Tập San Y Sĩ Giới Thiệu
Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn
Post by Sơn râu 20 Jan 2026


Bài 20.
Người bạn tốt nhất
Tôi có thể bị chê là quá lãng mạn, nhưng thú thật bao giờ tôi cũng vẫn coi bệnh-nhân như một người bạn đồng hành ở bên cạnh tôi trong cuộc chiến đấu chống niềm đau nỗi khổ và sự chết. Đó là một quan niệm mà theo ý tôi có thể suy ra từ những mệnh lệnh đạo đức, nhất là một sự chân thật tuyệt đối ở đôi bên, lòng tin tưởng tương đồng hoàn toàn, niềm thủy chung ngay bất cứ lúc nào, trên phương diện y học cũng như trên bình diện nhân bản. Mọi việc bắt đầu cách đây ba tuần lễ. Hôm đó sau hai cuộc giải phẫu lớn và một “cua” về quan niệm nhiễm trùng dưới khía cạnh thủ thuật, tôi đến văn phòng giải quyết vài chi tiết hành chánh. Cô thư ký, cộng sự viên quý báu cũng khắt khe, bắt tôi phải đọc bao nhiêu văn thư, ký không biết bao nhiêu văn kiện và định ngày khám bệnh. Tưởng đã xong hết công việc thì cô cho tôi biết có hai vợ chồng già chờ tôi đã hai giờ trong phòng đợi.
Tôi gắt:
– Thôi chứ. Cô không thể tìm một ông phụ tá để tiếp họ thay tôi hay sao?
Cô lắc đầu:
– Thưa giáo sư khó lắm ạ, họ chỉ muốn gặp có giáo sư. Rồi cô lại nói thêm như để thoái từ, dạ, thưa họ đến vì ông con một, rồi giáo sư sẽ thấy, họ dễ thương lắm.
Khi tôi bước vào phòng đợi, một ông già đứng tuổi, tóc bạc phơ, mặc rất trịnh trọng trong bộ lễ phục đã quá thời, đứng dậy và nghiêng mình kính cẩn. Sau khi xưng tên, cụ giới thiệu bà vợ, một bà già nhỏ nhắn như một búp bê bằng sứ, mặt tàn phá bởi nước mắt. Đôi mắt cụ nhìn tôi vẻ van lơn. Và đôi môi run rẩy sẽ khoác lên một nụ cười. Cô thư ký tôi có lý: không thể nào chối từ tiếp đôi vợ chồng trong bộ lễ phục thường thấy trong “album” cũ kỹ này. Họ đang bị đau khổ giày vò, chỉ nhìn thoáng cũng cảm thấy điều ấy. Ông cụ nói rõ mục đính cuộc “thăm viếng” này. Đứa con một của đôi vợ chồng già này, trước là giáo viên, hồi hăm ba tuổi – năm nay đã hăm sáu – bị tê liệt tay phải, ít lâu sau cả chân phải. Vài tháng sau tới phiên tay và chân trái. Bây giờ, thằng bé khốn khổ bị tê liệt cả người đang sống vất vưởng tại một viện dưỡng bệnh. Vả lại chứng tê liệt không xuất hiện bất thình lình sau một tai nạn hay một cơn bệnh mà cứ phát hiện lần lần, không có lý do xác đáng và hiển hiện nào.
– Bây giờ, các bác sĩ bỏ nó. – Đến lượt bà cụ nói, tay cầm khăn che cố nén từng tiếng nức nở.
Ông cụ bèn chữa:
– Thưa, thật ra bỏ thì không đúng lắm. Họ không biết phải làm gì. Vì vậy chúng tôi khẩn khoản nhờ ông thầy giúp hộ thằng bé. Tôi nghĩ … có thể nhờ giáo sư đến đó và xem hộ bệnh tình của cháu ra sao …
Tôi phải nói rõ lại. Nếu tôi phải đến đó, dù trong một thời gian ngắn ngủi thôi, cũng không thể nào được. Chiến tranh hồi đó tiếp diễn tới năm thứ ba. Tôi còn phải, ngoài hơn ba trăm sáu mươi giường ở bệnh viện, trông coi một Quân Y viện gần năm trăm giường. Hơn nữa, thêm vào đó, tôi vừa được bổ nhiệm làm cố vấn giải phẫu trong quân đội cho vùng Mieder Schlesien nghĩa là phải coi sóc cho độ gần bốn mươi lăm ngàn thương binh. Tôi còn nói thêm là, trong trường hợp một bí ẩn như vậy, tôi không thể định đoạt một án chẩn chỉ dựa trên hồ sơ bệnh lý. Trong khi nói, tôi nhận thấy nét mặt họ sa sầm lại, vẻ tuyệt vọng. Thật tình thương hại, và tỏ vẻ an ủi họ một phần nào, tôi ngỏ ý nếu họ có thể xin cho cậu con trai thuyên chuyển đến bệnh viện tôi thì mới có thể tìm ra căn bệnh.
Họ cảm tạ tôi. Họ hết lòng cảm ơn rối rít. Hiển nhiên, họ bám víu vào mọi hy vọng dù mỏng manh. Thật dễ hiểu trong một tình trạng bi đát ấy. Nhưng, niềm hy vọng ấy, tôi có lý khi không đem lại cho họ? Hơi bực mình với chính tôi, tôi nghĩ lại những điều người cha vừa cho biết. Chứng tê liệt lần lần cả tứ chi như vậy có thể do một cái bướu ở phần trên tủy sống. Có khi, đem cắt bướu đi có thể khỏi hay đỡ một phần nào. Nhưng khi tủy và những chùm dây thần kinh đã bị dồn ép từ lâu rồi khó mà có thể phục hồi được. Khó lắm. Không một hy vọng mảy may nào. Mười lăm ngày sau, xe hồng thập tự đưa bệnh nhân đến. Một cậu trai dễ thương, nụ cười nở như hoa – và tứ chi bị tê liệt. Tôi cho cậu nằm phòng riêng và, để bắt đầu, để cậu tịnh dưỡng trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Đó là điều cẩn thận cần thiết sau một chuyến đi xa như vậy.
Lần đầu tiên khi tiếp xúc với bệnh nhân, tôi nhận thấy chàng trai rất thông minh và có kiến thức thật rộng. Anh có một thái độ thật vững chãi và lạc quan: không than vãn gì cả, chờ đợi mọi cuộc trị liệu mới với một sự tò mò gần như đam mê. Hai cụ thân sinh chắc đã nói với anh về tôi và chắc đã tâng bốc tôi nhiều lắm nên anh có vẻ vững tin là tôi sẽ chữa khỏi “bằng cách này hay cách khác”.
Về phần tôi, than ôi, tôi ít lạc quan hơn! Cuộc khám nghiệm chỉ càng xác nhận thêm mối lo ngại của tôi. Đôi chân bị tê liệt hoàn toàn cũng như cánh tay phải. Trái lại, tay trái còn vài bắp thịt ngón tay là còn cử động được. Niềm ngạc nhiên nay trở thành tư lự khi tôi nhận thấy hô hấp bệnh nhân vẫn đều. Như vậy có nghĩa là hoành cách mô vẫn tiếp tục điều hòa như thường. Vả lại, hoành cách mô do sự điều khiển bởi một dây thần kinh phát khởi giữa đoạn thứ tư và thứ năm của phần tủy cổ (moelle cervicale). Nói cách khác, những trung khu vận động phải bị mắc nghẽn dưới những đoạn này. Khi khám nghiệm phần cổ bệnh nhân tôi kinh hoàng như bị sét đánh. Đằng sau gáy, phía bên trái, ta thấy một cục lớn và cứng. Tôi cho chụp quang tuyến ngay vùng cổ. Tôi gởi gắm chuyên viên nên nương thật nhẹ và thật cẩn thận với bệnh nhân. Thật vậy, rất nguy hiểm, vùng xương sống này đã bị tàn phá rất nhiều bởi sự phát triển của bướu nay có thể bị vỡ vụn và gẫy ra. Tai nạn này chắc chắn sẽ làm bệnh nhân chết ngay.
Buổi chiều, anh y sĩ trưởng tận tay đem đến cho tôi những tấm phim. Không nói một lời, anh đặt ngay lý do sự im lặng của anh: chưa bao giờ chúng tôi được xem những hình ảnh ghê rợn đến thế. Những đốt xương sống cổ thứ năm và thứ sáu bị hoàn toàn tiêu hủy (và bị biến hình rất trầm trọng), rất có thể do tác động của bướu. Thật cũng rất ngạc nhiên khi bệnh nhân vẫn còn chịu đựng được sức nặng của đầu. Để xương sống đỡ bị mệt nhọc, tôi ra lệnh quấn đầu bệnh nhân bằng một “miếng lót Glisson”, một thứ khăn choàng quấn quanh cằm, đỉnh đầu và buộc vào thang giường có thể kéo chặt hay thắt làm sao để khỏi bị gẫy đốt xương sống.
Rồi sao đây? Tôi có phải mổ cái bướu không? Nếu phê phán và xét đoán qua phim quang tuyến, thật là liều lĩnh và điên cuồng gần như thách đố với định mệnh. Chỉ cần đem bệnh nhân đặt kê lên bàn mổ cũng nguy hiểm tới tính mạng bệnh nhân rồi. Tóm lại chúng tôi đều đồng ý ở điểm này: ý nghĩ mổ bướu này phải loại đi. Tuy thế, tôi vẫn chưa muốn từ bỏ vội. Càng nghiên cứu những phim quang tuyến, tôi càng tự hỏi phải chăng chúng tôi quá bi quan. Dĩ nhiên, ngay từ đầu chúng tôi cho đây là một bướu ác tính đang xâm chiếm và tiêu hủy tủy sống. Nhưng rất có thể đây là một sự dồn ép tủy sống bởi một bướu thuần tính và dễ lành thì sao? Trên những tấm phim quang tuyến, bướu này không phát triển trực tiếp đi từ tủy, nhưng từ vỏ xương ra, ở mực đốt xương sống cổ thứ năm và thứ sáu. Vậy, nếu chính ngay tủy không bị tiêu hủy thì phải giải phẫu may ra có cơ hội – thật ra phải nói là rất mỏng manh – giảm bớt hay ngay cả làm biến chứng tê liệt. Với điều kiện, dĩ nhiên, là bệnh nhân phải đủ sức và không chết trên bàn mổ. Thường thường, bệnh nhân một khi tự ý được nhập viện vào khu giải phẫu đều tin trước có thể bị mồ, nên sự thỏa thuận, theo luật định, chỉ là một hình thức thông thường. Nhưng trong trường hợp này tôi nhận thấy tình trạng khác hẳn. Những rủi ro của cuộc giải phẫu rất lớn nên tôi phải báo cho bệnh nhân và hai cụ thân sinh biết. Tôi bèn viết thư mời ông cụ tới càng sớm càng tốt. Hai hôm sau hai ông bà cụ đến. Tôi nói thật tất cả cho họ nghe:
– Với hiện tượng khoa học và theo sự xét đoán của tôi, cơ hội lành bệnh thật mỏng manh. Nhưng, thêm vào đó, mồ cũng rất nguy hiểm. Nguy hiểm đến nỗi mà tôi còn lưỡng lự có nên khuyên mổ hay không.
Bà cụ khóc nức nở. Còn ông cụ, mặt tái mét, đứng dậy và nhìn tôi vẻ tuyệt vọng.
– Chúng tôi tuyệt đối tin tưởng ở giáo sư. Nếu giáo sư nghĩ rằng mổ sẽ thành công, thì phải thử và cố xem, vậy …
Tin tưởng tuyệt đối – một lời nói cao quý làm sao, nhưng cũng là một trách nhiệm ghê sợ làm sao! Tôi không biết nói sao đây.
– Hai cụ đi trình bày tình trạng này cho cậu ấy. Nếu bệnh nhân, sau khi đã hiểu cặn kẽ, muốn mồ, lúc đó tôi sẽ nhận lời.
Thật ra, tôi mong ông giáo viên trẻ này sẽ lùi bước trước nguy hiểm và tôi sẽ thoát khỏi cái trách nhiệm nặng nề này. Nhưng tôi đã đánh thấp lòng can đảm của anh. Một giờ qua, khi cô thư ký báo tôi biết bệnh nhân muốn nói chuyện với tôi, tôi bèn bỏ bút máy xuống mặt bàn và chạy đến phòng anh. Khi tôi vào không khí im lặng căng thẳng. Hai cụ, đứng gần giường, có vẻ như sắp ngất xỉu. Cuối cùng, ông cụ nói:
– Thưa giáo sư, chúng tôi đã báo tình trạng này cho cháu biết. Chúng tôi cũng không giấu cháu một điều gì cả – cháu nó biết sẽ không biết sống, chết ra sao …
Bệnh nhân, đầu bất động trong tấm vải lót Glisson, không hề nhìn thẳng vào mặt tôi. Nhưng ông cụ vừa dứt là anh tuyên bố, giọng dõng dạc và bình tĩnh:
– Xin giáo sư mổ cho tôi.
Tôi phải cố gắng mãnh liệt mới che giấu cảm xúc đang siết chặt tôi. Sau cùng tôi trả lời:
– Được. Tốt lắm. Phần tôi, tôi đồng ý với quyết định của anh.
Vậy tôi sẽ mổ anh sáng mai, bảy giờ.
Buổi trưa hôm trước khi mổ. Chỉ một giờ sau, tin đã được loan đi khắp bệnh viện. Thật đúng như một cuộc nổi loạn. Ở khắp các nơi cô y tá và mấy anh phụ tá từng nhóm một lời to tiếng nhỏ bàn bạc. Khi tôi đi qua, câu chuyện ngưng hẳn lại nhưng tôi cảm thấy sau lưng tôi là những cái nhìn hoài nghi và có thể chống đối. Khi đi qua phòng chứa băng dự trữ, tôi được nghe cả lời tâm sự của một anh sinh viên tập sự nói với một nội trú:
– Thật điên rồ hết sức. Đánh liều với mạng sống của gã này vì một cuộc giải phẫu chẳng đi đâu đến đâu cả.
Trước khi rời khỏi bệnh viện, tôi còn tranh luận sôi nổi và chua chát với anh y sĩ trưởng. Anh phản đối kịch liệt cái mà anh gọi là “một quyết định không thể hình dung được”.
– Thưa giáo sư, giáo sư thừa biết là bệnh nhân sẽ chết trong tay ông. Thật là một toan tính vô vọng … Giáo sư không có quyền …
Tôi bước đi không trả lời anh. Bây giờ, sau một đêm trằn trọc, tôi tự hỏi đến lần thứ mười xem, khi quyết định mổ, tôi có tuân theo những động cơ ngoại y học không? Một sự bướng bỉnh gần như cứng đầu cứng cồ, một tham vọng không thú nhận, một sự hiềm kỵ không công nhận sự bất lực của tôi trước một căn bệnh nan y. Nhưng sau khi đã khảo sát lương tâm không biết bao nhiêu lần, tôi vẫn đi tới cùng một kết quả: không mồ, không những bệnh nhân vẫn bị tê liệt mà lại càng chóng chết; nếu mổ, – nếu tôi đạt được mục đích tốt đẹp ấy – chỉ có một cơ hội nhỏ, nhỏ lắm để có thể sử dụng lại được tứ chi. Vậy, phải cố thử xem. Đúng bảy giờ, bệnh nhân được đem vào phòng mồ, và đặt thật cẩn thận hết sức lên bàn mổ. Dưới sự kiểm soát của tôi, bắt đầu cho đánh thuốc mê thật nhẹ; như mọi khi tự tay tôi tiêm thuốc mê bổ túc. Khi bệnh nhân ngủ rồi, tôi cho xoay thật thận trọng bệnh nhân nằm ngửa lưng ra. Đầu gác lên rồi, giải khăn để giới hạn vùng giải phẫu rồi, áp huyết và nhịp thở thử lại rồi, phút quyết định đã tới. Sau khi kẻ một đường mổ đầu tiên dọc theo đường giữa gáy, xa những mấu gai (apophyse épineuse) của vùng cồ, tôi rạch sâu, ở hai bên, hầu tới đáy đốt xương sống. Hai anh phụ tá kéo khéo những bắp thịt, anh y sĩ trưởng thông máu. Ngoài tiếng vo vo của ống bơm điện và tiếng hút máu, không nghe thấy một tiếng gì nữa. Hơn bao giờ hết, toán giải phẫu làm việc trong im lặng. Bỗng nhiên, sau ba phút; tôi gặp những mấu gai mềm như bột, – một mô không thể nhận ra được bề mặt tròn và nhẵn. Không còn nghi ngờ gì nữa mô này đã thuộc vào phạm vi bướu rồi. Tôi cố ấn nó lên phía trên và xuống dưới hầu nhìn rõ hơn. Lúc sau tôi có thể lôi ra một lớp đặc gần như một cái vỏ. Dưới đáy vết mổ hiện ra một đống màu nâu.
Bây giờ tôi mới biết đây không phải là một bướu ung thư biểu mô (carcinome) mà là một “bướu nâu” gồm tủy phiến bào (myéloplaxes), không ác tính. Bướu này đã tiêu hủy và làm mủn ra khớp xương của đốt sống cổ thứ năm và thứ sáu. Nhận xét này đã trút hẳn gánh lo âu nặng lớn của chúng tôi. Bây giờ chúng tôi có thể lôi bỏ toàn phần hay một phần bướu này. Đi sâu hơn nữa, tôi cầm và kéo ra những u lớn mà không bị chảy máu nhiều. Nâng cả đống bướu lên, tôi thấy ở dưới là một bình diện trắng lờ – không còn nghi ngờ gì nữa, đây là màng cứng ngoài của tủy sống. Tôi báo cho mấy anh phụ tá biết:
– Nhìn đây này – ở dưới đáy đó – màng cứng não đấy. Chúng ta vào đến tủy sống rồi, – nó bị hoàn toàn bẹp dí!
Bây giờ tôi cảm thấy là tôi sẽ thành công. Thở hồn hển vì cảm động, tôi sang phía bên trái của bướu. Theo dõi từng phần một và nhận thấy bướu đã hoàn toàn tiêu hủy những vòng cung là đáy của những mấu gai và mấu ngang ở đốt sống cổ thứ năm và thứ sáu. Hơn nữa, nó lại lan về đằng trước. Sau khi biết như vậy, tôi quyết định bây giờ chỉ cắt bỏ có một phần vừa đủ để giải thoát toàn diện phần tủy bị ép, tôi sẽ cắt nốt lần giải phẫu sau. Hôm nay, cơ thể bệnh nhân đã chịu đựng quá đủ! Hơn nữa, chúng tôi có thể tự cho phép chia cuộc giải phẫu ra làm hai giai đoạn, vì đây không phải là một bướu ác tính – trong trường hợp này không được mở ra – mà là chứng bệnh xương, có tên là xương viêm sơ. Thường thường, bướu này có thể phát hiện ở chỗ khác trong thân thể; có lẽ tôi là thủ thuật gia đầu tiên nhận thấy trường hợp bướu nâu ở đốt sống cổ.
Cuộc giải phẫu, mặc dù rất trầm trọng, nhưng cũng diễn ra không một trở ngại nào: Không có một nhiễu loạn ở bộ máy hô hấp và không bị trụy mạch. Tóm lại, thật là phép lạ. Sau khi khâu vết mổ lại và băng cẩn thận tôi nhờ anh y sĩ trưởng trông coi cho y tá chuyển bệnh nhân về phòng, và đặt nằm lên giường. Chỉ cần một sơ suất vô ý nhỏ nào, bệnh nhân cũng có thể tắt thở, do sự gián đoạn của những dây thần kinh điều khiển hô hấp. Ông bạn cộng sự viên già lắc đầu. Hiển nhiên anh nghi ngờ. Mà tôi cũng vậy nữa. Cái tủy sống bị ép lại này trông có vẻ tiều tụy lắm. Tôi không dám hy vọng nó sẽ bình phục được.
Sau đó, tôi lại lao mình trong guồng máy công việc thường ngày với nhịp rộn rã; mổ, khám bệnh, diễn thuyết, khám nghiệm. Vào khoảng tám giờ, tôi đang bận nghiên cứu vài hồ sơ thì cánh cửa văn phòng tôi bỗng mở lớn. Anh y sĩ trưởng, thường ngày rất khoan thai, chạy vội đến tôi, vẻ hốt hoảng đến nỗi tôi tưởng có việc không lành đã xảy ra.
– Anh lại … lại ngay cho! Bệnh nhân đã ngọ nguậy được chân rồi! Thật mà … Anh ấy tỉnh rồi … Hắn ngọ nguậy được ngón chân rồi, cả bắp chân nữa!
Không nghi ngờ gì cả, tôi theo anh ra hành lang. Vừa chạy lại phòng bệnh, tôi vừa hỏi anh:
– Anh có chắc không? Thật không thể tin được …
– Rồi anh sẽ thấy … tôi cũng vậy, tôi không muốn tin là như vậy. Nhưng tuy thế …
Tôi chạy bổ đến giường bệnh nhân và gần như giật tấm chăn ra. Lúc đó, tôi thấy … Trời ơi … quả là thật: Hắn đang cử động thật nhẹ những ngón chân; ngay cả bàn chân và bắp vế trái nữa. Có điều thật lạ, là ngay chính bệnh nhân cũng chưa nhận ra mình đã cử động được. Khi tôi báo cho anh biết chứng tê liệt bắt đầu đỡ dần, ông giáo viên trẻ không tin. Vì anh không thể ngửng đầu được tôi bèn đưa một tấm gương để anh có thể xem được chân anh. Anh thử ngọ nguậy ngón chân, và, một lần nữa, chúng cử động gần như thường. Chưa bao giờ, tôi được chứng kiến một cảnh tượng thật dị kỳ như vậy. Một người đàn ông, đầu quấn trong một tấm vải vì cổ không thể chịu đựng được sức nặng của đầu, đang khóc vì sung sướng. Chỉ thiếu một chút nữa, cô y tá cũng khóc luôn.
Phần cuối câu chuyện có thể tóm tắt rất nhanh. Dần dà, bệnh nhân có nhiều tiến bộ nhỏ nhưng chắc chắn và đều đều. Bốn tuần lễ sau, tôi bắt đầu cuộc giải phẫu thứ hai. Lần này, tôi cắt bướu qua phía phải cổ. Lần mổ này, thật tinh tế hơn nhiều, mất gần ba tiếng đồng hồ. Thế mà cũng chưa đủ để có thể cắt bỏ từng rễ ngách của bướu. Nhưng vì không phải là một bướu nham rỗng, nên vài miếng vụn nhỏ không có nghĩa gì. Ngay sáng hôm sau, tôi cho làm một miếng đỡ đầu chống vào hai vai. Như vậy không cần phải quấn đầu nữa. Một tháng sau, chúng tôi có thể cho chuyển bệnh nhân đến dưỡng bệnh trong một bệnh viện khác. Một năm sau, khi anh giáo đến thăm, chúng tôi không tin những điều trông thấy. Anh đi bộ đến thăm: chứng tê liệt nay đã
lui vào dĩ vãng như một kỷ niệm không tốt, trừ cánh tay và bàn tay phải. Anh còn đeo miếng đỡ đầu nhưng anh không có cảm tưởng như một phế binh. Trái lại anh có vẻ tươi tỉnh và lạc quan. Dĩ nhiên, tôi cho chụp hình quang tuyến lại. Tôi nhận thấy trên những tấm phim hiện rõ sự biến dạng của nhiều đốt sống cổ, nhưng cũng thấy ló dạng những vệt xương dài đang hình thành để nay mai có thể chống đỡ một cách hữu hiệu sức nặng của đầu.
– Thưa giáo sư, tôi không biết làm thế nào để tạ ơn giáo sư. Dĩ nhiên, bao giờ tôi cũng phải cẩn thận từng cử động một, nhưng tôi đi đứng trở lại được rồi. Tôi làm việc lại được rồi, – làm sao có thể diễn tả được cùng giáo sư niềm hạnh phúc vô biên ấy.
NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC
[Tình Thương Số 18-19, tháng 6-7, 1965]
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.