Nhân 30/4 nghĩ về nghĩa trang quân nhân VNCH

Võ Ngọc Ánh

Gửi tới BBC từ Tacoma, Washington, Hoa Kỳ

15 tháng 4 2021

Nguồn hình ảnh, Đổ Trung Dũng

Chụp lại hình ảnh,

Mộ tử sĩ VNCH được cải táng ở Bình Thuận

Trong cuộc chiến ý thức hệ trên dải đất hình chữ S, Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu trên lãnh thổ của mình, điều kiện hậu cần tốt nên đa phần người lính tử trận được đưa về quê nhà an táng.

Năm 2008, gần một tháng sau khi vào Sài Gòn làm việc, tôi đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để tìm hiểu, thăm viếng.

Đây là nơi chôn chất những người lính của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại duy nhất tôi biết được sau năm 1975.

Điểm đầu tiên tôi đến viếng là đền tử sĩ. Bên ngoài cổng tam quan nhìn vẫn còn cứng cáp. Bước lên khỏi nhiều bậc tam cấp là một khung cảnh hoang tàn như ngôi miếu hoang nhiều phần đã đổ sụp bày ra trước mắt. Rời nơi đây tôi đến khu chôn cất những người lính.

Lúc này nghĩa trang quân đội Biên Hòa đã có tên Nghĩa trang Nhân dân Bình An từ hai năm trước.

Để được vào được bên trong nghĩa trang, tôi phải xuất trình chứng minh nhân dân cho người gác cổng ghi lại thông tin và trả lời những câu hỏi, “vào làm gì?”, “viếng ai?”…

Nơi an nghỉ bị kiểm soát

Đã có hơn 18 nghìn quân nhân bên phía Việt Nam Cộng Hòa được chôn cất nơi đây trước ngày 30/04/1975 trong các ngôi mộ giống nhau.

Giờ đây, trong tầm mắt theo bước chân tôi là một khung cảnh trông lộn xộn của bề ngoài của các ngôi mộ.

Nhiều ngôi mộ mới được trùng tu, xây thêm với gạch men, đá hoa cương, nước sơn mới xen lẫn những mộ trông hoang lạnh, rêu phong với chân nhang ít ỏi, bạc màu.

Rất dễ để thấy những bia mộ vẫn còn in dấu đập như búa gõ lên hình ảnh, tên của người lính đang nằm dưới. Dấu tích của sự căm thù bên thắng cuộc đã trút lên những ngôi mộ đang bị ‘cầm tù’ trong khu quân sự hơn 30 năm sau ngày 30/4/1975.

Những hố nông cùng xà bần vung vãi để phơi ra dấu vết của các mộ đã được thân nhân di dời.

Nguồn hình ảnh, Bình An

Chụp lại hình ảnh,

Những nấm mộ trong nghĩa trang hoang tàn đang được quy hoạch thành dự án bất động sản ở Bình Thuận

Một số tài liệu cũ, nhân chứng cho biết, trước năm 1975, tại miền Nam đã có nhiều khu mai táng tử sĩ thuộc cấp tỉnh (tiểu khu), binh chủng. Tuy nhiên, tôi không trực tiếp thấy được các nơi này.

Dù có thêm các khu mai táng tập trung thì cũng chỉ có một phần nhỏ người lính tử trận được đưa vào đó chôn cất. Đa số người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận được đưa về quê nhà an táng trong nghĩa trang của gia đình, dòng tộc, hoặc của làng, xã, tôn giáo…

Trên bia mộ cho thấy, quân nhân bên phía Việt Nam Cộng Hòa quê tôi tử trận sớm nhất vào năm 1960. Các vị cao niên kể lại lúc đó có xe đưa về, quan tài phủ cờ nước, có tiểu đội cùng về bồng súng trang trọng chào đồng đội vào lòng đất mẹ.

Tất cả người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận sau này ở quê tôi cũng được đưa về nhà để chôn cất theo kiểu như thế. Tôi chứng thực được điều này khi còn là một đứa trẻ đi chăn bò, lớn hơn đi tảo mộ vào đầu tháng 12 âm lịch hằng năm. Tôi đã đọc rất nhiều bia xi phía chân mộ ghi tên quốc gia “Việt Nam Cộng Hòa”, tên người lính, đơn vị, chức vụ, nơi tử trận… Trong khi đó bộ đội miền Bắc vào Nam, hoặc du kích thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam phải chết đâu chôn đó. Số còn lại phải nhờ đối phương chôn cất.

Theo số liệu từ chính quyền Việt Nam, hiện còn khoảng 200 ngàn liệt sĩ bên bên thắng trận vẫn chưa tìm được hài cốt. Con số này tương đương 2/3 tổng số (hơn 300 ngàn) quân nhân Việt Nam Cộng Hòa bỏ mạng trong chiến tranh Việt Nam.

Đưa người lính về quê an táng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đáp ứng được nguyện vọng, giúp người thân thuận tiện trong việc chăm sóc mả mồ vốn là truyền thống rất quan trọng của người Việt.

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa với tên gọi mới là Nghĩa trang Nhân dân Bình An tọa lạc tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Việt Nam

Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không nghĩ hết, sự nhân văn này đã không chiến thắng được nỗi sợ cái chết khi phải đi lính. Điều này dẫn đến nhiều người bên phía Việt Nam Cộng Hòa thay đổi sắc lính để kéo dài thời gian huấn luyện, tránh việc trực tiếp đánh nhau với các lực lượng thuộc Cộng Sản. Không ít gia đình có điều kiện chọn cách bỏ tiền để con cái có được một chân lính dễ thở, “lính kiểng” ít nguy hiểm hơn.

Họ làm tất cả điều này để tránh cái chết qua việc ít trực tiếp đối diện với đạn, pháo đối phương.

Các tài liệu nghiên cứu, báo cáo, báo chí thời đó cũ cho thấy đào ngũ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa thường trên mức 10%, theo một bài trên New York Times (27/07/1970).

Con số này theo suy nghĩ của tôi, có lẽ bao gồm cả những quân nhân vắng mặt tại đơn vị không rõ lý do ngắn hạn, ‘lính ma’ hoặc lính thay đổi đơn vị, binh chủng.

Điều này là hoàn toàn khác biệt với ngoài Bắc. Người trốn lính, cùng gia đình không thể sống được trong cộng đồng bị chế độ tem phiếu, hộ khẩu, việc làm do chính quyền quyết định, chi phối toàn bộ cuộc sống một cá nhân.

Quê nhà giúp đa số tử sĩ an nghỉ

Thế nhưng nghĩ lại thì chính sách của VNCH từng làm suy yếu quân đội nhưng phần nào giúp cho tử sĩ ‘mồ yên mả đẹp’ ngày nay.

Năm 2018, trong dịp đến tiểu bang Minnesota, tôi đã gặp ông Khiêm. Một cựu quan chức tình báo của chính quyền Sài Gòn đã ở tuổi ngoài 80.

Ông nói, chính quyền lúc đó thừa biết có chuyện bỏ tiền chạy lính. Không ít người đã bỏ tiền để được vào địa phương quân, nghĩa quân để gần nhà và ít nguy hiểm. Có người còn chạy cả giấy miễn quân dịch.

Vì thế, không ít người trong độ tuổi quân dịch dù có tên trong lính nhưng không có mặt. Số này chính là ‘lính ma’. Họ chấp nhận lương của mình do người khác lãnh, có người còn phải đóng thêm tiền hàng tháng.

Câu chuyện của cựu quan chức tình báo trên không lạ. Từ nhỏ tại quê nhà tôi đã nghe kể vô số những câu chuyện như thế. Nó sinh động hơn, khác biệt với những bài học lịch sử trong sách vốn chỉ toàn màu chiến thắng. Lịch sử bên thắng trận vốn không khác những bài PR của chế độ.

Cũng vị cựu quan chức tình báo này, chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng Hòa lúc đó không thật sự làm nghiêm, hoặc đủ sức để chấn chỉnh các vấn nạn này.

Tuy nhiên ông không thừa nhận, đây là một thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa để dẫn đến quốc gia rơi vào tay miền Bắc trong năm 1975. Mà, lý do Việt Nam Cộng Hòa thua cuộc do bị Mỹ bỏ rơi.

Nguồn hình ảnh, Công Thuận

Chụp lại hình ảnh,

Khu mộ tập thể quân nhân chết ở đồi Charlie vào năm 1971 được lập tại Chơn Thành, Bình Phước vào các năm 2014, 2015

Cuộc chiến đã lùi xa hơn 46 năm, cùng người Việt nằm trong đất vẫn còn bị đối xử bên thắng – bên thua.

Bên thắng cuộc có chính quyền bỏ công, tiền của để tìm kiếm, quy tập. Bên thua cuộc chỉ biết nhờ người thân, hoặc đồng đội đủ can đảm đối mặt với thách thức từ chính quyền, hoặc bác ái trong các tôn giáo.

Nghĩ an ủi cho cho những người quá cố, nhờ đa số người lính bên phía Việt Nam Cộng Hòa được đưa về quê an táng đã giúp việc chăm sóc của thân nhân giờ được thuận tiện hơn.

Chính sách xưa hóa ra giúp các tử sĩ không phải chịu cảnh ‘cầm tù’ trong mộ hơn 30 năm như Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

39 năm dưới nền đất lạnh

Hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương rời chiến cuộc với một chân bị mất vào tháng 2/1975 trong trận đánh ở Chơn Thành. Ông còn phải vào trại cải tạo ở Phú Khánh (nay là Phú Yên) 5 năm. Khi ông trở về nhà tại quận 4 vào năm 1980, Sài Gòn đã trở thành TP Hồ Chí Minh và ông cũng không thể ở trong ngôi nhà của mình nữa.

“Tôi về Sài Gòn, trình diện ở quận 4, sau đó họ không cho tôi ở nên tôi lên vùng kinh tế mới, đi tự túc. Lúc trước có quen một cô ở Chơn Thành, tôi lên đây ở, rồi thành vợ chồng. Hai người đi làm mướn, đi cạo mủ cao su.”

Nguồn hình ảnh, Công Thuận

Chụp lại hình ảnh,

Thương phế binh Võ Phùng Dương đã dành nhiều năm tìm kiếm hài cốt đồng đội.

“Tôi ở đây, vẫn nhớ anh em còn nằm lại An Lộc,” ông bắt đầu kể về hành trình thầm lặng của mình. “Suốt thời bao cấp khổ cực và nguy hiểm, tôi nhớ mấy chỗ đó nhưng không dám đụng vô. Lúc đó mình mới đi cải tạo ra, coi như là ra tù, còn nhiều khó khăn. Hồi đó đụng vô mấy chuyện này là ghê lắm, bị xử bắn chứ không đùa.”

Đến năm 2011, ông Dương mới trở lại An Lộc để bốc cốt. An Lộc xưa giờ đã thành thị xã Bình Long sầm uất. Chiến trường ngày ấy đổi thay hoàn toàn, nhưng ông vẫn nhận ra những nơi chốn mà ông đã chôn đồng đội.

“Gần 40 năm, nhiều nơi người ta xây nhà, cốt anh em nằm dưới nền đất lạnh, đào mất thời gian lắm. Nhiều nơi họ ban đất, mình tới trình bày, nói ở đây hồi xưa có chôn anh em, thì họ cho đào. Có khi trong nền nhà có 5-7 người nằm, họ cũng đào lên rồi giao cho mình,” ông thuật lại.

Trong vòng 3 năm, từ 2011 đến 2013, ông Võ Phùng Dương cùng một số anh em, bạn bè đã cải táng được 65 bộ hài cốt, chủ yếu là thành viên của Liên đoàn 3 Biệt động quân và một số đơn vị khác. Ông cũng kết nối được nhiều gia đình người thân.

Khu mộ tập thể quân nhân chết ở đồi Charlie vào năm 1971 được lập tại Chơn Thành, Bình Phước vào các năm 2014, 2015

“Đào lên thì có người được nhận diện qua thẻ bài, có người qua các di vật,” ông chia sẻ. “Trong số 65 bộ hài cốt, có 10 bộ là vô danh, còn xác định được hết. Tôi viết tên anh em ra giấy rồi photocopy, xong đem xuống Long Khánh, Hố Nai, Biên Hòa… hỏi tìm thân nhân. Cũng tìm được một số. Đến nay đã có mười mấy gia đình đến nhận.”

“Người thân đa số vào thăm, họ khóc, thắp nhang, rồi họ để lại đó chứ không đem về. Họ nói đem về cũng khó khăn, bốn mươi mấy năm rồi, thôi ở lại đó với anh em,” ông Dương kể.

Người về từ Charlie

Sau khi đưa những “chiến hữu” từ An Lộc trở về an táng, năm 2014, ông Võ Phùng Dương lại cùng các cựu quân nhân VNCH lên Kon Tum.

Đồi Charlie là một điểm nóng khác trong Mùa hè đỏ lửa 1972. Nơi đây được biết đến nhiều hơn qua ca khúc “Người ở lại Charlie” do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết về Trung tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Nhảy dù, tử trận ngày 12/4/1972.

“Có anh ở Kon Tum dẫn mấy anh em đi tìm. Lên trên đồi đào được một hố chôn tập thể. Có tới 20 bộ hài cốt quân nhân VNCH,” ông Dương kể. “Ngoài ra tụi tôi còn tìm thấy 5-6 hài cốt bộ đội nên báo cho chính quyền.”

Thương phế binh Nguyễn Công Lý và kỷ vật chiến tranh đem về sau chuyến tìm kiếm hài cốt ở Lào

Ông Dương và nhóm tìm kiếm đi hai lần lên Kon Tum. Những hài cốt quân nhân vô danh từ đó được đưa về táng chung trong một ngôi mộ ở Chơn Thành, Bình Phước với tấm bia tưởng niệm ghi “Memory – Charlie – Hill”, cùng tên của Trung tá Nguyễn Đình Bảo. Thông tin trên bia còn cho biết các quân nhân trong ngôi mộ tập thể thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh. Xung quanh là 13 ngôi mộ của tử sĩ do ông Dương đưa về từ An Lộc.

“Mấy bộ hài cốt từ An Lộc là tôi mang về lúc khó khăn, không đưa đi chôn trên đó được. Tôi bỏ cốt trong hũ rồi đậy kín, để anh em ở trong nhà mình, một thời gian sau tìm thêm các anh em khác mới đưa ra đây táng.”

“Chỗ này hồi trước có nhiều anh em đến viếng. Sau mọi người tổ chức tưởng niệm, rồi có người chụp hình đưa lên mạng, về sau bị cấm luôn, không vào được nữa,” ông Dương cho biết.

Câu chuyện của ông Dương là một lát cắt nhỏ trong vô vàn những hành trình âm thầm tìm kiếm quân nhân VNCH mất tích thời chiến tranh. Có những cuộc tìm kiếm có kết quả, cũng có nhiều người tới chiến trường xưa chỉ để lấy một nắm đất trở về.

Năm 2016, sau nhiều nỗ lực và với sự giúp đỡ tài chính của nhiều người, bà quả phụ Nguyễn Văn Đương đã sang tỉnh Savannakhet (Lào) để tìm hài cốt chồng. Đại úy Đương, nhân vật trong bài hát “Anh không chết đâu anh”, đã tự sát khi đơn vị của ông bị vây trên đồi 31 trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào năm 1971.

“Chúng tôi mang trái cây, hoa từ Sài Gòn, sang đó đặt mua xôi và gà đem lên đồi cúng cho tất cả vong linh,” ông Nguyễn Công Lý, cựu quân nhân nhảy dù cùng đi với bà quả phụ Nguyễn Văn Đương sang Lào, kể lại. “Bây giờ chết rồi thì không còn phân biệt cộng hòa với cộng sản. Chúng tôi khấn cho tất cả, rồi bà Đương lấy một nắm đất trên đồi mang về Việt Nam, đưa vào chùa, coi như đó là một phần xương cốt của người đã khuất.”

Chiến tranh khép lại đã 45 năm, nhưng những cuộc kiếm tìm vẫn tiếp diễn trong âm thầm.

“Các gia đình, các hội nhóm cựu quân nhân, rồi nhà thờ vẫn kết nối, hỗ trợ nhau tìm kiếm, cải táng cho các tử sĩ,” ông Huỳnh Công Thuận chia sẻ. “Một điều động viên lớn đó là lớp con cháu sau này cũng tham gia, hỗ trợ cho những người đã già như tụi tôi.”

Nguồn hình ảnh, Nguyễn Công Lý

Chụp lại hình ảnh,

Bà quả phụ và con trai đi kiếm hài cốt Đại úy Nguyễn Văn Đương trên đồi 31 ở Lào

“Mình còn sống là may mắn lắm, nên làm được gì cho anh em thì làm,” cựu quân nhân Võ Phùng Dương tâm sự. “Mình tật nguyền nhưng tay vẫn cầm cuốc đào được, tâm mình không có tật, chỉ nghĩ phải làm gì đó cho anh em, để vậy thì thương lắm.”

Một ngày 30/4 nữa đến gần, trong lòng những người như ông Dương lại chất chứa nỗi niềm. “Mộ anh em ở đấy, khi nào nhớ nhớ thì tôi vào thắp nhang. Không có ngày giỗ. Tôi cũng tránh mấy ngày lễ kẻo rắc rối, chỉ đi vào ngày thường.”

Câu chuyện cảm động của một Đại Tá phi công Hoa Kỳ từng bị tù VC William S. Reeder

William S. Reeder

Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa.

“Thái Dương” NGUYỄN VĂN XANH

Thursday, August 13, 2015

We reap what we sow from life to life (Buddha’s Teachings)

Lời nói đầu:

Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người “anh hùng” được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình.

Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Đoàn 530 Thái Dương, Không Đoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku). Thời gian ấy – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ, có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gọn trong phần tổn thất của quân bạn: “Phi Đoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích”. Chấm hết!

Nhưng với một phi công Đồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Đại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ.

NHT

o O o

Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7/12/1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của TT Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài.

Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là “Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972″ (1972 Easter Offensive) *. Đây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây.

*[1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụng “Mùa Hè Đỏ Lửa” thay cho “Easter Offensive”]

Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây – giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.

Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.

Hôm đó là ngày thứ hai 09/5/1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy và luôn luôn để anh bay chung với tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!

Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Địa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Động Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phong thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.

Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.

Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.

Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.

Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của định. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim – dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.

Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt.

o O o

Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền, và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Đã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá.

Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống.

Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông – là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắt ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái “cầu” này để vào trại.

Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ – gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Đêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!

Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.

“Nhà vệ sinh” này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. “Vấn đề” là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có “nhu cầu”, người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là “nhà vệ sinh” ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.

Theo ký ức của tôi thì nước uống không có “vấn đề”. Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có “vấn đề”. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được “chiêu đãi” bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây “yucca” ở châu Mỹ La-tinh. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu.

Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.

Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại.

o O o

Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!

Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi “phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi”, tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.

Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.

Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái ngược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng.

o O o

Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực, mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.

Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, tôi còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất cả sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon. Đừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Đây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình ngày càng tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng, kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.

Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Đế đã ban cho.

Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực.. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn.. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!

Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậy, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày. Đôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó.

o O o

Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây “cầu” bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!

Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải.

Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới “khách sạn Hilton – Hà Nội” lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến.

o O o

Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.

Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh thứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.

Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho “trang chủ” mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.

Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.

Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh – vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết. Và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.

NGUYỄN VĂN XANH, một người như mọi người!

William S. Reeder

Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa.

 “Thái Dương” NGUYỄN VĂN XANH

Bill Reeder  

MY FRIEND XANH – Bill Reeder in Vietnam

http://www.thebattleofkontum.com/memories/136.html

NOTE: This article first appeared in the VHPA Aviator magazine 2009 Vol. 27, No. 2. It is here in the Memories Book of the Battle of Kontum web site with the permission of Bill Reeder.

I began my second tour of duty in Vietnam on December 7, 1971. President Nixon’s policy of withdrawal through “Vietnamization” was well underway. The burden of fighting the war was being passed more fully to the Vietnamese and U.S. troops were being brought home at a dramatic rate. Indeed, and ironically in retrospect, the plan seemed to be going well. There was little enemy activity inside South Vietnam and the insurgent guerrilla war had pretty well ended. But the regular army forces of North Vietnam were growing in strength just across the borders in Laos and Cambodia, as our missions in support of MACV-SOG clearly showed.

The relative calm that had settled over the guerrilla war in the South was not to last long. In the spring of 1972, the North Vietnamese launched their major offensive of the war. It became known as the 1972 Easter Offensive. It was not an uprising of the insurgent Viet Cong, as had been the case in the Tet Offensive of 1968. Instead, this campaign was a series of conventional attacks by the regular North Vietnamese army across the demilitarized zone (DMZ) from Communist North Vietnam, and from sanctuaries in Laos and Cambodia with advances designed to cut the country of South Vietnam in half through the Central Highlands, and to strike the Southʼs capital city of Saigon. The Communists failed in 1972 after some very hard fighting by the South Vietnamese army and air force, and the determined help of those American forces remaining.

The offensive began in April 1972 with advances of North Vietnamese forces toward Saigon from out of Cambodia, and attacks toward the ancient capital of Hue from out of North Vietnam across the DMZ. The final movement of this well-orchestrated battle plan came from northern Cambodia and southern Laos as the North Vietnamese army attempted to replicate the 1954 successes of the Viet Minh against the French in wrestling control of a wide belt across the central part of the South, and destroying French military capability in the process. In 1972, the Communist armies achieved some initial success, but were denied every major objective. In the north, they advanced only to Quang Tri, and were there defeated by South Vietnamese airborne. In the south, they moved only as far as An Loc before being defeated. And in the Central Highlands, they captured some outposts surrounding Kontum, but were again defeated.

I recount this bit of history as background to a personal drama that played out at this time for me, and for a South Vietnamese Air Force pilot named Xanh Nguyen, or actually Nguyen Xanh by Vietnamese name ordering, for they always place the last name first.

When the 1972 Easter Offensive began, I was an AH-1G Cobra attack helicopter pilot with the 361st Pink Panthers, flying from the American base at Camp Holloway, near Pleiku, in the Central Highlands. Lieutenant Nguyen Xanh was with the VNAF Jupiter 530 Squadron, flying A-1 Skyraider fixed wing attack airplanes from Pleiku airbase at the same time. We did not know each other, had never met or even seen each other.

On May 9, 1972, I was launched at dawn on a tactical emergency as mission lead of a flight of two Cobras to support the besieged army camp at Polei Klang – almost due west of Kontum and not too far from the Cambodian border. There were North Vietnamese infantry and tanks attacking the base, and the situation was grim. We made several runs and expended all our rockets, grenades, and machine gun ammunition and headed to Kontum airfield to re-arm and re-fuel. My other crew member in the front seat of the Cobra, my co-pilot/gunner, was First Lieutenant Tim Conry from Phoenix, Arizona. Tim was the most outstanding young officer I had known, and for that reason, I tucked him under my wing as his platoon leader, and from his arrival in the unit, he always flew with me. He excelled as an aviator and as a man. And he would become a hero that day.

On our way back out, we were diverted to a larger attack taking place at another camp situated right at the Tri-Border, the spot where the borders of Vietnam, Laos, and Cambodia all come together. The place was called Ben Het. There was a Vietnamese ranger battalion of about 300 and two American advisors, Mark Truhan and Bob Sparks. They were under attack by elements for two North Vietnamese divisions (several thousand soldiers) supported by tanks. The tanks had penetrated the perimeter, and enemy infantry occupied much of the base. En route to Ben Het, I glanced toward Polei Klang as I flew abeam. There was a lot of activity, and I could see A-1 Skyraiders in their bombing patterns. I then saw one of the A-1s hit and crash in flames. The pilot ejected and I could see his parachute. I radioed for permission to go to Polei Klang and cover the rescue. Permission was denied. I asked again, denied, more tersely this time, again. I didn’t yet know the degree of urgency at Ben Het, but was infuriated at the moment for not being allowed to help another pilot in obvious need.

I flew into a hornet’s nest at Ben Het. When we arrived, we saw tanks within the perimeter wire, and enemy infantry everywhere. The friendly survivors had consolidated in the command bunker at the center of the camp and were fighting hard to keep the enemy at bay. We fired some ordinance and then supported a special helicopter with a new type of tank killing missile. When we’d expended all our ordnance, we returned again to Kontum to once again rearm and re-fuel. We then launched back out on our third combat mission of the day, returning to Ben Het.

After take-off from Kontum, we were asked to escort a re-supply helicopter into Ben Het. The beleaguered force was running desperately low on ammunition, and had no more anti-tank ammunition at all. We joined with a Huey helicopter carrying the ammunition resupply, and escorted him into Ben Het, low level, on the tree tops, as we’d done so many times before on our special operations missions across the border. We approached the camp with guns blazing, ours and theirs. In my front seat, Tim was laying down a well aimed path of protective devastation with the mini-gun and grenade launcher in our turret. I was firing pairs of rockets. At the same time, we were engaged by numerous enemy small arms and anti-aircraft weapons as we continued inbound. The Huey successfully completed its critical mission, largely because of Tim’s carefully directed suppressive fire. The Huey came to a very brief hover, kicked off the ammo boxes and lifted out. We turned to cover his departure and immediately began taking hits from several enemy weapons. My Cobra came down spinning and burning. We crashed and exploded a moment later. Tim and I just got out. He died later that day. I had a badly broken back, burns on the back of my neck, a piece of shell fragment sticking out of my ankle, and superficial wounds on my head and face. I was in the midst of many hundreds of attacking enemy soldiers.

Mark Truhan, one of the two American advisors at Ben Het, sent out a force to try to get to me, but after a number of casualties, they had to abort their mission. Gutsy move. Their own survival was tenuous. I could crawl about in great pain, and did move to cover and then out of the immediate area, able to evade my foes for three days before being captured. I was interrogated for a couple of days; treated pretty brutally. I was a physical mess. My back was broken. My ankle wound had filled my boot with blood that was now dried solid. I was three days unshaven. I’d had no control over my bowels or bladder and had soiled myself badly. And I’d had several leaches cling to my body, all of which I’d pulled off, except for one which unknowingly was half way into my left nostril. My captors got a laugh from that. I was questioned, beaten, threatened, and had my arms tied behind my back with the ropes increasingly tightened during interrogation, until finally both my shoulders dislocated as my elbows were pulled tightly together against my broken spine. Finally, the interrogations ceased, and I was marched for three days to a jungle prison camp that, by my estimation, must have been just across the border in northern Cambodia. I was given my boots back, but no laces and no socks. After three days of walking, my feet were like raw hamburger by the time I limped, in much pain, up to the entrance to my first prison.

The site was typical of the image many have of a jungle prison camp. It was carved out of the triple-canopy rain forest and built of bamboo. The camp was surrounded by a bamboo wall that was reminiscent of an old cavalry frontier fort in the American West. There was one wall concentrically within another, with a ditch dug between the two, almost moat-like. In the ditch were many punji stakes – pieces of bamboo, knife sharp, dipped in human waste and stuck in the ground. If you fell on these, you’d die of a wound to a vital organ, or bleed to death, or at least die of infection if you were not killed outright. Across this ditch was a log that one had to balance across to gain entry to the camp. Inside the walls were many bamboo cages that housed the prisoner population. There were South Vietnamese military, there were indigenous mountain people referred to as Montagnards or Mountainyards who had allied with U.S. Special Forces, and there were two Americans, myself and another helicopter pilot, Wayne Finch, captured a month earlier. At least a couple hundred prisoners altogether.

Conditions in this camp were deplorable. We lived like animals. We were kept in cages, most of which were not tall enough to stand up in. That wasn’t necessary anyway, because they kept our feet in wooden stocks. With my broken back, I could not lie back; so I slept sitting up. And every night rats scurried through the cages and nibbled on my ankle wounds, and I couldn’t move my feet in the stocks, and couldn’t keep them away, and I hate rats to this day. The only time we got out of these cages was for a daily toilet call at the camp latrine. The time never seemed to be the same on any given day, and if a prisoner’s internal schedule could not wait for the appointed time (many suffered dysentery) then he went all over himself in the cage. When they did let us out, it was a walk to the “facility” in one corner of the camp. On my first visit, I discovered that the latrine was a couple of holes in the ground that you squatted over to relieve yourself. Problem was that many of the sicker prisoners were not able to hold themselves until getting all the way to the holes, and left their waste in piles all around that area. Some of the very sickest prisoners, near death, were placed in hammocks right next to the latrine, and they would either lay there and soil themselves, time after time, or roll out of their hammock, if they could, and take a couple of steps and go there on the ground. The result was a substantial accumulation of human waste all around the holes that were the latrine. Those able to control themselves were forced to walk through that waste field and squat over the holes. On return to our cages, we had no way to clean ourselves.

I don’t remember water being a problem. It was delivered in pieces of bamboo, and there seemed to be sufficient quantities. It was supposedly boiled, but I still came down with bloody dysentery. Food was a problem. Our diet was almost exclusively rice. We’d get one grapefruit sized ball mid-morning, and another mid-afternoon. Occasionally, we’d get the treat of a tuberous root called manioc. It is very much like (and may be the same as) yucca in Latin American countries.

My weight went from around 190 pounds to something around 120 in just a few weeks. I was skin hanging on bone with beard that grew very long over time. I did not shave for over five months. And I received no medical attention at all. And no one fared any better. The South Vietnamese next to me in my cage had a severe chest wound that had been bandaged long ago, but I never saw the dressing changed, and the hole in his chest wall was never repaired. He was young and strong, but I’m certain he did not survive. We lived like animals, and under these filthy, starvation conditions, without medical care, it seemed that someone died almost every day. The bodies would be carried out and buried on a hillside just outside the camp.

On July 2, 1972, I was taken outside my cage and lined up with a group of prisoners. There were about 25 South Vietnamese and one other American, Wayne. I would soon learn that one of our group was a pilot who had been shot down the same day I had, in an A-1 Skyraider at Polei Klang. The very same Vietnamese pilot I’d asked to go rescue, but been refused. His name was Lieutenant Xanh. I would never forget his name. Never. We were addressed by the Communist camp commander and told that we were going to travel to a new camp, a better camp, a place where we’d get better food and medical care; where we’d get mail and packages from home. He said the trip could take as long as eleven days, and that we should try hard to make it. I envisioned another jungle camp, somewhat better situated, staffed, and supplied, somewhere not too distant in northern Cambodia, or just across the border in Laos. The comment about trying hard to make it did not register in my mind at all – until some days later. I set out barefoot with all of us tied loosely to one another.

After a few days, we’d no longer be tied because we all struggled to just keep moving forward. I was weak from malnutrition, sick with untold disease, and suffering from wounds that were infected and worsening with the aggravation of the journey. I soon began to become plagued by more leaches, on top of everything else. They’d suck blood and cause infections of their own. I must have been a site. Lieutenant Xanh was there suffering the same conditions, fighting his own personal demons, that every step of the way, threatened to destroy your physical ability, or derail your mental willingness to continue. And if you did not continue to march, you would die. In normal life, you have to take some overt action to die. You have to kill yourself. As a prisoner of war, under these circumstances, that truth is reversed. You have to reach deep within yourself and struggle each day to stay alive. Dying is easy. Just relax, give up and peacefully surrender, and you will die. Many did. They died in that first jungle prison camp, and they died along the trail. Some would complete a day’s journey and then lie down to die. Others collapsed on the trail and could not continue.

The group would be marched ahead, a rifle shot or shots heard, and the pitiful suffering prisoner was not seen again. We lost at least half a dozen of our small band of 27 captives, and by the time the journey was over, Wayne Finch, the other American in our group, would be dead as well. The trip turned out to be not an eleven day hike to a new camp in the same vicinity as the one we’d departed. It turned out to be a journey lasting over a three months, taking us several hundred miles all the way up the Ho Chi Minh Trail into North Vietnam and then on to the capital city of Hanoi. It was a nightmare, a horrid soul wrenching nightmare. Every step, every day wracked my body with pain. My infections became worse; disease settled in me. I was near death. My leg swelled at least double in size, darkened in colour, filled with puss. It swelled so much, long cracks formed in the skin and puss and bloody stinky fluid oozed from the cracks. I drug my leg like a pendulous sodden club, and its every movement lashed my whole being with the most searing pain; pain that kept my face contorted and a cry shrieking within every corner of my consciousness; pain that was burning a blackened scar deep into the centre of my very being.

My bloody dysentery worsened, and I got three different kinds of malaria and several intestinal parasites. And I hovered near death as I tried to reach the end of each horrible day’s journey of eight to ten awful, grueling miles. Each morning I’d begin a personal battle to stand and loudly moan or scream to myself through clenched teeth and pressed lips, as blood ran into my leg and brought a surge of new pain as gravity pulled blood and bodily fluids down into the carcass of leg and pressure grew against decaying flesh and failing vessels. And there was Lieutenant Xanh, suffering badly himself, but always encouraging me, always helping as he could. We’d eat a paltry morsel of rice for dinner, and he’d tell me this was not how Vietnamese ate. There were many fine foods in Vietnamese culture. A Vietnamese meal was a delight. Don’t judge the cuisine by what we were given to eat. I believed him, and did not. And he was right, of course. I tried to maintain a sense of humor. It was hard, but it was necessary. Your spirit is the most important factor in survival, and a sense of humor, even under the very worst conditions, helps maintain spirit, and in spirit lives hope. And again, Lieutenant Xanh helped. He was always concerned about me, and did all he could to help me remain positive, to be hopeful. As bad as things got, I never gave up hope, not even the day I would have died had it not been for Xanh. I mustered all my will each day just to wake, stand, and take a step. Then I fought hard for the remainder of the day to just keep going, to keep moving along the trail. I could barely walk, but somehow I continued, and survived each day, to open my eyes in the morning to the gift of one more dawn.

On the worst day of my life, I fought so very hard. I faltered. I dug deeper. I staggered on. I faltered again, and I struggled more, and I reached deeper yet, and I prayed for more strength. And I collapsed, and I got up and moved along; and I collapsed again, and again; and I fought, fought with all I had in my body, my heart, and my soul. And I collapsed, and I could not get up. I could not will myself up. I was at the end of my life. And the enemy came; the guard looked down on me. He ordered me up. He yelled at me. I could not. It was done. And then there was Xanh. Looking worried; bending toward me. The guard yelling to discourage his effort. He persisted in moving to help me. The guard yelled louder. Xanh’s face was set with determination, and in spite of whatever threats the guard was screaming, Xanh pulled me up onto his frail, weak back, pulled my arms around his neck and clasped my wrists together, and pulled me along with my feet dragging on the ground behind him. Xanh drug me along all the rest of that day. Occasionally, he was briefly relieved by another prisoner, but it was Xanh who carried the burden that day. It was Xanh who lifted me from death, at great risk to his own life, and carried me, and cared for me, until we completed that long day’s journey.

The next morning, I went through the normal agonizing ritual of waking up, and standing, and dragging my leg through those first determined steps. It was more of a struggle than ever before. I mustered the will, and I went on. At the edge of the encampment was a broad log that spanned the rapids of a river. I started across, tried to balance. Pain awful, very weak, equilibrium gone. No sense of balance, worthless leg is throwing me off; begin to slip off the side of the log, then falling onto the rocks in the rushing water below. Xanh and Wayne moved back off the log and came to my rescue. They pulled me from the river and onto the bank. They pleaded for the group to remain at this camp until I was able to travel again. They were ordered away. They would not leave me. They were drug away and forced across the log bridge at gunpoint. And they were marched away with the rest of our prisoner group. I never saw Xanh again.

As far as my fellow prisoners knew, I was left at that camp to die, as others had been. But for some reason, the Communists decided to give me penicillin injections for several days. I began to show some improvement. After a time, I was able to stand, and as soon as I was able to walk again, I was put back on the trail, this time traveling with groups of North Vietnamese soldiers moving north, and accompanied by my own personal guard. It continued to be an agonizing trip, but the worst was behind me. I even found the opportunity to escape once when I got one turn ahead of my guard on the jungle trail. But he quickly tracked me down, and once he decided not to shoot me in his rage, he recaptured me, and the journey continued.

Eventually, I joined with another group of South Vietnamese prisoners as we entered North Vietnam. I was still in pretty bad shape, and very much appreciated this group of South Vietnamese prisoners who helped me continue my awful march north. One in the group became a special friend, to whom I also owe my life. He is Lieutenant Colonel Ke Nghiem. Ke had secreted a gold Cross pen away in the lining of his uniform, for use to gain him some future advantage during his captivity. Instead, at one point when I was very ill with malaria, he traded the pen for six potatoes and then ensured they were prepared and fed to me, one each day. Ke also became my motivator and mentor in the ways of surviving in this beautiful, but hostile land. My journey continued painfully, agonizingly, but ultimately I reached Hanoi. There I went into North Vietnam’s prison system, and ended up at the infamous Hanoi Hilton from where I was released at the end of the war.

I inquired about Lieutenant Xanh after I returned to the United States. I could not find any information. I asked Vietnamese military students attending U.S. Army courses. No one could find any information. After the fall of South Vietnam in 1975, I intensified my search. No information. After several years, I was reunited with one former member of my first group of South Vietnamese prisoners, Tang van Pham, and also one from the second, Ke Nghiem. They sought information for me. First nothing, and then word that Xanh had been re-imprisoned after the fall of Saigon, and then the conclusion that he’d probably died after years of imprisonment. But I still hoped to find some information about what had happened to Xanh and maybe a little about him and his family. I’d done internet searches in recent years, always with no luck. Then a few weeks ago, I tried again. I stumbled onto a site for pilots who’d flown A-1 Skyraiders in the Vietnamese Air Force, some from Xanh’s old unit. I dropped a note to the webmaster, and within days found myself in e-mail contact with Xanh, and then a phone call – the first time we’d spoken in 35 years. I then saw Xanh a short time later in an emotion filled reunion in Southern California. I met his wife and spent two wonderful days sharing stories, good food, and enjoying each other’s company. At our first encounter, I looked upon an older man, but instantly I saw the soul of my beloved friend in his eyes. I’d not seen him since I watched him forced across that log and marched away, knowing that I owed him my life; what there was left of it. But there in the jungle, I made a promise to myself and to Xanh. Since he’d worked so hard to help me live through those two toughest days of my life, I felt like I owed him my very best to try to do my part to make his efforts worthwhile – to survive the rest of my journey and somehow get home at the end of it. What he’d done for me saved my life, and Xanh’s selfless actions gave me even more determination to overcome everything between me and the freedom that waited at the end of my captivity. Xanh Nguyen has always been a great man, and now he is a great American. I am so thankful he was my friend when I needed him, and I am grateful I have found my friend again.

William S. Reeder, Jr., Ph.D. Colonel, U.S. Army (retired)

Quân lực Hoa Kỳ có thêm một thiếu tướng gốc Việt

07/08/2020

VOA Tiếng Việt

Tân Thiếu tướng gốc Việt William Seely III tuyên thệ lại lễ trao quân hàm hôm 31/7/2020 tại căn cứ không quân MacDill, Florida. Photo Twitter USMARCENT

Ông William Seely III, một quân nhân được sinh ra từ Chiến tranh Việt Nam và sau này trở thành người lãnh đạo một cuộc chiến do Hoa Kỳ dẫn đầu chống lại ISIS, vừa được thăng quân hàm thiếu tướng và nhận nhiệm vụ mới. Hôm 31/7, Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ tham gia Bộ Tư lệnh đặc trách vùng Trung đông (USMARCENT) viết trên Twitter: “Xin chúc mừng Chuẩn tướng William Seely. Hôm nay Chuẩn tướng William Seely được thăng quân hàm tại buổi lễ được tổ chức ở tổng hành vinh của USMARCENT ở căn cứ không quân MacDill, bang Florida.”

Thiếu tướng Carl Mundy, Tư lệnh USMARCENT, gắn quân hàm cho tân Thiếu tướng gốc Việt William Seely, ngày 31-07-2020. Photo Twitter USMARCENT.

Theo thông tin trên Twitter của ông Seely, buổi lễ thăng quân hàm được tổ chức trực tuyến do nữ Thiếu tướng Loretta Reynolds, Phó Tư lệnh Truyền thông của Quân chủng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, và Thiếu tướng Carl Mundy, Tư lệnh USMARCENT, làm chủ tọa.

Ngay sau khi được thăng quân hàm, tân Thiếu tướng Seely hôm 3/8 được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng trường sĩ quan The Joint Forces Staff College (JFSC) tại Norfolk, bang Virginia.

Ông phát biểu tại buổi lễ bổ nhiệm được phát trực tiếp với sự hiện diện của phu nhân Nhung Ho Seely và hai con, một trai, một gái: “Tôi trân trọng cảm ơn cộng đồng người gốc Việt đã ủng hộ tôi trên con đường binh nghiệp.”

Thiếu tướng William Seeky và gia đình, ngày 31/07/2020. Photo Twitter USMARCENT

Với hơn 30 năm phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ, ông Seely được Tổng Thống Donald Trump đề cử thăng quân hàm thiếu tướng, theo tuyên bố của Bộ Trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Mark Esper ngày 14/01/2020. Đề cử thăng quân hàm của ông được Thượng viện chuẩn thuận vào ngày 20/03/2020.

Trước khi được đề cử, từ 07/2019, ông Seely là người đứng đầu lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ tại Iraq trong nỗ lực tiêu diệt phiến quân khủng bố do Nhà nước Hồi giáo (ISIS) lãnh đạo. Được biết ông đã tham gia chiến trường Iraq 6 lần và từng là giám đốc tình báo Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Ông Seely là quân nhân Thủy quân Lục chiến gốc Việt đầu tiên của Hoa Kỳ được phong cấp chuẩn tướng vào tháng 6/2016. Trang báo mạng Communities Digital News cho biết ông Seely sinh ra tại Sài Gòn trong Chiến tranh Việt Nam. Trang này viết: “Cha ông là một nhà thầu xây dựng phi trường Cam Ranh và Đà Nẵng, và gặp mẹ ông ở Nha Trang.” Trang CDN viết: “ông được sinh ra từ cuộc chiến để lãnh đạo một cuộc chiến!”

Thiếu Tướng Thuỷ Quân Lục Chiến Gốc Việt William Seely

vnchtoday.blogspot.com

Posted by Thoi Chinh Chien at 7:24 PM 

Theo bản tin từ USMC lễ gắn lon của tân thiếu tướng William Seely diễn ra vào lúc 11 giờ sáng hôm nay ngày 31 tháng 7 năm 2020 tại MacDill Air Force Base Florida. Do hoàn cảnh đại dịch nên buổi lễ chỉ có gia đình và những tướng lĩnh cũng như quân nhân có trách nhiệm dưới sự chủ toạ của trung tướng Loretta Reynolds. Hai con của ông được hân hạnh gắn lon lên vai áo cha mình .

Thiếu tướng William Seely là con trai của một cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến trên chiến trường Việt Nam và thân mẫu là người phụ nữ Việt Nam đã cùng chồng trở về Mỹ sau cuộc thảm sát mậu thân 1968 lúc đó ông vừa tròn một tuổi. 

Thiếu tướng William Seely đã có hơn 30 năm trong cuộc đời binh nghiệp . Ông tốt nghiệp trường Wooster School, một trung học tư thục ở Danbury, Connecticut, vào năm 1985, vào học đại học American University ở Washington, D.C., và tốt nghiệp cử nhân ngành quan hệ quốc tế.
Sau đó, ông gia nhập Thủy Quân Lục Chiến, được gởi đi học tại đại học George Washington University, Washington, D.C., qua chương trình sĩ quan hải quân trừ bị (NROTC) vào năm 1989.
Kế đến, ông được gởi đi học tại các đại học Oklahoma State University, National Intelligence University, và Naval War College, và đậu bằng cao học.
Trong thời gian học cử nhân và cao học, ông còn học các khóa huấn luyện về sống sót, nhảy dù, đổ bộ, do thám, lặn, vũ khí và chiến thuật, và tình báo tại các đại học về chỉ huy và chiến tranh.

Trong công tác chỉ huy, từ năm 1990 đến năm 1992, ông là trung đội trưởng trung đội truyền tin Đại Đội H&S, thuộc Tiểu Đoàn Do Thám 3.
Từ năm 2000 đến năm 2002, ông là đại đội trưởng Đại Đội India, thuộc Tiểu Đoàn Hỗ Trợ Truyền Tin ở Kunia, Hawaii.
Từ năm 2006 đến năm 2008, ông Seely là tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Do Thám 3, thuộc Sư Đoàn 3 Thủy Quân Lục Chiến.
Từ năm 2011 đến năm 2013, ông là chỉ huy trường huấn luyện tình báo và chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.
Từ Tháng Sáu, 2016, đến Tháng Năm, 2017, ông Seely là giám đốc tình báo Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ.

Tháng Bảy, 2019, ông được điều động làm chỉ huy Lực Lượng Đặc Biệt tại Iraq cho đến nay. Ông đã tham gia chiến trường Irag 6 lần . Nhiệm vụ cuối cùng của ông là Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm tại Irag . Đây là một chiến trường nguy hiểm và tướng William Seely đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ tối quan trọng được giao phó và tiêu diệt được hầu hết các phiến quân khủng bố .
Có thể nói rằng Thủy Quân Lục Chiến là một binh chủng thiện chiến và việc thăng cấp lại càng khó khăn hơn . Tướng William Seely có tài thao lược và là cấp chỉ huy giỏi với tinh thần Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm . Nhiệm vụ mới của ông sẽ được bàn giao vào thứ hai ngày 3 tháng 8 và có thể xem trực tiếp tại đây: 
https://livestream.com/ndulivestream/cor080320
Nguồn: FB Destiny Nguyen

Điều chưa kể của một thương phế binh VNCH

TUẤN KHANH

VĂN HÓA – VĂN NGHỆCHUYỆN XƯA CHUYỆN NAYNEWSLETTER 1

Last updated May 1, 2021

Câu chuyện hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương chống nạng bước ra khỏi Tổng Y Viện VNCH hay bị hỏi là “sao biệt động quân mà mặc đồ bộ binh”. Tại ngôi nhà của mình ở Chơn Thành, Bình Phước, đúng buổi trưa 30 tháng Tư, đủ 46 năm kỷ niệm đó, ông Dương nhớ lại, cười ngất “Lúc đó bị chĩa súng đuổi ra, ai quơ được bộ đồ nào mặc được là lo bận đi ra, còn sợ tụi nó không vui bắn luôn nữa chớ”.

Hạ sĩ nhất, Biệt Động Quân VNCH, ông Võ Phùng Dương

Ông Dương về nhà, và lại trải qua 5 năm tù với cái chân cụt của mình. Do ông nghĩ mình là thương phế binh nên không cần tập trung làm gì, thế nhưng ông bị áp giải mang đi vì tội “ngoan cố không trình diện”. Lúc vào ở trại tù A20, ông có hỏi cán bộ là mình bị án bao lâu, viên cán bộ quản trại nhếch mép “20 hay 30 năm… tùy theo thái độ hối cải của các anh”.

Quay trở lại nhà vào cuối năm 1979, ông mới hay nhà của ông bị trưng thu, anh chị em, cả mẹ già… đều đi kinh tế mới ở Bình Phước. Hỏi ra mới biết là quân quản khu vực đến nói là nên đi kinh tế mới để ông được ra trại, bị giam 2 năm thôi. “Tụi nó gạt để lấy nhà, chứ chính tụi nó cũng không biết khi nào chú được thả về”, ông Dương kể.

Từ đó, ông Dương sống bằng nghề cạo mủ cao su cho một chủ đất. Công việc ngày qua ngày và được ông chủ thương, giúp cất cho cái nhà kề bên. Cuộc sống của ông Dương chọn Bình Phước làm chỗ trú thân, không muốn bị phiền nhiễu bởi thế sự nữa.

Danh sách cải táng đồng đội do ông Dương ghi chú lại.

Dựng mộ cho đồng đội

Thế rồi một ngày khi không quá khó khăn, ông Dương chợt nhớ đến đồng đội của mình, đặc biệt là những người đã nằm lại ở Bình Long năm 1972. Ông gom góp tiền bạc và đi đến An Lộc, mua một rẻo đất nhỏ, đi bốc mộ, tìm hài cốt đồng đội theo trí nhớ… tập hợp về chung ở nơi mà ông gọi tên là nghĩa trang An Lộc.

Có cả thảy 81 ngôi mộ như vậy nằm ở đó, ông Dương chi tiết lập bản đồ, tên họ những ai còn ghi lại được để hy vọng sau này thân nhân tìm tới, dễ nhận ra hơn. Công việc của ông kéo dài từ năm 2012 đến năm 2013 thì hoàn thành tương đối. Công việc khởi đầu thì lặng lẽ nhưng sau đó thì có thêm người biết, cùng bắt tay nhảy vào tiếp sức với ông. Danh sách những quân nhân ở nghĩa trang này được ghi lại với nét chữ nắn nót: “Tui ít học lắm, không có giỏi chữ nghĩa đâu”.

“Tui nhớ trận đó dữ lắm, năm 1972 mà. Ác liệt vô cùng. Phải nói là đánh như xi-nê luôn”, ông Dương nói.

Theo Quân sử, An Lộc là địa bàn quân sự chiến lược tối quan trọng đối với Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vì đây là cửa ngõ Tây Bắc ngăn chận quân Bắc Việt tiến về Thủ đô Sài Gòn sau khi quận lỵ Lộc Ninh rơi vào tay họ ngày 7 tháng 4 năm 1972.

Trận An Lộc là trận then chốt mà phía Hà Nội tin chắc là sẽ thắng, nên khi đó, bà Nguyễn Thị Bình, trưởng đoàn đàm phán của Mặt trận Giải phóng miền Nam (cờ nửa xanh nửa đỏ) mạnh miệng tuyên bố chỉ trong vòng 10 ngày nữa An Lộc sẽ là thủ đô của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Chính vì vậy mà có đến 7 đợt tấn công (kể từ ngày 13-4) không ngừng phía Bắc, để cố chứng minh cho lời tuyên bố nói trên.

Thế nhưng, trong cuộc đánh chặn và đối diện cả hai đợt tấn công dữ dội của phía Bắc Việt phối hợp với Mặt trận Giải phóng miền Nam, quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng vẻ vang và tuyệt đối, trong đó, có sức trẻ của ông Dương, và sự hy sinh của nhiều bạn bè ông.

Quân sử ghi, phía cộng sản tấn công trực tiếp thị xã An Lộc có Sư đoàn 9, 2 trung đoàn pháo binh 28 và 42, 4 tiểu đoàn pháo phòng không và tiểu đoàn tăng thiết giáp 20, về sau tăng cường thêm tiểu đoàn tăng thiết giáp 21. Tham chiến ở vòng ngoài là Sư đoàn 5, 7 và Đoàn C30B. Kéo dài nhiều ngày, phía cộng sản thoái lui, chấp nhận thất bại. Dòng tin ngắn gửi về Hà Nội, sau này được tiết lộ, là “25 xe tăng thì đến 18 chiếc bị bắn cháy hoặc hư hại nặng”.

Trung tướng Nguyễn Văn Minh của Việt Nam Cộng Hòa, khi tiếp xúc với báo chí tại Lai Khê ngày 31 tháng 5/1972 đã mô tả trận chiến này là trận đánh khó khăn nhất và dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông. Ông tuyên bố: “Cộng sản đã đạt được một lợi thế ngay từ đầu với quân số đông gấp bốn lần, và quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã phải chấp nhận khá nhiều tổn thất. Tuy nhiên, sau 54 ngày giao tranh, Cộng quân đã thiệt hại ít nhất là 30.000 bộ đội trong tổng số 4 sư đoàn. Mưu đồ của Cộng sản mong tiến đánh thủ đô Sài Gòn đã hoàn toàn bị chặn đứng tại An Lộc”.

Vị trí phân lô đất cải táng hài cốt quân nhân VNCH

Chính tay ông Dương chôn cất những đồng đội mình ở nơi vùng đất giao tranh đó. Thỉnh thoảng có người từ hải ngoại về tìm thân nhân của mình tại An Lộc, được ông Dương giúp đỡ, có ghi lại tin tức cám ơn hoặc nhắc về ông. Nhưng đó cũng là những lúc công an địa phương đến “làm việc” với ông về việc tập kết thành một nghĩa trang nhỏ như vậy. “Tụi nó rầy rà lắm, nhưng riết rồi chú cũng quen vì mình cũng làm một mình chứ có băng nhóm gì đâu, vả lại, chuyện đã lâu rồi”, ông Dương bồi hồi nhớ, “cũng may sao trời xui đất khiến khi đó mình làm, ít ai để ý, mà chính quyền địa phương cũng cho qua, chứ không biết bây giờ làm thì có được vậy không”.

Điều làm chúng tôi bất ngờ là câu chuyện cải táng 81 nấm mộ đồng đội đó của hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương không phải là câu chuyện ông định kể, mà bất ngờ bật ra khi chúng tôi hỏi han về thời đi lính của ông, vào lúc chuẩn bị chia tay ra về.

“Tui thấy mình còn sống được, anh em thì chết hết rồi, nên thôi thì quy tập lại cùng nhau. Tình thương, tình đồng đội thôi mà, khi mấy ông công an hỏi, tui cũng chỉ biết nói như vậy”, ông Dương nói đến đây, là lúc giọng ông chùng xuống, buồn buồn. “Lúc sau này người thân của của các hài cốt đến quay phim, đưa lên mạng gì đó, nên công an biết, đến nói này nói nọ, kiếm chuyện với tui…”, ông bật cười, đời ông tới nay, 68 tuổi, vẫn chưa quen biết làm quen với mạng xã hội hay smartphone.

Chia tay chúng tôi, đưa ra tới tận cửa, ông bước đi với dáng khỏe mạnh và tự tin, dù một bên là chân gỗ. Người cựu quân nhân VNCH khiến chúng tôi, trên đường về, cứ im lặng suy nghĩ điều ông nói. Khi hỏi về tâm trạng của ông là một thương phế binh VNCH, và cũng bị nhà nước hiện thời đối xử với định kiến, liệu ông có mặc cảm là một kẻ thua trận không? Ông Dương bật cười lớn sảng khoái “Người ta đầu hàng chứ tụi tui có nói mình đầu hàng đâu? Không đầu hàng thì sao gọi là thua?”.

Đi tìm nhân vật trong bức ảnh lịch sử

TUẤN KHANH

VĂN HÓA – VĂN NGHỆCHUYỆN XƯA CHUYỆN NAYNEWSLETTER 6

Last updated May 1, 2021

Người lính VNCH Võ Phùng Dương và bức ảnh lịch sử

Những ai đã từng nhìn qua những hình ảnh về cuộc chiến tranh Việt Nam, chắc cũng có lúc đã bắt gặp hình ảnh một người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đang bị thương tật, bị đuổi ra nơi chữa trị của mình là Tổng Y Viện Việt Nam Cộng Hòa vào chiều ngày 30-4. Tấm hình nhỏ không có nhiều sự thuyết minh nhưng chỉ với ánh mắt của người thanh niên đau đớn, mệt mỏi đang chống nạng bước đi, đã là sự ám ảnh không lời đến tận cùng. Trong bộ quân phục có vẻ mặc vào vội vã, anh lính VNCH đó bước đi và lọt vào khung hình, trở thành một dữ liệu giằng xé im lặng, như một vết thương không bao giờ lành về một câu chuyện có thật: Những người thương bệnh binh bị chĩa súng, đuổi ra đường, ngay sau khi quân bộ đội Bắc Việt tràn vào Sài Gòn.

Nhiều năm trôi qua, người ta vẫn tự hỏi, người lính ấy còn sống không, giờ này người đàn ông ấy ra sao…?  Như mọi tấm ảnh trắng đen khác của những ngày tháng 4-1975 làm nhức nhối người xem – kể cả thế hệ chưa bao giờ trải qua ngày tháng đó – câu hỏi đó chất chứa với muôn vàn điều u uẩn trong lòng.

Với đôi chút thông tin vặt, chút hình ảnh và luôn dò hỏi… thật bất ngờ là đúng vào Tháng Tư, của 46 năm sau, sự có mặt của người lính ấy bỗng bất ngờ hiện ra trong cuộc tìm kiếm nhiều ngày của chúng tôi – những người miền Nam thế hệ hôm nay. Thật kỳ diệu: Ông vẫn còn sống, hiện ở Chơn Thành, Bình Phước.

Người lính ấy, hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương, Số quân: 74/145 811, KBC: 3506, Tiểu Đoàn 52, Liên Đoàn 3, Biệt Động Quân, vẫn im lặng tồn tại non nửa thế kỷ qua nhiều biến động của cuộc đời. Thật khó nói đó là những điều đắng cay số phận hay kiên cường cao quý của ông: Khi gặp, ông vẫn giữ được nụ cười bình dị, hiền lành và kiểu trò chuyện chơn chất khi tiếp chúng tôi tại ngôi nhà nhỏ của mình.

Đi tìm một ánh mắt câm lặng

Suốt đoạn đường dài từ Sài Gòn tìm đến nhà của ông Dương, chúng tôi chia nhau nhìn lại tấm ảnh về người lính trẻ (lúc ấy, ông chỉ mới 22 tuổi) khi bị đuổi ra khỏi giường bệnh và cố lết đi về nhà ở Quận 4, Sài Gòn, trong một buổi chiều nghiệt ngã của đời mình. Không ai trong chúng tôi tin được, người sắp gặp mặt, đó lại là một chứng nhân của sự kiện, lại là một nhân vật nổi tiếng từ bức ảnh luôn được chia sẻ trên các trang mạng, bản tin quốc tế, đặc biệt vào mỗi Tháng Tư.

Con đường dẫn vào nhà ông Dương im vắng đến lạ, nắng gắt oi bức đuổi theo mọi nơi. Đến con chó của nhà gần đó, nằm trong bóng râm cũng mệt mỏi nhìn chúng tôi mà không buồn sủa. Nhiều năm trước đó, khu vực này xác xơ, khốn khó và được gọi là vùng kinh tế mới.

Ông Dương có lối nói chuyện thuần chất nông thôn miền Nam, dễ làm người đối diện gần gũi, tạo nên sự cảm mến tức thì. Ngồi với nhau chỉ vài giờ đồng hồ, mà tưởng chừng như ai nấy đã thân thiết lâu rồi. Mỗi khi cao hứng lúc kể chuyện quá khứ, ông bật cười lớn, và nhất là khi kể về ngày tháng cũ, có lúc ông phấn chấn, lớn giọng mô tả không chút e ngại.

“Người chụp tấm hình đó, là bạn của chú, cũng bị đuổi từ Tổng Y Viện ra, ảnh tên Lài. Sẵn tay đang cầm cái máy Kodak, ảnh kêu tên chú rồi chụp luôn. Không ngờ tấm hình đó sống dai vậy”, ông Dương cười buồn, và nói rằng giờ cũng không biết Lài ở đâu, còn sống hay đã chết với những ngày tháng cam go không thua gì như cuộc chiến, sau cái Tháng Tư đó.

Buổi chiều ngày 30-4-1975, khi mọi người đang nằm trên giường bệnh, khắp nơi cứ mỗi lúc tràn về những tốp thương binh mới, nằm chật cả lối đi, chen chúc nhau ở mỗi phòng. Dù là ngày cuối cùng của cuộc chiến, đã có lệnh đầu hàng từ trưa, nhưng có vẻ giao tranh vẫn không dứt hẳn. Có những người được đưa vào với vết thương mới, tuôn máu không ngớt. Bất ngờ, tràn vào khắp ngõ trong Tổng Y Viện là những nhóm lính quân phục miền Bắc, súng AK chĩa lăm lăm, đằng đằng sát khí, lên giọng quát.

“Họ nói sao khi đuổi mọi người, kể cả những người vừa mới mổ xong, phải ra bệnh viện?”, ông Dương cười, suýt bật thành tiếng chửi thề, “Họ nói giọng Bắc, kêu đ*t mẹ chúng mày cút ra hết”. Theo lời ông kể, người ta hình dung rằng đây là một chủ trương có tính toán chứ không phải là ngẫu hứng từ viên chỉ huy cực đoan nào đó. Bởi theo lệnh phát đi và nòng súng hướng dẫn, những người thương bệnh binh VNCH đó phải nhanh chóng tựa vào nhau đi ra bằng ngõ sau và những ngõ phụ, chứ không phải là cổng chính, Mục đích rất rõ là không muốn tạo sự chú ý với dân chúng, hay để cho giới phóng viên nước ngoài còn trụ lại Sài Gòn có thể ghi hình được.

Ông Dương lúc đó, chỉ còn một chân, cố chống nạng đi. Vết thương đó, ông nhận vào tháng 2 năm 1975, trong một trận tử thủ ở ngay Bình Phước. Xe tăng bộ đội Bắc Việt tràn vào với biển người nhưng vẫn bị 3 tiểu đoàn đã tơi tả của phía ông chận lại. Lúc đó, quân VNCH chỉ còn lại những thành phần tử thủ, nhiều người đã bỏ đi, súng đạn không còn nhiều. 3 tiểu đoàn mà ông Dương có mặt, quyết cầm cự mặt trận trong lòng đô thị chỉ còn hơn khoảng 500 người. Trong khi đó, ráo riết tiến công để dứt điểm, tin cho biết 3 sư đoàn của Bắc Việt áp sát với đủ các loại hỏa lực yểm trợ.

“Bây giờ kể lại, mới thấy ngày đó những lính trẻ tụi tôi đánh dữ dằn ra sao. Riêng phía Biệt Động Quân tụi tui thì được huấn luyện chiến đấu trong lòng đô thị, trong khi đó, quân Bắc Việt sau khi ra khỏi rừng thì mất lợi thế do không biết địa hình, nên dù mạnh hơn, nhưng nhiều đợt xông lên đều bị chúng tôi đánh chặn, bắn cháy cả loạt xe tăng đi đầu”, ông Dương cười ha hả, nói. Ngay vào lúc giằng co không phân thắng bại ấy, thì đột nhiên có lệnh rút quân. Thế trận vỡ ngay từ lúc đó. “Chính vì khi chuyển thế rút quân, tui mới bị đạn 12.7 bắn ngay chân, nát mọi thứ”.

Ông Dương được chuyển về Tổng Y Viện, và cắt chân ngay vì sợ hoại tử, cũng như không thể cứu chữa gì được. Từng ngày, ông cảm nhận được sự sụp đổ của Sài Gòn đến khi thấy thêm thương bệnh binh nhập vào, mà các nơi đánh chặn thì mỗi lúc càng gần Sài Gòn hơn.

Ông Dương đi lính từ năm 1971, và tham gia nhiều trận ở An Lộc, Long Bình… những năm tháng đó khi cùng đồng đội chia lửa ở mọi trận tuyến, dù thế nào đi nữa, ông đã có một phía chọn lựa của mình rõ ràng, không hề nao núng, đó là một nước VNCH tự do của mình, nơi đó, có anh em, có cha mẹ, ngôi nhà… mà ông phải bảo vệ.

“Vì sao có những người đã bỏ chạy, nhưng sao chú và những người lính khác vẫn tiếp tục trụ lại?”, ông Dương không thể giải thích hết bằng ngôn từ đơn giản của mình, ông thoáng suy nghĩ và tả rằng, “Là nghĩ tới cái chết. Mình thua thì mình cũng sẽ bị bắn chết, thôi thì chiến đấu để chết ngay ở mặt trận, phải tốt hơn là bị quỳ rồi bị chĩa súng bắn, đúng không?”.

Dĩ nhiên, ông Dương tóm tắt vậy. Nghe cũng không có gì là quá đặc biệt, nhưng đằng sau đó, đó chính là trùng trùng khí chất của hàng hàng những quân nhân VNCH trong cuộc chiến: Nghĩa vụ, tổ quốc và danh dự nằm trong máu và trái tim, sâu và chân thành đến mức không thể hoa mỹ ngôn từ. Sâu đến mức đã có người mỉm cười tuẫn tiết khi thất trận, mạnh mẽ đến mức có người đã dõng dạc kết tội  kẻ kết liễu mình bằng tuyên ngôn của nền tự do bị tước đoạt.

Và rồi vào buổi trưa ngày 30, đang nằm trong Tổng Y Viện, đột nhiên mọi người nghe tin đầu hàng từ Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Dương và nhiều người nữa, kêu “trời ơi” và chết lặng. Đằng sau lời đầu hàng đó, là một đại diễn biến khác, dù không hình dung rõ được, nhưng những người lính đó biết chắc rằng sẽ không thể có bình yên như những bài hát và lời kêu gọi tình anh em trên đài phát thanh của đạo quân vừa tiến vào Sài Gòn. “Đ.mẹ, gì đầu hàng, kỳ vậy?”, ông Dương kể mình la lên như vậy ở phòng bệnh. Có người cũng thảng thốt như ông.

Nữ sĩ Lê Thị Ý-Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi

Apr 29, 2021 cập nhật lần cuối Apr 29, 2021

Kalynh Ngô/Người Việt

FALLS CHURCH, Virginia (NV) – Mỗi khi Tháng Tư đến, những câu chuyện về người lính Việt Nam Cộng Hòa lại cuồn cuộn tuôn chảy trong ký ức của những ai đã đi qua cuộc chiến. Trong đó, hình ảnh người góa phụ, hay một cô gái có yêu tử trận, trong cuộc chiến Việt Nam, trong ca khúc “Tưởng Như Còn Người Yêu,” do Phạm Duy phổ nhạc từ bài thơ “Thương Ca 1” của nhà thơ Lê Thị Ý, sau hơn nửa thế kỷ, vẫn còn gây nhiều xúc động cho mọi người.

Nữ sĩ Lê Thị Ý, tác giả bài thơ “Thương Ca 1,” mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.” (Hình: Kalynh Ngô/Người Việt cung cấp)

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình…”

Một cuộc đời bình lặng

Cuối Tháng Ba, trời Virginia vẫn còn se lạnh. Người phụ nữ với vóc dáng nhỏ bé, khoác chiếc áo lạnh vừa người, bước vào quán. So với cuộc gặp gỡ chớp nhoáng sáu năm trước, bà, nữ sĩ Lê Thị Ý, không thay đổi nhiều. Vẫn mái tóc đơn giản đó, vẫn nụ cười hiền lành, vẫn giọng nói thấm đậm âm hưởng của người Hà Nội “một ngày năm bốn, cha bỏ quê xa.”

Như hàng triệu người Việt Nam khác, bà là nhân chứng trong hai cuộc di tản vĩ đại của dân tộc. Nhưng nếu ai có hỏi, cuộc “chạy trốn” nào để lại trong bà nhiều dấu ấn nhất? Bà sẽ trả lời: “Đó là chuyến vượt biển năm 1981.”

Sau khi ra khỏi hải phận Việt Nam, tàu của bà lênh đênh trên biển ba ngày. Sau đó, tàu cập vào đảo Songkhla, Thái Lan. Chỉ trong ba ngày thôi, con tàu đó gặp hải tặc sáu lần. Không một ai trên con tàu, kể cả đứa bé chỉ mới tám tuổi, có thể thoát khỏi hành động hãm hiếp của hải tặc, trừ bà.

“Nói thì không ai tin, nhưng đó là sự thật. Chỉ một mình tôi may mắn thoát. Có đôi vợ chồng đó, người chồng đau đớn nhìn vợ mình bị hãm hại ngay trước mắt. Nhưng khi đến đảo rồi, họ lại quyết định chia tay. Có lẽ họ không thoát ra được cơn ác mộng đó, tôi nghĩ vậy.” bà nói.

Đặt chân đến Mỹ, bà định cư tại Maryland cho đến tuổi về hưu thì về Virginia sống đến hôm nay. So với những cuộc đời tị nạn khác, năm tháng tha hương của bà có phần nhẹ nhàng hơn, dù cũng trải qua nhiều công việc làm để tồn tại. Bà từng học để lấy bằng kỹ thuật viên máy tính, nhưng do giới hạn ngôn ngữ, nên cũng phải dở dang, chuyển sang công việc khác.

Những năm tháng đó, thơ vẫn là gia tài lớn nhất người nữ sĩ có được. Bà đã âm thầm cho ra đời bốn, năm tập thơ, chỉ dành tặng cho người quen, thân hữu.

“Cuộc đời của tôi khá đơn giản, nếu không muốn nói là ‘hạn hẹp.’ Viết văn thì tả cảnh, tả tình. Thơ thì từ cảm xúc. Mà cuộc đời tôi thì bình dị, chỉ chất chứa toàn hình ảnh lính và chiến tranh,” bà nói với nụ cười thật hiền.

“Người lính và chiến tranh chưa bao giờ rời xa tôi”

Nữ sĩ Lê Thị Ý là “con nhà nòi” của thi ca. Bà xuất thân trong một gia đình văn nghệ. Người anh lớn là nhà thơ Vương Ðức Lệ, người chị lớn là nhà văn Phượng Kiều, và cô em gái là nhà văn Lê Thị Nhị.

Bà đến với thơ rất sớm, từ lúc còn học trung học. Khi cùng gia đình di tản vào Nam năm 1954, nữ sĩ Lê Thị Ý sống cùng một người anh là sĩ quan. Đến năm 1960, bà về Pleiku, làm việc cũng trong một trại lính. Cũng chính vì vậy, theo lời bà, “Người lính luôn luôn trước mặt. Chiến tranh luôn luôn ở trước mặt. Không bao giờ rời xa tôi.”

Cả cuộc đời của nữ sĩ Lê Thị Ý được bao phủ bằng hình ảnh kiên cường, oai hùng của người lính Việt Nam Cộng Hoà. Bà như con chim nhỏ bay nhảy trong không gian khép kín của cuộc chiến. Thế giới của bà là những bộ quân phục màu lá rừng, những đôi mắt sáng ngời ý chí, những vầng trán cao kiên cường của tuổi trẻ lấy tình yêu đất nước làm lẽ sống. Có phải nữ sĩ thần tượng và thần tượng hóa hình ảnh người lính trong cuộc chiến không?

“Tôi vừa thương vừa thần tượng. Tôi yêu nhất là bộ quân phục của người lính. Cuộc đời của họ là anh hùng, là sự dấn thân,” bà nói.

Thủ bút của nhạc sĩ Phạm Duy trong bài “Tưởng Như Còn Người Yêu,” phổ từ bài thơ “Thương Ca 1” của Lê Thị Ý. (Hình: Lê Thị Ý cung cấp)

Trong câu chuyện bà kể, khi ở chiến trường, người lính là anh hùng, là dấn thân. Ngày về phép, hoặc cuối tuần, cởi bỏ bộ quân phục, họ là người lính chân tình, dễ thương. Bà kể, nếu người lính ấy có 500 đồng để tiêu xài trong một tuần, thì họ sẽ không dùng. Họ để dành cuối tuần gặp người yêu, cả hai cùng đi dạo phố.

Hướng tầm mắt ra cửa, bà nói nhẹ: “Tôi vừa thương vừa thần tượng. Khi người lính vừa ra khỏi cửa, là tôi lại nghĩ ngay đến những hiểm nguy có thể xảy đến với họ. Tôi có những liên hệ lạ lùng lắm. Nếu nói tôi tưởng tượng, cũng được.”

Người anh cả của nữ sĩ là một sĩ quan. Lúc nào bà cũng mang tâm trạng lo sợ anh mình đi trận không trở về. Người yêu đầu đời của bà, là một người lính. Người yêu thứ hai trong đời, vẫn là một người lính – người đã tử trận trong một trận đánh.

“Thương Ca 1”

Năm 1965, nữ sĩ rời Sài Gòn. Bà về Pleiku làm việc trong một trại lính. Năm năm ở phố núi bé nhỏ này, mỗi một ngày bà đối diện với vô vàn những câu chuyện không tên về cuộc đời người lính. Lúc này, cũng là thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh. Thế giới xung quanh bà khi ấy chỉ toàn lính, và lính. Lính và vợ. Lính và vũ khí. Lính và đạn bom. Lính và tử trận. Từ đó, tình yêu bà dành cho người lính, cuộc đời người lính, càng thêm cao dầy. Đôi khi, chỉ những câu chuyện trò ngắn ngủi đời thường với vợ lính cũng làm cho trái tim nữ sĩ chạnh lòng.

Bà nhớ lại, rồi kể:

“Chúng tôi, những người phụ nữ nói chuyện vui đùa với nhau. Có người nói:

-Trời lạnh thế này mà được ở nhà ôm ông xã thì sướng biết mấy.

-Thế ông xã đâu?

-Ông xã đi đánh trận.”

Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng cũng đủ làm tâm hồn người nữ sĩ bồi hồi xúc động.

Hình bìa tuyển tập thơ văn “Quê Hương và Kỷ Niệm” trong đó có tác phẩm của Lê Thị Ý. (Hình: Kalynh Ngô/Người Việt)

Thời gian trong trại lính ở Pleiku, nữ sĩ chiêm nghiệm rõ như nhật nguyệt sự vô thường của đời người trong chiến tranh. Những người ở đó, gặp đó, rồi mất đó. Một câu chuyện được bà nhớ và kể lại:

“Tôi nhớ vào Giáng Sinh năm đó, có một người lính đến cửa hàng của tôi mua quà lưu niệm gửi cho gia đình. Anh ấy xin cho khất lại tiền, đến đầu Tháng Giêng, dịp Tết Tây, anh về trại sẽ gửi trả. Nhưng lần ra trận đó, người lính mãi mãi không quay về. Sau đó, người em của anh ấy ra nhận trả số tiền đó. Nhưng tôi không nhận.”

Nữ sĩ đa cảm “thương vay khóc mướn” (theo lời bà tự nhận) nói rằng, những năm tháng đó, bà rất gần gũi với cái chết của mọi người. Không biết bao nhiêu lần bà chứng kiến người phụ nữ, những đứa trẻ, những cô gái tuổi xuân đến mở chiếc “poncho” quấn xác để nhận xác chồng, cha, người yêu. Bà đau với nỗi đau của họ. Nước mắt của bà rơi cùng tiếng khóc của họ.

“Tôi đi ngang nhà xác, nghe tiếng khóc vọng ra. Tôi nhìn vào thấy người ta đang nhận xác… đau lắm. Không phải chỉ khi của mình, mình mới đau…” bà kể. “Nó (nỗi đau) không phải là của mình nhưng đã hóa thành của mình.”

Và bài thơ “Thương Ca 1” ra đời từ đó.

“Tôi làm bài thơ đó rất nhanh. Tôi làm một mạch, không sửa gì cả. Tôi làm xong cất vào trong bàn học. Ngày xưa, anh tôi, nhà thơ Vương Đức Lệ, không muốn các em mình theo nghiệp thơ văn, nên tôi làm xong toàn là giấu đi. Nhưng hôm đó, bạn của anh tôi đến nhà chơi, vô tình thấy bài thơ đó. Ông nói ‘thơ hay thế này mà không đi đăng.’ Thế là ông xé tờ giấy tập có bài thơ, đưa cho cụ Nguyễn Ðức Quỳnh, là người trụ trì sinh hoạt Ðàm Trường Viễn Kiến. Cụ Quỳnh đọc rồi lại chuyển cho cho ông Phạm Duy phổ nhạc,” nữ sĩ kể lại quá trình ra đời bài thơ “Thương Ca 1” và bài hát “Tưởng Như Còn Người Yêu.”

Nữ ca sĩ Julie Quang, con dâu nhạc sĩ Phạm Duy, là người đầu tiên hát ca khúc này.

Đã hơn 50 năm trôi qua kể từ khi “Thương Ca 1” ra đời, hình ảnh người lính Việt Nam Cộng Hòa với bộ quân phục hiên ngang, dũng mãnh, vẫn mãi trọn vẹn trong trái tim và tâm hồn người nữ sĩ – nhà thơ Lê Thị Ý.

Photography on the frontline

Lateline

By Lateline’s Jason Om

Updated 8 Sep 2016, 4:28pm

Nhiếp ảnh gia chiến tranh Gary Ramage đã chứng kiến ​​cái chết quá nhiều. Tuy nhiên, anh ấy đã trở lại khu vực chiến đấu nhiều lần, để kể những câu chuyện của những người không thể nói cho chính mình.

Chúng tôi có một trách nhiệm rất lớn là các nhiếp ảnh gia.

Chúng tôi đến những nơi mà người khác không thể đến và sau đó chúng tôi có trách nhiệm kể những câu chuyện về những người đang bị tàn phá bởi chiến tranh và xung đột.Gary Ramage

Bạn phải có một chút cô đơn. Bạn phải rất tự lực, có động lực cao và rất muốn kể chuyện của người khác.

Gary Ramage

Bạn chứng kiến ​​những người chết hoặc đau đớn dữ dội.

Phải mất một thời gian dài để bạn vượt qua những thứ như thế, hoặc nhìn thấy hoặc chụp ảnh hình ảnh như thế.

Afghanistan là cuộc xung đột chính mà tôi tham gia với tư cách là một nhiếp ảnh gia dân sự.Tôi đã có ba chàng trai chết trên tôi trong ba ngày ở phía sau một chiếc trực thăng Black Hawk.

Tôi không muốn cha mẹ của cậu bé đó nhìn thấy hình ảnh cuối cùng của đứa con trai đang khỏa thân trên sàn của một chiếc trực thăng op màu đen, chảy máu khắp nơi.

Vì vậy, tôi đã cố gắng làm điều đó một cách tôn trọng nhất có thể và điều đó có nghĩa là di chuyển xung quanh phía sau của chiếc chopper cho đến khi tôi có thể có được một góc mà tôi có thể chụp bức ảnh đó sẽ kể câu chuyện cuối cùng của anh ấy mà không nhận ra anh ấy, mà không đưa ra bất kỳ trận chung kết kinh khủng nào hình ảnh cho bố mẹ anh.

Một trong những điều khó khăn nhất mà tôi có thể chứng kiến ​​là cái chết của một cậu bé ở Afghanistan, anh trai của anh ta bị mất một cánh tay và cuối cùng anh ta chết vì chấn thương đầu nghiêm trọng.

Lắng nghe tiếng hét của anh ta trong khi họ đang cố gắng cứu anh ta, điều đó thật ám ảnh, và cứ thỉnh thoảng, nó lại quay trở lại và dằn vặt tôi.

Nếu tôi thực sự ngồi xuống để bằng cách nào đó biện minh rằng trong đầu, tôi sẽ không sống sót sau ba tháng tôi ở đó.

Đó là một gánh nặng và tôi vẫn mang nó. Thỉnh thoảng, bạn sẽ có những cái nhìn thoáng qua hoặc hồi tưởng nhỏ về những điều tôi thấy khi tôi đi vắng.

Tôi điều chỉnh khá nhiều khi tôi thực hiện các triển khai hoặc bài tập này. Rất khó để có được cảm xúc gắn bó với những gì bạn đang làm. Bạn sẽ không hoạt động.

Điều khó khăn nhất trong việc bao trùm xung đột là khía cạnh con người trong các hoạt động.

Tôi là một nhiếp ảnh gia chiến đấu đã nhìn thấy quá nhiều cái chết.

Trong các cuộc chiến mà dường như không có gì quan trọng, tôi có thể chụp ảnh mà mọi người đều quan tâm.

Gary Ramage

The Final Salute by Todd Heisler

Thiếu tá hải quân Steve Beck chuẩn bị cho cuộc kiểm tra cuối cùng về thi thể của Trung úy James J. Cathey, chỉ vài ngày sau khi thông báo cho vợ của Cathey về cái chết của lính thủy ở Iraq. Tiếng gõ cửa bắt đầu một nghi thức chìm trong truyền thống hơn hai thế kỷ; một truyền thống dựa trên cùng một nguyên lý: “Không bao giờ để lại một Marine phía sau.” Khi các cuộc chiến bắt đầu ở Afghanistan và Iraq, Thiếu tá Steve Beck dự kiến ​​sẽ thấy mình ở nước ngoài, trong sức nóng của trận chiến. Anh ta không bao giờ nghĩ mình sẽ là người sắp xếp tang lễ cho những đồng đội đã ngã xuống.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên về chiếc quan tài treo cờ của chồng, Kinda Cathey đã khóc nức nở, không thể kiểm soát được, tìm kiếm sự hỗ trợ trong vòng tay của Thiếu tá Steve Beck. Khi Beck lần đầu tiên gõ cửa ở Brighton, Colo., Để thông báo về cái chết của chồng, cô lườm anh, chửi rủa anh và từ chối nói chuyện với anh hơn một tiếng. Trong nhiều ngày tiếp theo, anh giúp hướng dẫn cô vượt qua nỗi đau. Khi họ đến được đường băng, cô sẽ không buông tay.

Khi xác của Trung úy James Cathey đến Sân bay Reno, Thủy quân lục chiến trèo vào khoang hàng của máy bay và treo cờ trên quan tài của anh, khi hành khách theo dõi gia đình tập trung trên đường băng. Trong sự xuất hiện của một chiếc quan tài hàng hải khác vào năm ngoái tại Sân bay Quốc tế Denver, Thiếu tá Steve Beck đã mô tả cảnh tượng này là một trong những thế lực mạnh nhất trong quá trình này. “Nhìn thấy những người trong cửa sổ? Họ ngồi ngay trên máy bay, quan sát những người lính Thủy Quân Lục Chiến đó. Bạn phải tự hỏi những gì đang diễn ra trong tâm trí họ, biết rằng họ đang ở trên máy bay đưa anh ta về nhà,” anh nói ….

Vài phút sau khi quan tài của chồng cô đến sân bay Reno, Kinda Cathey ngã xuống trên quan tài. Khi Trung úy James Cathey đi Iraq, anh đã viết một lá thư cho Kinda đọc, một phần, “không có từ nào để diễn tả anh yêu em nhiều như thế nào, và sẽ nhớ em. Anh cũng sẽ hứa với em một điều: Anh sẽ hứa với em một điều ở nhà. Anh có vợ và một đứa con mới để chăm sóc, em và con là thế giới của anh. “

Thiếu tá Steve Beck và một lính Thủy Quân Lục Chiến đến nhà của gia đình Trung úy James Cathey, chuẩn bị hộ tống Catheys đến sân bay để nhận thi thể của con trai họ. Năm ngày trước đó, bóng tối của các nhân viên cuộc gọi trợ giúp tai nạn cũng đi theo con đường tương tự, mang theo tin tức mà không một gia đình quân nhân nào muốn nghe. “Tôi sẽ không bao giờ quên hồ sơ của Thiếu tá Beck.” Bob Burns nói về đêm anh được thông báo về cái chết của con trai mình. Lá cờ sao vàng trong cửa sổ biểu thị cái chết của một người thân yêu.

Jo Burns khóc khi cô và chồng Bob mở những chiếc hộp chứa đồng phục của con trai họ từ Iraq – những chiếc hộp do Thiếu tá Steve Beck giao. “Đối với tôi, có tất cả những thứ này trở lại là một điều tốt,” cô nói vài phút sau. “Tôi muốn nhớ. Tôi không bao giờ muốn quên, hoặc ngừng cảm giác.” Bob Burns sau đó nắm lấy tay cô. “Tôi cũng không muốn quên,” anh nói. “Tôi chỉ không muốn đau.”

Thượng sĩ Thủy Quân Lục Chiến Jeremy Kocher đứng xem gần cơ thể của Lance Cpl. Thậm chí, Herrera ở Eagle, khi trẻ em và người lớn trong vùng đổ về để tỏ lòng thành kính. Giống như nhiều Thủy Quân Lục Chiến đóng tại căn cứ không quân Buckley ở Aurora, Kocher nói chi tiết về tang lễ là nhiệm vụ khó khăn nhất mà anh từng thực hiện. “Tôi thực sự bắt đầu nghĩ về nó ngay khi tôi thức dậy. Đó là một công việc quan trọng đến nỗi tôi không muốn làm hỏng nó,” anh nói. “Tôi chỉ muốn nó hoàn hảo.”

Các thành viên của Phi đội Kiểm soát Không quân Hàng hải 23 đóng tại Căn cứ Không quân Buckley hộ tống quan tài của Marine Lance Corporal Evenor Herrera qua thị trấn Eagle, Colo., Đến mộ của anh ta. Kể từ khi bắt đầu chiến tranh, Thủy quân lục chiến từ Buckley đã giám sát tang lễ cho 18 Thủy Quân Lục Chiến đang hoạt động; 14 người chết ở Iraq, bốn người chết trong các vụ tai nạn giao thông.

Thủy Quân Lục Chiến nâng cờ ra khỏi quan tài của Lance Cpl. Thậm chí, Herrera, chuẩn bị gấp nó lần cuối và tặng nó cho cha mẹ của Herrera, Blanca và David Stibbs, trung tâm. Sau khi xem rất nhiều cảnh đau buồn, TQLC nói rằng tiếng khóc của gia đình không bao giờ rời khỏi tâm trí họ. “Nó gần như đủ để ước rằng bạn có thể thế chỗ anh ấy, vì vậy những người này sẽ không bị tổn thương nhiều như vậy”, Thượng sĩ. Kevin Thomas nói.

Khi đến Denver để dự lễ vinh danh Thủy quân lục chiến tử trận, Lori DeMille, Oceanside, Calif., Chạm vào bia mộ của Marine Lance Corporal Kyle Burns, người đã bị giết ở Fallujah vào ngày 11 tháng 11 năm 2004, tại Nghĩa trang Quốc gia Fort Logan. DeMille và một nhóm Thủy quân lục chiến từng phục vụ với Burns ở Iraq đã đến Colorado để tỏ lòng thành kính với Burns và gia đình anh.

Sau khi biết rằng một gia đình đã nhận được huy chương hậu hĩnh của con trai họ trong thư, Thiếu tá Steve Beck đã lên kế hoạch cho một sự kiện mà ông gọi là “Ghi nhớ dũng cảm”, trong thời gian đó ông đích thân trao huy chương cho các gia đình mà ông  đã theo dõi. “Khi bạn nghĩ về những gì những người này đã làm, không dễ để nhìn vào những huy chương này”, ông nói. “Sự đánh đổi là gì? Làm thế nào để bạn nói ‘Đây là cho con trai của bạn?'”

Jo Burns bám lấy Hạ sĩ Dustin Barker, 22 tuổi, trong buổi lễ “Ghi nhớ dũng cảm” nhằm tôn vinh hành động của Thủy quân lục chiến. Hạ sĩ Barker đã ở cùng với con trai của Jo Burns, Lance Corporal Kyle Burns, khi anh ta bị giết trong cuộc hành quân ở Fallujah vào ngày 11 tháng 11 năm 2004.

Trong buổi lễ chính thức, được gọi là “Ghi nhớ dũng cảm”, được tổ chức tại một khách sạn Holiday ở Denver, Đại úy Chris Sutherland, bên trái, Sergeant Major Jeff Study,Trung sĩ Clifford Grimes và Trung sĩ xạ thủ Todd Martin chuẩn bị trao huy chương cho các gia đình Thủy Quân Lục Chiến tử trận. Họ cũng tặng mỗi gia đình một bình hoa hồng vàng – một bông hồng cho mỗi năm trong cuộc đời của Marine.

Sau khi đến nhà tang lễ, Kinda Cathey ấn bụng bầu vào quan tài của chồng, khẽ rên rỉ. Hai ngày sau khi cô được thông báo về cái chết của Jim ở Iraq, cô phát hiện ra họ sẽ có một bé trai. Sinh ngày 23 tháng 12 năm 2005, đứa bé được đặt tên là James Jeffrey Cathey, Jr.

Kể từ khi James Cathey bị giết trong một vụ nổ lớn, xác anh được bọc kín một cách tinh tế bởi đại đội Chung Sự, sau đó đồng phục Marine của anh được đặt trên xác anh. Vì Kinda Cathey quyết định không xem thi thể của chồng mình, Thiếu tá Steve Beck nắm lấy tay cô và ấn nó xuống bộ đồng phục. “Anh ấy ở đây,” anh nói khẽ. “Cảm thấy ngay tại đây.”

Đêm trước khi chôn cất thi thể của chồng, Kinda Cathey đã từ chối rời khỏi quan tài, yêu cầu ngủ bên cạnh cơ thể anh lần cuối. Thủy Quân Lục Chiến làm một cái giường cho cô ấy, nhét những tờ giấy bên dưới lá cờ. Trước khi ngủ thiếp đi, cô mở máy tính xách tay ra và chơi những bài hát khiến cô nhớ đến “Cat”, và một trong những người lính TQLC hỏi cô có muốn họ tiếp tục đứng nhìn khi cô ngủ không. “Tôi nghĩ sẽ thật tuyệt nếu bạn tiếp tục làm điều đó”, cô nói. “Tôi nghĩ đó là những gì anh ấy sẽ muốn.”

Trong ba ngày liên tiếp, Thủy quân lục chiến đứng theo dõi thi thể của Trung úy Jame Cathey, nghỉ giải lao định kỳ trong một căn phòng trong nhà xác, nơi Nhân viên Trung tâm. David Rubio dụi mắt sau một giấc ngủ ngắn. Rubio được cử để đại diện cho Thủy quân lục chiến từ Đại học Colorado, nơi lần đầu tiên anh gặp Cathey. “Tôi chưa bao giờ chịu trách nhiệm đó,” Rubio nói. “Khi bạn học đại học, bạn rất tách biệt với những gì đang xảy ra ở Iraq … Chúng ta càng nói nhiều về điều đó thì dường như càng khó hơn.”

Một ngày trước lễ tang của người bạn của họ, Trung úy Jon Mueller, bên trái và Trung úy Matthew Baumann đã luyện tập hàng giờ để gấp một lá cờ, chắc chắn sẽ không có lỗi vào ngày hôm sau. “Đó sẽ là lần cuối cùng lá cờ của anh ấy được gấp lại,” Thiếu tá Steve Beck nói, khi ông hướng dẫn họ. “Nó phải hoàn hảo.”

Khi đám tang của con trai ông gần kề, nước mắt của Jeff Cathey hiếm khi ngừng lại. Ông thường tìm thấy sự thoải mái ở những người đàn ông chia sẻ đồng phục của con trai mình. “Có người hỏi tôi học được gì từ con trai tôi,” ông nói. “Con tôi dạy tôi rằng bạn cần nhiều hơn một người bạn.”

Khi còn là lính bộ binh trẻ tuổi, James Cathey và những người bạn của mình đã có một chuyến đi đến Iwo Jima, nơi họ cắm trại trên bãi biển, tưởng nhớ gần 6.000 lính TQLC đã chết ở đó trong Thế chiến II. Trước khi Cathey và bạn bè rời đảo, mỗi người đều lấy một đống cát từ bãi biển. Sau tang lễ của Cathey, các đồng đội của anh  đặt đôi găng tay trắng của họ lên quan tài của anh, sau đó lấy nắm đấm trên cát và làm trôi nó trên người họ.

Todd Heisler, tốt nghiệp năm 1994 của Đại học bang Illinois, đã tham gia Rocky Mountain News ở Denver, Colorado, với tư cách là một nhiếp ảnh gia nhân viên vào năm 2001. Trước khi có Tin tức, Heisler làm việc tại một số tờ báo cộng đồng ở ngoại ô Chicago, nơi anh lớn lên.

Kể từ khi bắt đầu Chiến tranh Iraq, Heisler đã thực hiện ba chuyến đi tới Iraq, dành phần lớn thời gian gắn liền với quân đội Hoa Kỳ. Heisler là một thành viên của nhóm ảnh đã giành được giải thưởng Pulitzer năm 2003 vì đã phá vỡ nhiếp ảnh tin tức để đưa tin về mùa cháy rừng tồi tệ nhất ở Colorado.

Cha Nguyễn Lạc Hóa Và Làng Bình Hưng

Trong một tổ chức, một hội đoàn, một làng xã, hay một nước đang trong thời kỳ thay đổi hoặc đang bị biến cố khủng hoảng, nếu người lãnh đạo là một người có kinh nghiệm, khôn ngoan, biết thế nào là lợi ích cho dân, có uy tín thu hút dân (charisma), và có tài lãnh đạo thì hội đoàn, hoặc tổ chức, hoặc đất nước được phát triển và vươn lên. Câu chuyện của album này dạy cho ta một bài học điển hình về sự lãnh đạo của một tu sĩ người Hoa trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Nhờ tài lãnh đạo của người “tu sĩ chiến đấu” (a fighting priest) này mà một làng được dựng lên giữa nơi sình lầy, nằm ngay giữa lãnh thổ của phía thù địch, mà lại phát triển mạnh mẽ. Báo chí Tây Phương đặt tên làng này là “một làng không chịu chết” (a village that refused to die).

Cha Nguyễn Lạc Hóa và Làng Bình Hưng

Cha Augustine Nguyễn Lạc Hóa là một tu sĩ Công Giáo người Hoa gốc Quảng Đông. Cha sinh ngày 18 tháng 8 năm 1908 tại một làng bên nước Trung Hoa gần biên giới Việt Nam và vịnh Bắc Bộ. Tên tiếng Quảng Đông của cha Hóa là Yun Loc Fa, hoặc tiếng Quan Thoại thì gọi là Yuan Lo-Hua. Sau một thời gian tu học tại Penang, Mã Lai Á, cha Hua được thụ phong linh mục tại Hồng Kông vào năm 1935. Khi chiến tranh chống Phát Xít Nhật bùng nổ, cha Hua bị động viên và phải ngưng làm tu sĩ để tham gia chiến tranh với chức Thiếu Úy chỉ huy một toán du kích trong quân đội của Tưởng Giới Thạch. Khi Nhật đầu hàng thì cha Hua được thăng chức Thiếu Tá. Trong cuộc nội chiến giữa phía Cộng Sản dưới Mao Trạch Đông và Quốc Dân Đảng dưới Tưởng Giới Thạch, cha Hua được thăng chức Trung Tá, nhưng chưa được chức thực thụ thì phía Quốc Dân Đảng bắt đầu thua cuộc và quân đội tan rã. Cha Hóa lấy cơ hội đó để từ chức và về quê tiếp tục cuộc đời tu sĩ. Sau đó, cha bị phía CS bắt bỏ tù với tội phản động vì lúc đó Mao đã bắt đầu đưa ra chính sách sở hữu hoá các tôn giáo, và muốn ly khai giáo hội Công Giáo ra khỏi Vatican.

Sau một năm tù, cha Hua với sự giúp đở của một số giáo dân đã trốn bằng thuyền tới Hải Ninh, Bắc Việt Nam vào năm 1950. Tại Việt Nam, cha lấy tên Việt là Nguyễn Lạc Hóa và bắt đầu vận động để giúp các tín đồ Công Giáo bên Trung Hoa trốn sang Việt Nam. Sau 6 tháng, cha Hóa đã giúp được tổng cộng 450 gia đình, tức 2174 giáo dân người Hoa tới Việt Nam. Khi nhóm Việt Minh bắt đầu bành trướng và hoạt động mạnh với sự giúp đỡ của Mao Trạch Đông, cha và đa số giáo dân của cha khoảng 2100 người rời Việt Nam sang Cam Bốt và tái định cư tại Snoul, tỉnh Kratie. Sau 7 năm sống tại đó, chính quyền Cam Bốt bắt đầu chính sách trung lập chính trị và công nhận Trung Hoa nằm dưới quyền của Cộng Sản và Mao Trạch Đông. Sợ rằng giáo dân của cha có thể sẽ bị trả về Trung Hoa, cha Hóa bắt đầu tìm đường sang miền Nam Việt Nam. Trong cuộc gặp gỡ vào năm 1958 giữa cha và Tổng Thống Ngô Đình Diệm, do sự dàn xếp của một người bạn tên là Bernard Yoh, TT Diệm quyết định giúp cha Hóa và giáo dân của cha tái định cư.

TT Diệm cho cha Hóa chọn ba chổ để định cư. Cha chọn nơi có nhiều đất trống để khai thác và dễ trồng trọt lúa gạo vì vùng đất phì nhiều và nhiều nước, đó là vùng Cà Mau, tỉnh An Xuyên. Nhưng vùng này cũng được coi là nơi nguy hiểm nhất trong ba chổ để chọn, vì sau khi ký hiệp định Geneve 1954, Việt Minh đã chọn vùng Cà Mau làm nơi tập kết quân du kích và đã lưu trữ nhiều vũ khí và đạn dược tại đó. Với sự trợ giúp của chính quyền Sài Gòn và sau 3 tháng lao động cực khổ ngày đêm đắp đất cho cao để xây làng, cha Hóa và giáo dân đã hoàn tất được 200 căn nhà và đặt tên làng là Bình Hưng, để biểu hiệu sự san bằng đất sình lầy và xây cất một nơi có thể sinh sống. Với kinh nghiệm của một cựu quân nhân đã từng tham chiến, cha Hóa thiết kế làng theo hình vuông để dễ phòng thủ, và xây một lạch nước xuyên qua giữa làng với một cây cầu để dân có thể đi qua đi lại dễ dàng. Cha chia dân làng thành những toán dân tự vệ nhỏ với mỗi toán gồm 5 người canh gát từng khu làng.

Lúc đầu vc để yên, nhưng sau khi thấy làng đã xây cất xong và làm lễ khánh thành với cờ vàng ba sọc đỏ, họ bắt đầu gửi những toán nhỏ đến làng để vừa tuyên truyền chiêu dụ vừa quấy nhiễu. Lúc đầu dân làng chỉ có dao và chọc nhọn bằng gỗ, nhưng vẫn đẩy lui được những toán vc này vì một số dân làng đã từng có kinh nghiệm đi lính bên Trung Hoa trong thời chống Phát Xít Nhật, và biết cách đánh xáp lá cà dùng dao và chọc nhọn. Sau những vụ quấy nhiễu như thế, chính quyền Sài Gòn bắt đầu cấp vũ khí. Mới đầu là 6 quả lựu đạn và 12 khẩu súng trường củ, rồi sau thêm 50 khẩu súng trường, hai súng trung liên, và 7 súng tiểu liên. Ngoài ra, cha Hóa và dân làng cũng bắt đầu giao tế với các làng người Việt lân cận để vừa tương trợ lẫn nhau và vừa trao đổi tin tức khi bị du kích vc tấn công. Trong suốt năm 1960, làng thường bị tấn công và bị bắn tỉa bởi vc. Nhưng với tù binh bắt được, làng đã xây một tường đất bao quanh làng với chòi canh gác để giúp bảo vệ làng. Chính quyền Sài Gòn cũng cung cấp thêm 50 súng trường Lebel của Pháp, và 120 khẩu súng Springfield đã tịch thu được từ nhóm Bình Xuyên. Với đạn dược còn thiếu, Bernard Yoh cho cha Hóa một máy ráp đạn cũ mà ông đã thường dùng để làm đạn đi săn bắn, để làng Bình Hưng tạm thời tự làm đạn lấy. Dùng kinh nghiệm chiến đấu, cha Hoá không muốn chờ cho kẻ thù địch tấn công mình, nên đã truyền lịnh dân tự vệ làng phải chia toán đi tuần hành hằng ngày để tìm du kích vc rồi tiêu diệt.

Ngày 3 tháng giêng năm 1961, một lực lượng vc khoảng 400 người tấn công một toán 90 người dân tự vệ của làng Bình Hưng. Trận đánh gồm những cuộc phục kích qua lại giữa hai bên. Sau 3 ngày, lực lượng vc đã bị tổn thất với 172 người bị giết. Trong trận đánh này, Chuẩn Tướng Không Quân Mỹ Edward Lansdale có viếng thăm làng Bình Hưng và đã làm một bài tường trình ca ngợi thành tích chiến đấu của dân làng. Sau đó, TT Diệm đã cho phép Mỹ viện trợ thêm quân sự và vật liệu để giúp dân làng củng cố phòng thủ với đầy đủ vũ khí, đạn, thuốc men, và thực phẩm. Tháng 6 năm 1961, dân tự vệ làng Bình Hưng chính thức được chính quyền Sài Gòn chấp nhận là Nhóm Nhân Dân Tự Vệ 1001, và cho hợp vào quân đội VNCH. Cha Hóa từ chối không nhận chức vụ và lương bỗng của một sĩ quan chỉ huy, nhưng cha tình nguyện làm người chỉ huy quân đội vô chức vụ. Cha Hoá cũng đề nghị và TT Diệm đồng ý đổi tên nhóm từ Nhân Dân Tự Vệ 1001 thành lực lượng Hải Yến (Sea Swallow), vì mầu trắng đen của loài chim này tương tự áo đen của tu sĩ với cổ trắng, và loài chim này giúp nhà nông bằng cách ăn những sâu bọ phá mùa màng. Trước khi chấp nhận trách nhiệm chỉ huy quân đội, cha Hoá đã tham khảo ý kiến Bề Trên của cha. Mặc dầu, Đức Giám Mục không cho phép nhưng vì thấy sự sống còn của làng lệ thuộc vào sự lãnh đạo và kinh nghiệm quân sự của cha, Đức Giám Mục làm ngơ để cha Hoá lãnh trách nhiệm này.

Ban đầu vào năm 1959, TT Diệm đã trực tiếp dùng quỹ riêng để trả một ít lương cho lực lượng 180 dân tự vệ, nhưng lương bỗng bắt đầu được trả chính thức cho lực lượng 300 dân tự vệ vào năm 1961 với khoảng $12 đô mỗi người một tháng. Sĩ quan hoặc lính đều được trả lương bằng nhau. Ngoài ra cha Hóa cũng dùng quỹ riêng của cha để trả thêm 40 dân tự vệ khác. Những thành phần mới tham gia lực lượng và còn đang huấn luyện thì chỉ được cung cấp thực phẩm mà thôi. Tổng cộng, lực lượng nhân dân tự vệ Hải Yến của làng Bình Hưng có 340 người, với thêm 80 người mới tham gia và đang học tập. Ngoài ra, để giúp cho dân làng sinh sống và có áo quần để mặc, cha Hóa và người bạn Bernard Yoh đã phải vay nợ cá nhân lên tới hơn $100 ngàn đô vào giữa năm 1961. Sau khi được yểm trợ tài chánh khá hơn, cha Hóa bắt đầu đi khắp miền Nam để chiêu dụ thêm lính cho làng. Mặc dầu cha đã báo trước cuộc sống mới sẽ có nhiều vụ tham chiến, với lương ít ỏi, và có thể nguy hiểm tới tính mạng, khoảng 242 người dân Thượng tình nguyện tham gia cùng với và một đại đội gồm 132 người Nùng. Sau này, theo tài liệu mật thì nhóm người Nùng này thật ra là những cựu chiến binh Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch.

Vừa là một người lãnh đạo quân sự mang nón sắt, vừa là một ông cha mang áo dòng, cha Hóa đã dựng lên một lực lượng võ trang chống du kích rất hữu hiệu. Kế hoạch quân sự của cha là trận chiến không thể thắng nếu chỉ thụ động chờ địch thù tới, mà phải mang chiến tranh tới địch thủ của mình. Nhóm Hải Yến đi tuần hành hàng ngày hàng đêm bất cứ thời tiết nào, để tìm vc và phục kích. Một hệ thống tình báo với sự giúp đở đưa tin tức của những nhà nông người Việt lân cận và một số gián điệp nằm vùng giúp báo trước những hoạt động và di chuyển của phía vc trong vùng.

Với Bernard Yoh vận động không ngừng các hội đoàn từ thiện và chính quyền tại Sài Gòn để giúp đở về quân sự, thuốc men, sửa, bột và dầu nấu ăn, làng đã phát triển gấp 4 lần trong vòng hai năm từ khi được dựng lên, với số dân tị nạn người Hoa và người Việt bắt đầu dọn về để sống dưới sự lãnh đạo của cha Hóa. Đối với một nhà báo nước ngoài tới thăm làng vào tháng giêng năm 1962, cảnh làng và các ấp chung quanh của Biệt Khu Hải Yến nhìn có vẽ khó phòng thủ và thường bị vc quấy nhiễu, nhưng cha Hóa lúc nào cũng có tự tin, lính phòng thủ ai cũng vui vẻ mặc dầu phải đương đầu với cái chết hàng ngày bất cứ lúc nào, và dân làng có vẽ mãn nguyện. Những yếu tố này đã làm cho làng Bình Hưng khác hẳn với những làng xã khác trên khắp miền Nam Việt Nam. Với tiếng tăm chiến đấu không sợ chết ngay giữa lòng địch, trực thăng bắt đầu chở các khách quan và nhà báo tới viếng thăm thường xuyên, cha Hóa bắt đầu tạo một nhóm 56 lính vệ binh danh dự để đón khách quan trọng tới thăm làng. Người ngoài được chứng kiến một lực lượng tự vệ chỉ trong vòng một năm đã phát triển từ 340 dân tự vệ nay tới 500 lính mặc đồng phục khaki, rất có kỷ luật, trang bị với súng trường M1 hoặc Carbine. Họ chào nhau bằng cách chào của hướng đạo với ba ngón tay giữa. Ngoài ra có một số nữ ý tá thường đi theo tuần hành với lính Hải Yến. Tất cả đều có tinh thần đồng đội cao và can đảm để chiến đấu. Khi hỏi tại sao những người lính này lại muốn tình nguyện cho một cuộc sống cực khổ và nguy hiểm như thế, cha Hoá trả lời, “Con người sinh ra với mục đích là để làm một cái gì đó” (Man was born to do something).

Cha Hóa thường nhấn mạnh rằng cách tốt nhất để chống du kích là tấn công khi địch thủ còn đang tập trung, vì lúc đó địch thủ đang thiếu tổ chức và dễ bị đánh. Cha Hóa khoe rằng những hoạt động của vc quanh vùng lân cận của làng đã gần như bị dẹp tắt bởi lính của làng Bình Hưng. Cha cũng nói lực lượng Hải Yến của cha đã lên tới 1 ngàn người, trong số này có 600 người là cựu chiến binh trong phe Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch với nhiều kinh nghiệm chiến đấu chống Phát Xít Nhật và Cộng Sản Trung Quốc. Hai năm vừa qua, lực lượng Hải Yến mất chỉ 27 người trong khi phía vc có khoảng 500 người bị giết. Đa số những tổn thất của nhóm Hải Yến là do mìn và bẫy chống cá nhân. Cha Hóa rất thỏa mãn khi nghe tin cấp lãnh đạo Cộng Sản đã không hài lòng với hoạt động của vc trong vùng và đã quyết định tăng cường lực lượng của họ với những lính du kích từ nơi khác. Ngày hôm trước, lực lượng của cha đã tham chiến với một nhóm từ vùng khác tới, nhưng cha tin rằng nhóm Hải Yến của cha sẽ giết hoặc bắt làm tù binh những nhóm vc đó.

Tù binh vc được chứa trong một căn nhà dài không có cửa sổ. Với một khu riêng chứa khoảng 40 lính Cộng Sản cứng đầu và nguy hiểm nhất, và số 108 còn lại chỉ dùng căn nhà này để ngủ ban đêm và ban ngày họ phải làm việc ngoài đồng 5 tiếng mỗi ngày và 2 tiếng phải học tập về sự thật của Cộng Sản, thế nào là dân chủ và tự do. Đa số những tù binh này chỉ là những người làm nông không biết gì về chủ nghiã chính trị như Cộng Sản hoặc dân chủ. Khi cha Hóa cảm thấy họ đã thấm nhuần những bài học thì cha thả họ tự do về làng của họ. Một số xin tình nguyện tham gia lực lượng Bình Hưng và cha đã cho phép một số nhỏ ở lại định cư trong làng.

Khi làng Bình Hưng và những thôn xã lân cận bắt đầu phát triển và lực lượng tự vệ càng ngày càng lớn mạnh, chính quyền Sài Gòn cho đây là một ví dụ điển hình cho những làng khác noi gương theo, và cha Hóa đã trở thành một người có tiếng trong vùng. Tháng 2 năm 1962, nhóm Hải Yến được nâng lên thành Nhân Dân Tự Vệ Biệt Khu Hải Yến. Một vùng với diện tích khoảng 400km vuông, với 21 làng xã, và 25 ngàn dân. Khi làng Bình Hưng được thiết lập vào năm 1959, cha Hóa ước tính khoảng 90 phần trăm dân trong vùng Hải Yến là thân Cộng hoặc bị vc đe dọa nên phải ủng hộ. Nhưng mỗi khi đi tuần hành, lực lượng của cha Hóa càng đi xa vô các chiến khu của địch thủ và bình định hóa những khu đó. Vào cuối năm 1963, lực lượng Hải Yến đã kiểm sóat được khoảng 200km vuông, nghĩa là 50 phần trăm khu Hải Yến và 60% dân số. Hai chiến khu chính vc vẫn kiểm soát 40 phần trăm dân và đất trong vùng và phòng thủ bởi khoảng 400 quân du kích.

Trong số 18 ngàn dân dưới sự kiểm soát của nhóm Hải Yến, cha Hóa không phân biệt giữa 3,7 ngàn dân Công Giáo và dân ngoài Công Giáo. Cha Hóa nói, “Trong chiến dịch này chúng ta không thể phân biệt người Phật Giáo với Công Giáo. Nếu chúng ta chiến đấu cho tự do, chúng ta phải tin rằng tất cả mọi người đều phải được tự do”. Trong khi có những chuyện xích mích và bạo động tôn giáo tại các nơi khác trong năm 1963, vùng Biệt Khu Hải Yến lại không xảy ra vấn đề đụng độ giữa các tôn giáo.

Tới đầu năm 1964 thì vùng Hải Yến đã xây xong một phi trường với phi đạo dài khoảng 700m và 1m cao trên vùng sình lầy. Các vùng nông thôn bắt đầu phát triển càng ngày càng xa ra từ làng Bình Hưng vô tới Tân Hưng Tây. Biệt Khu Hải Yến lúc bấy giờ là khu mạnh nhất của chinh quyền Sài Gòn trong vùng Cà Mau về mặt quân sự và chính trị, mặc dầu xưa nay vùng này vốn nằm dưới sự kiểm soát của vc. Vào giữa năm 1964, chính quyền Sài Gòn gửi 2 Thiếu Tá người Nùng và cũng là bạn của cha Hóa tới Biệt Khu Hải Yến để lãnh trách nhiệm chỉ huy quân sự, và chính quyền yêu cầu cha Hóa nhận chức vụ cha Tuyên Úy và Cố Vấn. Cha Hóa đã chấp nhận và nói, “tôi muốn được thôi những trách nhiệm khó khăn phức tạp và tôi muốn lực lượng tự vệ vẫn được giữ nguyên vẹn, nhưng người tu hành không nên liên hệ với quân sự”.

Rộng lượng đối với các dân tộc và các tôn giáo là lý tưởng mà cha Hóa và dân của cha đã bảo tồn từ khi lập ra làng Bình Hưng. Một lực lượng tự vệ với hơn 1,1 ngàn lính là kết quả của một người tu sĩ tị nạn trong một cuộc đấu tranh cho tự do. Đối với cha Hóa và những người theo cha, những lời cha đã chọn để ghi trên đài tưởng niệm các chiến sĩ trận vong của làng, trích từ một học giả của lịch sử Trung Hoa tên là Wen T’ien-hsiung trước khi bị xử tử, “Kể từ khi con người sinh ra, ai đã thoát khỏi sự chết? Tốt hơn là chết cho một lý tưởng xứng đáng để làm ví dụ cho lịch sử về sau”.

Tháng 8 năm 1964 Manila

Dịch vắn tắt từ website viết về tiểu sử của cha Hóa bởi tổ chức giải thưởng Ramon Magsaysay,

http://www.rmaf.org.ph/Awardees/Biography/BiographyHoaAug.htm

Ghi chú thêm tin tức từ những nguồn khác:

1. Theo nguồn Wikipedia, năm 1961, sau khi Edward Lansdale thăm cha Hóa và làng Bình Hưng rồi trở về Hoa Thịnh Đốn tường trình tình hình, Tổng Thống John Kennedy đã chú ý đặc biệt về cha Nguyễn Lạc Hóa và làng cha đã tạo ra. Thị trấn Newburyport thuộc tiểu bang Massachusetts nhận làng Bình Hưng làm một cộng đồng kết nghĩa (sister community).

2. Năm 1964, cha Hóa được giải thưởng Ramon Magsaysay trong phần phục vụ cộng đồng. Giải Ramon Magsaysay được đặt tên cho vị tổng thống đầu tiên của Phi Luật Tân để nâng cao tinh thần thanh liêm trong chính quyền, can đảm trong việc phục vụ dân, và thực dụng ly tưởng của một xả hội dân chủ. Giải thưởng hàng năm này được tạo ra bởi Quỹ Rockefeller Brothers Fund ở Nữu Ước.

3. Theo nguồn Taiwan Review, là một kẻ thù đối với chủ nghĩa Cộng Sản, Cha Hóa đã từng viết khoảng 10 lá thư gửi cho Mao Trạch Đông. Một trong những lá thư đó cha có viết, “Ông Mao à, tôi muốn cảm ơn ông vì ông đã dạy cho tôi biết thế nào là ý nghĩa của sự tự do. Bây giờ, tôi là một kẻ thù đời đời của ông. Tôi sẽ thuyết phục càng thêm nhiều người mỗi ngày để họ trở thành địch thủ của ông cho tới khi nào chính ông và những ý tưởng ác độc của ông không còn nữa”. Theo nguồn Taiwan Review, những tù binh và ngay cả cán bộ nồng cốt vc đã có ấn tượng tốt đối với cha Hoá, vì họ được cấp giường ngũ, mền, và mùng. Tù binh chỉ phải làm khoảng 6 tiếng mỗi ngày và được nghỉ ngày Chúa Nhật. Họ được ăn mỗi ngày 3 bửa và được thuốc lá với một ít tiền xài vặt. Dân làng rất thân thiện với tù binh và thường hay cung cấp thêm thực phẩm. Có mấy lần vc gửi gián điệp và thành phân VC chìm gồm có những cô gái trẻ đẹp vô để thám thính và quấy nhiễu làng, nhưng không được nhiều hiệu quả tốt vì chính những người này cũng quay lại đi theo nhóm Hải Yến một khi họ đã chứng kiến cuộc sống của làng này.

4. Cha Nguyễn Lạc Hóa đã qua đời vào năm 1989 với tuổi thọ là 81 tuổi.

5. Theo nhiếp ảnh gia Stan Atkinson, với tình thế phức tạp  chính trị tại Sài Gòn ngày càng hỗn độn và đồi trụy. Cha Hóa nhận thấy giấc mơ sống tự do sẽ không thành đạt tại Việt Nam. Mặc dầu cha vẫn là một người thanh liêm, nhưng sự tuyên truyền mạnh mẽ của vc đã thành công trong việc móc nối tiếng tăm của cha với chính quyền tham nhũng ở Sài Gòn. Cha Hóa cảm thấy cơ hội đạt được sự mong muốn tự do tại Việt Nam càng ngày càng thấp. Chán nản với thời thế, cha rời khỏi làng Bình Hưng và hồi hưu tại một giáo xứ Công Giáo ở Đài Bắc thủ đô nước Đài Loan và đã qua đời tại đó. Theo ông Stan Atkinson, trong suốt cuộc đời làm nhiếp ảnh gia đi khắp nơi trên thế giới, ông chưa gặp một người nào ngay cả những lãnh đạo như cha Hoá, một người mà ông cho là khó quên nhất.

6. Về phía VNCHXHCN, Nguyễn Lạc Hóa được cho là “đã chỉ đạo tàn sát nhiều người và hãm hiếp, mổ bụng, lấy mật, ăn gan nạn nhân trong thời kỳ là người đứng đầu khu dinh điền Bình Hưng” (nay thuộc tỉnh Cà Mau). Khu dinh điền Bình Hưng được Việt Nam Cộng Hòa lập nên để đưa người của Quốc gia vào các khu căn cứ kháng chiến của những người Cộng sản.

7. Về phiá VNCHXHCN, Nguyễn Lạc Hóa được cho là “đồ tể” đột lốt thầy tu, đã tàn sát hơn 1600 người với hình thức giết người man rợ. Ngày nay tại khu làng Bình Hưng, Nhà Nước có xây một tượng đài gọi là di tích lịch sử cấp quốc gia để tưởng niệm những liệt sĩ và dân lành đã bị nhóm Hải Yến giết tại đó. Theo Nhà Nước, thi trong thời chiến, làng này có một cây cầu gọi là Cầu Vĩnh Biệt vì tù binh nào đi qua cầu đó là biết sẽ bị tra tấn và giết chết.

Cha Nguyễn Lạc Hóa. Một tu sĩ Công Giáo người Quảng Đông. Cha sinh năm 1908 tại Trung Hoa với tên Yuan Lo-Hua và được thụ phong linh mục năm 1935 tại Hồng Kông. Cha đã bị động viên và từng làm sĩ quan trong quân đội của Tưởng Giới Thạch chống Phát Xít Nhật và chống lực lượng Cộng Sản của Mao Trạch Đông.

Làng Bình Hưng lập ra bởi cha Nguyễn Lạc Hóa và khoảng 2 ngàn giáo dân Công Giáo người Hoa tại vùng Cà Mau gần Tân Hưng Tây

Tháng 4 năm 1962, tướng Lyman Lemnitzer chỉ huy quân đội Mỹ viếng thăm làng Bình Hưng với cha Nguyễn Lạc Hóa.

Cha Nguyễn Lạc Hóa tại Biệt Khu Hải Yến. Hình chụp bởi Life Magazine năm 1962.

Cha Nguyễn Lạc Hoá là một biểu hiệu cho sự đấu tranh chống chủ nghĩa Cộng Sản. Hình chụp bởi Stan Atkinson.

Cha Nguyễn Lạc Hóa, vưà là một tu sĩ Công Giáo người Hoa vừa là một du kích chống chủ nghĩa Cộng Sản.

Dân làng Bình Hưng sống chết có nhau.

Phụ nữ giúp xây đường băng tại làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Phóng viên Đài Bắc Su Yu-Chen (thứ ba từ bên trái) thăm chị em nhóm Hải Yến.

Nhóm Hải Yến đang đợi phục kích.

Nhiếp ảnh gia Stan Atkinson đang nói chuyện với một cựu tù binh Cộng Sản mà cha Hóa đã “cải hoá”.

Thánh giá giữa kênh làng nhắc nhở người Ping Hsing (Bình Hưng) về đức tin của họ.

Hai người lính Hải Yến khoe cờ vc mới tịch thu. Lực lượng Hải Yến thường mang đồng phục mầu khaki.

Hình cha Nguyễn Lạc Hóa chụp bởi nhiếp ảnh gia Stan Atkinson. Ông Atkinson từng nói trong những chuyến đi công tác chụp hình ông đã gặp nhiều người, kể cả các nhà lãnh đạo, nhưng cha Hóa là người ông khó quên nhất.

Trên kênh của làng Bình Hưng năm 1962. Hình chụp bởi nữ nhiếp ảnh gia Dickey Chapelle. Bà Dickey Chapelle chết vì mìn vào năm 1965 tại Việt Nam.

Nguồn Wisconsin Historical Society

Vệ binh danh dự của nhóm Hải Yến đang đứng chào quan khách tại làng Bình Hưng.

Nguồn popasmoke.com

Cha Hóa và Đại Úy Jim Perryman thuộc TQLC Mỹ vào năm 1962, trong chuyến tăm của người sĩ quan Mỹ này tại làng Bình Hưng.

Nguồn popasmoke.com

Huy hiệu của lực lượng Hải Yến. Hình chụp năm 1962.

Nguồn popasmoke.com

Làng Bình Hưng vào năm 1962. Làng có treo hình TT Ngô Đình Diệm.

Nguồn popasmoke.com

Cha Nguyễn Lạc Hoá và một sĩ quan Mỹ đang cầm huy hiệu của nhóm Hải Yến.

Tượng Chúa Giê Su giữa làng Bình Hưng kỷ niệm ngày thành lập làng, 17-3-1959.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến. Trên bảng hiệu có đề “Ngô Tổng Thống Muôn Năm”.

Nguồn popasmoke.com

Kênh làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Nguồn popasmoke.com

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến.

Nguồn popasmoke.com

Nhiếp ảnh gia Dickey Chapelle, một trong những người đã làm cha Hóa và làng Bình Hưng nỗi tiếng với những hình ảnh về cha và làng này được đăng trên báo Mỹ. Bà là một nhà báo chống cộng và đã tử thương vì mìn tại Việt Nam vào tháng 11 năm 1965 khi đi theo một nhóm lính TQLC Mỹ để chụp hình.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, nhóm vệ binh danh dự của cha Hóa tại làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, lính Hải Yến đang được trực thăng chở tới các làng xã trong Biệt Khu Hải Yến để bảo vệ dân chống lại VC.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, làng Bình Hưng (Ping Hsing) tại Cà Mau.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, một đứa bé làng Bình Hưng đang chào một người lính TQLC Mỹ.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, cha Hóa với những vũ khí đã tịch thu được.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, đồ vật liệu tiếp tế cho những làng xã của cha Hoá.

Nguồn popasmoke.com

Tháng 6 năm 1962, một tượng Đức Mẹ Sầu Bi đang chờ trực thăng vận chuyển từ Sóc Trăng tới làng Bình Hưng.

Nguồn popasmoke.com

Làng Bình Hưng tại Cà Mau.

Làng Bình Hưng với một cái cầu băng ngang kênh giữa làng. Bên kia kênh là một nhà thờ, bên này kênh là tượng của một thiên thần.

Làng Bình Hưng với một cái cầu băng ngang kênh giữa làng. Bên kia kênh là một nhà thờ, bên này kênh là tượng của một thiên thần

Dân làng Bình Hưng dùng kênh để đi lại và chuyên chở hàng hóa. Kênh này do dân làng tạo ra lúc làng này được thành lập vào cuối thập niên 50.

Cảnh sống của làng Bình Hưng.

Thuyền ghe của lính dùng để trong việc phòng thủ, trên kênh làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Cảnh sống của làng Bình Hưng (Ping Hsing).

Phi cơ De Havilland L-20 Beaver của Không Quân VN đang đáp xuống phi đạo gần làng Bình Hưng.

Cổng vào Biệt Khu Hải Yến.

Cầu băng ngang qua kênh của Làng Bình Hưng. Bên kia cầu là một nhà thờ, bên này cầu là tượng thiên thần Mi-Ca-E (Michael).

Phi cơ De Havilland L-20 Beaver của Không Quân VNCH trên phi đạo gần làng Bình Hưng

Các em bé làng Bình Hưng đứng chụp với tượng thiên thần Mi-Ca-E (Michael). Hình chụp từ câu băng ngang qua kênh.

Kênh làng Bình Hưng được xây lúc làng đang được dựng lên vào cuối thập niên 1950.

Một đường vô Biệt Khu Hải Yến.

Làng Bình Hưng

Làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng trong dịp lễ Giáng Sinh.

Làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng

Làng Bình Hưng.

Làng Bình Hưng.

Ngày 12-26-1972, MTGP tại Cái Nước tấn công hai đồn Quản Pú và Thứ Vãi bảo vệ khu Bình Hưng.

Hình chụp ngày nay. Theo phía VNCHXHCN thì cột cầu còn lại là của một cầu gọi là cầu “vĩnh biệt”, vì ai bì lính biệt khu Hải Yến dẫn qua đó là sẽ bị tra tấn và xử tử.

Ngày nay. Tượng đài đựợc dựng lên bởi chính quyền Cà Mau của phía VNCHXHCN, để tưởng niệm hơn 1,600 người chính quyền Cà Mau gọi là “lính MTGPMN và dân lành” đã bị lính biệt khu Hải Yến giết trong 14 năm tồn tại của làng Bình Hưng.