This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
HQ Trung úy Daniel T Duong, Sĩ quan tàu ngầm chiến lược nguyên tử USS West Virginia (SSBN 736) (hình của facebook.com/JohnDawsonFOX26).
Theo thông báo từ trang nhà Navy Personnel Command danh sách Hải quân (HQ) Trung úy* được chọn thăng cấp HQ Đại úy* cho tài khóa YF-26 ngày 15 tháng 1 năm 2026. Trong 2 bản danh sách HQ Trung úy được đề cử thăng cấp HQ Đại úy năm nay, có 52 HQ Trung úy gốc Việt, trong số đó có 27 Sĩ quan tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers); 7 Sĩ quan yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted line officers); Và 18 Sĩ quan chuyên nghiệp phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) **. Năm 2024, có 43 HQ Trung úy gốc Việt được thăng cấp HQ Đại úy.
Trong số 52 HQ Trung uý gốc Việt được chọn thăng cấp HQ Đại uý năm nay, có môt số vị phục vụ các ngành tác chiến, đặc biệt, có 9 nữ Sĩ quan tác chiến Hải quân được ghi nhận : HQ Trung uý Daniel T Duong, Sĩ quan tàu ngầm chiến lược nguyên tử USS West Virginia (SSBN 736); HQ Trung uý Keith Tran, Sĩ quan tàu ngầm nguyên tử; HQ Trung uý Huynh Anthony, Phi công; HQ Trung uý Brandon Quach Brandon, Sĩ quan tác chiến hạm đội; Nũ HQ Trung uý Loan Mai La, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Catherine Bui, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Tina Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Trung uý Nicole Nguyen, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Trung uý, Kimberly Nicole Pham, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Victoria Tran, Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nữ HQ Trung uý Maryrose Vu; Sĩ quan tác chiến Hải quân; Nũ HQ Trung uý Le Nhu Quynh, Sĩ quan hàng không và 9 nữ HQ Trung uý các ngành yểm trợ (Restricted line officers) và chuyên môn (Staff Corps officers).
HQ Trung úy Victoria Tran (hình khi còn là Sinh viên Sĩ quan Học viện Hải quân Hoa Kỳ (USNA) của navysports.com).
Danh sách*** 27 HQ Trung úy gốc Việt ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và 7 HQ Trung úy gốc Việt ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers) hiện dịch được chọn đề cử thăng cấp HQ Đại uý:
Ngành tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers): Bui Thienhuong Catheri; Diep Brandon Gastelum; Duong Daniel T; Huynh Anthony Tan; Huynh Phong Thanh; La Loan Mai; Le Samuel H; Le Ryan Minh; Nguyen David Thanhluan; Nguyen Nicole Phuongqu; Nguyen Ryan M; Nguyen Andrew Q; Nguyen Derek Theanh; Nguyen Quan T Jr; Nguyen Tina; Pham Kimberly Nicole; Pham Thinh Hong; Quach Brandonqui Gia; Quan Y Thien; To Colin; Tran Daniel Tung; Tran Victoria Bichngat; Tran Keith Quockhiem; Tu David; Van Khoa Nguyenphu; Vu Maryrose Bichtienth; Le Nhu Quynh.
Ngành yểm trợ tác chiến Hải quân (Restricted Line Officers): Nguyen Sonny Hung; Tran Daniel Dinh; Le Vincent Nhat; Le Spencer A; Nguyen Camillia Y; Amick Adam Tran; Le Billiana Thao Tran (trừ bị).
Danh sách 18 HQ Trung úy gốc Việt ngành chuyên môn (Staff Corps Officers) hiện dịch và Trừ bị được đề cử thăng cấp HQ Đại uý: Cao Janne; Dang Tram Bao; Duong Huy Dinh; Duong Melina Chanphavi; Ho Hoa Thicuc; Le Nhan Thanh; Nguyen Bao Quoc; Nguyen Dang Minh; Nguyen Vinh Ngoc Quang; Pham Andre Sang; Son Quang Pham; Tran Tamara Shynice; Tran Toan Thanh; Trinh Matthew Hau; Jasper Daniel Chau (trừ bị); Nguyen Nhu (trừ bị); Nguyen Thao Phuong (trừ bị); Tran Giabao Duong (trừ bị);
HQ Trung uý Tina Nguyen (hình khi còn là Sinh viên Sĩ quan thụ huấn tại trường Sĩ quan Hải quan OCS của audacy.com).
Tóm lược các ngành của Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ:
Ngành Sĩ quan tác chiến (chủ lực) của Hải quân Hoa Kỳ (Line Officer) được chia ra thành hai ngành gồm: Sĩ quan tác chiến không giới hạn (Unrestricted Line Officers) và Sĩ quan yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers).
-Sĩ quan ngành tác chiến Hải quân không giới hạn (Unrestricted Line Officers) có 4 ngành: Sĩ quan chiến hạm, Sĩ quan tiềm thủy đĩnh, sĩ quan không quân của Hải quân, Sĩ quan chiến tranh đặc biệt Hải quân (Lực lượng đặc biệt Hải quân). Những Sĩ quan chủ lực không giới hạn được quyền chỉ huy các tàu ngầm và chiến hạm, các phi đoàn Không quân, và các đơn vị hành quân đặc biệt, tương tự như Sĩ quan ngành chỉ huy của Hải quân VNCH.
-Sĩ quan ngành yểm trợ tác chiến giới hạn (Restricted Line Officers) gồm có các ngành: Sĩ quan tài nguyên nhân lực; Sĩ quan kỹ thuật cơ khí; Sĩ quan kỹ thuật hàng không; Sĩ quan bảo trì phi cơ; Sĩ quan công vụ (chiến tranh chính trị); Sĩ quan hải vận chiến lược (Strategic Sealift Officer); Sĩ quan giao tế ngoại giao; Sĩ quan hải dương học; Sĩ quan chiến tranh mật mã; Sĩ quan truyền tin Hải quân; Sĩ quan tình báo Hải quân; Sĩ quan chiến tranh an ninh mạng và Sĩ quan không gian hàng hải (Maritime Space Office).
HQ Trung úy Melina Duong (hình của linkedin.com).
-Sĩ quan ngành chuyên môn phục vụ Hải quân (Staff Corps Officers) gồm có 8 ngành: Bác sĩ, Nha sĩ, Điều dưỡng (y tá) và Chuyên viên y tế thuộc Bộ chỉ huy Quân y Hải quân; Sĩ quan kỹ sư công chánh (Công binh Hải quân) và Sĩ quan tiếp liệu Hải quân thuộc Bộ chỉ huy tiếp vận Hải quân; Sĩ quan luật sư Quân pháp và Sĩ quan Tuyên úy Tôn giáo trực thuộc Bộ Hải quân.
Theo hệ thống thăng cấp Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ (Navy Officer Promotion System) thì tất cả Sĩ quan sau 2 năm mang cấp Trung úy, gần như 100% sẽ được thăng cấp Đại úy. Cũng theo Defense Primer: Military Officers-Updated June 4, 2024, thì Hải quân Hoa Kỳ có 7341 Trung úy và 18245 Đại úy phục vụ toàn thời hiện dịch (Active-Duty Military Officers). Hiện nay có hơn 250 HQ Đại úy gốc Việt phục vụ các ngành trong Hải quân Hoa Kỳ.
Minh họa của military.com/navy/officer-ranks: Cấp hiệu Đại úy tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và yểm trợ tác chiến (Restricted line officers) Hải quân Hoa Kỳ****
Chú thích: *ghi theo cấp bậc HQ Đại uý Hoa Kỳ (Navy Lieutenant), HQ Trung uý (Navy Lieutenant Junior Grade); **Có một số HQ Trung úy mang họ và tên giống người Việt được đề cử thăng cấp Đại uý, nhưng không thể xác định được các vị này là gốc Nam Hàn, Hoa hay Việt gốc Hoa? ***Ghi theo họ và tên 52 HQ Trung úy gốc Việt trên các bản danh sách; ****Cấp hiệu Đại úy chuyên nghiệp phục vụ Hải quân (Staff Corps officers) không có ngôi sao như Đại úy tác chiến Hải quân (Unrestricted Line officers) và yểm trợ tác chiến (Restricted line officers), thay vào đó là huy hiệu của ngành chuyên môn.
Chúc 52 tân HQ Đại uý Hoa Kỳ gốc Việt thăng tiến hải nghiệp.
Phải biết sống mới thấy rằng đời sống ở đầu thế kỷ này sung sướng biết bao. Ngày nay, hồi tưởng lại nhiều năm về trước, tôi cho đấy là hoàng kim thời đại của lớp người trung lưu. Nhịp sống chậm rãi, khoan thai, bình thản, nhờ ở sự ổn định kinh tế và chính trị. Giá sinh hoạt thật rẻ, thuế khóa thật nhẹ, nên một người có khả năng và chăm chỉ lúc nào cũng có thể dành dụm đủ để dùng trong lúc ốm đau tai nạn và khi già yếu. Trong mọi từng lớp dân chúng, lóe sáng một niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai với những tiến triển vượt bậc của khoa học. Đấy, chính cái thế giới trung lưu an lành đó là nơi sinh trưởng, và chính trong cái không khí cần cù tôi đã sống hơn hai chục năm đầu của đời tôi. Từ năm năm rồi, cha tôi giảng dạy tại Y khoa đại học Freiburg-im-Breisgau: Người khởi nghiệp ở Mannheim và chuyên về tai, mũi, họng. Những bài của cha tôi trong các tạp chí y học đã khiến giới đại học chú ý, rồi mời người làm giáo sư. Người bèn nhượng lại phòng mạch, dọn vào ở trong khu đại học cũ kỹ để giảng khoa mũi-họng. (Khoa tai được dành cho một giảng sư khác). Việc giảng dạy rất có kết quả, nên chỉ một vài năm sau, hai chữ Gustav Killian đã trở thành một tên tuổi quốc tế. Vinh quang nhanh chóng như vậy, cha tôi chỉ nhờ ở sức làm việc, trí thông minh và óc sáng tạo, chứ chẳng hề có thế lực bè phái nào, mà có chăng nữa, người cũng chẳng thèm nhờ cậy. Cha tôi sinh ra trong một gia đình tuyệt hảo. Thật thế, ông nội tôi, Johann Baptist Killian, vốn là giáo sư trường Trung học Mainz. Nhưng vì sinh năm con chỉ nuôi được hai, hơn nữa bà nội tôi lại mất sớm, nên ông tôi đâm ra rượu chè, tâm tính trở nên bất thường, nhiều lúc thật dữ tợn mà cũng nhiều lúc ủ rũ, con ruồi chẳng muốn xua. Nói đến tính nghiêm khắc quá quắt của ông tôi, cha tôi thường kể lại một kỷ niệm thời thơ ấu: một lần, dành dụm mãi được hai mươi Pfennig, cha tôi chạy ra mua ngay chiếc thuyền buồm thèm muốn ngắm nghía đã lâu trong tủ hàng. Nhưng đến lúc đem về nhà thì ông tôi nổi cơn lôi đình, mắng nhiếc là “chưa ráo máu đầu đã quen thói bốc trời”, rồi bắt cha tôi đem đổi lấy hai quyển vở viết.
Tuy phụ quyền nghiêm khắc như vậy, cha tôi không hề tỏ vẻ chua chát, trái lại, người hết sức tìm cách tạo cho thời thơ ấu một vẻ tươi sáng, vui nhộn, yêu đời ngay chính trong gia đình. Nhờ đó, mà ngay từ khi nhỏ tí, tôi đã được hưởng ngay một tự do tuyệt diệu. Cho đến bây giờ, những năm xa xôi ấy vẫn là những năm đẹp nhất đời tôi. Tôi có thể làm hầu hết những thứ tôi thích. Thấy tôi hơi có khiếu về âm nhạc, cha tôi cho tôi học vĩ cầm ngay từ năm tôi bảy tuổi.
Rồi ít lâu sau, tôi lại ham vẽ; cha tôi cũng chẳng hề tiếc mua cho tôi đủ thứ dụng cụ hội họa. Lớn nữa, tôi bỗng ham mê ngành hàng hải và những tàu to thuyền lớn; cha tôi cho tôi lập ngay dưới hầm cả một xưởng đóng tàu thật sự. Rồi người cũng chẳng hề cấm đoán, khi tôi một lần nữa nổi hứng biến xưởng đóng tàu ra một cái tiểu sinh vật viện, nuôi đủ các thứ bươm bướm, ve sầu, xén tóc …
Tôi học rất kém, nhưng cha tôi vẫn tươi cười, khoan dung. Trường Freiburg vốn là một trường cổ truyền, dạy các môn cổ điển nhiều hơn khoa học nên tôi rất khổ tâm về các từ ngữ La, Hy. Ông giáo sư La ngữ của tôi, biệt hiệu “Sếu vườn” vì đôi cẳng lỏng khỏng, luôn luôn tìm đủ cơ hội để phẩm bình học lực của tôi:
– A, Killian, nếu cái óc anh cũng lớn nhanh như thân hình anh (lúc đó tôi học đệ ngũ và trong một năm tôi cao thêm 17 phân) thì anh đã thành bác cổ thông kim từ lâu. Nhưng than ôi, anh thì chỉ có lớn mà chẳng có khôn.
Rồi một hôm ông bảo tôi dịch sic longus sic sultus. Tôi đứng ngây ra đến khi nghe tiếng cười chế giễu phá lên tứ phía và hiểu được nghĩa là càng cao càng đần, thì nước mắt đã tràn xuống má. Tối hôm đó tôi nói với cha tôi là tôi không thèm trở lại học nữa. Cha tôi bằng lòng ngay cho tôi đi học Anh văn trong mấy tháng, rồi đưa tôi vào học trường cao tiểu. Tôi đều đặn ở đó cho đến khi đậu tú tài. Tuy học đường đã giáo huấn tôi rất tốt, nhưng chính gia đình đã giúp tôi rất nhiều trong việc chọn hướng đi của đời tôi. Nhà cha mẹ tôi đã trở thành nơi hội họp của giới văn nghệ trí thức ở Freiburg: Mẹ tôi vốn ham chuộng văn chương, âm nhạc, nên tôi được quen biết nhiều văn sĩ và kịch tác gia, tôi lại có nhiều cơ hội dự thính những buổi hòa nhạc thính phòng ngay tại phòng khách nhà tôi. Cha tôi thì hay mời những bạn đồng nghiệp, những giáo sư hay giảng nghiệm viên, cũng như những sinh viên đặc biệt được người chú ý. Tính rất bình dân, cha tôi được đặt ngoại hiệu là “Thường tiếu ông” và rất được học trò kính nể. Cho đến bây giờ, tôi còn gặp nhiều người gợi lại một cách thán phục khuôn mặt khôi vĩ, cái trán cao, cặp mày bạc rậm, giọng nói sang sảng, lời văn súc tích và sáng sủa của cha tôi. Nhiều khi, ở ngay bữa cơm, cha tôi cũng nói chuyện với mẹ tôi và chúng tôi về những vấn đề bệnh nghiệm hay thực nghiệm. Sở thích tôi đã bạc tạp, lại được ở trong một môi trường nhiều khuynh hướng như vậy, khiến gia đình tôi lắm lúc phân vân không biết rồi đây tôi sẽ học ngành gì, vì lúc nào cũng “ham nhiều công việc”. Giáo sư hội họa của tôi bảo: “Anh vẽ được đấy”, trong khi ấy giáo sư vật lý quả quyết: “Anh sẽ là kỹ sư giỏi”. – Còn mẹ tôi thì nhắc đi nhắc lại: “Hans nó chỉ thích sinh vật học”, và khuyến khích tôi sưu tập cây cỏ, côn trùng. Chỉ có cha tôi là không tỏ ý kiến gì; nhưng chính người mới là người định đoạt, tuy gián tiếp, sự lựa chọn của tôi.
Năm 1898, cha tôi công bố trên báo y học những kết quả về phép soi cuống phổi, nghiên cứu âm thầm từ mấy năm nay. Người đã hoàn tất một dụng cụ đơn giản làm bằng một ống kim khí nhỏ, dài, luồn vào khí đạo để soi và do đó, có thể xác định vị trí của bất cứ vật gì lạ lọt vào cuống phổi, và gắp ra nhờ một cái kẹp đặc biệt cũng do cha tôi vẽ kiểu. Từ trước đến giờ, người ta cứ tưởng cuống phổi phải cứng nhắc; nhưng lúc ấy biết rằng các cuống phổi thật ra rất mềm dẻo, như thế cái ống kim khí mới có thể xoay khắp hướng để xem xét được: Sự thành công của cha tôi thật quan trọng, vì thời ấy khoa điện tuyến mới bắt đầu được thử dùng; còn việc giải phẫu lồng ngực hãy còn khó như đi lên cung trăng vậy. Nội trong vài tháng, danh tiếng cha tôi đã vượt biên thùy Đức quốc. Từ nhiều nơi trên thế giới, các đồng nghiệp gửi đến cho cha tôi những trường hợp nay họ đã đành thúc thủ. Một hôm, trong bữa cơm trưa, cha tôi kể cho chúng tôi nghe về một cô bé do cha mẹ cô, một gia đình trồng tỉa giàu có ở Montevideo, dẫn đến nhờ cha tôi cứu chữa. Cô bé Corinna đã nuốt một chiếc còi. Chiếc còi lọt vào khí quản, tuột xuống phổi, rồi ngừng lại khoảng xương sườn thứ bảy, làm cô bé khó thở một cách trầm trọng. Các y sĩ Uruguay và Argentina không biết làm gì hơn là khuyên đôi cha mẹ hốt hoảng kia đem con đến một thủ thuật gia danh tiếng ở Paris; ông này biết rõ tài cha tôi trong việc soi cuống phổi, lại gửi bệnh nhân đến cho người. Sáng hôm ấy, trong phòng làm việc của cha tôi, người cha vẻ mặt đầy lo lắng, người mẹ lúc nào cũng rơm rớm nước mắt, nói năng líu lo, vừa tiếng Anh, tiếng Pháp, vừa tiếng Tây Ban Nha.
Cô bé Corinna, mảnh mai nhút nhát, tóc huyền, đôi mắt đen mở lớn trên khuôn mặt gầy gò ốm võ vàng. Trên tấm ảnh điện tuyến của thủ thuật gia người Pháp gửi đến, lờ mờ thấp thoáng bóng một vật nhỏ, nằm ngay chỗ xương sườn thứ bảy, bên trên lá phổi dưới bên phải. Đặt tai vào ống nghe, mỗi khi bệnh nhân hít vào, người ta nghe rõ tiếng không khí rít qua chiếc còi. Sáng hôm ấy, ngồi trong lớp mà đầu óc tôi cứ tưởng đến cha tôi trong phòng mổ đang chăm chú lấy chiếc còi ra khỏi họng Corinna, đến nỗi bị phạt hai lần, vì lơ đãng. Chuông tan học vừa réo, tôi vội vã thu xếp sách vở, chạy ào về nhà. Cha tôi cũng vừa về. Dù không nói, vẻ mặt vui tươi đủ cho thấy là người đã thành công. Dĩ nhiên với ít nhiều trở ngại. Dụng cụ mới chế thật hoàn hảo, nhưng đến khi định kéo chiếc còi vào trong cái ống soi cuống phổi, mới thấy cái ống quá nhỏ. Tiếng lích kích của chiếc còi chạm vào thành ống soi làm cha tôi lo sợ đến ngừng thở. Người cố gắng dùng cặp móc của cái ống nhỏ kéo chiếc còi ra từng tí một. Thật là toát mồ hôi lạnh. Và mọi người thở phào nhẹ nhõm khi thấy chiếc còi quái ác ló ra. Năm ngày sau, khoảng giờ ăn trưa, cô bé Corinna cùng với cha mẹ cô đến từ biệt chúng tôi. Cha mẹ tôi tiếp đón ba người trong phòng khách lớn. Chúng tôi, ngồi trong phòng ăn, im lặng quan sát qua cánh cửa mở. Bà mẹ Corinna, mảnh mai duyên dáng, một vẻ đẹp của người xứ lạ, tay ôm một bó hoa lớn, chạy lại mẹ tôi, đưa bó hoa, nức nở ôm chầm lấy người. Rồi quay sang phía cha tôi, bà cầm lấy tay cha tôi mà hôn. Bà nói bằng tiếng Pháp, giọng đầy nước mắt vui mừng:
– Cầu Trời phù hộ hai bàn tay thần diệu này.
Cha tôi hơi bỡ ngỡ trước cử chỉ này, vì đối với người Đức, nó có vẻ quá nồng nhiệt. Người chồng, một nhà quý phái chính cống Tây Ban Nha, mặt dài, râu cằm cắt nhọn, ít bộc lộ hơn vợ, tiến lại bắt tay cha tôi thật lâu. Corinna, mặt đỏ bừng, e lệ cúi đầu chào cha tôi thật thấp, miệng lí nhí: Muchas gracias, senor (2). Mặc áo lụa, đội mũ rộng vành, trông cô bé thật xinh, khiến mẹ tôi không dừng được ôm cô mà hôn.
Mấy phút đồng hồ đó đã giúp tôi quyết định trở nên y sĩ. Còn nghề nào cho tôi nhiều cơ hội và khả năng giúp đồng loại để họ sống vui và hạnh phúc hơn? Vài hôm sau, trong lúc đi dạo với cha tôi, tôi ngỏ ý muốn theo y học. Cặp mắt xanh của cha tôi bừng lên một ánh mãn nguyện. Tôi hiểu rằng tôi đã đáp ứng đúng lòng ao ước thầm kín của người.
– Cha mừng lắm. Cha tôi nói, giọng nhiệt thành. Rồi con xem, y học sẽ làm nẩy nở tất cả mọi năng khiếu của con; một lương y phải biết tận dụng mọi khả năng của mình. Sự đồng ý này xóa hết mọi nghi ngờ còn lởn vởn trong đầu óc tôi. Tương lai bây giờ hiện ra trước mắt tôi như một con đường vạch sẵn, không quanh co, không trở ngại. Tôi dấn thân vào con đường đó, vui vẻ, bước vững chắc, – cho tới ngày chiến tranh bùng nổ, nhận chìm tất cả vũ trụ tươi trẻ của tuổi thanh niên của tôi trong một buổi đầy máu và nước mắt. Trong bốn năm liền, tôi là một sĩ quan trên nhiều chiến tuyến. Khi trở về, em trai tôi đã chết, cha mẹ tôi thì mất hết của cải. Cha tôi, rất yêu nước, nhưng cũng rất ghét cái ái quốc quá khích, đã bí mật đem tiền cho chính phủ vay. Và năm 1918, tiền Đức chỉ còn giá trị là những tờ giấy, đủ đẹp để dán lên tường thay giấy hoa.
Tôi lại trở về đời sống sinh viên, quá muộn màng, vì mất một năm binh nhất quân dịch và bốn năm sĩ quan. Tôi hăm hở học hành, và nhận định lại Freiburg, dù cha tôi lúc ấy được bổ làm giáo sư tại Berlin. Freiburg là nơi sinh trưởng, lại là chỗ tôi quen biết nhiều, nên tôi có hy vọng sống dễ thở một chút với nạn lạm phát trầm trọng lúc bấy giờ. Hơn nữa, Đại học Freiburg cũng nổi tiếng chẳng kém Đại học Berlin. Nhờ có những tên tuổi quốc tế như giáo sư ngoại khoa Lexer, giáo sư bệnh lý Aschoff và giáo sư dược học Straub.
Một điều khá ngộ là chỉ vài tuần sau kỳ thi ngoại trú bệnh viện, tôi mới tự hỏi: tôi sẽ chọn ngành nào trong y học? Bối rối quá tôi quyết định đến hỏi ý kiến Walter Straub, người tôi quen biết từ lâu. Khi còn nhỏ, tôi đã từng bắt lại cho ông những chú mèo hoang để ông làm thí nghiệm. Qua cặp kính cận dầy cộm, Straub ngắm tôi kỹ lưỡng, đằng hắng, rồi nói luôn một hơi:
– Có điều cậu nên nhớ: nội khoa chỉ để trị các bệnh nan y, sản phụ khoa để dành cho mấy cậu đẹp trai cả ngày ngắm vuốt, còn ngoại khoa thì dao kéo đỡ chân tay chứ sức mấy …Cứ thế Straub tiếp tục duyệt qua hết mọi ngành y học, trừ môn Dược học. Nghe điệu Straub nói, thì trên cõi đời này chẳng có thứ nào đáng học hơn là Dược học. Tôi ra về, lại càng lưỡng lự hơn. Tuy vậy, tôi cũng định chọn một trong hai môn, Dược học và khoa giải phẫu. Một phần có lẽ vì những giáo sư giảng dạy hai môn này đều là những nhân vật lỗi lạc của Đại học Freiburg. Thật thế, Walter Straub được coi như cha đẻ của nền Dược học cận đại; còn Erich Lexer, môn đệ xuất sắc của Ernst von Bergmann, nối chí phát huy học thuyết của thầy đến tận cùng. Bài giảng của ông thật chính xác và không kém phần hào hứng. Còn xem ông giải phẫu thật thích thú chẳng khác xem một nghệ sĩ thượng thặng trổ tài. Lexer cầm dao mổ như cầm cần kéo vĩ cầm, trong khi các thủ gia khác cầm như cầm cây bút. Cầm dao như thế, Lexer có những đường mổ đẹp như vĩ lướt trên dây của một diệu tài. Sự lựa chọn của tôi thật ra không dựa trên những cân nhắc lý thuyết, mà lại nhờ một việc xảy ra, đến nay tôi còn nhớ. Hôm ấy, trong giờ giảng dạy của Lexer, lần đầu tiên tôi cảm thấy nguồn hứng thú sôi nổi của khoa giải phẫu. Tôi nín thở, tim đập mạnh, sống những phút không phai khi nhìn một bực thầy thi triển nghệ thuật. Sinh viên ngồi sát cánh nhau mắt dán lên giảng đàn: Lexer, trong tấm áo choàng trắng toát, đi đi lại lại, trình bày đề tài ưa thích của ông: bướu xương. Thỉnh thoảng ông ngừng lại, tay gỡ cặp kính cận, chậm rãi đưa mắt nhìn cử tọa. Lexer có vẻ hài lòng: chúng tôi không ai động đậy, như uống từng lời nói của thầy. Ai nấy đều biết, sau khi giảng xong, Lexer sẽ cắt một khúc háng, một loại giải phẫu lâu lắc khó khăn. Con bệnh đã ngủ yên, nằm đợi trên chiếc xe để ở ngoài cửa. Ông y sĩ trưởng, các phụ tá giải phẫu, cô y tá, mặc áo đi găng sẵn sàng, bước vào giảng đường. Giờ giải phẫu đã tới. Nhưng Lexer vẫn hăng hái thao thao bất tuyệt.
Sau cùng, ông y sĩ trưởng đành nói với giáo sư rằng chỉ còn có năm phút nữa thôi. Lexer ngước mắt nhìn đồng hồ: – Còn năm phút nữa thôi à? Được, đủ chán.
Chúng tôi bắt đầu nhúc nhích, anh này lắc đầu chị kia thì thào lộ vẻ không tin. Không hay biết phản ứng của chúng tôi, Lexer rửa tay, mặc áo, đi găng, miệng vẫn không ngừng nói cho chúng tôi biết việc sắp làm. Cắt đầu xương đùi đã bị vi trùng lao đục khoét, gọt lại đầu xương, đặt cho đúng vị trí rồi đóng chặt vào xương chậu. Bệnh nhân được đẩy vào nằm nghiêng một bên. Con bệnh ngủ êm dưới một lớp vải khử trùng. Háng bên trái, nơi giải phẫu, cũng được che kín. Theo đúng luật, chỉ khi mổ mới được mở ra. Lexer đứng trước bàn mổ, bình thản nhìn chỗ sắp mồ. Tôi nhoài mình ra phía trước, theo sát từng cử chỉ. Vẫn im lặng, Lexer đưa tay đón con dao mồ ở tay cô y tá. Cánh tay thật lực lưỡng, bàn tay nhanh nhẹn dị thường. Chúng tôi rất tán thưởng lối cầm dao cân nhắc như đùa của Lexer. Chợt Lexer nghiêng mình về phía trước. Trong nháy mắt, một đường dao vòng cung, dài chừng hai mươi phân, sâu vừa đúng tới lớp thịt, vạch trên háng trái bệnh nhân. Gần một nắm kẹp chỉ huyệt Lexer kẹp những động mạch chính. Các phụ tá đặt đồ phanh hai bên vết mổ.
Đấy chỉ là đoạn mở đầu. Bây giờ mới đến màn ảo thuật thật sự, ít ra là đối với anh sinh viên là tôi lúc bấy giờ. Lexer, tay trái cầm một cái đục lớn tay phải một cây búa nặng và chỉ một phát múa thôi, làm bật tung toàn khối vuông lớn của xương đùi, kèm theo cái bướu của cánh xương chậu. Kéo khối xương vừa đục cùng các bắp thịt lên trên, Lexer rạch mạnh bao khớp xương ở mé dưới, rồi hai tay nắm đùi bệnh nhân, quay một phần vòng tròn. Thế là khớp xương háng bật ra.
Trong phòng im lặng như tờ. Lexer chìa tay, cô y tá trao cho ông một cái kẹp lớn. Ông lôi ra cho chúng tôi xem khúc đầu xương vụn nát. Tất cả lâu có ba phút, một kỷ lục thần sầu. Rời giảng đường, chúng tôi còn như ngơ ngẩn. Mấy phút đó làm chúng tôi say sưa thích thú như vừa xem tuồng Thạch sĩ bia.
Riêng tôi, tôi đã có một quyết định sắt đá: tôi là y sĩ giải phẫu, chỉ là y sĩ giải phẫu chứ không thèm là gì khác.
NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC
[Tình Thương Số 21-22, tháng 9-10,1965]
1) Cha tôi là thần hộ thủ liêm khiết nhất của tôi. Tôi phải khen ngợi và mang ơn Người nhiều.
Ba mươi năm trước, khi cầm bút viết dòng chữ đầu đời, cũng là cuốn sách đầu tay, anh đã có ý thật: “Bản thân không hề là người tài hoa; viết không thuộc về công việc đặc thù giành riêng cho loại “tài tử văn nhân” nói quanh những điều say đắm, đẹp đẽ, bình an … “. Chẳng cần cậy đến ý của Albert Camus mới được biết” Tự tử là vấn đề triết học lớn”. Hoàn cảnh bản thân với môi trường chiến tranh độc địa vây chặt trong suốt một thời – Cũng chẳng phải “một thời để yêu, một thời để chết”, mà chìm ngập, trùng điệp nỗi chết không cơ may khoan thứ, giảm khinh. Hoàn cảnh ấy đặt người vào vị thế mất còn, để không có cách tự giải quyết nào khác ngoài vận động chữ, nghĩa. Bởi viết trong điều kiện, cảnh sống khắc nghiệt như kia nên còn đâu hơi sức nghĩ quẫn quanh những cái gọi là … “bờ môi, mầu mắt, mùi hương, sợi tóc…”. Sống sót được cũng đã có tội, nói chi đến cơ tâm dụng văn chương (lại là những thứ văn chương qua lại giữa những anh anh, em em…) như phương tiện kiếm lợi, danh. Ba mươi năm sau đọc lại những điều đã viết, chỉ thấy dằng dặt ngọn nguồn oan nghiệp thương tâm. Thương người mà cũng thương thân. Tình cảnh khốn đốn buổi thanh xuân kia đã là sự có thật. Nhưng sau những cơn binh lửa cùng cực cuả Mậu Thân, 1968; Hè 72, cuốicùng, cuộc di tản uất hận bắt đầu từ ngày 10 tháng Ba, 1975, khi những binh đoàn Miền Bắc cường tập tấn công thị xã Ban Mê Thuộc, mở ra kỳ hấp hối kinh hoàng toàn Miền Nam … Đến hôm nay-Tháng Ba hai mươi ba năm sau- Âm vọng thống khổ vẫn chưa hề tàn lụi. Tính đúng ra 53 năm, kể từ 1945. Hơn nửa thế kỷ. Quả thật, cơn Đau Người Việt vĩnh cữu, hằng có như ánh sáng, bền bĩ với thời gian. Vào tuổi già, người viết nhìn quanh, nơi đất lạ, phiền muộn,quạnh hiu, đồng thời thấy rõ cách thế tự cứu ngày trước lộ ra phần vô dụng.
Thế nhưng, những người cầm bút vẫn tiếp tục.
Trên dặm dài miên viễn với Nỗi Đau, người viết văn luôn sắc son có mặt cùng hoạn nạn quê nhà. Đọc Trần Trung Đạo. Bởi-Người cùng anh chia Lần Đau,
Một
Anh xa quê, xứ Huế, mùa Hè năm 1952 chưa đủ mười tuổi. Đứa bé đứng suốt chặng đường trăm cây số khởi đi từ nhà ga đầu tiên. Chuyến tàu chợ chạy chậm qua những xóm làng, cầu sắt, mương lạch, suối sông, bờ bãi gây nên cảm giác nôn nao cảm động. Quê hương trãi qua mắt trẻ nhỏ hiện thực bài học thuộc lòng
Làng ta có tre rào
Có sông ngòi chuôm ao
Có đình chùa hội hè sum họp
Có trường học trẻ con ra vào …
Tàu lên đèo Hải Vân, vào chiếc hầm đầu tiên, qua màn khói than đá, ánh sáng lờ mờ từ đầu miệng hầm chạy loáng thoáng lên vách đá rĩ nước cùng nhịp âm động siết rên từ những đỉa thắng sắt chạm vào khung bánh dười lườn toa đẩy đưa trẻ nhỏ cồn cào sợ hãi …Tàu ra khỏi hầm, một biển trời toàn khối cùng ánh sáng oà vỡ lung linh-Vịnh Đà Nẵng đang đầm đầm nắng tươi sóng nhỏ … Ô Biển!! Tiếng ngây thơ reo lên bất ngờ, thoắt lặng im để đắm chìm theo cơn sóng dưới xa hun hút dựng trường thành tung bọt trắng vào bờ đá.
Anh lớn lên trong Biển.
Anh với Biển từng ngày.
Biển Đà Nẵng, thuở ấy là Biển Thanh Bình (Mỹ Khê, Nam Ô chưa cần phải đi tới), vì chỉ cần qua khỏi Cầu Vồng, bắt đầu đường Khải Định (ta đã nhận ra giọng rì rào rừng dương chuyển động, hương nhựa cây lá nồng rực lan tận Nguyễn Hoàng, Đống Đa (còn mang tên những người Pháp). Hôm gió lớn, cả thành phố nồng nồng mùi biển. Ban đêm, nghe ra tiếng sóng đập vỗ liên hồi. Nhà anh, căn lều tranh đầu đường Hoàng Hoa Thám đêm mùa đông rúng chuyển theo cơn gió thốc và âm sóng dồn vọng nơi xa, nhưng có cảm giác bên cạnh, ngoài hiên. Phía sau nhà ga, giãi cồn cát, bàu nước mà ngày Hè đã qua đi để lại những bông súng trắng xám mỏng manh hiu hắt, loang loáng đèn pha từ đồn binh dọi lên những mộ cát hoang phế sụp lỡ …
Cảnh sống mà nghe rõ sắc chết lạnh tanh. Đà Nẵng ngày ấy chìm chìm trầm mặc gây nên cảm xúc vắng vẻ, đơn độc như cơn gió vi vu qua tàng dương nơi nghiã trang cũ cuả người Pháp, khu đồi cát trông xuống bệnh viện, sau nầy đổi nên Trường Nam Tiểu Học. Đà Nẵng ngày xưa cũng đủ độ rét để mẹ trồng những luống cải nở hoa vàng dịp Tết, đứa nhỏ chạy quanh quất giữa những luống rau, hít thở mùi nồng nồng ngầy ngậy từ những bắp su xanh dầy lá cứng, chân dẫm lên lớp lá kiền kiền vàng khô vỡ vụn.
Quê hương thân thiết thế kia, nhưng hình như không một lần nhắc đến, mong trở về. Chẳng phải lòng vô tình lạnh nhạt, muốn bỏ đi. Nhưng bởi năm tháng Đà Nẵng sau 1965 với gần trăm ngàn lính Mỹ có mặt, đã thay đổi tính chất đến độ tàn nhẫn, miệt thị. Nơi chốn ấu thơ đã không còn, cũng như những phần đất cơ khổ quê hương tan tác, vấy bẩn trong chiến tranh. Sự cùng đành quên đi như điều bi thương không muốn nói ra.
Và quả thật không muốn nhớ đến. Sợ phải nghĩ lại … Đà Nẵng … Những ngày cuối Tháng Ba 1975. Anh đứng trên đỉnh Hải Vân với những người lính Lữ đoàn I Nhảy Dù, Tiểu đoàn 8 TQLC, nhìn đoàn người chạy loạn từ Quảng Trị, Huế để nên hiểu cơn hấp hối đang đến, giờ cuối cùng của một Dân Tộc thật hiện thực. Sự chết không chỉ trên thây người sâm sấp vào ra theo con sóng, loang lỗ dấu đạn, vết thương mở toát. Chết bừng bùng như nắng ối sáng lên mặt biển, đầm đìa khí trời, hơi gió … Khối đất trời một lần anh thương mến, cảm xúc, lớn lên. Đà Nẵng thật muốn quên như Cơn Đau. Chiều ngày 23 tháng 6, 1976 khi qua phà Âu Lâu trên Sông Hồng để vào thung lũng trại tù Hoàng Liên Sơn, chen trong lời chim “ … khó khăn khắc phục … “, có âm than của chim “hít cô” … Tít … tit .. tit … tịt …. tit … Chim kêu tắt chậm, chìm chìm, tội nghiệp … Như chim đã nhiều lần kêu cùng trong tuổi nhỏ, khi anh quanh quẫn nhặt nhạnh những hạt vàng nhầy mũ trắng giữa đám lá kiền kiền, dưới tàng lá sum sê, bên dòng nước chảy qua chiếc cống đầu ngã Ba Cây Quăn. Tình cảnh đứa bé nhà nghèo hai mươi lăm năm trước với phận người tù thấm nhục được nối kết như mối đau không đứt đoạn. Anh chợt nhớ cảnh người điên đứng la hét nơi bến phà Câu Lâu, Vĩnh Điện, buổi chiều chập choạng một tối năm 1957, lần theo đoàn công-voa nhà binh đi Quảng Ngãi … Bóng người mặt trắng nhờ nhờ, đầu trọc, mắt lạc thần, tiếng lời vô nghĩa, uất ức, hỗn độn, khàn đục. Cảnh tượng quái dị gờn gợn. Trăng hôm ấy vàng khô, lên cao hóa to, đỏ nhừ soi xuống sông chỗ bến phà như sôi máu bầm.
Thơ Trần Trung Đạo nhắc anh lần nhớ về một chốn đầu đời, cùng một chốn cuối trời … Đà Nẵng … Thanh Hoá … Miền Bắc … Miền Nam … Vùng đất anh thật qua lần sống-chết.
Hai
Hóa ra cảm giác nhạt nhạt trong miệng, buồn buồn trong lòng từ một thuở rất lâu … Trong giấc ngủ chợt thức giữa bóng tối với cảm giác lo sợ khi tuổi lên ba. Đêm qua hai mươi, thanh niên xao động bồn chồn nơi trường Đà Lạt, nhìn ra vườn Bích Câu ngoài xa thắt thỏm chập chờn giàn đèn màu tím đẫm lẫn mù sương. Đêm bị giam có tầng khối chụp xuống nặng đá tảng, mồm há ra như đang nghẹt thở, mắt ráo hoãnh nhìn đình mùng bay lên cao … Cao cao nơi xa … Lần bị phạt quân kỹ đầu tiên, tháng 8, 1964, để biết rằng có một mất mát rất lớn ắt phải xẩy ra – Mà đã thật như vậy-Lần mất không thể chịu đựng nổi. Và hình như mới đây, luôn gần kề cụ thể, sắc nét rờn rợn … Những lúc BẤT NGỜ nghe tiếng kêu từ Nghĩa Trang … Để một thân từ căn cứ, lái xe ra xa lộ, dừng ở Tượng TiếcThương, nhìn lên Người Lính … Động tâm cào xé tự trong sâu … Cơn gầm ghìm kinh hoàng củalần thật chết lúc đang sống.
TẤT CẢ HIỆN ĐỦ TRONG BUỔI SÁNG HÔM NAY.
Anh lục túi lấy hết giấy tờ … Chứng Chỉ Tại Ngũ, Thẻ Lãnh Lương, Thẻ Báo Chí, Chứng Minh Thư mang Danh số 41 Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương … Có cảm giác buồn cười … “Hoá ra đến giờ nầy vẫn chưa có thẻ sĩ quan mới … Lần lên trung uý, trận Đồng Xoài … Cái thẻ đầu tiên và cuối cùng bị mất, năm 1965”. Anh đặt tất cả vào trong chiếc ví, đồ vật tương đối có giá trị vật chất của bản thân, lại là chiếc ví kỷ niệm nhận được hôm sinh nhật vừa qua. Anh ném tất cả xuống miệng cống trước trước nhà sách Khai Trí, đường Lê Lợi. Coi như mình đã chết … Hình như anh nói ra lời. Có cảm giác thanh thản của người vừa cất xong gánh nặng quá lớn. Vất bỏ cùng lần với đời sống chính mình. Tay giữ chặt hai chiếc máy ảnh trước ngực … Ít ra mình còn có vật dụng để thực hiện một công việc, làm một nhiệm vụ … Đây là những hình ảnh không thể thiếu cho mai sau. Để tương lai còn có người biết và thấy ra. Anh nhắc nhở, nâng đở. Cũng chỉ là tự an ủi mà thôi.
Với cách ứng phó, giải thích tội nghiệp, vô dụng nầy anh đi về phiá Hạ Viện. Chung quanh Sàigòn vắng hoe. Chiếc xe Molotova Trung Cộng (Sau nầy mới biết đấy là xe Zin) tới trước thềm Hạ Viện. Đám thiếu nữ nhẩy xuống. Một anh đội mũ tai bèo, người chỉ huy trung đội lính phụ nữ từ ca-bin xe bước ra, chỉ chỏ, ban lệnh, kéo từng người vào vị trí “phòng thủ”. Anh cùng hai phóng viên người Nhật đi đến tổ súng thượng liên đang ngồi nơi những bậc thềm; ba người đưa máy hình lên, nhắm góc độ, điều chĩnh ánh sáng. Những thiếu nữ bất động nghiêm trọng. Tất cả đều mặc áo quần mới, áo mầu xanh dương, quần đen, vải nội hóa còn nguyên dấu hồ; giây đạn đeo chéo qua thân, miết xuống những thớ thịt ở ngực, phần bụng. Đạn cũng mới tinh. Đỏ au. Cơ thể cô gái phụ xạ thủ như muốn nứt toang do chiếc áo quá chật bó thắt vào khối thịt căng phồng. Đôi mắt nhỏ, một lần chỉ khép kín để khỏi nhìn thấy ống kính.
Cô ta ngồi im, hai cánh mũi phập phồng, mồi hôi ứa đẫm trên lớp da mặt đỏ nâu những dấu mụn. Từ góc nhà hàng Givral, Công trường Lam Sơn, đầu đường Nguyễn Huệ, đám đông bắt đầu tập trung để xem mặt “bộ đội Việt cộng”. Thêm hai chiếc xe đổ quân trước rạp Rex. Lính nhẩy xuống, chạy vội vào hàng hiên, nằm, trườn, bò, nháo nhác … Từ trụ sở Hạ Viện anh đi qua hành lang Eden. Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt bị lay động, phá bung, những tấm kiếng bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn vội vàng trên mặt đường … Người người dồn dần ùn ùn … Mỗi lúc mỗi đông … Người la ó, chưởi thề, giành giựt chạy về phiá Building Brink, khu dồn Đất Đất, nhà thương Grall … Bất chợt, tất cả hình như lắng lại để nghe rõ … Có người tự tử
… Có người mới bắn chết … Ai … Lính … Lính mình … ở đâu … Ở ngoãi … Chỗ tượng thuy quân lục chiến …. Lời trao đổi đứt khúc, vội vã, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân cuống cuồng nôn nóng … Đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy ắp vật dụng quí giá, thức ăn đắt tiền. Anh cũng nhập vào đám đông xô đẩy đó trong giờ phút vỡ toang mối nối thời-không với những động tác bất ngờ, vô nghĩa, vô ích nhất … Kiểm soát lại số phim đang còn trong máy, trong túi, anh băng qua lối ngang trong thương xá, ra ngõ quán Thanh Vị, quẹo phải, men theo hàng hiên tiệm kem Đô Chính … Súng nổ … Súng Aka và những bóng người chạy lúp xúp vào cổng Toà Đô Chính. Anh tiếp tục làm “nhiệm vụ”, đưa máy hình lên, chạy theo đám lính cộng sản với hai thanh niên cầm cờ đỏ. Thật ra chỉ là một mẫu vải màu đỏ. Loại hàng may áo dài. Thoáng rất ngắn anh ngừng lại. Nôn khan.
Sách Trần Trung Đạo có bài Thơ về Trung Tá Long-Người Chết nơi Tượng Thủy Quân Lục Chiến- Buổi Sáng vừa kể trên. Lời Thơ đơn giản – Mối Đau Thật.Trung Tá Long – Chúng tôi biết đến Danh Hiệu nầy tháng sau, nơi trại Long Giao, trước lần biết tin về các Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn … Và nhiều Người Lính, rất nhiều người kể cả người thân của họ-Những Người Miền Nam-Không ai biết tên, đơn vị, ở đâu, trong buổi sáng ngày ấy. Có những gia đình đồng từ vận, như một tập thể lớn gồm ba thế hệ của thân nhân bên bà vợ huynh trưởng Hà Thượng Nhân. Những người một lần sống cùng mệnh nước. Cũng một lần chết theo cơn bức tử tận diệt quê hương.
Ba
– Chiều Đêm Lễ Giáng Sinh 1989. Người lặng thấm xuống theo ánh nắng thoi thóp tàn dần gây gây lạnh của Miền Nam dịp cuối năm. Xóm Đạo, xứ Phước Hải, vắng hoe không ánh nến, không lồng đèn, Cờ Giáo Hội đơn lẽ dưới tàng cây, cất dấu, chịu đựng. Những khoảng đường đất cát vòng vèo không bóng người. Khu Xóm Đạo nặng chìm u uất của Đêm Thánh Nạn chứ không phải lần Giáng Lâm hân hoan. Đoàn người chuẩn bị vượt biên ngồi kín trong căn nhà tranh cuối xóm. Người nhìn nhau nín thở, nói thầm. Không ai biết số phận mình giờ sau. Trời sập tối nhanh, ánh sáng leo lét ngoài sân không soi rõ mặt, ngọn đèn dầu chùm chụp đặt dưới đất, dọi lên mâm cơm. Chiếc rá tre lỗng chổng mấy chén đất, đũa tre, nồi cơm đen, chén nước mắm dầm quả trứng và rỗ rau lang. Quả trứng trơ trọi rờn rợn như trứng gối đầu người chết. Bữa cơm có dáng vẻ, không khí của lần ăn chạy giặc những ngày trước 1954 ở vùng Nam Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên … Chính xác hơn, cơm ăn cầu no trước lần xuống đồng, vào rừng theo lệnh của tổ, đội. An ở sân thóc Hợp Tác Xã, vừa ăn vừa nghe phân công “trực ban” …. Sau mười lăm năm giải phóng, Miền Nam nên được “sinh hoạt văn minh tiên tiến xã hội chủ nghĩa” –Sản phẩm ròng Miền Bắc. Phước Hải, Bà Riạ, Xứ Đạo trù phú nhất của tỉnh giàu nhất Miền Nam, nơi những triệu phú làm muối, nghề rừng, đi biển. Năm 1966, đơn vị anh, Tiểu đoàn 9 Dù thực tập hành quân ở đây, đêm ấy Xóm Đạo bừng bừng Đức Tin và ánh đèn néon từ máy điện chạy xăng của mỗi nhà. Cũng ở đây, 1965, dân đã đi báo Tiểu Khu cho biết điều động của trung đoàn Việt cộng bôn tập từ mật khu hắc Dịch Hắc xuống. Tiểu đoàn 52 Biệt Động Quân đã lập nên kỳ tích – Một tiểu đoàn đánh bại một trung đoàn ở vị trí phục kích. Hai mươi bốn năm sau đòn giáng trả hận thù còn nguyên độ sắc. Đêm Giáng Sinh, Xóm Đạo tắt lửa mù căm. Chuông gọi lễ khắc khoải buồn hiu.
Bữa cơm được dẹp đi mau chóng, không ai cạn lưng chén kể cả bé gái khoảng bảy tám tuổi ngồi cạnh người cậu, anh thanh niên chưa đầy hai mươi. Bé nhìn mọi người mắt ráo hoảnh, hai lúm đồng tiền nổi cao trên gò má giật giật. Bé dấu cơn kích động dưới nét mặt cứng săn tỉnh lạnh. Giờ Chúa giáng sinh cũng là lúc xuất phát. Anh mở chiếc xắc tay, rút bao thuốc mua buổi trưa nay, lúc lên xe; hút lại điếu thuốc lá đã bỏ đi từ rất lâu. Tay anh chạm cuốn Kinh Thánh, sức lực cứu nạn đã đưa anh qua được mười bốn năm tù, phần lớn nơi hầm tối … Chẳng lẽ lại bị thêm một lần nữa sao, Chúa tôi ơi?!
Đoàn người chia làm hai toán. Anh đi theo hai cậu cháu người trẻ tuổi, hai đơn vị vô hại, đơn giản nhất trong đám vượt biên. Năm “bảy-lăm” chắc anh ta khoảng ba, bốn tuổi, bằng thằng út của mình … Đứa nhỏcỡ ty, my … Đã có đâu trong năm đó …?!! Anh nghĩ lãng đãng khi đi theo hại chiếc bóng loáng thoáng. Thương thân thì ít, tội nghiệp nhiều hơn cho con trẻ … Con mình cũng có những đêm tối như thế nầy … Những đứa nhỏ miền Nam. Anh không nghĩ nhiều hơn; không có lòng cứng cỏi bình yên để tính thêm về những điều nguy khốn. Anh thật sự yếu ớt, đau đau, bất lực. Những đêm ngày xưa tuổi trẻ, anh có cây súng và những người lính. Bóng tối gây bất lợi hoặc che chở cho cả hai bên lâm chiến. Đêm nay chỉ một mình anh. Đưá bé kia còn khốn đốn hơn. Không mẹ cha và vây bũa vũng đen. Anh đã sống cùng những đứa bé như thế nầy đêm di tản Pleiku, 15 tháng Ba, 1975. Anh đã thấy những đứa bé thất thần, nháo nhác, không hơi sức khóc giữa đường đèo Củng Sơn Tuy Hoà; dưới chân Hải Vân, trên cầu sắt Nam Ô, bên nầy địa giới Quảng Nam, Đà Nẵng. Người lớn nhận khổ đau dù sao cũng có phần chọn lựa và quyết định. Con trẻ … Tại sao … Từ đâu hở trời …?!! Trước ngày về Hà Nội cướp chính quyền, Ông Hồ họp Quốc Dân Đại Hội ở làng Tân Trào, tháng Tám, 1945. Trụ sở họp dưới cây đa. Giữa giờ nghỉ, ông bế một em nhỏ và nói với các đại biểu …
“… Đời tôi chỉ có một ham muốn. Ham muốn tột bậc … Là mong cho các cháu thiếu nhi như cháu bé nầy được ăn no, mặc ấm, học hành”. Tất cả đại biểu đều cảm động. Có người phát khóc. Anh coi như ông ta đã nói thật. Nhưng cũng có một sự thật khác: Sáu thế hệ trẻ nhỏ Việt Nam, không thể tính số lượng tổng quát, đã chịu những hoàn cảnh vô cùng khốc liệt, đau đớn cực độ, tai biến gớm ghê, những cái chết năm lần bảy lượt không toàn thây … Kể từ khi ông ta cùng những người thừa kế nhất định thực hiện lời nói “chí nhân” kia bằng lối bạo lực – Bạo lực cách mạng!! Nửa thế kỷ sau, hôm nay, lời nói ấy cũng chỉ là một giả thiết càng ngày càng tồi tệ, không hề có khả năng thực hiện- Sự nghiệp kia vẫn đang tiếp tục do những người cầm quyền tại Hà Nội- Có tiếp sức tích cực, bền bĩ, hiệu quả của một giai cấp mới – Trí thức xã hội chủ nghĩa … Lẽ tất nhiên trong đó, những người làm “công tác giáo dục, văn hoá văn nghệ” đóng vai trò giềng mối … Những thi sĩ, nhà văn. Người xử dụng chữ nghĩa, nhân cớ tương lai, sự thật, tính thiện. Bởi một điều dễ nhận ra nhưng không ai nói lên, viết đến: Chính người cộng sản đã phá vỡ đời sống giản dị bình an cuả trẻ thơ, vất bỏ khả năng nhân đạo kia ngay tại trái tim ung thối bởi tham lam quyền lực chính trị của họ. Anh cũng là một trong sáu thế hệ trẻ nhỏ cùng khốn nầy. Anh và con trẻ cùng chịu một lần. Chỉ khác, kẻ sinh trước chịu lần đau trước. Thế thôi.
Đêm tối khuya, sao sáng bằng bặt, đất căm lạnh và lòng người trắng nhợt. Sau đoạn đường dài nguy khốn, nay anh được tự do chọn lựa tình cảnh nầy. Quà tặng Thượng Đế giành riêng Đêm Giáng Sinh. Lạy Chúa xincho rõ ý, giúp sức mạnh và bền vững Đức Tin … Đứa bé trước mặt bước thoăn thoắt, anh vô tình có so sánh:” … Năm xưa mình chạy bộ từ Ninh Hoà về Dục Mỹ, mười bốn cây số với súng cầm tay không quá một giờ; đitù những năm đầu tiên, bè hơn hai trăm cây nứa hộ cho hai ông bạn già Võ Long Tê, Lê Văn Dương lội sôngHồng mùa nước lũ bền như con cá kình. Thể mà bây giờ theo đứa cháu nhỏ không kịp … Mình già đến thểsao … Tuổi nầy bị tù nữa là khốn nạn.”
Anh chuyển bước đi gần như chạy khi qua Quốc Lộ 15, bất chợt liếc qua phía trái, hướng Bà Rịa … Bà Rịa, Suối Nghệ, Bình Giả … Sao đời anh cứ dính líu một cách khắc nghiệt với nơi chốn nầy. Từ đây anh đã ra đi, buổi sáng Thứ Hai, hai mươi hai tháng Sáu, mười lăm năm trước. Đường đi dần khó khăn, đoạn bằng phẳng đất cát đã thay thế bởi vùng đất phèn vừa được khai hoa, những ổ ruộng sụp lút chân trâu, bóng đứa bé ẩn hiện sùi sụp … Đám người đến một bờ kinh. Đêm qua sáng, Sao Hiệp Sĩ chống gươm đứng giữa trời canh giữ. Trời nguyên vẹn hằng có, dáng sao uy nghi, chỉ con người mong manh mải tìm chỗ ngủ đỗ. Nay đã buổi cuối đời. Ngày xưa, những đêm sao mùa Đông, kỳ trại Hướng Đạo trên dãy đồi hoa dũ dẽ vùng Phong Lệ, Miếu Bông, Quảng Nam – Đà Nẵng, đoàn thiếu niên nhìn dáng sao liên tưởng niềm cao cả tự tầng trời và mong được lần hiện thực điều ước mơ kia nơi trần thế. Và dẫu giữa chiến trận rạn rày, đêm cuối năm 1964, nơi đồn điền Ông Thịnh, bên sông Thị Tính, Bình Dương, giữa hai đợt đạn pháo kích, anh vẫn nhìn sao như mối thân thuộc riêng tư cùng anh lần qua đêm. Cũng dài cơn ngục tù không đứt đoạn với từng đêm trên đồi trại Thanh Cẩm, mặt dán vào khung song sắt, lắng nghe Sông Mã trầm trầm âm sóng nơi xa … Nhìn lên cao, khoảng rộng hai gang tay mở ra cho anh chốn nghìn trùng ngờm ngợp để luôn có cảm xúc … Tự nơi thăm thẳm kia có lời kêu gọi, an ủi, giữ gìn … Bền lòng chung thủy như trăng. Đêm nay, sao có canh giữ bình an cho người ..? Đám vượt biên dần tập trung chờ ghe đến “tắc xi” ra cá lớn. Đứa bé đã bám chắc vào lưng người cậu, buộc chặt bởi đoạn vải lớn rộng. Ghe đuôi tôm đi đến. Những tiếng thở dồn nén gầm ghìm. Bóng người lúp xúp, chen chúc bước xuống dòng tối sẫm loáng chấm sao. Anh nói nhỏ với người thanh niên … Em đưa chiếc túi anh đeo hộ, rảnh tay giữ cháu … Đồng thời bước sát gần lại, che đứa bé từ sau lưng. Cả ba đồng lần ngâm mình vào nước. Gió lạnh se sắt rờn rợn. Đường đạn vạch đỏ chói từ đầu sông, đồng hướng chiếc ghe đang tiến tới. Tiếng nổ vương vải vũng tối. Anh khua tay trước mặt … Khối lưng ngừơi thanh niên cõng đứa bé không còn. Những vệt đèn pin ngang dọc loang loáng săn đuổi. Âm động thân người rơi rớt, lụp chụp … Mị .. mi .. con đâu … Người thanh niên cuống quýt, vùng vẫy, giọng tắt nghẹn bởi ngộp nước … Hình như anh ta cố ngoi lên … Mi .. mi ..con đâu. Đưá bé đáp tỉnh … Con trên nầy … Anh ta kêu lên đâu đó … Không … được, nhảy xuống … Tiếng cứng cỏi, tự tin … Không. Tất cả lặng thinh. Súng vang sắc nhọn và lời hô …. Xung phong … xung phong …!!
Ghe nổ máy lớn, xô đẩy sóng, vút đi xuyên vào bóng tối. Thân người rời rụng xôn xao. Anh cho tay xuống chân rút đôi giày ba-ta, theo chiều nước chảy lội xuôi về phiá Nam. Khi ra đến xóm Đạo Chu Hải, nhìn lên trời, sao Hiệp Sĩ đã xuống sâu về phiá Tây … Anh chỉ nghĩ được loáng thoáng … Gần sáng rồi … may quá không bị bắt … Có cảm giác, phản ứng của người kiệt sức. Hai ngày sau, Báo Sài Gòn Giải Phóng có bản tin ngắn: “Bọn phản động xã Phứớc Hải, huyện Bà Rịa, tỉnh Đồng Nai ngụy trang dịp lễ tôn giáo để tổ chức đưa người ra nước ngoài. Bọn phản bội Tổ Quốc đã bị trừng trị đích đáng … “
Những đứa bé cuả câu chuyện vừa kể bị vất ra khỏi mục tiêu “một trăm năm trồng người cuả đảng cộngsản”; nhưng chúng hiện đủ trong Thơ cuả những người viết thấm Đau. Thơ Trần Trung Đạo dẫn chúng ta đi xa hơn, quá Bà Rịa, Việt Nam để đến trại cấm Hồng Kông, Thái Lan, với những đưá bé chỉ thấy được mặt trăng lần đầu trong đêm “cưỡng bức hồi hương về một chốn gọi là Việt Nam”. Nơi em chưa hề biết.
Và cuối cùng,
Anh luôn có cảm giác “Mẹ vừa mới mất” cho dẫu đã ba mươi, bốn mươi năm … Hoặc lâu hơn. Nhưng quả thật, …. Tường như Mẹ vẫn còn đây. Mẹ luôn ở với cơn. Thơ Trần Trung Đạo mở đầu và kết thúc từ, với Mẹ.
Người Viết Thơ chưa quen (chắc trẻ tuổi hơn) thúc giục anh có ý nguyện đã tàn lụi hơn ba mươi năm … Phải trở về … Phải trở về … Về Đà Nẵng.
Ngày cuối Tháng Ba,
1997
Lần mất Dà Nẵng. Nha Trang.
Người Cu-Ba
Người Khzakhstan
Người Trung Hoa
Người Việt…..
Đồng là nạn nhân chung một hoàn cảnh
Không thể sống với một chế độ chính trị khốn cùng biển lận nhất của các chế dộ độc tài
Ở Việt Nam, tên của một số thành phố có liên quan đến lịch sử, đến truyền thuyết hay đến hoàn cảnh: Saigon náo nhiệt, Hà Nội khắc khổ, Hué hoàng gia, Phát Diệm công giáo … v.v..
Phước Bình thuộc tỉnh Phước Long là một thị trấn nhỏ nằm sát biên giới Cam Bốt, không có gợi lên ý niệm gì hết ngoại trừ đối với công chức, nó là một mảnh đất lưu đày.
Mười năm trước đây, một toán đặc công Việt Cộng đã tấn công Phước Bình, năm binh sĩ Hoa Kỳ tử thương, và 12 bị thương. Bây giờ từ trung tuần tháng chạp/ 1974, hai sư đoàn chánh quy Bắc Việt, sư đoàn 3 và sư đoàn 7 đang di chuyển về Phước Bình, quận lỵ của tỉnh Phước Long, một thị trấn nhỏ nằm ngay khúc quanh của con rạch dưới một triền núi của vùng Cao nguyên. Dân số của tỉnh nầy không quá con số 50.000, phần lớn là đồng bào thượng, người Mán và Hmong. Ở đây không có ruộng. người “thượng” sống trong rừng, trồng cao su và khoai mì.
Đối với dân Saigon, Phước Bình là miền “Cực Tây” (Far West), dù nó nằm về hướng Bắc, cách thủ đô 115 cây số. Thị trấn chỉ có một con đường chánh mà dân chúng sống tập trung ở đó, con đường nầy còn được dùng như một phi đạo nữa. Và ở cuối phi đạo là tòa hành chánh, có một gác chuông nhỏ trên nóc. Ở dọc hai bên vừa đại lộ vừa phi đạo nầy là doanh trại của quân trú phòng: 3000 binh sĩ chánh quy, và khoản 1000 Bảo an, Dân vệ. Họ ở cả trong các dãy trại và trong các nhà tranh cất dài theo hai bên đường.
Tất cả các trục lộ về tỉnh nầy đều bị cắt đứt. Quân Bắc Việt đã chiếm hết bốn quận chung quanh, đang bao vây tỉnh theo thế gọng kềm. Tại Saigon Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Nam đang theo sát những diễn tiến nầy. Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân rất lo ngại: nằm về phía Đông Bắc của Phước Bình là ngọn núi Bà Rá, cao 723 thước, là một trung tâm truyền tin.
Đã từ lâu rồi, Saigon phải tiếp tế cho tỉnh bằng phi cơ cánh quạt hoặc bằng trực thăng. Mỗi tháng khoản 500 tấn gạo, đường, muối, xăng dầu và đạn dược.. Chánh phủ Saigon và những người có trách nhiệm quân sự ở đây chỉ bám theo một công thức và những con số thống kê: “còn nắm được tỉnh lỵ là tỉnh đó coi như chưa mất” và “cộng sản chiếm đóng 18% lãnh thổ Việt Nam và kiểm soát 10% dân số.” Chúng ta hãy nhìn thử xem: Làm sao nắm biết được những con số nầy? vì sau 30 năm đánh nhau không có một kiểm kê nào gần đây hết ? với những người dân quê nay đi mai đến, và dân lánh nạn thì nay đến mai đi?
Không còn nghi ngờ gì nữa, các trung đoàn Bắc Việt đang đổ về hướng Phước Bình. người ta nhận dạng được ngay qua vũ khí của họ, qua đồng phục màu “xanh ve” và nón cối của họ, và nhất là qua giọng nói của họ. Lính việt cộng thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không bao giờ có đồng phục , thường mặc bà ba đen và đội nón vải với một khăn rằn choàng cổ.
Cả bộ tham mưu Saigon và của tỉnh đều hoàn toàn bị bất ngờ, khi Bắc Việt tấn công mạn Nam của tỉnh lỵ hồi 7 giờ sáng ngày 1 tháng giêng, với 40 xe tăng T.54. Binh sĩ trú phòng chận đứng được đợt tấn công đầu tiên nầy.
Chiến xa T.54 là một loại tăng nhẹ, dài khoản 7 thước, nặng 36 tấn, là một loại cơ giới mạnh có tốc độ đường trường lên đến 48 cây số/ giờ, bình thường có thể hoạt động trong vòng 500 kms, và 700 kms nếu có bình xăng phụ. T.54 được trang bị một đại bác 100 ly với 34 quả đạn trên xe. Liên Xô không viện trợ cho Bắc Việt loại chiến xa biến chế T.62 và T.10, nặng 50 tấn có trang bị đại Bắc 210 ly. Nhưng họ có cho Bắc Việt xe lội nước PT 76, nặng 14 tấn. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì có chiến xa M.48 mạnh hơn nhiều, nhưng chiến xa T.54 có thể đương đầu với M.48 không khó.Dĩ nhiên kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì không được Hà Nội giao cho một chiến xa nào hết.
Lực lượng bộ binh Bắc Việt bao vây cứ điểm núi Bà Rá và mở nhiều đợt xung phong mặc dầu cứ điểm nầy có được không quân yểm trợ. Phi công Miền Nam phải liều lĩnh xuống thấp có khi đến 1500 thước, họ ít khi bay dưới 3000 thước vì sợ cao xạ phòng không dày đặc của Bắc Việt. Ở đây không phải là vấn đề gan dạ, mà vì phi công nhận được lệnh nghiêm nhặt lắm: họ phải tiết kiệm máy bay. Hôm nay không có mây mù thường bao phủ tỉnh lỵ vào sáng sớm, tầm nhìn vừa rõ vừa xa. Bắc Việt đã bố trí gần núi Bà Rá những khẩu pháo 130 ly nên nhanh chóng 8 khẩu 105 ly và 4 khẩu 155ly của Miền Nam không còn xử dụng được nữa..
Ngày hôm sau, Tổng Tống Nguyễn văn Thiệu họp các tướng lãnh, có sư hiện diện của Phó Tổng Thống già nuaTrần văn Hương nặng về pháp lý hơn về chiến lược, và Thủ Tướng trầm lặng Trần thiện Khiêm. Người ta bàn cãi xem có cần phải tăng cường viện binh cho Phước Bình hay không ? Tăng cường bao nhiêu ? Với lực lượng nào?v.v…
Trong 48 giờ giao tranh, lực lượng trú phòng của tỉnh bắn hạ tại chỗ 15 chiến xa Bắc Việt. Nhưng bô đội Miền Bắc cứ tiến tới. Chiến thuật của họ gây bất ngờ cho mọi người : các tiểu đội bộ binh đi liền sau các chiến xa. Chiến xa cứ tiến tới mặc cho bộ binh chết cứ chết, nhưng đôi khi các chiến xa cũng lui trở lại để đưa môt số bộ binh khác tiến lên theo. Họ đánh chiếm từng cứ điểm, từ nhà nầy qua nhà khác, từng chòi tranh nầy sang chòi tranh khác. Chiến xa được tăng cường các tấm chắn bằng sắt phía trước để chống đạn bộc phá vì loại đạn nầy sau khi xuyên phá qua lá chắn sẽ nổ ngay ở khoản trống nhỏ giữa lá chắn và vỏ chiến xa. Do đó hỏa tiễn M.72 của binh sĩ Miền Nam không còn hữu hiệu nữa được. Đôi khi vì bắn quá gần nên hỏa tiển không kịp xuyên phá, chỉ trúng lá chắn rồi nẩy vọt đi, nổ xa xa ở chổ khác. Hơn nữa chiến xa thường đóng kín các cửa nên binh sĩ Miền Nam khó mà tung lựu đạn vào chiến xa qua pháo tháp. Các doanh trại, hầm trú ẩn và giao thông hào là mục tiêu của pháo binh Bắc Việt nên hầu hết đều bị sụp đổ thảm hại vì đạn pháo.
Phước Bình nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Vùng 3 Chiến Thuật, Bộ Tư Lệnh Vùng 3 đóng tại Biên Hòa, nơi đây có căn cứ không quân quan trọng, nằm về phía Bắc Saigon chừng 30 cây số. Tướng Dư quốc Đống Tư Lệnh Vùng 3, quyết định sẽ chiếm lại thị trấn Phước Bình, nên xin tăng cường lực lượng. Ông dự trù hành quân trực thăng vận đổ binh sĩ thuộc binh chủng Dù xuống phía Bắc thị trấn đồng thời tiếp tế đạn dược cho quân trú phòng. Nhưng ông Thiệu từ chối, tướng Đống xin từ chức, ông Thiệu không cho.
Có nhiều cuộc bàn cãi rất sôi nổi ở Biên Hòa và Saigon:
– Phải chăng Bắc Việt muốn đánh lạc hướng khi họ tấn công Phước Bình?
– Hình như Bắc Việt đã sẵn sáng tiến đánh Biên Hòa, vì từ nơi đây các chiến đấu oanh tạc cơ sẽ bay đi yểm trợ các cuộc hành quân khắp vùng 3 Chiến Thuật.
– Cộng sản cũng có thể vừa đánh chiếm Phước Bình vừa đồng loạt tiến đánh cả 3 vùng chiến thuật khác.
Do đó ông Thiệu không muốn rút quân ở đâu cả. Tư Lệnh Vùng 3 đòi hỏi vài trung đoàn binh sĩ thuộc binh chủng nhảy dù. Người ta chỉ đồng ý cho ông 2 đại đội biệt kích dù, khoản 200 người tình nguyện và chuyên hành quân biệt kích, thuộc tiểu đoàn “81 biệt kích dù” đang đóng ở Biên Hòa.
Ngày 4/ tháng giêng, trên Phước Bình mây thấp và mây đen kịch. Trời mưa to: cuộc hành quân trực thăng vận không thực hiện được , Hai đợt cố gắng đổ quân đều bất thành. Chỉ có một lần Biên Hòa liên lạc vô tuyến được với Phước Bình nhưng nghe rất yếu.
Đến 8 giờ sáng ngày 5 tháng giêng, 120 biệt kích dù mới được đổ xuống phía Đông của thị trấn. Trực thăng có bị trúng đạn phòng không nhưng đã bay về được. Toán biệt kích bắt tay được với quân trú phòng, bố trí được một vài điểm tựa phần lớn nằm chung quanh dinh tỉnh trưởng. Vũ khí chống chiến xa M72 rất hữu hiệu đối với các T.54 nhưng toán biệt kích không mang theo được nhiều.
Đến 21 giờ thì có tin là gần phân nửa toán quân tăng cường bị loại khỏi vòng chiến. Người ta không thể tản thương được . Lực lượng bảo an người thượng chiến đấu rất tốt nhưng lòng trung thành của họ bị giao động. Biệt kích dù cho biết là tình hình tuyệt vọng lắm. Nhưng họ cũng cố tổ chức lại một tuyến phòng thủ chung quanh trung tâm hành chánh và dinh tỉnh.
Sáng hôm sau, ngày 5 tháng giêng, quân Bắc Việt lại tiếp tục tấn công với một số chiến xa và bộ binh khác, đánh nhau suốt cả ngày.
Ngày 6 tháng giêng chịu hết nổi, nhóm biệt kích dù và những binh sĩ trú phòng còn sống sót rút chạy ra khỏi tỉnh. Lợi dụng trời tối, họ rút đi từng toán nhỏ, không liên lạc vô tuyến, không được yểm trợ, có khi cũng không có vũ khí và đạn dược, họ tiến về phía bìa rừng và đi về hướng đồng ruộng.
Tổng kết của trận tấn công nầy quá xấu về mặt quân sự, mặc dầu trên phương diện chiến lược thị trấn nhỏ bé của cái tỉnh đèo heo hút gió nầy có mất đi cũng không có gì quan trọng lắm. Tính ra chỉ còn có 850 người sống sót về được, mất đi 5.400 người vừa sĩ quan vừa binh sĩ. Gần phân nửa quân số của một sư đoàn! Hai vận tải cơ C.130 bị hạ. Saigon có cả thảy là 32 vận tải cơ loại nầy. Đây là một đòn hơi nặng, trên phương diện chánh trị: cộng sản đã chiếm được một tỉnh. Và đây là lần đầu tiên mà quân chánh phủ không tái chiếm lại được.
Cũng là lần đầu tiên mà trong một cuộc tấn công lớn như vậy quân đội Mỹ không can thiệp. Từ ngày ký Hiệp Định Paris, hai năm trước, các tư lệnh 4 Vùng Chiến Thuật đều có đến thăm Bộ Tư Lệnh Không Lực Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, đóng ở Nakhon Phanom, Thái Lan. Hệ thống liên lạc viễn thông từ đây được nối liền đến Saigon và các Vùng Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam. Người ta luôn luôn giải thích và chỉ dẫn thủ tục liên lạc cho các Tư lệnh Vùng, để họ có được sự yểm trợ chiến lược của không lực Hoa Kỳ dễ dàng. Các vị Tư lệnh nầy không có một phút nghi ngờ nào về quyền được oanh tạc cơ Hoa Kỳ yểm trợ. Nhưng vừa rồi tại sao oanh tạc cơ không đến? Tổng Thống Thiệu cho lệnh toàn quốc để tang 3 ngày, đóng cửa các hộp đêm, vũ trường, rạp hát, chiếu bóng . Cấm luôn các trận đá bóng , các buổi đua ngựa, dù đã có chương trình. Các biểu ngữ được treo khắp thủ đô đại ý: “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đòi món nợ máu nầy” Nhiều cuộc biểu tình được tổ chức trước trụ sở của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn. Trong suốt cuộc chiến ở Phước Bình, nhân viên của Ủy Hội một lần nữa đã cho thấy sự bất lực lạ lùng của họ. Họ cũng không thương lượng được một thời gian ngưng tiếng súng để tản thương hay đưa dân chúng vô tội ra khỏi vùng khói lửa. Các thương gia, công chức , dân quê và 2 nữ tu sĩ và 400 cô nhi đã về được đến Saigon.
Người Mỹ ở Saigon đã cố gắng làm một bản tổng kết tuy có khổ tâm. Trong bản phúc trình của mình ông William Le Gro, người có trách nhiệm về tin tức tình báo ở cơ quan quân sự Hoa Kỳ, đã cho biết là tổn thất của Miền Nam làm cho người ta chóng mặt. Người tài xế của ông ta than rằng: “Đến Trời cũng phải khóc cho Phước Long”
Tại Hoa thạnh Đốn, ngày 7 tháng giêng, ông Kissinger có buổi họp với toán hành động đặc biệt của ông ta. Các chuyên viên trao đổi nhau nhiều câu hỏi về trường hợp Phước Long:
– “Đây có phải là một cuộc hành quân quan trọng không?” William Colby, trưởng cơ quan CIA cho là “Không.”
– Làm thế nào để cứu vản tình hình của Vùng 3 Chiến Thuật đây?
– Có nên gởi đến đó oanh tạc chiến đấu cơ và nhất là oanh tac cơ chiến lược B.52 không?
– Trên lý thuyết Không Thể Được: Dư luận quần chúng Mỹ sẽ coi đó là một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ mà họ không muốn. Tuy nhiên trận tấn công của Bắc Việt là một vi phạm trắng trợn và quan trọng nhất đối với Hiệp Định Paris kể từ năm 1973.
Người Mỹ là những người duy nhất đã thi hành Hiệp Định Paris, trừ điều 6 là điều dự trù ” Mỹ phải phá bỏ hết các căn cứ quân sự của họ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 60 ngày” sau khi Hiệp Định được phê chuẩn. Đó chỉ là phương diện pháp lý còn thực tế thì giống như một trò xảo thuật: người Mỹ không có phá hủy các căn cứ quân sự của họ mà chỉ chuyển giao qua cho QLVNCH. Họ thi hành pháp luật một cách kỳ diệu ! Trái với những cam kết, thỉnh thoảng họ cũng cho phi cơ quan sát bay trên không phận lãnh thổ Bắc Việt. Không có gì để ngụy trang cho những vi phạm kiểu đó!
Các cộng sự viên của Tổng Thống Ford muốn quên Việt Nam. Trước ngày bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Ford không có lợi lộc gì khi ông muốn gắn hình ảnh của mình vào một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam. Người ta muốn có một Tổng Thống trong trắng. Sự kiện Việt Nam đã qua đi rồi mà Ngũ Giác Đài chỉ thấy có mất mát mà không thấy có lợi ích nào hết. Từ khi người binh sĩ Hoa Kỳ rút khỏi Miền Nam hay người tù binh Mỹ ở Miền Bắc được đưa trở về nước, đối diện với Việt Nam, Hoa thạnh Đốn bị trầm mình trong tội lỗi ôi thúi, mất hết cảm giác. Càng ít gợi lại bao nhiêu thì bài toán sẽ mờ nhạt bấy nhiêu. Cuộc chiến Việt Nam lẽ ra phải tàn lụi dần khi người ta không còn găng với nhau quá….
Nhóm hành động đặc biệt không đạt được một quyết định nào. Ông Kissinger hình như quá mệt mỏi. Ông ta đã nhắc đi nhắc lại sau khi ký Hiệp Định Paris: “Nếu chúng ta xét thấy rằng Bắc Việt đã thương thuyết với những ý đồ xấu thì chúng ta sẽ có phản ứng mạnh và ngay tức khắc”
Hạ thấp giọng, chậm rãi nhưng cứng rắn, ông Kissinger giải tán phiên họp đặc biệt với một câu đầy bản chất của một người Đức:
– “Chúng ta thuộc loại người nào đây?
Các nhân viên dân chính và quân sự trong nhóm tự hỏi: Không biết ông Tổng Trưởng nghĩ gì thế? Chắc chắn là ông nghĩ đến sự khả tín của Hoa Kỳ!
Nhỏ thó nhưng người béo phục phịch, ông Kissinger, 52 tuổi, là một Tổng trưởng Ngoại Giao nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, được mến chuộng nhưng cũng bị nhiều phê phán. Ông dính vào chuyện Việt Nam từ 10 năm nay. Từ sau ngày bầu cử của ông Nixon năm 1969, ông được giao nhiệm vụ chánh trị đối ngoại, kế đến là cố vấn an ninh và sau đó là Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông Kissinger là một giáo sư đại học có giá trị, một công chức hăng say, một chánh trị gia năng nổ trong hoạt động, ông có một nghệ thuật lả lướt trong chính ngành ngoại giao của mình, từ đó ông có cơ hội trở thành một nhà luân lý.
Trong những ngày đầu tháng giêng nầy, tinh thần của ông chú trọng đến danh dự của Hoa Kỳ. Với một tinh thần thực tiễn, thích điều khiển các nước khác hoặc vận dụng các chánh trị gia, ông là một bộ trưởng thường không giữ được hòa khí với nhóm quan lại của mình, thích giữ những bí mật cũng như vinh quang của riêng mình, có lối sống buông thả, muốn tới đâu thì tới. Ông có tầm nhìn chánh trị tổng quát. Ông tìm mọi cách để củng cố “cấu trúc hòa bình” mà ông xem là một thế quân bình mới của thế giới, xuyên qua sự kiểm soát vũ khí chiến lược. Không còn có sự căng thẳng giữa các siêu cường vì cuộc chiến tranh khốn khổ ở Việt Nam nữa. Ông Kissenger cũng đồng ý phần nào với nhận định của ông Galbraith và những người khác thường nói đùa là: “nếu người Mỹ chúng ta không vấp phải nhiều làm lỗi thì cái quốc gia nhỏ bé kia không bao giờ thoát ra khỏi nơi tối tăm mà họ rất xứng đáng phải nhận lấy.” Ông Kissinger phải tốn cả 8 năm dài mệt mỏi cho Việt Nam. Tổng Thống Ford giao hết cho ông Kissenger phần lớn các vấn đề ngoại giao. Khác hơn ông Nixon, ông Ford không có ý kiến gì trong vấn đề nầy. Ông bất lực trong việc tìm kiếm quan điểm để làm vui lòng tổng trưởng của mình. Với cá tánh chậm chạp nhưng là một người có nhiều sáng kiến, ông Nixon có tầm nhìn xa rộng khắp. Nhưng người kế vị Nixon không được như vậy nên ông Kissinger thường nói: “Thật tình mà nói thì tôi cảm thấy gần ông Ford hơn là ông Nixon” điều mà chúng ta phải hiểu là trên phương diện tri thức.
Thường gặp những đổi ý bất thần, có khi đến phải chán nản, ông Kissenger phải tốn ba năm rưỡi để thương thuyết với phái đoàn Hà Nội để đạt được một hiệp ước mà uy tín của Hoa Kỳ không bị mất . Những cuộc bàn cãi chính thức và những buổi “đi đêm” thảo luận riêng tư với Lê đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn cộng sản Bắc Việt tại Ba Lê, đã dẫn tới Hiệp Định Paris. Theo Kissinger thì Hiệp Định không được hoàn hảo lắm, nó chỉ giúp cho quân lực Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam đàng hoàng trong danh dự, mặc dầu có sự chỉ trích triền miên của cánh hữu tại Mỹ. Lâu lắm ông Thiệu không chịu ký vào Hiệp Định. Với một số cộng sự viên, Kissinger cho thấy hình như ông ta hâm mộ những người đại diện phía Bắc Việt hơn là những người của Saigon. Tại thủ đô Miền Nam Việt Nam người ta cho Kisinger cái tên là “nhà ngoại giao đi đêm” và “vua dấu diếm” vì người ta không muốn nói thẳng ông là một thằng hèn, đạo đức giả. Tới năm 1975 thì Kissinger xa cách Việt Nam trên cả mọi phương diện tâm lý cũng như thực tế. Ông chưa hề đặt chân đến Việt Nam từ sau tháng 10 năm 1972, nơi đó ông có một kỷ niệm không tốt gì lắm:
ông Kissinger muốn cho ông Thiệu chấp thuận bản dự thảo Hiệp Định của ông ta. Cuộc gặp gỡ thật nặng nề, ông Thiệu gọi Kissinger là “thằng chó đẻ”. Kissinger nói trước khi rời Saigon:
– “người ta đã chửi tôi thậm tệ nên chắc tôi không bao giờ trở lại Saigon nữa.”
Một trong những người đối thoại với ông, ông Hoàng đức Nhã, em họ ông Thiệu và là Tổng Trưởng Thông Tin, chọc tức ông Kissinger khi ông chỉ trích Hiệp Định từng điểm một.
Ông Thiệu và ông Nhã đều tin chắc là ông Kissinger hoàn toàn là một người vô liêm sỉ mới đặt bút ký Hiệp Định Paris 1973 với Bắc Việt: “Hoa Kỳ nhận tù binh của họ và an toàn rút quân đội Mỹ về nước, mà trong thâm tâm Hoa Kỳ vẫn biết rằng cộng sản Hà Nội không bao giờ buông bỏ ý định thống nhất Việt Nam bằng vũ lực.”
Ông Kissinger và cộng sự viên của ông đã có nhiều lý do để tin tưởng rằng Hiệp Định dù có yếu kém nhưng cũng có thể đứng vững được: đến một thời điểm nào đó thì việc Việt Nam Hóa quân lực Saigon sẽ cho thấy sự hữu hiệu của nó. Ông Nixon đã đặt hết sự tin tưởng vào đó, nhưng ông Kissinger thì không. Trên căn bản, binh sĩ Miền Nam chỉ có thể đương đầu hữu hiệu với những cuộc tấn công của Bắc Việt ở cường độ trung bình đến cấp trung đoàn. Nhưng ông Thiệu không thể chận đứng được một số lớn sư đoàn Bắc Việt. Dù vậy, chắc Hà Nội sẽ không phiêu lưu trong một cuộc tổng tấn công đâu. Bộ Chánh Trị còn sợ phản ứng của ông Nixon. Ông ta không bao giờ do dự để tung các phi cơ B. 52. Chính ông Nixon đã cho lệnh thả bom ngay vùng thủ đô Hà Nội vào tháng chạp 1972 để kéo Bắc Việt trở lại bàn hội nghị, và tựu trung thì sự khuyến cáo đó có hiệu quả. Hơn nữa, gạt ra ngoài các khó khăn nội bộ, chánh phủ Miền Nam vẫn có phần nào năng nổ tích cực nhất là trên bình diện kinh tế. Chánh phủ không được bình dân lắm nhưng dân chúng Miền Nam không bao giờ nổi dậy.
Cuối cùng, những người có trách nhiệm ở Miền Bắc đã đưa nhân dân mình vào một cuợc chiến quá lâu dài, bền bỉ khó tả, dựa vào sức mạnh của quân đội và công an hùng hậu để cai trị một xã hội bị vắt khô cạn đến hết máu. Họ hy vọng được Hoa Kỳ viện trợ khoản hơn 3 tỷ mỹ kim mà họ quan niệm là “bồi thường chiến tranh”. Ở Paris, Bắc Việt nhấn mạnh điều khoản 21 của Hiệp Định, điều khoản dự trù một sự “hòa giải” và quy định Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc “hàn gắn vết thương chiến tranh” và “tái thiết Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau cuộc chiến”, theo đúng truyền thống chánh trị của Hoa Kỳ . Danh từ “hàn gắn vết thương chiến tranh” là một cụm từ thuần túy của Bắc Việt đã đưa ra mà Hà Nội đã nhấn mạnh và được thấy khắp nơi trên các bản văn tuyên truyền của Hà Nội.
Ông Kissinger tin rằng lãnh đạo quốc gia nào cũng hành động đúng theo quyền lợi của nước họ. Đối diện với những người lãnh đạo Bắc Việt ông có đánh giá quá thấp sức mạnh về ý thức hệ của họ không?
Cân nhắc lợi và hại, ông Kissinger đặt Hiệp Định Ba Lê vào khung cảnh của không khí hòa dịu bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ, Liên Xô, và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông cũng như mọi người đều nghĩ rằng Mạc tư Khoa và Bắc Kinh sẽ thúc đẩy Hà Nội đi đến một sự tự chế. Cả hai thủ đô cộng sản nầy hẳn phải có phương thức để thúc ép Bắc Việt: Họ đã tiếp tế cho Bắc Việt cả về quân sự lẫn kinh tế. Trong cái nhìn của Kissinger, tất cả đều đứng vững hết: ông nghĩ tới mối liên hệ giữa sự “thư giãn” quốc tế” giữa các cường quốc để dập tắt lần lần ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam.
Sáu tuần lể trước khi Phước Long bị tràn ngập, Tổng Thống Ford và ông Brejnev đã gặp nhau ở Vladivostock từ ngày 23 đến 24 tháng 11 năm 1974. Họ đã quyết định tăng cường mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.. Thật khó có thể và không hợp lý chút nào khi Bắc Việt làm hỏng những thỏa thuận của các siêu cường ! Đối với ông Kissinger vừa là tác giả vừa là người thực hành chánh sách liên kết, ông phải chỉ cho Liên Xô và Trung Quốc thấy là sự “thư giãn” phải được dùng như một áp lực đối với bài toán Việt Nam. Kissinger đã “mua” Liên Xô qua việc Hoa Kỳ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc về thương mãi. Nhưng cách đây vài tháng vào mùa thu 1974, nghị sĩ Henry Jackson, có khả năng là ứng cử viên Tổng Thống, đã đưa ra một dự luật theo đó: “thư giãn phải liên kết với việc cho phép người Do Thái được rời khỏi Liên Xô”. Một dự luật khác cũng hạn chế mức nợ cho Liên Xô vay. Tất cả những chuyện đó không thể khuyến khích Liên Xô trong hành động hợp lý được. Do đó năm 1975 Liên Xô thấy không có lợi lộc gì khi phải thắng các đồng chí Bắc Việt của họ lại.
Trong năm 1974, cho tới ngày từ nhiệm của Nixon, không khí còn có vẻ thuận lợi.
Từ thủ đô cũng như từ các tòa đại sứ của họ, Liên Xô và Trung Quốc đã bắn tiếng cho biết là họ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế cho Bắc Việt, nhưng sẽ giảm bớt viện trợ quân sự.
Ông Kissinger biết rõ chỗ yếu chính của Hiệp Định Paris trên phương diện quân sự: Ông đã không cho Việt Nam Cộng Hòa biết là ông đã không ràng buộc Hà Nội phài rút hết bộ đội Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Miền Nam , một cách rõ ràng và minh bạch. Do đó quân đội Bắc Việt đã lợi dụng điểm mập mờ nầy để bám trụ nguyên tại chỗ. Hơn nữa Bắc Việt đã không bao giờ tôn trọng những điều khoản quy định về vũ khí và quân dụng hiện có của Hai Bên:
“mỗi cây súng cũ, mỗi khẩu pháo cũ, mỗi quân xa cũ, -tất cả- chỉ có thể được thay thế với thể thức “một đổi một”. Tất cả những chuyện thay thế đó, phải tọa lạc ở những điểm chính xác, và phải được “Ủy Hội Quốc Tế” giám sát nghiêm chỉnh đúng luật lệ như Hiệp Định đã quy định”, một điều khoản không bao giờ được Bắc Việt thi hành.
Một kẽ hở nữa của Hiệp Định, lần nầy là chánh trị:
“trên bình diện “chế độ tương lai của Miền Nam” Hai Bên Việt Nam sẽ thương thảo với nhau”.
Ông Kissinger thừa biết là điếu khoản nầy không bao giờ thực hiện được, cũng giống như việc hình thành một “Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia”. Hãy tưởng tượng xem bằng cách nào mà hai kẻ thù hung hăn ngồi lại được với nhau để cùng nhau cai trị một thôn ấp? đừng nói chi đến cả một nửa nước Việt Nam? Biết vậy nhưng ông Kissinger vẫn còn tin rằng phải bằng mưu mẹo đó, mình mới thắng Bắc Việt được một điểm:
“cho tới mùa hè năm 1972, phái đoàn thương thuyết Bắc Việt vẫn muốn liên kết chuyện ngừng bắn với một dàn xếp chánh trị” (ai cũng muốn có một sự liên kết nào đó của riêng họ). Ông Kissinger vẫn còn tin rằng. Đây là một thắng lợi ngoại giao của mình, vì bù lại Hà Nội không còn đòi hỏi sự ra đi của ông Thiệu nữa, điều nầy cho phép được giữ lại một “cơ cấu chánh trị mạnh ở Miền Nam Việt Nam”.
Cũng như ông Thiệu và ông Nhã, người dân Miền Nam không bao giờ chấp nhận một Hiệp Định Paris mặc nhiên thừa nhận sự có mặt của bộ đội chánh quy Bắc Việt tại Miền Nam.
Trong tỉnh Phước Long có nhiều sự vận chuyển quy mô của các đơn vị chánh quy Bắc Việt cấp trung đoàn và cả cấp sư đoàn. Cho dù cuộc tấn công nầy là một cuộc tấn công hạn chế, thì trò chơi kiên nhẫn gom góp dữ kiện và phân tách tình hình của ông Kissinger cũng bắt đầu tan rã.
– Làm gì hơn bây giờ?
– Xin thêm ngân khoản bổ túc cho Miền Nam Việt Nam?
Quốc Hội và nhất là Hạ Viện Hoa Kỳ giờ đây đa số dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, trong nhóm của nghị sĩ George Mc Govern, một người chủ trương hòa bình cực đoan. Năm 1974 Quốc Hội đã cắt giảm mức viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam từ 1 tỷ xuống còn 750,000 trong đó có cả phần 300 triệu dành trả lương cho nhân viên dân chính và quân sự thuộc Cơ Quan Quân Sự Hoa Kỳ ở Saigon rồi. Trong cuộc chiến tranh Kippour, Do Thái đã nhận được trên 2 tỷ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Phần lớn những người dân biểu Hoa Kỳ thấy cần phòng vệ cho Do Thái hơn là Việt Nam. Nhìn kỹ lại, nếu tính luôn sự tăng giá dầu do cấm vận của các nước Á Rập, thì viện trợ cho Saigon coi như bị giảm một nửa.
Đối với ông Kissinger, thì mặt trận thứ hai của cuộc chiên Việt Nam nằm ở Hoa thạnh Đốn, ngay tại Quốc Hội và cũng là ngay trong chánh phủ Hoa Kỳ. Nhiều thành viên của chánh phủ xưa kia là diều hâu. Bây giờ thì hết rồi, họ cho biết như vậy, giống như Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger. Một khi đã ra khỏi chánh phủ rồi thì từ một Mc Namara, một Clarke Clifford, một George Bundy, cho tới những người đã triệt để theo Tổng Thống Johnson, bây giờ họ ước tính là phải ra khỏi vũng lầy Việt Nam. Những người nầy vẫn nghĩ rằng cái gọi là GRP (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam) cũng chỉ là cánh tay của Hà Nội ở Miền Nam mà thôi, và cộng sản Việt Nam cũng độc tài như các đảng cộng sản khác . Những nghị sĩ nặng ký chống cộng thì có John Stennis hay Richard Russell. Những con diều hâu cũ bây giờ ngã theo đám bồ câu nổi tiếng trong Thượng Viện, George Mc Govern, Frank Church, Albert Gore, Wayne Morse, Edward Kennedy. Ngay như tại Nhà Trắng, ông Kissinger chỉ còn có thể tính đến những người đồng minh tự nhiên của ông. Một vài vị thân cận với ông Ford tin tưởng là bài toán Việt Nam tự nó sẽ tan biến thôi. Mệt mỏi, như bị bao vây, Kissinger không dứt than van:
– “Không biết chúng ta thuộc loại người gì?”
Và cộng sự viên của ông nhận thấy ông đang cắn móng tay….
Sáng ngày 7 tháng giêng, Tướng Viên gọi điện thoại cho ông Thiệu. Tham mưu Trưởng Liên Quân báo cáo cho Tổng Thống. Những phi cơ thám sát trên không phận Phước Bình cho biết là mọi dấu hiệu kháng cự coi như đã chấm dứt.
Tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu triệu tập một phiên họp đặc biệt. Có mặt Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, hai Phó Thủ Tướng Trần văn Đôn và Nguyễn văn Hảo, hai vị Chủ Tịch Thượng Viện và Hạ Viện, Chủ tịch Tối cao Pháp Viện, và tướng Đặng văn Quang, phụ tá Tổng Thống đặc trách về an ninh.
_“Địa thế và khó khăn về tiếp vận của chúng ta đã tiếp tay cho cộng sản. Quân lực của chúng ta khó lòng chiếm lại tỉnh Phước Long được” ông Thiệu nói.
Tướng Quang thường ít khi phát biểu trong các phiên họp, hôm nay tuyên bố:
_ “Quận lỵ Phước Bình và tỉnh Phước Long rất khó phòng thủ nên không thể giữ được.Thị trấn An Lộc và tỉnh Kon tum cũng vậy. Thị trấn An Lộc nằm ở phía Tây và Tỉnh Kontum ở về hướng Đông Bắc. Cả hai đều rất quan trọng. Nhất là tỉnh Kontum”
Rồi hơi sẳn giọng, tướng Quang nói tiếp:
– “Những nơi nầy rồi cũng sẽ bị mất, nếu cộng sản quyết định đánh chiếm.”
Không thấy một phản ứng nào cả. Như không ai nghe thấy gì hết vậy: Hình như người ta thấy những việc đó không có gì đáng cho họ phải quan tâm.
Ông Thiệu lại phải nói tiếp:
_“Chúng ta có thể phản kháng để thử tìm hậu thuẩn của dư luận quốc tế. Phản kháng ngay Liên Hiệp Quốc. Phản kháng với cả 13 thành viên đã ký tên vào Hiệp Định Paris. Chắc cũng không có kết quả gì đâu. Phần đông các nước đang bấn vì cuộc khủng khoảng năng lượng. Nhưng trước hết chánh phủ chúng ta cần phải có được một sự gia tăng viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ.”
Rồi hướng về 2 vị chủ tịch Thượng và Hạ viện, ông nói:
_ “Chúng ta phải gởi một phái đoàn đến Hoa Kỳ để vận động với chánh phủ Hoa Kỳ làm áp lục Quốc Hội. Nhưng trước hết chúng ta phải chọn lựa vài nghị sĩ và dân biểu để chúng ta mời . Chúng ta vào bàn với Tòa Đại sứ Mỹ về danh tánh những người nầy.”
Chủ tịch Hạ viện đồng ý:
_ “Nhưng hình như các dân biểu Hoa Kỳ có nhiều vấn đề đối với cử tri của họ lắm. Chúng ta nên thăm dò dư luận dân chúng Mỹ trước, xuyên qua các tổ chức.
_ “Tổ chức nào?
_ “Các nghiệp đoàn, Hội Cựu chiến binh, hay Hội Hồng thập Tự …. ÔngThiệu tỏ ra chưa chịu:
_ “Cần phải tiếp xúc với các nghị sĩ Mỹ, vấn đề cử tri đó thuộc về chánh trị nội bộ của họ.
Làm cách nào để có tiếng nói của quần chúng?
– Tôi thấy sao Chánh Phủ cô đơn quá, Thiệu vừa nói vừa nhìn sang Thủ Tướng dường như Tổng Thống không kiểm soát được chánh phủ vậy.
Ông Thiệu ngưng một giây, chờ ông Khiêm lên tiếng. Nhưng như thường lệ, Thủ Tướng vẫn giữ im lặng. Thiệu nói tiếp:
_ Trong quá khứ, gặp trường hợp khủng khoảng nặng thì các nhóm đối lập sẽ phải hợp tác với Chánh Phủ.
Không có một nhóm nào thực sự hăng say năng nổ hoạt động hết, trừ ra có đảng Dân Chủ do ông Thiệu thành lập. Tổng Thống muốn mở rộng căn bản chánh trị của Chánh Phủ nên ông đã ra một luật đảng phái khá tự do, đúng ra là cho các đảng phái chánh trị để cho phép họ ra hoạt động hết, trừ đảng cộng sản. Điều nầy gây cảm tưởng tốt ở Mỹ.
Sau đó ông Thiệu dặn dò vài điều cho hai vị chủ tịch Thượng và Hạ viện. Ở Miền Nam Việt Nam hành pháp lèo lái lập pháp.
Hai vị Phó Thủ Tướng hiện diện đề nghị ông Thiệu nên đi gặp các nhân vật có tầm vóc quốc gia để tìm hậu thuẩn. Ông Thiệu lắc đầu, nhưng không người nào gợi ý ra được tên ai hết vì có lẽ không mời mọc ai được hết. Ông ta nhắc các dân biểu và nghị sĩ phải hoàn tất luật báo chí và nên cho ông xem qua. Sau cùng phiên họp đưa ra vấn đề kinh tế, nhắc lại các điểm đã bàn cãi trong phiên họp nội các bốn ngày trước. Thủ tướng có nói là phải mua thời gian. Năm 1976 Miền Nam sẽ xuất cảng dầu hỏa.
Như thường lệ ông Khiêm không xen vào các vấn đề quân sự và những bài toán về chánh trị nội bộ, ít nhất trong công khai hay lúc có mặt các tổng bộ trưởng. Ông thích đi sâu vào các vấn đề kinh tế và xã hội . Hôm nay là ngoại lệ, theo ông thì dư luận quần chúng trên thế giới về vấn đề Việt Nam hình như bị “đông lạnh”. Ông còn đi xa hơn khi quả quyết rằng Hoa Kỳ không còn can thiệp quân sự vào Việt Nam nữa, vì ông Ford cũng lạnh cẳng rồi.
Ông Thiệu lắng nghe, gần như không được thoải mái lắm vì ông không đồng ý với Thủ tướng Khiêm.
_ “Chúng ta phải kéo dài sự sống còn trong thời kỳ gọi là khó khăn tạm thời nầy, ông Khiêm tiếp tục nói, chính vì chúng ta sẽ có lợi tức dầu hỏa trong năm 1976.
Ông so sánh tình hình của đất nước với tình thế của người chơi bài phé. Thấy được dầu lửa người ta sẽ tăng thêm tiền đánh cuộc. Trước mặt chúng ta, Hà Nội không theo kịp mình đâu. Muốn cho dầu hỏa chảy ra càng nhanh càng tốt thì các công ty đầu tư cũng phải được hưởng lợi nhuận nhanh. Phải khuyến khích họ, phải nhường cho họ một bách phân hợp lý nào đó của Chánh Phủ.
_ “và lúc đó thì họ sẽ cố gắng thúc đẩy công tác khoan dầu nhanh hơn. Chúng ta không thể tự cho mình một sự xa hoa được hưởng lợi tối đa trong dài hạn.
Ông Khiêm nhắc lại là ông ta có nói với ông Hảo Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế để ông nầy hối thúc các công ty dầu hỏa. Ông Khiêm muốn thấy kết quả cụ thể trong vòng 6 tháng.
Có vẻ phấn khởi, ông nhấn mạnh:
_ “Nếu chúng ta xuất cảng được nhiều dầu vào năm 1997 thì lúc bấy giờ tình thế chúng ta sẽ tốt hơn.
Phiên họp chạy theo tình hình kinh tế quên mất việc tỉnh Phước Long vừa bị Bắc Việt chiếm.
Chiều hôm đó, hai bản phúc trình chi tiết của phiên họp nầy tới tay Tòa Đại sứ Mỹ. Một bản do Phụ Tá an ninh của ông Thiệu. Tướng Quang được yêu cầu báo cáo những gì đã xảy ra ở Phủ Tổng Thống. Thiệu vẫn biết như vậy. Và còn khuyến khích ông nầy làm như một nhân viên CIA tại đây nữa. Nhờ đó mà ông Thiệu điều động được một vài người Mỹ của Tòa Đại sứ trong lúc họ vẫn tưởng họ là “thầy” trong trò chơi nầy. Người Việt Nam bên nào cũng thế đã có một kinh nghiệm lâu đời về nghề gián điệp rồi, cả nhị trùng lẫn tam trùng ! Người Mỹ thì mới đây thôi.
Bản báo cáo thứ hai xuất phát từ một trong những thành viên của phiên họp vừa rồi.
Có rất nhiều sự “thoát tin” như vậy ở Saigon và Hoa thạnh Đốn, và có nhiều người “bán tin” như vậy chung quanh Tổng Thống, Thủ Tướng, và những người có trách nhiệm hành chánh và quân sự. CIA đã gài rất nhiều máy thu âm trong dinh Tổng Thống. Họ tin chắc rằng trong hàng thân cận của ông Thiệu phải có một người làm việc cho Hà Nội. Ai? Quang, Hảo, hay một người nào khác?
Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã được thông báo về những quyết định của phiên họp quan trọng vừa qua. Ông ta đã nhận được chỉ thị, và ông chuẩn bị để thuyết trình cho những người khách Mỹ quan trọng.
Ngày 9 tháng giêng, trong gian phòng thuyết trình rộng lớn của Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Viên tổng kết cho các sĩ quan của ông một bản phúc trình dài 11 trang. Ông thông báo kết luận: “một cuộc tấn công quân sự đại quy mô của Bắc Việt”, một cuộc tấn công mà Tổng Thống đang chờ đợi.”
Người ta nói tướng Viên “che dù” một tiếng lóng của giới quân sự Việt Nam. Ông không có sáng kiến mà cũng không có khả năng phân tách hay giải đoán tình hình mà lẽ ra ở cương vị của ông là phải có đầy đủ. Ông nhanh chóng chấp nhận là Bộ Tham Mưu của ông hoạt động trong vai trò của một cơ quan tư vấn, một nhiệm vụ mà bất cứ một đại tá quèn nào cũng đảm trách được . Phải chăng đó là cái giá phải trả để được ngồi mãi ở chức vụ nầy? Ông thích ngồi thiền (yoga) hơn là đi thanh tra chớp nhoáng ngoài mặt trận, với một tướng đi tướng đứng khá đẹp lúc nào đầu cũng đội mũ đỏ của binh chủng nhảy dù. Ông không khúm núm nhưng chịu vâng lời. Tướng Quang cố vấn an ninh, là người soạn kế hoạch đại cương về chiến lược và chiến thuật cho ông Thiệu. Sau khi Tổng Thống chấp thuận thì ông Quang chuyển lịnh thi hành xuống cho Bộ Tổng Tham Mưu. Chính ông Quang đã cho lệnh trực thăng vận đổ 200 biệt kích dù xuống Phước Bình đang bị bao vây.
Ngày 17 tháng giêng, ông Viên nhận được một bản phúc trình của tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị. Bản phúc trình được chuyển đến Thủ Tướng và Tổng Thống, và ngày hôm sau nó cũng đến tay Đại sứ Hoa Kỳ.
Bản phúc trình nghiên cứu về kế hoạch của cộng sản trong năm 1975:
“Chiến dịch nầy có thể sẽ chấm dứt vào tháng 6 dl. Nhằm tiến chiếm một số quận và tỉnh, nhất là thuộc các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Kiến Tường và Kiến Phong” Cộng sản sẽ cố cắt đứt Việt Nam Cộng Hòa theo một con đường kéo thẳng từ Kontum xuống miền duyên hải Quảng Nam. Trong những tháng sắp tới họ sẽ tìm cách phá cho nền kinh tế của Miền Nam yếu đi. Họ sẽ đồng loạt tấn công các cầu, các kho nhất là kho đạn và đặc biệt những cơ sở thuộc kỹ nghệ dầu hỏa. Họ cũng sẽ cẩn thận vì họ cũng muốn giữ cơ cấu hạ tầng để họ sẽ còn khai thác và xử dụng được một khi họ nắm được quyền hành ở đây. Họ sẽ tạo cơ hội để bắt Miền Nam phải nhận cả triệu dân di cư. Và lồng các nữ cán bộ đảng vào các trại di cư kể cả các trại di cư cũ, để tạo biến loạn. Cộng sản sẽ nuôi dưỡng các phong trào chống ông Thiệu để ông không thể ra ứng cử năm vào tháng 11 năm 1975. Họ sẽ hô hào: “Chiến tranh vẫn tiếp diễn khi nào ông Thiệu còn ở chánh quyền” . Những tổ chức của cộng sản như thanh niên phụ nữ và trí thức sẽ hợp tác với phong trào “đòi Hòa bình” ở Hoa Kỳ để ngăn cản Tổng Thống Ford không cho viện trợ quân sự cho Miền Nam. Trong chiến dịch nầy cộng sản hy vọng sẽ dùng những cựu tù binh Mỹ. Nếu kế hoạch và chương trình hành động nầy được thi hành thì vào khoản tháng 6/1975 Việt Nam Cộng Hòa bắt buộc sẽ phải ký một hiệp ước khác và sẽ phải chịu thành lập một chánh phủ liên hiệp. Chừng đó những toán tuyên truyền sẽ cố gắng xé nát tất cả các đơn vị của QLVNCH. Những đại biểu cộng sản trong chánh phủ liên hiệp sẽ tạo thêm nhiều khó khăn trong một hay hai năm, và cái Chánh Phủ đó sẽ bất lực , các thành viên cộng sản sẽ từ nhiệm, và một Chánh Phủ khác sẽ được thành lập: Chánh Phủ độc lập “Quốc Gia Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” một Chánh Phủ “cấp tiến, xã hội của giai cấp vô sản” . Và ba bốn năm sau, một “chánh phủ độc tài” thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc sẽ thay thế Chánh Phủ của giai cấp vô sản kia.
Chung quanh ông Thiệu, người ta tin là cộng sản sẽ tốn ít nhất 2 hay 3 năm nữa. Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuy là cô đơn nhưng sẽ đứng vững. Cần nhứt là tình hình kinh tế phải tốt đẹp hơn. Các tổng bộ trưởng phải gia tăng tuyên bố khích lệ thêm lên. Đặc trách về kinh tế ông Hảo cam kết sẽ gia tăng xuất cảng. Bị hối thúc, ông nói gỗ và ngư hải sản có thể sẽ mang về 100 triệu mỹ kim hằng năm. Ông nói hơi quá: trong năm 1974 Miền Nam phải nhập cảng 929 triệu mỹ kim và chỉ xuất cảng được 76 triệu. Người ta đổ cho Chánh Phủ điều hành lãnh vực kinh tế không tốt, ngó lơ các cuộc mua bán ngoại tệ và chợ đen.
Hãy noi gương cá nhân ông Hảo: “hành động có đạo đức”
Ông cùng với Đô trưởng Saigon đi khắp các chợ, những nơi có chứa hàng lậu thuế, thuốc lá, rượu tây, hàng ngoại , máy thu phát âm thanh cực chính xác …. ông cố thuyết phục người bán là nên chấm dứt chuyện mua bán bất hợp pháp nầy đi, điều làm cho người ta vừa kinh ngạc vừa tức cười. Trong sự ngây thơ nầy ít nhất ông cũng đã tỏ ra thành thật. Cả người mua và người bán ai cũng cười. Báo chí nghiêm khắc chỉ trích ông Phó Thủ Tướng. Tờ Điện Tín viết: những chuyến đi dạo chợ của ông Phó Thủ Tướng Hảo được chiếu trên vô tuyến truyền hình là hành động có tánh cách “cố tình khoa trương”.
Người dân đứng đắn ai cũng biết là nếu có tham nhũng, hối lộ, để được giấy phép nhập cảng hậu hĩ hay giấy phép xây cất bừa bải, hoặc chuyện mua bán ngoại tệ v..v.. thì những thứ toan tính đó không ai dại gì đem ra ngay giữa chợ đâu.
Ở “chợ trời” nơi các món hàng đánh cắp, hàng lậu thuế… được bày bán lẫn lộn với mọi thứ lặt vặt với giá hạ, người ta mua đi bán lại đủ mọi loại hàng từ chiếc máy thu thanh cực nhỏ đến bàn máy đánh chữ, đồ trận, và đồ lót bằng vải kaki, từ đồ hộp, thức ăn khô của binh sĩ đến những máy khoan điện cầm tay xuất xứ từ California đến những đôi giày da cá sấu của Đài Loan. Trên quầy hàng đủ loại xà phòng còn nguyên xi trong hộp nằm lẫn với các mũ lưỡi trai. “Thượng vàng hạ cám” thứ gì cũng có, tốt xấu gì cũng có….. nhưng từ khi 500.000 lính Mỹ hồi hương rồi thì ” chợ trời” mua bán hơi ế ẩm..
Về khách hàng thì ở chợ trời nầy, người ta nhận thấy đủ mọi tầng lớp người trong xã hội , giàu sang có, nghèo hèn có, dân quê từ các tỉnh Miền Tây lên có, từ các tỉnh miền Đông giáp giới Cam Bốt xuống có, công nhân và thợ thầy của hàng ngàn công ty ở Saigon có, quân nhân mặc quân phục có, sĩ quan và binh sĩ ngoại quốc thuộc Ủy Hội Quốc Tế có… Ngoài ra người ta còn nói nhiều về một số không ít “cao bồi”, quần ống túm, từng cặp từng cặp lượn qua lượn lại đèo nhau trên các xe Honda, để thừa cơ hội đông người chôm món nầy chỉa món nọ… đôi khi làm phiền khách du lịch. Một số người ngoại quốc thường nhìn bề ngoài hào nhoáng, thơ mộng, khó thấy những gì ẩn kín của thành phố. Ở Saigon phải trên 100 tiệm thương mãi mới có một tiệm hút thuốc phiện, trên 1000 tiệm ăn hay chạp phô mới có một quán nhảy. Đô thành Saigon rộng lớn với Gia Định, Chợ Lớn và các quận ngoại thành, ngoại ô, có khoản từ 3 triệu 500 ngàn đến 4 triệu dân, trong đó có một số từ các tỉnh đổ về, đến, ở một thời gian, rồi đi… không cố định.
Du khách thường hay chơi ở trung tâm thành phố, chung quanh dinh Độc Lập, nhà bưu điện trung ương, nhà thờ chánh tòa, đường Tự Do con đường chính đi thẳng từ nhà thờ Đức Bà đến Sông Saigon là nơi có những nhà hàng nổi. Du khách đi dạo chơi chung quanh chợ Saigon và các khách sạn, như Continental mà người chủ Philippe Franchini kín đáo ở ngay tại đó, Caravelle tối tân có máy điều hòa và ngang đó là Graham Greene…. Du khách thường ăn ở các nhà hàng do người Pháp hay người Corse làm chủ, và giao dịch với 18 chi nhánh ngân hàng Việt Nam hoặc 14 ngân hàng ngoại quốc..
Giới quốc tế sang trọng thì ở những khu đẹp hơn, ở quận 3 và quận 1, nơi đó đường sá sạch sẽ hơn với những hàng cây cao bóng mát hai bên đường, có những biệt thự tráng lệ kín cổng cao tường, với những hàng rào cây xanh ngắt, bông hoa cây kiểng. Đây cũng là khu gia cư của giới thượng lưu trí thức , công chức cao cấp, người Âu Châu, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Đường phố ở đây rất yên tĩnh như chìm trong giấc ngủ trưa vậy vì ít người qua lại. Trong cuộc chiến mà Bắc Việt gọi là “chống Mỹ cứu nước” hay là “cuộc kháng chiến thứ hai”, hàng trăm hàng ngàn người Mỹ cư trú ở Saigon. Ngoài các khách sạn hay trong doanh trại, họ còn thuê hay mua nhà ở những khu sang trọng và yên tĩnh nầy, một di sản kiến trúc rất đẹp của người Pháp đã để lại cho Việt Nam.
Người dân Saigon thì ở các nơi khác, như quận 5 quận 7 ồn ào đông đúc hơn, chen chúc nhau dài theo các con đường nhỏ hẹp hơn, có khi không được tráng nhựa, không được sạch sẽ lắm. Nhưng cũng không đến đỗi nghèo khổ như Calcuta hay Dacca đâu. Người dân Saigon nào mà không tìm được nhà 1, 2, hay 3 phòng ở nội thành, không có được nhà xây gạch thì họ sẽ ở những dãy nhà xây cất bằng vật liệu nhẹ, bằng cây, hay trên những nhà sàn hai bên bờ rạch, hoặc trên những nhà bè, nhà nổi, trên thuyền bè lưu động. Chỗ nào cũng ồn ào với tiếng động cơ máy móc của các xưởng thủ công nghệ, sản xuất ngay tại gia đình từ nồi niêu song chảo bằng nhôm đến mọi vật dụng bằng nhựa, một loại chất dẽo của thế giới thứ ba cũng còn được gọi là thế giới đang phát triển. Giới bình dân Saigon là thợ sửa chữa đủ loại, từ chiếc xe đạp đến mô tô, tủ lạnh.. họ hành nghề ngay trong căn nhà ọp ẹp trống trải của họ, dưới mái tôn nóng bức. Hai bên các con rạch nước đen ngòm lại còn có những căn nhà nhỏ như ổ chuột. Trẻ con trần truồng chơi đùa vui vẻ vô tư giữa các thùng cây, các bao lúa hay các vật liệu phế thải bẩn thỉu, vỏ đồ hộp, thùng giấy, ống cao su …của gia đình thu nhặt được.
Ở cái thế giới hỗn độn nầy trẻ con được ăn uống no đủ, nhưng các cơ quan y tế không chiến thắng được bịnh thiếu sinh tố và bịnh sốt rét. Cuộc chiến tranh và sự có mặt của người Mỹ đã tạo ra được một sự phồn thịnh bề ngoài hay tạm thời thì đúng hơn (mà bộ máy tuyên truyền Bắc Việt sau 1975 gọi là “phồn vinh giả tạo”). Hậu quả của sự phồn thịnh nhất thời ở đây sẽ rơi vào lớp người không được ưu đãi nầy. Ngoài một số ít trại tỵ nạn, không có một người dân Miền Nam nào đói hết. Năm 1975 người ta đọc được trên báo chí các nước rằng Miền Nam Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp (đến 80 %). Chưa đúng lắm, vì bị ảnh hưởng của chiến tranh, bị đồng lương hấp dẫn, nhiều nông dân chẳng những đã trở thành công nhân, mà còn đã biến thành thợ hồ, thợ máy, thợ tiện, thợ điện hay cả nhạc sĩ nữa . Các chuyên viên xã hội học của Hoa Kỳ đến Miền Nam Việt Nam không có thì giờ để thấy rõ được hiện tượng nầy, vì họ còn đang bận với kế hoạch bình định, và điều tra các tù binh việt cộng. Xã hội Miền Nam Việt Nam thay đổi, tiến lên lần lần với thế kỷ XX, có người nói là huy hoàng, có người cho là suy sụp. Chiến tranh làm cho gia đình ly tán, sanh ra đĩ điếm nhưng cũng tạo ra những công nhân giỏi và thợ khéo, những bác sĩ và dược sĩ lành nghề, nhiều chuyên viên cấp cao, nhưng cũng làm cho một số hàng chục ngàn thất nghiệp, phần lớn nhóm sau nầy vào quân đội để sống. Con số công nhân ở Saigon chắc chắn phải nhiều hơn ở Hà Nội.
Vì họ đoàn kết chặt chẽ với nhau nên trên 500.000 người Tàu sống ở Chợ Lớn ít có người thất nghiệp. Từ lâu rồi trên nguyên tắc Hoa Kiều bị cấm buôn bán cá, thịt, vải vóc, sắt thép, chạp phô và gạo. Họ cũng không có quyền có cửa hàng tạp hóa, buôn bán xăng dầu và chuyên chở công cộng. Nhưng ở Việt Nam luật lệ là một chuyện còn thi hành luật là một việc khác. Người Trung Hoa kiểm soát hết hệ thống các thương hội, trong đó tất cả những cơ quan an ninh mật vụ và trước hết là CIA, khó mà tuyển được người lắm. Trên thực tế người Trung Hoa như các thầu khoán, các người làm việc , đều núp kín dưới tên họ Việt Nam nên họ đều có ruộng , là chủ các hãng xưởng, sản xuất từ bột, dầu ăn, đồ hộp v.v.. đến cả nước mắm nữa, họ còn là chủ khách sạn, các tiêm ăn, nhà hàng sang trọng, các tiệm “lạc son” (bán đồ sắt đồ đồng), và các tiệm bán thực phẩm. Những người bán dạo, các tiệm bán thức ăn thức uống đầy rẫy khắp mọi nơi khắp các thành phố. Họ còn có chân hay làm chủ một số lớn công ty xuất nhập cảng, các hãng buôn sĩ bán lẻ. Tất cả những dàn xếp tính toán trong việc mua bán đều chắc chắn và khả tín vì trong chuyện làm ăn lớn nhỏ có dính dấp đến tiền bạc, thì một lời nói của người Tàu dù không có giao kèo khế ước đều chắc như đinh đóng cột, đều là vàng. Họ liên lạc chặt chẽ với mọi ngân hàng, mọi công ty tín dụng ngoại quốc, từ Bangkok đến Singapore, Hong Kong, Đài Bắc. Không gì qua được người Tàu khi muốn chuyển tiền ra ngoại quốc, hay muốn đổi tiền Việt Nam ra mỹ kim, đồng quan thụy sỉ, hay đồng mark của Đức v.v.. mà không cần phải đi qua sở Hối Đoái.
Ở Chợ Lớn, người ta không thấy một biểu ngữ nào của chánh phủ. Bây giờ thì ở thủ đô đang có treo một biểu ngữ mới: “Phước Long sẽ được tái chiếm”. Biểu ngữ mới toanh, được treo ở trước các công sở.
Còn rất ít người chú ý đến “Bốn Không” của ông Thiệu:
_ “Không thương thuyết với địch” còn có ý nghĩa gì nữa sau bao nhiêu thời gian dài ở bàn hội nghị để đi đến Hiệp Định Paris 1973.
_ “Không công nhận cộng sản ở Miền Nam Việt Nam”: điểm chánh trị căn bản của Tổng Thống Thiệu.
_ “Không có Chánh Phủ Liên Hiệp”, khi một điều khoản của Hiệp Định đã có dự trù một Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc.
_ “Không nhượng một tất đất cho cộng sản”, trở thành chua chát sau khi mất Phước Bình….và tỉnh Phước Long.
Cũng tương tự như ở Miền Bắc, ở Miền Nam các biểu ngữ được dán, treo hay vẽ lên tường. Như: “Đừng bán gạo cho cộng sản” hay “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, hoặc “Hợp tác với cộng sản là tự mình uống một viên thuốc độc có bọc đường” v.v…
Ở Saigon nếu không có những hình thức tuyên truyền như vậy, không có các bản tin tức truyền thanh truyền hình, không có báo chí, tin đồn, chuyện nhãm nhí .. ở khắp các quận, không có binh sĩ mặc quân phục… thì người ta có thể không nhớ gì đến chiến tranh.
Đôi khi người ta nghe tiếng đại bác bắn ở xa xa, nhưng không còn có những vụ đặc công hay nổ mìn ở Saigon nữa, hàng rào kẽm gai đã rỉ sét, bao cát thì rách và lính gác trước quận hay doanh trại thì thờ ơ, thường ngồi nhiều hơn đứng. May mắn thay cho Saigon một thủ đô yên tĩnh lạ lùng trong cuộc chiến, Saigon có một vẻ đẹp duyên dáng, vui tươi, đầy nhựa sống.
Vào buổi sáng sớm tinh sương êm dịu, Saigon thức dậy như một đóa hoa vừa hé nở.. Giống như các đô thị lớn ở Á Châu, dân chúng từ ngoại ô đổ về trung tâm thành phố. Cảnh sát mặc đồng phục xám bắt đầu đi tuần rỏn.. giữa tiếng gáy rân trời của vô số bồ câu. Các bà bắt đầu nhóm lửa đốt lò. Mùi than, củi hòa lẫn với mùi nước lèo thơm ngát, mùi xăng, mùi nước mắm. Để đi làm việc, già trẻ gì các ông cũng mặc quần dài áo sơ mi đẹp, các bà thì đội nón lá, các cô thì mặc áo dài mượt mà.. Xe đạp và xe gắn máy chạy chật cả đường, Các quầy hàng bày đầy kẹo, thuốc lá, kính râm, nước hoa, kem đánh răng, ấm tích, bút máy, thau chậu, cả chim nữa..Tất cả hàng hóa bằng mũ nhựa màu sắc rực rở kiểu Á Đông làm cho người Phương Tây lóe mắt. Người ta mua bán, đổi chác, sửa chữa .. ở đây có mùi dầu bạc hà, chỗ kia mùi nước tiểu.. Chợ nào cũng đầy ngập hàng hóa, nhất là chợ trung ương. Dâu, cam, trái vải, bưởi, ớt, khoai, rau muống, hành, cà rốt không thiếu thứ gì cả, và nhiều nữa. Người mua trả giá không phải để cho vui mà thực sự để tìm giá hạ. Từ sáng tới chiều, lưu thông tấp nập, tất bật và vui nhộn. Người ta tôn trọng phụ nữ hơn là tín hiệu đèn lưu thông. Xe buýt và xe khách đầy người mặc dầu đã cũ. Xe đạp, xe gắn máy , mô tô, nổ rần trời chạy chen với tắc xi, những xe Renault 4 ngựa, cũ kỷ màu xanh mà đồng hồ tính tiền không bao giờ nhảy. Tài xế cứ vô số 2 rồi vọt… Saigon là thành phố của xe Honda, của xe Peugeot, của xe Renault. Khoản 8 giờ thì người ta thấy tài xế Việt Nam trên những xe Ford Pinto đen của Mỹ. Ai cũng biết rằng những người Mỹ ngồi cạnh tài xế Việt Nam là nhân viên của CIA. Xe Ford Pinto đen là loại xe ưa thích hay chánh thức của cơ quan nầy. Những người Tây Phương khác, nhất là người Pháp thì thường dùng xe La Dalat hay Méhari. Các xe ba bánh thì chuyên chở các thùng hàng mà họ ràng buộc cao ngất lên, nhưng thăng bằng như hát xiệc vậy. Người ta bị chận lại hoài, rồi người ta nhận kèn in ỏi, người ta vọt lên, càu nhàu lấy lệ. Một đứa trẻ, hai đứa bé, có khi ba.. được đèo phía sau xe, cười đùa tự nhiên. Ở trung tâm thành phố được ghi nhận là có nhiều người Ấn Độ, Có khoản từ 3000 đến 4000 dân Ấn ở Saigon. Họ đến đây từ Coromandel, từ Malabar, từ những chi nhánh thương mại của Pháp. Họ chuyên nghề mua bán ngoại tệ. Vì là dân cho vay chuyên nghiệp nên họ đổi tiền nặng lời kinh khủng. Dân Hindous thường có thông hành Pháp, và người ta thường mướn những người Hindous nầy, đôi khi cũng có vài người dân Sikh để gác đêm các cơ sở thương mại quan trọng như kho hàng hay các khách sạn lớn như Continental.
Có vài trẻ nhỏ khoảng 12 hay 13 tuổi đầu thường chạy quanh theo người ngoại quốc để gạ đổi tiền hay gạ tìm gái hay gạ bán ảnh khỏa thân.
Có những trẻ khác lớn hơn rủ rê đi tiệm hút. Những người sành điệu thì thường chọn khách sạn Hưng Đạo, Hưng Đạo 1 hay Hưng Đạo 2 , nơi đây có những cô gái mặc áo lót ra tiếp khách. Cuộc chiến thường vứt vào thành phố đủ hạng người , từ người quân nhân với bộ quân phục mà không có súng ống, tới những kẻ vô công rổi nghề, những người chạy áp phe. Các anh lính thường tản bộ tay nắm tay, giống như bộ đội ở Hà Nội. Sỹ quan thì có vẻ quan trọng hơn đi xe Jeep hay xe chỉ huy. Đến khoảng giữa trưa, hơi nóng phủ mặt đường , không khí dày đặc , nặng nề.. oi bức. Đâu đó có tiếng còi hụ của một xe cứu thương.
Ở tiệm cà phê Givral, “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đang nhâm nhi ly cà phê đầu tiên trong ngày. Vượng và Cao Giao đang nghe Ẩn nói chuyện, có vẻ chăm chú và nể phục, đôi lúc kinh ngạc vì tầm nhìn quá rộng và quá chính xác của người bạn.
Quá trưa thì các rạp chiếu bóng đầy khách. Phim chiến tranh thì quá phổ thông, nhưng cách đây chừng ba bốn chục cây số người ta có thể nghe thấy tận mắt trận chiến thật sự, tại sao phải xem phim ? Có lẻ vì phim nó có hồi kết cuộc. Ở Saigon người ta sống bên lề cuộc chiến, nhưng không thể quên cuộc chiến được . Người nào cũng biết là cuộc chiến chưa chấm dứt và không một ai biết nó sẽ chấm dứt lúc nào và như thế nào.
Người ta ít đi xem những cuộc triển lãm do cơ quan văn hóa các Tòa Đại sứ tổ chức vì các cơ quan nầy cũng chiếu phim tài liệu hấp dẫn lắm. Như Học Viện Pháp sẽ chiếu “Bốn trăm phát” ngày 7 tháng giêng, “Jules và Jim” ngày 9, “Cesar và Rosalie” ngày 10. Trung tâm Saigon cũng như Hà Nội đều có lối kiến trúc của Pháp. Nhưng các sinh viên bây giờ không còn ai nói tiếng Pháp nữa. Trong những năm gần đây, tiếng Anh thông dụng hơn để bước vào các hệ thống hành chánh hay quân sự. Những người dân tị nạn đến từ Phước Long từng nhóm nhỏ, đi bộ có, đi xe cũng có, vài nhóm quá giang xe quân đội. Họ không làm rối loạn thành phố.
Không như các thành phố lớn khác như Đà Nẵng hay Huế, Saigon gần như đứng ngoài cuộc chiến vốn thường xảy ra xa thủ đô, trên vùng Cao Nguyên, trong đồng ruộng hay tận các làng mạc xa… Ở những nơi đó cũng có đầy đủ vật dụng bằng mủ, bằng nhựa nhưng không có đèn nê ông vì không có điện. Trẻ con giữ trâu thường đi bắt cua cá trên các bờ đê ruộng hay trong các ao. Ở Saigon một tiếng súng thôi cũng làm cho người ta bu lại. Nhưng ở trong đồng ruộng, phải là một tiếng bom nổ hay một đạn pháo nổ bên cạnh mới làm cho các chú bé này ngẩng đầu lên nhìn. Bọn chúng đánh giá sự nguy hiểm bằng thính giác. Dân làng cũng vậy, họ tìm cách sống bên lề cuộc chiến, để làm việc, để tìm nguồn nước mà trồng trọt, để mà sống và được sống còn. Với những đàn heo đen và đàn gà chen chúc dưới gầm giường, dân làng dù sống trong những căn nhà tranh hay nhà gạch, họ vẫn có đủ những máy thâu thanh nhỏ để nghe được tin tức đủ loại và âm nhạc. Ngay năm 1975 cũng như những năm trước, 1965, 1955. hình ảnh của làng mạc trong Miền Nam là như thế, không giống như làng mạc ngoài Bắc Việt. Ở Miền Bắc có được mấy miếng tôn dợn sóng trên mái nhà là điều hiếm có.
Năm mười bảy tuổi Mẹ đã về với Cha. Mẹ ở Ðồng Xuân, Cha ở Núi Ðồi, cách nhau hơn hai cây số và một cây cầu, vậy mà mãi đến ngày lập gia đình Mẹ mới biết mặt Cha. Ngày đó Mẹ cũng ôm sách đến trường Lê Khiết cùng Cậu Út. Nhưng Mẹ là con gái nên có hôm Ngoại cho Mẹ đi học, có hôm Ngoại bảo Mẹ phải ra đồng coi mấy người thợ cấy, và đem nước cho thợ. Cho nên Mẹ chỉ theo Cậu đi học được mấy năm, rồi đi lấy chồng. Vậy mà bây giờ, 90 tuổi, Mẹ vẫn còn nhớ được năm ba tiếng Tây. Có những lúc ngồi kể chuyện đời xưa, lòng Mẹ dịu lại và ánh mắt Mẹ thật vui, Mẹ nói: “la table cái bàn, le banc cái ghế, le riz hột lúa.” Rồi Mẹ nở nụ cười, lộ hai cái lợi trơn lu, và mái tóc, bạc trắng như vôi. Ngày về làm dâu cho Nội, Dì Hai, Dì Ba đưa mẹ lên đường. Hành trang của Mẹ chỉ có cái va ly nhỏ, đựng năm ba bộ quần áo, cái gương, cái lược, và một nừng nước mắt. Mẹ kể lại. Thế là Mẹ về làm dâu ở Núi Ðồi. Những năm tháng sống nhà Ngoại, Mẹ được cưng chiều nên dường như không biết công chuyện đồng án là gì. Công việc của Mẹ chỉ lo cơm nước trong nhà, xách nước cho thợ, và cầm cây gậy theo Ngoại ra đồng. Ngoại bảo Mẹ ngồi canh chừng cái trúm cá bên bờ mương, lâu lâu cá chun vào trúm thì bắt bỏ vào đụt. Một hồi lâu Ngoại trở lại, hỏi được bao nhiêu cá. Ngoại dở trúm lên không thấy con cá nào hết! Ngoại bực mình. Thì ra Mẹ ngồi bên bờ mương, thọt gậy xuống nước quậy chơi, cá thấy sợ nên không con nào chun vào trúm. Mà Mẹ ghét nhất là làm cá. Và mãi sau này cũng vậy, Mẹ ghét làm cá. Cũng vì vậy mà ngày về làm dâu cho Nội, Mẹ lụm thụm nên hay bị Nội la. Có hôm Mẹ không làm vừa lòng Nội, Nội nặng lời với Mẹ. Mẹ bị đòn một trận nên Mẹ buồn, nằm vạ và nhịn ăn luôn mấy ngày. Rồi Cha phải năng nĩ Mẹ mới chịu ăn. Mấy ngày sau Mẹ đòi Cha dẫn Mẹ về trên Ngoại, Cha không dám dẫn Mẹ đi, nhưng rồi Mẹ cũng đi. Ngoại nhìn đôi bàn tay của Mẹ sần sùi, và người gầy ốm nhiều, Ngoại thương cho ở lại nhà. Mẹ là con dâu trưởng, Cha có một đàn em, nên Mẹ cực muôn chiều. Vừa phải lo cho Nội, lo cho em chồng, thức khuya, dậy sớm. Một ngày của Mẹ dài đăng đẳng. Vậy mà cũng không được yên. Sau lần Mẹ giận bỏ về nhà Ngoại, Nội lên xin lỗi và đưa Mẹ về. Rồi Mẹ có mang anh Hai. Ngày sinh nở Mẹ về bên Ngoại. Sau ngày sinh anh Hai, Mẹ đòi Cha về ở trên này. Vậy là Cha phải rời Núi Ðồi về Ðồng Xuân cùng Mẹ. Ngày xưa ông Nội quê ở Ba Bình nằm cạnh Ðồng Xuân, nhưng vì theo quê vợ nên ông Nội mới về sống ở Núi Ðồi. Bây giờ Cha trở về Ðồng Xuân với Mẹ, ông Nội cho Cha mảnh vườn ở Ba Bình làm nhà ở. Từ đó Cha Mẹ ra riêng, và lập nghiệp ở Ba Bình. Những năm đầu ra riêng Cha không có đủ ruộng đất để làm nuôi gia đình, nên Cha theo người ta vào Bình Ðịnh làm kiếm tiền. Vậy là Mẹ ở nhà một mình với anh Hai. Nhờ có Ngoại ở một bên, và Ngoại rất thương anh Hai, đi đâu Ngoại cũng đèo anh Hai trên lưng. Cho nên Mẹ đỡ một tay để lo công chuyện trong nhà. Sáu tháng trời Cha vẫn đi vắng, và sáu tháng trời đã huấn luyện cho Mẹ thành một người vợ, một người Mẹ đảm đang lo cho gia đình. Nhưng sáu tháng phòng không lẽ bóng, chắc Mẹ cũng buồn lắm! Còn Cha, phần thì làm không được bao nhiêu tiền, phần thì bệnh họan liên miêng, muốn trở về nhà mà không có tiền và phương tiện. Một hôm, tiếng đồn Cha bị bệnh nặng mà không có đủ tiền đi về đến tai Nội. Nội phải lặng lội đường xa để mang Cha về. Sau đó Nội cho Cha thêm đất để ở nhà làm ăn. Và cũng từ đó một tay quán xuyến của Mẹ đã giúp Cha gây dựng nên sự nghiệp. Rồi các anh, các chị nối tiếp nhau chào đời. Mẹ dành dụm có cái ăn cái để, rồi xây nhà, dựng chòi mía, làm đường, làm bờ xe nước. Ðâu có ai nghĩ rằng con gái út của Ngoại lại quán xuyến đến thế. Nhưng có ai biết đâu, Mẹ là hình ảnh của bao nhiêu người Mẹ Việt Nam. Cần kiệm lo cho gia đình, con cái, mà cả tấm thân của Mẹ suốt đời vẫn nhọc nhằn. Nhưng rồi chiến tranh đến, thiêu rụi bao nhiêu công lao mồ hôi nước mắt của Mẹ. Coi như công dã tràng, Mẹ lại cùng Cha mang con cái của Mẹ rời xa bom đạn để làm lại cuộc đời. Thế là Mẹ cũng như những người mẹ thân yêu khác, lên thành phố. Bỏ cái cuốc xuống, Mẹ đặt trên vai cây đòn gánh, và bước chân Mẹ dẫm đều trên đường phố đông người, làm người bán hàng rong. Một ngày của Mẹ lại bắt đầu như xưa, dài đăng đẳng. Trong một lần tai nạn nghề nghiệp Cha đã ra đi. Để lại một mình Mẹ thân cò lặng lội bờ ao, nhọc nhằn năm tháng chi chít nuôi con ăn học. Rồi những đứa con của Mẹ cũng đến ngày khôn lớn. Từng đứa dìu dắc nhau ra đi, để Mẹ ở lại trên mãnh đất quê hương. Một đời người Mẹ đi qua. Khi Cha qua đời Mẹ vẫn ở vậy nuôi con, bây giờ con khôn lớn, con đã ra đi. Những năm tháng mòn mõi trên quê hương, Mẹ vẫn mong ngón tin con, như ngày xưa con vẫn ngồi trên thềm trông Mẹ về chợ. Rồi một ngày con trở về mang Mẹ đi. Là ngày con đã thành nhân. Ơn sinh thành nuôi nấng bây giờ con mới được đền đáp. Mười lăm năm qua Mẹ về ở với các con bên đây, bây giờ Mẹ già rồi, Mẹ lại muốn về với quê hương, với chị, với anh của con. Chỉ vậy thôi, vậy là Mẹ sẽ về. Mười lăm năm trôi qua mau quá, con tham lam muốn có thêm mười lăm năm nữa, chắc được chứ, phải không Mẹ. Hôm nay là ngày của Mẹ. Cánh cửa phòng của Mẹ vẫn đóng kín, và tiếng nói của Mẹ cũng không còn đâu đây. Con xin cám ơn đời đã ban cho chúng con người Mẹ tuyệt vời, suốt đời tận tụy vì con. Không ngại nắng sớm mưa chiều, Mẹ đã quên đi nữa cuộc đời của Mẹ, để quảy gánh trên vai nuôi anh em chúng con ăn học thành tài. Công lao của Mẹ to quá, như nước trong nguồng lai láng. Mà con không biết dùng từ ngữ nào mới nói xiết, nên, con chỉ xin gởi về Mẹ nụ hôn và một bông hồng, cho Mẹ.
Tôi có thể bị chê là quá lãng mạn, nhưng thú thật bao giờ tôi cũng vẫn coi bệnh-nhân như một người bạn đồng hành ở bên cạnh tôi trong cuộc chiến đấu chống niềm đau nỗi khổ và sự chết. Đó là một quan niệm mà theo ý tôi có thể suy ra từ những mệnh lệnh đạo đức, nhất là một sự chân thật tuyệt đối ở đôi bên, lòng tin tưởng tương đồng hoàn toàn, niềm thủy chung ngay bất cứ lúc nào, trên phương diện y học cũng như trên bình diện nhân bản. Mọi việc bắt đầu cách đây ba tuần lễ. Hôm đó sau hai cuộc giải phẫu lớn và một “cua” về quan niệm nhiễm trùng dưới khía cạnh thủ thuật, tôi đến văn phòng giải quyết vài chi tiết hành chánh. Cô thư ký, cộng sự viên quý báu cũng khắt khe, bắt tôi phải đọc bao nhiêu văn thư, ký không biết bao nhiêu văn kiện và định ngày khám bệnh. Tưởng đã xong hết công việc thì cô cho tôi biết có hai vợ chồng già chờ tôi đã hai giờ trong phòng đợi.
Tôi gắt:
– Thôi chứ. Cô không thể tìm một ông phụ tá để tiếp họ thay tôi hay sao?
Cô lắc đầu:
– Thưa giáo sư khó lắm ạ, họ chỉ muốn gặp có giáo sư. Rồi cô lại nói thêm như để thoái từ, dạ, thưa họ đến vì ông con một, rồi giáo sư sẽ thấy, họ dễ thương lắm.
Khi tôi bước vào phòng đợi, một ông già đứng tuổi, tóc bạc phơ, mặc rất trịnh trọng trong bộ lễ phục đã quá thời, đứng dậy và nghiêng mình kính cẩn. Sau khi xưng tên, cụ giới thiệu bà vợ, một bà già nhỏ nhắn như một búp bê bằng sứ, mặt tàn phá bởi nước mắt. Đôi mắt cụ nhìn tôi vẻ van lơn. Và đôi môi run rẩy sẽ khoác lên một nụ cười. Cô thư ký tôi có lý: không thể nào chối từ tiếp đôi vợ chồng trong bộ lễ phục thường thấy trong “album” cũ kỹ này. Họ đang bị đau khổ giày vò, chỉ nhìn thoáng cũng cảm thấy điều ấy. Ông cụ nói rõ mục đính cuộc “thăm viếng” này. Đứa con một của đôi vợ chồng già này, trước là giáo viên, hồi hăm ba tuổi – năm nay đã hăm sáu – bị tê liệt tay phải, ít lâu sau cả chân phải. Vài tháng sau tới phiên tay và chân trái. Bây giờ, thằng bé khốn khổ bị tê liệt cả người đang sống vất vưởng tại một viện dưỡng bệnh. Vả lại chứng tê liệt không xuất hiện bất thình lình sau một tai nạn hay một cơn bệnh mà cứ phát hiện lần lần, không có lý do xác đáng và hiển hiện nào.
– Bây giờ, các bác sĩ bỏ nó. – Đến lượt bà cụ nói, tay cầm khăn che cố nén từng tiếng nức nở.
Ông cụ bèn chữa:
– Thưa, thật ra bỏ thì không đúng lắm. Họ không biết phải làm gì. Vì vậy chúng tôi khẩn khoản nhờ ông thầy giúp hộ thằng bé. Tôi nghĩ … có thể nhờ giáo sư đến đó và xem hộ bệnh tình của cháu ra sao …
Tôi phải nói rõ lại. Nếu tôi phải đến đó, dù trong một thời gian ngắn ngủi thôi, cũng không thể nào được. Chiến tranh hồi đó tiếp diễn tới năm thứ ba. Tôi còn phải, ngoài hơn ba trăm sáu mươi giường ở bệnh viện, trông coi một Quân Y viện gần năm trăm giường. Hơn nữa, thêm vào đó, tôi vừa được bổ nhiệm làm cố vấn giải phẫu trong quân đội cho vùng Mieder Schlesien nghĩa là phải coi sóc cho độ gần bốn mươi lăm ngàn thương binh. Tôi còn nói thêm là, trong trường hợp một bí ẩn như vậy, tôi không thể định đoạt một án chẩn chỉ dựa trên hồ sơ bệnh lý. Trong khi nói, tôi nhận thấy nét mặt họ sa sầm lại, vẻ tuyệt vọng. Thật tình thương hại, và tỏ vẻ an ủi họ một phần nào, tôi ngỏ ý nếu họ có thể xin cho cậu con trai thuyên chuyển đến bệnh viện tôi thì mới có thể tìm ra căn bệnh.
Họ cảm tạ tôi. Họ hết lòng cảm ơn rối rít. Hiển nhiên, họ bám víu vào mọi hy vọng dù mỏng manh. Thật dễ hiểu trong một tình trạng bi đát ấy. Nhưng, niềm hy vọng ấy, tôi có lý khi không đem lại cho họ? Hơi bực mình với chính tôi, tôi nghĩ lại những điều người cha vừa cho biết. Chứng tê liệt lần lần cả tứ chi như vậy có thể do một cái bướu ở phần trên tủy sống. Có khi, đem cắt bướu đi có thể khỏi hay đỡ một phần nào. Nhưng khi tủy và những chùm dây thần kinh đã bị dồn ép từ lâu rồi khó mà có thể phục hồi được. Khó lắm. Không một hy vọng mảy may nào. Mười lăm ngày sau, xe hồng thập tự đưa bệnh nhân đến. Một cậu trai dễ thương, nụ cười nở như hoa – và tứ chi bị tê liệt. Tôi cho cậu nằm phòng riêng và, để bắt đầu, để cậu tịnh dưỡng trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Đó là điều cẩn thận cần thiết sau một chuyến đi xa như vậy.
Lần đầu tiên khi tiếp xúc với bệnh nhân, tôi nhận thấy chàng trai rất thông minh và có kiến thức thật rộng. Anh có một thái độ thật vững chãi và lạc quan: không than vãn gì cả, chờ đợi mọi cuộc trị liệu mới với một sự tò mò gần như đam mê. Hai cụ thân sinh chắc đã nói với anh về tôi và chắc đã tâng bốc tôi nhiều lắm nên anh có vẻ vững tin là tôi sẽ chữa khỏi “bằng cách này hay cách khác”.
Về phần tôi, than ôi, tôi ít lạc quan hơn! Cuộc khám nghiệm chỉ càng xác nhận thêm mối lo ngại của tôi. Đôi chân bị tê liệt hoàn toàn cũng như cánh tay phải. Trái lại, tay trái còn vài bắp thịt ngón tay là còn cử động được. Niềm ngạc nhiên nay trở thành tư lự khi tôi nhận thấy hô hấp bệnh nhân vẫn đều. Như vậy có nghĩa là hoành cách mô vẫn tiếp tục điều hòa như thường. Vả lại, hoành cách mô do sự điều khiển bởi một dây thần kinh phát khởi giữa đoạn thứ tư và thứ năm của phần tủy cổ (moelle cervicale). Nói cách khác, những trung khu vận động phải bị mắc nghẽn dưới những đoạn này. Khi khám nghiệm phần cổ bệnh nhân tôi kinh hoàng như bị sét đánh. Đằng sau gáy, phía bên trái, ta thấy một cục lớn và cứng. Tôi cho chụp quang tuyến ngay vùng cổ. Tôi gởi gắm chuyên viên nên nương thật nhẹ và thật cẩn thận với bệnh nhân. Thật vậy, rất nguy hiểm, vùng xương sống này đã bị tàn phá rất nhiều bởi sự phát triển của bướu nay có thể bị vỡ vụn và gẫy ra. Tai nạn này chắc chắn sẽ làm bệnh nhân chết ngay.
Buổi chiều, anh y sĩ trưởng tận tay đem đến cho tôi những tấm phim. Không nói một lời, anh đặt ngay lý do sự im lặng của anh: chưa bao giờ chúng tôi được xem những hình ảnh ghê rợn đến thế. Những đốt xương sống cổ thứ năm và thứ sáu bị hoàn toàn tiêu hủy (và bị biến hình rất trầm trọng), rất có thể do tác động của bướu. Thật cũng rất ngạc nhiên khi bệnh nhân vẫn còn chịu đựng được sức nặng của đầu. Để xương sống đỡ bị mệt nhọc, tôi ra lệnh quấn đầu bệnh nhân bằng một “miếng lót Glisson”, một thứ khăn choàng quấn quanh cằm, đỉnh đầu và buộc vào thang giường có thể kéo chặt hay thắt làm sao để khỏi bị gẫy đốt xương sống.
Rồi sao đây? Tôi có phải mổ cái bướu không? Nếu phê phán và xét đoán qua phim quang tuyến, thật là liều lĩnh và điên cuồng gần như thách đố với định mệnh. Chỉ cần đem bệnh nhân đặt kê lên bàn mổ cũng nguy hiểm tới tính mạng bệnh nhân rồi. Tóm lại chúng tôi đều đồng ý ở điểm này: ý nghĩ mổ bướu này phải loại đi. Tuy thế, tôi vẫn chưa muốn từ bỏ vội. Càng nghiên cứu những phim quang tuyến, tôi càng tự hỏi phải chăng chúng tôi quá bi quan. Dĩ nhiên, ngay từ đầu chúng tôi cho đây là một bướu ác tính đang xâm chiếm và tiêu hủy tủy sống. Nhưng rất có thể đây là một sự dồn ép tủy sống bởi một bướu thuần tính và dễ lành thì sao? Trên những tấm phim quang tuyến, bướu này không phát triển trực tiếp đi từ tủy, nhưng từ vỏ xương ra, ở mực đốt xương sống cổ thứ năm và thứ sáu. Vậy, nếu chính ngay tủy không bị tiêu hủy thì phải giải phẫu may ra có cơ hội – thật ra phải nói là rất mỏng manh – giảm bớt hay ngay cả làm biến chứng tê liệt. Với điều kiện, dĩ nhiên, là bệnh nhân phải đủ sức và không chết trên bàn mổ. Thường thường, bệnh nhân một khi tự ý được nhập viện vào khu giải phẫu đều tin trước có thể bị mồ, nên sự thỏa thuận, theo luật định, chỉ là một hình thức thông thường. Nhưng trong trường hợp này tôi nhận thấy tình trạng khác hẳn. Những rủi ro của cuộc giải phẫu rất lớn nên tôi phải báo cho bệnh nhân và hai cụ thân sinh biết. Tôi bèn viết thư mời ông cụ tới càng sớm càng tốt. Hai hôm sau hai ông bà cụ đến. Tôi nói thật tất cả cho họ nghe:
– Với hiện tượng khoa học và theo sự xét đoán của tôi, cơ hội lành bệnh thật mỏng manh. Nhưng, thêm vào đó, mồ cũng rất nguy hiểm. Nguy hiểm đến nỗi mà tôi còn lưỡng lự có nên khuyên mổ hay không.
Bà cụ khóc nức nở. Còn ông cụ, mặt tái mét, đứng dậy và nhìn tôi vẻ tuyệt vọng.
– Chúng tôi tuyệt đối tin tưởng ở giáo sư. Nếu giáo sư nghĩ rằng mổ sẽ thành công, thì phải thử và cố xem, vậy …
Tin tưởng tuyệt đối – một lời nói cao quý làm sao, nhưng cũng là một trách nhiệm ghê sợ làm sao! Tôi không biết nói sao đây.
– Hai cụ đi trình bày tình trạng này cho cậu ấy. Nếu bệnh nhân, sau khi đã hiểu cặn kẽ, muốn mồ, lúc đó tôi sẽ nhận lời.
Thật ra, tôi mong ông giáo viên trẻ này sẽ lùi bước trước nguy hiểm và tôi sẽ thoát khỏi cái trách nhiệm nặng nề này. Nhưng tôi đã đánh thấp lòng can đảm của anh. Một giờ qua, khi cô thư ký báo tôi biết bệnh nhân muốn nói chuyện với tôi, tôi bèn bỏ bút máy xuống mặt bàn và chạy đến phòng anh. Khi tôi vào không khí im lặng căng thẳng. Hai cụ, đứng gần giường, có vẻ như sắp ngất xỉu. Cuối cùng, ông cụ nói:
– Thưa giáo sư, chúng tôi đã báo tình trạng này cho cháu biết. Chúng tôi cũng không giấu cháu một điều gì cả – cháu nó biết sẽ không biết sống, chết ra sao …
Bệnh nhân, đầu bất động trong tấm vải lót Glisson, không hề nhìn thẳng vào mặt tôi. Nhưng ông cụ vừa dứt là anh tuyên bố, giọng dõng dạc và bình tĩnh:
– Xin giáo sư mổ cho tôi.
Tôi phải cố gắng mãnh liệt mới che giấu cảm xúc đang siết chặt tôi. Sau cùng tôi trả lời:
– Được. Tốt lắm. Phần tôi, tôi đồng ý với quyết định của anh.
Vậy tôi sẽ mổ anh sáng mai, bảy giờ.
Buổi trưa hôm trước khi mổ. Chỉ một giờ sau, tin đã được loan đi khắp bệnh viện. Thật đúng như một cuộc nổi loạn. Ở khắp các nơi cô y tá và mấy anh phụ tá từng nhóm một lời to tiếng nhỏ bàn bạc. Khi tôi đi qua, câu chuyện ngưng hẳn lại nhưng tôi cảm thấy sau lưng tôi là những cái nhìn hoài nghi và có thể chống đối. Khi đi qua phòng chứa băng dự trữ, tôi được nghe cả lời tâm sự của một anh sinh viên tập sự nói với một nội trú:
– Thật điên rồ hết sức. Đánh liều với mạng sống của gã này vì một cuộc giải phẫu chẳng đi đâu đến đâu cả.
Trước khi rời khỏi bệnh viện, tôi còn tranh luận sôi nổi và chua chát với anh y sĩ trưởng. Anh phản đối kịch liệt cái mà anh gọi là “một quyết định không thể hình dung được”.
– Thưa giáo sư, giáo sư thừa biết là bệnh nhân sẽ chết trong tay ông. Thật là một toan tính vô vọng … Giáo sư không có quyền …
Tôi bước đi không trả lời anh. Bây giờ, sau một đêm trằn trọc, tôi tự hỏi đến lần thứ mười xem, khi quyết định mổ, tôi có tuân theo những động cơ ngoại y học không? Một sự bướng bỉnh gần như cứng đầu cứng cồ, một tham vọng không thú nhận, một sự hiềm kỵ không công nhận sự bất lực của tôi trước một căn bệnh nan y. Nhưng sau khi đã khảo sát lương tâm không biết bao nhiêu lần, tôi vẫn đi tới cùng một kết quả: không mồ, không những bệnh nhân vẫn bị tê liệt mà lại càng chóng chết; nếu mổ, – nếu tôi đạt được mục đích tốt đẹp ấy – chỉ có một cơ hội nhỏ, nhỏ lắm để có thể sử dụng lại được tứ chi. Vậy, phải cố thử xem. Đúng bảy giờ, bệnh nhân được đem vào phòng mồ, và đặt thật cẩn thận hết sức lên bàn mổ. Dưới sự kiểm soát của tôi, bắt đầu cho đánh thuốc mê thật nhẹ; như mọi khi tự tay tôi tiêm thuốc mê bổ túc. Khi bệnh nhân ngủ rồi, tôi cho xoay thật thận trọng bệnh nhân nằm ngửa lưng ra. Đầu gác lên rồi, giải khăn để giới hạn vùng giải phẫu rồi, áp huyết và nhịp thở thử lại rồi, phút quyết định đã tới. Sau khi kẻ một đường mổ đầu tiên dọc theo đường giữa gáy, xa những mấu gai (apophyse épineuse) của vùng cồ, tôi rạch sâu, ở hai bên, hầu tới đáy đốt xương sống. Hai anh phụ tá kéo khéo những bắp thịt, anh y sĩ trưởng thông máu. Ngoài tiếng vo vo của ống bơm điện và tiếng hút máu, không nghe thấy một tiếng gì nữa. Hơn bao giờ hết, toán giải phẫu làm việc trong im lặng. Bỗng nhiên, sau ba phút; tôi gặp những mấu gai mềm như bột, – một mô không thể nhận ra được bề mặt tròn và nhẵn. Không còn nghi ngờ gì nữa mô này đã thuộc vào phạm vi bướu rồi. Tôi cố ấn nó lên phía trên và xuống dưới hầu nhìn rõ hơn. Lúc sau tôi có thể lôi ra một lớp đặc gần như một cái vỏ. Dưới đáy vết mổ hiện ra một đống màu nâu.
Bây giờ tôi mới biết đây không phải là một bướu ung thư biểu mô (carcinome) mà là một “bướu nâu” gồm tủy phiến bào (myéloplaxes), không ác tính. Bướu này đã tiêu hủy và làm mủn ra khớp xương của đốt sống cổ thứ năm và thứ sáu. Nhận xét này đã trút hẳn gánh lo âu nặng lớn của chúng tôi. Bây giờ chúng tôi có thể lôi bỏ toàn phần hay một phần bướu này. Đi sâu hơn nữa, tôi cầm và kéo ra những u lớn mà không bị chảy máu nhiều. Nâng cả đống bướu lên, tôi thấy ở dưới là một bình diện trắng lờ – không còn nghi ngờ gì nữa, đây là màng cứng ngoài của tủy sống. Tôi báo cho mấy anh phụ tá biết:
– Nhìn đây này – ở dưới đáy đó – màng cứng não đấy. Chúng ta vào đến tủy sống rồi, – nó bị hoàn toàn bẹp dí!
Bây giờ tôi cảm thấy là tôi sẽ thành công. Thở hồn hển vì cảm động, tôi sang phía bên trái của bướu. Theo dõi từng phần một và nhận thấy bướu đã hoàn toàn tiêu hủy những vòng cung là đáy của những mấu gai và mấu ngang ở đốt sống cổ thứ năm và thứ sáu. Hơn nữa, nó lại lan về đằng trước. Sau khi biết như vậy, tôi quyết định bây giờ chỉ cắt bỏ có một phần vừa đủ để giải thoát toàn diện phần tủy bị ép, tôi sẽ cắt nốt lần giải phẫu sau. Hôm nay, cơ thể bệnh nhân đã chịu đựng quá đủ! Hơn nữa, chúng tôi có thể tự cho phép chia cuộc giải phẫu ra làm hai giai đoạn, vì đây không phải là một bướu ác tính – trong trường hợp này không được mở ra – mà là chứng bệnh xương, có tên là xương viêm sơ. Thường thường, bướu này có thể phát hiện ở chỗ khác trong thân thể; có lẽ tôi là thủ thuật gia đầu tiên nhận thấy trường hợp bướu nâu ở đốt sống cổ.
Cuộc giải phẫu, mặc dù rất trầm trọng, nhưng cũng diễn ra không một trở ngại nào: Không có một nhiễu loạn ở bộ máy hô hấp và không bị trụy mạch. Tóm lại, thật là phép lạ. Sau khi khâu vết mổ lại và băng cẩn thận tôi nhờ anh y sĩ trưởng trông coi cho y tá chuyển bệnh nhân về phòng, và đặt nằm lên giường. Chỉ cần một sơ suất vô ý nhỏ nào, bệnh nhân cũng có thể tắt thở, do sự gián đoạn của những dây thần kinh điều khiển hô hấp. Ông bạn cộng sự viên già lắc đầu. Hiển nhiên anh nghi ngờ. Mà tôi cũng vậy nữa. Cái tủy sống bị ép lại này trông có vẻ tiều tụy lắm. Tôi không dám hy vọng nó sẽ bình phục được.
Sau đó, tôi lại lao mình trong guồng máy công việc thường ngày với nhịp rộn rã; mổ, khám bệnh, diễn thuyết, khám nghiệm. Vào khoảng tám giờ, tôi đang bận nghiên cứu vài hồ sơ thì cánh cửa văn phòng tôi bỗng mở lớn. Anh y sĩ trưởng, thường ngày rất khoan thai, chạy vội đến tôi, vẻ hốt hoảng đến nỗi tôi tưởng có việc không lành đã xảy ra.
– Anh lại … lại ngay cho! Bệnh nhân đã ngọ nguậy được chân rồi! Thật mà … Anh ấy tỉnh rồi … Hắn ngọ nguậy được ngón chân rồi, cả bắp chân nữa!
Không nghi ngờ gì cả, tôi theo anh ra hành lang. Vừa chạy lại phòng bệnh, tôi vừa hỏi anh:
– Anh có chắc không? Thật không thể tin được …
– Rồi anh sẽ thấy … tôi cũng vậy, tôi không muốn tin là như vậy. Nhưng tuy thế …
Tôi chạy bổ đến giường bệnh nhân và gần như giật tấm chăn ra. Lúc đó, tôi thấy … Trời ơi … quả là thật: Hắn đang cử động thật nhẹ những ngón chân; ngay cả bàn chân và bắp vế trái nữa. Có điều thật lạ, là ngay chính bệnh nhân cũng chưa nhận ra mình đã cử động được. Khi tôi báo cho anh biết chứng tê liệt bắt đầu đỡ dần, ông giáo viên trẻ không tin. Vì anh không thể ngửng đầu được tôi bèn đưa một tấm gương để anh có thể xem được chân anh. Anh thử ngọ nguậy ngón chân, và, một lần nữa, chúng cử động gần như thường. Chưa bao giờ, tôi được chứng kiến một cảnh tượng thật dị kỳ như vậy. Một người đàn ông, đầu quấn trong một tấm vải vì cổ không thể chịu đựng được sức nặng của đầu, đang khóc vì sung sướng. Chỉ thiếu một chút nữa, cô y tá cũng khóc luôn.
Phần cuối câu chuyện có thể tóm tắt rất nhanh. Dần dà, bệnh nhân có nhiều tiến bộ nhỏ nhưng chắc chắn và đều đều. Bốn tuần lễ sau, tôi bắt đầu cuộc giải phẫu thứ hai. Lần này, tôi cắt bướu qua phía phải cổ. Lần mổ này, thật tinh tế hơn nhiều, mất gần ba tiếng đồng hồ. Thế mà cũng chưa đủ để có thể cắt bỏ từng rễ ngách của bướu. Nhưng vì không phải là một bướu nham rỗng, nên vài miếng vụn nhỏ không có nghĩa gì. Ngay sáng hôm sau, tôi cho làm một miếng đỡ đầu chống vào hai vai. Như vậy không cần phải quấn đầu nữa. Một tháng sau, chúng tôi có thể cho chuyển bệnh nhân đến dưỡng bệnh trong một bệnh viện khác. Một năm sau, khi anh giáo đến thăm, chúng tôi không tin những điều trông thấy. Anh đi bộ đến thăm: chứng tê liệt nay đã
lui vào dĩ vãng như một kỷ niệm không tốt, trừ cánh tay và bàn tay phải. Anh còn đeo miếng đỡ đầu nhưng anh không có cảm tưởng như một phế binh. Trái lại anh có vẻ tươi tỉnh và lạc quan. Dĩ nhiên, tôi cho chụp hình quang tuyến lại. Tôi nhận thấy trên những tấm phim hiện rõ sự biến dạng của nhiều đốt sống cổ, nhưng cũng thấy ló dạng những vệt xương dài đang hình thành để nay mai có thể chống đỡ một cách hữu hiệu sức nặng của đầu.
– Thưa giáo sư, tôi không biết làm thế nào để tạ ơn giáo sư. Dĩ nhiên, bao giờ tôi cũng phải cẩn thận từng cử động một, nhưng tôi đi đứng trở lại được rồi. Tôi làm việc lại được rồi, – làm sao có thể diễn tả được cùng giáo sư niềm hạnh phúc vô biên ấy.
Khi đứng trước đám đông để nói những điều suy nghĩ, cảm xúc riêng tư hoặc trình bày những nội dung liên quan đến tập thể người đang lắng nghe, và cuối cùng, phải thế kẹt, khó khăn hơn, nếu buổi nói chuyện thật ra là mặt biểu hiện của lần tranh chấp về một quan điểm, mục tiêu “chính trị” mà ngôn ngữ là phương tiện, vũ khí tấn công … Đối với anh, đấy là những lần thích thú, sinh động, hợp với thói quen, khả năng. Ngày cương cường tuổi trẻ, anh càng hăng hái, náo nức. Vì dầu gì, anh cũng đã lớn lên nơi vùng đất có tiếng ưa tranh cải, biện luận; quê hương thứ hai của anh, miền Quảng Nam- Đà Nẵng. Đất dạy người như thế. Ngườicứ thế lớn lên. Không tranh luận uổng đi, người mòn dần, mất sắc bén. Tháng Hai, 1973, từ hai giờ chiều đến tối mịt, bên bờ sông Bắc Thạch Hãn, giữa một rừng bộ đội giăng lưỡi lê uy hiếp, anh đã khăn khăn giữ cho kỳ được tiêu đề “Tù Binh Bắc Việt Xâm Nhập” trên danh sách trao trả … Cải đến nỗi, anh Thiếu tá Nguyễn An Gang(?), bí thư tỉnh đội Quảng Trị từ ngoài Bắc mới xâm nhập vào, cuối cùng phải chịu nhượng bộ … một nửa!! Nghĩa là, “hồn ai nấy giữ, tên ai nấy mang”.
Danh sách của anh, anh đề “tù binh..”; danh sách tôi, tôi viết “chiến sĩ giải phóng..”. Việc cũ hơn hai mươi năm kể lại như một chuyện khôi hài … Làm gì còn giải phóng và xâm nhập ở đây, nói cho cố rồi có đi đến đâu?!! Thế nhưng, năm ngoái, 1995, một vòng thế giới qua hai mươi ba thủ đô và thành phố lớn, anh vẫn”thói nào tật ấy” … Nghĩa là vẫn sống hết mình với từng chữ, lời viết nên, nói ra. Nhưng lần nói mở đầu buổi sinh hoạt với những người Bạn Trẻ vào ngày 28 Tháng 12 sắp tới đây hẳn phải có điều khác lạ. Sự khác lạ bắt nguồn từ mối cảm động theo cùng nỗi hân hoan, tự hào khác với một lần bình thường. Hẳn nhiên có những nguyên cớ sâu xa, thoạt nhìn qua không thấy được, tìm ra. Ngồi yên, ngẫm lại, cảm xúc tràn ào ngờm ngợp như đang trong ngày trẻ tuổi. Sự thể là thế nầy.
Một,
… Vào một ngày Hè, mùa mưa rào Miền Nam, khoảng tháng Sáu, năm 1970. Anh đang trong cơn vô định dật dờ của đời sống nhà binh. Bị đuổi ra khỏi đơn vị, binh chủng mà anh hằng yêu mến, cung hiến hết tuổi trẻ không chút từ ngại. Thế giới sống động tự hào mà anh đã tự động chọn lựa từ ngày đầu tiên đời lính. Anh ra khỏi binh chủng với lời phê “sĩ quan kém khả năng, mất tư cách”, lột xuống một cấp bực, đổi về đơn vị địa phương, tiểu khu Phước Tuy hay tỉnh Bà Rịa, địa danh độc đáo chỉ có riêng với Miền Nam. Bà Rịa, thị xã sũng ướt trong mù mưa do tàng cây me xanh dầy rợp kín những khoảng đường hẹp bề ngang chỉ đủ để hai xe hơi tránh nhau một cách khó khăn. Đấy là nói phố chính, đường Thành Thái. Lúc ấy, anh không hiểu tại sao tên ông vua kia được đặt nên ở đường phố nầy; thật sự chỉ là một đoạn ngắn của Quốc Lộ 15 nối Sài Gòn – Vũng Tầu chạy ngang thị xã. Ở lâu, anh dần được biết. Sở dĩ, tên vua Thành Thái, loại hoàng đế lỡ thời của một xứ sở bị trị, được xử dụng đến, bởi ông vua chẳng tiếng tăm (nhưng nhiều tai tiếng) kia, sau khi bị ép thoái vị (1907), đã vào Bà Rịa ở một thời gian trước khi đày đi Châu Phi, 1916. Trong số mười sáu bà vợ, hình như có người gốc Bà Rịa nầy; (Phải chăng đấy là lý do để ông vua chọn nơi đây làm chốn gởi thân lúc sa cơ thất thế? Và cái “Bà”, vợ vua ấy là đầu mối của danh xưng “Bà Rịa”, kiểu như các “Bà Hom, Bà Quẹo” … của ông Lê Văn Duyệt hay chăng? Mà thôi, chuyện đời xưa nói lắm cũng nhàm. Huống gì lại chuyện xưa không mấy hay). Tên ông vua lưu xứ đặt cho một nơi chốn heo hút, bỏ quên kể ra cũng điều thích hợp ngẫu nhiên. Bà Rịa nằm lọt trõng, mất tiêu giữa Sài gòn, Vũng Tầu, hai thành phố quá lừng lẫy với hàng trăm ngàn lính Mỹ vào ra trú đóng, những đoàn xe GMC chở quân trang, quân dụng, khí giới và nhân công người Việt xếp hàng trước những căn cứ quân sự. Bà Rịa với Đường Thành Thái, chiều dài nửa cây số không đủ sức chứa quá năm mươi chiếc xe nhà binh, co quắp rúm ró sợ hãi đối với hai thành phố lớn kia như cô gái quê tội nghiệp ngồi giữa hai người đàn bà ăn chơi phấn son sành sõi. Ông vua mất ngai, gã lính bị lột lon, thành phố sũng nước chìm chìm trong màn mưa dầm, thêm đậm xanh bởi tàng cây sụp bóng tối . Bà Rịa, thật quá đủ cho một tổng hợp điêu tàn. Thuở ấy, thị xã quê mùa đến nỗi không một quán “bia ôm”, đừng nói gì Bar Mỹ. Rất nhiều người Sài Gòn khi đi qua phải bật lên lời tán thán … Cái chỗ giống gì buồn quá ta!!. Anh đến đấy sau những ngày hào hứng Sài Gòn, lòng cũng trống vốc hoang tàn như dãy phố chợ cuối chiều trơ trỏng sạp bụi nhếch nhác buồn hiu. Gió đi qua thổi bay mờ những hạt mưa ẩm lạnh sót dính lại trong tàng lá xuống mặt đường loang lỗ, hai bên lẫn khuất những nếp nhà kiểu cổ. Nhà mái ngói âm dương (miếng ngói cong hình ống, tờ úp xuống, tờ ngữa lên), nền cao, cửa gỗ dày luôn đóng kín. Cơ ngơi của những người Miền Nam đã một lần phú quý, có quốc tịch Pháp, nói tiếng Tây. Chỉ nghe thuật lại như thế. Buổi anh tới ở cùng, Bà Rịa hẳn hiện thực một lần tàn phai. Như cái tên thoạt nghe buồn cười, kỳ cục. Lâu dần, ngẫm ra âm tội nghiệp ngậm ngùi. Chiều chiều, sau cơn ngủ muộn, từ cửa sổ căn phòng trọ chỉ đủ chỗ trải chiếc túi ngủ nhà binh, nhìn ra khoảng không xám đục, trên những mái nhà rêu xanh loáng nước, anh thấy thật có khối chĩu nặng trong ngực. Cảm giác váng vất về một điều nguy khốn không gọi rõ nên tên đang chờ đợi, rình rập. Chịu không nỗi, anh theo xe đò đi Vũng Tầu. Dẫu sao, nơi ấy có biển. Bờ biển, cảnh sắc quen thuộc từ những ngày mới lớn. Hơn nữa, ở Vũng Tầu anh có bạn. Bạn rất thân.
Hai,
Nhìn ra khoảng sân, nước mưa ngấm xuống, mặt cát trở màu vàng đục, dẽo ướt, lá bàng khô nâu lốm đốm rời rã lăn lóc. Mắt người đàn bà loáng lên ánh ngắn vui. xong vụt tắt. Ất bởi những khắc khoải phiền bực sẵn có trong lòng, hiện rõ nên nét sắc. Anh không thể biết nguyên cớ, do từ năm, sáu năm nay không gặp mặt.” … Lâu quá mới thấy cậu … Mới ngày nào, hai chị em … “. Người bạn, cũng là người chị vì anh không có anh, chị lớn tuổi. Hơn nữa, cả hai vợ chồng đã chứng kiến những giờ phút ngặt nghèo nhất của đời anh. Đối lại, anh làm trung gian qua liên hệ với hai người. Trước kia hay bây giờ cũng vậy. Giữa họ có mặt anh. Anh không ngã theo phía nào khi hai bên có điều xung đột. Bởi, người chồng là người cung cấp cho anh chiếc áo tươm tất để anh lên đường; đưa anh ra ga xe lửa trong ngày đi lính; bỏ vào túi áo anh số tiền hai trăm đồng – Tài sản anh chưa hề nghĩ ra, dẫu rằng lúc ấy đang ở tuổi thành nhân. Anh thành người qua một cách thế khác, không do vật chất thủ đắc, cũng không do bất cứ kinh nghiệm xã hội, tình cảm nào. Anh sống cơ cực, khó khăn, nguy biến. Hai vợ chồng Bạn chứng kiến đủ.
Người Bạn. Người đàn bà bế con trong lòng ngồi Người vợ, người đàn bà, mến thương anh hơn tình cảm một người bạn. Chị tháo áo dài cắt cho anh chiếc áo sơ-mi thứ hai để anh có cái thay đổi khi nhập ngũ như vừa nói trên. Anh gọi người vợ bạn – “chị”, với tất cả hàm ẩn, cảm động, giản dị của tiếng nói. Rất nhiều lần, từ những ngày ấy cho đến nay, dẫu bao lâu không gặp, khi đề cập về người đàn bà ấy với một người thứ ba, anh thường dùng cụm từ “bà Mh, bà chị tôi.”: Biết anh thật lòng, bạn anh, người chồng coi như một điều vui. Người vợ đánh giá cao hơn với phần hãnh diện. Anh nhìn quanh, nhà mới nhưng có vẻ chấp nối, vá víu ..
– Tr đâu? Anh hỏi về người chồng không đầy đủ, bởi ánh mắt chị bạn loáng giận dỗi không che dấu.
– Ông ấy đổi về Sài Gòn!
Điều bực dọc đã hiện thực; anh xoay qua chuyện khác với đề tài, nơi chốn quen thuộc thân ái của ngày trước,
-Chị thấy trời mưa như thế nầy giống Đà Nẵng không?
Lời nói anh có ngay hiệu quả. Người đàn bà cười vui,
-… Có chiếc Honda, hai chị em mình đi ăn bún bò. Bún bò ở đây không ngon bằng Đà Nẵng, nhưng trời như thế nầy phải ăn bún bò mới đúng.
– Nói thế, chứ lúc ấy, tụi mình đâu đã dám la cà hàng quán. Phải đợi ngày lên Đà Lạt, năm chị đã có cháu
C … Anh ngồi xuống, thích thú như ngày nhỏ mỗi lần gặp mặt với những câu chuyện khi nào cũng tưởng ra quan trọng. Anh đưa tay bế đứa bé như đã từng với các chị, anh nó … Mắt con bé nầy lạ quá … Anh có ngay nhận xét. Thật tình điều nầy rất dễ tìm ra. Bởi như đã nói, anh đã sống cùng họ bao nhiêu lâu, biết đến phần sâu xa của nhau, như nốt ruồi nằm sâu trong tròng mắt người chồng mà chính chị bạn phải đợi đến lúc anh nói lên mới khám phá ra. Các anh chị nó đồng có cách linh động của bố mẹ. Chỉ riêng bé gái nầy với đôi mắt lạ lùng u uẩn. Anh nâng đứa cháu gái lên ngang tầm nhìn, lúc lắc tay, nheo mắt cười giỡn … Anh luôn tin vào khả năng “đồng cảm” đối với thú vật và trẻ nhỏ của mình. Vô ích. Đứa nhỏ nhìn anh bất động. Anh đặt lại đứa bé vào lòng mẹ … Mắt cháu nó lạ quá ... Anh thấp tiếng bùi ngùi bởi lòng cũng đang cơn não nề với khuynh hướng, cảm tính nhanh, chính xác sẵn có đối với điều thất bại, sự thua thiệt. Giờ trước đây, anh ở Bà Rịa cũng với loại mưa sũng nát cỏ cây nầy. Không gia đình, không đơn vị, anh như mưa bám trên tàng lá đợi gió thổi qua bay xuống. Những hạt mưa muộn chỉ vừa thấm ướt mặt cát ẩm. Quả thật, anh cũng không có gì vui hơn đứa bé lặng lẽ nầy. Hai cậu cháu nhìn nhau lần thứ hai. Trống không.
…. Nó giống ông nội đấy mà … Người bạn chen lời giải thích. Chị cũng không thể dự vào phần sâu ánh mắt đứa bé, cho đấy là con mình. Bé gái chỉ khoảng ba tuổi hoặc kém hơn. Anh rời nhà bạn với cảm giác nằng nặng khi từ Bà Rịa ra đi. Căn phòng trọ với chiếc túi ngủ nhà binh đang đợi kia, vài trăm bạc lẽ trong túi … Gần mười năm đi lính, bảy năm chiến trận sống, chết để hôm nay, chiều mưa buổi tháng Sáu, anh đứng giữa một nơi gọi là Bà Rịa, nhìn lên tàng me xanh tối … Nó giống ông nội …. Ông nội đứa bé, thân sinh bạn anh. Bao lâu và như thế nào anh mới có được sức chịu đựng lặng lẽ đáng kính phục của người đàn ông kia? Mẫu người dẫu trước cái chết, tiếng thở dài cũng nuốt xuống.
Ba,
Việc viết văn thông thường đòi hỏi một trí tưởng tượng khá phong phú và anh đã hành xử nó gần ba mươi năm qua với đôi phần thành công. Hơn thế nữa, cũng vì, từ tư thế của người viết nên chữ nghĩa ấy, anh đã chịu bao tai biến suốt khoảng thời gian dài đằng đẵng kia. Thật sự chính là đoạn quan yếu, quyết định của phần đời anh. Mà qua đó, anh đã kiểm chứng được độ chính xác của lực tưởng tượng và mức tinh tế của khả năng trực giác. Luôn có tỷ lệ đúng đắn cao. Nhưng, với buổi sinh hoạt đêm 28, Tháng Mười Hai kia, trí tưởng tượng mà anh thường vận động và trực giác luôn được nêu đến, nại ra như những yếu tố chứng nhận độ chính xác về những lập luận đã hoàn toàn vô dụng. Bởi, đêm ấy, trong những người tuổi trẻ anh có nhiệm vụ đề cập đến, phải nêu lên những đặc thù độc đáo, những cá tính, phẩm chất khác biệt của riêng mỗi người qua văn phong, bút pháp, tư tưởng và xúc cảm … Những biểu hiện mang cá tính Lê Thị Huệ; của Vũ Quỳnh Hương nơi mỗi giòng chữ viết, của Trân Sa ở chiều sâu bí mật với thơ … Và Nguyễn Hà Ý Nhi với ngôn ngữ được xếp đặt, hoàn chỉnh theo cấu trúc, của tính nhạc. Anh ngừng ở đây- Thật rúng động đang đầy ắp – Hoa ra Con Người – Huyền Nhiệm đến thế ư: “Bé gái Ba Tuổi với Sắc Mắt U Uẩn – Buổi Chiều Mua Hai Mươi Sáu Năm Trước-Người Viết Nhạc Hôm Nay: Là MỘT”
Bốn,
Có điều gì nối kết một cô bé ba tuổi với đôi mắt u uẩn hai mươi sáu năm trước; người viết văn trung niên, mỗi giòng chữ bật nên lời tán thán im lặng về phận đàn bà đơn độc đương cự nơi cứ lạ; người đàn ông tuổi quá năm mươi đang gánh chịu phần đời không bình yên, với lão huynh thất thập nhìn mỗi ngày biến động đi qua nhẹ tênh như hơi trà sáng sớm … Những người khác nhau về giới tính cấu tạo, địa bàn sinh hoạt, đối tượng tranh sống và tình huống gắnh chịu. Những người không hề chung mẫu số khuynh hướng lẫn cảm tính cho dù cùng ở trong một lĩnh vực – Phạm trù Chữ Nghĩa – Nghệ Thuật. Nhưng những người của bốn, năm thế hệ cách biệt ấy – Họ đang đi cùng nhau – Như bầy chim di trú của nhiều chủng loại, khi nghe mùi nắng thì từ khắp nơi, cùng nhau hiệp đồng chuyển động đôi cánh … Hướng Mặt Trời, Hơi Am, Phương Nam. Hoặc bi thảm và khắc nghiệt hơn, họ giống như “loài chuột báo động” về một tai hoạ không thể nào trốn thoát, nên cùng nhau, hằng hằng, lớp lớp, dùng chính tự thân, lao mình xuống vực thẳm, báo cho người nỗi đe doạ đang hiện hình.
Tất cả đang cùng nhau dự phần vào một hành trình vô vàn nguy biến, rất mực khắc nghiệt. Bởi, vì “thiếu mộtchút thực tế “như lời Ngu Yên. Tôi Làm Thơ bởi vì không Thực Tế, nên đã bao nhiêu năm qua, do từ những chữ nghĩa trung hậu của” Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc … “, người Huynh Trưởng Doãn Quốc Sỹ hằng phải chịu một gánh nặng vô lường của cách miệt thị và bức hại từ những người cầm quyền tại Việt Nam – Án tù 13 năm trong những điều kiện giam nhốt tệ hại nhất của lịch sử con người thế giới. Nhiều hơn mức án dành cho tội nhân tử hình do đã phạm tội hình sự với trường hợp gia trọng, theo cách xét xử và thi hành án lệnh của toà án cộng sản Việt Nam. Công việc kia cũng gây nên những cái chết vô vàn đau đớn oan nghiệt đối với Từ Chung Vũ Nhất Huy, Chu Tử Chu Văn Bình, Hiếu Chân, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Dương Hùng Cường …. Cùng nhiều niên trưởng, bằng hữu khác, Bắc lẫn Nam, bên nầy hay bên kia sông Bến Hải. Nó cũng là đầu mối, nguyên nhân lẫn kết thúc những đời sống của Quách Thoại, Tam Ích Lê Nguyên Tiệp trước đây ở nước ta, hoặc Nguyễn Tất Nhiên nơi hải ngoại nầy. Nhìn rộng ra cùng thế giới, chúng ta không thể chạnh lòng … Bởi chính tập thể đối tượng nầy là nạn nhân đầu tiên của bất kỳ thay đổi, tranh đoạt quyền lực giữa những tập đoàn thống trị. Bất kỳ ở đâu, bất cứ thời đại, theo những thể chế chính trị, xã hội nào … Đấy là Người của vùng đất Andalucia, Nhà Thơ Federico Garcia Lorca ngã gục trước họng súng đội hành quyết của nhóm quân phiệt cầm quyền Granada,Tây Ban Nha. Người Làm Thơ chết ở tuổi 37 cùng lời vĩnh quyết bi tráng “.. Với Thơ, Điều Bất Khả nên thành Khả Thể- Poésie, L’Impossible devient Possible “. Đó là mối hẩm hút hiu quạnh trong tuổi già, trên nẽo mòn cùng quẫn tiến tới cái chết của người đã tiên tri sự suy đồi của “… Cái gọi là Cách Mạng Tháng Mười Nga: Những Ngày Cuối Cùng của Chúng Ta đã đến!! “. Lời Boris Pasternak, Người mang Lương Tâm trong sáng đích thực của giòng kiêu hãnh Bạch Nga. Phải, Chính Chúng Ta, chứ không ai khác là nạn nhân chính thống đối với tất cả những hệ thống cầm quyền, các đầu mối bạo lực, bởi chúng ta hoàn toàn không khả năng chống cự, bảo vệ mình khi lâm phải những tình huống bi thảm, tuyệt vọng nhất. Chúng ta chỉ có chữ, nghĩa, thanh, âm.
… Tuy nhiên, cung theo lời Ngu Yên … Vì Thực Tế Nên Tôi Vẫn Làm Thơ, nên công việc nguy nan nhưng nhiều quyến rũ nầy vẫn mãi vang vọng tiếng mời gọi mà hôm nay, ngày 28 tháng 12 kia là một dẫn chứng toàn diện, vô cùng cảm động … Những thế hệ người làm nghệ thuật, văn học hằng tiếp tục con đường miên viễn … Đã bắt đầu từ một thưở xa xưa, với những hình vẽ sơ khai chơn chất về cuộc sống tiền sử của Người Cro-Magon nơi những hang động vùng Avignon, Lascaux, Altamira, Tây-Nam nước Pháp đến tiểu luận sâu sắc Cấu Trúc Thơ Hiện Đại đang trên lưới Internet. Từ nỗi ưu uất không hề ai nghe ra của Trần Tuấn Kiệt khi ngồi cùng Bùi Giáng …
..
Lòng ta quả thật đỗi xót thương
Cành hoa bụp cũ khóc bên đường
Bến khuya Sa-đéc trăng mười sáu
Mấy độ chìm theo sóng lớp lang
Và người “cuồng tâm thi sĩ “phải trở về lần tỉnh táo rất hiếm hoi để cùng kêu lên tiếng thất thanh …
Thuyền to, buồm lớn nghĩa gì?!!
Bằng hữu ở trên bờ,
Chỉ đành vẫy tay,
Mặc cho sóng xô đi ….
Trên đường xa không có dấu hiệu chấm dứt, nghỉ ngơi; giữa giòng sông bão tố không bờ bến giải cứu … “Trung Niên Thi Sĩ” (Tự hiệu của Bùi Giáng) năm nào nay đang đi đến hồi cuối cơn cuồng nộ giữa những đường phố bụi lấm, ầm vang xe máy, hơi người, màn khí đặc, mưa nhỏ hạt ẩm ướt, nực nồng nơi thành phố bị xoá tên Sài Gòn kia, không khác biệt với tâm cảnh xa xót, xé rách giữa đêm khuya, sâu bóng tối ở đất Mỹ, thúc dục người tuổi trẻ Ngô Tịnh Yên phải kêu lên tiếng
Hãy thổi tắt ngọn đèn
Bóng đêm sẽ dấu dùm em dòng lệ nóng
Hãy thổi tắt ngọn đền
Để cơn mơ đừng bao giờ bừng tỉnh
Con đường bất tận đồng đúc vóc đáng bằng hữu kia, đêm 28, tháng 12 ấy nên thêm lần hiện thực và “Người Lính Viết Văn” được nhận nhiệm vụ làm mối nối giữa những bước đi của khối người luôn phải gặp hiểm nghèo nhưng cũng rất mực tự hào. Cố gắng một đời người chỉ để làm nên mối bền chặt kia thôi.
Vào khoảng 6 giờ, giờ Saigon, ngày 1/1/75 (theo âm lịch Việt Nam, năm Dần, tháng Sửu, giờ Mẹo) 19 quả đạn pháo sản xuất từ Liên Xô, được rót vào tỉnh Biên Hòa, một thành phố nằm về hướng Bắc của Saigon chừng 20 kms. Một quả pháo rơi trúng vào mái nhà tranh của anh Nguyễn văn Bé. Anh chết ngay tức khắc. Là một thanh niên mới 16 tuổi, anh Bé là một thường dân đầu tiên bị pháo kích chết trong năm 1975 ở Miền Nam Việt Nam. Anh Bé ước mơ sẽ là một kỹ sư hóa học….
Trên nguyên tắc, kể từ ngày 27 tháng giêng năm 1973, đúng 0 giờ GMT, thì “Hiệp Định Ba Lê về ngừng bắn và tái lập hòa bình ở Việt Nam ” bắt đầu có hiệu lực và Hai Bên phải ngừng bắn.
Theo thống kê đứng đắn của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ thì trong năm 1974, đã có 14.000 binh sĩ Miền Nam và 7000 thường dân tử thương vì các hoạt động quân sự. Về phía Bắc Việt người ta đếm được 57.000 chết trận và một số xác chết khác nữa trong thời gian ngừng bắn giả hiệu nầy.
Ngày hôm đó, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ (nằm sát vách Tòa Đại sứ Pháp), đã không nhận được một công điện nào quan trọng từ Nhà Trắng (Tổng Thống) cũng như từ Bộ Ngoại Giao. Ông bà Tổng Thống Gerald Ford thì đang nô đùa với tuyết chung quanh một lâu đài ở dảy núi Rocheuses. Còn ông Tổng Trưởng ngoại giao Kissenger thì cùng ông Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller đang nghỉ mát ở vùng nắng ấm Porto Rico.
Trên lầu một của Toà Đại sứ Mỹ ở Saigon các viên chức ngoại giao thuộc phòng chánh trị cũng như các nhân viên thuộc phòng tình báo (CIA) ở từng trên cùng, đang phân vân. Người thì đoán là năm nay có thể được yên tĩnh, người thì lo ngại. Hồi tháng chạp, phúc trình của phòng nhì đã ước tính tình hình rõ rệt lắm rồi: “lực lượng quân sự của cộng sản ở Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Ước tính có thể cộng sản sẽ tung một phần của lực lượng trừ bị chiến lược của họ để thọc vào những yếu điểm chính trong hệ thống diện địa của Miền Nam . Và không biết chừng cộng sản cũng có thể sẽ chuyển qua thế tổng tấn công.” Dành cho những người có tư tưởng chủ bại!
Bản phúc trình giải thích tiếp : Cân nhắc kỹ lại thì chúng tôi nghĩ là họ sẽ không làm thế đâu. Hà Nội thích tìm mục tiêu trong mùa khô ráo để tấn công trên cả hai mặt chánh trị và quân sự để tránh nguy cơ có thể gây tổn thất cho cuộc tổng tấn công.” Dành cho những người lạc quan!
Những sự phân tách của nhóm tình báo nầy căn cứ trên nhiều yếu tố, nhất là yếu tố thời gian. Từ nhiều thế kỷ, ở Việt Nam những trận chiến có tính cách quyết định thường được tiến hành trước mùa mưa. Bắt đầu từ tháng 5 dương lịch. Lúc đó ở vùng Cao Nguyên nước chảy mạnh với những con suối đầy nước. Đất ở vùng rừng trở nên sốp, còn ruộng ở đồng bằng thì ngập nước, nên các xe vận tải, pháo binh, chiến xa đều bị lún sình khó di chuyển được . Trên trời thì mây đen dày đặc trực thăng thường khó bay và nhất là phi cơ. Đất, nước và không gian liên kết với nhau khiến cho con người khó mà di chuyển và chiến đấu. Mùa mưa thường giúp cho địch quân có thì giờ ngơi nghỉ lấy sức lại. Ba chục năm đánh nhau người anh em cộng sản không tôn trọng giờ ngủ nghỉ gì hết nhưng bên nào cũng cúi đầu trước mùa mưa.
Anh Patrick Hays người Bắc Phi (Algerie) cao 1m 86, tóc húi ngắn, mắt trong xanh là một thiếu úy xuất thân từ trường võ bị Saint Cyr (Pháp), thuộc binh chủng nhảy dù; Anh còn nhớ mãi thời anh còn phục vụ ở trung đoàn I nhảy dù. 12 năm trước anh là phụ tá cho một đồn điền cao su ở Việt Nam , bây giờ thì anh điều khiển cả hệ thống điều hành của hãng Michelin. Vợ anh là một người Việt Nam và là một ngôi sao của đài truyền hình. Anh nói thông thạo tiếng Việt, và thường đi công tác xuống các tỉnh, do vậy mà anh biết rất nhiều tin tức. Với số vốn hiểu biết và bản chất sáng suốt của nhà báo hay nhà ngoại giao, anh là một mật báo viên của tình báo Pháp (SDECC), một việc làm dễ dàng mà anh vừa làm vừa chơi ! Cách đây mấy hôm, Hays không liên lạc vô tuyến được với một đồn điền nhỏ nhất của Michelin ở tỉnh Phước Long, cách Sai Gòn trên 100 kms, một đồn điền cao su rộng 3000 mẫu tây với 1.400000 cây cao su và 500 nhân công. Hays nói là Việt Cộng đã chiếm được 2 đồn trên đường 311, phía Nam của đồn điền nầy và cũng ở về phía Nam của tỉnh lỵ Phước Bình.
Vào trung tuần tháng chạp, Hays đã gặp và trò chuyện rất lâu với quận trưởng sở tại và quản lý đồn điền nầy. Họ đều nói ở đó không có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà có sự chuyển quân quy mô của bộ đội Bắc Việt.
Tại văn phòng của anh gần Câu lạc Bộ thể thao Saigon (mà anh là tổng thơ ký),Anh nhận xét: ” Rất có thể là cộng sản tấn công vào các vị trí yếu nhất của quận Phước Bình để có được một đường bay cho vận tải cơ loại nặng. Một phần vì vướng 25.000 dân tại đó nên việc phòng thủ ở đây trở nên khó khăn, phần khác thì phương tiện của chánh phủ yếu kém hơn hồi 1972.”
Không phải lần đầu tiên mà một tiền đồn bị thất thủ. Đôi khi sự liên lạc với đồn điền cũng bị gián đoạn, nhưng quản lý người Việt lai Tàu ở đây khôn khéo lắm, rồi cũng nối lại được thôi!
Một phần của tỉnh Phước Long nằm sát biên giới Cam Bốt đã bị mất và về đêm thì cộng sản có mặt, ban ngày thì chánh phủ Saigon kiểm soát. Phải gan lì lắm ! Chúng ta hãy xếp loại biến cố nhỏ nầy vào một khung cảnh chung. Việt Nam dạy cho chúng tôi đừng bao giờ ngã lòng. Đối với anh Hays, sau khi Hiệp Định Paris 1973 được ký có nhiều hy vọng là đời sống ở Miền Nam Việt Nam có thể tốt hơn. Nếu Bắc Việt toan tính đi xa hơn thì Hoa Kỳ sẽ gởi cho họ pháo đài bay B.52. Hays thấy là từ năm 1970 Miền Nam coi như đã thắng rồi. Trước đó thì trong tỉnh còn “kháng chiến quân” nhiều lắm. Đến năm 1971 thì gần như không còn mống nào, người ta đi lại tự do hơn trên lộ. Nhưng từ đó lần lần tình hình xuống cấp trở lại. Bây giờ muốn đi về Saigon, Hays phải đưa đoàn xe chở mủ đi vòng lên hướng Bắc qua ngã Ban mê Thuột, một đoạn đường vòng 1000 kms. Vì đoàn xe nầy chỉ đi thẳng đến Saigon khi nào đường đã được mở rồi (thường thì hành quân cấp tiểu đoàn để “mở đường” ).
Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa thường tiếp khách tại Dinh Độc Lập, một dinh thự thường thôi nhưng đầy đủ tiện nghi và kiến trúc theo kiểu hiện đại. Ông Agustini Manglia, Đại Sứ Phi luật Tân, niên trưởng ngoại giao đoàn phát biểu:
-“Bây giờ thì thấy có vẻ lạc quan hơn. Một cuộc dàn xếp chấp nhận được, hướng tương lai… về một chân trời mới.”
Cử tọa gục gặt đầu đồng ý, tán thành.
Tháng nầy nhà ngoại giao Ba Tư chủ tọa “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Theo Dõi” việc thi hành Hiệp Định Paris. (gọi tắt là CICS). Ông thấy không yên tâm lắm :
“- Tôi hy vọng Hiệp Định Paris sẽ được thực thi”
Cử tọa cũng gục gật đầu ra vẻ tin tưởng như vậy.
Những quân nhân Ba Tư, Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lợi trong Ủy Ban Quốc Tế CICS có nhiệm vụ kiểm tra các vụ vi phạm lệnh ngưng bắn. Họ thừa biết là bộ đội Miền Bắc cũng như quân lực Miền Nam đều ít thi hành điều 2 về ngừng bắn hơn hầu hết 23 điều khác của Hiệp Định Paris 1973. Hai Bên đều có ý hành động thăm dò nhau. Người ta “giành dân lấn đất” nhau, người ta mất đi , chiếm lại từng thôn ấp, từng thửa ruộng. Dầu sao thì các trận đánh nhau cũng còn ở mức độ “chấp nhận được”. Trước hết là từ phía Hoa Kỳ: họ không còn một người lính tác chiến nào ở Việt Nam nữa.
Tại Saigon cũng vậy, ngay trong ngày Hiệp Định có hiệu lực , đúng là yên tịnh. Không có một vụ ám sát nào, cũng không có pháo kích. Khách du lịch đến Việt Nam bằng các chuyến bay của hãng Air France, Thái International, hay Cathay Pacific. Airways … vì một tuần lể hạ giá của Hàng Không Việt Nam. Với 27.000 đồng Việt Nam người ta có thể bay đến Dalat, một thành phố đẹp với khí hậu mát mẻ. Trường đua ngựa ở Phú Thọ với chương trình 8 cuộc đua, ngựa được ưa thích nhất là con Phương Dung! Mười ngày trước đó người ta khánh thành một tiệm ăn sang trọng: tiệm New Carina. Saigon không có không khí chiến tranh!
Dân Saigon ăn nhậu, nhảy đầm, nhưng không vào hộp đêm “Quốc Tế” được vì đang đóng cửa để sửa chửa. Cáo lỗi của chủ nhân đã được đăng trên tờ “Saigon Post”, một nhật báo tiếng Anh, hình như có trợ cấp của CIA (Mỹ): “chúng tôi đang trang trí lại và đổi một số máy điều hòa không khí”. Có nhiều đầu tư trong thủ đô Sai Gòn. Tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, người ta bàn cải về địa điểm của một khách sạn hạng sang sấp được xây cất: khách sạn Hyatt.
Tại câu lạc bộ của CIA, ở khách sạn “Công Tước” (Đức), người ta ngồi ở các bàn nhỏ để dùng cơm tối. Trong số quan khách người ta thấy có ông Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ, và các vị đồng nghiệp của ông , ông Nara (Nhật Bản), và ông Aran (Do Thái) Lý thú thiệt ! gần như có một sự chơi chữ ở đây : A-R-A-N, N-A-R-A ! Người ta cũng thấy có ông Thomas Polgar, trưởng lưới CIA ở Việt Nam, một phòng tình báo lớn nhất trên thế giới, và ông Frank Snepp, một phân tích gia có hạng của Trung Ương Tình Báo ở đây. Người ta nói với nhau về kinh tế, về nền kinh tế vững mạnh của Miền Nam Việt Nam, không cần có sự tăng gíá dầu.
Trong mục “quan điểm” của tờ Sóng Thần, báo hằng ngày, tác giả viết: ” 1975, năm bầu cử Tổng Thống, bằng cách nầy hay cách khác, guồng máy lãnh đạo cần phải được cải tiến nhiều hơn…”
người ta bình luận một vài sự việc khác:
“đại úy Lê văn Ngà thuộc đơn vị công vụ, đã bắn vào đầu tự sát, để lại một bức thơ cho Tổng Thống Thiệu, để bênh vực cho mục tiêu đấu tranh của Phật Giáo. Theo lời của một phát nhôn viên quân đội thì đại úy nầy đã hành động hoàn toàn vì lý do tôn giáo. Vì Đại úy Phật Giáo vừa qua tỏ ý tiếc là
: – “người ta không cố gắng trong hành động hòa giải quốc gia, một điều mà Hiệp Định Paris đã có dự trù.”
Phần lớn dân chúng không ăn mừng ngày Tết dương lịch. Ngày Tết Việt Nam rơi vào tháng 2 dương lịch. Những người thuộc giới trung lưu trưởng giả thường theo người Tây Phương, Pháp hay Mỹ, ăn Tết dương lịch (1tháng giêng) nhưng không ầm ỉ linh đình như người Mỹ, người Pháp, Ba Lan, hay Hung gia Lợi đang có nhiệm vụ ở Việt Nam. Họ chỉ họp nhau và chuyện trò với nhau thôi, bọn trẻ thì nghe ca nhạc (dĩa), và phần đông giới trẻ thích nghe nhạc bình dân của Trịnh côn Sơn..
Đối diện với khách sạn Continental là quán cà phê Givral. Hôm nay có 3 người ngồi thưởng thức café, 3 người mà giới báo chí thường gọi họ là “3 chàng ngự lâm pháo thủ”. Đó là ông M. Vượng đẹp trai; ông Phạm xuân Ẩn một nhân viên toàn thời của báo Times, một nhà báo Việt Nam duy nhất lãnh lương Mỹ, rất thạo tin và đáng kính nể; ông thứ ba là ông Cao Giao, thỉnh thoảng viết cho tờ Newsweek, người có chòm râu càm giông giống hàm râu của Hồ chí Minh. Họ hỏi nhau. Cao Giao nói:
“Người anh họ của bạn tôi làm việc tại đồn điền Michelin, quả quyết là Bắc Việt có xe tăng, loại T.72 và T.54″
Ông Ẩn tỏ ý nghi ngờ:
” Tôi tin là cộng sản chuẩn bị một cuộc tấn công vào Tây Ninh”
Tây Ninh là nơi có Thánh Thất của đạo Cao Đài . Họ thờ Victor Hugo và Tôn Dật Tiên chung với những ông Thánh khác trong một ngôi đền đủ màu sắc trang trí hết sức rực rỡ và rườm rà.
Cách Saigon 3000 cây số, trên đảo Okinawa (Nhật) nằm giữa Đài Loan và Nhật Bản, đại úy Cyril Moyer đang buồn bực. Là một sĩ quan Thủy quân lục chiến, 30 tuổi, đặc trách coi về tiếp vận, đại úy Moyer lo huấn luyện tân binh tại trại Lejeune. Vợ con anh ta đều ở tại Jacksonville (tiểu bang Bắc Carolina, Hoa Kỳ). Binh đoàn Thủy quân tiết kiệm ngân sách, nên gia đình sĩ quan không được theo chồng. 30 tháng trên đảo Okinawa không có gì vui. Chỉ có những trại lính, một căn cứ không quân và những cơ sở của hải cảng. Khi người lính sống xa gia đình thì hay sanh ra lắm tật, rượu chè, dại gái hoặc mê đạo, Moyer nghĩ như vậy. Để không cho mình rổi rảnh, Moyer theo một khóa đại học giống như các sĩ quan ở đây. Anh theo ngành phân tách, như nhiều người đã theo học ở đây. Nếu tiểu đoàn 7 Truyền tin của anh tham gia vào cuộc tập trận dự trù vào tháng 2 nầy ở vùng Phi luật Tân, thì anh sẽ nghỉ học. Việt Nam không nằm trong dự kiến của anh, bộ phận 150 thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Saigon anh cũng không thích.
Đại úy Moyer huấn luyện lính của anh, anh “gạo” bài học của anh. Ở phạn điếm người ta nói là cuộc tập trận có thể dời lại đến tháng 3.
Tại Hoa thạnh Đốn, cách Saigon 22.000 cây số, Nhà Trắng ban hành luật S.3418 nhằm bảo vệ đời sống riêng tư của người dân.
Ông Gerald Ford đã trở thành Tổng Thống sau khi Richard Nixon từ nhiệm vì vụ tai tiếng Water Gate năm tháng trước đó, (tháng 8/1974). Tổng Thống Ford thừa kế một di sản kinh tế èo uột, với lạm phát và mức lời quá cao, thị trường chứng khoán bấp bênh và đội quân thất nghiệp lên đến 5 triệu người .
Vấn đề Việt Nam nằm trong lãnh vực gần như riêng thuộc Tổng trưởng ngoại giao, Kissenger.
Vào đầu năm nay, người ta lo ngại về những hoạt động bất hợp pháp của cơ quan CIA. Cơ quan nầy đã có dự tính ám sát Fidel Castro, trong thập niên 60. Cơ quan nầy không có quyền hành sự trên đất Hoa Kỳ. Nhưng họ đã thành lập 10.000 hồ sơ của công dân Hoa Kỳ. Họ đã thực hiện sự “giám sát điện tử” để nghe lén đường dây điện thoại. Họ cũng đã lục lọi các thư từ cá nhân. Những sự việc đáng nghi ngờ, những “đồ quý giá của gia đình” CIA nầy các nhà báo thích lắm, nhưng các độc giả và thính giả truyền hình thì không. Trong văn phòng Bầu Dục, Tổng Thống thường tiếp ông William Colby, vị Giám đốc CIA, một người thông minh có bộ mặt của một mục sư, tốt nghiệp trường Princeton, anh hùng đệ nhị thế chiến. Ông Colby dùng thì giờ để giải thích về khuôn khổ làm việc của nhân viên CIA hơn là phân tích tình hình ở Việt Nam. Tổng Thống Ford thì chú ý nhiều về những gì thuộc về “hậu Watergate” hơn là tình hình Việt Nam. Ông ta có ý muốn tháo gỡ ngòi nổ của vụ tai tiếng Watergate để ân xá cho Nixon. Tuần nầy qua tuần khác, thủ đô Hoa Kỳ như bị dán chặt vào vụ Watergate tai tiếng nầy. Sau 15 giờ nghị án, một bồi thẩm đoàn đã tuyên bố là “3 cựu cộng sự viên của Nixon đều phạm pháp vì đã chung sức âm mưu ngăn trở sự tiến hành của tư pháp” . Đó là các ông John Ehrlichman, Bob Halderman, và John Mitchell”
Bị các nhà báo, các dân biểu và nghị sĩ của lưỡng viện quốc hội chất vấn, Tổng Thống Ford không bao giờ chú tâm đến những bài toán của nước Việt Nam xa xôi. Để điều tra về hành động của CIA, ông ta chỉ định một ủy ban làm việc với Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller. Ông Ronald Reagan, vừa mãn nhiệm thống đốc tiểu bang California tham gia vao ủy ban nầy.
Những phúc trình của các cơ quan tình báo thường được viết lại, cô động lại đến thường mất hết độ trung thực, rồi mới được đến tay Tổng Thống dưới dạng một bản phân tách.
Có rất nhiều phúc trình và nhiều cơ quan cạnh tranh nhau.
Cơ quan CIA (Trung Ương Tình Báo) thì báo cáo cho Nhà Trắng và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; cho Bộ Trưởng Quốc Phòng, không thuận lắm với Kissinger, và cho các Tham Mưu Trưởng ở Ngũ Giác Đài.
Mỗi quân chủng Không Quân, Hải Quân, Lục Quân và Thủy Quân Lục Chiến mỗi nơi đều có cơ qua sưu tầm tin tức riêng của mình.
Phía Ngoại Giao cũng có cơ quan tình báo nhưng chuyên về chánh trị. Công tác giải mã và đón nghe các đường thông tin liên lạc vô tuyến của địch hay của cả đồng minh đều tùy thuộc Bộ Trưởng Quốc Phòng.
Tất cả các cơ quan nầy trên nguyên tắc đều trực thuộc vào vị Giám Đốc Trung Ương Tình Báo của Liên Bang, và tất cả đều gởi về đây bản phân tách tình hình. Bản phúc trình sau cùng mà Tổng Thống Ford đọc được , nó vừa mơ hồ vừa dè dặt. Không có gì có thể gọi là báo động hết: ” Cân nhắc kỹ”, thi không thấy Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công lớn.”
Tại Hoa Thạnh Đốn, không có một người nào chú ý đến công điện của ông Wolfgang Lehmann, cố vấn ngoại giao, nhân vật thứ nhì trong Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Saigon. Ông Lehmann nhấn mạnh đến sự hiện diện của tướng Viktor Kulikov ở Hà Nội vào tháng chạp. Tướng Kulikov là phụ tá tổng trưởng quốc phòng của Liên Xô.
Ông Lehmann không nghĩ rằng vị tướng Xô Viết nầy đi dạo chơi ở thủ đô Bắc Việt chỉ với nhiệm vụ đại diện cho Liên Xô nhơn dịp kỷ niệm 30 năm thành lập của Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt : “Cũng không phải tướng Kulikov dùng hết thì giờ của ông ta để hát nhạc Giáng Sinh. Tại Miền Nam lúc bấy giờ con số bộ đội chết và bị thương cao gần bằng con số trung bình hằng ngày trong thời gian trước và trong cuộc tấn công năm 1972 ..”
Ông Lehmann nhắc lại là ” Phó tổng trưởng quốc phòng Liên xô Pavel Patitsky là người trực tiếp điều khiển dàn cao xạ phòng không ở Hà Nội, một tuần lễ trước ngày Bắc Việt mở cuộc tấn công mùa xuân năm 1972. ” Lúc đó Bắc Việt thất bại trong cuộc tấn công quy mô nầy. ” Công điện của cố vấn ngoại giao Lehmann được xếp loại “Kín”, vì thế nó cứ nằm kín mãi trong tủ hồ sơ thôi!
Một nhân viên khác của Tòa Đại sứ không bằng lòng cái lối đánh giá tình hình Việt Nam của Hoa thạnh Đốn. Ông Thomas Polgar, trưởng cơ quan Tình Báo CIA tại Saigon đã đọc bản lượng giá trong phúc trình tháng chạp. Theo ông thì những phân tích gia ở Hoa thạnh Đốn không “nằm trong chăn” , nên họ cứ nghĩ là cuộc tấn công của Bắc Việt sẽ kéo dài theo “kiểu chiến cuộc hồi năm 1914” , tức là trước hết phải tiến quân xuyên qua vùng phi quân sự trên vĩ tuyến 17 : “chúng tôi thấy các phân tích gia vì muốn có một sự quân bình trong nhận xét, nên đánh giá thấp tiềm năng và từ đó khả năng thực sự của cộng sản về cường độ hoạt động của họ trong những tháng sắp tới.” Ông Polgar nhấn mạnh tiếp: không có một lý do nào để tin rằng cuộc tấn công quan trọng sắp tới của cộng sản sẽ giống như hồi năm 1972… Có nhiều chỉ dấu cho thấy là sẽ có một cuộc hành quân đại quy mô.” Polgar căn cứ trên những sự tập trung của bộ đội Bắc Việt trên đường mòn Hồ chí Minh và những lời khai của tù binh Bắc Việt.
Tại Hoa thạnh Đốn, người ta đặt giả thuyết là Bắc Việt sẽ mở các cuộc tấn công quan trọng trong năm 1975 vì năm 75 là năm bầu cử Tổng Thống ở Hoa Kỳ. Hai cuộc tấn công lớn của Hà Nội năm 1963 và 1972 hình như chứng minh được quy luật bất thành văn của chiến lược chánh trị quân sự của cộng sản.
Ý kiến nầy cũng là ý kiến của Bộ Ngoại Giao. Ở từng lầu thứ bảy của Kissinger, giống như các cố vấn của Tổng trưởng, ông Douglas Pike cũng nghĩ là trong những tháng sắp tới, Bắc Việt chỉ tung ra những cuộc tấn công có giới hạn. “Trận giặc cắm cờ” sẽ tiếp diễn : Miền Nam sẽ cắm cờ vàng sọc đỏ của họ trong đồng quê, còn cộng sản thì cắm cờ xanh đỏ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lên các xã, ấp. Trò chơi đổ máu độc ác nầy cứ kéo dài từ sau ngày ký kết Hiệp Định Paris.
Kissinger không lo ngại lắm. Còn nhiều bài toán nghiêm trọng hơn đang cần đến sự quan tâm của ông . Trong sáu tháng qua, ông thật sự bận rộn với Trung Đông và nền hòa bình quá bấp bênh ở đó từ sau cuộc chiến của Kippour. Người Á Rập đang chạy đua vũ trang. Đối với Do Thái thì phải có sự chấp thuận của Quốc Hội mới có được máy bay và hỏa tiễn. Kissinger còn phải làm trung gian hòa giải giữa người Hy lạp và người Thổ nhĩ Kỳ về chủ quyền của đảo Chypre. Ông còn phải lo giữ sự đoàn kết luôn luôn là mối đe dọa khối Bắc Đại Tây Dương (OTAN). Ông không tin là Miền Nam sẽ sụp đổ trong năm 1975.
Kissinger luôn luôn nhắc nhở cộng sự viên của ông là Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ mỗi ngày theo sát và đối phó với 4 việc ưu tiên : (1) là chiến tranh bất thần với Liên Xô. (2)các nguồn năng lượng, và các ống dẫn dầu (3) sự phát triển nguyên tử (4) các điểm nóng không dự kiến được
Việt Nam không nằm trong danh sách “ưu tiên”
Kissinger tin chắc rằng cả Liên Xô và Trung Cộng không ai có lợi gì để cho cuộc chiến tranh tiếp diễn khốc liệt hơn ở Việt Nam. Ở đây chỉ là chiến tranh loại gậm nhắm kiểu âm ỉ của đám lửa sấp tàn chớ không phải chiến tranh loại bộc phát kiểu lửa ngọn bùng cao… Theo tiếng lóng của các nhà chánh trị thì cuộc tranh chấp vẫn được giữ ở “cường độ thấp” . Liên Xô muốn có thư giản trước cuộc chiến nhỏ bé và khốn khổ nầy. Leonid Brejnev vừa hủy bỏ chuyến viếng thăm Ai Cập vì không được khỏe. Còn Trung Cộng thì không muốn có một nước Việt Nam thống nhất, hùng mạnh ở sát biên giới phía Nam của mình. Tổng kết cuối năm 1974, Tân Hoa xã cho thấy quan điểm của lãnh đạo Bắc Kinh là “quan tâm thực sự đến Âu Châu “miếng thịt béo bở ” mà hai siêu cường đang tranh nhau. Trong các chuyến viếng thăm Bắc Kinh, Kissenger không thấy Trung Quốc có một chút lợi lộc thật sự nào đối với người Việt Nam.
Kissinger nói “16 hay 18 giờ mỗi ngày là quá đủ để theo sát tất cả những gì liên quan đến 4 bài toán căn bản đó.” Đã có những cơ quan, và những nhóm nghiên cứu lo phần còn lại.
Ở vùng Đông Nam Á, lúc nầy là phải chú tâm lo cho tình hình Cam Bốt. Lực lượng Khmers đỏ đang tiến gần đến thủ đô Phnom Penh. Người ta không thể theo sông Mékong để đến Phnom Penh được . Chuyện đó mới đáng phải quan ngại. Không nên tự động gắn liền cuộc chiến ở Cam Bốt với Việt Nam. Mối giao hảo giữa cộng sản Bắc Việt và Khmers đỏ đã không được khắng khít lắm mà còn có vẻ khó khăn nữa, như Nguyen đưc Cuc đặc phái viên liên lạc với Khmers đỏ đã tiết lộ với giới ngoại giao ở Hà Nội. Trong tình hình quốc tế hiện tại, cộng sản Bắc Việt không có lợi gì để phiêu lưu trong những cuộc hành quân đại quy mô, mặc dầu mục tiêu cuối cùng của họ vẫn là thống nhất hai miền Nam Bắc. Kissinger không bao giờ tin như vậy.
Luận cứ của Hà Nội còn phức tạp hơn luận cứ của Kremlin hay của Bắc Kinh.
Ở vùng ngoại ô Hà Nội , bên lề quốc lộ 1, có một “cột cây số” cũ kỹ màu trắng và đỏ mà không một người Pháp nào có thể quên: “Sai Gòn 1789 kms”.
Tại Hà Nội khí hậu khắc nghiệt hơn Saigon . Ngày 1 tháng giêng nầy trời lạnh. Kiều xuân Tiến 22 tuổi đi xem chiếu bóng ở Hai Bà Trưng, bên cạnh bờ hồ. Vào hồi 8 giờ tối, người ta đang chiếu phần đầu của một cuốn phim Sô Viết, “Tháng Tám”: cuốn phim nói về đệ nhị thế chiến: người dân Liên Xô đã góp phần đem lại chiến thắng cho Đồng Minh hơn bất cứ sắc dân nào khác. Phim chiếu khó theo dõi : phim được trình chiếu từ bản gốc, đằng sau màn ảnh có một người thông dịch các mẩu đối thoại ..
Tiến là con của một Bác sĩ thuộc Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (GRP), anh đã đến Hà Nội cách đây 4 năm sau một chuyến đi bộ dài khổ nhọc vượt đường Trường Sơn. Mẹ anh còn ở lại trong Nam. Tại đây anh đã tìm được cha. Vì thích đóng phim, anh đang được cho theo học lớp đặc biệt mà nếu anh đạt kết quả tốt thì anh sẽ được gởi đi thực tập ở Đông Bá Linh hoặc ở Mạc tư Khoa. Anh đang có mộng sẽ trở thành một Eisenstein Việt Nam. Người ta cho anh một tem phiếu loại 1 đồng, mà nếu anh bán lại theo giá chợ đen thì anh sẽ được 15 đồng. Chán cái phim xô viết nầy quá nhưng mà anh phải học , phải tự trao dồi…
Như thường lệ hằng ngày, bắt buộc phải vào trường, anh đã đọc xong tờ báo Nhân Dân, và tờ Lao Động, của đảng Lao Động, đảng cộng sản Việt Nam. Bài bình luận dự đoán “thắng lợi lớn của cách mạng” trong vòng 12 tháng sắp tới. Khác với cha anh, người thanh niên nầy không phải là đảng viên cộng sản. Tuy nhiên anh tin tưởng vào báo chí và truyền thanh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong những ngày gần đây, báo chí nhấn mạnh đến “chiến dịch thi đua”. Ngoài phố, trên đường, các nhà máy của thủ đô, đâu đâu cũng có những tranh vẽ lớn, với màu sắc rực rỡ tả chân cảnh các công nhân màu “xanh lơ” đang thi nhau làm việc, các bộ đội màu “xanh ve” đang chiến đấu, phụ nữ và trẻ con màu hồng đang khuyến khích anh bộ đội trong “cuộc chiến chống đế quốc”.
Ở Hà Nội người ta ít gặp các nhà ngoại giao “nước ngoài” như ở Saigon, và đời sống xã hội ít có dịp vui chơi hội hè. Các nhà ngoại giao không được phép rời khỏi thủ đô mà không có phép. Ít có cơ hội tiếp xúc với người Việt, họ sống riêng biệt với nhau. Ông John Fawcett, Đại sứ Anh Quốc là một nhà ngoại giao sống cô đơn nhất. Đối với người dân Bắc Việt, Anh Quốc là một “con ngựa thành Troie” của Hoa Kỳ . Nhiệm kỳ một năm của ông tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được chấm dứt trong tháng nầy, và một xử lý thường vụ thường sẽ thay thế ông. Đó là ông John Steward. Vì từ 12 tháng nay chánh quyền Hà Nội từ chối ủy nhiệm thơ của ông đại sứ: Chánh Phủ Hoàng gia Anh không muốn nhìn nhận Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam . Vì đối với người Hoa Kỳ hay người Anh, chánh phủ đó (GRP) không được độc lập. Không cần phải liên lạc với cái chánh phủ bù nhìn nầy, sẽ làm mất lòng Hoa Kỳ. Chánh Phủ Hà Nội chấp nhận sự có mặt của nhà ngoại giao Anh mà không cần ủy nhiệm đầy đủ: Bắc Việt chỉ cần sự có mặt của đại diện Anh Quốc ở Hà Nội để có chiếu khán cho họ đi Luân Đôn và nhất là Hong Kong. Trong bản phúc trình mãn nhiệm, ông John Fawcett dành nguyên một đoạn dài cho “chiến dịch thi đua”:
– “Đây không phải lần đầu . Công nhân được kêu gọi thi đua sản xuất, và tránh lãng phí. Có thể chiến dịch nầy thành công đó. Nhưng, khi tôi nhờ thông dịch viên của tôi để nói chuyện với một nhóm công nhân đang làm việc thật chậm chạp trong một tuần lể dài chỉ để ráp những cánh cửa mới cho dãy nhà phụ của tôi – có phải các anh làm như thế là thi đua với nhau để tăng năng xuất phải không ? Có phải các anh làm như thế là để tăng trưởng kinh tế hầu xây dựng nhanh xã hội chủ nghĩa ? Có phải các anh làm như thế với hy vọng đạt được danh hiệu “công nhân danh dự xã hội chủ nghĩa” ?, Nghe vậy các anh thợ nầy còn tỏ vẻ vui thích hơn tôi nữa! Sau đó để bù lại thời gian vui đùa của chúng tôi, trong hai ngày kế tiếp, họ còn làm việc còn chậm chạp hơn lúc trước nữa.”
Phúc trình cho thấy là ý định quản lý nhân sự của Bắc Việt không có chút gì thực tế hết. Thận trọng, nhà ngoại giao Anh nghĩ rằng cách quản lý đó cũng phải …. thận trọng . Đối diện với cộng sản Bắc Việt các nhà ngoại giao thường vui thích muốn thấy “cái gì cũng thực tế”
Ở phía Bắc Hà Nội cách Lao Kay 30 cây số ngàn, cách biên giới Trung cộng 50 kms, là trại tù Phong Quang. Nơi đây một ngàn người tù đang qua một ngày làm việc bình thường. Tù chánh trị và tù hình sự, lẫn lộn.
Anh Nguyễn Ký, tù chánh trị, đã trốn khỏi chế độ Miền Nam để đến Miền Bắc năm 1958. Anh là một giáo sư trung học và là một người viết sách. Ở đây người ta đã buộc cho anh cái tội là “trưởng giả quốc gia” (hay “tư sản quốc gia”). Người ta trách anh là người có “khuynh hướng tự nhiên” do đó anh bị bắt giam nhiều lần, lần cuối cùng vào năm 1964. Anh vừa được chuyển từ dãy A qua dãy B. Hôm nay anh trồng khoai mì (sắn). Ngoài một chiếc áo sơ mi anh còn mặc thêm một áo lạnh bằng len, thế mà anh vẫn run.. Các bộ đội với súng trường, và các cai tù đeo súng lục, canh gác nhóm 30 người tù của anh. Anh Ký phải lao động mỗi ngày 8 tiếng. Cái đói cào ruột anh. Một người lao động xấu chỉ lãnh được 9 kí khoai lang tây, hay sắn, hay gạo gọi là lương thực cho một tháng. Ngày 1 tháng giêng dương lịch không phải là một ngày lể. Anh Ký ghét nhất các ngày chúa nhật và ngày lễ. Vì những ngày đó anh bị nhốt trong trại không ra ngoài được nên không “ăn cắp” được gì cả. Gọi là “ăn cắp” là tìm thêm chút rau cải hay vài loại cỏ khi lao động bên ngoài để ăn thêm.
Trong một dãy nhà khác của trại tù nầy, anh Nguyễn Chí Thiện, thường bị bắt giam nhiều lần hơn anh Ký. Hai người không biết nhau. Anh Thiện hay đọc thuộc lòng những bài thơ mà anh làm trong tù nhưng không sao chép ra được:
Bạn ơi, khi tôi gặp bạn
Tôi sẽ nói
Đến khúc sắn, củ mài
Lịch sử tôi? Bi lắm!
Chỉ có xích xiềng
Những loạt súng
Của tủi hổ
Của phản bội
Lịch sử nầy
Bạn ơi,
Làm anh thêm đau khổ
Nhưng kẻ thù sẽ phải sợ
Vì nó trường cửu
Vì nó dài vô tận
Vì nó rất cảm động
Đó là lịch sử
Của khúc sắn củ mài
Trong tất cả các trại tù của Miền Bắc mà Phong Quang là một, cái đói theo đuổi người tù mãi mãi như một ác mộng!
Chanh , chuối, cam, đường
Lạc, đậu, cơm, khoai
Là ân huệ
Của đảng
Ân huệ vĩ đại
Thật sự vĩ đại!
Tại Sài Gòn các nhà ngoại giao ước tính là các nhà tù có thể chứa từ 5000 đến 30.000 tù binh và tù chánh trị. Nhưng ở Hà Nội những nhà ngoại giao dù là Đông Phương hay Tây Phương cũng không có một ý niệm nào về con số tù nhân chánh trị.
Ở Miền Nam, Hội Hồng Thập Tự và những phái đoàn điều tra quốc tế được phép viếng thăm các trại tù. Còn ở Bắc Việt thì không bao giờ!
Từ thuở khai thiên lập địa thì đồng Sa Băng đã có rồi! Nó được hun đúc, bồi đắp, và ấp ủ bởi năm cánh đồi bao bọc. Kể từ đó, đồng Sa Băng hằng ngày vẫn nằm im hít thở như lòng bàn tay đức phật Như Lai vậy. Nhưng năm ngón tay của Như Lai Phật Tổ bị cụt một ngón rồi! bởi vì gò Rú nó trụi lủi trụi lui! Và đồng Sa Băng có cái bụng phệ, bao nhiêu dòng nước thanh khiết (bia rượu) từ “Ngũ Hành Sơn” đổ xuống cũng không đủ, nên vào mùa Hè nó phải thò cái rún nó ra sông Vệ hút thêm nước vào mới đủ. Ngày đó bao nhiêu dân làng Ðồng Sa Băng tui sống, cũng nhờ vào cái đồng Sa Băng nầy! Khi lên sáu lên bảy cha tui bảo tui phải đi học. Rồi me tui sắm cho tui cái quần sọt màu xanh, có hai cái túi, và cái áo sơ mi trắng. Me tui lấy nước giếng vuốt lên tóc tui và chải tóc cho ngay thẳng. Tui thọt tay vào túi quần, đi qua đi lại ngắm nghía, rồi me tui nắm tay dắt đến trường. Hôm đó tui đi học. Nhưng sao đến trường tui thấy sách vở, bút mực nó không vui bằng bắn bi, bắt cá. Thế là nhiều khi thay vì ôm sách đến trường, tui lại ôm sách vào núi bắt chim, hái ổi. Có những hôm đi về mặt mày đỏ lưỡng, cha tui lật sách vở ra không thấy tập đồ, tập viết chi hết, ổng xách roi ổng quất. Vậy mà cũng không chừa, cuối cùng mấy ông anh tui ai cũng lên lớp hết, chỉ có mình tui giậm chân tại chỗ. Cha tui thấy tui ổng rầu lắm, ổng nói: “Mầy không đi học, lớn lên làm gì ăn? Chắc đi bắt chuột ăn hả.” Lúc nào lục trong túi, cha tui cũng thấy nào là ná bắn chim, đá, cao su. Riết rồi cái túi nào cũng lũng lỗ. Năm sau tui thi vào lớp năm (lớp một bây giờ), rớt nữa. Nhưng lạ lắm, rớt lớp năm mà tui lại được vào lớp tư học! Tui năn nỉ cha tui đan cho mấy cái bẩy gài chim. Muốn có cái bẩy, tui phải đi đến trường đàng hoàng thay vì leo núi, bẩy chim. Nhưng có cái bẩy rồi thì tui lại vô núi thay vì đến trường! Một hôm trên đường đến trường, tui ghé đám mía thăm cái bẩy; A! dính một con cút cụt đui. Tui bắt nó ra, không có gì cột nó lại, tui bèn tháo chỉ trên áo ra cột con cút, bỏ vào túi đi đến trường. Ðến nơi tui đem nó ra khoe với bạn bè, không ngờ mới vừa lấy ra, nó tung cánh bay mất tiêu! Một ngày kia trên đường ra chợ, tôi thấy chị Chín Đà con ông bác, ở sát cạnh vườn nhà tôi. Chị ấy năm đó khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Chị Chín tay đang ôm một bó mía, rớt lên, rớt xuống. Tôi liền chạy đến, mặt mày nghiêm trang, không cười: – Chị Chín, mấy con gà nòi con của anh Sa bị con mèo nó ăn rồi. Thế là chị ấy như bị kiến cắn: – Hồi nào, hồi nào, em nói thiệt hông. – Thiệt. – Chết rồi, em đứng đây coi chừng dùm bó mía chị nghe. – Dạ, chị để đó. Bác Ba có mấy ông con trai mê đá gà lắm, ổng nuôi mấy con gà nòi để đi đá, ổng cưng mấy con gà còn hơn cưng trứng. Nay nghe nói mấy con gà cưng của anh chỉ bị con mèo nó xé phay, chỉ sợ lắm, sợ chiều nay sẽ nghe “Tao bảo mầy nhốt mấy con gà lại, và coi chừng con mèo mà sao để như vầy.” Rồi cốc, cốc, đầu lại nổi trứng gà, nên chỉ chạy như bay về nhà xem còn con nào không. Bây giờ chỉ còn mình tôi với bó mía. Ngồi nhìn mấy cây mía chỉ róc lá sạch trưng, tôi nghe nước mía nó chạy ừng ực trong ống quản. Tôi liền ngồi xuống xước một lèo hai cây. Ðể bả mía nằm chình ình đó không được, tôi liền thủ tiêu nó trong bụi cây. Một hồi chị Chín trở lại: – Ê, gà anh tao còn nguyên sao mầy nói bị mèo ăn hồi nào, báo tao chạy gần chết. Chỉ nhìn lên mặt tôi: – A! mầy qúa sức rồi, dám gạt chị mầy để ăn mía hả. Chỉ liền rút cây mía ra, để cho tui thêm một cây! Tui nghĩ sao bà nầy tinh mắt thiệt, một bó mía mới nhìn vào mà biết mất hai cây liền? Tôi sờ tay lên miệng mới biết phấn mía dính đầy hai bên mép. Tôi lật đật treo giò lên cổ chạy cho khỏi bị ăn khúc mía thứ ba; Ðùng một cái tôi đụng vào thằng Bi, ối thôi cái rỗ nó rớt xuống đất cái bẹt, nào là cá rô, cá giếc, cá tràu, vân vân và vân vân, nó bò, nó lươn đầy đường. Tôi mới vừa lui ngui ngồi dậy thì: – Ð.M, mầy không có mắt hạ mậy. Không thèm trả lời, cho nó ngồi nó lựơm, tôi cong đuôi chạy luôn. Mấy hôm sau tôi tự hỏi, sao thằng Bi nó có nhiều cá quá vậy? Thì ra nó là con ông Tòng, mà ông Tòng sống bằng nghề đánh cá, bắt cá trên đồng Sa Băng. Thuở đó, đồng Sa Băng rộng và nước sâu lắm. Khắp cả đồng chỉ có nước, rong rêu, lùng lác. Những mùa mưa, lụt lội, nước từ trên núi chảy vào và đọng lại trong cánh đồng nầy. Cho nên đồng Sa Băng quanh năm như một cái hồ lớn, không bao giờ cạn nước. Những ngày lụt lội, lúa ngập hư thối, cha me tôi rầu gần chết, nhưng tôi thích lắm. Nước lụt dâng vào đến làng, tôi chặt chuối đóng thành bè chèo ra đồng Sa Băng gài chim nắc nước. Nước ngập đầy đồng, chỉ còn thấy những đống rạ nổi lều bều, chim nắc nước bay về đậu kiếm ăn, tôi và anh Chín bắt mấy con dế qụa, móc vào lưởi câu, cắm trên đống rạ. Khi chim nắc nước bay về đậu, tôi đợi một hồi, xong đập vào nước, hô to đuổi nó bay, nó bay lên thì lưỡi đã dính câu rồi! Thế là tôi đến gỡ chim, rồi chèo bè đến đống rạ khác đập nước, hô to, bắt chim. Vui lắm. Rồi vào mùa khô thì đồng Sa Băng có lùng lác cao lớn, xanh um, là cái ổ cho chim về ở; Tôi lại theo anh Hai tôi ra đồng Sa Băng bắn chim. Anh Hai tôi ngày đó mần Dân Vệ, ảnh có cây súng Carbin và ảnh bắn giỏi lắm. Những hôm ông Ðại Diện muốn ăn thịt chim là giao cho anh tôi mấy viên đạn. Anh tôi dẫn tôi đi theo … lựơm chim. Ðồng Sa Băng có đủ loại chim, nào là vịt trời, cò trắng, cò ma, le le, nắc nước, vân vân và vân vân. Khi đến nơi, anh tôi ngồi đợi, bùm một cái, thế là thương cho con nhạn lạc đàn. Có những buổi sáng, khi mặt rời vẫn còn nằm sau đĩnh núi, đồng Sa Băng cũng vừa trở giấc ngủ; Những làn sương mai lúc ẩn, lúc hiện, lăn tròn trên ngọn cỏ, tôi lại theo chị ra đồng bắt ốc. Những con ốc bưu to, màu đen xám, đeo mình trên bờ ruộng để ăn sương, vừa chạm tay vào là nó thụt đầu trong võ. Khi ánh dương mới vừa ló dạng, những hạt sương mai bắt đầu tan vỡ, bầy ốc bưu cũng đến lúc trầm mình xuống đáy nước, và Ðồng Sa Băng cũng mang đụt ốc trở về. Cuộc đời tuổi thơ của tôi và đồng Sa Băng gắn liền với nhau rất khắn khít. Không phải vì tôi thích nước hay những con đĩa của đồng Sa Băng đâu, mà tại vì mấy con cá của đồng Sa Băng. Nhưng mà nói đến đĩa thì thôi, đồng Sa Băng tui có vô số kể, mà cái loài ký sinh trùng nầy sống rất dai, nên người ta mới nói dai như đĩa. Nhiều lần đĩa nó hút máu trâu, thân hình nó cương lên như cái bong bóng, ngay đơ, tui bắt nó xuống, tui lấy cây thọt vào người nó, lộn từ trong ra ngoài xong đem đi phơi nắng, vậy mà nó vẫn sống nhăn! Thậm chí tui chặt nó ra thành ba khúc, nó lại trở thành ba con đĩa. Thấy ngứa hông! Còn cá ở đồng Sa Băng thì khỏi nói, từ con cá nhỏ nhất như cá bạc đầu, cá lấn cấn đến những con cá giếc, cá thát lát, cá trê, cá tràu (cá lóc) to bằng đầu gối cũng đều có và có nhiều lắm. Mà đồng Sa Băng nầy rất sâu và có thể nói là nguy hiểm, nên chỉ những người có ghe, xuồng mới dám ra ngoài xa. Cái thời xa xưa đó, chỉ có ba gia đình ở làng tôi có đầy đủ ghe xuồng, và sinh sống bằng nghề đánh cá ở đồng Sa Băng. Nhưng mà cũng vì mấy con cá ở đồng Sa Băng nầy và mấy trái mít, trái thơm trong gò Ðồn mà tui có cái tên chết ngắc là: “Thằng con ông Hai.” Ngày đó tui được anh chị dẫn ra đồng Sa Băng, thấy cá nhiều quá, tui mê luôn, đến nổi tối nằm chiêm bao thấy tui nhảy ùm xuống ruộng chụp mấy con cá. Những ngày sau đó, tui trốn học, rũ mấy thằng nhỏ… như tui, ra đồng bắt cá lia thia về nuôi để đá. Riết rồi tui thấy bắt cá vui quá. Tui muốn được đi chăn trâu để tha hồ bắt cá, nhưng cha tui ổng chơi một cái cay nghiệt lắm, là ở nhà có một chuyện tui thích làm nhất, vậy mà ổng không cho anh em tui làm, mà đành đi mướn một người về vừa lo quần áo cho mặc, cơm cho ăn, rồi mỗi mùa còn đong cho nó mấy gánh lúa nữa – cho nó chăn trâu. Sau nầy thằng Lái nó không còn ở chăn trâu cho cha tui nữa, nó về lấy vợ sinh con. Vậy là cha tôi phải giao cho anh em tôi quản lý mấy con trâu. Những ngày đến lượt tôi coi trâu thì, đánh đi đâu xa cho mệt, tôi cứ đem trâu nhốt vào gò Ðồn cho nó ăn, mà gò Ðồn thì có gì đâu mà ăn, cỏ cháy khô như rừng Cali vậy! Ngày nào tôi coi trâu thì chiều về cái hông nó xẹp lép, cha tôi ổng lại rầu nữa! Cũng tại vì tui mê bắt cá, tui giao mấy con trâu cho cái gò đó rồi đi xuống bìa đồng Sa Băng bắt cá. Trâu không người coi, nó xuống ruộng luá người ta nó “gặt”, hết đám nầy đến đám khác. Ngày hôm sau chủ ruộng vào thấy luá bị trâu ăn thì chỉ có “thằng con ông Hai” chứ không ai hết. Vậy là chiều về có người vô nhà “thăm” cha tui, mắng vốn. Mấy trái mít, trái thơm trong gò Ðồn bị mất đâu hết cũng đi kiếm “thằng con ông Hai” mà rượt nó. Rồi mấy trái xoài, trái ổi trong xóm không giò mà biến mất cũng đi kiếm “thằng con ông Hai” mà đục nó. Riết rồi tôi đi đâu cũng bị người ta coi chừng “thằng con ông Hai”, nó phá như toi. Nếu mà không có đồng Sa Băng thì tui đâu có mang tiếng đến như vậy! Sau muà gặt luá thì những đám ruộng trên đồng Sa Băng có nhiều cỏ non, xanh mướt. Một hôm tôi cho trâu ra đồng Sa Băng ăn. Tôi đang ngồi trên bờ bức mấy gốc rạ làm kèn thổi chơi. Thì đùng một cái thằng Bi con ông Tòng nó mang ghe nó rượt trâu tui. Trời ơi! nó lấy cây sào chống ghe mà nó húynh lên lưng trâu bình bịch, trâu chạy đâu thì nó rượt ghe theo đó, nó húynh, nó “húynh” cho đến khi nào trâu chạy ra hỏi ruộng sâu, nó chèo ghe không được nó mới thôi. Tôi nói: – Tại sao mầy “huýnh” trâu tao? – Ai biểu mầy cho trâu giẫm lờ tao. Nó nói vậy đó. Thằng nầy nó không sợ trời cao đất rộng gì hết, mấy con trâu cưng của ông mà nó dám xách sào nó “húynh” như “húynh” chó vậy! – Tại sao mầy không đem lờ thả ngoài sâu kia mà thả trong nầy, ruộng nầy đâu phải của ông của cha gì mầy đâu, trâu tao cũng có quyền ăn vậy? – Tao muốn thả đâu tao thả, mà trâu mầy dẫm là tao “huýnh”. Thằng nầy nó cũng bướng thiệt. Thì ra mấy con cá mà hôm trước tui đụng nó là nó bắt từ mấy cái lờ ở đồng Sa Băng nầy. Tui không thèm cải lộn nó nữa, tui lừa trâu đi ăn chỗ khác. Nhưng nó không biết là nó đã khui cuộc chiến với tui trên cái đồng Sa Băng nầy rồi. Lúc nầy đồng Sa Băng vào ngày mùa, những bông lúa chín vàng, uốn mình trước gió, xa xa trông như những gợn sóng đang đùa giởn trên sông. Từng đoàn người kéo nhau ra đồng gặt lúa, người kéo bồ, người cắt lúa, rồi những khoanh lúa đập bình bịch trong bồ. Trên bờ, những ông nông dân gánh lúa về, kẻ chạy vô người chạy ra, nhộn nhịp không khác gì một đàn kiến tha mồi về tổ. Tôi lại cho trâu ăn trên những đám ruộng đã gặt, rồi rủ nhau một đám mục đồng đi mót lúa. Mà đi mót lúa từng bông còn sót biết chừng nào mới đủ lúa để đi đổi bánh chén bà Tài Phú đây! Vậy là tui xách nón đến những đám lúa đang gặt, người ta gặt đầu nầy, tui suốt đầu kia, suốt đầy nón đi đổi bánh chén! Khi những bông lúa cuối cùng đã gặt, thì đồng Sa Băng bây giờ trơ trụi như mùa Ðông bắc Mỹ. Từng đàn vịt trắng như bông, quặp quặp đầy đồng, chạy tung tăng lượm những hột lúa rụng, và những cánh diều mục đồng lại được no gió; Tôi lại theo cha ra đồng bắt chuột. Tôi tìm hang chuột trên những bờ ruộng, lấy rạ đốt trước miệng hang, quạt quạt khói vào hang, vậy là chuột mẹ, chuột con, chuột cha gì cũng tìm đường mà chạy, tui hẹn tụi nó ở ngách khác mà đập; Rồi bao nhiêu lá lốt, mít non hái xuống xào thịt chuột! Phải chi hồi đó tui biết nhậu thì thế nào cũng quéo cần câu luôn. Ăn thịt chuột xào mít non rồi mới biết tại sao mấy ông Nam Bộ miền Cữu Long bây giờ thi đua nhau đi bắt chuột đồng! Bấy giờ đồng trống thênh thang, những thửa ruộng đã khô nước, chỉ còn lại những gốc rạ trơ trụi, bầy trâu không còn gì ăn; Nó lại lần mò ra đồng Sa Băng kiếm ăn thì gặp thằng Bi con ông Tòng nó rượt nó đuổi. Tôi về năn nỉ cha tôi đan cho tôi mấy cái lờ thả cá và một mớ cần câu cắm, thế là tôi bắt đầu cạnh tranh với cha con ông Tòng trên đồng Sa Băng – bắt cá. Ban ngày tôi bỏ trâu đó, đi bắt nhái làm mồi, chiều lại tôi đi cắm câu, thả lờ. Sáng sớm ngày hôm sau tôi ra gở lờ, thăm câu; Mấy ngày đầu tôi mần ăn khắm khá lắm, sáng nào tôi cũng mang cá về khoe với cha, ổng vò đầu tôi: “Cái thằng nầy coi vậy mà giỏi hả.” Nhưng mấy ngày kế đó, tôi ra thăm lờ, thăm câu thì con bà nó, năm ba cái lờ tui không có chân mà trèo lên bờ nằm hết, rồi cần câu tui cũng vậy, treo lưỡi trên trời. Thằng Bi con ông Tòng chứ không ai hết! Nó chơi tui. Thế là mấy ngày hôm sau, khi nó không còn lẩn quẩn trên đồng, tui cho trâu ra dẫm lờ nó tan tành xí hoách; Những buổi sáng tui ra tui gỡ câu nó, bắt cá nó, xách lờ đạp xẹp lép cho nó biết. Như thế kéo dài mãi chiến tranh giữa tôi và thằng Bi trên đồng Sa Bằng – tui phá lờ, bắt cá nó, nó rượt nó “húynh” trâu tui. Một buổi chiều trời mưa, tôi lừa trâu về từ gò Ðồn đi ngang qua đồng Sa Băng. Tui để trâu tự nó về một mình, đi tìm lờ thằng Bi tui gỡ cá hết, xỏ một xâu cá lóc, lật đật chạy cho kịp bầy trâu về. Cha tôi hỏi: – Cá đâu mà mầy bắt nhiều quá vậy? – Dạ, hôm nay trơì mưa, nước xoang bờ, cá nó nhảy qua bờ con bắt. – À! giỏi, thôi đem đi rộng đi. Cá là vậy đó, mỗi lần trời mưa, nước mát nó thích nhảy từ đám ruộng nầy qua đám khác, và trời mưa lâm râm nó thích đi ăn nhiều hơn. Tôi đang vui mừng trong bụng, thì ông Tòng lại vào nhà kiếm cha tôi: “Thằng con ông nó bắt cá của tôi hết rồi, trả lại đây đi.” Vậy là mấy con cá lóc trong chậu phải đem trả lại khổ chủ! Cha tôi bảo: – Ðừng đi bắt cá của người ta nữa, của mình mình làm mình ăn, nghe hông. Trót, một cái! Tôi ôm đít. – Dạ con nghe. Từ đó tôi không còn bắt cá, gỡ lờ thằng Bi nữa, nhưng mỗi lần gặp thằng Bi tôi ứa gan lắm. Rồi một ngày nọ, chiến tranh về trên quê hương tôi. Ba cha con ông Tòng chết cùng một lúc trên cánh đồng Sa Băng. Mới đầu người ta không tin ba cha con chết cùng một lúc, người ta nói mầy nói ngoa, chứ làm gì có ba cha con chết một lúc! Người ta nghĩ ông Tòng và hai hòn bi của ổng là ba cha con. Nhưng không phải, ba cha con ổng chết thiệt rồi! Trên đĩnh gò Ðồn, mấy ổng đào một cái hố hình tròn, ở giữa chừa một u đất. Ông Tòng dạo chơi trên gò Ðồn thấy cái hố đó, về làng nói chuyện với người trong xóm chơi. Sau nầy mấy ổng đặt cây đại liên trên u đất cái hố đó, những người lính chạy ra đồng Sa Băng đều chết giống như nhau, một viên đạn đi ngay vào trán! Sau đó mấy ổng gặp ông Tòng trên đồng Sa Băng, bắn ổng chết vì cái tội đi nói cái hố đó. Hai đứa con đi bên cạnh thấy cha chết, gào thét và chửi bới, họ bắn chết luôn tại chỗ! Tội nghiệp cho thằng Bi, từ đó nó không còn bắt cá trên đồng Sa Băng nữa! Bây giờ mỗi lần ngồi thuyền câu cá, tôi lại nhớ cánh đồng Sa Băng và thằng Bi con ông Tòng!
Posted on January 16, 2026, by dongsongcu Post by Sơn râu 19 Jan 2026
Hình minh hoạ
Mùa xuân năm 1972, để chuẩn bị cuộc tấn công mùa hè đỏ lửa, việt cộng đã gia tăng các cuộc tấn công và vây hãm tiền đồn của ta ở khắp các vùng chiến thuật. Riêng tại vùng 4, chúng thường áp dụng chiến thuật công đồn đả viện, khiến cho việc di chuyền bằng đường bộ rất khó thực hiện. Đối với lính đóng đồn miền xa, vấn đề tiếp tế là một vấn đề sinh tử. Chỉ có phương tiện duy nhất là phi cơ. Các vận tải cơ thả đồ tiếp tế, thường không mấy hiệu quả. Dù cho các phi hành đoàn đã can đảm bay thấp hết cỡ để hất hàng xuống ‘không dù’ khiến cho quân bạn rất cảm kích, nhiều khi còn lo sợ cho sự gan lỳ và lòng dũng cảm của các phi hành đoàn vận tải… Nhưng vì tốc độ khá nhanh, máy bay lại cồng kềnh, đồn lại quá nhỏ nên các kiện hàng phần nhiều bị rơi lạc ra ngoài vòng đai vào tay giặc! Trong lúc đó, tiếp tế bằng trực thăng tỏ ra hữu hiệu hơn vì nó bay chậm, đứng được một chỗ, xoay trở lanh lẹ…
Tờ mờ sáng, khi mặt trời chưa ló dạng, chúng tôi đã xách áo giáp, nón bay, súng đạn, bản đồ, ra bãi đậu phi cơ làm tiền phi, chuẩn bị cất cánh. Bắt đầu một ngày mới, một ngày bay trên chiến trận đầy những bất trắc, hiểm nguy đợi chờ… Chúng tôi, bốn chiếc trực thăng rời phi trường Sóc Trăng, họp thành đội hình «quả trám» trực chỉ Cà Mau để làm việc cho tỉnh này…
Vừa đáp xuống Cà Mau là được phân phối đi tiếp tế ngay cho các tiền đồn thuộc các quận Cái Nước, Đầm Dơi, U Minh, Thới Bình. Mấy anh lính Địa Phương Quân đã chất xong hàng lên phi cơ, chúng tôi sửa soạn cất cánh đến tiếp tế cho một đồn nhỏ nằm về phía Bắc của U Minh chừng ba cây số đường chim bay. Nơi mà những người lính trấn thủ lưu đồn đang chờ đợi từng viên đạn, từng gói gạo sấy, từng cuộn băng cứu thương…
Vừa đổi qua tần số Bộ Binh, đã nghe tiếng của trưởng đồn sốt ruột réo gọi.
«Ác điểu đây Sơn ca… Ác điểu đây Sơn ca»
«Ác điểu nghe Sơn ca 5/5 nói đi» tôi trả lời.
Gịong Sơn ca mừng rỡ.
«Ác điểu còn mấy phút nữa đến chổ Sơn ca… trả lời?»
«Ba phút nữa sẽ đến bạn, cho biết tình hình bãi đáp. Khi nào thấy, cho trái khói, nghe rõ trả lời?»
«Thẩm quyền yên chí, con cái tôi đã làm an ninh cho thẩm quyền rồi»
«Ác điểu đây Sơn ca, tôi đã thấy thẩm quyền rồi, tôi sẽ cho con cái ra bãi đáp nhận hàng» Tiếng ông đồn trưởng sang sảng trong máy chào đón người bạn KQ đem quà đến tặng…
Phi cơ đã đến gần đồn, chúng tôi tất cả đều căng mắt ra quan sát địa thế, tình hình địch, hướng gió để áp dụng cách đáp cho nhanh và an toàn. Từ cao độ 1500 bộ, nhìn xuống đồn vắng hoe không một bóng ngưòi, tất cả binh sĩ đều ở dưới giao thông hào. Chúng tôi dự đoán phía ngoài đồn là do địch kiểm soát, nên không ai dám nhởn nhơ ra bãi đáp để nhận hàng. Mọi người đang ngước nhìn trực thăng bay vòng vòng trên trời. Lá cờ vàng ba sọc đỏ rách bươm, bạc màu phần phật tung bay trong gió.
Nhận thấy tình hình không được an ninh như ông trưởng đồn đã nói, tôi cho phi cơ đáp theo vòng xoắn ốc xuống thật nhanh ngay trên sân đồn. (Với chiêu này có thể vô hiệu hóa hỏa lực nhỏ của địch ở đâu đó chung quanh khu rừng, còn ăn pháo hay không là do may rủi). Vừa chạm đất, tất cả thùng hàng được tuôn xuống thật nhanh. Phi cơ lại vội vã bốc lên.
Đáp trở lại U Minh, ông Quận trưởng cho biết là phải trả chúng tôi về lại Cà Mau vì có lệnh. Khi đến Cà Mau, ba chiếc kia cũng đã đáp rồi. Tại đây sĩ quan tiểu khu bảo chúng tôi liên lạc với Không Quân vùng 4 để nhận chỉ thị. Gọi phòng Hành Quân Chiến Cuộc KQ, chúng tôi được lịnh cấp tốc đến tăng cường cho Biệt Động Quân ở phi trường Tô Châu thuộc Hà Tiên.
Lấy thêm xăng để đi Hà Tiên, sau gần một giờ bay, chúng tôi vào đáp phi trường Tô Châu. Từ trên cao nhìn xuống thấy đã có sẵn mười chiếc trực thăng đậu ở hai bên phi đạo. Không hiểu tại sao ở đây lại tập trung nhiều trực thăng thế, chắc có cuộc hành quân quan trọng? Chúng tôi được biết một nửa phi cơ là của phi đoàn bạn do một thiếu tá VN chỉ huy, nửa kia thuộc đơn vị Hoa Kỳ do một thiếu tá Mỹ dẫn đầu. Ông đại úy liên lạc của BĐQ cho hay là BĐQ và Thiết kỵ đang bị VC vây hãm tại Kampong Trach cần được tiếp viện, giải tỏa áp lực gấp.
Kampong Trach là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh KamPot của Cambodia, về phía Bắc, Tây Bắc Hà Tiên, cách phi trường Tô Châu chừng mười lăm phút trực thăng. Trong vùng rừng núi khô cằn nằm trên đường đi từ thị trấn này tới biên giới Hà Tiên, liên đoàn 7 Biệt Động Quân (800 người) cùng thiết đoàn 12 (hơn 80 chiếc thiết vận xa M113+ 250 người) đã bị bao vây bởi sư đoàn Sao Vàng CSBV tăng viện một phần của sư đoàn Thép 320 và hai trung đoàn đặc công 51 và 52, tổng cộng quân số Cộng sản trên bảy ngàn người.
Với quân số chênh lệch 1 chọi 7, các chiến sĩ anh dũng mũ nâu và mũ đen của QL/VNCH đã kiên cường chống trả bao đợt xung phong, pháo kích của địch, ròng rã gần một tháng trời mà căn cứ vẫn đứng vững. Dù đêm đêm, chúng thường bắt loa kêu gào «hàng sống, chống chết» vẫn không làm sờn lòng các chiến sĩ BĐQ và Thiết kỵ. Để rồi về sau bị quân tiếp viện của BĐQ và Thiết kỵ từ Hà Tiên qua đánh lui, giải tỏa áp lực cho căn cứ. Tiếc thay, khi liên đoàn 7 rút lui đã để lại tiểu đoàn 94 BĐQ đóng ở phiá bắc Kampong Trach khiến tiểu đoàn này bị Việt Cộng tràn ngập. Chỉ có tiểu đoàn trưởng và 20 binh sĩ sống sót chạy về!
Tôi được đưa đến trình diện trung tướng Ngô quang Trưởng từ vùng 1 đổi về làm tư lệnh Quân đoàn 4 và Quân khu 4, đang đứng cùng với nhóm sĩ quan tham mưu bên cạnh phi đạo. Tướng Trưởng nói với tôi là ông chỉ cần một chiếc trực thăng để bay vào chổ quân ta đang bị bao vây và thi hành hai nhiệm vụ sau đây:
1. Đón phi hành đoàn trực thăng bốn người bị bắn rớt ngày trước, đang ở với BĐQ và Thiết Giáp trong căn cứ.
2. Chở vào một số thuốc men cần thiết và một số súng bắn xe thiết-vận-xa, cho quân ta dùng để triệt hạ 5 chiếc M113 đã bị địch chiếm được và đang xử dụng bắn lại quân ta.
Có lẽ vì giao cho chúng tôi một việc làm đơn độc, nguy hiểm, mà hy vọng thành công rất mong manh, nên tướng Trưởng dặn thêm: «phòng không địch được ghi nhận là mạnh chung quanh căn cứ, các em phải cẩn thận, nếu vào không được thì thôi, còn nếu vào được nhớ đừng quẹo rộng quá coi chừng bị bắn».
Tôi nhận lệnh và trở về tàu mình. Trong lòng đầy ưu tư, lo lắng và thắc mắc tại sao mười chiếc trực thăng vừa Mỹ vừa Việt, không một chiếc nào cất cánh mà bắt chúng tôi phải hủy bỏ phi vụ tiếp tế cho các đồn bót ở Cà Mau để về đây nhận lấy mission này?
Tôi tập họp bốn phi hành đoàn lại, thuyết trình cho họ biết ý định của tướng Trưởng và nói là tôi sẽ bay chuyến này. Tất cả có vẻ lo ngại cho chúng tôi nhưng không nói gì và trở về tàu của họ. Trải tấm bản đồ xuống bãi cỏ và ngồi bệt xuống cùng ông trung úy hoa tiêu phụ nghiên cứu xem đường bay nào có thể đánh lạc hướng địch, thế bay nào có thể cứu mạng chúng tôi khỏi những dàn phòng không đang chĩa lên trời chờ làm thịt con tàu chậm chạp, mong manh, không có khả năng tự vệ này!
Nếu bay trên đất liền, dù ở bất cứ cao độ nào, khi vào vùng kiểm soát của địch, mà đường ta ta cứ đi thì trước sau gì cũng bị phòng không chiếu cố. Phản lực bay nhanh mà còn bị te tua. Chúng tôi bay thấp, nằm trong tầm súng từ cá nhân AK47, phòng không 12ly7 đến hỏa tiễn tầm nhiệt SA7. Lại chậm chạp, đã không có vũ khí tự vệ mà còn đưa cái bụng phệ ra thì chỉ có nước chờ… chết. Bay sát ngọn cây, trên đầu địch bên đất Cam Bốt lại càng không được an toàn vì phần lớn là đồng trống, rừng cây thưa thớt không đều và khô cằn, ngoại trừ những vùng có sông rạch… Thật là tiến thối lưỡng nan!
Có một con sông nhỏ mà dài, chảy quanh co từ biển Hà Tiên vào tận Châu Đốc. Một con sông khác ngắn hơn nối với sông này chảy vào Kampong Trach, gần căn cứ của BĐQ và Thiết Kỵ.
Anh binh sĩ BĐQ có nhiệm vụ theo tàu để phụ hai anh cơ phi, xạ thủ xô đồ xuống cho nhanh khi tàu đáp, đã từ chối đi với chúng tôi vì quá sợ hãi. Ông đại úy BĐQ phải cự nự, chửi thề, xô anh này lên tàu và nói là «phi công người ta không sợ mà mày sợ cái gì?», anh ta mới miễn cưỡng leo lên.
Nếu ông đại úy tinh ý, chắc sẽ thấy chúng tôi cũng không hơn gì anh lính kia, nhưng vì kỷ luật, danh dự Quân chủng, danh dự cá nhân mà phải thi hành thôi… có ai bình thường mà không sợ chết?
Trước khi cất cánh, toàn thể phi hành đoàn chúng tôi đều cởi bỏ áo Nomex (một loại phi bào chống lửa mà pilot của US Army xài), chỉ bận áo thun, và quần Nomex mà thôi. Bỏ lại bóp tiền bạc, giấy tờ cho bạn giữ. Vì nếu bị bắn rơi, bị bắt làm tù binh thì nhất thời địch sẽ không biết chúng tôi là ai, mang cấp bậc gì. Còn nếu bị dẫn ra bờ sông sắp hàng… bắn bỏ thì hết chuyện! Trong đời bay bổng, tôi chưa hề thấy một hình ảnh vừa khôi hài vừa bi tráng và kém an phi như phi hành đoàn “áo thun” của chúng tôi như lúc này.
Cất cánh ra hướng biển, bay trên phi đạo để lấy cao độ, chúng tôi nhìn xuống thấy vài người cả Mỹ lẫn Việt dở nón phất chào. Không biết họ chúc thượng lộ bình an, vẫy chào tạm biệt hay vĩnh biệt?
Làm vài vòng trên không phận Tô Châu để đưa tàu lên đến một độ cao khả dĩ có thể quan sát chiến trường xa tít, đồng thời nhận diện địa thế… Chúng tôi quyết định bay bên hữu ngạn con sông trên địa phận Hà Tiên hướng về ngã ba sông để vào Kampong Trach. Tôi nhắc nhở mọi người phải ráng nhìn ở dưới những lùm cây, hễ phát hiện đốm lóe hay những cụm khói đen nhỏ thì la lên ngay.
Bốn cặp mắt lo lắng trừng trừng nhìn xuống những khoảng rừng thưa và đồng trống ở dưới để canh chừng phòng không địch. Từ giờ phút này, chúng tôi thật sự đang đánh đu với tử thần!… Sự may mắn của chúng tôi không kéo dài được bao lâu vì khi vừa vào không phận Cam Bốt, địch đã nghe tiếng trực thăng, đã phát hiện chúng tôi và đang sẵn sàng…
Bỗng anh trung sĩ xạ thủ hốt hoảng la lớn: «phòng không nó bắn mình đó ông ơi, tui thấy nhấp nháy… ». Như đã dự định, lập tức tôi cho phi cơ rơi tự do, đảo qua đảo lại, nghiêng ngã như sắp bị rớt. (Mẹo này có lẽ đã làm xạ thủ VC tưởng hạ được trực thăng nên ngưng bắn, hay vì bay không đường lối, lại rơi nhanh khiến chúng bắn không trúng?). Với độ rớt của phi cơ ở 3000 bộ một phút, con tàu rung bần bật mà chúng tôi vẫn cảm tưởng như đứng một chỗ. Những giây phút chờ đợi trúng đạn nổ tung, bốc cháy, hoặc một viên đạn ác nghiệt bắn vỡ mặt, thật là căng thẳng… Khi tàu xuống trên ngọn cây, tôi quẹo gắt để cắm vào giữa giòng sông, bay giữa hai hàng cây mọc bên sông, cứ thế lướt trên mặt nước và lượn theo những khúc ngoặc của sông, liếc nhanh qua bên trung úy hoa tiêu phụ, thấy anh đang gồng mình ngồi, nhìn thẳng về phía trước, tay cầm thánh giá, miệng lẩm nhẩm đọc kinh. Tự nhiên tôi trở nên bình tỉnh hơn, tin tưởng sẽ được các bề trên che chở bởi lời cầu nguyện và nét mặt thành khẩn của anh. (Anh Vân, nếu anh tình cờ đọc được bài này, một lần nữa xin cám ơn anh, người Trung Úy hoa tiêu phụ hiền lành, đã cầu nguyện bình an cho cả phi hành đoàn chúng ta ngày đó).
Sắp đến chỗ quân bạn bị vây rồi mà chúng tôi vẫn chưa thấy phản ứng của địch trên khúc sông này. Có lẽ chúng tôi đột nhập bất ngờ bằng đường sông nên địch không kịp trở tay. Hay là bộ đội VC quá ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy giặc lái của KLVNCH bay trên sông như tàu cao tốc mà còn nhấp nhô lã lướt uốn lượn quanh co, nên mải mê xem mà quên cả bắn?
Quẹo trái để tiến về căn cứ. Vừa lấy lại thăng bằng, tôi bổng giật nảy người. Trên một cành cây cao chắn lối, một tên VC đang đứng cheo leo núp sau thân cây, có lẽ đang quan sát hoạt động của quân bạn. Hắn ngạc nhiên nhìn xuống, tôi chới với nhìn lên. Việc thấy tên VC chần dần trước mặt xảy ra quá nhanh khiến tôi ú ớ, không kịp báo động và do phản ứng tự nhiên, tôi kéo tàu vọt lên, ngang qua đầu hắn, bụng phi cơ lướt sát trên ngọn cây, hy vọng hắn không có thì giờ phản ứng..
Tôi chờ đợi tiếng AK bắn đuổi theo nhưng hoàn toàn im lặng. Tàu ngóc lên cao, ngay phía dưới, trước mặt là căn cứ của BĐQ và Thiết Kỵ đã hiện ra.
Nhớ lời dặn của tướng Trưởng, tôi quẹo thật gắt đến độ sợ cánh quạt chém mấy cây antenna. liếc mắt xuống, chúng tôi thấy các thiết vận xa M113 làm thành môt vòng tròn bao quanh căn cứ, nằm sau những ụ đất, bên trong có nhiều luống đất đỏ như những nấm mồ vừa chôn vội vã?
Đã thấy tấm panneau đánh dấu bãi đáp đàng xa nhưng vì quẹo qúa gắt, tàu chở nặng trì xuống nên tôi không kịp đưa tàu đến đáp. Tôi quyết định đặt tàu xuống bên dãy ụ đất đỏ. Như vậy sẽ gần hơn cho phi hành đoàn trực thăng bị bắn rơi, khỏi phải mất công chạy ra tận bãi đáp và cũng tiện cho việc hất đồ tiếp tế xuống gần quân bạn hơn…
Trong chốc lát các thùng hàng đã được liệng xuống. Tôi nhìn lại phía sau, thấy lố nhố mấy người bận áo bay ngôì trên tàu. Anh trung sĩ cơ phi báo cáo là phi hành đoàn đã lên đủ. Một ông lính BĐQ khác râu ria lởm chởm, không biết từ đâu, nhảy vội lên tàu và la lớn với chúng tôi: «cất cánh nhanh lên, chúng nó đông lắm 6,7 nghìn tên chung quanh, nhanh lên, nhanh lên». Tôi nhìn lên bờ đất, thấy một số binh sĩ đang dìu đồng bạn vượt ụ đất chạy về phía tàu, dường như là thương binh? Cùng lúc đó có một tiếng nồ ầm, thì ra VC đang pháo vào từ những núi đá thấp gần đó, nhưng lại rơi ra xa…
Kể lể thì lâu nhưng mọi sự xảy ra trong nháy mắt. Không chậm trễ một giây, tôi nhấc bổng tàu lên vì sợ địch điều chỉnh tác xạ, sợ bị lính leo lên thêm vì trên tàu đã có sẵn mưòi người rồi sẽ không bay ra được vì quá nặng. Tôi chúi mũi lủi về phía trước, thoát đi thật nhanh để lại sau lưng một đám bụi mù…
Trên đường bay ra, vừa đưa tàu lên cao để né tên trinh sát, tôi lại thấy hắn nhưng không phải đứng trên cây mà đã té nằm thẳng cẳng dưới đất. Chắc đã…
Không còn bị ai cản trở, tôi cho tàu lạng xuống trên mặt nước, chổng đuôi bay thật nhanh. Sợ lần này bộ đội VC đã đề cao cảnh giác sẽ chận đường thối lui, tôi thay đổi lối bay liên tục. Khu nào dọc theo bờ sông có nhiều cây rậm rạp thì tôi bay trên ngọn cây, khu nào trống trãi thì tôi lại nhào xuống nước làm cao tốc đĩnh… Có nhiều khi đã tính bỏ giòng sông mà bay ngang rừng thì sẽ thâu ngắn đoạn đường về Tô Châu vài cây số, nhưng biết đâu chính đoạn đường này sẽ thâu ngắn tuổi thọ chúng tôi! Khi thấy ngã ba sông hiện ra trước mặt, tôi biết là mình sắp thoát vì bên kia sông là Hà Tiên xinh đẹp, an lành. Kéo tàu vọt lên cao, tôi trao cần lái cho Trung Úy hoa tiêu phụ.
Bình an trở lại Tô Châu. Các phi hành đoàn bị bắn rớt được chúng bạn đón mừng, chúng tôi được các anh em cùng phi đoàn ân cần thăm hỏi.
Phi vụ hoàn tất mỹ mãn. Tôi lại được đưa đến gặp Tướng Trưởng, vẫn còn đứng ngoài phi đạo theo dõi chuyến bay của chúng tôi. Tôi rất ngạc nhiên vì lần này lại có sự hiện diện cuả tướng Tư lệnh SĐ 4 KQ là tướng Nguyễn Huy Ánh. Tôi đứng nghiêm chào hai vị tướng đáng kính này. Mấy ông bắt tay khen ngợi, tướng Trưởng nói với một đại tá Bộ binh đứng bên lấy tên phi-hành-đoàn để cho huy chương. Ông nói với tướng Ánh KQ cũng nên cho chúng tôi huy chương tương xứng. Tướng Ánh hứa là sẽ cho.
Không lâu sau đó Tướng Trưỏng lại đổi ra vùng 1 CT. Tướng Ánh bị tử nạn trong một phi vụ câu máy bay quan sát. Sư Đoàn 4 nói riêng và KLVNCH nói chung đã mất một vị tướng văn võ song toàn, tài năng và đức độ hơn người.
Tờ báo Lý Tưởng KQ có viết một bài tường thuật phi vụ Kampong Trach của chúng tôi. Còn mấy cái “anh dũng bội tinh với nhành dương liễu” thì đã có người khác thay mặt… đeo giùm.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.