This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trên sân vận động ở Nice ngày 27 tháng 6, nhiệt kế ghi: 23 độ C. Ở trung tâm thành phố Montréal thì 29 độ, những quán bán bia phô trương cờ xí luôn đông chật bọn người yêu football và quán cà phê bên kia đường đang chốt giá cá độ tỷ lệ là 7/2. Bỏ ra 20 bạn sẽ thu về 70 nếu Iceland thắng.
Trước đó ba tiếng, trực tiếp từ sân cỏ ở Saint Denis đội tuyển Ý đã loại Tây Ban Nha với tỷ số 2-0 đầy thuyết phục, oanh liệt đi vào tứ kết và con đường Saint Laurent này, đoạn phố có Tiểu Ý đại lợi đóng đô đã tưng bừng hò reo, chết mệt cho hạnh phúc oà vỡ những trận cười khản tiếng. Vào gọi một chai bia, những tín đồ trẻ người non dạ ấy sẽ quàng vai bá cổ bạn và mặc nhiên, bạn sẽ để cho mấy cô môi hồng có dính sốt cà chua bên khoé miệng lôi kéo theo họ một cơn say dường như bất tận. Ý luôn thủ lãnh trong thời trang ăn mặc, kỹ nghệ xe hơi, bộ môn túc cầu và theo cuộc thăm dò mở rộng: Hạnh phúc thay nếu vợ bạn là một cô gái Ý. Mặt trận lắng xuống trong canh giờ, giải nhiệt xong, bạn chuẩn bị chao người tiếp khi tuyển thủ England cùng Iceland đang ra sân. Vận động trường nêm chật hai màu áo trắng xanh nằm tách biệt và bao giờ cũng vậy, ở mỗi trận cầu màu trắng của cổ động viên người Anh luôn đông đảo, lấn lướt. Họ mang kèn trống theo, trương hết ra những băng-rôn cờ quạt và bôi trét lên mặt một chữ thập đỏ. Họ hiện thân là những thần dân mãi xem football là một thứ tín ngưỡng. Nào có lạ gì, những câu lạc bộ bên xứ họ đã thay phiên làm say lòng người, hết Liverpool tới Manchester United, Chelsea, Aston Villa, Newcaste, Everton, Sunderland, Tottenham, Arsenal, Leicester… Nói theo kiểu thơ văn Việt: Họ ra đi mang theo cả hình bóng quê hương. Lịch sử nước nhà khiến họ hãnh tiến cất cao đầu, cờ bay rợp ở những sân cỏ có đội Tam Sư thi đấu, bề thế, đình đám.
Người ta đánh giá kỳ này đội tuyển Anh là nơi tập hợp những chân sút đẳng cấp, tốc độ, thể lực. Do vậy, nhìn từ mọi yếu tố, họ trên chân đội non trẻ Iceland, họ buộc phải thắng, con số dự kiến được đưa ra 2-0 hoặc 3-1. Đó là lý do bạn bỏ ra hai chục bạc rồi thu về bảy chục nếu Iceland thắng, một canh bạc thiếu hẳn sự logic. Chạy đâu khoảng 4 phút, người chưa kịp đổ mồ hôi, trọng tài người Slovenia đã thổi còi chỉ tay vào chấm phạt đền. Rooney nhẹ nhàng thong thả mang về cho Anh cái lợi thế trên cả tuyệt vời. Thôi, đánh đấm gì nữa mấy chú! Một bình luận viên tay nắm chai bia phát ngôn tiếng Anh kiểu cổ mà giọng đắng chua về thế cuộc lấy trứng chọi đá. Không quá hai phút phù du trôi đi, cầu trường rúng động ở pha gỡ hoà tỉ số do công của hậu vệ Sigurdsson khoác áo số 6. Biểu đồ trên mặt trận cá cược có thể đang có sự thay đổi nhằm phục vụ cho những kẻ có máu cờ bạc, bởi cách chơi điềm tĩnh và thông minh của đội tuyển Iceland, họ tuyệt không ngã lòng mặc dù đội Anh nắm toàn bộ sự chủ động. Xông xáo và quyết đoán là cách chơi của tập thể Iceland, không mấy khi được tràn lên sân đối phương nhưng những lần tấn công của họ đều khiến tuyển Anh phải xao xác bấn lòng để lộ ra bao khoảng trống chết người. Phút thứ 18 lưới giăng ở cầu môn Tam Sư lại rung lên bởi chân sút Sigthorsson, tiền đạo mang áo số 9. Màu xanh vốn được xem là màu của hy vọng, nhưng màu áo của Iceland hôm ấy đang cố cắt nghĩa cho thế giới biết về ý nghĩa của màu chiến thắng. Và bên kia lằn vôi của tuyển Anh cũng như đông chật trên khán đài, màu trắng của họ trước sau vẫn tượng trưng về cái “tang gia bối rối”, về sự lịm chết đang hồi phủ đầu. Cờ quạt ủ ê, một thứ “kỳ vô phong”. Miệng ngậm thôi hát hò, một thứ “nói năng gì cũng thừa”. Và mắt phóng xuống sân cỏ đang nát tan cũng có lắm cửa sổ linh hồn đang ứa lệ.
Alan Shearer, từng là đội trưởng tuyển Anh, người tiền đạo mang áo số 9 mấy mùa xa xưa luôn có công lớn đem về những thắng lợi vẻ vang cho màu cờ sắc áo nước Anh giờ này ông có mặt ở Pháp với vai trò làm bình luận viên, với kinh nghiệm từng trải đã đưa ra nhận xét ngay sau trận Anh bị Nga cầm hoà 1-1 ở phút cuối cùng: “Một sự thật khó chối cãi, tuyển Anh chỉ là những chú sư tử không có răng và bị nhổ sạch móng vuốt. Chúng ta tự hào là hàng trên có những 5 siêu sao vua phá lưới và hàng thủ có được 2 tảng bê tông khó bề vượt qua, nhưng liệu chúng ta sẽ ăn ngon ngủ yên chỉ vì ngần đó thôi? Hãy nhìn cách họ di chuyển trên sân, lúng túng khi phối hợp, kiến tạo ra những đường chuyền nhưng chẳng gây được hậu quả nếu không muốn nói là hỏng phí. Đến khi có cơ hội hiếm hoi họ toàn đá bóng xa khung thành. Câu hỏi ấu trĩ được đặt ra: Chúng ta có khả năng làm thủng lưới đối phương?”
Về phần tiền đạo Gareth Bale (một trong những ngôi sao của Real Madrid) thủ quân của đội tuyển xứ Wales từng phê bình: “England là đội tuyển luôn đánh mất quyết tâm khi thi đấu, một đội hình thiếu sót vai trò của một người truyền lửa. Một ban nhạc giao hưởng không có được người nhạc trưởng. Hãy nhớ lại World Cup 2014, họ là một trong những đội yếu kém bị loại ngay ở vòng đầu. Lần này thì họ không thể đặt chân vào tứ kết”. Lời thật thường mất lòng, Bale đã chịu biết bao gạch đá sau câu nói thẳng thắng đó. Rooney chửi, huấn luyện viên Roy Hodgson chửi và hơn một triệu cảm tình viên xứ sương mù đã thoá mạ ra rả trên những phương tiện truyền thông. Vô tình họ làm rõ, bổ túc thêm tính xác đáng của câu danh ngôn: Sự giận dữ nào khác gì bạn uống thuốc độc mà mong kẻ khác chết!
Tuyển Anh vừa chết, cầu thủ gục đổ trên sân cỏ sau tiếng còi ré lên chấm dứt 90 phút mà 11 con dân Nữ hoàng mãi chạy quờ quạng trên sân. Một bình luận viên cộng tác với đài BBC ở London than: “Không biết họ thi đấu với sơ đồ nào, chiến thuật gì? Họ thật kém cỏi!” Nước mắt tiếp tục đổ ra, huấn luyện viên Roy Hodgson từ chức ngay sau cuộc họp báo và “cha con” họ âm thầm băng qua biển Manche ngăn cách đôi bờ để về lại cố xứ, chẳng biết ai trong số họ có còn hơi sức để hát nhỏ bài “đêm buồn tỉnh lẻ”!
Mặt trái của tấn tuồng sầu não đầy mây xám kia là bề mặt của ánh dương quang tươi hồng chiếu sáng trên niềm hạnh phúc tự tạo của vùng đảo nhỏ có tên gọi Iceland. Tất cả những trang báo chuyên đề football đã hiện ra những mỹ từ xác đáng nhằm tán dương 11 đứa con vừa qua cơn thử lửa, chế ngự lửa, dập tắc lửa để hiên ngang bước vào một trang sử mới. Theo bảng sắp hạng của FIFA, Iceland đứng thứ 38 và hôm nay họ khiến những chiến thuật gia phải hoài nghi về thứ trình độ dẫn banh của các chàng áo xanh ấy. Đó là đội không có lấy một cá nhân siêu việt, họ chơi tập thể và mỗi thành viên làm tròn khả năng khi nhận được bóng. Đơn giản là họ luôn mang đến sự rắc rối cho đối phương, muốn chế ngự họ phải nghĩ tới một thứ đấu pháp đầy cảm hứng và linh động vượt ra ngoài sách vở. Đội Anh không hơn họ vì chẳng qua đội Anh luôn cổ suý cho thứ đấu pháp nặng tính kinh điển thường là 4-2-4.
Cuộc so giày và mang về chiến thắng hiển hách của Iceland được ca ngợi, trước tiên là sự đối chiếu vào các con số. England: 53 triệu cư dân. Đất nước Iceland: dân số rất khiêm tốn, chỉ có 330.000. Nói châu chấu mà đá voi cũng được, hoặc văn hoa hơn: Là ngọn cỏ thoát ra khỏi bóng che của cây cổ thụ. Anh là một đại gia và Iceland vừa viết nên câu định nghĩa lý thú, rằng không phải đã là đại gia thì anh có quyền làm cha thiên hạ. Xui khiến nhớ về trang sử xưa của nước Việt đã bao lần dạy cho giặc phương Bắc từng bài học về lễ độ mỗi bận bọn bành trương hăm he dàn quân ưa lấy thịt đè người. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh, câu nói này e cũng phát sinh từ nguồn cội xa xưa.
Ngày nay thì giặc đang tự tung tự tác ngay ở trong nhà. “Thầy giáo từ nay chịu tháo giày”. Không thể mang giày mơ làm người Iceland ra sân đá một trận thật lẫm liệt để đời cho đại gia phương Bắc tái mặt máu. Do đâu nên nỗi? Do thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói: “Ngày nào tôi cũng đọc báo để lắng nghe tâm tư của nhân dân”. Báo ấy chuyên đề về cá độ bóng đá hở? Tâm tư của nhân dân đang hấp hối mà “ngài” không đọc ra trên mặt báo hử? Ngài cũng như các đấng trung với đảng hiếu với dân rất dị ứng chuyện phản cảm “Hội nghị Diên Hồng” của tiền nhân. Tập đoàn của ngài cùng một bộ phận không nhỏ rất không ưa cụm chữ trưng cầu dân ý. Ở cuộc chơi này quý vị ra sân với thứ đấu pháp “trời không dung đất không tha”. Quý vị bôi trơn trọng tài biên để họ thôi phất cờ việt vị, quý vị gạt chân kéo áo đốn ngã người trong vùng cấm địa mà không nghe tiếng còi thổi phạt đền. Đội khách bị làm tình làm tội đến te tua để nghe quý vị hồ hởi hát bài Hotel California với ca từ nghịch lý: “Bạn có thể trả phòng bất cứ lúc nào bạn muốn, nhưng bạn không được phép rời đi”.
Những khán giả phơi nắng đen đúa ngồi trên vòng chảo các sân vận động xuống cấp cũng hy vọng điều nghịch lý: Có ngày đội tuyển của nước nhà bị phơi áo, càng bị thủng lưới nhiều phen càng tốt. Cá chết? Lãnh đạo không biết vì răng? Máy bay rơi rụng? Lãnh đạo chả hiểu nguyên nhân? Ghe thuyền ngư dân bị tàu Trung quốc đâm vỡ, đánh chìm? Lãnh đạo mặt tỉnh như ruồi trước bao xôn xao ong ve khắc khoải. Ong ve tủi phận nhớ câu nói của bậc thông thái Albert Einstein: “Không thể chống lại những thằng ngu, vì chúng quá đông”.
Dân số của Iceland không vượt qua con số 330.000 đã đánh bại anh đại gia gồm 53 triệu dân. Bài học về sự cứng cỏi có quyết tâm của thiểu số vẫn còn chấn động trong mùa Euro chưa tới hồi ngã ngũ. Đội tuyển Iceland vừa cấy một giấc mơ, khai thông một con lộ mà những nước nhược tiểu kiểu Việt Nam nên khắc ghi, học hỏi và trông đợi có ngày được thực hành, dẫm chân theo dấu ấn kia. Muốn thế, điều trước tiên và duy nhất, nam phụ lão ấu cùng đồng lòng mang giày, đội tuyển không dưới 10 triệu người cùng vào vai tiền đạo, đá sạch những trái bóng tăm tối và xuẩn động bay ra khỏi sân cỏ Việt Nam. Hãy chung tay viết nên câu thoại mới: Còn dân chủ còn mình!
Năm 2016, Tổng thống Mỹ Barack Obama, 6 tháng trước khi mãn nhiệm, đã bay Air Force One từ Washington D.C đến Hà Nội cho cá ăn, rồi bay vô Sài Gòn chơi. Anh Ba cà khịa tuần rồi ngồi nhậu với tui, buồn tình cười khè khè, nhắc chuyện năm xửa, năm xưa, cà khịa rằng: ông Obama không biết cái khỉ mốc gì hết về chùa chiền. Tới Sài Gòn, vô chùa xá Phật mà mười ngón tay của ổng cứ bè, te he ra; chớ không khép khít lại như chúng ta làm.
Tui cãi lại: “Lỗi nầy không phải hoàn toàn của ông Barack Obama đâu! Hổng ai chỉ ổng xá. Hồi nhỏ tới giờ chưa làm thì làm sao ổng biết? Lỗi nầy là của bà Elizabeth Phu, cố vấn về an ninh Ðông Nam Á, Châu Ðại Dương và Ðông Á của Tòa Bạch Ốc”.
Bà Elizabeth Phu là ai vậy cà? Cái họ của bả theo tiếng Mỹ đã rớt mất cái dấu huyền. Chớ đúng ra là Phù (người Việt gốc Hoa Hải Nam). Bà Elizabeth Phù sinh ra ở Việt Nam. Tháng Tư năm 75, Sài Gòn thất thủ, gia đình bà vượt biên lần đầu bị CS bắt nhốt hết 7 tháng. Chạy tiền được công an thả ra, rồi họ lại đi nữa. Bị cướp biển hai lần tưởng chết; nhưng cuối cùng họ cũng đến được Pulau Bidong, Malaysia.
Một tháng trước ngày sinh nhật lần thứ tư, Elizabeth Phu cùng gia đình, chỉ có 20 đô la trong túi, đến Mỹ vào ngày mùng 3, tháng 12, năm 1979. Sau bao năm từng lê gót nơi quê người, cuối cùng Elizabeth Phu tốt nghiệp đại học và làm cố vấn cho Tổng thống Obama tại Tòa Bạch Ốc.
o O o
Chùa Tàu mà bà Elizabeth Phu xúi Tổng thống Barack Obama đi thăm là Phước Hải Tự, số 73 đường Mai Thị Lựu; trước 75, là đường Phạm Ðăng Hưng, ở Ða Kao, Sài Gòn. Phước Hải Tự còn gọi là chùa Ngọc Hoàng, vốn là điện thờ Ngọc Hoàng Thượng đế do ông Lưu Minh (người Quảng Ðông, Trung Quốc) xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ 20, dĩ nhiên là theo kiểu kiến trúc Trung Hoa.
Chùa còn thờ Quan Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí Bồ Tát, Thiên Lôi, thần Môn Quan (thần giữ cửa), thần Thổ Ðịa (thần đất đai), thần Táo Quân (thần lò bếp), thần Hà Bá (thần sông nước), Văn Xương và thần Lã Tổ (thần văn chương), Thái Tuế (sao giải hạn), Lỗ Ban (thầy dạy nghề mộc), 13 bà mẹ v.v. Chùa còn thờ cả Thành Hoàng bổn cảnh. Thờ nhiều thần mới thu hút được nhiều loại thiện nam, tín nữ.
Lúc ấy, hòa thượng gốc chú Ba rủng rỉnh có đồng vô, đồng ra, mới sống được phải không nè? Chùa của chú Ba giống như một tiệm tạp hóa, khách đến mua gì cũng có. (Cái loại buôn thần, bán thánh nầy trong nước giờ nghe nói nó có hà rầm, không gọi là chùa nữa mà gọi là trung tâm văn hóa tâm linh đó).
Thiện nam chỉ cần thành tâm thắp hương, khấn tên mình, sau đó đến tên “người trong mộng” và sờ vào tượng ông Tơ, bà Nguyệt để hai trẻ được se duyên tơ tóc đến răng long đầu bạc phếu. (Anh Ba cà khịa có làm rồi, đến chùa cầu tình duyên. Kết quả người trong mộng của ảnh lấy thằng bạn thiết của tui. He he!).
Chùa Ngọc Hoàng còn là một ngôi chùa cầu con nổi tiếng ở Việt Nam. Có vợ lâu rồi mà không tọt ra được một thằng cu nào hết. Sợ tuyệt tự, hổng ai nối dõi tông đường, cúng kiến giỗ chạp ông bà gì hết ráo, chú Ba bèn đến để cầu con (trai). (Anh Ba cà khịa cũng làm rồi. Hậu quả, má bầy trẻ sanh đôi đẻ cho ảnh một trai và một gái mới là quái quái! Sợ quá xá, nên chỉ dám cầu một lần thôi. Kẻo em yêu ngon trớn, tới luôn bác tài, sanh đôi lần nữa thì đời của anh Ba cà khịa: bà nội cũng đội chuối khô).
o O o
Nói nào ngay, vốn là dân miền Tây rặt ri, tui chỉ biết ăn phở Bắc (di cư); chớ còn bún chả thiệt chưa nếm thử lần nào. Nghe tui than mủi lòng quá thể nên Footscray vừa mới mở một tiệm bún chả thì anh Ba cà khịa dắt tui đến để thử coi bún chả nó ra làm sao mà Tổng thống Obama phải cất công bay hàng chục tiếng đồng hồ đến Hà Nội chỉ để ăn.
Té ra nó chỉ là thịt heo, nướng trên lửa than, ăn với bún và hầm bà lằng các loại rau sống, trong một cái tô, rồi chan ngập nước mắm chua ngọt vậy thôi.
So với phở danh trấn giang hồ bấy lâu, bún chả nó thua xa. Thằng Mỹ cũng biết vậy nên viết là: “Bun cha is not a national dish” (bún chả không phải là món ăn quốc hồn, quốc túy của người Việt). Nhưng nó nổi lên vì được Tổng thống Mỹ Barack Obama ghé quán Hương Liên, trong khu phố cổ Hà Nội, leo lên lầu hai, cầm đũa đàng hoàng, ngồi trên ghế nhựa, xơi bún chả và uống beer. Ngày hôm sau, nhà hàng bèn đem hai cái tô, hai chai bia đã cạn nhốt vào trong tủ kính, trưng bày, quảng cáo để mà câu khách.
Anthony Bourdain (1956-2018) chủ xị một cái show truyền hình ẩm thực nổi tiếng cho tập đoàn truyền thông CNN, quay hình một show về ẩm thực, ăn nhậu với trùm đế quốc Mỹ, Tổng thống Obama, người quyền lực nhứt thế giới, nên đâu phải là điều đơn giản như… đang giỡn.
Phải chọn nước nào? Giựt gân là chọn một nước từng thề mẻ răng là đánh cho Mỹ cút; cho dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, để ngày hôm nay: “Xin kính cẩn mời Ngài Tổng thống Mỹ đến quê tớ ăn bún chả ạ!”. (Dà bây giờ, mấy bác cần đô Mỹ nên hạ mình xưng tớ; chớ hết dám xưng chúng ông như thời đánh cho Mỹ cút đâu nha).
Rồi Anthony Bourdain nói thêm: “Tôi cũng biết Obama thời niên thiếu đã từng sống ở Indonesia (Nam Dương) chắc thích ăn một tô mì thịt heo cay nồng rồi uống một chai beer lạnh”. Tui e rằng, Anthony Bourdain đoán sai bét nhè, bói trật lất, trật chìa, trật chừng vài cây số. Obama thời niên thiếu có ở Indonesia thiệt. Nhưng Indonesia là một nước có nhiều người theo Hồi giáo nhứt trên thế giới thì làm gì có mì nấu với thịt heo để mà xơi chớ. (Người Hồi giáo không bao giờ ăn thịt heo đâu cha nội!).
Mặt khác, ăn cao lương mỹ vị, quốc yến hoài cũng chán, nên trùm đế quốc Mỹ Barack Obama đồng ý nghe lời xúi bậy của Anthony Bourdain xơi bún chả thịt heo nướng vỉ than cho có vẻ bình dân. Chắc Obama, Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ, nhân tiện xác định khéo: Tui không phải là người Hồi giáo như nhiều người từng chụp mũ tui đâu nhe!
Khu phố cổ Hà Nội, ngồi trên lầu hai của một cái nhà hàng nho nhỏ, trên con đường không có gì to to, trên một cái ghế thấp bằng nhựa, Tổng thống Obama có vẻ thoải mái, lọng cọng (vì chưa quen) cầm đũa gắp miếng chả, hỏi: “Ăn làm sao đây?”. “Thì đút vô miệng nhai ngồm ngoàm rồi nuốt. Xong chiêu thêm một ngụm beer lạnh”.
o O o
Kết luận: Làm trùm đế quốc Mỹ, ngồi trên đầu, trên cổ thiên hạ, ắt là phải giỏi rồi. Nhưng giỏi không có nghĩa là cái gì tao cũng biết hết ráo. Bởi, chữ có câu rằng: “Những gì mình biết chỉ là một hạt cát. Những gì mình không biết là cả một đống cát”. Không biết là phải nghe theo lời của cố vấn, chuyên gia như Elizabeth Phu và Anthony Bourdain, họ chỉ chọt cái gì thì mình làm cái nấy. Tiếc thay hai chuyên gia nầy chỉ trật lất hè. Làm những người biết chút đỉnh về chùa chiền và về ẩm thực của nước ta như anh Ba cà khịa trông thấy mà đau đớn lòng. Thấy hai cái vụ cố vấn tầm ruồng nầy làm anh Ba cà khịa mắc cười tới té ghế! Hậu quả là bụng đau, đau lòng hết sức!
Giết từng con rận một thật là mệt khi phải bắt từng hàng trăm con. Đã nhỏ lại cứng, để lên móng tay ấn kêu cái tách chả mấy lúc mà ngấy. Tjaden lấp mầu dây thép bên trên một ngọn nến đang cháy chống cải nắp hộp kem đánh giầy lên. Bắt được con nào cứ ném vào đấy. Rồi là cắc một cái, giết ráo cả một lần.
Chúng tôi ngồi quây quần sơ-mi trãi trên đùi, mình trần sưởi nắng, hai tay bắt không ngơi. Riêng thẳng Haie có một loại chấy rất đẹp: trên đầu có hình thập tự đỏ. Nó nói nó đưa chúng theo từ bệnh viện Thonrhout, nơi mà chúng còn đích thân hầu hạ cả một ông Y Sĩ trưởng. Cái nắp hộp dần dần đầy mỡ chấy và nó bảo nó sẽ dùng mỡ này để đánh giày cho láng, rồi thú vị cười ngất hằng nửa tiếng không thôi. Nhưng hôm nay nó không thành công mấy, chúng tôi còn mải lo công chuyện khác. Tin đồn thành thiệt. Himmelstoss đã đến. Nếu xuất hiện hôm qua: chúng tôi đã được nghe cái giọng quá quen thuộc của hắn.
Nghe đâu hắn quá tay với hai thằng tân binh non choet trên cánh đồng cày ở nhà, không ngờ có anh con của ông thầm phán ở đây rình thấy. Thế là hắn đi đoong. Ra đây bắn sẽ gặp lắm sự bất ngờ. Tjaden suy nghĩ hàng giờ những gì để nói vào mặt hắn, Haie ngắm nghía hai bàn tay hộ pháp của mình và nháy tôi. Đời nó chỉ cỏ thành tích đấm là đáng kể. Nó bảo tôi nó thường mơ thấy thế. Kropp và Muller đang mải tìm trò giải trí. Từ nơi nào đấy, có phần chắc là trạm hỏa đầu, Kropp đã xoay được một cà mèn đầy đậu hầm. Muller liếc nhìn thèm thuồng nhưng dằn bụng nói: «Albert, nếu như hòa bình bất thần đến thì mày làm gì? »
«Làm gì có đời sống dân sự, » Albert nói gọn lỏn.
«Đành; nhưng nếu như — Muller cố nói «mày định làm gì? »
«Xéo khỏi nơi này! » Kropp lầm bằm
«Dĩ nhiên. Thế rồi làm gì? »
«Nhậu cho say, » Albert nói.
«Đừng vớ vần, tao bỏi thật-
«Thì tao cũng thật, » Kropp nói, «một thẳng đàn ông còn biết làm gì khác? »
Kat để ý nghe. Bác bốc một ít đậu trong hộp của Kropp nuốt chơi vài hạt, nghĩ ngợi một lúc rồi nói: «Nhậu cho say khướt trước đã, dĩ nhiên, rồi sau đó lên tàu về nhà với mẹ. Thời binh, người ta, Albert -»
Bác lục lọi trong cuốn số túi vải dầu lôi ra một tấm hình và bỗng chìa cho mọi người xem. «Ông cụ bà cụtao. » Đoạn bỏ lại vào sổ và chửi thề: «Mẹ kiếp chiến tranh chiến triếc»
«Bác thì đã đành, » tôi bảo bác. «Bác có vợ có con. »
« Đúng», bác gật, «và tao phải lo nuôi chúng. »
Chúng tôi cười. «Chuyện đó thì họ chả lo thiếu, Kat à, bác xoáy thế nào chả ra »
Thẳng Muller láu ta láu táu không lúc nào yên. Nó đánh thức thằng Haie đang mơ mơ màng màng. «Haie, nếu hòa bình đến mày sẽ làm gì? »
«Đá vào hông mày, chi được cái nói lăng nhăng,» tôi nói. «Hòa bình đến, đến thế nào mới được chứ? »
«Thế chứ phân bò đến trên nóc thế nào »
Muller đổi lại, rồi lại quay lại Haie Westhus. Thằng Haie mà biết đàng nào mà đáp. Nó lắc cái đầu tàn nhang của nó:
«Mày muốn nói là khi nào hết đánh nhau? »
« Đúng thế. Mày nói đúng.”
«Thì dĩ nhiên đi tìm gái, phải không? »
Haie liếm môi.
«Đã đành. »
«Ử phải rồi, » Haie nói, mặt nở ra, «tao tìm một con vú thật bự, một con đúng là bếp núc, cái gì cũng nung núc, biết không, rồi là đưa nhau vào giường, không lôi thôi gi cả. Chúng mày tưởng tượng, một cái giường đệm lông đàng hoàng lại có lò xo; chắc là hàng tuần lao không xỏ quần rồi đó.»
Ai nấy lặng thinh. Thẳng đến khéo tưởng tượng. Nghe nói mà rủn người. Mãi rồi Muller lấy lại bình tĩnh lại hỏi:
«Thế rồi sao nữa? »
Im lặng. Rồi Haie nói có phần ngượng nghịu «Nếu là hạ sĩ, tao ở lại quân đội cho đến ngày mãn. »
« Haie ơi, nhất địuh mày loạn óc rồi! »
tôi nói.
« Mày đã bao giờ đào than bùn chưa? »
nó đáp vui vẻ. «Thử đào xem. »
Đoạn nó lôi chiếc muồng giắt trên đầu bốt thọc vào cà mèn của Kat.
« Đầu có gay hơn là đào chiến hào, »
tôi nói.
Haie vừa nhai vừa cười khà: «Dù sao cũng lâu hơn. Và không biết đời nào cho xong. »
« Nhưng mà này, ở nhà vẫn hơn, »
« Cũng có cái thôi, » hắn nói, đoạn há miệng, mơ mơ màng màng. Chả hiểu nó nghĩ gì. Căn lều nhỏ tồi tàn trên bãi đầm, hì hục đào từ sáng đến tối dưới nắng, công xá chết đói, quần áo bẩn thỉu.
«Ở quân đội vào thời bình chả có gì phải lo » nỏ nói tiếp, « ngày ngày có ăn, không có thì làm dữ; có giường ngủ; xà lỏn áo lót giặt giữ hàng tuần sạch sẽ thơm tho đúng trang công tử, mình lo nhiệm vụ hạ sĩ của mình,có bộ đồ bảnh choẹ; tối đến tự do la cà ngoài quán rượu. »
Haie có lập trường vững chãi lạ. Nó say mê lập trường của nó.
«Mã nhạn mười hai năm có tiền hưu, về làng làm ông trưởng tuần, suốt ngày nó đi đó đi đây. »
Nó đã say sưa vởi chức vụ. «Hơn nữa chúng mày nghĩ coi lại được trọng vọng. Đây mời một chén, kia mời một chai. Ai mà chả muốn được lòng ông trưởng tuần. »
«Tuy nhiên, Haie à, mày không bao giờ lên nổi hạ sĩ đâu, » Kat ngắt lời.
Haie nhìn bác tiu nghỉu nín thinh, Tàm trí nó vẫn còn mơ màng các buổi tối mùa thu, các ngày chủ nhật ở ngoài rừng, tiếng chuông làng, các buổi chiều buổi tối với mấy con sen con sến, thịt ba chỉ rán với bánh mạch, những giờ rỗi rãi tối đến la cà quán bia- Giấc mơ đẹp thế đâu có thể bỗng dưng dẹp bỏ; nó chỉ lầm bầm: «Chúng mày khéo hỏi vớ vẩn. »
Nó xỏ sơ-mi qua đầu và gài cúc áo lại.
«Còn Tjaden, mày sẽ làm gì? » Kropp hỏi.
Tjaden chỉ nghĩ có một điều: «Làm sao đề Himmelstoss đừng lọt khỏi tay tôi.»
Nó ước gì nhốt lão lại vào một cái chuồng rồi cứ sáng ra lại cầm gậy khiệng chơi. Với Kropp nó nói một cách nhiệt thành «Nếu phải tôi là anh tỏi học phải làm trung úy. Rồi là tôi nghiền lão ta kỹ cho đến khi lão bở hơi tai. »
«Còn bác, Detering? Maller hỏi như một ông dự thẩm. Hay hỏi như nó đi làm nghề gõ đầu trẻ là phải.
Detering vốn ít nói. Nhưng vấn để này thì bác nói. Bác nhìn trời và nói gọn một câu:
«Tôi đi gặt ngay. »
Đoạn đứng dậy bỏ đi.
Bác lo âu. Ở nhà vợ phải trông nom trại ấp. Nhà nước sung công mất hai con ngưa rồi. Ngày nào báe cũng đọc báo, đề xem cải xó Oldenburg của bác có mưa không. Họ chưa đưa rơm vào. Vừa lúc ấy Himmelstoss xuất hiện. Hắn đi thẳng lại bọn tôi. Mặt Tjaden đỏ bừng. Hắn nằm dài trên cỏ nhắm mắt bối rối.
Himmelstoss hơi lưỡng lự, hắn bước chậm lại. Đoạn hắn đi lại chúng tôi. Chả ai buồn đứng dậy. Kropp ngước nhìn hắn vẻ soi bói.
Hắn vẫn đứng trước chúng tôi và đợi. Chả ai bảo san, hắn thốt một tiếng « Sao? »
Một vài giày qua. Rõ ràng là Himmelstose không biết phải làm gì. Lão muốn bắt chúng tôi chay một vòng. Nhưng hình như lão đã học được rằng ngoài chiến tuyến không phải là sân tập. Nhưng lão vẫn thử ra oai, lão ngỏ lời với một thẳng thay vì với cả bọn hy vọng có kẻ đối đáp. Kropp gần lão nhất, nên lão chiếu cố đến nó.
«A, ra có cả chú mày ở đày? »
Nhưng Albert chả thân thiện gì. «Hình như có lâu hơn bác, » nó đáp.
Bộ râu mép đỏ nhíu lại: «Bộ chú mày không nhận ra tao sao chớ? »
Tjaden mở mắt: «Tôi nhận ra,»
Himmelstoss quay lại nó: «Thẳng Tjaden, phải không? »
«Còn bác biết bác là ai không? »
Himmelstoss chưng hửng. «Không hiểu mình thân mật nhau như thế này từ thuở nào nhỉ? Tao không nhớ ra là chúng mình đã từng ngủ cống với nhau cơ đấy? »
Lão không biết phải xử trí ra sao. Lão đàu có ngờ lại có sự thù nghịch công khai như thế này. Nhưng lão đề phòng: có người đã nhắn lão hãy coi chừng có kẻ bắn sau lưng. Nói động đến cống làm thằng Tjaden điên tiết nên đâm ra hóm hỉnh: «Không, ngủ cống tbì chỉ có nhà bác ngủ một mình. »
Himmelstoss bắt đầu sôi máu, Nhưng Tjaden đã đi bước trước. Nó nhất định phải chửi vào mặt lão mới xong: «Bác có muốn biết bác là giống gi không? Là giống chó săn hôi thối đó, bác là giống đó đó. Đã từ lâu tôi hằng đợi có ngày nói cho bác biết. »
Cái thỏa mãn của tháng đợi ngày chờ long lanh trong đôi mắt lợn luộc của nó khi nó thốt «Đồ chó săn hôi thối. »
Giờ thì Hemmelstoss cũng không còn dằn nồi nữa, «Mày nói gì đồ vét cống, đồ chết băm chết vằm? Đứng lên, xếp gót lại khi cấp trên nói với mày »
Tjaden nháy trịnh trọng: «Himmelstoss, Bác bảo nhà bác xéo đi cho rảnh. »
Himmelstoss là cả một cẩm nang qui luật quân đội. Thật có khác gì la chửi cả Hoàng đế Phố Lỗ Sĩ. «Tjaden, với tư cách là thượng cấp, ta ra lệnh cho ngươi hãy Đứng lên, đứng. »
«Còn lệnh gì nữa ra nốt xem? » Tjaden hỏi.
«Ngươi có tuân lệnh ta không thì bảo? »
Tjaden không ngờ mình lại đáp bằng cái âu cồ điền thông phàm nhất.
Đồng thời hắn quay lai quạt đít.
«Tao sẽ đưa mày ra tòa quân sự,»
Himmelstoss quát lớn.
Chúng tôi nhìn hắn biến về hướng Phòng Trực. Haie và Tjađen cùng nhau hò bài hò của phu đào than bùn. Haie cười quá trệch cả quai bàm, nên bỗng đứng thừ người miệng há hốc không sao khép lại được. Albert phải giáng nó một quả đấm mới đâu vào đấy. Kat lo ngại: «Lão mà đi trình mày, có chuyện lôi thỏi to.»
«Bác bảo hắn có trình không nào? »
«Là cái chắc, » tôi nói.
«Ít nhất cũng năm ngày trọug cấm, »
Kat nói.
Tjaden đâu ngán. «Năm ngày trọng cấm là năm ngày dưỡng lão. »
«Và nếu mà bọ tống mày đi Cấm Thành? »
Muller nói thẳng.
«Thì kể như đối với tôi chiến tranh thế là kết thúc. »
Tjaden quả yêu đời. Hắn chả lo cái quái gì cả. Hắn vởi thẳng Haie và thẳng Leer rủ nhau đi đề tránh cái nhốn nháo lúc đầu nếu họ có đến.
Muller đâu đã thôi. Hắn lại túm lấy Kropp. «Albert, giả thử như bây giờ mày ở nhà, mày sẽ làm gì? »
Giờ thì Kropp đã hả dạ nên dễ dãi hơn:
«Tụi mình trong lớp đúng ra có mấy thằng nhỉ? »
Chúng tôi đếm: hai chục thằng, bảy thằng đã chết, bốn thằng bị thương, một thằng ở nhà điên. Thế là mười hai thằng bình nhì.
«Ba thằng giờ là trung úy, » Muller nói. «Theo mày nghĩ liệu chúng có chịu còn để cho Kantorek nắm đầu không? »
Chúng tôi chắc là không; chúng tôi đâu chịn để họ cởi đầu về vấn đề này.
«Các anh nghĩ gi về cái chủ đề tam diện trong William Tell? » Kropp liên tưởng lại, và phá lên cười.
«Chủ trương của Thi đoàn Gottingen là gì? » Muller bỗng hỏi một cách trịnh trọng.
«Charles Sói có bao nhiều con? » tôi đủng đỉnh xen lời.
«Baumer, suối đời anh chẳng nên cơm cháo gì, » Muller gằn giọng.
«Trận Zana là vào năm nào? » Kropp muốn biết.
«Kropp, anh thiếu óc chuyên chú, ngồi xuống, ba trừ – tôi nháy.
Những chức vụ gì đưoc Lycurgus coi là quan trọng nhất cho quốc gia?, Muller hỏi, vờ lấy đôi kính kẹp mủi ra,
«Câu nào đúng: ‘Chúng ta dân Đức sợ Chúa và không ai khác trên thế giới, hay ‘Chúng ta, người Đức, sợ Chủa và.’» tôi đề nghị.
« Melbourne có bao nhiều dân số? »
Muller hỏi.
«Thế mà còn không biết thì rồi ra đời còn làm được cái trò gì ? » tôi mắng Albert.
Nó vặn lại: «kết hợp là gì? »
Chúng tôi còn chả nhớ được bao lăm những cái đại loai vớ vần như thế. Vả lai chúng cũng chẳng có ích mẹ gì cho chúng tôi. Ở trường chả ai bao giờ dạy chúng tôi châm thuốc trong mưa bão, hay nhóm lửa bằng củi ướt và tốt nhất là đâm lưỡi lê vào bụng vì vào bụng không sợ mắc như vào sườn Muller nói vẻ nghĩ ngợi: «Ích gì nhỉ. Khi mình trở về lại ngồi vào các lớp. »
Tôi cho làm gì có chuyện ấy. «Chúng mình hằn có kỳ thi riêng. »
«Thì cũng cứ phải học. Nếu có thi đậu rồi đề làm gì? Đời sống sinh viên cũng chẳng hơn gì. Không có tiền, lại phải xoay xở trối chết. »
«Cũng còn hơn chút. Nhưng tất cả những cái họ dạy mình thì cũng rứa cả, cũng thối.»
Kropp ủng hộ tôi: «Đã từng ra đây rồi làm sao còn tin tưởng nồi ở những thứ ấy.»
«Dẫu sao thì cũng phải có một cái nghề gì chứ, » Muller cải, như thể nó là Kantorek không bằng.
Albert cầm dao cạy móng tay. Chúng tôi ngạc nhiên trước thái độ nó. Nhưng chẳng qua chỉ để suy nghĩ. Nó đặt dao xuống nói tiếp: «Vấn đề là đó. Kat và Detering với Haie sẽ trở về với công việc của họ vì họ đã từng làm có nề có nếp. Himmelstoss cũng vậy. Nhưng còn mấy thằng mình thì đã có nghề ngồng gì đâu. Ở đây về mình làm sao có thể làm quen được với nghề nào? » Nó vung tay về phía mặt trận.
«Mình xoay xở làm sao có lợi tức riêng để rồi ra rừng ở thung dung một mình, » tôi nói, nhưng tức thì lại cảm thấy thẹn thuồng với cái vô lý của mình.
«Nhưng cái gì sẽ thực sự xảy ra khi mình trở về? » Muller thắc mắc và có phần hoang mang.
Kropp nhún vai. «Ai mà biết. Biết về cái đã, rồi sẽ liệu. » Chúng tôi quả thật bí đặc. «Mình biết làm gì?» tôi hỏi.
« Tao chả thiết làm cái mẹ gì cả, Kropp đáp mệt mỏi. «Chết ngày nào không hay, nghĩ làm gì cho mệt. Tao khòng chắc mình lại được về.»
«Albert, mỗi khi tao nghĩ thế,» Tôi nói sau một lúc, nằm ngả lưng, «khi tao nghe cải tiếng thời bình,’ nó bốc lên đầu; nếu quả thật nó đến, tao nghĩ tao sẽ làm một cái gì không thể tưởng tượng được- một cái gì, chúng mày biết không, cho bõ cái đã phải lăn lộn nằm bùn ở đây. Nhưng tao cũng chưa tưởng tượng ra được là cái gì. Tao chỉ biết có một điều là tất cả những cái công việc như nghề nghiệp tự do như học hỏi như lương lậu và này khác-tao chán ngấy. xưa nó đã tởm giờ cũng lại tởm. Tao chẳng thấy mẹ gì cả. Tao chẳng thấy mẹ gì cả,
Albert à.»
Thể là tôi lại cảm thấy hoang mang bất lực. Kropp cũng cảm thấy thế. «Chúng mình thật là khổ tâm; Nhưng ở nhà hình như chả ai quan tâm về vấn đề này. Hai năm sơi bom đạn, người ta đâu dễ ném bỏ như ném tất.»
Chúng tôi đồng ý là ai thì cũng thế cả; chẳng riêng gì chúng tôi ở đây, mà ở bất cứ đâu đâu, cho bất cứ ai vào cái lứa tuổi chúng tôi; kẻ nhiều người ít. Đó là cái số phận chung cho cả thế hệ chúng tôi. Albert đã diễn tả đúng: «Chiến tranh đã tàn phá chúng ta về mọi mặt.»
Nó nói đúng. Chúng tôi không còn thanh niên nữa, Chúng tôi không muốn công chiếm thế giới. Chúng tôi đang trốn. Chúng tôi trốn khỏi chúng tôi. Khỏi đời sống chúng tôi. `Chúng tôi từng mười tám tuổi đầu, từng bắt dầu yêu đời yêu thế giới; thế mà chúng tôi phải bắn nó tan ra từng mảnh. Quả hom đầu tiên, tiếng nổ đầu tiên, nổ trong lòng chúng tôi. Chúng tôi bị cắt đứt khỏi hoạt động, khỏi cố gắng, khỏi tiến bộ. Chúng tôi không còn tin tưởng ở những điều như thế nữa, chúng tôi tin tưởng ở chiến tranh.
Phòng trực có vẻ rộn rịp. Himmelstoss hình như làm sống họ. Dẫn đầu toán là lão thượng sĩ béo, Kể cũng lạ là hầu như lão thượng sĩ trả lương lão nào cũng béo. Himmelstoss đi theo lão, khao khát rửa hận. Bốt hắn bóng loáng dưới nắng.
Chúng tôi đứng lên.
« Thằng Tjaden đâu?» lão thượng sĩ phều phào. Dĩ nhiên chả ai biết. Himmelstoss lừ lừ nhìn chúng tôi.
«Các chú thừa biết. Các chú không chịu nói, sự thật là thế. Nói xem!»
Lão béo nhìn qnanh: nhưng chả thấy bóng via Tjaden đâu cả. Lão xoay cách khác.
«Bảo thằng Tjaden trong mười phút frình diện tại Phòng trực »
Đoạn lão hồn hền bỏ đi với Himmelstosa theo sau.
«Tao có cảm tưởng kỳ tới mình lại đi đặt dây kẽm. Thế nào tao cũng để rơi một cuộn lên cẳng thằng Himmelstoss,» Kropp nói.
«Mình sẽ tha hồ chọc lão chơi,» Muller cười.
Đó là tham vọng duy nhất của chúng tôi: làm sao cho lão phát thư bỏ cải thói tự tôn.
Tòi đi vào lều nói Tjaden hay. Nó biến đi. Đoạn chúng tôi thay áo rồi lại nằm xuống đánh bài. Bây giờ thì chúng tôi sành: đánh bài, chửi thề và ấu đả. Chả nhiều nhặn gì đối với cái tuổi hai mươi; -ấy thế mà lại quá nhiều đối với cái tuổi hai mươi. Nửa giờ sau Himmelstoss lại trở lại. Chả ai đề ý đến lão. Lão hỏi Tjaden đâu. Chúng tôi nhún vai.
«Vậy mấy chú đi kiếm nó,» lão nằng nặc.
«Chứ mấy chú chưa đi kiếm nó sao chứ?»
Kropp nẫm ngả lưng trên cỏ nói: «Trước kia bác đã từng ra đây bao giờ chưa nhỉ?»
«Thì việc gì đến mày,» Himmelstoss nói.
«Tao hỏi phải trả lời.»
«Được rồi,» Kropp nói, đứng dậy. «Nhìn xa xa kia chỗ có những đám mây trắng nhỏ. Đó là súng cao xạ. Hôm qua chúng tôi có mặt tại đấy. Năm thẳng chết tám thằng bị thương. Vui lắm. Lần sau bác có đi với chúng tôi,trước khi chết mấy thẳng nó sẽ đi lại bác, đánh bai gót cái chát, và dõng dạc xin phép bác: «Hạ sĩ cho phép em đi chứ? Hạ sĩ cho phép em sắc cò cò đi chứ? ở đây chúng em đã từ lâu mong chờ những người như hạ sĩ.»
Nó lại ngồi xuống và Himmelstoss biến đi như sao chổi.
«Ba ngày tù giam,» Kat đề nghị.
«Lần sau để tao hả hơi,» tôi bảo Albert.
Nhưng thế là hết. Nội vụ được đưa ra xử vào buổi tối. Trong phòng trực Trung úy Bertinck ngồi gọi chúng tôi vào, lần lượt từng thằng một. Tôi phải ra đối chứng giải thích lý do tại sao Tjađen lại bất tuân thương lệnh.
Câu chuyện đái dầm gây sôi nổi. Himmelstoss được gọi lại và tôi lập lại lời khai. «Có đúng không?» Bertinck hỏi Himmelstoss. Lão muốn tránh né, nhưng rút cuộc phải thú thực, vì Kropp cũng kể lại đúng y như thế.
«Sao lúc đó không ai tường trình vấn đề cả?» Bertinck hỏi.
Chúng tôi im lặng: Ông ta phải biết trong quân đội mà đi tường trình những chuyện như thế có ích gì, Trong quân đội đâu có cái lệ được kiện cáo. Tuy nhiên ông ta hiểu và khiển trách Himmelstoss, giảng giải cho lão biết rằng mặt trận chẳng phải là sân tập. Đoạn đến lượt Tjaden được huấn thị nên thân và lãnh ba ngày trọng cấm. Ông nháy Kropp và tặng nỏ một ngày trọng cấm. «Thế thời phải thế.» ông ân hận bảo nó. Ông quả là người biết điều. Trọng cấm cũng thú đáo để. Nhà giam trước kia là chuồng gà; chúng tôi còn được thăm viếng tù nhân, chúng tôi biết cách xoay sở. Còn tù giam thì nghĩa là sà lim. Trước kia có lệ trói vào cây, nhưng giờ thì bị cấm rồi. Về nhiều cái chúng tôi đã được đối đãi như những con người.
Một giờ sau Tjaden và Kropp ngồi sau vách lưởi chúng tôi lại thăm hai thằng. Tjaden gáy lên chào đón. Rồi chúng tôi chơi các-tê đến đêm khuya. Dĩ nhiên Tjaden ăn, chả số nó số đỏ. Khi rã đám Kat bảo tôi: « Chú ưng ăn ngỗng quay không.»
«Phải nói,» tôi đồng ý.
Chúng tôi leo lên một toa đạn dược. Chuyển đi tốn hai điếu thuốc. Kat đã đánh dấu kỹ địa điểm. Nhà kho thuộc hành dinh của một đại đoàn. Tôi đồng ý tiếp nhận con ngỗng và nhận chỉ thị. Căn nhà dưới nằm sau tường và cửa chỉ có móc lai thôi à. Kat kiệu tôi lên. Tôi đặt chân lên tay bác và leo lên tường. Kat canh chừng bên dưới. Tôi đợi một lúc cho mắt quen với tối. Rồi tôi nhận ra cái kho. Tôi êm ru lẽn qua, nâng cái móc, kéo nó ra và mở cửa. Tôi thấy hai đám trăng trắng. Hai con ngỗng, thể mới nguy: nắm con này thì con kia kêu quang quác. Đã thế, làm mẹ nó cả hai – có thể được, miễn cần lẹ tay. Tôi nhảy lại. Vừa nắm con này vặn luôn con kia Như điên tôi nện đầu chúng vào tường cho chúng ngất. Nhưng tôi không đủ cân. Chúng liền quang quác và vung chân vung cánh đánh lại. Tôi chiến đấu quyết liệt, nhưng Chúa ơi, giống ngỗng sao nó đá khỏe thế! Chúng kháng cự làm tôi lảo đào. Trong tối hai cái đám trắng thật đáng sợ. Hai cánh tay tôi mọc cánh và tưởng đâu mình sắp bay lên trời, chả khác gì hai tay nắm hai quả bóng có giây buộc.
Thế là ầm ầm như vở chợ; một con hả được họng la thôi như chuông báo động. Tôi chưa kịp xoay sở, có cái gì từ ngoài đi vào; tỏi cảm thấy một đòn giáng xuống, tôi nằm dài trên đất, nghe có tiếng gầm gừ khủng khiếp. Một chú cẩu. Tòi liếc nhìn bên, nó nhắm họng tôi đớp tởi. Tỏi vẫn nằm im rụt cầm vào cổ áo. Lại cậu heo nữa chứ. Mãi rồi nó mới chịu rút đầu về ngồi bên tôi. Nhưng hể cứ nhúc nhích là nó lại gầm gừ. Tôi nghĩ cách. Chỉ còn một cách là làm sao rút được khầu súng lục trước khi có người tới. Tôi từ từ, từng li một duổi tay về phía súng. Tôi có cảm tưởng như hàng giờ. Cử nhúc nhích là một liếng gầm gừ nghe pbát khiếp; tôi nằm im, đoạn lai thử. Và đến khi nắm được súng rồi tay tôi bắt đầu run. Tôi áp súng xuống đất đoạn bụng bảo dạ. Đưa nhanh khẩu súng bắn trưởc khi nó kịp ngoạm rồi đứng phắt lên. Chậm rải tôi thở thật sâu và cảm thấy bình tĩnh hơn. Đoạn tôi nín thở, vung súng, nổ đánh tạch, chú cẩu nhảy sang bên hú lên, tôi đâm đầu ra cửa và ngã chổng vó lên một con ngỗng quí.
Nhanh như chớp tôi nắm lấy nó, vung tay ném qua tường rồi leo lên. Vừa lên đầu tường chú cẩu đã lại hiên ngang sống động hơn khi nào hết chồm lại tôi. Tỏi buông tay rơi xuống. Cách đó mười bước, Kat đứng cặp con ngỗng dưởi nách. Vùa thấy tôi hai thằng cắm đầu chạy. Mãi rồi mởi được lấy hơi. Con ngỗng đã chết, Kat đã ra đúng lúc. Chúng tôi định quay nó, mà không cho thằng nào hay. Tôi tìm lò kiếm củi và chúng tôi bò vào một gian nhà bếp vắng vẻ mà chúng tôi thường dùng vào những mục đích này. Cánh cửa số độc nhất được che kín. Ở đó có lò, một tấm sắt gác trên vài viên gạch. Chúng tôi nhóm lửa. Kat vặt lông moi ruột. Chúng tôi thu gọn lông vào một nơi. Định dùng nhồi hai cái gối với tựa đề: «Ngủ cho êm dưới lửa đạn.
Tiếng súng bắn từ mặt trận lẻn vào tận nơi ần náu của chúng tôi. Ánh lửa soi sáng bộ mặt chúng tôi, các bóng nhảy múa trên tường. Thình thoảng một tiếng rớt ầm và gian nhà rung rinh. Phi cơ dội bom. Có lần nghe tiếng kêu ú ở. Lai một nhà nào trúng đan. Phi cơ vù vù; tiếng súng đại liên lạch tạch. Nhưng chúng tôi không để lọt ra một tí ánh sảng nào.
Kat và tôi hai thằng ngồi đối diện. Hai thẳng lỳ quần áo tang thương, nướng một con ngỗng giữa đêm khuya. Chúng tòi không nói gì mấy, nhưng tôi tin chắc rằng chúng tôi ý hợp tâm đầu còn hơn cả đôi uyên ương.
Chúng tôi là hai thằng người, hai đốm sống nhỏ nhoi; bên ngoài là đêm tối và vòng tròn của tử thần. Chúng tôi ngồi trên bờ vòng, nằm phủ phục trong hiềm nguy, tay rỉ mỡ, trong tâm hồn gần gụi nhau và cái giờ cũng như căn phòng: lốm đốm đầy ánh sáng và bóng tối của các tình cảm của chúng tôi do một ngọn lửa êm ả ném ra. Bác biết gì về tôi hay tôi biết gì về bác? Trước kia chúng tôi làm gì có lấy một ý tưởng chung nhau giờ đây chúng tòi ngồi với một con ngỗng giữa chúng tôi và cảm thấy hòa đồng thân mật đến độ chúng tôi không buồn nói.
Quay một con ngỗng lâu lắm, dù là non béo Nên chúng tôi thay phiên nhau. Thằng này phết mỡ thì thằng kia nằm xuống ngủ. Dần dần mùi thơm phức gian nhà. Các tiếng ầm ì không tăng gia bước vào giấc mơ của tôi tuy nhiên vẫn lảng vảng trong ký ức tôi. Chập chờn nửa tỉnh nửa ngủ tôi nhìn Kat cầm muôi đưa lên nhúng xuống. Tôi yêu bác ta, đôi vai bác, dáng người khom khom xương xẩu và đồng thời tôi thấy sau bác nào rừng nào sao và một giọng trong trẻo thốt lên những lời đưa lại cho tôi thanh bình, cho tôi, một thẳng lính với đôi bốt to tướng, dây lưng to bản, với ba lô, dấn bước lên con đường nằm trước mình dưới bầu trời cao, mau quên và ít khi sầu não, lúc nào cũng lao tới dưới trời đêm bao la. Một thằng lính nhỏ bẻ và một giọng trong trẻo và nếu có ai vuốt ve nó, nó cũng chẳng hiều, thẳng lính này với đôi bốt to tướng và trái tim khép chặt, nó đi vì nó mang bốt lớn, và đã quên hết mọi cải chỉ còn biết có đi. Bên kia chân trời là một xứ có hoa, nằm yên lặng đến nỗi nó muốn cất tiếng khóc. Ở đấy có những cảnh mà nó không bao giờ quên, vì nó không bao giờ nắm được lạ kỳ, tuy nhiên đối vởi nó đã không còn nữa. Phải chăng hai chục cái mùa hè của nó nằm ở đấy?
Mặt tôi có ướt không, và tôi đang ở đâu đây? Kat đứng trước tôi, cái bóng khom khom khổng lồ buông xuống tôi như cái nhà ấm cúng. Bác nói dịu dàng, bác mỉm cười trở lai bếp.
Đoạn bác bảo: «Chín rồi».
«Ù nhỉ.»
Tôi vặn mình. Giữa phòng là con ngỗng vàng cháy bóng mỡ. Chúng tôi móc nỉa lấy dao trong túi và mỗi thằng cắt một đùi. Chúng tôi ăn kèm với bánh lính nhúng sốt. Chúng tôi ăn chậm rãi nhưng thú vị. «Ngon chứ, bác Kat?»
«Tuyệt! Còn chú?»
«Tuyệt ID
Chúng tôi là anh em nên nhường nhau những miếng ngon nhất. Ăn xong tôi làm một điếu còn Kat hút xì gà. Ngỗng còn vô số.
«Bác Kat, hay ta mang cho tụi thẳng Tjaden và Kropp?
«Hẳn nhiên,» bác nói.
Chúng tòi xẻo một phần lấy giấy báo gói thật kỹ. Còn thì mang về lều, Kat cười, nói vỏn vẹn: «Cái thằng Tjaden.»
Tôi đồng ý, chúng tôi phải lo chu tất. Chúng tôi đi lại chuồng gà đánh thức chúng. Nhưng trước hết phải gỏi lông cất kỹ. Kropp và Tjaden gọi chúng tôi là các tay phù thủy. Đoạn hai thằng luyện răng. Tjaden cầm một cánh ngỗng lên miệng với cả hai tay như thổi khẩu cầm và nhai ngấu nhai nghiến. Nó uống nước sốt trong bình và liếm môi liếm mép:
«Muôn đời không quên các anh!»
Chúng tôi về lều. Lại bầu trời cao với sao với bình minh sắp đến và tôi đi qua dưới nó, một thằng lính với đôi bốt to tướng với bụng no ạch, một thằng lính nhỏ nhoi trong buổi sáng tinh sương nhưng cạnh tôi, khòm khòm xương xẩu, là bác Kat, chiến hữu của tôi. Bóng dáng các lều bao lấy chúng tôi trong bình minh như một giấc ngủ say sưa âm thầm.
Giữa những ngày đầu đông Hòa Lan lạnh thấm vào da thịt, món súp đậu snert – đặc quánh, mộc mạc và ấm áp – hiện lên như một lát cắt văn hóa đặc biệt của xứ sở bông tulip. Từ hồ bơi sáng mùng Hai Tết Tây đến những quầy ăn dựng tạm bên mặt hồ đóng băng, từ căn bếp gia đình đến những chuyến tàu viễn dương, món ăn ấy theo tôi đi qua nhiều khoảnh khắc, để rồi trở thành một phần ký ức mùa đông không thể quên.
Mùng Hai Tết Tây, cũng nằm trong những ngày đầu đông ở Hòa Lan. Bầu trời phủ một màu trắng đục, lặng lẽ đè xuống những mái nhà ven con kinh đào. Gió Bắc thổi phơn phớt qua những cánh đồng phẳng lặng, mang theo cái lạnh không cắt da nhưng thấm dần, len lỏi qua từng lớp áo. Trong thứ thời tiết chỉ muốn tìm một góc ấm để trú mình ấy, tôi cùng vài người bạn Hòa Lan rủ nhau đến hồ bơi – nơi vừa mở cửa trở lại sau kỳ nghỉ cuối năm. Tắm nước ấm đầu năm, với chúng tôi, cũng là một cách “gột rửa” sự mệt mỏi của những bữa tiệc Giáng sinh kéo dài.
Bơi xong, tôi bước lên căn tin thì thấy Jeannette, John và Johan đã ngồi sẵn ở chiếc bàn giữa phòng. Thấy tôi đến, John đứng dậy đi mua cà phê – hôm nay đến lượt anh trả. Câu chuyện xoay quanh chuyện ăn uống, tiệc tùng, rồi bất ngờ Jeannette uống cạn tách cà phê, đứng lên bắt tay từng người và trịnh trọng nói: “Tôi phải về nấu erwtensoep.” Johan gọi với theo: “Hôm nay siêu thị có xúc xích hun khói, hai cái tính tiền một.” Jeannette chỉ ngoái lại: “Tôi biết,” rồi cô ta đi thẳng ra cửa.
Erwtensoep – món súp đậu Hòa Lan – vốn không xa lạ với tôi. Nhưng sáng hôm ấy, nghe nhiều người nhắc đến nó, tôi tò mò hỏi: “Mùng Hai phải ăn erwtensoep sao?” John cười nói rằng theo thuyền thuyết, sau những bữa tiệc cuối năm, người Hòa Lan thường tận dụng phần thịt và xúc xích xông khói còn lại để nấu một nồi súp lớn, vừa ấm bụng vừa lấy lại năng lượng trong những ngày lạnh nhứt trong năm.
Johan tiếp lời, giải thích rằng món ăn này có hai tên: khi vừa nấu xong, người ta gọi là erwtensoep; để qua đêm, nó trở thành snert. Và theo truyền thống, snert luôn ngon nhất vào ngày hôm sau – như thể thời gian chính là thứ gia vị vô hình làm món ăn tăng thêm hương vị.
Với người Việt quen những món súp thanh nhẹ, cái tên “súp đậu” dễ gợi cảm giác loãng và dịu. Nhưng snert thì hoàn toàn ngược lại. Người Hòa Lan đùa rằng có thể cắm thẳng chiếc muỗng vào đĩa mà nó vẫn đứng thẳng – và điều đó không hề phóng đại. Snert đặc sánh, gần như một món hầm, nặng trĩu hương đậu, thịt và rau củ.
Một buổi sáng mùa đông cách đây lâu lắm, tôi theo người bạn bản xứ đến một hồ lớn trong vùng. Nhiệt độ những ngày trước xuống dưới 0°C, đủ để mặt hồ, mặt kinh đóng băng dày. Người ta đem chiếc loa thùng nặng quách mở hết cở, tiếng nhạc lan tỏa khắp mặt hồ. Trẻ con ríu rít như chim sẻ đứa trượt đứa hốt tuyết chọi nhau, người lớn thong thả lướt đi trên mặt băng phẳng lặng, còn gió thì quất qua khiến da tê rát, má đỏ bừng. Giữa khung cảnh ấy, những quầy koek en zopie – quầy bán đồ ăn nóng và đồ uống nóng dựng tạm – bốc khói nghi ngút. Ở đó, tôi gặp chén snert đầu tiên của mình: đựng trong chiếc chén giấy, ăn bằng muỗng nhựa, nhưng ấm áp vô cùng. Hơi súp tỏa khói, bốc lên thơm lừng mùi đậu Hòa Lan, tỏi tây và thịt xông khói. Tôi cầm chén súp nóng hổi, cảm giác như ôm một chiếc lò sưởi nhỏ. Chỉ một muỗng đầu tiên thôi, cái lạnh dường như tan biến. Vị đậu béo ngọt, vị thịt béo, mặn vừa phải, rau củ mềm tan – tất cả hòa quyện đậm đà, khiến mùa đông nơi đây bỗng trở nên hiền hòa hơn.
Người bạn kể rằng món súp này đã xuất hiện từ thế kỷ 16, khi người dân cần những món ăn dễ nấu, giàu năng lượng để chống chọi mùa đông dài. Đậu Hoà Lan khô, giò heo, rau củ mùa đông – những nguyên liệu giản dị nhưng đủ nuôi sống cả gia đình. Qua hàng trăm năm, snert vẫn giữ nguyên sự mộc mạc ấy và trở thành một biểu tượng văn hóa. Thậm chí, việc nấu snert còn được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của Hoà Lan.
Một cuối tuần khác, tôi được mời đến một gia đình Hòa Lan để ăn snert trong căn bếp ấm áp. Người phụ nữ chủ nhà vừa múc súp vừa kể rằng bí quyết nằm ở sự kiên nhẫn: đậu phải nấu cẩn thận, đừng để đậu bị khét, đậu mà bị khét coi như nồi súp bỏ đi. Vì vậy khi nồi súp sôi, đậu rã ra thì phải dùng vá khuấy liên tục, đến khi đậu nhuyễn hoàn toàn, thịt phải đủ thời gian để mềm và tiết vị ngọt, còn rau củ thì được cho vào đúng lúc để giữ độ sánh. Khi nồi súp hoàn thành, để nó nghỉ qua đêm – một nghi thức gần như bắt buộc. “Ngày hôm sau mới là snert thật sự,”. Và đúng như vậy: sáng hôm sau, nồi súp đặc lại, mùi thơm đậm hơn, vị ngọt sâu hơn. Snert được ăn kèm bánh mì lúa mạch đen và thịt xông khói katenspek – giản dị mà hoàn hảo.
Điều khiến tôi ấn tượng nhứt không chỉ là hương vị, mà là cách người Hòa Lan gắn bó với món ăn này. Ở nhiều làng quê, người ta còn tổ chức cuộc thi nấu snert mỗi năm. Mỗi gia đình có một bí quyết riêng, một câu chuyện riêng, và họ tự hào chia sẻ nó như chia sẻ một phần di sản của mình.
Sau này, khi vào trường học nấu ăn, tôi biết thêm nhiều món súp đậu mùa đông khác, nhưng không món nào vượt qua được snert. Đến khi làm đầu bếp trên tàu viễn dương của Hòa Lan, tôi mới hiểu sâu hơn. Trên tàu buôn Hòa Lan có một tập tục truyền thống: mỗi thứ Bảy, thủy thủ đều ăn snert với pannenkoek. Khi ấy, tôi nhận ra snert không chỉ là món ăn chống lạnh. Nó là nhịp sống, là ký ức, là một phần tâm hồn của người Hòa Lan.
Bây giờ là buổi chiều. Buổi chiều với nắng vàng và gió lộng. Không còn tiếng nổ trong không gian, ba mỏm núi bốc những sợi khói nhỏ, mờ mờ hơi nóng. Nóng không phải hơi nắng mặt trời nhưng do âm ỉ của thuốc súng chưa kịp tan, còn lẫn khuất nơi cây cỏ, đất cát.
– Thiếu tá… Hải gọi nhỏ Mễ. Lúc riêng rẽ, ít khi hai người gọi nhau bằng cấp bậc, nhưng bây giờ, tình hình đã khác, trách nhiệm và bổn phận quá đổi nặng nề, thêm xúc động trong lòng qua cái chết của người chỉ huy. Hải nhắc nhở Mễ,
_Thiếu tá, tổng kết là mình chết 20, 40 bị thương cần di tản,
Mễ gật đầu, đưa mắt nhìn hỏi Liệu…
– Đúng vậy! Liệu đáp nhỏ. Anh toubib hết đồ nghề, nhìn xuống xác anh Năm, như một cách lẫn tránh.
– Dạ, có ông Hùng muốn nói chuyện với thiếu tá. người lính truyền tin đưa ống liên hợp cho Mễ.
Tiếng Hùng ở C1, vọng trong máy: Trình Mê Linh (danh hiệu truyền tin của Mễ), ở tôi thì không có gì, nhưng từ sáng tới giờ sao chẳng nghe 008 (Tiểu đoàn trưởng) nói gì với tôi hết… Giọng Hùng mang vẻ trách móv xa vắng, ắt hẳn hắn đã linh cảm được tai nạn xảy ra. Mễ nhìn xuống xác anh Năm, đôi mắt đỏ mệt mỏi chớp chớp, hình như có giọt nước mắt lưng tròng.
– 008 đã bắt tay với ông Phan (Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1 Dù, đã tử trận Hạ Lào, 1971), biết thế thôi, đừng nói cho ai hay…
– Dạ, tôi nghe rõ Mê Linh. Hùng không còn hơi sức để hỏi gì thêm.
Súng lại nổ dưới Charlie. “Cất” anh Năm lại, đừng cho lính biết. Tất cả ra giao thông hào. Mễ ra lệnh ngắn. Lời nói đanh cứng, dứt khoát. Trong ráng chiều, những người lính ở C1 và C 2 chăm chú theo dỏi trận đánh nơi cao độ C.
Bắt đầu, cối và sơn pháo từ những cao độ phía Tây bắn từng nhịp bốn trái một vào căn cứ, xong bộ binh sư đoàn Điện Biên từ hai hướng Tây, Tây-Nam xếp hàng như đi điễn hành tiến vào…
– Đúng là tụi nó điên rồi, không điều động, ẩn núp gì cả… điện biên cái con c…!! Lính ở C1 và C2 dồng đứng dậy khỏi giao thông hào chơi trò chơi mới.
– Mầy bắn vào cái hố có bốn thằng núp dưới kia, nếu trật thì để tao. Hai người lính đại đội 112 thách nhau dùng súng phóng lựu M 79 và hoả tiễn cầm tay M72 từ đồi cao bắn xuống. Trái đạn bay đi khoảng ngắn, đất bụi bay lên… Bốn thân xác phơi trần trụi, vật vã, lăn lóc. Người lính nhỏMiền Bắc đi giải phóng ai đây; trong phút chốc họ đã trở nên thành những bia thịt sống thậm vô ích và chết với gía qua rẻ.
Cuộc tấn công vào cứ điểm C kéo dài năm đợt. Lính Thinh đánh tỉnh táo, chắc chắn. Nhưng bỗng nhiên, Mễ có quyết định: Rút nó về, nhỡ tối nay, nó hết đạn thì sao…
Hải gọi liền máy, bảo Thinh,
– 401 (Thinh) đây 06 (Hải), anh xếp va-ly lại, nhớ mang theo mấy thằng rách áo, về ở với bố mẹ…
– Vâng, vâng, tôi nghe rõ, tôi cũng có ý định đó vì kẹo gần hết, nhưng sợ 008 và 007 (Tiểu đoàn trưởng và phó) hiểu lầm. Tội nghiệp chưa, đến giờ nầy, Thinh vẫn không biết người anh cả của tiểu đoàn đã đi khuất. Trong âm nói của Thinh vang động mối hân hoan vui sướng” về với bố mẹ”. Thinh đâu tiên đoán được đến lượt mình ở ngày mai?!
Đại đội 111 rút được về C2, năm giờ chiều, trời chỉcòn chút ráng đỏ, gió lạnh… Đỉnh Charlie trống trải cháy ngọn lửa điêu tàn. Và trong hoang vu hấp hối của cỏ cây, hằng trăm người lính Bắc Việt, “những chiến sĩ Điện Biên của sư đoàn Thép, đơn vị vang danh bốn chiều lục địa, những người lính Quân đội Nhân Dân của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, tất cả đồng nhào lên Charlie một lượt… Những “bàn chân gang thép mang linh hồn vũ bảo vào Nam giải phóng, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược”đồng chạy mau hơn, nhanh hơn… Để cùng lăn lộn, giành giựt trên vùng đất vỡ nát, lầy lụa xác người và hơi thuốc đạn. Như một cơn đồng nhập quẩn trí, tất cả đồng vất bỏ vũ khi, dùng tay trần cào, xới, bới, móc… Đám lính đói sưđoàn Thép kiếm thức ăn. Họ tìm gạo sấy, thịt hộp và C Ration. Cuối đường giải phóng, những “chiến sĩ Điện Biên anh hùng” tìm ra “vinh quang đích thực” nơi những hộp thức ăn chế tạo tại Mỹ, giữa đám xác người Miền Nam họ vừa tàn sát.
… Bom!! Bom!! Đốt cháy tụi nó hết!! Mễ nói như thét,
– Có ngay! Hải “khều” ngay ba phi tuần Napalm; toán lính Bắc định tháo chạy, nhưng không kịp nữa. Theo một hướng Tây-Đông chính xác, ba chiếc Skyraider cùng chúi xuống một lúc… Lửa lồng lộng, lửa vàng đỏ trộn khói đen cuộn lên lớp lớp… Trong cỏ cây cháy khét có mùi thịt. Thịt của người và thịt của thức ăn. Lính cộng sản sưđoàn Điện Biên Phủ vinh quangchết trên mục tiêu vừa chiếm lĩnh – Những hộp thịt thức ăn chế tạo tại Mỹ.
Ngày 13 tháng Tư, Mễ cho đại đội 112 xuống chiếm lại C. Lính của Hùng “móm” vừa từ trên “hột lạc” đổ xuống bị bật lại ngay bởi một hàng rào của cối 60, 82 và sơn pháo 75 ly bắn thẳng từ ngọn đồi phía Tây. Bộ chỉ huy tiểu đoàn không một chút do dự: Cho thằng 2 về, tụi nó hận mình về vụ hôm qua. Lên phía Bắc không được, Mễ thử bung quân ra hướng Đông để tìm bãi đáp. Phải có một bãi đáp bất cứ gia nào, thưlng binh, người chết, xác anh Năm…Tât cả cần phải di tản. Sự hiện diện của những đau đớn nầy làm lòng nặng xuống, cũng có thể gây nên tâm lý phục hận phẫn nộ, nhưng cũng là lần suy sụp lo sợ. Phải di tản gấp số thương binh. Mễ nói với Thinh:
– Ông gắng ra chỗ nầy, (một trãng trống cách C2 khoảng ba trăm thước về hướng Đông), kiếm được LZ( bãi đáp trực thăng), di tản hết thương binh và người chết, tụi còn lại mới yên lòng được. Đừng để cho lính có cảm giác bị bỏ rơi, tinh thần họ giản dị, dễ xúc động. Hơn nữa, mình hết đạn và nước uống. Nhé, ông gắng ra cho được.
– Dạ, thiếu tá để tôi.
Thinh can trường như Triệu Tử Long, dẫn đại đội chỉ trên khoảng bốn mươi người rời căn cứ. Cái trãng trống kia rồi, 50, 40, 30…Gắng chút nữa, mình có nước uống!! Thinh thúc dục người lính. Nhưng không thể được. Bắc quân bắt đầu khai hoả, bốn phía cùng nổ từ các cao điểm chung quanh. Nguy hiểm hơn, địch cắt đứt đường về, quân ở C2 cố ra đón bị chận lại, không thể dùng một thứ vũ khí nào khác ngoài lựu đạn. tiến không được, thối lui không xong, trên đầu bị vây chụp bởi đạn sơn pháo từ dãy cao điểm phiá Nam dội xuống. Thinh ngã chết. Chỉ còn con đừng nầy cho người lính trẻ. Thinh chết giữa trời, trên đồi cháy. Viên đạn cuối cùng vừa bắn ra. Bóng Bắc quân vây kín.Trái lựu đạn còn lại cũng vừa ném… Người sĩ quan tuổi quá hai mươi ngã xuống bởi chục nòng súng xả đạn vào. Chuẩn uý Ba nhào đến ôm xác Thinh, hứng nốt những viên đạn còn lại.
Mễ nổi điên trong giao thông hào, gọi máy liên lạc với đại đội 111.
– Ở đấy còn có ai?
– Có tôi. Khánh, sĩ quan liên lạc tiền sát pháo binh đáp mau.
– Anh coi đại đội, cố dẫn về lại tôi, có thằng 4 ra đón.
– Tôi nghe đích thân rõ. Người sĩ quan pháo binh gom quân làm một mũi dài. …Đánh!! Để tao đi đầu, lựu đạn mở hết kíp ra. Trung sĩ Lung, người hạ sĩ quan thâm niên nhất dẫn đầu toán quân, xung trận như mũi tên lửa. Đường về có được rồi, bắn bắn che nhau, Lung về chót… Nhưng còn hai ông thầy!! Lung cố chạy ngược trở lại nơi xác của Thinh và Ba. Một loạt đạn vô tình nào đó… Chầm chậm Lung ngã xuống. Ba xác chết chồng lên nhau bất động.
Hai giờ chiều, Bắc quân mở cuộc tấn công mới, cuộc tấn công công khai, nhắm thẳng vào C2, căn cứ chính.
– Tụi nó dứt mình. Được, mầy “điện biên” tao “nhẩy dù”, xem ai hơn ai… Tất cả ai ngồi được, kể cả bị thương, ra hết giao thông hào, thằng nào kêu la khóc lóc, tao bắn chết. Chính tao bắn… tụi mầy để thua, tao bombing vào đây. Chết, chết tất cả!! Mễ gào lên, xong ngất xỉu.
Liệu nói nhỏ, thì thầm sát tai Mễ: Tim ông nó mệt rồi, đừng “gonfler” quá, ông chết luôn, hết người chỉ huy.
Lính sư đoàn Điện Biên thổi kèn xung phong dưới yểm trợ của cối và sơn pháo. Quân ta sau mỗi đợt pháo, đứng khỏi giao thông hào… Vào nữa…vào nữa đi con…Có đứa nào già không mầy? Tao chỉ thấy toàn con nít, đánh tay không tao cũng có thể bóp cổ tụi nó được!! Trước mắt lính nhảy dù, một lớp, hai lớp, những “đứa trẻ” cứ tuần tự đi tới… Những lớp trẻ con chơi trò đánh nhau. Chơi trò chơi ác độc do ép buộc, tuyệt vọng và vô nghĩa lý.
… Không nương tay với nó… Napalm Hải!!
– Có ngay!!
Hai chiếc skyraider xuống thấp như chưa bao giờ thấp hơn, dưới đất thấy được chiếc mũ trắng của anh pilot; hình như anh muốn nhìn quân bạn, anh muốn chào thăm hỏi như sau mỗi lần thả “líp” dù chót, phi cơ thường hạ thấp cách mặt đất khoảng vài mươi thước để “chào bãi”. Ở đây cũng thế, hai chiếc máy bay rà sát xuống coi như gần đụng ngọn cây. Thả bom với cao độ như thế nầy chắc chắn không chệch một thước, bom nổ cháy xém đến tuyến phòng thủ của quân bạn, đám lính Bắc lăn lộn trong bãi lửa, chạy dạt ra xa… Nhưng ô kìa, hai chiếc skyraider không lên được nữa… Lòng can đảm và tình đồng đội đã giết các anh. Các anh đã xuống quá thấp để ném bom thật chính xác, để bung địch ra cho bạn. Các anh đã quên thân mình… Hai cánh đại bàng chúi xuống. Chúi xuống nữa và bốc cháy… Vĩnh biệt các anh! Đám cháy kết thúc trận đánh. thây người cháy đen nằm chật sườn đồi.
…chúng nó đánh, chết như thế để làm gì nhỉ!? Một ngày của hai mươi bốn giờ trên thép đỏ và máu nóng đi qua. Trời tối dần. Đêm xuống… Người lính dựa lưng vào giao thông hào liếm môiâ. Môi anh nóng như miếng vỏ cây bi nung khô… từ sáng đến giờ chưa được uống nước. Anh không còn sức để nghĩ thêm sau chữ “nước”.
Ngày 14 tháng Tư tiếp theo. Tính đến hai giờ chiều, C2 nhận hơn 2000 đạn “delay” và nổ chụp. toàn bộ tiểu đoàn 11 co mình trong giao thông hào dưới cơn mưa pháo không dứt đoạn.
… Nó nổ xa mình. Hải thều thào
– Ừ phía Tây, ngoài tuyến mình. Liệu tiếp lời, gật đầu đồng ý với Hải. Nhưng thật ra cả hai đều tự dối, pháo không rơi một điểm, một tuyến, pháo chụp toàn thể C2. Pháo tan nát. Pháo mênh mông. Tất cả những lời nói chỉ là cách tự đánh lừa, trấn tỉnh đồng đội và cũng chính mình.
– Hôm nay 14? Liệu hỏi bâng quơ, gợi chuyện trong tiếng nổ ầm ỉ sắc buốt. Mễ Hải không trả lời, đưa mắt dò hỏi. Còn lời nào trong cơn mưa lũ của sắt thép vang độâng nầy?!
– Hôm nay mười bốn, mai mười lăm, ngày đầy tháng con tôi…
Bốn con mắt lại mở ra. Mễ và Hải không hiểu ý Liệu. Không hể hiểu nổi… Vì Liệu đang nghĩ: Không lẽ ngày đầy tháng con bố lại chết?! “Chết”, chữ nhỏ ngắn nầy làm tê liệt hết phản ứng. Chết đến từ tiếng “bục” âm âm nơi xa, sâu trong rặng Big Mama… xong nổ “oành” đâu đây… Hình như ngay trên đỉnh đầu, trong lòng nón sắc đang vang động u u. Giữa khoảng cách kinh khiếp nầy chữ “chết“ hiện ra sáng rực như một giải quang báo, tiếp nổ bùng với toàn hể sức công phá. Tiếp tục… tiếp tục… Bốn cây 130 ly nơi xa nã đạn xuống Charlie nhịp nhàng từng ngắt khoảng ngắn.
Năm giờ chiều, trận mưa đại pháo chấm dứt để cối và sơn pháo 75 ly điểm giọt, bắn thẳng vào căn cứ.
– Xong rồi, tụi nó “chơi’ mình lại. Mễ đứng khỏi giao thông hào. Đêm nay là quyết định, mình và nó last fighting… Mễ báo cáo với bộ chỉ huy lữ đoàn,
– Bây giờ tụi nó hết “in coming (pháo kích)” và bắt đầu “ground attack”. Không phải Mễ sính dùng tiếng Mỹ, bởi thông thường, những danh từ kia phải được nguỵ hoá, nhưng bây giờ tìm đâu ra thì giờ để dò tìm từng từ trong bảng “Ám danh đàm thoại”.
– Nó đánh anh chưa? Viên lữ đoàn trưởng ở căn cứ Võ Định vào máy liên lạc trực tiếp với Mễ.
– Bắc đầu ở hướng cũ, tây và tây-nam, heavy attack
Tất cả đứng khỏi hầm, đạn súng colt lên nòng, bác sĩ Liệu lúi húi tìm mấy trái lựu đạn… Tôi hết đồ nghề bác sĩ rồi, chơi “đồ chơi” mới vậy, lần sau đi hành quân, tôi mang một khẩu đại liên 60!! Không ai còn sức hưởng ứng câu đùa của Liệu. Mễ nhăn mặt đau đớn, ngày hôm qua bị một quả pétard (thủ pháo, một loại lựu đạn biến chế) nổ quá gần, sức nổ ép cứng xương sườn vào vách hầm, để lại những vết máu bầm lấm chấm…
Trời tối dần, hơi núi đùn lên cao, đậm đặc thêm vì khói súng. Bắc quân đã chiếm được một phần giao thông hào, tuyến phòng thủ của đại đội 114…Trình Mê Linh, nó lấy của của tôi một “khúc ruột”. Cho, đại đội trưởng 114 báo cáo với Mễ
– Hải, nói với lữ đoàn nó vào tuyến mình rồi,
– Tao…tao mệt… nói không nổi, Liệu giúp hộ…
Bác sĩ Liệu, to người, béo mập, đang khom lưng lẫy súng colt lạch cạch như trong phim cao-bồi, chớp ống liên hợp máy truyền tin,
… Dễ thôi, để tôi… Tụi nó cắm được một phần vỏ lạc của tôi… Liệu ề à với giọng tỉnh táo đùa cợt
– Ông phải la lên mới được, đùa thế, ngoài ấy tưởng mình giỡn,
– Giỡn làm sao, không đùa như thế, chẳng nhẻ lại khóc lóc mếu máo sao… Ê… chạy đi đâu!! Liệu quay nòng súng colt về phía một anh lính đang nháo nhát chạy vào khu giao thông hào trung tâm
– Đi ra, ông bác sĩ không bắn mầy thì tao bắn cho mầy biết chết như thế nào? Mễ hét lớn với người lính… “biết chết như thế nào?!”. Mễ cũng buồn cười vì lời nói của mình… Chết rồi, thì biết chó thế nào nữa?! Ầm! Một trái bộc-pha nổ thật gần, bắn Mễ ngã ngữa người xuống. Mễ lồm cồm bò dậy, sờ lưng
…bác sĩ, chắc tao bị thương nặng!! Mễ thều thào.
Liệu xoa tay lên lưng Mễ, thân áo rách lỗ chổ…Đếch có gì cả, mảnh nhỏ như bụi, vì ông yếu sức nên ngất thế thôi, đây là hậu quả những cú đấm của thằng Hennessy, Couvoisier trước kia!!
…C… giờ nầy mà mầy còn trêu được!
– Stupid! Why you fire forty-five? Anh cố vấn trưởng, thiếu tá Duffy hét vào tai Liệu,
– I have only this… Mẹ mày, giờ nầy còn why với what….What cái cần câu ông ấy,
Một đợt, hai đợt… năm đợt, Bắc quân tràn vào, bị đẩy ra, lại tiếp tục tràn vào, chiếm được một đoạn giao thông hào, xong lấn dần từng đoạn,
– Không xong rồi, nó nhiều “tiền” quá! Hải lẩm bẫm.
-Nó vào chỗ thằng 4 (đại đội 4), đang qua chỗ thằng 2, mình hết đạn… Dọt, tôi đề nghị. Hải khôn ngoan, dứt khoát.
– Phải, mình “ra” đi, ở đây chịu không nổi, tụi nó đông gấp mấy mình. Liệu tiếp theo. Chữ “ra” ráo hoảnh trống không.
Mễ im lặng, gở nón sắc ra khỏi đầu,
…No hesitation, the best way… Sir? Duffy, Thiếu Tá Lực Lượng Đặc Biệt Mỹ, người quấn băng loang lổ máu khô, anh đã bị thương ba nơi trên thân, nhưng quyết ở lại với tiểu đoàn. Viên cố vấn, hiểu được phút giây nghiêm trọng đối với Mễ; lần đầu tiên anh gọi người cùng cấp bậc, một thiếu tá người Việt với danh xưng kính trọng, “sir”.
– Đồng ý, cho thằng 2 dẫn đầu, xong đến đại đội chỉ huy và thằng 4 bao chót. Hải, gọi máy qua thằng 3, bảo nó “nhổ neo” ra điểm hẹn nầy. Mễ chỉ một vùng tập trung ở hướng đông-bắc trên bản đồ. Bảo nó đi ngay, mang theo thương binh.
Lần đầu tiên trong đời tác chiến Mễ phải “chạy”, Mậu Thân, 1968, ở Huế, với đại đội chỉ còn ba mươi người, dẫu trùng trùng nguy khốn, Mễ vẫn điều quân phản công chiếm lại cổng thành Thượng Tứ. Nhưng, lần nầy, viễn ảnh toàn bộ tiểu đoàn bị tràn ngập, Mễ không còn cách nào khác hơn.
– Hướng đông-bắc, 800 ly giác, thằng 3 sẽ ra đó với mình. Hải chuyển lệnh cho Hùng “móm”, thành phần xung kích còn lại cuối cùng của đơn vị.
…OK, em nghe, em làm được cái một. Hùng “móm” vẫn ranh mảnh như không có chuyện quan trọng đang xẩy ra.
Đi xuống hoài, vực sâu hun hút, trời tối thẫm và cây rừng đan lưới. Chỉ tiếng lá khẽ động dưới bước chân cùng những thanh âm rên rỉ gầm ghìm trong cổ họng.Đoàn quân lẫn vào bóng đêm như muốn tan thành vật vô hình. Sau lưng họ trên đồi cao, C2 bốc lửa ngọn. Bom đã thả xuống khi người lính cuối cùng đại đội 1 ra khỏi vòng vây. Thương binh nặng và xác “anh Năm”, chuỗi cảnh tượng chập chờn chồng lên trí óc Mễ. Mệt, cảm giác rõ rệt nhất, ba ngày và đêm không ăn, ngủ, chỉ nhấp chút nước lã cầm hơi và cuối cùng, cuộc rút quân trong đêm… Đi nữa đi Hùng, đúng hướng rồi, cứ tiếp tục, phía mặt trời đó, bao giờ đến chỗ trống thì báo tôi. Nhớ liên lạc với thằng 3 ở phía trái, thấy mặt trời thì bảo. Mễ thì thào chuyển lệnh cho Hùng, đại đội trưởng đại đội 1.
Mặt trời chưa thấy, đêm còn dầy. Dầy từng khối lớn mông mênh và đặc cứng. Hình như đã đến đáy một “tan-véc”(khe nhỏ chạy giữa hai chân núi), chân bước lên lớp đất ẩm. Nước! Người lính đặt tay xuống “mặt nước”. Không có, chỉ một lớp lá ẩm mục và đất bùn, khe suối mùa, chưa có nước. Nhưng bàn tay có chút ẩm, người lính lè lưỡi liếm miếng nước vô hình đó.
Qua khỏi “tan-véc”, lên đỉnh đồi, thấy lại sau lưng ngọn lửa ở C2 bập bùng. Bạn bè ta còn đó, sống làm sao được hở trời ?Mễ kiệt lực hỏi,
– Hải, khi chót mình để “anh Năm” ở đâu?
– Ở giao thông hào, nơi hầm đại liên. Mễ và Hải chỉ nói với nhau được câu ngắn trong đêm. Nguy biến và rình rập vẫn còn rất nhiều. Sao trời chưa sáng nhỉ? Hùng, gắng đi mau hơn nữa, càng xa tụi nó càng tốt, giữ được súng và thương binh nhẹ như thế này cũng tạm coi như là “đẹp”. Đẹp, hình như Mễ cười chế riễu mình trong bóng tối. Thôi, đừng nghĩ gì nữa, cởi nón sắt cầm tay, bốn ngày đội hoài khối sắt trên đầu, khi cởi ra còn nguyên ảo giác của âm vang tiếng nổ lộng trong lòng chiếc nón kim khí. Mệt quá! Sống rồi! Hùng “móm” kêu một tiếng sảng khoái, bốc máy báo cáo cho Mễ, nhanh như chớp:
– Tôi thấy “nó” rồi phía tay trái tôi.
Mễ nhìn lên tàng cây, trời tím nhạt chưa có ráng nắng, nhưng ngày đã bắt đầu, trãng trống vùng tập trung đã gần đến. Thoát rồi chăng? Mễ tự tin nhưng cũng rất đầy kinh nghiệm: Nó phục mình ở đây nữa thì tan hàng!! Ý nghĩ kinh khiếp như một mũi dao cực bén cắm ngay đỉnh đầu.Mễ không dám nghĩ tiếp…
– Kêu thằng “Đỗ Phủ” đến tao Hải,
– Duffy come here… Viên thiếu tá cố vấn đang đi sau Hải và Liệu nghe kêu, mỉm cười bước lại. Ba lần bị thương, bốn ngày chiến đấu không ăn, ngủ, Duffy vẫn “cứng” như một khối thép, đầu đội mũ đi rừng, khẩu M18 đặt ngang hông, tự tin và bình thản như một ý chí không lay chuyển. Tiên sư thằng cha này “dur” cả hồn lẫn xác, number one! Liệu nói với Hải khi Duffy qua mặt để lên gặp Mễ. Anh chàng hiểu ý, mỉm cười: Hello Doc!!Trong phút chốc sự việc khủng khiếp của bốn ngày căng cứng như vụt tan đi. Nắng cũng vừa đến, nắng đầu tiên của ngày, lòng người lính duỗi ra theo độ ấm của vệt ánh sáng. Sống được rồi mừng biết bao nhiêu!
– Đây nhé Duffy, vùng tập trung của mình, 113 bên trái, phe ta bên phải cùng “move” lên. Mình làm một cái LZ (bãi đáp), xong “mày” gọi “Tây” đem máy bay tới móc mình ra, OK?
– OK Do!! “Đỗ Phủ” gật đầu lia lịa… Good…very good, you’re the best commander! “Đỗ Phủ” đưa ngón cái lên ca tụng Mễ.
– Tao hay hơn nhiều, cú này bị “kẹt”, mày khen làm tao ngượng. Duffy không biết Mễ nói gì, cười rộng mồm, Mễ cười theo.
Rất cẩn thận, Mễ cho Hùng “móm” và Hùng “mập” cùng lên trãng trước. Hai cậu Hùng “bắt tay” nhau, làm thành vòng phòng thủ, phần còn lại của tiểu đoàn với đám thương binh “bò” lên tiếp… Xong rồi, khá an toàn, giữ được cái trãng là tốt, có đường thoát rồi.Duffy,có tàu bay chưa?
– OK! Ten minutes, sir!
Nhưng không còn “ten minutes” nào cho Tiểu Đoàn 11 nữa! Một trận mưa rào, mưa đầu mùa… Mưa bởi một rừng cối và sơn pháo từ những cao độ phía đông “tưới” xuống. Bắc quân tấn công bộ từ đông-nam lên. Không hầm hố, không đạn, mệt mỏi, đói khát của bốn ngày đã đến đỉnh cao nhất chịu đựng. Tiểu đoàn 11 Nhẩy Dù lăn lộn, cựa quậy hấp hối trên trãng cỏ tranh trơ trụi dưới lưới chụp đan dầy bởi lửa, khói và mảnh đạn thép… Hàng sống, chống chết! Hàng sống, chống chết! Bắc quân ào ào như nước lũ tràn đi qua con đê bị vỡ. Tiểu đoàn 11 tựa tình cảnh con báo kiệt lực bị vây khốn bởi một rừng ong cực độc! Bây giờ là 8 giờ sáng của ngày 15-4-1972, Tiểu Đoàn Nhẩy Dù mới tinh của Anh Năm, tiểu đoàn đã khoan thủng bức tường thép của cộng quân ở Damber; tiểu đoàn “nướng sống” hai tiểu đoàn của sư đoàn Điện Biên trên cứ điểm C- Thua. Thua đau đớn và thua vô lý!! Đâu còn có thế để dựa vào. Đâu còn lực để đương cự?!
Muốn đánh nhau phải có “thế” và “lực”.Thế đã mất ngay từ ngày đầu tiên khi bước xuống cao điểm với một nhiệm vụ “phòng thủ” quá mỏng manh thụ động, và lực nào còn nổi sau bốn ngày hay 156 giờ tác chiến căng thẳng trên các cao điểm nguy biến và thiếu thốn toàn diện. Hình như mọi người đều không ăn, uống kể từ ngày 12. Uống, nếu có chỉ là chữ gọi động tác “nhúng” chiếc lưỡi vào nắp bi đông ẩm ướt. Tan hàng!! Những người sống sót còn lại tan biến vào rừng cỏ tranh.
Người ở lại với CHARLIE,
Charlie tan, trên đất đá điêu tàn chỉ còn vươn vãi khói xám và thây người. Trong đó có Anh- Người đàn anh kính mến đã cùng tôi chia xẻ quãng đời dài. Những dòng chữ viết để nhớ Anh – Nguyễn Đình Bảo.
Ngày 22 tháng 5, ông Nixon đi Nga, không ít thì nhiều chuyến đi ấy đã có tác dụng với cuộc đại tấn công của Bắc quân vào ba quân khu.Rất nhiều giả thuyết về cuộc kịch chiến này được đem bàn tán, nhưng tất cả đều đồng ý: Chuyến đi có ảnh hưởng đến trận đánh và đây cũng là trận cuối mùa, một mùa đại loạn đẫm ướt máu đỏ chảy trên những thân thể gọi là “người Việt Nam”. Ngày 22 tháng 5 ông Nixon khởi đầu chuyến đi, ngày 12 tháng 4 anh chết. Sao anh không gắng sống? Anh chỉ cần gắng thêm một tháng rưởi nữa, nếu chưa chấm dứt, chiến tranh có thể mang những hình thức khác, cuộc đại tấn công này sẽ được đình chỉ lại, hoặc chuyển qua vùng khác… Những vùng dễ đánh để anh có thể tung hoành như anh đã làm nhiều lần trong tháng năm chinh chiến dằng dặt. Và biết đâu chiến tranh sẽ biến thái lại nên thành chiến tranh du kích, anh là tiểu đoàn trưởng đơn vị Nhẩy Dù, làm sao có thể chết được trong những “chiến tranh an toàn” như thế! Tại sao anh không gắng sống?Tại sao thế hở trời?
Vẫn biết rằng đi chiến trận là mất mát. Không chết trước thì chết sau… Trước anh cả trăm ngàn người đã nằm xuống. Anh đã cùng tôi chứng kiến bao nhiêu lần “nghỉ phép” của ông Huệ, Thừa, Hổ… Anh gật gù, “Thôi tại số, mình gắng chịu vậy…”. Anh gắng chịu đã quen. Anh đã thoát nhiều lần. Từ trung đội trưởng tiểu đoàn 8, anh qua tiểu đoàn 3; làm đại đội trưởng tiểu đoàn 1 và tiếp theo tiểu đoàn 9. Anh đã dự bao nhiêu trận từ thuở ông Đống mới làm tiểu đoàn trưởng giờ này là Trung Tướng Tư Lệnh; anh đánh trận từ lúc chiến tranh còn như là trò chơi, ông Tư “Hòa Hảo” đi thuyền vào họp với Việt Cộng, đám giặc cỏ chỉ vài cây súng ngựa trời hay 2 khẩu Mat 36 để thay đại liên. Từ những trận đánh nhỏ đó, anh được “trưởng thành trong khói lửa”, thành ngữ nói ra nghe có vẻ “cải lương” nhưng quả thật không còn chữ nghĩa nào để dùng chính xác hơn. Anh đánh trận Ấp Bắc, giải vây đồn Bổ Túc vào những năm 60, với những trận đánh mở đầu “chiến tranh giải phóng”. Chiến tranh lớn dần như một thứ quái thai được mùa, như tế bào ung thư ngon trớn, chiến tranh lớn như sinh vật quái dị ở hành tinh khác đến đây nẩy nở theo cùng chiều rộng của không gian. Khói lửa từ đấy dậy lên như giông bão. Trong “môi trường” hào hùng độc địa nầy – Anh trưởng thành.
Anh già hơn không phải do số tuổi, nhưng chiến trận, hành quân như nối mối thời gian để nhắc nhở mỗi ngày, mỗi tháng, năm anh qua… Năm 1965 giải vây Đức Cơ, Pleiku; năm 1966 bị phục kích ở Cheo Reo, cũng năm này “giải phóng” Bồng Sơn, Tam Quan.67 “lội” nát người suốt vùng Thừa Thiên, Quảng Trị, từ cái làng nhỏ ở bên kia sông Hương nhìn ra phá Tam Giang, đến cuộc tấn công vào khu phi quân sự đổ từ đèo Ba Giốc xuống. Hết 67 đến 68 anh đem quân về vùng đồng Ông Cộ, Hốc Môn, Bà Điểm; Việt cộng tấn công đợt Hai, tiểu đoàn 9 do anh làm “ông Phó” có cơ hội “rửa mặt” nhân vụ tịch thu cả hầm vũ khí chở đầy một chiếc F.O.M.Chiến thuật thay đổi, từ ven đô anh di chuyển về Tây Ninh để “cày” từ Tống Lệ Chân qua Katum, Trại Bí… Suốt một vùng biên giới dài theo con sông Vàm Cỏ anh đi như không mệt… Anh đi như định mệnh đốn mạt bắt anh dính liền vào mỗi thước đất phải bước qua.
Nhưng chưa bao giờ nghe anh than tiếng nhỏ. Sự chịu đựng và vẻ bình thản là tính chất căn bản của anh.- Mầy biết nhá, tao di cư vào, mỗi ngày phải đạp xe mờ người chạy từ trại định cư đến Phú Thọ để lấy khẩu phần bánh mì và năm đồng bạc. Mầy biết, tao tập thể thao to chừng này, thằng Tây bán thịt gần trăm ký bị tao ném một cú đòn vai, nằm luôn.
Anh là con nhà võ, thắt đai đen nhu đạo thời kỳ 56, 57, tính chất võ chân truyền này là nền tảng tinh thần của anh. Đó là một tinh thần rất thường ở bề mặt nhưng phần trong rất “sáng”; một thứ “sáng” mã thượng, độ lượng và chân thật – Chân thật và thẳng thắn tuyệt đối. Anh sống ở đời giản dị và thẳng thắn như kẻ có võ công thượng thừa lại thêm tâm tư nhân ái. Anh không một lần than thở dù lúc làm “ông Phó” ở tiểu đoàn 9 anh bị “kẹt”. Anh bị nạn. Anh bị “ép”. Bị “nát như cái mền”. Nhưng tất cả đã không làđáng kể… Hãy nghe anh nói:
– Mày thấy, tao là lính tác chiến, rồi cũng có ngày tao phải chỉ huy, nhỡ bị kẹt là cái hạn của mình, sau đó mình “bốc”. Anh cong một bàn tay lên làm cú “bốc” kèm theo tiếng chửi thề “mẹ”. Sự bực dọc của anh chỉ được diễn tả chừng ấy. Không hận đời và tin ở mình.Trong đời sống bình thường, anh sống với thái độ khắc kỷ thật cao thượng.
Anh Năm kính yêu,
Anh chết ngày 12 tháng Tư, đến giờ này, sau ba ngày xác anh vẫn chưa móc ra được. Ngày 14 ông Bạch Long cho hai trực thăng và một Skyraider vào, cố làm một bãi đáp để đưa anh ra, cả ba chiếc đều bị “shotdown”. Người lính về nói với gia đình như thế, cháu Tường bẩy tuổi đã lớn, nhưng cũng chưa hiểu nổi phận bi thảm của lần mất bố, kể lại câu chuyện… Kể lại phút anh nằm xuống với lồng ngực bị vỡ. Không biết chi tiết đó có đúng thế không, nhưng cháu cứ lập lại với mọi người xem như như một nét “xuất sắc” của anh. Tội nghiệp cháu quá anh ơi, nó đang lún xuống trong một bất hạnh với quả tim hồng và nụ cười sáng, nó nắm tấm ảnh lúc anh còn ở trường, thắt đai đen bên cạnh ông Hiếu… “Bố cháu là những người “xuất sắc”!Ôi anh đã sống, chết bới những hoàn cảnh cực độ. Những phiền não cùng cực và vinh quang bốc lửa. Anh di chuyển giữa những cực điểm với tâm tư bình yên, lặng lẽ, chiếc lưng gù xuống chịu đựng. Giờ này anh mới “thật sự nghỉ ngơi”, một cách nghỉ ngơi cay đắng và khắc nghiệt. Cuộc đời đã “ta-pi” anh trước khi anh kịp đứng lên rũ áo, thối tiền.Anh thua trong sáng suốt và nín lặng cũng như ván bài ở lăng ông Cẩn ngoài Huế trong tối mùa đông năm xưa… “Tao biết mày tháu, nhưng cũng cho mày ăn.” Anh úp bài cho tôi vồ tiền. Anh Năm ơi, anh bị cuộc đời “tháu” cú này nữa. Cúù tháu độc địa và hết thuốc chữa.
Anh chết thật rồi!! Tin cuối cùng rõ ràng về anh do Hải “khều” nói lại không thể sai vào đâu nữa. Hầm anh hứng đúng ba trái hỏa tiễn, mảnh ghim vào tim và anh chết ngay phút đầu tiên, khi “tụi nó” bắt đầu đánh biển người vào Charlie.Hải “gói” anh vào ba lớp poncho, nhưng máy bay không xuống được, Mê Linh lại bị thương. Chúng nó phải “rút lui chiến thuật” vì pháo và hỏa tiễn rơi đến cả ngàn trái vào căn cứ, đặc công cảm tử lại phá được hàng rào ngoài.Giữ thế nào được nữa, Mễ lẫn Hải đều bị thương, chúng cố điều động phần sống sót còn lại để mở đường máu, bảo toàn đơn vị.Phải bỏ anh lại, chắc chắn Mễ đau đớn lắm, vì hắn và tôi đều nặng ân tình với anh biết mấy; từ thuở ở tiểu đoàn 9, anh “che” cho hắn bao nhiêu đòn; Mễ là đứa rất có tình, bỏ anh lại nơi chốn núi rừng, vùi dưới đống đất cát và lửa đỏ chắc là vết thương dài đời không hết, tâm hồn khó được phần quên lãng nguôi ngoai.
Mấy hôm nay tôi ngủ không được, mắt nhắm lại thấy cảnh anh đang chết, những giờ khắc cuối cùng, anh chống ngược mắt xuôi tay và đi khuất… Tưởng đến tiếng nói, nụ cười và toàn thể không khí của bữa cơm chót trong vườn Tao Đàn, đâu có ngờ đây là bữa cơm vĩnh biệt?! Chưa bao giờ anh vui vẻ và tự tin cho bằng thời gian đó: “Số tao hết cực rồi, hạn 33 tuổi đi qua… Tao làm lớn cho mày nhờ.”Tôi cũng nghĩ như thế, vì cái “võ nghiệp” cứ phú quý thụt lùi, thôi thì chỉ mong ngày anh “làm ông tướng!!”Ngày đó sẽ không bao giờ có nữa, cũng không còn những ngày vui như buổi chiều cuối năm mờ hơi sương, anh và tôi đứng ở sườn đồi nhìn xuống sông Hương bốc khói lam, nồng hớp rượu “số Bảy” không đá, nghe từng âm ba rộn rã của men rượu tan trong máu và cất tiếng cười bất chợt… Tiếng cười hào sảng thống khoái vang động không khí u trầm bí ẩnchiều cuối năm dầy sương lạnh.
Tôi cũng tin vào số mạng, biết rằng anh có tướng lộ xỉ không được tốt, nhưng bù lại tai anh dày, có thùy châu, bước đi vững chãi… Nên nghĩ rằng anh sẽ đi qua, anh sẽ vượt qua tất cả hoạn nạn, vì anh đã hoạn nạn dư thừa, hoạn nạn ngập mặt. Từ tuổi thiếu niên anh đã gian nan phấn đấu, phấn đấu để thành người và dựng đời, anh đối chọi với khó khăn như con trâu miệt mài trên đồng ruộng. Năm nay anh 35 hay 36 tuổi, tôi không được rõ, nhưng hình như anh chưa có ngày nghỉ ngơi toàn nghĩa. Cuối đời, vừa le lói chút ánh sáng bình yên và hạnh phúc, anh hân hoan sửa soạn tương lại, rộn rã như cô dâu tốt số. Đời đã quật anh cú chót và anh đành thua. Bao nhiêu năm tranh sống để lúc chết quả tim đang hả miệng cười.
Tiểu đoàn rút khỏi Charlie và phi cơ oanh kích căn cứ. Ôi sao tàn khốc thế hở trời?! Anh đã sống cay nghiệt sao cái chết lại quá bi thương. Ba lớp poncho gói thân anh làm sao che chở nổi hình hài vô tri dưới cơn mưa bom, bão thép. Phép màu nào giữ nổi xác thân anh? Vĩnh biệt, Anh Năm kính yêu…Nơi chốn hư không nào…Mong linh hồn anh được lần yên nghỉ.
Viết lại,
12, Tháng Tư, 1972 – 12 tháng Tư, 1998.
Lần “thật chết như luôn sống lại”,
Dù bao lâu,
Cách bao xa.
° ° °
Tạm kết,
giữa Mùa Hè,
Charlie mất, Delta ở phía nam do tiểu đoàn 7 Dù phải rút đi vì không chịu nổi cuộc cường tập kéo dài qua ngày thứ tư; đai Nhẩy Dù tan vỡ dần như chuỗi dây xích nút đầu bị phá.Chỉ còn lại hai cứ điểm chót là Bravo và Métro ở trái, phải Võ Định. Nhưng Võ Định không thể là một điểm chiến thuật vững chắc khi cạnh sườn đã bị nhổ. Ngày 24, tháng Tư, phi trường Phượng Hoàng (tây Tân Cảnh), Tân Cảnh và hai căn cứ Diên Bình, Zuzu ở phía nam lần lượt tan rã. Võ Định không còn là một cứ điểm có khả năng kháng cự và bộ chỉ huy lữ đoàn 2 đưa tiểu đoàn 7 dần dần mở đường xuôi nam hướng Kontum. Kontum dưới ảnh hưởng của việc mất Tân Cảnh biến thành cảnh địa ngục với những trận đánh sát nách thành phố, như ở Đại chủng viện, khu phi trường. Những đơn vị đặc công Bắc quân với ám hiệu riêng: Tay áo cuốn lên quá cùi chỏ, quần xắn quá đùi, mảnh vải trắng buộc quanh vai, đã đột nhập vào những nơi trọng yếu của thị xã.Công trường 2 cộng sản sau khi dưỡng quân, vượt sông Pô-kơđánh vào sườn của lữ đoàn 2 và các chiến đoàn Biệt Động Quân. Hết, lữ đoàn 2 Dù chỉ còn mỗi đường, các tiểu đoàn tự nương bảo vệ lẫn nhau rút về Pleiku. Lữ đoàn lại hết nhiệm vụ Vùng II để ra Vùng I. Đường về Pleiku phải qua đèo Chu Pao đỉnh núi 953 trông xuống sông Dak Yeul với những cao độ thẳng đứng. Chỉ còn mỗi đường này là sinh lộ, nhưng sinh lộ phải qua điểm chết: Đèo Chu Pao. Hai đại đội của tiểu đoàn 7 Dù do Nguyễn Lô (Tiểu đoàn phó) chỉ huy mở một đường đi qua điểm chết với chấp nhận tỷ lệ thiệt hại 50% quân số. Và cũng như bao lần của mười năm chiến trận, Lô mở được cửa ngõ về Pleiku, dân và quân theo đó rút đi.Rút đi khỏi địa ngục, vì Kontum không còn là thành phố sống, người dân thất thần dáo dác giành dựt nhau kiếm một chỗ trực thăng ở sân vận động… Giữa bụi mù và tiếng nổ đại pháo, cảnh người sống cuồng loạn đổ xô vào lòng trực thăng bất chấp tiếng súng thị oai của quân cảnh. Họ chen nhau như nước tràn qua đê vỡ để đến gần, đến gần hơn chút nữa ngưỡng cửa trực thăng, và lúc tay vừa chạm được khối sắt xám phủ bụi đỏ, chân cong lên sắp bước vào lòng của “hy vọng sự sống” thì một cơn sóng khác, đạp họ ngã xuống, kéùo hút ra xa…
Kontum cháy ngọn lửa hồng lên cao hẳn khỏi rừng xanh. Chỉ còn mỗi hình ảnh bình yên nơi thành phố đang bùng lửa này là hàng phượng đỏ hoa gần câu lạc bộ ngã cành xuống mặt nước sông Dakpla mờ sương khói. Nhưng phượng cũng có màu đỏ – Màu của máu.
Kỳ trước: Những cuộc tấn công bằng chiến thuật tiền pháo hậu xung đã diễn ra khốc liệt vào căn cứ Pleime, một áp lực mà Tư lịnh Vùng hứa là chỉ cần giữ được 3 ngày thôi coi như cấp chỉ huy mặt trận là Thiếu tá Vương Mộng Long đã hoàn tất nhiệm vụ và có quyền rút bỏ vị trí.
Kỳ 4
Cái thời vàng son, khi Ðồng Minh còn hiện diện, xăng nhớt như nước, bom đạn như mưa đã qua rồi! Cái thời nằm xoài trên bãi, miệng rít xì gà chờ B 52 trải thảm rồi bay vào vùng lượm súng đã qua rồi! Bây giờ là lúc đánh nhau với cung cách “thắt lưng buộc bụng”. Bây giờ cũng là lúc, muốn sinh tồn, người cầm quân phải vận dụng đầu óc nhiều hơn, dùng mưu trí nhiều hơn. Chỉ ơ hờ một chút là mất mạng, hay biến thành tù binh. Nhận lệnh xong, rời quân đoàn, tôi phải bay thẳng một lèo về Pleime, không được ghé bất cứ nơi nào.
Ngày 23 tháng 7 tôi chuẩn bị 6 toán, mỗi toán 3 người, dưới quyền Thượng sĩ Năng đào hai đường hào dùng để rút quân. Một đường xuất phát từ kho đạn pháo binh, đường thứ nhì bắt đầu từ bể nước dự trữ. Hai đường hào này gặp nhau nơi cổng Nam. Trường hợp bị tràn ngập chúng tôi có thể vừa đánh vừa lui theo hai đoạn đường giao thông hào này. Ngày 24 tháng 7 tôi dẫn theo Thiếu úy Trần Văn Phước cùng một toán viễn thám leo lên đỉnh Chư Gô để cất giấu hai chục khẩu phần lương khô, hai thùng nước uống và một máy truyền tin PRC 25 với 4 cục điện trì, dự trù nếu phải di tản còn có một điểm tiếp liệu. Trưa hôm đó Hạ sĩ Nguyễn Ba và Binh nhì Lê Văn Bích đang nóng lòng trông đợi tôi về ăn cơm. Thấy tôi bước vào cổng trại, đầu tóc, mặt mũi đẫm mồ hôi, chú Ba vội chạy tới vừa giơ tay gỡ cái dây ba chạc khỏi vai tôi, vừa nói,
– Ông thầy đi đâu mà không cho tụi tôi biết, tụi tôi lo quá!
Binh nhì Bích cũng đon đả,
-Thiếu tá ăn cơm nhé?
Hạ sĩ Ba vừa châm cho tôi một điếu Lucky vừa bùi ngùi,
– Sáng mai em phải vào vùng thay cho toán của thằng Yang rồi, không biết em có còn sống để về gặp ông thầy hay không?
Kể từ cuối năm 1972, dưới quyền tôi, chú Ba đã là lính nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) của Phòng 2. Tới khi tôi vào Pleime thì chú Ba tình nguyện đem toán đi theo tôi. Trong lúc tôi ngồi ăn cơm, chú Ba và chú Bích cứ lăng xăng xung quanh, chờ tôi sai vặt. Nhìn bộ dạng của hai thằng em, tôi nghiệm ra rằng nhất cử, nhất động của mình đều có ảnh hưởng tâm lý tới mọi người dưới quyền. Bao lâu nay, tôi đã là niềm tin, là chỗ dựa của họ. Tôi chỉ đi vắng có vài giờ mà thuộc cấp đã lo lắng như vậy, nếu như tôi không có mặt, chắc họ sẽ còn lo lắng gấp nhiều lần hơn.
o O o
Pleime bão lửa ngợp trời…
Ngày 25 tháng 7 chúng tôi được lệnh chuẩn bị mở đường Tỉnh lộ 6C để nhận tiếp tế thường kỳ. Trong đêm 26 tháng 7 tôi cho hai Ðại đội 2/82 và 3/82 di chuyển tới vị trí tập kết, thiết lập vị trí phòng ngự để đối phó với một trận bôn tập có thể xảy ra. Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt là cánh quân xa nhứt, chỉ cách ranh giới của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân chừng hơn một cây số. Kế đó là Ðại đội 2/82 của Trung úy Nguyễn Hữu Anh chốt chặn cách Pleime 4 cây số về hướng chính Bắc. Ðại đội 4/82 giữ nhiệm vụ nghênh cản vùng Tây Bắc nên hiện thời trong đồn còn lại Ðại đội chỉ huy cùng với Ðại đội 1/82 trừ (-) vì thiếu hai trung đội đóng tiền đồn cố định trên Chư Hô và trên cao điểm 509. Sáng 27 tháng 7 năm 1974, Căn cứ Pleime hoàn toàn yên tĩnh, nhưng toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba và Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy đều báo cơ giới địch bắt đầu chuyển quân bằng xe từ Chư Prong nhắm về hướng Ðông. Ðại đội nghênh cản 4/82 của Thiếu úy Thủy không dám ra mặt đương cự với đoàn xe chở quân của địch chỉ vì hỏa lực rất mạnh của bốn khẩu 12.7 ly đặt trên hai chiếc xe be đi đầu khạc đạn như mưa trên từng thước đất dọc đường đi. Ðịch đã dùng hỏa lực, thay vì nhân lực để mở đường. Ðại đội 4/82 chỉ còn nước nằm bẹp sát đất tránh đạn, rồi rút xuống suối ẩn núp chờ địch đi qua.
Tới khi thấy bộ binh địch từng đoàn chạy bộ theo con đường xe be tiến lên thì Ðại đội 4/82 đồng loạt nổ súng. Quân của Ðại đội 4/82 đã chặn đánh địch trên hai vị trí định sẵn trong khoảng thời gian chừng một giờ thì phải rút, vì sợ viện binh địch bao vây, sẽ mất đường về. Còn toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba sau khi bắn cháy được một xe chở đạn của địch thì bị lộ, bèn cắm đầu chạy. Tối hôm đó toán này mới về tới cổng Nam của trại. Ðúng 9 giờ sáng ngày 27 tháng 7 địch mở màn một cơn mưa pháo dọc hai bên Tỉnh lộ 6C từ chân núi lửa Chư Mréa tới cổng trại Pleime.
Pháo binh Việt-Cộng bắn như trống chầu. Ước tính trong thời gian chừng nửa giờ đồng hồ, địch đã bắn phủ vùng 10 cây số của tỉnh lộ với hàng ngàn viên đạn đủ loại gồm đại bác 130 ly, đại bác 105 ly, đại bác 122 nòng dài, cối 120 ly, cối 82 ly. Tỉnh lộ 6C chỉ còn là một con rồng bụi đỏ khổng lồ uốn khúc, vừa dài, vừa cao ngút tới mây. Sau khi tận dụng pháo binh, bộ binh địch bắt đầu reo hò xung phong chiếm lĩnh mặt Tỉnh lộ 6C vùng hướng Bắc ngã ba làng Plei Xome. Ðiều đáng ngạc nhiên là trận đánh đã diễn ra trước khi đoàn quân xa tiếp tế cho Pleime và Căn cứ 711 vào vùng. Trên hệ thống vô tuyến của liên đoàn, tôi nghe Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân báo cáo rằng hai đại đội dưới quyền ông đang bị một lực lượng rất đông của Việt-Cộng chặn đánh. Cánh quân cực Nam của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị mất liên lạc, đại đội đi tiên phong này do Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy. Quân của ông Ngọc nằm cách tiền quân của tiểu đoàn tôi chừng hơn một cây số.
Pleime ngày 27 tháng 7 năm 1974.
Hai đại đội của Tiểu Ðoàn 82 đều thủ trong bìa rừng hướng Ðông của tỉnh lộ, dưới hố cá nhân và giao thông hào, nên không bị pháo binh địch gây tổn hại. Ði mở đường, tôi không cho quân trải dài theo lộ như nhiều đơn vị khác. Vì với nhiều năm kinh nghiệm, tôi thấy quân đội ta khi giữ đường, thường có thói quen cứ cách nhau vài chục thước lại cho một anh lính đứng gác; người đi trên xe nhìn thấy lính gác đường thì cảm thấy yên tâm. Nhưng chỉ cần một trung đội Việt-Cộng tập trung hỏa lực, vừa bắn vừa tiến, những người lính đứng đơn độc sẽ bị tiêu diệt ngay. Cứ như thế, một đại đội Việt-Cộng có thể đánh tan một tiểu đoàn khai lộ của ta không khó khăn.
Khi hành quân khai lộ, tôi chỉ bố quân một bên đường, phía đường bên kia được hai khinh binh đi rà soát liên tục. Một người đi trong rừng, một người đi ngoài trống, nếu phát hiện địch thì hai khinh binh này nổ súng báo động rồi thoát chạy ngay. Sáng nay pháo binh địch bất ngờ tới tấp nổ trùm mặt lộ, khiến cho bốn anh lính rà đường của hai Ðại đội 2/82 và 3/82 phải chạy bán sống, bán chết về trại. Giờ phút đó, trên đỉnh đồi 407, cách Pleime 4 cây số, tôi đang ngồi với Trung úy Nguyễn Hữu Anh đại đội trưởng 2/82.
Vừa nghe tiếng “Ùm!” từ đằng xa, tôi vội đứng dậy, gọi cho Trung úy Chủ báo cho quân trú phòng trong trại đóng chặt cổng rào. Trong lúc lộn xộn, chân tôi đạp nhằm cẳng một anh lính truyền tin của Ðại đội 2/82, anh này vừa xoa chân vừa chu chéo, “Ui cha ui! Thiếu tá đạp gãy chân em rồi!”
Nhìn bộ dạng anh lính, tôi phải phì cười,
– Không xuống hố, cứ nằm đó mà la đi! Việt-Cộng nó pháo đứt đầu bây giờ!
Nghe tôi hù, thằng em sợ quá vội ôm chiếc ba lô có cái máy PRC 25 nhảy xuống hố. Về phần trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thì trận đánh đã diễn ra hoàn toàn như tôi đã dự đoán. Vì bị Ðại đội 4/82 cầm chân nên cánh quân bộ binh này của Việt-Cộng đã tới mục tiêu rất trễ. Ðịch đang ngơ ngác trên mặt lộ trống trơn thì quân ta bắt đầu nổ súng. Hầu như toàn bộ đơn vị tiền phong Việt-Cộng hiện diện trên mặt đường đều bị tiêu diệt. Tuy vậy, trong lúc giao tranh, Ðại đội 3/82 cũng đã có một người chết và ba bị thương. Thấy địch càng lúc càng đông, Thiếu úy Việt đành cho quân bám đất và xin tôi cứu viện. Cùng lúc đó, từ Căn cứ Hỏa lực 711, Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ra lệnh cho tôi phải bằng mọi giá tiến lên cứu Thiếu tá Ngọc. Tuy Ðại đội 3/82 đang ở cách Thiếu tá Ngọc một đoạn đường hơn một cây số, nhưng tôi không thể cho lệnh Ðại đội 3/82 bỏ hầm hố để tiếp tay cho quân bạn, vì nếu địch chiếm được khu hầm hào đó thì Ðại đội 3/82 không còn đường lui, mà quân từ hướng Nam tiến lên cũng bị chặn đứng. Tôi chỉ còn cách ra lệnh cho phần còn lại của Ðại đội 1/82 ra trám chỗ cho Ðại đội 2/82 giữ lưng cho tôi và Ðại đội 2/82 tiến lên.
Như thế là tôi đã đem gần hết quân trú phòng ra trận, trong đồn chỉ còn đại đội chỉ huy công vụ cùng với trung đội pháo binh và hai khẩu đội súng cối 106 ly, 81 ly. Khi tôi và Ðại đội 2/82 bắt tay được Ðại đội 3/82 cũng là lúc quân tăng viện của địch từ vạt rừng hướng Tây ào ào tiến sang. Chúng dàn thành đội hình hàng ngang, xung phong từng đợt, mỗi đợt cách nhau chừng mười phút. Bốn tháng trước, tôi đã biết cách đánh này là thói quen của Trung Ðoàn 48/320A. Chiến binh của E 48/320A có nhiều người thuộc sắc tộc Tày, Nùng rất gan dạ.
Ðơn vị này có sở trường là khi tấn công thì họ cứ miệng thét “Xung phong! Xung Phong!” từng đợt ào lên mục tiêu, bắn giết rồi vượt qua luôn, hết đợt này tới đợt khác, không ngừng lại kiểm soát trận địa hay thu nhặt chiến lợi phẩm. Kỳ này chúng tôi có lợi thế là ẩn trong rừng hướng Ðông của Tỉnh lộ. Ðịch phải xung phong qua hai vạt rừng đã khai quang và một mặt lộ trống trải rồi mới tới tuyến phòng ngự của Biệt Ðộng Quân. Vì vậy địch tiến lên đợt nào, chết hết đợt ấy. Cũng may mắn là vào lúc hai khẩu M60 của Ðại Ðội 3/82 vừa bắn hết đạn thì tiếng súng của địch cũng lơi đi. Hình như địch rút về hướng Bắc, khu ranh giới của hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân.
Sau khi Miền Nam thất thủ, tôi đã có dịp gặp mặt người chỉ huy Trung Ðoàn 48/320A này, và biết thêm rằng ông ta cũng là người bị tôi phục kích giết hụt hồi tháng 6 năm 1974 nơi ngã ba làng Plei Xome. Ông ta thổ lộ rằng trận Pleime 1974 đơn vị dưới quyền ông đã bị thiệt hại rất nặng, phải rút về Ia Drang tái bổ sung và trang bị. Ðịch rút đi, tôi dẫn quân tiến lên còn cách ngã ba làng Plei Xome chưa đầy nửa cây số thì tạm ngừng để hỏi Ðại tá Từ Vấn cánh quân hướng Nam của Tiểu Ðoàn 81 nằm chỗ nào, Ðại tá Vấn trả lời không biết. Tôi lại vừa đánh vừa tiến. Bên kia ngã ba là vùng trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân. Lại có tiếng xe chuyển quân của địch từ hướng Tây. Sau đó, quân tăng viện của Việt-Cộng ào ào tiến ra đường theo con lộ mà chúng đã phát quang từ hơn một năm về trước. Ngay lập tức cánh quân này đã bị chúng tôi đánh tan. Khi tôi tiến tới vị trí cách làng Plei Xome chừng hai trăm mét thì chạm một bức tường hỏa lực phòng không của địch. Có ít nhất ba khẩu đại liên 12.7 ly bắn liên tục để cản đoàn quân của tôi. Tôi phải cho quân dạt xuống triền Ðông của con lộ để tránh đạn. Ðại đội 3/82 có thêm bốn người chết và năm, sáu người khác bị thương. Toán viễn thám Mom Sol cận vệ của tôi có một người bị thương, một cái máy PRC 25 bị bắn bể. Trên tần số liên đoàn, Ðại tá Vấn liên tục gọi Thiếu tá Lân nhưng không có tiếng trả lời. Trong lúc đó trên trời có một trinh sát cơ O2 đang bao vùng.
Tôi nói với Ðại tá Vấn,
– Mụ “Ðầm già” bay trên kia có phải của Hai Lẻ Chín không? Nếu niên trưởng không dùng thì giao nó cho tôi!
– Ừ! Lấy đi!
(Ðầm già = Tên xưa của quan sát cơ. Hai Lẻ Chín = Ðại tá Vấn)
Tôi vào tần số không lục,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!
Người trên tàu đáp lại,
– Bắc Ðẩu nghe! Một phi tuần A 37 sẵn sàng! Thái Sơn cần chỗ nào tôi thỏa mãn ngay!
– Okay! Bắc Ðẩu có thấy trên tọa độ ZA… có ba bốn khẩu 12.7 ly không? Tôi ở chỗ khói vàng. Mục tiêu cách tôi 200 mét hướng 4800 ly giác! Yêu cầu cứ đánh giùm tôi từ đó kéo dài về hướng Tây!
– Tôi thấy lâu rồi! Chỉ chờ bộ binh yêu cầu là tụi này ra tay ngay!
Tôi cho lệnh đánh dấu ba trái khói vàng, rồi ngồi chờ.
Chỉ ít phút sau, hai phi xuất A 37 đã theo nhau thét gào, nhào lộn trên ngã ba làng Plei Xome. Tiếng bom vừa dứt, thì tôi ngỡ tai mình nghe lầm,
– Thái Sơn! Ðây là Hai Lẻ Chín! Tôi ra lệnh cho Thái Sơn! Bất cứ giá nào cũng phải lên cứu cho được thằng Lê Lai!
(Lê Lai là Thiếu tá Lân)
Tôi nói,
– Tôi không biết các cánh quân của thằng chín nút (81) nằm chỗ nào, tôi không thể liên lạc được với họ thì làm sao mà cứu họ?
Nghe tôi nói vậy, thì Ðại tá Vấn lớn tiếng dọa,
– Lệnh là lệnh! Nếu anh không lên, tôi truy tố anh ra tòa!
Tôi nghĩ người chỉ huy trực tiếp của tôi đang bấn loạn tinh thần nên nói năng chẳng còn cân nhắc. Ông Vấn gọi ông Lân như gọi đò cả tiếng đồng hồ rồi mà chẳng có ai đáp máy. Có khi giờ này toàn bộ Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị địch đánh tan rồi.
Tôi trì hoãn,
– Ðể tôi chiếm cái ngã ba rồi tính tiếp.
Lúc đó, trên máy của thằng Y Don Nier, Trung úy Trần Dân Chủ từ trung tâm hành quân của tiểu đoàn báo cáo rằng, pháo địch bắt đầu nổ trên nóc trại Pleime. Ông Chủ cũng cho tôi biết tin Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Thủy đã về tới căn cứ và chỉ có năm quân nhân bị thương nhẹ. Tôi thấy tình hình sắp nguy khốn, vì nếu địch mở một mũi tiến công mới, nhắm ngay cổng trại thì tôi hết đường về. Tôi sẽ bị lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch. Nếu tôi không về kịp thì chắc chắn sẽ mất đồn. Tôi cũng chợt nhớ ra, nhiệm vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn giao cho tôi là giữ đồn Pleime, không phải là bỏ đồn đem quân đi cứu người khác. Nếu tôi bị cầm chân ở đây mà để mất đồn thì tôi là người gánh trách nhiệm chứ không phải Ðại tá Vấn.
Tôi nói với Ðại tá Từ Vấn,
– Chúng nó bắt đầu đánh vào Pleime! Báo cho Hai Lẻ Chín biết giờ này tôi rút quân!
Không chờ phản ứng của ông liên đoàn trưởng, tôi ra lệnh cho quân mình dừng lại, bố trí theo bờ suối hướng Ðông của Tỉnh lộ, chuẩn bị đội hình. Ngay lúc đó có tiếng Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng, Sĩ quan Tùy viên của Ðại tá Tất,
-Trường An ra lệnh cho Thái Sơn quay về giữ đồn!
Thì ra Ðại tá Tất đang bay trên trời. Ông Tất có tần số nội bộ của tôi. Chắc ông Tất đã hay biết toàn bộ diễn tiến xảy ra dưới đất, nên đã trực tiếp can thiệp. Chạm địch, tôi ít khi cầm máy liên đoàn, tôi thường có mặt trên tần số nội bộ không giây phút nào rời. Vì thế, mỗi khi bay giám sát trận địa, Ðại tá Phạm Duy Tất và Tướng Nguyễn Văn Toàn đều vào tần số này, vừa tiện theo dõi tình hình, vừa dễ ra lệnh trực tiếp cho tôi.
Tôi chắc chắn hai chữ Văn-Xá trong bài này không đem lại cho người đọc một sự liên tưởng hay hình ảnh gì, vì nó chỉ là một địa danh hay cái tên tầm thường của ai đó mà bạn chưa hề nghe đến. Văn-Xá chỉ là một nhà ga nhỏ, một chiếc ga xép quạnh hiu, trên đường xe lửa Bắc Nam, một ngôi làng nhỏ, nghèo nàn nép mình trên mảnh đất khô cằn miền Trung. Nhưng Văn-Xá chính là tên cái ngôi làng của tôi, trưa nay cái tên ấy bỗng hiện lên trong giấc ngủ, đã thức dậy và trăn trở cùng tôi. Trong mỗi người chúng ta, ai cũng có một ngôi làng, mỗi ngôi làng đều có một cái tên và không ít thì nhiều, ai trong chúng ta cũng có ít nhiều kỷ niệm về ngôi làng đó của mình.
Làng tôi nằm bên cạnh con sông Bồ từ Trường sơn đổ ra biển và cũng nằm bên một con sông đào xinh xắn uốn lượn với những bóng tre xanh lã ngọn xuống dòng sông, dòng sông mà gần như tuổi ấu thơ tôi đã nô đùa, tắm rửa và ngâm mình trong đó. Từ ngôi làng đó, mỗi ngày tôi có thể trông thấy núi ở rất gần, những ngọn núi của dãy Trường Sơn hùng vĩ mù mịt đổi màu, nhưng biển thì ở xa. Vì nằm trên mảnh đất miền Trung nối hai miền Nam Bắc, con đường xe lửa xuyên Việt chạy qua làng, chuyến xe lửa, mỗi sáng chiều cất lên những hồi còi dài, nhã những làn khói đen kịt và lũ trẻ chăn trâu hai bên đường sắt thường quơ nón vẫy tay chào những người khách không hề quen biết trên chuyến xe. Làng tôi nghèo vì không hề có một thứ tiểu công nghiệp nào khả dĩ nuôi dân làng ngày hai buổi cho đỡ vất vả tấm thân mà nông dân toàn chịu cảnh “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” suốt năm này qua tháng nọ. Nếu làng hãnh diện có người làm đến chức Tuần Vũ, thì làng cũng chỉ thêm được vài ngôi nhà ngói khang trang, dinh cơ và ngôi từ đường của quan, nổi bật trong màu sắc nghèo nàn của những dãy nhà tranh vách đất của xóm làng. Chuyên về nông nghiệp, nhưng làng cũng không có được một thứ nông sản đặc biệt nào khả dĩ đắt giá để nâng cao được đời sống của dân, đổi được vải vóc, tôm cá hay hàng hoá tiêu dùng. Làng chuyên sản xuất hai thứ nông phẩm mạt hạng nhất của nền nông nghiệp thô sơ nghèo nàn của mảnh đất “cày lên sỏi đá” là khoai và sắn, nên dân có được ngày hai bữa cơm trắng cũng là chuyện không thường. Khổ một nỗi, Văn-Xá lại có tiếng phát về khoa bảng, có nhiều người đỗ đạt có danh phận, lại làm quan to. Nhưng ngẫm lại những điều đó thực sự có ích gì, làng có người đỗ đạt, công vụ và đời sống càng tách rời họ xa hơn với quê hương, làng mạc, ít có cơ hội khắng khít với bà con xóm giềng.
Trong lịch sử, làng Văn-Xá có được một nàng thiếu nữ lọt mắt xanh của vua Gia Long và được vị vua này cưới làm vợ thứ hai (tức là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu – Mẹ vua Minh Mạng), hắn ngày xưa ấy, nàng cũng là bậc “sắc nước hương trời”. Nhưng tiếc rằng, khi lớn lên, con cháu nàng trong ngôi làng này, cùng với thế hệ của tôi, chẳng thấy ai có được chút nhan sắc khả dĩ làm cho tôi động lòng mà làm được một bài thơ.
Như số phận những ngôi làng của quê hương chúng ta, Văn-Xá cũng có chiến tranh, bom đạn một thời. Nhà ga xe lửa của Văn-Xá cũng đã có lần chịu bom đạn của phi cơ Đồng Minh đánh vào chuyến xe chở nhiên liệu của quân đội Nhật đang nằm tại nhà ga. Dân làng cũng chịu cảnh cắt cổ, mổ bụng, thủ tiêu hay bêu đầu, thả xác trôi sông của cuộc chiến kéo dài nhiều năm như những ngôi làng Việt Nam khốn khổ khác. Gia đình nào cũng có bên này bên kia, có kẻ đi xa, có kẻ trở về, có người đã chết, có người còn sống và cũng có người không biết tan biến đi đâu. Tôi được sinh ra trong ngôi làng ấy, lớn lên theo chân cha mẹ đi làm ăn xa, nhưng trong thời gian chiến tranh tôi lại trở về nương náu nơi ấy. Tổ tiên, ông bà và cha mẹ tôi thẩy đều được chôn cất nơi đó. Ngôi làng ấy chưa bao giờ là một nơi thần tiên như trong chuyện cổ tích cho một thời thơ ấu của tôi, cũng chưa bao giờ là nơi tôi đã trải qua những ngày tháng hạnh phúc êm đềm, nhưng hình như nó luôn luôn hiện diện ở một nơi sâu kín nào đó trong tiềm thức của tôi, để một đêm nào đó, một chiều nào đó, trong một khoảnh khắc nào đó, bỗng hiện ra làm xao xuyến lòng tôi như mặt hồ phẳng lặng bỗng chao tròn sóng gợn bởi một viên đá ném xuống mặt hồ.
Đối với thế giới bao la, một ngôi làng quả là quá nhỏ. Đối với những chặng đường sông biển vĩ đại bạn đã đi qua, cái ao làng ngày xưa quả là những vật tầm thường, đối với những nhân vật lẫy lừng mà bạn có thể đã từng gặp, hình ảnh một thằng bạn thời thơ ấu đâu còn để lại ấn tượng gì trong lòng chúng ta. Thế mà tất cả các thứ đó không hề phai nhạt, còn nguyên vẹn, để có những lúc như hôm nay, nó trở về, từ trong vùng mù mù mịt mịt của trí nhớ hiện ra, làm cho lòng chúng ta chùng xuống, làm như tất cả những gì vĩ đại trong cuộc đời này, rốt cuộc đều trở thành vô nghĩa, khi chúng ta đang trở về từ nơi chúng ta đã ra đi. Chỗ đầu tiên của tôi là một ngôi làng nhỏ, thuở bắn chim bắt dế ngoài đồng, chỗ của bạn có thể là một thành phố nhỏ ngày hái me, trộm sấu. Ở đây là một khu vườn tĩnh lặng, ở kia là một bờ sông vang tiếng trẻ cười đùa. Trong tâm hồn chúng ta ai cũng có một góc khuất, một nơi dấu kín mà trên quãng đường đời rong ruổi, chúng ta không hề thấy, không hề nhận ra, một góc đời quên lãng, cho đến một lúc nào đó, như trưa hôm nay … Trưa hôm nay, giữa mùa hè oi bức, tôi thiếp đi trong một giấc ngủ mê mệt. Tôi có cảm tưởng tôi đã ngủ say, thật lâu, ngủ quên trên một chuyến xe lửa trở về, chạy băng băng trên con đường sắt. Trong giấc mơ tôi thấy tôi bỗng choàng thức dậy khi con tàu đỗ lại một ga nhỏ hoàn toàn xa lạ. Tôi hỏi một người khách ngồi bên cạnh:
– “Đã đến ga Văn-Xá chưa?”
-“Chưa, nhưng cũng sắp đến, chỉ còn một đoạn đường nữa thôi!”Tôi nghe người bên cạnh trả lời.
Rồi sau đó, tôi hoàn toàn thức giấc Điều gì khiến cho tôi phải buột miệng – dù là trong giấc mơ – để hỏi tên một nhà ga, tên một ngôi làng cũ, mà, thường ngày tôi ít khi nghĩ đến, tôi cũng không ao ước được trở về, vì tôi biết ở đó mọi điều đã đổi thay. Nơi đó, cha mẹ tôi đã không còn, mái từ đường đổ nát, xóm giềng xa lạ, những con sông đã khô nước và lòng người đã đổi thay. Cũng đã từ lâu, tôi không hề suy nghĩ, tưởng nhớ, chuyện trò với ai hay nhắc nhở đến một lần cái tên làng đó, thế mà trong một giấc mơ ngắn ngủi, ở một nơi xa hàng vạn dặm đường, cái tên làng ngày xưa, tên của cố hương lại bật lên trong tâm thức, để phát ra câu hỏi, dù là một câu hỏi trong giấc mơ không nói được thành lời.
-“Đã đến ga Văn-Xá chưa?”Sao trong giấc mơ này, tôi lại tìm về chốn cũ ?. Động lực nào đã đưa tôi về trên con đường sắt này, nơi trong tuổi ấu thơ tôi đã nghe những hồi còi dài văng vằng và những đợt khói tàu theo gió toả lại đàng sau. Câu hỏi “đã đến chưa? “phần nào giải thích sự mong đợi, nôn nóng của tôi một nơi đến trong cuộc hành trình trở về. Ôi một cái địa danh tưởng đã chìm sâu vào quên lãng trong cuộc sống hàng ngày, một ngôi làng đã mờ nhạt trong trí nhớ và nhất là tôi không hề mơ ước, nghĩ ngợi, mưu sự gì cho một chuyến về như thế.
Trong mỗi chúng ta, ai cũng có một nơi chốn cũ, một ngôi làng, một góc phố, một con đường, một nơi chốn xa xưa của thời thơ ấu, tưởng chừng như đã quên đi. Rồi một ngày nào đó, trong một cơn đau, một giấc mơ, một phút mê sảng, những hình ảnh ấy hiện ra. Phải chăng, mỗi người chúng ta đều có một nơi để về.
Phần tôi, trong giấc mơ, sao tôi lại thấy tôi sắp về đến làng cũ, và … “chỉ còn một đoạn đường nữa thôi!” như lời người khách lạ trên chuyến xe trong giấc mơ đã nói với tôi! Hay tôi đã sắp về đến thật rồi!
Tôi quen với chị Lan ngay lần đầu tôi đặt chưn tới San Pedro bên Bờ Biển Ngà. Chị lấy chồng người Ivory Coast, đẻ con da đen thui, tóc lăn quăn. Chị làm chủ một nhà hàng trong phố San Pedro và ở ngoại ô thành phố chị cũng có một căn nhà tường rộng lớn nằm nép trước một vườn cây ăn trái. Hơn hai năm qua, mỗi chuyến trở lại San Pedro, có thời giờ rảnh thì thế nào tôi cũng ghé thăm chị. Chuyến trước, nhằm ngày chủ nhựt, tôi rủ Jimmy ghé nhà hàng chị ăn chả giò uống bia lạnh. Trưa lại chị chở chúng tôi ra thăm vườn cây của chị. Chị trồng dừa, chuối, đu đủ, mít, xoài, ổi và nhiều loại rau thơm quen thuộc ở quê nhà. Jimmy thấy cây ổi sai trái, nó khoái tỉ nhờ tôi hỏi chị cho nó xin một mớ. Chị kêu tôi nói lại, nếu nó muốn bất cứ thứ cây, trái nào trong vườn thì cứ tự nhiên. Được phép, Jimmy liền trèo lên cây ổi lựa hái trái chín, sau khi hái ổi bỏ một đống đưới gốc cây, nhìn thấy đám rau muống dưới mương nó liền săn quần lội xuống ngắt đọt non. Trong lúc Jimmy loay hoay ngắt rau tôi với chị đi dạo quanh vườn. Hai chị em nói chuyện quê hương đất nước một hồi, rồi tự dưng chị hỏi tôi:
– Em có người yêu chưa?
– Chưa chị.
– Chị hỏi thiệt, em muốn có bạn gái hông?
Không cần suy nghĩ, tôi trả lời ngay:
– Có người bầu bạn cũng vui chớ chị.
– Chi giới thiệu em chị cho.
– Em gái chị thì còn gì bằng.
– Không, chị hổng có anh, chị, em và cha, mẹ gì trên thế gian nầy hết, cô ấy là em chồng chị.
Thiệt tình mà nói, mấy cô gái ở Phi Châu tôi không phân biệt được đẹp hay xấu, cô nào cô nấy tôi thấy cũng đen thui như nhau. Không phải vì kỳ thị đâu, nhưng không hiểu sao mỗi lần nhìn thấy các cô gái da đen, lòng tôi cảm thấy thê lương như đương đứng trước một khu rừng tràm mới vừa bị cháy… Nhưng lỡ buông lời như lao phóng, tôi đành phải theo:
– Cô ta giờ ở đâu?
– Ở với chị, nhưng nó đi Abidjan rồi, chuyến tới em ghé, chị cho nó đi chơi với em. – Sao chị chắc là cô ấy chịu đi chơi với em.
– Nó nghe lời chị lắm.
– Nhưng em hổng biết nói tiếng Tây thì làm sao hiểu nhau được.
– Hồi chị gặp chồng chị, chị cũng đâu biết tiếng Tây.
Có lẽ chị đọc được ý nghĩ của tôi, chị nói:
– Em đừng lo, cô ấy trông được lắm, chị bảo đảm, em thấy mặt là ưng liền.
Jimmy tước dây chuối khô bó rau muống thành hai bó và xé lá chuối gói mớ ổi rồi cột lại giống như cái bánh ú, nó xách tòn teng trông rất gọn gàng. Khỏi cần điều tra lý lịch, trông bộ dạng của nó cũng đủ biết bên In Đô nó là Hai Lúa chánh hiệu. Jimmy đi chưa tới chúng tôi thì đã cất tiếng hô to:
– Tấn, đã tới giờ xuống tàu rồi.
Tôi nhìn đồng hồ tay, day ngang nói với chị:
– Em phải xuống tàu rồi.
Chúng tôi định đón tắc xi, nhưng chị tình nguyện chở hai đứa xuống bến cảng. Trên xe chị căn dặn tôi chuyến sau thế nào cũng phải lên nhà. Chị làm như chắc chắn lắm, vẽ ngay kế hoạch tương lai. Đại khái, chị khuyên tôi cố gắng làm việc và tiêu xài ít lại để dành tiền cưới vợ, khi nào muốn lên bờ thì qua đây làm nhà hàng với chị… Tới bến bỏ hai đứa tôi xuống chị day qua căn dặn thêm:
– Có bạn gái rồi thì đừng la cà bậy bạ nữa, mấy con nhỏ bán bar ở đây dơ dáy lắm, em sớ rớ có ngày bịnh chết.
*
Chiều trong vắt, biển mênh mông, trời nước xanh ngát một màu, nước tiếp liền bờ, bờ tiếp liền núi, núi cản đường mây và mặt trời treo lơ lửng tỏa ánh vàng nóng hực. Tôi với Jono ngồi sau lái uống bia. Tôi kể cho Jono nghe chuyện chị Lan muốn giới thiệu em chồng chị cho tôi, thật ra nếu là em gái của chị thì tôi không kể cho ai nghe hết và khi tàu ghé bến tôi sẽ đi mình ên lên nhà chị. Tuy tôi có hơi nôn nao cho buổi gặp mặt nhưng trong lòng không chắc chắn lắm, tôi biết mình không có can đảm nói những lời gây thất vọng cho người khác. Jono thì dễ dãi trắng, đen, già, trẻ gì anh cũng làm láng, vì vậy nên tôi mới rủ anh theo. Nếu thấy không được thì tôi cáp anh qua cô ả, như vậy cô gái khỏi bẽ bàng và Jono cũng được việc còn tôi thì nhẹ lòng. Nghe tôi mời anh đêm nay lên chị Lan, anh nắm tay kẹp ngón cái vô ngón trỏ và ngón giữa làm dấu tục, rồi đưa ra trước mặt tôi gặt gặt:
– Ô kê, nhưng tao phải ghé thăm các em trong bar trước.
Tôi thấy phần đông dân da nâu và đen tình dục của họ rất mạnh. Jono có thể làm tình suốt đêm, bắt được em út anh lập tức dắt đi tìm bất cứ chỗ nào, nằm được thì nằm, không thì đứng hoặc ngồi, kiểu nào anh cũng làm được. Hôm bên vườn chuối ở Boma, trong một đêm anh thoả mãn một lượt hai cô gái, sáng ra anh than với tôi rằng đã hết sạch năng lượng. Thường chạy tuyến Phi Châu, để đề phòng chuyện trộm cắp và những người trốn theo tàu, thuyền trưởng cấm người lạ mặt và mấy cô, mấy bà lên tàu. Vì vậy mấy cô, mấy bà muốn “làm ăn” thì phải cắp nách theo chiếc chiếu nhỏ hoặc ôm theo tấm cạt tông vừa đủ nằm, rồi ngồi sắp hàng suốt đêm trên kè đá ngay đầu cầu thang tàu, chờ anh thủy nào ló mặt ra boong tức thì các bà, các cô kêu réo mời mọc om xòm. Hôm tàu ghé Abidjan, Jono trực đêm, không lên bờ được, giữa khuya hứng tình, anh rủ một cô vô kẹt container trải chiếu ra làm mấy phát… Vì hấp tấp không bận “áo mưa”, mấy ngày sau anh phát hiện “ súng” anh bị nghẹt nòng và đi tiểu ra “sữa”. Mặt mày anh nhăn nhó giống như mắc bịnh… tim la. Anh lên phòng thuyền trưởng kể rõ bịnh thình, thuyền mở tủ thuốc lấy đưa cho anh. Nhờ mấy liều thuốc trụ sinh nòng súng của anh mới được khai thông và anh đi tiểu lại bình thường. Đã bị như vậy mà còn chưa tởn, vừa nghe thông báo đêm nay anh không có ca trực, tức thì mặt mày anh tươi như hoa, đầu óc nghĩ ngay tới chuyện lên thăm các em trong quán bar ven biển.
Tàu ghé cảng khi mặt trời vừa sắp tắc. Jono và tôi tắm rửa, thay áo quần đẹp và mang giày đánh bóng, tức tốc lên bờ. Hơn một tháng trước, dọc hai bên đường hai hàng phượng xum xuê một màu đỏ thắm. Bây giờ trơ trụi, trên cành treo lủng lẳng những trái phượng già màu đen giống y như màu da của dân bản xứ. Tôi với Jono đi đưới hàng phượng trụi lá, khô nhành, xám xịt. Trong ánh chiều tà, vài người đàn bà và vài cô con gái tay bưng, đầu đội những chiếc thúng đi trên đường còn đọng nước mưa hướng về khu phố phía trước. Tôi hứng cảnh ngâm nga:
*“Giờ là mùa mưa nên phượng không sắc thắm
Em có về ngồi dưới gốc cây xưa.
Tiếc ngẩn ngơ cánh hoa mềm ngày nọ
Rơi rơi nhiều trong thoáng gió đong đưa.”
Jono day ngang, hỏi:
– Mầy hát ?
– Hổng phải, tui ngâm thơ.
Cùng lúc hai đứa tôi trờ tới một cây phượng sai trái, một trái phượng thòng xuống ngang đầu, tôi vói tay rứt trái phượng, cành phượng giòn quá kêu lên cái rắc, gẫy đổ bừa lên đầu, Jono chửi thề một cái, nhảy tránh sang một bên. Mình mẩy dính đầy bụi phượng, chúng tôi vừa phủi vừa cười. Tôi cúi xuống lượm trái phượng cong queo kẹp nách. Jono chỉ những trái suông, bóng, nói:
– Mấy trái kia đẹp hơn sao mầy không lấy?
– Hoa đẹp thường có gai, trái tốt bề ngoài nhưng có thể sâu ăn ở bên trong.
Jono chỉ tay vô cây phượng.
– In Đô gọi cây nầy là flamboyant, bông nó đỏ thắm, có nhạc sĩ sáng tác ca ngợi mùa bông flamboyant nở.
– Tiếng In Đô gọi flamboyant là gì?
– Flamboyant.
– In Đô không có tên riêng sao mà phải dùng tiếng Anh?
– Chắc có, nhưng tao hổng biết.
– Cũng lạ, tiếng Việt gọi flamboyant là phượng vĩ, nó trổ bông vào những ngày sắp bãi trường. Nhà văn viết truyện, thi sĩ làm thơ, nhạc sĩ sáng tác, ca sĩ hát, học trò chép lưu bút cũng viết về mùa hoa phượng.
– Ở In Đô cũng vậy, nhứt là ở Bali, tới mùa, bông flamboyant nhuộm đỏ một vùng.
Cà rịch cà tang một đỗi, chúng tôi đã ra tới dãy quán bar bờ biển. Dọc trên bãi cát trắng, những nhà sàn vách ván, mái lợp lá trầm, chưn sàn nhà cao khỏi ót, dựng nép bên vườn dừa. Quán day mặt ra biển như thể ngóng chờ những tàu buôn đến từ ngàn khơi. Các quán thi nhau mở nhạc rầm rĩ, tiếng đờn tiếng hát của quán bên nầy chen lẫn tiếng trống tiếng kèn quán bên kia hòa cùng sóng biển lào xào tạo thành một hợp âm kỳ quái.
Chúng tôi leo mấy bậc thang, lên một quán bar nằm dựa một con đồi thấp. Vừa vô tới cửa, tức thì hai cô gái nhào ra mừng rỡ như thể đón mừng người tình lâu ngày mới gặp. Mỗi cô ôm chầm một đứa hôn chùn chụt, tôi nghe hai bên gò má rin rít, chắc chắn đã bị dán hai bệt son môi. Sau khi chào đón bằng những ngôn ngữ ngọt ngào, các cô mời chúng tôi ra ngồi ngoài hàng hiên, ngồi đây nhìn được trời xanh, mây trắng, hàng dừa nghiêng dọc theo bãi biển và những ngọn đồi thấp. Trong khoảnh khắc, Jono chọn liền một cô, anh dân Ambon da cũng đen đen sắp sỉ như cô gái, thân hình đồ sộ, còn thân cô gái nhỏ thó, cô ngồi trọn lỏn trong lòng anh. Nhìn hai người tôi mơ hồ tới một hình ảnh hoang dã quen thuộc nào mà tôi đã thấy qua. Phần tôi thì một lát còn phải vô phố thăm chị Lan, nên không chọn cô nào hết. Tuy nhiên cô gái vẫn ngồi cạnh bên xin uống và nói chuyện chơi.
Tôi ngó mặt dọc theo bãi biển, mới đó mà trăng đã lên rồi, xa xa vài đôi trai gái dắt dìu nhau dẫm chưn lên cát và bước đi bên viền sóng. Tôi khèo Jono, chỉ tay ra bãi cát, nơi có đôi trai gái đương ôm nhau hôn hít:
– Coi kìa, họ tình quá!
– Mầy là cái hậu môn, sống chẳng ra cái dương vật gì hết mà biết gì là tình với tứ. Anh ôm sát cô gái vào người và nói:
– Đây mới là tình.
Vừa nói anh vừa đưa tay vuốt vuốt mái tóc quăn sát da đầu của người con gái, cô ta cười mỉm, nép đầu vô ngực Jono nói “I love you”. Á, cái hình ảnh mơ hồ rất quen thuộc từ nãy bây giờ mới hiện rõ trong đầu tôi, trông hai người âu yếm nhau giống y như vượn mẹ bồng con. Dằn không được nữa, tôi cười một tràng. Mọi người không hiểu gì cũng há họng cười theo ha hả…
Uống hết hai chai bia, Jono đứng dậy dẫn cô gái bước xuống mấy bật cầu thang, chợt nhớ ra anh quay trở lại hỏi tôi còn condom không. Mỗi lần thuyền trưởng phát condoms, tôi cũng nhận một mớ bỏ túi cho ra vẻ dân chơi vậy thôi, chớ thật ra chưa bao giờ dùng tới, còn Jono thì lúc nào cũng thiếu. Tôi móc bóp mở ra xem, còn được hai cái, tôi đưa qua cho anh:
– Nè, chỉ còn hai cái, nếu thấy không đủ mỗi cái xài hai, ba lần, nếu hổng cẩn thận súng bị nghẹt nòng nữa thì hết bắn.
Anh cười, tôi cười và cô gái cũng cười hở hai hàm răng trắng nhách.
Còn lại tôi với cô gái. Tôi bưng chai bia lên cụng với cô gái và ngước cổ nốc cạn phần bia trong chai, để chai xuống tôi kêu cô gái lấy thêm hai chai bia khác. Cô đứng lên đi vô trong một lát đem ra một chai bia để trước mặt tôi. Tôi hỏi, còn chai bia của cô đâu. Cô ngồi xuống bên tôi nói, cô không uống nữa và hỏi xin tiền chai nước mà tôi đãi cô. Nơi đây nói tiếng Pháp, cô gái thì bập bẹ vài ba tiếng Anh, trong lúc trao đổi tôi chỉ hiểu đại khái, nếu tôi muốn thì vô cái chòi lá lụp xụp trong vườn dừa ngủ với cô tới sáng rồi cho bao nhiêu cũng được. Cô vừa nói vừa thò tay rờ ngực tôi, tôi thấy như kiến bò khắp người, tôi đẩy tay cô ra, cô gái lại thò tay qua giữa hai đùi tôi mò mẫm, tôi nghe nhồn nhột cũng đẩy tay cô ra, cô gượng gạo cười. Không muốn bị rầy rà và cũng không muốn cô trơ trẽn, tôi rút chiếc đèn pin trong túi áo, chiếc đèn nầy tôi mua hôm tàu ghé Pháp. Hôm ấy Jono rủ tôi vô tiệm bán đồ điện, anh tìm mua chiếc đèn pin, theo kinh nghiệm của anh thì xuống vùng Phi Châu nhiều nơi không có điện, tối ngủ với gái không thấy đường, lúc đó rất cần đèn pin. Anh chọn cái đèn bằng ngón tay cái màu vàng, có kẹp dắt túi giống như cây viết, tôi cũng bắt chước mua một cây giống anh nhưng màu bạc. Mỗi lần xuống Phi Châu đổ bộ tôi dắt theo túi, đã mấy tháng có đèn, nhưng chưa có dịp dùng tới. Thấy răng cô gái trắng nhách, tôi kêu cô hả miệng ra, cô day ngang há họng thiệt lớn cho tôi rọi đèn pin vào…khám hai hàm răng. Trời cũng công bằng lắm, đã tạo ra dân da đen rồi bù cho họ hai hàm răng trắng như ngọc ngà và đều như hột bắp. Răng đẹp thật, nhưng chưa đủ hấp dẫn, tôi đẩy nhẹ cô gái cho ngồi ngay lại và đưa mắt ngó mông ra biển. Biển êm nhẹ, ngoài khơi vài chiếc tàu buôn pha đèn sáng rực một bên hông tàu, có lẽ họ đương dừng lại đón hoa tiêu. Cô gái ngồi bên khèo tôi chỉ tay về bãi cát trước mặt. Tôi ngó theo, thấy Jono cùng cô gái sánh vai nhau đi trên cát, đọc bên hàng dừa. Tôi quen Jono đã lâu nhưng chưa bao giờ thấy anh mất thời gian cho những chuyện lãng mạn nhẹ nhàng. Đêm nay anh mất thời giờ cùng cô gái đi dạo đưới trăng, cũng là chuyện lạ.
Tôi nhìn bóng hai người ngã dài trên cát, và sóng biển nhịp nhàng, chợt tôi nhớ về cô bạn nhà thơ và mới tin lời của cô rằng biển cũng biết thở. Nhưng tiếng nhạc lớn quá làm tôi tôi không nghe được hơi thở của biển. Tiếc quá, nếu bây giờ cô có mặt ở đây tôi sẽ dẫn cô ra ghềnh đá ngồi nghe nhịp đều hoà của biển, thế nào cô cũng làm được một vài bài thơ. Đương thả hồn về nơi thương nhớ, chợt cô gái khèo tôi chỉ tay trở lại bãi cát trước mặt:
– Coi kìa! chíc-ki, chíc-ki…
Không biết ai đã tạo ra những loạt âm thanh rất ấn tượng như khi muốn ăn thì hô cháp-cháp… còn chíc-ki-chíc-ki… là giao hợp, loạt âm thanh nầy phát lên bất cứ người nước nào, dù ai đó chưa từng nghe qua cũng hiểu ý nghĩa của chúng. Tôi ngó theo tay cô gái bên cạnh, xa vừa tầm mắt bóng cô gái nằm ngã người dang chưn trên thân cây dừa ngã nghiêng đọt hướng ra chiều biển, còn Jono đứng phía dưới câu hai chưn cô gái trong tư thế đẩy xe ba gác, mông anh lắc lắc, nhịp nhàng trong ánh trăng soi sáng… Một lát sau cả hai đứng lên nắm tay nhau chạy ùa xuống biển, hai người đã thật sự hoà mình cùng với trời, trăng, mây, nước… Trông cảnh đẹp lại hứng tình, tôi thò tay vô ngực cô gái, nắm núm vú nham nhám xe xe và kéo lớp da ngực giãn vô giãn ra giống như dây thung, chẳng cảm giác gì hết, sự hứng khởi như lửa rơm tắt ngấm. Tôi buông núm vú và rút tay ra rồi bưng bia hớp một hớp, lấy gói thuốc, rút một điếu châm hút, nhìn ra bãi tìm bóng của Jono và cô gái nhưng hai người biến đâu mất để lại bãi cát trống trơn. Khách vô quán mỗi lúc một đông, toàn là thủy thủ. Để cô gái ngồi bên cũng chẳng được gì, tôi móc tiền đưa cho cô gái, kêu cô trở vô trong tìm mối khác mà…mần ăn.
Cô gái đi rồi tôi mới nhớ tới cuộc hẹn với chị Lan, chợt thấy nôn nao trong dạ. Cái anh Jono nầy, đêm nay tự dưng bày đặt lãng mạng làm chi để mất hết thì giờ. Khát nước lắm nhưng đi những nơi thiếu nước rửa ly tách như vùng Phi Châu vô quán tôi không dám uống nước trong ly. Muốn kêu thêm chai bia nhưng sợ lát nữa gặp người con gái chưa biết mặt mà xỉn xỉn thì còn ra thể thống gì, đành ngồi hút thuốc chờ Jono vậy.
Năm mười phút tôi nhìn đồng hồ một lần rồi ngó vô quán và nhìn ra bãi biển… Cứ như vậy cho tới khi sốt ruột mới nghe tiếng Jono. Day lại, tôi giựt mình đánh độp, trố mắt khi thấy anh bận chiếc quần vải có miếng vá trên đầu gối và chiếc áo rách cũ kỹ trông anh giống hệt dân chài lưới, nếu anh đứng lẫn lộn trong đám người bản xứ thì tôi sẽ không phân biệt được anh là người In Đô, còn cô gái thì mặt lạnh như đồng đen đứng cạnh bên:
– Ê, chơi trò gì vậy cha?!
Anh từ từ ngồi xuống mặt mày nhăn nhó như khỉ ăn gừng, cô gái vẫn khoanh tay đứng trước mặt chúng tôi chờ đợi. Jono cười đau khổ, thay câu trả lời, anh hỏi lại tôi:
– Mầy còn bao nhiêu tiền?
Thường đổ bộ vùng Châu Phi ít khi tôi bỏ tiền nhiều trong túi, nhưng đêm nay vì có hẹn lên “coi mắt” cô em chồng chị Lan nên tôi bỏ túi thêm hai trăm đô và số tiền bản xứ mà hôm ở Abidjan đổi ra tôi xài chưa hết:
– Ba trăm đô và mớ tiền Francs.
– Cho tao mượn đi.
Tôi ngạc nhiên và cảm giác như có chuyện gì không ổn:
– Anh hết tiền rồi sao?
Anh cười chua chát tường thuật lại câu chuyện. Lúc anh và cô gái xuống biển rửa mình mẩy, tưởng không có ai nên quần, áo, giấy tờ, tiền bạc anh để lại gốc dừa, chưa đầy mười phút anh và cô gái trở lên, ai đó đã ôm hết áo quần, giấy tờ tiền bạc. Cô gái dẫn anh về nhà lấy bộ đồ cũ đưa cho anh bận và cho biết tên trộm đòi tiền chuộc giấy tờ. Tôi nhìn cô gái, gương mặt cô bây giờ không còn nét yêu, thương chiều chuộng Jono cách đây mấy giờ đồng hồ trước, mà là một sự đe doạ, nếu tôi không đưa tiền thì Jono không yên với cô ta đâu. Tôi móc số tiền đô ra đưa hết cho Jono, còn số tiền bản xứ tôi dành lại. Anh đếm tiền xong chìa ra, tức thì cô gái đưa tay chộp lấy rồi đi ra ngoài, hút chưa hết điếu thuốc, cô ta trở lại trả bóp giấy tờ cho Jono. Xong, cô day lưng đi không một lời chào…
Nhìn theo dáng cô gái, không nín được cười:
– Thì ra yêu thương, mua bán, cướp giựt, trở mặt đi liền với nhau ha ha…
Tôi day ngang nói với Jono:
– Xong rồi, nhậu chơi đi.
Anh ngần ngại hỏi tôi:
– Mầy hông lên thăm chị Lan của mầy sao?
Tôi chỉ tay qua anh:
– Ha ha… áo quần anh tả tơi như tấm giã cào rách còn đi đâu được nữa.
– Mầy đi mình ên.
– Đi tới nhà đàn bà con gái mà hổng bận gì hết thì kỳ cục lắm.
– Mầy nói cái gì?
Tôi hất hàm:
– Nè, anh may mắn còn có tui ở đây cho anh mượn tiền chuộc lại giấy tờ, trả tiền quần áo và tiền anh chíc-ki… Bây giờ anh xúi tui đi mình ên ra phố, lỡ dọc đường bị lột hết áo quần thì ai đưa tiền cho tui chuộc lại đây.
– Mầy lúc nào cũng tiếu lâm được hết. Bây giờ mầy tính sao?
Tôi vẫy tay kêu cô gái bưng thêm bia, đưa qua anh một chai, rồi móc hết số tiền Francs xoè như xoè quạt chìa trước mặt anh, cười cảm thông:
– Chuyện xui xẻo qua rồi, bây giờ mình tính hết cái nầy rồi về tàu ngủ.
Jono cười to:
– Ha ha… cái thằng coi chết nhát vậy mà có lý.
Tôi nhìn dọc theo bãi biển, lại xuất hiện vài đôi trai gái đi trên viền sóng. Không nghi ngờ nữa, đó là các anh thủy thủ và các cô gái da đen, đương tìm chỗ khuất, chỗ không có ánh trăng… Tôi đưa tầm mắt rà sát từng gốc cây dừa ngã nghiêng ra biển, nhưng không thấy đôi trai gái nào làm chuyện như Jono đã làm.
Trăng miền xích đạo trông thấp thiệt thấp và to thiệt to, chưa tròn hẳn nhưng ánh sáng bén ngót xuyên thấu đám mây trắng mỏng đâm ngang. Trời, mây, non nước dửng dưng trước thời gian chầm chậm đi, mây chầm chậm trôi và vầng trăng kia vẫn sáng soi như ngàn năm trước…/.
Từ ngã tư chú Ía đi vô đường cụt, bà con đứng lố nhố, láo liên tụm năm tụm ba luân phiên góp chuyện, chuyện nọ xọ chuyện kia bày ra toàn cả nghi vấn, khó hiểu. Lối đi vốn hẹp té giờ tìm không ra một khoảng hở, thuật ngữ báo chí buổi nọ dùng chữ “sự cố gây ùn tắc giao thông”.
Có đội ngũ công an la hét nhằm giải toả đám đông. Trung tá Mộc, trưởng ban điều tra chuyên án xuống xe, được hai ông bảo vệ dang tay vạch lối vào hiện trường nơi xẩy ra thảm kịch. Một anh mặt non trẻ nhưng đeo lon Đại uý trình bày cho “sếp” nghe chút khái niệm ban đầu: Theo lời khai của bà Hai, ngụ ở căn hộ sát vách thì hôm qua, tầm chín mười giờ tối nghe tiếng cãi lộn… Trung tá Mộc hỏi: Ai là người đầu tiên mở cánh cửa nhà trọ đó ra? Công an khu vực ạ. Ai? Tên gì? Gọi chú ấy tới cho tôi hỏi chuyện. Chừng sáu bảy phút sau nghe báo cáo: Đồng chí ấy vừa xin phép được vắng mặt đột xuất ạ. Mộc cau mặt: Thế nà thế lào? Gã Đại uý vừa nói vừa nhìn cánh cửa khép hờ mà đằng sau là hiện trường xẩy ra án mạng: Em gái chú ấy gặp chuyện chẳng may, điện ngay vào bảo chú bằng mọi giá phải chóng ra giải quyết, gây thêm áp lực. Trung tá Mộc thắp lửa điếu thuốc: Lại án mạng? Đại uý tránh nhìn vào mặt người đang phun khói: Hoá ra Trung tá chẳng nắm bắt thời sự? Theo Vietnam net đưa tin bác sĩ Nguyễn Minh Đức, trưởng khoa sản bệnh viện Đức Thọ ở Hà Tĩnh đã kéo đứt cổ trẻ sơ sinh rồi tự tay khâu lại. Sản phụ chính là em gái của đồng chí công an khu vực đang vắng mặt đột xuất.
Mộc hỏi: Cái gì? Kéo đứt cổ là sao? Dạ, là chỉ lôi được cái đầu của em bé ra thôi ạ. Thi thể vẫn kẹt cứng đằng sau cửa mình. Thế mới sinh chuyện chứ ạ. Vị Trung tá cằn nhằn: Mẹ nó chứ. Chỉ dùng tay thôi à? Làm cái đéo gì mà mạnh tay thế!
Tổ trưởng khu phố được gọi tên. Người đàn ông tầm hơn sáu chục tuổi, người gầy dơ xương, mặt nhiều nếp nhăn dồn đẩy trên gương mặt rám choắt bị điểm danh, giật mình. Trung tá Mộc hỏi: Người ta báo cáo bác đi cùng công an khu vực khi mở cửa nhà trọ này? Dạ đúng, mọi khi vẫn vậy. Đi xét hỏi giấy tờ đăng ký tạm trú cũng luôn có đôi cho hợp thủ tục. Mộc lớn tiếng: Tôi không thích hiện trường bị xáo trộn, khi bác xô cửa vào có lục lọi đồ vật trong đó không? Dạ không, tui đi sau lưng anh Chất công an khu vực, tui lấy tư cách chi để mang tật ngứa tay? Thấy người nằm chết chình ình ra đó đã hoảng vía, nghe lạnh cẳng.
Mộc nhìn xuống tử thi: Ai đắp manh chiếu lên người nạn nhân? Tổ trưởng khu phố rụt rè: Dạ tui… Thấy tội nghiệp chẳng cầm được lòng. Mộc bảo: Có nghĩa là hai người chỉ vào nhìn qua rồi bỏ đi? Ông tổ trưởng đáp: Nghe anh Chất nói mình chỉ nên ghi nhận thời điểm, nhiệm vụ của mình không thể đứng ra vạch lá tìm sâu. Bọn tôi tính đi hỏi bà chủ nhà trọ để nắm bắt thêm thông tin thì anh Chất nhận được tin nhắn, anh nói đéo mẹ bọn giết người không gớm tay, xong cái anh cỡi xe máy chạy mất, điệu bộ lúng túng, khẩn trương.
Trung tá Mộc cúi người dùng tay kéo mạnh tấm chiếu lát, lộ hình cái xác trắng hếu. Nạn nhân khoảng độ hai chục tuổi, nằm ngửa và toàn thân đều trần truồng. Tóc cắt ngắn, sợi dây chuyền vàng rơi khỏi cổ, tượng Phật bằng ngọc xanh còn nằm bên vai, ở tay có đeo đồng hồ. Không thương tích, chẳng máu đổ, chỉ có vũng nước loang ở hạ thể. Có lẽ do bị siết cổ và đớn đau hoảng loạn đã khiến nước đái tự động chảy ra. Mộc nói nhỏ: Không loại trừ khả năng là cô này bị hiếp dâm, sẽ xét nghiệm cửa mình xem có chứa tinh dịch không, nhưng đó chẳng phải chuyện của ta. Nhìn lên gã Đại uý: Chú thấy sao? Kẻ thủ ác không lấy đi vật trang sức, đồ đạc chẳng có dấu hiệu bị lục soạn. Và nạn nhân chừng như quen biết với sát thủ.
Gã Đại uý đi tới chiếc giường ngủ đặt ở góc phòng nhặt lên cái túi xách, đổ hết những vật chứa đựng bên trong xuống mặt nệm mỏng: Không có điện thoại di động, e là đã bị lấy đi. Tiền mặt có 750 ngàn. Thẻ chứng minh nhân dân ghi tên Phạm Trần Anh Thư sinh năm 1994. Lạ. Xách tay của phụ nữ phải chứa lắm thứ lỉnh kỉnh… suy ra sát thủ thuộc loại chuyên nghiệp và có dư thời gian… Nó không để lại dấu vết đã đành, lại còn lấy đi những thứ ta xem là manh mối.
Họ lại moi thuốc ra hút. Ông tổ trưởng tự động bật quẹt đưa đốm lửa lại gần môi hai vị đầy tớ nhân dân. Gã Đại uý mặt non trẻ hỏi: Bác làm tổ trưởng khu phố, vậy có biết người bị hại làm nghề nghiệp gì? Lao động ở đâu? Sống đơn thân hay ở chung với ai khác? Dạ, đó là những thứ mà anh Chất và tôi dự tính đi hỏi bà chủ nhà trọ ạ. Tôi chỉ biết là nạn nhân đến thuê nhà trọ chưa được lâu, đâu chừng mới khoảng hai tháng. Gã Đại uý ra lệnh: Bác đi gọi bà chủ nhà vào đây.
Mới rít có ba hơi khói thì bác tổ trưởng lộn lui, có người đàn bà bước ngại ngần theo sau. Qua khỏi ngạch cửa, khi ngó xuống xác người nằm dưới đất liền cất tiếng hốt hoảng: A di đà Phật. Vậy chớ áo quần đâu mà không chịu mặc hở cháu! Ông tổ trưởng: Chết nguyên trạng là thế. Chẳng rõ áo quần có phải hàng hiệu thuộc loại xịn hay không mà đứa giết người cũng muốn soán đoạt sở hữu, lấy đi mất. Tuy chết toàn thây mà nhìn lại cũng thấy thiêu thiếu, phải không chị Huê?
Bà Huê áng chừng năm chục tuổi, tuy mặc bộ bà ba trông bình dân nhưng da thịt và điệu bộ xem chừng là kẻ có của ăn của để. Làm chủ nguyên căn nhà để ngăn chia phòng trọ cho mướn, người đó không thể nghèo được. Trung tá Mộc hỏi ngay: Tiền thuê nhà trọ là bao nhiêu một tháng? Triệu hai. Bị hại làm nghề gì? Trước làm công nhân hàng may mặc trong xí nghiệp nào đó ở Bình Dương, cổ dọn về đây đã hơn tháng, nghe đâu làm ca đêm trong một nhà hàng ở bên quận 5. Thế bà có hay biết những ai là kẻ thường quan hệ tới lui với nạn nhân? Cổ nhiều bạn lắm, cổ cho hay do công việc nên giao tiếp rộng, nhưng được cái là chưa gây ra điều tiếng, sống kín đáo, ít ồn ào, vẫn được lòng chòm xóm ở quanh. Bà con hiếu kỳ bu đông bên ngoài là vì họ hơi bị choáng, Anh Thư là một cô gái hiền lành, vậy mà có ai dè…
Gia đình nạn nhân ở Bình Dương được thông báo về cái chết đột ngột của con em họ. Má Anh Thư đi cùng dượng ghẻ nạn nhân lật đật vào nhà xác làm thủ tục ký nhận, mang đi lo việc hậu sự. Họ câm lặng khi đối mặt với hung tin, lúng túng với thi thể lạnh ngắt chẳng có mảnh vải che thân. Bị chất vấn, người má trả lời vắn tắc: Anh Thư nó thích sống tự lập. Cháu bỏ chúng tôi đi từ lâu. Những gì tôi biết về nó không chắc đã đủ đầy bằng bà chủ nhà trọ.
Phía công an, họ điều tra ra một việc, họ muốn xác tín: Nguyên nhân bỏ nhà đi xa có phải do vụ Anh Thư bị ông dượng cưỡng dâm năm cháu chỉ 14 tuổi. Nghe thế, người làm má khóc oà, không gật đầu chẳng lắc đầu. Khóc dai dẳng, tuồng chất chứa đã lâu chưa có dịp trào thoát. Lôi nỗi đau ra khỏi, cái vết nhơ vẫn bị kẹt cứng ở buồng tim. Đứt đoạn nhưng không vét sạch được một bi kịch.
Trước khi được tẩm liệm vào hòm gỗ tạp, xác kẻ xấu số bị lật qua lật lại cho ông bác sĩ xuất thân từ Củ Chi đưa tay rà soát xét nghiệm theo chỉ thị của hình sự công an. Kết quả giám định: Cửa mình sạch sẽ, cô Anh Thư không bị hiếp dâm, chết do bởi ngạt thở vì bị siết cổ bằng một sợi dây. Ban chuyên án tập trung điều tra tới hai cô bạn gái thân thiết nhất của nạn nhân, không loại trừ khả năng Anh Thư là người đồng tính, ghét và sợ đàn ông qua chấn thương tâm lý mà người dượng từng bạo hành vào năm cô 14 tuổi. Rắc rối ở chỗ, đêm xẩy ra án mạng, theo lời bà Hai thuê ngụ căn hộ sát vách, thì tiếng cãi lộn nghe được là của Anh Thư gây gỗ với một giọng nam. Chỉ có thể khẳng định, vì ghen tuông nên xô xát dẫn đến tử vong. Gái ghen hay trai ghen thì chưa biết, nhưng bạn gái của Anh Thư có cô thể hình chưa nẩy nở đúng hạn kỳ, sức vóc đâu mà nằm đè lên người để siết cổ? Cái thằng đêm hôm đến nhà Anh Thư để lời qua tiếng lại thì chưa có manh mối, cơ sở để nắm bắt nhằm luận tội, truy lùng.
Theo thống kê, trung bình ở địa bàn thành phố, mỗi ngày có khoảng 5 vụ giết người mà lý do cấu thành tội phạm thường vu vơ do đạo đức suy đồi, tánh bản thiện biến mất, kiểu như hai anh em ruột hùn tiền mua vé số, đến lúc trúng lô độc đắc chia chác không hợp lẽ thuận tình, em cầm dao đâm cật lực vào tim anh, xong ôm tiền bỏ trốn, tuần sau thấy bộ dạng trông nghi ngờ, xét giấy tờ rồi bị chận bắt ở cửa khẩu khi tìm cách vượt biên sang Lào. Lý lịch nạn nhân Anh Thư không phải là đảng viên, dân dã bình thường chả mang công trạng gì cho nhà nước nên công an không rỗi việc để hoàn tất cuộc đi điều tra. Lại nữa, bản thân gia đình bị hại chẳng gào la một mực đòi hỏi trắng đen công đạo. Mệt lắm, công việc ở trụ sở công an chất ngập đầu, mãi tồn đọng chưa giải quyết xong. Thôi, quên đi nha. Người dân ở khu vực Chú Ía có một chữ để mô tả vụ Anh Thư, giản dị, kêu bằng “chìm xuồng”.
Chìm ở địa phận nọ nhưng địa bàn khác, Trung tá Mộc lại đánh hơi ra cái khác thường, những muốn tự mình “gạn đục khơi trong”. Vị Trung tá có mười hai năm mặc đồng phục công an, ba năm công tác ở ban chuyên án đã kín tiếng lặng lẽ tìm cách tiếp xúc với cá nhân Chất, công an khu vực chú Ía. Mộc tự giới thiệu bản thân, để làm Chất bớt hoang mang, liền nhập đề: Việc ở cơ quan chả có gì khẩn trương, mình thường mang tật là thích đi giao lưu hỏi thăm các đồng chí trong ngành, ngoài mặt gầy dựng tình cảm biết đâu lại học hỏi thêm bao điều hữu ích nhằm bồi dưỡng vào công tác bảo vệ trị an mà trên luôn đòi hỏi nâng cấp trình độ. Để tâm sự được cởi mở thông thoáng, hay như này, chúng ta tìm tới một quán cà phê…
Chất tính buột miệng: Chẳng mấy khi mà rồng tới nhà tôm, quả thật đó là niềm vinh hạnh lớn lao cho Chất này… Nhưng dù sao sự đa nghi là bản chất của một thằng công an, Chất cố kềm hãm mọi biểu lộ, giữ bộ mặt tỉnh như ruồi. Khi đón nhận một phong bì trao lén lút vào tay, Chất vẫn mang bộ mặt ấy, quen rồi, cứ vờ như đang nhìn đời hiu quạnh chả thấy độc lập tự do hạnh phúc ở đâu cả. Khi một vị Trung tá xa lạ bất chợt đến han hỏi, ta chớ nên tỏ ra xum xoe bợ đỡ. Mẹ kiếp, sự đột xuất nào mà chẳng mang theo một cú thót tim.
Quanh đây có hàng quán nào uống được không? Chất trả lời: Tốt hơn thì nên đi xa một tẹo cho an toàn, đang giờ hành chánh vào ngồi rung đùi trong quán cà phê quen mặt nghĩ cũng không phải. Mộc khen: Chú nói thậm chí lý, tới quận 3 có chốn khuất lấp đèn mờ ta thoải mái vào thư giãn. Để tôi đèo chú đi.
Phục vụ viên trong quán thấy hai ông công an bước vào thì chẳng mấy hồ hởi phấn khởi. Làm ăn buôn bán trong sạch còn cạy mặt huống hồ một quán cà phê thư giãn thắp đèn ngọn tỏ ngọn lu thường bị dán nhãn đồi truỵ. Thời may chị Thắm đứng bên quầy phát hiện ra người quen: Xời, anh Mộc, ngọn gió nào mang anh tới đây? Tưởng đã có lê quên lựu rồi chớ? Hề hề. Mộc cười. Tiếp xúc với dân thì làm mặt quạu nhưng đứng gần chị em phụ nữ cũng nên tỏ ra xởi lởi kẻo má nó khi. Thắm em, dạo này buôn bán thế nào, có phát không? Dạ cũng đắp đổi qua ngày. Bình thường đến đây thư giãn anh mặc đồ dân sự sao bữa nay đóng nguyên bộ vàng khè trông hăm doạ quá. Ờ, anh có chút công chuyện cần giải quyết, tiện thể tạt qua em xem Thắm dạo này như nào. Không dùng bia đâu, mang cho anh hai cái nồi ngồi trên hai cái cốc. Thắm quan sát Chất: Chiện nhỏ. Sữa, đá, đường gì hông?
Để tránh gây phản cảm xúi khách quen sanh dị nghị, làm ảnh hưởng phần nào uy tín của thương hiệu Hương Đồng Cỏ Nội, Thắm ém hai người diện đồ khó coi vào ngồi ở cái bàn nhỏ nằm khuất trong góc kẹt. Định vị xong đâu đó, Mộc nói cho Chất nghe: Hồi nào xuống tinh thần, việc vàng quá căng chú nên lại đây mà xả xì-trét. Ngoài cái Thắm mát mẻ kia ra còn có gần tiểu đội em gái hậu phương được tuyển lựa từ quê lên nom rất là ngon cơm. Điều quan trọng nhất, nếu chúng biết là người của tôi thì y như rằng đồng bọn sẽ thống nhất chỉ xin lấy giá bèo. Sao, chuyến về quê xa thăm em gái sinh nở gặp sự cố đã giải quyết tới ngang đâu?
Chất ngồi rụt cổ, mắt đọng vào cái lon Trung tá đeo ở cầu vai kẻ “vô duyên đối diện”: Dạ, thì tay bác sĩ nhận chịu trách nhiệm việc làm sai quấy gây tử vong hài nhi suýt giết luôn sản phụ và bệnh viện ấy đứng ra bồi thường 15 triệu đồng.
Chú có trực tiếp làm việc với ban lãnh đạo bệnh viện không? Về Hà Tĩnh ở bao lâu? Mẹ nó chứ, chỉ có bọn bác sĩ là không đi tù khi lỡ giết người. Nhưng nói cho ngay thì các đồng chí công tác trong ban ngành mình cũng thường được ưu đãi. Giả dụ chú giết ai đó, ra toà họ định tội là bảy năm, nhưng suy đi nghĩ lại vì chú là công an thì rốt cuộc chỉ ăn cơm tù có hai năm thôi. Nhập kho chỉ hai năm, chú thấy dài hay ngắn?
Chất nghe miệng đắng. Mồ hôi ứa ra trên trán còn nhanh hơn mấy giọt đen đang thong thả rơi từ cái nồi xuống cái cốc. Chất ngó Trung tá Mộc, mắt mờ chả thấy gì, hoang mang nhìn tới một con mèo đen đương bày ra móng vuốt. Chất tuổi Tý, bổn mạng cầm tinh con chuột. Chuột đánh hơi bị mèo dồn vào chân tường hơi bị sớm.
Giọng mèo nghe giảo hoạt: Tôi ngầm điều tra biết chú không đi Hà Tĩnh. Chú đánh hỏng một nước cờ, dân chuyên nghiệp vẫn luôn tạo được chứng cớ ngoại phạm bằng cách vắng mặt ở hiện trường khi gây án; đằng này chú lại kiếm cách xin nghỉ việc sau khi án mạng xẩy ra. Tối hôm đó chú to tiếng với nạn nhân, mâu thuẫn về điều gì? Hãy thành thật khai nhận. Chú thấy đó, tôi đã mang xe lại mời chú đi uống cà phê, động thái rất ư tình cảm. Vụ này lọt vào tay một thằng Trung tá khác tôi, hẳn chú đã hình dung ra tình huống căng thẳng, xui tận mạng, bị đuổi ra khỏi ngành công an béo bở.
Chất thắp lửa điếu thuốc với bàn tay run. Rít liên tục, khói mù trôi nặng xuống bàn. Anh Thư là hàng độc, sở hữu một ngoại hình bắt lửa, là gái gọi có thế giá. Thằng Chất này làm công an khu vực nên giữa chúng tôi có ký một hợp đồng, rằng tôi bảo đảm sự an toàn của cô ta ngược lại cô ấy sẽ chi trả cho tôi mức 7/3. Ví như được 1 triệu thì tiền tôi nhận là ba trăm ngàn. Trước đó hai đêm tôi đón được đơn khai báo của một Việt kiều Mỹ cho hay vừa bị đánh cắp mất bốn ngàn đô la ở trong khách sạn Hoa Sen. Những chi tiết mô tả về cô gái làng chơi rất trùng với Anh Thư. Tôi đến nhà trọ, cô bảo đừng nghe người ta đặt điều, có thằng Việt kiều nào mà ngốc thế? Điên hay sao mà lận tới bốn ngàn đô khi đi chơi gái. Nè, phần anh là hai trăm đô.
Mộc hỏi: Cớ sao chú lại cởi hết áo quần cô ấy?
Giọng Chất lí nhí như chuột kêu: Ngồi trên giếng khát nước đã lâu, tôi định đòi hỏi về tiết mục nọ nhưng nghe tiếng lục đục bên vách nhà hàng xóm…
Mộc: Siết cổ trước, hiếp dâm sau?
Chất: Có sao đâu? Dù không thoả mãn thì mình cũng nguỵ tạo hiện trường, gây nghi ngờ về cái chết chẳng rõ ràng.
Mộc: Thế điện thoại di động của nạn nhân? Chú bán được bao nhiêu?
Chất: Tôi không bán. Tôi gửi về cho em gái gọi là chút quà nhằm uỷ lạo tinh thần.
Mộc: Bốn ngàn đô. Chú đã làm rách phần nào thứ tài sản từ trên trời rớt xuống đó?
Chất: Chẳng những giữ nguyên vẹn tôi xin góp thêm vô năm trăm đô gói gọn gàng vào ba lô để kỉnh anh.
Mộc cười hể hả: Nghiệp vụ công an chú tuy còn ở cấp mầm non nhưng trình độ suy nghĩ của chú thì xem như đã lên cấp đại học. Bao giờ thì tôi nhận hàng?
Chất nói không suy tính: Tối mai, mười giờ, quán cà phê vườn Hoa Dại.
Khi chia tay với đối tác. Đồng chí Chất từ chối leo lên xe của đồng chí Mộc. Mèo đi đường mèo, chuột tìm về hang ổ riêng tư. Chất bắt xe ôm biểu chở về cầu chữ Y. Xuống ở đầu đường, Chất rẻ vào hẻm đi theo hình chữ chi, gặp đứa con nít đang chơi tán lon, hắn thành đứa giao liên dẫn Chất vào đúng nơi Chất muốn. Trần Văn Tám có ngoại hiệu là Tám Tàng, trước đóng đô dưới chân cầu Nhị Thiên Đường, trong một thương vụ vô phúc bị đụng nặng, thất thoát và hao hụt một số đàn em, Tám Tàng chọn cầu chữ Y làm hiểm địa gầy dựng lại thanh thế. Tám Tàng nổi tiếng ở chỗ “ăn chơi không sợ mưa rơi”, có nghĩa là hắn đứng ra nhận việc từ chuyện nhỏ cho chí chuyện lớn. An tâm đi, từ a tới z thằng Tám này thảy đều đáp ứng, xử gọn. Không đẹp không ăn tiền.
Trước tiên, Chất mở túi áo lấy ra cuốn sổ nhỏ cùng cây viết. Chất vẽ hoạ đồ địa điểm cà phê Hoa Dại cùng ba lối dẫn vào quán. Tám Tàng cười mũi: Như vậy là hơi bị xem thường thằng Tám đó nha. Quá hơn Khổng Minh dặn dò Quan Công nên đi vào tiểu lộ. Chất nói: Không dám đâu. Tôi chỉ muốn “đại ca” ẩn mình phục kích ở đây, một công trình thi công dang dở việc xây dựng gần như bỏ hoang cách Hoa Dại đúng năm trăm thước. Tầm mười giờ tối mai tôi đi cùng con mồi, hắn cũng là công an, đi vào bằng lối này. Sau đó tuỳ cách động binh của đại ca.
Tám Tàng nhổ bãi đờm xuống đất: Công an à? Nói anh hai đừng ngầy ngà chớ khử được ông nào tốt ông đó. Mức độ tàn phế?
Chất nói, lời gọn, nhai chỉ một chữ: Chết.
Tám Tàng quay lưng, tới trang thờ Thổ địa thắp ba cây nhang, chắp tay vái vái. Trong dĩa đặt dưới đất có ba trái xoài héo, nhăn da, co quắp, tuồng như gia chủ bận rộn quá xá việc, chưa tiện thay hoa quả tươi mới.
Hai thứ cần lưu tâm, thứ nhất nạn nhân là công an, thứ hai buộc nó phải chết. Do vậy anh hai nên hiểu giá cả có hơi khác thường, đắt chút đỉnh.
Không thành vấn đề. Tôi chẳng có sẵn ngân lượng xứ mình, đại ca chấp nhận thu nhận 700 đô Mỹ nghen.
Sao lại đề ra con số trông chơ vơ ấy? Nhằm giải quyết êm đẹp, tính luôn cả việc không gây ra hậu hoạn, Tám này đóng chốt 1000.
Xong. Cầm trước một nửa, nửa kia tôi trao nốt sau khi con mồi đi đong.
Bận sau có đi giao việc, anh hai làm ơn đừng mặc đồng phục kiểu này, bộ tính nhát ma bọn trẻ trong xóm sao?
Công an Chất trở ra ngoài đường cái. Người nhẹ cơ hồ có thể phi thân lên nóc nhà hóng mát. Từ giờ cho tới đêm mai, kim đồng hồ chừng như đang uể oải đình trệ việc chuyển dịch. Hừ, mày tưởng Trung tá ban điều tra chuyên án là ngon hả. Nghiệp vụ tao chỉ tốt nghiệp cấp mẫu giáo, nhưng mầm non có cái vô tư của mầm non. Vào ngày mốt, cõi đời oan nghiệt này sẽ có thêm một bóng ma, chúc mày sớm siêu thoát.
Chất đi tìm chỗ ít người qua lại, vạch quần đứng đái, rùng mình.
Gần cả tháng nay, em yêu đi chợ về, mặt nhăn mày nhó. Ðồ ăn cái nào cũng đắt, cũng mắc. Tiền già bị nó ngắt te tua như tàu lá chuối trong cơn gió loạn.
Nghe em yêu rên rỉ như vậy, mấy giáo sư Kinh tế nghe cũng kinh đến thế; bèn chạy u ra siêu thị để xem sự thể ra sao?
Thì y như kinh, chớ em yêu của tui không có phao tin giả. Khoảng 7000 mặt hàng chưng trên kệ tại Woolworths và Coles cái nào cũng lên giá như pháo thăng thiên. Từ dầu, bơ, sữa, trứng, mì ống, trái cây, rau cải… tăng 15-20% hay hơn nữa. Thực phẩm tăng, tất nhiên đi nhậu ở nhà hàng tốn nhiều tiền hơn. Tốn thêm thứ một chút là tốn khẳm địa.
Mà đâu chỉ nước Úc Kangaroo nầy bị lạm phát đâu. Chú Sam Hoa Kỳ và 38 nước trong khối OECD, (Tổ chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế Thế Giới) giá cả đều tăng hết ráo.
Nhưng tại sao giá cả lại tăng? Nếu không biết câu trả lời, cứ bắt chước các chánh trị gia đổ thừa cho COVID-19 là xong ngay.
Vì đại dịch, nhà máy phải đóng cửa. Sản xuất ít hàng hóa, giá tất phải lên. Thiên hạ bu lại giành nhau mua; ngu sao mà không bán mắc chớ?
o O o
Anh Ba Hợi hồi còn trong nước có cái sạp thịt heo trong chợ Tân Ðịnh, đường Hai Bà Trưng, quận Nhứt Sài Gòn. Qua Úc, thấy thiên hạ ít ăn thịt heo, (vì một số theo đạo Hồi nó cữ). Ngon nhứt hạng trên thế giới (chỉ thua thịt bò Kobe của Nhựt) vì Bò Úc được nuôi bằng cỏ với hèm bia. Nên Úc gốc Anh, gốc Ý, gốc Hy Lạp, gốc Trung Ðông… gốc cây, đứa nào cũng đớp. Chỉ có mấy đứa Chà Và cà ri, theo đạo Hindu là nó cữ. Nhưng số thờ bò nầy ít, không đáng kể.
Vì vậy, dù Úc nói tiếng Anh, anh Ba Hợi đổi qua tên Tây Phi Lê (Fillet) cho nó oách để đi bán thịt bò.
Mấy em ‘Mít’ đi chợ Footscray cười nhạo ảnh! Một chữ tiếng Tây không biết mà còn lấy le, lấy tên là ‘Phi Lê’. Mấy em tẩy chay cái tên Phi Lê, gọi là anh Ba Bò (ám chỉ ảnh ngu như bò). Sở dĩ mấy em không thích anh Ba Phi Lê vì anh có tật dê. Thấy em nào đẹp đẹp, sạch nước cản, đi chợ một mình không có chồng tò tò theo xách giỏ là ảnh bán rẻ. Lúc giao thịt, còn tranh thủ cọ quẹt tay của người ta. Thiệt là thằng cha già mất nết!
Làm nghề đồ tể gần hết cả đời, kinh nghiệm cùng mình, anh Ba Phi Lê cho tui biết: “Thịt bò hiện giờ mắc hơn tới 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong 31 năm bên Úc làm nghề bán thịt bò, tao chưa từng thấy điều gì như vậy. Tao nghĩ có thể sẽ tăng từ 10 đến 15% trước cuối năm nay. Và nó vẫn chưa kết thúc”
Tui hỏi sao anh biết? Mặc dù nhỏ bú sữa bò, lớn lên bán thịt bò, nhậu cũng ‘bít tết’ bò, ‘phi lê’ bò nhưng thằng chả không ngu như bò đâu. (Chỉ ngu như con lừa thôi). Anh Ba Phi Lê cắt nghĩa tại sao thịt bò Úc nó mắc nghe rất là thông thái như vầy nè: “Nước Úc hạn hán khốc liệt gần 10 năm liên tục. Trời không mưa. Ðất không nước. Cỏ không mọc. Bò lấy gì nhơi? Hậu quả tất nhiên đàn bò thịt khắp nước bị giảm xuống. Nuôi bò ít, ắt thịt bò cũng ít. Thịt ít mà dân Úc ăn cũng vậy tất giá ắt phải lên, phải mắc hơn! Giàu có tiền, cứ ăn, mắc rẻ đâu là chuyện lớn! Nghèo thì treo mỏ, nhịn thèm nhểu nước miếng, dòm miệng thiên hạ ăn!”
Anh tiếp tục lên giọng làm cha: “Bấy lâu nay anh thấy chú mầy đem bụng ở đời. Giờ ăn ít thịt để giảm cân, giảm mỡ máu. Ðỡ tốn.
Anh cũng nói y hịt như vậy với con vợ anh ở nhà. Nó kính cẩn nghe lời (hiếm khi lắm nhe) nên cái vòng số hai của em yêu thon gọn hơn. Anh chú mầy đã ở nhà mỗi tối nhiều hơn. Tuần chỉ trốn đi nhậu có một lần; chớ hổng phải tối nào cũng đi như lúc trước”
“Tuy nhiên, may một cái là gần đây nước Úc mưa nhiều hơn, đồng cỏ xanh tốt hơn. Ðàn bò nuôi lấy thịt đang hồi phục. Chú mầy chỉ cần thắt lưng buộc bụng ít ăn thịt bò chừng một năm rưỡi nữa thôi.
Còn ngay lúc nầy, nguồn thịt bò có hạn mà người ăn vẫn nhiều thì giá thịt bò vẫn vọt lên như hoả tiễn. Giá thịt cừu cũng tăng nhưng ít hơn thịt bò”.
Và vẫn còn may mắn cho túi tiền em yêu của tui là: dăm bông, xúc xích, thịt băm, thịt gà tây và thịt heo giá vẫn còn suýt soát như hồi năm ngoái.
Bảo Huân
o O o
Tui hỏi anh Ba Phi Lê: “Có phải anh cắt nghĩa vòng vo để biện hộ cho chuyện bán thịt bò cho con vợ tui mắc quá phải không? Tui nghỉ ăn thịt bò. Tui ăn tôm hùm?” Anh Ba Hợi nghe vậy thất kinh hồn vía, tưởng tui mới vừa trúng số, nên nhìn tui lom lom, rồi hỏi: “Cu li! Tiền đâu chú mầy ăn tôm hùm?”
Bị chê là cu li, nghèo, ăn tôm hùm? Sức mấy? Tui tự ái, quạt lại: “Bán thịt bò, anh chỉ biết con bò. Anh không nhìn xa hơn cái ‘ngầu pín’. Anh không biết gì ráo mà còn ba xạo”
Tui lên giọng thầy đời: “Úc và Trung Cộng đang chơi nhau trận chiến tôm hùm đó!”
Ngửa cổ làm một hơi, hết chai VB (Victoria Bitter) cho thấm giọng, tui lên lớp anh Ba Phi Lê một bài về con tôm hùm thời mắc dịch như vầy nè: “Tôm hùm là món hẩu xực trong ẩm thực Trung Quốc. Tàu Cộng nhập 90% số tôm hùm Úc xuất cảng. Nghĩa là có 10 con tôm hùm, Úc đem đi bán thì chú, thím ba giành ăn hết 9 con. Nên dân ngu khu đen như tui với anh bấy nay chỉ được ăn tôm hùm xào tỏi trong mơ thôi… vì nó mắc quá!”
“Nhưng giờ gió đã đổi chiều! Tôm hùm một ký chỉ còn 70 đô, bằng nửa giá năm ngoái!” “Trong khi giá thứ nào cũng leo lên giá tôm hùm lại tuột xuống? Tại sao vậy?”
“Chẳng qua Úc kêu Trung Quốc điều tra con ‘coronavirus’ ở đâu ra để thế giới biết để phòng ngừa cơn đại dịch mới có thể lại sẽ xảy ra. Yêu cầu vậy là đúng. Ðâu có gì là quá đáng?”
Nhưng nghe vậy, Tàu Cộng như đỉa phải vôi, ngúng nguẩy và giận lẫy. Chú ba bèn cấm nhập lúa mạch, bông, rượu vang và ngay cả tôm hùm… Ngay cả than đá chú ba cũng cấm. Mùa Ðông, nhà máy nhiệt điện không có than đá đốt lò. Thiếu điện lạnh quéo. Làm ‘bu-gi’ của mấy chú ba teo héo bằng trái ớt hiểm.
Úc tức quá đi thưa WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới) chuyện Trung Quốc bán buôn cà chớn, bất chấp luật lệ quốc tế. Chơi đểu! Không công bằng! Thấy cơ hội làm ăn, mấy chú ba Hong Kong chớp thời cơ nhập tôm hùm và hải sâm của Úc lên gấp đôi. Rồi chờ khuya khuya, lấy xuồng cao tốc chở qua đại lục bán kiếm tiền. Bọn Hải quan Hong Kong đánh hơi được. Chúng muốn ăn tôm hùm và hải sâm miễn phí bèn tổ chức vây bắt. Tôm hùm, hải sâm lên tới hàng tấn bị tịch thu. Cụt vốn mà còn nhốt người ta nữa. Cục trưởng Hải quan Hồng Kông tuyên bố tôm hùm, hải sâm của Úc nhập lậu vào Trung Quốc đại lục là mối đe dọa an ninh quốc gia.
Úc bèn lên tiếng hỏi: “Tôm hùm nhập cảng là để hẩu xực mà đe dọa an ninh quốc gia cái giống gì?”. Úc yêu cầu Tàu giải thích nhưng mấy chú ba nầy nín khe.
Cái thói của CS, (dầu bên Tàu, bên Ta) đều một giuộc. Muốn bắt ai thì chụp cho nạn nhân cái mũ ‘đe dọa đến an ninh quốc gia’
Chính vì những chuyện tào lao của mấy chú ba Tàu như vậy nên tôm hùm Victoria giá đang rẻ nhứt trong 6 năm tính từ năm 2015.
Thôi thì vì cái nghĩa đồng bào, giúp ngư dân Úc đang dội chợ, chúng ta ăn tôm hùm. Vừa ngon lại rẻ.
Tui tin chắc như bắp là trên hầu hết các bàn tiệc Giáng Sinh của người dân Úc năm nay chắc sẽ có: Tôm hùm nướng bơ tỏi, nướng phô mai, rang muối, hấp bia. Tôm hùm xào mì, xào miến.
Càng kể nước miếng của tui càng nhểu ra, chảy dài tới rún hè!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.