Y Sĩ Tiền Tuyến – Người Đi Tìm Mùa Xuân

Tập San Y Sĩ Giới Thiệu

Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn

Post by Sơn râu 21 Jan 2026

Bài 21

Cha tôi

Pater mihi erat incorruptissimus custor

Laus illi debetur et a me gratia major. (1)

Horatius

Phải biết sống mới thấy rằng đời sống ở đầu thế kỷ này sung sướng biết bao. Ngày nay, hồi tưởng lại nhiều năm về trước, tôi cho đấy là hoàng kim thời đại của lớp người trung lưu. Nhịp sống chậm rãi, khoan thai, bình thản, nhờ ở sự ổn định kinh tế và chính trị. Giá sinh hoạt thật rẻ, thuế khóa thật nhẹ, nên một người có khả năng và chăm chỉ lúc nào cũng có thể dành dụm đủ để dùng trong lúc ốm đau tai nạn và khi già yếu. Trong mọi từng lớp dân chúng, lóe sáng một niềm tin tưởng lạc quan vào tương lai với những tiến triển vượt bậc của khoa học. Đấy, chính cái thế giới trung lưu an lành đó là nơi sinh trưởng, và chính trong cái không khí cần cù tôi đã sống hơn hai chục năm đầu của đời tôi. Từ năm năm rồi, cha tôi giảng dạy tại Y khoa đại học Freiburg-im-Breisgau: Người khởi nghiệp ở Mannheim và chuyên về tai, mũi, họng. Những bài của cha tôi trong các tạp chí y học đã khiến giới đại học chú ý, rồi mời người làm giáo sư. Người bèn nhượng lại phòng mạch, dọn vào ở trong khu đại học cũ kỹ để giảng khoa mũi-họng. (Khoa tai được dành cho một giảng sư khác). Việc giảng dạy rất có kết quả, nên chỉ một vài năm sau, hai chữ Gustav Killian đã trở thành một tên tuổi quốc tế. Vinh quang nhanh chóng như vậy, cha tôi chỉ nhờ ở sức làm việc, trí thông minh và óc sáng tạo, chứ chẳng hề có thế lực bè phái nào, mà có chăng nữa, người cũng chẳng thèm nhờ cậy. Cha tôi sinh ra trong một gia đình tuyệt hảo. Thật thế, ông nội tôi, Johann Baptist Killian, vốn là giáo sư trường Trung học Mainz. Nhưng vì sinh năm con chỉ nuôi được hai, hơn nữa bà nội tôi lại mất sớm, nên ông tôi đâm ra rượu chè, tâm tính trở nên bất thường, nhiều lúc thật dữ tợn mà cũng nhiều lúc ủ rũ, con ruồi chẳng muốn xua. Nói đến tính nghiêm khắc quá quắt của ông tôi, cha tôi thường kể lại một kỷ niệm thời thơ ấu: một lần, dành dụm mãi được hai mươi Pfennig, cha tôi chạy ra mua ngay chiếc thuyền buồm thèm muốn ngắm nghía đã lâu trong tủ hàng. Nhưng đến lúc đem về nhà thì ông tôi nổi cơn lôi đình, mắng nhiếc là “chưa ráo máu đầu đã quen thói bốc trời”, rồi bắt cha tôi đem đổi lấy hai quyển vở viết.

Tuy phụ quyền nghiêm khắc như vậy, cha tôi không hề tỏ vẻ chua chát, trái lại, người hết sức tìm cách tạo cho thời thơ ấu một vẻ tươi sáng, vui nhộn, yêu đời ngay chính trong gia đình. Nhờ đó, mà ngay từ khi nhỏ tí, tôi đã được hưởng ngay một tự do tuyệt diệu. Cho đến bây giờ, những năm xa xôi ấy vẫn là những năm đẹp nhất đời tôi. Tôi có thể làm hầu hết những thứ tôi thích. Thấy tôi hơi có khiếu về âm nhạc, cha tôi cho tôi học vĩ cầm ngay từ năm tôi bảy tuổi.

Rồi ít lâu sau, tôi lại ham vẽ; cha tôi cũng chẳng hề tiếc mua cho tôi đủ thứ dụng cụ hội họa. Lớn nữa, tôi bỗng ham mê ngành hàng hải và những tàu to thuyền lớn; cha tôi cho tôi lập ngay dưới hầm cả một xưởng đóng tàu thật sự. Rồi người cũng chẳng hề cấm đoán, khi tôi một lần nữa nổi hứng biến xưởng đóng tàu ra một cái tiểu sinh vật viện, nuôi đủ các thứ bươm bướm, ve sầu, xén tóc …

Tôi học rất kém, nhưng cha tôi vẫn tươi cười, khoan dung. Trường Freiburg vốn là một trường cổ truyền, dạy các môn cổ điển nhiều hơn khoa học nên tôi rất khổ tâm về các từ ngữ La, Hy. Ông giáo sư La ngữ của tôi, biệt hiệu “Sếu vườn” vì đôi cẳng lỏng khỏng, luôn luôn tìm đủ cơ hội để phẩm bình học lực của tôi:

– A, Killian, nếu cái óc anh cũng lớn nhanh như thân hình anh (lúc đó tôi học đệ ngũ và trong một năm tôi cao thêm 17 phân) thì anh đã thành bác cổ thông kim từ lâu. Nhưng than ôi, anh thì chỉ có lớn mà chẳng có khôn.

Rồi một hôm ông bảo tôi dịch sic longus sic sultus. Tôi đứng ngây ra đến khi nghe tiếng cười chế giễu phá lên tứ phía và hiểu được nghĩa là càng cao càng đần, thì nước mắt đã tràn xuống má. Tối hôm đó tôi nói với cha tôi là tôi không thèm trở lại học nữa. Cha tôi bằng lòng ngay cho tôi đi học Anh văn trong mấy tháng, rồi đưa tôi vào học trường cao tiểu. Tôi đều đặn ở đó cho đến khi đậu tú tài. Tuy học đường đã giáo huấn tôi rất tốt, nhưng chính gia đình đã giúp tôi rất nhiều trong việc chọn hướng đi của đời tôi. Nhà cha mẹ tôi đã trở thành nơi hội họp của giới văn nghệ trí thức ở Freiburg: Mẹ tôi vốn ham chuộng văn chương, âm nhạc, nên tôi được quen biết nhiều văn sĩ và kịch tác gia, tôi lại có nhiều cơ hội dự thính những buổi hòa nhạc thính phòng ngay tại phòng khách nhà tôi. Cha tôi thì hay mời những bạn đồng nghiệp, những giáo sư hay giảng nghiệm viên, cũng như những sinh viên đặc biệt được người chú ý. Tính rất bình dân, cha tôi được đặt ngoại hiệu là “Thường tiếu ông” và rất được học trò kính nể. Cho đến bây giờ, tôi còn gặp nhiều người gợi lại một cách thán phục khuôn mặt khôi vĩ, cái trán cao, cặp mày bạc rậm, giọng nói sang sảng, lời văn súc tích và sáng sủa của cha tôi. Nhiều khi, ở ngay bữa cơm, cha tôi cũng nói chuyện với mẹ tôi và chúng tôi về những vấn đề bệnh nghiệm hay thực nghiệm. Sở thích tôi đã bạc tạp, lại được ở trong một môi trường nhiều khuynh hướng như vậy, khiến gia đình tôi lắm lúc phân vân không biết rồi đây tôi sẽ học ngành gì, vì lúc nào cũng “ham nhiều công việc”. Giáo sư hội họa của tôi bảo: “Anh vẽ được đấy”, trong khi ấy giáo sư vật lý quả quyết: “Anh sẽ là kỹ sư giỏi”. – Còn mẹ tôi thì nhắc đi nhắc lại: “Hans nó chỉ thích sinh vật học”, và khuyến khích tôi sưu tập cây cỏ, côn trùng. Chỉ có cha tôi là không tỏ ý kiến gì; nhưng chính người mới là người định đoạt, tuy gián tiếp, sự lựa chọn của tôi.

Năm 1898, cha tôi công bố trên báo y học những kết quả về phép soi cuống phổi, nghiên cứu âm thầm từ mấy năm nay. Người đã hoàn tất một dụng cụ đơn giản làm bằng một ống kim khí nhỏ, dài, luồn vào khí đạo để soi và do đó, có thể xác định vị trí của bất cứ vật gì lạ lọt vào cuống phổi, và gắp ra nhờ một cái kẹp đặc biệt cũng do cha tôi vẽ kiểu. Từ trước đến giờ, người ta cứ tưởng cuống phổi phải cứng nhắc; nhưng lúc ấy biết rằng các cuống phổi thật ra rất mềm dẻo, như thế cái ống kim khí mới có thể xoay khắp hướng để xem xét được: Sự thành công của cha tôi thật quan trọng, vì thời ấy khoa điện tuyến mới bắt đầu được thử dùng; còn việc giải phẫu lồng ngực hãy còn khó như đi lên cung trăng vậy. Nội trong vài tháng, danh tiếng cha tôi đã vượt biên thùy Đức quốc. Từ nhiều nơi trên thế giới, các đồng nghiệp gửi đến cho cha tôi những trường hợp nay họ đã đành thúc thủ. Một hôm, trong bữa cơm trưa, cha tôi kể cho chúng tôi nghe về một cô bé do cha mẹ cô, một gia đình trồng tỉa giàu có ở Montevideo, dẫn đến nhờ cha tôi cứu chữa. Cô bé Corinna đã nuốt một chiếc còi. Chiếc còi lọt vào khí quản, tuột xuống phổi, rồi ngừng lại khoảng xương sườn thứ bảy, làm cô bé khó thở một cách trầm trọng. Các y sĩ Uruguay và Argentina không biết làm gì hơn là khuyên đôi cha mẹ hốt hoảng kia đem con đến một thủ thuật gia danh tiếng ở Paris; ông này biết rõ tài cha tôi trong việc soi cuống phổi, lại gửi bệnh nhân đến cho người. Sáng hôm ấy, trong phòng làm việc của cha tôi, người cha vẻ mặt đầy lo lắng, người mẹ lúc nào cũng rơm rớm nước mắt, nói năng líu lo, vừa tiếng Anh, tiếng Pháp, vừa tiếng Tây Ban Nha.

Cô bé Corinna, mảnh mai nhút nhát, tóc huyền, đôi mắt đen mở lớn trên khuôn mặt gầy gò ốm võ vàng. Trên tấm ảnh điện tuyến của thủ thuật gia người Pháp gửi đến, lờ mờ thấp thoáng bóng một vật nhỏ, nằm ngay chỗ xương sườn thứ bảy, bên trên lá phổi dưới bên phải. Đặt tai vào ống nghe, mỗi khi bệnh nhân hít vào, người ta nghe rõ tiếng không khí rít qua chiếc còi. Sáng hôm ấy, ngồi trong lớp mà đầu óc tôi cứ tưởng đến cha tôi trong phòng mổ đang chăm chú lấy chiếc còi ra khỏi họng Corinna, đến nỗi bị phạt hai lần, vì lơ đãng. Chuông tan học vừa réo, tôi vội vã thu xếp sách vở, chạy ào về nhà. Cha tôi cũng vừa về. Dù không nói, vẻ mặt vui tươi đủ cho thấy là người đã thành công. Dĩ nhiên với ít nhiều trở ngại. Dụng cụ mới chế thật hoàn hảo, nhưng đến khi định kéo chiếc còi vào trong cái ống soi cuống phổi, mới thấy cái ống quá nhỏ. Tiếng lích kích của chiếc còi chạm vào thành ống soi làm cha tôi lo sợ đến ngừng thở. Người cố gắng dùng cặp móc của cái ống nhỏ kéo chiếc còi ra từng tí một. Thật là toát mồ hôi lạnh. Và mọi người thở phào nhẹ nhõm khi thấy chiếc còi quái ác ló ra. Năm ngày sau, khoảng giờ ăn trưa, cô bé Corinna cùng với cha mẹ cô đến từ biệt chúng tôi. Cha mẹ tôi tiếp đón ba người trong phòng khách lớn. Chúng tôi, ngồi trong phòng ăn, im lặng quan sát qua cánh cửa mở. Bà mẹ Corinna, mảnh mai duyên dáng, một vẻ đẹp của người xứ lạ, tay ôm một bó hoa lớn, chạy lại mẹ tôi, đưa bó hoa, nức nở ôm chầm lấy người. Rồi quay sang phía cha tôi, bà cầm lấy tay cha tôi mà hôn. Bà nói bằng tiếng Pháp, giọng đầy nước mắt vui mừng:

– Cầu Trời phù hộ hai bàn tay thần diệu này.

Cha tôi hơi bỡ ngỡ trước cử chỉ này, vì đối với người Đức, nó có vẻ quá nồng nhiệt. Người chồng, một nhà quý phái chính cống Tây Ban Nha, mặt dài, râu cằm cắt nhọn, ít bộc lộ hơn vợ, tiến lại bắt tay cha tôi thật lâu. Corinna, mặt đỏ bừng, e lệ cúi đầu chào cha tôi thật thấp, miệng lí nhí: Muchas gracias, senor (2). Mặc áo lụa, đội mũ rộng vành, trông cô bé thật xinh, khiến mẹ tôi không dừng được ôm cô mà hôn.

Mấy phút đồng hồ đó đã giúp tôi quyết định trở nên y sĩ. Còn nghề nào cho tôi nhiều cơ hội và khả năng giúp đồng loại để họ sống vui và hạnh phúc hơn? Vài hôm sau, trong lúc đi dạo với cha tôi, tôi ngỏ ý muốn theo y học. Cặp mắt xanh của cha tôi bừng lên một ánh mãn nguyện. Tôi hiểu rằng tôi đã đáp ứng đúng lòng ao ước thầm kín của người.

– Cha mừng lắm. Cha tôi nói, giọng nhiệt thành. Rồi con xem, y học sẽ làm nẩy nở tất cả mọi năng khiếu của con; một lương y phải biết tận dụng mọi khả năng của mình. Sự đồng ý này xóa hết mọi nghi ngờ còn lởn vởn trong đầu óc tôi. Tương lai bây giờ hiện ra trước mắt tôi như một con đường vạch sẵn, không quanh co, không trở ngại. Tôi dấn thân vào con đường đó, vui vẻ, bước vững chắc, – cho tới ngày chiến tranh bùng nổ, nhận chìm tất cả vũ trụ tươi trẻ của tuổi thanh niên của tôi trong một buổi đầy máu và nước mắt. Trong bốn năm liền, tôi là một sĩ quan trên nhiều chiến tuyến. Khi trở về, em trai tôi đã chết, cha mẹ tôi thì mất hết của cải. Cha tôi, rất yêu nước, nhưng cũng rất ghét cái ái quốc quá khích, đã bí mật đem tiền cho chính phủ vay. Và năm 1918, tiền Đức chỉ còn giá trị là những tờ giấy, đủ đẹp để dán lên tường thay giấy hoa.

Tôi lại trở về đời sống sinh viên, quá muộn màng, vì mất một năm binh nhất quân dịch và bốn năm sĩ quan. Tôi hăm hở học hành, và nhận định lại Freiburg, dù cha tôi lúc ấy được bổ làm giáo sư tại Berlin. Freiburg là nơi sinh trưởng, lại là chỗ tôi quen biết nhiều, nên tôi có hy vọng sống dễ thở một chút với nạn lạm phát trầm trọng lúc bấy giờ. Hơn nữa, Đại học Freiburg cũng nổi tiếng chẳng kém Đại học Berlin. Nhờ có những tên tuổi quốc tế như giáo sư ngoại khoa Lexer, giáo sư bệnh lý Aschoff và giáo sư dược học Straub.

Một điều khá ngộ là chỉ vài tuần sau kỳ thi ngoại trú bệnh viện, tôi mới tự hỏi: tôi sẽ chọn ngành nào trong y học? Bối rối quá tôi quyết định đến hỏi ý kiến Walter Straub, người tôi quen biết từ lâu. Khi còn nhỏ, tôi đã từng bắt lại cho ông những chú mèo hoang để ông làm thí nghiệm. Qua cặp kính cận dầy cộm, Straub ngắm tôi kỹ lưỡng, đằng hắng, rồi nói luôn một hơi:

– Có điều cậu nên nhớ: nội khoa chỉ để trị các bệnh nan y, sản phụ khoa để dành cho mấy cậu đẹp trai cả ngày ngắm vuốt, còn ngoại khoa thì dao kéo đỡ chân tay chứ sức mấy …Cứ thế Straub tiếp tục duyệt qua hết mọi ngành y học, trừ môn Dược học. Nghe điệu Straub nói, thì trên cõi đời này chẳng có thứ nào đáng học hơn là Dược học. Tôi ra về, lại càng lưỡng lự hơn. Tuy vậy, tôi cũng định chọn một trong hai môn, Dược học và khoa giải phẫu. Một phần có lẽ vì những giáo sư giảng dạy hai môn này đều là những nhân vật lỗi lạc của Đại học Freiburg. Thật thế, Walter Straub được coi như cha đẻ của nền Dược học cận đại; còn Erich Lexer, môn đệ xuất sắc của Ernst von Bergmann, nối chí phát huy học thuyết của thầy đến tận cùng. Bài giảng của ông thật chính xác và không kém phần hào hứng. Còn xem ông giải phẫu thật thích thú chẳng khác xem một nghệ sĩ thượng thặng trổ tài. Lexer cầm dao mổ như cầm cần kéo vĩ cầm, trong khi các thủ gia khác cầm như cầm cây bút. Cầm dao như thế, Lexer có những đường mổ đẹp như vĩ lướt trên dây của một diệu tài. Sự lựa chọn của tôi thật ra không dựa trên những cân nhắc lý thuyết, mà lại nhờ một việc xảy ra, đến nay tôi còn nhớ. Hôm ấy, trong giờ giảng dạy của Lexer, lần đầu tiên tôi cảm thấy nguồn hứng thú sôi nổi của khoa giải phẫu. Tôi nín thở, tim đập mạnh, sống những phút không phai khi nhìn một bực thầy thi triển nghệ thuật. Sinh viên ngồi sát cánh nhau mắt dán lên giảng đàn: Lexer, trong tấm áo choàng trắng toát, đi đi lại lại, trình bày đề tài ưa thích của ông: bướu xương. Thỉnh thoảng ông ngừng lại, tay gỡ cặp kính cận, chậm rãi đưa mắt nhìn cử tọa. Lexer có vẻ hài lòng: chúng tôi không ai động đậy, như uống từng lời nói của thầy. Ai nấy đều biết, sau khi giảng xong, Lexer sẽ cắt một khúc háng, một loại giải phẫu lâu lắc khó khăn. Con bệnh đã ngủ  yên, nằm đợi trên chiếc xe để ở ngoài cửa. Ông y sĩ trưởng, các phụ tá giải phẫu, cô y tá, mặc áo đi găng sẵn sàng, bước vào giảng đường. Giờ giải phẫu đã tới. Nhưng Lexer vẫn hăng hái thao thao bất tuyệt.

Sau cùng, ông y sĩ trưởng đành nói với giáo sư rằng chỉ còn có năm phút nữa thôi. Lexer ngước mắt nhìn đồng hồ: – Còn năm phút nữa thôi à? Được, đủ chán.

Chúng tôi bắt đầu nhúc nhích, anh này lắc đầu chị kia thì thào lộ vẻ không tin. Không hay biết phản ứng của chúng tôi, Lexer rửa tay, mặc áo, đi găng, miệng vẫn không ngừng nói cho chúng tôi biết việc sắp làm. Cắt đầu xương đùi đã bị vi trùng lao đục khoét, gọt lại đầu xương, đặt cho đúng vị trí rồi đóng chặt vào xương chậu. Bệnh nhân được đẩy vào nằm nghiêng một bên. Con bệnh ngủ êm dưới một lớp vải khử trùng. Háng bên trái, nơi giải phẫu, cũng được che kín. Theo đúng luật, chỉ khi mổ mới được mở ra. Lexer đứng trước bàn mổ, bình thản nhìn chỗ sắp mồ. Tôi nhoài mình ra phía trước, theo sát từng cử chỉ. Vẫn im lặng, Lexer đưa tay đón con dao mồ ở tay cô y tá. Cánh tay thật lực lưỡng, bàn tay nhanh nhẹn dị thường. Chúng tôi rất tán thưởng lối cầm dao cân nhắc như đùa của Lexer. Chợt Lexer nghiêng mình về phía trước. Trong nháy mắt, một đường dao vòng cung, dài chừng hai mươi phân, sâu vừa đúng tới lớp thịt, vạch trên háng trái bệnh nhân. Gần một nắm kẹp chỉ huyệt Lexer kẹp những động mạch chính. Các phụ tá đặt đồ phanh hai bên vết mổ.

Đấy chỉ là đoạn mở đầu. Bây giờ mới đến màn ảo thuật thật sự, ít ra là đối với anh sinh viên là tôi lúc bấy giờ. Lexer, tay trái cầm một cái đục lớn tay phải một cây búa nặng và chỉ một phát múa thôi, làm bật tung toàn khối vuông lớn của xương đùi, kèm theo cái bướu của cánh xương chậu. Kéo khối xương vừa đục cùng các bắp thịt lên trên, Lexer rạch mạnh bao khớp xương ở mé dưới, rồi hai tay nắm đùi bệnh nhân, quay một phần vòng tròn. Thế là khớp xương háng bật ra.

Trong phòng im lặng như tờ. Lexer chìa tay, cô y tá trao cho ông một cái kẹp lớn. Ông lôi ra cho chúng tôi xem khúc đầu xương vụn nát. Tất cả lâu có ba phút, một kỷ lục thần sầu. Rời giảng đường, chúng tôi còn như ngơ ngẩn. Mấy phút đó làm chúng tôi say sưa thích thú như vừa xem tuồng Thạch sĩ bia.

Riêng tôi, tôi đã có một quyết định sắt đá: tôi là y sĩ giải phẫu, chỉ là y sĩ giải phẫu chứ không thèm là gì khác.

NGHIÊM SỸ TUẤN & NGUYỄN VĨNH ĐỨC

[Tình Thương Số 21-22, tháng 9-10,1965]

1) Cha tôi là thần hộ thủ liêm khiết nhất của tôi. Tôi phải khen ngợi và mang ơn Người nhiều.

2) Cám ơn ông rất nhiều.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a comment