Biệt khu Hải Yến

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Thuyền ghe của lính dùng để trong việc phòng thủ, trên kênh làng Bình Hưng – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960s – Photo by Ricerocket

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Cảnh sống của làng Bình Hưng – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960’s – Photo by Ricerocket

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Các em bé làng Bình Hưng chụp hình trước tượng thiên sứ Micae. Hình chụp từ trên cầu băng ngang qua kênh – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960s – Photo by Ricerocket

27 October 1964 Linh mục Nguyễn Lạc Hóa và 200 giáo dân trong giáo xứ đã bỏ chạy khỏi nước Trung Hoa Cộng sản vào năm 1951 và đến định cư tại làng Bình Hưng, tỉnh An Xuyên, Việt Nam. Họ đặt tên cho ngôi làng của mình là “Hải Yến” có nghĩa là những con chim yến biển và cũng dùng tên này để gọi “đội quân” của họ. Một toán cố vấn MAAG đã được phái đến trú đóng tại làng này để trợ giúp họ trong cuộc chiến chống Cộng. Trong ảnh LM Hóa dừng lại ngắm bức tượng Thánh Micae trong một chuyến đi quanh ngôi làng.

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Dân làng Bình Hưng dùng kênh để đi lại và chuyên chở hàng hóa. Kênh này do dân làng tạo ra lúc làng này được thành lập vào năm 1959.

Biệt khu Hải Yến, Cà Mau

Cầu băng ngang qua kênh của Làng Bình Hưng. Bên kia cầu là một nhà thờ, bên này cầu là tượng thiên sứ Micae – Làng Bình Hưng, Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1960s – Photo by Ricerocket

Làng Bình Hưng (Ping Hsing) trong biệt khu Hải Yến

Theo chú thích tại bức hình trên tạp chí National Geographic (số tháng 11-1962) bên dưới, chiếc cổng chào trong hình trên được dựng lên nhân dịp chính phủ cấp quốc tịch VN cho các di dân người Hoa định cư tại làng Bình Hưng. Bên trên cổng chào là hàng chữ Ngô Tổng Thống Muôn Năm. Hai bên trụ cổng là hai câu đối, từ phải qua trái đọc được:

Hải Yến hùng cư trừ Phỉ Cộng

Bình Hưng chánh khí quán Trung Thiên

Vệ binh danh dự của Biệt khu Hải Yến đang đứng chào quan khách tại làng Bình Hưng.

Father Nguyen Lac Hoa fighting in the Vietnam War while still preaching church services – by HOWARD SOCHUREK 12-1962

Ông ta là hung thần của những người Cộng sản nằm vùng lén lút ở lại hoạt động tại miền Nam, nhưng ông ta lại là ân nhân của những người lánh nạn CS di cư đến đây để được sống tự do. Cần nói rõ thêm như vậy để không chỉ là một nửa sự thật . .

NATIONAL GEOGRAPHIC Magazine, November 1962

Chính là chỗ này. Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ, theo Hiệp định Genève 1954 tạm thời chia đôi đất nước để chờ tổng tuyển cử chung cho cả nước VN, những người chọn chế độ Cộng sản sẽ phải tập kết về miền Bắc, những người theo chủ nghĩa Tự do và chống Cộng phải rút về miền Nam. Nhưng nhiều người Cộng sản vẫn “nằm vùng” ở lại miền Nam để tiếp tục hoạt động. Và những du kích quân VC hoạt động ở vùng này là trong số họ. Các du kích quân VC đã đột kích vào khu dân cư ở xã Vĩnh Quới, cũng như tại nhiều nơi khác ở miền Nam, gây nhiều tang tóc cho dân chúng. Vì bị coi là thành phần khủng bố, các du kích quân VC đã phải gánh chịu những trận càn quét của quân chánh phủ và đồng minh nhằm bảo vệ dân chúng.

Linh mục Nguyễn Lạc Hóa tại làng Bình Hưng (Biệt khu Hải Yến) Cái Nước, tỉnh An Xuyên 1961 – Photo by Howard Sochurek

Khi bầu chọn Linh mục AUGUSTINE NGUYỄN LẠC HÒA nhận Giải thưởng Ramon Magsaysay năm 1964 về Dịch vụ Công, Hội đồng Quản trị ghi nhận lòng dũng cảm phi thường của ông trong việc bảo vệ tự do, củng cố cho những người dân luôn tin tưởng quyết tâm chống lại chế độ chuyên chế.

Hoa, Augustine Nguyen Lac | CÔNG TÁC

Bỏ trốn vào cuối năm 1950 và đầu năm 1951 khỏi cuộc đàn áp của Cộng sản đối với người Công giáo La Mã ở tỉnh Kwangtung, miền Nam Trung Quốc, Cha AUGUSTINE NGUYỄN LẠC HÒA và 2.100 giáo dân của ngài đã sống bấp bênh trong tám năm ở Campuchia. Vào năm 1956, vị linh mục đã tìm kiếm ở 25 quốc gia để tìm ra một giải pháp lâu dài hơn cho người dân của mình nhưng chỉ tìm thấy sự đồng cảm và không có câu trả lời cho vấn đề của họ. Bị buộc phải di chuyển một lần nữa bởi sự quấy rối của du kích cộng sản và cuối cùng là sự công nhận của Campuchia đối với Trung Quốc Cộng sản, nhiều người tị nạn không quốc tịch đã tự tìm nơi ẩn náu ở Cộng Hòa miền Nam Việt Nam mới. Một số ít người đủ khả năng cho chuyến đi dài đã rời Đài Loan. Rút kinh nghiệm từ vị linh mục cùng cảnh ngộ của họ, chính quyền miền Nam Việt Nam đã đề nghị cho 450 cơ sở còn lại để di cư, nhập tịch và một nhà ở.

Tinh thần chiến đấu của nhóm người nhỏ bé đã được chính phủ công nhận là Quân đoàn Tự vệ Làng, đủ điều kiện để nhận viện trợ quân sự. Những người lính Quốc dân đảng tị nạn Trung Quốc, người Thượng từ cao nguyên miền Trung, người Nùng từ phía bắc, và người Việt địa phương được tuyển chọn để tham gia bảo vệ. Nguồn cung cấp cần thiết khẩn cấp bắt đầu đến thường xuyên bằng máy bay trực thăng. Các cơ quan chính phủ, Dịch vụ Cứu trợ Công giáo, CARE và những người khác đã giúp đỡ. Trong ba năm, người Việt Nam chuyển đến từ các trang trại xa xôi để được bảo vệ đã làm tăng dân số của làng và các xóm liền kề lên hơn 1.500 người.

Là chỉ huy quân sự không có cấp bậc của Đặc khu Hải Yên, vị linh mục đã làm việc chặt chẽ với các nhà lãnh đạo Phật giáo và Cao-Đài – những người có đông tín đồ nhất trong khu vực – để thúc đẩy các biện pháp an ninh trong các làng. Mặc dù Việt Cộng không bị tiêu diệt, Quân đoàn Chim én biển của ông – vào cuối năm 1963 với số lượng hơn 1.000 người – đã mở rộng an ninh tương đối trên 200 km vuông cho 18.000 cư dân.

Năm nay, khi trao quân lệnh cho các sĩ quan quân đội chính quy, cha HÒA rất hoan nghênh sự thay đổi. Năm nay 56 tuổi, ông dành hết sức lực cho các nhiệm vụ và trường học thuộc linh của mình, đồng thời đóng vai trò cố vấn-tuyên úy cho Sea Swallows, khuyên nhủ bất kỳ ai mệt mỏi với cuộc đấu tranh lâu dài: “Vì tự do của chúng ta, nếu chúng ta mệt mỏi, chúng ta không thể tự do.”

Khi bầu Cha AUGUSTINE NGUYỄN LẠC HÒA nhận Giải thưởng Ramon Magsaysay năm 1964 về Dịch vụ Công, Hội đồng Quản trị đã công nhận lòng dũng cảm phi thường của ngài trong việc bảo vệ tự do, củng cố cho những người luôn tin tưởng nghị quyết chống lại chế độ chuyên chế.

Hoa, Augustine Nguyen Lac | PHẢN ỨNG

Có những điều bất ngờ tuyệt vời đến với chúng ta, vào lúc này hay lúc khác, trong cuộc đời của chúng ta. Và với tôi giải thưởng danh giá này là một bất ngờ lớn nhất và tuyệt vời nhất.

Hôm nay tôi có mặt ở đây để nhận giải thưởng Magsaysay Award vinh dự lớn lao này, không phải thay mặt tôi, mà thay mặt cho những người đàn ông và phụ nữ đã chiến đấu, và vẫn đang chiến đấu, dưới huy hiệu của Sea Swallows. Lợi ích to lớn của Giải thưởng này sẽ dành cho những chú Sea Swallows, những người đang chịu đựng những khó khăn to lớn để duy trì sự yên bình và an ninh cho hàng nghìn cư dân trong khu vực đầm lầy của chúng ta. Nhưng vinh quang của Giải thưởng này sẽ không thuộc về ai khác mà chính là 203 chú Chim én Biển, những người đã tự nguyện hiến dâng mạng sống của mình cho sự nghiệp tự do và công lý cho tất cả mọi người.

Đối với bản thân tôi, tôi chỉ là một linh mục đơn giản cố gắng làm nhiệm vụ của mình trong việc quản lý người dân trong khu vực của tôi. Thông thường, một linh mục sẽ chỉ quản lý các nhu cầu thuộc linh của đàn chiên của mình. Nhưng ở khu vực mà chúng tôi đang có, chúng tôi phải làm nhiều hơn thế.

Có những người đã gợi ý rằng chúng ta nên giống như những tín đồ Đấng Christ ban đầu? Để cho phép mình bị giết vì đức tin của mình. Nhưng kinh nghiệm đã dạy chúng ta rằng chủ nghĩa cộng sản không cho phép chúng ta xa xỉ với sự tử đạo. Vâng, tôi có thể cho bạn biết từ kinh nghiệm cá nhân. Tôi đã thử. Tôi đã ở hơn 12 tháng trong nhà tù của họ. Những người cộng sản ghét chúa không bằng lòng chỉ bằng cách lấy thân xác của chúng ta? Thứ chúng muốn là linh hồn của chúng ta.

Chiến đấu thực sự là một phần nhỏ của cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa cộng sản. Phần quan trọng nhất là cuộc đấu tranh cho khối óc, trái tim, và linh hồn của mọi người, đặc biệt là những người cộng sản. Và chính trên tiền đề này mà Tổng thống Magsaysay vĩ đại của bạn đã có thể đánh bại cuộc nổi dậy Hukbalahap.

Nhiều người đã hỏi tôi, nếu đúng như vậy thì tại sao Việt Nam chúng ta lại không thắng? Câu trả lời của tôi rất đơn giản. Việc đặt sai thứ tự quan trọng. Đường lối Magsaysay là: thắng dân trước, thắng sau. Tôi sợ ở Việt Nam hiện nay trật tự bị đảo ngược.

Tôi có thể nói đơn giản như thế này bởi vì tôi là một người lính cũng như một linh mục. Vũ khí là quan trọng. Chiến đấu là cần thiết để bảo vệ người dân khỏi bị những người cộng sản có vũ trang làm tổn hại về thể chất. Nhưng vũ khí chỉ hữu ích cho mục đích phòng thủ. Hành vi phạm tội của chúng ta là chỉ dựa vào chiến thắng nhân dân, bởi vì ngay khi người dân hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì, và ngay khi họ tin tưởng vào khả năng của chúng ta để bảo vệ họ, và ngay khi họ tin tưởng vào sự chính trực của chúng ta, thì trận chiến sẽ diễn ra. đã thắng.

Khi chiến đấu như một cuộc chiến tranh thông thường, chúng tôi thực sự không có cơ hội chiến thắng. Làm thế nào chúng tôi có thể giải thích cho một người mẹ khi con mình bị bỏng bởi bom napalm? Và làm thế nào chúng ta có thể mong đợi một người đàn ông trẻ tuổi chiến đấu cho chúng ta khi người cha già của anh ta bị giết bởi đạn pháo? Thật vậy, làm sao chúng tôi có thể tuyên bố đồng hành với người dân khi chúng tôi đốt nhà của họ đơn giản chỉ vì những ngôi nhà đó tình cờ nằm ​​trong lãnh thổ Việt Cộng kiểm soát?

Bạn có thể nói rằng với tư cách là một linh mục, thật dễ dàng đối với tôi khi nghĩ về tình yêu trên chiến tranh, nhưng sự thật đã chứng minh rằng tình yêu là cách duy nhất để chúng ta chiến thắng. Đó là cách duy nhất để chúng ta tồn tại.

Tóm lại, tôi muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc và sâu sắc của chúng tôi đối với vinh dự và lợi ích to lớn mà bạn đã ban tặng cho chúng tôi. Xin Chúa phù hộ cho người dân Philippines. Tôi chân thành hy vọng rằng các bạn sẽ tiếp tục quảng bá Con đường Magsaysay, con đường duy nhất để thế giới có thể hòa bình và tự do.

Khánh Hưng là tỉnh lỵ của tỉnh Ba Xuyên trước 1975, nay là TP Sóc Trăng và tỉnh Sóc Trăng.

Chuyện đời qua đám sương mù: Bát Tiên Quá Hải

Hồi ký của Chim Việt.

Dã sử Trung Hoa có sự tích Bát Tiên Quá Hải. Tám vị tiên đó có tên như sau:

  1. Hà Tiên Cô (tự Ngũ Mai, sư trưởng)
  2. Lữ Đồng Tân
  3. Lý Đạo Minh (tự Lý Thiết Quày)
  4. Tào Quốc Cửu
  5. Hàn Tôn Nữ
  6. Lâm Thái Hòa
  7. Hớn Chung Ly
  8. Trương Quốc Lão

Bảy tiên ông chỉ có một tiên bà là Hà Tiên Cô. Hà Tiên Cô trước kia là Ngũ Mai sư trưởng , bà có lập một cảnh chùa. Theo phái Hồng Môn nhận nam nữ thiếu niên dạy nghề văn, nghiệp võ. Thế võ Mai Hoa Thương và Mai Hoa Quyền là của bà lưu truyền. Bà nhận môn sinh khi làm lễ nhập môn dưới chùa thì bà cho môn sinh lên trên chùa trên núi cao luyện võ nghệ và văn chương. Chương trình của bà dạy đệ tử không biết ngày nào hạ san? Từ trên núi là chổ luyện tập võ nghệ đó, có con đường độc đạo để cho các đệ tử tự do xuống núi. Các đệ tử của bà phải đi qua105 cơ quan bí mật. Trong 105 đường trên núi là 105 thế võ bí hiểm của bà. Sau khi đã qua được 105 toàn là người máy đó, phải nhảy qua một hào sâu chung quanh một kẹt đá gay go mới đi tới cửa động.

Cử động không có người giữ, mà chỉ tấn bằng phiến đá lớn. Làm sao cho phiến đá đó đi chổ khác thì tự nhiên cửa động mở. Các môn sinh đi không thấu bị thương trở lên, nếu bị què giò là vì khi đi tới cơ quan thứ 61 nhảy không được cao, nếu bị thương sau lưng là tại không nghe được tiếng gió đâm lên từ phía sau…

Đệ tử bà xuống núi, toàn là tay làu thông võ nghệ kiếm hiệp giang hồ. Lối dạy khắc khổ của bà nên không thâu nhận nhiều môn đệ. Trong khi đó các phái như Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Lôn thì thâu thập không biết bao nhiêu là thanh niên nam nữ Trung Hoa. Sách Tàu có câu: “Cao nhân tất hữu cao nhơn trị”? Mình giỏi có người giỏi hơn mình.

Các môn phái Hồng Môn, Thiếu Lâm, Nga Mi, Côn Lôn là nhiều đệ tử trong đám kiếm khách giang hồ. Sau khi Chí Thiện thiền sư tự là Thiết Đầu Đà, đầu ông cứng như sắt có thể đập vỡ đá, thịt da nát tan như cám. Nhưng khi thử tài cho các môn đệ hai bên coi chơi Thiết Đầu Đà chuyển hết thần lực, húc vô ngay bụng của đạo nhân trưởng phái Nga Mi bị ông này hút vô kẹp cứng rồi lần hồi bị nát ra như bột . Kể từ ngày tỉ thí đó thì hai môn phái này thề không đội trời chung với nhau nửa. Bà Ngũ Mai ngao ngán thay cho c ác phái Hồng Môn, là người tu hành mà còn nặng nợ trần tục gây sự thù oán với nhau. Nên bà mới xuống núi xin gia nhập với đám thất tiên trung lập. Họ sống tiêu diêu không màng danh lợi.

Cho nên đám con cháu các vị dưới lục địa Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch có thua Mao Trạch Đông mà chạy ra đảo Đài Loan, Bát Tiên họ không cần biết tới, họ vẫn ở nơi nào đó trên phần đất Trung Hoa. Như vậy các tiên ông không chịu chạy ra đảo theo phe Tưởng mà ở lại vùng kiểm soát với đảng cộng sản thì theo phe cộng hay sao?

Bát Tiên sống theo thuyết trung lập, không có trong lý lịch hộ khẩu thì dầu cho ai lên cầm quyền tại lục địa củng là người Hán tộc. Bát Tiên đâu có mỗi tháng đi lãnh khẩu phần gạo, mỗi năm đâu có lãnh vãi và các nhu yếu phẩm của nhân dân sản xuất. Cho nên không ủng hộ mà củng không đả đảo phe nào cho mất lòng. Giữ vững thuyết trung lập đó, nên trên lục địa Trung Hoa thì có hình ảnh của Bát Tiên quá hải.

Mỗi năm tới ngày 23 tháng chạp, gần tới tết Nguyên Đán là Bát Tiên chuẩn bị đi xuống núi , châu du thiên hạ, đồng thời thăm đám cháu con. Năm nay Bát Tiên đi vòng quanh vùng Đông Nam Á châu Thái Bình Dương. Vùng này có hiệp hội các quốc gia đông Nam Á khối Asean. Sáu nước thành viên là: Phi Luật Tân, Nam Dương, Thái Lan,  Mã Lai Á, Singapore và Brunel (Borneo). Bát Tiên đi du lịch và ủy lạo con cháu vòng quanh thế giới mà không đi máy bay hay tàu thủy như người phàm vì phương tiện văn minh đó nó tốn kém tiền bạc rất nhiều.

Mà tiền thì nhận của ai đây? Đặng Tiểu Bình hay Tưởng Kinh Quốc? Nhận tiền bên nào thì củng mất tính cách trung lập. Bát Tiên xuống núi ra bờ biển thấy cây khô trôi qua, khều lại hóa phép thần thông khúc cây thành con tàu vô hình. Bảy vị tiên ông ngồi dưới ca hát nghêu ngao, giữ đúng câu nam nữ thọ thọ bất tương thân, nên bà Hà Tiên Cô cỡi hạc bay trên thổi sáo.

Khởi đầu là ghé Thái Lan nơi phía quân nhân đang tranh quyền lực với nhau, cũng là nơi đang có nhiều đứa cháu con còn kẹt trong trại tị nạn, chưa có nước nào mới mở hồ sơ. Tiên ông Tào Quốc Cựu ở lại đây thăm viếng kiều dân và vô trại tị nạn ủy lạo. Kế đó là Nam Dương quần đảo, nước này bấy lâu nay không được than thiện với nhân dân Cộng Hòa Trung Quốc vì có lúc hình như cộng sản giựt dây chop he cộng đảo chánh nước này . Tại đây tiên ông Hàn Tân Tử ở lại thăm viếng kiều dân Trung Quốc. Kế đó là nước Phi Luật Tân, cựu Tổng Thống Marcos và gia đình chạy đi tị nạn qua tiểu bang thứ 50 của Hoa Kỳ.

Lần đầu tiên trên thế giới có một nữ Tổng Thống là bà Aquino. Á Châu trước bà chỉ có nữ Thủ Tướng Ấn Độ, nữ Thủ Tướng Do Thái và bà nữ Thủ Tướng xứ trà là Tích Lan. Phi Luật Tân có nữ Tổng Thống thì Bát Tiên có bà Hà Tiên Cô. Như vậy đúng vai tuồng của bà , cũng giỏi văn, giỏi võ, bà ở lại đây, đang theo sát tình hình luôn luôn xáo trộn, có tin ông Marcos trở về, kế đó là nước vừa mới độc lập là nước Brunei (đảo Borneo) một nước nhỏ mà giàu nhất thế giới về dầu hỏa, thành viên thứ 6 khối Asean, dân số tương đối ít hơn các nước kia nên tiên ông Trương Quốc Lão ở lại thăm viếng kiều bào.

Kế bên là bán đảo Singapore, từ ngày tách rời khỏi nước Mã Lai Á, nhờ sự lèo lái tài tình của ông Lý Quang Diệu mà về kinh tế nước này chỉ đứng sau Nhật Bổn, có một phi trường tối tân nhất Á Châu. Sau khi hay tin tết Nguyên Đán này, Bát Tiên là tiên ông Lý Đạo Minh tới Singapore dân chúng vui mừng đón tiếp. Thật cảm động khi đoàn người già trẻ trai gái, đi sau một ông già tay chống gậy, tay cầm bầu rượu, vai mang bị là hình dáng Cái Bang. Tiên ông Lý Đạo Minh là cốt tiên nhưng khi đi ủy lạo đám cháu thì nhập vô xác người ăn mày. Vậy mà giữa thành phố hoa lệ của Tân Gia Ba…ông được đón tiếp như một vị thượng khách, vị đương kiêm Thủ Tướng Lý Quang Diệu là cháu 99 đời của ông Lý Đạo Minh tự là Lý Thiết Quày..

Từ giã Singapore con tàu vô hình chạy qua hải cảng Penang của Mã Lai, nơi đây có một cuộc tranh chấp lớn lao của kiều dân Trung Quốc và dân Mã Lai tư bản người bổn xứ. Tại hải cảng quốc tế Penang, có một nghĩa trang của người Huê kiều, nằm trên đồi, kêu là đồi Trung Quốc.

Trên nghĩa trang đó có một ngôi mộ của vị thuyền trưởng người Trung Quốc chôn cách đây 500 trăm năm. Mỗi năm tới ngày lễ Thanh Minh tại đây là ngày lễ hội lớn của tất cả người Huê kiều sống tại xứ Mã Lai, khắp xứ đều tề tựu về đây. Con cháu họ từ nhiều đời đem hài cốt thân nhân chôn tại đây. Vì đất Mã Lai hẹp, phần nhiều là đồi núi, họ hỏa táng. Giới tư bản Mã Lai họ muốn dời cái nghĩa trang Trung Quốc đi nơi khác đặng nơi đó họ lập một khu thương mại có tầm vóc quốc tế gần Penang, liền bị phía kiều dân Hoa kiều phản đối mạnh , sự tranh chấp đi tới quốc hội Mã Lai này vẫn chưa giải quyết ra sao. Rồi tới chổ đụng chạm về tôn giáo và tín ngưỡng. Người Mã Lai họ theo Hồi Giáo cữ ăn thịt heo. Còn người Huê kiều thì thích ăn thịt heo, sanh ra ấu đả trầm trọng có khi đi tới đổ máu và có án mạng cho đôi bên. Giới tư bản Hoa kiều có tín ngưỡng không dám động tới mồ mã tổ tiên nằm lâu đời trên đồi Trung Quốc, giá nào họ củng đoàn kết chống lại. Giới tư bản Mã Lai trên đà phát triển mạnh, họ muốn chỉnh trang lại thành phố theo hiện đại.

Tiên ông Hơn Chung Ly được ở lại xứ Mã Lai.; Như vậy trên còn tàu vô hình này chỉ còn lại ông Lữ Đồng Tân và ông Lâm Thái Hòa, đi qua miền Nam nước Việt. Từ hải cảng Penang, tàu chạy trong cửa Malacca, xuống Singapore nhắm lên hướng Bắc đi ngay vô mũi Cà Mau, tính vô cửa Bạc Liêu trước.

Bạc Liêu là xứ làm giàu, dưới song cá Chốt, trên gò Triều Châu…Mấy năm trước khi vô gần tới hải phận xứ Bạc Liêu là Vĩnh Châu thì thoang thoảng mùi thơm nhãn, từ trong vườn nhãn bay xa ra biển. Trên bờ người người đi tấp nập, dưới bến ghe thuyền đông đảo, nay sao trên bờ hoang vắng không một bóng người đi dưới bến không một chiếc ghe đậu mà chỉ toàn là xuồng con năm ba chiếc. Như thời xa xưa có chiến dịch vườn không nhà trống. Con tàu không ghé vô cửa Bạc Liêu mà chạy qua cửa Gành Hào. Trước lkia hình ảnh nổi bật ngoài cửa Gành Hào là miếu Bà Chúa Xứ. Ngày đêm nhang khói nghi ngút, ban đêm từ ngoài xa các ghe đi biển về đêm thấy ánh đèn lung linh ngoài mé biển, họ biết đó là ngay cửa miếu Bà củng như ngọn hải đăng cho các ghe cào, ghe lưới.

Nay không còn thấy nửa vì đã mất miếu Bà. Khi con tàu vô hình chãy ngang cửa, thì thấy nhà sàn hai bên cái còn cái sập. Trước kia cửa này tấp nập có hơn 300 chiếc ghe cào đậu dọc theo hai bên bờ sông, nay chỉ còn mấy chục chiếc nhưng ghe phải vô đậu gần hãng đông lạnh. Hãng đông lạnh thì kề mé sông, mà con song Gành Hào là giọt nước nó chảy mạnh nhất trong các con sông trong tỉnh Minh Hải này, độ chừng một năm thì một cơ sở đông lạnh thật tối tân đầy đủ tiện nghi của nhân dân Thụy Điển cất tặng cho VC. Nó sẽ bước xuống con song Gành Hào. Cảnh tang thương này củng như bên cửa Bạc Liêu  thì đâu còn người Hoa kiều nào sinh sống nổi mà vô đó mất công.

Con tàu chạy qua cửa Bồ Đề, nơi đây toàn là rừng Đước âm u không một chiếc ghe nào lai vãng, vì VC nó không cho ở vùng này còn ghe tàu đánh cá thì phải chạy phía ngoài Hòn Khoai, một bãi bùn lầy ra xama61y cây số ngoài biển ghe vượt biên ban đêm thường bị mắc cạn. Qua khỏi đây là tới mũi Ông Trang, một thị trấn nằm trên mặt nước. Tất cả và tất cả là nhà sàn, con lộ chính củng bằng cây cầu, mà cầu này đặc biệt hơn hết là nó nằm cao hơn cửa cái trong nhà. Vì cầu vừ hơi cũ, chưa sập xuống thì họ lại dựng lên trên lớp cầu mới luôn, nên mình thấy có ba lớp cầu chồng lên trên cầu.

Tại ngoài vàm cũng có một đồn côn an biên phòng đóng giữ, vì trong rừng Đước Năm Căn, không ra được cửa song Bồ Đề thì ghe vượt biên sẽ ra ngã ông Trang. Con tàu chạy một khoảng này khá xa và cũng đầy nguy hiểm vì ngoài khơi ngư dân cặm không biết bao nhiêu là hang đáy loại bò cạp, vùng này là vùng rừng Đước Năm Căn , VC kêu là huyện Ngọc Hiền hàng đáy họ cắm nọc bằng cây Đước, trên hai cây rương ngang qua cũng bằng cây Đước, và 4 cây chỏi cũng bằng cây Đước  thay vì trong sông thì xài bằng giây kẽm, hay bằng sợi dây Mây đánh lại nhiều con. Một dãy hàng đáy cặm chắc chắn như vậy cho neyn ban đêm ghe vượt biên chạy gần tới thì nước chảy xiết tấp vô căn hang đáy này thì chìm liền vì 4 cây chỏi nó quá chắc, đặng đứng vững với những ngọn sóng nước lớn cũng như nước ròng.

Những năm đầu ghe đi tị nạn nhiều chiếc bị tai nạn chổ này nên họ kêu là vùng tử địa mũi Bà Quản (hay mũi Gò Công). Vùng tử địa này chạy hơn ba giờ mới tới Vàm Rạch Trẻo, rồi tới Cái Đôi Nhỏ, kế đến Cái Đôi Vàm. Cái Đôi Vàm cũng là Biệt khu Hải Yến. Khu này trước kia có ông cha người Trung Hoa tên Nguyễn Lạc Hóa. Dưới quyền chỉ huy ông một đại đội biệt kích , dân thiện chiến đánh chiến lược du kích chống bọn VC. Đội lính biệt kích này là gốc lính Quốc Dân Đảng hơn 40 ngàn lính đó bị Pháp tước khí giới ngoài Bắc đem vô tập trung ngoài đảo Phú Quốc. Không biết bằng cách nào mà cha Hóa tuyển mộ

được đem về đây. Vì vậy mà suốt thời gian lính này đóng tại khu Hải Yến thì địa bàn hoạt động của VC thâu hẹp lại vào mật khu Năm Căn. Đa số người ở vùng biên thùy Vân Nam không nói phổ thông tiếng Trung Hoa  mà họ nói tiếng người Sơn Cước, cho nên dân địa phương kêu đại họ là lính Nùng. Có một lúc Má chín Lý Cái trên Chợ Lớn lãnh sứ mạng của Bảy Viễn ra Phú Quốc mộ lính này đặng về chống lại với ông Diệm. Không hiểu bên trong như thế nào mà Lý Cái bị Bả Viễn thủ tiêu; sau kiếm tây y được, mà không biết tại sao y bị giết bằng cách bị mổ mật.

Vô Cái Đôi Vàm xa phía trong là hành dinh khu Hải Yến cũng là Bình Hưng, một cổng chào vô thị trấn Bình Hưng có hai câu như sau:

Bình Hưng chính khí oán chung thiên

Hải Yến muôn sự trừ phỉ cộng.

Sau 1975 đại đội này không còn đóng tại đây, không biết họ đi đâu? Nhưng trước đó cũng có nhiều người ra dân, cưới vợ Việt sanh sống vùng này, sự cần cù của người dân sơn cước cho nên họ khá giả hơn dân đại phương.

Họ cũng giữ nhiều trò giải trí cổ truyền như múa Lân, đánh võ Tàu, có hội hè thì lắc Tài Sỉu . Còn vấn đề ăn nhậu thì bị đồng hóa xứ mình. Hoàn cảnh của đám dân thiểu số này mà tiên ông Lâm Thái Hòa và Lử Đồng Tân mới đi vô làng Bình Hưng phải ở lại đây với đám con cháu đáng thương này , ngoài Bát Tiên ra… thì tới chết họ cũng không được một người chánh gốc Trung Hoa lặn lội tới đây thăm viếng. Riêng họ thì đành bỏ xương nơi quê vợ. Làm sao họ có đủ khả năng lo hối lộ đặng vượt biên hầu tìm về Tàu. Sau một cuộc hành trình quá dài xuyên qua bảy nước, Bát Tiên thấm mệt kết thúc chương trình đi ủy lạo và ở lại Bình Hưng chung vui với đám cháu miền sơn cước lưu vong hải ngoại trong 3 ngày Nguyên Đán.

Ra giêng sẽ tiếp tụ lên thị trấn Sông Đốc thuộc xứ Cà Mau.

Chim Việt

Ngày về Banhet

Thơ Lâm Hảo Dũng

Sáng nay về tới rừng Banhet
Còn nhớ đồi cao dốc tử thần
Ta đã một thời đi chiến đấu
Một thời lữ khách rất cô đơn

Suối có ngàn năm ai nhớ suối


Ta đi ai nhắc đến tên ta
Ví như xương chất cao thành núi
Cũng chỉ mong quay lại mái nhà

Ta pháo gầm vang một góc rừng
Đồi tây giặc khiếp ngắm đồi đông
Những ai trong phút kinh hoàng ấy
Tay súng trang nghiêm mắt trợn trừng

Anh ở miền Nam lạc đến đây
Còn quân phương Bắc ngủ xuôi tay
Chiến tranh như thể trò tiêu khiển
Của lũ con buôn xác chết này

Ta ngắm trời xa Lào quốc đó
Thương hồn trai buổi máu xương phơi
Có trăng chắc thấy bao hình bóng
Về hát nghêu ngao một góc trời

Ta ngắm trời xa Chùa Tháp đó
Chiến tranh mộng tưởng sẽ về đâu
Mỗi năm rừng mất bao nhiêu lá
Là xác thây người rụng bấy nhiêu.

Trên đường Đông tiến

Thơ Lâm Hảo Dũng

Năm xưa Tây tiến nay Đông tiến

Sao nhớ cho vừa – Sao nhớ ơi!

Thèm ngủ dọc đường, cơm vắt nắm

Đêm khuya đèn đóm, lũ ma trơi

Ta có bạn hiền đi chiến đấu

Từ khi sông lạc nước khô nguồn

Nghe tiếng mẹ già rơi nước mắt

Giữa ngày giặc chiếm đất Bồng Sơn

Ai qua Dak-mot, xuôi Ben-het?

Thở gió Tam Biên, gió Hạ Lào

Loáng thoáng một mùi tanh của máu

Những ai buông súng giữa rừng sâu

Năm xưa Tây tiến, nay Đông tiến

Về núi Tà Lơn xuống Biển Hồ

Ta biết người buồn say rất nhẹ

(Một hồn du tử ở phương xa)

Ta biết người buồn trăng chết đuối

Bởi đêm Chùa Tháp thiếu Ngàn Mây

Thoảng điệu dù-kê (*) mùa rước nước

Nghe câu vọng cổ khóc không hay

Bỗng thấy thêm yêu đời trận mạc

Là khi đất nhú một chồi xanh

Một người bỏ phố đi vì nước

Một kẻ lêu bêu khóc vận mình

Năm xưa Tây tiến, nay Đông tiến

Sao nhớ cho vừa đây, Tiếng ơi!

(*) Dù kê: một vũ điệu, ca múa của người Khmer ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Trà Vinh, v.v…

03 Apr 1972, Near the Dong Ha River, Vietnam — South Vietnamese artillery batteries fire across the Dong Ha River into North Vietnamese positions 4/3 as ARVN armoured tank units take up their positions to try to stop the advance of North Vietnamese troops and tanks. — Image by © Bettmann/CORBIS

Photo by Willie Vicoy – April 03, 1972

Vietnam War – Lai Khe 1972 – South Vietnamese paratrooper prepares for battle

Lai Khe, S. Vietnam – A South Vietnamese paratrooper, equipped with a machine gun and bullets, prepares to board a helicopter April 16 for an assault on a position south of An Loc. Reinforced South Vietnamese and Communist troops fought desperately April 16 for An Loc, the strategic town which both sides claim they control. Credit (UPI) by Willie Vicoy 4/17/72.

Vietnam War – Near Tay Ninh 1972 – Making his way

Near Cambodian Border, S. Vietnam: His M-60 machine gun balanced across his shoulder, an ARVN trooper makes his way through jungle area three miles from the Cambodian border near Tay Ninh Mar. 4.

Credit (UPI Photo by Willie Vicoy) 3/6/72.

VIETNAM WAR 1973 – ARVN Soldiers Giving the Victory Sign

29 Jan 1973, Highway One, Vietnam — Highway One, Vietnam: ARVN soldiers give the “V” for victory sign atop their M-48 tank as their armored outfit takes up position along Highway One near Tay Ninh recently. Despite a cease-fire agreement, the Vietnam War raged on with Saigon reporting 426 separate battles and at least 371 battlefield deaths during the first 22 hours of Technical peace. — Image by Willie Vicoy © Bettmann/CORBIS

Ben Het, Vietnam War 1969

The CIDG (Civilian Irregular Defence Group) in a sandbagged camp in Ben Het, South Vietnam, 18th June 1969. (Photo by David Turnley/Corbis/VCG via Getty Images)

CIDG Soldiers, Vietnam War 1969

Officers of the CIDG (Civilian Irregular Defence Group) armed with M16 rifles, walking through the foliage outside the perimeter of Special Forces Camp in Ben Het, South Vietnam, 30th June 1969. (Photo by David Turnley/Corbis/VCG via Getty Images)

Ben Het – Soldiers on Ground in Battle

(Original Caption) An American Caribou cargo plane parachutes urgently needed supplies into the besieged Green Beret camp at Ben Het. Until a convoy fought its way along the road 6/25, the camp could only be resupplied by air. On 6/26, South Vietnamese troops behind tanks and armoured personnel carriers drove another wedge in the North Vietnamese encirclement and opened a second road to the camp. Here, soldiers are shown lying on the ground in battle.

Chiến Ca Mùa Hè – Một Giờ Mặc Niệm

Thơ Phạm Lê Phan

Sau một giờ mặc niệm

Xin một phút bồi hồi

Cho triệu anh em mất còn trong cuộc chiến

Cho người dại khờ và kẻ tinh khôn

Xin cúi đầu thật thấp trước oan hồn

Ở hai phía quân thù và bè bạn

Ngày dâng nến rưng rưng hàng mộ trắng

Chiều ngùi ngùi sương khói chiến trường xưa

Mỗi nấm mồ xin phủ một lá cờ

Và khấn nguyện chung một lời vĩnh biệt

“Thôi, lần cuối xin người tha thứ hết

Tha thứ cho nhau – tha thứ cho đời”

Bởi dù sao mình vẫn một giống nòi

Cùng kiêu hãnh và chung tủi hổ

Chung một kiếp đọa đày và khốn khổ

Sau hơn hai mươi năm xâu xé tan hoang

Giữa triệu anh em cùng tên gọi Việt Nam

Kèn u uất lay ngọn cờ buồn rũ

Xin thắp lên nhang nến hai hàng

Sau một giờ mặc niệm

Xin một phút bàng hoàng…

Phạm Lê Phan

(4-1972)

Tự do cái con c..

Tặng trung tá công an Vũ văn Hiển

Thơ Trạch Gầm


Chưa bao giờ tao nghe…
Thằng việt cộng nào nói thật
Giờ nghe mầy phát biểu
Tao vui quá là vui
Tao đề nghị…
Bầu mầy làm chủ tịch
Cho đảng ta được hạnh phúc… tơi bời
Đường lối đảng… mầy dạn dầy thông suốt
Trung tá công an chớ bộ cứt sao
Cương lĩnh đảng chui ra từ…quần chúng
Thập thò đầu …Toàn một lũ tào lao
Tìm hạnh phúc…cứ đi tìm con kẹt
Tìm tự do… cứ con kẹt mà tìm
Chủ trương đảng dân từ lâu đã biết
Nhờ có mầy
Dân sáng mắt ra thêm
Một phút ‘vô tư’
Mầy thật lòng bày tỏ
Đảng của mầy quả … nở mặt nở mày
Vỗ tay hoan hô lợp ba lợp bợp
Bảng ghi công lịch sử đảng có tên mầy
Tự do cái con c..
Con c..là đảng. Vỗ tay

Trạch Gầm

Tháng Tư… Ngồi nhớ một ngày

Thơ Trạch Gầm

Ta có một ngày… một ngày ngồi khóc

Ta có một ngày gãy đỗ ước mơ

Mười năm lính tưởng đâu đà sỏi đá

Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa

Thằng thượng sỉ mười mấy năm gian khổ

Kê súng vào đầu chỉ chưởi một câu …

Đời nhà binh sao tình như nhà thỗ

Thẩm Quyền ơi giờ Người ở nơi đâu ?!!

Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận

Nhận lịnh đầu hàng… rời rã tai ương

Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác

Thân xác không hồn … điếng ngắt cô đơn

Con phố quận quen từng ô da thịt

Nơi tựa lưng, cười, mỗi lúc quay về

Giờ lạnh căm… bỏ đi như người lạ

Không một lời … dù uất hận tái tê

Móc túi từng thằng, chia đều từng đứa

Thôi tan hàng… lại cố gắng mới đau

Cố gắng nhìn nhau mắt mờ nước mắt

Sừng sững đất trời… có cảnh nầy sao

Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ

Mất hết cả rồi… mất dễ như chơi

Lịch sữ sang trang… sang trang lịch sữ

Mất cả vinh quang; mất cả ngậm ngùi

Trạch Gầm

Hỏi thăm Huỳnh Tấn Mẫm

Thơ Trạch Gầm

Hồi đó… tao mấy lần xin lịnh
Bắn hết bọn mầy để giữ trị an
Ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản

Mầy quậy tưng xuống phố, xuống đường

Không được lịnh… tao thật lòng tức tối
Sao cứ để thằng phá rối sống nhăn
Hai chữ tự do thật thà quá đổi
Mầy không chết là …nhờ Mỹ chống lưng?…

Mầy theo thành đoàn…họp khu Rừng Lá (1)
Mầy rãi truyền đơn xách động Đồng Bào
Tết Mậu Thân …Tao rượt mầy tơi tả
Bọn thành đoàn mầy nát bét như chao

Bọn mầy vào tù…gục đầu yêu nước
Bọn tao thua, mầy vảnh mặt tự hào
Công thống nhất chỉ bọn mầy làm được
Mặc dân Miền Nam trơ trụi máu đào

Được vài năm bọn mầy bị giũ sạch
Đảng mầy thờ lòi mặt quỉ xâm lăng
Công lao bọn mầy trơ trơ trất trất
Mầy hiểu ra là… đã quá muộn màng

Thà mất nước còn hơn là mất đảng
Đảng vinh quang cứ thế lạy thằng Tàu
Nhớ ngày xưa mầy bảo mầy yêu nước
Họa xâm lăng mầy thin thít nơi đâu

Hôm nay biểu tình thấy mầy xuống phố
Thật hay đùa…tao cũng có chút vui
Tao không bắn mầy vì không có lịnh
Mầy đi biểu tình…mầy nhận lịnh ai

Tao cầu mong thực sự mầy thức tỉnh
Vì Việt Nam, vì Dân Tộc Đồng Bào…

Trạch Gầm
6/6/2011

1 địa danh giữa Long Khánh Bình Tuy

Cạn Chén Bâng Quơ

Thơ Trạch Gầm

Uống cạn ly đầy, rót đầy ly cạn
Câu nói nầy tao quen quá là quen
Mười năm lính, tao uống hoài không cạn
Tình nghĩa bạn bè … tình nghĩa anh em

Thằng Anh tao, việt cộng đem xử bắn
Tháng ngày tù… đạp trại… bỏ ra đi
Tao vẫn nhớ, lệnh xung phong lạnh ngắt
Chicken die… mầy còn đợi cái gì

Tao có thằng Em… một tháng sau cưới vợ
Nghe hành quân vội vã quảy hành trang
Mình làm sớm để rồi còn nghỉ sớm
Nó chết đi, đóng cửa một thiên đàng

Ngày Bàu Lồng, tao vào đồn thăm bạn
Xách trên tay một cane đế Hốc Môn
Uống một ít… nó chừa cho ngày tết
Tết chưa qua, nó tan biến theo đồn

Tao còn có… có trăm điều để nhớ
Mổi một điều cạn một chén thương đau
Mầy cứ trải poncho rồi ngồi xuống
Thay thằng chết rồi…cạn chén cùng tao…

Giờ mất nước- Buồn ra sao- Chưa đã ?
Vui sướng gì… mà cứ cạn bâng quơ…