Hải quân Thiếu tá Dat Duong, Phụ tá Giám đốc cung cấp và tiếp vận, Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải.

dongsongcu.wordpress.com

01/06/2026

Nguyễn Quân

Post by Sơn râu 2 Jun 2026

HQ Thiếu tá Dat Duong (hình của linkedin.com).
Hải quân Thiếu tá Dat Duong là Phụ tá Giám đốc cung cấp và tiếp vận cho Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải (MESG-1), Hải quân Hoa Kỳ tại San Diego, California. Ông được bổ nhiệm giữ vị trí này từ tháng 3 năm 2022. Với hơn 11 năm kinh nghiệm, chuyên về quản lý cung cấp và tiếp liệu, vận hành cơ sở vật chất và lập kế hoạch tài chánh. Ông chỉ huy một đội ngũ năng động gồm 70 nhân viên để bảo đảm các chức năng hỗ trợ vật tư và bảo trì diễn ra suôn sẻ. Đam mê sự xuất sắc trong hoạt động, ông hướng đến việc trao quyền cho các nhân viên đơn vị điều chỉnh các chiến lược tiếp liệu phù hợp với mục tiêu của tổ chức, thúc đẩy hiệu quả và đổi mới nhằm hỗ trợ thành công nhiệm vụ. Bộ phận cung cấp và tiếp vận của Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải hoạt động dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh chiến đấu viễn chinh Hải quân (NECC). Các chuyên viên tiếp vận của MESG-1 là Sĩ quan và nhân viên tiếp liệu thuộc ngành tiếp vận Hải quân (Navy Supply Corps) hỗ trợ các Hải đội tiền tuyến, thực hiện các hoạt động trên khắp khu vực ven biển, nội địa và vùng duyên hải.
Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải là đơn vị phụ trách các Hải đội an ninh hàng hải viễn chinh (MSRON) bờ biển phía tây thuộc Bộ Tư lệnh tác chiến viễn chinh Hải quân Hoa Kỳ (NECC). Liên đoàn 1 chịu trách nhiệm chỉ huy, kiểm soát, huấn luyện và trang bị cho Hải đội 1 an ninh hàng hải viễn chinh thường trực (MSRON 1), Hải đội 11, trừ bị (MSRON 11) và Hải đội 3 (MSRON 3) trừ bị của Lực lượng An ninh Hàng hải Viễn chinh (MESF). Lực lượng An ninh Hàng hải Viễn chinh hoạt động trên đất liền, trên biển và vùng nước cạn các hải cảng, sông, vịnh và dọc theo bờ biển. Trọng tâm chính của Lực lượng An ninh Hàng hải Viễn chinh là tiến hành các hoạt động an ninh hàng hải trong tất cả các giai đoạn hoạt động quân sự bằng cách cung cấp an ninh hải cảng, bến tàu, và bảo vệ tài sản có giá trị cao ở nội địa, trên các tuyến đường thủy ven biển và trên đất liền. HQ Trung tá (gốc Việt) Quan Đoan từng là Tham mưu trưởng kiêm Quyền Chỉ huy phó Liên đoàn 1 an ninh hàng hải viễn chinh từ 1 tháng 10 năm 2019 đến 3 năm 2026.
Huy hiệu Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải của facebook.com/MESGOne.
Hải quân Thiếu tá Dat Duong tốt nghiệp văn bằng Cử nhân khoa học, kỹ thuật cơ khí, Trường đại học Temple University, năm 2011. Nhiệm vụ đầu tiên trong hải nghiệp, HQ Thiếu uý Dat Duong được chỉ định phục vụ trên Tuần dương hạm USS Lake Erie (CG-70), ông là sĩ quan ngành tiếp vận Hải quân (Supply Corps officers), chịu trách nhiệm quản lý tài chánh, hoạt động bán lẻ và tiền lương của của chiến hạm. Ông tường trình cho vị Sĩ quan chỉ huy tiếp vận và giám sát, đóng vai trò quan trọng trong tinh thần thủy thủ đoàn và sự sẵn sàng về tiếp liệu. Ông phục vụ chiến hạm từ tháng 4 năm 2014 đến tháng 5 năm 2016.
Tháng 6 năm 2016, HQ Trung uý Dat Duong thực tập quản lý vận hành tiếp liệu, quản lý nhiên liệu tại Yokosuka, Kanagawa, Nhật Bản. Ông chỉ huy bộ phận nhiên liệu khu vực đồng bằng Kanto với đội ngũ 158 nhân viên và 2 địa điểm cung cấp vụ nhiên liệu quốc phòng, chịu trách nhiệm quản lý 85 triệu gallon nhiên liệu dự trữ và bảo đảm việc cung cấp liên tục các sản phẩm nhiên liệu số lượng lớn trong toàn bộ khu vực hoạt động của Đệ thất Hạm đội đến tháng 5 năm 2018.
Từ tháng 5 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019, HQ Đại uý Dạt Dương được chỉ định làm Sĩ quan chuyên viên nhiên liệu tại lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh quốc, giám sát hoạt động nhiên liệu phức tạp và đòi hỏi kỹ thuật cao tại một địa điểm khắc nghiệt và xa xôi, quản lý 60 triệu gallon sản phẩm dầu mỏ, điều hành và phối hợp việc kiểm tra, bảo trì và sửa chữa, đồng thời giám sát 55 dự án cơ sở hạ tầng trị giá 102 triệu đô la.
Từ tháng 7 năm 2019, HQ Đại uý Dạt Dương được chỉ định làm Sĩ quan tiếp liệu chiến hạm đổ bộ USS Harpers Ferry (LSD-49) tại San Diego, California. Ông chỉ huy bộ phận tiếp vận, quản lý tiếp liệu, quản lý phục vụ ẩm thực và các hoạt động phục vụ chiến hạm đến tháng 2 năm 2022. Hiện nay, HQ Thiếu tá Dat Duong giữ vị trí Phụ tá Giám đốc cung cấp và tiếp vận cho Liên đoàn 1 an ninh viễn chinh hàng hải (MESG-1) tại San Diego, California.
HQ Thiếu tá Dat Duong là 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẩu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); HQ Thiếu tá Loi Huynh, Sĩ quan chương trình hiện đại hóa C5ISR, Lực lượng Hải quân mặt nước Đại Tây Dương; HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao; Hải Quân Thiếu tá Hien Q. Vu, cố vấn Chương trình Sĩ quan trừ bị Hải Quân Hoa Kỳ; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến mặt nước; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan tác chiến mặt nước (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều nam, nữ HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Năm 2025 có 33 HQ Đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá và 12 HQ Thiếu Tá gốc Việt được đề cử thăng cấp Trung Tá.
Chú thích: Họ và tên từ tài liệu, Dat Duong/Dat T. Duong/Dat Tan Duong/họ và tên Việt Dương Tấn Đạt
Nguồn: mynavyhr.navy.mi; linkedin.com; bienxua-21 Hải Quân Đại Úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu Tá năm 2021

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 2 Jun 2026

Binding nói qua cửa:

– Anh cứ coi như ở nhà anh, muốn lấy gì thì lấy.

– Cám ơn anh.

Graber khoan khoái nằm dài ra trong buồng tắm. Đồ quân phục để trên chiếc ghế, quần áo xám với vớ xanh đầy vết bẩn. Trên thành cửa bộ com lê của Renter cho mượn đang đợi y lột xác biến thành con người khác.

Phòng tắm rộng rãi, lót đá xanh, choáng lộn dụng cụ mạ kền – một thiên đường so với phòng tắm hồi hám ở trại lính. Xà bông từ Ba Lê gởi sang, khăn mặt xếp từng chồng trắng tinh, nước nóng xài tùy thích. Còn có cả một chai dầu thơm đúc thành viên như ngọc bích.

Graber ngồi an hưởng cái điệu đàng tỏa thành hơi bóng chung quanh mình. Y đã hiểu rằng sự thỏa mãn giản dị nhất là sự thỏa mãn làm mình ít thất vọng nhất – hơi ấm áp, nước, mái nhà, bánh mì, yên tĩnh và tin tưởng ở chính thân thể mình. Y giơ tay ra đẩy cái ghế đựng bộ quân phục và dốc vào tay một nắm hạt dẫu thơm. Một nắm xa hoa và an bình, cũng như cái khăn bàn tinh tươm của lữ quán Germania, rượu và các món ăn đã thưởng thức với Elisabeth.

Tắm xong y lau mình và mặc quần áo một cách vội vàng. Bộ đồ dân sự sao mà nhẹ nhàng thế so với quân phục bằng len nặng trình trịch! Y có cảm tưởng như mình mặc sơ mi quần đùi vì không phải đeo dây lưng, mang ủng và khí giới Nhìn vào gương thấy mình lạ hẳn, khó nhận ra. Một gã thiếu niên lớn mau quá đang ngạc nhiên nhìn y.

***

Binding bảo :

– Nom anh như cậu thanh niên mới làm thánh lễ lần thứ nhất. Không còn là lính nữa! Có chuyện gì thế? Lấy vợ à?

– Vâng, lấy vợ thật, nom thì biết.

Binding cười vang lên.

– Nom anh không còn giống con chó tìm không thấy lóng xương. Lấy vợ thật đây à?

– Thật chứ.

– Trời đất ơi! Anh đã suy nghĩ kỹ chưa.

– Không suy nghĩ gì cả.

Binding nhìn y, không hiểu, Graber nói :

– Đã lâu nay tôi không có thời giờ suy nghĩ gì cả.

Binding cười gằn rồi ngẩng đầu lên hít ầm ĩ.

– Hử!

Binding lại hít nữa:

– Gì mà thơm lùm trời đất thế này? Anh bỏ dầu thơm vào nước chứ gì! Thơm bằng hai mươi cô điếm.

Graber ngửi tay mình

– Sao tôi ngửi không thấy gì cả.

– Anh thì không, nhưng tôi thấy! Thứ này kín đáo lắm: mới đầu không thấy gì cả nhưng thình lình mình hóa ra một giỏ hoa. Người ta mang từ Ba Lê về cho tôi đây. Cái họa này phải lấy cô-nhắc mới trị nổi.

Binding đi kiếm một chai rượu và hai cái ly

– Mừng anh! Anh lấy vợ à? Thành thật mừng anh! Còn tôi, tôi sống độc thân. Tôi có quen biết người vợ tương lai của anh không?

– Không.

Graber uống cạn ly. Y bực mình vì đã nói chuyện riêng của mình. Binding đã chất vấn y trong lúc y chưa kịp phòng bị.

– Một ly nữa? Không phải ngày nào người ta cũng lấy vợ!

Graber đặt ly xuống, y ra vẻ cảm động.

– Nếu anh cần gì, xin anh nhớ rằng anh vẫn có thể đến kiếm tôi.

– Tại sao tôi lại cần gì? Lấy vợ thì giản dị lắm chứ, có gì khó khăn!

– Đối với anh thì thế thật. Anh là lính, anh có đủ giấy tờ.

– Giá thú thời chiến tranh, thể thức cũng giản dị hóa.

– Tôi chắc chị ấy cũng cần giấy tờ thường lệ. Để rồi coi. Nếu công việc rắc rối lâu ngày, tôi vẫn có thể thúc đay cho chạy nhanh hơn. Tôi có nhiều bạn cảnh sát mật vụ.

– Cảnh sát mật vụ à? Họ làm gì mà dúng mũi vào hôn nhân của người ta?

Binding cười ra vẻ biết hơn người.

– Bây giờ không có gì thoát khỏi tay cảnh sát mật vụ! Anh là lính anh cho là không đáng quan tâm. Vả chăng anh cũng chẳng bận tâm làm gì. Anh hẳn không có ý lấy một cô gái Do Thái thù hay nghịch với nhà nước. Nhưng dẫu sao cũng điều tra cho biết. Cho hợp lệ thôi.

Graber không trả lời. Thực ra y thắc mắc lắm. Một cuộc điều tra sẽ bại lộ cha Elisabeth ở trại tập trung. Thật y chưa hề nghĩ tới.

– Những lời anh nói có thực không?

Binding lại rót đầy ly rượu.

– Cũng gần như thế. Nhưng anh không có gì đáng lo. Anh không định làm hoen ố dòng máu Aryens của anh với một cô gái chủng tộc kém hèn hay thù nghịch tổ quốc ta chứ?

Anh lại cười gằn :

– Không sao! Bộ anh nóng ruột hưởng thú phòng the lắm sao?

– Nóng ruột chứ!

– Mừng anh! Mới mấy ngày nay, tôi giới thiệu anh với nhân viên cảnh sát mật vụ. Nếu có gì trục trặc họ sẽ giúp một tay. Lũ quỷ ấy thiêng lắm, nhất là anh Riese, cha ôm ốm đeo kính ấy.

Graber nhìn mũi đôi giày màu vàng của mình. Sáng nay Elisabeth đến tòa thị chính xin giấy tờ. Nàng đã yêu cầu làm gấp cho. Y nghĩ: “Ta đã đi con đường thẳng, người ta đã để cho yên, nhưng bây giờ nếu mình làm cho nhà cầm quyền ấy để ý thì thật là điên rồ! Người xưa nói rất chí lý rằng lúc nguy hiểm phải giả bộ chết. Người công chức thứ nhất mà biết chuyện có thể bắt nàng đi trại tập trung, vì cha nàng đã ở trại tập trung”.

Tay y vã mồ hôi đầm đìa. “Thí dụ người ta hỏi mụ Lieser mà thu thập những lời khai về nàng?”

Graber đứng dậy.

– Cái gì thế? Ủa! Anh chưa cạn ly. Hạnh phúc làm người ta lơ đễnh.

Anh ta pha trò rồi cười lớn. Bỗng dưng Graber nhìn anh ta với con mắt khác. Vài phút trước đây y chỉ thấy anh ta là người bạn cũ đầy thiện chí mà vì thành công dễ dàng quá nên đã bị thiên lệch; bỗng dưng anh ta trở thành tay sai của một quyền lực mù quáng ghê gớm.

– Mừng anh! Uống ly nữa đi. Đây là cô-nhắc Nã Phá Luân.

– Mừng anh!

Graber đặt ly xuống:

– Anh Alfons! Anh có thể giúp tôi một việc không? Cho tôi hai ký đường đựng vào hai gói.

– Đường miếng hay là đường bột?

– Gì cũng được, miễn là đường.

– Anh lấy bao nhiêu thì lấy, nhưng để làm gì? Đời anh như thế không đủ ngọt rồi à?

– Để mua chuộc một người.

– Mua chuộc à! Mua chuộc làm gì? Ở đời nay đe dọa họ dễ ăn hơn mà hiệu lực hơn. Để đây tôi trị cho.

– Không cần. Mấy lại cũng không hẳn là mua chuộc. Để đền ơn một người tôi nhờ vả.

– Tùy anh. Nhưng anh làm lễ cưới ở đây nhé. Tôi là nhân chứng tốt nhất!

Mười lăm phút trước có lẽ y tìm cách từ chối. Nhưng bây giờ thì không dám.

– Tôi không muốn vẽ vời làm cái gì phiền phức cả.

– Thì anh cứ để tôi lo. Tối nay anh ngủ đây đi. Chắc anh không muốn mặc quân phục trở về trại. Để tôi cho anh chìa khóa.

Graber ngập ngừng một chút.

– Đồng ý.

Binding vui vẻ quá chừng.

– Anh nghĩ thế là hay lắm. Chúng ta sẽ có dịp ngồi tán chuyện. Lần thứ nhất chúng ta tâm sự với nhau. Anh sang đây tôi chỉ cho anh xem phòng ngủ của tôi.

Anh ta thu nhặt đồ quân phục của Graber. Mắt anh ta đụng phải mấy chiếc huy chương.

– Anh cũng phải kể cho tôi nghe anh được huy chương thế nào. Chắc anh cũng là tay chịu chơi ngoài mặt trận?

Graber nhìn lên. Y bắt gặp mặt Binding ánh lên một thứ hiếu kỳ độc ác như hôm Heini khoe khoang những kỷ niệm mật vụ của hắn.

– Không có gì đặc biệt cả, sống lâu lên lão làng, thế thôi.

***

Mụ Lieser thấy Graber ăn mặc dân sự thì mãi mới nhận ra.

– À ông! Cô Elisabeth không có nhà vào giờ này, hẳn ông cũng biết.

– Vâng, tôi biết.

– Thế sao còn đến!

Mụ nhìn y với cặp mắt soi mói. Trên khăn choàng chói lọi một chiếc phù hiệu chữ vạn. Mụ cầm trong tay cái chổi như cầm cây đao.

– Tôi mang cho cô Elisabeth một gói đồ, nhờ bà làm ơn để vào buồng cổ.

Mụ lưỡng lự một chút rồi cầm lấy gói đồ.

– Đây còn gói nữa. Cô Elisabeth cho tôi biết bà có công với việc ích chung. Đây là số đường của tôi mà tôi không biết làm gì. Vì bà cũng có em nhỏ nên tôi mang đến cho em nhỏ.

Mụ Lieser để lộ một kiểu nét mặt phải có lúc công khai :

– Chúng tôi không cần chợ đen. Chúng tôi hãnh diện mà chỉ nhận những thứ của Quốc trưởng ban cho.

– Em nhỏ này cũng thế à?

– Cũng thế.

– Như vậy là thẳng thắn, là ý thức công dân nếu mọi người đều như bà cả thì người lính sẽ dốc lòng đánh giặc. Nhưng đường này không phải đường chợ đen. Đây là tặng phẩm của Quốc trưởng cho lính nghỉ phép để mang về cho gia đình. Cha mẹ tôi mất tích không tìm thấy. Như vậy bà có thể nhận mà không phải thắc mắc.

Mặt mụ dần dần dịu lại:

– Ông ở mặt trận về à.

– Vâng.

– Ở mặt trận Nga?

– Mặt trận Nga.

– Chồng tôi cũng ở bên Nga.

Graber giả bộ săn sóc đến mụ.

– Ông nhà ở khu nào?

– Khu trung ương.

– May quá. Lúc này không có hành quân, được nghỉ ngơi.

– Nghỉ à? Không làm gì có nghỉ ngơi. Cánh quân trung ương đánh xung kích mạnh, chồng tôi đi tiền đạo.

Graber nghĩ thầm: “Tiền đạo! Làm như vẫn còn tiền tuyến!” Y những muốn nói cho mụ hiểu sự thật về những bài diễn văn chính thức và những tiếng ái quốc rất kêu. Nhưng y không nói. Y chỉ bảo mụ:

– Mong rằng ông nhà sớm được về nghỉ phép.

– Đến lượt thì nghỉ. Chúng tôi không muốn giành ưu tiên.

Graber đã thấy tức điên lên cổ.

– Tôi không có ưu tiên ưu thứ gì cả. Hai năm nay tôi mới được nghỉ.

– Suốt thời gian ấy ông ở mặt trận?

– Ở luôn mặt trận trừ khi bị thương.

Graber nhìn người đàn bà cuồng tín: “Việc gì phải phân bua với mụ? Tốt hơn hết là cho một phát súng vào bụng. – Hẳn là chồng mụ ta cũng là lính mật vụ – hẳn là chồng mụ ta cũng bắn chết nhiều dân Nga để chiếm đất sống cho dân tộc Đức”.

Đứa con mụ Lieser ở trong phòng ra. Một đứa con gái yếu đuối, tóc nhợt nhạt.

Mụ Lieser hỏi y.

– Hôm nay ông có việc gì mà ăn mặc dân sự.

– Vì quân phục mang đi nhuộm.

– À ra thế, tôi cứ tưởng…

Graber không hiểu mụ tưởng cái gì. Bỗng dưng mụ nhe răng ra cười làm y sởn gai góc.

– Được rồi. Tôi sẽ cho con bé nhà tôi ăn chỗ đường này.

Mụ mang hai gói đường vào và Graber để ý thấy mụ ước lượng xem gói nào nặng hơn. Y chắc chắn rằng mụ sẽ mở gói của Elisabeth ra coi khi y đi khỏi, vả chăng y cũng muốn thế. Mụ sẽ ngạc nhiên mà thấy là đường thật.

– Thôi chào bà.

– Hitler muôn năm!

Mụ nhìn Graber vẻ mặt nghiêm nghị. Y vội nói:

– Hitler muôn năm!

Khi ra ngoài phố, y gặp trưởng phố, một người bé nhỏ mặc đồng phục cảnh sát mật vụ, ủng và giày bóng lộn, cái ngực như ngực gà trống trên cái bụng nở. Graber nghĩ thầm: “Anh chàng thô bỉ này có thể nguy hiểm cho mình” Y hỏi trước:

– Hôm nay trời đẹp quá há?

Y lấy một gói thuốc lá ra mời, lão ậm ự cảm ơn rồi lấy thuốc hút.

– Giải ngũ?

Lão nhìn bộ áo dân sự của Graber mà hỏi vậy.

Graber lắc đầu. Y tự hỏi có nên nói gì đến chuyện Elisabeth không, nhưng rồi không nói gì cả. Tốt hơn hết là đừng nên làm cho ai để ý đến nàng.

– Một tuần nữa tôi lại ra trận, đây là lần thứ tư.

Lão gật gù ra vẻ lạnh lùng. Lão lấy điếu thuốc ở miệng ra nhìn với bộ mặt khinh rẻ và nhổ mấy sợi thuốc vướng trong miệng.

– Thuốc dở lắm à?

– Ngon, ngon chứ, nhưng tôi quen hút xì gà.

– Bây giờ xì gà khó kiếm.

– Có lẽ thế thật.

– Tôi có người bạn còn giữ được vài hộp. Lần sau gặp tôi phải xin vài điếu. Xì gà rất ngon.

– Đồ nhập cảng à?

– Hẳn thế. Tôi không biết gì về xì gà cả. Điếu nào cũng có một cái vòng vàng.

– Cái vòng chẳng có nghĩa gì cả. Thuốc râu ngô cũng có thể có vòng vàng.

– Bạn tôi làm mật vụ. Chả lẽ y lại hút thuốc dở.

– Ai vậy?

– Alfons Binding.

– Anh biết Binding à?

– Bạn thân của tôi. Bạn học cũ. Tôi vừa ở nhà y về đây. Y vừa ngồi với tôi và Riese, cảnh sát SS. Chúng tôi là bạn học.

Lão trưởng phố nhìn Graber. Graber hiểu cái nhìn ấy y tự hỏi tại sao bác sĩ Kruse phải vào trại tập trung khi giao thiệp với những người như thế.

– Rất có thể xảy ra nhiều sự hiểu lầm – Graber nói ra vẻ không để ý – Nhưng rồi cũng đâu vào đấy. Có người lấy làm ngạc nhiên. Mình không nên xét người hấp tấp, phải không?

– Không khi nào!

Lão trưởng xóm nhắc lại ra vẻ tin tưởng.

Graber xem giờ.

– Thôi đi nhé. Tôi sẽ nhớ chuyện xì gà.

***

Y vừa đi vừa nghĩ: “Bước đầu may mắn trên đường hối lộ”. Y thích chí được một lúc nhưng chẳng bao lâu lại lo âu. Có lẽ y đi lầm đường. Bất thần y nhận thấy hành vi của mình vô bổ. Có lẽ tốt hơn là nên giả bộ chết. Y dừng lại liếc mắt nhìn xuống bộ com-lê của mình. Y muốn thoát khỏi sự kiềm tỏa của quân kỷ để hưởng chút tự do, thế mà bây giờ y lại nhảy vào một thế giới đầy đe dọa sợ hãi của đời sống dân sự.

Vậy bây giờ phải làm sao? Bây giờ y tự trách mình đã hấp tấp đẩy Elisabeth đi xin giấy tờ. “Che chở cho Elisabeth! Hôm qua mình nghĩ rằng lấy nàng để che chở nàng, nhưng bây giờ mới thấy mình đẩy nàng vào chốn hiểm nguy!”

“Đùa với anh đây hẳn! Anh phỉ báng cả quân đội nữa!”

Graber tối mặt lại không hiểu gì, một ông đại úy đột nhiên xuất hiện trước mặt. Y tưởng rằng mình đã chào theo kiểu nhà binh, quên hẳn mình đang ăn mặc dân sự.

– Xin lỗi ông, tôi lầm, không cố ý.

– Ông không phải là quân nhân mà ông giở những trò khả ố như thế!

Nhìn viên đại úy nhỏ con kỹ hơn. Graber nhận ra mình đã có chuyện với hắn tối hôm ở với Elisabeth. Hắn vẫn tức giận:

– Một người trốn nhiệm vụ như anh thì nên thụt xuống đất còn hơn là làm bộ lém lỉnh.

Graber mỉm cười trả lời:

– Gió lạnh sổ mũi rồi, trở về kiếm long não mà ngửi.

Hắn đỏ dừ mặt.

– Tôi cho bắt anh đem ra xử bắn bây giờ!

– Ông biết rõ rằng ông không có quyền. Thôi im đi.

– Tôi sẽ… tôi sẽ…

Nhưng hắn ngưng bặt câu nói. Hắn hếch mũi lại gần Graber và nhăn mặt ghê tởm.

– À. Tôi hiểu rồi! Vì thế mà anh không mặc quân phục. Chải chuốt! Dầu thơm! Đồ đĩ đực!

Hắn khạc nhổ, vuốt bộ râu hoa râm rồi bước nhanh đi sau khi lườm Graber với đôi mắt khinh bỉ. Bấy giờ Graber mới nghĩ ra: “Tai nạn mùi thơm này đây”, y ngửi tay mình mới thấy mùi thơm nhẹ nhàng mà dai dẳng. “Đĩ đực! Khá khen cho hắn biết bới chuyện. Sợ hãi làm cho con người trở nên quái dị như thế đấy! Mụ Lieser rồi lão trưởng xóm – không biết rồi mình còn tiến tới đâu!”

Y đến trước Sở Cảnh sát Mật vụ. Người lính canh đi bách bộ và ngáp vặt. Nhiều nhân viên đi ra cười cười nói nói. Rồi y thấy một ông già lủi thủi đi lại. Ông ta dừng chân, lấy một tờ giấy trong túi ra, đưa hai mắt sợ hãi nhìn lên cửa sổ. Rồi ngửa mặt nhìn trời một lần cuối cùng trước khi trình giấy cho người lính gác. Người gác lạnh lùng xem giấy rồi cho vào.

Đến lượt Graber nhìn qua cửa sổ công thự. Y lại thấy sợ hãi, sợ hãi mãnh liệt, nghẹt thở hơn lần trước. Y đã trải qua đủ các loại sợ hãi, từ sự sợ hãi nhọn sắc đến sự sợ hãi tối tăm, từ sự sợ hãi làm tắt thở và tê liệt bắp thịt, đến sự sợ hãi cùng cực trước cái chết. Nhưng sự sợ hãi lúc này khác hẳn, đó là sự sợ hãi bò là là dưới mặt đất, như cái gì đe dọa không rõ rệt, như cái gì nhầy nhụa ghì chặt lấy mình, như đờm dãi vô hình làm tan mọi vật, cái sợ hãi của người thất vọng và bất lực, cái sợ vì tai nạn xảy ra cho người quanh ta, cái sợ khi phải đối diện với sự độc đoán, tàn ác, vô nhân đạo. Cái sợ mênh mông của thời đại chúng ta.

Y quay mặt đi, choáng váng và buồn mửa. Bỗng dưng y nghĩ đến Hirschland. Hirschland đã biết cái sợ này! Anh ta tình nguyện đầu quân với hy vọng được huy chương để cứu cha khỏi địa ngục tập trung. Y đã hứa đến thăm cha mẹ Hirschland.

Y dừng lại. Không biết để địa chỉ của bạn ở đâu? Bất thần y nhận thấy không thể nào trì hoãn cuộc viếng thăm này dù chỉ vài giờ, làm như nó mật thiết với vận mệnh Elisabeth và tất cả đều tùy thuộc nó. Nghĩ như vậy thật là trẻ con, nhưng ở tiền tuyến y đã nhiễm được thói quen tin ở sự bất ngờ. Tìm hết các túi thì thấy trong sổ quân bạ một mảnh giấy con của Hirschland đưa cho mình lúc sắp chia tay.

Cái nhà bé nhỏ có ba tầng lầu. Y lên tầng thứ ba và bấm chuông gọi. Phải gọi hai lần cửa mới rụt rè hé mở.

Một bà mặt nhợt nhạt đi ra.

– Tôi muốn hỏi bà cụ Hirschland.

– Tôi đây.

Bà giương hai mắt tôi sầm nhìn y chăm chú.

– Tôi cùng ở tiểu đoàn với anh Hirschland.

Bà ta vẫn tiếp tục nhìn y. Vẻ chăm chú chờ đợi của con vật sẵn sàng để chống cự hay chạy trốn.

– Anh Hirschland nhờ tôi gởi lời về thăm bà. Tôi nghỉ phép nên đến đây mặc đồ dân sự.

Cửa mở hẳn.

– Mời anh vào đây.

– Tôi là Graber.

Bà đi trước, dẫn y vào phòng. Bà đi nhẹ gót, không có tiếng kêu. Trong cùng kê một cái trường kỷ trên phủ kín một cái mền mà góc trên vắt lên trên lưng ghế ấy. Graber định ngồi xuống đấy nhưng bà giữ lại và đem một cái ghế dựa đến.

– Ngồi cái ghế này tốt hơn. Chúng tôi chỉ ở căn này, chúng tôi ngủ trên cái trường kỷ ấy.

Graber ngồi xuống ghế. Căn phòng sạch sẽ và trang hoàng ra lối tiểu tư sản. Một vài bức họa treo trên trường kỷ và phía tường bên kia.

– Mười lăm ngày trước cháu còn ở với anh Hirschland.

Bà cụ Hirschland không ngồi, mắt bà vẫn đăm đăm ra vẻ gay gắt hai tay run lẩy bẩy.

– Cậu muốn… Tôi có thể… À cậu uống chút gì nhé?

Graber chợt thấy mình khát.

– Dạ, bà cho cháu một chén nước lạnh thôi.

– Để tôi lấy.

Bà đưa mắt nhìn quanh:

– Tôi xuống bếp lấy, cậu chờ một chút, tôi trở lại ngay.

Bà đi xuống bếp. Ra đến cửa bà còn quay trở lại. Graber nghĩ thầm: “Không biết bà cụ làm sao?”. Y đã quen với thái độ ngờ vực, nhưng thái độ của bà này khác hẳn những người đã gặp.

Y đứng dậy xem những bức họa treo trên tường. Đó là những bản chụp lại. Một bức họa cây hạt dẻ đang khai hoa, bức khác vẽ một cô gái xứ Florence. Phía trên trường kỷ treo một bức in lối họa ảnh. Y lại gần xem kỹ. Bỗng thấy chân mình vấp phải cái gì mềm mềm để dưới trường kỷ, mền phủ kín đi. Y cúi xuống xem có đánh đổ cái gì và vén một góc mền, thì thấy hai cái hộp bia cứng dài che kín từ trường kỷ xuống sàn nhà. Chân y đã làm xê dịch một cái. Y để lại chỗ cũ, nhưng cũng đủ thời giờ để trông thấy một bàn tay đàn bà giữa hai cái hộp. Có người nằm dưới trường kỷ hai tay để dọc theo người. Graber trùm mền lại như cũ và trở vễ ghế ngồi.

Bà cụ Hirschland trở lên với cái mâm đựng ly rượu nho và mấy miếng bánh mì.

Y uống một hớp rượu. Rượu nho hòa đường và đặc.

– Anh Hirschland vẫn mạnh. Khi cháu về phép, tiểu đoàn đang nghỉ. Ảnh được các bạn mến lắm.

– Hirschland nó vẫn mạnh.

Bà nhắc lại lời y như cái máy.

– Ở tiền tuyến như thế là mạnh khỏe lắm. Về đây cháu mới biết đời sống ở đây cũng nguy hiểm như ở ngoài đấy.

Y đợi một lúc. Nhưng bà cũng không hỏi những câu thông thường về ăn uống, đời sống và tai nạn ở tiền tuyến. Y nghĩ: “Chắc bà cụ sợ làm rối ruột người nấp dưới trường kỷ”.

– Thôi, cháu đến cho cụ biết tin thế thôi. Anh Hirschland và cháu chơi thân với nhau. Cụ có gởi gì cho ảnh, thư hay quà, để cháu mang cho. Độ một tuần nữa cháu lại đi.

– Không có gì, cám ơn cậu.

Bà cụ nói khẽ đến nỗi gần như không nghe rõ.

Graber nhìn bà mà kinh ngạc. Y đã tưởng bà cụ không tin, vội lấy sổ quân bạ ra.

– Giấy má của cháu đây, cháu chỉ mặc đồ dân sự tạm thời thôi.

Bà cụ không để ý, giơ tay đẩy ra rồi nói khẽ qua tiếng thở.

– Nó chết rồi.

– Chết?

Bà gật đầu.

– Thật khó tin, trước khi về cháu còn nói chuyện với ảnh…

– Nó chết rồi. Tôi mới được tin cách đây bốn ngày.

Bà lắc đầu khi thấy Graber muốn hỏi thêm.

– Thôi cám ơn cậu đến thăm tôi. Thư của nó vẫn gởi về. Ngày hôm nay vẫn còn nhận được. Thôi cám ơn cậu…

Cửa đóng lại, Graber xuống thang gác. Y cố nhớ lại những kỷ niệm về Hirschland. Gần như không biết gì về Hirschland, không biết cả tên họ. Y nghĩ đến gói thuốc Hirschland đưa cho lúc sắp về phép. Y tiếc rằng đã không chú ý hơn đến bạn. Một sự hối hận nữa thêm vào những hối hận trước đây. Cuộc đời ngắn ngủi của Hirschland thật là đau khổ. Bà mẹ bây giờ chỉ còn một mình và phải giấu diếm đứa con sanh sau này có lẽ với chồng sau, căn cứ vào sự thử máu thì đứa bé có máu Do Thái, chắc phải đi trại tập trung. Y dừng lại trong chỗ tối thềm nhà, thình lình y mất hướng. “Một đứa trẻ ngây thơ còn phải giấu diếm như thế thì Elisabeth còn bị đe dọa đến thế nào!”

***

Y đến xưởng may trước giờ thợ ra. Không thấy nàng trong số những người ra trước, y đã vội tin rằng nàng đã bị bắt rồi. Mãi sau mới nhìn thấy. Nàng ngạc nhiên khi thấy y mặc đồ dân sự. Nàng cười :

– Trông anh trẻ quá!

– Nhưng anh thấy mình không trẻ chút nào. Anh có cảm tưởng như mình đã một trăm tuổi rồi.

– Có gì mới không? Anh bị gọi đi sớm à?

– Không. Yên lành cả.

– Anh thấy anh già vì anh mặc đồ dân sự?

– Không biết, nhưng hình như bộ đồ dân sự này gây ra đủ mọi sự rắc rối trên đời này. Em đã đi xin giấy má chưa?

– Đâu vào đấy cả rồi. Nhân lúc nghỉ trưa em làm hết các đơn xin.

– Làm hết cả à? Thôi chết, thế thì chậm quá.

Elisabeth kinh ngạc nhìn y.

– Tại sao lại chậm quá.

– Chẳng tại sao cả? Thình lình anh thấy sợ, có lẽ mình tính sai. Có thể làm rắc rối cho em.

– Cho em à? Tại sao thế?

Graber ngập ngừng:

– Anh nghe nói Mật vụ đâu họ cũng nhúng mũi vào được cả. Tốt hơn hết là không nên ló mặt ra.

Elisabeth dừng lại:

– Người ta còn nói gì nữa không?

– Không. Anh sợ rắc rối, thế thôi.

– Anh nghĩ rằng người ta sẽ bắt em vì em muốn lấy chồng à?

– Không, không phải thế.

– Thế thì sao? Anh nghĩ rằng họ có thể khám phá ra cha em ở trại tập trung?

– Cũng không phải. Họ thì họ biết. Nhưng để nguyên đừng làm cho họ chú ý tới thì có lẽ không sao. Không thể nào biết trước được phản ứng của Mật vụ. Chỉ gặp một viên chức đang lúc cáu kỉnh là có thể đổ bể. Đối với họ thì không thể trông mong gì ở pháp luật hay lẽ phải.

Elisabeth yên lặng một lát rồi hỏi:

– Thế thì phải tính sao bây giờ.

– Anh nghĩ suốt ngày rồi. Không có cách gì cả. Nếu mình xin hủy đơn thì lại càng làm cho họ chú ý hơn.

Nàng gật đầu và nhìn y với cái nhìn kỳ dị.

– Mình cũng cứ thử xem.

– Chậm quá rồi. Chỉ còn cách ngồi đợi, hay dở gì cũng sẽ phải đối phó.

Hai người tiếp tục đi. Xưởng may cất ở một nơi hẹp rất dễ thấy. Graber xem xét kỹ lưỡng.

– Đây chưa bị bom nhỉ?

– Chưa.

– Cái xưởng ở chỗ trống quá và dễ nhận quá.

– Dưới có nhiều hầm rộng.

– Có chắc không?

– Cũng khá chắc.

Graber giương mắt nhìn. Elisabeth đi bên cạnh không để ý.

– Em ạ, anh không sợ gì cả, chỉ vì có em mà anh sợ.

– Anh đừng lo cho em.

– Em không sợ à?

– Trái lại em sợ đủ mọi thứ có thể tưởng tượng ra. Em không có nhiều trí tưỡng tượng để nghĩ đến những cái sợ mới.

– Anh thì có. Khi yêu ai, mình khám phá ra đủ mọi thứ mới mà trước kia chưa hề nghĩ tới.

Elisabeth quay lại y mỉm cười. Y nhìn nàng rồi cũng mỉm cười.

– Anh chưa quên điều nói với em hôm trước. Em có tin rằng muốn biết mình có yêu hay không thì mình hãy xem mình có lo sợ không.

– Em không biết, nhưng lúc đầu thì cái đó có giúp mình chút ít thật.

– Bộ com-lê mắc dịch này! Ngày mai anh lại mặc đồ nhà binh cho rồi. Thế mà mình ao ước mãi cuộc sống dân sự!

Elisabeth cười.

– Bộ đồ mắc dịch, nó chịu trách nhiệm mọi nỗi đau khổ của mình hả?

– Không. Đau khổ chỉ vì mình mới trở lại sống thật sự. Chính vì thế mà anh sợ! Suốt ngày hôm nay anh sợ điên người lên thế này này. Bây giờ đã khá hơn một chút. Thực ra cũng chẳng có gì mới. Lạ thật. Cái sợ chẳng cần nhiều thức ăn, chỉ một chút xíu cũng đủ nuôi dưỡng nó rồi!

– Ái tình cũng vậy. Thế cũng may đấy chứ!

Graber nhìn nàng đi nhẹ nhàng thanh thoát bên cạnh mình. Y nghĩ thầm: “Nàng đã thay đổi hẳn. Trước kia nàng sợ, mình phải khuyên nhủ nàng. Bây giờ trái lại, nàng lại khuyên nhủ mình”.

Họ đi qua công trường Hitler. Hoàng hôn vĩ đại nhuộm hồng cả gầm trời sau nhà thờ.

Elisabeth vội hỏi:

– Lại cái gì cháy kia!

– Không có gì cả, mặt trời lặn đấy.

– Mặt trời lặn! Không ai nghĩ đến nữa!

Hoàng hôn tồ sắc hồng lên phố xá và người qua lại. Những khuôn mặt, những bàn tay đều hiện ra với màu sắc lạ kỳ. Graber nhìn mọi người với tầm mắt mới. Mỗi người là một linh vật mang một số mệnh riêng. “Khi người ta không có gì cả sao mà lên án người khác và tỏ ra mình mạnh dễ thế! Khi người ta có cái gì, có tình với đời thì đời đổi màu sắc. Cái gì cũng trở thành vừa dễ vừa khó, nhiều khi mình như không chịu nổi cuộc đời, ấy, tất cả đều bắt đầu từ cảm tưởng ấy. Sự can đảm có ý nghĩa khác, có nhiệm vụ quan trọng hơn, ở tầm mức nhân thế hơn”. Y hít mạnh. Y có cảm tưởng như mình về được đơn vị sau một chuyến công tác nguy hiểm trên đất địch… Sự nguy hiểm vẫn còn đó nhưng người ta được một lúc an nghỉ.

Elisabeth nói:

– Lạ thật, bây giờ chắc là mùa xuân. Trong khu phố tan hoang vắng vẻ này, em có cảm tưởng như phảng phất mùi hoa tím…

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 2 Jun 2026

Cô Hường là em họ của ba tôi. Nhà cô ở gần nhà tôi. Chồng cô là công chức Bưu Điện, hiền lành ít nói. Trong gia đình, dượng là chiếc bóng hoàn toàn thụ động. Mọi chuyện lớn nhỏ, một tay cô Hường quyết định. Nhà cô làm đại lý vựa cam quít từ Kampuchia đem ve, và từ đó phân phối đi khắp nơi. Tính cô năng động, tháo vát, và lanh lợi đến mức lấn luớt cả chồng. Có lần cô nói, nếu thay đổi dễ dàng như chuyện mua bán con trâu con bò, thì cô đã bán ông chồng của cô rồi. Vợ nói một câu quá quắt như thế, dượng chỉ cười.

Ba tôi bảo, sợ vợ cũng là cái nghiệp của người đàn ông. Dượng nói, chẳng phải sợ, đàn bà mang nặng đẻ đau, mình nhường nhịn họ tí chút thôi. Cô Hường đưa gia đình đi nghỉ hè. Tôi gặp lại cô trên bãi biển Nha Trang, Co vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Co nắm tay tôi như thể vuột ra là tôi chạy mất. Còn tôi thấy cô như thấy lại một quá khứ quê nhà. Những con đường phố quận buồn hiu. Những cây sao già cao ngất ở xóm Đinh thẳng tấp vươn lên, che bóng mát cả một vùng rộng lớn. Cái sân vận động ứ nước từng vũng vào mùa mưa và gió cuốn bụi mù vào mùa nắng ráo. Lũ trẻ chúng tôi thường chơi đá banh ở đó. Tôi hay chạy vào nhà cô Hường uống nước. Lu nước cô đặt ngoài sân, cái gáo múc nước làm bằng gáo dừa có tra cán dài. Con chó nhà cô rất dữ. Vào trong sân. tôi phải cầm thêm chiếc gậy. Có lần nó nhào tới muốn cắn, tôi vụt cho nó một gậy đích đáng vào lưng gần gảy xương sống. Từ đó về sau, nó sợ tôi, chỉ dám đứng xa xa mà sủa. Tôi nhắc chuyện đó.

Cô Hường cười, nói con chó đang chờ tôi về để trả thù. Sau ngày má tôi mất, cô Hường tỏ ra thương tôi nhiều hơn. Cô cho tôi tiền ăn quà vật, và mướn tiểu thuyết đọc.  Đêm tôi ngủ lại nhà cô, kể truyện cho cô nghe. Cô buồn vui theo hoàn cảnh của từng nhân vật. Dượng bảo, mấy thằng cha văn sĩ chuyên môn bịa chuyện nói phét. Cô nói, cũng phải có tài mới bịa dược chuyện hay, còn hơn ông ngồi còng lưng cả ngày chỉ để đếm thư thiên hạ. Nói lời này là cô muốn ám chỉ vào cái nghề công chức Bưu Điện của dượng. Những ngày kể chuyện tiểu thuyết cho cô Hường nghe, đã qua rồi. Bây giờ, trông cô có vẻ tươi hơn mấy năm về trước. Có lẽ do đời sống khá giả hơn chăng? Cô hỏi: “Sau ngày bỏ nhà ra đi, mày sống thế nào?”

Tôi nói: “Cơm chùa cháo chợ, lay lất qua ngày.”

“Không thể lăn lóc hoài như vậy được. Mày phải về nhà ngay. Ba mòy lúc giận nói thế. Mày đi biệt tăm luôn. Ông dò la khấp nơi, không biết mày ở đâu.”

“Ông duổi con đi, còn tìm chi nữa?”

“Ba mày chỉ muốn doa thôi. Ông nói, để mày đi một thời gian thấy ngoài đời không dễ sống, sẽ quay về. Lúc đó, ổng nện mày một trận cho bỏ cai tính rong chơi, lo chăm chỉ học hành. Không ngờ mày lớn gan lớn mật … ” Cô dí ngón tay vào trán tôi, “Cái thằng hoang đàng chi địa!”

Cô Hường còn nói rất nhiều. Nói về bà con láng giềng trách móc ba tôi ruồng bỏ con cái. Nói về những ngày ông vất vã đi tìm con, bỏ bê công ăn việc làm, gia đình sa sút. Còn dượng thi mỉm cười, bóp vai tôi như đo lường sức vóc sau mấy năm không gặp. Thấy tới cảm động, cô bảo: “Mày phải theo cô về nhà ngay.”

Tôi nói: “Con chưa nghĩ điều đó.”

“Hiện tại mày làm gì để sống?

“Con phụ việc cho một lò bánh mì.”

Đó là tôi chợt nghĩ tới việc làm của anh Kỳ và nói dối để chứng tỏ rằng tôi cũng có nghề nghiệp đàng hoàng.

Không biết tự bao giờ, tôi nói dối như thật, mồm miệng trơn tru không còn thẩy ngượng. Cô Hường muốn tới chổ ở của tôi. coi tôi sống ra sao. Tôi từ chối. Những ngày nghỉ hè, gia đình cô Hường ở Đại Khách Sạn Nha Trang, sát bờ biển. Mỗi ngày, tôi làm người hướng dẫn gia đình cô đi chơi. Coi cá ở Hải Học Viện. Viếng Tháp Bà. Tắm Bãi Dương. Chụp hình ở Hòn Chồng. Cuối cùng, trở lại bãi biển Nha Trang bơi lội và phơi nắng.

Cô hỏi: “Còn nơi nào nữa?”

Tôi nói: “Còn Đại Lãnh, Ba Hồ, Suối Tiên, mộ Yersin. Nhưng mấy nơi đo xa xôi hẻo lánh, đường đi bất tiện.”

“Mày có đi Huế chưa?”

“Chưa, Con cũng ước mơ đi Huế một lần.”

“Cô nghe người ta nói, ngủ đò sông Hương thú vị lắm, Hè năm sau, cộ sẽ đi Huế ngủ đò cho biết.”

Không biết sau này cộ Hường có thực hiện được ý định ấy hay không. Nhiều năm sau, tôi đi Huế ngủ đò sông Hương, cảm thấy thú vị thật! Ngày cô Huờng rời Nha Trang, tôi gửi theo một lá thư thăm nhà, chúc sức khỏe ba và đì tôi. Trong thư, tôi cũng nói thêm rằng, ba đừng bận tâm về một con diều đứt dây. Lúc giã từ, cô Hường dúi cho tôi xấp tiền. Đã nhiều lần tôi ngửa tay nhận của người khác, nhưng chưa một lần cho ra.

Nghĩ lai lời ông Bốn Cọp nói, lớn lên tôi chỉ làm một thứ sâu mọt đục khoét xã hội mà thôi. Có lẽ đúng.

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu

Thường những ngày gió lặng, biển im, sáng thức dậy sớm pha cà phê để đó, rồi ra boong tập thể dục. Sáng nay bấm nút điện máy pha cà phê xong, ra boong chưa kịp khởi động bài tập Dịch Cân Kinh, thì nghe tiếng mở cửa. Tôi ngoái lại thấy Tamela, thằng nhỏ mới xuống thay cho một thủy thủ đã hết hợp đồng, lần đầu mới gặp tôi mà nó tỏ vẻ thân thiện như quen biết từ lâu, tôi đoán chừng nó là con hay cháu của một đồng nghiệp nào đó. Mới hơn tháng mà đã bị ba trận bão, cho tới mấy ngày qua thời tiết vẫn còn xấu quá, thủy thủ đoàn mệt mỏi nên gặp mặt chào nhau một cái và sau giờ làm việc mạnh ai nấy về phòng nằm nghỉ, nên tôi chưa có dịp nói chuyện với nó.  Tamela vui vẻ chào:
– Chào buổi sáng, chú. Tôi chào lại và xớ rớ chưa biết làm sao thì nó chỉ tay vô đất liền hỏi:
– Nước nào vậy chú? Tôi nhìn theo tay nó, thấy bầu trời xanh ngắt, lấp thấp là dãi đất liền, tiếp theo có vài  chiếc tàu buôn xuôi ngược trên mặt biển xanh trong vắt và láng mượt như mặt thủy tinh. Nghe khí trời âm ấm, tôi biết tàu đã qua hải phận Phi Châu rồi, tôi nói:
– Ma Rốc. Nó nói:
– À, ba con gởi lời thăm chú. Thời gian sau này những câu hỏi như ông con gởi lời thăm ông, hoặc ba con gởi lời thăm chú từ những đứa thủy thủ trẻ rất thường, nên tôi hổng thấy làm lạ lắm. Tôi day qua hỏi nó:
– Ba con là ai?
– Johannes Beslar.
– Oh! Johannes Beslar! Anh ấy giờ sao rồi?
– Hai chưn ba con hơi yếu, đi phải chống gậy, nhưng tinh thần còn sáng suốt lắm.
– Năm nay ba con trên bảy mươi tuổi mà còn như vậy thì cũng khá lắm rồi. – Hôm con sắp đi, nghe Zanda nói có chú ở đây, ba con có kể cho con nghe về chú, trước kia chú là Boat people. Tôi hỏi nó:
– Con biết Boat people là gì không?
– Dạ, là người Việt tị nạn Cộng Sản mà hồi đó cả thế giới tự do gọi là Boat people.
– Đã lâu lắm rồi chú mới nghe có người nhắc hai tiếng Boat people. Nhứt là người trẻ tuổi như con vẫn còn biết cái thời người Việt tị nạn Cộng Sản của mấy chục năm trước,
– Con chỉ nghe ba con kể lại thôi, chớ cái lúc đó con chưa chào đời mà. Vậy là sáng nay coi như bỏ tập thể dục rồi, thấy trời còn sớm.Tôi hỏi nó:
– Con uống cà phê không? Nó liền nói:
– Dạ, để con vô lấy. Nói đoạn nó day lưng đi nhanh vô trong. Tôi nhớ lại, cách đây hơn bốn mươi năm, những năm người Việt tị nạn vượt biển, qua tạm dừng chưn những quốc gia tự do Đông Nam Á để chờ định cư nước thứ ba, trong đó có đất nước In Đô. Johannes Beslar cũng như nhiều đồng nghiệp người In Đô, là lớp thủy thủ trước tôi, có nhiều thủy thủ đã cứu vớt người Việt lâm nạn trên biển, nên rất am hiểu nỗi gian nan của người Việt vượt biển. Ngày đó niềm thương nỗi nhớ quê hương còn sâu đậm, trong lòng cứ canh cánh nhớ nhà, nên mặt mày lúc nào cũng bí xị, buồn hiu. Nhờ làm việc chung với những người In Đô, tôi được họ cảm thông chia sẻ vui buồn và giúp đỡ rất nhiều về mặt tinh thần. Thời gian trôi qua nhiều năm, nay đầu tóc đã bạc, sói sọi và trí nhớ cũng mù mờ, chuyện cũ lúc nhớ, lúc quên. Nay nghe Tamela nhắc lại cái thời nghiệt ngã ấy, tôi cũng nhớ lại nhưng hông còn ray rức như xưa nữa. Sau này sống chung với đám trẻ In Đô, tôi phát hiện ra, cái nỗi nhớ quê hương đất nước, nhớ nhiều, nhớ ít là do thời đại. Không riêng gì người Việt chúng tôi lúc đó, vì hoàn cảnh tị nạn Cộng Sản phải sống lưu vong, mới biết nặng lòng với quê hương đất nước. Người In Đô cũng thiết tha với quê hương đất nước của họ lắm, tuy họ sang Âu Châu làm việc có lương, những vẫn là những người tha phương cầu thực. Điển hình như Johannes Beslar và nhiều thủy thủ In đô cùng thời. Cách đây hơn ba mươi năm, thực phẩm Á Đông bên Âu Châu này rất hiếm. Cho nên mỗi khi thủy thủ thay đổi, người mới xuống mang theo cả năm sáu ký gia vị của In Đô và loại cá lòng tong khô mà người nhà đã ướp hương vị của quê hương, đưa cho tôi và chỉ tôi cách nấu, cũng có người gởi Ketjap, cá khô qua đường bưu điện. Nếu lâu quá không người xuống thay mà gia vị In Đô đã hết, thì khi tàu về lại Rotterdam, Johannes Beslar và những người đồng hương hùn tiền nhau đưa cho một người, rồi bao tắc xi đi cả chục cây số tìm Toko của In Đô mua Ketjap, trasi, mì gói, rau muống và vài ba bó rau thơm, khi nào mua được ớt hiểm thì cả đám vui mừng lắm. Luôn cả lịch treo tường, cuối năm bên Âu châu người ta tặng cho cả đống, nhưng những người In Đô không treo trong phòng mà cũng phải lên phố tìm mua cho bằng được những tấm lịch có cảnh thành phố bên In Đô hoặc ít ra cũng phải có cảnh cây dừa, núi non cho giống đất nước hải đảo của In Đô họ mới chịu. Lúc đó chưa có internet, chưa có điện thoại cầm tay. Xài điện thoại công cộng hoặc vô hội quán, gọi viễn liên mắc tiền nhưng hổng phải nước nào cũng gọi được, cho nên liên lạc với gia đình bằng thư viết tay, gởi đi nhận lại có khi cả một hai tháng. Có lẽ mất nhiều thời gian như vậy nên lúc nào trong lòng cũng canh cánh nhớ quê. Còn đám trẻ ngày nay, sanh ra và lớn lên nhằm vào thời đại 4.0 này, quê hương đất nước lúc nào cũng nằm gọn trong túi áo, túi quần thì làm sao tụi nó nhớ nhung như thời của cha, ông nó. Tụi nó giảm đi nỗi nhớ quê hương rất nhiều, mặc dù những tiệm bán đồ Á Đông bây giờ có mặt khắp nơi, nhưng ít khi tụi nó ngó ngàng tới. Mỗi lần đổ bộ, tụi nó vô nhà hàng ăn pizza, hoặc doner kebab và thỉnh thoảng chơi sang thì tìm quán bán đồ biển nhậu. Có lẽ vì nhờ internet bây giờ rẻ tiền, tin tức nằm trong lòng bàn tay, nên chúng nhắn tin, gọi nói chuyện về nhà mỗi ngày và những món ăn ngon được quảng cáo trên mạng quá nhiều nên làm cho phai nhạt mùi vị quê hương và niềm nhớ cũng giảm phần chăng? Tamela hai tay bưng hai tách cà cà phê ra, nó đưa tôi một tách. Chúng tôi đi lại ngồi trên đầu cột trụ cột dây. Hớp một hóp cà phê tôi nói: – Chú với ba con sống với nhau trên hai chục năm, lúc vợ trước của ba con bịnh ung thư chết, ba con buồn đi miết, hơn hai năm mới về lại In Đô thì cưới má con. Lúc đó ba con mới làm việc bình thường lại. Ba con cũng có cho chú biết, má con có đứa con trai riêng. Tamela cười ha ha:
– Dạ, đứa con trai đó là con nè chú.
– Ngày ba con về nghỉ hưu, chú và ba con ngồi nhậu trên hội quán ở Hamburg cho tới khuya.
– Dạ, ba con thường nhắc chú, ba con có kể, hồi đó khi tết Tây vừa qua thì chú nhớ tới tết Việt Nam và thường nấu những món ăn ngon truyền thống của Tết Việt cho thủy thủ ăn. Vào ngày mùng một Tết, nếu tàu trên biển thì chú làm những món nhấm như chả giò, tôm chiên bột rồi bày tiệc nhậu với thủy thủ. Nếu Tết trong bến thì chú mời thủy thủ lên hội quán hoặc lên ăn, nhậu trong nhà hàng. Lâu lắm rồi tôi không còn thiết tha tới ngày Tết cổ truyền, tuy vẫn còn nhớ, nhưng nỗi nhớ nhung không còn thiết tha như ngày xưa nữa. Hôm nay nói chuyện với thằng nhỏ, bỗng dưng tôi lại nhớ về, nhớ vùng ven biển trong những ngày cuối năm, với con trai, con gái bận áo, quần mới đi chùa lễ Phật, cảnh ngày tết vui vẻ vào đêm ba mươi có bánh tét, bánh ít trong giờ giao thừa và nhớ nồi thịt kho ba ngày tết, nhưng chỉ nhớ thoáng qua thôi. Tuy trong dạ có chút bồi hồi, nghe buồn man mác nhưng hổng còn thèm thuồng đến thắt ruột như cách đây mấy mươi năm. Mới hay nỗi nhớ quê hương dần dà lu mờ trong tâm trí của những kẻ xa quê quá lâu, nó cũng hông còn thấm đậm trong tim như ngày xưa nữa. Tôi nói với Tamela:
– Bây giờ chú vẫn đi chơi với tụi con mà, lần nào cũng có chuyện vui như Tết.
– Con có nghe Zanda khoe, tuần trước, chú dẫn nó lên Las Palmas.
– Âu châu bỏ lệnh cấm cách ly rồi, nhưng tuần rồi ở Las Palmas khách du lịch đông quá nên chú với Zanda còn ngại. Chuyến này tàu trở lại Vigo nhằm Tết Việt Nam, nếu chú còn trên tàu thì chú mời tụi con lên bờ nhậu với chú. Đồ biển ở Vigo rất ngon. Tamela vui mừng hô:
– Ô kê chú, con hy vọng chú ở lại tới qua tết Việt Nam. Zanda từ trong muôi tàu mở cửa ló đầu ra, chưn ngoài, chưn trong nó ngó qua ngó lại, chợt thấy tôi với Tamela, tay vịnh cánh cửa. Nó chồm ra hô lớn:
– Goodmorning! Tôi và Tame la cùng nhau nói goodmorning lại. Zanda bước hai chưn ra ngoài, đóng nhẹ cánh cửa, đi ra đứng cạnh tôi. Nó nhìn về phía trời đông nói:
– Trời đẹp quá chú? – Rất đẹp, tết Tây đã qua, những cơn bão lớn cũng đã qua, biển êm và trời trong. Tamela nói:
– Đúng vậy, sau cơn bão gió êm, biển lặng. Tôi chỉ tay về một đám mây phản chiếu ánh sáng khi mặt trời nhô lên khỏi mặt nước phương Đông:
– Coi kìa! làm sao mà một đám mây nhỏ màu hồng bay lơ lửng như một chiếc lông từ một con chim hồng hạc khổng lồ nào đó rớt ra. Tamela cười:
– Ha ha… chú hay thiệt đó, thấy một đám mây mà thành ra lông của chim hồng hạc. Cả tháng qua gió bão, sóng gió nhiều làm việc xong mạnh ai nấy về phòng riêng nên không có dịp nói chuyện với nhau. Hôm nay trời đẹp nên thấy trong người thoải mái hơn, gặp mặt chào nhau vui vẻ, chớ không lơ là như những ngày giông bão. Tôi cười và chỉ tay về phía mặt trời, nói:
– Con hổng thấy sao! Trời xanh, mây trắng, mặt trời hồng, biển im lìm và thánh thiện. Khi chúng ta có mặt vào buổi sáng thì phải tạ ơn một đặc ân quý giá của thiên nhiên ban cho. Khi biết ta còn sống, hít thở, suy nghĩ, tận hưởng và yêu thương, thì để cho tâm thức biến những cái bình thường nó trở nên đẹp đẽ hơn. Hai đứa cười ha hả Zanda nói:
– Chú là nhà văn.
– Mỗi khi nhìn biển, trời đẹp đẽ chú hay suy nghĩ vu vơ vậy thôi. Zanda hỏi tôi:
– Con vô nấu mì nhé chú?
– Ừa, con nấu đi. Zanda day ngang hỏi Tamela ăn mì không nó nấu luôn. Tamela gật đầu đồng ý. Zanda day qua tôi nói:
– Chú ngồi chơi đi, con nấu mì cho thủy thủ In Đô và dọn bữa ăn sáng cho officers luôn.
– Ok, thank you. Zanda đi trở vô bếp nấu mì. Tamela day qua cười nói:
– Cái thằng mập vậy mà ăn nhiều quá. Nó nhìn về phương Đông, ánh mặt trời đã nhô lên khỏi mặt nước trông như chiếc mâm. Một bầy chim nhàn tìm mồi bay lượng, vài những con chim nhỏ bay trên ngọn cần trơi. Tamela chỉ tay lên bầy chim nhỏ, hỏi:
– Chim én (Swallow) phải không chú?
– Ờ đúng rồi.
– Con tưởng Âu châu hổng có loài chim én. Tôi giải thích:
– Có chớ, Swallow là tên gọi thông thường của các loài chim cùng họ, ở châu Âu như một từ đồng nghĩa với chim én là chim martins cũng là một nhóm chim trong họ Hirundinidae, chúng có mặt khắp nơi trên thế giới.
– Sao nó bay ra tới đây, chú? Tôi chỉ tay vô dải đất liền, nói:
– Con coi kìa, gần bờ mà.
– Oh, nhưng ra đây rồi lấy gì nó ăn?
– Theo chú biết loài chim én có đặc điểm là chúng thích hợp với việc kiếm mồi trên không. Chim én có mặt khắp thế giới và sinh sản ở tất cả các lục địa, ngoại trừ Nam Cực. Những chuyên gia am hiểu về chim chóc họ cho rằng, loại chim này có nguồn gốc từ Châu Phi, chúng thường làm làm ổ trong bọng cây, tuy nhiên Châu Phi cho tới nay vẫn còn có nhiều loại chim to con nhứt. Chúng cũng xuất hiện trên những hòn đảo giữa đại dương. Còn một số sống bên châu Âu và Bắc Mỹ là loài chim di cư đường dài; ngược lại, có một giống chim én ở Tây phương và Nam Phi thì chúng hổng có di cư. Chợt nhiên một con chim nhỏ đáp xuống boong, nó đi tới đi lui trông nó không có gì hốt hoảng và nó cũng không bay lên được nữa. Thấy con chim có vẻ khác thường, Tamela tới bợ nhẹ nó lên, nó kháng cự yếu ớt và nằm gọn trong lòng bàn tay của Tamela. Tamela nói:
– Để con vô lấy nước cho nó uống và bánh mì cho nó ăn. Tôi ngăn lại:
– Đã nói là loài chin én không ăn, uống được những thức ăn trên trái đất mà. Tamela lưỡng lự, hỏi:
– Vậy để nó đâu chú? Tôi khoát tay:
– Con buông chim ra và cứ để nó tự nhiên đi. Tamela buông chim ra, chim thong thả đi lại nơi góc khuất đứng đó. Tame la nói:
– Thấy nó tội nghiệp quá chú.
– Con cứ để nó tự sanh tự diệt đi, mình không nên can dự vào đời sống của các loài chim, chúng có cách sống riêng của chúng. Con để nó tự do, có thể một lát nó khoẻ lại và nó sẽ tiếp tục bay đi, con bắt nó nhốt lại nó sẽ chết. Zanda mở cửa ló đầu ra kêu Tamela vô ăn. Tamela day ngang:
– Con vô ăn nhé chú.
– Ok. Ăn ngon. Tamela đi rồi, tôi nhìn qua góc khuất chỗ con chim én. Không thấy nó, tôi ngó quanh thì thấy nó đứng trên cuộn dây. Tôi bước tới thì nó lấy trớn bay vút về hướng đất liền. Thấy vui vui và nhìn theo con chim tới khi chấm đen biến mất trong cái không gian trong lành và thánh thiện. Ánh mặt trời chen mình vô đám mây tụ màu xám và toả ánh sáng ra đám mây cạnh bên màu trắng mỏng manh. Tôi nghĩ tới ánh mặt trời chiếu sáng khắp mặt đại dương, loan ra miền núi, rừng cây, ruộng lúa, vườn rau và dân gian sống trong các làng mạc trên khắp vũ trụ hành tinh này. Nhưng tôi cam đoan rằng từ người trí thức, người làm chánh trị, những nhà lãnh đạo các nước và người đang làm một công việc vặt vãnh xa mù chì ở tuốt trong đất liền, cho tới thủy thủ chúng tôi ở giữa biển khơi; kẻ lương thiện, người dã man, nếu họ biết nhìn nhận được những cái đẹp tuyệt vời này thì tất cả sẽ thấy những tham vọng, phấn đấu nó nhỏ bé trước cảnh quang đẹp đẽ và hùng vĩ của Thiên nhiên như thế nào!   Hết       
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 Jun 2026

Tuần qua, trên một chương trình truyền hình, tôi có dịp được phỏng vấn một thanh niên người Việt đã thành công trên đất Mỹ, tên em là Nguyễn Hữu Nhân hay Nathan Nguyễn, là con của cựu Thiếu Tá Nguyễn Hữu Phước, cựu SVSQ Khoá 20 Đà Lạt. Em chào đời năm 1996, vài năm sau khi ba đi tù 9 năm trở về, lớn lên trong một ngôi nhà lá vách đất ở thị xã Tây Ninh và năm 1991 theo cha sang định cư tại Mỹ trong danh sách HO 5 khi em chỉ mới 5 tuổi. Nathan thành công không phải vì em tốt nghiệp bằng cử nhân về thương mãi, nhưng vì em đã biết lập công ty địa ốc từ năm tốt nghiệp trung học để mua bán nhà với mục đích lấy tiền lời cho mẹ đi hành hương ở Roma, năm 20 tuổi trong khi đang đi học tại USC em đã lập công ty “Instrumentalsavings.com” bán nhạc cụ trên internet mà tiền lời năm 2008 của cái công ty vỏn vẹn có 6 nhân viên này lên đến 3 triệu đô la. Nathan Nguyễn đã được đài NSBC phỏng vấn trong chương trình “Young & Sussesssful”, được nêu tên trong cuốn “The Richest Kids in Ameria” và được coi như một tấm gương xuất chúng “Extraordinary Teens” trong loạt sách “Chicken Soup for The Soul”. Em luôn luôn hãnh diện về quá khứ và việc nói tiếng Việt lưu loát của mình. Chuyện Nathan Nguyễn giỏi tiếng Anh không có gì lạ, vì em vào trường Mẫu Giáo từ những năm đầu tại Mỹ, nhưng điều lạ là Nathan rất giỏi tiếng Việt, mặc dầu lúc rời Việt Nam em chỉ mới 5 tuổi. Hỏi lý do về chuyện này, Nathan trả lời rằng “nhờ cha mẹ em không biết tiếng Anh nên em mới giỏi tiếng Việt,” hàm ý ở nhà cha mẹ và con cái đều luôn luôn dùng tiếng Việt.

Trong môi trường đó cũng như trong các gia đình có bà nội bà ngoại, trẻ em nói tiếng Việt rất giỏi, còn thuộc thêm nhiều câu ca dao, tục ngữ. Trẻ em lớn lên ở đây, còn nói được tiếng nước mẹ rành rõi mới đáng quý, còn tiếng Anh giỏi thì là chuyện thường tình, đâu có vinh dự gì.

Có lần, tôi gọi thăm một người bạn ở xa, ở đầu giây tôi gặp một cô bé nói tiếng Anh, chừng là con gái bạn tôi, tôi hỏi tiếng Việt nhưng cô chỉ trả lời lại bằng tiếng Anh. Lần sau khi gặp bạn qua điện thoại, tôi hỏi đùa: “Nhà anh có con Mỹ nào vậy?” Bạn tôi trả lời, có vẻ hãnh diện:“Đó là con gái út nhà tôi. Nó mà nói tiếng Anh, không ai biết nó là người Việt đâu!” Chuyện này cũng không khác mấy chuyện thằng cháu ngoại sinh ở Mỹ, năm học lớp 2, khi bắt đầu nói được tiếng Anh đủ cho bạn bè và cô giáo hiểu, sung sướng và hãnh diện, về nhà nó ngây thơ khoe với ông bà ngoại: “Con nói tiếng Mỹ hay lắm, tụi nó cứ tưởng con là người Mỹ!”

Câu nói: “Chỉ sợ con mình quên tiếng Việt, đừng lo lũ cháu dốt Anh văn”của một nhà giáo luôn luôn vẫn là một lời khuyên đúng. Có ý kiến độc giả lại lên án câu nói này và cho rằng “việc chuẩn bị một số vốn liếng tiếng Anh là điều rất cần thiết cho các trẻ nhỏ trong những ngày đầu đến trường” hay “người nào đó đem áp dụng những câu nói này mà lơ là trong việc dạy dỗ cho các em một số vốn liếng tiếng Anh cần thiết, là một điều vô cùng thiếu sót, thiếu trách nhiệm làm cha mẹ hay phụ huynh … “. Ngay cả đối với người Mỹ, với con cái chỉ mới vào lớp mẫu giáo, họ đã trang bị được “vốn liếng” gì cho ngoài chuyện đàm thoại rất hạn chế trong gia đình, vì ngay chuyện viết, đọc, trẻ em cũng phải học hỏi ở nhà trường. Tôi đã gặp nhiều bậc cha mẹ ngay cả khi vào chợ thường nói chuyện với con bằng tiếng Anh, một thứ ngôn ngữ chưa thông thạo và phát âm còn sai. Nhiều nhà giáo đã khuyên chúng ta không nên dùng thứ tiếng Anh đó để “dạy dỗ” hay gây “vốn liếng” cho con, cứ để trẻ em tự phát triễn Anh Ngữ ở trường. Chúng ta thử hỏi có bao nhiêu phần trăm người Việt di dân sang đây, vào những ngày đầu con đến trường có thể trang bị cho con một số vốn Anh Ngữ như một người Mỹ đã sống ở đây nhiều đời? Phần lớn cha mẹ cũng đang gặp khó khăn, chật vật với ngôn ngữ tại đây để sinh tồn, không có kiến thức cũng như thời giờ để giúp con “số vốn liếng tiếng Anh”như đề nghị trên, nhưng cuối cùng chúng ta thấy dù cha mẹ không biết mảy may tiếng Anh, con cái họ cũng đã thành công vượt bực. Vậy vấn đề còn lại của người Việt, người Tàu hay người Đại Hàn nơi đây là ít ra phải nói được tiếng mẹ đẻ của họ, chưa nói đến chuyện đòi hỏi một trình độ cao hơn là đọc hay viết được ngôn ngữ của dân tộc mình. Con cháu của những đợt di dân đầu tiên đến Mỹ, Úc, Pháp hay các nước khác không mấy khó khăn khi nói tiếng Việt, nhưng phần đông không thể viết hay đọc được Việt Ngữ, do đó chúng ta phải ghi nhận công lao của các thầy cô các trung tâm Việt Ngữ hiện điện trong các cộng đồng người Việt tỵ nạn trên thế giới.

Còn vấn đề hướng dẫn hay dạy đỗ con cái như thế nào còn tuỳ thuộc vào suy nghĩ của mỗi gia đình, cho nó là quan trọng hay không? Ngày nay người Việt chúng ta, vì hoàn cảnh hồi vượt biển bỏ nước ra đi, nay thì có gia đình người ở Pháp, người định cư ở Đức, mỗi khi có cơ hội sum họp với nhau ở nhà ông bà nội ở Mỹ, cháu ngoại thì nói với nhau tiếng Đức rổn rảng, cháu nội thì dùng tiếng Pháp líu lo, nhưng anh em cô cậu nói chuyện với nhau thì … ngọng miệng!

Cha mẹ thường chiều con, nói rằng chúng nó nói tiếng Việt khó khăn, nên để chúng dùng tiếng Anh cho thoải mái. Dần dà, các em quên mất tiếng Việt và nếu có nói thì cũng nói sai giọng. Không phải ai cũng có ý thức dạy con cái nói tiếng Việt. Phải kiên trì và chịu khó lắm mới thành công. Một cháu nói với tôi rằng hồi mới qua Mỹ, bố cháu kẻ bảng chữ treo trong phòng ăn: “Không Nói Tiếng Việt- Không Ăn Cơm”. Có gia đình, đối với các cháu nhỏ ngày Tết: “Không Chúc Ông Bà bằng Tiếng Việt – Không Có Tiền Lì Xì.”

Hiện nay ở Việt Nam người ta vọng ngoại, thích học và nói tiếng Anh, trong khi chúng ta ở đây tìm cách khuyến khích con học tiếng Việt là điều dễ hiểu. Có điều tôi hy vọng rằng tiếng Việt tương đối đủ dùng trong việc giao tiếp với nhau hằng ngày không cần phải vừa nói vừa chêm tiếng Anh ngay cả trên đài phát thanh, như “uống thuốc của bác sĩ tôi thấy rất work”, rất là wonderful!” hay kiểu “sính Tây” “toi, moi, luỷ, ẻn” như thời Pháp thuộc. Người Mễ Tây Cơ chịu ba thế kỷ nô lệ, dân số hơn 100 triệu, bây giờ 89% theo Thiên Chúa giáo và nói rặt tiếng Tây Ban Nha, chỉ có 6% còn dùng tiếng bản địa. Trong khi tổ tiên chúng ta chịu cảnh nô lệ Tàu mười thế kỷ, Tây một trăm năm mà tiếng Việt chúng ta cũng không bị mất, chưa ai hoá thành Tàu, thành Tây cả. Chỉ tiếc người miền Bắc XHCN Việt Nam, chỉ mới chịu ơn Tàu, ăn lương khô, mặc vải Trung Cộng trong vòng 20 năm thôi, đã đổi cách nói và cách dùng chữ y hệt như Tàu. Sự cố! Sự cố!

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 2 Jun 2026

Ngày còn ngồi ở trung học đệ nhất cấp vào thập niên 50 ở Huế, cứ mỗi lần Tết đến là lũ học sinh chúng tôi góp tiền nhau ra chợ Đông Ba mua nửa chục cam hay một hộp bánh, bọc giấy màu đỏ, thắt nơ vàng chuẩn bị cho giờ Tết Thầy. Tôi còn nhớ năm đó, phần tôi được hân hạnh trong lớp cử viết lời chúc Tết, nên đêm hôm truớc đã cố nặn óc, tìm ra những lời hoa rnỹ. nhất là đoạn lũ học trò ma quỹ tỏ ra hối hận ăn năn và xin lỗi Thầy, nắn nót viết trên một trang giấy ca-rô lớn, còn vẽ kèm thêm mấy bông hoa lòe loẹt bằng bút chì màu.

Bản văn này, sau khi đọc. sẽ dúi vào tay Thầy để Thầy đem về nhà kỷ niệm. Lẽ cố nhiên là chúng tôi chỉ chúc Tết các Thày dạy những môn có hệ số cao, còn các Thầy dạy các môn phụ như Hội Họa, Hán Tự, Vạn Vật … thì chúng tôi làm lơ, mặc dầu đã thuộc làu câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư.” Điều này thì ai cũng rõ, quý Thầy dạy môn chính là những người có quyền sinh sát số phận chúng tôi, nên bên trọng bên khinh, chắc Thầy cũng thông cảm. Thông lệ chúc Tết này, ở bậc tiếu học không hề có mà lên đến lớp Đệ Tam cũng không còn. Tôi không rõ, vì sợ phụ huynh học sinh phiền hà, nên nhà trường cấm cản, hay đạo lý mỗi ngày mỗi suy đồi không còn lễ nghĩa?

Lúc Thầy bước vào lớp, lũ học trò im phăng phắc, đứng dậy chào Thầy, không khí hôm nay nghiêm trọng trông thấy rõ, khác hẳn ngày thường. Sau khi trưởng lớp đứng lên xin phép Thầy cho chúng tôi “cử hành” lễ chúc tết và đặt lên bàn Thầy sáu trái cam Sunkist bọc trong tờ giấy bóng đỏ, được túm lại ở trên đầu cột bằng một giải ru-băng, tôi bước lên đứng cạnh Thầy, bắt đầu mở “sớ” ra đọc:

“Kính thưa Thầy. Theo sự tuần hoàn của vạn vật, mùa Xuân đã trở về …. ” mà tôi đã “cóp” ở đâu đó. Nhưng cái câu đáng chủ ý nhất có thể làm Thầy cảm động nhất và cũng có thể làm cho mấy đứa học trò dốt và quậy nhất cũng phải rưng rưng, là “Trong năm qua, đôi lúc chúng con ngỗ nghịch và lười biếng, đã làm cho Thầy phiên lòng không ít dù Thầy chẳng bao giờ nặng lời rầy la. Nhân dịp năm hết, Tết đến, xin Thầy ấây “lượng Xuân” mà tha thứ cho chúng con.”

Bây giờ thời gian đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, cậu học trò đệ lục ngày xưa, tóc đã điểm sương vẫn òôn nhớ rõ hai tiếng “Lượng Xuân.” Theo tôi, “lượng” đã là cái gì rộng lớn bao la lắm, mà “Lượng Xuân” hẳn phải tốt đẹp, vĩ dại hơn nhiều. Chắc Thầy sẽ cảm động mà tha thứ, hẳn từ nay sẽ không bao giờ Thầy xuống tay hành hạ chúng con, bằng những giờ “cẩm túc”(1) nữa. Nhưng thực tế, chuyện con người lấy được “lượng Xuân” mà tha thứ cho nhau, chi có trọng ảo tưởng, không bao giờ có thật trên đời này. Ngày còn trẻ, chúng tôi thường nghĩ, thanh, thiếu niên thường nóng nảy, nông cạn, nên những bực dọc, bất mãn thường để lộ ra ngoài, nhưng lúc về già, con người trở lại chậm chạp, điềm tĩnh, kinh nghiệm, biết được tính vô thường của cuộc đời, hẳn sẽ dễ quên, dễ tha thứ … Nhưng sự thật hẳn không là như thế. Tuổi trẻ mở rộng lấm lòng với xã hội, hướng đến tương lai. Tuổi giả nhìn vào thân phận mình và luôn luôn tiếc nuối, quay nhìn về dĩ vãng nên đau khổ, phiền muộn nhiều, dó chính là nguyên nhân của nhiều sự gay gắt, dỡ hơi, khó tính mà thông thường tuổi trẻ dùng để lên án những ông già.

Mỗi người Việt Nam chúng ta, nhất là thế hệ ra hải ngoại sạu biến cố 1975, hẳn đã trải qua biết bao nhiều biến cố đau thương của đất nước, ai cũng dã qua một thời khổ đau, mất mát, chia lìa vì chiến tranh, tù đày. Không một gia đình nào tránh được nỗi tai ương, ai cũng có người thân chết trận, gia đình nào cũng chịu cảnh tù đày, nơi nào cũng có chuyện người vượt biển mất tích. Phần đông người Việt tha hương chúng ta đều chịu cảnh ly tán, gia đình nào cũng chia năm xẽ bảy, lưu lạc bốn phưong trời. Những ẩn ức, bất mãn, buồn phiền ấy thành khối u trong tảm hồn mỗi người, không phát triển lớn ra thì cũng khó lòng tiêu tán. Chúng ta thường đem nỗi dầy vò, đau đớn ấy san qua cho người khác bằng cách, trút nỗi căm thù, giận dỗi, ganh ghét ấy cho đồng loại, gần gũi hơn là cho đồng bào, nhỏ hẹp hơn là cho những người hiện diện quanh chúng ta. Những ẩn ức ấy được gửi đi lên cộng đồng mạng bằng những lời chữi thề thô tục với loại chữ nghĩa mà thực tế họ không thể nói bằng lời, và còn sĩ diện giấu mặt không cho bằng hữu hay gia đình họ hay biết. Chúng ta dày vò, chì chiết nhau, xem nhau như kẻ thủ, khi chúng ta không thể trực diện và tấn công vào kẻ thủ vô hình, những nguyên nhân là chỉ chúng ta thiệt thỏi, khổ đau trong gần như suốt cả cuộc đời. Một ông chủ bất mãn chuyện gia dình có thể trút thịnh nộ lên đầu đám công nhân dưới quyền, cả tên công an đứng đường mới thua bạc hôm qua thẳng tay, gay gắt với người phạm luật qua đường. Vậy thì chúng ta có thể cắt nghĩa cái xã hội xô bồ, bún chữi, cháo mắng, cái cộng đồng sẵn sàng quơ dao chỉ vì một cải nhìn bất thân thiện, giống người chửi mẹ chém cha, đều là những người bị dày vò vì những nỗi ẩn ức đau khổ. Nỗi ẩn ức đó đè nặng lên cuộc sống. chịu đựng một cuộc sống bất an, không tương lai mỗi ngày, đó là cuộc sống của con người, ngộp thở dưới bàn tay vô hình của chế dộ cai trị. Không phản kháng không chống lại được sức mạnh ấy, thì ta quay mủi dao lại với bạn bè anh em, chúng ta trút nỗi thịnh nộ lên đầu người khác. Đất nước càng văn minh, giầu có, dân chủ con người càng biến hóa, tử tế, nhường nhịn nhau, không phải là điều gi khó hiểu.

Người ta chế “bức tường lòng” giữa người Việt ở Tây Đức và Đông Đức hôm nay, sau 24 năm còn cao hơn cả bức tưởng ô nhục Bá Linh, cũng như Việt Nam chưa thống nhất được lòng dân sau 37 năm. Điều đó đâu có gì là lạ. Một mặt vì nhu cầu tuyên truyền, dưới cái nhìn của miền Bắc, con người miền Nam được đưa xuống cấp cần được khai hóa, là điều xấu xa của Mỹ Nguy, người miền Nam thì ghê sợ bởi sự tàn khốc, gian trá, đểu giả của đám miền Bắc, qua những đòn thù “cải tạo”, đổi tiền, đánh tư sản, đẩy con người ra biển, vơ vét, thù hận.

Có cái “lượng Xuân” nảo để họ có thể mở rộng lòng mà tha thứ cho nhau. Cải “lượng Xuân” mà ngày xưa lũ học trò bịa ra để vin vào đó mà xin Thầy rộng lượng, tha thứ cho, hẳn không có thực trên cuộc đời còn phân hóa, khổ dau này.

(1) Consigne- giống hình phạt “detention” trong nhà trường

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 1 Jun 2026

Tôi lên chùa, thăm sư Trí Tâm. Sư bảo tôi thắp hương lễ Phật trước, nói chuyện với sư sau. Chánh điện trang nghiêm. Bàn thờ rực rỡ với những chưng bày phô trương hào nhoáng. Tôi thấy Phật là tượng gỗ. Nhớ xưa, ngày rằm tháng bảy, tôi thco má tôi đi chùa. Ngôi chùa nhỏ nghèo nàn nơi một vùng quê hẻo lánh, chung

quanh có nhiều cây che bóng mát. Mẹ con tôi trải chiếu ngủ lại chùa, dưới hàng hiên bên hông chánh điện. Tôi nhìn qua khe vách gỗ. Trong ánh sáng u trầm của ngọn đèn dầu nhỏ, dường như Phật cũng nhìn lại tôi, trên môi thấp thoáng nụ cười, Đêm đó, trời cao và trăng sáng lắm. Trăng xuyên qua lá, soi lốm đốm vào chổ mẹ con tôi nằm. Trông trăng, tôi nghe mùi hương thoang thoảng, tiếng côn trùng ru ngủ canh khuya. Tôi mơ thấy Phật. Mãi sau này, đi đâu tôi cũng mang trong lòng ông Phật của ngôi chùa nhỏ nơi chốn ở quê nhà.

Tôi nói với sư điều đó. Sư bảo, có một đấng thiêng liêng trong lòng là phúc đức. Bất hạnh cho những kẻ không tin tưởng một điều gì. Trong cơn tuyệt vọng, biết cầu nguyện bám víu vào đâu?

Ngồi trong phòng riêng của sư, sư hỏi: “Lâu nay con thế nào?

Tôi kể từng giai đoạn tất cả những gì xảy ra sau khi tôi rời nhà anh Hòa. Những đớn đau dằn vặt. Những sa đà hư đốn. Những nhục nhã ê chề. Tôi mong tìm thấy nơi tâm hồn cao cả một niềm an ủi. Sư ngồi trầm ngâm lâu lắm. Sư hớp mấy ngụm trà, nói về cái lý vô thường, cái lẽ sắc không. Tôi thất vọng, Cái mớ rối bòng bong ấy, chẳng có tác dụng gì với tôi. Sư lại nói về nghiệp báu. Tôi cũng dững dưng. Sư bảo lòng tôi là biển lữa mênh mông, nghiệp chướng sâu dày, oan khiên chồng chất, phải hồi đầu tịnh tâm mới mong bớt khổ. Tôi ra về, lòng nặng trĩu. Sư đưa chân tới cổng chùa, dừng lại.

Sư nói: “Nghịch cảnh là bài học lớn nhất để từ đó, con nhìn ra cái tâm bồ tát.”

Tôi nói: “Con chỉ thấy ác quỷ.”

Người trần mắt thịt khó mà biện biệt được đâu lành, đâu dữ, Ngài Duy Ma Cật bảo, Bồ Tát vì chúng sinh mà lao vào vùng sinh tử. Tạo biết bao cơ duyên trùng trùng vi tế dẫn dắt chúng sinh. Con không nên nói lời gì gây thêm ác nghiệp.”

Lúc đó, có một đám trai gái gia dình Phật Tử đồng phục áo màu lam, vào chùa sinh hoạt. Sư cũng vào theo. Trong đám trai gái này, có cả Phương Nghi. Nhìn thấy tôi, nó hơi khựng lại. Tôi gọi tên Phương Nghi, và bước xéo qua bên góc chùa. đứng dựa vào cây bông sứ. Nó di theo. Gặp nhau quá bất ngờ, tôi chưa biết nói lời gì. Nó đưa tay vuốt tóc, cử chỉ bang quơ. Sau một thời gian dài không gặp, nó đổi khác nhiều. Tóc mượt mà óng ả hơn. Vầng trán rộng hơn. Môi thắm đỏ hơn. Đẹp, và sáng ngời thanh thoát. Nó chờ đợi tôi câu nói mở đầu. Tôi hỏi một câu lãng nhách: “Nghi vô gia đình Phật Tử hồi nào?

Nó cay đắng: “Từ ngày người ta lánh mặt Nghi.”

Tôi phân trần: “Có nhiều lý do, Nghi không hiểu.”

Thương ai thì cứ thương. Tìm hiểu rõ quá, nhiều khi lại không dám thương.”

“Bây giờ thì sao?”

Nó trách: “Anh tệ bạc lắm.”

Tôi nói: “Xuân hạ thu đông bốn mùa, lúc nào tôi cũng nhớ Nghi.”

“Nhớ Nghì? Nói thế mà nghe được sao?”

“Tôi thề có Hoàng Thiên Hậu Thổ … “

“Đừng thề. Nghi lầm anh. Chứ trời đất không lầm đâu.”

Nó ngước nhìn lên cành bông sứ. Tôi ngắt một chiếc bông trắng cho nó. Trong khi nó mân mê chiếc bông trong tay, tôi thuyết phục nó bằng tất cả nỗi niềm tuyệt vọng, mong nối lại chuyện tình. Tôi nói về sự khó khăn của đời sống và học hành, cùng mọi cố gắng để vượt qua. Sau cùng, tôi nói tôi vẫn yêu nó trong muôn vàn khổ sở.

Nó nhìn thẳng vào tôi, không biểu lộ một chút cảm động:

“Nhưng Nghi không còn yêu anh nữa.”

Tôi nghe tim mình thắt lại, hỏi một cách ngớ ngẫn: “Tại sao?”

“Có thể nào đem lý lẽ mà giải thích tình yêu?”

“Yêu thì không giải thich đuợc. Nhưng không còn yêu phải có lý do chứ?”

Trên môi nó điểm phớt nụ cười chế nhạo. Tôi ấn mạnh lưng bàn tay vào thân cây bông sứ sần sùi, kéo một đường rướm máu. Một biểu tỏ sự quyết liệt, và đau đớn tận cùng.

Nó nói rõ ràng từng tiếng: “Anh Hiên! Trong tình yêu không có thương hại đâu.”

Tổi lặng người trong giây lất. Và hình như sau đó, tôi xúc động đến run lên vì đau khổ.

“Đây là nhà chùa. khó nói chuyện tình, yêu. Mình có thể hẹn gặp nhau ở một nơi nào khác không?” Tôi vớt vát. Nó cương quyết: “Vô ích. Trước kia, Nghi khóc gần hết nước mắt vì anh. Bây giờ, lòng Nghi nguội lạnh rồi. Gặp nhau chi nữa?”

“Tôi có những diều muốn phân trần.”

“Anh khỏi phân trần. Nghi biết hết rồi.”

“Đã lâu không gặp, Nghì biết gì về tôi?”

Nó hoi lại: “Anh biết con nhỏ Uyên không?”

“Uyên nào?”

“Bạn của Nghi.”

“Không biết.”

“Nhưng nó biết anh.”

“Biết thể nào?”

“Anh đến nhà nó.”

“Láo. Tôi đến nhà nó làm gì?”

“Tìm chị nó.”

Tôi chợt nghĩ đến con nhỏ hỏi tên tôi ở nhà chị y tá. Thôi rồi! Cái đám con gái mồm mép không để kéo da non. chắc nó dã mách lẽo với Phương Nghi về chuyện tôi bị lậu. Đang đau khổ vì tình. lại xấu hồ vì căn bệnh vừa qua. nó tố cáo tôi là thằng hư đốn. Ngay lúc đó tôi muốn chui xuống đất mà trốn.

Tôi nói liều: “Bạn của Nghi vô duyên như một thứ điện trở trơ, đặt điều nói bậy không cảm ứng được ai. Tôi với chị của con Uyên nào đó không hề quen biết, tôi tìm làm gì?”

Nó lại cười. Cái cười hết sức mìa mai: “Trị bệnh.”

Hai tiếng ngắn gọn ấy làm tôi xám mặt. Tôi lắc đầu quầy quậy. Cữ chỉ vầy vùng luyệt vọng của con thú bị ví vào đường cùng.

“Tất cả dều là hiểu lầm. Nghi ơi!” Tôi chối bỏ bằng giọng nói như rên.

Nói gặng lại: “Hiểu lầm?”

“Đúng, Hiểu lầm.”

“Không lầm đâu. Nghi nghiệm ra rằng thời gian anh lánh mặt Nghi, là thời gian anh đi vào con đường sa dọa.

“Suy nghiệm theo cái kiểu đổ tội trên đầu người ta. Ác lắm.”

Những đứa trong gia dình Phật Tử đã ngồi thành một vòng tròn trên sân chùa, đang chờ Phương Nghi.

“Nghi phải vào với bạn.”

Nó lạnh lùng, và quay đi rất vội. Tôi nhìn theo sau lưng. Lòng tê điếng. Hai đầu gối tôi cơ hồ muốn nhũn ra, bước đi không vững.  Không ai tẩm được hai lần trên cùng một dòng nước, sao tôi đau mãi với một mối tình?

Hải hành mùa đại dịch

vanchuongviet-org
Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 1 Jun 2026

Nơi quày gởi hành lý chuyến bay từ Amsterdam ra Las Palmas de Gran Canaria của phi trường Schiphol hôm ấy khách du lịch đông như kiến cỏ, người kéo, người đẩy đồ đạc lĩnh kĩnh, có một nhóm người đem theo cả ván buồm trượt nước, tất cả trật tự đứng chờ tới lượt gởi hành lý. Vai tôi mang ba lô, tay đẩy va li nhích lên từng chút trong hàng rào nheo nhóc người, tới khi gởi được cái va li thì mất hết ba giờ đồng hồ. Lấy vé máy bay xong rời khỏi quày ra đứng chỗ trống xem lại vé, coi lại giờ bay và thấy còn mười lăm phút phải lên máy bay, bèn xốc lại ba lô trên vai rồi đi nhanh ra cổng. Khi lên được máy bay thì mệt muốn ná thở luôn.

Hết hè rồi và trong thời đại dịch cô-vít mà du khách vẫn còn đông nghẹt. Sau bốn giờ đồng hồ trên trời, máy bay cũng đáp xuống hải đảo. Lúc máy bay đáp đã nghe anh phi công thông báo ngoài trời mưa và khí trời mười sáu độ C. Khi bước ra ngoài đi tới nơi chờ lấy hành lý thì đã cảm nhận không khí lành lạnh, dù sao tôi cũng vẫn thích cái ánh nắng hanh hanh, một cái lành lạnh nhẹ nhàng và một bầu trời đẹp đẻ của mùa thu trên hải đảo Gran Canaria này hơn. Đương suy nghĩ vu vơ thì đã thấy va li chạy ra trên đường băng, tôi cúi xuống nhấc va li lên, để xuống rồi kéo tay cầm lên và lôi nó đi. Vừa ra cửa cách li thì đã thấy cô tài xế tắc xi cầm tấm bảng trước ngực có viết tên tôi đứng chờ bên ngoài đám người nheo nhóc, tôi đi tới chào cô ta, giới thiệu tên mình và theo cô ra xe. Trên đường về khách sạn mưa lâm râm làm đường xá ướt mem, mới hơn tám giờ mà bầu trời tối thui nên trông ánh đèn đường nhoè nhoẹt. Tới khách sạn, sau khi làm thủ tục nhận phòng, cô nhân viên đưa tôi thẻ khoá và nói:

– Vì dịch bịnh mà nhà hàng tạm đóng cửa, phần ăn tối của ông đã dọn được sẵn trên phòng.

Cảm ơn cô tiếp viên xong, tôi day qua cô tài xế tắc xi, cô hẹn tám giờ sáng ngày mai tới rước và đưa tôi xuống tàu. Tôi chào cô tài xế xong day lưng, kéo va li tới bấm thang máy lên phòng. Vô phòng tôi thấy hai dĩa thức ăn để trên bàn, thường thì những món búp phê trong khách sạn, tuy đồ ăn không được ngon lắm, nhưng kẹt phải ăn thì cũng chọn tạm vài thứ ăn được. Nhưng hôm nay khách sạn dọn cho, mặc dù dĩa thức ăn cũng trang trí xanh xanh, đỏ đỏ và dao, đĩa gói giấy gọn gàng trông cũng bắt mắt nhưng hổng biết là cái món gì mà nguội ngắt và hổng nghe mùi vị gì hết, chỉ nhìn thôi là thấy không thể nào nuốt vô được. Tôi để va li vô góc phòng và để ba lô xuống bên cạnh, mở ba lô ra lấy kem, bàn chải đánh răng và chiếc khăn, thường thì khăn trong khách sạn tôi không xài, mặt dù nó rất sạch, thơm và trắng nhưng thấy ghê ghê sao đó. Đánh răng rửa mặt xong tôi nhìn vô gương coi lại mặt mình một cái rồi đi ra ngoài.

Tôi ra khỏi khách sạn, ngoài trời vẫn còn mưa và cảm thấy lành lạnh. Đường phố ướt mem và vắng bóng người. Tôi loay hoay tìm đường nhưng chưa biết đi hướng nào. Chợt thấy trong một quán bar còn người, nhưng tôi thì không thích vô bar, bèn đi thẳng ra bãi cát và ngồi xuống chiếc ghế trống trong mái hiên của một quán ăn day mặt ra bãi và kêu một dĩa mực, cá và khoai tây chiên dòn ngồi lai rai với bia lạnh. Nhìn ra bãi biển vắng tanh, tôi nghĩ tới đám người trên máy bay, trong phi trường mới hồi sớm còn thấy lao xao nhưng khi đổ xuống hải đảo thì tản mác mất hết trơn dấu vết. Nhìn những con sóng trắng lùa nhẹ lên bãi cát mà cảm thấy trống vắng làm sao. Cô vít 19 làm cho cả thế giới thay đổi hết, thế sự đổi thay, con người thay đổi cách cư xử từ thái độ tới cách sống.

Sáng sớm hôm sau xuống tàu và tàu khởi hành vô đất liền ngay chiều hôm đó, trên đường đi hứng một trận bão và rồi vòng qua Ma Rốc, hôm nay trở lại cảng Las Palmas mất hết bốn tuần lễ.

Sau khi dọn dẹp xong buổi ăn chiều. Thuyền trưởng đưa đơn đặt hàng cho tôi và dặn:

– Bếp nhớ đặt thêm thực phẩm cho Giáng Sinh và tết Tây luôn nhé.

Tôi thốt lên không phải vì ngạc nhiên mà là vì chợt nhớ:

– Oh, hết một năm nữa rồi!

Thuyền trưởng cười, nói:

– Thời gian.

Ừ, mới đó mà Thu qua, Đông lại và mùa Giáng Sinh tới nữa rồi. Năm nào cũng vậy, đầu tháng mười hai thì tôi đã nhận tín hiệu Giáng Sinh qua đơn đặt hàng. Thời gian qua mau thật, nhìn lại thì cũng đã hết một đời lênh đênh trên sóng nước. Cả đời tôi làm tiệc Giáng Sinh trên tàu nhiều hơn ở nhà, nghĩ lại hết một đời mà như là một giấc mơ. Tôi cầm xắp đơn đặt hàng đi lên phòng lát nữa tôi sẽ đưa cho Zada. Lên phòng tôi để xắp đơn đặt hàng lên bàn và vô phòng tắm, tắm một cái. Trong lúc dội nước có nghe điện thoại reo, tôi đoán Zada một thủy thủ người In Đô gọi tôi. Tắm xong tôi gọi lại Zada, đúng như tôi đoán, vừa bắt máy chưa kịp a-lô thì liền nghe nó hỏi:

– Chú có lên bờ không?

– Có.

– Con đi với chú được không?

– Dĩ nhiên là được.

– Vậy con chờ chú ngoài cầu thang nhé.

– Ok.

Tôi biết Zada hơn ba năm về trước, thằng nhỏ mập thù lù và ăn, uống gấp đôi người bình thường. Tôi sống chung với thủy thủ người In Đô từ đời ông cho tới đời cháu. Cho nên tôi biết ít nhiều về cách sống của họ. Người In Đô khác hơn Hoà Lan cái là: người Hoà Lan họ cũng bất đồng với nhau nhưng không biểu lộ khó chịu, họ hoá giải êm thắm, sau đó họ đoàn kết nhau hơn. Nhưng với người nước ngoài họ lộ mặt làm dữ có khi cũng làm khó dễ người ta. Thường thì một thủy thủ In Đô mới xuống hay bị thủy thủ cũ “đì” hoặc người này trội hơn người kia thì tỏ thái độ khinh khi người kém cỏi. Zada cũng học xong đại học, nhưng vì nó mập quá mới bị đồng hương ăn hiếp, hay chọc ghẹo về cái thân thể ục ịch cả trăm ký và chuyện ăn uống của nó, cho nên giờ ăn nó bẽn lẽn bưng cơm ra ngoài boong ăn và ngồi mình ên trong giờ nghỉ giải lao. Lúc đầu tôi không biết, trong một bữa ăn sáng tôi cho thủy thủ ăn mì gói, nó lấy mì của nó mua từ In Đô qua đưa tôi một gói, tôi tưởng nó thích ăn mì mùi vị của In Đô, nên tôi chỉ nấu gói của nó xong đưa cho nó, nó không nói gì, chỉ hỏi xin cơm nguội để bỏ vô mì ăn. Lần sau mỗi khi ăn mì nó đưa tôi hai gói. Thấy cử chỉ nó cứ rụt rè, không dám hỏi chuyện, tôi tò mò hỏi nó:

– Bộ con ăn mì trên tàu hổng được sao mà con mua mì đem theo vậy?

Nó cúi mặt không nhìn tôi và nói:

– Con ăn nhiều quá.

– Nhiều là bao nhiêu?

– Sáng con ăn hai gói mới no, nên đầu bếp trước nói phần ăn của mỗi người một gói, ai muốn ăn thêm thì tự mua mà ăn.

– Chú biết rồi, với chú thì con muốn ăn bao nhiêu cũng được, miễn sao no bụng là ô kê.

– Không sao hả chú?

– Không không, hổng có sao gì hết. 

Từ đó trở đi sáng nào cho ăn cơm chiên thì tôi làm thêm cơm  cho nó, còn mì ăn liền thì nấu cho nó hai gói và hai cái trứng, khi chiên khi luộc tùy thích. Cũng từ đó gương mặt nó dạn dĩ và thân thiện với tôi hơn. Tôi có lên bờ chơi nó cũng xin đi theo. Có lần ngồi uống bia nó nói:

– Hôm mới xuống con nghe nói Sesung lấy đồ ăn mà không hỏi chú, chú đánh nó chảy máu miệng vì vậy mà con không dám hỏi.

Chuyện này tôi cũng nghe thủy thủ trong công ty đồn dãi lâu rồi. Có một dòng họ làm cho công ty từ đời ông tới đời cháu, ỷ mình là ma cũ nên rất hống hách hay bắt nạt đồng hương và ăn hiếp những người mới xuống. Tôi cười:

– Chú có nghe rồi, không hiểu sao Richard đánh Sesung mà bây giờ thành ra chú đánh.

– Oh. Chú cũng biết hả?

– Chú sống với dân In Đô từ đời ông cho tới đời cháu nên chú biết về cái văn hoá lộn xộn của In Đô cũng khá nhiều.

– Nhưng con nghe nói bên Tây phương trong lúc làm việc không được đánh nhau mà chú.

– Có, đánh nhau là bị đuổi việc đó, nhưng chỉ dùng cho người của họ thôi, người khác tới làm mà đánh nhau thì họ làm lơ. Chuyện trong đám đồng hương thủy thủ của con cũng hao hao giống chuyện người Việt ở hải ngoại của chú thôi. Con quên đi đừng để ý làm gì, lo học hỏi và làm việc cho tốt thì không ai ăn hiếp con được hết.

Zada đưa ngón tay cái ra gặt gặt, nói:

– Chú tốt, rất tốt.

– Người vầy người khác, con sống lâu như chú thì con sẽ thấy có nhiều người tốt hơn chú nhiều.

Tôi không muốn nghe chuyện nó nói về mình nữa nên đổi qua chuyện khác:

– Nhưng mà nè, con cẩn thận chuyện ăn uống. Trước đây không lâu, chú biết có một cô gái người Hoà Lan hồi còn là thực tập sinh cũng mập như con vậy, sau thời gian thực tập cô ta ra trường và làm việc cho công ty lên tới chức thuyền phó thì cô ta bị mập quá, nhứt là những ngày gió to, sóng lớn cô ta lê tấm thân trên một trăm ký, đi ngoài boong hổng muốn nỗi. Mới năm trước vì mập quá cô ta đi tàu không được nữa, ở nhà luôn rồi.

– À, con có nghe nói về bà ta.

– Ừa, bình thường cô ta ăn rất nhiều, nhưng ngoài giờ ăn, làm việc một lát trở vô bếp thấy cái gì ăn được là bốc ăn. Bánh mì dâm bông, phó mát chú để trong tủ lạnh, cho thủy thủ đoàn trực ca đêm, sau phiên trực đêm mình ên cô ta xuống trước đớp sạch hết, mấy người xuống sau hổng có ăn, phàn nàn với chú hoài. Nhưng bỏ ra bao nhiêu cô ta ăn hết bấy nhiêu chú biết làm sao.

Zada cười ha hả. Tôi cũng cười nhưng đổi giọng nghiên túc, chỉ tay vô cái thân hình đồ sộ của nó mà cảnh cáo:

– Con lo cho cái thân cả trăm ký lô của con đi, ở đó mà cười người ta.

Những năm sau này, nhứt là từ khi đại dịch Vũ Hán xuất hiện, tháng mười hai là khoảng thời gian thủy thủ hay chú trọng tới chuyện ăn uống tiệc tùng, nhiều hơn là chuyện Thánh Kinh. Nhưng thức ăn càng ngày hãng tàu càng cắt giảm, đã vậy mà còn mua đồ rẻ tiền, chất lượng kém cỏi nên tôi không còn hứng thú lo chọn thức ăn ngon nấu trong những ngày cuối năm. Vì vậy chuyện đặt hàng hay lập menu cho bữa tiệc Giáng Sinh tôi làm cho xong chớ cũng hổng quan tâm cho lắm.

Thành phố Las Palmas, có nhiều di tích lịch sử, kiến ​​trúc thời thuộc địa với những toà nhà và một nhà thờ kiên cố từ hồi thế kỷ mười lăm, mười sáu. Cảnh đẹp của hải đảo luôn lúc nào cũng mới mẻ và thu hút tôi. Tôi thay áo quần xong đi xuống tới gần đầu cầu thang thấy Zada đứng nói chuyện với Sesung. Thấy tôi không mang khẩu trang Sesung nhắc:

– Chú không mang khẩu trang.

Oh! Tôi chợt nhớ ra, chẳng những tôi quên đeo khẩu trang mà còn quên chiếc ba lô nữa. Trong ba lô luôn lúc nào cũng có nguyên hộp khẩu trang và những đồ dùng đi chơi cần thiết như giấy lau miệng, dao nhỏ, đồ khui, pin dự phòng và cây selfie mà Việt Nam gọi là gậy tự sướng. Tôi trở vô phòng lấy ba lô mở ra kiểm tra lại đồ đạc, thấy thiếu hộp khẩu trang. Tôi mở tủ lấy hộp khẩu trang và rút ra một cái đeo lên bít miệng nhưng chừa hai lỗ mũi ra cho dễ thở, rồi nhét hộp khẩu trang vô ba lô, quảy ba lô lên vai và bước ra ngoài.

Tôi với Zada đi trên con đường dành cho khách bộ hành bên một con lộ đẫn về trung tâm. Khí trời hải đảo luôn hiền hoà và mát mẻ. Zada hỏi tôi:

– Có khi con nghe người thì gọi đảo này là Las Palmas, người thì gọi là Gran Canaria và trên bản đồ ghi Las Palmas de Gran Canaria, có gì khác nhau hả chú?

– Las Palmas là tên hành chính của tỉnh Las Palmas và thành phố chính của Las Palmas là Las Palmas de Gran Canaria.

– Con cũng nghe nói khách du lịch tới đây nhiều lắm.

– Đúng rồi, nhờ sự đa dạng và cảnh quang hấp dẫn du khách, nhứt là có những eo vịnh nhỏ và ở phía nam của hòn đảo có một bãi biển bốn mùa yên bình tương phản với các khu thương mại sầm uất và con đường dọc theo bờ biển dài trên hai trăm cây số.

– Ờ, con có đọc qua báo du lịch, Las Palmas là một trong những thành phố lớn và trẻ trung nhứt ở Tây Ban Nha và cảnh quang rất sống động về đêm.

Tôi chỉ tay ra bến cảng:

– Phải rồi, cảng Puerto de la Luz, chổ tàu mình đậu kia.

Rồi tôi chỉ tay lên dãy phố và chỉ tay xuống bãi cát trước mặt nói tiếp:

– Với một số nhà hàng sang nhất và bãi biển Alcaravaneras là hai nơi hấp dẫn cho du khách. Nhưng đó là thời gian trước đại dịch, du khách khắp thế giới thường đến thăm Gran Canria vào những kỳ nghỉ, đây là nơi du lịch quốc tế mà, cuộc sống về đêm rất sôi động, ồn ào. Quán bar, hộp đêm mở cửa đến hai giờ khuya và các vũ trường câu lạc bộ thường mở tới sáu giờ sáng.

Tôi và Zada đi vô trung tâm, trên đường phố, khách du lich cũng nhiều nhưng không đông đúc xôn xao như trước thời đại dịch. Zada nhìn quanh và hỏi:

– Bây giờ thay đổi hết rồi chú hả?

– Cảnh vật không thay đổi, chỉ con người thay đổi, cả thế giới đâu đâu cũng thay đổi làm cảnh quang trống vắng buồn buồn.

Thấy cảnh đẹp chúng tôi đứng lại chụp hình. Chụp xong mấy bôi. Zada hỏi:

– Mình đi đâu chú?

– Con muốn đi đâu?

– Con hổng biết mới hỏi chú, chú biết chỗ nào vui thì mình đi. – Theo quảng cáo du lịch thì đảo Gran Canaria là một nơi rất thích hợp cho các môn thể thao dưới nước như lặn biển, lướt sóng, chèo thuyền và lướt ván. Chú thấy họ quảng cáo còn thiếu.

– Thiếu gì nữa chú?

– Theo chú đi bộ nhìn cảnh đẹp cũng thích hợp lắm.

– Yes, con thấy cảnh đây rất đẹp. Đẹp và lạ hơn Âu Châu vì có hàng phượng, cây thốt nốt với những bụi xương rồng cao ngang mái nhà, bự tổ bố.

– Và còn có một lịch sử lừng danh.

–  Là gì chú?

– Cung điện thống đốc của hòn đảo xa xưa đã được Christopher Columbus sử dụng làm nhà trong thời gian ông ở đây.

Chúng tôi đi vào con đường trong trung tâm. Dạo này tôi cảm thấy như cuộc sống trì trệ, con người rời rạc, sự sợ sệt, lo âu hằn trên nét mặt mỗi người. Nhưng có điều là nhiều người đi đường đeo khẩu trang, gặp người đi gần thì né, nhưng vô quán, nhà hàng ngồi chung nhau họ không đeo khẩu trang và nói chuyện lớn tiếng rất ồn ào. Chúng tôi đi qua con đường có hàng phượng, mùa này phượng đã già rồi nên không còn đỏ nữa. Tôi day ngang nói với Zada:

– Cảnh hải đảo thì đẹp, mình không có thời gian đi hết đâu, con muốn vô quán ngồi hay mua bia ra bãi biển uống.

– Chú thấy sao?

– Vô quán thì sợ mắc dịch, ra bãi thì thoải mái hơn.

– Vậy thì ra bãi cho thoải mái.

– Nếu ra bãi thì ghé vô siêu thị một chút.

– Chú mua gì hả?

– Thì mua mới vô chớ.

Tôi kéo khẩu trang lên cho kín hai lỗ mũi. Zada thấy vậy cũng làm theo. Chúng tôi quay trở lại con đường và vô một siêu thị gần đó. Sau khi mua một xâu tám lon bia lạnh, mấy lọn xúc xích của Tây Ban Nha và một hộp ô-liu. Tôi với Zada ra quày tính tiền xong rồi đi thẳng ra bãi biển, phố biển đã lên đèn.

Chúng tôi chọn ngồi trên cao của những bậc thang trong một cái vịnh vòng cung, có hàng cây thốt nốt, ngồi đây thấy được những chiếc tàu đậu trên bến cảng và thấy được đèn những con tàu từ ngoài khơi. Tôi mở bọc lấy bia, xúc xích và mở ba lô lấy ra con dao, lật ba lô lại làm bàn kê cắt xúc xích. Zada khui hộp ô-liu và lấy bia ra khui, đưa bia cho tôi rồi nói:

– Thủy thủ mà giống như du khách.

– Thì coi như mình là du khách đi.

Chúng tôi đưa bia lên cụng, uống một ngụm bia, ăn xúc xích và trái ô-liu. Uống chưa hết lon bia, chợt có một gã đàn ông ốm nhôm, cao nhồng, da đen từ dưới con đường bước lên mấy bậc thang rồi dừng lại giữ khoảng cách trước mặt chúng tôi hỏi:

– Các ông cho xin tiền mua đồ ăn, tôi đói lắm.

Zada xua tay định đuổi gã đi. Tôi liền ngăn lại và lấy lon bia chìa ra đưa cho gã, cười và nói:

– Ông bạn uống bia cho đỡ đói.

Gã xua tay:

– Không không, tui đạo Hồi, hổng được uống bia, cho tui tiền mua đồ ăn thôi.

Tôi móc bóp mở ra lấy mười euro đưa cho gã. Gã không dám lại gần, cúi người chồm tới, tay cầm chiếc nón chìa ra trước mặt tôi. Thấy vậy tôi mới đứng lên bước xuống tới gần gã, chợt thấy khẩu trang của gã đeo đã cũ và bị thâm kim rồi, tôi day lại lấy mớ đồ trên ba lô để một bên và kéo mở ba lô lấy hộp khẩu trang rút ra mấy chiếc và kẹp chung với mười euro bước xuống bỏ vô nón cho gã và cười nói:

– Hai năm qua trên đường đi chưa ai dám tới gần hỏi chuyện tôi hết. Bạn là người đầu tiên dám tới hỏi tôi, cảm ơn bạn nhé.

Gã cúi rạp người nói một hơi:

– Cám ơn, cám ơn…

Khi gã thanh niên đi rồi. Tôi nhét đồ đạc vô ba lô và bỏ bia và đồ ăn vô bọc, xốc ba lô lên vai. Zada ngạc nhiên hỏi:

– Mình đi hả chú.

Theo kinh nghiệm giang hồ, tới những nơi có nhiều ăn xin, sau khi cho tiền một người thì một lát sẽ có nhiều người khác kéo nhau tới xin nữa, mà cái bóp tiền của tôi thì nhỏ quá nên tôi phải di chuyển đi chỗ khác. Tôi không muốn nói ý nghĩ của mình cho Zada nghe, nên nói khác đi:

– Ừa. Mình đi dọc theo bãi biển vừa uống bia vừa ngắm trăng cũng thú vị.

Thiệt vậy, trăng sáng quá làm cho tôi suy nghĩ vu vơ. Mặt trăng có tự bao giờ, nhưng lúc cao, lúc thấp, nó không gây chiến tranh, hận thù. Nó không chinh phục và tấn công ai và cũng hổng cố gắng để đè bẹp người khác. Trăng không lo lắng như con người, nó vẫn ở nguyên một chỗ, luôn tuân theo quy trình của nó. Về tư cách thì nó ảnh hưởng rất lớn, mặt trăng trung thành với quy luật tự nhiên nên sức mạnh của nó có thể soi sáng cả một đại dương từ bờ này sang bờ khác một cách mát mẻ và nhẹ nhàng.

Tôi im lặng suy nghĩ về ánh trăng, Zada nghĩ gì hổng biết mà cũng nín thinh. Chúng tôi cứ im lặng mà đi tới bìa nước, sóng nhẹ trườn lên bãi cát thoáng tiếng rì rào nho nhỏ. Đứng dưới ánh trăng nhìn lên phố xá sáng ngời. Tưởng nơi đây vắng vẻ, không bóng người, thiếu ánh sáng và yên bình, bổng chợt thêm một người da đen lại xuất hiện xin tiền. Không do dự, tôi liền mở ba lô lấy mấy khẩu trang và moi bóp lấy mười euro đưa cho gã. Gã nhận xong rồi cám ơn và quay lưng bước đi. Có lẽ Zada thấy trong bóp tôi toàn là tiền giấy mười euro, nên nó nói:

– Hình như con thấy chú đã chuẩn bị tiền trước để cho mấy người ăn xin.

– Chuẩn bị tiền nhỏ xài cho tiện.

Zada ra chiều suy nghĩ, thấy vậy tôi đưa bia lên cụng một cái ngước cổ nốc hết phần bia trong lon rồi nói:

– Thiệt ra thì những người da đen này, họ đi chui từ đất liền Phi Châu, ra đây họ sống ngoài xã hội nên họ mới đi xin ăn.

Zada chợt hiểu ra:

– Ờ đúng rồi, là Stowaway.

– Ừa, biết đâu tàu của mình cũng chở họ ra đây.

– Vậy chút nữa có người tới xin chú nữa, hổng lẽ chú cho hoài.

– Vậy mình tìm một quán nào đó ngồi thì hổng có người ăn xin nào tới xin nữa.

Thật ra đi mình ên tôi, tôi có thể cho hết bóp tiền cũng hổng sao. Với tôi thì có sự chia sẻ mới thấy được lòng mình còn có yêu thương. Ai cũng vậy thôi, làm cái gì cũng phản ảnh cho bản thân, không có gì khác hơn là vì cái tôi của chính mình chớ chẳng cho ai và cũng chẳng hay ho gì ráo. Cũng có lợi cho bản thân là khi mình không còn bị ảnh hưởng những sự chê, khen của người khác, thì mình sẽ không còn là nạn nhân của những sự phiền hà không cần thiết. Nhưng đối với Zada, làm sao nó hiểu được cái nguyên lý này, cái gì nó cũng thắc mắc, tôi thì hổng muốn giải thích lôi thôi, việc mình làm có tốt cách mấy nói ra thì cũng thấy kỳ cục. Định lang thang ngoài đường, nhưng tình trạng này thì đành phải chui vô quán thôi.Tôi chỉ tay lên cái quán vắng người, nói:

– Mình lên đó ngồi thì hết ai quấy rầy.

Chúng tôi lên quán ngồi bên chiếc bàn trống, gọi một dĩa tôm xào tỏi và hai ly bia. Trong lúc nhậu. Zada nhìn tôi một hồi nó nói:

– Đi với chú thú vị thiệt đó.

– Gì nữa vậy?

Nó nhìn thẳng tôi, ngẫm nghĩ hồi sao nó nói:

– Nói sao đây? Con thấy chú tốt bụng và sống rất tự nhiên, vô tư với người lạ chú cũng tỏ ra thân thiện.

– Oh! Vậy sao? Chú nghĩ trong xã hội thiếu gì người còn tốt hơn chú nữa, nếu không thì mấy người ăn xin họ bị chết đói hết rồi.

Thấy thằng nhỏ cứ nhìn tôi và thắc mắc. Tôi muốn xoay qua chuyện khác nhưng chưa biết chuyện gì thì chợt nhớ ra, tôi nói:

– Một lát về tàu chú đưa đơn đặt hàng cho con, con tự đặt nhé.

– Nhưng chú phải coi lại:

– Ô kê, ngày mai làm xong con đưa lại cho chú được không?

– Dạ được.

Ngẫm nghĩ một chút nó hỏi:

– Có đặt cho cho Giáng Sinh không chú?

– Ừa con đặt đi, tháng mười hai rồi.

Những ngày này thủy thủ trên tàu ai cũng háo hức tiệc Giáng Sinh nên nghe tôi đặt hàng thì hay nhắc nhở kêu tôi đặt những món ngon đặc biệt. Là một đầu bếp lâu năm, bây giờ tôi mới nhận ra. Giáng Sinh ngày xa xưa hay ngày nay, thấy bên ngoài có vẻ xôn xao nhưng lòng người ảm đạm hay bình an thì tự người biết. Mấy năm về trước, giữa tháng mười hai dương lịch, tôi dành một khoảng thời gian ngồi trước laptop, lướt mạng tìm chọn thiệp và moi óc nghĩ ra những câu chữ văn vẻ, hoàn hảo để viết chúc mừng lên facebook hay gởi thiệp chúc bạn bè qua tin nhắn, cứ lăn xăn lộn xộn làm mất rất nhiều thời gian, những thứ đó bây giờ đối với tôi không còn giá trị tinh thần nữa. Mãi cho tới hôm nay, đầu bạc trắng và sói sọi rồi, tôi mới phát hiện ra Giáng Sinh không phải là một thời điểm cũng hổng phải là một mùa, mà là một trạng thái về mặt tinh thần và không bao giờ thấy quá sớm hay quá trễ để hòa vào tinh thần của Giáng Sinh. Tình yêu nhân loại, quí trọng thiên nhiên, yêu chuộng hòa bình, nhân đức trong lòng đó mới thiệt là tinh thần của Giáng Sinh. Vậy tại sao chúng ta phải đợi đến ngày Giáng Sinh mới tặng quà và chúc cho nhau những lời yêu thương tốt lành nhứt.

 Dronten 15 1 2022 Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 1 Jun 2026

Sáng ngày 21 tháng 3-1975, trong cơn hỗn loạn của thành phố Huế, khi quân đội rút về phía Nam và dân chúng gánh gồng chạy loạn, chị Lê Thị Tịnh đem các con chạy vào Đà Nẵng. Ngang qua Dạ Lê, chị đã ghé qua thăm chồng là Thượng sĩ Đinh Văn Kiếm, trưởng tổng đài siêu tần số, thuộc Tiểu đoàn I Truyền tin (SĐ IBB). Anh nói với chị là cứ yên tâm đem các con đi trước, anh sẽ theo đơn vị đi sau. Đó là lần cuối cùng chị gặp anh.

Sau ngày Saigon mất, nhiều người chạy giặc vào Saigon đã trở về, nhưng chị Tịnh cũng không có tin tức gì của chồng. Chị cũng nghe nói nhiều anh em Sư đoàn 1BB bỏ xác tại bãi biển Thuận An trong lúc chờ tàu vào cứu nạn, chị đã nhiều lần cố tìm về bãi biển này để dò la tin tức. Mấy ngày đầu thì đường sá bị phong toả ngăn cấm, thời gian sau thì dấu vết không còn, cũng không ai dám hé môi tiết lộ một lời. Nhưng chị thêm một niềm hy vọng, biết đâu anh Đinh Văn Kiếm lại có cơ hội lên tàu di tản sang Mỹ. Một năm, hai năm, rồi năm năm trôi qua, tin anh Kiếm vẫn biệt mù. Như những người vợ lính cam phận, chị tần tảo nuôi bốn đứa con trai và một gái khôn lớn, nỗi buồn nguôi ngoai đi cùng với ngày tháng trôi mau.

Con trai đầu của Anh chị, tên Khuê, năm 1980, mới mười hai tuổi đã ra đời vất vả kiếm cơm, với một chiếc bình nhôm và cái ca nhựa, bán nước trà theo những chuyến xe lửa Bắc Nam, mỗi ngày ghé qua ga Huế hay bên chợ Đông Ba. Nhưng rồi một buổi tối, chị Kiếm lo lắng không thấy con về, chị cứ nghĩ rằng trời mưa, nó ngủ lại ở một xó hiên nào đó. Hai ba ngày sau, Chị lên ga Huế, ra chợ Đông Ba, hỏi thăm đám bạn bè của con nhưng không có tin tức gì. Thằng Khuê mất biệt như cha nó năm năm về trước, không một dấu vết. Chị không biết trình báo với ai, đi đâu để tìm con, chết hay sống, mất xác nơi đâu. Ba mươi lăm năm sống trong chờ đợi, tuyệt vọng về tin tức của chồng và đứa con trai đầu lòng, ngày nay các con chị đã có gia đình, chị có một bầy cháu nội ngoại quanh quẩn trong làng An Cựu. Mỗi lần thắp nén hương trên bàn thờ Anh, chị thầm nghĩ không biết anh chết ở đâu, xác bỏ nơi nào. Chị đâu có ngờ rằng, anh nằm gần chị đây thôi, trên bãi biển Thuận An, cách nơi chị ở chỉ có mười lăm cây số. Anh ở gần với chị vậy mà chị không hề hay biết, mãi đến lúc người em của anh Đinh Văn Kiếm là Đinh Văn Xuyên, một cựu quân nhân thuộc Thiết đoàn 10 Kỵ Binh hiện cư ngụ tại Texas, ở Mỹ gọi về, loan tin rằng qua tin tức báo chí tại đây, người ta đã tìm thấy dấu tích của anh tại bãi biển Thuận An trong lần bốc mộ, nhờ một tấm thẻ bài mang tên anh. Di hài anh đã được dân làng An Dương cải táng vào trung tuần tháng 12 năm nay. Tin tức từ trong nước ra được hải ngoai, nay lại bay về quê hương, chị ở rất gần anh mà tin lại loan đi hàng vạn dặm mới về đến chị, sau gần ba mươi sáu năm dài.

Chị đã đem các con đi cùng em gái của anh Đinh Văn Kiếm, mang lễ vật về lạy trước nấm mộ tập thể, trong đó có anh, đã yên nghỉ cùng với anh em đồng đội và đồng bào của anh trong những ngày cuối của cuộc chiến. Các em của anh hiện đang sống tại hải ngoại sẽ giúp phương tiện để đưa anh về nằm chung với phần mộ của gia đình, nhưng tạm thời hiện nay anh còn nằm bên cạnh bạn bè, chiến hữu, những người đã qua ba mươi lăm năm chung một nấm mồ xiêu lạc, oan khuất trên đường chạy loạn. Cùng thời gian này, cũng nhờ tên tuổi trên một chiếc thẻ bài còn lại, anh Trịnh Quốc Thuận, ở Maryland đã nhận ra người bà con cô cậu ruột của mình là anh Trần Văn Được, sinh năm 1954 thuộc binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến, gia đình biết anh đã bỏ mình tại bãi biển Thuận An vào tháng 3-1975, nhưng không tìm ra hài cốt. Vào tháng 4 khi Saigon chưa thất thủ, một chiến hữu cùng trung đội với anh, sống sót về được Saigon đã ghé qua, báo tin cho gia đình của anh Được là anh đã chết trên bãi biển Thuận An. Trên đường rút lui, trước khi lên tàu, Trần Văn Được đã chết vì trúng mảnh đạn pháo kích của địch quân. Anh Được có một người em song sinh hiện nay đang sinh sống tại Saigon, trong nhà thường gọi Được là Đen và người em, Trần Tự Lập là Trắng. Năm 18 tuổi Được tình nguyện vào binh chủng TQLC và thường xa nhà, nên gia đình không biết Được thuộc đơn vị nào, trú đóng ở đâu.

Song thân anh Trần Văn Được ngày nay đều đã không còn, ông bà, cũng như nhiều bậc cha mẹ khác trong chiến tranh, cho mãi đến khi nằm xuống, thương xót, nhưng không được biết một tí gì về tin tức, không tìm ra dấu vết những người con đã chết trong chiến trận. Người lính TQLC này đã ngã xuống lúc mới 21 tuổi, hãy còn quá trẻ, chưa gia đình, cũng có thể là chưa hề có người yêu. Thôi xin anh hãy yên nghỉ, đời người lính biển, tác chiến trên bộ, theo định mệnh đã chết trên một bãi biển, và giờ đây lại được chôn cất trên bãi biển, dưới những hàng dương mùa Đông gào khóc theo cơn gió giật. Nơi đây, mảnh đất miền Trung cằn cỗi mà như anh đã đem hết đời lính của anh để bảo vệ, giữ gìn nó nhưng vận nước khốn cùng, anh đành phải nằm lại trên mảnh đất này. Tiếng sóng vỗ vào bờ cát mỗi đêm ngày đã ru anh, người lính trẻ xa nhà, ngủ giấc ngủ nghìn thu.

Cũng trong ngày tàn cuộc chiến, từ ngày 13 tháng 3-1975, quân đội bỏ Pleiku, Kontum, dân chúng di tản để lại cảnh vật vườn hoang nhà trống. Ngày 20 tháng 4, khi Cha xứ nhà thờ Thanh An, huyện Chư Prong là Cha Đa Minh Mai Ngọc Lợi (bào huynh của LM Mai Thanh Lương hiện nay ở Cali) trở về thì Cha chứng kiến một cảnh hoang tàn, thương tâm: xác chết của bảy người lính Biệt Động Quân VNCH và mười mấy người lính Bắc Việt chết nằm ngổn ngang từ trong nhà thờ ra đến ngoài sân, chưa được chôn cất. Điều đau đớn là những xác thối rữa này đã bị thú rừng và bầy chó hoang vô chủ ăn thịt đã gần hết, chỉ còn thi hài của một Trung uý Biệt Động Quân mang bảng tên Nguyễn Văn Quý. Chính tay Cha đã chôn cất thi hài vị sĩ quan này dưới gốc một cây sứ trước nhà thờ. Năm ngoái, bảng tên của Trung Uý Quý đã bị thất lạc khi nhà thờ được xây dựng lại. Ba mươi lăm năm qua, mọi việc hầu như quên lãng theo thời gian. Nhiều phái đoàn đi cứu trợ đã ghé qua đây, được Cha trình bày câu chuyện, mong mỏi một lời nhắn tin nào đó mang về miền xuôi hay ra hải ngoại, sẽ tìm ra thân nhân của Trung uý Quý, nhưng từ đó đến nay, không hề có ai gọi cho Cha để hỏi tin tức về người sĩ quan bất hạnh này. Cha nói rằng nơi đây, các quân nhân thuộc SĐ23BB và BĐQ chết rất nhiều nhưng không có ai đến hỏi tìm. Nấm mồ của Trung Uý BĐQ Nguyễn Văn Quý cho đến nay vẫn còn nằm lạnh lẽo dưới gốc cây sứ già trước nhà thờ Thanh An, bây giờ là giáo xứ Đức Hưng, thôn 1, Xã Thắng Hưng, huyện Chư Prong, tỉnh Gia Lai. Trung Uý Nguyễn Văn Quý đã có gia đình chưa?

Vợ con hiện xiêu lạc nơi nào? Song thân của người chiến sĩ hiện nay vẫn còn hay đã mất. Bạn bè, chiến hữu của anh còn ai nhớ đến lai lịch của anh không? Nếu có ai biết hay còn nhớ đến người sĩ quan BĐQ tên Nguyễn Văn Quý xin tìm hỏi cha Đa Minh Nguyễn Xuân Hùng (1), để gặp Cha Xứ là người đã chôn cất người bạc mệnh. Tuổi đời đã cao, nay Cha đã 87 tuổi, sợ rằng vài năm nữa, khi Cha mất, không còn ai có thể chỉ ra nơi chôn cất các chiến sĩ này một cách rành rẽ. Xin Các bạn thứ lỗi cho người viết, nếu hôm nay, đọc bài báo viết về một câu chuyện cũ đã ba mươi lăm năm qua, được nhắc đến, khơi dậy lại, giữa những ngày vui rộn rịp cuối năm mang cho người đọc một nôi buồn.

Giáng Sinh là mùa sum họp đầm ấm, mang hạnh phúc an bình lại cho mọi gia đình. Giữa những tin buồn, mong rằng đây cũng là một tin vui, khi thân nhân tìm lại được tin tức những người đã khuất.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 1 Jun 2026

Châm ngôn luật La Tinh có câu: Ignorantia juris non excusat”, Không ai có thể viện cớ không biết luật để biện minh khi phạm luật. Trong thực tế, xã hội càng văn minh, tiến bộ. luật pháp trong quốc giá của xã hội này cảng nhiều, càng phức tạp. Không biết luật, do đó, là một tình trạng thực tế. Bước vào lãnh vực luật pháp, nhất là lãnh vực các đạo luật có tính cách chuyên môn, ta có cảm tưởng như đặt chân vào một rừng luật. Đó là trường hợp nước Mỹ. Văn minh kỹ thuật càng tiến bộ, luật pháp càng nhiều. Tuy nhiên, đó là giá phải trả cuả một xã hội văn minh, Nhưng có một khác biệt lớn giữa “rừng luật” của một xã hội tiến bộ và “luật rừng” trong một quốc gia sống dưới một chế độ rừng rú! Luật của kẻ mạnh trong rừng rú được Rudyard Kipling. một thi sĩ và tác giả Anh Quốc nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, gọi là “luật rừng” (the law of the jungle). Nhưng đó la luật rừng của loài thú. một thứ luật tranh sống, một thứ luật thiên nhiên. Khi thứ luật của ác thú này được du nhập vào xã hội con người thì xã hội này hiện nguyên hình là một xã hội man rợ, bán khai. Ở trọng hoàn cảnh này, thằng dân thật khó biết tai họa sẽ đến lúc nào, không biết đường đâu mà tránh đỡ.

Công an đánh chết người trọng khi “thi hành công vụ,” như Trung Tá Công An Nguyễn Văn Ninh đánh chết một người dân đi xc không đội nón bảo hiểm, chỉ bị xừ 4 năm tù. Nguyễn Trọng Hiếu, công an viên xã Diên Khánh, Khánh Hòa, trong khi tuần tra giao thông, đã đuổi theo một nam thanh nien vì người này không đội mủ bảo hiểm, đã dùng gậy giao thông đánh vào gáy thanh niên này làm anh mất thăng bằng ngã xuống quốc lộ, bị thương tích 77%, xếp loại thương tật vĩnh viễn. Tên công an chỉ phải ở tù 9 tháng và bồi thường 113 triệu VN (khoảng $6.000,00 đô la,) số tiền này không thể nào nuôi một người nằm liệt giường suốt đời, Đó là luật rừng của kẻ cầm quyền. Có phải công an thương dân, sợ dân vỡ đầu vì không đội nón an toàn mà phải đánh vỡ đầu dân, hay là vì Bộ Công An có ăn chia với nhà sản xuất nón nhựa?!

Anh em nhà Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng, chống cưỡng chế chiếm đất. bị phá nhà phải chống đỡ, uất ức, phải chống cự, bắn súng hoa cải làm bị thương bốn công an, mỗi người lãnh 5 năm tù. Phá nhà, chiếm đất, hiếp dân là một công trạng, nên trưởng công an Hải Phòng được phong tướng! Trong khi đó, LS Trần Vũ Hải nói với BBC hôm 31/03/13, sọ sánh vụ án ở Cống Rộc, Tiên Lãng này với vụ án Nọc Nạn xảy ra ở tình Bạc Liêu từ thời Pháp thuộc mà trong đó các bị cáo chính, là nông dân người Việt đã phản kháng đàn áp, cưỡng bức ruộng dất và giết chết năm người của chính quyền thực dân Pháp và phong kiến ở Nam Ký, dã được tha bồng!

Dân chủng cũng có luật rừng vì không tin vào công lý của kẻ cầm quyền, hành động phát xuất từ tính hung bạo, man rợ của con người sống và dược đào tạo trong chế độ cộng sản gần 40 năm nay. Đây là một xã hội mà tội ác khởi sự từ chính quyền và dần dà lan rộng trong quần chúng. Ngoại tỉnh có một dạo dã lâu lắm dược xếp vào loại tội tiểu hình ở Calilornia, nhưng đã bị hủy bỏ từ lâu. Trong các quốc gia theo văn hóa Á Châu, và tại Việt Nam, ngoại tình vẫn được xem là một tội phạm. Nhưng dù là một tội lỗi (sin) hay tội phạm (crime), không một xã hội trọng pháp nào lại cho phép có một hình phạt có tính cách gây điếm nhục, tàn bạo, công khai như trong trường hợp xảy ra tại huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế, Lợi dụng lúc chồng vắng nhà, một thiếu phụ nhắn tin gọi tình nhân đến nhà mình “quan hệ bất chính.” Ông em chồng của người đản bà theo dõi sự việc, kêu gọi người lối xóm vây bắt, ngoài trận độn roi tới tấp như mưa, đôi “gian phụ dâm phụ” còn chịu hình phạt bị lột sạch áo quần, bị trói đứng trước cửa nhà, trước mắt của mọi người qua lại. Tự động bắt trói người, đánh đập và làm nhục, điều ấy phải chăng là một lối làm luật rừng tự phát? Một người vợ phạm tội ngoại tình, bà ta chỉ có lỗi trước chồng hay bị búa rìu dư luận, nhưng tòa án không thể bắt hay đưa bà ra tòa mà kết án tù. Trong trường hợp này một ông em chồng, có thể nhân danh ai để thi hành bản án lăng nhục những người khác như vậy?

Mọi người được xem là vô tội cho dến khi có án toà. Và luật pháp phải được thi hành một cách điềm đạm, không thiên vị, không mang tính cách bêu rếu, trả thù. Bởi lẽ nếu bất cứ ai ai cũng có thế áp dụng và thi hành luật pháp theo ý riêng thi xã hội sẽ rơi vào tình trạng loạn lạc, tạo nên điều kiện làm sống lại những thú tính nơi con người của xã hội bán khai, man rợ. Và dó là tình trạng dưới chế độ cộng sản trong nước hiện nay.

Trong bộ “luật rừng” này, một người “bị nghi” là trộm chó, dù không có tang chứng, cũng bị lên án tử hình bằng cách bị đưa lên “dàn thiêu,” như thời Trung Cổ, vì tại hiện trường đôi khi không thấy chó bị bắt hay bị thuốc, chỉ thấyxác người và xe đã bị thiêu rụi một cách tàn nhẫn. Nạn nhân dã thực sự bắt quà tang đang ăn trộm chó chưa, công an. chính quyền ở đâu mà để cho dân dùng luật rừng giết người như vậy?

Như vậy, nếu một người lạ mặt chạy xe gắn máy qua làng, chỉ cần một người hô lớn lên: “Trộm chó! Trộm chỏ!” – như chuyện “Chó dại!” trong Luân Lý Giáo Khoa Thư ngày truớc – thì cả làng đổ ra, chưa biết trắng đen thế nào, gây gộc vây lại đánh người này cho đến chết, hay chưa chết thì cũng thiêu sống họ bằng số lượng xăng trong chiếc xe gắn máy của nạn nhân. Một phó giám đốc ở Vũng Tàu cũng bị dánh trọng thương khi chạy xe vàn vùng đang xảy ra vụ trộm chó, như vậy trọng số nạn nhân những người bi nghi là trộm chó cùng cả kẻ chết oan. Trong vụ “luật rừng” này, nạn nhân bị kết án và chịu án tử hình tại chổ, nhưng chiếc xe gắn máy, tài sản của nạn nhân, kẻ khốn cùng và gia đình của họ, ai có quyền tước đoạt và thiêu hủy như người ta thiêu hủy những món độc dược như cần sa, thuốc phiện? Quả phụ ông Nguyễn Văn Tuyến, người nghi trộm chó bị dánh chết, trú tại Hải Dương đã nói những lời ai oán:

-“Dù chồng tôi có thực là đi ăn trộm thì người ta cũng không thể nhẫn tâm đánh cho bằng chết. Còn nếu anh ấy không trộm chó mà bị đánh chết thì phải điều tra làm rõ nguyên nhân.” Thân phụ của một người bị đánh chết trong vụ trộm chó thì suốt ngày đóng cửa không dám ra đường, nghẹn ngào nói với phóng viên báo chí:

– “Quà thật tôi rất nhục nhã với dân làng, tôi không còn mặt mũi để gặp ai nữn. Đây là một nỗi nhục không biết bao giờ mới rửa sạch được. Tôi chỉ muốn chết hoặc bỏ đi biệt xử nơi khác để khỏi phải nghe tiếng gièm pha!”

Ở các nước khác, dù là nơi thú vật trong nhà được cưng chiều, ăn trộm một con chó hàng xóm, cùng lắm là ở tù một vài tháng. (Việt Nam nếu một người bị kết án đi ăn trộm chó của người khác, không lẽ phải chịu tù chung thân? Hoàn cánh xã hội nào đã khiến con người độc ác với con người dến như vậy?

Bảy năm sau khi cộng sản dã thôn tính cả nước, ở tù về. tôi dã đau lòng gặp gỡ nhiều thanh niên mạnh khoẻ, khôi ngô, đã bưng từng rổ chanh, rổ kim chỉ. ráy tai đi bán trên hè phố, không lẽ sau ba mươi tám năm “kháng chiến đã thành công.” những thanh niên mạnh khoẻ không có tiền để đút lót làm lao động xuất khẩu hay đóng tiền vượt biên, lại phải đi trộm chó để mưu sinh?

Cũng không phải kỳ thị, nhưng câu hỏi của tôi, là vì sao những vụ trộm chó lại chỉ xảy ra quanh quẩn ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Giang, Hải Dưong, Hải Phòng, cùng lắm ở Quảng Trị, thì lại là huyện Gio Linh, những vùng đất nằm ở phía Bắc vĩ tuyến 17 XHCN, những thành đồng vách sắt,” được un dúc rèn luyện trong tinh thần cách mạng “thép đã tôi như thế đấy!” Không lẽ ở những nơi này. loài chó đang có giá và người ta coi con chó quý hơn mạng sống của cơn người.

Đành phải thốt lên câu: – “Chó ơi là chó!”