This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cuối thập niên 70 cùng với những ghe vượt biển mong manh còn xuất hiện những thuyền nhiều tầng được Công an Biên phòng hộ tống ra tận cửa biển, do chính nhà nước đứng ra tổ chức dưới tên gọi Vượt biên Bán Chánh thức. Với chính sách bài Hoa, chính quyền muốn triệt tiêu “đội ngũ Hán gian” nhưng trong thực tế là những gia đình Hoa kiều đã sinh sống nhiều thế hệ trong Chợ Lớn và có cả những thanh niên Việt mua khai sinh Tàu để ra đi. Giá trung bình là 12 lượng vàng cho người lớn và 7 lượng vàng cho trẻ em, cùng hai trăm đồng “cụ Hồ” cho thị thực khai sinh ma. Ðóng cho chủ tàu và công an thị xã điểm xuất phát. Chuyến tàu MT-603 khởi đi từ Mỹ Tho đêm 29 rạng 30 tháng 5-1979 chứa 405 thuyền nhân đã đâm vào bãi ngầm Trường Sa bốn ngày sau đó. Ngày 21 tháng 6-1979 khi được Hải quân Phi Luật Tân cứu đưa vào hải đảo Liminangcong, điểm danh còn đúng 285 người. Tôi ở trong số những thiếu niên trong chuyến tàu này, ghi lại chuyến đi dưới dạng tiểu thuyết.
Vượt biên bán chánh thức
Những ai đã sống ở Mỹ Tho khoảng thời gian hai năm 78 và 79 đều có chung nhận xét: trọn thị xã nhỏ bé hiền hòa nổi tiếng nhờ món hủ tiếu này đã biến thành một chợ người hỗn độn dân tứ phương đổ về sinh sống, đầy dẫy bon chen, càng làm nẩy bật thêm lên tình cảnh tranh sống giữa Người và Người. Người, tuy thế ở đây không giản dị như trong quy định 5 thành phần kinh tế xã hội của nhà nước, thời kỳ đánh tư sản. Người phức tạp từ đứa trẻ nhỏ bán trà đá chanh đường đến bà lão còm lưng gánh cháo lòng rao bán trong chợ. Người rắc rối từ chị hàng sạp vải may đo đến gã thanh niên chuyên móc ngoặc với chính quyền, và dĩ nhiên, luôn cả đội ngũ công an vũ trang thường hay chạy xấn vào các hẻm chật vây bắt nhân dân cũng góp mặt tạo thành cái tập hợp Người xô bồ kỳ lạ ấy. Nhưng có lẽ phải kể đến diện Người bất thường hơn hết chính là những đám đông tuôn đổ xuống từ bến xe lôi thị xã, nằm bãi chờ đi vượt biên theo diện người Hoa đăng ký bán chính thức. Tháng 5-1979, trong số những người Hoa rời Mỹ Tho có những người Việt buồn bã nhìn thị xã yên lành ngày nào đã đánh mất hẳn nét an hòa, bình dị của một tỉnh lỵ nửa chợ nửa quê. Thay vào đó là bầu không khí mờ ám lấp lửng, đầy bất trắc của một bến cảng miền Tây chuyên xuất cảng Người.
o O o
Buổi chiều 28, sau bữa cơm chiều ăn qua loa trong lòng chợ, anh em Ðường và Dzũng thả bộ về ngôi nhà lầu bốn tầng thuê bao gần đó. Theo lời dặn từ hôm xuống Mỹ Tho, họ không được ra ngoài sau 8 giờ tối. Lúc về đến biệt thự, Biên, em Ðường nhìn tòa villa ngán ngẩm. Ngôi nhà mà gia đình ông Trương Hồng chủ tàu thuê từ sau Tết, làm chỗ ở tập trung cho ba trăm diện người Hoa đi tàu của ông, mỗi ngày một thêm đông người xuống ở. Tối nay, bốn tầng lầu chật cứng người từ trên xuống dưới. Dù đã bị hụt mấy lần vì công an đình chỉ ngày đi và cũng mấy bận lê thê lếch thếch kéo nhau về lại Sài Gòn vì chủ tàu tự ý dời ngày “xuất ngoại”, đêm nay chừng như “diện” nào cũng có mặt đầy đủ. Không ai muốn bị hụt chuyến đi ngày mai, trên chiếc tàu đăng ký số MT-603, sáu “lốc” cùng hai máy kéo phụ mà ông Trương Hồng đã hãnh diện tuyên bố với mọi thân chủ là bảo đảm nhất vùng Bốn! Ba người thanh niên đứng tần ngần trong sân vườn nhìn tòa nhà cũ từ thời Pháp đang chìm từ từ vào trong nền trời chiều chạng vạng của tỉnh lẻ. Một lúc sau, theo thói quen Ðường giục em mình đi kiếm chỗ ngủ. Thằng Biên hơi bất bình anh nó đêm đó, không chịu nhìn thấy “khó khăn chung của cả nước” đang nằm ngồi ngổn ngang la liệt tràn lan từ trên lầu thượng xuống đến bếp. Làm sao tranh được chỗ ngủ trên sàn gạch bông đã được cắm dùi kỹ luỡng và tận tình giăng mùng màn sùm sụp thế kia? Nhưng trái với tính tình thường ngày bướng bỉnh ở Sài Gòn, tối đó Biên lẳng lặng vâng lời anh bước vô nhà. Lý trí niên thiếu của Biên hiểu đang sống những giờ phút nghiêm trọng, cần tuyệt đối vâng lời anh. Nó loay hoay tìm chỗ đặt bàn chân, len lỏi men qua đám đông người đang nằm nhoài trên đất. Cái bóng lanh lợi của thằng Biên vàng vọt một lúc dưới ánh đèn măng-xông, rồi biến mất ở chân cầu thang. Còn một mình, Ðường rủ bạn ra ngồi ở bậc tam cấp. Cả hai không buồn ngủ và cũng không có ý định ngủ đêm nay. “Ðêm Xã-hội-Chủ-nghĩa cuối cùng, thức để nhớ mình đã uống nước suối Vi-Xi.” Dzũng khôi hài đen khi ngồi bệt xuống nền xi-măng. Ðường yên lặng tìm trong túi hai điếu Ðà Lạt, chìa cho bạn một rồi châm lửa. Lúc nãy khi đuổi em đi ngủ, Ðường biết anh có hơi vô lý. Thằng nhỏ kiếm đâu ra chỗ đặt lưng trong hộp cá mòi. Nhưng hình như Ðường sợ nếu cho phép đứa em ngồi lại với mình, nó sẽ đọc được hết những tâm tư của anh trên vỉa hè này. Những suy tư mà Ðường chợt thấy yếu đuối và thụ động trong khoảng thời khắc cuối cùng của hai anh em trên quê hương. “Hồi gom vàng hô đi hai trăm. Cận ngày đi kêu hai trăm rưỡi, bây giờ ‘đóng bến’ ba trăm mạng. Ðiệu này là cha Trương Hồng có đặt mua máy ép dầu cho mình rồi!” Dzũng vừa bập điếu thuốc, vừa cằn nhằn. Ðường đồng ý với bạn là chuyến tàu rồi sẽ chật như nêm cối, nhưng anh không bàn góp gì thêm. Nơi nào trên đất nước thời buổi này không có người bị lừa? Ðiếu Ðà Lạt Dzũng vừa kéo được vài hơi đã tắt lịm. Người thanh niên lại làu nhàu. Loại thuốc phân phối, sợi thuốc “dỏm” không tự cháy nổi một mình khiến Dzũng phải đánh diêm châm lại. Ðường nhìn đốm lửa soi mông lung khuôn mặt bạn. Dzũng là sinh viên năm thứ ba cùng học khoa Kế-Tài-Ngân ở đại học Kinh tế, trường Luật cũ với Ðường. Quen nhau tình cờ khi cả hai đi học môn Xác-suất Thống-kê. Rồi Dzũng trở thành người giới thiệu dắt mối cho hai anh em. Dzũng thẳng tính nên không thích ai “cong” với mình. Cuộc vượt biển nào cũng thẳng ít cong nhiều. Ðường cầu mong sao cho chuyến đi sẽ êm xuôi trót lọt, vì nếu không sẽ chẳng còn chuyến nào nữa cho anh em anh. Bóng đêm đã buông tuồng xuống thị xã từ lâu mà dường như Ðường vẫn còn trông thấy trong những lùm cây đang tối mờ đầu ngõ, hình ảnh ngôi nhà toang hoác trống trơn của gia đình. Ðường nhớ đến chiếc honda dame của mình, đến chiếc xe đạp course của thằng Biên, đến máy truyền hình hiệu National của nhà, bàn máy may Singer của chị cả, tủ lạnh Panasonic và những chỉ vàng, nữ trang cuối cùng của mẹ lần lượt ra đi để gom góp cho đủ số hăm bốn cây vàng. Khu xóm về đêm mới thê lương. Những đường hẻm đối diện mới hồi chiều tấp nập người ra vô, đầy dẫy những quán tiệm cơm hàng cháo chợ, trời vừa sụp tối đã vắng tanh vắng ngắt. Hai người bạn sinh viên không hiểu có phải vì công an cấm lai vãng ban đêm khu nhà của “kẻ xấu người Hoa” hay giờ giới nghiêm ở Mỹ Tho sớm hơn Sài Gòn nhưng họ cảm nhận rõ rệt khu phố cúp điện thưa người chìm tối âm u đến thê thảm. “Dzũng, sao ông đi lần này?” Ðường bỗng chợt hỏi bạn khi anh búng tàn thuốc xuống lạch cống. “Thì cũng như ông, ngán đi chui! Ði ‘tu nghiệp’ kiểu ‘hợp doanh ngoại thương’ như vầy an tâm hơn.” “Không, ý mình muốn hỏi Dzũng sao chọn ra đi kìa?” Ðường vội ngắt lời bạn khi thấy Dzũng hiểu sai ý anh. Hỏi Dzũng nhưng thật ra Ðường hỏi cho chính mình. Anh muốn duyệt xét lại lần nữa câu trả lời thao thức từ nhiều năm qua. Ðường, trong một giây ôn lại tâm tư của chính anh. Một tâm tư đã biết chia sẻ với Soljénitsyne, Pasternak, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ… Trước 75 đọc Một ngày trong đời của Denissovitch, Tầng đầu địa ngục, Bác sĩ Jivago, Dòng sông định mệnh, Ðem tâm tình viết lịch sử của những nhà văn ấy, Ðường không ngờ có một ngày miền Nam nơi ấp ủ tuổi thơ, dung dưỡng tuổi niên thiếu, nẩy nở tuổi trẻ của anh bỗng vụt trở thành thực tế kinh khủng ê chề của những cuốn tiểu thuyết kia. Và Trại Ðầm Ðùn của Trần Văn Thái rõ ràng là đang hiện diện trong nhà giam Phan Ðăng Lưu, nhà tù Ðại Lợi ngay giữa lòng Sài Gòn. “Sao chọn ra đi? Dễ hiểu lắm, không muốn mỗi tối họp tổ dân phố, không muốn mỗi Chủ Nhật đi lao động xã hội chủ nghĩa, không muốn mỗi tam cá nguyệt đi thủy lợi, không muốn phải chạy tiền Phường để khỏi bị gọi nghĩa vụ chết dấm dúi một xó xỉnh nào đó bên Kampuchia. Và quan trọng nhứt, là không muốn suốt cuộc đời chỉ được đọc có hai tờ nhật trình của nhà nước…” Sau phút hơi ngạc nhiên vì câu hỏi bất ngờ của bạn, Dzũng chậm rãi trả lời. Một sự thật quá hiển nhiên mà nhiều người đã không cần tự hỏi khi ra đi. Nhưng Ðường và Dzũng đang ở lứa tuổi của một thế hệ vừa bước chân vào đời, sớm biết suy nghĩ, băn khoăn vì cuộc sống vây quanh. Ðêm khuya dần và vầng trăng sáng treo cao trên đầu cả hai. Họ còn tự đặt cho nhau nhiều câu hỏi khó khăn khác, về khả tín của học thuyết Darwin, về câu nói bất hủ “Chính quyền trong tay Sô-viết” của Lénine, về những bế tắc của cấu trúc kinh tế Mác-xít ứng dụng ở Việt Nam, về các ca khúc mới của Trịnh Công Sơn trình diễn ở Hội Trí thức Yêu nước, cùng cả về cái chết bí mật của Thanh Nga. Hai người thanh niên không tìm ra giải đáp nào thỏa đáng với câu hỏi đầu tiên vì sao phải ra đi, họ chỉ cùng đồng ý phải thoát ra khỏi Việt Nam, cái hộp sắt bưng bít giam nhốt đang làm chết ngạt tất cả những giá trị tư tưởng. Tương lai ở ngoài hộp sắt. Dzũng châm thêm điếu thuốc. Anh rít mạnh vì thuốc Hoa Mai sợi đen, cũng như Ðà Lạt lúc nãy dễ tắt. Ðường và Dzũng thức thật khuya đêm ấy, cả hai không để ý đến vài người Hoa đi cùng chuyến cũng còn chưa ngủ, bắc ghế ra sau hè bàn tán. Những chú Sìn, chú Cẩm, chú Hổi của Chợ Lớn không sõi tiếng Việt, chưa đọc Tư bản luận, chưa đọc Lénine Toàn tập và cũng chưa đọc Trại Ðầm Ðùn của Trần Văn Thái. Song họ vẫn biết rõ vì sao mình phải ra đi. Vì thực tế phũ phàng người Việt dành cho họ, vì kinh nghiệm máu xương của kỳ đánh tư sản năm ngoái hãy còn quá gần? Ðó chỉ là một phần của lý do khiến sau nhiều ngàn năm giao tình với dân tộc phương Nam, người Trung Hoa đành nhìn nhận hồi kết đã đến. Dưới thời Ðệ nhất Cộng hòa, Hoa kiều bị cấm mười tám ngành nghề, đến Ðệ nhị Cộng hòa họ chung lưng chịu trận chiến tranh, nhưng vẫn vui vẻ sống, vẫn vui vẻ mỗi sáng nở nụ cười cầu tài đầu tiên. Hình ảnh dân tộc Việt trong lòng Hoa kiều là hình ảnh anh bản xứ hiền hòa, cần cù vui tính, dù đôi khi có hơi lì lợm. Nhưng từ 75 đến 78, chỉ cần vài năm một thứ người Việt khác, đã xóa bỏ hoàn toàn một hình ảnh sẵn có, xây dựng từ bốn ngàn năm qua trong lòng Hoa kiều để xua họ ra biển. Vầng trăng của bốn ngàn năm trước tối nay vẫn còn treo lơ lửng, ngọn gió của thời Lạc Hồng vẫn còn đang lùa nhẹ qua sân, những hậu duệ của các tổ phụ di dân phương Bắc vẫn còn đang trò chuyện. Tiếng Quảng xì xầm xì xồ của họ râm ran, nhưng là những lời an ủi khích lệ nhau may mắn trên đất tự do với một dân tộc khác.
Lời Giới Thiệu: Chu Lynh, sinh năm 1945 tại miền Bắc. Di cư: 1954; Sĩ quan QLVNCH. Định cư tại Mỹ: 1995. Đồng sáng lập Vietnam Film Club với Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích tháng 9 năm 2010. Sở thích: Làm phim tài liệu về những biến cố khúc quanh của lịch sử từ 1945 đến nay. Không phải là nhà văn nhưng thích viết truyện ngắn về quê hương.
“Em phải sống” là truyện mới nhất của anh, lần đầu tiên góp mặt với Trẻ.
Cắm xong ba nén nhang, tôi liếc nhìn bức hình của anh trên bàn thờ. Ðại uý Nguyễn Tường Lân trong chiếc áo trận bạc màu, mất ngày 25.9. Hôm nay là ngày giỗ thứ hai mươi của anh.
Bỗng tôi thấy anh nhìn tôi bằng cặp mắt kỳ lạ. Mọi thứ chung quanh như mờ dần. Mắt tôi chao đi, đôi mắt anh từ từ sáng lên. Không còn hoài nghi gì nữa, đôi mắt của anh trong ngày về phép cuối cùng đang trở về trên bức hình này. Tôi rùng mình. Có phải anh Lân muốn nói với tôi điều gì?
Tôi với tay lấy tờ báo đầy tro trên bàn thờ. Tờ đặc san Cảm Thông của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận phát hành năm 1970. Tất cả những gì tôi còn giữ của anh là tấm ảnh này, chụp trong chuyến đi Nha Trang năm 1969 và tờ Cảm Thông có được từ gia đình anh tại Sài Gòn mấy ngày trước khi tôi vượt biên.
Ngồi xuống ghế, tôi mở tờ báo ra. “Chiến trường Ðức Lập, ai sẽ sống sót” bài viết cuối cùng của anh về những ngày khốc liệt tại mặt trận Ðức Lập. Trong bài viết, anh mô tả xác bạn xác thù nằm chồng lên nhau là tấm ảnh tiêu biểu nhất của chiến tranh Việt Nam.
Hôm nay đọc lại bài viết, những hình ảnh quá khứ như vừa trở về đâu đây, đang dẫn tôi về lại những nơi hai đứa đã đến, từng bước chân hai đứa đã đi trên những nẻo đường thành phố cao nguyên. Bài viết như là hình ảnh thu nhỏ về cuộc chiến anh tham dự. Anh mỗi ngày đối mặt kẻ thù ngoài mặt trận. Tôi hằng giờ thấp thỏm chờ tin ở hậu phương.
“Chiến trường Ðức Lập, ai sẽ sống sót”. Thân xác anh đã về với tro bụi, nhưng hơn ai hết tôi biết anh đang sống bên hai mẹ con tôi. Những đồng đội một thời binh lửa với anh chắc khó mà quên được người chỉ huy sống chết với binh sĩ ngoài mặt trận.
Tôi nhìn lên bàn thờ lần nữa, đôi mắt như một lời nhắn hãy theo anh về lại mảnh đất miền Nam vấy máu, và một cuộc tình vỡ tan bởi mảnh pháo trên ngực người lính hai mươi năm trước…
oOo
Ngoại ô Ban Mê Thuột. Năm 1967.
Ðang đẩy chiếc xe đạp lên bậc thềm, tôi nghe tiếng xe jeep trước cổng nhà. Anh Hai bước xuống xe. Dặn dò gì đó với tài xế rồi anh bước vào nhà. Thấy tôi, anh reo lên:
– Anh đang cần em đây.
– Có chuyện gì vậy anh?
– Chị Hai đã ra phi trường đón chú Khang. Vy đi với anh đến câu lạc bộ sĩ quan.
– Chỗ lính tráng em đến làm gì?
– Không có chuyện gì, chỉ là đi ăn thôi.
– Không có chị Hai mới nghĩ đến em phải không?
– Bậy nà.
Từ nhỏ đến giờ tôi ít khi từ chối anh điều gì, nhưng vẫn tìm cách thoái thác.
– Nhưng em đâu có áo quần đi ăn, chẳng lẽ mặc áo dài trắng?
– Vy mặc đầm của chị Hai cũng vừa mà.
Tôi đành làm thinh. Vắng chị Hai, căn nhà trống trải.
– Anh có người bạn vừa về hậu cứ. Anh mời ăn cơm tối nay ở câu lạc bộ. Bạn cùng khóa rất thân. Vy đi với anh.
Cái lối xưng tên em gái làm tôi dễ xiêu lòng. Chợt nghĩ tôi có khi nào lạc vào rừng gươm của người lính, nghe nói họ nổi tiếng táo bạo, tán tỉnh bất kể chữ nghĩa. Có anh Hai bên cạnh, tôi cứ thử một lần cho biết lính tráng có gì ghê gớm không.
Nhìn vào kiếng tôi thấy khuôn mặt nữ sinh ngây ngô của mình ửng đỏ. Chưa có người yêu, chưa biết vẽ vời, vậy mà hôm nay tôi có một cảm giác là lạ. Chiếc váy hồng nhạt của chị Hai cũng vừa thân hình. Bắt chước chị Hai, tôi cũng tô chút son môi hồng.
Ðứng trước mặt anh Hai, tôi hơi lúng túng trong chiếc váy. Anh như giám khảo đang ngắm nghía thí sinh trước khi chấm điểm.
– Em lớn hồi nào anh không hay. Từ hôm nay anh phải để mắt đến em mới được.
– Em còn ở tuổi học trò mà. Hay anh bày đặt tán tỉnh giùm ai đây?
Chú tài xế trở lại đón chúng tôi.
Câu lạc bộ sĩ quan nằm cạnh Tiểu khu quen thuộc với tôi vì thỉnh thoảng ra phố thường đi qua con đường Thống Nhất này, nhưng lần đầu tiên tôi bước vào bên trong. Anh Hai cho biết câu lạc bộ dành cho sĩ quan, có nấu cơm tháng, cuối tuần có ca nhạc và nhảy đầm. Bước vào cửa tôi thấy những chiếc bàn vuông có nhiều sĩ quan đang ăn cơm. Anh Hai đảo mắt về phía quầy rồi đưa tay chào người nào đó.
Vừa ngồi xuống, thì một sĩ quan mang cấp bậc trung uý tiến lại gần. Anh Hai bắt tay rồi nhìn tôi giới thiệu:
– Ðây là anh Lân, cùng khoá với anh mới về từ Ðức Lập. Còn đây là em gái tao, Thụy Vy.
Anh Lân gật đầu chào tôi, nét mặt buồn buồn. Anh Hai gọi thức ăn, bia lạnh và một ly đá chanh cho tôi. Tôi lặng lẽ quan sát hai người nói chuyện. Suốt bữa ăn, anh Lân chỉ hỏi tôi vài câu về chuyện học hành, xem ra đầu óc để đâu đâu, thỉnh thoảng liếc nhìn tôi rất nhanh rồi lại tiếp tục câu chuyện của hai người lính.
Thì ra họ là bạn cùng trường Quốc Học ngoài Huế, thi Tú Tài II xong là rủ nhau vào trường Võ Bị Ðà Lạt. Hai người lính xưng hô mầy tao như hai cậu học trò thân thiết ngày xưa. Tôi ngồi im làm quen với chữ nghĩa của lính đánh giặc, bao lâu nay không có cơ hội biết đến.
Nhìn kỹ mới thấy anh Lân phong sương hơn anh Hai nhiều, có lẽ là lính ngoài mặt trận trong khi anh Hai đã về hậu cứ, thong dong hơn những năm trước đây lăn lóc nơi các tiền đồn ở Quảng Ðức.
– Mầy về nhà tao chơi một lát rồi đi đâu thì đi. Bà xã tao có hỏi dạo này không thấy mầy với Diễm ghé nhà.
Anh Lân vẫn làm thinh. Ăn xong, anh biểu tài xế lái một vòng phố Ban Mê Thuột. Anh Lân yêu cầu tài xế lái thật chậm khi qua đường Quang Trung. Nơi đây có một dãy quán bar dành cho lính Mỹ. Ðèn quán vừa bật sáng. Tôi liếc thấy bên trái tên bảng hiệu Kim Bar kết đèn màu. Anh Lân cũng nhìn bảng tên này thật lâu, nhưng không có vẻ gì muốn tài xế ngừng xe lại. Tôi lạ lẫm về dãy quán này, cũng lạ lẫm về thái độ của hai người lính. Về đến nhà, đã thấy chị Hai đang sửa soạn cơm tối. Chị cho biết chú Khang đã vào Châu Sơn ở lại với ba mẹ. Anh Hai bảo tôi ở lại, đằng nào ba mẹ cũng biết, vì cuối tuần tôi thường ra đây dọn dẹp nhà cửa cho anh chị rồi ngủ lại.
Sau bữa cơm, chị Hai chợt hỏi anh Lân:
– Sao hôm nay Diễm không đi theo?
Anh Lân không trả lời ngay, một lúc sau mới nói từng tiếng một:
– Chuyện buồn về Diễm.
Anh Hai ngạc nhiên hỏi.
– Diễm có chuyện gì?
– Mầy nhớ con Thu làm chung với Diễm ở Kim Bar đường Quang Trung? Nó nhờ người ở Truyền Tin gọi cho tao.
– Nhớ. Nhưng có chuyện gì?
Anh Lân lặng đi một lúc rồi nghẹn lại
– Diễm mất rồi. Tao vừa ghé thăm mộ.
Anh Hai biến sắc. Chị Hai sửng sốt la lên. Anh Lân chùng xuống. Ðang dọn dẹp phòng khách, tôi bỗng quay nhìn anh Lân thật kỹ. Cô Diễm nào đó là người con gái quan trọng của đời anh đã mất. Tôi nhớ lại khuôn mặt anh Lân buồn buồn tại câu lạc bộ, và mắt anh nhìn thật lâu vào quán Kim Bar khi qua đường Quang Trung.
– Diễm bị ung thư mà không biết. Hay Diễm biết nhưng không nói ra, kể cả gia đình. Tao cũng không biết. Chỉ thấy Diễm yêu đời hơn, sống những ngày hạnh phúc trọn vẹn mỗi lần tao về thăm.
Tôi cứ đứng đó lặng người nghe anh Lân nói về Diễm. Cái chết của Diễm thật bất ngờ, chỉ hai ngày sau khi nhập viện vì ung thư phổi. Tự nhiên tôi thấy thương cô gái xa lạ ấy. Mà sao anh Lân lại yêu một cô gái bán Bar, và anh chị Hai lại quan tâm đến cô gái này?
Sau nầy tôi được chị Hai kể về mối tình của họ với lòng thương mến đặc biệt. Không phải mối tình của người lính ngang tàng với cô gái buông thả. Họ yêu nhau từ tuổi học trò ở Nha Trang, lạc mất nhau vì chiến tranh, gặp lại nhau trên đường phố Ban Mê Thuột. Thỉnh thoảng, họ đến thăm anh chị Hai, coi nhau như người thân trong gia đình. Ðêm đó, không hiểu sao tôi cứ trằn trọc nghĩ đến anh Lân.
Sáng sớm, tôi quyết định theo anh Hai vào phi trường L19 tiễn anh Lân lên trực thăng về đơn vị. Trên xe anh Lân ngồi với tôi ở băng ghế sau, có vẻ chú ý đến tôi chứ không lạnh lùng như hôm qua. Nét mặt vẫn thế, buồn, trầm lặng nhưng bình tĩnh hơn.
Tôi làm một việc mà sau này nhớ lại thấy mình đi quá nhanh, nhưng tôi không hối tiếc. Tôi xin địa chỉ đơn vị anh Lân.
Lá thư đầu tiên tôi gởi đi sau mấy tuần lễ đắn đo. Tôi nhận thơ anh khoảng hai tuần sau đó. Anh cám ơn tôi đã tiễn anh lên máy bay, chúc tôi học hành chăm chỉ. Chỉ thế thôi.
Tôi trở lại lớp học với chút vấn vương như làn khói nhẹ lững lờ trong đầu.
Rồi những lá thư tiếp theo tôi viết về cảm xúc của đứa con gái hậu phương mỗi khi thấy một toán lính đi qua khung cửa sổ. Tôi bắt đầu nghe tin tức chiến sự chị Hai đọc trên đài phát thanh, thích nghe những bản nhạc về lính, và các chương trình tiền tuyến hậu phương. Anh Lân khuyên tôi chỉ nên quan tâm việc học hành, chuyện chiến sự là chuyện của người lính.
Xem ra lời anh khuyên chẳng tác dụng, vì tôi đã thành người lớn rồi, biết nghĩ tại sao tôi được tung tăng vào lớp học. Như có ai đã mở trí óc tôi ra. Tôi thương anh Hai nhiều hơn, thường xúc động khi nhìn những người lính lầm lũi trong mưa đi qua nhà tôi.
Tôi không xao lãng việc học, ngược lại càng chăm chỉ hơn. Cả lớp ngạc nhiên về sự thay đổi của tôi, không còn nghịch phá đám con trai, không còn nhiều chuyện với đám con gái. Anh chị Hai hài lòng, ba mẹ tôi vui, mấy đứa em có người chị nghiêm nghị hơn trước.
Những lá thư đều đặn qua lại, có chút lo lắng, có chút quan tâm, nhiều thứ dặn dò lẫn nhau đẩy tôi lại gần anh hơn. Tôi cảm thấy những lá thư ngầm chứa một thứ tình cảm khác thường vừa nẩy mầm. Ði lễ, tôi cầu nguyện cho anh được bình yên trong các cuộc hành quân. Tôi hẹn ngày Giáng Sinh anh về đi lễ với tôi, sẽ quỳ thật lâu bên hang đá cầu nguyện khi không còn ai trong nhà thờ. Tôi tìm nghe những bản nhạc về Giáng Sinh nói về tình yêu người con gái hậu phương dành cho người lính tiền tuyến xem tình yêu quê hương lớn hơn mọi thứ. Gần như mọi bài hát đều không có đoạn kết “tay trong tay khi đất nước thanh bình”, mà hầu hết người lính đều nằm xuống ngoài chiến trường. Có phải đó là số phận của người con gái hậu phương trong thời chiến. Những đoạn kết chia ly ấy dường như đã vận vào đời tôi.
Tôi không biết đã yêu anh từ lúc nào, từ những lá thư qua lại thường xuyên, từ nỗi buồn chiến tranh của anh, từ hình ảnh người lính xông pha nơi chiến trường, hay vì định mệnh đã đưa chúng tôi đến với nhau?
Chuyện buồn về cô Diễm không hề nghe anh nhắc đến lần nào, nhưng tôi tin anh đã để vào một góc kín nào đó trong tim. Tôi cũng kín đáo tôn trọng nỗi buồn của anh.
Ngồi trên hàng ghế cuối lớp học, tôi nhớ anh da diết, biết không thể sống xa anh được. “Anh Lân, em đã yêu anh”.
oOo
Ðó là buổi chiều se lạnh, mưa lất phất, bầu trời quen thuộc của thành phố “buồn muôn thuở”. Tôi đến hậu cứ Trung đoàn của anh Hai để nói chuyện với anh Lân qua máy vô tuyến. Những lá thư không đủ cho tôi vơi bớt nỗi nhớ anh.
Chiến trường nào đó tôi không biết, chỉ biết anh sống giữa bom đạn, hầm hố và hỏa châu. Ðã ba năm yêu nhau, anh vẫn không cho tôi đến nơi đóng quân của anh. Suốt tháng nay, tôi không một tin tức về anh ngoài vài lần nghe anh Hai nói anh vẫn bình yên.
Tôi run run cầm ống nghe. Anh Lân đang ăn cơm chiều với binh sĩ dưới hầm phòng thủ. Tôi xúc động khi nghe anh mô tả bữa ăn với gạo sấy và lương khô. Toán lính gõ loạn vào nồi niêu chào mừng người yêu của lính. Họ cười vang, lại còn trêu chọc tôi mít ướt. Tôi bắt anh kể chuyện tiền đồn, chuyện những người lính của anh sống như thế nào giữa núi rừng.
Qua điện thoại, giọng anh nghe khác lạ, nhưng lại ấm áp, hơi thở như phà vào tai tôi. Thỉnh thoảng có tiếng gió rít xen vào khó nghe. Hình như có tiếng một người lính hỏi tôi có em gái nào chịu viết thư cho lính không.
Trong một giây, không ngăn được lòng mình, tôi nói thật chậm “Anh Lân, em yêu anh”. Nói xong, nước mắt tôi lăn dài trên má. Anh Hai ngồi kế bên cười tủm tỉm.
– Sao bây giờ mới chịu nói?
Tôi nguýt anh Hai một cái dài:
– Tại em muốn… để dành chứ bộ.
Ðó là khoảnh khắc tôi nhớ suốt đời. Vâng, em yêu anh và không bao giờ hối tiếc đã xin địa chỉ lính của anh khi chưa biết anh là ai.
Bao nhiêu người tìm cách an thân thì anh Lân cứ miệt mài với những trận đánh. Ðơn vị anh hành quân liên miên, hết quy mô đến lẻ tẻ, đụng độ du kích đến lính chính quy. Anh nói không thể tin được tụi lính Bắc chỉ là những đứa trẻ non choẹt đáng lẽ đến trường thì lại xung phong vào Nam đánh Mỹ cứu nước. Có một lần, anh Hai đùa với anh Lân:
– Mầy cẩn thận nhìn cho kỹ mấy đứa cháu tao ở Bắc Ninh vào mà tha cho tụi nó.
Anh thường nói về số phận đáng quý nhưng lại bọt bèo của người lính ngoài chiến trường. Anh rất hiền khi về phép, nóng tính ngoài mặt trận, nhưng rất thương lính, quan tâm vợ con họ trong trại gia binh. Tôi nghĩ khó mà làm anh thoát ra khỏi nỗi buồn chiến tranh. Những lá thơ của anh thường viết về hai điều. Chuyện về người lính trận và chuyện tình yêu của chúng tôi. Ðây là một đoạn:
“Người Việt đang giết người Việt. Vì đâu ra nông nổi này? Miền Nam bình yên không cần ai đến đây. Sao lại có cộng sản trên mảnh đất sung túc của chúng ta rồi phất cờ giải phóng dân tộc? Sao lại có quân viễn chinh đến đây? Họ tạo ra cuộc chiến để bán vũ khí, để đạt tham vọng, nhưng lại nhân danh bảo vệ tiền đồn của thế giới tự do.
Người Việt sinh ra giữa cơn gió đồng nội, hài lòng với đám trẻ quê mùa ê a trong lớp học, hạnh phúc giữa tiếng pháo giao thừa trong xóm nghèo. Người Việt được nuôi sống và tồn tại bởi hơi thở của tổ tiên. Có quá nhiều hình ảnh đau thương ngoài chiến trường hay ở hậu phương vẫn không làm thế giới thổn thức.
“Trước mắt, anh phải đưa tay bóp cò súng loại trừ kẻ thù để sống sót. Biết rằng ngày nào đó mình sẽ ngã xuống. Trước khi ngã xuống, người lính phải hiểu rằng họ hy sinh không phải cho một chế độ, cho một số người, mà cho mảnh đất đã sinh ra mình, đã nuôi nấng mình thành người Việt Nam”.
oOo
Ban Mê Thuột, 1970.
Tan học, tôi không về nhà mà đến nhà anh Hai vì cảm nặng ngay trong lớp, có lẽ tôi đã đi bộ dưới mưa ngày hôm trước. Anh Hai đã vào Trung đoàn từ sáng sớm, chị Hai thì có chương trình ở đài phát thanh Ðắc Lắc. Tôi thành bệnh nhân không ai chăm sóc nằm mê man trên giường. Khi thức giấc, tôi mờ mờ thấy một người đàn ông ngồi bên giường. Tôi giật mình nhận ra chiếc áo trận quen thuộc. Anh Lân.
Trước khi lên hội quán anh có bỏ ít tiền vô bao thư định lát nữa gặp Nonie nhờ nó gởi giúp những người bị bão ở bên Phi Luật Tân. Nhưng nãy giờ anh ngồi trước hội quán uống hết hai chai bia rồi mà không thấy mặt mũi nó đâu hết. Chợt thấy Gel bận áo sơ mi trắng, khoát áo lạnh màu vàng, vai mang túi da cũng màu vàng và bận quần jeans trông không có vẻ gì là nhân viên đương làm việc hết, từ trong hội quán cô đi thẳng ra chỗ anh ngồi. Anh chỉ mới hello chào, chưa kịp hỏi gì thì cô liền khoe:
– Tui từ Manila mới qua.
Anh nhìn cô ta cười:
– Thấy cô vàng khè tui tưởng cô mang hết cả mùa thu lên người.
Cô trừng anh một cái:
– Ông này!
Gel tháo túi xách để lên chiếc ghế bên cạnh và kéo ghế khác ra ngồi đối diện.
– Tui nghe Nonie nói cô dìa thăm gia đình. Nghe bên đó bão lớn lắm, nhà cô có sao không?
Gel lắc đầu:
– Hông sao, hông sao, ở Manila hổng sao, cô đưa ngón tay trỏ chà chà vô ngón tay cái nói tiếp, nhưng tốn khá nhiều tiền.
Gel nhìn ra khoảng không gian rộng, phía trước có hàng cây lưa thưa lá vàng và sau hàng cây là một tòa nhà chọc trời, cô nói:
– Mấy hôm trước nơi đây cũng có bão nhưng nhà cửa ở Đức kiên cố nên ít thiệt hại hơn ở Phi Luật Tân.
Anh cười pha chút khôi hài, nói:
– Ờ há, chỉ tội cho cây cối bị gió quật ngả nghiêng và tơi bời lá hoa rụng.
Mặt Gel tỏ vẻ buồn và nghiêm nghị nói:
– Cái ông này! Chuyện buồn mà…
Anh chồm người qua nhìn thẳng mặt Gel cười cười:
– Mỗi năm nước Phi chịu hàng trăm trận bão, hổng lẽ cô đau buồn suốt năm. Cô coi, bão chạy qua tàn phá miền Trung Việt Nam làm nhà sập, người chết mà tui có buồn đâu.
Gel ngẩng đầu lên, nói:
– Ờ, hồi còn ở bển tui nghe nói người Việt cũng gởi tiền, gởi người qua giúp dân Phi.
– Thì hồi trước dân Phi giúp dân Việt, bây giờ họ giúp lại. Nhưng có thấm thía gì đâu, cả thế giới giúp dân Phi đó mà.
Gel đưa ngón tay cái ra gặt gặt:
– Nhưng người Việt Nam tốt.
Anh dí dỏm:
– Cầu trời cho Phi Luật Tân bị bão hoài hoài để người Việt có cơ hội chứng tỏ lòng tốt với dân Phi.
Gel đưa tay vừa xỉ lên giữa trán anh vừa nói:
– Ông này, lúc nào cũng khôi hài được, gần chục ngàn người chết chớ hổng phải chơi!
– Nhưng ngồi đây mình làm được gì? À, làm được, làm được, cái này ai cũng làm được và làm rất dễ.
– Cái gì?
_ Cầu nguyện, cô cầu nguyện với tui, tui bảo đảm hổng tốn xu nào.
Anh liền ngồi ngay ngắn, chắp hai tay, cúi đầu nhép nhép miệng… Gel cười thành tiếng:
– Ha ha… ông còn làm được cái này nữa, cũng hổng khó.
Anh ngước lên:
– Cái gì?
– Mời tui ly bia.
Anh làm mặt nghiêm:
– Còn đòi uống bia… gần chục ngàn người chết chớ đâu phải chơi!
Gel ngẩn người dựa lưng ra sau ghế trố mắt nhìn anh, có lẽ cô phân vân không biết anh nói thiệt hay chơi… Sợ cô mất hứng anh liền đứng dậy cười hì hì:
– Uống rượu, uống rượu đi, rượu ngon hơn bia.
Vỡ lẽ ra Gel bật cười và cả hai cùng cười ha hả. Anh đứng lên đi vô bar mua chai rượu nho trắng ướp lạnh, loại rượu mà Gel thích, mượn hai cái ly và cái mâm, mua bịch da heo chiên dòn, xin chén dấm ớt, da heo chiên dòn chấm dấm ớt nhậu bia lạnh hoặc rượu lạnh rất bắt. Tính tiền xong, anh sắp mọi thứ lên mâm bưng ra để lên bàn. Gel cười cười, hỏi:
– Tiệc mừng hả?
Anh gật gật đầu:
– Ừa, mừng chớ, mừng cô còn sống sót trở về.
Nét mặt Gel trở nên nghiêm nghị:
– Lần này tuy bão lớn, thiệt hại rất nhiều nhưng tui thấy buồn nhưng hông đau khổ hơn lần trước.
– Tại cô hổng phải là nạn nhân.
Anh tháo bịch da heo ra trút vô dĩa, rót rượu ra hai ly và ngước lên hỏi:
– Ủa, trận bão trước kia! Cô có bị bão sao?
– Trước kia vùng quê tui bị bão cho nên gia đình tui tản cư lên Manila. Lúc đó đâu còn tiền, tui mới làm trong quán bar, tình cờ gặp anh chàng người Đức, đưa tôi qua đây làm trong phòng đèn đỏ, sau đó tui bị bịnh không làm được nữa mới bị cho ra đứng đường. Rồi hôm trời mưa giông, tôi lại gặp ông trong quán ở Bremerhaven. Ông cho tui một trăm hai mươi lăm Mark, ông hổng nhớ sao?
Chuyện này anh nghe cô nhắc đi nhắc lại mỗi khi có chuyện buồn nên anh cũng không để ý chuyện bão bùng. Anh không muốn cô nàng nói tiếp câu chuyện, anh nói:
– Nhớ rồi, cái chuyện xa lắc đâu hồi Âu Châu chưa xài euro. Chuyện buồn mà cô nhớ hoài làm chi.
Tuy nhiên trước khi kể tiếp có lẽ phải bắt đầu từ cái năm nào không nhớ, nhưng anh chỉ còn nhớ cái thời tiền euro chưa ra đời. Đêm hôm đó anh lên bờ chơi tới gần khuya, chợt giông gió nổi lên, tắc xi không chạy được, anh bèn ngồi lại quán bar chờ cho cơn gió dịu. Chợt một cô gái người Phi thân thể cao ráo, đi tới bên anh khép nép chào và xin ngồi trên chiếc ghế trống cạnh bên, cô không phải người ốm nhưng trông tiều tụy trong chiếc áo lông màu đỏ, da vẻ nâu nâu nhưng không dấu được nét xanh xao bịnh hoạn. Trong quán cả đống đàn ông tới đây ăn nhậu và tìm gái mua vui. Nếu không thì cũng như anh, ngồi uống bia ngắm nghía cho đỡ thèm, vậy mà không ai để ý tới cô hết. Động lòng trắc ẩn anh mời cô ly bia, cô từ chối uống bia và xin ly nước lọc, anh mua cho cô chai nước lọc. Nét mặt dàu dàu mệt mỏi, nhưng cô vẫn tươi cười vui vẻ và hỏi xin anh năm chục mark, đổi lại cô sẽ dùng miệng cho anh thỏa mãn… Anh nhìn qua cô gái, tuy mùi dầu thơm từ thân thể cô xông lên nồng nặc nhưng không át được cái mùi hôi từ miệng cô phả ra ngây ngấy. Anh dùng mình một cái:
– Ý, đâu được, cái miệng của cô mà ngậm vô, cây kèn của tôi bị nghẹt sao!
Cô gái thở dài ra chiều thất vọng làm anh ái ngại. Chỉ vì chút tánh bỡn cợt bẩm sinh, lỡ miệng nói ra làm xúc phạm tới cô gái. Trong cuộc sống nghiệt ngã này đã dạy anh không được phép khinh thường bất cứ ai, và bất cứ vật nào có mặt trên trần gian này. Anh ân hận choàng tay qua vai cô ả xoa xoa bóp bóp, dịu giọng:
– Xin lỗi, tui giỡn chơi thôi.
Cô xua tay lia lịa:
– Hổng sao, hổng sao…
Nhìn cô gái anh có cảm giác cô đương gặp chuyện khó khăn, cần giúp đỡ. Anh hỏi:
– Cô cần năm chục mark chi vậy?
– Mua vé xe đi Hamburg tìm người quen nhờ họ giúp trị bịnh.
– Cô bịnh?
Cô gái gật đầu, mắt long lanh buồn buồn… Thấy vậy anh móc bóp lấy hết xấp tiền giấy đưa cho cô và nói:
– Tui còn có bao nhiêu thôi, cô cầm đi.
Cô nàng cầm tiền, cảm động nói:
– Đủ quá rồi, cám ơn ông nhiều lắm.
Anh day ngang uống bia tiếp. Cô ta thấy anh không nói gì bèn kề miệng gần tai anh nhắc:
– Bên trên có căn phòng, ông lên đó với tui.
Anh day qua, nghiêm nghị nói:
– Trông cô mệt lắm rồi, tìm chỗ nghỉ ngơi, sáng mai còn đi Hamburg.
Cô gái từ từ đứng lên, gài nút áo lạnh, choàng lại khăn cổ, cúi xuống hôn anh một cái và nói lời cám ơn rồi bước ra cửa. Nhìn theo cô gái, anh chậc lưỡi thở dài thầm nói:
– Chậc, thêm một mảnh đời tơi tả.
Ngoài trời mưa giông đã dịu từ lúc nào. Anh ngó lên chiếc đồng hồ tường thì đã hơn ba giờ sáng, định kêu tắc xi nhưng trong bóp chỉ còn có mấy đồng tiền cắc, đành kéo áo lạnh lên cho kín và cuốc bộ về tàu.
Bẵng đi một thời gian khá lâu, anh đã quên mất chuyện mưa giông đêm ấy. Vào một ngày hè, anh lên hội quán, chợt gặp lại Gel. Chuyện đời cũng ngộ, có người quen nhau rất lâu và xa nhau thời gian ngắn gặp lại ngờ ngợ, còn anh với cô gái gặp nhau có một lần trong đêm và sau khi chia tay ra đi anh đã quên bẵng, nhưng không hiểu sao vừa gặp lại, cả hai liền nhận ra ngay. Cô nàng mừng rỡ ôm chầm lấy anh hôn hai ba cái lên má, làm như lâu ngày mới găp người yêu. Nhìn bảng hiệu trên ngực anh mới biết cô tên Gel và là nhân viên trong hội quán. Chào hỏi xong Gel nói:
– Ông ở đây được bao lâu?
– Tàu mới ghé, mai khởi hành.
– Tui phải làm việc tới mười giờ…
Ngẫm nghĩ một chút Gel nói:
– Ờ, hay là lát nữa nghỉ giải lao tui lại nói chuyện với ông.
Anh gật đầu chỉ tay ra chiếc bàn trống cạnh sân bóng rổ giữa những tàn cây:
– Ô kê, tui ngồi đằng kia chờ cô.
Anh đi vô bar mua bia rồi bưng ra ngồi bên chiếc bàn trống trên sân cỏ. Mùa hè nơi đây màu sắc đẹp tuyệt vời. Xanh, đỏ, vàng và màu nâu. Sương mù ban sáng, nắng ban trưa thỉnh thoảng cơn mưa dịu cho cây lá xanh tươi và không khí mát mẻ. Anh ngồi xem hai đội banh đấu nhau bình bịch nghe vui tai và trông cũng vui mắt.
Một lát sau tay cầm chai bia, tay chai nước ngọt, Gel đi ra ngồi đối diện anh. Gel mời anh chai bia, còn cô thì uống nước ngọt. Anh hỏi thăm sức khoẻ. Cô khoe:
– Tui đã hết bịnh rồi.
Bây giờ anh mới nhìn rõ mặt Gel. Cô không xài son phấn, nhờ vui vẻ yêu đời cô tươi thắm hồn nhiên và nhờ khoẻ mạnh, không dùng dầu thơm cũng thoang thoảng mùi hương quyến rũ. Gel cười:
– Làm gì nhìn tui vậy?
– Trông cô đẹp lắm, không đợi Gel phản ứng anh hỏi luôn, cô có chồng con gì chưa?
Cô cười cười:
– Tui mà chồng con gì.
– Sao vậy? Trông cô còn hấp dẫn lắm mà.
– Tui bịnh không có chồng được.
– Cô mới nói đã hết bịnh rồi mà.
– Thì sức khoẻ tốt, bình thường…
Cô chỉ chỉ ngón tay trỏ vô phía dưới bụng nói:
– Chỗ này có vấn đề…
– Ô kê, nhưng đừng nói là cô đã chuyển giới tính à nhe.
Gel khoát tay lia lịa.
– No… no… no…
Cũng từ đó tới nay hễ mỗi lần về Hamburg, đêm nào không vô phố thì anh lên hội quán, khi nào Gel bận việc thì hỏi qua vài câu, không thì ngồi với nhau uống bia hoặc uống rượu nói chuyện đời sống, chuyện tình người. Thỉnh thoảng Nonie cũng ngồi chung góp chuyện.
Anh đưa ly rượu qua mời:
– Thôi, uống đi cho quên chuyện cũ.
Gel cầm ly lên cụng, hớp một hớp, để ly xuống, lấy giấy lau miệng, nói:
– Từ đêm gặp ông tui mới biết trên đời này còn có nhiều người tốt.
– Đi nhiều và gặp khó khăn mới biết được lòng người, sống êm ả một nơi thì thấy ai cũng như ai.
– Có nhiều chuyện muốn quên nhưng khó vô cùng.
– Không quên hết được thì quên một nửa thôi.
Gel cười:
– Cái ông này lúc nào cũng rắc rối. Quên mà quên một nửa nghĩa là sao?
– Cô hổng thông minh chút nào hết. Thí dụ như đêm hôm đó cô chỉ cần nhớ từ lúc đi Hamburg gặp người bạn giúp cô trị bịnh và tới khi gặp Nonie giới thiệu việc làm cho cô, tức là cô chỉ nhớ một nửa, cái phân nửa này đủ để cho cô bớt khổ tâm rồi.
Gel gật gật đầu miệng lẩm bẩm:
– A ha… Có lý, có lý… Nhưng làm được như ông nói hổng dễ đâu.
Anh chỉ tay ra hàng cây phía ngoài, nói:
– Cô thấy không, bão ngoài trời đã qua từ lâu và cây cối vẫn đứng yên sừng sững.
– Con người phải giống như cây cối thì sướng biết bao.
– Con người biết suy nghỉ, cô thấy rồi đó, trong cuộc sống ai cũng có những lúc khó khăn, trải qua biết bao nhiêu sóng gió trong đời mà chúng ta vẫn sống cho tới ngày hôm nay, thì dù sao đi nữa mình cũng là người may mắn. Nếu cô có bất an về chuyện gì thì cô nên ngồi lại bình tĩnh xem mình có thể làm được gì xoa dịu không, được thì làm, hổng được thì cứ để mặc cho nó tự nhiên qua đi.
Gel đưa tay lên bóp trán:
– Mỗi lần có chuyện buồn và tâm bất an, ngồi nói chuyện với ông một lát tui cảm thấy vui và an tâm.
Anh bưng rượu lên cụng, hớp một hớp cạn ly. Anh định rót thêm nhưng chai rượu đã gần hết, anh rót cho Gel phân nửa và anh phân nửa. Anh khoa tay ngang lên mặt bàn nói tiếp:
– Đúng ra cô vui vẻ và an tâm là nhờ cái mớ này đây.
Nãy giờ hai người lai rai hết chai rượu nho và gần hết bịch da heo chiên dòn:
– Cô uống nữa hông?
Gel lắc đầu.
– Thôi đủ rồi.
Anh ngó quanh một vòng rồi day qua hỏi:
– Hôm nay Nonie hổng làm việc sao?
– Không, ảnh nghỉ vài hôm lo chuyện giúp người.
– Vậy thì mình uống hết cái này.
Hai người cụng ly nốc cạn phần rượu. Để ly xuống, anh gom vỏ chai, bọc, dĩa để hết vô mâm.
– Ông để tui.
Gel hai tay bưng chiếc mâm đứng dậy và hỏi:
– Ông muốn xuống tàu bằng xe của hội quán không?
– Khỏi, tui cuốc bộ quen rồi, hơn nữa tàu đậu cảng gần đây.
Gel đem đồ vô trong lát sau trở ra lấy chiếc túi xách mang lên vai.
– Tui vô trong có chút chuyện, lát nữa gặp lại:
– Tui phải xuống tàu rồi.
Gel chìa tay ra bắt:
– Vậy lần sau gặp lại.
Chờ Gel đi rồi anh mới day lưng cất bước. Theo thói quen, đi bộ anh hay thọt tay túi quần, chợt đụng cái bao thư, anh bèn day lại, thấy Gel đi gần tới cửa hội quán. Anh vừa chạy vô vừa gọi lớn:
– Gel, Gel…
Gel ngoái lại. Anh tới trước mặt, chìa bao thư cho Gel:
– Cô đưa cái này cho Nonie dùm.
Gel à một cái và cầm lấy bao thư nhét vô túi xách:
Buôn làng người Thượng, nằm rải rác dọc theo dãy Trường Sơn. Xa rời xã hội bon chen của người Kinh. Làm nhà sàn lẩn trong cây rừng. Sinh sống cùng thiên nhiên. Biết sợ Trời Đất Quỷ Thần và không lo xa. Biết kính trọng người già, và nghe lời dạy dỗ. Quanh năm chặt cây, bới đất, làm nương, săn thú. Thỉnh thoảng, họ mang thú rừng, da trắn, bao tử nhím, nhung nai, mật gấu, những loại đặc sản của núi rừng, xuống đồng bằng đổi muối, vải vóc, nhu yếu phẩm cần thiết. Những lần đi ấy, họ dẫn theo cả bầu đoàn thê tử. Thậm chí, có đứa còn đai sau lưng mẹ. Họ thích rượu đế của người Kinh. Sau khi buôn bắn đổi chác xong, thế nào họ cũng ghé lại một quán rượu bên đường. Dù có ghế, họ cũng không ngồi. Vợ chồng con cái đứng lố nhố. Họ thưởng cho mỗi người trong gia đình một cốc rượu đế. Đứa lớn biết chạy lon ton, hớp xong ly rượu, nhăn mặt, khè dài như rắn hổ mang, hai tay quạt lia lịa vào mồm. Đứa nhỏ còn đai sau lưng, uống phải chất cay, hả họng khóc như đổ nước sôi vào miệng. Hỏi, nó còn bé quá, sao cho uống rượu? Đáp, công bình. Mình được uống, nó cũng được uống. Những hoàng hôn. Mặt trời ngả về tây, khuất sau dãy núi. Khi bóng núi vừa đè lên buôn, sương phủ rất nhanh. Không phải sương trên trời rơi xuống. Sương từ đất ẩm dâng lên, lan toả trong cây rừng, mờ dục. Đi trong lãng đãng sương mù, lòng trần như thoát tục. Vẳng xa xa nghe tiếng súng, tưởng chừng tiếng vọng của cõi đời nào cách biệt. Do chiến tranh mà tôi đến buòn làng người Thượng. Họ không thích người lạ mang súng ống kềnh càng vào đây, nhưng không hề phản đối. Trong thời giặc giả, nhiều khi sự phản đối phải thể hiện bằng sức mạnh của bạo lực. Người Thượng vốn tỉnh hiền hòa, họ không muốn điều ấy xảy ra. Tôi hay lân la làm quen, trò chuyện với các cụ già trong buôn. Và cho họ biết rằng, chúng tôi đến đây là để bảo vệ họ. Cụ già bào, những người thuộc phía bên kia, cũng nói như tôi. Họ đâu cần ai bảo vệ. Họ chỉ muốn yên thân và không có trách nhiệm gì về những tranh chấp hơn thua của người Kinh. Đừng ai nhân danh bất cứ một thứ chủ nghĩa tốt đẹp nào, đem tai hoa gieo rắc xuống đầu dân buôn Thượng. Cụ có cái lý của cụ. Nhưng cuộc chiến lạ kỳ, tạo nên sức ép nặng nề khó thở cho những ai đứng lưng chừng kẽ giữa. Chiến tranh lan tràn cùng khắp, len lỏi vào tận những khe xanh hốc đá, vươn lên tới những đèo cao đỉnh núi. Cái thế cài răng lược. làm bật gốc và lùa đi tất cả. Con em người Thượng phải lên đường cẩm súng của bên này, hoặc hên kia.
Chuyện cầm súng của người Thượng, cũng có một đặc tính khác thường, Họ di lính tùy mùa. Mùa nắng, họ vào lính. Mùa mưa, họ vất súng, cởi đổ trận, trở về buôn gieo trồng làm rẫy. Không một thứ quân kỷ nào có thể kềm chế được những người con của núi rừng. Những kẻ đã từng đối địch nhau trong mùa nắng, bây giờ gặp lại, họ thân thiện như chưa hề cẩm súng bắn vào nhau. Đó là thái độ tham dự chiến tranh của người Thượng. Và tôi cũng hiểu ra lý do họ di lính tùy mùa. Mùa mưa là mùa gieo trồng. Mùa nắng, săn bẫy thú rừng. Chiến tranh làm bom đạn ầm vang rừng núi. Thú rừng hốt hoàng bỏ đi xa. Họ không còn kiếm ăn được bằng nghề săn thú. Hơn nữa, luồn lách đi săn trong rừng sâu núi thẳm, giữa thời tên bay đạn lạc, cũng nguy hiểm. Họ bèn vào lính lãnh lương cho gia đình đấp đổi. Mỗi năm. Người Thượng Trường Sơn có hai kỳ lễ lớn. Vỡ Đất để cúng kiến Thần Rừng. Được Mùa để cảm tạ Trời Đất. Lễ nhằm vào thời gian chuyển tiếp từ mùa nắng sang mùa mưa, hoặc mùa mưa sang mùa nắng, Trong ngày lễ, các cụ già và những đàn ông trai tráng thường vui say bên ché rượu cần. Ban đêm, họ đốt lửa, vỗ trống cơm và gõ nhịp rôm rốp bằng thanh ma. Trai gái nắm tay nhau, nhảy cà tưng theo nhịp, xoay vòng quanh đống lửa. Trên đường hành quân, dọc theo chân dãy Trường Sơn, tôi dừng lại buôn làng người Thượng khá lâu. Cùng họ ngậm ống rượu cần, uống huyết trâu, ăn thịt sống trộn với dưỡng trấp lấy ra từ ruột non. Nhiều người Kinh không quen với món ăn quá độc đáo này, bảo đấy là cứt trâu non. Thật ra, là chất cỏ sắp biến thành đưỡng trấp. Sau khi cỏ được tiêu hóa trong bao tử trâu, một số cặn bã theo dường ruột già thành phân, một số khác theo dường ruột non, biến thành dưỡng trấp. Người Thượng lấy cái chất mầu sữa đục ruột non và màu xanh chưa kịp biến thành đưỡng trấp, trộn với thịt trâu làm thành món ăn. Vừa đăng đắng, vừa ngai ngái mùi cỏ. Món ăn lạ miệng này, người Kinh dễ bị lợm giọng nôn tháo. Khi tôi có ba sợi rượu cần trấn ểm, cái bao tử không từ nan bất cứ món gì khi nuốt. Tôi hòa mình với họ trong những cuộc vui. Dần dần thiện cảm. Tôi nói, ngày nào hết chiến tranh, tôi muốn về đây, lấy vợ Thượng, mình trần đóng khố, sống với rừng núi miền cao. Các cụ cười rằng, sẽ bảo một cô cưới tôi, theo tục lệ con gái cưới chồng. Ôi, cái tục lệ sao mà dễ thương lạ! Tôi nhớ hoài một đêm quây quần, có cô gái hát bài tình ca, bằng ngôn ngữ riêng của họ. Tôi chuyển dịch “lèo” ra thử:
bố nường sinh ra em
nước suốt rửa em lúc mới lọt lòng
lá cây dư thấm da màu đất
lá cây diệp thoa bàn chân em bé lạnh
ngày em còn là con chim luýt chuýt
anh ở đâu? anh ở đâu?
sao không đem hạt thóc nuôi em?
trên rẫy ngàn
có đậu mè ngô sắn
sao không đem về kho đụn nhà em?
trên triền cao núi đá
có trúi diếc xanh
trái bứa trái gùi vàng
sao không hái cho em những ngày thơ dại?
đêm trăng rừng
nước khe rúc rách
em như cơn mang uống nước dòng trăng
nghe xạc xào trong cây lá động
có phải anh con hùm hang núi
lẩn khuất theo lùm nương gai bụi
chờn vờn muốn bắt lấy em?
có phải anh chàng trai bắn ná
mũi tên bay trúng trái tim này?
con ác là líu lo ngoài đầu ngõ
con le le gọi bạn ngoài nương xanh
có chàng trai ngồi dưới gốc cây xu
ngóng chờ ai
mà hát bài ca
buồn hơn con vẹ mùa hạ
thôi, hãy về đi hãy về đi
hỡi chàng trai bắn ná
về buôn mà đợi
treo ná mà chờ
em sẽ vì anh mà sắm sanh lễ cưới
anh sẽ là cây cột chống đỡ nhà em
là vách phên ngày nắng
là mái lá chiều mưa
che chở cho em suốt đời chồng vợ
Ở vài nơi, người ta còn giữ những tục lệ cổ truyền, đã làm tôi ngạc nhiên không ít, nhất là trong việc tống táng. Họ làm chiếc hòm hằng khúc gỗ lớn. Khoét rỗng một khoảng, vừa đủ cho cái xác và những vật chôn theo người chết, như đổ trang sức, quần áo, chén dĩa, vật dụng thường dùng. Trên nắp hòm, họ đục cái lỗ và gắn vào đó một ống nứa to. Khi chôn, ống nứa ló lên khỏi mặt đất chừng nửa thước, trông như ống thông hơi. Hàng ngày, họ đổ thức ăn vào ống nứa. Một hình thức cúng cơm từng bữa. Từ ống thông hơi, thoát ra một mùi khủng khiếp. Không ai có thể diễn tà chính xác được mùi này. Mùi chuột chết. Mùi cá thối. Mùi phân người. Mùi rác mục … Tất cả quyện lại, thành mùi tử khí. Khách lạ đến gần cái mả mới chôn vô ý hít phải mùi tử khí, cảm thấy choáng váng mặt mày. Hỏi, sao không đậy nắp ống lại? Họ bảo, người chết cũng cần phải thở và ăn. Sau hai mươi chín ngày, họ cho rằng người chết đã đi về cõi khác, Lúc đó, họ rút ống thông hơi. Cái mã được lấp kín hoàn toàn. Mả quay đầu về hướng đông, để khi người chết đứng dậy, mặt sẽ ngó về phương tây, và đi luôn lên dãy Trường Sơn. Trong những kỳ lễ lớn của người Thượng, họ thường làm trâu. Dịp ấy, nếu hạ được một con trâu rừng thì càng quý. Họ gọi trâu rừng là con min. Con min rất dữ, to khỏe hơn trâu nhà. Mõm ngắn, sừng cũng ngắn như sừng bò. nhọn hoắt. Hỏi, sao không bắt con min về, dạy nó dể dùng vào việc kéo xe, kóo gỗ như trâu nhà? Họ lắc đầu, Min là giống vật vô phương thuần hóa.
Sau khi thịt con trâu, họ còn treo chiếc đầu một thời gian lâu, trước ngỏ. Nhiều ngày sau, những đứa bé con, dùng cái que bằng nứa vót mòng, cạy những miếng thịt đã rữa trong kẽ xương đầu. Chúng ăn và mút ngon lành, như trẻ con người Kinh mút cà rem, Những ngày lê la nơi buôn Thượng, tôi còn biết thêm vài luật lệ khác nữa, trong việc tran đổi buôn bán. Khi nhà này bán cho nha kia con trâu. Thời gian đầu, phải giữ gìn và làm sao cho trâu quen ở với chủ mới. Nếu không, một đêm nào đó, nó buồn tình quay về chủ cũ. Chủ cũ sẽ cột con trâu lại gốc cây nhà mình và nó lại thuộc về chủ cũ. Chủ mới mất tiền mua, mà không có quyền đòi lại. Người Thượng Trường Sơn, còn sử dụng cả voi kéo gỗ. Việc mua bán voi cũng theo quy luật như mua bán trâu. Tôi tò mò hỏi, làm thế nào mà con người nhỏ bé, có thể bắt được một con voi rừng to lớn và thuẩn hóa được cái tính hoang dã của nó?
Cụ già tên Mang Khen, ngồi bên ché rượu cần, dưới mái nhà sàn, trong đêm có ánh lửa hắt ra từ góc bếp. Cụ ăn chocolate, thịt hộp của tôi, khen ngon và lạ miệng. Tôi ăn thịt chồn, thịt cheo nương của cụ, cũng khen ngon và lạ miệng. Con gái cụ tới lui, lo châm thêm nước lã vào ché rượu cần, tiếp thêm thịt nướng cho tôi. Tôi không dám nhìn thẳng vào ngực cô, sợ bị chê thất lễ. Nghe nói con gái Thượng để vú trần, tôi chưa từng thấy cảnh đó. Chỉ thấy cô gái đêm nay, dùng hai mánh vải nhỏ đan chéo vào nhau trước ngực, nâng cặp vú lên.
Suu đây, chuyện kể của cụ Mang Khen. Cụ cho biết, vào thời trai trẻ, cụ sống bằng nghề bắt voi. Nhưng gần cuối đời, cụ bỏ nghề vì nhiều lý do. Tuổi già sức yếu. Chiến tranh. Những đàn voi đã di xa … Cụ nói, tôi không biết các nơi khác, bắt voi bằng cách nào. Ở đây, chúng tôi dùng voi bắt voi. Nói thế, rồi cụ dừng lại, ngậm ống rượu cần. Tôi liên tưởng dến con chim mồi của anh bạn gác cu năm nọ. Anh cho rằng, chim mồi của anh rất khôn. Dù có mở cửa lồng, nó cũng không bay đi luôn. Nó biết gáy, để rủ rê thúc giục những con chim cu khác bay về. Nó biết gù, để dụ đồng loại của nó vào bẫy. Tôi hỏi, con chim như thế mà anh cho rằng khôn? Nếu một con người cũng mang cái đặc tính phản bội giống nòi, đưa dân tộc vào bẩy, như cơn chim cu mổi, thì anh nghĩ sao? Anh bạn dáp liền không suy nghĩ, người ngu! Tôi cười, cùng một đặc tính, mà phán đoán của anh đã có sự mâu thuẩn rồi. Thế nào là dại, thế nào khôn?
Tôi nói với cụ Mang Khen ý nghĩ này. Cụ bảo, con voi nhà khác con chim cu mồi. Nó không dụ dỗ voi rừng tự nguyện sa vào bẫy, mà là cưỡng bức đồng loại vào vòng nô lệ. Cụ tiếp, muốn bắt voi rừng, phải qua một thời gian dài học nghề. Không phải ai cũng có thể làm được công việc nguy hiểm này. Giai đoạn đầu, học nghề nài voi. Biết những đặc tính của nó. Dù con vật đã được thuần hóa, nhưng nó sẽ trở nên hung dữ tấn công lại nài voi, nếu làm nó sợ hãi, hoặc bắt nó làm việc quá sức. Con voi to xác là thế, nhưng rất sợ loài kiến. Nó đang quơ vòi bứt lá cây, trông thấy tổ kiến, nó dội ngược lại liền. Nó sợ kiến chun vào lỗ tai. Khi thấy voi đập hai vành tai phành phạch và lúc lắc mãi cái đầu, nài voi phải giúp nó tiêu diệt, hoặc trục con kiến ra khỏi lỗ tai.
Trong thời gian con kiến chưa ra, không nên bắt nó làm việc và phải hết sức cẩn thận khi đến gần. Đã là nài voi, còn phải tiến thêm một bước nữa, học nghề bắt voi. Những ai đã vào nghề, là chọn sống luôn với nghề. Họ không làm công việc gì khác nữa. Thường, người ta chỉ bắt những con voi to khoẻ, để sau khi thuẩn hóa, có thể dùng được ngay. Voi con, chưa đủ sức, mất công nuôi lâu. Voi già, mau bị đào thải. Cà hai loại, voi con và voi già, đều không được giá. Bán một thớt voi to khỏe đã thuần hóa là được một gia tài lớn, ngồi không mấy năm ăn cũng không hết. Muốn bắt voi rừng, phải có sự liên kết giữa hai chủ voi nhà. Và voi nhà cũng phải to khoẻ để có thể đương cự, áp chế được voi rừng. Việc dầu tiên, đào một cái hố ngang dọc vừa với kích thước một con voi, chiều sâu bằng tầm voi đứng. Miệng hố được đậy lại. Bên trên ngụy trang như cỏ lá mọc tự nhiên trên mặt dất. Trước khi vào rừng, họ đâm nát vài loại lá đặc biệt, thoa lên khấp mình mẩy. Mục đích xoá đi cái mùi mồ hôi của người. Khứu giác của voi rừng rất thính và ghét mùi người la. Nó sẽ lồng lên, tìm kiếm chà đạp hất cứ nguyên nhân nào toát ra cái mùi khác với mùi rừng xanh. Dưới bụng mỗi con voi nhà, họ treo sẵn một chiếc võng. Chiếc vộng mới, đã được ngâm trong cùng một chất nước của lá dùng thoa lên người. Tôi hỏi, treo chiếc võng dưới bụng voi làm gì? Cụ không trả lời. Hẹn lại đêm mai, sẽ kể tiếp chuyện bắt voi. Đêm dã khuya. Rượu cần bắt đầu ngấm. Ngồi lâu, Cụ Mang Khen có vẻ mệt mỏi. Tôi đứng dậy, chào từ giã.
Cô gái đứng trên đầu cầu thang, chờ tiển khách. Tôi nhìn ngực cô. Chắp hai tay xá theo kiểu nhà Phật. Tất cả người nữ trên cõi đời này đều là mẹ ta. Nghĩ thế, để ngăn đứt lòng tà của khách miền Kinh. Tôi xuống sàn, về chỗ ngủ. Gió lộng từng hồi. Đêm rừng núi chuyển mình trở giấc. Trong chập chờn nửa tỉnh nửa mê, tôi nghe tiếng voi rống ngoài ngàn. Tiếng rống dài, khan đục.
Bình minh. Tôi ra suối tìm dấu chân voi. Chỉ thấy cây xanh, lá mục, rong rêu, và nước chảy. Hoa dại màu tím, mọc dãi theo hai bên bờ suối. Phía triền đá, có những cụm chuối rừng. Nhiều cây trổ hoa màu đỏ rực, cạnh những quày chuối chín vàng trĩu nặng. Màu sắc thiên nhiên hoa trái tươi đẹp là thế, nhưng chỉ để ngắm nhìn mà thôi. Trái chuối rừng nhỏ hơn ngón chân cái, trong ruột toàn là hạt như hạt tiêu. Chim muông, chồn sóc cũng thế, nói chi đến thực dụng cho con người. Tối đến. Tôi nói với cụ Mang Khen, đêm rồi tôi nghe voi rống. Cụ bão, bom đạn sấm sét đã làm những đàn voi sợ hãi, bỏ đi xa về hướng mặt trời lận, bên kia dãy Trường Sơn. Âm thanh mà tôi nghe, là tiếng cua Thần Rừng. Tôi hỏi, sao cụ biết? Cụ nói, không ai nghe, chỉ mình tôi nghe. Đó là ý của Thần muốn nhắc nhở riêng với tôi rằng, không nên gọi phi pháo bấn ầm vang, làm kinh động nứi rừng. Ôi, nếu những kẻ gây chiến tranh, đều tin như cụ Mang Khen, thì núi rừng đâu chịu bẩm dập dau thương! Cụ hỏi, giữa người Việt với nhau, các ông có hận thù gì mà cứ đánh nhau mãi? Tôi nói, nếu không đổ lỗi cho trời, thì có lẽ do đặc tính của dân tộc. Ngày nhỏ, tôi được dạy rằng, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu hoa và đoàn kết. Nhưng lớn lên, tôi lại tham dự vào cuộc chiến, bắn giết nhau rất tận lình. Nhìn lại suốt mấy ngàn năm lịch sử, giai đoạn nào cũng có máu và nước mắt. Hết chống xâm lãng, thì mang quân đi xâm lấn nước láng giềng, hoặc nội bộ chia phe đánh nhau chí tử. Người nước ngoài, nghiên cứu về lịch sử Việt Nam, dễ đi đến kết luận, dân tộc Việt Nam có truyền thống hiếu chiến và chia rẽ. Nếu có đoàn kếi, chỉ là giai đoạn tạm thời. Đó là điều ngược với những gì tôi dã học. Dẫu sao, cũng xin cụ đừng hỏi tôi những câu hỏi khó. Câu trả lời dễ làm động tới mồ mả tổ tiên, và khó chịu cho người đang sống.
Cụ già kể tiếp chuyện bắt voi. Sau khi đã chuẩn bị thức ăn đủ cho một chuyến đi dài. Chúng tôi hai người, mỗi người cỡi một thớt voi vào rừng. Đi từ ngày này sang ngày nọ. Tìm dấu vết đàn voi qua những dấu chân, hoặc cây cối gãy đổ, lá cành xơ xác trên đường voi đi. Nhiều khi thấy dấu, lần theo mãi, xa quá, đành phải quay về. Bắt một con voi từ xa, đem về tới buôn phải mất nhiều ngày, bất tiện. Tôi hỏi cụ Mang Khen, đi trong rừng nhiều ngày, làm sao nhớ dường quay về chỗ củ? Cụ ngớ ra nhìn tôi, làm sao à? Tự nhiên thôi. Cứ muốn về là về đúng chỗ. Tài nói, người Thượng có một năng khiếu đặc hiệt mà người Kinh không có. Nếu không dùng địa bàn bản dồ, đi chừng nửa ngày trong rừng, chúng tôi sẽ không cách chi tìm về chốn cũ. Cụ bản, người Kinh chế ra được cái máy địa bàn bản đổ chỉ dường rất hay, nhưng cũng rất là tai hại. Dùng nó làm chỉ diểm, để từ một nơi xa xôi, có thể bắn nát nhà nắt cửa người ta. Cụ ơi, cái thời nhiễu loạn. Quỷ đội hình người. Rêu rao chủ thuyết. Bức hại dân lành. Hãy giữ lấy thân. Hãy giữ lấy thân. Tôi nói với cụ điều đó. Cụ nhìn tôi, hỏi ông là ai mà nói thế? Tôi nói, tôi là một trong những con chốt sang sông, mất quyền tự chủ. Cụ ngồi trầm ngâm, quấn điếu thuốc to bằng ngón tay, đưa lên ngọn đèn dầu mồi lửa. Mãi lúc sau, cụ nói, khi tôi đi rồi, sẽ có những con chốt khác, thuộc phía bên kia, củng đến đây và viện dẫn đủ thứ lý do, dể giải thích cho việc làm của họ. Tại sao các ông không kéo đi nơi khác đánh nhau? Rừng núi buôn làng của người Thượng, đâu có cái chi dể các ông giành giật, mà lấy nơi đây làm bãi chiến trường? Tôi nói như rên, cụ ơi, chúng tôi chỉ là những con chốt thí mạng cùi. Hai thằng dánh cờ đang say sưa sát phạt. Còn có những thằng bu chung quanh, mách nước. Cụ hãy hỏi chúng nó, tại sao? Nhưng thôi. Không ai dạy mà con gà cũng biết gáy, con chim cũng biết bay. Trời xui chúng nó như thế. Mà Trời thì ở quá cao, làm sao hỏi?
Xin cụ tiếp tục đề tài bắt voi. Cụ nói, khi phát hiện đàn voi rừng, chúng tôi chưa xáp lại gần. Phải chuẩn bị, bằng cách huộc một đầu sợi dây xích vào chân sau của con voi nhà. Còn đầu kia, là cái thòng lọng. Xong, hai người vào nằm trong hai chiếc võng treo sẵn, áp sát dưới bụng voi nhà, điều khiển nó xông vào đàn voi rừng. Không thể ngồi trên lưng voi mà diều khiển. Voi rừng trông thấy người, nó sẽ cuốn và quật chết ngay. Chúng tôi len lỏi giữa đàn voi. Lựa con nào to khoẻ nhất, cho voi nhà kè sát. Ném cái vòng thòng lọng buộc vào chân trước voi rừng. Thế là hai chân trước voi rừng bị xích với chân sau của hai con voi nhà. Chân trước yếu hơn chân sau, nếu nó chạy hoặc không chịu đi theo, sẽ bị trì kéo. Voi rừng bị hai con voi nhà kẹp sát hai bên. Ép nó phải tách đàn, di hướng khác, lần về buôn. Về tới cái hỗ đào sắn, có ngụy trang cỏ lá bên trên. Voi rừng bị sụp ngay xuống hố. Một khi đã sa hố, nó không thể nào lên được. Chúng tôi tháo sợi dây xích khỏi chân vơi nhà. Cụ Mang Khen nói, kể chuyện thì nghe đơn giản thế. Nhưng đem được một con voi rừng về tới buôn, trải qua nhiều khó khăn vất vả lắm. Sau đó, chúng tôi nghì ngơi dưỡng sức đôi ba ngày, và đây cũng là thời gian giam cầm bỏ đói con voi dưới hố, cho nó bớt tính hung hãn. Thời gian dạy cho một con voi rừng trở thành vọi nhà, phải mất từ sáu tháng trở lên. Áp dụng nhục hình, bắt nó phải tuân phục. Gõ móc sắt nhọn vào sọ nó. Khi nó chịu làm theo ý của người nài, sẽ cho ăn uống, Nhưng chỉ cho ăn uống cầm chừng, như một phần thưởng ân huệ. Muốn được ãn, nó phải làm theo ý của nài voi. Càng ngày nó càng thuần. Và, cái hố cũng càng ngày càng đào dài thêm ra ở phía sau, cho nó thụt lui nhích tới dễ dàng hơn. Chừng nào thấy nó đã theo ý muốn, lúc đó, ngưỡi ta sẽ đào phía trước. theo thế đất nghiêng. Con voi bước lên mặt đất. Nó đã được thuần hoá hoàn toàn và ngoan ngoản chịu dưới quyền sai khiến của nài voi. Chỉ có thế thôi. Kể đến đây, cụ Mang Khen dang tay, như dể chấm dứt một câu chuyện. Qua cân chuyện của cụ Mang Khen, tôi khám phá ra một điều lý thú. Muốn biến một con voi rừng hoang dã chịu nộp mình khuất phục, thành một con voi nhà thuần thục, phải dùng hình phạt kèm theo bỏ đói. Con người cũng là sinh vật. Muốn biến con người thành nô lệ, cũng phải bỏ đói, kèm theo nhục hình răn đe. Khi bị bỏ đói, người ta mất hết ý chí đấu tranh, chỉ còn nghĩ đến miếng ăn. Khi sợ bị hình phạt, người ta sẽ ngoan ngoăn chịu khép nép một bề. Kẻ đa mưu gian hoạt và bất nhân, áp dụng chính sách này, đưa cả dân tộc vào tròng, cũng dễ. Nghĩ thế, nhưng tôi lại hoi cụ Mang Khen câu hỏi khác. Một số người Kinh tin rằng, nếu ai ủ bàn chân trong đống phân voi chừng vài phút, sẽ làm lành những kẻ nứt gót chân. Hoặc những đứa bé èo uột khó nuôi, ẳm nó chun luồn qua đưới bụng voi ba lần, để trừ tà. Từ ấy trở đi, đứa bé sẽ mạnh khoẻ và mau lớn. Cụ nghĩ thế nào về niềm tin ấy? Cụ Mang Khen bảo, người Kinh tin thế, chắc là phải có lý do. Người Thượng chúng tôi, thấy voi cũng chỉ là cơn vật tầm thường như trâu bò mà thôi.
Đêm nay không uống rượu cần. Chúng tôi uống trà xanh. Trà nấu với gừng, trong chiếc ấm đất. Tôi uống không quen, nhưng vẫn uống. Cụ Mang Khen bảo, trước khi đi rừng, uống một chén trà gừng, làm cơ thể ấm áp, tránh được bệnh tật. Trà gừng còn làm cho tinh thần sảng khoái và có công hiệu mau lành vết thương. Cha ông người Thượng, truyền lại cho đám con cháu, cái kinh nghiệm lâu đời sống giữa rừng xanh. Bệnh, sắc lá cây làm thuốc. Thương tích, giã lá ngài băng bó. Và họ đã tồn tại từ đời này sang đời kia. Sống nương theo Trời Đất. Hòa mình cùng thiên nhiiên. Ăn ở cùng cây cò. Mộc mạc mà mưu sinh. Chất phác mà thư thái. Oi nồng tắm nước suối. Lạnh lẽo, đốt lửa hơ. Cần chi tiện nghi đời máy móc. Những triết lý trừu tượng viễn vông, chỉ làm lòng người thêm khúc mắc lo âu. Cụ Mang Khen đâu cần biết nhà phân tâm này, triết gia kia là những ai. Nhưng chắc rằng, cụ thong dong hơn những anh khệ nệ ôm những chồng sách nặng nề chữ nghĩa, nhét đầy đầu những lý thuyết hoang mang, chẳng đem lại lợi ich gì chọ kẻ cơ hàn, mong đợi áo cơm.
Cụ Mang Khen lắc đầu, bảo tôi nói gì cụ không hiểu. Tôi đáp, cụ đâu cần hiểu những triết lý trởi ơi đất hỡi, chi cho mệt óc. Tôi đã lỡ bị đẩu độc rồi. Bây giờ muốn lấy đi không dễ. Đêm nay, cô gái xuống tận chân cầu thang, tiển khách.
Trăng lạnh nhoà hơi sương. Cô choàng tấm vải thô màu xám. Tôi nói, mai tôi rời khỏi nơi đây. Dù đi đâu, tôi cũng nhớ mãi về những ngày nơi buôn Thượng, với những người dân hiền hòa chất phác. Nhất là những đêm Trường Sơn, mù sương ướt đẫm lá rừng. Có cụ giả ngồi dưới mái nhà sàn kể chuyện bắt voi, bên bếp lửa bập bùng hơi ấm. Có cô sơn cước đứng chở tiển khách dưới trăng, chưa kịp nói câu thân tình, thì dã chia tay.
Kỳ trước: Hai tiểu đoàn của Trung đoàn 53 Bộ binh tiếp viện cho Pleime đã bị đánh tả tơi. Đả viện thành công, nhưng công đồn thì chưa! Tiểu đoàn 82 Biệt động quân dưới tay Thiếu tá Vương Mộng Long vẫn trụ được và địch bắt đầu tung truyền đơn chiêu dụ đầu hàng lẫn hăm dọa.
Pleime đang trong cơn tuyệt vọng…
Kỳ 8
Mưa kéo dài nhiều ngày, giao thông hào thành những con suối, nước thoát về hai hướng Bắc và Nam, vô tình những đường thoát nước trở thành những con đường hầm trơn bóng chui qua lớp rào kẽm gai. Nơi sâu nhứt có thể cao hơn một đầu, một với của người đứng thẳng. Người từ trong chui ra được thì chắc chắn Việt-Cộng cũng có thể theo đường này mà vào được. Tôi vội bắt ông Thiếu úy Hoàng cho người đánh rối từng chùm thép gai rồi thả trên đường hầm, sau đó gài thêm lựu đạn và bẫy sáng để chống Ðặc Công. Sợ chuyện này làm tinh thần anh em bị dao động, tôi phải ra lệnh cho Trung úy Minh và ban truyền tin kín miệng. Ngay sau đó lại xảy ra chuyện toán tuần tra cổng Nam do Binh nhì tên là Thêm dẫn đầu đã ra đi mà không trở về. Có lẽ ba người này đã nhân cơ hội được ra khỏi rào mà chạy trốn luôn. Thế là từ hôm đó, tôi phải cho viễn thám thay phiên đảm nhiệm công tác tuần tra, thay vì người của các đại đội.
o O o
Giá trị của
một người lính…
Từ khi Pleime bị cô lập với thế giới bên ngoài, cứ đúng lúc rạng đông thì kẻng báo động lại khua vang báo cho mọi người biết đã đến giờ chui vào hàm ếch.
Tin A 2 truyền đi cho tôi biết, các đơn vị pháo của Việt Cộng được lệnh pháo hợp đồng vào trại mỗi ngày hai lần, lần đầu diễn ra lúc 6 giờ sáng, giờ Hà-Nội, buổi chiều sẽ đánh hợp đồng vào lúc 6 giờ chiều. Giờ Hà-Nội đi sớm hơn giờ Sài-Gòn một tiếng.
Sáng 16 tháng 8 cũng như mọi ngày, cũng đúng 6 giờ sáng Hà-Nội, nhưng lại là 5 giờ sáng giờ Sài-Gòn, trận pháo rạng đông mở màn. Ðặc biệt là hàng trăm trái cối 120 ly địch sử dụng sáng hôm đó toàn là loại “delay” nổ chậm.
Mỗi lúc địch bắn đạn “delay” tôi đều leo lên lô cốt xem mặt hướng Tây có động tĩnh gì không? Tôi đứng chân trong chân ngoài ở tầng cao nhứt của pháo đài.
Ðất đá bung lên từ chỗ đạn cối chui xuống văng cao hàng chục mét; đất đỏ rơi tung toé trên nóc nhà, trên sân cờ.
Tôi có hai kho đạn đại bác 105 ly và bốn kho đạn dự trữ đủ loại. Một vài viên cối 120 ly nổ chậm rơi trúng kho đạn số 2, ngoài bờ đất sát bên Câu Lạc Bộ, thế là kho đạn này phát nổ!
Ðạn nhỏ cháy thì kêu “Lép! Bép! Lép! Bép!…”
Ðạn 106 ly thì nổ “Ùng! Ùng!” rồi bay tít lên cao, lúc rớt xuống gây tiếng gió rít “Xèo! Xèo! Vèo! Vèo!” rợn tóc gáy.
Sợ mảnh đạn cắt đứt đầu, tôi chui vào hầm truyền tin của Trung úy Nguyễn Công Minh.
Chuông điện thoại của Ðại đội 3/82 reo khẩn cấp. Thiếu úy Nguyễn Văn Hổ, đại đội phó 3/82 sụt sịt vài giây rồi khóc òa lên,
– Thái Sơn ơi! Anh Việt chết rồi!
Tôi nghe tiếng chú Hổ mà bỗng thấy ù cả hai tai,
– Cái gì? Ai chết? Nói lại đi!
– Dạ Thiếu úy Việt bị pháo trúng hầm, anh ấy chết cùng với người lính mang máy PRC 25!
Tôi lội xuống giao thông hào, giao thông hào ngập nước tới thắt lưng. Nước mưa đỏ ngòm và quánh lại như bùn. Ðất sạt lở ở những đoạn giao thông hào trúng đạn nổ chậm đã thành những hố sâu như những cái giếng. Cái hầm chứa hai thầy trò Thiếu úy Phạm Ðại Việt và anh Binh 1 Vy Văn Trai, hiệu thính viên máy PRC 25 đã bị một viên 120 ly đánh sập. Hai thầy trò Việt và Trai nằm chết bên nhau. Hai Biệt Ðộng Quân này chết không dấu vết, họ bị chết tức do sức pháo nổ. Mắt chú Việt và mắt chú Trai còn mở trừng trừng, tôi vuốt mắt cho chú Việt, rồi vuốt mắt cho chú Trai. Bốn tháng trước Thiếu úy Phạm Ðại Việt là đại đội phó của Thiếu úy Phiến. Ngày Căn cứ 711 bị địch tràn ngập, Thiếu úy Phiến chết trên đường rút lui, người mang máy truyền tin của chú Phiến là Binh 2 Y Don Nier rất buồn và có vẻ mất tinh thần.
Sau khi tôi đề cử Thiếu úy Phạm Ðại Việt giữ chức đại đội trưởng Ðại đội 3/82 thì tôi mang Binh 2 Y Don Nier lên bộ chỉ huy tiểu đoàn để mang máy PRC 25 cho tôi. Binh 1 Vy Văn Trai được Thiếu úy Việt cho giữ chức hiệu thính viên đại đội. Vy Văn Trai còn một người em họ là Vy Văn Trung ở cùng đơn vị. Hai anh em nhà họ Vy là người Nùng, mới tới Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân trong đợt bổ sung quân số cuối tháng Tư 1974 vừa rồi. Những chiến binh người Nùng, người Thái lúc nào cũng là những cái gương can đảm và thiện chiến bậc nhứt của tiểu đoàn này. Phạm Ðại Việt và Vy Văn Trai là người thứ 23 và 24 chết còn thấy xác, được đồng đội bọc trong poncho và chôn trong khu đất trống sau nhà bếp của tiểu đoàn. Như thế là, chỉ trong vòng bốn tháng, Ðại đội 3/82 đã có hai sĩ quan đại đội trưởng tử trận. Nhớ lại, sau trận đánh giành giựt Căn cứ 711 hồi tháng Tư, tôi đã đề nghị thăng cấp trung úy tại mặt trận cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt, nhưng Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 đã không chấp thuận.
Kỳ này không cần chữ ký với lời xác nhận công lao của thượng cấp, người sĩ quan đại đội trưởng giỏi nhất của tôi trong trận này đã đương nhiên được lên trung úy, nhưng là “Cố Trung úy.” Ai mà không biết? Với người chỉ huy ngồi trên tàu bay, hay trong hầm trú kiên cố ngoài Pleiku thì “Tử thủ!” dễ òm! Dễ như ta vừa mở miệng tợp cạn một ly rượu cay. Nhưng ở tiền đồn Pleime thời gian này thì “Tử thủ!” có nghĩa là bất cứ giây phút nào mình cũng sẵn sàng nhắm mắt để đồng ngũ quấn cho mình một chiếc poncho rồi đem thân xác mình chôn trong mảnh đất sau nhà bếp.
Cơ hội được “Tổ Quốc Ghi Ơn” dành cho tất cả mọi người, bất kể đó là Thiếu tá hiện dịch Vương Mộng Long, Chuẩn úy trừ bị Phan Quốc Thiều hay Binh nhì Vy Văn Trung. Hành trang mang theo của người nằm xuống vỏn vẹn một tấm thẻ bài ghi họ tên, số quân và loại máu. Rồi thời gian đi qua, chỉ có người thân, kẻ thuộc và bạn bè còn nhớ tới mình thôi. Gần mười năm lăn lộn trên chiến trường, máu tôi đã nhiều lần đổ xuống đất quê hương, thuộc cấp của tôi giờ này có nhiều người còn chôn xác ở Dak Tô, Chư Pa, Sé San, Yaly, Chư Prong. Anh em chúng tôi chiến đấu và sẵn sàng chết vì dân, vì nước, chúng tôi không chiến đấu vì mong được tiến chức, thăng quan. Chúng tôi không đến nỗi ngây thơ mà tin vào những câu hứa hẹn suông hay những lời “khích tướng” của thượng cấp.
Chúng tôi quan niệm rằng:
“Giá trị của một người lính không thể căn cứ vào những gì mà họ được cấp trên ban phát cho, mà giá trị đích thực của mỗi chiến binh chính là những gì mà anh ta đã cống hiến cho tổ quốc.”
Bởi vậy, ‘Đừng đem lon lá luận anh hùng!”
SVSQ/TB Phạm Đại Việt
o O o
Sống chết cùng nhau cho trọn nghĩa thầy trò!
Có thể nói, thời gian kế tiếp sau khi hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh bị đánh lui thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bước vào giai đoạn “So găng tay đôi” với các trung đoàn chủ lực của Sư Ðoàn 320A Cộng Sản Bắc-Việt.
Nhìn vào, ai cũng thấy màn so găng này chẳng cân xứng chút nào! Chúng tôi ví như một võ sĩ hạng nhẹ quyết tử với những đối thủ loại siêu nặng. Giống như một chú tí hon bị những thằng khổng lồ luân phiên tấn công. Cũng một chiến trường mang tên Pleime, mà chín năm trước đây, liên quân Việt Mỹ phải vất vả lắm mới chiến thắng. Ngày đó, quân Mỹ Việt được yểm trợ bởi hàng trăm chiến đấu cơ của Hạm Ðội 7, hàng trăm trực thăng võ trang, hàng chục pháo đài bay B52, hàng trăm chiến xa, chưa kể hàng chục nghìn quả đạn pháo đủ loại bắn T.O.T bất cứ chỗ nào. (T.O.T = Time on Target = Bắn từ nhiều vị trí để đạn rơi cùng giờ trên một mục tiêu định trước.)
Gìờ đây, cũng ở Pleime, tôi đang đối diện với một lực lượng địch mạnh hơn nhiều so với những đơn vị địch tham chiến chín năm trước. Ðịch đông hơn tôi cả chục lần, lại có đủ loại pháo binh nặng, nhẹ, cùng với chiến xa và phòng không tối tân. Trong khi đó, tôi chỉ có hai khẩu 105 ly sắp hết đạn, bốn khẩu 155 ly của quân bạn ở tít mù xa, yểm trợ hết tầm mà vẫn còn cách Pleime gần năm cây số! Không yểm lại quá giới hạn. Ngày nào tôi cũng gửi đơn xin không quân, nhưng chẳng thấy chiếc máy bay nào bén mảng trên vùng. Chỉ tới đêm mới nghe “Ì ầm! Ì ầm!” vọng về do tiếng bom nổ trên những box 1x1km đâu đó trong vùng Tây Bắc Pleime. Tôi biết tường tận vị trí nào địch có thể tập trung, khu vực nào địch sẽ dàn quân, nên tôi đã gửi đi nhiều đơn xin oanh tạc chiến lược ô vuông 1x1km. Nhưng những đơn này đều bị bác bỏ.
Muốn đánh những phi tuần chiến lược, thì yêu cầu của các đơn vị cấp lữ đoàn trở lên mới được cứu xét, còn đơn xin của các cấp thấp như liên đoàn hay tiểu đoàn không có giá trị. Tôi đã dùng tới gần một ngàn viên cối 60 ly để đánh rào cản quanh trại Pleime này kể từ ngày đầu bị cô lập. Trong hầm chứa đạn cối 60 ly của Mỹ trước đây là những thùng gỗ chất cao nghều nghệu, nay chỉ còn vài chục thùng. Hai khẩu súng cối 60 ly đã gãy kim hỏa. Tôi đang dùng hai khẩu còn lại để sống còn. Nếu địch tấn công thì cứ yếu tố 45 độ cao, tầm xa 150 mét thuốc bồi không (0), góc quay một vòng một trái, bắn cầm chừng.
Hai khẩu súng 106 ly và 81 ly sắp hết đạn nên được đặt trong tình trạng cố định ưu tiên nhắm vào hai cao điểm 509 và Chư Hô, sẵn sàng đánh trả mỗi khi 75 ly và 12.7 ly của địch ló mòi. Trường hợp bất đắc dĩ tôi mới sử dụng cối 81 ly để hỗ trợ cho các cuộc phản công. Trên máy truyền tin, không còn ai hỏi thăm chúng tôi nữa, có lẽ cấp chỉ huy của chúng tôi đã mệt mỏi lắm rồi? Tôi nghĩ rằng mọi nỗ lực tiếp cứu cho tôi đã bị đình chỉ. Giờ này tôi chỉ trông vào chính sức mình, kéo dài được ngày nào hay ngày ấy. Chúng tôi bước vào giai đoạn chiến đấu trong tuyệt vọng. Mưa hoài, nên nước uống lúc nào cũng dư thừa, chưa kể tới cái hầm chứa nước mà tôi đã cho xây giữa sân, có thể cung cấp nước cho toàn đơn vị trong thời gian ba, bốn tháng. Chúng tôi không bị khát, nhưng bắt đầu bị đói. Kho gạo cháy rồi, để tiết kiệm, chúng tôi bắt đầu ăn cháo với rau tàu bay luộc. Ðêm nào cũng có tiếng bẫy sập. Các anh Biệt Ðộng Quân đang thèm thịt, nên có vẻ rất niềm nở hân hoan đón chào các chú chuột đồng bụng cũng xẹp lép vì chẳng có gì để ăn.
Giao thông hào ngập nước, nhưng muốn sống, những người lính biên phòng đành ngâm mình trong giao thông hào để tránh pháo. Tôi thấy da chân, da đùi, da bụng của tôi như đang rữa ra, như lớp bánh tráng mỏng bị thấm nước. Ban ngày mắc bận đánh nhau, trầm mình trong nước, nên quên đi cảm giác khó chịu; ban đêm sau khi thay cái quần lót, mới thấy ngứa ngáy tới điên khùng luôn! Ðêm đêm, khi những đợt pháo kích của địch tạm ngưng, tôi thường vào trong bộ chỉ huy tiểu đoàn ghé thăm thương binh. Khu vực xung quanh trung tâm hành quân và bệnh xá không có giao thông hào nên không bị ngập nước.
Mặc dù những người bị thương nhẹ đã tự nguyện ra trú ẩn trong các pháo đài, trong hầm vẫn còn cả chục thương binh nặng nằm ngồi la liệt trên sàn đất. Thuộc cấp của tôi, người gãy tay, người thủng bụng, người đui mắt, đang chờ tôi vào thăm. Kho gạo và kho thuốc bị cháy, hết thuốc, hết rượu cồn tẩy trùng. Nhiều vết thương đã có dòi. Trung sĩ Chiến Quân y phải lấy nước đun sôi để nguội thay rượu cồn rửa vết thương cho đồng đội. Tôi tiếp tay Y tá Chiến rửa vết thương cho một anh lính bị thương mù hai mắt.
Tôi nghe anh thương binh mù thút thít,
– Cám ơn Thái Sơn!
Những dòng nước mắt pha với máu tuôn xuống má anh ta, làm ướt mu bàn tay tôi…
Người lính tiếp tục khóc,
– Xin lỗi Thái Sơn, em bị thương rồi! Em không còn thấy đường để bắn! Em không làm được gì có thể giúp sức cho Thái Sơn giữ đồn nữa rồi. Thái Sơn đừng trách em nhé!
Tôi không ngờ trong hoàn cảnh ấy tai tôi lại được nghe câu nói đó từ miệng một phế binh. Tôi dịu giọng an ủi người em,
– Em gắng chịu đau! Rồi sẽ có trực thăng tải thương cho em! Em yên tâm! Mình sẽ giữ được đồn mà! Việt-Cộng không làm gì được mình đâu! Thái Sơn còn sống thì Pleime sẽ không thể mất! Nếu như anh em mình không giữ được Pleime thì chúng mình sẽ chết theo Pleime!
Thời gian mà Tướng Tư lệnh Quân Ðoàn II quy định cho tôi đứng vững đã vượt quá, tôi có thể bỏ đồn nếu thấy không thể kéo dài sự chịu đựng, nhưng tôi không thể làm vậy.
Tôi đã không nghe lệnh Tướng Toàn, vì làm như thế, chỉ những quân nhân lành lặn hy vọng sống sót. Tôi còn phải nghĩ tới những thương binh. Từ Pleime ra tới Phú Nhơn đường xa gần hai chục cây số, lại bị địch chốt giữ. Nếu phải rút chạy, trên đường đi, chắc chắn sẽ phải đánh nhau.
Trong tình thế đó, làm sao tôi có thể mang vác theo mình gần hai chục đứa em đui mù, què quặt? Chẳng lẽ đành lòng bỏ chúng nó mà chạy lấy thân? Ðể rồi, nếu thoát chết kỳ này cũng mãi mang trong lòng một vết thương.
Chi bằng anh em ta cứ liều thân, sống chết cùng nhau cho trọn nghĩa thầy trò!
Tôi nghĩ trời đã an bài sẵn là số mệnh của tôi, sống hay chết đều tùy theo vận mệnh của cái tiền đồn mang tên Pleime này!
Hôm sau trời mưa như bão, trong hầm chỉ huy, nước lên tới bụng, tôi lấy một cuộn băng mới tinh, đưa vào máy cassette, ghi lại những lời trăn trối của 5 thày trò có mặt lúc đó. Cuộn băng ghi lại những lời sau:
1)Tôi, Thiếu tá hiện dịch Vương Mộng Long Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
2)Tôi, Trung úy trừ bị Nguyễn Công Minh sĩ quan Truyền Tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
3)Tôi, Thiếu úy trừ bị Trần Văn Phước trưởng Ban 2 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
4)Tôi, Trung sĩ Nguyễn Chi trưởng toán Viễn Thám 823 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
5)Tôi, Binh Nhì Y Don Nier hiệu thính viên của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân xin thề sẽ chết theo Pleime nếu Pleime thất thủ.
Cuộn băng ghi âm này tồn tại cho tới ngày Việt-Cộng tràn ngập thành phố Ban Mê Thuột thì gia đình tôi mới thiêu hủy nó đi.
Tôi đã trải qua những ngày ấu thơ trong một ngôi làng nhỏ, ngôi làng nhỏ này có một ngôi chùa nhỏ, ngôi chùa có một ông thầy, mà chúng tôi gọi là ông thầy chùa. Những ngày còn nhỏ, cũng không nghe ai nói, tôi không biết rõ là thầy ăn chay hay ăn mặn, cũng không thắc mắc vì sao thầy có vợ, có con. Thầy có nhiệm vụ giữ chùa, hương khói và thỉnh thoảng chúng tôi thấy có người mời thầy đến nhà cúng kiếng, tụng kinh gõ mõ. Lũ trẻ chúng tôi thường gọi thầy là Thầy Chùa vì thấy thầy ở và coi sóc cho ngôi chùa của làng, thấy thầy thỉnh thoảng đi cúng, nên có đứa gọi thầy là Thầy Cúng. Người Việt Nam vẫn lẫn lộn ba vị, là Thầy Tu, Thầy Chùa và Thầy Cúng, như những ngày còn nhỏ, chúng tôi không hề phân biệt, cứ nghĩ ba người cũng như một, cũng như chẳng hề biết sự khác nhau giữa các môn thể dục, thể thao và tập võ.
Chúng tôi coi ngôi chùa làng là nơi yên tĩnh nhất, ở đó chỉ nghe có tiếng tụng kinh gỏ mõ, thỉnh thoảng còn nghe tiếng chuông chùa ngân nga, và vào những buổi trưa mùa hè, thơ thẩn trong sân chùa chúng tôi còn nghe tiếng lá bàng rụng trên sân. Chùa của tôi trong tuổi ấu thơ mê văn chương là ngôi chùa mang tên Đồi Mai trong “Vang Bóng Một Thời” của Nguyễn Tuân, nơi thường có người đến xin nước trong giếng chùa để pha trà. Chùa của tôi thời vùi mình trong thế giới của Tự Tực Văn Đoàn là ngôi chùa Long Giáng trong “Hồn Bướm Mơ Tiên” của Khái Hưng. Chùa của tôi của thời mới lớn mơ mộng là ngôi chùa Linh Mụ, mà mỗi chiều nghe hồi chuông, tôi có cảm tưởng như âm thanh của tiếng chuông chùa có thể làm rung động được mặt nước trên dòng sông Hương.
Tôi luôn luôn mang ý nghĩ chùa luôn luôn là nơi tĩnh lặng và vắng vẻ nhất, nên khi lớn lên thấy chùa ở “chốn lao xao”, gần gũi với trần tục, lòng tôi cảm thấy mất mát đi một điều gì. Trên sân khấu “đời” được dựng lên tại một sân chùa mà bối cảnh có ghi là ngày Đại Lễ Phật Đản, tu sĩ cùng lên sân khấu trình diễn với ca sĩ. Trong khi một nam ca sĩ hát bài “Đời Tôi Cô Đơn” của Nguyễn Ánh 9 thì vị tu sĩ nhại lời bài hát này thành “Đời Tôi Đi Tu”. Ca sĩ vừa hát xong câu “đời tôi cô đơn, nên yêu ai cũng đớn đau” thì thầy tiếp lời “đời tôi đi tu nên tôi phải ăn chay…” Trong tiếng nhạc xập xình và tiếng reo hò cổ vũ của “thiện nam tín nữ”, tu sĩ này lại “tự biên tự diễn” hát tiếp: “đời tôi đi tu nên tôi phải mặc áo nâu”, rồi “đời tôi đi tu nên phải cạo đầu… không để râu!” Một tu sĩ trẻ tuổi khác lên sân khấu choàng cho thầy một vòng hoa, rồi quý tín nữ reo hò: “bis… bis”. Nói theo văn chương bình dân: thiệt là vui hết biết! Hoạt cảnh này được phổ biến trên You Tube khắp nơi cho bà con xa gần biết đến giọng hát của thầy.
Vị này thích ánh đèn sân khấu đã đành, nhưng lại đem chuyện tu hành lên đây mà diễu cợt để mua tiếng cười của bá tánh, thật khó coi. Người đến chùa lại không ý thức được sự việc, thấy thầy lên sân khấu hát hỏng, mà lại hát tếu thì lấy làm vui như gặp được Bảo Quốc, Tùng Lâm. Có vị nữ tu lại lên sân khấu, mặc áo rằn ri, đóng vai người lính VNCH để hát bài “Tình Anh Lính Chiến”, thật là đem chuyện trần tục vào chốn thiền môn.
Ngày nay nhạc đạo, nhạc thiền không có mấy vì không có ai sáng tác, sáng tác ra không có người hát. Không ai đem nhạc đạo vào khiêu vũ trường hay sòng bài, nhưng nhạc đời bây giờ đem vào chùa chiền quá nhiều, ca nhạc cho người đến chùa vui, chỗ nào vui thì đông người, đông người có chuyện “hùn phước” lớn, phước lớn thì chùa lớn, chùa lớn thì thầy vui mà đệ tử cũng vui. Thói đời, người ta thích lui tới chùa lớn hơn là đi chùa nhỏ. Không có bản nhạc tình ái nào bị cấm hát trong sân chùa, nên từ “anh yêu em”, hay “tình phụ tình lỡ”, những gì than vãn, khổ đau của cuộc đời này đều được các ca sĩ đem vào chùa. Có khi vị trụ trì ngồi chủ tọa buổi ca nhạc, được người MC kính cẩn thưa:
– “Thưa Thầy Thầy thích yêu cầu bài gì?”
– “Mình ơi!”
Thầy đáp, không cần một giây suy nghĩ. Đám đông reo hò. Xin quý vị một tràng pháo tay! Vui quá là vui! Ca sĩ thì đương nhiên phải phấn son, ăn mặc hấp dẫn, đôi khi thiếu kín đáo, đó là chưa nói chuyện hở hang đang đứng trên bục cao. Vào chùa mà hát nhạc đạo thì ai nghe, người ta kêu buồn ngủ!
Tại một ngôi chùa lớn, trong một ngày lễ lớn tại Texas, tác giả bài viết này có dịp tham dự, đã mục kích chuyện ca sĩ “lơn” nhau trên sân khấu. Nam ca sĩ nổi tiếng này được mời từ Cali sang, sau một màn song ca, đã cao hứng nói với nữ ca sĩ: “Em ơi! Có một việc mà anh làm một mình không được! Em giúp anh đi!”Thế mà đám đông trần tục cũng cười rồi vỗ tay.
Vì sao bây giờ chùa lại gần chợ đông vui, có đốt pháo múa lân, không khác gì đời. Chùa xây gần chợ nghĩa là đem đạo vào đời, để cảm hóa, xây dựng con người nhưng đem nhạc tình ái vào chùa là đem đời ô trọc vào đạo. Thay vì người có lòng với đạo, cổ súy cho nhạc đạo, hát lên cho lòng thanh thản trong sạch, đó là công đức, còn như lấy điều vui làm trọng là phá đạo. Chùa chiền không phải là nơi thi hoa hậu, dù là hoa hậu áo lam, cũng phải là nơi cổ súy loại nhạc “yêu em thật lâu, yêu em thật sâu”. Nếu ngày nay lên chùa là vì ham vui, hay làm cho chùa vui để thiên hạ đến chùa cho đông, thì đạo Phật chẳng mấy chốc mà suy vi. Chốn thiền môn mong được nghe tiếng kinh kệ và mùi trầm hương, không phải là nơi đượm mùi son phấn và lời ca hát trần tục. Tại Mỹ, tôi là người đã có dịp, mới đây thôi, gặp gỡ nhiều tu sĩ còn trẻ tuổi, lớn lên sau năm 1975, được đào tạo tại Việt Nam, đã được gửi đi du học ở Ấn độ, hút thuốc và uống bia một cách công khai trước mắt tôi, như vậy làm sao biết được những hành động khác ở chốn riêng tư.
Cảnh và người thay đổi quá nhiều, mà lòng đứa trẻ năm xưa, dù ngày nay đã trở thành một ông già gần đất xa trời, vẫn không có gì thay đổi, vẫn như còn nghe tiếng lá bàng rụng trong sân chùa của những ngày tháng cũ.
Từ ngoài khơi biển Baltic muốn vào thủ đô Thụy Điển tàu phải qua ngang quần đảo Stockohlm. Dọc theo triền đảo những chòm nhà cất trên thềm đá, vách ván sơn trắng hoặc màu huyết dụ viền trắng, mái lợp ngói màu đỏ, màu đen nép mình dưới những tàn cây xanh lá vào mùa hè. Dưới bến nước, những chiếc thuyền con buộc chặt vào ghền đá nhấp nhô theo con sóng nhẹ vỗ bờ. Xa khơi những cánh buồm trắng lấp la lấp lánh dưới ánh mặt trời và nhiều tàu đò chở đầy du khách ngược xuôi, ngang dọc trên làng nước xanh. Hoa tiêu hướng dẫn con tàu lòn lách để tránh đá ngầm, mất hơn ba tiếng đồng hồ tàu mới cặp cảng Stockholm.
Tôi đã từng đi khắp nhiều nơi và qua nhiều thành phố lớn, có những thành phố đi dạo một vài lần là tôi thấy sợ, lần sau tới không dám đi một mình. Nhưng mỗi khi tới Stockholm tôi rất an tâm dành hết những giờ nghỉ, mình ên tôi có thể thả bộ hết khu phố nầy qua khu rừng nọ, đi hoài mà không thấy chán.
Trưa hôm ấy tôi bỏ mấy chai nước lọc vô ba lô, mang theo dành uống dọc đường. Vừa ra khỏi cửa tàu thì gặp Jannet, một nữ sinh viên theo tàu thực tập, con nhỏ mập thù lù, còn vận bộ đồ thể thao bó sát người trông như con voi con. Mỗi lần nhìn nó là tôi muốn cười và nhớ ngày nó mới xuống tàu, tình cờ nó đọc truyện của tôi viết về một người đàn bà mập hơn một trăm ký…
Đọc xong nó tìm tôi, mặt ra vẻ khẩn trương căn dặn:
– Khi nào ông viết về tui thì phải đem cho tui đọc trước.
Tôi lấy làm lạ mới hỏi nó:
– Tại sao? Tại sao tao phải viết về mầy?
– Ông viết về người đàn bà mập hơn trăm ký, uống rượu, hút thuốc, làm đĩ và bị đàn ông chê…
– Có vấn đề với mầy sao?
Nó dang hai cánh tay ra gạt gạt hai bên mông, nói:
– Tui cũng mập và cũng ghiền thuốc.
– Mầy bao nhiêu ký?
– Chín mươi bảy ký.
– Tao không viết về mầy đâu, mầy khỏi lo.
– Sao vậy?
– Vì mầy chưa hơn một trăm ký, răng mầy chưa vàng khói thuốc, không ghiền rượu và mầy không làm đĩ.
Tôi nói như vậy mà Jannet cũng tưởng thiệt. Nó cười híp con mắt lại rồi nói với tôi, ở nhà nó thường chạy bộ cho xuống ký nhưng trên tàu không có chỗ chạy, còn tôi thì nấu ăn ngon quá làm nó nhịn không được, xuống tàu mới có mấy tuần mà nó lên ba ký lô. Tôi chỉ cho nó một khu rừng ngoài cổng rào bến cảng có con đường vắng người, vắng xe, bây giờ là mùa hè chạy bộ ngon lắm. Hôm nay nó đón đầu tôi lại khoe rằng một lát nữa nó sẽ lên khu rừng mà tôi chỉ cho nó hôm trước để chạy bộ. Tôi nói một câu khích lệ:
– Tốt lắm, chạy tới khi nào mệt mầy có thể ngồi nghỉ chưn trên một tảng đá hay chiếc băng bên đường mòn nghe chim hót cũng khoẻ khoắn tâm hồn.
Tôi day lưng bước tới giữa cầu thang thì thằng Ivan từ ngoài boong tàu chạy tới hỏi tôi đi đâu. Tôi khoa tay một vòng vui vẻ, khôi hài nói:
– Tao đi dạo phố, dạo rừng và dạo loanh quanh…
– Ông đợi tôi thay đồ xong tôi đi với.
– Mầy không làm việc?
Nó cười:
– Tôi bây giờ là hành khách rồi chớ không còn phụ máy nữa.
– Ủa!
Tuy nó không nói thêm nhưng tôi cũng đoán được chuyện gì đã xảy ra cho nó, tôi nói tiếp:
– Vậy thì khỏi làm việc một buổi mà được ăn lương cũng sướng.
– Không đâu, kỳ nầy tui bị Sếp cho về thiệt rồi.
– Tao thì không nghĩ vậy, nhưng thôi, mầy lên thay đồ lẹ đi, xuống đi dạo chơi một lát, chuyện tới đâu tính tới đó.
Ivan thở ra một cái rồi quay lưng đi lên phòng thay đồ. Ivan với Viktor là người Ukrainian đổi xuống vừa được hai tuần thì viên thuyền thưởng thu hồi master key (loại chìa khoá mở được hết các cửa phòng trên tàu) của hai người. Đã vậy còn xuống lưu ý đầu bếp hễ thấy thằng nào ăn uống không dọn dẹp, sống vô kỷ luật thì lên nói với ông. Sợ hai người tối xuống kho lấy cắp đồ ăn, ông dặn sau khi xong việc nhớ khoá kho lương thực cẩn thận.
Mấy năm nay tôi hải hành chung với người Ukrainia cũng nhiều. Thiệt tình mà nói, phần đông họ sống rất kỷ luật, ăn xong dọn dẹp đàng hoàng, tuy có ăn nhiều hơn người Hoà Lan nhưng họ chỉ ăn những món ăn nào đầu bếp dọn ra bàn hoặc những thức ăn thừa thay vì đổ bỏ tôi dành lại cho họ ăn vào buổi chiều và phiên trực đêm, tôi chưa bao giờ thấy họ léo hánh xuống kho thực phẩm. Chỉ có người Hoà Lan ít có thằng biết dọn dẹp, phần đông ăn xong, chùi miệng, phủi đít đứng dậy đi. Trên tàu tuy ăn, uống miễn phí nhưng cũng có mức quy định, không ai được đòi hỏi và không được khen chê, kể cả thuyền trưởng. Theo nguyên tắc là vậy, nhưng phần đông người nào cũng muốn ăn giống như thực đơn trong nhà hàng và ban đêm tự tiện xuống kho lấy đồ ăn, nhứt là là các cô gái hay lấy sữa tươi và trái cây đem lên phòng dự trữ. Thấy hao quá đầu bếp khoá kho lại thì thuyền trưởng biểu cứ để mấy cô ăn thoải mái. Ăn thì đòi hỏi nầy nọ còn khi có chuyện kêu làm thì thoái thác, đường ống thoát nước trong bếp bị nghẹt và cái máy rửa bị hư, nếu thợ máy người Ukrainia thì thuyền trưởng bắt phải sửa liền, còn thợ máy Hoà Lan cứ hẹn nay hẹn mai cả mấy tuần rồi mà có ma nào rớ tới đâu. Ivan và Viktor mới vừa xuống tàu đã bị thuyền trưởng dằn mặt, làm cho mấy tên thủy thủ mạt rệp ngoài boong cũng ăn theo rồi coi thường và nói xấu con người ta, chỉ có Jannet và thuyền phó hai đứa có hơi cà tửng nhưng còn biết điều và sống rất hoà đồng với mọi người. Bị cả đám ‘khủng bố’ nên vào bàn ăn Ivan và Viktor rụt rè không dám ăn no và mỗi khi tàu ghé bến hai đứa phải thay phiên đổ bộ mua thêm thức ăn đem xuống tàu dự trữ phòng khi đói bụng.
Hôm Ivan xuống tàu cho tới nay, ngày nào tôi cũng nghe thợ máy lớn tiếng chửi bới con người ta, gặp ai hắn cũng chê thằng Ivan lười biếng và không biết làm gì hết. Hồi sáng nầy tôi cũng nghe hắn chưởi Ivan một chập và đuổi không cho vô phòng máy. Tại vì hắn ganh tỵ với Ivan rồi kiếm chuyện chưởi chơi cho bỏ ghét, chớ thật ra với bằng cấp và kinh nghiệm cỡ như Ivan nếu ở bên Ukrainia thì nó đã lên thợ chánh lâu rồi.
Tôi biết viên thợ máy hồi hắn còn là sinh viên thực tập, lúc đó hắn rất thô lỗ, hống hách và sống không hoà đồng với ai hết. Tôi nhớ lần đầu tiên xuống tàu, hắn xông vào bếp kêu tôi phải nấu nầy nấu nọ cho hắn ăn. Tôi tưởng hắn mới xuống chưa quen luật lệ trên tàu nên mới từ tốn giải thích cho biết. Nhưng hắn hằn học lớn tiếng chửi bới om xòm. Tức mình, tôi chụp lấy cái giá múc canh nằm cạnh bên đưa lên doạ đuổi hắn đi chỗ khác, bằng không tôi đâp vô mặt cho phù mỏ. Hắn sợ tôi đập thiệt bèn chạy lên mét thuyền trưởng, thuyền trưởng xuống hỏi tôi chuyện gì. Tôi kể lại đầu đuôi cho ông nghe và nói cho ông biết, nếu hắn không xin lỗi tôi thì từ ngày hôn nay cho tới ngày về tôi sẽ không dọn phần ăn cho hắn nữa. Thuyền trưởng nghe xong liền bắt hắn tới xin lỗi và doạ cho hắn về bờ nếu còn sống vô kỷ luật. Có hôm hắn la cà vô bếp hỏi tôi, có bao nhiêu người Việt sanh sống tại Hoà Lan. Tôi vô tư trả lời:
– Khoảng chừng đâu mười lăm mười sáu ngàn gì đó.
Tự nhiên hắn gắt:
– Như vậy là quá nhiều, quá nhiều.
Tôi day lại:
– Ê, mầy biết dân Hoà Lan của mầy hiện nay sống ở nước ngoài bao nhiêu không?
–Tôi không biết.
– Vậy thì về tìm hiểu cho biết, khi nào biết rồi trở lại đây nói tiếp, tao không thích nói với những người nói ra mà không biết mình nói gì.
Thấy tôi bắt đầu khó chịu hắn liền dịu giọng.
– Nhưng Hoà Lan đất hẹp người đông, mà người ngoại quốc ở rất nhiều, như trên tàu nầy, ông thấy đó toàn là người nước ngoài không thôi.
– Chuyện đương nhiên, dân Hoà Lan mầy nói nhiều hơn làm hoặc làm thì tà tà, thích chỉ tay năm ngón, ăn thì muốn ăn ngon và đòi hỏi quyền lợi quá cao nên chủ người ta không mướn nữa. Tao cho mầy biết, không có những người ngoại quốc tới Hoà Lan làm những chuyện lặt vặt, dơ dáy thì hãng, xưởng ở Hoà Lan đóng cửa và ngành hàng hải Hoà Lan sập tiệm từ lâu rồi, chớ còn có tàu bè đâu để cho mầy đi thực tập.
Phần đông người Hoà Lan được cái là khi nói chuyện biết mình đuối lý thì xuống nước xin lỗi hoặc bỏ đi chớ không cãi chầy cãi chối như nhiều dân khác.
Thời gian sau khi hắn ra trường làm phụ máy rồi lên thợ máy chánh. Chẳng bao lâu ai cũng biết tiếng hắn ta là một thợ máy khó chịu nhứt trong đám thợ máy của công ty. Những năm đầu hắn lên làm thợ máy chánh tôi chưa đi chung với hắn. Thỉnh thoảng lên hội quán gặp bạn đồng nghiệp hay than phiền rằng ngày nào hắn cũng xuống phòng bếp đòi nầy đòi nọ và còn dở giọng du côn mắng chưởi mỗi khi dọn ra những món không hợp khẩu vị của hắn. Đó là gặp những đầu bếp có lương tâm chỉ phàn nàn đôi chút rồi thôi, chớ còn gặp những đầu bếp tâm tánh không bình thường mà chọc giận thì Bếp sẽ trút cơn giận bằng cách trộn đồ dơ vô thức ăn rồi dọn ra cho ăn. Có một đầu bếp mà trong công ty ai cũng khen ông có bàn tay vàng, vì ông pha chế thức ăn rất ngon. Trước mặt đám officers lúc nào ông cũng vui vẻ, thưa thưa dạ dạ… nhưng người nào xúc phạm tới ông thì trước sau gì cũng bi ông cho ăn đồ bậy bạ. Tánh tình ông rất trào phúng, mỗi khi lên hội quán ông hãnh diện kể lại cho đồng hương của ông chuyện ông cho những thằng officers nào hống hách ăn những món cực kỳ dơ dáy do ông tự nghĩ ra. Hôm cuối năm, trong lúc ông bận rộn lo cho bữa tiệc, tên thợ máy vô bếp đòi nầy đòi nọ và nặng lời với ông làm ông tức giận, ông bèn lấy tinh trùng của ông trộn vào sốt whisky dọn ra trong bữa tiệc Giáng Sinh. Những đầu bếp khác mỗi khi bực mình chỉ nghĩ ra những cách thông thường hạ cấp như khạc nhổ vào thức ăn dọn ra cho ăn hoặc múc nước trong bồn cầu pha cà phê, pha trà đem ra cho uống. Còn ông thì cao cấp hơn, pha chế chỉ có món sốt whisky phải tốn hao bao nhiêu năng lượng. Nhìn mái tóc bạc phơ, thân thể ốm nhôm ốm nhách, tôi đâm nghi ngờ cho cái tâm thần và ái ngại cho cái sức khoẻ của ông, bảy tám tháng trời xa nhà, xa vợ, hễ mỗi lần tức giận là mỗi lần ông trút hết năng lượng vô món ăn để phục vụ cho người khác, cứ như vậy tiếp tục cho tới ngày về thì còn sức lực đâu nữa để phụ vụ cho bà nhà.
Đó là những chuyện tôi nghe về tên thợ máy trước đây. Dĩ nhiên lúc đó tôi cũng như nhiều đồng nghiệp có ấn tượng không tốt về hắn. Mấy năm gần đây hắn đổi qua đi chung tàu tôi. Tôi lấy làm lạ khi thấy hắn sống rất kỷ luật, ăn uống xong hắn dọn dẹp đàng hoàng và sau khi ra khỏi phòng ăn luôn lúc nào cũng cám ơn đầu bếp. Những cái ý nghĩ lúc hắn còn là sinh viên trước kia và những tiếng đồn xấu về hắn sau nầy trong tôi đều tiêu tan hết. Nhiều lần gặp bạn đồng nghiệp, nhắc tới thói hư tật xấu của hắn ta tôi bèn lên tiếng đính chánh và kể cho họ nghe những tánh tốt mà tôi đã chứng kiến trong những ngày tháng hải hành chung với hắn. Tức thì bạn đồng nghiệp của tôi nhau nhau phản đối, họ nói tại vì tôi là người Hoà Lan nên hắn không đụng tới đó thôi.
Mấy ông bạn của tôi nói cũng đúng một phần. Riêng tôi thì còn nhiều nguyên do khác nữa, tôi đã có quốc tịch Hoà Lan hơn hai mươi năm rồi, nhưng tôi chưa thấy người bản xứ nào xem tôi là đồng hương của họ hết, họ có thể coi trọng tôi vì tôi là đầu bếp lâu năm và cách cư xử của tôi khác hơn các bạn đồng nghiệp. Có hôm thợ máy hỏi ba bốn cái trứng chiên, nếu gặp những đầu bếp khó khăn thì cự nự hoặc đầu bếp cắc cớ bỏ đồ bậy bạ vô trứng trộn lên đem chiên rồi dọn ra cho hắn ăn. Tôi thì không làm như các bạn, ngoại trừ những tên sống vô kỷ luật, xấc xược tôi mới dùng biện pháp mạnh để dằn mặt cho hắn biết, không thì bất cứ người nào có con mắt to hơn cái bụng tôi ép ăn thêm, mấy tuần trước trong giờ điểm tâm thợ máy hỏi xin sáu cái trứng chiên với thịt ba rọi ung khói, ăn chưa chưa hết hắn đã ợn lên ợn xuống rồi đứng dậy chạy vô toilet mửa thốc mửa tháo ra hết sạch. Tới nay nghe tôi nhắc tới trứng chiên thì hắn khoát tay lia lịa và lè lưỡi ọe ra…
Stockholm tên thủ đô vương quốc Thuỵ Điển được chiết ra từ địa danh archipelago Stockholm (quần đảo Stockholm). Thủ đô Stockholm, được nối kết năm mươi bảy chiếc cầu qua mười bốn hòn đảo trọng yếu. Thành phố với những đền đài tráng lệ nằm trong những chòm cây xanh và nhiều cao ốc với lối kiến trúc vừa hiện đại vừa cổ kính đứng hiên ngang trên ngọn đồi hướng ra làn nước như thể ngóng nhìn tàu bè qua lại. Đi trong phố có thể thấy dấu vết nghệ thuật ở khắp nơi, không kể tới những bức tượng đồng khiêu gợi giữa mấy hồ nước và nhiều vòi nước phun tua tủa trong Millesgården của nhà điêu khắc lừng danh Carl Milles và vợ ông là một nữ hoạ sĩ danh tiếng Olga Milles trên hòn đảo Lidingö ra, ta còn thấy những tranh ảnh của nhiều hoạ sĩ và nhiếp ảnh gia được trưng bày bên góc phố và tranh vẽ dọc theo hai bức tường dưới đường hầm xe điện dài hơn trăm cây số đã tạo cho thành phố Stockholm hoành tráng nhứt so với các thành phố lớn trong vùng biển Baltic.
Tôi với Ivan đi dọc theo bực thạch của bờ nước thẳng ra trung tâm thành phố, qua ngang một chiếc cầu và loanh quanh công viên xem hoa lá cành… Đường xá tuy đâm qua xuyên lại, lúc lên cao, khi xuống thấp nhưng khang trang sạch sẽ. Đi trong phố tôi vẫn cảm nhận được mùa hè mát mẻ len lỏi cùng những du khách vui tươi và dân bản xứ hiền hoà thân thiện. Tôi có thể yên tâm đi khắp thành phố mà không sợ cướp giựt giữa ban ngày ban mặt như mấy thành phố lớn bên nước Nga. Cuối cùng chúng tôi dừng lại xem tranh, ảnh nghệ thuật được dán lên những bước tường nhỏ dựng trong một khu đất hẹp ngay góc phố cạnh trạm xe bus và bến tàu đò. Sau khi rảo xem hết mấy bộ tranh, ảnh dán tường Ivan ngỏ ý muốn tìm internetcafe. Cái thằng, nãy giờ đi với tôi mà đầu óc nó để đâu đâu, tôi hỏi:
– Mầy muốn lướt mạng?
– Không tôi muốn gọi về nói chuyện với phòng lao động.
Thì ra nó bức xúc về chuyện đã xảy ra trên tàu:
– Mầy không có di động à?
– Có nhưng không có thẻ của Thuỵ Điển.
Tôi móc điện thoại đưa qua Ivan:
– Mầy có thể dùng máy nầy.
– Tui nói chuyện với nhân viên phòng lao động lâu lắm, vô internetcafe dùng Voipcheap cho rẻ tiền.
– Sao mầy không vô hội quán dùng internet miễn phí.
– Ở đây có hội quán sao?
– Có chớ, hội quán truyền giáo, nó nằm ở phía ngoài phố, cách tàu mình đậu đâu chừng mười phút đi bộ.
Chúng tôi đi ngược trở ra ngoại ô hướng về bến cảng. Đi được một đoạn khá xa, không hiểu sao Ivan cất tiếng hỏi tôi:
– Sao trước kia ông không chọn định cư ở Đức.
– Chỗ nào cũng vậy, miễn sao yên ổn là sống được rồi.
– Nhưng người Hoà Lan coi rẻ người ngoại quốc.
– Chuyện kỳ thị chủng tộc và kỳ thị vùng, miền thì dân tộc nào cũng có. Hơn hai chục năm qua nấu ăn cho nhiều dân tộc khác nhau, tao đã chứng kiến nhiều xung đột giữa dân xứ nầy với dân xứ khác. Theo tao thì từ những người có địa vị cao cho tới những phần tử hạ cấp có thể chưởi bới thậm chí đánh nhau chỉ vì miếng ăn tầm thường, huống hồ chi đụng chạm nghề nghiệp. Không riêng gì dân Hoà Lan hay dân Việt Nam hoặc dân nào khác… dân Ukrainia của mầy cũng vậy thôi. Thử hỏi nếu dân nước nào sang Ukrainia dành lấy những việc làm béo bở, có khác nào giựt lấy túi khoai tây của dân mầy, như vậy mầy có vui vẻ với họ không.
– Ông nghĩ vậy sao?
– Tao chắc là vậy, tuy nhiên có người chống đối ra mặt, có người thì kín đáo không ra mặt. Chuyện của mầy tuy có hơi quá đáng, tại vì mầy xui xẻo xuống chiếc tàu gặp nhằm viên thuyền trưởng ba trợn, thợ máy lố lăng nên mầy nghĩ người Hoà Lan kỳ thị, thật ra thì phần đông dân Hoà Lan rất tử tế và sống hoà đồng hơn dân Đức nhiều.
– Tui chưa thấy đầu bếp nào như ông.
Câu nói nầy tôi nghe cũng rất nhiều và hiểu ý nó ám chỉ về chuyện gì rồi, nhưng tôi không muốn tiếp tục bới sâu vào ba cái chuyện trí thức, trí ngủ mà nghe riết đến độ mất cảm giác. Tôi khôi hài nói trớ sang chuyện khác:
– Có lẽ tại vì tao là một đầu bếp nấu ăn hấp dẫn nhứt, tánh tình tốt nhứt và là người Việt Nam duy nhứt trong công ty… thì dĩ nhiên tao không giống đầu bếp khác ha ha…
Ivan nghe tôi dí dỏm nó cũng cười ra tiếng. Tình cờ lúc đó chúng tôi đi ngang một quán ăn nằm bên góc đường. Tôi liền chỉ tay qua tấm bảng hiệu màu đỏ đề hàng chữ màu vàng to tướng “Vietnammese’s Wok”:
– Kìa! Mầy thấy không, nhờ thức ăn Việt Nam quá hấp dẫn nên mới có mặt khắp nơi trên thế giới, cho đến người Thái Lan cũng phải mượn tên Việt Nam gắn lên nhà hàng của mình.
– Nhà hàng đó của Thái Lan?
– Đúng rồi, lần đầu tao tưởng nhà hàng nầy của người Việt, tao bèn hiên ngang mở cửa bước vô, gặp ngay một người đàn bà, tao hỏi trực tiếp bằng tiếng Việt, tức thì được bà ta xổ một tràng tiếng Thái làm tao trơ mặt chẳng hiểu bà nói gì hết ráo.
– Nhưng tại sao họ không lấy tên Thai’s Wok?
– Nếu đề Thai’s Wok thì không có khách vô ăn, nhà hàng mà không có khách thì mầy cũng biết kết quả thế nào rồi.
Chúng tôi đi ra khỏi thành phố dọc trên con đường xuyên ngang tán rừng nhỏ, tới một ngã ba, tôi chỉ qua con đường bên phải:
– Hội quán nằm trên một khoảng đất rộng, cạnh bìa rừng mầy đi chồm qua một chút thì mầy sẽ thấy bên lề phía tay trái hàng chữ Seamen’s misstion màu đỏ trên tấm bảng chỉ đường hình mũi tên, cứ theo đó đi chừng vài phút sẽ tới.
– Ông không vô sao?
– Không, vô lo chuyện của mầy đi, tao đi dạo một lát rồi còn phải xuống tàu lo cho bữa ăn chiều.
Tôi khoát tay chào Ivan rồi day lưng đi theo lối mòn vô khu rừng nhỏ trên con đồi thấp. Đi trong rừng cây mát mẻ, tôi cảm thấy lòng mình êm ả như mặt biển của vùng Baltic phẳng lặng vào những ngày hè. Khi chưn mỏi tôi ngồi xuống một chiếc băng bằng ván bên con đường vắng bóng người và không nghe cả tiếng xe. Tôi ngồi xuôi chưn ngay ngắn, hít thở đều đều… Tiếng gió nhẹ khua động lá cây và chim chóc kêu rời rạc làm đầu óc tôi buồn buồn, mắt tôi lim dim… Trong lúc mơ mơ màng màng, chợt một cơn gió lành lạnh phớt mặt làm tôi mở mắt ra, tôi day người lại phía bên phải con đường, thấy một ông già cao lêu nghêu, ông bước êm ru không tiếng động nhưng thoáng cái đã qua ngang chỗ tôi ngồi, tôi có cảm giác như chiếc bóng nhưng rõ ràng là một thân người, tôi đưa tay lên dụi mắt mấy cái, trong lúc nửa tỉnh nửa mơ giữa rừng cây vắng vẻ làm tôi rùng mình đứng phắt dậy bước theo hướng ông đi và nhìn thẳng con đường phía trước, nhưng không thấy ông đâu hết, ngó quanh ngó quất hy vọng ông đứng tiểu tiện ở một gốc cây nào đó… cũng không thấy. Tôi nghe sờ sợ dợm quay lưng định đi ra khỏi khu rừng, chợt con Jannet xuất hiện từ phía trước, tay cầm gói thuốc với hộp quẹt, bước những bước nặng nề đi tới. Tôi liền hỏi nó:
– Mầy có thấy một ông già mới đi ngang đây không?
Nó ngơ ngác ngó quanh:
– Không, tui có thấy ai đâu.
– Lạ thật!
Tôi quay trở lại chiếc băng và ngồi xuống, Jannet cũng theo tôi ngồi xuống cạnh bên. Một lát sau cơn hoang mang lắng dịu, tôi nhìn qua con nhỏ. Thấy nó vô tư không để ý gì tới thái độ mất thần của tôi và mặt mày nó tỉnh bơ không có vẻ gì là người chạy bộ hết. Tôi hỏi:
– Nãy giờ mầy chạy bộ hả?
Nó lắc đầu cười và nói như chữa thẹn:
– Đường ở đây dốc lên, dốc xuống nhiều quá nên tui đi bộ.
Tôi nhìn thân hình đồ sộ của người con gái mới hai mươi tuổi mà thấy lo, không biết một vài năm nữa thịt trên người của nó thừa ra cỡ nào. Jannet rút ra một đếu thuốc cầm trên tay nhưng chưa đốt, nó day qua nói:
– Hồi nãy ông thợ máy tìm Ivan.
– Nó đuổi người ta rồi còn tìm làm chi.
– Không biết, nhưng tôi mới thấy Ivan đi vô hội quán.
– Ừa, tao nghĩ nó gọi điện về báo cáo với phòng lao động chuyện xảy ra hồi sáng.
– Dĩ nhiên, nếu tui là Ivan thì tui về liền, ông biết không, tại vì bằng cấp của Ivan cao và có kinh nghiệm hơn thợ máy nên hắn ganh tỵ rồi làm khó người ta.
– Bộ mầy không ganh tỵ sao?
Jannet cười sằng sặc:
– Thời đại toàn cầu hoá mà, người Hoà Lan cũng qua bên Ukrainia làm việc vậy.
– Thì chuyện ganh tị nhau về nghề nghiệp, tranh giành quyền lợi cũng là một khía cạnh toàn cầu hoá. Mầy không thấy sao, chỉ có chuyện ô nhiễm môi trường, trái đất nóng nhanh mà những tai to mặt bự trên trên thế giới người đề nghị nầy, người đề nghị kia, không ai chịu ai, hợp hành tới lui tìm cách phòng chống cả mấy năm trời, trái đất thì sắp cháy thành than rồi, mà chẳng ra cơm ra cháo gì hết. Huống chi thủy thủ tàu bè, toàn là một đám dân hạ tiện tối ngày ganh tỵ ba cái nhỏ mọn chưởi bới với nhau chỉ là chuyện bình thường.
– Còn ông, bộ ông biết không ganh tỵ sao?
– Tao có khỉ gì đâu mà ganh tỵ, có mầy kìa, mầy không về lo tụ tập biểu tình chống người nước ngoài sang Hoà Lan làm việc, thì tương lai người nước ngoài tràn qua chiếm lấy các việc làm, lúc đó dân Hoà Lan mầy thất nghiệp hết cho mà coi.
– Đối với tui không có vấn đề gì hết, bạn trai tui là người Ukrainia mà.
– À thì ra là vậy.
Jennet vừa ừ hữ vừa cầm hộp quẹt lên định bật lửa châm thuốc, thường lên bờ chơi tôi không muốn nghĩ tới ba cái chuyện lộn xộn trên tàu, sẵn cớ nó định đốt thuốc tôi liền bắt quàng câu chuyện:
– Không gian nơi đây đẹp và sạch mầy hút thuốc làm ô nhiễm môi trường.
Nó tắt quẹt dòm lên chu mỏ nói:
– Hút một điếu chắc không sao.
Tôi ra vẻ trịnh trọng:
– Chỉ cần mầy hút một điếu thuốc thôi thì khói thuốc sẽ bay lên không góp phần làm cho chỗ hổng của tầng ozone rộng ra, sức nóng mặt trời tỏa xuống nhiều làm cho nhiệt độ trái đất tăng mau, con người ta sẽ bị chất phóng xạ của mặt trời làm ung thư da rồi sanh ra lở loét cùng mình…
Nếu tôi nói câu nầy với mấy tên ghiền thuốc khác thì thế nào cũng bị họ mắng và cho tôi là một tên khùng. Nhưng Jannet làm như thiệt, nó nhét điếu thuốc trở vô bao, cười cười nói:
– Nghe ông nói tui hết muốn hút thuốc luôn.
– Tốt, vậy mầy dám bỏ hút thuốc luôn không?
Con nhỏ cười quả quyết:
– Dám chớ.
– Tốt, vậy mầy dám liệng bỏ gói thuốc hông?
– Tui sẽ liệng.
– Tốt, mầy dám hứa với tao không?
Nó chìa tay ra bắt tay tôi:
– Ô kê, tui hứa.
Nó day ngang và ra bộ như người xưng tội trước ông cha nhà thờ nói:
– Từ đây trở đi nếu ông thấy tui hút thuốc thì tui sẽ trả ông 20 euro.
Tôi đưa tay tha tha lên đầu nó rồi đứng dây móc hai chai nước lọc trong ba lô đưa cho nó một chai và phần tôi một chai. Tôi với nó mở nước ra ngước cổ uống hột hơi, tôi nói với nó:
– Tới giờ tao phải xuống tàu, mầy ở lại đây hay về?
– Tui về.
Tôi dợm bước nhưng chợt thấy gói thuốc còn nằm trên chiếc băng, tôi hỏi:
– Sao mầy để thuốc ở đó.
– Để đây coi có ai hút lấy hút.
– Mầy sợ ô nhiễm môi trường, quyết tâm bỏ thuốc mà còn để như vậy khác nào xúi người ta làm ô nhiễm dùm mầy.
– Vậy, tui phải làm sao?
– Tao thấy mấy đứa mập ít có đứa thông minh.
Tôi chỉ tay qua cái thùng rác nằm bên đường:
– Cái thùng rác sờ sờ kia kìa.
– Ô kê, ô kê…
Jannet cầm gói thuốc lên vò bèo nhèo trước khi bỏ vô thùng rồi câu tay tôi đi…
Tôi rất thích không gian rộng, mát và sạch sẽ nơi đây. Thường thì tôi hay đi một mình và đi tà tà vô phố cũng như tới những nơi vắng vẻ, tôi không muốn đầu óc mình phải bận rộn về chuyện con tàu và những chuyện phức tạp thường ngày. Hôm nay có Ivan đi theo rồi tình cờ gặp ma (?) và gặp con Jannet, nói chuyện trên trời dưới biển gì đâu, làm cho lòng tôi có hơi xao động.
Trên con đường mòn chật chội lại kè thêm chín mươi bảy ký lô thịt một bên, nặng như tảng đá, tôi đi nhanh thì bị nó trì lại, hễ đi chậm thì bị nó lôi theo. Tuy cuộc đi dạo không được như ý, nhưng tôi không lấy làm phiền, vì vô tình tôi khoác lác mấy câu, vậy mà cũng thuyết phục được Jannet bỏ hút thuốc… À, đây cũng là một trong những chuyện toàn cầu hoá, phải không.
Ai đã sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, hoặc đã từng ghé lại đây đôi lần, đều không quên bài hát dễ thương này, mà cả một thời gian gần hai thập niên, đài phát thanh Nha Trang đã dùng làm nhạc hiệu mở đầu.
Cuối tháng 3/75, Nha Trang bị nhận chìm trong làn sóng đỏ. Người Nha Trang đã cùng chịu chung số phận. Kẻ bị giết, người bị tù đày, gia đình, bè bạn, thầy trò, chia ly tan tác. Số phận của nhạc sĩ Minh Kỳ, tác giả bài hát này (cùng nhiều bản nhạc về Nha Trang khác nữa) cũng đã gắn liền với định mệnh đau thương của thành phố mà ông đã được sinh ra, hết lòng yêu thương và đã gởi trọn lòng mình qua những dòng nhạc thiết tha trìu mến đó. Ông đã bị giết. Cái chết thê thảm và oan khuất của ông có lẽ được ít người Nha Trang, – dù còn ở trên quê nhà, hay tha phuơng khắp chốn – biết đến
Người viết bài này, có cái cơ duyên được ở chung cùng một trại tù với ông, và cũng đã được tâm sự cùng ông một vài ngày trước khi ông chết.
Đầu tháng 3/75, sau khi Ban Mê Thuột mất, những đơn vị từng sống chết với Cao Nguyên có lệnh triệt thoái. Tôi theo đơn vị, chỉ còn một phần tư quân số, lần lượt “di tản chiến thuật” vào Cam Ranh, rồi Vũng Tàu để tái tổ chức, trước khi tham dự những trận đánh cuối cùng “cô đơn và buồn tẻ” ở những địa danh xa lạ: Cần Giuộc, Bến Lức, thuộc tỉnh Long An, ngăn bước chân địch quân đang ồ ạt kéo về vây hãm Sài Gòn.
Ngày 28/4/75, tôi và cả vợ con, theo lời hẹn của người bạn chí thân, là SQ Hải Quân, có mặt tại Bến Bạch Đằng. Nhưng đến giờ chót, trước sự ngỡ ngàng và tức giận của người bạn có lòng, tôi quyết định không cùng vợ chồng anh ấy xuống tàu di tản. Có lẽ anh không hiểu được là tôi cũng đã khổ tâm biết dường nào để có cái quyết định “sống chết” ấy, mặc dù tôi biết trước là rồi tôi cũng phải trả một cái giá, chắc không nhỏ. Tôi không đành lòng bỏ lại những đồng đội đã theo tôi từ những quê quán miền Trung, mà giờ đây đã trở nên xa tít mịt mờ trong tay giặc, và nhất là cha tôi, người cha đã làm gà trống nuôi con từ lúc tôi mới lên ba, mà tôi được tin là ông đã bị bắt và đang bị giam giữ ở đâu đó ngoài Nha-Trang. Tôi không thể xa ông trong hoàn cảnh khốn cùng này.
Điều đáng ân hận nhất là, dù ở lại để chấp nhận mọi điều, nhưng tôi cũng không bao giờ có cơ hội gặp lại cha tôi. Ông đã chết trong trại cải tạo Đá Bàn, cuối tháng 6/76, và đúng ngay vào cái đêm tôi bị chở bằng xe “bịt bùng” từ trại tù An Dưỡng Biên Hòa ra bến Tân Cảng để xuống tàu Sông Hương ra Bắc. Mãi gần năm năm sau tôi mới nhận đuợc tin buồn.
Trại tù An Dưỡng Biên Hòa, cũng chính là nơi tôi đã gặp nhạc sĩ Minh Kỳ, và đã tâm tình cùng ông một ngày trước khi ông chết.
Tôi trình diện tại Trường Đại Học Kiến Trúc, bị đưa lên nhốt tại trại tù binh Tam Hiệp. Một tháng sau được chuyển đến trại tù An Dưỡng Biên Hòa, nằm bên cạnh phi trường quân sự Biên Hòa. Trại An Dưỡng này, trước là một khu quân sự, về sau đuợc chỉnh trang lại để tiếp nhận những quân nhân tù binh của ta được miền Bắc trao trả theo hiệp định Paris. Họ được nghỉ ngơi, bồi dưỡng cả sức khỏe lẫn tinh thần ở trại An Dưỡng này trước khi trở về đơn vị cũ và gia đình.
Đến trại này, tôi gặp những anh em ở đây từ trước cùng một số mới đuợc chuyển từ các trại khác tới. Gồm đủ các quân binh chủng, kể cả những sĩ quan biệt phái về các Bộ, và Cảnh Sát. Trong số này có nhạc sĩ Minh Kỳ. Tôi ở Nhà 1, còn anh Minh Kỳ ở Nhà 3 (?), cách nhau khu nhà bếp (gọi là hậu cần).
Cũng như những người Nha Trang khác, lớn lên vào những năm giữa thập niên 50, đầu thập niên 60, tôi thuộc lòng những bài hát Nha Trang của nhạc sĩ Minh Kỳ, nhưng chưa hề biết tên thật và cũng chưa được hân hạnh gặp ông. Trong Nhà 1, tôi nằm bên cạnh hai anh bạn tù lớn tuổi hơn tôi. Một anh từ Trường Chỉ Huy Tham Mưu, một anh làm ở Nha Quân Pháp.
Hai anh này rất tốt bụng và vui tính, có quen biết nhạc sĩ Minh Kỳ. Biết tôi là dân Nha Trang, nên có lần anh đã giới thiệu tôi với anh Minh Kỳ.
Nhạc sĩ Minh Kỳ lớn tuổi hơn tôi nhiều, nên tôi gọi ông bằng Anh và xưng em.. Có lẽ bản tính của anh vốn thầm lặng, ít nói, và đặc biệt trong hoàn cảnh như vừa trải qua cơn ác mộng, chưa biết ngày mai sẽ ra sao này, anh lại càng ít nói hơn. Gặp anh vài ba lần, tôi chỉ nói lên lòng hâm mộ của tôi về những bài hát Nha Trang, mà với tôi bây giờ nó lại là những kỷ niệm vô giá. Anh thường chỉ trả lời tôi bằng một nụ cười buồn.
Một đêm, cuối tháng 8/75 (31/08/75?),vào khoảng 09:30 tối, cả trại tù đang chìm trong bóng đêm với cả ngàn người tù đang nằm thao thức, bởi tâm tư còn nặng trĩu lo âu, đang chờ đợi những điều bất trắc nào đó sẽ đến với số phận mình, bỗng một tiếng nổ long trời kèm theo những tiếng la thất thanh, và rồi tiếng còi báo động, tiếng chát chúa trên loa phóng thanh, lệnh cho tất cả “cải tạo viên” nằm yên tại vị trí, kẻ nào bước ra khỏi nhà sẽ bị bắn tại chỗ.
Khi đám tù chúng tôi chưa hết hoang mang, thì tiếng xích sắt xe tăng T 54 tràn vào trại rít lên từng chặp, chia nhau bao vây từng căn nhà. Hằng loạt bộ đội, súng gắn lưỡi lê, mặt tên nào cũng đằng đằng sát khí túa vào từng nhà, kéo cơ bẩm lên đạn, quát tháo chúng tôi đứng dậy ngay tại chỗ, hai tay để trên đầu. Tôi có cảm giác là chúng tôi sắp bị xử tử…
Chúng tôi đứng bất động như vậy cho đến gần 10 giờ trưa. Nhìn qua khe cửa, tôi thấy mấy anh em tù ở nhà 3 khiêng một số người bị thương lên bệnh xá.
Cả ngày sau, tất cả tù đều không được ra khỏi nhà, ngoại trừ đi ra cầu tiêu và ở đó cũng có đầy lính gác. Sau đó, đúng vào ngày 2 tháng 9, Quốc khánh của VC, tất cả chúng tôi được đưa lên hội trường. Ngồi chễm chệ trên dãy bàn trước mặt chúng tôi là những “thủ trưởng” không mang quân hàm, nên chúng tôi cũng chẳng biết họ là ai. Chúng tôi bị “nghiêm khắc” cảnh cáo là “có bọn phản động trong các anh đã dấu diếm vũ khí, mang lựu đạn Mỹ vào để nhằm phá hoại thành quả kách mệnh” (!). Sau đó chúng tôi làm “bản tự khai tội ác” và bắt đầu bài học số 1, “Đế Quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”.
Khi ấy chúng tôi mới biết tiếng nổ tối hôm ấy đã xảy ra tại Nhà 3, làm chết và bị thương khá nhiều. Mọi dấu tích đã được thu dọn sạch sẽ, như chưa hề có việc gì xảy ra.
Có điều cái “sự cố” thảm khốc ấy, không phải như lời “lên lớp” hù dọa của mấy ông thủ trưởng, bởi một điều rất dễ hiểu là ngay từ lúc vào trại cho đến bây giờ, đã qua hằng trăm lần kiểm soát, vã lại hành trang mang theo của mỗi người tù đâu có cái gì, ngoài hai bộ áo quần, cái khăn lau mặt và bàn chải đánh răng. Tiền bạc và tư trang khác đã được “kách mạng” giữ hộ ngay sau khi nhập trại. Vậy thì một trái lựu đạn có phép màu nào lọt vào trong trại. Điều quan trọng hơn, là nếu người tù nào dám liều mạng mang đuợc lựu đạn vào trại thì cũng chỉ nhằm mục đích giết kẻ thù chứ sao lại giết chết bao nhiêu bè bạn của mình?
Những câu hỏi đó đã có sự trả lời chính xác ngay sau đó. Một số bạn tù ở Nhà 3 và Nhà kế bên kể lại như sau:
Nhà 3 (chứa khoảng 80 tù nhân, đa số là SQ Cảnh Sát) nằm đối diện ngay trước Khu Trực Ban và Nhà Vệ Binh của Trại, chỉ cách nhau chừng hơn năm mét và một hàng rào kẻm gai. Khi ấy tổ của nhạc sĩ Minh Kỳ đang họp để phân công nấu bếp vào ngày mai, thì một quả lựu đạn được quăng vào vách tôn ngay phía sau làm 3 người chết tại chỗ và khoảng 8 người bị thương. Nhạc sĩ Minh Kỳ bị thương rất nặng, được anh em tù khiêng lên bệnh xá cùng với những anh em bị thương khác. Ông bị thương ở ngực, bụng và cổ rất nặng. Biết mình sắp chết nên trăn trối với những bạn tù:
– Tụi mày về nói với vợ tao ráng nuôi con tao, chắc tao không sống được.
Sau đó máu ở ngực và cổ chảy ra lênh láng. Ông vừa la vừa rên:
– Sao chân lạnh quá!
– Lạnh quá! Sao bụng tao lạnh quá! Sao ngực tao lạnh quá!
Ông chết từ từ, chết từ chân đến bụng rồi đến ngực cho đến lúc tắt thở. Một cái chết mà chính Ông cảm nhận được, biết được nó đến với mình từng phút từng giây.
Sáng sớm hôm sau, anh em bạn tù, với sự giám sát của toán vệ binh VC, đem chôn các bạn tù vắn số của mình trên một mảnh rừng bên ngoài vòng đai phi trường quân sự Biên Hòa.
Ai cũng biết là trái lựu đạn giết chết nhạc sĩ Minh Kỳ cùng những người bạn tù khác, là do chính bọn VC quăng từ khu trực ban của Trại phía bên kia hàng rào.
(Có một số Sĩ Quan ngành đạn dược còn cho là tiếng nổ ấy có thể là tiếng nổ của đạn B40 hay B41, có sức tàn phá còn hơn cả lựu đạn).
Và cũng sau ngày ấy, chúng tôi phải chịu một trò chơi trả thù ác độc từ phía những người chiến thắng. Mỗi ngày chia nhau đi gỡ các bãi mìn trong hàng rào phi trường quân sự Biên Hòa.
Họ đã bày ra cái trò giết người dấu tay ở Nhà 3, để rồi lại lấy đó làm lý do giết tiếp những người còn lại bằng cái trò chơi đẫm máu “gỡ mìn” này.
Những bãi mìn này do Công Binh của ta thiết lập chằng chịt dọc theo hệ thống phòng thủ phi trường. Bây giờ, không có sơ đồ những bãi mìn, chúng tôi lại là những người không chuyên môn về mìn bẫy, có nhiều anh em giữ các chức vụ tham mưu, hay đuợc biệt phái về các bộ khác, chưa hề thấy lại quả mìn sau ngày rời khỏi quân trường. Vậy mà bây giờ phải tham dự cái trò chơi bất nhân này. Ngày nào cũng có mìn phát nổ, người chết, vài người mất tay, mất chân, nhưng vẫn không làm giao động được tấm lòng của những người “ kách mạng!”.
Và cũng chính nhờ được cắt cử đi đào huyệt chôn một người bạn tù chết mìn, sớm trả “nợ máu” sau ngày miền Nam “giải phóng” này, đám chúng tôi mới phát hiện dược bốn ngôi mộ mới đã nằm sẳn tại “nghĩa trang” vô danh trong một mảnh rừng hoang. Trước mỗi ngôi mộ đuợc đắp đất sơ sài đó có cái bia làm bằng một mảnh gổ nhỏ. Bọn chúng tôi lén đọc tên trên từng tấm bia viết bằng sơn đỏ, trong đó có tên Vĩnh My (Vĩnh Mỹ?). Đó chính là tên trong khai sinh của nhạc sĩ Minh Kỳ (Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ). Dưới sự canh gác nghiêm ngặt của đám vệ binh, tôi chẳng biết làm gì khác hơn là khi đi ngang trước mộ anh để trở về trại, chắp hai tay trước ngực và cúi đầu tưởng niệm anh cùng những bạn bè xấu số đã chết tức tưởi cùng anh.
Lòng tôi nhói lên đau đớn như vừa bị một nhát chém hư vô nào đó. Trong tôi vừa mới mất thêm một điều gì, mà với tôi nó trở thành thiêng liêng hơn là kỷ niệm. Nhiều đêm sau đó tôi trằn trọc cả đêm không ngủ. Dư âm những bài hát NhaTrang của anh lúc nào cũng văng vẳng bên tai tôi. Tâm tư lúc nào cũng mơ màng đến thành phố Nha Trang, đến ngôi trường Võ Tánh, nhớ da diết những kỷ niệm ấu thơ, của những ngày đi học, và hình dung đến từng khuôn mặt bè bạn thân quen… Cũng mới đây thôi, mà bây giờ tưởng chừng như đã là một quá khứ thật xa xăm, mơ hồ như kiếp trước.
Ba mươi năm chiến tranh trên quê hương đã đem lại biết bao điều bi thảm. Vậy mà sau khi chiến tranh chấm dứt lại còn nhiều bi thảm hơn. Cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ cũng chỉ là một trong hàng vạn, hàng triệu điều oan khiên bi thảm đó. Nhưng chúng ta xót xa và nhớ đến nhạc sĩ Minh Kỳ, bởi chính vì ông là một nghệ sĩ, một người đã sống và cống hiến cho đời bằng chính trái tim mình. Đặc biệt với những người Nha Trang và những người yêu Nha Trang, đã mang ơn Ông vì Ông đã cho chúng ta những dòng nhạc biểu tượng của quê nhà, mà chúng ta sẽ mang theo dư âm tiếng hát cho đến suốt cuộc đời.
Với tôi, những đau đớn này cứ tưởng chỉ chôn chặt trong lòng, không ngờ sau khi xem chương trình nhạc Lê-Dinh trên Thúy Nga Paris trước đây, trong đó nhạc sĩ Lê-Dinh có nhắc tới cái chết của nhạc sĩ Minh Kỳ, và mới đây là chương trình Huyền Thoại Lê Minh Bằng trên Asia, đã làm tôi nhớ thật nhiều đến cái chết của Ông và ngồi xuống viết lại những dòng này.
Xin được thay một nén hương lòng đốt lên cho một người đồng hương, đồng tù, bỏ bạn bè ra đi bằng một cái chết thảm thương, oan khuất… Cũng để được nói lên lòng tiếc thương một nhạc sĩ tài hoa đã làm Nha Trang sống mãi trong lòng người. Và nếu được phép, xin gởi một lời chia buồn thật muộn màng nhưng với trọn tấm lòng đến gia đình Ông.
Bắc Âu, một ngày không có mặt trời
Phạm Tín An Ninh
Lời thưa của tác giả: Vì thời gian đã khá lâu, nên có thể một số chi tiết không còn nhớ rõ. Bạn nào biết chính xác, xin bổ sung, để tài liệu này có giá trị hơn. Xin đa tạ.
Kỳ trước: Những ngày sau đó, căn cứ Pleime bị siết chặt vây hãm, những đơn vị bạn cứu viện bị chận đánh từ xa. Thiếu lương thực, những chốt tiền đồn đành rút bỏ. Hai chiếc trực thăng của Đại tá Từ Vấn bay vào tiếp tế cho trại nhưng 2 món quà thuốc lá và rượu thì bị lọt ra ngoài vòng đai hàng rào căn cứ.
Kỳ 7
Ðêm ấy gió theo hướng Ðông Tây. Những người trấn thủ mặt Ðông của trại, đều ngửi thấy mùi thuốc lá thơm bay trong gió! Thùng thuốc lá tiếp tế của Ðại tá Từ Vấn đã rơi ngay giữa đội hình của Trung Ðoàn 48 Sư Ðoàn 320A Cộng Sản Bắc-Việt!
Trong những ngày sau tôi không được thông báo tin tức gì liên quan đến các hoạt động của quân bạn, nhưng trên máy thu thanh thì đài BBC loan báo nhiều đơn vị tác chiến Việt-Nam Cộng-Hòa đang được điều động từ Ban Mê Thuột lên Pleiku để tăng viện cho quân trú phòng ở Pleime.
Tin tức này làm cho tinh thần tôi thêm phấn chấn, vì thấy Tướng Nguyễn Văn Toàn tiếp tục tung thêm quân vào trận địa thì tôi chỉ cần cố gắng gồng mình chịu đựng ít lâu nữa, sứ mạng của Tướng Toàn sẽ hoàn thành, đem chiến thắng đặt trên bàn hội nghị xin thêm viện trợ.
Từ Căn cứ Hỏa lực 711 qua tần số của máy truyền tin PRC 74 có một phóng viên chiến trường của nhật báo Trắng Ðen xin gặp tôi để phỏng vấn.
Hôm đó anh phóng viên đã được tận tai nghe người chỉ huy Pleime kể lại chi tiết diễn tiến trong gần hai tuần lễ ác chiến giữa một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân Biên Phòng và hai trung đoàn thiện chiến bậc nhất của quân đội Bắc Việt.
Anh ký giả này nài nỉ tôi cho phép anh ta đáp xuống Pleime, ở lại đây cho hết thời gian chiến dịch, hầu có tin tức sốt dẻo hằng ngày gửi về Sài-Gòn.
Tôi cũng rất ngưỡng mộ sự can đảm của anh ký giả, đồng thời đáp lại sự đam mê của người bạn mới quen ấy, tôi vui vẻ nhận lời cho anh vào cùng Biệt Ðộng Quân chung lưng đội pháo, núp đạn, lặn ngụp trong giao thông hào ít lâu cho biết.
Tiếc thay anh bạn nhà báo này chờ cả tuần lễ mà không ai cấp phương tiện cho anh ta vào trại. Cũng thời gian này, mặt trận Thường Ðức bắt đầu bùng nổ. Anh phóng viên báo Trắng Ðen được lệnh bay ra Ðà-Nẵng lấy tin. Ít lâu sau tôi nghe tin anh bạn này đã tử thương. Trực thăng chở anh trên đường vào trại Thường-Ðức đã bị Cộng Quân bắn hạ.
Ngày xưa, trên các mục phân ưu đăng trên báo chí hằng ngày, người ta thường đọc được những tin chia buồn, tiếc thương các quân nhân đền nợ nước.
Lần đầu người ta đọc được lời phân ưu của một Thiếu Tá Biệt Ðộng Quân và toàn thể quân nhân các cấp dưới quyền ông gửi lời thương tiếc một ký giả Nhật Báo Trắng Ðen vừa bỏ mình trên chiến địa.
Chợt một hôm, liên đoàn báo cho tôi hay rằng, trong ngày hôm đó sẽ có một cánh quân của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh tiến vào bắt tay với Pleime.
Hôm đó trời nắng và không có trận pháo kích rạng đông như thường nhật của địch quân.
Tôi leo lên chòi canh, đảo mắt quan sát một vòng quanh trại. Hầu như không một thước đất nào không có dấu đạn, đạn cối của ta chen lẫn đạn pháo cối của địch quân. Xác Cộng Quân còn nằm phơi đầy trong rừng lau sậy ngoài rào. Trong gió, vang vang tiếng “Quang quác!…” của loài quạ đen đang gọi bạn.
Xa xa về hướng Ðông Bắc có nhiều cụm khói trắng ngùn ngụt bốc lên, rõ ràng một đơn vị di chuyển bộ đang có mặt trong vùng. Tôi nghĩ đoàn quân đang đi tới là Trung Ðoàn 53 Bộ Binh; có lẽ họ đang đốt lửa để nấu cơm, hay hong khô quần áo.
Họ còn cách tôi chừng ba hay bốn cây số đường chim bay.
Trong máy PRC 25 của tôi bỗng có tiếng quân bạn gọi:
“Thái Sơn đây Thanh Dương! Nghe được trả lời?”
Tôi đã được thông báo “Thanh Dương” là danh xưng truyền tin của Thiếu tá Nguyễn Dương Lâm, người chỉ huy hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 Bộ Binh đang tiến vào.
Tôi vội trả lời,
– Thái Sơn nghe Thanh Dương!
Thiếu tá Lâm nói:
– Báo cho Cùi 20 hay, kỳ này anh dẫn theo một thằng em Cùi 21 tiếp tay cho chú. Ba anh em mình chung lưng thì không thằng Vi Xi (Việt Cộng) nào địch nổi. Chú Nhẫn 21 cũng là dân Ðại đội B, Thái Sơn có nhớ ra hắn ta không?
Dứt lời anh Lâm cười khà khà vui vẻ. (Cùi=danh từ dùng để gọi những sĩ quan xuất thân trường Võ Bị từ khóa 16 trở về sau)
Tôi cũng cười theo anh,
– Nhớ chứ! Anh ra trường thì chú Nhẫn nhập trường. Anh và chú Nhẫn ở Trung đội 5, còn tôi ở Trung đội 6.
Tiếp đó là tiếng Thiếu tá Cao Mạnh Nhẫn, người chỉ huy Tiểu đoàn 3/53 đi chung với bộ chỉ huy nhẹ của Thiếu tá Lâm,
– Thái Sơn ơi! Hồi đó các ông khóa 20 “quần” tụi tôi mệt muốn chết luôn!
Tôi vui vẻ đáp,
– Ðừng than van nữa! Các hung thần khóa 19 cũng quay tụi này như quay dế! Có thế anh em mình mới nên người!
Chúng tôi, ba người đang có mặt trong trận Pleime này cùng xuất thân từ Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan của trường Võ Bị, với ba khóa kế tiếp nhau, Nguyễn Dương Lâm khóa 19, Vương Mộng Long khóa 20 và Cao Mạnh Nhẫn khóa 21.
Trận Pleime 1974 – Công đồn đả viện
Chú Nhẫn la oang oang,
– Tôi còn cách niên trưởng chừng ba “click” nữa. Tình hình yên tĩnh như đi nghỉ mát! Hai ngày nay tui tìm hoài mà chẳng thấy thằng Vi Xi nào cả! (Click=Cây số)
Thấy một ông đàn anh và một ông đàn em chuyện trò thực vô tư, hồn nhiên, tôi cũng cảm thấy vững tâm, hy vọng họ sớm bắt tay với đơn vị mình.
Nhìn vào những cụm khói trắng bao phủ một vùng phía xa xa, tôi đoán chắc hai tiểu đoàn của quân bạn đang dừng quân trên vùng bình nguyên Bắc suối Lé. Ðịa thế ở đây là đồng tranh, xen kẽ cỏ lau cùng những cụm tre gai thấp, cách nhau vài chục mét.
Ðất của vùng này rất mềm, có thể dùng tay không mà moi, chỉ một lúc sau đã có cái hố cá nhân. Có điều mạch nước cũng nhiều, hố vừa moi xong, vài phút sau đã đầy nước, đất xung quanh hố sụp xuống, thế là cái hố trở thành một vũng nước.
Nếu phải đánh nhau trong vùng này, cách tốt nhất là ào xuống suối, bám bờ suối mà chiến đấu. Tôi nghĩ, đoàn quân tăng viện đi lồ lộ thênh thang như thế đã hai ngày mà chưa xảy ra biến cố gì thì có thể địch đã rút lui rồi. Tôi cũng đang cầu mong địch đừng đánh nữa. Nhưng hôm nay sao tình hình yên ắng quá! Mà tình hình càng yên tĩnh lại càng đáng sợ.
Tôi biết chắc chắn rằng từ mùa Hè năm 1972, ở xứ Tây Nguyên này Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản là một địch thủ mà bất cứ ai cũng không thể coi thường.
Kỳ này mục đích của Sư Ðoàn 320A là xóa sổ trại Pleime. Pleime còn đứng vững, chưa chắc gì chúng đã chịu bỏ dở mục tiêu nửa chừng. Tôi nghĩ, nếu bị địch tập kích từ hướng Tây thì hai tiểu đoàn của Trung Ðoàn 53 chỉ có một con đường thoát hiểm là chạy thẳng về hướng Ðông Nam, chỉ có vùng đó là không có địch.
Tôi định góp ý với hai vị sĩ quan đồng môn, khuyên họ nên cẩn thận đề phòng, nhưng e ngại sẽ đụng chạm tới tự ái của họ.
Tôi nhỏ nhẹ,
– Hai vị nhớ cẩn thận! Nếu có chuyện gì thì gắng giữ hướng hai ngàn bốn trăm ly giác!
Lợi dụng buổi trời trong, tôi dùng ống nhòm để quan sát những vạt rừng phía ngoài xa. Có một chiếc quan sát cơ đang bay vòng vòng trên vùng cách Pleime chừng năm cây số. Có lẽ cái máy bay thám thính này đang yểm trợ cho cánh quân của niên trưởng Nguyễn Dương Lâm. Ðột nhiên tai tôi nghe “Ùm! Ùm! Ùm!” tiếng pháo địch “depart” liên tiếp rộ lên từ biên giới Việt-Miên.
Trong đồn Pleime kẻng báo động khua vang, mọi người chui vào hàm ếch. Tôi vẫn còn trên chòi canh. Tôi đã thấy những đụn khói đen cuồn cuộn bốc lên trong rừng khói trắng! Những trái đạn đại bác 122 ly nòng dài bay nhanh hơn những viên cối bắn cầu vồng. Khói đen đang bốc lên là do những viên 122 ly vừa chạm đất.
Ðoàn quân bạn đang trên đường tiếp viện cho tôi bắt đầu nếm mùi mưa trái phá! Trong thời gian dài chừng nửa giờ, ước lượng hàng ngàn quả đạn 122 ly, 105 ly, 120 ly, và 82 ly đã rơi trên ngọn đồi lá thấp chỉ có tre gai và cỏ tranh.
Khi hai đợt pháo tập trung đánh trên khoảng rừng có diện tích chưa đầy hai cây số vuông vừa ngừng, thì tôi bắt đầu nghe vọng lại tiếng súng tay nổ rền.
Cùng lúc đó hàng chục khẩu phòng không nhả đạn nhắm vào chiếc thám sát cơ. Không rõ chiếc máy bay có bị trúng đạn hay không, mà sau đó tôi không còn thấy bóng dáng nó nữa.
Trong máy PRC 25 tôi nghe Cao Mạnh Nhẫn hoảng hốt,
– Thái Sơn ơi! Nguy quá! Biết làm sao đây?
Tôi gào lên,
– Hai ngàn bốn trăm ly giác! Chạy mau! Hai ngàn bốn trăm ly giác!
Trong ống nghe, tôi thấy Nhẫn lặp lại, y chang, chắc là chú ấy đang ra lệnh cho đơn vị dưới quyền:
“Hướng hai ngàn tư! Chạy mau!”
Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đang thực hành chiến thuật “Bôn tập tập kích” sở trường của họ! Cánh quân đang trên đường tiếp cứu Pleime chưa phải là địch thủ ngang cơ của Sư Ðoàn Cộng-Sản này!
Lúc này Căn cứ 711 đang bị pháo kích, các pháo thủ mắc bận phản pháo. Pháo binh ngoài Phú Nhơn ở quá xa, với không tới khu vực giao tranh, nên muốn giúp quân bạn, tôi chỉ còn cách dùng khẩu 105 cơ hữu của mình bắn một tuyến dài dọc theo Tỉnh lộ để ngăn địch.
Chờ một hồi lâu, tôi không nghe thêm tiếng nói nào của người đàn em khóa 21 là Cao Mạnh Nhẫn. Tôi cũng không nghe được tiếng nói nào của người niên trưởng khóa 19 là Nguyễn Dương Lâm.
Cho tới ngày chiến dịch tàn, tôi mới biết niên trưởng Nguyễn Dương Lâm đã chết và bị bỏ xác tại chiến trường.
Trong khi đó, cấp chỉ huy của anh Lâm thì đóng quân ở ngoài ngã ba Mỹ Thạch, trên Quốc lộ 14, cách xa nơi anh Lâm tử trận một đoạn đường dài gần hai mươi cây số! Chiều hôm đó Pleime lại bị pháo, trận pháo kích dài khoảng một giờ. Không ai ngồi đếm có bao nhiêu trái đạn đã rơi trên đầu chúng tôi, thôi thì cứ báo cáo là hàng trăm trái.
Không lâu sau là trận mưa truyền đơn, kêu gọi Biệt Ðộng Quân buông súng đầu hàng. Tiếp đó, hướng Tây, nơi những liều Bangalore đã mở ra con đường dẫn tới khu đất trống giữa hai lớp rào cũ và mới hứng chịu đợt xung phong thứ mười hai! Lần này có vài cán binh Việt-Cộng mang theo những tấm ván để làm thang.
Chỉ sau mười phút, đợt xung phong đã bị bẻ gãy vì thang ván của địch không đủ dài, địch rơi xuống đất, dưới đất là bãi mìn của Công Binh. Có những cán binh Cộng Sản vừa bị bắn ngã, thân mình đè trên một quả mìn, quả mìn nổ, thân xác anh ta liền banh ra thành nhiều mảnh.
Ðứng trên nóc Pháo đài số 5, tôi thấy thấp thoáng bóng người chạy qua, chạy lại trong đám lau sậy nơi khoảng đất trống giữa hai hệ thống hàng rào cũ và mới. Lúc khẩu đại liên tạm ngừng để thay dây đạn mới, tôi nghe tiếng bọn Việt-Cộng gọi nhau,
“Ðồng chí Quang! Ðừng lên nữa! Còn rào!”
Cùng tiếng kêu la,
“Chết tôi! Á! A! A! Mẹ ơi!” lẫn trong tiếng mìn và lựu đạn gài vừa phát nổ “Ùm! Ùm! Ùm! Oành! Oành! Oành!”
Dưới chân pháo đài, đang lúc hứng chí, hai anh xạ thủ phóng lựu M79 của Ðại đội 2/81 vừa bóp cò vừa la oang oang “Biệt Ðộng Quân! Sát!” – “Biệt Ðộng Quân! Sát!” Khẩu đại liên 30 trong Pháo đài số 5 lại tiếp tục nổ giòn. Mãi tới khi Trung úy Song và Thiếu úy Phước phải gào lên “Thôi bắn! Thôi bắn!” thì tiếng súng mới im.
Hôm đó về phần “đả viện” thì địch đã thành công, nhưng về mặt “công đồn” thì chúng đã thảm bại. Những ngày sau địch gia tăng pháo kích ban ngày, ban đêm liên tục dùng Bangalore phá rào. Có ít nhất là bốn cửa khẩu có chiều ngang cỡ hai thước đã bị bộc phá của địch mở xuyên qua 6 lớp hàng rào ngoài. Cho tới nay thì 6 lớp rào trong vẫn chưa bị suy suyển.
Vì ngày nào cũng thấy cảnh vật xung quanh, nên vừa phát giác những cụm đất đỏ mới xuất hiện trên mặt đất sát vườn rau, lính gác cổng Bắc biết ngay đó là đường hầm do Ðặc-Công Việt-Cộng vừa tạo thành, nên lập tức nổ súng báo động ngay. Chỉ vài chục phút sau thì đường hầm này đã bị lấp kín và bị gài vài trái lựu đạn M26. Cao Nguyên đang giữa mùa mưa, hôm trước trời trong, mây cao, chỉ qua một đêm trời đã âm u xám xịt, với những trận mưa giông, mưa nguồn. Trong mưa tháng Tám, hàng ngày, trên tiền đồn biên phòng Pleime còn thêm những cơn mưa đạn cối 120 ly, 105 ly, 82 ly. Ðặc biệt trong chiến dịch này, địch đã sử dụng truyền đơn như một loại vũ khí.
Những quả đạn cối 82 ly nổ cao bung ra từng chùm truyền đơn nhìn như những lọn pháo bông đêm hoa đăng. Buổi sáng là loạt truyền đơn đầu in những giòng chữ êm ái, bao dung, tình người thắm thiết:
“Hỡi các chiến binh Ngụy Sài-Gòn! Các anh mau mau bỏ súng quay về với nhân dân! Nhân dân đang dang tay chờ đón các anh! Hỡi những người con lạc đường! Hãy quay về với Tổ Quốc về với đồng bào!”
Buổi chiều sau đợt pháo kích hàng trăm viên 122 ly, 120 ly, 105 ly, 82 ly, thì truyền đơn lại mang giòng chữ đọc lên nghe mà ớn:
“Hàng sống! Chống chết! Tất cả Ngụy quân đồn trú phải buông súng đầu hàng ngay! Nếu không, các anh sẽ bị tiêu diệt!”
“Hãy kéo cờ trắng! Mở cổng đồn! Ngồi lại tập trung trước sân cờ chờ Quân Giải Phóng vào tiếp thu! Hàng sống! Chống chết!”
“Tất cả các chiến sĩ đầu hàng sẽ được đối xử tử tế và phong danh hiệu anh hùng! Hãy quay súng bắn chết tên chỉ huy rồi mở cổng trại đầu hàng ngay!”
Mỗi lần pháo truyền đơn, có ít nhất 4 khẩu 82 ly nhả đạn từ hai vị trí chính Bắc và chính Tây. Truyền đơn đã phủ đầy mặt đất từ trung tâm trại, ra tới hàng rào ngoài. Truyền đơn rải khắp nơi, trắng xóa! Tôi biết có vài người lén cất kín trong túi mấy tờ truyền đơn của địch, nhưng tôi cứ lơ đi như không thấy!
Hầu như đêm nào tôi cũng chỉ chợp mắt được vài chục phút. Ði đâu tôi cũng phải dẫn theo Thiếu úy Phước và một toán cận vệ. Tôi không sợ trong đồn có nội tuyến, nhưng tôi sợ những tờ truyền đơn làm tinh thần người lính hoang mang. Cái đói và cái sợ có thể làm cho con người ta mất lòng tin mà làm bậy. Một buổi tối Thiếu úy Phước thì thầm,
-Thái Sơn ơi! Có ông Thượng sĩ người Thượng vừa dẫn hai thằng lính chui rào trốn đi rồi!
Ông Thượng sĩ Y Ban Nier và hai anh lính người Kinh của Ðại đội 1/82 đã theo đường giao thông hào nơi cổng Bắc, chui ra khỏi rào tìm đường ra Quận Phú-Nhơn. Ba ngày sau toán tuần tra cổng Bắc phát giác xác ông Thượng sĩ Ban và hai anh lính đã bị Việt-Cộng bắn chết ở đâu đó rồi bị kéo về phơi trên con dốc dẫn vào vườn rau để đe dọa những người còn tử thủ trong căn cứ. Có thể trên đường trốn chạy, toán ba người lính đào ngũ này đã bị Việt-Cộng phát giác rồi bắn chết.
“Tứ Phương Vô Sự” thuộc quần thể Đại nội, cố đô Huế, được các vua Nguyễn xây trên mặt thành phía Bắc, có cửa ra mang tên Hòa Bình để nhà Vua những lúc rổi rảnh không cần nhọc công vi hành ra ngoài dân dã, đứng từ ngôi lầu này có thể quan sát cả một vùng đất rộng lớn ngoài cung cấm, nhìn sự sinh hoạt đi lại của người dân, mà mong rằng, bốn phương không có sự gì xẩy ra. Lầu “Tứ Phương Vô Sự” cũng như tên cửa “Hòa Bình” chính là điều mong muốn của nhà lãnh đạo quốc gia mong cho (bốn phương) đất nước được an bình, thịnh trị. Thật ra chúng tôi không lấy gì làm ngạc nhiên khi nghe tin di tích này trở thành quán cà phê cho du khách để kiếm lợi. Nói kiếm lợi không phải là nói oan, vì đây là một mưu mô có tính toán của tập thể những kẻ cầm quyền ở Huế, sau khi đã bỏ ra khoảng 45,000 đô la (ngân khoản của UNESCO) sơn sửa, trùng tu để sau đó lại cho một nhân viên phe cánh cùng cơ quan, thuộc Trung Tâm Bảo Tồn Di Tích (!) “bảo tồn” bằng cách bỏ thầu 10,000 đô la mỗi năm để khai thác. Để có lợi nhuận chia chác với các “giới chức văn hóa” có trách nhiệm, đương nhiên quán cà phê phải khai thác kiểu “phi văn hóa” cho đông khách. Không ngạc nhiên vì từ năm 1982, khi đi tù về, có cơ hội trở lại Huế, chúng tôi đã thấy đàn Nam Giao là nơi triểu Nguyễn lập ra để tế lễ Trời Đất đã bị các đảng viên vô văn hóa ở Huế “lấy điểm” với trung ương Hà Nội, biến thành bia “Tổ Quốc Ghi Công” liệt sĩ Cộng Sản.
Nếu không có sự can thiệp của cơ quan UNESCO Liên Hiệp Quốc, thì khu vực thiêng liêng này, ngày nay chưa chừng đã thành khách sạn hay nhà nghỉ cao cấp của Trung Ương Đảng, vì đàn Nam Giao là một đặc điểm đặc biệt, từ đây, gạch một trục thẳng vào điện Thái Hòa, Đại Nội sẽ qua đường Nam Giao, song Hương, Phú Văn Lâu, Kỳ Đài và Ngọ Môn. Thời gian 1980, Ty Văn Hóa đã dùng tầng trệt của cửa Ngọ Môn làm rạp chiếu phim Liên Xô- Tiệp Khắc, lấy tiền để “cải thiện”. Mười năm trước đây, chính quyền Huế đã có dự án cho xây khách sạn trên đồi Vọng Cảnh (Belvédère) là một ngọn đồi rất đẹp, đứng nơi đây có thể nhìn được cảnh non nước hữu tình của dòng sông Hương. Nếu không có sự phản ứng mạnh mẽ của quần chúng, truyền thông và những người còn tâm huyết với văn hóa, thì bọn trục lợi (có làm có ăn) của Huế đã phá tan nát một quang cảnh thiên nhiên hiếm quý của đất nước.
Trong toàn bộ cung cách “vô văn hóa” như vậy, nên những nhà làm phim (cũng là văn hóa), thay vì phải dựng phim trường sau khi nghiên cứu trang phục, kiến trúc, phong tục … của thời đại lịch sử của chuyện phim, thì lại dễ dãi vay mượn các di tích lịch sử có sẵn, sơn phết qua loa để làm phim trường. Năm 1991, nhà làm phim “Tình Người” đã mượn phòng ngủ tại tư dinh của Vua Bảo Đại ở Đà Lạt để quay cảnh ân ái của hai tài tử Thanh Lan- Lê Tuấn. Mới đây, trong phim Trần Thủ Độ, ngoài việc đoàn làm phim sang Tàu mượn cung điện nơi này để làm phim lịch sử Việt Nam, vua, quan, lính đều mặc y phục của Tàu, tại Huế, đạo diễn đã cho dẹp toàn bộ sập thờ, án thờ, Kim vị (thờ vua Minh Mạng), Khánh vị (thờ Hoàng hậu Hồ Thị Hoa) trong lăng Minh Mạng … để dựng thành phòng ngủ, chỗ “giường chiếu” cho vua và hoàng hậu nhà Lý. Khi nhiều người, ngay cả con cháu Nguyễn Phước Tộc phản đối việc làm vô văn hóa này thì chính quyền Huế chỉ nói là sẽ làm việc với đoàn làm phim và họ hứa sẽ hoàn trả lại nguyên cảnh trí như cũ. Đây là chủ trương “không để lãng phí một công trình tuyệt tác của kinh đô Huế xưa” của chính quyền để có thể cho vay, mượn, thuê … di tích cố đô một cách tự nhiên, miễn là có tiền bỏ túi. Bây giờ tiền là trên hết. Tất cả các cơ quan từ trung ương đến địa phương đều có các cơ quan, nhân viên ăn lương nhà nước nhưng làm dịch vụ kiếm tiền chia nhau. Trường học có căng tin, Bộ Nội Vụ có nhà nghỉ cho khách thuê, Bộ Công An có xe du lịch cho mướn. Quân Đội có nhà máy sản xuất. Một cựu tù “cải tạo” có thể trả thù xưa bằng cách đi du lịch Hà Nội, hợp đồng thuê xe du lịch của bộ Công An, do một anh Trung Úy công an lái, mở và đóng cửa xe mỗi khi muốn đi đâu cho bõ những ngày gian khổ, nhục nhã “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” trong trại tù tập trung dưới sự canh chừng, hoạnh họe của những tên lính canh tù oắt con. Từ Nam ra Bắc, từ cao xuống thấp, từ Trung Ương đảng cho đến dân đen, ai cũng vì tiền. Chồng chở vợ đi khách, mẹ đưa cơn nhỏ qua biên giới bán thân, người ta đổi danh dự để lấy tiền, bỏ đạo lý vì tiền, nhất là những kẻ có quyền lực, sá chi chút di tích “phong kiến” còn sót lại.
Một kiến trúc cỗ, đẹp đẽ và có ý nghĩa như lầu Tứ Phương Vô Sự lại trở thành một quán cà phê tầm thường, chỗ cho khách lui tới, ồ ào. Di tích lịch sử này bây giờ lại có bàn ông Địa, bàn thờ Thần Tài để mong thần linh phù hộ cho đắt khách vãng lai. Cà phê hắn có nhạc, có bóng tối đồng lõa. Bỏ ra một số tiền lớn để đấu thầu, hẳn chủ nhân phải có đầu óc tính tóan sao cho có lời. Trước phản ứng của bà con Nguyễn Phước Tộc tại Huế cũng như dân chúng trước cảnh “chướng tai gai mắt’ này, các giới chức “lãnh đạo” không biết hổ thẹn và phục thiện lại biện minh: “Đó không phải là quán cà phê (!), mà là chỗ để trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế phục vụ du khách tham quan. Với địa điểm này, du khách khi đến Đại Nội Huế sẽ có một chỗ đàng hoàng, tử tế để nghỉ ngơi, ngắm cảnh. Chủ trương của UBND tỉnh là nơi đây sẽ là mô hình thí điểm làm cho di tích trở nên sống động và phát huy hết giá trị của di tích” và cho rằng đây là “nơi dừng chân cho du khách chứ không phải vì mục đích kinh doanh”. Nói là mô hình, thí điểm, như vậy trong tương lại, lầu “Tứ Phương Vô Sự” bán cà phê đắt khách có lời thì những nhà “văn hóa xứ Huế” sẽ tiếp tục khai thác đến Ngọ Môn, điện Thái Hòa hay tháp Thiên Mụ để mở thêm quán cà phê nữa chăng?
Ở Huế hiện nay với mục đích kinh doanh, con cháu đã khai thác các khu nhà thờ, Phủ, Dinh xưa của ông cha ở những noi như Vỹ Dạ, Gia Hội, Thành Nội có vườn cây bóng mát, để làm “cà phê vườn” đến nỗi du khách đi đâu cũng gặp quán cà phê, chưa đủ hay sao mà còn khai thác đến các đền đài, cung điện, di tích lịch sử để kiếm tiền trong thời mở cửa của Cộng Sản. Dân Huế và con cháu nhà Nguyễn chưa quên tội ác của Việt Minh Cộng Sản tàn phá cung diện, di tích lịch sử của triều Nguyễn trong chiến dịch “tiêu thổ kháng chiến”, khi Pháp trở lại, vào tháng12-1946 đã đốt cháy ba ngôi điện trong đại nội là điện Cần Chánh, Càn Thành và Kiến Trung, lửa cháy một tháng chưa tắt.
Con cháu nhà Nguyễn xót xa, con dân xứ Huế cũng hổ thẹn mà đồng bào trong và ngoài nước cũng đau chung nỗi đau … văn hóa. Các công trình văn hóa đang được quản lý bởi một đường lối và những con người “vô văn hóa”. Không những vô văn hóa mà còn bị chửi là “vô giáo dục”, như ngày xưa lúc còn nhỏ, chúng tôi tinh nghịch thách nhau đứng đái trước sân đình làng, bị các bô lão nắm đầu giao cho cha mẹ. Bây giờ có một bọn đang đái vào di tích lịch sử của cha ông mà miệng vẫn bô bô hô hào văn hóa, văn minh.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.