vietmessenger.com
Erich Maria Rematque
Bản dịch Tâm Nguyễn
Post by Sơn râu 9 Apr 2026


Chương 6
Có tin đồn là sẽ tấn công. Chúng tôi ra mặt trận hai ngày sớm hơn thường lệ. Dọc đường, chúng tôi đi ngang một ngôi trường bị oanh kích. Sắn đọc theo chiều dài là hai dãy quan tài gỗ vàng không đánh bóng. Còn ngửi mùi thông, mùi rừng. Ít ra cũng đến trăm cỗ.
«Chuẩn bị công kích như thế kể cũng chu đáo, » Muller nói vẻ kinh ngạc.
«Cho bọn ta đấy,» Detering nó gằn.
«Đừng nói gở,» Kat cáu sườn bảo hắn.
«Còn được cỗ áo quan là còn phúc đức. »
Tjaden nham nhở, «cái thân cà khổ này họ thí cho mành vải dầu là may. »
Mấy thẳng khác cũng đùa, những câu đùa bực mình, nhưng họ còn biết đùa sao?
– Thực ra thì các quan tài là dành cho mình. Tổ chức chu đáo đến thể là cùng.
Trước mặt chúng tôi, cái gì cũng đang ầm ỉ. Đêm đầu tiên chúng tôi thử tìm phương hướng. Khi êm êm đôi chút chúng tôi nghe tiếng các xe công voa sau các chiến tuyến địch không ngừng chạy cho đến bình minh.
Kat nói chúng không trở lui mà chuyển lính đến – lính, và đạn dược. Trọng pháo Anh đã được củng cố thêm, điều đó chúng tôi được biết ngay. Ít nhất cũng thêm bốn cỗ hăm lăm li nữa đặt bên phải ngôi trại và sau các cày bạch dương chúng đã đặt súng cối. Ngoài ra chúng còn đưa thêm một số súng phóng hỏa châu nhỏ của Pháp. Chúng tôi xuống tinh thần. Nằm ẩn đến hai tiếng đồng hồ giờ đây chính đạn mình lại bắt đầu đồ xuống chiến hào mình. Đây là lần thứ ba trong bốn tuần. Nếu bảo là nhắm lầm thì chả ai sao, nhưng sự thật là nòng súng đã mòn. Đạn bắn không còn chính xác nên thường nhè ngay chính chiến tuyến nhà mà rơi xuống. Đêm nay có hai thằng bị thương vì thế.
Mặt trận là một cái chuồng trong đó chúng tôi sợ sệt chờ đợi bất cứ những gì xảy đến. Chúng tôi nằm dưới cả một cái lưới đạn và sống hồi hộp hoang mang. May mắn rủi ro chập chờn trên đầu chúng tôi. Đạn bay đến chỉ biết nằm rạp, thế thôi; chẳng biết cũng chẳng nhất định được là nó sẽ rơi xuống đâu. Chính cái May Rủi này khiến chúng tôi thản nhiên. Cách đây mấy tháng tôi đang ngồi tại một hầm chơi cắc tê, một lúc tôi đứng lên sang thăm mấy thằng bồ ở một hầm khác. Khi trở về chả còn thấy cái gi, hầm bị trúng đạn tiên tan. Tôi trở lại hầm kia thì vừa đúng lúc giúp một tay đào bới. Sau đó hầm cũng sập luôn. Tôi hiện còn sống nhăn răng hay cũng có thể đã ngỏm củ tỏi chẳng qua cũng là may rủi. Trong một cái hầm chống bom tôi vẫn có thể nát ra như cám và trong một cái hầm trống khơi khơi có thể chịu đựng mười giờ oanh tạc vẫn chẳng sao. Không thằng lính nào sống sót cả ngàn lần may rủi. Nhưng thẳng lính nào cũng tin tưởng ở May Rủi và tin chắc ở cải may của mình. Chúng tôi phải canh chừng bánh. Chuột càng ngày càng lắm vì chiến hào không còn mới mẻ gì. Detering cho đó là dấu hiệu chắc chắn thế nào cũng có oanh tạc. Chuột ở đây ghê tởm cách lạ, chúng béo thù lù-cái loại mà chúng tôi gọi là chuột thây ma. Tròng mặt chúng trơ trẽn, thâm độc và gớm ghiếc quá và thấy đuôi chúng dài thườn thượt trơ bóng mà lợm mửa. Chúng hình như lúc nào cũng háu đói. Chả ai mà bánh lại không bị chúng gặm. Kropp lấy vải dầu gói lại nhét dưới đầu, nhưng cu cậu đếch ngủ được vì chúng leo cả lên mặt cu cậu mò bánh. Detering đòi khôn hơn chúng, hắn buộc một sợi dây thép nhỏ lên mái rồi treo bánh lùng lẳng. Giữa đêm khi bật đèn pin thấy dây đu đưa. Một con chuột béo ù ngồi chồm hỗm trên chiếc bánh.
Sau cùng chúng tôi phải tính chuyện chấm dứt cái trò này. Chúng tôi không thề phí bánh vứt đi, vì sáng ra gần như không còn gì để nhá, nên thận trọng cắt bỏ những chỗ bánh bị chúng gặm. Những miếng cắt bỏ, chúng tôi chất đống lại giữa hầm. Mỗi thằng thủ sẵn bàn sẻng nằm chờ lúc ra tay. Detering, Kropp và Kat cầm đèn pin sẵn sàng bật. Vài phút sau nghe có tiếng lào xào lôi kéo. Tiếng to dần và rồi là tiếng nhiều bàn chân nhỏ bé. Thế là đèn pin bật lên và mấy thằng cũng đập lên đống bánh vun và bọn chuột chạy tung toé. Kết quả tốt đẹp. Chúng tôi liệng xác chuột qua bên kia hào và lại nằm rình. Cứ như thế rất nhiều lần. Mãi rồi mấy con quỉ nó cũng khôn ra, hay có lẽ chúng ngửi thấy mùi giết chóc. Chúng tôi không trở lại nữa. Tuy nhiên, trước khi trời sáng, những mẩu bánh còn sót cũng được khiêng đi lúc nào không biết. Ở kbu bên, chúng tấn công hai con miu bự và một chú cầu, cắn kỳ đến chết rồi ăn thịt luôn. Hôm sau chúng tôi được phát phó-mát Edamer. Mỗi thằng gần một phần tư miếng. Một mặt được ăn thì cũng khoái khẩu, vì Edamer là loại ngon – nhưng mặt khác thì cũng đáng lo, vì các quả ban đỏ mập là dấu hiệu của chuyện chẵng lành sắp đến. Lời tiên đoán của chúng tôi càng đáng ngại khi lại được uống cả rum nữa. Dĩ nhiên uống vẫn nồng nhưng cũng chẳng thấy bớt lo bớt sợ. Hàng bao ngày ngồi rảnh giết chuột. Đạn dược lựu đạn đến càng ngày càng lắm. Còn thay cả lưỡi lê nghĩa là những lưỡi sống và lưỡi cưa. Tụi bên kia anh nào mà lại nhìn thấy một thằng với một lưỡi lê này cứ gọi là chết không kịp ngáp. Ở khu vực bên, có thằng sợ ý mất cha nó mũi và lòi tròng mắt cũng chỉ vì cái lưỡi lê có lưỡi cưa của minh. Miệng mũi lắm khi sặc vì mùn cưa. Có đôi chú tân binh cũng được phát lưỡi lê loại này; chúng tôi phải tịch thâu và cho các chú những lưỡi lê thường. Nhưng trên thực tế lưỡi lê không còn quan trọng nữa. Cái lối thông dung bâv giờ là xung phong bằng bom và bàn sẻng mà thôi. Bàn sẻng sắc là một khí giới tiện lợi và đa diện, không những múa sẻng chặt địch thủ dưới cằm, mà cầm giáng xuống cũng mạnh hơn vì nặng hơn và nếu chém trúng giữa cổ và vai nó còn chẻ xuống ngực.
Lưỡi lê khi đâm thường bị vướng và phải đá mạnh vào bụng địch thủ để rút ra và trong khi đó mình có thể lãnh đủ. Tệ hơn nữa, lưỡi dễ gẫy. Đêm đến địch thả hơi ngạt. Chúng tôi tiên đoán chúng sẽ tấn công nên đeo mặt nạ nằm phục sẵn, sẵn sàng hễ thấy các bóng đầu tiên xông đến là đánh tan. Bình minh sắp đến mà cũng chẳng thấy gì xảy ra-chỉ có tiếng rần rộ không ngừng nghe đến bực sau chiến tuyến địch, tàu, tàu, xe, xe chả hiều chúng tập trung cái mẹ gì mà lắm thế? Trọng pháo chúng tôi bắn liên miên, tuy nhiên cái tiếng kia vẫn chẳng dứt. Mặt mũi rã rời, chúng tôi tránh nhìn thẳng mặt nhau. «Giống như trận Somme,» Kat nói lầm lì. «Trận đó chúng tao bị pháo kích ròng rã bảy ngày bảy đêm.» Từ ngày đến đây, Kat không còn vui tính nữa, một điềm không hay, vì Kat là tay kỷ cựu có thể ngửi được những gì sắp đến. Chỉ có Tjaden có vẻ thích thú vừa được ăn ngon vừa được uống rum, hắn cho rằng mình sẽ lại về nghỉ mà chả có mẹ gì xảy ra. Trông thì có vẻ thế. Hết ngày này đến ngày khác. Đêm đến tôi ngồi chồm hỗm trong hầm canh. Trên tôi là hỏa châu bắn lên lơ lửng tà tà bay xuống, Vừa đề phòng vừa căng thẳng, tim tôi đánh thùm thụp. Mắt tôi chốc chốc lại nhìn xuống cái mặt sáng của chiếc đồng hồ đeo tay; kim như không muốn chạy. Buồn ngủ muốn rụng mắt, tôi cựa quạy ngón chân trong bốt để khỏi ngủ. Chả gì xảy ra cho đến khi được thay phiên; – ngoài cái tiếng rần rộ ở bên kia. Dần dà chúng tôi bình tĩnh hơn đánh các tê xì phé suốt ngày. Có lẽ mình may chăng.
Chúng tôi tỉnh giấc giữa đêm. Mặt đất như muốn long. Hỏa lực trọng pháo rơi xuống chúng tôi. Chúng tôi nằm rạp vào các xó. Chúng tôi nhận rõ đạn đủ cỡ. Từ từ cái ánh sáng xam xám lọt vào hầm. Thằng nào thẳng nấy ôm chặt lấy đồ lề chốc chốc lại nhìn xem cho chắc có còn đấy không. Hầm hố rung chuyển, đêm tối gầm rú chởp loè. Chúng tôi nhìn nhau qua các làn chớp, mặt xauh mét môi mim chặt và lắc đầu.
Ai nấy đều biết các đạn nặng đang xé toac bờ lũy, đang nhổ tung các chân đê, đang tàn phả các lớp bê tông thượng tầng. Khi có quả rơi vào chiến hào, chúng tôi nhận thấy cái tiếng nổ oang oang cuồng nộ giống như cái táp của cái bàn chàn một con ác thú. Sáng ra đã có mấy chú tân binh xanh mét như tàu lá và mửa thốc mửa tháo. Họ còn non quá mà, và làm nhạt các làn chớp của bom đạn, Trời đã sảng, tiếng mìn nổ xen lẫn tiếng súng. Nghe mà phát điên lên được. Cả một vùng chúng đến viếng trở thành một cái huyệt. Toán thay phiên đi ra, toán quan sát đi vào, thất thểu, bẩn thỉu, run rẩy. Một anh nằm nín thinh trong xó, miệng nhai, anh khác, viện binh trừ bị, khóc sụt sịt, hai lần hắn bị sức nổ ném ra ngoài hào mà không sao chỉ chỉ có tức thở.
Bọn tân binh nhìn hắn. Chúng tôi phải canh chừng chúng, cái thứ này hay lây, có vài thằng đã mắp máy đôi môi. Cũng may mà là ban ngày, không chừng địch tấn công trước trưa.
Pháo kích không ngừng. Pháo rơi cả phía sau. Chỉ thấy những chòm bùn và thép. Một vòng đai rộng đang bị cào xé. Tắn công không thấy đến, nhưng pháo kích vẫn tiếp tục. Dần dà chúng tôi trở thành câm như hến. Chả thẳng nào mở miệng. Có nói cũng chẳng ai nghe ra. Chiến hào chúng tôi hầu như không còn. Nhiều chỗ thì chỉ còn chừng bốn tấc, toàn hang toàn hốc và hàng núi dất. Một quả rơi ngay trước vị trí chúng tôi. Tức thì tối mù. Chúng tôi bị vùi đất phải bới để ngoi ra. Một giờ sau cửa hào lại thông và chúng tôi cũng bình tĩnh hơn vì có việc phải làm.
Ông đại đội trưởng bò đến cho biết hai hầm bị tiêu. Thấy ông bọn tân binh cũng vững dạ. Ông nói người ta đang lo tiếp tế thực phầm tối nay. Nghe có vẻ ngon lành. Chả ai nghĩ đến ăn trừ thẳng Tjaden. Giờ thì cái thế giới bên ngoài như gần gũi hơn một chút, nếu còn tiếp tế được thực phẩm, bọn tân binh nghĩ, thì cũng chưa đến nỗi nào. Chúng tôi không muốn làm chúng thất vọng, chúng tôi biết ăn cũng cần như đạn và vì thế cần được tiếp tế. Nhưng không xong. Một toán thứ hai được phái đi, rồi cũng phải quay lại. Cuối cùng đến Kat đi thử và ngay cả bác cũng không làm được gì hơn. Không ai qua lọt, dù là một con ruồi nhỏ, cái hàng rào hỏa lực này.
Chúng tôi siết chặt thắt lưng và mỗi miếng nhai lâu hơn gấp ba. Tuy nhiên lương thực cũng chẳng được lâu. Chúng tôi đói cào ruột. Tôi lắy ra một miếng bánh, ăn cái ruột cất cái vỏ vào ba-lô, chốc chốc lại nhắm một tí.
Đêm không chịu nổi. Không tài nào chợp mắt, chỉ trố mắt nhìn trên đầu và chập chờn Tjaden tiếc là đã phí phạm những mẩu bánh chuột nhấm. Giờ có mà ăn phải thú biết may. Đã thế lại thiếu nước, nhưng cũng chưa đến nỗi nào. Về sáng khi trời còn tối, có sự nhốn nháo. Một đàn chuột tản cư đâm bổ vào như phá tường. Đèn pin bật tứ tung. Thẳng nào cũng hét cũng chửi cũng ra tay sát. Nhờ thế mà nhẹ được cái điên người, cái tuyệt vọng đè nén trong người suốt hàng bao nhiêu giờ dài đăng đẳng. Mặt nhăn nhó, cánh tay giáng xuống, bọn chuột kêu chút chít; chúng tôi vừa ngưng kịp đề tránh nện vào nhau. Cuộc tàn sát làm chúng tôi mệt lử. Chúng tôi lại nằm rình. Cũng là điều kỷ lạ là hầm chúng tòi cho đến giờ cũng chưa ai sao cả. Đây là một trong vài cái hầm sâu. Một chú cai bò vào, mang theo một ổ bảnh. Trong đêm qua có người may mắn lọt qua mang theo ít lương thực, Họ bảo pháo kích liên miên sang đến tận tuyến trọng pháo. Không rõ dịch xoay đâu mà lắm pháo thế. Chúng tôi hết đợi lại đợi. Vào trưa, cái gì tôi chờ đợi đã xảy ra. Một chú tân binh lên kinh. Tôi để ý hắn đã lâu. Thấy hắn nghiến răng kèn kẹt, hai tay mở ra nắm vào. Đôi mắt khờ khạo trợn trừng, chúng tôi biết quá mà. Trước đó vài giờ trông hắn có vẻ còn bình tĩnh. Hắn ngã xuống cái đụi. Giờ hắn đứng lên, rờ rẫm bò qua hào, ngập ngừng một lát đoạn toan chuồi ra cửa, Tôi chận hắn lại bảo: «Đi đâu đấy? »
«Tòi trở lại ngay mà,» hắn nói, cố xô tôi ra.
«Đợi chút, pháo kích ngưng bây giờ.»
Hắn nghe ngóng một lúc mắt sáng ra. Nhưng rồi lại khờ khạo như con chó dại, hắn lẳng lặng gạt tôi ra bên.
«Này nhóc. tao bảo, » tôi nói. Kat nhìn thấy. Vừa lúc chú tân binh giầng co vởi tôi thì Kat nhảy lại và chúng tôi giữ chặt lấy hắn. Thế là hắn bắt đầu la hét: «Đề mặc tôi. Buông tôi ra, tôi đi đây! »
Hắn không chịu nghe gì hết, vung tay đánh tứ tung, miệng sùi bọt nói lăng nhăng, tiếng được tiếng chăng. Đúng là chúng sợ tù túng, hắn cảm thấy minh ở đây như bị ngạt thở và muốn thoát ra với bất cứ giá nào. Để hắn ra là hắn sẽ chạy vung tứ mẹt bất chấp bom đạn. Hắn đâu phải là thằng đầu. Mặc cho hắn mắt lơ lơ láo láo, biết làm sao được, chúng tôi đành phải giáng những đòn thật đau cho hắn tỉnh. Chúng tôi giáng là giáng không nương tay, rồi hắn mới chịu ngồi yên cho. Bọn kia tái mặt; mong rằng chúng ngán. Tội chúng quá, pháo kích như thế chúng sao chịu nổi, chân ướt chân ráo từ phòng tuyển mộ bị tống ngay ra hàng rào pháo kích, chúng chứ đến linh cựu cũng sợ đến bạc tóc. Sau cái vụ này, bầu không khí kín bưng đặc sệt làm chúng tôi thêm căng thẳng, Chúng tôi như ngồi dưới huyệt chờ được lấp lại. Bỗng lại hú lại chớp khủng khiếp, hầm kêu răng rắc dưới một quả rơi ngay trên đỉnh cũng may là quả nhỏ nên bê tông còn chịu nổi. Các tường rung chuyền, ughe leng keng, súng, mũ, đất, bùn, bụi bay tứ tung. Mùi thuốc súng tràn ngập vào.
Nếu phải là hầm như kiểu họ mới xây đây thay vì là cái hầm sâu này chúng tôi giờ hẳn đã chết không còn một mống. Nhưng không chết thi cũng mất vía. Thằng nhóc tân binh lại la hét và thêm hai thẳng khác cũng la theo. Một thẳng nhảy lên đâm đầu chạy ra, chúng tôi phải chật vật với hai thằng kia. Tôi chạy theo thằng chạy ra phân vân không biết có nên bắn vào cẳng nó không đây — và rồi lại tiếng rít, tôi nằm mình xuống và khi đứng lên tường hầm gắm đầy miễng khói đen, những mảng thịt, những mảnh đồng phục. Tôi bò lại. Thằng tân binh đầu hầu như điên loạn. Hắn húc đầu vào tường như một con dê. Đêm nay phải làm sao cho hắn về hậu phương. Giờ thì hãy trói hắn lại, nhưng trói cách nào đề lỡ có tấn công thì cởi được ra ngay.
Kat đề nghị chơi cắc tê: mải làm gì dễ chịu đựng hơn. Nhưng vô ích, chúng tôi lắng nghe từng tiếng nổ lại gần, lầm lẩn nước bải và không sao đánh tiếp. Chúng tôi đành chịu. Chúng tôi như thể ngồi trong một nồi xúp de sôi sùng sục bị tứ phía vần lộn. Lại đêm. Chúng tôi như ngây như dại vì thần kinh căng thẳng – một sự căng thẳng như chết nó cọ nó cạo lần theo xương sống mình như một con dao mẻ. Chân không muốn nhúc nhích, tay run rầy, người là một lớp da mỏng bị căng trên sự điên loạn dồn ép, trên một tiếng ầm gần như nổ tung không sao nén lại được. Chúng tôi không còn có thịt, có sức gì nữa, chúng tôi không dám nbìn nhau e xảy ra sự gì khôn lường. Chúng tôi cắn chặt răng – nó sẽ hết – nó sẽ hết — không chừng chúng tôi thoát.
Bổng các biếng nổ gần dứt. Bom đạn vẫn rơi nhưng đã bỏ chúng tôi để rơi sau chúng tôi. Chiến hào chúng tôi được giải tỏa. Chúng tôi nắm lựu đạn, tung ra trước hầm và nhảy theo. Pháo kích đã ngưng và giờ đây hàng rào hỏa lực rơi sau chúng tôi. Cuộc công kích đã đến. Không ai lại tưởng tượng được rằng trong cái tàn phá gầm thét này lại còn có người: nhưng giờ đây mũ sắt xuất hiện tứ phía ngoài chiến hào và cách chúng tôi năm chục thước một khẩu đại liên đã hờm sẵn và sủa ran.
Các hàng rào dây kẽm bị bắn tan nát. Tuy nhiên chúng vản còn là một trở ngại. Chúng tôi thấy các đội xung phong xông đến. Trọng pháo chúng tôi khai hoả. Các đại liên lạch tạch, các súng trường tắc tắc. Chúng tôi xông lên. Haie và Kropp bắt đầu bằng lựu đạn. Ném sao cho xa bết sức, bọn khác vượt lên họ, mở sẳn chốt. Haie ném bảy-lăm thước, Kropp sáu mươi, sức ném đã từng được đo, nén xa là điều quan trọng. Vì phải chạy địch quân chưa thề giở được trò gì trước khi đến trong vòng bốn chục thước. Chúng tôi nhận ra các mặt méo xệch, mũ sắt trơn: lính Pháp. Chúng cũng đã tổn thất nặng khi tiến đến những gì còn lại của các hàng kẽm gai. Cả một hàng gẫy gục trước các họng súng đại liên của chúng tôi, rồi chúng tôi vưởng phải bao nhiêu chướng lực và chúng đến gần hơn.
Tôi thấy một thắng, ngữa mặt lên, rơi vào một nôi dây kẽm. Người bổ nhào xuống, hai tay treo lơ lửng như thể đang cầu nguyện. Rồi người nó rơi đâu mất chỉ còn lại hai bàn tay với cánh tay trước bị bắn lia ra còn treo trên dây kẽm. Vừa lúc chúng tôi sắp sửa tháo lui ba bộ mặt từ đất ngước lên ngay trước chúng tôi. Dưới một chiếc mũ sắt một bộ râu nhọn đen với hai con mắt dán vào tôi. Tôi giơ tay, nhưng tôi không thề ném vào đôi mắt ấy, trong lúc rối loạn hoàn cảnh chém giết quay cuồng như vòng xiếc quanh tôi và chỉ hai con mắt kia là bất động, rồi là cái đầu trồi lên, một bàn tay, một cử động, và viên lựu đạn của tôi bay qua không trung vào ngay hắn. Chúng tôi rút lui, kéo các bổi dây gai xuống hào và gài bom sau mình có dây kéo, để rút lui cho oanh liệt. Các đại liên khạc nhỗ từ vị trí kế. Chúng tòi đã trở thành những con ác thú. Chúng tôi không chiến đấu, chúng tôi tự vệ chống diệt vong. Chúng tôi ném bom không phải vào các con người, chúng tôi còn biết gì là con người nào vào cái lúc này khi mà Tử Thần với những bàn tay với những mũ sắt đang săn giết chúng tôi – giờ đây, lần đầu tiên trong ba ngày chúng tôi mới được thấy bộ mặt nó, giờ đây, lần đầu tiên trong ba ngày chúng tôi mới được đương đầu với nó; chúng tôi lồng lên như điên. Chúng tôi không còn nắm bất lực, nằm chờ trên đoạn đầu đài nữa, mà chúng tôi được phá được giết, để tự cứu mình và để trả hận.
Chúng tôi phục sau từng xó, từng rào kẽm gai,và hàng đống chất nổ vào bước tiến của địch quân trước khi bỏ chạy. Sức nồ của đạn như xâm chiếm cánh tay và chân cẳng chúng tôi, co người như mèo chúng tôi chạy, với cái làn sóng kia nó lùa chúng tôi, nó nhồi hung bạo vào chúng tôi. Biến chúng tôi thành những quân côn đồ, sát nhân. Thành những giống quỉ gì chỉ có Thượng Đế biết; cái làn sóng nó tăng cường sức lực chúng tôi bằng sợ hãi bằng điên rồ bằng tham sống, đi tìm và chiến đấu không phải cho cái gì khác là sự giải thoát của mình. Nếu phải chính bố mình lại cùng đi với chúng chắc mình cũng chẳng ngần ngại gì mà không liệng một quả bom vào cụ. Các chiến lũy tiền phong đã được rời bỏ. Phải chăng đó còn là chiến lũy? Chúng đã bị phá vụn, tan tành-chỉ còn những mảnh chiến lũy, những hang hố nối liền bằng đường mòn, những ổ bom, thế thôi. Nhưng tổn thất địch gia tăng. Chúng không ngờ lại gặp phải một kháng lực mạnh mẽ như thế.
Đã gần trưa. Trời nắng như lửa đốt, mồ hôi chảy vào mắt, chúng tôi đưa tay áo lên quệt, đôi khi rớm máu. Mãi rồi chúng tôi đến một chiến hào có phần còn tốt. Có người chờ sẳn đề phản công, họ tiếp đón chúng tôi. Trọng pháo chúng tôi khai hết hỏa lực cắt đứt sức tấn công của địch. Các hàng sau chúng tôi dừng lại. Họ không thể tiến xa hơn, Cuộc công kích đã bị chúng tôi đánh tan. Chúng tôi ngóng nhìn. Hỏa lực giải tỏa một trăm thước và chúng tôi đánh thốc lên. Cạnh tôi một anh hạ sĩ bị trúng đầu. Anh chạy thêm vài bước trong khi máu từ cổ anh tuòn ra xối xả. Chưa đến nỗi nhảy đánh xáp lá cà; địch đã bị đẩy lui. Chúng tôi lại đến cái chiến hào nát bươm của chúng tôi và băng qua nó. A ha, sự trở lại này! Chúng tôi đến cái hầm trừ bị chỉ muốn chui vào ẩn luôn- nhưng thay vì thế chúng tôi lại phải đi vòng nó để dấn thân vào khủng khiếp. Nếu lúc đó chúng tôi không là người máy chúng tôi bắn đã nằm đại xuống đấy luôn rồi, kiệt lực và kiệt chí. Nhưng chúng tôi bị xô tởi, bất lực, điên cuồng tàn bạo; chúng tôi sẵn sàng giết vì chúng vẫn là kẻ thù không đội trời chung; súng chúng bom chúng nhắm vào chúng tôi, và nếu chúng tôi không tiêu diệt chúng thì chúng cũng tiêu diệt chúng tôi. Mặt đất nâu, cái mặt đất bị nổ bị xẻ, với một cái óng ánh mỡ màng dưới tia nắng: mặt đất là bối cảnh cho cái thế giới ảm đạm xáo trộn của những con người máy này, đầu óc chúng tôi xấu xa vì kinh khủng-chúng tôi dật dờ tiến bước và đào sâu trong tâm hồn tan tác của chúng tôi là cái hình ảnh quằn quại của mặt đất nâu với ánh nắng mỡ màng với những thẳng lính chiến lồng lộn chết chóc ngã gục nơi đây-biết làm sao được-những thằng nó khóc nó đeo lấy chân cẳng chúng tôi khi chúng tôi băng qua chúng nó. Chúng tôi đã mất hết tình cảm giữa con người. Chúng tôi không còn tự kềm chế được mình khi cái nhin lơ láo của chúng tôi soi vào hình dáng của một thằng người khác. Chúng tôi không còn cảm xúc, là những con người đã chết, không hiểu nhờ ở cái ma lực, ở cái phép ma quái nào, mà vẫn còn chạy nổi vẫn còn sức giết.
Một thằng nhóc Pháp lạc lại sau, bị bắt kịp, nó đưa hai tay lên, một tay còn cầm khẩu súng lục — hắn định bắn hay định hàng? một nhát sẻng đưa vào mặt. Một thẳng nữa thấy thế cố chạy xa hơn; một lưỡi lê đâm thủng lưng. Nó nhảy lên, hai cánh tay mở rộng, miệng bá hốc, hét lên: nó lảo đảo, trong lưng nó lưỡi lê rung rung. Một thằng thứ ba quăng súng, đưa hai tay che trước mắt. Nó được tống lại sau cùng với mấy thằng tù binh khác khiêng thương binh. Bỗng trong lúc lùa địch chúng tôi đặt chân lên chiến tuyến địch. Chúng tôi theo chúng bén gót đến nỗi đồng thời cùng đến với chúng. Nhờ thế chúng tôi bị tồn thất nhẹ. Một họng đại liên sủa, nhưng một quả bom làm câm họng. Tuy nhiên, sủa có hai giây cũng đủ chúng tôi năm thằng trúng bụng. Với báng súng Kat đập nát mặt một thẳng xạ thủ đại liên không bị thương. Chúng tôi dùng lưỡi lê thanh toán mấy thằng kia khiến chúng chưa kịp rút lựu đạn ra. Đoạn khát quá chúng tôi uống cái nước chúng dùng đề làm mát súng. Khắp nơi toán cắt dây gai lách cách, các ván được ném lên các bối dày, chúng tôi nhảy qua lỗ hẹp vào trong các chiến hào. Haic đưa bàn sẻng ngay cổ một tên Pháp không lồ và ném quả lựn đạn đầu tiên.
chúng tòi ần sau một bờ lũy chừng vài giây, thế là cả chiến lũy trước chúng tôi được thanh toán. Quả thứ hai vèo chéo frên góc dọn quang một lối đi: vừa chạy qua, chúng tôi vừa ném luôn mấy quả vào các hầm, mặt đất rung chuyền, đổ sụp; mỏi đừ, xương cốt cứng đơ, chúng tôi trượt lên trượt xuốngnhững đống thịt bầy nhầy, trên những than hình bất lực, tôi ngã vào một cái bụng bị phanh ra với một chiếc mũ sĩ quan sạch sẽ mới toanh nằm trên. Trận đánh ngưng. Chúng tôi đã mất hút địch. Chúng tôi không thể ở lại lâu mà phải rút lui về ần dưới sự bảo vệ của trọng pháo đề trở lại vị trí. Vừa biết thế là chúng tôi nhào vào các hầm gần nhất, vội vã vơ vét bất cứ thứ lương thực nào mình thấy, nhất là các bộp thịt bò và bơ, trước khi tháo lui. Chúng tôi tháo lui yên lành, Địch không còn cựa quậy. Chúng tôi nằm thở lấy sức một tiếng đồng hồ rồi mới mở miệng nói. Chúng tôi mệt đến nỗi bụng thì đói mà không nghĩ đến ăn. Rồi từ từ chúng tôi lại trở lại một cái gì gọi là con người. Thịt bò hộp của địch nồi tiếng khắp mặt trận. Đôi khi đó cũng là lý do chính chúng tôi đi đánh úp, vì thức ăn của chúng tôi thường dở tệ; chúng tôi lúc nào cũng đói. Chúng tôi cho năm hộp vào một bao. Tụi lính địch được chăm sóc chu đáo, đối với chúng tôi hầu như là cả một sự xa xỉ khi mình bị đói hành mà chỉ ăn toàn mứt củ cải, còn thịt thì chưa sờ đến đã biến. Haie vớ được một ổ bánh mì Pháp nhỏ dài giắt vào sau thắt lưng trông như cán sẻng. Một đầu có dính tí máu nhưng cắt bỏ chả sao. Mãi được chút gì ăn khoái khẩu kể cũng thú, chúng tôi cần có sức. Có đủ ăn cũng quan trọng như một hầm trú tốt: cũng cứu sống mạng mình; vì thế mà chúng tôi thèm, Tjaden đoạt được hai bi đóng đầy cô nhắc. Chúng tôi chuyền tay nhau tu.
Cái sung sưởng của đêm tối bắt đầu. Đêm đến, từ cái hang hốc, sương mù dâng lên. Tróng như thể các lỗ đầy bí mật ma quái. Lớp hơi trắng quằn quại bò quanh trước khi nó len lén leo lên bờ. Rồi là kéo dài từ hang này đến hốc khác. Trời lạnh buổt. Tôi đứng gác soi mắt vào đêm tối. Sức tôi kiệt như mỗi lần sau một cuộc tấn công, nên có một mình vởi các ý nghĩ của mình lại càng thiểu não. Đúng ra chẳng phải là ý nghĩ, mà là những ký ức trong phút kiệt lực quay về với gia đinh vàlàm tôi xúc động lạ kỳ. Ánh sáng hóa châu tung lên và tôi thấy một hình ảnh, một chiều hè, tôi đứng trong vườn nhà thờ nhìn những cây hồng lớn đầy hoa giữa ngôi vườn nhỏ, nơi chốn các tu sĩ. Chung quanh tường có những tấm đá chạm các Giai đoạn của Thập tự. Không một bóng người. Trong khu đất vuông nở hoa này yên tĩnh lạ, ánh nắng nằm ấm áp trên các tấm đá nặng xám, tôi đặt tay lên đá và cảm thấy ấm áp. Bên góc tay phải tháp chuông nhà thờ vươn lên trời xanh nhợt buổi chiều. Giữa các hàng cột rọi nắng của ngôi vườn là cải tối lạnh mà chỉ các nhà thờ mới có và tôi đứng đó tự hỏi, khi mình hai mươi tuổi, phải chăng mình sẽ biết thế nào là các rung động đẻ mê của tình yêu.
Hình ảnh gần quá đi mất, nó cham ngườitôi trước khi nó tan biến dưới ánh sáng củamột đạn hỏa châu khác.
Tôi cầm lấy súng xem có sẵn sàng không. Nòng ướt, tôi cầm lên lấy ngón tay chùi hơi ẩm. Giữa các đồng cỏ sau thị trấn tôi có một hàng bạch dương đứng hên giòng sông. Đứng xa cũng trông thấy và mặc dầu chỉ mọc một bên bờ, chúng tôi gọi đó là đại lộ bạch dương. Ngay khi còn nhỏ chúng tôi đã rất thích mấy cây này, chúng hấp dẫn chúng tôi lại đấy, chúng tôi trốn học suốt ngày lãng vảng quanh chúng nghe chúng rì rào. Chúng tôi ngồi dưới chúng bên bờ sông, buông chân lơ lửng trên mặt nước sông, giòng chảy xiết. Nước thơm trong gió du dương trong lá làm chúng tôi thích thú. Chúng tôi yêu chúng vô cùng và hình ảnh những ngày ấy vẫn còn làm tim tôi ngừng đập. Kề cũng lạ, tất cả những ký ức đến với ta đều mang hai tính chất. Khi nào chúng cũng hoàn toàn êm ả, đó là đặc tính trước tiên của chúng và ngay cả khi không thực sự êm ả, chúng cũng trở thành êm ả. Chúng là những hình ảnh tĩnh lặng ngỏ lời với ta, bằng những cái nhìn, bằng những cử chỉ, không một lời và chính vì cái đáng ngại của sự im lặng của chúng buộc tôi phải nắm vững lấy ống tay tôi lấy súng tôi e tôi tự buông thả mình cho cái giải phóng và cái cảm dỗ trong đó thân xác tôi sẽ nở ra từ từ biến vào cái sức mạnh âm thầm nằm sau cac sự vật này. Chúng tĩnh lặng như vậy. Vì giờ đây đối với chúng tôi tĩnh lặng không tài nào đạt được. Tại mặt trận làm gì có tĩnh lặng và cái bất hạnh của mặt trận đi xa đến nỗi chúng tôi không bao giờ vượt qua được nó. Ngay cả trong các trại và các khu nghỉ ngơi hẻo lánh tiếng vù vù ầm i của pháo kích khi nào cũng văng vẳng bên tai chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ đi xa được đến mức không còn nghe thấy nó nữa. Nhưng mấy ngày hôm nay nó trở thành không sao chịu nỗi.
Sự tĩnh lặng của chúng là lý do tại sao các ký ức này của các thời đã qua không thức tỉnh được ham muốn bằng là đau buồn một nỗi hoài bí kỷ lạ, khó hiểu. Có dạo chúng tôi đã có những ham muốn như thế – nhưng chúng không còn trở lại. Chúng đã thành quá khứ, chúng thuộc về một thế giới khác nó đã xa rời chúng tôi. Ở trại chúng khêu gợi một sự khao khát điên cuồng ngang ngược mong chúng trở lại; vì lúc đó chúng còn ràng buộc với chúng tôi. Chúng tôi còn thuộc vào chúng và chúng còn thuộc vào chúng tôi, mặc dầu rằng chúng tôi đã xa vắng chúng. Chúng bộc lộ trong những bài ca của lính mà chúng tôi khi đi giữa ánh lờ mờ của bình minh và các bóng đen của các khu rừng để thao dượt trên các đầm lầy, chúng là một sự hồi tưởng mạnh mẽ ở trong chúng tôi và đến từ chúng tôi.
Nhưng ở đây, cở các chiến hào, đối với chúng tôi chúng đã hoàn toàn mất. Chúng không trổi dậy nữa, chúng tôi đã chết vào chúng đứng tách ra ở chân trời, chúng là một bóng ma, một phần ảnh huyền bí lôi kéo chúng tôi về nhà mà chúng tôi sợ và yêu vô vọng. Chúng mãnh liệt và lòng ham muốn của chúng tôi cũng mãnh liệt nhưng chúng không thể nào đạt được, và chúng tôi biết thế. Và dù ngay cả các cảnh tượng này của tuổi trẻ chúng tôi có được trả lại cho chúng tôi chăng nữa chúng tôi cũng chẳng biết làm gì với chúng. Cái ảnh hưởng kín đáo êm đềm nó từ chúng chuyển vào chúng tôi cũng không thể trổi dậy được nữa. Chúng tôi khao khát được ở trong chúng được cử động trong chúng, chúng tôi khao khát được nhớ được yêu chúng và được rung động khi thấy chúng. Nhưng cũng giống như thể ngắm nhìn cái hình của một anh bạn đã chết, kia là các nét mặt của hắn, kia là mặt của hắn và những ngày chúng tôi cùng sống với nhau mang một một đời sống sầu thảm trong ký ức, nhưng chính con người kia thì không. Chúng tôi không bao giờ có thể, cũng vẫn là những con người xưa, lại tham dự vào các cảnh tượng kia nữa. Chẳng phải sự thừa nhận rằng chúng đẹp và chúng quan trọng gì đó đã hấp dẫn chúng tôi, nhưng mà là sự cảm thông, cái tình bạn với những sự vật và biến cố của đời sống chúng tôi đã tách rời chúng tôi ra khỏi cái thế giới của cha mẹ chúng tôi và làm cái thế giới này thành một cái gì mà chúng tôi không hiểu nồi – vì lúc đó chúng tôi đã đầu hàng các biến cố và chìm lỉm trong chúng và chỉ một sự vật nhỏ bé nhất cũng đủ đưa chúng tôi xuống giòng vĩnh cửu. Có lẽ đó chỉ là cái đặc hiệu của tuổi trẻ chúng tôi, nhưng là cái thực hiệu mà chúng tôi chưa thừa nhận có giới hạn nào và chưa thấy đến đâu là kết thúc. Chúng tôi có trong huyết mạch cái hồi hộp đợi chờ kia nó kết hợp chúng tôi với đường hướng của thời đại chúng tôi. Hòm nay chúng tôi dạo qua các cảnh trí của tuổi trẻ chúng tôi như những khách du hành. Chúng tôi bị các thực tại phũ phàng thiêu đốt; như những nhà buôn, chúng tôi hiểu rõ các sự phân biệt và như những hàng thịt, chúng tôi hiểu các sự cần thiết. Chúng tôi không còn vô tư nữa – chúng tôi thờ ơ. Chúng tôi khao khát được đến đấy, nhưng liệu ở đấy chúng tôi có sống nổi không?
Chúng tói bơ vơ như trẻ thơ và dày dạn như người già, chúng tòi sổ sàng và đau khổ và hời hợt – tôi tin rắng chúng tỏi đã lạc loài.
Tay tôi lạnh ngắt và da tôi nồi gai, tuy nhiên đêm hôm nay ấm áp. Chỉ có sương mù là lạnh, cái sương mù bí mật nó theo chân các người chết trước mặt chúng tôi và mút lấy cái sinh lực dật dờ còn sót lại của họ. Sáng ra họ sẽ trắng bệch và xanh lè và máu họ đông lại đen đặc.Hỏa châu vẫn tung lên vẫn tỏa cái ánh sáng soi bỏi ác nghiệt của chúng lên cái cảnh vật cằn cỗi, đầy hố bom đầy ánh sáng đông lạnh như một mặt trăng. Máu dưới da tòi đưa lại sợ sệt và hoang mang vào trong tư tưởng tôi. Chúng trở thành yếu đuối và run rẫy, chúng khao khát ấm cúng khao khát sống. Chúng không thể chịu đựng mà không có cảm tình và thông cảm, chúng hổn loạn trước cái hình ảnh trần truồng của tuyệt vọng. Tôi nghe tiếng cà mèn lạo xạo và tức thì thèm được ăn cải gì nong nóng; ăn vào chắc khoẻ và lấy lại tinh thần phần nào. Đau khổ tôi cố đợi cho đến khi được thay phiên.
Bọn tôi đi vào hầm tìm một ca cơm mạch. Nấu có bỏ mỡ, ăn ngon ra phết, tôi thong thã nhai. Tôi im lặng, mặc dầu mấy tay kia có vẻ phởn phơ hơn, vì tiếng pháo kích cũng đã dịu dần.
Ngày này qua ngày khác đến và các giờ giấc không thể tưởng tượng được nối đuôi nhau như chuyện chẳng đừng. Tấn công xen lẫn phản công và chậm rải các người chết chồng chất nhau trên cánh đồng hang hốc giữa các chiến lũy. Chúng tôi đã cố lôi vào những người bị thương không nằm quá xa. Nhưng phần nhiều phải chờ đợi lâu nên chúng tôi phải nghe họ hấp hối. Có một anh chúng tôi ra công tìm hai ngày trởi mà không ra, Anh ta chắc phải nằm sấp nên không quay ngược lại được. Bằng không khó mà hiểu nổi tại sao chúng tôi lại không tìm ra: vì chỉ khi nào người ta sát miệng vào mặt đất mới không tài nào nhận hướng được tiếng kêu của họ. Anh ta cũng bị trọng thương, một thứ vết thương độc địa trông thì không nặng đến nỗi làm kiệt lực thân xác ngay và người ta mơ mơ màng màng nửa mê nửa tỉnh, nhưng cũng không phải nhẹ để người ta chịu đựng cái đau và mong lại được bình phục. Kat cho rằng anh ta một là bị gãy xương hông hai là bị bắn lủng xương sườn. Chắc chắn không phải bị thương ở ngực, vì nếu thế đàu còn đủ sức mà kêu. Còn nếu phải vết thương nào khác thì đã có thể thấy anh ta ngoi ngóp. Tiếng anh càng ngày càng khàn. Giọng nghe tuyệt vọng đến nỗi không đâu không nghe. Đêm đầu vài thằng chúng tôi ra ba lần để tìm anh ta. Nhưng khi tưởng đã định hướng được anh ta và bò tới thì lại nghe anh ta hình như ở chỗ nào khác kìa. Chúng tôi tìm cho đến tảng sáng mà không ra. Suốt ngày chúng tôi ngắm ống nhòm khắp khu đồng, nhưng chẳng thấy gì cả. Sang ngày thứ hai tiếng kêu yếu dần, là vì môi và miệng đã khô. Ông đại đội trưởng hứa cấp giấy phép đặc biệt phụ thêm ba ngày cho thằng nào tìm ra. Thật là hấp dẫn, nhưng chẳng hứa thì chúng tôi cũng vẫn tận lực tìm, vì nghe tiếng anh ta kêu mà rởn gáy. Kat và Kropp còn mạo hiểm lùng cả buổi chiều và Albert bị bắn cụt tai cũng vì thế. Công toi, hai anh trở về tay không. Anh ta kêu gì thì cũng dễ hiểu. Thoạt đầu anh ta cầu cứu – đêm sau anh ta hẳn mê sảng, gọi vợ gọi con, chúng tôi thường nghe ra cái tên Elise. Hôm nay thì anh ta chỉ khóc. Tối đến giọng nhỏ dần chỉ còn nghe khục khục. Nhưng kéo dài suốt đêm, Chúng tôi nghe rõ mồn một vì gió tạt về phía chúng tôi. Sáng ra chúng tôi tưởng đâu anh đã an giấc ngàn thu, thế mà vẫn còn nghe anh khục khục nghẹn ngào. Trời nóng bức mà các người chết lại không được chôn. Chúng tôi không thể đưa họ về hết. Vi đưa về để rồi làm gì đây. Đành để cho bom đạn vùi họ vậy. Nhiều người bụng phình như quả bong bóng. Họ rít, họ rống, họ dãy dụa. Hơi trong bụng chuyển nghe ầm ầm. Trời xanh không mây. Tối đến oi ả, hơi nóng bốc từ đất lên. Khi gió thổi ngang, nó đưa theo mùi máu, nặng nề và ngòn ngọt. Hơi chết xông lên từ các hố đạn hình như pha lẫn mùi thuốc mẻ và mùi rửa thối khiến chúng tôi lộn mửa, khạc chẳng ra nuốt chẳng vào. Các đêm sau yên tĩnh và chúng tôi bắt đầu đi lùng các đai đồng cùng các dù lụa của hỏa châu Pháp. Tại sao người ta lại thích đai đồng chả ai hiểu rõ. Mấy thẳng đi nhặt chỉ biết là chúng có giá thể thôi. Nhiều thằng nhặt nhiều đến nỗi khi trở về đi khòm cả người. Nhưng mãi sau Haie đưa ra một lý do. Nó định tặng con bạn gái nó để đeo bắp chân, Nghe thế bọn Friesian cười ầm. Họ vỗ đùi khoái trá: « Mèng đéc, thẳng Haie thế mà khôn, thông minh quá xá,» Nhất là Tjaden ta thú vị khôn tả; chốc chốc lại cầm chiếc đai nào lớn nhất xỏ vào bắp vế mình đề xem còn rộng đến chừng nào.
«Này Haie, nàng chắc phải có đôi bắp vế như là, đôi bắp vế — » hắn nghĩ đến cái gì to bự «và chà, mông cô em hẳn phải như là – như là mông voi! »
Haie hớn hở, hảnh diện là con bồ của mình lại được tán thưởng nhiệt liệt đến thế. « Nó ngon không chê được, » nó nói vẻ tự mãn. Còn dù thì được sử dụng thực tế hơn. Theo cỡ ngực thì ba cái hay quá lắm là bốn cái đủ may chiếc áo. Kropp và tôi dùng làm khăn mù-soa. Mấy thằng khác gửi về nhà. Nếu mấy bà mà lại biết mấy cái mãnh giẻ này đôi khi đã phải vào sanh ra tử thế nào mới nhặt được, họ chắc phải kinh hoảng.
Kat bắt chợt Tjaden đang thản nhiên tháo đai một viên đạn không nổ. Phải ai mà làm thế không chừng nó đã nổ, nhưng Tjaden khi nào cũng là thằng số đỏ. Một buổi sáng hai con bươm bướm đùa giỡn trước chiến hào chúng tôi. Cánh vàng đốm đỏ. Chúng bén mãn đến đây để mà kiếm gì kia? Không có lấy một cây, không có lấy một cái hoa kề hàng bao dặm. Chúng đậu lên hàm răng một chiếc đầu lâu. Cả chim nữa cũng nhởn nhơ, chúng đã từ lâu làm quen với chiến tranh. Sáng nào, sơn ca cũng đến từ vùng Cấm Địa, chả hiều để làm gì. Chúng béo ra; mỗi khi thấy con nào, chúng tôi cũng bông đùa về nó. Đêm đến chúng tôi nghe tieng rần rộ sau các chiến tuyến địch. Suốt ngày chỉ là pháo kích thường lệ, nên chúng tôi có thì giờ sửa lại chiến lũy. Lúc nào cũng có trò giải trí, đã có các phi công. Ngày nào cũng tha hồ ngắm họ đánh nhau trên không đếm không xuề.
Máy bay chiến đấu không làm chúng tôi ngại, nhưng máy bay trinh sát thì chúng tôi ghét như hủi, đề chúng thấy là ăn pháo kích. Chúng chỉ xuất hiện chừng hai phút là bom đạn rơi lên đầu. Cỏ ngày chúng tôi thiệt mất mười một mạng cũng chỉ vì thế, trong số có năm anh phu cáng. Hai anh bị nát nhừ khiến Tjaden nói có thể lấy thìa cào họ ở vách hầm ra và chôn họ trong một cái cà mèn. Một anh khác bị đứt nửa dưới người và hai chân. Chết, ngực tựa vào bên chiến hào, mặt vàng như chanh, còn ngậm điếu thuốc lá đang cháy. Cháy cho đến khi tít trên môi anh. Chúng tôi đặt mấy người chết vào một hố bom lớn. Đến nay thể là ba lớp; lớp trên đè lớp dưới.
Bỗng pháo kích lại bắt đầu giáng xuống. Chả mấy lúc chúng tôi lại ngồi một lần nữa thức thâu canh với cái căng thẳng cứng đờ tiên liệu không không. Tấn công, phản công, xung kích, đẩy lui – đó là những tiếng nhưng ngụ ý biết bao nhiêu chuyện! Chúng tôi tổn thất khá nặng, phần lớn là tân binh. Viện binh lại được phái đến khu vực chúng tôi. Một trong số các đại đoàn mới toàn những thanh niên mới gọi nhập ngũ hồi năm ngoái. Tập dượt chả được bao, bị đưa ra mặt trận vởi một kiến thức lý thuyết. Đành rằng biết lựu đạn là cái gì, nhưng chẳng biết tí gì về ẩn nấp và quan trọng hơn hết, là thiếu hẳn mắt tìm ẩn nấp. Một nếp đất phải cao đủ nửa thước họa chúng mới thấy. Mặc dầu cần được viện binh, nhưng bọn tân binh hầu như còn làm vướng chúng tôi hơn là được việc gì cho chúng tôi. Ở cái khu vực tác chiến cam go này, họ quả thật vô tích sự, và rụng như sung. Cái lối đánh từ vị trí hiện nay đòi hỏi cả kiến thức lẫn kinh nghiệm một anh linh chiến phải cảm quan được hình thù chiến địa, tai phải phân biệt được âm thanh và tính chất của các bom đạn, phải biết quyết định trước chúng sẽ rơi đâu. Chúng sẽ nổ ra sao và làm sao để ẩn nấp phòng chúng. Bọn tân binh nhóc dĩ nhiên chẳng biết tí gì về những điều nàv. Sở dĩ chết cũng chỉ vì không phân biệt được thế nào là đạn nổ ria hay đạn nồ phá, sở dĩ bị lia hàng loạt cũng chỉ vì lo nghe ngóng các tiếng gầm của các đạn nặng rơi tận xa mãi sau và quên cái tiếng léo xéo lạch tạch nhỏ nhẹ của các liên thanh bắn thấp. Chúng tụ vào nhau như đàn cừu thay vì là tản ra, nên ngay cả những kẻ bị thương cũng bị phi cơ rỉa như thỏ.
Mặt trắng bệch như củ cải, tay nắm chặt trông đến tội, cái can đảm thiểu não của tụi nhóc, các cuộc xung phong tấn công của mấy thẳng anh dũng cà lơ này, chết khiếp đến nỗi không dám khóc to, má hốc hác, bụng, tay, chân xây xát chỉ thút thít gọi mẹ và ngưng bặt khi người ta nhìn mình. Gương mặt hốc hác, thiểu não, gương mặt chết của chúng trông vô hồn như những thằng bé đã chết. Minh nghẹn ngào nhìn chúng lâm trận, rồi chạy rồi gục. Thấy mà muốn va vào đít, chúng ngu quá đi mất, muốn túm chúng lôi đi khỏi cái nơi này mà chúng không được cái tích sự gì. Chúng cũng mặc áo xanh quần xanh cũng đi bốt, nhưng phần lớn đồng phục quá rộng quá dài, ống quần lùng bùng, ống tay lùng bùng, vai chúng quá hẹp, người chúng quá thon; có đời thuở nào binh phục được may theo kích thước trẻ con bao giờ. Khoảng từ năm đến mười thẳng tân binh gục mới có một tay lính cựu gục.
Một trận tấn công hơi ngạt bất ngờ đã khiến chúng bao thằng mất mạng. Chúng chưa được học hỏi phải làm sao. Chúng tôi thấy một hầm đầy nhóc, đầu tím môi đen. Có thằng nâm trong hố đạn vội gỡ mặt nạ quá sớm chúng không biết rằng hơi ngạt nằm trong lỗ phải lâu đi nhất, vừa thấy người ta ở trên tháo mặt nạ là ở dưới mình cũng tháo thế là nuốt đủ liều để rồi cháy phổi. Tình trạng chúng thật vô phương cứu thoát, chỉ còn hộc máu và nghẹt thở rồi là ngủm.
Tại một chiến hào, tôi bỗng chạm trán Himmelstoss. Chúng tôi cùng lao mình vào một hầm. Thở không ra hơi chúng tôi nằm cạnh nhau chờ xung phong. Khi chạy ra, mặc dầu đang bừng bừng dũng khí, tôi chợt nghĩ:
«Ủa, thẳng cha Himmelstoss đâu kìa? » Tôi vội nhảy trở lại xuống hầm thì thấy lão chỉ có trầy da chút đỉnh mà nằm vào xó giả vờ bị thương. Mặt hắn trông thờ thẩn. Hắn hoảng; hắn cũng lại là tay mơ. Nhưng nghĩ đến bọn tân binh đang phanh ngực ngoài kia mà hắn lại chui rúc ở đây, tôi điên tiết. «Ra ngay» tôi quát giọng khinh miệt. Hắn không nhúc nhích, đôi môi run rẩy, râu mép rung theo.
«Ra!» tôi lặp lại.
Lão đứng lên, quị xuống theo bờ tường; răng nhe như con chó gầm gừ. Tôi túm cánh tay lão lôi đi. Lão sủa.
Tức quá, tôi nắm cổ lão lắc như rũ bị, đầu lão lắc lư. «Mày đồ giá áo túi cơm, mà có ra ngay không – đồ chó săn, đồ vô liêm sỉ, có ra ngay không thì bảo? » Mắt lão thờ thẫn, tôi giáng đầu lão vào vách – «Đồ hèn nhát» – tôi đá hông lão – «Đồ chó đẻ» — tôi xô lão ra cửa và túm đầu lão dúi đi trước.
Một làn sóng tấn công khác vừa lên đến nơi. Có một Trung úy chỉ huy. Thấy chúng tôi ông hô: «Tiến lên, tiến lên, vào hàng, cùng tiến. » Và lời hò công hiệu hơn là các đòn của tôi. Himmelstoss nghe lệnh, nhìn quanh như thề hồi tỉnh và cùng bước. Tôi theo sau nhìn hắn bước. Một lần nữa hắn lại là Himmelstoss lỗi lạc sân tập; bắn còn vượt lên cả ông Trung úy và còn xa hơn nhiều là khác. Pháo kích, bắn chặn, màn hóa lực, mìn, hơi ngạt, xe tăng, đại liên, lựu đạn – danh từ, toàn danh từ, ấy thế mà làm thế giới kinh hồn thất đảm.
Mặt chúng tôi đóng vẩy, đầu óc chúng tôi tan hoang, chúng tôi phải đấm phải thụi huỳnh huych lắm thằng mới hoàn hồn theo chúng tôi – mắt rát bỏng tay xây xát, đầu gối rướm máu, khuỷu tay trầy trụa. Bao lâu rồi nhĩ ? Mấy tuần – mấy tháng – mấy năm? Chỉ biết có ngày. Chúng tôi nhìn thời gian đi qua trong các khuôn mặt nhợt nhạt của những kẻ hấp hối, chúng tôi nhồi thức ăn vào mình, chúng tôi chạy, chúng tôi ném, chúng tôi bắn, chúng tôi giết, chúng tôi nắm bạ đâu nắm đó, chúng tôi yếu đuối kiệt lực và không gì ủng hộ chúng tôi ngoài điều biết rằng còn có những kẻ yếu hơn, kiệt lực hơn, còn có những kẻ bất lực hơn, mắt trợn trừng, nhìn chúng tôi như những vị thần đã bao lần thoát chết. Trong những giờ xả hơi, chúng tôi chỉ dẫn họ. «Kia, nhìn cái đầu ve vầy kia? Đạn súng cối đang đến. Ngồi yên, nó chỉ bay qua. Nhung nếu nó đến thẳng mình thì chay ngay. Đạn súng cối thì chạy thoát. »
Chúng tôi tập họ thính tai nghe cái tiếng rì rào khó nhận mà thâm độc của các loại đạn nhỏ không phải dễ phân biệt. Phải tập nhận cho ra cái tiếng vù vù như tiếng côn trùng của chúng trong cái ầm ầm long trời lở đất – chúng tôi giảng giải cho họ biết rằng những loại này còn nguy hiềm gấp bội các đạn lớn có thể nghe tiếng trước khá lâu, Chúng tôi chỉ bảo họ phải ẩn máy bay như thế nào, phải thúc đẩy một tay chết khiếp như thế nào khi mình bị tấn công tràn ngập, phải tí nh lựu đạn thế nào để nổ nửa giây trước khi chấm đất; chúng tôi dạy họ ném mình vào hố nhanh nbư chớp các đạn nổ mau, chúng tôi bày họ cách thanh toán một chiến hào bằng một nắm bom, chúng tôi giải thích sự khác biệt giữa mổi bom địch và bom mình dài ngắn hơn nhau thể nào: – chỉ họ đủ mọi bí quyết để thoát chết. Họ chăm chú nghe, họ dễ bảo – nhưng khi hữu sự, họ cuống cuồng, thế là làm sai ráo. Haie Westhus lết bước với một vết thương lớn sau lưng phập phồng theo hơi thở. Tôi chỉ biết siết tay nó; «Lúa rồi. Paul à, » nó rên rỉ và cắn cánh tay vì đau chịu không thấu.
Chúng tôi từng thấy có người vẫn sống với sọ vỡ trông thấy óc: chúng tôi thấy những thẳng lính chạy với hai bàn chân cụt, lảo đảo hai ổng chân nát lăn xuống hố bom gần đấy: một anh hạ sĩ bò bằng hai tay hàng dặm rưỡi lê đôi đầu gối nát nhừ sau mình; một thằng đi đến trạm cứu thương hai tay nắm ruột thòng lòng: chúng tôi thấy những thằng không mồm, không hàm. không mặt: chúng tôi thấy một thằng răng cắn chặt động mạch của cánh tay mình suốt hai tiếng đồng hồ đề khỏi mất máu, để khỏi chết. Mặt trời lặn, đêm đến, đạn vèo vèo, sự sống tàn tạ. Mãnh đất cỏn con quằn quại trong đó chúng tôi nắm vẫn còn giữ vững. Chúng tôi đã nhường không đầy vài trăm thước cho địch với cái giá chúng đã phải trả. Nhưng trên mỗi thước lại có một thằng nằm chết.
Chúng tôi được thay phiên. Bánh xe lăn dưới chúng tôi, chúng tôi đứng thẫn thờ và mỗi khi nghe «Dây thép – coi chừng», chúng tôi lại chùn gối xuống. Khi ra đây là đang hè, cảy cối còn xanh, giờ đã sang thu và đêm xám lạnh. Xe dừng, chúng tôi leo ra – Một đống hỗn độn, một mớ còn lại của bao nhiêu tên, Hai bên bờ đường người đứng, đen, gọi lên số liên đoàn, đại đội. Mỗi tiếng gọi lại một nhóm nhỏ đứng tách ra, lơ thơ vài thẳng lính xanh xao bần thỉu, đến là lơ thơ, một số sót lại đến là lơ thơ. Có người gọi số đại đội chúng tôi, ông đại đội trưởng thì phải, cả ông nữa, cũng mang thành tích, một cánh tay đeo băng. Chúng tôi đi lại ông và tôi nhận ra Kat và Albert; chúng tôi đứng với nhau, tựa vào nhau, và nhìn nhau. Và chúng tôi nghe số đại đội chúng tôi gọi đi gọi lại. Cho ông tha hồ gọi, từ các bệnh viện các hố bom, họ làm sao nghe ông gọi đây! »
Và rồi nhỏ hơn: «Đại đội Hai không còn ai à? »
Ông im lặng, đoạn nghẹn giọng òng nói:
«Có thế thôi à? và ra lệnh: «Số 1»
Buổi sáng trời xám, khi ra đi còn hè và chúng tôi cả thảy trăm rưởi thằng. Giờ chúng tôi rét run, đang độ thu, lá xào xạc, các giọng cất mệt mỏi: «Một – hai – ba -bốn! » và đến băm-hai là hết. Rồi một hồi im lặng, rồi một giọng hỏi. «Còn ai nữa không? » và chờ và rồi nói nho nhỏ: «Sắp thành đội – và rồi nghẹn ngào và chỉ còn nói được: «Đại đội Hai -» một cách khó khăn: «Đại đội Hai – thủng thẳng bước! »
Một hàng, một hàng ngắn, nặng nề bước trong sáng sớm.
Băm hai thằng.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.