kia đang thay đổi. Tôi đã tự hứa sẽ không để dáng ngây thơ kia sẽ mất hẳn. Như một áng mây đen, sự cằn cỗi đau đớn hiện dần trên nét mặt thanh tú của cô bé đã sớm biết sự đau khổ và lòng độc ác. Đấy mới chính là vết thương nặng và sâu đậm cô bé sẽ mang suốt đời. Thế mà người cha vô lương kia đã muốn dùng vết thương ấy để lãnh mấy chục ngàn bảo hiểm.

Chuyện thứ hai xảy ra ngày 10-5-1910. Nếu tôi còn nhớ đúng ngày đúng tháng cũng chỉ vì ngày đó là ngày phi cơ khởi đầu những cuộc oanh-tạc xuống thành phố Freiburg. Mãi về sau chúng tôi biết chính máy bay Đức theo lệnh của chính phủ Đức đã dội những loạt bom làm ở Đức quốc xuống thành phố Đức cổ kính này.

Sáng hôm đó tiết giữa hạ thật oi bức. Mặt trời dọi nắng như thét ra lửa. Trên những ngọn núi miền Rừng Đen mây thành chồng chất từng lớp. Sau khi đã làm hết việc buổi sáng ở nhà thương, tôi trở về nhà gần khu ngoại-ô. Trong khi chờ bữa cơm trưa, tôi cố ngồi làm việc nhưng không hăng hái cho lắm: oi-bức quá đỗi!

Bỗng nhiên tôi ngửng đầu nhìn lên trời. Át cả những tiếng động trong vườn vì ngoài phố, tiếng động cơ rầm rầm chuyển động xuất phát từ phía đông. Cầm chiếc ống nhòm tôi có từ đệ nhất thế chiến, tôi đi xuống quan sát chân trời. Tôi không lo ngại một chút nào cả. Sáng nay đài phát thanh đã loan báo địch tấn công mạnh ở Bỉ-quốc và Hòa-Lan; tôi cho rằng không lực Anh Pháp đang tập trung vào các khu vực mặt-trận này. Vả lại, địch có lợi gì mà oanh-tạc thành-phố đại-học hiền lành này?

Mấy phút sau, tôi thoáng thấy giữa một đám mây ba chiếc phi cơ. Nhưng lại bay mất hút ngay. Không có tiếng súng cao-xạ – vậy, không có phi cơ nào khác ngoài phi cơ của Đức. An tâm, tôi trở về phòng làm việc. Nhưng vừa ngồi vào bàn thì mấy tiếng nồ ầm ầm làm rung chuyển nhà cửa. Mười giây im lặng, thứ im lặng nhà mồ, tiếp ngay là một tràng tiếng nồ, gần hơn và dữ-dội hơn. Sau này chúng tôi tuy còn phải chịu những cuộc oanh tạc khủng khiếp gấp bội, nhưng vẫn còn nhớ kỷ niệm buổi oanh tạc đầu tiên này: có thể nói như một ông khồng lồ bằng thép tiến về phía chúng tôi với những bước nặng chình chịch làm rung chuyển mặt đất. Tôi chạy bồ xuống cầu thang gác, nhảy vội lên xe hơi. Trong đầu chỉ có một ý nghĩ: phải đến ngay bệnh viện, phải đến thật nhanh!

Chưa bao giờ tôi lại lái xe nhanh như thế! Thành phố như một ổ kiến bị chiếc gậy kẻ bộ hành hất đổ nóc tổ. Thiên hạ kẻ khoa tay múa chân, kẻ gọi nhau ơi ới, người chạy xuôi ngược. Rồi lên xe cứu-hỏa lao vùn vụt, rồi xe cứu thương còi hú liên-hồi: máy bay vừa ném ba dãy bom xuống phi trường, xuống trại lính và gần cầu xe lửa. Loạt bom thứ ba rơi vào một sân vận động tạo một cảnh-tượng tàn sát thảm khốc.

Tôi đến bệnh viện và các nạn nhân đầu tiên cũng vừa được chở tới. Chúng tôi liền tổ chức ngay một toán cứu cấp. Người đệ nhất phụ tá của tôi, đứng ở phòng nhận bệnh phụ trách lựa bệnh; những trường hợp nhẹ cho đưa đến khu cứu-thương còn những trường hợp nặng cho đưa lên lầu nhất, tập trung ở hành lang và mấy phòng gần khu giải-phẫu. Các y sĩ ngoại khoa chia ra từng toán có những  đồng nghiệp nội trú phụ tá trong việc cứu cấp các tình trạng kíchngất vì xuất huyết.

Khu giải phẫu đã chật ních! Hơn một trăm băng ca xếp hàng dọc theo hành lang, thế mà chưa hết, các nạn nhân chở đến tới tấp. Chiến tranh! Một chuỗi thảm-họa vô ích. Một đám nạn nhân vô-tội …

Vừa bước ra khỏi phòng giải phẫu để chỉ định những trường hợp nào khẩn cấp nhất, tôi bắt gặp trên một chiếc băng-ca vừa làm vội, một em gái nhỏ dễ thương độ bốn tuổi mặt cắt không còn hột máu; đôi mắt ngơ-ngác hiền dịu như con nai vàng. Đứng bên là một ông lão tóc đã bạc nhiều nhưng còn tráng kiện.

Tôi quay qua hỏi:

– Em bé này bị thương ở đâu?

– Hơi bom đã quạt mất cánh tay phải. Thưa, lão đã băng vội …

Tôi nhận thấy ông lão ấp úng nói chẳng ra lời chắc vì cảm-xúc. Lật tấm vải “tăng” phủ trên người đứa nhỏ, tôi thấy quả thật cánh tay phải đã bị đứt chỉ cách mấy phân là tới xương bả vai. Tuy vết thương thật rách xé và lởm chởm nhưng không còn chảy máu nữa vì được băng bó lại. Nhưng … tôi suýt giật bắn người … cánh tay đứt lìa còn đặt cạnh mình đứa trẻ, cánh tay mềm mại, bụ bẫm và trắng muốt, với bàn tay xinh xắn.

Bối rối, tôi lấy lại bình tĩnh:

– Làm sao lại có thể nhặt được cánh tay bị đứt lìa này … ai nhặt đây?

Ông lão cúi đầu chặm mắt kể lể sự tình. Thật không thể tin được! Lúc mấy quả bom rơi trên sân vận-động, chừng chục đứa trẻ đang chạy nhảy. Có đứa bị chết ngay, mấy đứa khác chỉ bị thương thôi. Đứa bé chạy đi trú bom ở bên kia đường dưới cửa tò vò lối đi vào tầu ngựa. Trong lúc khiếp sợ, bé chưa biết mình đã bị đứt lìa cánh tay; vì kích ngất đã làm tê-dại các dây thần kinh nên bé không thấy nhức nhối, đau đớn gì cả. Mãi sau thấy đau, bé mới chạy lại sân vận-động để tìm cánh tay đã mất. Chỉ sau khi tìm được cánh tay rồi, bé mới gục xuống, bất tỉnh. Khi ông lão đến, bé còn ôm chặt cánh tay vào ngực.

Tôi kinh ngạc:

Nhưng … ông biết … ông cũng thừa biết là tôi không thể khâu lại cánh tay này cho nó được! Tại sao ông lại còn đem theo làm gì?

Ông lão gạt nước mắt.

Vâng! thưa bác-sĩ lão cũng biết vậy. Nhưng vứt bỏ canh tay của nó lão cầm lòng làm sao được! Em bé xinh đẹp như thế kia …

Tôi đã cằn cỗi cứng rắn nhiều trong khi tiếp xúc hàng ngày với khổ đau của con người, nhưng bỗng nhiên tôi thấy cổ họng se thắt lại. Tôi cho khiêng đứa trẻ vào phòng giải-phẫu, truyền máu cho bé ngay rồi săn sóc vết thương. Sau khi đã cột động mạch chính nuôxem xét lại tình trạng các mạch và huyết nhỏ, tôi quyết định không khâu kín vết thương vì da thịt rách nát và đầy đất cát bẩn. Dần dần, bé thoát từ trạng thái hôn-mê để chìm dần vào giấc ngủ trầm lặng.

Sáng hôm sau, người tôi đến thăm bệnh trước nhất là bé. Trước cửa phòng, tôi gặp sơ Ursula, một nữ tu nhà tập còn trẻ, vài sợi tóc vàng còn lọt ra ngoài khăn trùm đầu. Tôi hỏi ngay giọng lo ngại:

– Thế nào “ma sơ”, bé ra sao?

Dạ … thưa bác sĩ cũng khá. Đêm vừa rồi bé cũng không quấy lắm hay yếu lắm … Tôi có cảm tưởng tai qua nạn khỏi rồi.

– “Ma sơ” giấu tôi điều gì? Chắc vừa có chuyện gì, phải không “ma sơ”?

– Dạ thưa bác sĩ. Không! Không có gì cả. Em bé chỉ đang chờ bác-sĩ đến để khâu lại cánh tay cho em. Búp-bê ta còn khâu cánh tay rách lại huống chi …

Người nữ tu không thể nói hết lời. Úp mặt trong đôi bàn tay nàng bỏ đi. Khi thấy đôi vai rung rung, tôi chợt hiểu nàng đang khóc

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 3-4, tháng 3-4, 1064]


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment