Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh

vietmessenger.com

Erich Maria Rematque

Bản dịch Tâm Nguyễn

Post by Sơn râu 9 Apr 2026

Chương 6

Có tin đồn là sẽ tấn công. Chúng tôi ra mặt trận hai ngày sớm hơn thường lệ. Dọc đường, chúng tôi đi ngang một ngôi trường bị oanh kích. Sắn đọc theo chiều dài là hai dãy quan tài gỗ vàng không đánh bóng. Còn ngửi mùi thông,  mùi rừng. Ít ra cũng đến trăm cỗ.

«Chuẩn bị công kích như thế kể cũng chu đáo, » Muller nói vẻ kinh ngạc.

«Cho bọn ta đấy,» Detering nó gằn.

«Đừng nói gở,» Kat cáu sườn bảo hắn.

«Còn được cỗ áo quan là còn phúc đức. »

Tjaden nham nhở, «cái thân cà khổ này họ thí cho mành vải dầu là may. »

Mấy thẳng khác cũng đùa, những câu đùa bực mình, nhưng họ còn biết đùa sao?

– Thực ra thì các quan tài là dành cho mình. Tổ chức chu đáo đến thể là cùng.

Trước mặt chúng tôi, cái gì cũng đang ầm ỉ. Đêm đầu tiên chúng tôi thử tìm phương hướng. Khi êm êm đôi chút chúng tôi nghe tiếng các xe công voa sau các chiến tuyến địch không ngừng chạy cho đến bình minh.

Kat nói chúng không trở lui mà chuyển lính đến – lính, và đạn dược. Trọng pháo Anh đã được củng cố thêm, điều đó chúng tôi được biết ngay. Ít nhất cũng thêm bốn cỗ hăm lăm li nữa đặt bên phải ngôi trại và sau các cày bạch dương chúng đã đặt súng cối. Ngoài ra chúng còn đưa thêm một số súng phóng hỏa châu nhỏ của Pháp. Chúng tôi xuống tinh thần. Nằm ẩn đến hai tiếng đồng hồ giờ đây chính đạn mình lại bắt đầu đồ xuống chiến hào mình. Đây là lần thứ ba trong bốn tuần. Nếu bảo là nhắm lầm thì chả ai sao, nhưng sự thật là nòng súng đã mòn. Đạn bắn không còn chính xác nên thường nhè ngay chính chiến tuyến nhà mà rơi xuống. Đêm nay có hai thằng bị thương vì thế.

Mặt trận là một cái chuồng trong đó chúng tôi sợ sệt chờ đợi bất cứ những gì xảy đến. Chúng tôi nằm dưới cả một cái lưới đạn và sống hồi hộp hoang mang. May mắn rủi ro chập chờn trên đầu chúng tôi. Đạn bay đến chỉ biết nằm rạp, thế thôi; chẳng biết cũng chẳng nhất định được là nó sẽ rơi xuống đâu. Chính cái May Rủi này khiến chúng tôi thản nhiên. Cách đây mấy tháng tôi đang ngồi tại một hầm chơi cắc tê, một lúc tôi đứng lên sang thăm mấy thằng bồ ở một hầm khác. Khi trở về chả còn thấy cái gi, hầm bị trúng đạn tiên tan. Tôi trở lại hầm kia thì vừa đúng lúc giúp một tay đào bới. Sau đó hầm cũng sập luôn. Tôi hiện còn sống nhăn răng hay cũng có thể đã ngỏm củ tỏi chẳng qua cũng là may rủi. Trong một cái hầm chống bom tôi vẫn có thể nát ra như cám và trong một cái hầm trống khơi khơi có thể chịu đựng mười giờ oanh tạc vẫn chẳng sao. Không thằng lính nào sống sót cả ngàn lần may rủi. Nhưng thẳng lính nào cũng tin tưởng ở May Rủi và tin chắc ở cải may của mình. Chúng tôi phải canh chừng bánh. Chuột càng ngày càng lắm vì chiến hào không còn mới mẻ gì. Detering cho đó là dấu hiệu chắc chắn thế nào cũng có oanh tạc. Chuột ở đây ghê tởm cách lạ, chúng béo thù lù-cái loại mà chúng tôi gọi là chuột thây ma. Tròng mặt chúng trơ trẽn, thâm độc và gớm ghiếc quá và thấy đuôi chúng dài thườn thượt trơ bóng mà lợm mửa. Chúng hình như lúc nào cũng háu đói. Chả ai mà bánh lại không bị chúng gặm. Kropp lấy vải dầu gói lại nhét dưới đầu, nhưng cu cậu đếch ngủ được vì chúng leo cả lên mặt cu cậu mò bánh. Detering đòi khôn hơn chúng, hắn buộc một sợi dây thép nhỏ lên mái rồi treo bánh lùng lẳng. Giữa đêm khi bật đèn pin thấy dây đu đưa. Một con chuột béo ù ngồi chồm hỗm trên chiếc bánh.

Sau cùng chúng tôi phải tính chuyện chấm dứt cái trò này. Chúng tôi không thề phí bánh vứt đi, vì sáng ra gần như không còn gì để nhá, nên thận trọng cắt bỏ những chỗ bánh bị chúng gặm. Những miếng cắt bỏ, chúng tôi chất đống lại giữa hầm. Mỗi thằng thủ sẵn bàn sẻng nằm chờ lúc ra tay. Detering, Kropp và Kat cầm đèn pin sẵn sàng bật. Vài phút sau nghe có tiếng lào xào lôi kéo. Tiếng to dần và rồi là tiếng nhiều bàn chân nhỏ bé. Thế là đèn pin bật lên và mấy thằng cũng đập lên đống bánh vun và bọn chuột chạy tung toé. Kết quả tốt đẹp. Chúng tôi liệng xác chuột qua bên kia hào và lại nằm rình. Cứ như thế rất nhiều lần. Mãi rồi mấy con quỉ nó cũng khôn ra, hay có lẽ chúng ngửi thấy mùi giết chóc. Chúng tôi không trở lại nữa. Tuy nhiên, trước khi trời sáng, những mẩu bánh còn sót cũng được khiêng đi lúc nào không biết. Ở kbu bên, chúng tấn công hai con miu bự và một chú cầu, cắn kỳ đến chết rồi ăn thịt luôn. Hôm sau chúng tôi được phát phó-mát Edamer. Mỗi thằng gần một phần tư miếng. Một mặt được ăn thì cũng khoái khẩu, vì Edamer là loại ngon – nhưng mặt khác thì cũng đáng lo, vì các quả ban đỏ mập là dấu hiệu của chuyện chẵng lành sắp đến. Lời tiên đoán của chúng tôi càng đáng ngại khi lại được uống cả rum nữa. Dĩ nhiên uống vẫn nồng nhưng cũng chẳng thấy bớt lo bớt sợ. Hàng bao ngày ngồi rảnh giết chuột. Đạn dược lựu đạn đến càng ngày càng lắm. Còn thay cả lưỡi lê nghĩa là những lưỡi sống và lưỡi cưa. Tụi bên kia anh nào mà lại nhìn thấy một thằng với một lưỡi lê này cứ gọi là chết không kịp ngáp. Ở khu vực bên, có thằng sợ ý mất cha nó mũi và lòi tròng mắt cũng chỉ vì cái lưỡi lê có lưỡi cưa của minh. Miệng mũi lắm khi sặc vì mùn cưa. Có đôi chú tân binh cũng được phát lưỡi lê loại này; chúng tôi phải tịch thâu và cho các chú những lưỡi lê thường. Nhưng trên thực tế lưỡi lê không còn quan trọng nữa. Cái lối thông dung bâv giờ là xung phong bằng bom và bàn sẻng mà thôi. Bàn sẻng sắc là một khí giới tiện lợi và đa diện, không những múa sẻng chặt địch thủ dưới cằm, mà cầm giáng xuống cũng mạnh hơn vì nặng hơn và nếu chém trúng giữa cổ và vai nó còn chẻ xuống ngực.

Lưỡi lê khi đâm thường bị vướng và phải đá mạnh vào bụng địch thủ để rút ra và trong khi đó mình có thể lãnh đủ. Tệ hơn nữa, lưỡi dễ gẫy. Đêm đến địch thả hơi ngạt. Chúng tôi tiên đoán chúng sẽ tấn công nên đeo mặt nạ nằm phục sẵn, sẵn sàng hễ thấy các bóng đầu tiên xông đến là đánh tan. Bình minh sắp đến mà cũng chẳng thấy gì xảy ra-chỉ có tiếng rần rộ không ngừng nghe đến bực sau chiến tuyến địch, tàu, tàu, xe, xe chả hiều chúng tập trung cái mẹ gì mà lắm thế? Trọng pháo chúng tôi bắn liên miên, tuy nhiên cái tiếng kia vẫn chẳng dứt. Mặt mũi rã rời, chúng tôi tránh nhìn thẳng mặt nhau. «Giống như trận Somme,» Kat nói lầm lì. «Trận đó chúng tao bị pháo kích ròng rã bảy ngày bảy đêm.» Từ ngày đến đây, Kat không còn vui tính nữa, một điềm không hay, vì Kat là tay kỷ cựu có thể ngửi được những gì sắp đến. Chỉ có Tjaden có vẻ thích thú vừa được ăn ngon vừa được uống rum, hắn cho rằng mình sẽ lại về nghỉ mà chả có mẹ gì xảy ra. Trông thì có vẻ thế. Hết ngày này đến ngày khác. Đêm đến tôi ngồi chồm hỗm trong hầm canh. Trên tôi là hỏa châu bắn lên lơ lửng tà tà bay xuống, Vừa đề phòng vừa căng thẳng, tim tôi đánh thùm thụp. Mắt tôi chốc chốc lại nhìn xuống cái mặt sáng của chiếc đồng hồ đeo tay; kim như không muốn chạy. Buồn ngủ muốn rụng mắt, tôi cựa quạy ngón chân trong bốt để khỏi ngủ. Chả gì xảy ra cho đến khi được thay phiên; – ngoài cái tiếng rần rộ ở bên kia. Dần dà chúng tôi bình tĩnh hơn đánh các tê xì phé suốt ngày. Có lẽ mình may chăng.

Chúng tôi tỉnh giấc giữa đêm. Mặt đất như muốn long. Hỏa lực trọng pháo rơi xuống chúng tôi. Chúng tôi nằm rạp vào các xó. Chúng tôi nhận rõ đạn đủ cỡ. Từ từ cái ánh sáng xam xám lọt vào hầm. Thằng nào thẳng nấy ôm chặt lấy đồ lề chốc chốc lại nhìn xem cho chắc có còn đấy không. Hầm hố rung chuyển, đêm tối gầm rú chởp loè. Chúng tôi nhìn nhau qua các làn chớp, mặt xauh mét môi mim chặt và lắc đầu.

Ai nấy đều biết các đạn nặng đang xé toac bờ lũy, đang nhổ tung các chân đê, đang tàn phả các lớp bê tông thượng tầng. Khi có quả rơi vào chiến hào, chúng tôi nhận thấy cái tiếng nổ oang oang cuồng nộ giống như cái táp của cái bàn chàn một con ác thú. Sáng ra đã có mấy chú tân binh xanh mét như tàu lá và mửa thốc mửa tháo. Họ còn non quá mà, và làm nhạt các làn chớp của bom đạn, Trời đã sảng, tiếng mìn nổ xen lẫn tiếng súng. Nghe mà phát điên lên được. Cả một vùng chúng đến viếng trở thành một cái huyệt. Toán thay phiên đi ra, toán quan sát đi vào, thất thểu, bẩn thỉu, run rẩy. Một anh nằm nín thinh trong xó, miệng nhai, anh khác, viện binh trừ bị, khóc sụt sịt, hai lần hắn bị sức nổ ném ra ngoài hào mà không sao chỉ chỉ có tức thở.

Bọn tân binh nhìn hắn. Chúng tôi phải canh chừng chúng, cái thứ này hay lây, có vài thằng đã mắp máy đôi môi. Cũng may mà là ban ngày, không chừng địch tấn công trước trưa.

Pháo kích không ngừng. Pháo rơi cả phía sau. Chỉ thấy những chòm bùn và thép. Một vòng đai rộng đang bị cào xé. Tắn công không thấy đến, nhưng pháo kích vẫn tiếp tục. Dần dà chúng tôi trở thành câm như hến. Chả thẳng nào mở miệng. Có nói cũng chẳng ai nghe ra. Chiến hào chúng tôi hầu như không còn. Nhiều chỗ thì chỉ còn chừng bốn tấc, toàn hang toàn hốc và hàng núi dất. Một quả rơi ngay trước vị trí chúng tôi. Tức thì tối mù. Chúng tôi bị vùi đất phải bới để ngoi ra. Một giờ sau cửa hào lại thông và chúng tôi cũng bình tĩnh hơn vì có việc phải làm.

Ông đại đội trưởng bò đến cho biết hai hầm bị tiêu. Thấy ông bọn tân binh cũng vững dạ. Ông nói người ta đang lo tiếp tế thực phầm tối nay. Nghe có vẻ ngon lành. Chả ai nghĩ đến ăn trừ thẳng Tjaden. Giờ thì cái thế giới bên ngoài như gần gũi hơn một chút, nếu còn tiếp tế được thực phẩm, bọn tân binh nghĩ, thì cũng chưa đến nỗi nào. Chúng tôi không muốn làm chúng thất vọng, chúng tôi biết ăn cũng cần như đạn và vì thế cần được tiếp tế. Nhưng không xong. Một toán thứ hai được phái đi, rồi cũng phải quay lại. Cuối cùng đến Kat đi thử và ngay cả bác cũng không làm được gì hơn. Không ai qua lọt, dù là một con ruồi nhỏ, cái hàng rào hỏa lực này.

Chúng tôi siết chặt thắt lưng và mỗi miếng nhai lâu hơn gấp ba. Tuy nhiên lương thực cũng chẳng được lâu. Chúng tôi đói cào ruột. Tôi lắy ra một miếng bánh, ăn cái ruột cất cái vỏ vào ba-lô, chốc chốc lại nhắm một tí.

Đêm không chịu nổi. Không tài nào chợp mắt, chỉ trố mắt nhìn trên đầu và chập chờn Tjaden tiếc là đã phí phạm những mẩu bánh chuột nhấm. Giờ có mà ăn phải thú biết may. Đã thế lại thiếu nước, nhưng cũng chưa đến nỗi nào. Về sáng khi trời còn tối, có sự nhốn nháo. Một đàn chuột tản cư đâm bổ vào như phá tường. Đèn pin bật tứ tung. Thẳng nào cũng hét cũng chửi cũng ra tay sát. Nhờ thế mà nhẹ được cái điên người, cái tuyệt vọng đè nén trong người suốt hàng bao nhiêu giờ dài đăng đẳng. Mặt nhăn nhó, cánh tay giáng xuống, bọn chuột kêu chút chít; chúng tôi vừa ngưng kịp đề tránh nện vào nhau. Cuộc tàn sát làm chúng tôi mệt lử. Chúng tôi lại nằm rình. Cũng là điều kỷ lạ là hầm chúng tòi cho đến giờ cũng chưa ai sao cả. Đây là một trong vài cái hầm sâu. Một chú cai bò vào,  mang theo một ổ bảnh. Trong đêm qua có người may mắn lọt qua mang theo ít lương thực, Họ bảo pháo kích liên miên sang đến tận tuyến trọng pháo. Không rõ dịch xoay đâu mà lắm pháo thế. Chúng tôi hết đợi lại đợi. Vào trưa, cái gì tôi chờ đợi đã xảy ra. Một chú tân binh lên kinh. Tôi để ý hắn đã lâu. Thấy hắn nghiến răng kèn kẹt, hai tay mở ra nắm vào. Đôi mắt khờ khạo trợn trừng, chúng tôi biết quá mà. Trước đó vài giờ trông hắn có vẻ còn bình tĩnh. Hắn ngã xuống cái đụi. Giờ hắn đứng lên, rờ rẫm bò qua hào, ngập ngừng một lát đoạn toan chuồi ra cửa, Tôi chận hắn lại bảo: «Đi đâu đấy? »

«Tòi trở lại ngay mà,» hắn nói, cố xô tôi ra.

«Đợi chút, pháo kích ngưng bây giờ.»

Hắn nghe ngóng một lúc mắt sáng ra. Nhưng rồi lại khờ khạo như con chó dại, hắn lẳng lặng gạt tôi ra bên.

«Này nhóc. tao bảo, » tôi nói. Kat nhìn thấy. Vừa lúc chú tân binh giầng co vởi tôi thì Kat nhảy lại và chúng tôi giữ chặt lấy hắn. Thế là hắn bắt đầu la hét: «Đề mặc tôi. Buông tôi ra, tôi đi đây! »

Hắn không chịu nghe gì hết, vung tay đánh tứ tung, miệng sùi bọt nói lăng nhăng, tiếng được tiếng chăng. Đúng là chúng sợ tù túng, hắn cảm thấy minh ở đây như bị ngạt thở và muốn thoát ra với bất cứ giá nào. Để hắn ra là hắn sẽ chạy vung tứ mẹt bất chấp bom đạn. Hắn đâu phải là thằng đầu. Mặc cho hắn mắt lơ lơ láo láo, biết làm sao được, chúng tôi đành phải giáng những đòn thật đau cho hắn tỉnh. Chúng tôi giáng là giáng không nương tay, rồi hắn mới chịu ngồi yên cho. Bọn kia tái mặt; mong rằng chúng ngán. Tội chúng quá, pháo kích như thế chúng sao chịu nổi, chân ướt chân ráo từ phòng tuyển mộ bị tống ngay ra hàng rào pháo kích, chúng chứ đến linh cựu cũng sợ đến bạc tóc. Sau cái vụ này, bầu không khí kín bưng đặc sệt làm chúng tôi thêm căng thẳng, Chúng tôi như ngồi dưới huyệt chờ được lấp lại. Bỗng lại hú lại chớp khủng khiếp, hầm kêu răng rắc dưới một quả rơi ngay trên đỉnh cũng may là quả nhỏ nên bê tông còn chịu nổi. Các tường rung chuyền, ughe leng keng, súng, mũ, đất, bùn, bụi bay tứ tung. Mùi thuốc súng tràn ngập vào.

Nếu phải là hầm như kiểu họ mới xây đây thay vì là cái hầm sâu này chúng tôi giờ hẳn đã chết không còn một mống. Nhưng không chết thi cũng mất vía. Thằng nhóc tân binh lại la hét và thêm hai thẳng khác cũng la theo. Một thẳng nhảy lên đâm đầu chạy ra, chúng tôi phải chật vật với hai thằng kia. Tôi chạy theo thằng chạy ra phân vân không biết có nên bắn vào cẳng nó không đây — và rồi lại tiếng rít, tôi nằm mình xuống và khi đứng lên tường hầm gắm đầy miễng khói đen, những mảng thịt, những mảnh đồng phục. Tôi bò lại. Thằng tân binh đầu hầu như điên loạn. Hắn húc đầu vào tường như một con dê. Đêm nay phải làm sao cho hắn về hậu phương. Giờ thì hãy trói hắn lại, nhưng trói cách nào đề lỡ có tấn công thì cởi được ra ngay.

Kat đề nghị chơi cắc tê: mải làm gì dễ chịu đựng hơn. Nhưng vô ích, chúng tôi lắng nghe từng tiếng nổ lại gần, lầm lẩn nước bải và không sao đánh tiếp. Chúng tôi đành chịu. Chúng tôi như thể ngồi trong một nồi xúp de sôi sùng sục bị tứ phía vần lộn. Lại đêm. Chúng tôi như ngây như dại vì thần kinh căng thẳng – một sự căng thẳng như chết nó cọ nó cạo lần theo xương sống mình như một con dao mẻ. Chân không muốn nhúc nhích, tay run rầy, người là một lớp da mỏng bị căng trên sự điên loạn dồn ép, trên một tiếng ầm gần như nổ tung không sao nén lại được. Chúng tôi không còn có thịt, có sức gì nữa, chúng tôi không dám nbìn nhau e xảy ra sự gì khôn lường. Chúng tôi cắn chặt răng – nó sẽ hết – nó sẽ hết — không chừng chúng tôi thoát.

Bổng các biếng nổ gần dứt. Bom đạn vẫn rơi nhưng đã bỏ chúng tôi để rơi sau chúng tôi. Chiến hào chúng tôi được giải tỏa. Chúng tôi nắm lựu đạn, tung ra trước hầm và nhảy theo. Pháo kích đã ngưng và giờ đây hàng rào hỏa lực rơi sau chúng tôi. Cuộc công kích đã đến. Không ai lại tưởng tượng được rằng trong cái tàn phá gầm thét này lại còn có người: nhưng giờ đây mũ sắt xuất hiện tứ phía ngoài chiến hào và cách chúng tôi năm chục thước một khẩu đại liên đã hờm sẵn và sủa ran.

Các hàng rào dây kẽm bị bắn tan nát. Tuy nhiên chúng vản còn là một trở ngại. Chúng tôi thấy các đội xung phong xông đến. Trọng pháo chúng tôi khai hoả. Các đại liên lạch tạch, các súng trường tắc tắc. Chúng tôi xông lên. Haie và Kropp bắt đầu bằng lựu đạn. Ném sao cho xa bết sức, bọn khác vượt lên họ, mở sẳn chốt. Haie ném bảy-lăm thước, Kropp sáu mươi, sức ném đã từng được đo, nén xa là điều quan trọng. Vì phải chạy địch quân chưa thề giở được trò gì trước khi đến trong vòng bốn chục thước. Chúng tôi nhận ra các mặt méo xệch, mũ sắt trơn: lính Pháp. Chúng cũng đã tổn thất nặng khi tiến đến những gì còn lại của các hàng kẽm gai. Cả một hàng gẫy gục trước các họng súng đại liên của chúng tôi, rồi chúng tôi vưởng phải bao nhiêu chướng lực và chúng đến gần hơn.

Tôi thấy một thắng, ngữa mặt lên, rơi vào một nôi dây kẽm. Người bổ nhào xuống, hai tay treo lơ lửng như thể đang cầu nguyện. Rồi người nó rơi đâu mất chỉ còn lại hai bàn tay với cánh tay trước bị bắn lia ra còn treo trên dây kẽm. Vừa lúc chúng tôi sắp sửa tháo lui ba bộ mặt từ đất ngước lên ngay trước chúng tôi. Dưới một chiếc mũ sắt một bộ râu nhọn đen với hai con mắt dán vào tôi. Tôi giơ tay, nhưng tôi không thề ném vào đôi mắt ấy, trong lúc rối loạn hoàn cảnh chém giết quay cuồng như vòng xiếc quanh tôi và chỉ hai con mắt kia là bất động, rồi là cái đầu trồi lên, một bàn tay, một cử động, và viên lựu đạn của tôi bay qua không trung vào ngay hắn. Chúng tôi rút lui, kéo các bổi dây gai xuống hào và gài bom sau mình có dây kéo, để rút lui cho oanh liệt. Các đại liên khạc nhỗ từ vị trí kế. Chúng tòi đã trở thành những con ác thú. Chúng tôi không chiến đấu, chúng tôi tự vệ chống diệt vong. Chúng tôi ném bom không phải vào các con người, chúng tôi còn biết gì là con người nào vào cái lúc này khi mà Tử Thần với những bàn tay với những mũ sắt đang săn giết chúng tôi – giờ đây, lần đầu tiên trong ba ngày chúng tôi mới được thấy bộ mặt nó, giờ đây, lần đầu tiên trong ba ngày chúng tôi mới được đương đầu với nó; chúng tôi lồng lên như điên. Chúng tôi không còn nắm bất lực, nằm chờ trên đoạn đầu đài nữa, mà chúng tôi được phá được giết, để tự cứu mình và để trả hận.

Chúng tôi phục sau từng xó, từng rào kẽm gai,và hàng đống chất nổ vào bước tiến của địch quân trước khi bỏ chạy. Sức nồ của đạn như xâm chiếm cánh tay và chân cẳng chúng tôi, co người như mèo chúng tôi chạy, với cái làn sóng kia nó lùa chúng tôi, nó nhồi hung bạo vào chúng tôi. Biến chúng tôi thành những quân côn đồ, sát nhân. Thành những giống quỉ gì chỉ có Thượng Đế biết; cái làn sóng nó tăng cường sức lực chúng tôi bằng sợ hãi bằng điên rồ bằng tham sống, đi tìm và chiến đấu không phải cho cái gì khác là sự giải thoát của mình. Nếu phải chính bố mình lại cùng đi với chúng chắc mình cũng chẳng ngần ngại gì mà không liệng một quả bom vào cụ. Các chiến lũy tiền phong đã được rời bỏ. Phải chăng đó còn là chiến lũy? Chúng đã bị phá vụn, tan tành-chỉ còn những mảnh chiến lũy, những hang hố nối liền bằng đường mòn, những ổ bom, thế thôi. Nhưng tổn thất địch gia tăng. Chúng không ngờ lại gặp phải một kháng lực mạnh mẽ như thế.

Đã gần trưa. Trời nắng như lửa đốt, mồ hôi chảy vào mắt, chúng tôi đưa tay áo lên quệt, đôi khi rớm máu. Mãi rồi chúng tôi đến một chiến hào có phần còn tốt. Có người chờ sẳn đề phản công, họ tiếp đón chúng tôi. Trọng pháo chúng tôi khai hết hỏa lực cắt đứt sức tấn công của địch. Các hàng sau chúng tôi dừng lại. Họ không thể tiến xa hơn, Cuộc công kích đã bị chúng tôi đánh tan. Chúng tôi ngóng nhìn. Hỏa lực giải tỏa một trăm thước và chúng tôi đánh thốc lên. Cạnh tôi một anh hạ sĩ bị trúng đầu. Anh chạy thêm vài bước trong khi máu từ cổ anh tuòn ra xối xả. Chưa đến nỗi nhảy đánh xáp lá cà; địch đã bị đẩy lui. Chúng tôi lại đến cái chiến hào nát bươm của chúng tôi và băng qua nó. A ha, sự trở lại này! Chúng tôi đến cái hầm trừ bị chỉ muốn chui vào ẩn luôn- nhưng thay vì thế chúng tôi lại phải đi vòng nó để dấn thân vào khủng khiếp. Nếu lúc đó chúng tôi không là người máy chúng tôi bắn đã nằm đại xuống đấy luôn rồi, kiệt lực và kiệt chí. Nhưng chúng tôi bị xô tởi, bất lực, điên cuồng tàn bạo; chúng tôi sẵn sàng giết vì chúng vẫn là kẻ thù không đội trời chung; súng chúng bom chúng nhắm vào chúng tôi, và nếu chúng tôi không tiêu diệt chúng thì chúng cũng tiêu diệt chúng tôi. Mặt đất nâu, cái mặt đất bị nổ bị xẻ, với một cái óng ánh mỡ màng dưới tia nắng: mặt đất là bối cảnh cho cái thế giới ảm đạm xáo trộn của những con người máy này, đầu óc chúng tôi xấu xa vì kinh khủng-chúng tôi dật dờ tiến bước và đào sâu trong tâm hồn tan tác của chúng tôi là cái hình ảnh quằn quại của mặt đất nâu với ánh nắng mỡ màng với những thẳng lính chiến lồng lộn chết chóc ngã gục nơi đây-biết làm sao được-những thằng nó khóc nó đeo lấy chân cẳng chúng tôi khi chúng tôi băng qua chúng nó. Chúng tôi đã mất hết tình cảm giữa con người. Chúng tôi không còn tự kềm chế được mình khi cái nhin lơ láo của chúng tôi soi vào hình dáng của một thằng người khác. Chúng tôi không còn cảm xúc, là những con người đã chết, không hiểu nhờ ở cái ma lực, ở cái phép ma quái nào, mà vẫn còn chạy nổi vẫn còn sức giết.

Một thằng nhóc Pháp lạc lại sau, bị bắt kịp, nó đưa hai tay lên, một tay còn cầm khẩu súng lục — hắn định bắn hay định hàng? một nhát sẻng đưa vào mặt. Một thẳng nữa thấy thế cố chạy xa hơn; một lưỡi lê đâm thủng lưng. Nó nhảy lên, hai cánh tay mở rộng, miệng bá hốc, hét lên: nó lảo đảo, trong lưng nó lưỡi lê rung rung. Một thằng thứ ba quăng súng, đưa hai tay che trước mắt. Nó được tống lại sau cùng với mấy thằng tù binh khác khiêng thương binh. Bỗng trong lúc lùa địch chúng tôi đặt chân lên chiến tuyến địch. Chúng tôi theo chúng bén gót đến nỗi đồng thời cùng đến với chúng. Nhờ thế chúng tôi bị tồn thất nhẹ. Một họng đại liên sủa, nhưng một quả bom làm câm họng. Tuy nhiên, sủa có hai giây cũng đủ chúng tôi năm thằng trúng bụng. Với báng súng Kat đập nát mặt một thẳng xạ thủ đại liên không bị thương. Chúng tôi dùng lưỡi lê thanh toán mấy thằng kia khiến chúng chưa kịp rút lựu đạn ra. Đoạn khát quá chúng tôi uống cái nước chúng dùng đề làm mát súng. Khắp nơi toán cắt dây gai lách cách, các ván được ném lên các bối dày, chúng tôi nhảy qua lỗ hẹp vào trong các chiến hào. Haic đưa bàn sẻng ngay cổ một tên Pháp không lồ và ném quả lựn đạn đầu tiên.

chúng tòi ần sau một bờ lũy chừng vài giây, thế là cả chiến lũy trước chúng tôi được thanh toán. Quả thứ hai vèo chéo frên góc dọn quang một lối đi: vừa chạy qua, chúng tôi vừa ném luôn mấy quả vào các hầm, mặt đất rung chuyền, đổ sụp; mỏi đừ, xương cốt  cứng đơ, chúng tôi trượt lên trượt xuốngnhững đống thịt bầy nhầy, trên những than hình bất lực, tôi ngã vào một cái bụng bị phanh ra với một chiếc mũ sĩ quan sạch sẽ mới toanh nằm trên. Trận đánh ngưng. Chúng tôi đã mất hút địch. Chúng tôi không thể ở lại lâu mà phải rút lui về ần dưới sự bảo vệ của trọng pháo đề trở lại vị trí. Vừa biết thế là chúng tôi nhào vào các hầm gần nhất, vội vã vơ vét bất cứ thứ lương thực nào mình thấy, nhất là các bộp thịt bò và bơ, trước khi tháo lui. Chúng tôi tháo lui yên lành, Địch không còn cựa quậy. Chúng tôi nằm thở lấy sức một tiếng đồng hồ rồi mới mở miệng nói. Chúng tôi mệt đến nỗi bụng thì đói mà không nghĩ đến ăn. Rồi từ từ chúng tôi lại trở lại một cái gì gọi là con người. Thịt bò hộp của địch nồi tiếng khắp mặt trận. Đôi khi đó cũng là lý do chính chúng tôi đi đánh úp, vì thức ăn của chúng tôi thường dở tệ; chúng tôi lúc nào cũng đói. Chúng tôi cho năm hộp vào một bao. Tụi lính địch được chăm sóc chu đáo, đối với chúng tôi hầu như là cả một sự xa xỉ khi mình bị đói hành mà chỉ ăn toàn mứt củ cải, còn thịt thì chưa sờ đến đã biến. Haie vớ được một ổ bánh mì Pháp nhỏ dài giắt vào sau thắt lưng trông như cán sẻng. Một đầu có dính tí máu nhưng cắt bỏ chả sao. Mãi được chút gì ăn khoái khẩu kể cũng thú, chúng tôi cần có sức. Có đủ ăn cũng quan trọng như một hầm trú tốt: cũng cứu sống mạng mình; vì thế mà chúng tôi thèm, Tjaden đoạt được hai bi đóng đầy cô nhắc. Chúng tôi chuyền tay nhau tu.

Cái sung sưởng của đêm tối bắt đầu.  Đêm đến, từ cái hang hốc, sương mù dâng lên. Tróng như thể các lỗ đầy bí mật ma quái. Lớp hơi trắng quằn quại bò quanh trước khi nó len lén leo lên bờ. Rồi là kéo dài từ hang này đến hốc khác. Trời lạnh buổt. Tôi đứng gác soi mắt  vào đêm tối. Sức tôi kiệt như mỗi lần sau một cuộc tấn công, nên có một mình vởi các ý nghĩ của mình lại càng thiểu não. Đúng ra chẳng phải là ý nghĩ, mà là những ký ức trong phút kiệt lực quay về với gia đinh vàlàm tôi xúc động lạ kỳ. Ánh sáng hóa châu tung lên và tôi thấy một hình ảnh, một chiều hè, tôi đứng  trong vườn nhà thờ nhìn những cây hồng lớn đầy hoa giữa ngôi vườn nhỏ, nơi chốn các tu sĩ. Chung quanh tường có những tấm đá chạm các Giai đoạn của Thập tự. Không một bóng người. Trong khu đất vuông nở hoa này yên tĩnh lạ, ánh nắng nằm ấm áp trên các tấm đá nặng xám, tôi đặt tay lên đá và cảm thấy ấm áp. Bên góc tay phải tháp chuông nhà thờ vươn lên trời xanh nhợt buổi chiều. Giữa các hàng cột rọi nắng của ngôi vườn là cải tối lạnh mà chỉ các nhà thờ mới có và tôi đứng đó tự hỏi, khi mình hai mươi tuổi, phải chăng mình sẽ biết thế nào là các rung động đẻ mê của tình yêu.

Hình ảnh gần quá đi mất,  nó cham ngườitôi trước khi nó tan biến dưới ánh sáng củamột đạn hỏa châu khác.

Tôi cầm lấy súng xem có sẵn sàng không. Nòng ướt, tôi cầm lên lấy ngón tay chùi hơi ẩm. Giữa các đồng cỏ sau thị trấn tôi có một hàng bạch dương đứng hên giòng sông. Đứng xa cũng trông thấy và mặc dầu chỉ mọc một bên bờ, chúng tôi gọi đó là đại lộ bạch dương. Ngay khi còn nhỏ chúng tôi đã rất thích mấy cây này, chúng hấp dẫn chúng tôi lại đấy, chúng tôi trốn học suốt ngày lãng vảng quanh chúng nghe chúng rì rào. Chúng tôi ngồi dưới chúng bên bờ sông, buông chân lơ lửng trên mặt nước sông, giòng chảy xiết. Nước thơm trong gió du dương trong lá làm chúng tôi thích thú. Chúng tôi yêu chúng vô cùng và hình ảnh những ngày ấy vẫn còn làm tim tôi ngừng đập. Kề cũng lạ, tất cả những ký ức đến với ta đều mang hai tính chất. Khi nào chúng cũng hoàn toàn êm ả, đó là đặc tính trước tiên của chúng và ngay cả khi không thực sự êm ả, chúng cũng trở thành êm ả. Chúng là những hình ảnh tĩnh lặng ngỏ lời với ta, bằng những cái nhìn, bằng những cử chỉ, không một lời và chính vì cái đáng ngại của sự im lặng của chúng buộc tôi phải nắm vững lấy ống tay tôi lấy súng tôi e tôi tự buông thả mình cho cái giải phóng và cái cảm dỗ trong đó thân xác tôi sẽ nở ra từ từ biến vào cái sức mạnh âm thầm nằm sau cac sự vật này. Chúng tĩnh lặng như vậy. Vì giờ đây đối với chúng tôi tĩnh lặng không tài nào đạt được. Tại mặt trận làm gì có tĩnh lặng và cái bất hạnh của mặt trận đi xa đến nỗi chúng tôi không bao giờ vượt qua được nó. Ngay cả trong các trại và các khu nghỉ ngơi hẻo lánh tiếng vù vù ầm i của pháo kích khi nào cũng văng vẳng bên tai chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ đi xa được đến mức không còn nghe thấy nó nữa. Nhưng mấy ngày hôm nay nó trở thành không sao chịu nỗi.

Sự tĩnh lặng của chúng là lý do tại sao các ký ức này của các thời đã qua không thức tỉnh được ham muốn bằng là đau buồn một nỗi hoài bí kỷ lạ, khó hiểu. Có dạo chúng tôi đã có những ham muốn như thế – nhưng chúng không còn trở lại. Chúng đã thành quá khứ, chúng thuộc về một thế giới khác nó đã xa rời chúng tôi. Ở trại chúng khêu gợi một sự khao khát điên cuồng ngang ngược mong chúng trở lại; vì lúc đó chúng còn ràng buộc với chúng tôi. Chúng tôi còn thuộc vào chúng và chúng còn thuộc vào chúng tôi, mặc dầu rằng chúng tôi đã xa vắng chúng. Chúng bộc lộ trong những bài ca của lính mà chúng tôi khi đi giữa ánh lờ mờ của bình minh và các bóng đen của các khu rừng để thao dượt trên các đầm lầy, chúng là một sự hồi tưởng mạnh mẽ ở trong chúng tôi và đến từ chúng tôi.

Nhưng ở đây,  cở các chiến hào, đối với chúng tôi chúng đã hoàn toàn mất. Chúng không trổi dậy nữa,  chúng tôi đã chết vào chúng đứng tách ra ở chân trời, chúng là một bóng ma, một phần ảnh huyền bí lôi kéo chúng tôi về nhà mà chúng tôi sợ và yêu vô vọng. Chúng mãnh liệt và lòng ham muốn của chúng tôi cũng mãnh liệt nhưng chúng không thể nào đạt được, và chúng tôi biết thế. Và dù ngay cả các cảnh tượng này của tuổi trẻ chúng tôi có được trả lại cho chúng tôi chăng nữa chúng tôi cũng chẳng biết làm gì với chúng. Cái ảnh hưởng kín đáo êm đềm nó từ chúng chuyển vào chúng tôi cũng không thể trổi dậy được nữa. Chúng tôi khao khát được ở trong chúng được cử động trong chúng, chúng tôi khao khát được nhớ được yêu chúng và được rung động khi thấy chúng. Nhưng cũng giống như thể ngắm nhìn cái hình của một anh bạn đã chết, kia là các nét mặt của hắn, kia là mặt của hắn và những ngày chúng tôi cùng sống với nhau mang một một đời sống sầu  thảm trong ký ức, nhưng chính con người kia thì không. Chúng tôi không bao giờ có thể, cũng vẫn là những con người xưa, lại tham dự vào các cảnh tượng kia nữa. Chẳng phải sự thừa nhận rằng chúng đẹp và chúng quan trọng gì đó đã hấp dẫn chúng tôi, nhưng mà là sự cảm thông, cái tình bạn với những sự vật và biến cố của đời sống chúng tôi đã tách rời chúng tôi ra khỏi cái thế giới của cha mẹ chúng tôi và làm cái thế giới này thành một cái gì mà chúng tôi không hiểu nồi – vì lúc đó chúng tôi đã đầu hàng các biến cố và chìm lỉm trong chúng và chỉ một sự vật nhỏ bé nhất cũng đủ đưa chúng tôi xuống giòng vĩnh cửu. Có lẽ đó chỉ là cái đặc hiệu của tuổi trẻ chúng tôi, nhưng là cái thực hiệu mà chúng tôi chưa thừa nhận có giới hạn nào và chưa thấy đến đâu là kết thúc. Chúng tôi có trong huyết mạch cái hồi hộp đợi chờ kia nó kết hợp chúng tôi với đường hướng của thời đại chúng tôi. Hòm nay chúng tôi dạo qua các cảnh trí của tuổi trẻ chúng tôi như những khách du hành. Chúng tôi bị các thực tại phũ phàng thiêu đốt; như những nhà buôn, chúng tôi hiểu rõ các sự phân biệt và như những hàng thịt, chúng tôi hiểu các sự cần thiết. Chúng tôi không còn vô tư nữa – chúng tôi thờ ơ. Chúng tôi khao khát được đến đấy, nhưng liệu ở đấy chúng tôi có sống nổi không?

Chúng tói bơ vơ như trẻ thơ và dày dạn như người già, chúng tòi sổ sàng và đau khổ và hời hợt – tôi tin rắng chúng tỏi đã lạc loài.

Tay tôi lạnh ngắt và da tôi nồi gai, tuy nhiên đêm hôm nay ấm áp. Chỉ có sương mù là lạnh, cái sương mù bí mật nó theo chân các người chết trước mặt chúng tôi và mút lấy cái sinh lực dật dờ còn sót lại của họ. Sáng ra họ sẽ trắng bệch và xanh lè và máu họ đông lại đen đặc.Hỏa châu vẫn tung lên vẫn tỏa cái ánh sáng soi bỏi ác nghiệt của chúng lên cái cảnh vật cằn cỗi, đầy hố bom đầy ánh sáng đông lạnh như một mặt trăng. Máu dưới da tòi đưa lại sợ sệt và hoang mang vào trong tư tưởng tôi. Chúng trở thành yếu đuối và run rẫy, chúng khao khát ấm cúng khao khát sống. Chúng không thể chịu đựng mà không có cảm tình và thông cảm, chúng hổn loạn trước cái hình ảnh trần truồng của tuyệt vọng. Tôi nghe tiếng cà mèn lạo xạo và tức thì thèm được ăn cải gì nong nóng; ăn vào chắc khoẻ và lấy lại tinh thần phần nào. Đau khổ tôi cố đợi cho đến khi được thay phiên.

Bọn tôi đi vào hầm tìm một ca cơm mạch. Nấu có bỏ mỡ, ăn ngon ra phết, tôi thong thã nhai. Tôi im lặng, mặc dầu mấy tay kia có vẻ phởn phơ hơn, vì tiếng pháo kích cũng đã dịu dần.

Ngày này qua ngày khác đến và các giờ giấc không thể tưởng tượng được nối đuôi nhau như chuyện chẳng đừng. Tấn công xen lẫn phản công và chậm rải các người chết chồng chất nhau trên cánh đồng hang hốc giữa các chiến lũy. Chúng tôi đã cố lôi vào những người bị thương không nằm quá xa. Nhưng phần nhiều phải chờ đợi lâu nên chúng tôi phải nghe họ hấp hối. Có một anh chúng tôi ra công tìm hai ngày trởi mà không ra, Anh ta chắc phải nằm sấp nên không quay ngược lại được. Bằng không khó mà hiểu nổi tại sao chúng tôi lại không tìm ra: vì chỉ khi nào người ta sát miệng vào mặt đất mới không tài nào nhận hướng được tiếng kêu của họ. Anh ta cũng bị trọng thương, một thứ vết thương độc địa trông thì không nặng đến nỗi làm kiệt lực thân xác ngay và người ta mơ mơ màng màng nửa mê nửa tỉnh, nhưng cũng không phải nhẹ để người ta chịu đựng cái đau và mong lại được bình phục. Kat cho rằng anh ta một là bị gãy xương hông hai là bị bắn lủng xương sườn. Chắc chắn không phải bị thương ở ngực, vì nếu thế đàu còn đủ sức mà kêu. Còn nếu phải vết thương nào khác thì đã có thể thấy anh ta ngoi ngóp. Tiếng anh càng ngày càng khàn. Giọng nghe tuyệt vọng đến nỗi không đâu không nghe. Đêm đầu vài thằng chúng tôi ra ba lần để tìm anh ta. Nhưng khi tưởng đã định hướng được anh ta và bò tới thì lại nghe anh ta hình như ở chỗ nào khác kìa. Chúng tôi tìm cho đến tảng sáng mà không ra. Suốt ngày chúng tôi ngắm ống nhòm khắp khu đồng, nhưng chẳng thấy gì cả. Sang ngày thứ hai tiếng kêu yếu dần, là vì môi và miệng đã khô. Ông đại đội trưởng hứa cấp giấy phép đặc biệt phụ thêm ba ngày cho thằng nào tìm ra. Thật là hấp dẫn, nhưng chẳng hứa thì chúng tôi cũng vẫn tận lực tìm, vì nghe tiếng anh ta kêu mà rởn gáy. Kat và Kropp còn mạo hiểm lùng cả buổi chiều và Albert bị bắn cụt tai cũng vì thế. Công toi, hai anh trở về tay không. Anh ta kêu gì thì cũng dễ hiểu. Thoạt đầu anh ta cầu cứu – đêm sau anh ta hẳn mê sảng, gọi vợ gọi con, chúng tôi thường nghe ra cái tên Elise. Hôm nay thì anh ta chỉ khóc. Tối đến giọng nhỏ dần chỉ còn nghe khục khục. Nhưng kéo dài suốt đêm, Chúng tôi nghe rõ mồn một vì gió tạt về phía chúng tôi. Sáng ra chúng tôi tưởng đâu anh đã an giấc ngàn thu, thế mà vẫn còn nghe anh khục khục nghẹn ngào. Trời nóng bức mà các người chết lại không được chôn. Chúng tôi không thể đưa họ về hết. Vi đưa về để rồi làm gì đây. Đành để cho bom đạn vùi họ vậy. Nhiều người bụng phình như quả bong bóng. Họ rít, họ rống, họ dãy dụa. Hơi trong bụng chuyển nghe ầm ầm. Trời xanh không mây. Tối đến oi ả, hơi nóng bốc từ đất lên. Khi gió thổi ngang, nó đưa theo mùi máu, nặng nề và ngòn ngọt. Hơi chết xông lên từ các hố đạn hình như pha lẫn mùi thuốc mẻ và mùi rửa thối khiến chúng tôi lộn mửa, khạc chẳng ra nuốt chẳng vào. Các đêm sau yên tĩnh và chúng tôi bắt đầu đi lùng các đai đồng cùng các dù lụa của hỏa châu Pháp. Tại sao người ta lại thích đai đồng chả ai hiểu rõ. Mấy thẳng đi nhặt chỉ biết là chúng có giá thể thôi. Nhiều thằng nhặt nhiều đến nỗi khi trở về đi khòm cả người. Nhưng mãi sau Haie đưa ra một lý do. Nó định tặng con bạn gái nó để đeo bắp chân, Nghe thế bọn Friesian cười ầm. Họ vỗ đùi khoái trá: « Mèng đéc, thẳng Haie thế mà khôn, thông minh quá xá,» Nhất là Tjaden ta thú vị khôn tả; chốc chốc lại cầm chiếc đai nào lớn nhất xỏ vào bắp vế mình đề xem còn rộng đến chừng nào.

«Này Haie, nàng chắc phải có đôi bắp vế như là, đôi bắp vế — » hắn nghĩ đến cái gì to bự «và chà, mông cô em hẳn phải như là – như là mông voi! »

Haie hớn hở, hảnh diện là con bồ của mình lại được tán thưởng nhiệt liệt đến thế. « Nó ngon không chê được, » nó nói vẻ tự mãn. Còn dù thì được sử dụng thực tế hơn. Theo cỡ ngực thì ba cái hay quá lắm là bốn cái đủ may chiếc áo. Kropp và tôi dùng làm khăn mù-soa. Mấy thằng khác gửi về nhà. Nếu mấy bà mà lại biết mấy cái mãnh giẻ này đôi khi đã phải vào sanh ra tử thế nào mới nhặt được, họ chắc phải kinh hoảng.

Kat bắt chợt Tjaden đang thản nhiên tháo đai một viên đạn không nổ. Phải ai mà làm thế không chừng nó đã nổ, nhưng Tjaden khi nào cũng là thằng số đỏ. Một buổi sáng hai con bươm bướm đùa giỡn trước chiến hào chúng tôi. Cánh vàng đốm đỏ. Chúng bén mãn đến đây để mà kiếm gì kia? Không có lấy một cây, không có lấy một cái hoa kề hàng bao dặm. Chúng đậu lên hàm răng một chiếc đầu lâu. Cả chim nữa cũng nhởn nhơ, chúng đã từ lâu làm quen với chiến tranh. Sáng nào, sơn ca cũng đến từ vùng Cấm Địa, chả hiều để làm gì. Chúng béo ra; mỗi khi thấy con nào, chúng tôi cũng bông đùa về nó. Đêm đến chúng tôi nghe tieng rần rộ sau các chiến tuyến địch. Suốt ngày chỉ là pháo kích thường lệ, nên chúng tôi có thì giờ sửa lại chiến lũy. Lúc nào cũng có trò giải trí, đã có các phi công. Ngày nào cũng tha hồ ngắm họ đánh nhau trên không đếm không xuề.

Máy bay chiến đấu không làm chúng tôi ngại, nhưng máy bay trinh sát thì chúng tôi ghét như hủi, đề chúng thấy là ăn pháo kích. Chúng chỉ xuất hiện chừng hai phút là bom đạn rơi lên đầu. Cỏ ngày chúng tôi thiệt mất mười một mạng cũng chỉ vì thế, trong số có năm anh phu cáng. Hai anh bị nát nhừ khiến Tjaden nói có thể lấy thìa cào họ ở vách hầm ra và chôn họ trong một cái cà mèn. Một anh khác bị đứt nửa dưới người và hai chân. Chết, ngực tựa vào bên chiến hào, mặt vàng như chanh, còn ngậm điếu thuốc lá đang cháy. Cháy cho đến khi tít trên môi anh. Chúng tôi đặt mấy người chết vào một hố bom lớn. Đến nay thể là ba lớp; lớp trên đè lớp dưới.

Bỗng pháo kích lại bắt đầu giáng xuống. Chả mấy lúc chúng tôi lại ngồi một lần nữa thức thâu canh với cái căng thẳng cứng đờ tiên liệu không không. Tấn công, phản công, xung kích, đẩy lui – đó là những tiếng nhưng ngụ ý biết bao nhiêu chuyện! Chúng tôi tổn thất khá nặng, phần lớn là tân binh. Viện binh lại được phái đến khu vực chúng tôi. Một trong số các đại đoàn mới toàn những thanh niên mới gọi nhập ngũ hồi năm ngoái. Tập dượt chả được bao, bị đưa ra mặt trận vởi một kiến thức lý thuyết. Đành rằng biết lựu đạn là cái gì, nhưng chẳng biết tí gì về ẩn nấp và quan trọng hơn hết, là thiếu hẳn mắt tìm ẩn nấp. Một nếp đất phải cao đủ nửa thước họa chúng mới thấy. Mặc dầu cần được viện binh, nhưng bọn tân binh hầu như còn làm vướng chúng tôi hơn là được việc gì cho chúng tôi. Ở cái khu vực tác chiến cam go này, họ quả thật vô tích sự, và rụng như sung. Cái lối đánh từ vị trí hiện nay đòi hỏi cả kiến thức lẫn kinh nghiệm một anh linh chiến phải cảm quan được hình thù chiến địa, tai phải phân biệt được âm thanh và tính chất của các bom đạn, phải biết quyết định trước chúng sẽ rơi đâu. Chúng sẽ nổ ra sao và làm sao để ẩn nấp phòng chúng. Bọn tân binh nhóc dĩ nhiên chẳng biết tí gì về những điều nàv. Sở dĩ chết cũng chỉ vì không phân biệt được thế nào là đạn nổ ria hay đạn nồ phá, sở dĩ bị lia hàng loạt cũng chỉ vì lo nghe ngóng các tiếng gầm của các đạn nặng rơi tận xa mãi sau và quên cái tiếng léo xéo lạch tạch nhỏ nhẹ của các liên thanh bắn thấp. Chúng tụ vào nhau như đàn cừu thay vì là tản ra, nên ngay cả những kẻ bị thương cũng bị phi cơ rỉa như thỏ.

Mặt trắng bệch như củ cải, tay nắm chặt trông đến tội, cái can đảm thiểu não của tụi nhóc, các cuộc xung phong tấn công của mấy thẳng anh dũng cà lơ này, chết khiếp đến nỗi không dám khóc to, má hốc hác, bụng, tay, chân xây xát chỉ thút thít gọi mẹ và ngưng bặt khi người ta nhìn mình. Gương mặt hốc hác, thiểu não, gương mặt chết của chúng trông vô hồn như những thằng bé đã chết. Minh nghẹn ngào nhìn chúng lâm trận, rồi chạy rồi gục. Thấy mà muốn va vào đít, chúng ngu quá đi mất, muốn túm chúng lôi đi khỏi cái nơi này mà chúng không được cái tích sự gì. Chúng cũng mặc áo xanh quần xanh cũng đi bốt, nhưng phần lớn đồng phục quá rộng quá dài, ống quần lùng bùng, ống tay lùng bùng, vai chúng quá hẹp, người chúng quá thon; có đời thuở nào binh phục được may theo kích thước trẻ con bao giờ. Khoảng từ năm đến mười thẳng tân binh gục mới có một tay lính cựu gục.

Một trận tấn công hơi ngạt bất ngờ đã khiến chúng bao thằng mất mạng. Chúng chưa được học hỏi phải làm sao. Chúng tôi thấy một hầm đầy nhóc, đầu tím môi đen. Có thằng nâm trong hố đạn vội gỡ mặt nạ quá sớm chúng không biết rằng hơi ngạt nằm trong lỗ phải lâu đi nhất, vừa thấy người ta ở trên tháo mặt nạ là ở dưới mình cũng tháo thế là nuốt đủ liều để rồi cháy phổi. Tình trạng chúng thật vô phương cứu thoát, chỉ còn hộc máu và nghẹt thở rồi là ngủm.

Tại một chiến hào, tôi bỗng chạm trán Himmelstoss. Chúng tôi cùng lao mình vào một hầm. Thở không ra hơi chúng tôi nằm cạnh nhau chờ xung phong. Khi chạy ra, mặc dầu đang bừng bừng dũng khí, tôi chợt nghĩ:

«Ủa, thẳng cha Himmelstoss đâu kìa? » Tôi vội nhảy trở lại xuống hầm thì thấy lão chỉ có trầy da chút đỉnh mà nằm vào xó giả vờ bị thương. Mặt hắn trông thờ thẩn. Hắn hoảng; hắn cũng lại là tay mơ. Nhưng nghĩ đến bọn tân binh đang phanh ngực ngoài kia mà hắn lại chui rúc ở đây, tôi điên tiết. «Ra ngay» tôi quát giọng khinh miệt. Hắn không nhúc nhích, đôi môi run rẩy, râu mép rung theo.

«Ra!» tôi lặp lại.

Lão đứng lên, quị xuống theo bờ tường; răng nhe như con chó gầm gừ. Tôi túm cánh tay lão lôi đi. Lão sủa.

Tức quá, tôi nắm cổ lão lắc như rũ bị, đầu lão lắc lư. «Mày đồ giá áo túi cơm, mà có ra ngay không – đồ chó săn, đồ vô liêm sỉ, có ra ngay không thì bảo? » Mắt lão thờ thẫn, tôi giáng đầu lão vào vách – «Đồ hèn nhát» – tôi đá hông lão – «Đồ chó đẻ» — tôi xô lão ra cửa và túm đầu lão dúi đi trước.

Một làn sóng tấn công khác vừa lên đến nơi. Có một Trung úy chỉ huy. Thấy chúng tôi ông hô: «Tiến lên, tiến lên, vào hàng, cùng tiến. » Và lời hò công hiệu hơn là các đòn của tôi. Himmelstoss nghe lệnh, nhìn quanh như thề hồi tỉnh và cùng bước.  Tôi theo sau nhìn hắn bước. Một lần nữa hắn lại là Himmelstoss lỗi lạc sân tập; bắn còn vượt lên cả ông Trung úy và còn xa hơn nhiều là khác. Pháo kích, bắn chặn, màn hóa lực, mìn, hơi ngạt, xe tăng, đại liên, lựu đạn – danh từ, toàn danh từ, ấy thế mà làm thế giới kinh hồn thất đảm.

Mặt chúng tôi đóng vẩy, đầu óc chúng tôi tan hoang, chúng tôi phải đấm phải thụi huỳnh huych lắm thằng mới hoàn hồn theo chúng tôi – mắt rát bỏng tay xây xát, đầu gối rướm máu, khuỷu tay trầy trụa. Bao lâu rồi nhĩ ? Mấy tuần – mấy tháng – mấy năm? Chỉ biết có ngày. Chúng tôi nhìn thời gian đi qua trong các khuôn mặt nhợt nhạt của những kẻ hấp hối, chúng tôi nhồi thức ăn vào mình, chúng tôi chạy, chúng tôi ném, chúng tôi bắn, chúng tôi giết, chúng tôi nắm bạ đâu nắm đó, chúng tôi yếu đuối kiệt lực và không gì ủng hộ chúng tôi ngoài điều biết rằng còn có những kẻ yếu hơn, kiệt lực hơn, còn có những kẻ bất lực hơn, mắt trợn trừng, nhìn chúng tôi như những vị thần đã bao lần thoát chết. Trong những giờ xả hơi, chúng tôi chỉ dẫn họ. «Kia, nhìn cái đầu ve vầy kia? Đạn súng cối đang đến. Ngồi yên, nó chỉ bay qua. Nhung nếu nó đến thẳng mình thì chay ngay. Đạn súng cối thì chạy thoát. »

Chúng tôi tập họ thính tai nghe cái tiếng rì rào khó nhận mà thâm độc của các loại đạn nhỏ không phải dễ phân biệt. Phải tập nhận cho ra cái tiếng vù vù như tiếng côn trùng của chúng trong cái ầm ầm long trời lở đất – chúng tôi giảng giải cho họ biết rằng những loại này còn nguy hiềm gấp bội các đạn lớn có thể nghe tiếng trước khá lâu, Chúng tôi chỉ bảo họ phải ẩn máy bay như thế nào, phải thúc đẩy một tay chết khiếp như thế nào khi mình bị tấn công tràn ngập, phải tí nh lựu đạn thế nào để nổ nửa giây trước khi chấm đất; chúng tôi dạy họ ném mình vào hố nhanh nbư chớp các đạn nổ mau, chúng tôi bày họ cách thanh toán một chiến hào bằng một nắm bom, chúng tôi giải thích sự khác biệt giữa mổi bom địch và bom mình dài ngắn hơn nhau thể nào: – chỉ họ đủ mọi bí quyết để thoát chết. Họ chăm chú nghe, họ dễ bảo – nhưng khi hữu sự, họ cuống cuồng, thế là làm sai ráo. Haie Westhus lết bước với một vết thương lớn sau lưng phập phồng theo hơi thở. Tôi chỉ biết siết tay nó; «Lúa rồi. Paul à, » nó rên rỉ và cắn cánh tay vì đau chịu không thấu.

Chúng tôi từng thấy có người vẫn sống với sọ vỡ trông thấy óc: chúng tôi thấy những thẳng lính chạy với hai bàn chân cụt, lảo đảo hai ổng chân nát lăn xuống hố bom gần đấy: một anh hạ sĩ bò bằng hai tay hàng dặm rưỡi lê đôi đầu gối nát nhừ sau mình; một thằng đi đến trạm cứu thương hai tay nắm ruột thòng lòng: chúng tôi thấy những thằng không mồm, không hàm. không mặt: chúng tôi thấy một thằng răng cắn chặt động mạch của cánh tay mình suốt hai tiếng đồng hồ đề khỏi mất máu, để khỏi chết. Mặt trời lặn, đêm đến, đạn vèo vèo, sự sống tàn tạ. Mãnh đất cỏn con quằn quại trong đó chúng tôi nắm vẫn còn giữ vững. Chúng tôi đã nhường không đầy vài trăm thước cho địch với cái giá chúng đã phải trả. Nhưng trên mỗi thước lại có một thằng nằm chết.

Chúng tôi được thay phiên. Bánh xe lăn dưới chúng tôi, chúng tôi đứng thẫn thờ và mỗi khi nghe «Dây thép – coi chừng», chúng tôi lại chùn gối xuống. Khi ra đây là đang hè, cảy cối còn xanh, giờ đã sang thu và đêm xám lạnh. Xe dừng, chúng tôi leo ra – Một đống hỗn độn, một mớ còn lại của bao nhiêu tên, Hai bên bờ đường người đứng, đen, gọi lên số liên đoàn, đại đội. Mỗi tiếng gọi lại một nhóm nhỏ đứng tách ra, lơ thơ vài thẳng lính xanh xao bần thỉu, đến là lơ thơ, một số sót lại đến là lơ thơ. Có người gọi số đại đội chúng tôi, ông đại đội trưởng thì phải, cả ông nữa, cũng mang thành tích, một cánh tay đeo băng. Chúng tôi đi lại ông và tôi nhận ra Kat và Albert; chúng tôi đứng với nhau, tựa vào nhau, và nhìn nhau. Và chúng tôi nghe số đại đội chúng tôi gọi đi gọi lại. Cho ông tha hồ gọi, từ các bệnh viện các hố bom, họ làm sao nghe ông gọi đây! »

Và rồi nhỏ hơn: «Đại đội Hai không còn ai à? »

Ông im lặng, đoạn nghẹn giọng òng nói:

«Có thế thôi à? và ra lệnh: «Số 1»

Buổi sáng trời xám, khi ra đi còn hè và chúng tôi cả thảy trăm rưởi thằng. Giờ chúng tôi rét run, đang độ thu, lá xào xạc, các giọng cất mệt mỏi: «Một – hai – ba -bốn! » và đến băm-hai là hết. Rồi một hồi im lặng, rồi một giọng hỏi. «Còn ai nữa không? » và chờ và rồi nói nho nhỏ: «Sắp thành đội – và rồi nghẹn ngào và chỉ còn nói được: «Đại đội Hai -» một cách khó khăn: «Đại đội Hai – thủng thẳng bước! »

Một hàng, một hàng ngắn, nặng nề bước trong sáng sớm.

Băm hai thằng.

Thiết Kỵ Binh. Chậm… Là Chấm Hết.

dongsongcu.wordpress.com

Posted on April 3, 2026 by dongsongcu

Trích đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 9 Apr 2026

Hình minh hoạ của facebook.com/liem.pham.806140

Không có chuyện “chậm”.

Chỉ có ổn định, và giết.

Trong chiến tranh thiết giáp, ai tưởng chậm là yếu… thì người đó chưa từng nghe tiếng xích sắt nghiền nát mặt đất, chưa từng ngồi trong một khối thép nặng hàng chục tấn, đang tiến thẳng vào hỏa lực đối phương.

Binh chủng Thiết giáp QLVNCH không tiến lên để phô trương.

Họ tiến lên để kết thúc.

Đông Hà 1972, nơi khối thép đối thoại bằng lửa. Bầu trời không còn màu xanh. Nó bị hun đen bởi pháo, bởi bom, bởi những cột khói bốc lên không dứt. Tưởng chừng như ngày Tận thế.

Đất dưới xích xe không còn là đất.

Nó rung — giật — nứt — như thể có một con quái vật khổng lồ đang trở mình bên dưới. Và rồi… Chúng xuất hiện.

Những chiếc M48 Patton của Thiết kỵ VNCH.

Không lao lên.

Không gấp gáp… Chúng áp tới. Xích sắt nghiền lên đường vỡ, nghe như tiếng xương gãy.

Động cơ gầm trầm, không gào thét, mà đe dọa.

Không có tiếng hô xung phong.

Không có khẩu hiệu.

Chỉ có một thứ duy nhất:

Ý chí tiến tới, bất chấp mọi giá.

Khi đối diện, không còn là chiến thuật nữa. Qua làn khói đặc quánh, bóng đen thấp lì hiện ra. T-54. Thấp hơn. Gọn hơn. Nhưng lì như đá.

Hai bên nhìn thấy nhau.

Không cần ra lệnh dài dòng.

Trong lòng chiếc M48, không khí đặc quánh như trong quan tài.

Nóng.

Ngột.

Khó thở.

Trưởng xa nói, giọng khàn đặc:

— “T-54… 400.”

Pháo thủ không trả lời ngay.

Anh đang nhìn qua kính ngắm. Không phải nhìn một chiếc xe. Mà nhìn thứ sẽ giết mình nếu chậm một nhịp.

— “…Thấy.”

— “Bắn.”

Phát đạn không có lần hai

ĐOÀNG!!!

Cả thân xe giật nảy.

Âm thanh dội ngược vào trong, ép dội lồng ngực

Viên đạn xuyên qua khoảng không… đập vào thân T-54.

Trúng.

Nhưng… Nó không dừng. Nó vẫn tiến.

Chậm.

Đều.

Lì lợm.

Khoảnh khắc hiểu ra, hoặc chết

— “…Nó chưa cháy.”

— “Nạp!”

Tay nạp đạn không run vì sợ.

Nó run vì biết rõ: Chỉ còn một cơ hội.

Cái giá của một nhịp chậm

ẦM!! Chiếc M48 phía sau trúng đạn. Không phải kiểu nổ lớn. Chỉ là, một luồng lửa phụt ngang thân xe, rồi khói đen phun lên như ống khói địa ngục.

Trong máy truyền tin:

— “Xe sau… cháy…”

Không ai trả lời.

Không ai quay lại. Trong chiến xa, quay đầu là tự sát.

Cự ly giết chóc… 200 mét. Quá gần. Đủ để thấy lớp sơn cháy sém trên thân T-54.

Đủ để biết nòng pháo nó đang chĩa thẳng vào mình.

Không còn chiến thuật.

Không còn bài bản. Chỉ còn:

ai nhanh hơn, sống.

ai chậm hơn, cháy.

— “Xong!”

— “Bắn!”

ĐOÀNG!!!

Cái chết có hình dạng

Viên đạn xuyên vào thân xe đối diện.

Một nhịp.

Hai nhịp.

Rồi. Nổ từ bên trong. Không phải nổ đẹp. Là bị xé toạc.

Tháp pháo bật tung, như nắp quan tài mở, văng khỏi thân xe như bị bẻ gãy. Lửa phụt ra, đỏ, cam, rồi đen.

T-54… im.

Nhưng chiến trường không chờ

— “Phải! PT-76!”

Chiếc PT-76 lách qua xác cháy, nhanh, thấp, nguy hiểm.

— “300!”

— “Bắn ngay!”

ĐOÀNG!!!

Một phát. Trúng. Chiếc xe nhẹ gần như vỡ ra tức thì.

Không cháy lâu.

Không kêu. Chỉ còn im lặng.

⸻

Sau trận, không có khải hoàn

Không tiếng reo.

Không ai đứng trên tháp pháo giơ tay chiến thắng.

Chỉ có: Động cơ nổ nặng nhọc. Khói quện vào da.

Mùi kim loại cháy… không thể rửa.

Một người lính mở nắp xe.

Ngoi lên. Gió thổi qua, mang theo thứ mùi không ai muốn gọi tên. Anh nhìn về phía sau.

Chiếc M48 đồng đội… vẫn cháy. Anh không nói gì.

Chỉ lặng lẽ đóng nắp lại.

⸻

Quảng Trị, khi thép mang theo danh dự.

Sau 81 ngày đêm của Mùa Hè Đỏ Lửa, khi Quảng Trị chỉ còn gạch vụn và tro tàn.

Những chiếc chiến xa Thiết kỵ VNCH vẫn tiến vào.

Thân xe loang lổ vết đạn.

Xích sắt dính bùn, dính máu.

Nhưng trên tháp pháo.

Cờ vàng ba sọc đỏ vẫn bay.

Không phải để phô trương.

Mà để nói một điều:

“Chúng tôi còn ở đây.”

⸻

Sự thật của chiến tranh thiết giáp. Không có anh hùng đứng trên xe hét lớn. Chỉ có những con người bị khóa trong hộp thép kín, đợi xem, ai bắn trước, và ai cháy trước.

Và khi thép cháy…

Nó không chỉ là sắt.

Nó giữ lại tất cả:

Nhiệt.

Áp lực.

Và con người bên trong.

Ký ức còn lại

Không tên.

Không tiếng. Chỉ còn:

M48 … vẫn lăn bánh.

T-54 … đang cháy.

PT-76 ..đã im.

⸻

Thiết kỵ binh VNCH không được nhớ đến như huyền thoại.

Họ chỉ là những người lính

đã làm đúng việc của mình,

tiến lên, giữ đất, và không lùi.

THIẾT KỴ BINH, KHÔNG PHẢI ĐỂ NGẮM.

MÀ ĐỂ NGHE… NGỬI MÙI THÉP CHÁY.

Phạm Sơn Liêm.

Nguồn: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Mùa Hè Đỏ Lửa

Phan Nhật Nam

Post on Wednesday, March 18, 2009

Mùa Hè Đỏ Lửa -Bút Ký Chiến Tranh- PHAN NHẬT NAM

Post by Sơn râu 9 Apr 2026

..Nếu được hành quân tái chiếm Quảng Trị tôi sẽ cúng một con heo. Một người lính Sư Đoàn 1 đã nói như thế.Không phải câu nói chơi, phút bốc đồng nhưng là tình cảm mãnh liệt tha thiết được diễn đạt bằng ngôn ngữ giản dị, chơn chất. Giữa đất và người không còn biên giới, người lính không nhìn các địa danh: Cam Lộ, Hương Hóa, Trị Bưu, Phong Điền, An Lỗ như những mục tiêu quân sự, chốn không hồn mà nhiệm vụ bắt buộc phải đi đến trong một thời gian và sau đó đợi chờ từng ngày qua để trút đi dửng dưng lạnh nhạt. Đất và người gắn bó không giải thích được bằng lý luận, chỉ cảm thấy bàng bạc mơ hồ, chứng nghiệm bởi một trực giác ngây ngất … Và không riêng cho người lính sanh trưởng vùng Thừa Thiên, quảng trị. Những người khác, những sĩ quan, trung sĩ, binh nhì sinh trưởng ở Bắc, Nam thuộc các đơn vị tổng trừ bị, hành quân tăng phái đến, bước chân đến vùng địa đầu đất nước lòng bổng nhiên chùng xuống trong xúc động lạ lùng … Nhiệm vụ hành quân không được nhìn thuần túy như một công tác quân sự có tính cách bắt buộc, hành quân vùng Thừa Thiên, Quảng Trị âm vang mênh mông, tính chất cuộc viễn chinh thánh chiến, đấu tranh giữ đất, giữ nước, đấu tranh cho một lẽ sống còn.Chiến đấu ở miền giới tuyến hào hùng như bước chân qua một bờ lịch sử. Tương lai dân tộc được quyết định qua vùng đất này.

Đây không phải là một cảm xúc quá độ được tăng thêm cường lực để làm dáng trong văn hương nhưng đã đi lính, đội nón sắt, mặc áo giáp, nhảy trực thăng xuống Khe sanh đổ quân trên các mỏm Động Thông, Động Gió, đã di chuyển theo giòng Tam Giang, qua Túy Vân lúc sương còn mờ trên đầm Thủy Tú hay ngược phía Bắc để đi vào vùng Phong Điền, Đại Lộc, Phá giăng giăng mưa bụi, trăng non soi ánh sáng bạc thếch, ánh sáng chết trên mặt nước lăn lăn sóng nhỏ, thôn xóm xa lặng trong bóng tối, nghe trong lòng cơn ào ạt xúc cảm, thấy rộn rã từng ạt rung động trên làn da – Đất linh thiêng, huyền bí bao trùm vây bọc, con người trong đó thấy tan biến, hòa hợp vào cùng từng ngọn cỏ, cơn gió, người thấy đau, đau rõ ràng như nhức buốt như vạch xanh của sông Bến Hải vạch đường độc địa trên bờ cát thênh thang – Đất và người cùng đau với vết thương quê hương.

Cảm giác trên đã thành hình, đã gây nên phản ứng sinh lý làm dựng sợi lông tay cảm xúc nhưng có thể không được phân tích, không được rọi nhìn, định lượng, người lính “thấy” ràng buộc, thấy mơ hồ, lãng đãng nhưng chắc chắn, cần thiết như không khí hít vào trong mỗi cử động.

Trị-Thiên, ngoài đất còn có người, người Huế, người Quảng Trị, người ăn cơm ghé sắn, người uống nước “chè” nấu bằng lá ổi, người gọi lính bằng “anh cộng hòa ơi …” Những người đã mừng rỡ đến ngất xỉu sau mười, mười lăm ngày dưới hầm sâu, nhịn đói nhịn khát, đại tiện, tiểu tiện và ngủ trên cùng chiếc chiếu như trong mùa xuân Mậu Thân khi nghe ngoài đường phố tiếng lách cách của báng súng đập vào đùi khi người lính di chuyển. Lính Cộng Hòa tới! Lính Cộng Hòa tới!Người dân hé cửa nhìn: Trên đường phố vắng, hai hàng lính đi song song ở lề đường, đội hình, y phục hoa của Biệt Động Quân hay Thủy Quân Lục Chiến … Lính Cộng Hòa bà con ơi !!Sống rồi bà con ơi !! Ông già, ngườitrẻ, công chức, cảnh sát mở toang cửa ào ra đường… Mừng quá mấy anh ơi, mừng quá !!Mấy anh ở đây luôn hả ??Uống nước không?Những người lính từ miền Nam ra bị vây kín bởi một nồng nhiệt bốc lửa.Họ là điểm sống cho thành phố Huế đã đến đáy hấp hối và tuyệt vọng.Còn vinh quang đẹp đẽ nào cho bằng tiếng kêu mừng rỡ của người dân Huế trong mùa xuân đỏ lửa khi được sống gởi đến những người lính xa lạ phong trần.

Đấy là những sự kiện của mùa xuân năm xưa. Bây giờ, tháng thứ ba của ngày Bắc quân mở cuộc đại tấn công và Miền Nam, Quảng Trị, Thừa Thiên, hai thành phố đầu tiên hứng chịu tai ương tàn khốc của bom đạn và người dân của hai thành phố này lại thêm một lần tay bế con, lưng cõng cha mẹ già xuôi theo Đường Số I dưới che chở độc nhất hay niềm tin cuối cùng – Người lính- Bộ đội cộng hòa ơi, cứu bà con, bộ đội cộng hòa ơi! Trên đoạn đường máu Quảng Trị, Hải Lăng, Mỹ Chánh không phải một người, nhưng toàn khối dân bi thương nguy biến cùng gọi lên như thế một lần. Gọi bằng hơi thở cuối, mồm há hốc, mắt trợn đứng, gọi khi máu chảy, khi nằm xuốngtan vỡ, tay lần trên chuỗi Thánh Giá, mắt nhắm nghiền, trên đầu, chung quanh đại pháo Bắc quân nổ liên hồi, nổ tàn ác… Đạn nổ không bỏ sót một phần đất, không quên một thân người … Bộ đội Cộng Hòa ơi! Người dân lại một lần kêu to lên như thế. Vinh quang biết mấy cho người lính Việt Nam.

Đất không Vinh Quang riêng cho Lính, đất còn là Thánh Địa cho Người. Người tầm thường, người còm cõi, người quắt queo khô héo như nhánh “nè” (1) khô rốc tong teo, lay động dật dờ dưới cơn nắng hạ chí. Nhưng những người tội nghiệp, tàn tệ, răng đen, môi nẻ tóc rối, người mà tai ương đã hiển hiện lên giọng nói, bất hạnh đã đặt mầm ở tiếng “khóc kể” bi ai hờn oán. Bất hạnh cũng đã có “điềm” ở giọng hò thê thiết đến rợn da khi những con thuyền chập chùng trong bóng tối lướt thướt trên sóng qua Bảng Lảng, Ngô Xá, La Vân, La Chữ, Vân Trình.a … ơ … chỉ hai tiếng nhỏ con thuyền đi hết khúc sông mà âm thanh còn lộng trong gió … Đã có “điềm” rồi nên dân Trị Thiên dù không cơm, không gia, không nương, rẫy bái vẫn tồn tại và sống còn.Họ sống bằng gì và như thế nào ?Chuyển hết tháng ngày đi quakhông cũng đủ là một việc vĩ đại … Rất vĩ đại … Rồi ba tháng máu lửa này, chui dưới hầm, ăn khoai sống, hứng chịu ngàn trái đạn của hai bên … Ngày Hải Lăng vừa được quân ta tái chiếm, đồ đạc cho vào thúng sau, thằng con ngồi thúng trước, người đàn bà nhỏ quắt queo gánh “gánh đời” đi thoăn thoắt trên mặt cát trắng bầy nhầy lớp thịt người … Người trị Thiên có “tài” đi nhanh nhưthế đã bao năm?? Có anh phóng viên đài truyền hình chận hỏi:

– Chồng và mấy đứa con lớn đâu?

– Chết hết rồi … Họ đem đi băm, vằm, chém nát, chôn sấp dập ngửa mô không biết!!!

– Bây giờ bà đi đâu?

– Hí? Người đàn bà nhà quê không hiểu câu hỏi.

Cho dù hiểu đi nữa thì bà ta cũng không biết đi đâu … Quo vadis ? Mày đi đâu ? Chúa có hỏi đi chăng nữa người cũng không trả lời được … Đi đâu? Ngày đã hết, đời đã hết, chỉ còn mỗi con người lừng lững cùng nỗi đau đớn mịt mùng hư không

Về quê hương điêu tàn,

Phi cơ đến Huế lúc một giờ sáng tắt đèn từ trên cao khi lấy hướng đáp, thấp xuống, thấp xuống chút nữa, trên một độ cao cần thiết, đèn ở cánh được bật cháy, chúi xuống và bánh chạm đất, đèn lại tắt.Không một phi trường nào im lặng và tăm tối bằng.Phòng tối, ngổn ngang lính nằm, những người lính tóc rối và râu rậm, họ ngủ mệt nhọc và trăn trở, giấc ngủ đứt khoảng khi có tiếng động của bước chân đi đến dù tiếng động cực nhỏ, những đôi mắt đỏ hoe mở ra xong khép lại.Gần trăm con người không ngủ, họ chỉ nhắm mắt và nằm … Ngủ, hình như họ đánh mất sự nghỉ ngơi này, mất đã lâu, từ hơn hai tháng trên các căn cứ võ Định, Diên Bình dọc quốc lộ 14.Ngủ chỉ là trạng thái chập chờn của đôi mắt khép lại nhưng tai lắng nghe … Nghe tiếng nổ hoặc tiếng départ của pháo nơi xa …

Chẳng có vẻ gì để gọi là chiến tranh loạn lạc và điêu linh nơi chúng tôi đang đứng trong buổi sáng đầy nắng vàng và gió từ sông mang hơi nước dịu nhạt bay đến.Xóm Mỹ Chánh đổ nát vì vụ dội bom lầm hôm mồng 5 khúat sau rặng tre, chiếc cầu gỗ cháy từ bao ngày trước còn bốc khói, nhịp cầu sắt bị đổ xuống không đủ cường độ để gợi lên không khí bi thảm của trận chiến vừa xẩy ra cách đây mười ngày trên con đường nhựa bên kia sông, nơi bãi cát đìu hiu lặng đứng những khóm tre còm cọi … Những tang thương trầm thống của những ngày qua tan byến trong ánh nắng đẹp đẽ vàng rực của buổi sớm mai này.có tiếng chim cu gáy ở bên kia sông, tiếng chim mộc mạc ấm áp như giọng cười khúc khích của đứa trẻ.

– Đấy, toa thấy cái lũy tre ở đầu con sông nơi chỗ quanh của con sông không? Liễn chỉ tay về hướng đông, nơi con sông quanh một vòng thật đẹp để đổ vào phá Tam Giang.

– Ờ, tôi thấy rồi, chỗ đó tôi đã đóng quân.Làng nội tôi đấy, làng Vân Trình, tên nghe hay không, mỗi vụ hè tôi về đây chơi, năm mười tuổi đã lội qua sông này được … Hai mươi năm sau cho bạc triệu tôi cũng không qua được bên kia một mình.

– Ừ.Tôi lơ đãng nhìn theo con sông, nơi này mùa đông xưa tôi đứng trên bờ đợi Mễ cởi áo bơi qua sông mua rượu, phía trái nơi xa có bãi đất bồi thửa ruộng, bắp lên những lá xanh ngắt …

– Người miền Trung cực quá, không đủ đất trồng lúa, có chút đất bồi là bám vào ngayBa mươi cây số từ núi ra biển không có chút đất màu, toàn cát và cát, cằn cỗi xám xịt không như cát vùng Nha Trang, Cam Ranh.

Súng nổ sát bờ sông, súng nhỏ, Bộ Binh Bắc quân mở đường, đánh thăm dò … Chúng trở về nơi Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, Phúa đang báo cáo với Lữ Đoàn.

– Đó là tiền phương bộ binh của tụi nó xuống quan sát mình, chẳng hiểu nó bắn súng cối và 57 như vậy để làm gì? C … Mày gọi pháo binh làm mười tràng vào nơi yếu tố mà toán viễn thám ghi nhận tiếng  départ. Phúc nói với Tiền, sĩ quan ban 3.

Pháo từ Phong Điền rơi lên ào ạt.Bắc quân ngưng tác xạ, họ xuống hầm hay đã bị chết, không biết được, những đám bụi do đạn nổ bốc lên tan đi thật nhanh, chỉ còn luồng khói đen cuồng cuộn bốc cao.Một ngôi nhà bị cháy.Có tiếng gắt của anh Phúc : “ Tụi nó đặt súng ở đấy thì xin bắn ở đấy, làm sao biết viễn thám đêm vừa rồi có ngửi đúng hay không ?Tiên sư có vợ, bị cặm sừng cũng đếch biết nữa là …” Anh ném cái ống liên hợp vào một góc nhà tụt xuống hầm chỉ huy xỏ chân vào đôi dép đi vào nhà thờ …

Đường về, trời nắng gió im buổi trưa mùa hè miền Trung bốc cháy toàn thể cảnh vật, núi im lìm rung rinh sau lớp hơi đá mờ nhạt, người lính bị thương ngồi băng sau gác bàn chân sưng đỏ máu đẫm ướt cuộn băng bày.Qua Phong Điền, xe bị kẹt, ngừng lại dưới tàng cây nhìn Pháo binh TQLC di chuyển cho cuộc hành quân đang khai diễn. Họ nhìn tôi tò mò, áo lính Nhẩy Dù đi xe TQLC, tóc dài và chiếc máy ảnh ở ngực … Tôi trông chẳng giống ai! Tôi cũng biết thế nên lúng túng đưa máy hình lên chụp loạn xạ.Ôi tôi hành nghề báo.Có một điều gì buồn buồn trong thân.

Mỹ Chánh không có gì, quả thật vậy, tôi về Sài Gòn, thay lớp áo quần dơ và ướt, uống ly rượu có đá lạnh, chạnh nhớ những người bạn ở nơi xa đang ao ước một tờ báo, dù tờ báo đã cũ từ ngày 30 tháng Tư … Điều này làm lòng tan vỡ, những người sống trên khổ nhọc miệt mài, trong núi xanh, trên cồn cát, những “sinh vật” lính quen thuộc và thân ái bị quay cuồng níu kéo hoài vào gian nguy triền miên … Không phải chỉ có ở Mỹ Chánh với Trâu Điên, nhưng khắp cùng đất nước, từ núi cao xuống đồng bằng, có đủ trên mỗi phần đất của quê hương.Mỹ Chánh không có gì ngoài hai xác chết bên kia sông cạnh chiếc xe tăng bị cháy, tiếng nổ B52ầm vang đều đặn và núi rung rinh, cây cầu bốc khói xám. Những người và cảnh chết này có nổi yên nghỉ riêng, lòng có xốn xang là hình ảnh người lính mang dép Nhật, chống cây gậy đi trên thôn xóm tan vỡ, người lính không đầy 20 tuổi … Em bị thương! Chỉ còn tiếng nói và hình ảnh đó đè nặng ở đỉnh đầu, tay tôi run và nặng khi viết những dòng chữ vô nghĩa này.

Quả bom chiến lược hay viên đạn súng colt chỉ gây một tiếng nổ, cũng chỉ viết thành “một chữ” trên trang giấy, nhưng trầm thống của con người thì mênh mông. Chữ nghĩa vô tri viết được mấy cho vừa.

Huế còn thở.

Huế sống, chắc chắn như thế.Sống vì trong lòng Huế có những kháng tố âm thầm lặng lẽ, những phản ứng kín đáo mang sức mạnh sinh tồn của con người khi bị ép đến cuối chân tường, đưa đôi tay tuyệt vọng lên đầu, đánh đòn quyết tử để vượt qua biên giới giữa chết và sống.Huế sống, dù mệt mỏi, tàn tạ đau đớn, tất cả phải được vượt qua, qua hết để gánh chịu nỗi kiêu hãnh ngậm ngùi của một dân tộc tồn tại sau hằng hằng điêu linh.Huế phải sống vì số kiếp bi tráng thê thảm đó.quê hương tôi không chết được … Huế còn thở.Quê hương, nghe như lời mai mỉa, như tiếng cười khủng khỉnh lạnh nhạt. Quê hương đó và tôi xa lạ, lạ từ đường tóc giòng máu, lạ ở tiếng nói cách cười, xa lạ hoàn toàn trong lối sống và nhìn đời.Nơi chốn đó với tôi có mộtcách xa không bù trừ được.Nhưng tôi phải nhớ đến Huế, phải nghĩ đến, phải đau đớn bồi hồi khi đi lại trên những con đường vắng bóng người, không phải sự vắng vẻ yên tĩnh của hàng cây xanh lá vang động tiếng ve.Sự yên tĩnh ỡ đây nín lặng và đau đớn như ngôi nhà đóng cửa với tấm bảng “Nhà đang có chủ ở.”Giòng chữ không làm nóng không gian, chỉ tăng thêm sự run rẩy lo sợ thiếu hơi ấm của người.Tôi đến Huế vào ngày Huế vừa hé cửa như con voi già mở đôi mắt nhỏ từ đồi cao nhìn xuống đám rừng xưa nơi phần mộ của giòng giống nó.Con voi chưa chết được, Huế vẫn thế, Huế chưa đi hết đời của mình, Huế đang sống, còn sống. Tôi đau đớn ngất ngư, thấy nhói ở trong lòng, từng cơn đau có thật khi đi qua cửa Chánh Tây bị đổ nát, qua các khẩu súng đồng mà ngày nào trong thuở nhỏ, hai mươi năm trước, tôi ao ước được bò lên ngồi trên đầu nòng súng rồi nhẩy từ đây xuống.Tôi phải đau với Huế vì thấp thoáng trong không gian mờ nhạt của Huế co ro ướt át, tối mùa đông năm 1949, cầu Gia Hội đang sửa chữa, tôi loay hoay lạc lối trên những con đường Ngự Viên, Trung Bộ, lạc qua cầu Đông Ba về đến cống Phát Lát, thằng bé đội nón cối trắng và đi ba ta quai chéo, quần dài xanh có tấm yếm trước ngực “để che gió máy” Tôi đấy, tôi của tuổi ấu thơ hỗn độn những rung động chưa đặt tên trong một thành phố âm thầm thê thiết.Tôi đau với Huế, phải nhức nhối từng hồi, giật giật ở thái dương khi nhìn cảnh người đàn bà tất tả gánh đứa con đi trên đường Hương Thủy, Gia Lê, hai vạt áo dài đen đánh phần phật vào đôi chân luống cuống.Thuở xưa cũng thế, cũng chạy giặc, cũng “vỡ mặt trận,” cũng tan nát lửa đỏ và điêu tàn hừng hực. “Tây từ bên Tòa Khâm đánh qua, mẹ bỏ con trong thúng và gánh đi trong lửa đạn”. Thế nên tôi phải đau cùng Huế, dù quê hương đó bạc đãi, phân lìa..

Huế sống, cũng như sau bao nhiêu đại loạn, Huế chậm rãi chắc chắn chống gậy, lấn từng tấc, từng phân dựng đứng cơ thể tàn tạ và hồi sinh.Lần này cũng vậy, sau khi mất Đông Hà và Quảng Trị bị vây khốn, đồng bào Quảng Trị băng qua vùng Hải Lăng, Lương Điền chạy về Mỹ Chánh, dân Mỹ Chánh nhập vào lui xuống Phong Điền, An Lỗ … Nhưng Phong Điền, An Lỗ đâu phải là phòng tuyến “tử thủ” được ; hai con sông cạn đáy phơi lòng cát khô khan dưới mặt trời hạ chí … Những người dân này lui thẳng về Huế … Và Huế bắt đầu thất thần hoảng hốt.Nhưng vẫn rất nhiều người tin tưởng: “Phe mình giữ được Quảng Trị, can chi mô, vài bữa mình lấy lại Đông Hà mấy hồi …” Nhưng niềm tin tin tưởng như quả bóng căng hơi sau khi nhận mũi kim đâm ngập.Quảng trị mất, mất chưng hửng tức tối.Biệt Động Quân nương nhau dọc quốc lộ về Nam, thủy Quân Lục Chiến co lại, tiểu đoàn này đỡ tiểu đoàn kia rút gần xuống Mỹ Chánh và sư Đoàn 3, không phải lỗi ở lính, ở cấp chỉ huy không gian, cũng có thể không ở Tướng Giai (chưa có thể kiểm chứng được) tan vỡ một cách phi lý, ba trung đoàn dù bị thiệt hại từ ngày đầu tháng 4 vẫn còn đủ quân số, vũ khí, phương tiện liên lạc, bổng nhiên như viên đá nhỏ tan trong ly nước bốc khói.Một đại đơn vị vỡ tan trong bất thần kinh ngạc, dân và lính đưa nhau chạy giặc đổ về Huế như cơn nước từ nguồn băng qua bờ đê cát nhỏ.Và Huế dưới cơn ép kinh hoàng của Quảng Trị nổ bùng, vỡ nát như ánh lửa điên loạn bốc cháy chợ Đông Ba chen tiếng đạn của đám quân đói, Huế vỡ tan.Vỡ dưới ảnh hưởng kinh khiếp của Mậu Thân, giặc vào và ta chết, chết từng loạt.

Huế hốt hoảng vì viễn ảnh thấp thoáng toán lính mang ngôi sao vàng sục sạo khắp cùng ngõ ngách, đường hẻm để tìm địch, giết Ngụy. Huế sợ và bốc cháy lo âu … Người xuôi Nam hướng Đà Nẵng, nối nhau chen chúc trên tất cả mọi phương tiện di chuyển. Bỏ quê hương chạy giặc…

Bây giờ là buổi chiều.Huế đang ở mùa hè, phượng đỏ, mặt nước sông Hương loáng ánh nắng.Tôi đi dọc bờ sông, chiếc cầu mới quá tân kỳ, chân cầu vây kín giây kẽm gai đề phòng thủy lôi không hợp với nét cổ kính tàn phai xứ Huế, công trường Phú Văn Lâu tiêu điều, lá xanh không che nổi sức nóng.Nơi này, thuở xưa xa lắm, tôi lang thang nhặt những hạt cườm đỏ có chấm đen từ cây rụng xuống, đứngở bồn hoa nơi có bốn con rồng luôn phun nước đưa bàn taynhỏ e dè hứng những hạt nước long lanh bắn tung tóe trên ven bồn đá xám.Bờ sông xưa nay cỏ dại mọc đầy, những viên đá nâu đỏ của lối đi không còn nữa thay vào đấy lớp đất cát tung bụi dưới bước chân.

Cầu trường Tiền không còn vang tiếng guốc và chập chờn những tà áo trắng, nhưng đã có bóng người và màu sắc.dọc theo đường Trần Hưng Đạo, bến xe, quán ăn, tiệm nước đầy thực khách, người ở Đà Nẵng trở về nhiều hơn người ra đi.Dấu hiệu tốt ở tiếng thở dài nhẹ nhõm của người hành khách khi bước xuống xe – “Rứa mà tui nói không ai tin, Huế có chi mô mà sợ …”

Trời sập tối, tôi leo hàng rào nhẩy vào căn nhà người cậu … A! Cậu đây rồi.Ông cậu quắc thước khỏe mạnh ngày xưa không còn nữa, trước mắt tôi chỉ có một ông già, tóc và râu trắng bạc. Cậu run tay, mắt mở lớnnhìn thằng cháu hoang đàng trở về trong lúc trời hết nắng, ngày tàn … Con đấy hả,û trời ơi … Lâu chẳng biết con ở đâu, con đến lúc cậu đang cúng bà ngoại, cúng bà với bát muối mè và cái bánh chưng!

– Cậu không đi đâu?

– Không, Mậu Thân cũng vậy, cậu ở nhà, hôm nay lại là ngày kỵ bà, cậu không đi đâu hết!!

Chị tôi ở bếp lên, chị Nga đẹp đẽ đài các của ngày xưa cũng đã thay đổi, đấy là một người đàn bà mà chịu đựng đã đầy làm xạm mái tóc xanh …

– Chị ở Đà Nẵng ra với cậu, chị tin sẽ không có một chuyện gì nữa, tất cả mọi chuyện cũng thế thôi.sống là được, sống là hạnh phúc rồi …

Tôi ăn bữa cơm gia đình sau bao nhiêu năm cách biệt.Đi ra khỏi nhà trong bóng tối dày đặc, đèn đường không có. Lối đi nhỏ lẫn trong đám hàng rào lá chè xanh dầy kín.Dọc trên đường về sân bay Tây Lộc, hào bên phải bay ngát hương sen – Mùa hè rồi, mùa đẹp nhất xứ Huế, mùa củađêm trăng nhỏ giọt qua cành lá, bánh xe đạp rong ruổi trên đường nhựa vắng, lưng người con gái chuyển dịch bí ẩn sau chiếc áo mỏng và một khối tóc đen đong đưa kỳ ảo theo bước chân, ẩn hiện bất chợt qua những hàng dậu lá che dầy đặc.Mùa hè sống động kỳ ảo của Huế đấy, bao giờ có lại những ngày xanh huyền hoặc đó, không cònnữa, tuổi nhỏ đã qua đi rồi … Qua một quán nước, ánh nến vàng mệt, cô gái bán hàng rạng rỡ giữa một đám lính trẻ, Quán Lưu Khách.

Một đời sống khác của Huế bắt đầu, bắt đầu lại trên hoang tàn nhưng còn nguyên cách thế phong lưu của hương sen kỳ vị đậm ngát một vùng trời đất.Trên cực điểm của trầm thống, bên cạnh những hào xưa thành cũ, những người tuổi trẻ ở Huế sẽ lớn lên, gạn lọc, tập trung năng lực để tồn tại và khia phóng … Ước mong quê hương đó lớn đẹp và khỏe mạnh như tiếng cười dòn dã thẳng thắn của cô gái hồng sáng dưới ánh đèn dầu. Ước mong như một tạ lỗi muộn màng.

Bay trong hoàng hôn,

Tàu không bay thẳng ra đèo Hải Vân, nhưng bay dọc theo bờ biển ra Nam Ô.Trời đã chiều, nắng hết chỉ còn “dư âm” của ánh vàng trên cây cỏ. Từ trên cao nhìn xuống, biển Thanh Bình ngày nào không còn nữa, nhà lấn ra sát mặt nước, nước xanh đục lợn cợn rác, bọt vàng của rêu và chất dơ.Hết cả rồi, chốn xưa, ngày mới lớn, đêm hè trong vắt lấp lánh sao, nửa đêm về sáng ngồi dậy đốt vỏ bánh xe nhìn ánh lửa, nhìn đại dương, nhìn Tiên Sa đen thẫm cùng Hải Vân vòng đường kín đặc, vòng núi hở một khoảng ở hải đăng để thấy biển phía xa xanh xao dưới ánh trăng non. Mơ ước gì trong đầu óc tươi trẻ đó? Không biết, chỉ thấy lòng mênh mông thênh thang bay lên tiếng hát âm thầm phơi phới. Hết, chiều nay trên độ cao gió lạnh nhìn xuống biển xưa vấy bẩn và lòng nặng trĩu nặng phiền phiền. Máy bay dọc theo biển để thấy rừng dương ở Nam Ô xơ xác, trơ rụi. Ôi khu rừng thơ mộng của ta mười bốn năm trước thế này sao.Rừng không còn, chỉ còn khu vườn dương liễu cằn cỗi, bờ cát vàng dốc đứng nay cũng thấp xuống tan hoang … Không còn gì nữa, quả thật không còn gì nữa, như tuổi thanh xuân đã mờ khuất đi.Qua núi Nam Ô để thấy lại bóng mẹ xõa tóc ngồi hong nắng … “Mẹ con mình là người đầu tiên ở Đà Nẵng đến tắm ở đây …” Mẹ đã nói thế để khích lòng “giang hồ vặt” của con trai.Đà Nẵng – Nam Ô 10 cây số đường dài quá xa cho một tuổi mới lớn.

Năm phút máy bay đủ đi hết một quãng đời niên thiếu, mau thật.Tôi tưởng như vừa qua lớp mộng dài.

Gió lạnh, phi cơ đã đâm thẳng ra biển để vượt Hải Vân, đỉnh núi bên trái phủ mây trắng, đường nhựa ở trên, đường xe lửa ở dưới, thấy rõ trước mắt hình ảnh đứa nhỏ tóc bay đưa chiếc đầu ra khỏi cửa sổ thành tàu nhìn xuống đại dương đen ồn tiếng sóng, sóng bạc đầu xô đẩy vào rà.Sâu hun hút, tưởng dưới xa như là chốn nghìn trùng không đến được … Sửa lại thế ngồi đỡ mỏi chân, cong hai đầu gối sát ngực cho bớt lạnh.Lại giống hình ảnh đứa bé đêm trừ tịch năm nào ngồi co ro trong một chiếc xe hàng trên đỉnh đèo sương phủ và gió rét.Tôi sống torng hai thế giới, trong hai chốn thời gian lúc trực thăng đổi cao độ vượt đèo … Mình là ai? Đi đâu? Mong ước gì? Hơn mười năm chưa thấy rõ mình. Đời khó thật.

Trời vẫn còn sáng trên không, thứ ánh sáng mờ mờ của bóng tối sắp đến, xuống ở độ thấp 100 thước.100 th. để thấy rõ từng nếp nếp nhà, sân đất, giậu tre và những cánh đồng xanh.quê hương bình yên và đẹp vô ngần trong ánh sáng cuối cùng của một ngày.Đầm Thủy Tú lăn tăn sóng nhỏ trẻi dài như một thỏi kim cương xanh.Đầm mênh mông lặng lẽ dạt những vòng tròn xôn xao khi trực thăng bay qua, núi Túy Vân ấn một nét đen đậm dịu dàng trên không gian và mặt hồ xám bạc.Túy Vân Sơn, tưởng tượng đến hình ảnh ngày xưa đoàn thuyền lộng lẫy của Hoàng Gia trôi theo giòng nước đến nơi này neo bến và tiếng chuông cuối ngày lồng lộng trên sóng nhỏ tan dần vào hư không.Chiến tranh mệt mỏi của ngày dài di chuyển tan nhanh như sương mỏng, tôi mở to hai mắt, dựng đứng hết xúc cảm để nhìn hết, lấy hết toàn khối quê hương đang nằm dài yên lặng dưới xa – Không thể có nơi nào đẹp hơn quê hương ta !Câu nói của cuốn sách thơ ấu được lập lại không định trước.Phải, quê hương ta quá đẹp, vẻ đẹp mộc mạc, bình lặng cao cả, quê hương là thiên nhiên cô đọng, quê hương tan biến hòa hợp vào cùng vũ trụ.Núi không cao, đầm không rộng, nhà mái tranh, con đò nan mảnh mai trôi lững lờ trên sóng nước hiền hòa, khuôn đất nhỏ vàng nhạt, từ trên cao vẫn tưởng được độ cứng và vẻ bóng bẩy phẳng lặng in từng đường chổi mới quét qua … Quê hương thương yêu nồng nàn dưới đó, dưới độ cao 100 thước, trên lưng đàn trâu về chuồng, cong đôi sừng nghếch khuôn mặt chịu đựng, giương đôi mắt võ vàng nhìn tiếng động trên không.Lòng bồi hồi run rẩy như vừa qua khỏi chốn linh thiêng … Bao nhiêu phần đất của quê hương còn đượm vẻ thanh bình này ?Chắc còn rất ít, hay chỉ còn lại trên ảnh trên tranh, trong trí tưởng, trong ao ước … Vì khi máy bay vừa đến Huế, nhận được lệnh di tản thương binh, phi hành đoàn chỉ kịp và vội miếng cơm, lấy tọa độ bãi đáp và tầng số làm việc, bay liền hướng Hương Điền dọc Phá Tam Giang.Tiểu đoàn 6 và 8 TQLC vừa đụng trận.

Trời sập tối, cảnh vật xanh xanh xám xám, chút sương mờ đã dâng lên từ mặt nước.trực thăng qua La Vân, Hương Cổ, Quảng Điền, những nơi chốn quá quen byết bao nhiêu lần xuôi ngược trên bờ lúa dọc con sông xanh thẫm lác đác những lá tre già.Tàu vượt Phá Tam Giang – A! Lại một chốn xưa huyền bí – Phá mông mênh bí mật u trầm, phá xôn xao chuyển dịch những lượn sóng xuôi ngược, phá nồng nàn say sưa như tuổi nhỏ khi đọc đến câu “Yêu em anh cũng muốn vô.Sợ truông nhà Hồ, sợ Phá Tam Giang.”Vật biểu lượng ngăn trở tình yêu là đây, tôi nhớ lại được nỗi rung động náo nức của tuổi mới lớn.. Nhưng bỗng nhiên như luồng sét thật mạnh đánh sát mặt, như kẻ bị phụ tình trong giờ khắc say đắm nhất, tàu đã bỏ mặt nước xanh để bay lên vùng cát trắng.Tôi lao đao như từ ánh sáng vào bóng tối, tôi tóe lửa ngộp ngộp hơi thở như gió thổi mạnh đập vào mặt.Nỗi mơ mộng tan vỡ, vỡ bùng không còn chút níu kéo.tôi đang bay trên một quê hương điêu linh, không thể trốn chạy được … Lũy tre xanh, bọt sóng đầm xô đẩy, núi Túy Vân lặng lẽ, mảnh vườn đất phẳng, nụ cười sáng, bàn tay vẫn trên đồng xanh không có giá trị gì nữa.Quê hương đẹp đó quá ít, quê hương này, quê hương dưới chân, trên cát trắng quê hương trải dài theo biển từ Thế Chí, Đại Lộc qua Mỹ Thủy, Triệu Phong mới thật sự điển hình cho tàn tạ, tàn tạ tuyệt vọng câm nín của những “ổ” nhà nằm rải dài trên 30 cây số ngút ngàn lặng lẽ. Ba mươi cây số không nhà, chỉ độc một chuỗi ổ chuột sùm sụp ép mình trên cát, chơ vơ thụ động dưới mưa bom và đại bác – Tội quá trời ơi, năm xưa 1967, khi qua vùng này đã phải cúi mình xuống làm đôi để nhìn một gia đình một mẹ năm con ngồi ôm lấy nhau dưới mái lá như vượn mẹ bồng con ngồi co mình nhìn lũ người cay độc … Bao ngày qua, đời sống dưới mái lá đó càng thêm độ thê thảm.Không đồng lúa, không nghề chài, họ ăn gì, lấy gì để sống qua hằng hằng tháng ngày tân toan, rồi lại thêm bom rơi đạn rớt, bom đạn không phải chỈ một cơn một lúc nhưng phủ đầu và ngập mặt.Trước 1967 đến bây giờ là bao lâu? Còn con người chăng trên bãi cát trắng dưới những “ổ” lá nằm rải rác trên dải quê hương điêu tàn đó? Có đàn lợn đi lang thang trên bờ biển, loài thú tầm thường bình yên, không thích hợp với hùng vĩ của đại dương chạy tán loạn khi nghe động cơ vang nổ … Chữ Gia của tiếng Hán đuọc biểu tượng bởi một mái nhà dưới có chữ Thỉ – Trên giải đất không nhà này đâu còn nơi nương náu cho loài thú tội nghiệp kia – Người sống làm sao được trong tan nát này hả trời ?Câu hỏi buồn cười tội nghiệp vang âm thầm làm nhói cơn đau nhức nhức ở nơi ngực.

Không thể gọi là “dãy phố buồn hiu” nhưng phải gọi “dãy quê hương thê thảm,” cũng chưa đủ cho nơi chốn tàn tạ hấp hối này.

Dậy đường tử khí,

Không khí tàn tạ của vùng Mỹ Thủy, Hương Điền, vẻ đau đớn lạnh cứng của xác người lính Thủy Quân Lục Chiến Tiểu Đoàn 8 khi gió thổi lớp Poncho dán chặt vào mặc để lộ chiếc đầu tròn sống mũi thẳng, năm ngón tay tái xanh có những móng dài đầy đất của tối hôm qua trên trực thăng không còn nghĩa lý gì so với cảnh tượng trước mặt.

Tôi đang ở trên cây số 9 từ Quảng Trị kể đến, vùng thôn Mai Đẳng, xã Hải Lăng..Không thể dùng một chữ, một tĩnh từ, không thể nói, khóc, la, trước cảnh tượng trước mặt, chỉ có thể im lặng, chỉ có thể nghiến răng, bặm môi, dù răng vỡ, môi chảy máu tươi, tay luống cuống, mắt mờ nhạt, mũi phập phồng.Không có thể biết gì về thân thể đang mở ra trước sự tàn khốc trước mặt.Trời ơi ! Hình như có tiếng kêu mơ hồ dội ngược ở trong lồng ngực, trong cổ họng, nơi óc não, hay chỉ là ảo giác của con người mất hết khả năng kiểm soát.Kiểm soát làm sao được nhịp đập của quả tim, không ai ngăn cản cơn chớp liên hồi của đôi mắt, tay nổi da gà, những sợi gân ở thái dương phồng lên đập xuống – Mệt, máu chảy ngúc ngắc trăn trở lăn lóc khô khan khó nhọc trong những gân căng đến độ chót … Cũng không phải như thế – Tôi không biết, hoàn toàn không biết được gì của xác thân.

Tôi không còn là người đang sống, vì sống là sống cùng với người sống, chia xẻ vui buồn, đau đớn lo âu với người sống.Chung quanh tôi, trước mặt chỉ còn một hiện tượng, một không khí – Chết.Phải, chỉ có sự chết bao trùm vây cứng.Chỉ có nỗi chết đang phơi phới bừng bừng che kín không gian.

Đã sống trong cảnh chết của trận Đồng Xoài năm 65, trận Bình Giả năm 64, đã nằm cùng, ngủ chung với xác chết qua một thời gian dài, nhưng bên cạnh những nín lặng đau đớn của những cái chết này vẫn còn tiếng nói, tiếng động của người sống dù là tiếng khóc vật vã, lời kể lể thống thiết của những người mặc đồ tang lăn lộn trên xác chết đã sình chương mới được kéo về sau bẩy ngày tử trận. Những cảnh chết còn không khí người sống, tôi chịu được – sự chịu đựng khốn mạt chỉ có chiến tranh mới dạy được cho người.Và mới gần đây, An Lộc với những ngôi mộ vô danh, mộ tập thể, những cái chết câm lặng đến độ chót của đau đớn kinh hoàng, người cha trầm tĩnh đi tìm từng cái chân, cánh tay của năm đứa con vừa bị tan thây vì quả đạn đại pháo, nhưng lại còn được một nấc chót – Bên cạnh người chết vẫn có người sống – Người sống, dù với thể xác vô tri, đi đứng hcuyển dịch như thứ người cuồng tín bi thảm – Người điên buồn, điên lặng, điên câm nín, điên ở trong, điên chạy ngược, thấm đẫm, trĩu nặng từ tế bào thần kinh – Dù sao cũng là Người Sống. Ở An Lộc, tôi còn thấy được loại người cuối đáy đau thương đó. An Lộc lại quá nhỏ, chỉ hơn một cây số vuông, cái chết cô đặc lại, ngập cứng vào người nhanh và gọn như nhát dao ngọt. Cái đau đến chớp mắt, người chưa kịp chuẩn bị thì đã lún hẳn vào trong … Tôi cũng chịu đựng nổi, gồng mình mà chịu, chịu được như chiếc bóng căng phồng khí độc.

Ở đây, Giáp Hậu, Mai Đẳng, Hải Lâm thì khác hơn An Lộc một bậc, hơn trên một tầng, tầng cao ngất chót vót, dài hơn An Lộc một chặng, dài hun hút mênh mông.sự chết trên 9 cây số đường này là 9 cây số trời chết, đất chết, chết trên mỗi hạt cát, chết trên đầu ngọn lá, chết vương vãi từng mảnh thịt, chết từng cụm xương sống, đốt xương sườn, chết lăn lóc đầu lâu, chết rã rời từng bàn tay cong cong đen đúa … Nhiều quá, 9 cây số hay 9000 thước, mỗi thước trung bình hai bộ xương tung tóe, vậy tất cả là bao nhiêu?Chỉlấy con số trung bình vì có chiếc xe hồng thập tự chổng bánh vỡ sườn để lộ những bàn chân đen thòng ra ở cửa đằng sau … Chiếc xe Honda gẫy đôi, còn xót lại hai đôi dép Nhật, người ở đâu ?Không làm phân biệt được tay này, chân kia, đầu lâu người nọ … Chiếc xe công binh ủi một đường dài, những xác chết, không, phải nói những bó xương bị dồn cùng áo quần, vật dụng, chạm vào nhau nghe lóc cóc, xào xạc, “đống rác” người ùn ùn chuyển dịch, một chất nhờn đen đen ươn ướt lấp lánh trên mặt nhựa – nhựa thịt người !!Trời nắng, đồng trắng, con đường im lìm, động cơ chiếc xe ủi đất – phải gọi xe ủi người mới đúng – vang đều đều, hơi nắng bốc lên từng đường trên mặt nhựa, hơi nặng mùi … Vạn vật chết trong lòng ánh sáng. Ánh sáng có mùi người.

Làm được gì bây giờ? Bịt mũi, che mồm, nhưng tất cả vô ích, hơi chết đọng trên da, chui vào mũi, bám trên áo, hơi chết hít vào phổi trôi theo máu. Tôi đang đứng trong lòng của sự chết.Tránh làm sao được, ai có thể ra khỏi khối không khí của nơi sống?Những cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động vì người chứng kiến thấy được “xác người,” xác chồng chồng lớp lớp có thứ tự, gọn ghẽ nguyên vẹn… 9 cây số đường chết của Quảng Trị không còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe, chết vỡ bùng … Chết trân tất cả mọi cái chết.Không còn được “người chết” trên đoạn đường kinh khiếp đến tột độ của chốn quê hương thê thảm.Giáp Hậu, Hải Lâm: Tên nhớ vào máu dù sau này tôi chết, ký ức cũng không thể phôi phai …Đã dùng hết tất cả chữ nghĩa có trong đầu, nhưng chưa đủ, chắc rằng chưa thể đủ được, tôi điều tiết hết cả thần kinh để đón nhận, ghi nhớ nhưng nhận không vừa, ghi không nổi … Lòng bây giờ cũng như dây đàn đã đứt, chỉ còn thoáng âm ba cứng đỏ mơ hồ không kìm giữa nỗi chết.Đau choáng váng, ngất ngư dật dờ bởi thứ men chết dậy lên hừng hực như nắng sáng.

Pháo vẫn còn rơi ở phía trái con đường, rơi từng ba quả một, từ vùng Tây Bắc đến, người lính Công Binh vẫn từ từ cho xe ủi “người,” tôi vẫn lặng lẽ hút những hơi thuốc đắng.Nếu pháo nổ ở đây thêm hai xác người nữa thì có là bao! Không gì lạ nếu tôi và người lính Công Binh này chết.Chẳng có nghĩa gì khi thêm hai đầu lâu mới, bốn cánh tay, bốn bàn chân và ít ruột gan rơi rớt đẫm máu văng trên mặt nhựa này …Đúng như thế vì những đầu kia, tay nọ chắc cũng đã qua một lần rung động, cũng có qua một vết kỷ niệm, một đời nồng nàn ước vọng, sung sướng và hạnh phúc. Bây giờ còn gì nữa đâu trong chiếc sọ đen nâu dính chút thịt nhão nát và lọn tóc khô rối rắm. Người đàn bà, sinh vật đã một lần yêu quý, đã một lần thiên đàng rực sáng của tình yêu, là hạnh phúc mầu nhiệm của người mẹ …Còn gì đâu trong chiếc sọ nồng thối lăn lóc nọ ?…Hết nơi cho Người, hết thật.Lọt vào 9 cây số này con người đã hoàn toàn tận diệt, sinh vật người hoàn toàn tận diệt. Hết, một chữ ngắn gọn để diễn tả cơn tan vỡ cùng cực … Chỉ còn được mỗi chữ này.

Xe ra khỏi, không, phải nói rằng đó chỉ là cảm giác tự đánh lừa mình, vì không ai có thể ra khỏi được nỗi chết trùng vây kín.Đến La Vang thượng, xuống đi bộ vào La Vang chính tòa, nơi bạn tôi, Tiểu Đoàn 11 Dù đang chiếm giữ.Hai cây số đường đất giữa ruộng lúa xanh cỏ, tôi đi như người sống sót độc nhất sau trận bão lửa đã đốt cháy hết loài người.

Đường vắng, trời ủ giông, đất dưới chân mềm mềm theo mỗi bước đi, gió mát và không khí thênh thang.Ngồi xuống vệ đường bỏ tay xuống ao nước kỳ cọ từng ngón một – Tôi muốn tẩy một phần sự chết bao quanh? Có cảm giác lạ :tôi vừa phạm tội, tôi được sống.Phải, tôi có cảm giác như chính mình vừa giết người và dành quyền được sống, chính bàn tay này vừa tham dự vào trò tàn khốc …Tôi nghĩ lộn xộn điều này nối lấy điều kia, hổ thẹn, uất ức, giận hờn, đau đớn và … vô tri giác.Tôi muốn “chửi” Tướng Giai.Dù có bị thôi thúc, ép buộc từ một chiến lược nào đó ông ta cũng không thể bỏ Quảng Trị trong bất thần để đến nỗi 9 cây số đường kia phủ thịt người.tôi cũng muốn chửi Bắc Quân.Dù luật chiến đấu là phải thắng, nhưng ai nỡ bóp cò để B40, B41, 75 ly sơn pháo, từ trên những cao độ của Xuân Lâm, TrườngPhước, Trường Thọ (những tên gọi sao cay đắng) nổ vào những “mục tiêu” xao xác – D0oàn người chạy loạn.Thắng trận ở đâu khi những mục tiêu đau đớn đó ngã xuống? Tội nghiệp, những người lính của Đại Đội 3 Quân Y còn tưởng đến giá trị của chiếc cờ trắng chữ thập đỏ nên đã trương lá cờ thụ động vô nghĩa để băng qua sự chết.Bắc quân, hình như anh đã không có tình người, cạn tình người.Anh giải phóng cho ai khi đi giết con người? Tôi muốn hỏi điều đó, hỏi vang vang, hỏi bằng tiếng thét đến vỡ cổ, bật máu, tôi muốn hỏi tại sao Người giết Người tỉnh táo và tàn tệ đến thế kia? … Từ nơi đặt sứng đến “mục tiêu” không quá 1 cây số và gần nhất dưới 50 thước, anh không nghe tiếng thét khi Người chết sao? Tôi muốn hỏi người lính miền Bắc với hết cả thống hận trong lòng.Căm thù nào trên người đàn bà tóc rối bế con chạy xôn xao giữa giòng người tan nát ?Tôi muốn hỏi, hỏi ngàn lần, hỏi vạn lần người mang danh hiệu là lính của Quân Đội Nhân Dân.Nhân Dân để gọi những ai? Tôi muốn hỏi một triệu triệu lần bằng tiếng thét vô hình nổ bùng trong đầu óc khi ngồi giữa cánh đồng trống.

Muốn cào mặt, đấm ngực, cắt da để máu chảy thành giòng, để nhìn thấy mình cũng “được” đau đớn, chia sẻ.Tôi bất mãn với chính tôi trong trạng thái ù lỳ vô tri khi giương mắt nhìn rõ chiếc sọ người tóc rối.Phải, tôi cũng muốn chửi cả chính tôi, thật sự như thế … Tôi cũng có tội, tôi cũng có tội đấy, trời ơi!!

Đi vòng vòng ở sân của Vương Cung Thánh Đường, nhìn tượng thiên thần, tượng Đức Mẹ, cây dương liễu cháy xám … Những cảnh sắc và nơi chốn này đối với tôi là kỷ niệm không phôi phai, nhưng bây giờ sau khiqua 9 cây số chết, lòng cứng, não trơ, tôi đi xiêu vẹo ngả nghiêng trong lòng nắng và gió nồng … Ngửi và thấy toàn người chết.Trí óc không nghĩ được cái gì hơn … Đi qua ngôi nhà xưa khi mùa đông 66, 67, tôi, Thừa, Hổ và anh Bảo ngồi ghếch chân lên gốc cây thông uống bia đá.Trời lạnh nhưng cũng phải uống nước đá, chúng tôi vừa ở núi, nơi đầu sông Thạch Hãn rút ra, 15 ngày trong đó … Bây giờ những bạn xưa đã chết, tôi thì đang bị vây khốn trong một trời thống khổ, làm cái gì đây ?Còn gác chuông của nhà ông Trùm họ đạo : Tôi nhớ căn nhà này có một cô gái, Hổ đã trêu ghẹo cô ta một câu trước khi rút quân đi, Hổ chết đầu Xuân 68, cô gái bây giờ ở đâu ?Hay cũng đã chết tan trong một vùng lửa đạn.Bước qua gạch ngói của căn nhà đổ nát, tôi đến gác chuông kéo sợi dây, hai quả chuông quá nặng, phải kéo bằng cả hai tay … Kính … coong … Tiếng chuông âm u vang động; vang vào trong núi không nhỉ ?Nơi đây là một bình nguyên trùng điệp và Trường sơn bao vây nơi xa … Vắng vẻ quá !Tôi nói thật lớn cho chính mình nghe.Chẳng biết nên làm gì ?Giật dây chuông thêm một lần nữa …

Về theo chuyến tản thương, người thương binh nặng nhất chốc chốc ứa chút máu hồng, bên cạnh, gã tù binh bị thương nằm mê man …

– Tụi này cứng cổ lắm, bị thương nó nằm lì để bắt mình vác đi, đ ..m .. nó lại được nằm băng ca trong khi tui phải bò bằng cùi chỏ!! Anh lính bị thương hai chân ngồi dựa thành xe chửi đổng …

– Thôi, mình khá hơn tụi nó là chỗ này, lỡ cứu nó, cứu cho trót. Tôi tìm đường nói cho anh lính khuây khỏa, quả tình cũng không tin được lời nói của mình.Vì khi đi ngang căn nhà ở cạnh trụ sở xã Hải Lâm, nhìn cảnh người đàn bà ngồi “tước” từng sợi thịt ra khỏi xương người chồng.Người vợ ngồi kẹp đầugiữa hai gối, tước từng sợi thịt đã nâu đen nhão nát trên xương ống tay và chân … Bà ta dùng bàn tay “xoa” lên trên lớp xương sọ, vừa để đuổi kiến vừa để tẩy phần da ươn ướt mòng dính vào khối xương mũi, động tác bình thản thân ái như người vợ trong khi âu yếm tay lên mặt chồng. Ôn ơi là Ôn ơi!! Tiếng khóc nhức nhối than van gầm gừ trong cổ họng như đánh nhịp khi người vợ “nắm” đầu người chồng lên bằng hai ngón tay thọc vào ổ mắt “rảy” cho hết kyến !Tôi biết gã tù binh nghe nhưng cố lờ, gã ngủ trên suốt đường di tản mặt bạnh ra khiêu khích.Người lính của ta có thù hận một chút cũng không sao.Có điều không công bằng giữa hai phe lâm chiến, lính ta đánh giặc không thù hận, tôi biết điều này vì tôi cũng là một lính tác chiến.

Trên xe ra phi trường nghe câu chuyện của hai vợ chồng già quá giang ở băng sau, tôi chợt khám phá ra mọt điều : Dân chúng vùng Thừa Thiên, Quảng Trị đã sửa soạn đón chờ tàn khốc qua tiếng nói.Họ không nói, nhưng than vãn, kể lể, rên xiết.Nỗi oan khiên vô hình chập chùng trên mỗi âm, mỗi chữ, cách lên xuống của từng câu.Không nói quá đáng, từ lâu, đã cảm thấy nhưng chưa kyểm chứng cho đến hôm nay ba thàng mười ngày, lại một số lượng thời gian bí nhiệm mà người Trungcứ mãi nhắc tới, tức là 100 ngày của trận chiến cuối mùa, 3 mặt trận : An Lộc, Kontum, trị Thiên đều cùng có một mẫu số chung : Dân Trị Thiên là nạn nhân đa số.Vì dân cạo mủ ở an Lộc, người dinh điền ở Kontum cũng là những di dân Quảng Trị.Thậm chí ở chiến trường Bình Giả, số lớn nạn nhân cũng không ai ngoài những người dân vừa mới di cư từ Cam Lộ, Khe Sanh vào … Thôi đó là tai ương tiền định, Trị Thiên còn là Câu Ô, xứ sở của người Chàm mà người Trung gọi là Hời.Âm thanh sao nghe qua thê thiết, oán hờn, rồi lại còn giọng hò nữa … Ai đã đứng ở bờ sông Bồ (chảy qua An Lỗ)sông Thư Rơi (Mỹ Chánh), sông Hương nghe giọng hò cất lên từ những khoang đò khi chiều vào tối mới hiểu được vì sao có những quê hương cứ mãi tàn tạ, oán hờn … Định mệnh đã xếp đặtthế. Chỉ còn lời này để an ủi kiếp đắng cay.

Người Lính Việt Nam,

Một nhiệm mầu.

Chiến trận vẫn tiếp diễn, tôi lại bị kẹt trong một guồng máy tầm thường hèn mọn, phải bị trói chân, buộc tay, hằng ngày dẫn một Đại Đội Địa Phương Quân đi chặt ô rô, cóc kèn, dừa nước, phải liên lạc, nhận lệnh từ những sĩ quan đặc ước cựu binh sĩ, Hạ sĩ quan của quân đội thuộc địa, những “cấp chỉ huy” sáng giá, những Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng mà chủ đích của công việc là làm sao “vồ” được một số tiền trước khi đổi đời, lộn giống … Trong tầm thường cay đắng này, tôi cứng người vì hổ thẹn cùng nỗi uất ức điên cuồng lặng lẽ.Hết, phải giã từ những chiến hữu hào kiệt, phải giã từ những chiến trận mịt mùng lửa dậy, phải giã từ ngày căng thẳng giữa hai cọc sống – chết và đêm nóng đỏ của hơi bom rát mặt…

Ngày ngày ngâm chân xuống bùn sâu của những kinh rạch chằng chịt vùng Bến Lức, Long An, đêm dẫn bẩy người lính nằm phục kích trên bờ ruộng, tôi nhìn sao, nhìn trời, nhìn cơn gió và ánh nắng, tưởng nhớ đến những nơi xa, nơi chiến trận trùng trùng giăng kín những người quen hay không quen ngã xuống trong mỗi giờ qua, mỗi ngày tàn.Tiểu Đoàn 11 Dù ở quảng Trị vừa chết thêm một Đại Đội Trưởng – Nguyễn Phúc Long, Đại Đội Trưởng chỉ huy, như thế có nghĩa là pháo đã tăng cường độ, tăng rất cao, rất mạnh.Tiểu Đoàn 3 Dù chết anh Thiếu Úy Thủ Khoa một khóa Sĩ quan Trừ bị, cựu sinh viên luật từ Pháp về, con một ký giả, cựu Thủ Hiến, một Trưởng Hướng Đạo. Tiểu Đoàn 3 Dù nằm dưới Mỹ Chánh, vậy là chiến trận đã trở chiều.Rồi chiến trường Quảng Ngãi tăng cường độ.Bạn tôi, Lê Văn Nghĩa, Chi Đoàn Trưởng chiến xa lừng lẫy 1-4 mất tích ở mặt trận Quế Sơn, mất tích hay chết?Đau biết mấy, tháng trước Nghĩa vào Sài Gòn chạy đôn đáo để tìm tôi… Tìm tao làm gì hở Nghĩa, phải chăng mày biết điềm đi khuất nên tìm kiếm để giã từ!Ôi, bạn thân thiết của một đời mà bao nhiêu năm không gặp, lúc có thể gặp lại thì đời đã đóng cửa biệt ly. Đau, cảm giác đau đớn rì rầm soi mòn cơ thể trong tháng ngày tiêu hao làm tôi gẫy đổ từng vụn nhỏ. Ở vùng II, Tiểu Đoàn Biệt Động Quân của Ngô Văn Mai, Tiểu Đoàn giải phóng Bồng Sơn đang kêu gọi tôi đến, hăm hở sửa soạn chuyến đi dài với Biệt Động thì chiếc cùm cứng nặng đã gông vào quanh cổ, làm gì đây? Giữa đám mây, cơn mưa chợt đổ ào xuống khi chân ngập dưới bùn lầy rạch Rít, tôi ngẩng đầu nhìn hạt mưa mà gởi đến chiến trường bạn hữu nơi xa tiếng thét lặng căm chất chứa những cay đắng lẫn ngậm ngùi. Rồi Thủy Quân Lục Chiến sau 27 tháng Bẩy, thay thế Nhẩy Dù để “dứt điểm” cổ thành Quảng Trị.12 giờ 45, ngày 25 tháng 7 tôi ở đấy, chứng kiến Tiểu Đoàn 5 Dù “mớn” bờ thành và “dựng đại cái cờ,” lời Đại Đội Trưởng Đại Đội 51/TĐ 5 Dù.Gần hai tháng qua đi, Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến đổi 6 Dù, 3 TQLC đổi 5 Dù, 9 TQLC đổi 11 Dù, Trâu Điên (2 TQLC), Quái Điểu (1 TQLC) chận đường cửa Bắc ngang sông Thạch Hãn, những Tiểu Đoàn Mũ Xanh quá quen thuộc, quá gần gũi với những Nghiêm, Liễn, Tiền, Hợp, những bạn thân, đấy là chưa kể Tùng, Để, Phúc, Kim, Tống, những niên trưởng “đúng chỉ số” đã phải chịu bao nhiêu gian nan để bước chân vào nội thành, nơi tòa nhà của Tiểu Khu Quảng Trị … Gian nguy, hình như danh từ này không đủ, không làm sao đủ được vì cổ thành là gì, nếu không phải là cục đá vuông với bề dài mỗi cạnh 590 thước, cao và dầy 5 thước – Mục tiêu được đo bằng số chính xác đó gồm trăm ngàn viên gạch ghép lại đã thấm bao nhiêu lít máu ?Mua bằng bao nhiêu mạng người ?Bao nhiêu đời sốngđã đánh đổi lấy bức thành rộng năm trăm thước vuông đó, bao nhiêu ?27 tháng 7 – 15 tháng 9 là 48 ngày, và nếu kể từ 7 tháng 7, lúc Tiểu Đoàn 7 Dù vượt qua ngã 3 Long Hưng vào cách chi khu Mai Lĩnh 300 thước thì mặt trận thành phố Quảng Trị thực sự đã kéo dài trong 68 ngày, 68 ngày với lực lượng 4 tiểu đoàn Dù (5, 6, 7, 11) trong giai đoạn đầu và 8 tiểu đoàn TQLC (giai đoạn 2) cùng một liên đoàn BĐQ.Trong 68 ngày đó, đặc biệt là 48 ngày của Thủy Quân Lục Chiến, các tiểu đoàn của ta đã phải chiến đấu liên tục trên một chiến trường dài hai câynăm trăm thước từ ngã ba đường Lê Văn Duyệt, đường vào TRí Bưu đến Long Hưng, ngõ vào Quảng Trị, và ngang một cây số hay 1000 thước – Những con số phải viết chính xác để nói lên một chiến trường hẹp cứng gai góc hết ý niệm chiến trận – Chiến trường có diện tích Hai ngàn năm trăm thước vuông đó đã được 15 tiểu đoàn bộ chiến bao vây và quét sạch từng thước đất, phải nói từng tấc đất nếu muốn giữ độ chính xác trong 68 ngày, 15 tiểu đoàn hay 7500 người phải đi qua 2500 thước vuông, vậy mỗi người có bao nhiêu thước chiến trận? – Con số trung bình cho thấy 3 người lính có 1 thước vuông mục tiêu.Một thước vuông để tác chiến trong 68 ngày !!Quân sử thế giới trước và sau Quảng Trị, không còn một nơi nào, không thể có một chiến trường nào chật cứng đứt hơi bằng Quảng Trị, Việt Nam … Chắc chắn như thế.Trong 68 ngày đó, 6 tiểu đoàn pháo của hai sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến đã bắn bao nhiêu trái đạn, dàn hải pháo của Hạm Đội số 7, phi cơ Việt Nam đã đánh 7 phi tuần xuống góc đông bắc cổ thành, mở đường cho Tiểu Đoàn 5 Dù ; 7 phi tuần gồm 14 phi xuất, một phi cơ trong một phi xuất đánh 12 trái bom từ 250 ký đến 500 ký … Vậy trong 68 ngày, bao nhiêu bom đã rơi xuống trên mỗi phần đất của thành phố chiều dài không quá 15 phút Honda đó ?!!Quảng Trị !Muốn kêu lên một tiếng nhỏ, muốn nhỏ một giọt nước mắt – Thành phố quê hương là thánh địa chịu nạn cho hết tai ương nhân loại – Không còn một nơi chốn điêu linh nào của địa cầu qua mặt nơi mang tên Quảng Trị. Không có một nơi nào.

Để kết luận, ta tìm một sự so sánh.Người Đức bao vây Stalingrad 76 ngày, người Mỹ giữ Bataan trong 66 ngày, Corregidor 26 ngày, quân lực Anh và Khối Thịnh Vượng Chung tử thủ Tobruk trong 241 ngày.Và gần gũi nhất, Điện Biên Phủ thực sự bị bao vây là 56 ngày.Những cuộc bao vây và tử thủ lừng danh này được thực hiện bởi súng Sten, Mat 36, Garant, Carbin M1, loại vũ khí hàng đầu của Bộ Binh Mỹ, Bộ Binh số 1 của thế giới !!!Những trận đánh để đời của quân sử thế giới đó có là gì so với Quảng Trị khi một anh Hạ sĩ nhất 17 tuổi, Trần Văn Rony của Tiểu Đoàn 6 Dù hạ gần 100 Cộng quân trong một ngày chiến trận … Dưới đất là cá nhân chiến đất khai triển tối đa, trên trời 1 pass B52 đi qua (sau 27 tháng 7, phi cơ Mỹ và B52được lệnh đánh Quảng Trị) với 3 chiếc, một chiếc chở 42 trái bom 250 ký, 24 trái bom 500 ký, cùng đánh xuống trên diện tích không quá 500 thước bề dài … Còn gì nữa không ?Quả thật không còn đủ chữ nghĩa để nói hết “nồng độ” của chiến trường.Từ ngã tư Quang Trung – Duy Tân, nơi Tiểu Đoàn 6 Dù bàn giao lại.Tiểu Đoàn 6 TQLC đã mất hết 48 ngày để đánh đến vào góc thành đông nam cổ thành Đinh Công Tráng – 48 ngày tác chiến dằng dặc thường trực trên trục tiến quân dài đúng 400 thước ; 400 thước đầy chốt, chốt gồm một tổ 3, 6 hoặc 9 người, gồm đủ B40 và thượng liên, chôn cứng dưới những công sự chịu đựng được bom, chốt được bao bởi một hàng rào cối “cơ hữu” từ những chốt lớn đằng sau và đại pháo 130 từ Đông Hà, Bến Hải, Khe Sanh bắn xuống – Qua được một tấc đường, đến gần một điểm chốt là bò trên nỗi chết cụ thể như lớp đất đá ngổn ngang mà bàn tay chạm phải khi lần mò tìm kiếm lối đi … 400 thước cho 48 ngày tác chiến không dứt thở, còn điểm “thông hơi” nào của chiến trận để chiến sĩ ta chịu đựng khỏi đứt hơi.

Thế nhưng người lính đã sống còn và chiến đấu được, chiến đấu hào hùng hừng hực quyết tâm, 30 tháng 3 kể đến giờ này là 6 tháng hay 280 ngày đỏ lửa, người chiến sĩ ta có đêm nào ngủ được quá 4 giờ, bao lần bình yên cầm cái chén để từ tốn và miếng cơm nóng, người lính ta đã bắn bao nhiêu ngàn viên đạn, đã dựng mắt thức trắng mấy ngàn giờ … Cái thân thể gầy gò nặng dưới 50 ký lô mang bốn ngày thức ăn và gạo, một bộ áo quần, chiếc poncho, võng, 600 viên đạn XM16, 6 trái lựu đạn M26, 1 hỏa tiễn M72, nón sắt và khẩu súng – Tất cả khoảng 40 ký – 40 ký đè nặng trên tấm lưng gầy còm hằn dưới xương sống trong 6 tháng để đi qua vực thẳm của nỗi chết trùng trùng, người lính còn là “nạn nhân” thụ động đến độ thê thảm của trò chơi chính trị được cò kè mặc cả ở những căn phòng kín cửa.Đưa bàn tay chỉ còn một ngón, người sĩ quan của Trung Đoàn 57 Sư Đoàn 3 chỉ vào tượng Chúa ở ngực đểnói “ “Tất cả những điều tôi nói là sự thật – Đầu tháng Tư trấn giữ ở phía bắc Đông Hà chính mắt tôi thấy 6 khẩu đại bác của Bắc Quân khai hỏa ở Ngã Tư Sòng (Gio Linh) cách tôi không đầy 3 cây số, phi cơ Mỹ được gọi tới và đánh cách mục tiêu 12 cây số … Khẩu đội đại bác Bắc Quân để sát cạnh đường vào làng Kim Môn dưới chân đèo Ba Dốc, những điểm địa hình quá dễ nhận trên địa thế, vậy không có một lý do nào bảo tôi nhầm lẫn chấm sai mục tiêu cả 12 cây số !!Và rõ ràng nhấtlà ngày 25 tháng 7, ngày Tiểu Đoàn 5 Dù bám được bức tường đá Cổ Thành Quảng Trị, chỉ có mỗi phi cơ A37 của Không Quân Việt Nam yểm trợ cho đến 12g45, khi Nguyễn Tấn Sĩ thúc lính bòlên thành, buổi chiều Không Quân Hoa Kỳ can thiệp, dội bom nội thành – Kết quả vì hai trái bom đánh nhầm, Tiểu Đàn 5 mất đà, khựng lại và dội ngược … Sư Đoàn Dù trống ngã bến Chùa, đường qua sông Thạch Hãn về NHan Biểu, Ái Tử – Đường tiếp vận của Bắc quân … 9 tiểu đoàn Dù chỉ vừa đủ rải dài từ Mỹ Chánh đến Quảng Trị, từ đường chiến thuật 556B ra đến quốc lộ một lữ đoàn để chận con đường Ái Tử – Nhan Biều – Cổ thành là ước vọng tha thiết của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù hay cũng chính của Tướng Trưởng … Ước vọng được căng dài trong 2 tháng không thực hiện!! Thế nên dù Tiểu Đoàn 5 Dù là tiểu đoàn hàng đầu của binh chủng, dù Tiểu Đoàn 6 là tiểu đoàn đã làm phép màu ở An Lộc, hai tiểu đoàn này có gồm những người lính đúc bằng thép cũng không thể dựng cờ Cổ Thành, không thể nào dựng được trong những điều kiện thuận lợi tái người như đã nói.Vậy bám được bờ thành như buổi sáng ngày 25 tháng 7 đã là một chiến công kỳ diệu. Chỉ có thể làm được với Tiểu Đoàn 5 Dù, đơn vị đã khai sinh sau vi tướng cho quân lực. Tướng Ngô Quang Trưởng khỏi đầu võ nghiệp cũng với Tiểu Đoàn 5 Dù.

Người Lính Việt Nam đã chiến đấu và tồn tại như một nhiệm mầu. Trên mầu nhiệm bình thường lặng lẽ này Tổ Quốc điêu linh thở từng hơi ngắn đớn đau nhưng bền bĩ … Chư nghĩa hoàn toàn vô nghĩa trước chân dung bi tráng hùng vĩ của người và quê hương.

Việt Nam tháng 10, 1972.

Đêm Trên Bờ Thạch Hãn.

Định mệnh, phải gọi sức mạnh bí ẩn và linh thiêng đó thêm một lần.. Phải, chỉ định mệnh mới có thể xếp đặt, dàn xếp tất cả tai ương, hạnh phúc, địa ngục, thiên đàng cho con người.Những sự kiện kinh hoàng nhất đã xẩy đến, những thống khổ đọa đầy nhất đã hiển hiện, tất cả tàn khốc chất ngất chiến tranh đã ào xuống trên Quảng trị, kéo dài qua Đại Lộ Kinh Hoàng trong mùa hè trước thì năm nay 1973, bắt đầu cho những ngày hè mới trên thành phố tan nát nhỏ bé này – Thành phố, chữ viết đến quá ngại ngùng … Vì đống gạch đá vĩ đại kia có phải là một thành phố không? – trên đoạn đường số 1 mà chỉ 365 ngày trước đây, hàng ngàn người đã nằm xuống với hiện thực của một địa ngục trần thế … 365 ngày đi qua, trên bụi cỏ còn vương dấu mảnh áo quần cháy nám của người chết, trên lớp cát xám lạnh theo cơn gió đôi khi thoang thoảng mùi thịt da chưa tanbiến hết và hằng ngày, hằng giờ trên Quảng Trị, “thành phố” không tiếng nói, không nóc nhà, lũ chó hoang sục sạo tung hoàng tìm kiếm mùi chủ cũ … Trên dấu vết mới tinh của mùa hè khốc liệt vừa qua, những ngày hôm nay, mùa Hè 73 là sân khấu để diễn ra một tấn kịch khác – kịch Hòa Bình – Bờ sông Thạch Hãn, nơi trao đổi tù vĩ đại của một nền hòa bình lạnh buốt sống lưng – Định mệnh, chỉ có sức mạnh siêu hình này mới giải thích được.

Máy bay đi qua An Lỗ, qua Phong Điền, qua Mỹ Chánh, trời mù sương nên trực thăng bay sát mặt đường … Tôi lại thấy cầu Dài, cầu Ngắn, thấy hỗn độn trên cát trắng cảnh chết của toàn thể con người mà dấu vết sau một năm dài vẫn còn hằng hằng trên màn mắt … Nhưng trước mặt, hai bên, trên chiếc trực thăng bây giờ tôi đang bị vây quanh bởi nón ông soa, nón cối, áo đại quân, áo tác chiến vải kaki Nam định và thuốc lá Điện Biên bay mùi khét … Thượng Đế ơi, phải chăng người muốn ném tôi vào một cơn đùa !!?Hằng ngày đi bộ từ nơi của Nghiêm, (Tiểu Đoàn Phó TĐ ! TQLC) căn nhà lầu có lò gạch mà mùa Xuân Mậu Thân tôi đã đến ở và chiến đấu … Trí nhớ vận dụng tối đa cũng không thể xác định được nơi chốn đã một lần trú ngụ … Và Quốc Lộ 1, đường Nguyễn Hoàng, đường Gia Long, trạm xăng xưa tôi và Mễ mua xăng theo lối “ủng hộ,” quán sách đối diện Cổ Thành, quán bún bò ở bờ sông … Tất cả chốn xưa mỗi ngày mỗi giờ đi qua vẫn không thể tìm ra dấu tích … Quảng Trị ơi, trái tim muốn vỡ tan dưới tiếng than im lặng.Và tôi lại đến ngồi ở bến sông, nơi tọa độ YD3 … Lịch sự, hòa nhã, kiềm chế hết phẫn nộ, đè xuống hết tức tưởi … Thông báo cùng quý vị, thể hiện tinh thần hòa giải, thi hành nghiêm chỉnh Nghị Định Thư … Tôi phải đối mặt với một kẻ thù vẫn còn rất mới. Ngày này, tại đây, mùa hè năm trước. Trước mặt, Quảng Trị tan vỡ chập chùng qua lớp nước mắt vô hình.

Thương thân, thương bè bạn, thương người, thương thành phố.Nỗi thương mến mênh mông nhưng dày đặc, thương mến rộn rã đau đớn, thương mến ngất bồn chồn … Mỗi lần ngồi xuống chiếc canô chạy qua bờ bắc Thạch Hãn, thấy lá cờ vàng phất phới trên điêu tàn – lòng trùng xuống, độ phiền muộn sâu như hố thẳm … Đêm khuya, sương mù mịt, trăng lạnh dọi xuống giòng sông đang lách tách con nước về biểnxa, nhìn phióa núi nơi bạn thân đang co mình dưới hầm để qua cơn pháo tập trung từ Gio Linh đổ xuống … Đêm qua dần dần, ngày đến, trăng lặn vào nơi xa, màu vàng đục phiền muộn như nỗi uất ức … Ngày hết hẳn, trời sáng, lính và dân tập họp đầy ở bờ sông để đón “anh em mình” về và chứng kiến những phương thức biểu lộ “đấu tranh cách mạng” hạ cấp, cố chấp và bỉ ổi của lũ tù được trả về bên kia – Nơi không có con người … Đứng trong đêm, nghĩ chuyện trong ngày để thấy bội phục vô vàn lòng cao cả và sức chịu đựng siêu đẳng của Người Việt Miền Nam – Những người lính vừa qua đêm dài dưới pháo nổ và người dân còn hằn vết dấu kinh hoàng – Quảng Trị, nơi họ chứng kiến lũ tù Cộng Sản đi qua thoảng tiếng tru của lũ chó hoang đi tìm chủ.

Lòng cố chấp và sự căm hờn, những khuyết điểm mà người viết dù ở hoàn cảnh nào cũng phải nên chối bỏ. Nhưng trong hoàn cảnh đau đớn này, phải cho tôi quyền phẫn nộ – Tính chất cần thiết để bảo vệ con người trước bạo lực. Cuốn sách đã hình thành trong cơn đau đớn, lần in thứ hai này người viết xin được gởi kèm theo một tình ý mới – Xin được coi như một vũ khí bảo vệ con người. Lời nói không phải mang tính chất kệch cỡm của một đại ngôn láo xược nhưng xin được nghĩ là sự cầu khẩn phát xuất từ một người Việt Nam trong hoàn cảnh bi thiết hào hùng – Hoàn cảnh của chính quê hương Việt Nam.

Một năm qua, những người lính được kể đến đã có nhiều biến đổi. Rất nhiều người thay cấp bậc và chức vụ, nhiều người tạm biệt chiến trường và những người đã … chết.Bên cạnh đó, có những người sống lại, những người trở về và hỏa ngục Cộng Sản đã được xác nhận là một thực thể.Đồng thời những chuyến đi kế tiếp còn cho biết có rất nhiều trận lớn đã không được ghi nhận, như trận “Quận Triệu Phong” của Tiểu Đoàn 1 TQLC, trận đánh mẫu chốt mở đường cho chiến dịch tái chiếm Quảng Trị – Quận đường Triệu Phong , chốt chận đường tiếp vận của Bắc quân từ phía bắc theo sông Thạch Hãn vào Quảng Trị. Thế nên, phải xin lập lại một lần câu tạ lỗi. Một cá nhân trong thời gian giữa các chuyến đi không thể nào có khả năng ghi nhận đủ toàn thể một cuộc chiến vĩ đại. Cuộc chiến vượt hết cả cuộc chiến lịch sử chiến tranh loài người.

Quảng Trị- Tháng 3-73

Trận Pleime năm 1974

baotreonline.com

29 Nov 2019

Vương Mộng Long

Post by Sơn râu 9 Apr 2026

Kỳ trước: Sáng 28 Tháng 7 những trận tiền pháo hậu xung ngất trời nhưng Pleime vẫn trơ trơ mà địch thì chết như rạ, phải ngưng để kéo xác.  Trưa 29 Tháng 7 Đại tá Chỉ Huy trưởng BĐQ QK 2 đạp chân xuống trại thăm thuộc cấp của mình giữa tiếng phòng không của địch nổ vang.

 Kỳ 6

Tôi chạy ra sân kéo Ðại tá Tất vào hầm chỉ huy nằm trong trung tâm trại. Tôi tóm tắt cho người chỉ huy biết tình hình mấy ngày qua.

Lúc đó trong hầm hành quân còn có mặt ông Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn.

Ông Chủ xuất thân khóa 22 Thủ Ðức, tuy đeo lon trung úy nhưng thực ra còn là cấp thiếu úy. Ông ta bị gián đoạn công vụ một thời gian vì bị Cộng Quân bắt giam từ tháng 5 năm 1969 tới cuối năm 1973 mới được trao đổi tù binh.

Khi bị địch bắt ông Chủ mới mang cấp bậc thiếu úy vừa tròn một năm. Tôi đề nghị Ðại tá Tất cố gắng hợp thức hóa cái lon trung úy cho ông Chủ để sau trận này, tôi có thể chạy lon đại úy cho ông ta. Ðại tá Tất hứa sau khi trở về Pleiku ông sẽ thỏa mãn lời yêu cầu của tôi.

Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng ghé tai tôi nói nhỏ,

– Kỳ này chắc chắn ông thầy sẽ thêm một mai bạc! Nhớ đãi tụi em một chầu nhe! Hai tháng trước có vài thằng Ðặc Công mò về Căn cứ 333, hai bên bắn nhau đì đẹt. Chỉ có mấy thằng Việt-Cộng chết mà Trường An đã đề nghị cho ông tiểu đoàn trưởng lên trung tá rồi đó!

Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng và Thiếu úy Trần Văn Phước đều xuất thân từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2. Hai sĩ quan này chập chững vào chiến trận dưới bàn tay dìu dắt của Thái Sơn Vương Mộng Long. Vì thế mà gặp nhau bất cứ ở đâu họ đều gọi tôi là “Ông thầy” thay vì gọi tôi với cấp bực. Tôi nghĩ rằng, một chiến binh, khi nhận nhiệm vụ ít người hy vọng được thăng chức lên cấp, mà chỉ mong hoàn thành trách nhiệm là mừng rồi. Ngay cả tới cái mạng của mình mà không biết có giữ được không thì mong gì tới những thứ phù du khác. Cứ nhìn vào chuyện xảy ra gần đây thôi. Tôi và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 cùng ra đơn vị một ngày. Ông Di lên Dak Pek, tôi vào Pleime. Nay Dak Pek đã thất thủ, Thiếu tá Di chết rồi, còn tôi thì đang bị vây.

Tôi nói với chú Hùng,

– Cứ chờ đi! Không biết anh có được lên lon hay lại theo chân ông Di cũng chưa biết chừng!

Ðại tá Tất tỏ ý muốn tôi dẫn ông đi quan sát một vòng quanh trại, nhưng tôi thấy điều này có thể gây nguy hiểm đến tánh mạng của ông nên tôi không cho ông thực hiện chuyện này.

Ông Tất nói cấp trên đã lên kế hoạch tiếp cứu Pleime rồi, ông khuyên tôi gắng kiên tâm “Tử thủ”.

Tôi không rõ Tướng Nguyễn Văn Toàn có cho ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 biết rằng tôi được phép rút chạy sau ba ngày cố thủ và một tuần “đánh trận giả” hay không, nên tôi chỉ trả lời ông Tất rằng tôi sẽ cố gắng.

Một giờ sau, tôi hướng dẫn chiếc trực thăng núp theo triền Bắc núi Chư Gô đáp ngay cổng Nam Pleime bốc hai thầy trò ông Ðại tá, có sáu thương binh được đi theo. Chiếc phi cơ mở hết tốc độ bay thẳng hướng Tây, bay một mạch, tít mù xa, rồi mới quẹo về hướng Phú Nhơn.

Noel 1973 Pleiku.Thiếu tá Vương Mộng Long (em rể) Chuẩn úy Đinh Văn Thọ (anh vợ) và 2 con của VML.

o O o

Công đồn đả viện …

Hầu như ba ngày đầu tôi chỉ bận rộn với chuyện gom góp quân thất lạc và chống đỡ những đợt tấn công từ hướng Bắc.

Ðêm 31 tháng 7 địch đẩy hai khẩu 75 ly không giựt lên đỉnh dốc nhắm bắn vào trại. Sau bốn năm trái 75 ly thì cái câu lạc bộ tan hoang, vách ván, mái tôn bay tung toé.

Tôi chưa gọi được điện thoại cho khẩu 105 ly cổng Bắc thì anh lính Thượng đã giựt cò bắn đi hai quả Beehive. Chắc xạ thủ của hai khẩu đội 75 ly chết hết rồi, nên không còn trái 75 ly nào bay vào nữa.

Suốt đêm 31 tháng 7 cho tới sáng 1 tháng 8 phi cơ Hỏa Long liên tục thả hỏa châu và bắn cận phòng vùng một cây số Bắc Pleime.

Tôi cũng được thông báo hai Box 1×1 km đánh bom tập trung trong vùng hướng Tây làng Plei Xome đã được một đoàn oanh tạc cơ A 37 thực hiện trong đêm qua. Những Box bom 1×1 km này có thể coi như những Box B52 Mini do Không Quân Việt-Nam mới sáng chế ra. Nếu địch tập trung đông trên một diện tích hẹp mà bị một Box này thì thiệt hại không phải là nhỏ.

Ngày 1 tháng 8 năm 1974 Trung tá Hoàng Kim Thanh thông báo cho tôi biết rằng, Trung Ðoàn 41 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đang gửi Tiểu Ðoàn 3/41 vào khu vực Bắc của núi lửa.

Tôi có ba người anh vợ đều là sĩ quan, hai ông anh đầu chết rồi, ông anh thứ ba thì đang phục vụ trong Tiểu Ðoàn 3/41, nên tôi xin tần số của tiểu đoàn này để hỏi tin tức.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 là Thiếu tá Phan Ðình Thành, khóa 22 Ðà Lạt.

Tôi nói với Thành,

–Trong đơn vị của Thành có ông anh vợ của tôi. Tên anh ấy là Ðinh Văn Thọ, cấp bậc chuẩn úy. Thành cho tôi gửi lời thăm anh ấy, nhắn với anh ấy rằng tôi vẫn bình yên.

Tôi vừa dứt lời thì Thành đã nhanh nhảu,

– Ủa! Chuẩn úy Thọ là anh vợ của niên trưởng hả? Trung đội của ông ấy đi đầu, nhưng mất liên lạc hai ngày rồi!

Sau này ông Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ tức là ông anh thứ ba của vợ tôi về nhà kể lại: Trung đội của ông ấy tổng cộng có 11 người, Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là trung đội phó, trung đội trưởng là một chuẩn úy ra trường Thủ Ðức trước ông một khóa. Dưới quyền hai vị chuẩn úy là một ông trung sĩ và tám ông lính. Họ được lệnh mở đường tiến vào Pleime, nhưng mới rời bộ chỉ huy tiểu đoàn chưa được hai trăm mét thì đụng đầu một đơn vị địch rất đông. Trung đội này chạy lạc vào một làng Thượng đã bỏ hoang. Họ rủ nhau chui vào khu vườn cây um tùm để ẩn núp. Mấy ngày sau toán này lợi dụng đêm tối lần mò ra Quốc lộ 14 tới quận lỵ Phú Nhơn trình diện.

Sau chiến tranh, ông chuẩn úy anh vợ tôi cũng bị tù cải tạo, nhưng thời gian ở tù của ông ấy chưa tới 3 năm. Ông không đủ điều kiện đi Mỹ định cư theo diện H.O nên đành về quê Ban Mê Thuột, trồng tiêu, nuôi gà.

Nay ở tuổi gần thất thập, ông vẫn chưa quên cái lần ông ra trận đem quân vào Pleime cứu thằng em rể.

Có thể nói, thời gian từ 27 tháng 7 năm 1974 tới 10 tháng 8 năm 1974 là giai đoạn “Công đồn đả viện” của địch.

Tôi không biết các cánh quân của Trung Ðoàn 41 đi được bao xa, nhưng đoạn đường từ ngã ba làng Plei Xome tới vùng Bắc Pleime thì hoàn toàn do địch kiểm soát.

Tôi nghe nói, sau khi Trung Ðoàn 41 Bộ Binh thất bại phải rút ra ngoài, thì tiếp đó một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân đã được gửi vào vùng, nhưng đơn vị này mới qua khỏi Căn cứ 711 đã bị chặn lại.

Tôi còn biết thêm một chuyện đau lòng, đó là cái chết của ba anh viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.

Toán này nhận lệnh vào thám sát lấy tin tức vùng núi lửa Chư Mréa. Khi trở về họ đã bị ngộ nhận vì họ mặc quân phục Việt-Cộng trang bị AK 47. Họ bị quân bạn bắn chết ngay ngoài vòng rào vào ngày thu quân.

Trước khi vào Pleime, tôi là “Anh Hai” của họ. Giữa năm 1971 tôi đã bay tới 12 căn cứ Biên Phòng của Quân Khu 2 tuyển dụng họ về Pleiku, đích thân huấn luyện cho họ thành những viễn thám viên lành nghề.

Tôi đã từng bốc thả họ nhiều lần để do thám các mật khu, khai thác những mục tiêu B52 vừa oanh kích, hoặc thi hành những cuộc phục kích bắt tù binh trên Ðường Mòn Hồ Chí Minh; đáng ghi nhớ nhất là lần nhảy xuống đánh mìn phá hủy cây cầu ngầm N 24 bắc qua sông Sé San.

Ðầu năm 1974 tôi còn nhảy toán theo họ xuống vùng địch để thu thập tin tức yểm trợ cho cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ-Minh.

Lần này họ vào vùng với mục đích thám sát lộ trình dự trù cho các đơn vị sẽ vào cứu “Anh Hai” của họ, và họ đã chết một cách oan uổng.

Ðêm đó, trong một căn hầm giữa sân trại Pleime, hai cựu trưởng toán viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 là Binh 1 Yang và Hạ sĩ Nguyễn Ba đã thấy “Anh Hai” rơi nước mắt.

Tiền đồn Chư Hô bị bao vây tới ngày thứ năm thì hết lương thực. Tôi không còn quân để tiếp viện và tiếp tế cho tiền đồn này, nên cho lệnh trung đội trên Chư Hô nửa đêm tụt xuống đồi, rút về cổng Nam. Ðêm 2 tháng 8 tôi cũng cho lệnh trung đội đóng trên Cao điểm 509 rút lui. Chỉ một ngày sau hai cao điểm này đã trở thành nơi đặt súng 12.7 ly và 57 ly của Cộng-Quân.

Coi như tôi không còn cánh quân nào hoạt động xa, ngoại trừ những toán tuần tra sát vòng rào Nam và Tây. Hai hướng Ðông và Bắc bị bỏ ngỏ, chỉ kiểm soát bằng hỏa lực đại liên và cối 60 ly.

Tính từ ngày đầu bị cô lập tới 10 tháng 8 đã có hơn một chục lần xung phong của địch bị đẩy lui, hàng trăm cán binh Bắc-Việt đã bị giết.

Hàng ngày, cứ chờ cho trời vừa tối, chúng tôi mới lục tục leo lên mặt đất thay quần áo và kiếm đồ ăn. Trời tối thì tiền sát viên của địch nằm trên đỉnh 509 không còn nhìn thấy doanh trại của chúng tôi nữa.

Một hôm tôi chưa thay xong bộ quần áo ướt thì được Trung sĩ Hoàn, Hạ sĩ quan Ban 3 thông báo,

– Trình Thái Sơn, có Hai Lẻ Chín muốn gặp!

Trong trung tâm hành quân có tiếng Ðại tá Từ Vấn oang oang qua loa khuếch âm,

– Thái Sơn có mặt chưa? Ðây là Hai Lẻ Chín! Trả lời!

– Thái Sơn nghe!

– Này! Tình hình hôm nay ra sao? Có còn chịu nổi không thì cho anh biết đi!

– Ðêm qua tụi nó xung phong hai ba đợt nhưng bị tụi tôi đánh văng ra ngoài! Xác tụi nó vắt đầy trên dây kẽm gai! Bangalore đã đục thủng 6 lớp rào, nhưng Hai Lẻ Chín cứ yên tâm, tôi sẽ đập bể đầu chúng nó!

(Bangalore: Ống kim loại chứa thuốc nổ dùng để phá hàng rào.)

Giọng nói của ông liên đoàn trưởng tỏ ra vô cùng lo lắng,

– Trời đất! Có sao không? Tụi nó đánh thủng 6 lớp rào rồi à! Vậy chứ Pleime có tổng cộng là bao nhiêu lớp rào?

Tôi chột dạ á khẩu! Tần số mà tôi và ông Từ Vấn đang nói chuyện là của máy PRC 25.

Thời gian này không tần số nào là không bị địch nghe lóm. Ông Vấn hỏi tôi tổng cộng có bao nhiêu lớp rào, nếu tôi trả lời ông ta, thì có khác nào tôi đã trực tiếp báo cáo cho Tư Lệnh Sư đoàn 320A rằng còn bao nhiêu lớp rào nữa thì cán binh của Ðại tá Kim Tuấn (Cộng Sản) có thể ném bộc phá vào hầm chỉ huy của tôi?

Tôi vội đánh trống lảng,

– Mưa liên miên, lạnh quá, nếu có thể được thì Hai Lẻ Chín thả cho tụi tôi vài bao thuốc lá nhé! 

– Ừ! Mấy hôm nay trời lạnh thật đấy! Ðể mai anh bay vào thả cho chú vài bao!

May quá! Ông liên đoàn trưởng quên câu hỏi Pleime có tổng cộng bao nhiêu lớp rào rồi! Chỉ có hai người biết Pleime có bao nhiêu lớp rào, đó là tôi và Ðại tá Phạm Duy Tất.

Ngày Căn cứ 711 thất thủ, địch đã lấy được sơ đồ phòng thủ Trại Pleime, trên đó có bản vẽ 6 lớp hàng rào và bãi mìn chống người do Công-Binh Hoa-Kỳ thiết trí.

Tôi giấu nhẹm chuyện này, không báo cáo với quân đoàn.

Hai ngày sau khi tái chiếm Căn cứ 711, tôi đã khẩn cấp xin Ðại tá Tất cho hai GMC chở kẽm gai cọc sắt vào Pleime.

Ðằng đẵng cả tháng trường, chúng tôi cấp tốc âm thầm thiết trí một hệ thống phòng thủ thứ nhì cho Trại Pleime, dựng thêm 6 lớp rào kẽm gai mới, gài thêm mìn bẫy, giống y hệt sơ đồ hệ thống phòng thủ cũ.

Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt được tôi giao phó đảm trách công việc này.

Thiếu úy Việt là người chỉ huy xây dựng 6 lớp rào mới, nhưng chú Việt không biết có bao nhiêu lớp rào cũ; các quân nhân khác lại càng mù tịt về chuyện này.

Như thế là, từ tháng 6 năm 1974, quanh đồn Plei-Me, có hai hệ thống hàng rào phòng thủ; hệ thống mới nằm bên ngoài và cách hệ thống cũ một khoảng đất trống rộng hai mươi mét gài đầy mìn và lựu đạn. Nếu địch tấn công đồn này, với tin tức khai thác từ sơ đồ phòng thủ cũ, chúng sẽ bị hố nặng.

Khi hoàn tất việc rào giậu, tôi báo riêng cho Ðại tá Tất biết, và đề nghị ông kín tiếng. Biết đâu sau này địch quân sẽ đánh Pleime, chúng sẽ bị mình đánh lừa.

Quả nhiên địch đã mắc bẫy! Chúng tiến vào đồn theo đường phá của Bangalore, tới khu đất trống thì tưởng trước mặt mình, sau những bụi lau sậy là nhà cửa, lô cốt, nên nhắm mắt xung phong, đâu ngờ lại gặp 6 lớp kẽm gai nữa của hệ thống phòng thủ cũ, chúng đang ngỡ ngàng thì từng tràng đạn đại liên đã nổ giòn, khiến chúng chết đè lên nhau.

Hôm sau trời mưa. Trên trời cao là chiếc C&C của Ðại tá Từ Vấn. Vừa nghe tiếng “Bạch! Bạch! Bạch!”  trên mây, phòng không 37 ly và 12.7 ly của địch đã bắt đầu đua nhau nhả đạn.

Có tiếng ông phi công người Thượng (hay người Miên) rè rè trong máy,

– Thái Sơn chuẩn bị nhận tiếp tế! Bạn cho biết vô hướng nào an toàn nhứt?

– Vòng xa ra biên giới, vào từ hướng Tây, ra hướng Ðông! Nhớ bay sát đất!

– Okay!

Mấy phút sau, bất thình lình hai chiếc trực thăng nổ “Bình! Bình! Bình!…”  ngừng lại chừng năm hay sáu giây đồng hồ trên không, hai anh cơ phi vội vã đạp xuống mấy thùng đồ tiếp tế.

Sau đó như con cá heo lật mình, hai chiếc tàu nghiêng cánh nép sát chân Chư Gô vun vút thoát về hướng Ðông.

Khẩu 81 ly của trại vội vàng phóng đi hai quả đạn nhằm khóa họng hai khẩu 12.7 ly của địch trên tiền đồn Chư Hô. Hai khẩu phòng không này đang bắn với theo đuôi hai cái trực thăng.

Tôi gửi lời cám ơn các phi công,

– Lạc Long đây Thái Sơn! Cám ơn bạn đã liều mình vào tiếp tế!

Ðáp lại, tôi nghe, cùng với tiếng động cơ “È! È! È!”  là tiếng của ông phi công,

– Ố là la! Cám ơn gì nữa! Bị bắn què chân rồi nè!

Ðại tá Vấn còn bay trên trời, nhưng tôi không nghe ông nói gì thêm thì chắc là đoàn trực thăng đã an toàn rời vùng rồi.

Tôi vui vô cùng vì thấy chuyến tiếp tế đã hoàn tất.

Một bao đồ tiếp tế đánh sập hầm của Thiếu úy Phạm Văn Thủy. Một bao khác rơi giữa sân cờ. Nhiều bao và thùng giấy rơi trên lô cốt, vắt trên hàng rào.

Vài người lính nhào ra giành giựt nhau những đồ vật vừa được thả xuống khiến cho Trung úy Song và Thiếu úy Phước phải rút súng bắn chỉ thiên để chặn đứng tình trạng “hôi của” đang diễn ra. Ở đâu có sự đói kém, thì ở đó xuất hiện những đồ vô loại.

Hai tên vô loại bị điệu tới trước mặt tôi, tôi định sút cho mỗi đứa một cú đá, nhưng kịp ngừng. Tôi ôn tồn,

– Về chỗ đi! Ít nhiều gì thì anh em cũng phải chờ chia nhau. Chia nhau một cách đồng đều! Nghe rõ chưa?

Chúng tôi moi tung những bao tải vừa thả xuống, chỉ có những thùng đạn M16, M 60, điện trì, gạo sấy, cá khô, và mìn Claymore; tuyệt nhiên không có hai thứ cần thiết là rượu cồn, bông băng và cũng chẳng tìm thấy bao thuốc lá nào cả. Hình như hai thùng lớn đựng đồ nhẹ đã bay ra khỏi rào rơi trên bờ suối Lé.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 9 Apr 2026

Ở vùng Little Saigon, vào những cuối tuần hay ngày lễ, các tiệm ăn thường đông nghẹt khách, muốn ăn bát phở hay bữa cơm, khách phải chịu khó chờ đợi, ghi danh để được gọi vào khi đến phiên. Cái cảnh chờ đợi này, ngày xưa các cụ của chúng ta chắc chẳng baogiờ bằng lòng, vì cho miếng ăn là miếng nhục, được mời mọc còn chưa chịu nhấc đũa, nói gì đến cảnh chờ chực, nháo nhác, trông ngóng xem đã đến lượt mình được gọi tên chưa. Người chờ ở ngoài đã sốt ruột mà khách ngồi ăn ở trong cũng nóng lòng, ăn xong chỉ muốn đứng dậy đi ra cho rảnh nợ trước bao nhiêu con mắt từ phía ngoài cửa tiệm nhìn vào. Mỗi lần cánh cửa nhà hàng ăn được mở ra, cái ông nhân viên phục vụ xuất hiện, cầm ngòi bút rà rà trên bản giấy ghi tên, thì bao nhiêu con mắt lại đổ dồn vào ông ta như là một danh ca vừa xuất hiện trên sân khấu, khiến cho bao nhiêu khán giả đang ngồi trong rạp phải im lặng, ngước mắt nhìn lên. Ông ta như là một vị cứu tinh, còn hơn hai ông Nam Tào, Bắc Đẩu có quyền sửa chuyện sống chết cho Triệu Nhan như tích xưa bên Tàu. Chuyện này làm tôi lại nhớ đến cảnh ông Giám thị trường Trung học xướng danh mấy cậu học trò mới đậu concours vào Đệ Thất hay cái thời tối lửa tắt đèn, đói rách, mấy bà còn đi lãnh quà ngoại quốc gởi về ở Tân Sơn Nhất, sáng con mắt lên khi nghe gọi đến tên mình. Nhân vật này bèn dõng dạc lên tiếng gọi:

– Minh, bốn người, vào đi! Hùng hai người, chờ một chút!

Đám đông chuyển động, người gọi nhau ơi ới, hân hoan bước đến cửa, người tỏ dấu thất vọng, sốt ruột, giản dần ra, khiến cho người nhân viên nhà hàng này lại cảm thấy mình quan trọng hơn. Tôi nghĩ nếu không có ông này, mình không thể có được một buổi ăn sáng với bạn bè từ xa đến Cali, hoặc khó có thể bước vào nhà, thả cái bàn toạ xuống nghỉ ngơi, cho bõ những giây phút đứng chờ đợi mỏi chân ngoài cửa, dưới trời lạnh lẽo mùa đông. Có lẽ ông nhân viên nhà hàng, cũng có ý nghĩ như tôi, trông ông oai vệ, quan trọng hẳn ra, ông gọi tên người ta dõng dạc, chẳng cần thưa gởi hay “ông bà” gì cả, mà thiên hạ cũng răm rắp theo lệnh ông:”Vào đi! Chờ một chút!” Sáng hôm nay, ông có cảm tưởng ông là người quan trọng nhất của nhà hàng này, của cả thành phố này và có thể cả Hiệp Chủng Quốc này cũng nên. Không có ông, thiếu gì đứa chết đói.

Ai cũng cho mình là người quan trọng nhất, một V.I.P. (Very Important Person). Trong đơn vị ông Thủ Trưởng đương nhiên là lớn nhất rồi, cầm quyền sinh sát nhân viên trong tay, nhưng khổ nỗi, trong cơ quan còn có ông “thủ kho”, “thủ kho to hơn thủ trưởng”, thủ kho nắm yết hầu thiên hạ, thủ kho mà không chịu xuất thì mười chữ ký của thủ trưởng cũng bằng không. Nhưng muốn vào cơ quan gặp thủ trưởng hay thủ kho thì phải qua anh “bảo vệ”, vì bảo vệ là người quan trọng nhất. Không có bảo vệ thì cái cơ quan này cũng có ngày nổ tung, thủ kho hay thủ trưởng cũng không còn. Muốn vào cơ quan để lo lót cho thủ trưởng, thủ kho, muốn được việc thì trước hết phải lo cho bảo vệ. Bảo vệ không cho vào, thì có nước khóc ròng. Vậy, ai dám nói anh chàng bảo vệ là người không quan trọng?

Người đổ rác trong thành phố này cũng quan trọng? Không có ông, thành phố này một hai bữa là đã thối um lên. Người phát thư cũng quan trọng. Không có ông, thư từ chất đống, liên lạc không có, các công ty không có tiền, cả thành phố này tê liệt. Ông tài xế xe bus công cộng rất quan trọng. Không có ông, có người không đến sở làm được. Ông phi công cũng quan trọng. Không có ông, cả phi trường tê liệt. Ngày mới chân ướt chân ráo đến định cư tại Mỹ, tôi có cảm tưởng những người Việt có cơ hội đến Mỹ sớm, có đôi chút chữ nghĩa, làm trong các cơ quan công quyền của nước Mỹ này đều là những người quan trọng bậc nhất thiên hạ. Thái độ, ngôn ngữ và cách tiếp xúc của họ, làm cho những người mới đến nhập cư cảm thấy mặc cảm tự ty cho cái thân phận thấp hèn của mình, như bầy người rách rưới kéo nhau đến ăn xin nước Mỹ mà họ là người đại diện của nước Mỹ có thẩm quyền sinh sát trong tay. Đầu tiên là cô thư ký của cơ quan nhập cư ở phi trường San Francisco, cô nói với đám người vừa kéo nhau trên máy bay xuống, xếp hàng trước quầy làm việc của cô như nói với bầy con cháu trong nhà bằng một giọng gắt gỏng, miệt thị. Tôi nghĩ nếu không có cô ban ơn, chắc chúng tôi phải kéo nhau lục tục lên máy bay để trả về lại Việt Nam, nghĩ chừng đó thôi cũng đủ rùng mình rởn tóc. Chúng tôi chưa được hân hạnh gặp Tổng Thống Mỹ thời đó là ông George H. W. Bush (bố), nhưng trước mắt tôi, giờ này không ai quan trọng bằng cô.

Được ít tuần, sau thời gian dật dờ lạ nước lạ non, chúng tôi lại phải có dịp tiếp xúc với các cán sự người Việt mà chúng tôi hay gọi họ là “social worker”, tại các cơ quan xã hội địa phương để xin trợ cấp y tế hay tiền trợ giúp hằng tháng. May mắn lắm thì có được một vài người, biết điều, nhân hậu, nhưng hầu hết chúng tôi sợ hãi như phải qua những kỳ thi sát hạch, nếu rớt không có tiền ăn, tiền nhà, chắc là phải ra nằm đường. Những cuộc gặp gỡ này còn tệ hơn là những chuyến làm việc với công an phường khóm trước lúc chúng tôi ra đi. Đôi khi tôi có cảm tưởng đồng tiền chúng tôi được trợ cấp hằng tháng là tiền túi của những nhân vật quan trọng này, nên họ phải kỹ càng  tra vấn, chứ không phải là đồng tiền từ công quỹ nước Mỹ. Cũng với cái thái độ “ban ơn” đó, đồng bào phải nghĩ rằng nếu không có những người này làm sao những người ty nạn đến Mỹ có được đồng tiền trợ cấp.

Sau khi nghe một vài gia đình đồng cảnh “đi xin welfare” về cho biết là họ gặp sự dễ dàng, mau chóng hơn khi gặp những cán sự người Mễ, người Mỹ hay người Tàu, tôi mới thấy ra ưu điểm của công chức người Việt cao quý của mình là tận tâm, kỹ càng, nhất là “pháp bất vị … đồng bào” rất đáng ca ngợi. Trong cuốn “How To Win Friends & Influence People” của Dale Carnegie mà ông Nguyễn Hiến Lê diễn dịch là Đắc Nhân Tâm, tác giả cho rằng khi tiếp xúc với ai, muốn thành công cứ cho họ là người quan trọng, khen ngợi họ, đề cao họ. Chúng ta cũng biết trên đời này ai cũng cho mình là quan trọng hết, từ ông bác sĩ trong bệnh viện cho đến cô bán hàng ngoài  chợ, nhưng “đắc nhân tâm” để cho vừa lòng người thì khiến người ta càng ngày tự cao hơn, mà người đối  diện đôi khi càng hạ phẩm giá của mình, đánh mất lòng tự trọng.

Một đôi lần, gặp phải anh chàng ở tiệm ăn “quan trọng hoá” nhiệm vụ của mình, tôi lại muốn bỏ ngang chuyện xếp hàng của mình sang ăn ở một tiệm khác,  để xem “có chết thằng Tây nào không”, nhưng lại nghĩ rằng đi đâu trong xã hội này cũng gặp “người quan trọng”, thôi thì cứ nở một nụ cười: “đắc nhân tâm” cho vui người mà cũng vui ta, kẻo mất đi một buổi sáng đẹp trời.

Hai Thế Hệ Phi Công Kingbee Và Apache

dongsongcu.wordpress.com

Posted on April 5, 2026 by dongsongcu

Trích đăng từ trang: https://www.facebook.com/liem.pham.806140

Post by Sơn râu 7 Apr 2026

Hình minh hoạ của sogsite.com/219thkingbee: Phi công trực thăng Sikorsky H-34 Choctaw của Phi đoàn 219, Kingbee, Không quân VNCH.

Hình minh hoạ của army.mil: Nữ Trung uý Jaqueline Martin (gốc Việt), phi công trực thăng tấn công AH-64E Lục quân Hoa Kỳ.

Chiều hôm đó, ở một góc căn cứ không quân Mỹ, tôi đứng nhìn một chiếc Boeing AH-64 Apache đậu trên bãi đáp.

Thân nó thấp, bè ra như một con nhện thép.

Hai cánh ngắn treo đầy vũ khí.

Trên đầu rotor là cái “mắt thần” — radar AN/APG-78 Longbow radar.

Tôi chống tay lên lan can, nhìn nó khá lâu.

Trong đầu lại hiện lên hình ảnh của con chim già năm xưa: Sikorsky H-34 Choctaw.

Chiếc trực thăng mà tôi từng bay trong 219th Helicopter Squadron Kingbee.

Nó rung như máy cày…

và bay vào bãi đáp như con trâu lì giữa đạn.

Một phi công trẻ bước lại gần tôi.

Bộ đồ bay còn mới, mũ bay cầm trên tay.

Trên vai áo có phù hiệu Apache.

Anh ta gật đầu lịch sự.

“Chú từng bay trực thăng hả?”

Tôi cười.

“Ừ… lâu rồi. Bay Sikorsky H-34 Choctaw của Kingbee.”

Anh phi công mở to mắt.

“Kingbee? Phi đoàn 219th Helicopter Squadron Kingbee hả chú?”

Tôi gật đầu.

Anh ta đứng thẳng người lại một chút, rồi nói:

“Cháu đọc nhiều huyền thoại về mấy chú trong tài liệu huấn luyện.”

Tôi bật cười.

“Đừng tin hết sách…

tụi chú hồi đó bay liều nhiều hơn giỏi.”

Anh phi công trẻ nhìn chiếc Apache phía sau rồi hỏi:

“Ngày xưa bay H-34… chắc khó lắm hả chú?”

Tôi nhún vai.

“Không radar.

Không nhìn đêm.

Không máy tính.”

Tôi chỉ tay xuống đất.

“Muốn tìm bãi đáp… phải nhìn bằng mắt.”

“Muốn bắn… phải bay gần.”

“Gần đến mức thấy thằng dưới đất đang nhắm mình.”

Anh ta im lặng vài giây.

Rồi quay nhìn con Boeing AH-64 Apache.

“Bây giờ tụi cháu bắn mục tiêu cách mấy cây số bằng AGM-114 Hellfire.”

Tôi gật đầu.

“Chú biết.”

Anh phi công trẻ nói nhỏ:

“Nhưng cháu nghĩ… tụi cháu chưa chắc bay được như mấy chú ngày xưa.”

Tôi nhìn anh ta.

“Không đâu.”

Tôi chỉ chiếc Apache.

“Bay con này… cũng đâu dễ.”

“Chiến tranh mỗi thời một khác.”

Anh ta cười.

“Cháu nghe nói Kingbee nổi tiếng bay thấp.”

Tôi cười theo.

“Thấp đến mức…

có lần rotor quạt bay cả mái lá nhà dân.”

Anh phi công phá lên cười.

Trước khi đi, anh ta quay lại nói:

“Chú biết không… tụi cháu rất nể thế hệ phi công trực thăng VNCH, đặc biệt Kingbee 219”

Tôi lắc đầu.

Rồi chỉ chiếc Apache.

“Không.”

“Tụi chú mới là người phải cúi đầu trước tụi bây.”

Tôi nhìn con Boeing AH-64 Apache đứng im lặng trong nắng chiều.

Một cỗ máy của tương lai.

Từ con Sikorsky H-34 Choctaw rung bần bật năm nào…

đến con quái thú công nghệ này.

Một hành trình dài của trực thăng chiến đấu.

Anh phi công chìa tay ra.

Tôi bắt tay anh.

Một bàn tay của quá khứ.

Một bàn tay của hiện tại.

Nhưng cả hai đều hiểu một điều giống nhau:

Khi rotor bắt đầu quay…

bầu trời không phân biệt thế hệ phi công.

Nó chỉ chấp nhận những người đủ bản lĩnh để bay.

Phạm Sơn Liêm👍

(AH-64 Apache Con Quỷ Bầu Trời”)

Trên một dòng sông

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 7 Apr 2026

Google photo

Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung.

Thương nhau xin chớ ngại ngùng,

sông sâu cũng lội

rậm rừng cũng băng.

(ca dao)

Đèn treo cột đáy, nước chảy đèn rung.
Thương nhau xin chớ ngại ngùng,
sông sâu cũng lội rậm rừng cũng băng. (ca dao)  
Hải đứng lặng nhìn ra giữa dòng sông. Nước lờ lửng chảy, vài chiếc đò dọc thiếu khách chạy tà tà và trên bến sông thì vắng bóng người. Gió chướng hiu hiu không hãm được cơn nắng át của tháng ba. Hải nhớ hồi tháng ba năm ấy. Trên chiếc xuồng tam bản mui trần, mũi cột vô hàng đáy giữa dòng sông trong đêm trời đầy sao và con nước ròng chảy xiết. Cũng tại khúc sông nầy, anh với Lệ ôm nhau khóc, nước mắt tuông theo con nước róc rách dưới dạ xuồng. Lệ nghẹn ngào hứa chờ ngày anh trở về bến đáy. “Anh sẽ dìa với em.” Đó là lời hẹn với Lệ trước ngày anh vượt biển.  Thoát một cái đã mười bốn năm dư và anh đã trở về. Những hàng đáy giữa dòng sông vẫn còn trơ trơ, đầu cột đáy có một con nhàn đứng ủ rũ như đợi chờ một tăm cá, nhưng chủ nhân của hàng đáy bây giờ là ai? Anh hỏi thăm không ai biết bến đáy nào của Lệ. Thiên nhiên đã thu hẹp, rừng cây cối lưa thưa, đứng trên bờ chẳng nhìn ra đâu là bến, chỉ thấy một dãy nhà sàn san sát dọc bờ sông. Hải phải hỏi thăm nhiều lần mới tìm được nhà anh Tài, anh của Lệ, bây giờ đã dời ra vàm sông Ông Đốc. Anh Tài đã đổi qua nghề câu mực, nhưng vẫn còn giữ nghề đóng đáy trên sông.  Trước kia nhằm mùa nước sổ mỗi khi xuồng đáy về, tôm cá đựng bằng cần xé, người ngồi lựa cá, người nấu nước luộc tôm. Ban đêm ánh đèn măng xông soi sáng một vùng, ban ngày tôm phơi ngập sân đỏ ối. Anh Tài nói:  – Bây giờ khổ lắm mày ơi, cá tôm mò đỏ con mắt mới được vài con.  Thiệt vậy, đêm hôm đổ đục về, chị Liên, vợ anh Tài bưng rổ cá tôm lộn xộn lên xốc xốc, lựa ra đếm được hơn chục con cá bống và cân được vài kí lô tôm. Thường ngày vợ chồng sai con bưng cá bưng tôm ra chợ bán, nhưng hôm nay có Hải, anh dành lại ăn.  Hải với anh Tài ngồi nhậu bia ăn tôm luộc. Anh Tài vắn tắt câu chuyện. Sau khi Hải đi, Thành Đất hỏi cưới Lệ rồi hai vợ chồng dắt nhau xuống Cái Đôi làm nghề đáy hàng khơi. Hải lặng thinh và trong lòng mênh mang niềm nhớ… Hồi sau anh Tài hỏi Hải:
– Mầy có muốn tao nhắn cô ấy về chơi hông? Hải hớp một hớp bia, bóc con tôm lột vỏ bỏ vô miệng, nhìn ra giữa dòng sông.
– Về còn gặp lại anh cho tá túc là may lắm rồi, làm phiền cô ấy nữa không nên.
– Nhưng mà… mầy… mầy còn ở đây được bao lâu?
– Khi nào sơn, sửa xong mả của ba má tui thì tui đi.
– Mày còn về đây nữa hông?
– Tui cũng hổng biết nữa.
– Nhưng mà…  Hình như anh Tài muốn nói thêm điều gì nhưng ngại không nói, anh ngập ngừng rồi bưng ly lên cụng.
– Uống đi mầy.
– Đêm nay anh cho tui theo đóng đáy với.
– Đêm nay con Dung đóng đáy, mầy muốn thì đi theo nó.
– Ừa cũng được.  Dung là đứa con gái đầu lòng của Tài, con nhỏ hồi anh đi nó đâu hơn mười tuổi gì đó, bây giở đã thành thiếu nữ. Trong lúc cột xuồng chờ con nước ròng anh hỏi Dung:
– Cháu có bồ chưa? Dung trả lời tỉnh bơ:
– Cháu đen thui thùi lùi như vầy ai mà thèm chú. Hải day lại nhìn Dung, trong ánh đèn bão đủ sáng cho anh ngắm nghía thân thể đầy đặn, khoẻ mạnh, cặp ngực vun tròn nhô ra như muốn bứt tung hàng nút áo bà ba, nước da bóng màu xô-cô-la nguyên chất, mặt tròn không một vết mụn, trên môi lúc nào cũng tươi cười, cái nhan sắc ấy chỉ có ở những cô gái miền sông nước Amazon. Ngặt ở đây, cái xứ tận cùng đất nước Việt Nam, trong thì đồng, rẫy, ngoài thì biển xanh. Người ta chỉ chuộng những cô gái nước da trắng trẻo, ốm yếu chớ không biết chiêm ngưỡng một thân thể mặn mà, đầy đặn và tràn đầy sức sống.
– Mấy thằng con trai miệt nầy đui hết rồi mới hổng thấy cháu đẹp. Nghe Hải khen cô nhỏ cúi đầu mỉm cười, ngẫm nghĩ một lát Dung ngước lên:
– Ở trong xóm mấy anh con trai kêu con là Dung đen.
– Mai mốt thằng nào kêu con như vậy, thì con cứ nói lại, các anh có mù mắt hông, tui màu xô cô la chớ hổng phải màu đen, đồ ngoại chánh hiệu đó.
– Ai nói dzậy, kì thấy mồ à.   * Nước bắt đầu chảy, hai chú cháu cài đáy. Chui đáy xong, buộc xuồng vô cột đáy ở giữa dòng. Trong khi chờ đổ đục, mở cát sét lên nghe nhạc. Cô lấy bánh dừa ra lột vỏ đưa cho Hải, hai người vừa ăn vừa nói chuyện. Dung hỏi: – Hồi đó chú với cô Tư sắp cưới nhau rồi chú đi phải hông? Thấp thoáng dưới ánh sao trời, Hải trông gương mặt Dung giông giống Lệ. Hải nhớ cái đêm sắp xếp cho chuyến đi, cũng giữa dòng sông nầy, Lệ đã tặng cho anh của quí nhứt đời người con gái, khóc nức nở, hứa đợi chờ, vậy mà anh ra đi chưa đầy một năm thì cô ấy đã lấy chồng.
– Con biết rồi sao còn hỏi chú.
– Con muốn biết chú còn thương cô Tư con hông?
– Ngồi đây chú lại nhớ hồi chia tay với cô con.
– Cô con nhớ chú lắm, trước đây thấyViệt kiều dìa, cô cứ ngong ngóng, hỏi tại sao không thấy chú dìa, bây giờ chú dìa sao hổng đi thăm cô.
– Cô con đã có gia đình rồi, chộn rộn làm gì.
– Còn thằng Đợi chú hổng muốn gặp nó sao?
– Thằng Đợi nào?
– Ủa! Con của chú bộ chú hổng biết hả?
– Con chú!  Hải điếng hồn không nói thêm được lời nào. Nhìn lên bầu trời sao dầy đặc, cúi xuống nước ròng đương chảy xiết, anh vói tay khoát nước rửa mặt, lắc lắc cái đầu cho tỉnh. Nhớ lại những ngày sắp chia tay, ban ngày anh với Lệ ôm ấp với nhau trên chòi, tối xuống xuồng đóng đáy giữa dòng sông, làm chuyện xui xẻo trên xuồng, bất chấp phong tục cấm kỵ… Anh day qua nói với Dung:
– Chuyện trước kia chú với cô Tư cháu thương nhau chú biết, còn những chuyện xảy ra sau nầy chú hổng biết gì hết cháu à.
– Ba con sợ chú biết nhưng chú hổng muốn nhìn, ổng dặn cả nhà nếu chú hổng hỏi thì không ai được nói.
– Hồi chú đi ra tới ngoải, chú có gởi thơ dìa cho cô Tư con cả mấy chục lá, nhưng thư đi mà hổng thấy thư dìa, chú buồn hết sức vậy đó, chú tưởng ở nhà thất tán đâu đó. Sau nầy chú nghe bà chị của chú ở Úc nói cô Tư con đã có chồng rồi nên chú hổng viết thư nữa, thời gian đó chú như người khùng. Chú chỉ biết tới đó, sau nầy chuyện xảy ra cho cô con chú có biết gì đâu. Đầu đuôi ra sao con kể hết cho chú nghe đi.
– Hồi chú đi cô Tư bịnh liên miên, ói mửa, cô nằm vùi, mấy tuần sau cô mới biết mình mang bầu. Lúc đó cô như điên như dại, khóc hoài có khi ngồi một mình nói lảm nhảm như mắc nàng dưới. Ba con sợ chuyện xấu đổ ra ngoài nên sẵn dượng Thành, à chú còn nhớ dượng Thành lúc đó phụ mần đáy với ba con hông?
– Nhớ chớ, thằng Thành Đất chớ ai.
– Đúng rồi, lúc đó dưỡng cũng thương cô, ba con mới khuyên cô ưng dưỡng, cuối cùng cô Tư con đâu cách nào khác cổ đành nhắm mắt đưa tay, nhưng cổ nói thẳng cho dượng Thành biết cổ đã mang bầu với chú, chịu thì cưới không chịu thì thôi. Lúc đó dượng mê cô như điếu đổ cái gì cũng chịu, dưỡng còn nói chú với dưỡng là anh em kết nghĩa, con của chú cũng như con của dưỡng.
– Bây giờ hai người ra sao?
– Mần ăn cũng khá, cô còn sanh thêm cho dượng Thành hai đứa nữa vậy mà dưỡng vẫn thương thằng Đợi như con ruột của mình. Thiệt vậy ngày xưa Hải và Thành là anh em kết nghĩa, tánh tình nó rất thật thà, từ ngày kết nghĩa anh em với nó cho tới ngày Hải bỏ đi, anh chưa bao giờ nghe thấy nó giận ai và chưa hề gây gổ với bất cứ người nào, nhà nghèo chăm chỉ làm ăn và hiền như cục đất, vì vậy nó mới có tên Thành Đất.
– Bây giờ chú tính làm sao? – Theo con chú phải làm sao đây?
– Chú gặp cô Tư con đi.
– Gia đình cô ấy đương cơm lành canh ngọt con à.
– Con nghĩ dượng Thành cũng không tệ lắm đâu. Hải chưa biết tính sao thì Dung đề nghị:
– Hổng ấy chú để con nhắn qua cô, nói chú đã về coi cổ tính sao.
– Ừ con tính sao thì tính miễn đừng làm xào xáo gia đình cô ấy là được.   *   Những ngày sau đó Hải để hết tâm trí cùng với anh em thằng Bình và An sửa sang, sơn phết lại hai ngôi mả của ba má anh, chuyện của Lệ anh phó mặc cho Dung và gia đình. Tuy vậy lòng anh cũng nôn nóng như lửa đốt, hổng biết sắp tới đây chuyện lành hay chuyện dữ? Đến ngày thứ ba thì hai ngôi mộ của ba má sửa sang lại coi như đã xong. Anh và hai đứa thợ đương đứng ngắm nghía hai nấm mồ nước sơn còn ướt. Chợt Dung đi ra mặt hớn hở hỏi: 
– Xong chưa chú?
– Xong hết rồi, con coi coi có được hông?
– Đẹp lắm chú. Thấy cô nhỏ hấp tấp trả lời anh bèn hỏi:
– Có chuyện gì mà trông con hớt hải dậy?
– Cô Tư mới vừa dìa. Tuy biết trước chuyện sẽ đến nhưng trong lòng anh lo lắng bất an. Nhìn hai đứa nhỏ lom khom dọn dẹp đồ đạc định đi về, anh mượn cớ trì hoãn bằng cách mời hai đứa thợ đi ra tiệm ăn cơm. Day qua Dung Hải hỏi:
– Con đi ăn với chú hông?
– Chú hổng về liền được sao?
– Nhưng cho thợ thầy người ta ăn cơm cái đã. Dung miễn cưỡng gật đầu:
– Vậy cũng được, nhưng mau mau nghe chú, cả nhà đương chờ chú đó. Dung quày quả bước đi, Hải day qua hỏi:
– Hai đứa bây thấy con Dung ra sao? Bình ngước lên nói:
– Con nhỏ đen như cột nhà cháy. An cãi:
– Nâu chớ đen đâu mà đen, ông nói cho cố. Hải vỗ vai An:
– Mày chấm nó chỗ nào.
– Ngực, mông hết xẩy chú.
– Chỉ có hai chỗ đó thôi hả? Nghe anh hỏi ngặt thằng nhỏ đứng gãi đầu. Thấy thằng nhỏ bí lối, anh câu vai nó nói:
– Nhưng mầy chịu cặp ngực và cặp mông của nó hông? Tao làm mai cho.
– Con nghèo quá chú.
– Bộ nghèo rồi hổng có vợ sao? Nhưng thôi, dẹp cặp ngực và cặp mông qua một bên, mình đi ăn cái đã. Hải kêu chủ quán dọn một bữa cơm thiệt ngon và bia lon ướp lạnh cho hai anh em Bình, An ăn, còn anh thì uống bia khan. Đầu óc cứ nghĩ đến chuyện gặp gỡ lát nữa đây, người ta nói chia ly là khổ, còn xum vầy là vui. Còn anh thì đương khổ sở cho cuộc xum vầy. Thằng Bình thấy anh cứ trầm ngâm và ngước cổ nốc bia, nó nhắc chừng:
– Theo con bữa nay chú uống ít thôi. Hải nốc một ngụm bia, nhìn qua hỏi:
– Mầy biết chuyện gì hông?
– Chuyện của chú nổi như cồn, cả xóm mình ai hổng biết.
– Nổi như cồn à, sao tao hổng biết gì ráo. An nói vô:
– Thôi chú dìa giải quyết chuyện gia đình đi, con nghĩ mọi chuyện trơn tru thôi, chú khỏi phải lo nghĩ nhiều quá.
– Hai đứa nghĩ dậy sao?
– Con nghĩ ai biết hoàn cảnh của chú đều nghĩ vậy hết.
– Bình, An chú phải tin dị đoan thôi, gặp hai đứa chắc chuyện gì thì cũng… bình an hết trọi. Ba người cùng cười và đưa ly lên cụng:
– Thôi chú dìa đây, chừng nào xong chuyện chú làm mâm cơm cúng ông bà, chú sẽ mời hai đứa tới nhậu một bữa chết bỏ.   *   Khi Hải vừa bước tới cửa thì Thành từ trong nhà phóng ra ôm anh vừa mếu máo vừa nói:
– Anh dìa, em mừng quá. Nổi lo âu của Hải được thay bằng niềm xúc động mênh mang, anh trấn tỉnh lại:
– Vô nhà cái đã, từ từ rồi anh em mình tâm sự sau. Hải câu vai Thành đi vô nhà, thì Lệ cũng từ nhà dưới đi lên.
– Sao mà ai cũng khóc hết vậy nè? Hải muốn trấn an mọi người nhưng chính ngực anh cũng đã nghẹn khi thấy một đứa con trai nép bên Tư Lệ giống anh như đúc. Anh tới ngồi xuống cạnh bên nó, vuốt tóc hỏi nhỏ:
– Con là Đợi phải không? Nó gật đầu. Hải ôm nó vào lòng, nó mắc cỡ xô anh ra và lao nhanh xuống nhà dưới. Anh đứng lên hỏi Lệ:
– Đi đường xa em có mệt lắm hông? Cô lắc lắc đầu mặc cho nước mắt tuông chảy lên hai gò má. Nghe tiếng ồn ào bên ngoài Hải ngó ra anh thấy trước cửa hàng xóm bu đầy nghẹt, anh lúng túng không nói được gì. Thành như hiểu ý anh nên bỏ đi xuống nhà dưới. Anh Tài từ dưới nhà đưới đi lên nói:
– Thôi mình ra nhà sau ngồi lai rai nói chuyện. Day ra anh nói với đám người tò mò còn lấp ló phía trước:
– Hôm nay, gia đình tôi đoàn tụ và có chút chuyện riêng xin bà con thông cảm cho nhé. Bà con từ từ giải tán. Mọi người kéo nhau đi xuống nhà dưới. Đồ ăn đồ nhậu đã được ba người đàn bà dọn đầy bộ ván. Thành kêu Lệ:
-Em với thằng Đợi qua ngồi với anh Ba, cho cha con quen nhau cái đã. Nhờ Lệ ngồi cạnh bên nên thằng Đợi mới dám lên ngồi gần, hai đứa em nó thấy vậy cũng chen vô ngồi sau lưng má nó. Cả nhà ngồi quây quần trên bộ ván rộng. Anh Tài bưng rượu lên:
– Hôm nay mỗi người phải uống để mừng gia đình mình xum hợp. Chú Ba tui mời chú trước. Hải bưng ly nốc cạn dằn cái cảm giác gờn gợn rùn người. Gia đình xum hợp! Vui quá xá chớ! Kể từ khi hay tin ba má anh qua đời, anh chị em tứ tán, Hải chưa bao giờ nghĩ mình còn có một gia đình trên quê hương xứ sở. Nếu ngày xưa không có chuyện chia lìa thì giờ đây bên anh là vợ, con, kia là anh chị vợ và thằng em kết nghĩa. Bây giờ mọi chuyện đã đảo ngược đâu vô đó hết rồi. Hải vuốt tóc thằng Đợi, hỏi:
– Ai đặt tên cho con?
Nó bẽn lẽn cúi đầu:
– Hổng biết.
Thành chen vào.
– Bả đặt đó chớ ai, Đợi có nghĩa là đợi anh dìa đó.
Lệ mắc cỡ mắng chồng:
– Cái thằng cha mắc dịch. Té ra Hải cũng còn có những người chờ đợi anh nơi bến sông nầy, vậy mà từ lâu nay anh nào hay nào biết. Anh Tài rót rượu vừa đưa từng người vừa nói:
– Bây giờ dùng món đặc sản của dượng Tư đem từ dưới Cái Đôi về cái đã. Lệ đập vỏ càng cua, lấy thịt bỏ vô chén cho Hải. Hải bắt chuyện hỏi Thành:
– Bộ ở đây hổng có cua, vọp sao mà phải đem từ bển qua?
– Ở đây làm gì còn anh, cua em nuôi, vọp phải đặt dưới miệt Năm Căn mới có.
– Hồi đó mấy thứ nầy anh em mình xách bao xách mốc ra rừng một lát đem dìa cả đống, nhậu hổng hết chia cho bà con mặc sức mà ăn. Anh Tài chen vô:
– Ôi người càng đông của càng hiếm con người tham lam càng nhiều, tranh dành với nhau từ rừng rú tới dòng sông, người nầy xâm phạm của người kia một chút thì chửi bới ỏm tỏi lên, đôi khi chỉ vì con cua, con vọp mà quánh lộn với nhau dập đầu chảy máu.  Họ nói chuyện đời sống một lát, cũng trở lại chuyện riêng tư của Hải.
Anh nói với Lệ:
– Hổng biết thì thôi, biết rồi thì tôi phải có bổn phận. Anh hỏi việc học hành của thằng Đợi, Lệ cho anh biết nó học hết lớp năm rồi nghỉ. Anh day qua hỏi thằng nhỏ:
– Con muốn đi học nữa hông? Nó lắc đầu.
– Hông, lớn rồi, đi học người ta chọc quê. Hải thấy mình không nên xen vô chuyện gia đình của Lệ nhiều quá.
Anh mới nói:
– Tùy chú Thành với Lệ tính sao cho nó cũng được, số tôi phong trần thì đành phải phong trần vậy, ở nhà có khó khăn gì thì cứ cho tui hay, khả năng của tui tới đâu tui phụ tới đó.
– Anh dìa nhìn nhận con để sau nầy nó khỏi tủi thân là được rồi. Tư Lệ vừa nói vừa lau nước mắt. Thành chen vô:
– Ngày mai tui phải dìa bển sớm, để bả với thằng Đợi ở lợi chơi với anh vài ngày. Chừng nào anh đi thì tui qua tiễn anh.
Sáng hôm sau, trong lúc Thành sửa soạn trở về Cái Đôi vàm, trên chiếc ghe đóng đáy hàng khơi, cái máy Yanmar đầu xanh thời ông Thiệu chưa làm tổng thống đã đổi ra màu đen, Thành quây cà ì cà ạch hồi lâu mới nổ bành bành, khói đen phun ra mù mịt. Hải nói:
– Máy Yanmar đầu đen chớ đầu xanh khỉ mốc gì. Sao chú hổng thay máy khác?
Thành than:
– Chưa đủ tiền anh.
– Chừng bao nhiêu mới đủ?
– Nếu có hai cây nữa thì em đổi máy mới.
– Được rồi anh sẽ cho chú hai cây.
– Ý chết cha, em đâu có hỏi. – Anh tự nguyện mà. – Anh có lòng tốt giúp em, em cám ơn nhiều lắm, nhưng thong thả đi cái đã. Thành chỉ vô cái máy nói:
– Coi cà tàng vậy đó mà chưa bao giờ nằm đường hết anh.
– Thôi chú đi đi, chúc chú mầy con nước nầy tôm cá đầy ghe.
Hải nhảy lên bờ tháo dây mũi liệng qua cho Thành. Hải vịn mũi nghe, chờ Thành khoanh dây lại rồi ra sau cầm lái, anh mới đẩy mũi ghe vạt ra lấy trớn để Thành vô số, rồ ga cho ghe chạy. Khi cơn xúc động đã lắng xuống, mọi chuyện trở lại bình thường, Hải nghĩ, đối với Lệ và thằng Đợi anh thương lắm và tội nghiệp cho Thành Đất đã gánh gánh nặng cho anh, chắc hẳn anh phải có trách nhiệm với những người nầy. Anh định trước khi rời khỏi thị trấn ven biển anh đưa cho gia đình Thành Đất số tiền anh đã hứa, phần còn lại anh ngao du một chuyến ra Bắc.  Nào ngờ hôm sau, trời mới hừng đông, Hải đương ngủ ngon, chợt Lệ vô buồng đánh thức anh dậy:
– Anh Ba, gia đình có chút chuyện muốn bàn với anh. Hải ngồi dậy dụi dụi mí mắt cho tỉnh ngủ rồi đứng dậy đi theo Lệ. Ở nhà dưới đèn thắp sáng chưng, vợ chồng anh Tài ngồi trên bộ ván. Giữa bộ ván một mâm trà bánh còn nguyên, hai người như có ý chờ Hải. Lệ lấy khăn và bàn chải đưa cho anh. Hải ra sàn lảng sau nhà đánh răng rửa mặt. Xong. Anh trở vô ngồi cạnh bên Lệ. Nhìn ai cũng ra vẻ khẩn trương làm anh nhột nhạt. Lệ rót nước trà cho Hải, anh hớp một hớp nước, để xuống. Anh Tài hớp một hớp trà rồi cất tiếng phá tan bầu không khí yên lặng:
– Thiệt ra thì tui mời chú xuống đây là muốn nhờ chú một chuyện.
– Chuyện gì anh? Hải hỏi.
– Ý tui là muốn nhờ chú bảo lãnh con Dung ra ngoải, chú thấy có được hông? Nghe hỏi bất ngờ làm Hải lúng túng hồi sau anh mới tìm ra câu nói: – Dìa đây tui hổng có ý định gì hết, bổng nhiên lòi ra thằng Đợi, bây giờ anh tính thêm chuyện nầy nữa.
Hải ngó qua Lệ:
– Theo em, em thấy sao?
Lệ không nhìn thẳng Hải mà cúi xuống ly trà, nói:
– Anh coi coi, giúp được cháu thì giúp.
– Hổng phải vậy đâu, tui thấy những cô gái ở niền quê ít học ra phố nếu không đi ở mướn thì cũng trở thành gái làm tiền. Ra nước ngoài cũng vậy thôi, nếu không có nơi nương tựa thì các cô cũng lang thang trôi nổi trong cái thế giới xô bồ xô bộn của tây phương. Còn tui thì cuộc sống bấp bênh, rày đây mai đó, không bà con thân quyến, nơi xứ lạ quê người, đem cháu sang rồi bỏ cháu bơ vơ một mình đâu có được.
Anh Tài nằng nặc:
– Hổng lẽ chú cứ lông bông hoài sao?
– Chuyện đột ngột quá anh chị cho tui thời gian suy nghĩ cái đã.
– Ừ cũng được, quan trọng là chú mầy chịu nó hay không.
Chịu nó! Hải nghĩ bụng, ông anh định chơi cha chắc.
– Thôi được, chuyện nầy tui sẽ trả lời sau. Câu chuyện tạm ngưng lúc trời sáng bửng. Dung với thằng Đợi đi đổ đáy vừa về tới. Hải kêu thằng Đợi thay đồ và rủ má con nó ra quán ăn sáng, tiện dịp anh bàn chút chuyện. Thằng Đợi xin tiền đi chơi chớ không theo. Hải để ý, từ ngày gặp con cho tới nay, không bao giờ thằng nhỏ theo anh, ngoại trừ những lúc cần tiền mới tới hỏi xin. Mới chừng đó tuổi mà đi hết bàn bi da này qua tới quán Karaoke nọ, có bữa anh thấy nó uống bia nữa. Trong quán phở, ăn xong Hải hỏi Lệ:
– Hình như em nuông chiều thằng Đợi có hơi quá mức.
– Anh Thành đó, mỗi khi em rầy nó là ảnh binh.
– Con cưng là con hư, nhưng nói là nói vậy chớ anh làm sao có quyền chen vào chuyện gia đình em. Lệ cầm muỗng quậy quậy ly trà đá, mắt nhìn nước trà đương sóng sánh trong ly, cô nói:
– Anh có trách em cũng hổng sao, ngặt vì thương anh nên ai cũng chiều thằng Đợi.
– Cám ơn em và chú Thành đã lo lắng cho nó.
– Anh khách sáo làm gì, anh Thành cũng thương anh, cho tới nay ảnh còn mặc cảm có lỗi với anh đó.
– Chú ấy đã săn sóc mẹ con em trong những ngày em khổ sở, hết kiếp nầy hổng biết anh có đền ơn nổi cho chú hông đây. Hải móc sổ địa chỉ ra đưa cho Lệ:
– Em ghi địa chỉ ở Cái Đôi cho tui.
– Bộ anh tính đi hả?
– Chưa, tui nán lợi chơi với em và thằng Đợi vài ngày.
Lệ đổi giọng:
– Còn chuyện con Dung anh tính sao?
– Theo em tui phải tính sao đây?
– Thì anh coi giúp được cho cháu thì giúp đi.
– Đơn giản như vậy sao?
– Em thấy nhiều Việt kiều dìa cưới vợ cũng đơn giản dậy thôi. Anh lớn tuổi rồi cần phải có gia đình chớ. Hơn nữa trong họ hàng ai cũng thương anh, muốn gả nó cho anh anh còn đi đi dìa dìa, chớ hông thôi anh đi biệt xứ.  Biệt xứ! Hải nhìn ra ngoài, ánh nắng đã lên cao. Người đi chợ cũng thưa dần. Đây là quê hương xứ sở của anh, kia là người thân thân thuộc, chơn tình biết mấy. – Thôi được, để thong thả rồi tính. Bắt đầu từ hôm đó gia đình Tài coi Hải như người nhà. Ngày Dung lo miếng ăn, tối lo giũ chiếu giăng mùng, soi muỗi cho anh. Ban đêm Hải theo Dung đóng đáy. Từ ngày có Hải đi theo, cô nhỏ vui sướng vô cùng, Dung có cảm tưởng đi đóng đáy là cuộc phiêu lưu, thám hiểm hơn là chuyện mầm ăn, cho nên cô cứ nôn nao trong lòng mỗi khi con nước lớn vừa chựng lại. Khi nước bắt đầu ròng họ chui đáy xong đâu đó. Dung mở máy cát sét rồi cô đi lại ngồi cạnh Hải. Những năm luân lạc xứ người, không khi nào Hải mơ tới đàn bà Việt Nam. Các bà ngoài ấy cao xa quá, còn anh trước mắt họ bất quá chỉ là một tên vô gia cư. Mười mấy năm qua, anh không bao giờ dám ước mơ có một mái ấm gia đình. Hôm nay về đây tuy cảnh vật và người thương đã thay đổi nhưng anh không thấy mất mát điều gì. Trước một người con gái mơn mởn như hoa mùa xuân và dòng sông bon bon nước chảy, làm anh sống lại thời mới lớn. Tim anh đập, tay anh run run ôm cô gái trẻ, lòng thầm cám ơn bà cậu của miền sông nước… Anh ngất ngây theo tiếng hát du dương truyền cảm tỏa trên mặt sông: “ … Anh ơi chim kia bay về tổ ấm, nước cũng xuôi về nguồn …”   *   Vậy là thời gian Hải dành cho chuyến du ngoạn ra Bắc coi như đi đứt. Chuyện đám tiệc theo Tài thì không khỏi phải rườm rà, chỉ nấu một mâm cơm làm lễ ra mắt ông bà đủ rồi. Hải kêu Dung nghỉ đóng đáy đi với anh ra thị xã mua sắm áo quần và bông đeo tai. Bữa tiệc thay cho đám cưới ngoài người trong gia đình ra, Hải chỉ mời anh em thằng Bình và thằng An tới. Hai đứa ngồi nhậu mà cứ nhìn anh cười cười như có ý chọc quê. Sau bữa tiệc, Thành Đất chở vợ con về Cái Đôi vàm. Còn Hải lên thành phố đổi vé máy bay trở về Âu châu để lo thủ tục bảo lãnh.   *   Mọi chuyện xong xuôi trong vòng sáu tháng. Dung là vợ chánh thức của Hải từ khi cô nhỏ tới đất Âu châu nầy. Chờ Dung học xong khóa ngoại ngữ lấy xong bằng lái xe, hai người mới quyết định có con. Nhờ khoẻ mạnh Dung sanh rất dễ dàng, hai năm Dung sanh liên tiếp hai đứa con trai, thấy vợ cực khổ với hai đứa nhỏ Hải kêu ngưng nhưng Dung muốn có thêm đứa con gái, vậy là cô mang bầu sau đó đẻ thêm thằng con trai nữa. Anh biểu nghỉ nhưng Dung ham con gái quá, nằng nặc đòi mang bầu, nhờ trời thương đứa thứ tư cho ra con gái, có như vậy cô nhỏ mới chịu treo buồng trứng.  Từ ngày có Dung Hải xin việc làm dây chuyền trong một xưởng sửa xe. Dung may thuê vá mướn, dư ra đồng nào gởi về đồng nấy, một bên gia đình ba má Dung, một bên là cho vợ chồng Thành Đất. Bây giờ dân số trong gia đình anh tăng thì chi phí cũng tăng theo. Dung ôm bốn đứa con đâu có đi làm gì thêm. Còn lương tháng của anh trang trải nhà cửa, mua sữa và tã lót cho mấy nhỏ, ăn uống cũng phải dè sẻn mới đủ. Ấy vậy bên nhà hổng biết mần ăn ra sao mà tiền gởi về y như gió luồng nhà trống. Thư cứ gởi qua hỏi tiền lúc đầu còn nói năng tử tế, dạo sau nầy hỏi thẳng kê những món cần xài ra hàng lô hàng lốc, những con số đọc lên thấy phát chóng mặt, tối thiểu một ngàn đô, khi thì cả chục cây vàng. Có lần ở nhà nói ba Dung bịnh gần chết, kêu gởi tiền về thang thuốc, làm Dung hoảng lên. Hải phải xin ngày nghỉ ở nhà giữ con cho Dung bay về bển. Nhưng Dung về vừa tới phi trường, cô tức muốn ói máu khi thấy ông già đứng đón tỉnh bơ trước cửa phi trường. Dung ở lại một tuần, dốc túi đưa hết số tiền đem theo lo cho ba bịnh, rồi bay trở về vừa khóc vừa kể cho Hải nghe. Đó là gia đình ông Tài chớ thật ra thì với vợ chồng Thành Đất anh có cho thì gởi thư cám ơn, không thì thôi chớ chưa bao giờ biên thư hỏi tiền. Mới đây Lệ có gởi thư qua nói, thằng Đợi xách dao rượt chém Thành Đất rồi bỏ nhà đi. Đọc thư xong Hải cảm thấy buồn buồn cũng như lần đầu nhận con mình, anh đã cảm thấy cái hạnh thằng nhỏ không được tốt rồi. Vì vậy chuyện nó đánh ba nuôi nó là do bản tánh mất dạy của nó chớ hổng phải lỗi tại Thành Đất . Anh thấy càng liên lạc bên nhà bao nhiêu càng thêm rắc rối bấy nhiêu, vì vậy anh giao hết tiền bạc cho Dung. Anh dặn: 
_Em làm sao thì làm miễn đừng để mấy đứa con thiếu thốn là được rồi.  Từ đó hễ ở nhà hỏi tiền thì ít nhiều gì Dung cũng gởi, gởi xong tối nằm thao thức, nén tiếng thở dài. Dung sanh ra chứng mất ngủ và kinh nguyệt cũng theo đó không đúng chu kỳ, thân thể vạm vỡ của Dung mỗi ngày một sa sút, da dùn, mặt mày rũ rượi trán có vết nhăn. Mới đây nhận thêm thư nhà Dung đem cho anh xem. Trong thư nói thằng Đợi về ở với cậu Hai, tức là ông già vợ của Hải, nó hỏi xin tiền mua chiếc Dream II và ở nhà xây thêm cầu tiêu và bồn tắm tổng cộng năm ngàn đô, xem thư xong Hải trao lại cho Dung:
– Em tính sao cũng được.
Đêm khuya Dung đánh thức Hải dậy, cô nói trong tiếng khóc:
– Anh ơi anh. Gì vậy em? Mình tính sao đây ? Từ lúc Dung sanh chứng mất ngủ cho tới giờ, tuy Hải không nói ra nhưng lúc nào anh cũng chú ý đời sống tinh thần của vợ. Đến nước nầy anh cần phải lên tiếng thôi.
– Em nín khóc đi.
Hải ngồi dậy lấy bình nước rót một ly đưa cho Dung.
– Em uống đi, rồi nằm xuống hít thở một lát rồi ngủ, chuyện bên nhà để bên nhà lo khi nào vợ chồng mình giàu có rồi tính. Anh sẽ viết thư nói cho ba biết hoàng cảnh của gia đình mình.
– Ba má em thì được rồi nhưng còn thằng Đợi?
– Năm nay nó đã ngoài hai mươi rồi, nó biết cầm dao rượt chém ba nuôi nó, thì nó phải đủ bản lãnh ra đời kiếm sống, em nên dồn hết tâm trí lo cho bốn đứa con của em kìa. Xe trước lật rồi, xe sau tránh, hy vọng còn vớt vát lại mấy đứa nhỏ. Thấy vợ bớt căng thẳng anh chỉ tay lên trán Dung pha trò:
– Đẻ cho cố rồi lo. Dung bấu mạnh vai chồng lấy đà nằm xuống phủng phịu: – Em muốn đẻ nữa. Hải kê gối gối đầu và kéo mền đắp cho vợ xong, anh nằm xuống cạnh bên và luồn tay xuống dưới dạ bụng mân mê:
– Muốn vậy thì em phải đi bác sĩ nối buồng trứng lại. Đợi Dung ngủ say, Hải qua phòng sách lấy giấy viết ra viết thư cho ông Tài. Anh nói thẳng cho ông biết, cũng vì u mê mà anh và ông mắc phải một sai lầm, làm cho tôn ti trật tự trong gia đình đã đảo lộn hết, bao nhiêu đó cũng đủ cho lương tâm ray rứt suốt đời rồi. Anh khuyên ông nên dừng lại, đừng quá tham lam mà gieo khổ cho con, cho cháu sau nầy… Hôm sau Hải đưa thư cho Dung đọc và hỏi:
– Em thấy thế nào. Cũng được. Dung trao thư lại cho anh đem đi gởi. Cũng từ hôm đó, tánh tình của Dung mỗi ngày một thay đổi, trong gia đình Dung lo cho chồng cho con rất là chu đáo, duy có một điều cô nhỏ càng ngày càng lạnh nhạt với anh, nhứt là chuyện chăn gối không còn mặng nồng như trước nữa. Có lần Hải thắc mắc hỏi thì Dung gượng gạo biểu, hổng có gì, rồi ôm anh thật chặt và gục đầu lên vai anh mặc cho hai dòng nước mắt tuôn chảy…   *   Bảy năm qua rồi ở bên nhà không thư qua nữa. Và cuộc sống tẻ nhạt của gia đình Hải vẫn tiếp tục điều trôi không biết tới bao giờ… Nhiều đêm ngồi một mình nhớ lại những chuyện đã xảy ra, anh tự hỏi:
Hổng biết bên bển có còn ai đợi chờ anh như lần đầu anh rời xa bến đáy.  

Dronten 02/05/04
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Mùa Hè Đỏ Lửa

Phan Nhật Nam

Post on Wednesday, March 18, 2009

Mùa Hè Đỏ Lửa

Bút Ký Chiến Tranh- PHAN NHẬT NAM

Post by Sơn râu 7 Apr 2026

3. Chương 3

An Lộc – Miền Đông không bình yên

Bỗng chốc thị trấn nhỏ về cực đông-nam phần cuối con đường 13 biến thành địa danh vang dội toàn thế giới… Guernica, Arden, Berlin của Thế Chiến lần Hai không còn ý nghĩa khi so với thị trấn bề dài 1800 thước và bề ngang từ cửa Phú Lổ đến hàng rào phòng thủ tiểu khu đo đúng 1000 thước. Trên diện tích bé nhỏ nầy, lại nhỏ hơn nữa của những ngày “tử thủ”, khi thành phố “co” lại với khoảng 900 thước bề dài còn lại-Một ô vuông cây số hứng chịu gần 60 ngàn quả đạn, đạn đại bác bắn tập trung từ mười vị trí trở lên trong 100 ngày vây khốn. Thế nhưng, An Lộc đã chịu đựng được. Quân và Dân ở An Lộc đã chịu đựng được. Chịu đựng- Sức mạnh tự nhiên không bờ, không đáy- Với nó, trong đó, Người Việt ngụp lặn miệt mài để tồn tại.

Sống! Thượng Đế ban món quà hiếm hoi quý giá này cho dân tộc ta quá khó khăn, hẹp lượng. Chỉ được sống, đám dân và lính ở An Lộc đã phải căng mình hứng chịu dài cơn bão săm sắp tiếng nổ và mảnh thép, trong ba tháng. Họ lên đến những “đỉnh” đau đớn chóng mặt, như từ một độ cao hai trăm thước, người mẹ sẩy tay đánh rơi đứa con khi trực thăng chao mạnh. Cái chấm nhỏ bé tội nghiệp rơi dần dần vào một cõi xa xăm mất hút…Không nghe được tiếng động của thân thể trẻ thơ đập mạnh trên đất đá. Không có tiếng thét bi ai của người mẹ mất con… Chỉ âm động phần phật cánh quạt phi cơ và gió bạt trên không gian im lặng. Từ đỉnh cao hai trăm thước đến vực sâu hai thước giữa lòng đất đỏ lạnh tanh, người cha bình thản ngồi xếp ngay ngắn, thẳng hàng hình hài năm đứa con và người vợ, sau khi đã đặt tay chân đúng vào thân thể của mỗi đứa.

Nỗi đau đớn dài như con đường 13 từ An Lộc về Chơn Thành. Lai Khê, Bình Dương, An Lộc, Lộc Ninh… Tên đặt ra nghe sao quá thê thảm, tội nghiệp, làm gì có “bình an” nơi miền Đông tàn khốc này… Tất cả chỉ là ước vọng. Nói thật hơn, chỉ là những hư vọng khó có lần hiện thực- Ảo giác mù mờ khi con người đã đến đáy khốn cùng. Chạm tay sự chết.

Trong qui ước truyền tin quân đội, chữ A được đánh vần là “Alpha” hay “Anh Dũng”.An Lộc cũng bắt đầu với chữ A, thế nên tôi gọi “An Lộc là Anh Dũng”; tĩnh từ này đã được dùng quá nhiều, đến độ nhàm chán, nhưng ngoài nó ra không còn một danh từ nào xác thực và đúùng đắn hơn. Phải, An Lộc là Anh Dũng. Chiến đấu ở An Lộc- Sống ở An Lộc- Chết ở An Lộc – Tất cả đều trùng trùng tràn ngập, vây kín, kích động bởi tính chất anh hùng. Tôi không nói quá lời, với chân thật của người cầm bút và tấm lòng giản dị của người lính, xin xác nhận lại một điều: An Lộc – Anh Dũng. Yếu tính của thành phố, người và sự kiện nơi An Lộc là tỉnh từ giản dị đầy đủ kia.

Mười năm kinh qua trận địa, bao nhiêu trang sách về binh sử đã được đọc, tất cả đều bị An Lộc vượt xa, vượt một tầm quá lớn mà không một trận chiến nào có thể bén gót được. Kiến thức quân sự, ý niệm chiến tranh, tất cả bị đổ nhào vô nghĩa, vô dụng với An Lộc. Chắc chắn như thế, nếu ai hằng đến sống, chết cùng với nơi chốn ấy một lần. Những “huyền thoại” về An Lộc đã được khai thác, nhưng không hết. Những người kiệt liệt của An Lộc đã được nhiều nhắc nhở nhưng chưa đủ. Tôi nối tiếp công việc này vì An Lộc không những chỉ có Tướng Hưng với các Trung Đoàn 8, 9, 48, 52 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh; Đại Tá Huấn với Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù; Liên Đoàn 3 BĐQ, và Đại Tá Nhật với thành phần cơ hữu Tiểu Khu Bình Long. Ngoài những lực lượng này, còn có Lữ Đoàn I Nhẩy Dù, đơn vị tham chiến từ ngày 7-4, bắt tay An Lộc lần một vào ngày 16-4 và lần thứ hai sau trận đánh trên tất cả các trận đánh, Tiểu Đoàn 6 Dù “clear” hai cây số còn lại vào đến Thanh Bình (hay đồn điền Xa Cam) trong “bốn mươi lăm phút chiến trận”.An Lộc được “bắt tay” lần thứ hai lúc 17g45 ngày 8 tháng 6 năm 1972.

Quê hương của loài nai

Đường 13 chạy từ ngã ba Chơn Thành đến An Lộc đo được 30 cây số, tiếp tục về hướng Bắc thêm 18 cây số nữa là Lộc Ninh, bên kia biên giới là Snoul, qua Snoul con đường ngã theo hướng Tây-Bắc để tới Kratié, nằm cạnh bờ Cửu Long; nép bên bờ trái con sông, đường chạy tiếp về phía bắc để gặp StungsTeng, vị trí chiến thuật quan trọng của đường giây ông Hồ từ Bắc vào. Đoạn này có thêm một tên khác, “đường Sihanouk” cho có vẻ đại đồng nhưng thật ra cũng chỉ là của anh Hồ cộng sản. Khởi đầu cuộc chiến “Đông Dương lần thứ Hai”, những công thầnđầu tiên của Trung ương Cục Miền Nam đã lần mò, tìm kiếm, ráp nối lại con đường… Bắt đầu từ vùng suối Đá, suối Chà Là, suối Ma vùng Bình Long, Phước Long, băng qua biên giới, đến những “mật khu” trong tương lai sẽ vang danh theo chiều rộng thế giới: Lưỡi Câu, Mõ Vẹt. Năm 1970, đại quân Miền Nam từ Bình Long, Tây Ninh, đồng loạt xua quân qua biên giới; cánh quân cực bắc của lực lượng vượt biên đã có lần đi xa quá Snoul để đến gần Kratié. Cộng quân tan nát, đổ vỡ toàn thể hạ tầng cơ sở, kho tàng, trọng điểm tiếp liệu và căn cứ trung ương. Hai năm sau, những ngày đầu 1972, một lực lượng cộng khác, thứ cộng nguyên gốc, theo một kế hoạch được bảo mật tinh vi, chuẩn bị yểm trợ cho mục tiêu chính trị, từ miền Bắc xuôi theo đường 13 vượt qua Snoul cùng ào vào Lộc Ninh với 3 sư đoàn chính qui thượng thặng, sau khi được giàn đại pháo 130 đã dọn sẵn đường. Sau Lộc Ninh là An Lộc. Và thị trấn nhỏ bé của miền cực đông-nam Nam bộ, bắt đầu co vào trong một thế gọi là “tử thủ”. Địa ngục có thật bắt đầu từ ngày đầu tháng 4-72 ở đây. Nơi An Lộc.

An Lộc không phải là thị trấn, thành phố, thật ra chỉ là thị xã tỉnh Bình Long, đồng thời cũng là quận lỵ Quận An Lộc, tức Quận Châu Thành của tỉnh. Tỉnh gồm ba quận, Lộc Ninh cực bắc, An Lộc giữa và Chơn Thành phía nam. Tất cả cơ sở hành chánh đều nằm trên con đường 13, con đường lớn phẳng phiu chạy thẳng theo hướng Bắc-Nam, vạch một đường đen thẫm giữa rừng cao su xanh lá, nổi bật trên màu đất đỏ nâu mịn màng đẹp đẽ. Đỏ nâu cũng là màu máu khô, đường 13, con số của sự xấu – Định mệnh đã định rõ: Con lộ mang số tử thần và màu máu thẫm – Hai cuộc chiến tranh chứng tỏ có một Thượng Đế nhẫn tâm khắc nghiệt đã sắp đặt sẵn điêu linh cho nơi chốn, lẫn người. An Lộc, tên nghe thuần hậu hiền lành, như cảnh tượng đàn nai chạy tung tăng trên đồng cỏ tranh mượt sóng. Đàn nai sống no đủ bình yên, được che chở bởi tàng cao su, rừng bạt ngàn xanh im bóng nắng và hàng vạn con suối mang đủ các địa danh Việt, Miên, Thượng… Những giòng suối đầu tiên của sông Bé ở phía đông và sông Sài Gòn ở phía tây. Bình Long- Quê hương loài nai nằm giữa hai con sông trải dài trên một bình nguyên bao la,miền Đồng Nai thượng không những chỉ là một vị thế tốt, còn là chiếc nôi nuôi dưỡng quốc gia với tài nguyên thiên nhiên phong phú, quý hiếm. Đất rộng mênh mông trải dài chập chùng đồi thấp đến tận Biên Hòa, Gia Định. Đất giàu đẹp, uy nghi như hãnh diện bất tận quê hương. Nhưng, đúng là quê hương khốn nạn. Quê hương gắng chịu tai ương của nhân loại. Quê hương nguy khốn, ngặt nghèo. Quê hương lửa dậy và Bình Long hừng hực tro bay. Nơi sự sống không còn mặt đất.

Địa ngục trước mặt,

Khi đứng trước An Lộc, dẫu kiễng chân, mở to mắt, tôi cũng chỉ thấy được một tòa lầu cao, ngói đỏ, con đường hơi ép trái trước khi vào thành phố, chiếc tăng T54 nằm bên vệ đường, che khuất một phần không gian. An Lộc cách một khoảng 1700 thước, nhưng sao đã thấy từng cơn rung trong lòng, đã thấy thái dương giật giật.Đâu phải chiến tranh chỉ có ở trong đó, nơi tôi đứng, năm mươi sáu xác chết của C7, C8 (đại đội 7, 8) của Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 275, Công Trường 7 đang nằm chật trong các công sự phòng thủ; nơi đây cũng có hai T54, ba PKR 79 nằm chúi đầu xuống hố bom, bộ máy bị tan nát vì lựu đạn công phá. Nơi tôi đứng, chỉ mười lăm phút trước, Đại Đội 62 Tiểu Đoàn 6 Nhẩy Dù đã xung phong cú chót bắt tay với Đại Đội 81 Tiểu Đoàn 8 Nhẩy Dù. Lần bắt tay vinh quang của quân sử người Việt phương Nam. Nhưng, nơi tôi đứng cũng dậy mùi người chết gây tanh trong gió…Chiến trường nơi đây cũng đã quá nặng độ, nào cần vào đến trong kia.Nhưng An Lộc nơi xa 1700 thước ấy lại gây cho tôi cơn đau đớn giật ngược, người cồn cào nóng rực tưởng như đứng trước một người thân vừa ngã chết!

– Tôi vào trong đó nghe anh Năm? Tôi hỏi trung tá Đỉnh, tiểu đoàn trưởng 6 Dù.

– Khoan, mai sớm hẵn hay, đợi đi, từ thằng 8 (tiểu đoàn 8) vào trong kia đâu có yên, nó pháo chết cha mày. Chết lại không có được “tuyên dương công trạng” nữa,

– Ừ vậy thôi, ngày mai.

Đêm xuống thật nhanh trong rừng, rừng cũng chỉ là chữ để gọi tên một vùng cây, vì ở đây rừng chỉ còn những thân cây cháy đen tua tủa dựng lên trời với cành khô không lá. Cây ngổn ngang và rừng điêu tàn. Bom đánh xuống cháy một xóm nhà vốn là sự thường trong chiến tranh, nhưng đốt cháy hẳn một cánh rừng bao la thì chỉ có ở Việt Nam. Nơi thiên nhiên biến dạng bởi lửa đỏ. Tắt lửa, trời tối thẫm, vài viên đạn đại pháo cầm canh điểm giọt dài từ bắc An Lộc đến cuối nơi đóng quân của Trung Đoàn 33 Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Lần đầu tiên tôi dự trận chiến “bắn quấy phá” do pháo của Cộng quân.Ưu thế hỏa lực vùng này không cần phải xét thêm, địch hơn hẳn ta một chặng đường dài, quá dài không theo kịp. Trời sáng tôi sửa soạn hành lý để dông. Có tiếng người gọi 64 (Đỉnh) ở trong máy. Tiểu đoàn trưởng5 Dù ngỏ lời chào mừng Tiểu Đoàn 6.

-Ông bắt tay được với tiểu đoàn 8 là tay cừ,tụi này đợi cả hai tháng, chả có ai nắm được tay mình, mỏi bỏ mẹ…

– Hì… hì, Đỉnh cười thích chí. Hiếu khóa 14, Đỉnh 15 Đà-Lạt, cùng là dân năm 54 “mang rau muống vào Nam diệt thù”, nay gặp được nhau giữa rừng chiến trận, câu chuyện vang vang những lời thống khoái… Có Nam Xương (Danh hiệu truyền tin trước kia của tôi, Nam là tên, Xương nghĩa là không có… thịt) lên đây với tôi, 55 (Hiếu) có muốn gần nó không?

– Đâu đâu, cho tôi nói chuyện với nó một chút, lâu không được nói chuyện với dân civil !!Chắc giọng nó “thơm” lắm.

Tôi cười ngượng ngùng, có một chút xấu hổ làm cứng mặt, đàn anh của tôi đã nói thật. Nhu cầu được gặp và nói chuyện với người lạ là một phản ứng thông thường của người lính miệt mài torng rừng rậm. Bao nhiêu lần tôi cũng đã có cảm giác này.Chui rúc mãi trong rừng sâu, đóng quân ở nơi hoang dã, khi thấy được một con đường, dù chỉ là loại đường đất trải đá dẫn đến một làng xóm cũng gây nên cảm giác ấm áp trong lòng Cảm giác sống giữa nơi có người, không lẻ loi … Gặp mặt người, ước muốn sao nghe quá cay đắng, nhưng chính là một hạnh phúc tội nghiệp mà chỉ có người lính trong chiến tranh mới cảm thấy.

Tám trăm thước từ tiểu đoàn 6 đến khu vực tiểu đoàn 5 tôi đi hơn nửa giờ…”Mày đi qua đó thì coi chừng, có hai hướng pháo, một ở tây-bắc, một ở đông-nam. Nếu ở hướng đông-nam lại thì không sợ, chỉ sợ hướng tây-bắc, khi nào nghe pháo tới thì đứng xây lưng vào cây cao su hoặc nhẩy xuống hố”. Đỉnh dặn dò tôi trước khi vào vùng pháo.

– Anh coi thường tôi quá, cũng đã là Đại Đội Trưởng Đại Đội 93 Tiểu Đoàn 9 từ 1965 chứ đâu phải là dân cù lần chưa đánh giặc,

– Tại vì mày đeo cái máy ảnh, tao cứ tưởng mày làm báo thứ thiệt!!

– Báo quái gì, giang hồ chơi vậy thôi, tôi dọt, về viết bài bốc anh. Rừng không nắng, đất đỏ tung tóe, cây gẫy đổ chắn lối đi, xác Bắc quân chôn tập thể ngổn ngang gò đống, pháo rời rạc rơi, cứ năm phút từng cặp một… Tôi cũng nhiều phen tìm hố để ẩn nhưng người làm sao nhanh hơn đạn, khi đứng được trong hố thì đạn đã chạm nổ rồi!! Mới hơn một năm đã quên bố hết phản ứng… Chẳng bù năm xưa khi trái đạn đầu tiên vừa nổ ở vùng phi quân sự, tôi đã ở nguyên con trong hố đào bằng nón sắt! Mình hết thời lính rồi.Tôi lẩm bẩm nhắm hướng tiểu đoàn 5 đi mặc kệ pháo rơi trên mặt lộ… Nếu nhỡ mình chết ở đây thì với tư cách gì nhỉ? Dân cũng không, lính chẳng phải. Không có một điều gì kéo tôi đến đây, không lẽ để lấy tài liệu làm “tác phẩm”?!!

Mồm ngậm điếu thuốc, tay bỏ túi quần, tay giữ máy ảnh, tôi cũng lạ với mình trong phút giây “đạt đạo” này. Đời là sự vô thường !! Tôi luận lung tung trong đầu khi bước chân đi qua vùng rừng được lính Nhẩy Dù đặt danh hiệu “bãi pháo”. Pháo là pháo kích, đại pháo của Cộng. Hơn ngàn người dân An Lộc đã chết trên tám trăm thước ngắn này trong những ngày trước khi họ cố bỏ nơi đỏ lửa để xuôi nam… Gạo xấy, tay nải, nón, guốc còn lác đác đầy khoảng rừng.Chụp hình được hết những mảnh vụn này không? Tôi tự hỏi khi loay hoay điều chỉnh ống kính. Chẳng thấy được gì, thôi vậy.Tôi xếp máy đi hết quãng đường.

Đến khu đóng quân của tiểu đoàn 5, chẳng có người lính nào trên mặt đất, pháo đang nổ ngoài đường. Dứt pháo, những cái nón sắt từ từ nhô lên khỏi nắp hầm, hầm dưới đất, nắp hầm khum khum như những nấm mồ nhỏ… Cảnh tượng giống như đàn còng gió khi thấy người đi đến vội tụt xuống cát trên bãi biển. Những người lính vừa nhô lên thấy tôi nhoẻn miệng cười.

– Báo hả? Có thuốc lá không?

– Chẳng phải báo beo gì cả! Thuốc lá còn mỗi điếu ở mồm đây, hút không?

– Hút ! Người lính thò tay lấy điếu thuốc không chậm một giây.

Đến hầm ông Hiếu, phải một phút kêu gọi, ông Tiểu Đoàn Trưởng thâm niên nhất của Nhẩy Dù mới “bò” ra khỏi ổ… À Toa, đợi đấy, moa đãi toa hộp bia và bánh do bà vợ vừa gởi lên. Tôi cởi áo giáp, máy ảnh, nhận hộp bia vàng sánh.Như những người lính im lặng chung quanh, tôi bình thản uống từng hớp bia hạnh phúc. Đến một độ nào đó con người “bão hòa” với đau đớn, trở thành trơ, mất xúc cảm và vô vi như một kẻ đạt đạo cao siêu. Tôi chỉ mới qua vài ngày chiến trận, chỉ mới ở vài ngày dưới vùng “hỏa tập tiên liệu” của địch, đầu cũng đã cứng và lòng phẳng trắng vô tri.Uống, bia lúc nào cũng ngon và ngọt, thở một hơi thuốc thơm lên vòm trời âm u.Ầm !Ầm !Lại hai hỏa tiễn, tôi thụt đầu vào lại hầm, hộp bia sóng sánh trào ra chút bọt nhỏ.Uống thật say đắm, cạn giọt cuối cùng, biết đâu lát nữa khi vào An Lộc lại bế ngay một quả.

– Lâu quá moa không thấy mặt trời, cao su ở đây còn lá, ngày lại nhiều pháo kích, ở luôn trong hầm cho tiện.Ra khỏi hầm chẳng làm được gì, nhỡ có chuyện gì lại thiệt cho đơn vị.Người tiểu đoàn trưởng số 1 đã nói thế, trận chiến này quả thật không còn chỗ để khai sinh anh hùng. Đánh nhau bằng lưỡi gươm, người làm tướng thuở xưa có cơ hội chứng tỏ được mưu lược, can đảm và tài nghệ riêng mình.Đánhbằng gươm, lối đánh mã thượng, quân tử, đánh đối mặt, và chết không ân hận. Chiến tranh hôm nay với đại pháo xa hàng chục cây số và viên đạn vô tình nổ chụp. Người thụ động toàn thể dưới vũ khí tàn ác vô nhân. Chiến tranh không những chỉ hủy diệt đời sống. Chiến tranh còn làm mất giá trị con người.

Mãn thiên hoa vũ

Vượt hẳn hết ý niệm từ trước, bỏ xa trí tưởng tượng đã xếp đặt, An Lộc không “hư” từng khu, không đổ từng khóm, An Lộc vỡ nát, vỡ tan tành, vỡ vụn…Không còn sự sống trên mặt đất, không còn dấu vết người trên mặt đất, thành phố chìm dưới hầm, sâu dưới đất, càng sâu càng tốt như một ổ mối khổng lồ dưới lớp đất bùn bề mặt. Vòng đai thành phố bây giờ đã nới rộng lên phía Bắc đến gần được sân bay.Những ngày “tử thủ” đường phòng thủ này rút xuống ngang hoành độ 88, từ đây kéo thẳng đến cực nam bãi trực thăng B45 đo được 800 thước và bề ngang được 500.Một diện tích rộng chưa tới cây số vuông đã có lần nhận được 8000 viên đạn như trong đêm 11 rạng 12 tháng 5; 8000 viên đạn loại xuyên phá chưa kể hỏa tiễn và cối tung hoành trên mảnh đất chỉ bằng khu vực Đa Kao.Mỗi thước vuông đất phải nhận hơn 10 trái đạn.Đạn Delay xuyên xuống đất hơn một thước mới nổ.Không cần phải trúng ngay hầm chỉ cần nổ bên cạnh cũng đủ xô ngã vách hầm. Dân và lính thụ động co rút dưới hỏa ngục đổ từ trên trời xuống trong hơn hai tháng. Pháo không phải từng cơn, từng giờ, từng loạt, pháo đầy trời như mưa, pháo ào ạt như gió, pháo kín mít như mây. Pháo không vạch từng đường như Mậu Thân, pháo không đi từng luồn như ở Hạ Lào. Pháo và trời chan hòa trộn lẫn như mưa bay giăng giăng che kín không gian của những ngày xuân mưa bụi. Dưới bầu trời đầy những đóa hoa tử thần đó. An Lộc co quắp, vật vã, tan thành mảnh, phất phới bay như tờ giấy xé nát được tung lên giữa trời lộng gió. Một hỏa tiễn nâng chiếc xe jeep bay bổng, khối sắt nặng 1/4 tấn vừa rơi xuống chạm mặt đất lại bị thổi ngược lên cao, nhẩy lên một mái hầm như hộp thiếc nhỏ bị quay cuồng vì những viên đạn tinh quái chính xác trong phim cao bồi Mỹ.

Pháo đầy trời nên sự chết cũng ở khắp nơi, chết lan như cỏ gà, chết tự nhiên, như sống thì phải chết. Chết ở An Lộc là hiện tượng tất nhiên. Gia đình bẩy người, hai vợ chồng năm người con cùng trú trong một cái hầm. Hầm đào dưới nền nhà trên lót vài tấm ván và một lớp bao cát. Tất cả đo được một thước bề dày. Tội nghiệp, dân đâu biết được cường độ công phá của đạn 130 ly. Nên, ầm một tiếng ngắn ngủi, cái nắp hầm tội nghiệp đó tung lên vỡ tan từng mảnh nhỏ như những hạt nước tóe lên khi hòn đá nặng rơi xuống… Chết! Sáu xác chết được một người còn sống chắp nhặt, vá víu để xác người mẹ không có tay người con, để thằng anh không lẫn chân thằng em. Người cha chậm rãi, từ tốn bình thản đi chọn lựa từng phần thân thể một của mỗi người thân yêu, còn gì trong đầu óc khô cứng đó. Không còn gì, chẳng nên gọi đó là óc não con người.Người đã chết. Con người thật đã chết toàn phần ở An Lộc.

Chân dung người giải phóng,

Trên đây là những hình ảnh của những “nội” An Lộc, chung quanh An Lộc từ những ấp cực tây như Phú Bình qua cực đông Phú Hòa, xuống phía nam như Thanh Bình, Văn Hiến … Những tên ấp nghe thật hiền, hiền lành tội nghiệp như ước vọng nhỏ nhoi của người dân khổ … Dân cạo mủ, dân làm nhà máy mà hơi nhựa cao su đã thấm đẫm qua lớp da, bao quanh thớ thịt tại nên một sắc thịt nâu nâu, nhạt nhạt có cảm giác rút cứng nhão nhoẹt khi chạm phải … Nhưng những người dân tồi tàn này đã bị kéo ra khỏi thôn xóm cuối đời – Họ là di dân từ Trung và Bắc vào – chống nạng bế con, cõng cha mẹ đi dọc đường 13 hướng về Tân Khai, Tần Ô, Lai Khê để đến Bình Dương, thiên đường yên ổn khốn mạt đang chờ đón, che chở … Vì chỉ các Bình Dương trên mười cây số là Lái Thiêu, nơi có lũ người được mệnh danh là “giới trẻ” đang đu đưa trên những chiếc võng ni lông, võng cói, đút cho nhau những miếng sầu riêng, chôm chôm bằng động tác của phim roméo và Julliette, bằng thứ nũng nịu hờn dỗi dưới những tàng cây xanh im bóng nắng. Cũng dưới những tàng cây như thế này ở Bình Dương cách đó không đầy mười phút Honda, những người dân An Lộc ngồi chồm hỗm nhìn ra con đường ngập nắng, hướng về mạn Bắc, nơi quê hương cuối đời đang đỏ lửaTay vẫn nắm chặt một mẫu vải vụn mà suốt bốn ngày không rời bỏ … Mẫu vải mang hơi hám kích thước, biểu tượng cho đời sống, niềm hy vọng ở quê nhà.

Người dân rời xóm làng để lại nơi chốn cho những người ”giải phóng.”Họ đi từ Bắc vào, từ Thanh Hóa, Nghệ An xuống Đồng Hới, băng qua biên giới dọc theo Tchépone, Mường Nông xuôi dần xuống phía Nam, rẽ vào Kontum hay mặt trận B3 hoặc tiếp tục xuống vùng Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt trước khi qua lại biên giới để vào Lộc Ninh, cách An Lộc 18 cây số – Hành lang di chuyển mở rộng không chướng ngại.Họ đến An Lộc từ đầu tháng Tư sau sáu tháng di chuyển và bắt đầu “được” xích vào cần chân ga thiết giáp, xích vào cây để bắn máy bay và xích vào cổ người bên cạnh để đi hết lời nguyền “Sinh Bắc Tử Nam.”Ôi, nhưng đó chỉ là bề ngoài, một bề ngoài giả dối tội nghiệpđể che chở phần tinh thần đổ nát, tan vỡ trong kinh hoàng, khiếp đảm.Làm sao không sợ được, vì trong đêm 11 rạng 12 tháng 5, sau khi được 8000 quả đạn dọn sạch đường, 3 trung đoàn, mỗi trung đoàn quân số 3 Tiểu đoàn đầy đủ được“tùng thiết” với một đại đội chiến xa thuộc các trung đoàn 203 và 303 thiết giáp, tưởng sẽ san bằng An Lộc, giết toàn thể lính Mỹ Ngụy, không để sống một người dân.Mười bẩy “pass” B52, mỗi “pass” đi qua do 3 phi cơ thực hiện với 42 quả bom 500 ký, 24 quả bom 250 ký. 17 pass bom sát nách An Lộc 600 thước, chiếc hầm béton của Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn I Dù “di chuyển” theo cơn rung của bom. Bom chiến lược, với nguyên tắc chỉ thả cách quân bạn khi có khoảng cách an toàn từ hai cây số trở lên. Cuộc đánh bom phải do chính Trung Tướng James Hollingswoorth của Vùng III điều khiển. Và chỉ một “pass” bom ở Trãng Bàng cũng đủ làm cho thành phố Sài Gòn chuyển động, cách nơi đánh bom 30 cây số đường chim bay!Con người nào chịu nổi 17 pass bom đi trên đầu, bao chung quanh không phải từng lớp nhưng từng chồng, từng tảng âm thanh mà cường độ nằm ngoài sức tưởng tượng… Sợ, phải sợ, dù người có được đúc bằng thép, thép cũng chảy, người có uống thuốc liều, thuốc cũng phải tan, Marx, Lénine, Hồ Chủ Tịch, Võ Đại tướng chẳng còn là cái quái gì trong khối không gian điên đảo tàn khốc đó – Sợ, nên dù có bưng bít, che dấu trong lá thư gởi về gia đình ở Nghệ An, Nguyễn Đình Nghiêm, ám danh quân số và đơn vị là HT 810042 SZ 7, sau một thời khuyên nhủ gia đình “công tác tốt để đạt được tiêu chuẩn… Em Ba hãy gắng học tập để tiến bộ đúng sự hướng dẫn của Đảng…” Cuối thư không thể cầm lòng được, Nghiêm viết thẳng: “Điều kiện chiến trường rất gian khổ, vô cùng khó khăn, thư có khi 2, 3 năm không viết được, nên gia đình cha mẹ chớ trông thư con”.Viết thế nào được dưới 17 pass B52 đó? Viết thế nào được dưới AC 130 Spector bằng Ra-đaba quả 105 ly một?! Không viết thư được là chuyện bắt buộc. Không thể sống được là điều tất nhiên. Làm sao có thể sống được hở người Cộng Sản? Làm sao để sống và chiến thắng hở ông Võ Nguyên Giáp – “Thiên tài ngu muội” của lịch sử dân tộc. Lỗi lầm này mấy biển rửa cho tan. Oán hờn chồng chồng cao ngất.

Ở đây, mặt trận với tàn khốc ngập trời, hậu phương lớn ngoài Bắc thì được “bồi dưỡng” với hạnh phúc,“Tết này em sẽ mua về cho mạ 1, 5 cân đường, hợp tác xã ủy nhiệm cho gia đình người đi nghĩa vụ quân sự số lượng đường với tiêu chuẩn đó.Mạ có nói đem bột, trứng qua bên này, nhưng như vậy thì tốn quá… Em sẽ làm 50 cái bánh và một gói chè và mạ đã nhất trí …” Trời đất hỡi, còn tội nghiệp nào nữa hả trời, ba năm đi làm giải phóng được “hỗn hợp vui vẻ” bằng phần thưởng 1, 5 cân đường!!Anh “giải phóng” cho ai và để làm gì hở anh Nguyễn Văn Hưu (số quân, đơn vị 271003TB004)?! Anh giải phóng đồng bào miền Nam để “nhất trí tiến bộ xã hội” với 1, 5 cân đường sao anh?!

Trước An Lộc, không có một luận lý nào có thể tồn tại được, chỉ còn tiếng thở dài bi thiết để nén khối đau ra lồng ngực và chớp mi mắt mọng cay tưởng rơi giọt nước vô hình. Nhưng, khóc cũng không nổi.

Chiến trường lộ mặt

An Lộc tàn khốc, nhưng đối với quân dân Miền Nam, sự tàn khốc này mang một nét bi tráng, hào hùng. Đây là khối lửa nung đốt và tôi chín người. An Lộc bi thương – Bi thương ấy thúc giục con người cố đạp đổ định mệnh, vượt khỏi định mệnh tàn ác để tồn tại, tồn tại trong tự do chỉ riêng một lần trong đời cảm thấy khi từ bỏ tài sản cuối đời băng mình đi dưới trời đại pháo. Chỉ vì muốn sống tự do người dân An Lộc mới bất chấp tất cả, mới vượt qua tất cả, đi trên cái chết, trong cái chết để thể hiện ý hướng trừu tượng mà suốt đời dài không một lần lý luận. An Lộc dũng cảm kiên cường đứng vững chắc trên điêu tàn, vĩ đại như ánh lửa soi đường cho cả dân tộc. để lịch sử mãi ghi nhớ, lòng người hằn in sâu. An Lộc, cây cổ thụ quê hương còn lại sau cơn Đại Hồng Thủy máu lửa. Người Miền Nam nhìn An Lộc như tấm gương soi rõ chân dung bình lặng cao cả của mình.

Và chiến trường này cũng có đủ mặt trái của nó. Đó là một chiến trường phi nhân, vô lý và tuyệt vọng. Chiến trường hư không. Chiến trường chết, mồ chôn ảo vọng và bạo ngược. Người cộng sản hứng hết mặt trái khốc liệt này.

Bỏ đi những sự kiện chiến thuật như Bắc quân đã có đủ ưu thế chiến trường, gần hậu cần, hành lang chuyển quân rộng rãi, dễ di chuyển, ngụy trang tốt, tiếp vận, tiếp liệu đầy đủ và nhất là được yểm trợ bởi một hỏa lực khủng khiếp, một hỏa lực vượt hẳn mọi hỏa lực bộ binh dã sử dụng của quân sử thế giới. So với Mậu Thân, Hạ Lào, chiến trường Trị-Thiên, Kontum… An Lộc vượt quá xa về hỏa lực. Không có một trận địa pháo nào dồn dập và nặng nề như trên chiến trường nhỏ bé An Lộc. Sẽ không bao giờ có nữa, chắc chắn như thế. Nhưng dù đã có được hết ưu thế chiến thuật, ba công trường 5, 7, 9, được tăng cường hai trung đoàn chiến xa 202 và 203, cộng quân vẫn không “dứt điểm” An Lộc. Mặc dù cho đến hôm nay khi viết những chữ này (20-6-72), địch vẫn còn hoạt động mạnh tại Tầu Ô, Đức Vinh và An Lộc còn nằm trong vùng hỏa tập tiên liệu của hai hướng pháo Tây-Bắc, Đông-Nam. Nhưng mục tiêu chiến thuật (nhấn mạnh nghĩa chiến thuật) của chiến dịch đã bị gãy đổ. Hoàn toàn gẫy đổ.

Nhưng, mặt trái chiến trường cũng không phải ở lần thất bại quân sự này. Mặt trái chính là lần tan vỡ “huyền thoại không tưởng” về bộ binh Bắc Việt. Bởi nơi đây đã minh chứng, không hề trên mặt trận lại có một loại lính năng lực tác chiến xuống thấp đến thế. Khả năng tác chiến kém có thể do vì thiếu huấn luyện, thực tập, chưa đủ kinh nghiệm trận địa… Nhưng ở đây, yếu tố chính để kết nên căn bản cho toàn bộ yếu kém này là tinh thần Bắc quân: Khối hư không thất vọng và chán nản cao độ. Ở mặt trận Trị-Thiên, binh sĩ Bắc Việt khi vượt sông Bến Hải tràn xuống Đông Hà, Quảng Trị dù sao vẫn còn mang được tâm lý Đánh trên quê hương, nơi đất nhà, vùng thổ ngơi còn dính líu với Miền Bắc. Họ lại được thúc đẩy thêm “ý niệm đi giải phóng, chiếm đóng” cộng sự hận thù đối với dân chúng Miền Nam, nhất là dân cư ở các thị trấn, thành phố. Tâm lý này còn nguyên cường độ nên khi vào Quảng Trị, toán lính Bắc quân vẫn giữ được tính chất cực đoan, cường bạo để thúc dục tinh thần và nâng cao khả năng tác chiến – Khả năng giết dân và quân dân Miền Nam.Ở chiến trường Kontum, tuy trải qua một chặng đường dài di chuyển, lại chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, tinh thần Bắc quân vẫn chưa hẳn hoàn toàn tan vỡ vì các trận đánh ở dãy cao độ Delta, Charlie, Hotel phía tây Quốc Lộ 14, ở đèo Chu Pao không có sự hiện diện của dân. Đánh trong rừng, người lính khai triển tối đa khả năng chém giết, không bị ghê tay bởi những cảm giác ân hận, lỡ lầm. Nhưng ở An Lộc thì khác hẳn, Bắc quân từ mật khu bôn tập về mục tiêu màdân nhiều hơn lính- Dân dáo dác, sợ hãi, trốn lánh và chết thảm… Lòng người nào trong cuối đáy không thoáng ân hận khi chính tay mình hạ sát kẻ tay không?! Thêm vào đấy, các công trường 5, 7, 9 chỉ là chỉ danh của các sư đoàn “mặt trận” có cán bộ và lính người Nam xen kẽ cùng những người từ phương Bắc đến. So sánh đã xẩy ra, chuyện trò sẽ tỏ rõ, lính Bắc nhận được chân dung đích thực của mình, biết rõ hành động phi lý khi rời bỏ quê hương từ một chốn mịt mùng để dấn thân vào cuộc chiến tuyệt vọng.Tuổi 15, 16, 17 rất dễ bị kích thích nhưng cũng mau mắn ngã lòng – Số tuổi trung trực, nhạy cảm và thơ ngây. Lính Bắc ở mặt trận này bị phá vỡ toàn diện hệ thống tinh thần vì chiến trường lộ mặt: Hàng ngày dân chúng vượt qua “bãi pháo” qua Xa Trạch, Tầu Ô… vượt nỗi chết để chạy về phía lính Cộng Hoà… Tất cả thực tế nầy như cánh tay nghiêng ly nước lã đầy. Lính Bắc vỡ mặt, thấy mình kẹt trong chiến trường phi nghĩa, vô nhân đạo. Nhưng quả muộn màn vì cổ đã bị xiềng vào đồng đội… Giờ báo tử cho bộ binh Bắc Việt đã điểm.

Thư của người tình hư vô,

Di chuyển trong 6 tháng với cơm khô muối hột, dự trận chiến vô vọng, lại có thêm hoàn cảnh để so sánh. Người dân miền Nam và miền Bắc. Có thư viết về Bắc thú nhận : “Vấn đề bồi dưỡng tại chiến trường lúc này đã tiến bộ, không còn thiếu thốn như ở thời gian di chuyển (từ Bắc vào) nữa.”Được ăn ngon, thấy rõ dân tình, trạnh nhớ đến gia đình nơi xa thiếu thốn, đường về không còn lối, lòng người lính Bắc trẻ tuổi trùng hẳn xuống đến độ thấp nhất, trong cơn ngất ngư lại được “bồi dưỡng” thêm bởi những giòng thư thương nhớ, cái nhớ trùng điệp như Trường Sơn, mịt mù như rừng thẳm, nhớ tha thiết, nhớ giỏ máu, cắt da … Nhớ và cảm thấy được hết nỗi tuyệt vọng của cuộc tình chia cách. Sức mạnh nào để cầm cây súng, trái tim nào còn đập theo nhịp căm hờn. Người lính Bắc hay gã lính xâm lược ngụy danh cay đắng trong chiến trường lộ mặt, “Áp lá thư em vào ngực anh đọc đã mấy chục lần …”.Người tình hư không đã viết vào nhật ký để trả lời cho bức thư tha thiết.Thư của Người – gởi – Người.Người yêu dấu không bao giờ gặp lại. Những bức thư có những nội dung như sau:

Anh Hưu thương:

Thế nào, hai Chủ nhật trôi qua có nhớ lắm không ?Có thể nói từ khi anh và em cùng nhau bắttayxây dựng vợ chồng thì hai Chủ nhật này là hai Chủ nhật khó khăn và nặng nề vượt qua lắm anh hè. Em biết lắm rồi, trong những giờ phút đó anh muốn thét lên thật to để làm sao ôm lại những lời nói của anh, rồi cùng anh nói chuyện, em cũng biết lắm những bước chân đi trong những giờ phút đó nó như một con người không có tri giác mà những bước 9di đó không hề biết đến, không hề nhớ đến, đầu óc sẽ triền miên suy nghĩ, những cái gọi là kỷ niệm ở đời sẽ hiện ra và bắt đầu như diễn kịch trước mắt.Thật đúng tâm trạng của anh lúc đó em sẽ đoán được, vì sao em lại biết tài như thế ?Vì em đã nằm giữa trái tim anh, dòng máu của anh đã cùng chảy theo nhịp thở của em, cho nên dù sao, dù ở phương trời nào em đều đoán được.

Thế nào rồi đó, chân sưng to không bằng cái “cột đình” chưa ?Vai đã lột những lớp da bên ngoài gọi là “hồng hào” chưa ?Có đau lắm không anh ?Có hỏi họ để tìm lá dầu ngoại khoa mà bóp chưa, nhức lắm anh hè.Anh Hưu ơi, em biết đi đường vất vả lắm rồi đó, ăn uống khô khan như vậy có mua gì cải thiện đến không ?Trân đường đi có xẩy ra đau ốm gì không ?Nghĩ đến đó em tê buốt cả người, càng thêm nhớ nhung suy nghĩ, có sinh racái mụt nào để làm thêm đau đớn bản thân không ?Vì mùa này là mùa mụt của “đồng chí” đấy phải không Thủ trưởng.Hai chữ Thủ trưởng nói cho vui vậy thôi, chứ không phải em mơ ước như vậy đâu nhé.Thật ra tâm trạng của em chỉ mơ ước rằng sao cho ba năm nghĩa vụ xong anh được an toàn cùng về với em, em muốn nhắm mắt làm sao thời gian sẽ trôi nhanh đi và nhanh đi nữa để anh và em được về sống trong một ngôi nhà nhỏ hẹp, để cùng nahu vượt qua khó khăn, cùng nhau hưởng những hạnh phúc đẹp đẽ.Những hạnh phúc đẹp đẽ, những cái đó em nuôi một mơ ước, một mộng đẹp, chứa đựng nó trong một khối óc, trái tim đầy tìnhchung thủy của tình nghĩa vợ chồng đã nhen nhúm từ lúc đầu.anh ơi, xa anh đi, em nhớ lắm, em thương anh lắm, anh nói, anh cười, anh trìu mến thương, em làm sao quên được.Có ai hiểu thấu tâm trạng của em trong những lúc nhìn vật của anh, từ nét chữ anh viết cho em, rồi đến cái nhìn nữa … Chao ơi em muốn bấu lấy mà nhìn, nhìn mãi, nhìn vui nào cho chán được.Anh Hưu ạ, nói mãi cũng không hết nhớ nhung của em lúc này đối với anh, thôi em nói chuyện khác anh nhé …

Trên đây là hai trang đầu tiên của chị Nguyễn Thị Hàng, giáo viên ở Nghệ An viết gởi anh Lê Văn Hưu địa chỉ là : 271003 TB 04, thuộc cánh quân của trung Đoàn 124 phối hợp với Đại Đội1/117 Trung Đoàn 203 Thiết Giáp, không biết rõ anh ở đơn vị nào … Thư viết bốn trang, tôi ghi lại hai trang đầu không sửa một nét, không thêm một dấu … Đầu năng và tay run khi viết lại những hàng chữ trên, người yêu Lê Văn Hưu của Nguyễn Thị Hàng đã chết, chết ngay tại trận đầu tiên sau sáu tháng vượt Trường Sơn vào Nam giải phóng.Người yêu đấu đó đã chết, làm gì còn “ba năm nghĩa vụ quân sự chấm dứt để anh về với em” hở chị Hàng ? Tình yêu, nỗi lo lắng của chị chỉ còn vang động trên hư không, người yêu dấu rất thương của chị không phải chỉ bị nổi mụt, sưng chân, trầy vai, cảm sốt. Anh Hưu đã bị chết bởi đạn, bởi bom, chết hai lần, ba lượt, chết cháy, chết tan hoang, tiêu tán và tàn khốc.Không phải lỗi của chúng tôi chị Hàng ạ, chúng tôi phải tự vệ để sống còn, cũng không phải của anh Hưu, anh ấy cũng muốn ở lại bên chị để được “cười rúc rích với nhau dưới lớp tơi lá,” để được ăn ngô vì “vườn ngô trước nhà đã được mùa,” để được ăn cá và bánh do chị và mạ làm … Anh Hưu không muốn qua đèo Mụ Già, không muốn qua Tchepone, Lao Bảo, anh muốn ở cùng chị để tay nắm tay và “máu cùng chảy với nhau..”Tội này là tội của chúng nó – Lũ đồ tể tay không dính máu, hồn cứng ngắt bởi quyền thế và danh vọng.Lũ chúng nó say thứ nặng nhất trong tất cả mọi nỗi đam mê – Chúng nó say danh, say tiếng – Trời hỡi, chút tiếng tăm vang động trên năm châu, trên trăm ngàn tờ báo của mọi nơi đã làm con người biến dạng thành quỷ quá dễ dàng thế sao ?Lũ ngạ quỷ trầm luân mang danh người và chiêu bài cách mạng giải phóng.Chính chúng nó, thứ thiên tài chết ngập đầy oan khiên … Chị Hàng thân mến, tôi người miền Nam không biết được chị, nhưng tôi cũng có một người yêu, một người vợ lo lắng đón chờ mỗi lần tôi bước ra đi … Tôi đi ngắn, chỉ qua vài trăm cây số và về lại trong bình yên, anh Hưu đi đường xa vạn dặm, chuyến đi vào mịt mùng, vào tan vỡ … Anh Hưu không thể trở về, không bao giờ trở về được … Gởi lời chào đau đớn đến chị, người đàn bà chờ đợi người chồng bộ đội không hề trở về – chị Nguyễn Thị Hàng, ở ngoài Bắc, một vùng đất khổ quê hương tôi.

Trận Pleime năm 1974

Vương Mộng Long

baotreonline.com

Posted 23 Nov 2019

Post by Sơn râu 7 Apr 2026

Kỳ trước: Đang giằng co với lệnh buộc đi cứu binh của Đại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng LĐ 24 BĐQ, và tình hình cấp bách, địch đang tấn công vào trại Pleime, Thiếu tá Long quyết định dẫn quân về giữ đồn, vì đó là trách nhiệm chính của ông.

Kỳ 5.

Trước khi ra quân, tôi đã dự trù một hỏa tập rào cản dài một cây số hướng Tây, Tỉnh lộ tên là “Sầm Mi 1” để đề phòng viện quân địch ào lên. Tôi khẩn cấp gọi Sầm Mi,

– Sầm Mi! Ðây Thái Sơn! Gọi chú Như ưu tiên cho anh hai chục tràng hỗn tạp trên Sầm Mi 1! Mau lên!”

Sau đó, tôi để lại Ðại Ðội 2/82 đánh trì hoãn cho tôi và Ðại Ðội 3/82 băng rừng rút lui. Cuộc rút quân này gấp rút tới nỗi tôi phải cho lệnh ưu tiên di tản thương binh, bỏ lại tất cả những đồng đội tử trận, vứt bỏ tất cả vũ khí nặng và chiến lợi phẩm. Tôi đã yêu cầu hỏa tập Sầm Mi 1 bắn hơi trễ, nên khi tôi về tới cổng trại cũng là lúc địch reo hò xung phong tràn ngập tiền đồn Bắc, sáu khinh binh đóng chốt trên đồi không biết sống chết ra sao. Ðại đội 3/82 vừa bố trí thành một vòng cánh cung dưới chân tiền đồn đã sớm trở thành mục tiêu cho hai khẩu 12.7 ly của địch từ trên đồi bắn xuống. Tôi và Ðại Ðội 3/82 vội tụt xuống trấn thủ con dốc trước cổng Bắc. Toán gác cổng đã mở hé hai cánh cửa cho anh em theo nhau luồn vào trại.

Xuống tới bờ dốc là có vị trí ẩn núp, tôi khẩn cấp cho lệnh khẩu 105 ly của Trung úy Như bắn ngay mười tràng hỗn tạp trên tiền đồn Bắc, hai khẩu 12.7 ly của địch mới chịu im. Lúc này Ðại Ðội 2/82 của Trung úy Anh bị địch cô lập trên đoạn đường một cây số Bắc Pleime. Trời đã xế chiều, tôi nói với Trung úy Anh rằng tôi sẽ cho quân bạn bắn tối đa về hướng Bắc nhưng bắn lên trời, còn quân của Ðại Ðội 2/82 thì cứ vừa chạy về hướng trại, vừa liên tục tác xạ, tới sát rào Bắc sẽ có quân bạn tiếp đón.

Súng nổ liên hồi trong khoảng thời gian nửa tiếng đồng hồ. Thiếu úy Trần Văn Phước là người chỉ huy lực lượng trấn thủ cổng Bắc báo cho tôi hay Ðại Ðội 2/82 còn được 22 quân nhân vừa nhập trại. Trung úy Nguyễn Hữu Anh và Chuẩn úy Lê Văn Phước còn tụt lại đằng sau, họ đang tìm cách đi bọc về hướng suối rồi tiến về cổng Nam. [Có tác giả khi viết về trận Pleime 1974 đã ghi là Ðại Ðội 2/81 chỉ còn 22 người chạy về trại. Ðiều này sai, đây là Ðại Ðội 2/82 không phải Ðại Ðội 2/81. Vì ngày 28 tháng 7 Ðại Ðội 2/81 mới được không vận vào Pleime.]

Tôi ngồi bên máy truyền tin trực chờ tiếng nói của Trung úy Anh và Chuẩn úy Phước suốt đêm nhưng không thấy động tĩnh. Ba ngày sau hai vị sĩ quan này cùng năm người lính lội bộ tới Chi Khu Phú Nhơn trình diện, cái máy truyền tin của họ đã bị chìm khi qua suối Lé (Ia Glaé). Lúc này, kể cả một tiểu đội canh gác cố định trên Pháo đài 2 thì quân số của Ðại Ðội 2/82 chỉ còn trên dưới 30 người, lại không có sĩ quan, nên tôi giao số quân nhân này tăng cường cho Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt. Thế là tiền đồn Pleime bị cô lập kể từ tối 27 tháng 7 năm 1974. Ðêm 27 tháng 7 có hai chiếc máy bay võ trang Hỏa Long bay trên vùng Bắc Pleime, nhưng máy bay chỉ thả hỏa châu, mà không bắn, vì họ sợ bắn lầm quân bạn còn thất lạc trong rừng. Vô tình, hỏa châu của ta lại soi đường cho địch xung phong!

Dưới ánh sáng hỏa châu, Việt-Cộng xông lên ngời ngời!  Ba lần biển người ào xuống cái dốc cổng Bắc, cùng những tiếng thét “Xung phong! Xung phong!” đều tắc nghẽn ngay sau khi khẩu 105 ly cổng Bắc phóng ra liên tiếp hai trái Beehive. Suốt đêm đó khẩu 105 ly của Trung úy Như phải làm việc liên tục, bắn từng đợt trên ngã ba tiền đồn Bắc với những trái đạn nổ cao để ngăn địch.

Hôm sau, đọc bản tin tổng kết tình hình 24 giờ qua của liên đoàn, tôi được biết, trưa 27 tháng 7 Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân đã bị Việt-Cộng chặt đầu, Thiếu tá Trần Văn Ngọc đã bị Việt-Cộng bắt sống. Không ngờ chỉ trong khoảng thời gian vài giờ đồng hồ giao chiến mà một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân đã bị Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đánh tan. Mặt khác, một tin A 2 ghi nhận rằng đơn vị địch chận đánh Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân là Trung Ðoàn 64 của Sư Ðoàn 320A, còn đơn vị Cộng-Sản giữ nhiệm vụ tấn công Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là Trung Ðoàn 48/320A. Tin A 2 còn cho biết ngay sau khi đánh tan Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân thì E 64/320A sẽ thay thế E 48/320A liên tục tấn công Pleime cho tới khi chiếm được căn cứ biên phòng này. Tiểu Ðoàn D20 Trinh Sát của Sư Ðoàn 320A và một tiểu đoàn phòng không sẽ giữ nhiệm vụ chặn viện binh Việt-Nam Cộng-Hòa trên đoạn đường từ núi Chư Mréa tới ngã ba làng Plei Xome.

Trung Ðoàn 48 của Sư Ðoàn 320A vì bị tổn thất khá nặng nên bị chuyển sang vùng Ðông Pleime, giữ nhiệm vụ săn bắt những quân nhân thoát chạy từ Pleime ra Quốc lộ 14, đồng thời chặn đánh bất cứ đơn vị nào xuất phát từ quận lỵ Phú Nhơn tiến vào tiếp cứu cho Pleime. Mờ sáng 28 tháng 7 địch mở màn trận mưa pháo chưa từng thấy trên nóc trại. Hàng ngàn quả đạn đã rơi khắp nơi, trong rào, ngoài rào, trên sân bay, dưới suối. Hầu như địch bắn mà không cần biết đạn sẽ rơi xuống chỗ nào! Khoảng tám giờ sáng từ hướng Bắc và Tây có hai chiếc loa phát đi lời kêu gọi Biệt Ðộng Quân mau buông súng đầu hàng. Hai cái loa cứ oang oang lặp đi, lặp lại bốn tiếng, “Hàng sống! Chống chết!”

Tiếng loa trộn lẫn tiếng súng của hai phe đang bắn nhau làm cho người nghe ù cả tai. Rồi từ đỉnh đồi hướng Bắc, một đoàn quân chính quy Bắc Việt, vừa bắn vừa hô “Xung phong” lao xuống con dốc dẫn vào vườn rau. Ði sau đoàn quân này là một tên cán binh rất cao lớn vai vác lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thật to. Cách đánh ồ ạt vũ bão này là sở trường đặc biệt chỉ thấy ở Trung Ðoàn 64 Sư Ðoàn 320A. Lúc này tôi ngồi trong ụ súng 105 ly cổng Bắc.

Tôi hét,

-Beehive!

Anh xạ thủ người Thượng nhanh tay giựt cò.

“Ðoàng!”

Ðạn ra khỏi nòng, tiếp đó là một tiếng “Í! Ách!’ có lẽ là tiếng đầu đạn kích hỏa để phun hàng ngàn mũi tên sắt bay xa.

“Ðoàng!”

Viên thứ hai tiếp liền theo viên thứ nhất. Khói từ nòng súng còn khét lẹt, tôi và anh lính Thượng đã vội tụt xuống giao thông hào. Khẩu đội 105 ly cổng Bắc có bốn người, nhưng trong ụ súng lúc nào cũng có mặt một người thôi. Ðó là một anh hạ sĩ người Thượng nhanh như cheo. Mới thấy anh ta giựt cò, “Ðoàng!” họng súng vừa phà khói trắng, thoắt cái, anh ta đã biến mất dưới giao thông hào. Thấy anh chàng này ẩn hiện nhanh như con chuột nhắt, tôi bèn đặt tên cho hắn ta là “Con chuột Cổng Bắc” Muốn ra lệnh bắn, tôi chỉ cần hô “Con chuột!” thế là có một viên đạn chống biển người bay đi. Phụ lực với “Con chuột Cổng Bắc” lúc nào cũng có hai khẩu đại liên 30 trong lô cốt cổng Bắc và Pháo đài số 1 siết cò liên tục, chỉ một hướng cố định, đường đạn bắn giao nhau. Ðịch chết đè lên nhau, chết trước khi kịp quay đầu chạy.

Từ hố cá nhân bên ụ súng đại bác 105 ly cổng Bắc, tôi nhìn thấy địch nằm chết như xếp cá sát nhau, chân chúng nằm trên dốc, đầu chúng hướng về phía cuối dốc, như đang theo nhau trôi xuống vườn rau trước cổng trại. Tới trưa 28 tháng 7 tôi được lệnh ngừng mọi hoạt động pháo binh để dành không gian cho một đoàn trực thăng chuyển vận viện binh. Lúc đó giao tranh còn đang diễn ra từng đợt nơi cổng Bắc. Tôi phải giao quyền chỉ huy tuyến phòng thủ Bắc cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt rồi theo giao thông hào để ra phi trường đón những người đồng đội đến tăng cường cho mình. Phòng không địch đan lưới trên không, nhưng không thể ngăn những chiếc trực thăng của Phi đoàn 229 bay sát đất, thả Ðại đội 2 của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân xuống phi đạo Pleime.

Ði theo đoàn quân này có Thiếu tá Trương Hoàng Phi Trưởng Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và hai quân nhân của Tiểu Ðoàn 82 là Trung sĩ Nguyễn Phượng Hoàng và Thiếu úy Lý Ngọc Châu. Hai thầy trò chú Châu nghe nói Pleime đánh lớn nên nóng lòng, theo chân đoàn quân cứu viện để vào chiến đấu sát cánh với ông tiểu đoàn trưởng. Từ đầu năm 1966 Binh nhì Nguyễn Phượng Hoàng đã theo tôi vào, ra trăm trận, cho tới đầu năm 1974 chú Hoàng đã là trung sĩ, tôi mới sắp xếp được một vị trí bán tác chiến để chú Hoàng làm việc ở hậu cứ tiểu đoàn coi như đền bù công lao cho một người trải qua gần mười năm làm người lính đi đầu.

Còn Thiếu úy Lý Ngọc Châu là người đã có sự vụ lệnh theo học khóa Tâm Lý Chiến ở trường Chiến-Tranh Chính-Trị Ðà-Lạt. Thiếu úy Châu đang chờ phương tiện đi học, nếu đem chú ấy vào đây thì chắc chắn sẽ bị loại khỏi lớp. Ðó là chưa kể tới yếu tố tâm lý, dị đoan, xưa nay những quân nhân đã có tên đi phép, hoặc thuyên chuyển, hay thụ huấn mà cứ chần chờ ở đơn vị cũ thường bị chết bất đắc kỳ tử.

Ngay lúc chú Châu và chú Hoàng vừa đạp chân xuống đất, tôi đã nẹt,

– Hai thằng này lên tàu về Pleiku mau!

Hai người đàn em nghe tôi quát tháo thì sợ quá, vội vàng nhảy lên trực thăng ngay.

Những quân nhân tăng phái của Ðại đội 2/81 nhanh chóng bố trí hai bên phi đạo với vị thế sẵn sàng chiến đấu.

Hợp đoàn chuyển quân cất cánh, trên sân bay còn lại một mình Thiếu tá Trương Hoàng Phi đầu đội bê rê, lưng đeo súng Colt, chân đi đôi giầy Sault bóng loáng, đứng bên cái giường bố bằng nhôm mới toanh của quân đội Mỹ.

Thiếu tá Phi ra trận mà không đem ba lô, nón sắt, lương khô, poncho, mền võng, mà chỉ vác theo cái giường bố nylon gọng nhôm, như người đi nghỉ mát ở bờ biển Vũng Tàu. Ông Phi chạy tới trình diện tôi và cho tôi hay rằng, Ðại tá chỉ huy trưởng muốn ông ta xuống Pleime để phụ tá cho tôi theo dõi tình hình địch rồi báo cáo về cho Bộ Chỉ Huy ở Pleiku. Tôi không giấu nổi sự ngạc nhiên: Tôi có một Ðại úy thâm niên là tiểu đoàn phó, có một Thiếu úy tốt nghiệp trường Quân Báo Cây Mai làm sĩ quan Ban 2, cá nhân tôi là một sĩ quan gạo cội của ngành Tình Báo thì một ông Thiếu tá trưởng phòng 2 của Bộ Chỉ Huy có mặt ở Pleime này sẽ giúp ích gì cho tôi? Không cần suy nghĩ tìm hiểu vì lý do gì ông Phi bị gửi vào đây, tôi nói với ông,

– Tôi cho phép anh theo chuyến bay kế tiếp trở về Pleiku ngay. Nếu Trường An có hỏi tại sao, thì anh cứ nói rằng tôi ra lệnh cho anh làm như vậy.

Thiếu tá Phi trợn tròn hai mắt nhìn tôi,

– Ủa! Thiếu tá cho phép tôi về Pleiku ư? Nếu tôi về thì có bị Ðại tá quở phạt không?

Tôi hất hàm đáp gọn,

– Ði đi! Tôi cho anh đi đó! Ðừng sợ!

Sau đó tôi lo phân phối nhiệm vụ bố quân cho số người vừa đạp đất của Ðại đội 2/81 nên quên khuấy chuyện ở hay đi của Thiếu tá Phi. Tới tối thì chú Phước báo cho tôi hay ông Phi đã leo lên chiếc trực thăng đầu tiên của đợt đổ quân thứ nhì. Ông Phi nhờ chú Phước gửi lời cám ơn của ông ấy tới tôi. Ông Phi ra đi quá vội vàng, bỏ quên cái giường bố Mỹ gọng nhôm trên sân bay. Sau này tôi không biết ông Phi thuyên chuyển đi đơn vị nào, và làm công việc gì. Khi việc vận chuyển đại đội tăng viện chấm dứt, hợp đoàn trực thăng đã khuất dạng, thì Thiếu úy Việt báo cho tôi biết địch vừa ngưng bắn nơi cổng Bắc. Tôi chợt nghĩ ra, mặt Tây đang bỏ trống, nếu địch bỏ cổng Bắc, đánh vào cổng Nam thì bãi đáp sẽ bị đặt trong tình trạng nguy ngập, muốn gọi Ðại đội 4/82 ra ứng chiến cũng mất mười phút, chi bằng đem hết 18 anh viễn thám ra chận địch là nhanh nhứt. Hai toán của Mom Sol và Yang đang đi theo tôi, nên bị chỉ định ưu tiên làm công tác ngăn địch. Năm phút sau 4 toán còn lại đã có mặt trên phi đạo. Tôi đã biết địch chuyển quân theo hướng Bắc Nam, nên cho lệnh ba khẩu đại liên 30 từ các pháo đài hướng Tây cứ liên tục tác xạ ngăn địch. Ðại đội 2 của Tiểu Ðoàn 81 vào tới trong vòng rào thì giao tranh mới bắt đầu nơi cuối phi trường, hướng Tây.

Sáu toán viễn thám bắn nhau với địch chỉ chừng mười phút thì địch rút chạy, bỏ lại năm sáu cái xác cán binh trên đường lui. Ðại đội 2/81 Biệt Ðộng Quân có quân số gần bảy chục người, do Trung úy Nguyễn Văn Song chỉ huy. Trước khi thuyên chuyển ra Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân rồi sang Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân thì Trung úy Nguyễn Văn Song đã làm việc chung với tôi một thời gian ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2, do đó lệnh tôi truyền ra, chú Song thi hành không khó khăn gì.

Tôi giao cho Ðại đội 2/81 trấn giữ đoạn giao thông hào hướng chính Tây, kéo dài từ sân cờ tới cổng Nam. Căn lều của Trung úy Song chỉ cách lều chỉ huy của tôi chừng mười mét. Vị trí này là cố định không thay đổi suốt thời gian Pleime bị vây hãm. Khu vực trách nhiệm của Ðại Ðội 2/81 hoàn toàn trống trải, không có các ngõ ngách giao thông hào và dây kẽm gai dích dắc, nên dù mới tới đây, binh sĩ của đại đội này sẽ không sợ bị lạc đường. Trong lúc Ðại đội 2/81 lo đào công sự phòng thủ thì Binh Nhứt Yang khệ nệ ôm về cho tôi năm chiếc ba lô mới tịch thu được của Việt-Cộng. Giấy tờ lưu trên tài liệu tịch thu cho ta biết đơn vị đánh nhau với chúng tôi sáng 28 tháng 7 là Tiểu Ðoàn K9 trực thuộc Trung Ðoàn E 64 của Sư Ðoàn 320A.

Năm 1972, khi xâm nhập lãnh thổ Cao Nguyên Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa thì Sư Ðoàn F 320A Cộng-Sản có 3 trung đoàn bộ chiến là E 48, E 52 và E 64. Trung Ðoàn E 48 có 3 tiểu đoàn đánh số K1, K2, K3; Trung Ðoàn E 52 có 3 tiểu đoàn đánh số K4, K5, K6; Trung Ðoàn 64 có 3 tiểu đoàn đánh số K7, K8, K9. Sau đó, Trung Ðoàn E 52 đã di chuyển về Bình-Ðịnh, bổ sung cho Sư Ðoàn F3 Sao Vàng của Quân Khu 5. Từ ấy Sư Ðoàn F 320A chỉ còn 2 trung đoàn bộ chiến là E 64 và E 48.

Có lẽ Ban Trận Liệt của Phòng 2 Quân Khu 2 đã đọc sai tin tức khai thác tài liệu do Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân gửi về, nên có sự ngộ nhận, cho rằng Trung Ðoàn E 9 của Cộng-Sản đã hiện diện trong chiến dịch này, nhưng thực ra, đơn vị Việt-Cộng mang tên Trung Ðoàn E 9 trực thuộc Sư Ðoàn F 968 chỉ có mặt ở Tây Nguyên sau Tết Dương Lịch 1975. Tôi còn tìm thấy trong ba lô của một cán binh tên là Bế Văn Tập có lá thư của bố anh ta tên là Bế Văn Thu gửi đi từ Cao-Bằng. Những người dân tộc Tày mang họ Bế không nhiều. Ở Hội-An, gia đình tôi có quen một người của Tỉnh Ðoàn Bảo An Quảng-Nam là Thượng sĩ Bế Văn Thương cũng quê quán Cao-Bằng.

Sau chiến dịch, tôi có gửi thư về Hội-An báo cho bác Bế Văn Thương biết tên người ghi trên thư gửi đi từ Cao-Bằng để bác xem có phải là bà con không, thì bác Thương cho tôi hay ông Bế Văn Thu là anh ruột của bác.

Như thế thì anh cán binh Việt-Cộng tên Bế Văn Tập tử trận ở Pleime ngày 28 tháng 7 năm 1974 là cháu gọi Thượng sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa tên Bế Văn Thương là chú! Suốt đêm 28 tháng 7 tôi phải đích thân dẫn theo một toán cận vệ đi tuần tra liên tục qua các pháo đài và tuyến phòng thủ. Gần sáng, tôi đang ngồi dật dờ nửa thức, nửa ngủ thì nghe “Con chuột” nổ “Ðùng! Ðùng!” hai phát, rồi nghe trong máy, tiếng Trung úy Minh hỏi,

-Cái gì đó?

Có tiếng Thiếu úy Việt trả lời,

-Tui cho “Con chuột” đuổi mấy thằng Vi Xi (Việt-Cộng) đang lần mò vào thu lượm xác đồng bọn.

Tôi có thói quen bật lên câu hỏi, “Cái gì đó?” mỗi khi nghe có tiếng động lạ. Vì thế, cứ có chuyện khác thường thì nhân viên trực truyền tin lại phát đi câu hỏi này. Lập tức, có người trả lời ngay. Trời sáng rõ, tôi theo giao thông hào tới Pháo đài Bắc quan sát thì không còn thấy cái xác nào của địch nữa. Tới trưa 29 tháng 7 có một chiếc trực thăng bay sát mặt đất, ngừng giữa trại, hai người nhảy xuống nóc cái bể chứa nước dự trữ, chiếc trực thăng vội bay đi. Chiếc phi cơ bay đi rồi, địch mới phát giác, chúng bắn đùng đùng vài tràng 12.7 ly lên trời một hồi để thị uy. Hai người vừa đạp đất là Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 và Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng, sĩ quan tùy viên của ông.

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 7 Apr 2026

Trong lần giới thiệu tác phẩm mới xuất bản vừa qua, tôi xin cám ơn nhiều người bạn đã có lòng bướcqua sự sợ hãi để đến với chúng tôi, nhưng cũng có nhiều bằng hữu chinh chiến một thời, những người đã nhảy vào An Lộc, vượt tuyến sang Hạ Lào, thường xem nhẹ cái chết, đạp lên đầu địch, lại chùn bước trước một vài tiếng hô đả đảo của những người cùng giới tuyến, dù chỉ nhắm vào địa điểm mà chúng tôi đã chọn để gặp gỡ các bạn. Chỉ vì địa điểm tổ chức giới thiệu sách, những người biểu tình đã thoá mạ nặng lời đối với tác giả cũng như những người tham dự một buổi sinh hoạt có tính cách văn học. Tôi nghĩ sự kiện này không đáng cho chúng ta phải sợ hãi. Không lẽ ngày nay chúng ta lại cảm thấy sợ hãi cả bạn lẫn thù. Bao nhiêu năm qua, Cộng Sản phương Đông hay phương Tây cũng đều cai trị dân chúng bằng tạo ra sự sợ hãi. Chúng nói rằng tai mắt nhân dân (nói đúng là tai mắt công an và bọn mật báo viên rình mò), như những mắt trong mỗi trái thơm. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí và tinh thần đối kháng. Ra đường thì sợ người theo dõi, nói lớn thì sợ người nghe, nói thì thầm thì sợ người nghi có âm mưu, đến nỗi chồng sợ cả vợ, cha mẹ sợ cả con cái, sợ cả tiếng chó sủa, sợ cả tiếng lá xào xạc trong vườn. Não trạng sợ hãi của người dân khiến các chế độ độc tài càng ngày càng củng cố thêm sức mạnh. Tự do dân chủ như các quốc gia Pháp, Mỹ thì chính quyền lại sợ dân. Hiện nay trong nước người dân đã bắt đầu không biết sợ, như việc biểu tình, bao vây phủ Chủ tịch, kéo nhau đi khiếu kiện, giăng biểu ngữ, viết báo, làm blog phê phán chính quyền … thì những người may mắn đã đến đất tự do như nước Mỹ vẫn con mang tâm trạng … sợ hãi. Vài năm trước đây, trong khi thực hiện loạt bài về các tù nhân chính trị, tôi có tìm cách phỏng vấn một vị cựu Đại Tá đã ở trong nhà tù Cộng Sản nhiều năm.

Sau khi tra hỏi nhiệm vụ và gốc gác tôi, ông vào đề:

– “Tôi sợ anh là người của Việt Cộng gài vô để hỏi tôi”.

Tôi thưa với ông, có lẽ cũng khá vô lễ:

– “Thưa anh, anh đã ở tù Cộng Sản 13 năm, anh đã làm “lý lịch trích ngang”, bản tự khai hằng trăm lần, xin lỗi anh, lý lịch anh đã rách teng beng, có gì để Việt Cộng khai thác thêm nữa mà phải giấu!”

Một cựu cán bộ XDNT có gởi cho tôi một cái CD có mấy bản nhạc thu trong buổi trình diễn ở trại huấn luyện Vũng Tàu giữa năm 1969. Vì không gặp mặt trực tiếp, người này gởi CD cho tôi ở “front desk” khách sạn và nhắn cho tôi qua điện thoại:

– “Anh đến lấy gấp, đừng để cái CD này vào tay Cộng Sản thì phiền lắm!”

Gần đây, tôi có buổi hẹn thu hình cho một cán bộ để nói về những hoạt động tại nông thôn để tranh thủ quần chúng trước năm 1975, nhưng cuối cùng buổi phỏng vấn phải dẹp bỏ, vì lý do cán bộ này thay đổi ý kiến vì sợ lên truyền hình, Việt Cộng thấy mặt. Còn sợ Việt Cộng trả thù, không cho visa về nước, hay làm khó dễ sao đó, vị này không nói rõ. Cũng đã nhiều lần, tôi có hẹn với một vài vị cựu tù nhân hay cựu quân nhân để thăm hỏi và đưa ra những trường hợp điển hình cũng như những gương hy sinh đặc biệt của người lính miền Nam, hy vọng để lại một tấm gương cho con em. Nhưng phút chót (khi nào cũng phút chót) tôi nhận được một vài lời nhắn gởi:

– “Thôi anh thông cảm, tôi còn hai đứa con gái ở Việt Nam, tôi không muốn chúng nó phải gặp phiền phức”, hay

-“Tôi thì không về đâu, nhưng vợ tôi thường đi Việt Nam lắm, xin hẹn anh dịp khác!” Tôi biết sẽ không bao giờ có dịp khác, vì mỗi năm ông bạn này càng già, càng gần với cái chết, đáng lý ra bớt sợ hơn, ông lại càng ngày càng sợ. Nhưng trước khi chết ông lại trăn trối muốn được phủ cờ!

Nhiều người không đi biểu tình chống Cộng vì sợ Cộng Sản quay phim chụp hình. Nhiều người không dám tham gia hội đoàn hải ngoại vì mỗi năm còn phải đi Việt Nam một lần. Thật tình tôi chưa nghe ai bị làm khó dễ vì đi biểu tình hay chỉ xuất hiện trên đài truyền hình để nói lại vài câu chuyện cũ. Hơn ba mươi năm qua, ngay cả những hồ sơ mật của CIA, Bộ Quốc Phòng Mỹ cũng đã được giải mã, trong các trại tù “cải tạo” các bạn tù đã khai báo hằng trăm lần, còn các “tội” như “sĩ quan, nhân viên chế độ cũ”, “đảng viên phản động” thì chúng ta đã phải trả giá bằng nhiều năm trong nhà tù khổ sai của Cộng sản rồi. Có lẽ vì sợ, cho nên hiện nay tại những vùng đất nhiều người Việt tỵ nạn Cộng Sản nhất, đã có báo, đài CS hiện diện lẫn lộn trong chúng ta và cả báo CS từ trong nước đã bày bán công khai trên các sạp báo hải ngoại. Nếu tiếp tục sợ, một ngày nọ cờ đỏ sao vàng sẽ hiện diện ngay tại đất Bolsa. Ngay đối diện với kẻ thù, trong các trại tù tập trung, cũng có người cởi áo, phanh ngực nói với bọn cai tù:

– “Mày bắn tao đi!” hay phát biểu sau giờ “học tập”:

– “Tôi xác định không bao giờ tôi tin tưởng vào đường lối khoan hồng, nhân đạo gì của các ông!”

Bao nhiêu người đã bị nhốt vào cũi sắt, xà lim, bỏ đói hay bị đem ra bắn vẫn hiên ngang trước mặt kẻ thù, ngay trong cảnh “chim lồng cá chậu” và chắc chắn sẽ nhận lãnh việc trả thù tức khắc của Cộng Sản. Thật ra người ở lại, nhất là anh em cựu chiến binh và thương binh, trong hoàn cảnh nghèo đói và áp bức, họ cũng hy vọng vào những người anh em chiến hữu đã có cơ hội may mắn ra đi làm được một điều gì, nói được một điều gì cho đồng bào trong nước. Nhưng cuối cùng họ chỉ thấy những “Việt kiều áo gấm về làng” vung vít, đãi đằng, khoe khoang, hợm hĩnh về những điều may mắn mà có của mình. Không những sợ hãi mà một số người còn tiếp tay tuyên truyền cho chính quyền Cộng Sản bằng những cái nhìn và nhận xét hời hợt về cảnh tượng nhà cao cửa rộng, nhà hàng khách sạn, “thú ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay”. Họ lên án những người đi biểu tình ở hải ngoại, họ không bằng lòng với những người còn chống Cộng, họ sợ sự bất an, không đi Việt Nam được, mất quyền lợi làm ăn hay lo chuyện con cái ở Việt Nam. Nhiều nghệ sĩ, tiêu biểu là một số lớn ca sĩ, bỏ chế độ CS chạy sang đây,”trắng da, dài tóc”, “ăn ngon, mặc đẹp”, nhưng ngày nay không dám đứng dưới lá cờ Việt Nam, không dám dành một xuất hát cho các thương phế binh VNCH đói khổ ở quê nhà, vì sợ bị làm khó dễ, không được về Việt Nam kiếm ăn. Hiện nay tại hải ngoại, có nhiều hội đoàn, lại là những hội đoàn cựu quân nhân VNCH, với những người đã mang màu cờ, sắc áo năm xưa, tập họp lại với nhau mà lại tuyên bố chủ trương “không làm chính trị”, phải chăng vì sợ hãi, không muốn nói đến chuyện Quốc, Cộng. Lúc bỏ nước ra đi, nếu không vì lý do chính trị, không ai chấp nhận cho chúng ta vào đây. Chúng ta có thể không làm chính trị đảng phái, chủ trương giành quyền lực chính trị, nhưng chúng ta cần phải có thái độ chính trị, hiểu theo nghĩa tối thiểu là thái độ của một công dân đối với chính quyền hiện nay đang cai trị đất nước của chúng ta. Bỏ nước ra đi, mặc lại bộ quân phục, chào quốc kỳ, hát quốc ca mà tuyên bố là không làm chính trị!

Ngay đối với tôn giáo, mà chúng ta thường nghe câu nói “tôn giáo không làm chính trị” ngay Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ trong “Tổng huấn Về Ơn Gọi và Sứ Mệnh của Người Giáo Dân Trong Giáo Hội và giữa Trần Thế” đã nói rằng:” … các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào “chính trị”, nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xã hội, lập pháp, hành chánh văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có cơ chế”. Vậy mà một vài hội ái hữu cựu quân nhân trước 1975, bỏ nước ra đi vì chạy trốn chế độ chính trị trong nước, lẽ nào cho mình là “phi chính trị?” Có những người không biết sợ hãi nên lịch sử mới có Budapest, mới có Cộng Sản Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, mới có việc dẹp bức tường Bá Linh. Có những người không biết sợ hãi nên mới có Thiên An Môn. Chỉ nói những chuyện gần đây thôi, nếu sợ hãi thì đất nước không thể nào có những người trẻ tuổi như LS Nguyễn Văn Đài, LS Lê Thị Công Nhân hay Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy. Còn sợ hãi thì mãi chúng ta sẽ còn mãi đứng trước những tên công an xấc láo, lạnh lùng, kẹp tờ giấy 5 đô la vào passport, cười giả lả, “giả dại qua ải” cho xong một kiếp người. Chúng ta có những người tranh đấu vì quê hương, đất nước, thì cũng có những người sợ hãi, cầu mong chút yên thân để có thể ra vào Việt Nam, hưởng chút lạc thú cuối đời, còn chuyện quê hương, đất nước thì “sống chết mặc bây”.