Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Jun 2026

Tại một số địa phương trên thế giới hiện nay vẫn còn áp dụng một thứ luật lệ truyền thống khắc nghiệt theo kiểu “mắt đền mắt – răng đền răng” (cil pour cil, dent pour dent), hay theo kiểu thường nghe là “mạng đền mạng” nữa. Bất cứ ai làm cho người khác chết vì lý do gì thi cũng phải đền mạng y như vậy.

Ông Chánh Án Saoud bin Sulciman al-Youssel của Saudi Arabia vừa tuyên án một tội phạm của nước này là phải chịu để cho hệnh viện, giải phầu cất đứt giây thần kinh cột sống dể thành bại liệt, vì y mang tội, trong một cuộc tấn công bằng vũ khí, đã làm cho một nạn nhân tên là Ahdul Aziz al-Mutairi, 22 tuổi bị tổn thương thần kinh và trở thành bại liệt.

Trong thế giới Hồi Giảo, trộm cắp bị gia hình phải chặt bàn tay, phải chăng người ta quan niệm bàn tay đó phải chịu trách nhiệm vì nó đã cầm lấy vật ăn cắp. Trên Internet, chúng ta dã xem những hình ảnh man rợ tại Iran. nhân danh đấng Mohammad, người ta dã thi hành bàn án dành cho một đứa trẻ mới 8 luổi, vì tội ăn cấp vặt trong một khu chợ, phải chịu để bàn tay dưới một bánh xe vận tải để nó cán qua, vì đó là bàn tay ăn cắp.

Họ nhân danh gì nơi tôn giáo để biện minh cho những tội ác ghê tởm như vậy. Trong khi một viên Tỉnh Trưởng có thể ăn cắp của công, nhũng lạm, sống xa hoa, được bảo vệ bởi cường quyền, thì một người dân đói rách ăn cắp một ố bánh mì có thể bị nhục hình. Cũng trong xã hội Hồi Giảo đàn ông có quyền lấy nhiều vợ nhưng đản bà chỉ được lấy một chồng, do đó đàn ông không có tội ngoại tình. Trái lại, đàn bà ngoại tình sẽ bị đem ra nơi công cộng dể mọi người ném đá đến chết. Mới đầu chúng ta tưởng những vụ án này chi xảy ra trong thế giới Hồi Giáo, nhưng thực sự lối xử án này cũng xảy ra nhiều nơi trên thế giới, nhất là Á Châu.

Không cần đến toà ản, cũng không nhân danh tôn giáo nào, cũng với lối trừng phạt độc ác kiểu thời Trung Cổ. một người Việt, Nguyễn Thọ Đắc, ở tỉnh Vĩnh Long sau khi đi ăn đám cưới về, nghe chuyện cháu gọi minh bằng cậu là Nguyễn Thị Mỹ Huyền, học sinh lớp 5 tiểu học, ắn cắp tiền của bà ngoại, đã xử ản bằng cách đặt tay cháu lên tấm thớt và chặt đứt ba ngón tay!

Ở Ấn Độ, sau vụ một thiếu nữ bị hiếp dâm tập thể trên xc bus, đảng Quốc Đại cầm quyền đang soạn luật mới cho tội phạm hiểp dâm, gồm án phạt tối da là 30 năm và dùng hóa chất gây liệt dương cho thủ phạm. Nghĩa là vật để dùng gây tội phải được trừ khử như bàn tay em bé ăn cắp bị “phán xét” dưới bánh xe vận tải ở trên, Nếu luật pháp xử theo lối này thì kẻ hiếp dâm đáng phải bị cắt “tang vật” (vật khí gây tội) hơn là chỉ làm cho nó hết ngo ngoe thôi.

Một tòa án Hàn Quốc ngày 3.1 vừa qua đã ra lệnh áp dụng biện pháp thiến bằng hóa chất đối với một kẻ bị kết tội ấu dâm tái phạm, trong một phán quyết đầu tiên thuộc loại này tại quốc gia Đông Á, theo hảng Tân Hoa Xã. Với phán quyết của Toa án Quận Nam Scoul, một người đàn ông 31 tuổi họ Pyo sẽ bị kết án 15 năm tù và phải qua quá trình diều trị bắt buộc nhằm ức chế ham muốn sinh lý. Pyo, người mà tòa cho là “mất khả năng tự chủ”, đã bị kết tội hiếp dâm năm trẻ vị thành niên trong khoảng thời gian từ tháng 11.2011 đến tháng 5.2012. Y đã đe đọa phát tán những đoạn phim quay cảnh hiếp dâm lên mạng internet. Phán quyết của tỏa cho biết: “Việc điều trị bằng thuốc men sẽ làm giảm những tưởng tượng và ham muốn tình dục thái quá của bị cáo.”

Những người chi trich bản án lại cho rằng việc sử dụng biện pháp “thiến” bằng hóa chất là vi phạm nhân quyền của tội phạm tình dục. Quan niệm đến tội ác có phần đơn giản, chiếu thco điều anh đã làm gì cho người khác, thì anh phải chịu bản án như nạn nhân phải chịu. Nếu một kẻ sát nhân chặt đầu tình địch, đương nhiên ra tòa án, phải chịu bản án lên “đoạn đầu đài” (nghĩa là bị chặt đầu), đâm người khác mù một mắt thì thủ phạm cũng phải chịu móc mù một con mắt trở lại, đánh một người khác gẫy chân phải thì cũng bị tòa ra án lệnh cho đám thi hành bản ản đánh què chân phải của thủ phạm gây án, Phải chăng xử án theo kiểu này là để cho thù phạm biết nỗi đau đớn mà mình áã đem lại cho người khác, “cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (kỷ sơ bất dục vật thị ư nhân). Theo kiểu trừng phạt “mắt đền mắt, răng đến răng” này. có độc giả đề nghị nên lấy màng nhĩ của một ông đại tá bộ đội VC ở Ninh Thuận dể thay thể cho một em bé lối xóm, vừa bị ông đánh thủng màng nhĩ, sau khi đọc bản tin này trên báo chí trong nước.

Nhưng theo Phúc Âm: Mt 5, 38-42 Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: “Các con đã nghe bảo: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Còn Thầy, Thầy bảo các con: đừng chống cự lại với kẻ hung ác; trái lại, nếu ai vã má bên phải của con, thì hãy đưa má bên kia cho nó nữa. Và ai muốn kiện con để đoạt áo trong của con, thì hãy trao cho nó cái áo choàng nữa. Và ai bắt con đi một dặm. thì con hãy đi với nó hai dặm. Ai xin, thì con hãy cho. Ai muốn vay mượn, thì con đừng khước từ”.

Để chống lại những vụ án “mạng đền mạng” kiểu trên sách vỡ kế lại một vụ án thời cổ như sau: “Một hôm. có một người thợ xây đang ở trên giàn giáo cao bị xảy chân rơi xuống, chẳng may lại trúng ngay một người đang đi bộ ngang qua phia dưới, Anh thợ chỉ bị thương nhẹ, trong khi người khách bộ hành thì chấn thương đầu, hôn mê rồi chết. Chiếu theo một loại luật của miền này, gia đình nạn nhân đưa nội vụ ra tòa dòi anh thợ hồ phải đền mạng. Vị quan tòa vốn từ lâu đã thấy những cải vô lý trong bộ luật của địa phương, nhưng truyền thống và hủ tục xưa nay rắt khó thay đổi. Cuối cùng, để cứu người thợ xây oan ức, ông tuyên án:

“Gia đình nạn nhân đòi “mạng đổi mạng” theo truyềnôthống là chinh đáng, nhưng tói thấy phải nói rõ rằng: Nếu anh ta đã giết người nhà của các ông bằng cách nào, thì các ông cũng phải giết anh ta đúng bằng cách ấy, nghĩa là một người tong gia đình các ông phải trèo lên giàn giáo. nhấy xuống đúng vào đầu anh thợ xây đang đi phía dưới … “

Còn theo ý bạn, bạn nghĩ sao? Liệu chúng ta có thể lùa tất cả chúng xuống biển như chúng đã lùa con cái, họ hàng, đồng bào của chúng ta xuống biển ngày trước không?

Tại sao lại có những Cơ Phi lè phè như vậy?

dongsongcu.wordpress.com

Nguyễn Viết Tân

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Tổng hợp, đọc để biết tâm sự cay đắng và cuộc đời của một Cơ Phi ở Biên Hoà.

Có lần cover cho Nhảy Dù, lướt qua thấy mười mấy tên ngồi, một đứa nằm mà không thấy một Dust-Off nào vô tải thương, Gunship tụi tôi đành phải vừa bắn phủ đầu Việt Cộng vừa tải thương binh Dù. Nghe tiếng trực thăng là súng cối chúng nổ lốc-bốc liền. Chiếc Guns của tôi đáp xuống trong khi Guns 2 cover, xịt Rocket sát đến độ bụi, sình bay mù mịt. Thằng Dũng-chim rải Minigun không phải trên đầu tụi Vẹm mà rải trên đầu ngọn lúa như vãi phân Urê.Vẹm pháo kích thật dữ, như có đề-lô nên một trái nổ là một trái sát đến gần, tụi này vẫn anh dũng nằm đó nghiến răng chờ đợi.
Cánh quạt quay phành phạch ù cả tai.
Thêm ba trái pháo rớt càng lúc càng gần. Ớn quá.
Tôi nhìn vô cánh rừng thấy không một tên nào dám dìu thương binh ra tàu, để tội nghiệp người hùng lính Dù của chúng ta vừa khè-khè cuống họng, một tay cầm bình nước biển một tay quơ quào trong không như bơi lội dưới sình lầy ruộng nước chậm chạp đi ra.
T/u Ngọc la trong nón bay kêu “Tống mày nhảy xuống, chạy bồng nó lên đi”.
Ông ơi còn cách cả chục thước, bộ ông không thấy sao. Nhưng tôi cũng nóng ruột không thể chần chờ được nữa. Bứt dây liên lạc, bật seatbelt, bay xuống ruộng, mà người nặng chịch vì đeo áo giáp phía trước ngực. Cũng may là miếng giáp phía sau dùng để kê ngồi (vì sợ nó bắn bể bi) chứ không thôi làm sao không bị chìm xuống sình?
…Anh ta bị thương nơi cần cổ không thở được. Tôi để hắn ngồi trên bình điện, đầu dựa vào vách thùng đạn. Ô, đôi mắt lạc thần, mũi khò khè trong từng hơi thở nặng. Tôi với Xạ thủ Phi hành líu quíu không biết làm sao đây.
Khi hai chiếc Guns chúng tôi về đến bãi đáp Tây Ninh thì hắn đã ngất xỉu.
Tay tôi cầm chai nước biển đã truyền cho anh tải thương Dù rồi, mà vẩn còn run. Run vì lạnh hay chứng kiến tử thần trước mặt.
Đó là Gunship chúng tôi. Biết bao nhiêu là chiến công oanh liệt, sống chết như vậy mà có ai biết cho, toàn là cha căng chú kiết ở mãi đâu đâu, được tưởng thưởng.


Trận Mùa Hè Đỏ Lửa cũng thế.
Cover cho hai Dust-off vô Bình-Long.
Mới đến Đồi Gió là Dust-off 2 bị phòng không bắn cháy rồi. Tôi thấy xạ thủ (hay YTPH) phóng ra ngoài vì lửa quá nóng. C&C trên sáu bảy ngàn bộ kêu Gunship xuống bốc phi hành đoàn. Guns1 Dũng-chim xuống bốc, Guns 2 tui quạt Minigun như xịt thuốc rầy…
Và mẹ ơi, cái gì làm một cái ùm, tôi văng vô giữa lòng tàu. Máu nhuộm đỏ cả mắt kiếng nón bay. Bàn tay phải của tôi tê rần. Trong đống máu tôi còn thấy mất mẹ ngón tay giữa của mẹ rồi Má ơi. Mặt tôi cũng sưng chù vù lên. Một vết miểng cắt xén gò má đẹp trai của anh-hùng Gunship.
Trận tải thương này bay Dust-off là Danh-con (5/69) cùng 2 hoa tiêu bị phỏng nặng cùng tôi về nằm chơi TSN, còn xạ thủ chiếc đó thì lên bàn thờ ngồi ngắm gà khoả thân và nhang khói.
Sau đó Danh-con và 2 hoa tiêu giải ngũ, còn tôi tiếp tục về phi đoàn đóng vai “người hùng bất đắc dĩ” cho trận Củ Chi 6 tháng sau đó.
Cú này nặng ghê lắm à nghen. Việt Cộng lần trước không lấy được cánh tay Minigun của tôi, lần này chúng nhất định lấy.
Đại uý Tấn mới hover trên địa đạo là chúng đòi lấy cánh tay phải để bóp cò Minigun của tôi liền. Một tràng súng nổ khiến tôi lại văng vô giữa lòng tàu. Tôi không còn thấy cánh tay của mình đâu nữa hết. Rồi thì tui phê đi, nghe đâu có tiếng kêu của ai đó vọng về bên tai.
Khi tỉnh dậy đã thấy mình nằm trong Tổng Y Viện Cộng Hòa vào sáng hôm sau, bên mình ngửi thấy mùi thơm phưng phức của Bà Tá nào đó, đang vừa mò chim tôi vừa hỏi có đái được không. Tôi lắc đầu. Bà Tá tay vẫn không rời nấng chim trong tay, miệng thì kêu y tá lại thông nòng cho tôi đái. Mũi ngửi thấy mùi thơm phức và dưới sự mân mê của bàn tay đàn bà làm tôi tỉnh hoàn toàn, lòng ngây ngất dù bị thông nòng đau thấu trời xanh.
Tôi đưa mắt tìm cánh tay xem còn hay mất.
Ôh, ôh…Tạ Ơn Trời Đất, Nam-Mô A-Di Đà Phật, cánh tay tôi vẫn còn đây dưới lớp băng nhuộm đầy máu khô. Mấy ngón tay vẫn còn nhúc nhích được. Tôi cảm thấy hình như nước mắt nóng bỏng đang chảy dài dưới gò má….
(Để mai viết tiếp nghe. Tôi nhất định viết bài này đăng báo để khiếu nại tới BTL/SĐ3KQ đã đì tôi sát ván, cho đến ngày đứt phim vẫn còn mang cánh gà, trong hồ sơ Quân bạ cũng không hề có một cái Huy chương làm thuốc, trong khi bạn bè khoá 5/69 thì đã lên Th/s này, Th/s Nhứt kia.)
Thiệt chưa từng thấy ai đi lính chiến đấu trong gần 6 năm trời mà không lên được một cấp như tôi, hỏi sao tôi không thành một người lính bất mãn!
Cánh tay phải của tôi từ bàn tay lên đến vai ghi đầy vết chiến tích của người hùng mà nhất định không tàn phế.
Từ AK đến trung liên nồi hằn hộc cày lên thân xác đứa con của Mẹ. Việt Cộng muốn mang về làm chiến lợi phẩm rằng đã chặt được một thằng xạ thủ Minigun là bớt một thằng rải thuốc rầy trên đầu chúng nó, nhưng đã hoàn toàn thất bại!
Nằm TYV Cộng Hòa một tháng thì xuất viện, tôi mang cánh tay băng bột về lại Biên Hòa. Lúc này thấy nhiều khuôn mặt mới của khóa đàn em về bổ sung quân số như Ninh-con, Thanh-dễ-thương, Trường…vì Khoá 5/69 đã khuyết danh đi rất nhiều.
Danh-con đã giải ngũ; Lộc-râu tử trận; Điệu và Tiên chuẩn bị đi Mỹ học hoa tiêu A37 (cũng mừng cho tụi nó thoát kiếp dằn thùng), và tui sẽ ký xiệc-kuy rời phi đoàn về TSN.
Trong thời gian này vết thương tay hành hạ tôi làm cả người nhức buốt không thèm khát gì, kể cả gái. Hơn tháng trời nằm nhà rên rỉ, đến quá ngày tái khám mà cũng không nhớ để bị báo cáo đào ngũ!
Chiến trường VN đến cuối năm 1973 đã trở nên khốc liệt. Tôi bị túm, mang cánh tay băng bột vô QC Tân Sơn Nhứt chờ đưa đi Quân lao. Ở đây gặp thằng Thời 5/69 mình.
Thằng Thời hồi ở quân trường Biên Hoà thường bị nhốt hầm cá sấu; nó bay vận tải, tội sì-ke lại thêm tội gì đó nên mới bị bắt vô đây. Từ lúc vô quân trường thì nó đã vang danh du đãng rồi.
Lúc tôi vô nó đang là trưởng phòng, chuyên ăn hiếp đánh đập mấy đứa mới vào. Đứa nào có bao nhiêu tiền nó lấy hết, lột cả vòng vàng hay đồng hồ đeo trên tay trên cổ; Tôi là bạn cùng khoá bây giờ cùng hoàn cảnh tù đày, mà nó cũng nỡ lòng chôm mất một sợi dây chuyền.
Thật là mắc cở và tức giận có một kẻ như nó trong khoá mình.
Nó cướp tiền anh em rồi chuyền ra ngoài mua sì-ke vô phê, vừa phê vừa kêu em út đá thằng này hỏi tội thằng kia. Cũng may chỉ có tui là ngoại lệ. Tôi ngồi cú xụ ở một góc mà ngó đám chúng nó đang bị ma quỷ hành hạ. Sau đó nó bị giải đi quân lao trước tôi.
Bị nhốt ở QC/ TSN cả tháng chờ Quân lao trống chỗ tôi mới bị đưa đi. Vô đến Quân lao tôi có để ý kiếm thằng Thời mà không thấy, chắc nó bị nhốt riêng.
Quân lao nhốt hằng ngàn đào binh, sì-ke ma túy, hiếp dâm, cướp của giết người không phân biệt, co rút nằm bên nhau.
Sĩ quan cùng HSQ thì nằm tầng trên, Binh sĩ nằm tầng dưới và dưới đất. Sáng 8 giờ điểm danh xong thì không thằng nào được vô phòng ngoại trừ SQ; Binh Sĩ thì cắt đi tạp dịch; HSQ thì kiếm gốc cây nào ngồi đó mà ngủ gà ngủ gật, đến trưa lãnh cơm ăn xong mới cho phép HSQ vô phòng nghỉ ngơi. 5 giờ chiều ăn cơm, 6 giờ tập họp điểm danh phân phòng để nhét thêm đám cô hồn mới vô.
Có một thằng QC không biết tội chi mà bị tống vào đây. Cả quân lao như lũ khát máu làm dàn chào thằng này, đấm đá từ ngoài cổng sắt vô tới phòng. Cho đến tối mà cũng không tha, thằng nằm trên nó thì đá, nằm dưới nó thì đạp, bên cạnh thì đấm…Nó bị hành hạ đến nỗi thằng Trưởng phòng phải kêu tụi bây tha thứ nó để chút đức cho con cháu. Thằng trưởng phòng cuối cùng lôi nó lên tầng trên HSQ giữ dùm.
Thằng QC bị nhét nằm bên tôi, cả đêm chỉ nghe thấy nó thút thít khóc cho đến sáng.
Hai tuần sau chúng tôi bị đưa ra Tòa án Quân sự.
Tôi được xử tha bổng, vì lý do chiến thương, chứ dại gì đang lãnh lương, được ở nhà thì lại ngu gì mà đào ngũ.
Xử án xong tất cả bị đưa về lại Quân lao. Thằng nào tội đào ngũ bị xử án thì bị nhốt riêng chờ đi Lao công Đào binh.
Còn tôi thì nghe nói sẽ được chở về nằm phè cánh nhạn ở Trại Sống Mới TSN. Mới nghe tên trại tưởng đâu ngon, sau này mới biết là mình lầm.
(Mai tiếp nghe anh em, bà xã đang wé. he. he….tôi chạy đây !!!)
Buổi trưa hôm sau tôi đang ngủ bị rệp cắn ngứa bả vai, ngứa cả cánh tay còn băng bột mới giật mình thức giấc. Ngồi buồn loay hoay bắt rệp, lấy cái cây nhỏ khều trong lớp băng bột vì nó trốn tuốt ở trong, bắt được con nào nghiến răng bóp bẹp con nấy mà không quên chửi cha chúng, cái thằng nào đày tao vô đây để tận cùng khổ nhục. Bỗng bên ngoài nghe tụi nó la ầm lên: “Về đời! Về đời! KQ về đời, TQLC về đời, SĐ5…về đời !”
Chữ về đời nghe lạ hoắc. Thằng trưởng phòng đang ngủ cũng bật dậy la hùa theo: “Há.há…KQ về đời, về đời. Thằng nào về đời thu xếp đồ đạc lên văn phòng nghe.”
Nó nhào đến bên tôi, xà xuống thật lẹ: “Ê, bạn KQ tôi ơi, về đời kìa. Còn cái gì ăn để lại cho em út đi!” Tôi một tay xếp đồ đạc sẵn bên chân, hất cái giỏ đồ ăn cho nó. Nghĩ tới thằng QC bên cạnh nó đang tạp dịch không có ở đó, tôi giật cái giỏ đồ ăn lại lấy cái lon sữa Guigoz đựng mắm ruốc xào sả nói để cho thằng QC, tội nghiệp nó không có ai thăm nuôi.
Thôi, chúc may mắn nghe. Thằng trưởng phòng bắt tay tôi từ giã. Tôi thảy cái túi vải đựng đồ cá nhân xuống sạp dưới, một tay lần bậc thang gỗ nhảy xuống đất, rời khỏi chambre chạy lên văn phòng.
Mỗi chiều thứ bảy các Quân chủng lên lãnh tù tha bổng trả về, nên không khí Quân lao có phần xôn xao nhộn nhịp. Những đứa đang tạp dịch nghe tin báo chạy rần rần về phòng thu xếp quần áo. Tôi đi đến văn phòng thì đã có một số được thả đang tập họp đứng đó, đứa nào đứa nấy mặt mày hớn hở, vừa hút thuốc vừa ba hoa chích choè đủ thứ chuyện. Tôi thấy xe GMC của TQLC, Nhảy Dù, ĐPQ, KQ, HQ đủ Binh chủng đậu hàng dài bên hàng rào cổng sắt. Xong mọi thủ tục, tụi tôi tất cả 5 thằng KQ theo một Hạ sĩ già cầm danh sách ra xe. Chiếc Dodge 4 màu xanh lam như màu trời xanh đang chờ tôi trở về. Xe về đến TSN, trong lúc xuống xe chúng tôi hỏi có bị nhốt trong Trại Sống Mới không. Viên Hạ sĩ già lắc đầu nói cho mấy ông về nhà thứ hai lên trình diện, mỗi ngày điểm danh chờ đi đơn vị.
Chúng tôi vô văn phòng quản trị chờ lấy giấy phép, rồi mạnh thằng nào thằng nấy chạy ra cổng Phi-long.
Sàigòn đẹp lắm Sàigòn ơi Sàigòn ơi…

Một thời để Yêu & Một thời để Chết

Erich Maria Remarque

Nguyên tác: Eine zeit zu leben und eine zu sterben

Dịch giả: Cô Liêu

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Bottcher thu xếp đồ đạc quần áo. Bạn hữu đứng vây quanh. Graber hỏi:

– Sao. Anh tìm thấy chị ấy rồi hả?

– Thấy, nhưng…

– Ở đâu?

– Ngoài phố ấy. Nó ở ngay phố Keller gần một tiệm làm dù cũ. Lúc gặp tôi không nhận ra.

– Trước chị ở đâu?

– Ở một trại gần ngoại ô. Trời ơi! Nó ở gần ngay cửa hàng bán dù mà tôi không thấy. Tôi đi gần nó gọi: “Otto ơi! Anh không nhận ra em à?”

Bottcher yên lặng một lúc, liếc quanh nhìn mọi người:

– Các bồ ơi! Làm sao mình nhận ra một người đàn bà đã sút mất gần bốn mươi ký lô?

– Cái trại chị ấy ở trước gọi là trại gì?

– Tôi cũng không biết, trại rừng trại rú gì đó. Nhưng các anh hãy nghe nốt câu chuyện. Tôi nhìn nó và tôi hỏi: “Anna em đấy à”. Anna trả lời: “Em đây! Em nghĩ rằng có lẽ mình được nghỉ phép, vì thế em trở về đây”. Tôi vẫn nhìn vợ không chớp mắt. Người gầy dộc hết như con ngựa kéo xe thổ mộ, năm mươi lăm, có lẽ năm mươi lăm ký lô, chỉ còn bộ xương, áo rộng thùng thình như tấm khăn bọc lấy cái cọc.

Bottcher thở dài đau đớn.

– Vợ anh cao bao nhiêu?

– Độ một thước sáu. Chi vậy?

– Thế thì trở lại người trung bình chứ có gì lạ?

– Trung bình à? Chuyện ấy chỉ là chuyện tầm phào.

Bottcher trố mắt nhìn Graber:

– Tôi không bận tâm đến người cân nặng trung bình! Vợ tôi hóa ra cái kim đan, đó là sự thật như thế! Tôi muốn nó như ngày trước, một người mũm mĩm dễ coi chứ không phải khô đét như hột cà phê. Tôi ra đánh giặc để chi? Để rước lấy hột cà phê ấy à?

Reuter vội nói:

– Anh chiến đấu cho Quốc trưởng thân yêu của chúng ta, cho tổ quốc chúng ta, chứ không phải cho cái đít vợ anh. Ba năm chiến đấu chắc anh phải biết rõ điều ấy.

Bottcher nhăn mặt. Y quay lại nhìn mọi người để phân bua:

– Tôi chiến đấu để bảo vệ cái gì tôi thích, để bảo vệ đời sống của tôi, còn cái khác thì tôi…

– Im mồm!

Reuter giơ tay ra hiệu:
– Anh muốn chiến đấu cho cái gì thì chiến đấu, nhưng đừng nói với ai! Tìm thấy vợ yên lành như thế là đáng mừng rồi.
– Thì tôi mừng, nhưng tại sao nó không còn đẹp đẽ tươi tắn mập mạp như xưa? – Thôi anh ạ, cái vặt ấy có thể sửa chữa được có làm gì! Để chị ấy ăn một dạo cho lại người thì lại mập.
– Ăn cho lại người! Nói nghe dễ dàng quá. Nhưng lấy ở đâu mà ăn. Thẻ thực phẩm ấy à?
– Tìm cách khác chứ! Bottcher chua chát mà rằng:
– Cám ơn lời vàng ngọc của anh. Chỉ còn có ba ngày nghỉ thôi. Làm thế nào nuôi cho béo trong ba ngày! Thí dụ như suốt ngày ngâm trong dầu gan cá thu và ăn một ngày sáu bữa cũng chỉ được một hai ký là cùng! Thật là nan giải cho tôi!
– Dầu sao anh cũng có cô chiêu đãi.
– À, rắc rối quá! Tôi đã tự nhủ là không đến nữa. Tôi đã có gia đình, không chơi bời nữa; nhưng khốn nỗi, bây giờ tôi lại thích cô gái chiêu đãi mới chết chứ. Reuter nói:
– Sự thật thì anh chỉ là một người bản chất hời hợt.
– Tôi không hời hợt. Trái lại, một chuyện nhỏ nhặt cũng làm tôi xúc động sâu xa. Nếu không tôi đã thấy mình sung sướng. Nhưng anh không hiểu được những điều ấy, cứ như anh thì không bao giờ anh hiểu cả! Bottcher quay lưng lại thu dọn đồ đạc vào bị. Graber hỏi:
– Anh đã kiếm được chỗ cho vợ ở chưa hay anh tìm thấy nhà cũ?
– Không, chúng tôi bị nạn bom. Nhưng chẳng thà ngủ hầm còn hơn ở đây dù thêm một ngày nữa. Cái khổ là vợ tôi nó không chịu nói gì với tôi nữa. Tôi vẫn yêu vợ, nếu không thì lấy nhau làm gì? Nhưng vợ như thế thật tôi không thích nữa. Mà cơ sự đã ra như thế thì tôi làm gì được. Dĩ nhiên, nhà tôi cũng thấy rõ tình trạng này.
– Dù sao thì cũng chỉ có ba ngày, anh có thể đóng kịch một chút cho chị ấy vui lòng.
– Nằm vào giường thì một người đàn bà có thể làm thế được thật, nhưng người đàn ông mình thì chịu thôi. Biết thế này thì chẳng thà đừng gặp vợ, cứ trở lại mặt trận lại hóa hơn. Gặp nhau chỉ thêm đau khổ cho cả hai người. Bottcher quẳng bị lên vai rồi đi ra. Reuter đưa mắt nhìn theo rồi quay lại nói với Graber:
– Còn anh? Bây giờ anh thế nào?
– Tôi đến văn phòng đây. Có lẽ phải có giấy phép đặc biệt để lấy vợ. Reuter cười tai quái:
– Kinh nghiệm Bottcher không làm anh núng trí à?
– Không, nhưng tôi lại có những mối lo khác. Viên thư ký văn phòng của đơn vị nói:
– Ngoài mặt trận đang sôi động đây. Anh có biết khi sôi động thì người ta làm gì không?
– Mình sẽ lánh mặt đi, đến đứa trẻ cũng biết thế. Nhưng tôi đã lánh mặt rồi vì tôi nghỉ phép! Viên thư ký vội cải chính:
– Anh tưởng anh đã có giấy nghỉ phép rồi là chắc ăn hẳn. Tôi sẽ cho anh coi lệnh mới đây này. Graber kéo một gói thuốc lá trong túi ra đặt lên bàn. Bao tử y dần dần thắt lại.
– Đánh nhau kịch liệt. Thiệt hại không sao kể xiết. Người ta đòi tiếp viện ngay. Nghỉ phép không có lý do tối cần phải trở lại tiền tuyến ngay. Thế là đủ chưa?
– Đủ rồi? Thế nào là lý do tối cần?
– Cha mẹ chết, thu xếp việc nhà, bệnh nặng. Gói thuốc lá chui vào ngăn kéo anh thư ký.
– Anh cứ trốn biệt vào nơi nào đó, làm bộ chết rồi. Nếu không ai tìm ra anh thì anh không phải đi. Đừng có trở về trại. Chúi vào một xó nào đó cho đến ngày hết phép hãy trở lại. Người ta sẽ làm gì anh? Phạt vì không để lại địa chỉ? Thì đằng nào cũng đến trở lại mặt trận thôi chứ gì?
– Tôi lấy vợ. Đó có phải là lý do tối cần không?
– Anh lấy vợ à?
– Vâng, vì thế tôi mới trở lại đây. Tôi muốn biết sổ quân bạ có đủ hay không hay còn phải cái gì nữa?
– Lấy vợ có thể là lý do tối cần, tôi nói có thể thôi. Anh ta đốt điếu thuốc lá. – Có thể là một lý do nhưng tội gì mà lạy ông tôi ở bụi này? Anh là lính thì sổ quân bạ là đủ. Nếu cần gì khác cứ trở lại đây tôi giúp kín đáo. Anh không có gì mặc à? Không lẽ cưới vợ với bộ áo ở dưới hầm.
– Có thể thay đổi quần áo ở đây không?
– Đến phòng quân phục. Anh nói có tôi giới thiệu. Mà còn thuốc lá ngon không?
– Đây không có nhưng tôi kiếm được.
– Không phải tôi hỏi cho tôi, mà hỏi cho người coi y phục đó.
– Vâng để tôi lo. À, đàn bà lấy chồng lính có phải giấy má đặc biệt gì không? – Không biết, nhưng nếu phải giấy má thì cũng lạ thật đây. Bây giờ giản dị hóa thủ tục mà. Y xem đồng hồ :
– Anh đến ngay phòng quân phục đi, chắc còn mở cửa. Graber đi sang một chái dành cho kho quân phục. Phải leo lên gần áp mái. Anh thượng sĩ coi kho là một người mập mạp, hai mắt kỳ dị vì một mắt xanh tím, còn mắt phải nâu hạt dẻ.
– Làm gì mà nhìn nổ lỗ đáo ra thế. Anh chưa trông thấy con mắt giả bao giờ à? – Có, nhưng chưa thấy mẩu nào như thế.
– Ngốc thật, đây không phải mắt tôi, có người cho tôi mượn. Bị hôm trước tôi đánh rơi mắt xuống hè. Đồ này dòn lạ! Đáng ra phải làm bằng nhựa thì chắc hơn.
– Đồ này rất dễ cháy. Viên thượng sĩ mỉm cười khi thấy những huy chương của Graber.
– Tiếc rằng không có đồng phục cho anh bây giờ. Đồ trong kho còn tồi tệ hơn. Hắn nhìn Graber với con mắt bóng lộn. Mắt thật nâu hạt dẻ so với con mắt ấy thì lờ đờ quá. Graber đặt xuống bàn gói thuốc lá của Binding cho. Con mắt nâu hạt dẻ tỉnh táo ngay Hắn quay vào, lúc ra mang theo một cái áo varơ.
– Bây giờ chỉ có thế thôi à. Graber không cầm áo vội. Y lấy ra một chai cô-nhắc mang theo để gần hộp thuốc. Hắn trở vào rồi mang ra cái quần mới. Graber coi cái quần trước. Lật lại thì thấy hắn đã xếp quần khéo để lấp một vết loang bằng bàn tay vào phía trong. Graber lẳng lặng nhìn vết loang rồi lại nhìn chai cô-nhắc.
– Không phải máu, dầu ô liu thượng hảo hạng đó. Người này ở nước Ý về. Tẩy một chút băng-din thì sạch ngay.
– Nếu dễ thì sao lại phải đổi cái khác chứ không đem tẩy?
– Có lý. Nhưng anh này muốn một bộ có vẻ đồ ra trận. Như bộ của anh. Y làm việc ở một văn phòng tại Milan đã hai năm, ấy thế mà viết thư về cho vợ cứ nói khoác là mình dự hết trận nọ đến trận kia. Y không thể về nhà với cái quần mới chỉ có một vết dầu. Tôi chỉ có thế thôi. Thề độc với anh! Graber không tin được một chữ, nhưng y không có gì khác để tặng anh thượng sĩ. Tuy nhiên y vẫn lắc đầu.
– Được rồi. Tôi đề nghị với anh thế này: cho không anh bộ này, anh giữ lấy cả bộ cũ, là hai bộ. Đồng ý!
– Anh không cần bộ cũ để cho đúng sổ sách à? Hắn khoa tay: – Ôi dào! Đã từ lâu sổ sách đâu có đúng với vật liệu trong kho. Bây giờ anh có thấy cái gì đúng trên văn tự với ngoài thực tế không?
– Không.
– Thế thì…    

***  

Khi đi qua bệnh viện, y dừng lại. Y đã hứa rằng sẽ đến thăm Mutzig, anh chàng sưu tập tên của những người bạn chết. Y ngập ngừng một lát rồi bước vào, với sự mê tín rằng làm một điều tốt lành có thể gây hậu quả tốt cho mình. Những người bị cưa chân tay đều ở tầng lầu thứ nhất. Dưới nhà là những người bị thương nặng và những người mới giải phẫu xong; trong trường hợp báo động sẽ dễ mang xuống hầm. Người bị cưa chân có thể nhờ người dắt xuống được. Một người cụt hai tay có thể nhờ hai anh cụt một tay dìu xuống cầu thang. Mutzig sung sướng quá chừng quá đỗi khi thấy Graber.
Tôi tưởng rằng anh không đến.
– Tôi cũng vậy, nhưng tôi đến đây.
– Thật là quý hóa! Stockmann cũng có đây. Hai người cùng ở Phi châu với nhau hả? – Phải rồi. Stockmann cụt một cánh tay phải. Y đang đánh bài với những phế binh khác. Thấy Graber y la lên :
– Graber! Anh cũng bị thương hả? Nói rồi anh ta theo bản năng tìm kiếm một thương tích trên người Graber để giải thích lý do Graber được về đây.
– Không, tôi không sao cả. Mọi người đều quay lại với cái nhìn giống Stockmann. Graber nói, nhỏ như mình đắc tội:
– Nghỉ phép.
– Tôi tưởng anh đã đủ nhiệm vụ bên Phi châu người ta có thể cho anh giải ngũ được.
– Không, họ sơn phết lại tôi rồi gởi sang Nga.
– Vậy là anh may mắn đó. Còn thì bị bắt hết. Không kịp đưa về bằng phi cơ. Một người chơi bài đặt bài xuống gắt gỏng:
– Nào chơi nữa hay tán dóc đây? Graber thấy anh ta cụt cả hai chân. Bàn tay phải cũng mất hai ngón. Lông mày không còn. Hẳn là bị cháy vì mi mắt đỏ và sáng bóng.
– Cứ chơi đi, tôi không ở đây lâu đâu.
– Một tua nữa thôi là xong. Graber đến ngồi gần cửa sổ với Mutzig. Mutzig nói nhỏ:
– Đừng nên giận Arnold, hôm nay anh ấy làm sao đấy.
– Arnold là ai vậy, anh cưa chân ấy à?
– Phải đó. Hôm qua vợ đến. Vợ về rồi anh ấy lại phát bịnh. Arnold đằng kia la lớn :
– Nói gì đấy?
– Kể lại chuyện cũ, có gì đâu. Arnold lại vùi đầu vào đám bài sau một tiếng càu nhàu.
– Mặc dầu vậy ở đây cũng vui lắm. Anh em tốt cả. Arnold làm thợ nề, khó mà thích ứng được. Mấy lại vợ y đã phản bội y. Mẹ y cho biết vậy. Stockmann ném nắm bài xuống bàn.
– Xui thật! Mình đã chắc lá “ách”! Arnold cười ngạo mạn và xóc bài.
– Lắm lúc người ta phải tự hỏi khi lấy vợ, vạn dĩ gặp nạn thì đằng nào hơn: cụt tay hay cụt chân? Stockmann thì cho rằng cụt hai tay còn hơn. Nhưng thử hỏi có một tay thì làm sao ôm vợ? Dù sao thì cũng phải ôm chắc lấy vợ chứ!
– Cái đó không quan trọng, điều quan trọng là sống cái đã. –
– Đành là thế nhưng anh thấy không, sự an ủi chỉ có giới hạn. Hết chiến tranh thì cái gì cũng thay đổi. Mình là anh hùng chiến sĩ đấy nhưng thời bình mình chỉ là thằng tàn phế.
– Tôi không tin rằng thế. Vả chăng có những sáng kiến tinh thần dành cho người phế binh.
– Tôi không nói đến việc làm vội.
– Sự thật thì phải thắng trận cái đã. Arnold nghe chuyện hai người bỗng nói xen vào.
– Nếu không có người trốn lính thì chúng ta không đến nỗi phải thua. Graber không trả lời, không thể bàn cãi với người phế binh được; khi người ta đã mất một cánh tay hay một cái chân thì bao giờ người ta cũng có lý. Người ta có thể bàn luận với một người bị thương ở phổi hay ở tim, với một người mà đời sống luôn luôn bị đe dọa bởi bệnh đau đớn lâu ngày, nhưng kỳ dị thay, người ta không thể bàn luận với một người bị cưa chân hay tay. Arnold trở lại đám bài, Mutzig hỏi:
– Anh nghĩ sao, tôi có cô bạn ở Munster, tôi vẫn nhận được thư. Nàng vẫn tưởng tôi bị thương xoàng ở đùi thôi; tôi không dám nói thực.
– Cứ bình tĩnh mà đợi, hãy biết sung sướng vì không phải đi nữa.
– Thì tôi vẫn làm thế, nhưng đâu có thể kéo dài mãi được. Một người ngồi chầu rìa bỗng la lên:
– Buồn nôn với các anh! Thà cứ ăn uống và sống làm người đi cho xong. Stockmann bật cười. Arnold hỏi:
– Sao vậy bồ?
– Tôi nghĩ rằng không biết sẽ xảy ra những gì nếu đêm nay có trái bom hạng nặng rớt trúng phòng này làm tan xác tất cả. Thử xem bàn tán mãi có ích gì không! Graber đứng dậy. Y nhận ra người muốn ăn uống và muốn sống làm người đã mất cả hai bàn chân. Y nghĩ thầm: Mìn hay tuyết làm thối thịt. Arnold gầm lên:
– Phi cơ của chúng ta làm gì? Ra mặt trận hết cả rồi hay sao? Ở đây không thấy một chiếc nào.
– Ngoài mặt trận cũng gần như không thấy.
– Cái gì? Graber thấy rằng mình lỡ lời vội thêm :
– Ngoài mặt trận chúng ta đang đợi khí giới bí mật. Người ta nói rằng rất thần diệu. Arnold biết, quắc hai mắt dữ tợn :
– Nói tầm bậy! Cứ như anh nói thì nước ta thua đến nơi rồi! Không bao giờ ta thua được, không bao giờ, anh hiểu chưa! Anh tưởng ra tôi sẽ đẩy cái xe đi bán diêm như phế binh hồi chiến tranh trước phải không? Chúng tôi có quyền. Quốc trưởng đã hứa rồi. Y quăng bài xuống bàn. Người không chân nói :
– Mở radio đi, nghe chút âm nhạc chơi! Mutzig mở radio. Máy thu thanh oang oang tung ra một bài diễn văn. Mutzig giơ tay định vặn đi, Arnold ra lệnh:
– Để nguyên đó!
– Để làm gì. Lại cũng diễn văn!
– Để nguyên đó. Đây là một bài diễn văn chính trị. Nếu ai ai cũng để tâm nghe đều đều thì tình thế sẽ khá hơn chút ít. Mutzig nén lòng chịu đựng. Tiếng máy thâu thanh oang oang. Arnold ngồi nghiến răng lại mà nghe. Stockmann ra hiệu cho Graber và nhún vai. Graber lại gần:
– Tôi xin lỗi anh nhé, tôi phải đi.
– Anh có gì thú hơn?
– Không, nhưng tôi phải đi. Khi ra đi, y cảm thấy mắt mọi người đè nặng xuống người mình: y ráng đi chậm lại để tỏ ra mình không chạy trốn. Mutzig nhảy theo.
– Anh trở lại nhé. Ngày hôm nay xui xẻo làm sao ấy. Thường thường ở đây không khí dễ chịu lắm. Graber ra ngoài phố. Trời đã hoàng hôn. Bất thần y lại thấy sợ. Suốt ngày hôm nay y đã tránh được sợ hãi, nhưng trong lúc ngày tận, ánh sáng bất định, cái sợ hầu như hiện ra ở khắp mọi nơi.    

***  

Y trở lại nhà giáo sư Pohlmann. Ông già mở cửa ngay đón y vào, hình như ông còn đợi ai nữa.
– Graber đấy à?
– Vâng, tôi không muốn làm phiền thầy lâu, tôi chỉ muốn hỏi thầy một câu thôi.
– Vào trong này, không nên đứng ở ngoài. Họ bước vào căn phòng sáng đèn dầu. Graber ngửi thấy mùi thuốc lá như có người mới hút tức thời mà trên tay Pohlmann không có điếu thuốc.
– Anh muốn hỏi gì tôi? Graber liếc mắt nhìn quanh.
– Thầy chỉ có một phòng này thôi à?
– Sao lại hỏi thế?
– Nếu cần tôi nhờ thầy cho một người vào ẩn đây trong vài ngày. Thầy có nhận cho không? Pohlmann nín lặng.
– Không phải người bị Sở Cảnh sát lùng bắt. Ngẫu nhiên tôi hỏi thế thôi. Có lẽ không đến nỗi thế. Tôi đang lo sợ cho một người nên nghĩ quẩn.
– Tại sao anh lại hỏi đến tôi?
– Vì tôi không quen ai khác nữa. Graber không thể nói rõ lý do thúc đẩy mình hành động. Y chỉ nghĩ đến việc cần một nơi kín đáo khi gặp sự nguy hiểm thế thôi.
– Ai thế?
– Một người con gái tôi sắp lấy làm vợ. Cha cô bé đã bị bắt rồi. Tôi sợ đến lượt con, nhưng cô bé chẳng làm gì cả. Có lẽ tôi lo sợ hão huyền.
– Lo sợ như thế không hão huyền đâu. Tốt hơn hết là mình đề phòng đủ mọi mặt. Anh có thể đến đây lúc nào cần. Graber cảm thấy lòng biết ơn thầy tràn đến như một đợt sóng.
– Cám ơn thầy, cám ơn thầy lắm. Pohlmann cười. Bất thần y cảm thấy mình lớn hơn, mạnh hơn.
– Cám ơn thầy. Nhưng tôi mong rằng sẽ không cần đến. Thầy trò đứng gần những kệ đầy ắp sách.
– Anh mang theo một hai quyển mà đọc, nó sẽ giúp mình qua những tối băn khoăn. Graber lắc đầu.
– Không giúp ích gì cho tôi cả. Nhưng tôi muốn biết một chủt: làm sao dung hòa được hai thế giới mâu thuẫn nhau này, một thế giới của sách vở, lịch sử và triết lý, một thế giới mật vụ và trại tập trung, tội ác tày trời?
– Hai thế giới ấy không thể dung hòa được với nhau. Chúng nó đọng hiện diện và đứng độc lập với nhau, thế thôi. Nếu tác giả những sách này mà còn sống thì hẳn là họ sẽ đi trại tập trung hết.
– Có lẽ. Pohlmann nhìn Graber.
– Anh muốn lấy vợ à?
– Vâng. Ông già lấy một quyển sách trên kệ xuống :
– Tôi không có gì tặng anh, chỉ có quyển sách này thôi. Chẳng có gì để đọc cả. Toàn là tranh ảnh. Có đêm không thể đọc sách được nữa, tôi ngồi coi tranh ảnh suốt đêm. Hình ảnh và thơ phú, đọc cho đến lúc hết dầu, bây giờ chỉ còn cách cầu nguyện trong tối.
– Vâng. – Graber vâng dạ nhưng không tin tưởng lắm. – Tôi vẫn nghĩ đến anh và những lời anh nói lần trước. – Pohlmann ngừng nói rồi khẽ thêm
– Chỉ còn một cách trả lời: lòng tin, chỉ còn có thế thôi.
– Tin cái gì?
– Tin Thượng đế. Tin rằng còn có cái gì tốt trong lòng người.
– Chưa bao giờ thầy ngờ vực.
– Có chứ. Ngờ vực luôn. Nếu không làm sao tôi có tin tưởng?  

 
***    


Graber trở lại xưởng may. Gió đã nổi lên, mây từng mảng rách nát lướt trên mái nhà. Một toán lính đi bước đều qua công trường. Họ mặc đồ ra trận và tiến đến ga xe lửa, để ra tiền tuyến. “Đúng ra mình phải ở trong toán ấy”. Y ngửa mặt trông cây bồ đề đen thui đứng sững trước căn nhà bị phá hủy. Cũng như lần thứ nhất trông thấy cây bồ đề, bất thần y thấy một niềm vui tràn vào ngực. “Lạ thật, mình thương hại thầy Pohlmann và mình chẳng đợi thầy chỉ bảo gì cả; nhưng mỗi lần đến thăm thầy mình lại thấy một luồng sinh khí mới mẻ sâu xa đưa bổng mình lên…”

Đi giữa bầy thú dữ

Lâm Chương

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Tôi tỉnh dậy trong căn phòng trắng lạnh. Ngoài hành lang bệnh viện vắng hoe. Đèn vàng mệt mỏi đêm khuya. Tôi nằm trên chiếc giường gần cửa sổ. Vết thương được băng lại với nhiều lớp băng quấn quanh đầu. Trở mình, nghe ê ẩm cả người. Phông nhận bệnh có sáu giường, nhưng chỉ có hai người. Sát vách, một ông già kê cái gối sau lưng dựa vào tường, tư thế nửa nằm nửa ngồi. Mặt gầy hốc hác. Ông nhìn tôi bằng đôi mắt thờ ơ lạnh nhạt. Chẳng biết ông vào đây hồi nào.

Tôi hỏi: “Bây giờ là mấy giờ, hả bác?”

Ông trả lời cộc lốc: “Không biết.”

Tôi thầm tiếc một câu hỏi.

Chiếc giuờng trong kế bên ông già, phía trên máng cái bình semm dây nhợ còn vướng lòng thòng. Có thể     có một người vừa được chuyển đi. Nơi nào? Tôi nghĩ đến nhà xác, tự nhiên thấy rợn. Sống chết, dễ như trở bàn tay. Lúc lâu sau, ông già nói: “Chắc gần bốn năm giờ sáng gì đó.”

Tôi nằm nín thinh.

“Nửa đêm, người ta đưa vào một con nhỏ mặt còn non choẹt. Nghe nói mới mười sau tuổi, phá thai bị làm băng.”

Đã định không thèm nói chuyện với ông già, nhưng không ngăn được tò mò.

“Nó đâu rồi?”

“Chuyển lên phòng cấp cứu.”

Tôi hình dung con nhỏ mười sáu tuổi phá thai. Mặt còn non choẹt. Con nhà ai mà thả đi chơi sớm?

“Câu làm sao phải vào đây? Ông già hỏi.

Tôi nói: “Bị người ta đánh.”

“Hừ! Kết bè lập đảng đánh nhau chứ gì?”

Cái kiểu nói chuyện của ông già thật khó có thiện cảm.

“Sao bác vào đây?”

“Thổ huyết.”

“Cũng bị người ta đánh hả?” Tôi hỏi mắc.

Ông nói: “Không. Thình thoảng bị tức ngực họ ra máu.”

“Ho lao xuất huyết. Bệnh này dễ chết.” Giong tôi ác cåm.

Ông cười mỉa: “Dễ gì? Sống để nhìn đời.”

“Bác thấy đời ra sao?”

“Chụp giựt, tranh ăn, giành gái giết nhau,”

Ông gia muốn ám chỉ tôi. Phòng chì có hai người, lại không ưa nhau, nói chuyện nghe chán.

Sau ngày cô Hường roi Nha Trang, tôi thấy trời dất u buồn lạ. Nhớ nhà như lúc mới ra di. Nhớ những thằng bạn mục đồng thuở trước. Nhớ những tấm lưng sạm nắng vất vã theo sau đuôi con trâu, trên những đường cày mới vỡ. Nhớ những mua hè chói chang và ruộng đồng khô gốc rạ. Tôi hay lang thang, hoặc ngổi một mình dưới rặng cây dương ngoài bãi biển. Trong hồi tưởng, tôi thấy lại một quê nhà xa lắc. Tối hôm trước, gần chổ toi ngồi có hai thằng quần ống túm, áo chim cò. Đàn hà con gái nào di qua, chúng cũng buông lời chọc ghẹo. Rõ là quân đầu trâu mặt ngựa, tôi nghĩ. Có một cặp thanh niên nam nữ đeo nhau trên chiếc xe đạp, dừng xe kéo nhau xuống bãi cát. Khi họ ngang qua hai thằng dầu trâu mặt ngựa, chúng trêu chọc bằng những lời hết sức trây trúa. Gã thanh niên đứng lại sừng sộ. lớn tiếng mắng, đồ mất dạy! Thằng đầu trâu phóng tới thoi vào mặt gã thanh niên. Thàằng mặt ngựa cũng nhào vô thộp cổ áo, thoi lia lịa vào lưng vào vai. Ga thanh nien chống đỡ yếu ớt. Đứa con gải hoảng hốt, kêu trời ơi, và chạy ngược lại chiếc xc đạp. Thấy chuyện bất bình, tôi chen vào can thiệp. Tôi vừa nói, cho tôi xin các anh … , thì thằng đầu trâu cho tôi ngay một quả đấm gần sặc máu mủi. Đau đớn, tôi thúc cùi chỏ vào ngực hắn. Thế là chúng buông gã thanh niên, nắm lấy tôi. Gã thanh niên chạy vội về phía đứa con gái, xách xe đèo nhau tẩu thoát. Tôi còn lại một mình. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa bề hội đồng tôi như võ sĩ dợt bao cát luyện tay nghề. Tôi tối tăm mày mặt. Sức chúng là sức voi. Sức tôi trói gà. Một thằng, tôi cự không nổi, nói chi dến hai thằng, Vừa đánh, chúng vừa gằn giọng.

“Đù má! Muốn làm người hùng ra tay nghĩa hiệp hả?”

“Muốn chơi trội trước mặt người đẹp hả? Đù má mày!”

Sau mỗi tiếng đù, tôi lãnh đủ thứ đòn đấm đá thoi đạp. Tôi ngả sấp. Một thằng nện gót giày trên lưng tôi, tức thở. Thằng kia quơ viên đá xáng vô dầu tôi. Tôi chỉ nghe một tiếng bụp. Máu chảy tràn xuống trán. Viên đá đã để lại giữa đình đầu tôi một vết sẹo dài bằng lóng tay, suốt đời. Những người đi hóng gió biển, bu lại. Có  người nói, gọi cảnh sát. Hai thằng đầu trâu mặt ngựa nghe nói cảnh sát, chạy vụt đi. Nhưng giờ này, bọn ăn hại ấy làm gi có mặt ở đây?

Người ta đỡ tôi lên một chiếc xích lô, chở về bệnh viện. Trên đường di, người phu xích lô nói mấy thằng đó là con ông cháu cha có nanh có vuốt. Đôi co với chúng chỉ thiệt thân. Tôi đau quá, ngã đầu sang một bên, không muốn bắt chuyện. Tôi xuống xe, người phu xích lô nói khỏi lấy tiền, và đìu tôi vào phòng cấp cứu. Tại đây, tôi dược lau máu, bang đầu, tiêm một mũi thuốc. Tôi ngủ từ đó, cho đến khi thức dậy thấy nằm trong phòng này. Tôi hận gã thanh niên bỏ chạy dể tôi thế mạng chịu đòn. Quân hèn mạt như thế, cũng có người yêu. Đứa con gái nào yêu nó, chắc cũng là đứa chẳng ra chi. Tôi rủa thầm chúng nó, mong sau này chúng gặp tai nạn tương tự như tối hôm qua. Và tôi sẽ đứng nhìn một cách dững dưng. Sống chết mặc  bây!

Sáng ra, có anh y tá vào phòng đo nhiệt độ cho ông già và tôi. Anh lặng lẽ làm việc như một cái máy. Mặt không biểu lộ sắc thái gì cả. Trước khi ra khỏi phòng, anh nói: “Chuẩn bị, lát nữa bác sĩ khám.”

Tôi nói: “Anh ơi, làm ơn cho xin ly nước uống.”

Anh nín thinh đi luôn.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau. bác sĩ cùng với cô y tá bước vào. Bác sĩ đặt ống nghe trên ngực, trên lưng ông già. Quyết định rất nhanh, nhập viện.

Tổi phiên tôi, bác sĩ bảo: “Hít sâu, thở ra. Hít sâu, thở та … “

Tôi nói: “Tôi nghe đau thốn trong ngực.”

“Đau dầu không?”

“Chỉ đau chỗ vết thương.”

“Lẩn sau có đi đánh lộn, phải đội nón sắt bảo vệ cho cái đầu.”

Ông ghi toa thuốc, và bước khỏi phòng.

Tôi hỏi y tá: “Như vầy là sao?”

Y tá nói: “Lãnh thuốc, về nhà nằm.”

Chữ viết trong toa, ngoằn ngoèo lăn quăn như những con giun. Tôi lãnh sáu viên Aspirine. Lời dặn uống trong ba ngày. Tôi ôm ngực co ro cúm rúm đi ra đường, gọi xích lô về nhà bác Huế.

Hết mê

vanchuongviet.org

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Post by Sơn râu 3 Jun 20264

Trong e mail trước anh hỏi trên biển thì làm sao biết được chuyện xảy ra trên đất liền, những ngày tàu lênh đênh  rảnh rang thì làm gì và tàu ghé bến có được lên bờ chơi không? Những câu hỏi mấy chục năm qua tôi đã nghe nhiều người hỏi, có lẽ từ đây tới ngày tôi nghĩ hưu vẫn còn có người gặp mặt tôi hỏi những câu tương tợ, thường những người trên đất liền hỏi cho có thôi chớ thiệt ra hổng ai muốn nghe câu đáp lại. Tôi phân vân có nên trả lời anh hay không thì chiều nay tôi nhận của anh một e mail nữa. Trong mail một mặt anh trách tôi dạo sau này hông muốn liên lạc với bạn bè luôn cả những lần về bờ cứ ‘ ru rú ở nhà chơi với vợ’ và mặt khác anh than phiền: “ Tao chán ngấy cái thế giới đàn ông giống như con chó giữ nhà và đàn bà là chủ nhân khó tánh; nấu nướng thì không biết, người ta nấu dọn ra thì chề cái môi đỏ chét chê nấu dở ăn không vô, mở miệng ra thì hậm hực, quanh co không thành thật; ra ngoài thì gian lận tuổi tác bằng cách tô lên tóc màu mè xanh đỏ, lắp lên mặt một lớp hoá chất dầy và không bao giờ thấy được mặt thật…” Anh  kể cho tôi nghe những phiền toái trong gia đình và ao ước được làm “ Cánh chim bạt ngàn để khỏi phải vật lộn từ trong nhà ra tới xã hội với công việc và nhìn mọi tiêu cực hàng ngày xảy ra làm chướng tai gai mắt…”.

Tôi nhìn vào điện thoại biết tàu đương chạy ven bờ biển Thuỵ Điển, chuyện xác định vị trí con tàu trước kia thủy thủ muốn biết thì phải hỏi thuyền trưởng hoặc thuyền phó, bây giờ không cần hỏi, ngồi trong phòng cũng biết vị trí con tàu đương ở trên hải phận quốc tế hoặc vào hải phận nước nào. Thời buổi này một việc xảy ra trong một nơi xa xôi hẻo lánh trên trái đất chỉ vài giờ sau cả thế giới điều biết. Cũng như tôi biết chuyện buồn phiền của anh qua chiếc di động nằm gọn trong lòng bàn tay này.

Bây giờ là giờ rảnh của tôi và tôi đương ngồi sau lái tàu nhìn chiều Mùa Thu trên vùng biển Baltic. Trời không gió, mặt biển êm láng và nước biển xanh màu cẩm thạch. Nền trời trắng đục, mặt trời trốn đâu mất nhưng ánh sáng vẫn còn toả sáng đủ để phóng tầm mắt nhìn xa vô dãi đất liền mù mờ trong làn sương mỏng. Tôi trở vô phòng, để điện thoại lên bàn và ngồi xuống mở laptop. Thường ngày giờ này nếu đường truyền internet tốt thì tôi nối mạng tìm đọc cái gì đó, không thì gõ lên bàn phím những chuyện xãy ra trong ngày hay một ý nghĩ vẩn vơ nào. Tính hiệu cho biết đường truyền internet khá cao nhưng tôi không nối mạng, tôi thấy mình cần gõ cho anh vài dòng, kể anh nghe một vài chuyện. Hy vọng khi đọc xong anh vơi bớt phần nào ưu phiền, không còn phẫn nộ và nhìn đâu cũng thấy cảnh chướng tai gai mắt.

Có một dạo tôi sống trong một xóm nhỏ miệt U Minh hạ. Nói là xóm nhưng thật ra chỉ vài ba trăm căn nhà lưa thưa cách nhau một hai công đất, day cửa ra dòng kinh. Khoảng giữa con đường cách nhà này qua nhà kia có một cây mắm hay cây bần gì đó mà lâu quá tôi quên mất rồi, gốc cây bự gần cả ôm, dưới gốc có miễu thờ cục đá cuội tròn bằng cái trứng ngỗng màu đen láng bóng mà người ta gọi là miễu ông Tà. Theo lời kể thì cục đá do một anh mò tôm càng mò được rồi đem để lên gốc cây, sau đó có người đồn ra khắp xóm rằng có điềm lạ. Nghe có điềm lạ bà con chạy tới xem và đem nhang, đèn, bông, trái ra chỗ cục đá bày ra cúng. May sao măm đó cả xóm được trúng lúa mùa. Nhờ trúng mùa lúa bà con trong xóm càng tin tưởng nhờ cục đá linh thiêng phù hộ, họ bèn rủ nhau góp tiền mua gạch ngói về cất lên cái miễu, đặt bàn thờ có lư hương, chưn đèn, riêng cục đá thì được bọc vô miếng vải màu đỏ kính cẩn để lên bàn thờ và đặt tên cho cục đá cuội là ông Tà. Về sau có dịp đi đó đi đây, tôi thấy nơi thờ bình vôi, chỗ thờ lưỡi tầm sét… những biểu tượng như vậy đều có những câu chuyện huyền thoại linh thiêng tương tợ như nhau. Dạo đó tôi cũng tin tưởng ông Tà như tất cả mọi người quê mùa ấy, mỗi khi đi cắm câu ngang miễu tôi tạt vào đốt nhang, đứng ngay ngắn trước bàn thờ ông Tà xá ba xá và cầu xin phù hộ cho câu được nhiều cá thì tôi sẽ cúng ông một nải chuối.

Từ ngày ra nước ngoài, sống chung chạ phần đông với dân có học, nhứt là sống trong đất nước văn minh, tôi nghĩ là người trí thức thì không ai mê tính dị đoan. Nhưng sau một thời gian, tôi mới biết mình lầm, biểu tượng lại xuất hiện khắp nơi, người ta đặt tên biểu tượng là Chánh Nghĩa.  Lúc còn ở U Minh tôi hổng biết tại sao bà con lấy tên ông Tà đặt cho cục đá, bây giờ tôi mới hiểu ra, có  Tà (Tà Nghĩa) tức phải có ông Chánh (Chánh Nghĩa), đúng quá xá rồi còn gì nữa. Dù sao đi nữa dân quê thờ ông Tà cũng không tổn hại tới ai, trái lại còn có lợi về mặt tinh thần nữa. Ở một nơi hẽo lánh quê mùa không có nhà hội, không hàng quán, nhân dịp ngày rằm mùng một bà con tụ tập trước miễu cúng quảy luôn tiện tán dóc, trao đổi chuyện hay, chuyện dở, chuyện mùa màng và nhờ vậy mà con nít với mấy đứa chăng trâu cũng kiếm ké được chút ít bánh, trái, xôi, chè. Ở nước ngoài những người thờ ông Chánh có phương tiện hơn, họ bày tiệc thù tạc, tâng bốc, vinh danh, phong chức cho nhau và phô trương kích thích lòng hận thù.  Họ tưởng rằng có ông Chánh trong tay tức có thần linh phù hộ cho một sức mạnh vạn năng có thể thay trời đổi đất, họ tụ tập lê la ông Chánh đi khắp chỗ đông người, vào nơi hội hợp chìa ông Chánh ra hù dọa. Đến chùa chiền cũng phải dành một chỗ thờ ông Chánh, nếu không thầy chùa khó mà ngồi yên gõ mõ công phu. Có người hiểu biết khuyên họ dừng mê tính nữa tức thì họ bài bác, chửi bới đôi khi dùng thủ đoạn ác độc hại người hoặc thượng cẳng tay, hạ cẳng chưn bề hội đồng người ta đến lỗ đầu máu tuông linh láng. Thiệt tình tôi không mấy hứng thú nói ra ba cái chuyện nặng nề này, nhưng muốn anh hiểu cho tôi vì sao không liên lạc với bạn bè. Hơn nữa đọc mail anh tôi thấy như cả một trời ưu phiền đương phủ xuống cái thân thể ốm yếu của anh, tôi muốn đem chuyện ông Chánh, ông Tà để cho anh thấy mê tính đị đoan nó đã thắm vào máu tim của mọi tầng lớp người Việt ở khắp nơi chớ không riêng dân quê mùa dốt nát trong hóc Bò Tó nào ở miệt U Minh.

Làm cánh chim bạt ngàn đôi khi cũng gặp giông gió bão bùng, hổng khôn khéo lèo lái sẽ bị rơi nhàu đầu xuống chết không kịp ngáp, tôi đã chứng kiến mỗi lần giông bão, chim va vô mui tàu chết hoài. Đứng trên bờ nhìn ra biển khơi rồi mơ ước viễn vu và từ biển khơi trông về một nơi nào đó trong đất liền để mơ mộng chuyện trùm mền với vợ, giống như người đứng núi này trông qua núi nọ thấy núi nọ cao hơn núi này và ngược lại, thì cũng đâu khác nào chuyện mê tính dị đoan. Nếu anh chưa bỏ được đố kỵ, hận thù trong lòng anh, thì cho dù có là cánh chim đại bàn cõng cả trời mây, bay khắp chưn trời góc biển thì chuyện buồn phiền vẫn cứ bám miết theo anh như hình với bóng.

Kiến thức và lao động tạo nên tiếng tăm lừng lẫy và cả một gia tài lớn lao đưa ta lên địa vị cao tột đỉnh cũng chỉ là tạm thời, không gì bền vững. Nói chung bất cứ vật gì ta tạo ra và thu góp được, kể luôn cả vợ và con, khi chết đi chúng ta cũng để lại, không mang theo được một cái nào. Lên voi xuống chó của ngày hôm nay rồi sẽ lùi vào quá khứ. Người bạn đời mà ta thương yêu và sáng tạo ra biết bao ngôn từ đẹp đẽ để gọi, nào là người yêu quí, một nữa của anh hoặc của em… Trau chuốt những lời hoa mỹ và tặng bông hoa màu mè, những cử chỉ âu yếm, hôn hít làm đẹp lòng nhau chẳng qua vì chữ SỢ. Sợ mất nhau rồi không còn chỗ để nương tựa “đời mất em rồi anh sống với ai”. Mua chuộc, này nỉ ỉ ôi thậm chí van xin tình yêu, cuối cùng không cách này thì cách khác tình yêu cũng lần hồi phai mất. Thân thể con người ta, từ kẻ bần cùng cho tới những người quyền cao chức trọng, ai ai cũng bị thời gian bào gọt hao mòn, teo tóp, bệ rạc và lăn lóc như cá đồng mùa hạn bị mắc cạn trên bùn lầy, lây lấc ngoi ngóp hớp không khí sống qua ngày chờ đất khô rồi chết khô theo đất. Thân ai  nấy lo, hồn ai nấy giữ còn hổng xong nói chi nương tựa đỡ đần cho nhau, ai gánh vác ai đây.

Cha mẹ thương con vô bờ vô bến, con thương cha mẹ có giới hạn.  Tục ngữ Việt Nam có câu “cha mẹ thương con biển hồ lai láng, con thương cha mẹ tính tháng tính ngày”. Con bịnh cha mẹ buồn lo mất ăn mất ngủ; cha mẹ bịnh con dòm qua và hỏi han vài câu, đứa nào nghĩ tình tới thăm và nấu cho vài bữa cháo, đưa đi bác sĩ vài lần cũng là hiếu thảo lắm rồi. Bịnh dai dẳng năm này qua tháng nọ chẳng đứa con nào túc trực bên giường đâu. Khi con còn nhỏ xin tiền cha mẹ thì không ngần ngại; con khôn lớn lập nghiệp, dù nó thành công tột đỉnh, giàu sang nhứt bậc, cha mẹ lân la hỏi xin tiền cũng không dễ dàng gì. Trái ngược nhau hết, đây là sự thật và không lấy gì bảo đảm để nương tựa cho đời mình, vậy thì sao ta không coi việc lo liệu cho con cái là bổn phận, là một niềm vui, không lợi dụng lòng hiếu thảo mong báo đáp công đưỡng dục sanh thành, cũng như không bám cẳng gây phiền chúng để tự hành hạ tâm mình.  Suy cho cạn nghĩ cho cùng, có phải chúng ta đương sống trong cảnh trái chiều rồi ôm một đống khổ đau đến nỗi dùng lời lẽ thâm độc chê trách vợ, con và trong lòng sanh ra một chuỗi muộn phiền. Cuối cùng chính ta là thủ phạm gây phiền phức từ trong nhà lan ra xã hội mà ta hổng hay, cứ day ra hận đời, oán người….

Tuy nói là vậy nhưng tôi không có ý đả phá tuyệt đối khuyên anh từ bỏ đời sống trần gian đầy bạo loạn này để tôn thờ một tôn giáo nào đó và dồn hết thì giờ đi nhà thờ, nghiền ngẫm kinh Thánh hay là cạo đầu vô chùa gõ mỏ tụng kinh cho vơi bớt nỗi khổ niềm đau. Chúng ta chỉ cần bỏ ra một ít thời gian và bỏ đi sự đam mê các thú vui thường tình, dùng một phần thời giờ còn lại học hỏi và luyện tập thương yêu, loại hết thói quen ít kỷ và mở lòng vị tha để giữ thăng bằng trong cuộc sống xao động hiện nay.

Những ý tưởng với những mẫu chuyện vặt vãnh này tôi đã tìm tòi góp nhặt được và nghiền ngẫm là nhờ những ngày tháng lênh đênh trên biển và thời gian “ru rú ở nhà chơi với vợ”. Dĩ nhiên đây hổng phải ý của riêng tôi, mà là của những bật cao nhân đã có sẵn trên đời ít ra cũng hơn hai ngàn năm trước. Tới nay tôi thấy những ý tưởng này vẫn còn giá trị, tôi đã lấy làm kim chỉ nam cho cuộc sống đời mình. Nhờ đó mà tôi đã dọn dẹp sạch sẽ rác rến lo âu trong lòng, tẩy hết dơ bẩn muộn phiền trong tâm trí và cũng không còn mê tính dị đoan nữa. Một người không mê, tức là người tỉnh, một người tỉnh táo thì thoải mái, sung sướng biết bao và không dại gì biến mình thành nhà đô vật để “vật lộn từ trong nhà ra ngoài xã hội”.

Chuyến này tàu khởi hành cảng Hamburg, đi ngang kinh đào Kill vào vùng biển Baltic, chuyển và nhận hàng các nước thuộc scandinavian. Mùa Thu vùng này rất đẹp, tuy hơi lành lạnh nhưng trên biển nước vẫn xanh và lờ mờ trong sương vài cánh buồm trắng. Trên bờ cây đã trổ lá vàng và bắt đầu rơi rụng…  Ngày mai tàu ghé Stockholm, thủ đô nước Thụy Điển, mỗi lần tới đây lòng tôi rộn rã, tâm hồn phơi phới. Tôi rất thích thành phố sạch sẽ, nhứt là con người ta sống rất hiền hoà và rất là nhân bản. Nhìn đất nước con người nơi đây tôi ngậm ngùi nhớ và thương cho dân Việt mình quá. Biết đến bao giờ người Việt mới có cuộc sống an bình, trong một xã hội văn minh với những con người hiền lành và chứa chan tình cảm, để những người anh, em nhìn nhau với tấm lòng đầy thương yêu không nhỏ nhen, không đố kỵ và không hận thù./.

Baltic 20-9-2012

Nguyễn Lê Hồng Hưng

Quê nhà – Quê người

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Trong khi dân chúng ở các nước chậm phát triển, kinh tế èo uột, thực phẩm không đủ dùng, giáo dục không lo nổi, nghèo đói, chính phủ phải ra lệnh hạn chế sinh đẻ để tránh chuyện dân cư bùng phát, thì ở

các nước giàu, văn minh người ta khuyến khích người dân phải sinh đẻ nhiều thêm. Nam Hàn là quốc gia ngày nay với sinh số thấp nhất thế giới, thấp hơn cả ước láng giềng Nhật Bản, đang cố tìm đủ mọi cách để tăng sinh suất. Bởi nếu không, xã hội này sẽ ngày càng già nua, lực lượng lao động giảm, trong khi ngân sách y tế và trợ giúp cho người già tăng. Sở dĩ có tình trạng sợ đẻ này là các bậc bố mẹ ở Nam Hàn hiện thiếu trợ giúp cho việc nuôi dưỡng trẻ em trong khi

chi phí giáo dục quá cao khiến cho những thanh thiếu nữ đến tuổi không dám nghĩ đến chuyện lập gia đình. Mặt khác trong xã hội Nam Hàn còn thiên kiến về phụ nữ khó vừa đi làm ở ngoài xã hội vừa nuôi con trong gia đình.  Biện pháp khuyến khích sinh nở của Nam Hàn là thưởng quà cho những phụ nữ có trên một con, trong khi ở Úc, quý bà từ ngày có thai cho đến lúc sinh nở, được chính phủ lo hết mọi việc Khi sinh nở có bác sĩ, bệnh viện, thuốc men miễn phí lại có khoản $7,000 tiền tươi của chính phủ gởi tận nhà, mà không trừ lại một xu nào. Tuy vậy coi bộ tại các nước tiên tiến này, cũng ít người muốn đẻ vì nuôi con khó khăn, cực nhọc. Chẳng bù lại, như ở Mễ hay Việt Nam ta ngày xưa, thằng lớn bồng thằng bé, sau thằng Út có thằng Thêm, con Bòn, thằng Mót. Một du khách đi ngang một khu vực nghèo nàn ở

gần bên đường xe lửa. Ông ngạc nhiên thấy ở đây rất đông trẻ con, gia đình nào cũng năm bảy đứa, hầu như đẻ năm một. Lân la hỏi thăm một cụ già ở đây về hiện tượng này, ông già cho biết ở đây, khoảng 5 giờ sáng có một chuyến xe lửa đi qua, kéo còi khiến cư dân trong vùng lân cận phải giật mình thức giấc, không ngủ lại được. Giờ này, dậy đi làm thì quá sớm, mà ngủ lại thì quá trễ. Mùa World Cup cũng là lý do việc sinh đẻ khó hạn chế. Ở Việt Nam, những trận túc cầu thường khai diễn vào lúc 1 giờ khuya, làm gì cho hết thời gian để chờ trận đấu. Đội mình thích, thắng thì hân hoan, phấn khởi ăn mừng. Đội quen thua thì buồn bã thất vọng, cần an ủi để bớt căng thẳng. Ở Cà Mau, muỗi như trấu, chập choạng tối là dân phải vô mùng, vậy có phải là lý do sinh con đông không? Tôi có hỏi chuyện một gia đình người Huế có đến mười ba đứa con và ngạc nhiên khi thấy sao họ quá đông con như vậy. Cô gái lớn trả lời cho tôi biết, ông thân sinh cô ngày xưa làm việc ở Đà Nẵng không thể mang gia đình theo, nhưng cứ vài ba tháng ông lại về thăm nhà một lần. Chuyện tương tự, những người lính thường đi hành quân xa nhà nhưng lại lắm con, vì những lúc đi phép về nhà, ông tiêu hết số tiền dành dụm lâu nay, như đơn vị pháo binh của ông dư một số đạn có thể bắn “cấp tập” (Time-On-Target). Trường hợp khác, mới nghe qua như nghịch lý, khi một bà thú nhận rằng sở dĩ nhiều con là hai ông bà hay giận nhau, sau mỗi lần giận nhau, làm lành, lại có thêm con. Ở Nam Hàn Bộ Y Tế yêu cầu các công sở đóng cửa tắt đèn sớm hơn thường lệ và khuyến khích công nhân viên trở về nhà lo việc sản xuất trẻ. Tắt đèn có lẽ là một phương cách hữu hiệu nhất để gia tăng dân số. Hồi ở Saigon, ngay cả sau những năm 80, thành phố vẫn thường bị cúp điện dài dài nên bệnh viện Từ Dũ làm việc mệt nghỉ, do vậy nhiều vị đi tù “cải tạo” về cũng đã có cơ hội sinh ra một hai thằng “cháu bác Hồ” trong khi chờ đợi lên đường theo danh sách H.O. đi Mỹ. Ở các nước dân chủ, tiên tiến, nếu việc cúp điện xẩy ra thường xuyên, chắc chắn nội các phải đổ hay ít nhất Bộ Trưởng Bộ Điện Lực cũng phải về vườn, nếu không người ta đã cắt điện để cứu dân sinh. Vì nếu

muốn gia tăng dân số, thiết nghĩ không có biện phápnào hay hơn cúp điện. Thử tưởng tượng không có điện, nhà phải thắp đèn cầy như trong các nhà hàng sang trọng, lãng mạn tình tứ biết bao mà kể. Không có điện thì không có computer để quý ông vào “chat” hay đọc báo, không có điện thì làm gì có máy truyền hình để quý bà luyện phim bộ hay xem ca nhạc, vậy tốt hơn là hãy vào giường …

Ở các nước giàu có tiên tiến, người dân có bao nhiêu thứ để giải trí, từ báo chí, điện ảnh, thể thao, kịch nghệ, ở nhà không ngồi trước máy truyền hình thì nghe đài phát thanh, khi đi ra ngoài ăn uống, xem thể thao, văn nghệ, tiệc tùng với bạn bè hay đi du lịch ra khỏi thành phố. Nước nghèo, chậm tiến, nhất là ở những vùng nông thôn thiếu tiện nghi, lại dư thời giờ, lấy gì để vui chơi cho qua ngày tháng?

Mỗi năm trên thế giới có thêm khoảng 74 triệu đứa trẻ sinh ra. Hầu như tất cả số tăng đều diễn ra tại các vùng kém phát triển, con số 5.3 tỷ người hiện đang sống tại các nước kém phát triển sẽ tăng thành 7.8 tỷ năm 2050. Trái lại, dân số tại những vùng phát triển hơn hầu như sẽ không thay đổi, ở mức 1.2 tỷ. Trong giai đoạn 2005-2050, chín quốc gia dự đoán sẽ chiếm một nửa số tăng dân số thế giới là các nước còn nghèo đói, chậm tiến như: Ân Độ, Pakistan, Nigeria, Cộng hoà Dân chủ Congo, Bangladesh, Uganda, Ethiopia, và Trung Quốc, nhưng không hiểu sao Mỹ lại lọt vào danh sách các nước này, có lẽ vì số di dân càng ngày càng đông trên đất Mỹ. Trong vòng 5 năm, từ cuộc kiểm tra dân số năm 2005 cho đến sự ước tính vào năm 2010, dân số Mexico sẽ tăng 9 triệu/111 triệu dân (khoảng 10%) và Mỹ cũng không kém với 27 triệu/281 triệu dân (cũng khoảng 10%). Trong khi đó, các quốc gia này gồm, Áo, Canada, Croatia, Đan Mạch, Đức, Italia, Bồ Đào Nha, Qatar, Singapore, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Anh Quốc và các  tiểu Vương quốc Á Rập thống nhất muốn có số dân nhập cư đông để tránh tình trạng thiếu dân số và lực lượng lao động vì tỷ lệ sinh hiện đang giảm ở mức độ thấp.

Như vậy chúng ta có thể kết luận, các quốc gia càng nghèo đói, càng thất nghiệp, càng thiếu phương tiện giải trí, càng bị cúp điện thì sinh sản càng nhiều. Đặc biệt ở Mỹ không cần cúp điện, nhưng bao lâu nay vì nhu cầu người lao động, làm việc chân tay không có đủ, biên giới Mỹ-Mễ nửa mở, nửa khép để có đủ người từ các nước ở phía Nam vào làm việc hốt rác, sửa nhà, cưa cây, làm bếp … và sinh nở cho đủ người.

Ngậm ngùi tháng Tư

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Jun 2026

Tôi ở trong quân đội 11 năm, trong đời lính, điều tôi sợ nhất là phải ở trong trại gia binh, và cũng may mắn là chưa bao giờ phải lâm vào cảnh ấy. Vì nhu cầu ăn ở, mà đơn vị thì nghèo phương tiện, trại gia bình thường được xây dựng sơ sài, mỗi căn nhà dành cho mỗi gia đinh thường chỉ ngăn cách bởi những tấm gỗ, có khi được tháo ra từ những thùng gỗ pháo binh, chấp nối, hay thùng cho vật liệu quân đội, có khi chỉ là những tấm carton sơ sài, được dán che lên bằng những tấm hình của những đào kép cải lương sặc sỡ, cắt ra từ mớ tạp chí bán ve chai ngoài phố. Như vậy dù không chung nhà, cũng bị cái cảnh “chung vách!” Trong hoàn cảnh như thế, ở gần nhau, không còn điều gì để riêng tư, giấu giếm, từ tiếng nồi cơm đang sôi hay mùi cá kho trên bếp lừa, lớn nhự tiếng trẻ con khóc, tỉ tê như tiếng thì thầm bên gối hay tiếng vợ chồng cãi cọ, đánh đấm nhau, thì sáng ra cả … làng đều hay. Hồi ở Ban Mê Thuộc, có hai ông đại uý, ở trong một trại gia binh chung vách, gần nhau sát sạt, đi ra đằng trước cũng thấy nhau, vòng lại dằng sau cũng gặp mặt, nên lửa gần xăng lâu ngày cũng chảy, cuối cùng một ông lãnh đạn của ộng kia vì tội ngoại tình với bà vợ hàng xóm.

Quý bà thì hay nhìn chuyện nội bộ, đi chợ về làm sao tránh được căp mắt của bà hàng xóm ân cần nhìn vào cái gì đi chợ của mình, Hôm nay nhà chỉ có món rau muống, cá kho tầm thường hay mua được con gà, miếng thịt heo sang trọng, cũng có người hay biết. Nhưng chuyện ăn uống là nhỏ, chuyện xảy ra trong mỗi gia đình mới là việc lớn. Trong một không gian nhỏ hẹp, hàng ngày trông thấy nhau, tìm cầu chuyện làm quà không gì hơn là kể chuyện thiên hạ. Người “ngồi lệ đôi mách” thường phấn khởi và say sưa khi nói chuyện về người khác. Chúng ta hẳn đã bực mình khi có người ngoài tọc mạch, nhòm ngó chuyện nhà riêng tư của mình để đem ra trình báo với thiên hạ, nhưng ví thử chúng ta phải chịu đựng một kẻ ngồi ngay trong nhà mình, nghe hết chuyện vui buồn, no đói, xấu tốt suốt năm của vợ chồng, con cái nhà mình rồi cuối năm đem đi “trình bẩm” với cấp “thẩm quyền” rành rọt, ngọn ngành không sót một chi tiết, lại ghi trên giấy trắng mực đen, thử nghĩ bạn có “đien tiết” lên không. Vậy mà tỏi thấy không! Không những không cảm thấy thương tổn, bị xúc phạm, bực mình mà bạn còn ve vuốt, hối lộ, cung kính, khúm núm với những nhân vật như thế. Đó là văn hóa “Táo Quân” mà chỉ mới mấy hôm trước đây, nhiều gia đình đã nhang đèn, khấn vái suýt soa, lại hối lộ phương tiện, áo quần, tiền bạc đút lót cho những “Ông Táo.” tức là những người chỉ có một nghề chuyên môn và duy nhất, hành sự mỗi năm là về Trời, tức là về Thiên Đình báo cáo hết chuyện nhà mình. Nghèo thì cũng có vàng mã, “thèo lệo, cứt chuột” đưa tiễn, giàu thì mâm cao cỗ đầy, áo mũ cân đai để đưa các ông. một loại hối lộ công khai và một loại văn hóa ca tụng những “mật báo viên!”. Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt số phận cho gia đình. nên cung kính thờ phụng, mong ngày 23 tháng Chạp hằng năm, Táo Quân sẽ lên thiên đình dể báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng Dế (hay ông Trời), nên các nơi gọi ngày này là Tết ông Công. Tầu cũng có Thần Bếp nhưng không có chuyện rắc rối “hai ông, một bà,” như chuyện “Ông Táo” trong cổ tích Việt Nam. Ba nhân vật có mối tình thâm nghĩa nặng là nàng Thị Nhi và hai chàng Trọng Cao, Phạm Lang; “nàng bỏ chàng, sau đó kết duyên với một người đàn ông khác, rồi định mệnh xộ đẩy ba người cùng chết chung trong một đống lữa, được Ngọc Hoàng cho họ ở cùng một chỗ và làm Táo quân, quấn quýt bên bếp hồng,” Câu chuyện “tình chảm nghĩu nặng” này hình như chẳng liên quan gì với nhiệm vụ báo cáo chuyện nhà người ta lên Thiên Đình, mà trøng chế độ Cộng Sản được hiểu là, gần thì đồn Công an, Phường Khóm, cao hơn là Công An hay Bộ Chính Trị. Chuyện này làm chúng ta nhớ lại, dưới chế độ của XHCN miền Bắc, Cộng Sản đã đào tạo những mật báo viên “Khăn Quàng Đỏ,” “Thiếu Niên Tiền Phong” thay thế cho tai mắt công an để kiểm soát hành động của từng gia đình, ngăn ngừa phản động, chống phá chính quyền. Chế độ này sinh ra cảnh con cái tố mẹ cha, vợ tố chồng và thanh thiếu niên dưới chế dộ Cộng Sản dã được dạy làm thế ngay từ khi bé, như nhân vật Shin trong cuốn sách “Escape From Camp 14″ từ Bắc Hàn đã tố cáo với công an trại tù, sau khi nghe trộm mẹ và anh trai của mình bàn nhau kế hoạch trốn trại. Kết qjuả Shin chứng kiến mẹ và anh của mình bị xử tử công khai và trong đầu óc thằng bé lúc đó, nghĩ là họ có tội. Ở trọng các nhà tù, phải nói rõ là trong nhà tù Cộng Sản, bọn cai tù thường dùng “mật báo viên,” nôm na gọi là những tên “ăng-ten” để canh dò, báo cáo hành động và lời nói của các tù nhân. Trại tủ, công ty, cơ quan nhà nước tuy không thờ Táo Quân, nhưng luôn luôn có bọn luồn lọt, tang công để báo cáo xấu về anh em, đồng nghiệp của mình hầu kiểm chút ân huệ cho cá nhân mình. Sau tháng 4-1975 tại miền Nam, thì bọn “công an khu vực” công khai “tự nhiên” vào thẳng từng nhà, soi mói, kiểm soát mọi việc với cái nhìn của cú, con mắt của cú đối với con người là nỗi sợ hãi kinh hoàng, để báo cáo mọi việc lên cấp trên, trấn áp nhân dân để bảo vệ cường quyền. Nhiều gia dình phải hối lộ, cho tiền mỗi khi chúng “tự nhiên như người Hà Nội,” công khai vào nhà xin tiền để “về Bắc thăm nhà.” sửa xe hay đi công tác, không khác gì người Việt quan niệm Táo Quân sẽ lên trời và báo cáo với Ngọc Hoàng Thượng Đế những su kiện xảy ra trong năm vừa qua ở trong nhà mình, nên tiển đưa ông Táo rất thịnh soạn, với mong muốn là Táo sẽ báo cáo những diều tốt đẹp, mà bỏ  qua hoặc lơ đi những điều không tốt cho gia dình mình, một loại văn hóa hối lộ được phổ biến.

Một năm, vào ngày 23 Tháng Chạp, không biết nguồn gốc này phát xuất từ văn hóa Giao Chí, Tàu hay Ấn Độ, chúng ta phải cúng kiếng, tiển đưa quí “đồng chí” nằm vùng, ngự trị ngay trong ruột gan mình, tức là cái bếp nhà, đề di báo cáo chuyện gia đình mình với cấp chi huy hay lãnh dạo tuốt trên mấy tầng trời, tôi không khởi không nhớ dến chế độ “công an trị” đã đè nặng trên dân tộc mình suốt mấy mươi năm nay.

Báo chí Việt Nam, mỗi năm vào những ngày giáp Tết đều có đăng những bài Sớ Táo Quân kể lể chuyện trần thế, trên màn ảnh truyền hình, sân khấu thì dựng hài kịch Ông Táo về Trời làm “rapport” (hay report) chuyện nước non. nhưng thực sự văn hóa Táo Quản dịch sát là chuyện Vua Táo nắm vùng trong xó bếp, chuyên rình mò chuyện nhà (gia chú để nuôi nấng, thờ phụng Táo ăn ở suốt năm) lên Thiên Đình báo cảo mọi việc. Loại văn hóa này không đáng cho chúng ta ca ngợi, phổ biến như chúng ta đã có thói quen làm, có lẽ từ cả nghìn năm nay!

Ngày Quân Lực 19/6

Nhã Lan phỏng vấn Phan Nhật Nam

Dẫn Nhập:

Kính thưa Quý Thính Giả, vị thế cao quý của Nước Mỹ hôm nay là kết quả của một quá trình tranh đấu, chiến đấu của nhiều Dân Tộc thuộc Liên Bang Mỹ với nhân tố quyết định là do Tập Thể Quân Lực Hoa Kỳ. Cũng thế, Quốc Gia VNCH đã có một Mùa Hè Lẫm Liệt 1972 với những Người Lính hiến thân nơi Cổ Thành Quảng Trị; Xa Cam, An Lộc, Bình Long; Đồi Charlie, Tân Cảnh, Kontum… Tuy nhiên, hôm nay, 51 năm sau 1975, hầu như số đông người Người Việt không còn mấy ai nhớ đến Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965.  Mời ông PNN, một Người Lính trình bày về Ngày Trọng Đại từ đâu, như thế nào đã xẩy ra một lần nơi Miền Nam với tập thể Quân Lực VNCH. Chào ông Pnn.

#1- NL: Người Lính Miền Nam đã hằng thực hiện một nhiệm vụ cao quý từ Ngày Trọng Đại 19 Tháng 6, 1965. Để quý KTG hình dung đủ và đúng tình hình chính trị, quân sự của Miền Nam trước lần  hình thành nên Ngày Quân Lực, 19/6/1965 – Mời ông trình bày về tình hình tổng quát chính trị-quân sự nơi Miền Nam trước.  

#1-PNN: Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 1965 là thời điểm Người Lính VNCH chính thức nhận nhiệm vụ Bảo Quốc –An Dân cho đến kết thúc uất hận, 30 Tháng 4,1975. Trước tiên, cần nhắc lại một biến cố chính trị quan trọng đã xẩy ra trong Mùa Hè, Tháng Sáu, 1965 nơi Miền Nam.

Gần hai năm sau lần lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tập đoàn tướng lãnh miền Nam đã chỉ lo tranh giành, củng cố quyền lực, không lưu tâm đến nhiệm vụ bảo vệ dân, giữ nước. Nắm lấy cơ hội, giới cs miền Bắc đã huy động các sư đoàn chính quy vào Nam nhằm thôn tính trọn miền Nam trong thời điểm 1964, 1965. Từ tình hình nguy nan nầy, chính phủ Mỹ, Tổng Thống Hoa Kỳ L. Johnson (có nhiều lý do chính trị-ngoại giao chiến lược toàn cầu khác) đã quyết định đưa các đơn vị tác chiến bộ Mỹ vào Nam VN, trước tiên tại Đà Nẵng, 3/1965.

#2- NL: Nam VN là chiến trường khắc nghiệt nhất mà quân đội Mỹ đã gặp phải trong suốt lịch sử tuy mới mẻ nhưng đầy kỳ tích đáng hãnh diện của họ. Nhưng phía cộng sản bao gồm CS Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phòng Miền Nam là những yếu tố chính trong chiến cuộc mà QLVNCH phải trực tiếp đương cự từ 20/12/1960, ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng MN đến 30/4/1975 kết thúc chiến dịch HCM. Mời ông nói về tình hình diễn tiến quân sự của phía cộng sản đưa tới thời điểm 1965. Một thời điểm cụ thể đã bùng nổ chiến cuộc cao nhất nơi Miền Nam?

#2- PNN: Nói câu #2. Không phải: 1/Quan niệm điểm thông tục của phía Mỹ/VN War của Lyne Novick, Ken Burns (chỉ từ 3/1965); 2/Phía CSVN: Lần thành lập MTGPMN (20/12/1960. Nhưng thực tế lich sử cho thấy là từ Hội Nghị Liễu Châu (3-5/5/1954) trước lần ký kết chia đôi chia đôi đất nước, 20/7/1964. Cụ thể hơn là nguyên nhân, diễn tiến, hậu quả của Trận Ấp Bắc, 3/1/1963. Bình Giả 12/1964. Đồng Xoài 6/1965 – Đồng Xoài, Bình Dương gây thiệt hại nặng cho phía cộng hòa. Đồng Xoài chỉ cách Sàigòn khoảng 100 cây số đường chim bay.

#3-NL: Trở lại chủ điểm chính của buổi nói chuyện hôm nay là Ngày Quân Lực 19/6/1965. Mời ông trình bày những nét chính về nguyên nhân, diễn tiến đưa đến lần thành hình Ngày Quân Lực 19/6/75. Tại sao? Như thế nào? Với những ai?

#3-PNN: Nói câu #3: 31: Phần chính trị: Sau lần Trung Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo cuộc đảo chánh, sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu (1/11/1963); ngày 30/1/1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh lãnh đạo cuộc chỉnh lý (mà thật ra là đảo chánh) lật đổ Trung Tướng Dương Văn Minh, bắt giam 5 vị Tướng thân cận của Trung Tướng Minh. Ngày 1/11/1964, Trung Tướng Khánh giữ chức vụ quốc trưởng tấn phong Trần Văn Hương chức thủ tướng; kỹ sư Phan Khắc Sửu chức Chủ Tịch Thượng Hội Đồng Quốc Gia. Ngày 16/2/1965, Trung Tướng Khánh lại tấn phong Bác Sĩ Phan Huy Quát thay thế Thủ Tướng Hương. Ngày 19/2/1965, Thiếu Tướng Lâm Văn Phát lãnh đạo cuộc binh biến, đảo chánh Trung Tướng Khánh; tuy thất bại, Thiếu Tướng Phát phải rút quân, nhưng Trung Tướng Khánh đã bị buộc phải lưu vong, rời Việt Nam ngày 25/2/1965.

Bác sĩ Phan Huy Quát nhận chức thủ tướng Ngày 16 Tháng 2, 1965, tuy nhiên chẳng mấy khi đồng thuận với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu về chính sách lãnh đạo quốc gia. Cuối cùng, vào trung tuần Tháng 6, 1965 Thủ Tướng Quát gởi đến Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Trưởng Quốc Phòng, một văn thư trình bày sự bất đồng quan điểm giữa ông với Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu. Lá thư cho biết là cả hai đồng từ chức. Thủ Tướng Quát yêu cầu Hội Đồng Tướng Lãnh nhân danh quân đội nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn cực kỳ khó khăn.

Do văn thư của Thủ Tướng Quát, Hội Đồng Quân Đội họp liên tục trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, để có kết quả là quyết định thành lập một tổ chức với danh xưng “Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia” theo nguyên tắc “Ủy Ban quyết định, những thành viên thi hành”. Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia chọn Ngày 19 Tháng 6. 1965 ra mắt tân chánh phủ, với danh xưng là Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. 19 Tháng 6 được chọn làm “Ngày Quân Lực”.

#32:Phần quân sự: Nhắc lại hậu quả của Trận Ấp Bắc, 3/1/1963. Bình Giả 12/1964. Đồng Xoài 6/1965 – Đồng Xoài, Bình Dương gây thiệt hại nặng cho phía cộng hòa. Đồng Xoài chỉ cách Sàigòn khoảng 100 cây số đường chim bay.

#4- NL: Tập thể Quân Lực Cộng Hòa đã chịu chung lần tuẩn nạn với Dân Tộc tại thời điểm 30 Tháng 4, 1975. Ông có thể trình bày, tại sao sau Mậu Thân 1968, Mùa Hè 1972, kiêu hùng chống giặc, giữ nước kia, Quân Lực Miền Nam lại phải chịu tình thế bó tay thất trận cùng đành?

#4- PNN: Nói câu #4: Sau chiến thắng Mùa Hè 1972, Miền Nam phải chịu tình thế bó tay cực độ nhẫn tâm do nhu cầu chính trị của giới cầm quyền nước bạn đồng minh, khi Người Lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam (Tháng 3/1973) và khoảng trống quân sự để lại… Điển hình với tình trạng khả năng không quân (được xem là ưu thế của VNCH) gần như bị tê liệt; pháo binh chỉ được xử dụng từng quả đạn mỗi ngày hành quân; chiến xa không đủ xăng; quân binh các đơn vị tác chiến thiếu quân trang, thiết bị tối cần thiết… Miền Nam không có, không còn vũ khí để tự vệ, phải chấp nhận một nền Hòa Bình vô cùng quái dị – Hòa Bình do Hiệp Định Paris 27/1/1973 cố công tô vẽ mà trong đó “hai trong bốn bên (Mỹ và Bắc Việt) là nhân tố ký kết chính yếu, và phải chịu trách nhiệm thi hành đã hoàn toàn rũ tay, quay  mặt”– Ngày 30 Tháng Tư 1975 không hề là một bất ngờ!!

#5- NL: Khi Người Lính Cộng Hòa buộc buông vũ khí, không chỉ cư dân Miền Nam, mà những người Miền Bắc dù dưới tác động xã hội, giáo dục riêng biệt của chế độ CS cũng nhận ra điều cay đắng, “Người Lính Thật Sự của Dân Tộc VN không còn nữa”. Khi Người Lính Miền Nam xuất hiện dưới hình thái não nề của “kẻ tù nhân thất trận” nơi Miền Bắc sau 1975 thì cũng là lần chứng tỏ – Nguồn Hy Vọng đến từ Miền Nam không còn khả năng hiện thực. Mời ông khách quan nói về Thực Tế đất nước hôm nay, 51 năm sau lần QLVNCH buông súng – Ngày Quân Lực 19/6/ chỉ là một hoài niệm không mấy ai nhớ ra.

PNN: Nói câu #5. Khi không còn Người Lính Bảo Quốc An Dân thì có xác chứng: Sau 1975, Quốc Sĩ bị coi khinh. An Ninh-Quốc Phòng nguy khốn. Kinh Tế-Xã Hội thoái hóa. Đạo Đức-Gia Đình băng hoại. Giáo Dục suy đồi. Người Lính Miền Nam đã nhận lãnh trách nhiệm trọng đại mà Quốc Dân đã ký thác, và trả giá lần không hoàn tất trọn vẹn cho đến ngày toàn thắng bằng sinh mạng của bản thân. Năm 1975, Người Lính Miền Nam do bị tước bỏ vũ khí, buộc phải chấp nhận thua cuộc chiến đấu, chứ không hề đào ngũ, trốn chạy để cùng lần Thật Chết Với Quê Hương. Lịch sử sẽ phải được viết lại một cách trung trực và khách quan. Nhưng bổn phận và khả năng của Thế Hệ Thứ Nhất của CĐ Người Việt Hải Ngoại hôm nay không phải là nhân tố quyết định – Phần Quyết Định thuộc về thế hệ Thứ Hai, Thứ Ba mà trong nước giữ phần quyết định quan trọng.

Nhã Lan cám ơn Pnn và Quý KTG theo dõi câu chuyện.

Chuyện giả tưởng, ngụ ngôn mới.

Thơ Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 2 Jun 2026

Thơ Phan Nhật Nam

Lời Người Viết: Trong hỗn loạn của thời đại đang sống, người viết theo cách của de Lafontaine (1621-1695) viết Thơ Ngụ Ngôn, Chuyện Giả Tưởng để khỏi đụng chạm, liên lụy đến ai?! Người Đọc hôm nay hay mai hậu “nghĩ, suy” ra thế nào là tùy nghi.

#1.

Sau đời dài sinh/diệt

Đất/Trời/Người đóng băng

Thăm thẳm tận vũ trụ

Giọt hồng máu Trái Tim

#2.

Địa ngục bày thi tuyển

Bầu thủ lĩnh hàng đầu

Lê Nin, Mao, Polpot

Đồng chạy mặt “Bác” tôi

#3.

Bầy ma đi lang thang

Lạc hồn gào kêu khản

Hở đâu là đất Mỹ

Thời giàu thịnh văn minh?!

#4.

Muốn mau chóng giàu sang

Chấp hành nghị quyết đảng

Ngành công an tranh thủ

Nghề đầy tớ nhân dân

#5.

Sĩ-Nông-Công-Thương dẹp!

Xuống tay dọn quét sạch

Lịch sử khởi từ “đảng”

Xã hội chính là “ta!”

 #6.

Cảnh đời ngẫm đùa chơi

Hóa ra nên “Sự Thật” (1)

Gã giết người gào khấp

Ta đây, “Giải Hòa Bình”? (2)

(1) Sự Thật: NXB- Cơ Quan ngôn luận trung ương của Đảng CS Liên Sô và VN

(2) Lê Đức Thọ (1911-1990), Bí Thư Chiến Dịch HCM đánh chiếm Sàigòn (4/1975). Nobel Hòa Bình 1973.

#7.

Viết “Thơ” như ngạt thở

Chữ nghĩa rung ngật ngật

Ngẫm thương thay cảnh già

Lời rối chẳng muốn đọc?!

#8.

Hôm nay trên đất Mỹ

Phất phới Cờ Hoa bay

Quê xa sâu dưới đất

Mùn xương ai lạnh đau   

Phan Phi Danh

Dịp Lễ Memorial của Mỹ,

25/5/2026.

Khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston – Tháng 6 – 2026

Post by Sơn râu 2 Jun 2026

Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thế hệ trẻ đều mang một khát vọng riêng. Có thế hệ lớn lên giữa chiến tranh và mang khát vọng độc lập dân tộc. Có thế hệ bước ra từ nghèo đói và mang khát vọng cơm no áo ấm. Có thế hệ trưởng thành trong thời kỳ Đổi Mới và mang khát vọng về phát triển kinh tế, về thu nhập cá nhân, gia đình v.v… 

Còn tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, đặc biệt là thế hệ Gen Z, đang dần mang một khát vọng khác, khát vọng được sống tự do như một con người có phẩm giá, có tiếng nói và có quyền quyết định tương lai của mình. Khát vọng ấy không phải lúc nào cũng được nói thành khẩu hiệu chính trị. Nó hiện diện âm thầm trong cách người trẻ suy nghĩ, học tập, làm việc và nhìn về tương lai của đất nước.

Đây có lẽ là một thay đổi lớn nhất của xã hội Việt Nam hiện nay. Hai chữ “Tự do” ở Việt Nam hôm nay là một khái niệm vừa hiện hữu, vừa giới hạn, vừa được nhắc đến rất nhiều trong diễn ngôn chính thức của nhà cầm quyền, nhưng cũng là điều khiến nhiều người dân, đặc biệt là giới trẻ, vẫn tiếp tục suy nghĩ, tranh luận và tìm kiếm.

Nhiều người trẻ không còn hiểu tự do theo kiểu ý thức hệ của thế hệ cha ông nữa. Họ nhìn tự do qua đời sống thực tế như được chọn nghề mình thích, được yêu người mình muốn, được nói điều mình nghĩ, được sống đúng cá tính, được đi ra thế giới, được tiếp cận thông tin đa chiều, được ít bị áp đặt. Khác với thế hệ trước, giới trẻ ngày nay lớn lên cùng Internet, xem YouTube, TikTok, Netflix, tiếp xúc với văn hóa toàn cầu, thấy cách sống ở Nhật, Hàn, Mỹ, châu Âu. Từ đó, tự tìm một con đường riêng cho chính mình!

Nhiều người trẻ hôm nay không dùng ngôn ngữ chính trị cũ. Họ ít nói:“đấu tranh cách mạng”, “ý thức hệ”, “ba dòng thác cách mạng”, hay “chủ nghĩa xã hội”. Nhưng họ lại sống theo tinh thần tự do nhiều hơn thế hệ trước, muốn tự quyết đời mình, không thích bị áp đặt, muốn bình đẳng giới, muốn được tôn trọng khác biệt, muốn tiếp cận thế giới, muốn được nói thật trên mạng xã hội. Một điều rất quan trọng là mạng lưới toàn cầu đã làm người trẻ Việt Nam thấy rằng có nhiều cách sống khác nhau. Họ nhìn thấy: xã hội mở ở Bắc Âu, kỷ luật ở Nhật, sáng tạo ở Mỹ, dân chủ ở Đài Loan, phát triển công nghệ nhảy vọt vượt bực ở Hàn Quốc. Điều đó khiến khái niệm tự do trở nên gần gũi và thực tế hơn.

Tuy nhiên, phần lớn với tỷ lệ rất cao, giới trẻ hiện nay không muốn đối đầu trực diện với hệ thống. Từ đó, khái niệm “tự do” của họ mang tính cá nhân và đời sống nhiều hơn là cách mạng chính trị. Vì sao? Vì họ nghĩ và họ thấy việc dấn thân chính trị có nhiều rủi ro, thấy tiếng nói cá nhân khó thay đổi hệ thống, và nhứt là, ưu tiên của họ nhắm vào việc xây dựng đời sống riêng. Một số chọn đi ra nước ngoài học tập, làm việc cho một công ty quốc tế, sống “tự do bên trong” thay vì đối đầu công khai.

1-    Tuổi trẻ thay đổi nhanh hơn hệ thống quản lý đất nước

Tuổi trẻ hôm nay muốn được nói thẳng, được phản biện, được chọn lối sống riêng, được làm việc trong môi trường minh bạch, được đánh giá bằng năng lực hơn là quan hệ “có biết tao là ai không?”. Khoảng cách bắt đầu xuất hiện khi xã hội thay đổi nhanh hơn tốc độ thích nghi của hệ thống chính trị. Điều này tạo ra cảm giác ngột ngạt, bất lực, hoặc “không gian quá chật” ở một bộ phận giới trẻ mỗi khi cần giao tiếp với “chính quyền”.

Hai chữ “tự do” hôm nay có ý nghĩa rất lớn đối với tuổi trẻ.Và có lẽ ý nghĩa của nó đang thay đổi sâu sắc. Ngày trước, “tự do” thường gắn với chiến tranh ý thức hệ, việc chống cộng hay chống tư bản. Ngày nay, với nhiều người Việt, tự do trở thành quyền làm người bình thường, quyền sống không sợ hãi, quyền được tôn trọng phẩm giá, quyền nói thật mà không bị trừng phạt, quyền lựa chọn tương lai cho chính mình.

2-    Con đường nào cho khát vọng tự do của tuổi trẻ

Lịch sử cho thấy tự do bền vững không thể chỉ được xây dựng bằng phẫn nộ hay phá hủy. Một xã hội tự do cần phải có người dân có dân trí cao, pháp quyền mạnh, tinh thần đối thoại, và văn hóa tôn trọng sự khác biệt. Do đó, điều tuổi trẻ Việt Nam cần có lẽ không chỉ là phản kháng, mà còn là học hỏi, nâng cao năng lực, rèn luyện suy nghĩ phản biện, giữ sự trung thực, bảo vệ sự thật, và xây dựng một xã hội tử tế hơn từ trong chính đời sống hằng ngày.

Nhìn vào Việt Nam hiện tại, câu hỏi của tuổi trẻ hôm nay sẽ là:” Việt Nam tự do có phải là điều không tưởng không?” Không hẳn. Nhưng vấn đề nằm ở chữ:“ Tự do theo cách nào?” Nếu tự do đồng nghĩa với hỗn loạn, trả thù, sụp đổ toàn bộ hệ thống, hay cực đoan ý thức hệ, thì tuổi trẻ sẽ sợ và sẽ tự “cách ly” với xã hội. Nhưng nếu tự do được hiểu là pháp luật công bằng hơn, người dân được tôn trọng hơn, chính quyền minh bạch hơn, báo chí trung thực hơn, quyền con người được mở rộng hơn, dân có tiếng nói hơn, thì rất nhiều người Việt và tuổi trẻ, kể cả một số đông trong bộ máy cầm quyền hiện tại, có lẽ cũng mong điều đó.

Vì vậy, “tự do” trong tâm trí tuổi trẻ hôm nay không còn chỉ là khẩu hiệu chính trị nữa. Nó đang trở thành một nhu cầu được sống thật, được tôn trọng, được nói mà không sợ, được làm người công dân chứ không chỉ là thần dân hay ngu dân! Và có lẽ điều quan trọng nhất là, khát vọng tự do ở Việt Nam hiện nay không chết. Nó đang chuyển từ tiếng hô khẩu hiệu từ bên ngoài đường phố sang những suy nghĩ âm thầm trong lòng xã hội. Và bao giờ khát vọng tự do đó trở thành hiện thực? Không ai có thể biết chính xác “bao giờ”, nhưng lịch sử cho thấy một điều:

Không có khát vọng tự do nào tồn tại lâu dài trong lòng xã hội mà hoàn toàn không để lại dấu vết trên tương lai của đất nước. Vấn đề không chỉ là thời gian. Mà là xã hội đã sẵn sàng chưa, tầng lớp lãnh đạo có đủ tự tin để mở ra không, người dân có đủ trưởng thành để sử dụng tự do không, thế giới chung quanh có tạo áp lực hay cơ hội hay không, và nhứt là tuổi trẻ đã sẵn sàng biến khát vọng tự do thành hiện thực chưa?

Tóm lại, và có lẽ, câu hỏi lớn của tương lai Việt Nam không còn là:“Có tự do hay không?” mà là:“Việt Nam có thể mở rộng tự do đến đâu mà vẫn giữ được ổn định và phát triển?”

2.1-       Có những người mơ về tự do chính trị

Có thể nói, hầu hết trí thức, những nhà hoạt động chính trị, luật sư, blogger, cựu đảng viên, sinh viên… vẫn nghĩ đến quyền tự do ngôn luận thật sự, báo chí độc lập, tam quyền phân lập, bầu cử tự do cạnh tranh, xã hội dân sự độc lập, pháp quyền không lệ thuộc một đảng phái nào cả. Cũng như họ tin rằng một dân tộc muốn phát triển bền vững phải có quyền nói thật và quyền kiểm soát quyền lực.

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, nhiều người từng mang lý tưởng ấy, từ các phong trào dân chủ trước 1975 ở miền Nam, cho đến các tiếng nói phản biện ngày nay. Nhưng tại Việt Nam hiện nay, không gian cho loại tự do chính trị này vẫn còn giới hạn, nên nhiều tiếng nói tự do…còn tồn tại trong âm thầm hoặc phân tán mỏng!

2.2-       Có những người chỉ mong một đời sống “dễ thở hơn”

Đây có lẽ là số đông. Họ không nghĩ nhiều đến cách mạng hay thay đổi chế độ. Họ chỉ mong luật pháp công bằng hơn, ít tham nhũng hơn, bớt hà khắc hơn, công an bớt lạm quyền, môi trường sạch hơn, báo chí được nói thật hơn, người dân ít sợ hơn khi phát biểu ý kiến. Đối với họ, “tự do” rất đời thường như hơi thở, như được sống tử tế, được làm người lương thiện mà không bị chèn ép, được nói sự thật mà không gặp rắc rối.

Đây là khát vọng âm thầm nhưng rất rộng trong xã hội hiện nay.

2.3-       Đảng nghĩ và hiểu “Tự do” như thế nào?

Đảng có nghĩ, nhưng nghĩ theo một cách rất khác. Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn và nghĩ về tự do qua lăng kính ổn định, an ninh, phát triển kinh tế và sự tồn tại của hệ thống, tức là Đảng phải “vĩnh cửu”. Nỗi lo lớn nhất của nhà nước là hỗn loạn như thời hậu Liên sô, “cách mạng màu”, cách mạng dù ở Hong Kong, xung đột xã hội, hay mất kiểm soát chính trị. Do đó, nhà nước thường chấp nhận mở cửa kinh tế, mở rộng tiêu dùng, hội nhập quốc tế, nhưng vẫn kiểm soát chặt các tổ chức chính trị, truyền thông, và không gian phản biện.

Vì vậy, Việt Nam hiện nay tồn tại một nghịch lý là xã hội ngày càng hiện đại hơn, nhưng không gian chính trị mở ra chậm hơn nhu cầu cấp thiết của xã hội hiện tại.

Về mặt chính thức, Đảng Cộng sản Việt Nam không phủ nhận tự do. Ngược lại, trong Hiến pháp và các văn kiện chính trị, nhà nước luôn “ghi nhận” các quyền tự do cơ bản như:tự do tín ngưỡng, tự do kinh doanh, tự do học tập, tự do đi lại, tự do ngôn luận “theo quy định của pháp luật” (nhưng còn việc tuân thủ hay thi hành các văn bản quy định trong Hiến pháp là một việc khác!). Nhưng điểm quan trọng nằm ở chỗ “tự do” trong cách “hiểu” của nhà nước Việt Nam không phải là quyền tuyệt đối của cá nhân, mà là quyền nằm trong khuôn khổ ổn định chính trị do nhu cầu của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, hệ thống hiện nay đặt ưu tiên vào việc ổn định xã hội, an ninh chế độ, đoàn kết quốc gia, phát triển kinh tế. Vì vậy, nhà nước thường xem tự do chính trị đa nguyên, báo chí độc lập, đối lập công khai, hay quyền biểu tình tự phát là những yếu tố có thể dẫn đến bất ổn hoặc bị “kẻ xấu” …lợi dụng.

Đó là lý do vì sao tại Việt Nam hiện nay, người dân có thể khá tự do trong tiêu dùng, kinh doanh, du lịch, học hành, nhưng tự do chính trị và tự do biểu đạt vẫn còn nhiều giới hạn dưới cặp mắt của Đảng.

Có thể gọi đây là mô hình: “mở về kinh tế nhưng kiểm soát về chính trị.”

2.4-       Có phải sức “ì” của Đảng làm chậm đi khát vọng tự do của tuổi trẻ chăng?

Có thể nói rằng “sức ì” của hệ thống hiện nay là một trong những yếu tố làm tiến trình mở rộng tự do ở Việt Nam diễn ra chậm hơn so với nhu cầu của xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Nhưng vấn đề không hoàn toàn đơn giản theo kiểu:“Đảng muốn cản tự do, còn tuổi trẻ muốn tự do.” Thực tế phức tạp hơn nhiều. “Sức ì” của một hệ thống lâu năm là có thật. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước nhiều thập niên, đi qua chiến tranh, khủng hoảng, cấm vận, và phát triển kinh tế. Một hệ thống tồn tại lâu như vậy thường hình thành một bộ máy hành chính lớn, văn hóa kiểm soát, tâm lý sợ rủi ro, và thói quen ưu tiên ổn định hơn thay đổi. Do đó, nhiều cải cách về pháp lý, giáo dục, báo chí, xã hội dân sự, quyền công dân thường tiến triển rất chậm. Không hẳn vì mọi người trong hệ thống đều chống tự do, mà vì bộ máy lớn và cằn cỗi thường sợ mất kiểm soát khi thay đổi quá nhanh. Đó là quy luật gần như phổ biến ở mọi chế độ chính trị độc đảng lâu đời.

3-    Điều đang thay đổi âm thầm ở Việt Nam

Ngày nay: người dân tiếp cận thông tin toàn cầu, giới trẻ học ở nước ngoài nhiều hơn, mạng lưới toàn cầu phá vỡ độc quyền thông tin, doanh nghiệp cần luật pháp minh bạch, xã hội dân sự dù hạn chế vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức.

Ngay cả trong bộ máy nhà nước cũng có thể tồn tại những người hiểu rằng, một xã hội sáng tạo cần không gian tự do hơn, khoa học cần phản biện, kinh tế hiện đại cần pháp quyền, và một quốc gia mạnh không thể chỉ dựa trên kiểm soát và độc đoán. Những thay đổi ấy thường không ồn ào, nhưng vì tích tụ lâu dài, cho nên sự tiến triển hết sức… tiệm tiến.

Đối với Đảng cộng sản Việt, những lực cản trên rất lớn. Từ đó, khát vọng tự do tại Việt Nam hiện nay vẫn đối diện nhiều nỗi sợ như sợ hỗn loạn, sợ mất ổn định, sợ xung đột như một số nước khác, sợ bị ngoại lực thao túng, sợ trả thù ý thức hệ. Ngoài ra còn có lợi ích của bộ máy quyền lực, lợi ích nhóm, tâm lý quen phục tùng, văn hóa “im lặng để yên thân”, và sự phân hóa trong xã hội.

Cho nên tiến trình thay đổi của Việt Nam hiện tại rất chậm.

4-    Từ khát vọng tự do đến tự do thật sự bắt đầu từ đâu? Bao giờ thành hiện thực?

Có lẽ không phải bắt đầu từ thể chế chính trị độc đảng trước tiên, mà có thể bắt đầu khi người dân dám nghĩ độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, biết tranh luận mà không hủy diệt nhau, biết đặt sự thật cao hơn tuyên truyền, và biết xem người có quan điểm khác vẫn là đồng bào. Nếu một xã hội chưa học được điều đó, thì dù thay đổi chế độ, tự do cũng khó bền vững. Nhiều quốc gia đã thay chính quyền nhiều lần, nhưng vẫn rơi vào độc tài mới, dân túy, hay hỗn loạn kéo dài.

Có thể không đến bằng một ngày “bùng nổ”hay “đổi đời”, mà đến khi cường quyền hiểu rằng mở cổng tự do không đồng nghĩa với sụp đổ của độc đảng, mà người dân hiểu rằng tự do đi kèm trách nhiệm, và cả hai phía không còn xem nhau như kẻ thù. Khi đó, tự do sẽ không còn là khẩu hiệu, mà trở thành cung cách xã hội vận hành, cách pháp luật bảo vệ con người, cách người dân đối xử với nhau.

5-    Thay lời kết

Xin trích một đoạn trong bài viết của tác giả Song Chi:”… Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH. Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách, báo, truyện, nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím… chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch – ta, lý thuyết cách mạng nọ kia…

Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông – Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua.

Xã hội Việt Nam bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng.”

Tại sao Việt Nam hiện tại không làm được như Việt Nam Cộng hòa trong suốt 20 năm chiến tranh Quốc – Cộng tàn khốc, 1955 – 1975?

Vì vậy,

Khát vọng tự do ở Việt Nam hiện nay giống như nước ngầm dưới lòng đất, không phải lúc nào cũng nhìn thấy, đôi khi tưởng đã biến mất, nhưng vẫn âm thầm chảy. Một ngày nào đó, nó có thể trở thành một dòng sông lớn. Nhưng điều quyết định không chỉ là áp lực từ trên hay từ dưới, mà là người Việt có học được cách sống tự do mà không hận thù, không cực đoan và không tự hủy lẫn nhau. Và nguy cơ lớn nhất không phải là sự đối kháng mà là làm mất niềm tin.

Tuổi trẻ hiện nay không còn quá tha thiết với ý thức hệ. Điều họ quan tâm nhiều hơn là: cơ hội công bằng, môi trường sống, phẩm giá cá nhân, và tương lai. Nếu họ cảm thấy tiếng nói của mình vô nghĩa, luật pháp thiếu công bằng, tài năng không được trọng dụng, phản biện bị xem là nguy hiểm, thì điều dễ xảy ra nhất không phải nổi dậy, mà là thờ ơ, rút lui, hoặc rời khỏi đất nước. Đây mới là điều đáng suy nghĩ cho tương lai Việt Nam.

Làm sao để có thể dung hòa giữa khát vọng tự do của tuổi trẻ và việc gìn giữ sự ổn định thể chế của Đảng?

Có lẽ đây là bài toán lớn nhất của Việt Nam trong vài thập niên tới, nghĩa là làm sao mở rộng tự do mà không rơi vào hỗn loạn? Làm sao giữ ổn định mà không bóp nghẹt sức sống xã hội? Nếu hệ thống không thay đổi đủ nhanh, nó có thể tụt lại sau xã hội. Nhưng nếu xã hội thay đổi quá cực đoan, nó cũng có thể tạo ra đổ vỡ lớn. Do đó, điều quan trọng có lẽ không phải: “ai thắng ai”, mà là: “Việt Nam có xây dựng được lòng tin giữa nhà nước và tuổi trẻ hay không?”

Có thể nói: sức ì của hệ thống đang làm chậm phần nào khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam. Nhưng đồng thời, tuổi trẻ Việt Nam cũng đang thay đổi xã hội theo cách âm thầm qua giáo dục, công nghệ, tư duy toàn cầu, tinh thần cá nhân, và nhu cầu sống thật hơn. Cuộc chuyển động ấy có thể chậm, nhưng rất khó đảo ngược. Vì một khi tuổi trẻ đã quen suy nghĩ bằng chính đầu óc của mình, thì khát vọng tự do sẽ luôn tồn tại, dù không phải lúc nào cũng được nói thành lời.

Khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay có thể không còn mang hình ảnh của những cuộc xuống đường ồn ào hay những khẩu hiệu đầy đối kháng cực đoan như trong quá khứ. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó yếu đi. Ngược lại, nó đang trưởng thành hơn, thâm sâu hơn, và thực tế hơn.

Người trẻ Việt Nam hôm nay muốn được sống bằng năng lực thật, được tôn trọng nhân phẩm, được quyền chọn lựa tương lai, được nói lên suy nghĩ của mình và được góp phần xây dựng đất nước bằng trí tuệ thay vì sự phục tùng. Đó chính là một hình thức tự do rất căn bản và rất bền vững. Họ có thể khác nhau về quan điểm chính trị, cách sống hay lựa chọn tương lai, nhưng phần đông đều gặp nhau ở một điểm, mong cho Việt Nam trở thành một đất nước văn minh hơn, công bằng hơn và đáng sống hơn.

Con đường đi tới một xã hội tự do có thể còn dài. Sẽ có những bước tiến chập chững, hay những lùi lại, thậm chí những thất vọng tràn trề. Nhưng lịch sử cho thấy: một dân tộc mà tuổi trẻ còn biết suy nghĩ độc lập, còn biết đặt câu hỏi, còn biết mơ về một xã hội tốt đẹp hơn, thì dân tộc đó chưa bao giờ mất tương lai. Và có lẽ, điều đẹp nhất của khát vọng tự do nơi tuổi trẻ Việt Nam hôm nay là họ không chỉ muốn tự do cho riêng mình, mà còn muốn một Việt Nam mạnh hơn, tử tế hơn, và nhân bản hơn cho cả các thế hệ mai sau.

Có lẽ còn một điều rất quan trọng cần nói thêm là Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đang đứng giữa hai ngả đường, một bên là di sản của quá khứ với chiến tranh, ý thức hệ, chia rẽ và nỗi sợ bất ổn, và một bên là tương lai của một thế giới mở, nơi hơi men tri thức bừng dậy, tinh thần sáng tạo và phẩm giá con người trở thành sức mạnh thật sự của quốc gia.

Chính vì vậy, khát vọng tự do của thế hệ trẻ Việt Nam không nhất thiết phải mang màu sắc đối đầu.  Nó có thể bắt đầu rất giản dị từ việc học cách suy nghĩ độc lập, biết tôn trọng sự thật, dám sống trung thực, biết phản biện mà không hận thù, biết yêu nước mà không cực đoan, và biết đặt lợi ích lâu dài của dân tộc lên trên những chia rẽ quá khứ. Nếu nhìn một cách bình tĩnh và thực tế, có thể nói rằng một phần của bộ máy quản lý hiện nay, do sức ì, tâm lý sợ thay đổi và cơ chế kiểm soát lâu năm, đang làm chậm lại nhu cầu tự do và sáng tạo của tuổi trẻ Việt Nam.

Nhưng câu hỏi quan trọng hơn là tuổi trẻ nên làm gì để thúc đẩy tương lai tự do nhanh hơn mà không đẩy đất nước vào đổ vỡ? Đây mới là bài toán lớn. Nếu tuổi trẻ Việt Nam muốn khát vọng tự do đến gần hơn, thì có lẽ con đường bền vững nhất không phải là phá hủy, cực đoan hay hận thù. Mà là nâng cao dân trí, xây dựng xã hội tử tế, bảo vệ sự thật, học cách đối thoại văn minh, phát triển năng lực cá nhân, và từng bước tạo ra một nền văn hóa tự do từ chính đời sống hằng ngày.

Bởi cuối cùng rồi, một đất nước tự do không thể chỉ được tạo ra bởi vài lãnh tụ hay một biến cố chính trị. Nó phải được tạo ra bởi hàng triệu con người biết suy nghĩ độc lập, sống có trách nhiệm và không còn sợ hãi trước sự thật. Khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay có thể không bùng cháy dữ dội như những cuộc cách mạng trong lịch sử. Nhưng nó đang lan rộng âm thầm trong suy nghĩ, trong giáo dục, trong công nghệ và trong cách sống của cả một thế hệ. Có thể tiến trình ấy còn chậm. Có thể sẽ còn nhiều va chạm giữa khát vọng xã hội và sức ì của cơ chế hay hệ thống chính trị. Nhưng lịch sử nhân loại cho thấy, không một xã hội nào có thể mãi đứng yên khi cả một thế hệ trẻ bắt đầu suy nghĩ độc lập và khao khát được sống với phẩm giá của con người tự do.

Và có lẽ, hy vọng lớn nhất của Việt Nam hôm nay nằm ở chỗ thế hệ trẻ không chỉ muốn tự do cho riêng mình, mà còn muốn xây dựng một đất nước tự do hơn, nhân bản hơn và tử tế hơn cho tương lai dân tộc.