Võ Ngọc Ánh
Gửi tới BBC từ Tacoma, Washington, Hoa Kỳ
15 tháng 4 2021

Nguồn hình ảnh, Đổ Trung Dũng
Chụp lại hình ảnh,
Mộ tử sĩ VNCH được cải táng ở Bình Thuận
Trong cuộc chiến ý thức hệ trên dải đất hình chữ S, Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu trên lãnh thổ của mình, điều kiện hậu cần tốt nên đa phần người lính tử trận được đưa về quê nhà an táng.
Năm 2008, gần một tháng sau khi vào Sài Gòn làm việc, tôi đến Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa để tìm hiểu, thăm viếng.
Đây là nơi chôn chất những người lính của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại duy nhất tôi biết được sau năm 1975.
Điểm đầu tiên tôi đến viếng là đền tử sĩ. Bên ngoài cổng tam quan nhìn vẫn còn cứng cáp. Bước lên khỏi nhiều bậc tam cấp là một khung cảnh hoang tàn như ngôi miếu hoang nhiều phần đã đổ sụp bày ra trước mắt. Rời nơi đây tôi đến khu chôn cất những người lính.
Lúc này nghĩa trang quân đội Biên Hòa đã có tên Nghĩa trang Nhân dân Bình An từ hai năm trước.
Để được vào được bên trong nghĩa trang, tôi phải xuất trình chứng minh nhân dân cho người gác cổng ghi lại thông tin và trả lời những câu hỏi, “vào làm gì?”, “viếng ai?”…
Nơi an nghỉ bị kiểm soát
Đã có hơn 18 nghìn quân nhân bên phía Việt Nam Cộng Hòa được chôn cất nơi đây trước ngày 30/04/1975 trong các ngôi mộ giống nhau.
Giờ đây, trong tầm mắt theo bước chân tôi là một khung cảnh trông lộn xộn của bề ngoài của các ngôi mộ.
Nhiều ngôi mộ mới được trùng tu, xây thêm với gạch men, đá hoa cương, nước sơn mới xen lẫn những mộ trông hoang lạnh, rêu phong với chân nhang ít ỏi, bạc màu.
Rất dễ để thấy những bia mộ vẫn còn in dấu đập như búa gõ lên hình ảnh, tên của người lính đang nằm dưới. Dấu tích của sự căm thù bên thắng cuộc đã trút lên những ngôi mộ đang bị ‘cầm tù’ trong khu quân sự hơn 30 năm sau ngày 30/4/1975.
Những hố nông cùng xà bần vung vãi để phơi ra dấu vết của các mộ đã được thân nhân di dời.

Nguồn hình ảnh, Bình An
Chụp lại hình ảnh,
Những nấm mộ trong nghĩa trang hoang tàn đang được quy hoạch thành dự án bất động sản ở Bình Thuận
Một số tài liệu cũ, nhân chứng cho biết, trước năm 1975, tại miền Nam đã có nhiều khu mai táng tử sĩ thuộc cấp tỉnh (tiểu khu), binh chủng. Tuy nhiên, tôi không trực tiếp thấy được các nơi này.
Dù có thêm các khu mai táng tập trung thì cũng chỉ có một phần nhỏ người lính tử trận được đưa vào đó chôn cất. Đa số người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận được đưa về quê nhà an táng trong nghĩa trang của gia đình, dòng tộc, hoặc của làng, xã, tôn giáo…
Trên bia mộ cho thấy, quân nhân bên phía Việt Nam Cộng Hòa quê tôi tử trận sớm nhất vào năm 1960. Các vị cao niên kể lại lúc đó có xe đưa về, quan tài phủ cờ nước, có tiểu đội cùng về bồng súng trang trọng chào đồng đội vào lòng đất mẹ.
Tất cả người lính Việt Nam Cộng Hòa tử trận sau này ở quê tôi cũng được đưa về nhà để chôn cất theo kiểu như thế. Tôi chứng thực được điều này khi còn là một đứa trẻ đi chăn bò, lớn hơn đi tảo mộ vào đầu tháng 12 âm lịch hằng năm. Tôi đã đọc rất nhiều bia xi phía chân mộ ghi tên quốc gia “Việt Nam Cộng Hòa”, tên người lính, đơn vị, chức vụ, nơi tử trận… Trong khi đó bộ đội miền Bắc vào Nam, hoặc du kích thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam phải chết đâu chôn đó. Số còn lại phải nhờ đối phương chôn cất.
Theo số liệu từ chính quyền Việt Nam, hiện còn khoảng 200 ngàn liệt sĩ bên bên thắng trận vẫn chưa tìm được hài cốt. Con số này tương đương 2/3 tổng số (hơn 300 ngàn) quân nhân Việt Nam Cộng Hòa bỏ mạng trong chiến tranh Việt Nam.
Đưa người lính về quê an táng, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đáp ứng được nguyện vọng, giúp người thân thuận tiện trong việc chăm sóc mả mồ vốn là truyền thống rất quan trọng của người Việt.

Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa với tên gọi mới là Nghĩa trang Nhân dân Bình An tọa lạc tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, Việt Nam
Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn đã không nghĩ hết, sự nhân văn này đã không chiến thắng được nỗi sợ cái chết khi phải đi lính. Điều này dẫn đến nhiều người bên phía Việt Nam Cộng Hòa thay đổi sắc lính để kéo dài thời gian huấn luyện, tránh việc trực tiếp đánh nhau với các lực lượng thuộc Cộng Sản. Không ít gia đình có điều kiện chọn cách bỏ tiền để con cái có được một chân lính dễ thở, “lính kiểng” ít nguy hiểm hơn.
Họ làm tất cả điều này để tránh cái chết qua việc ít trực tiếp đối diện với đạn, pháo đối phương.
Các tài liệu nghiên cứu, báo cáo, báo chí thời đó cũ cho thấy đào ngũ trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa thường trên mức 10%, theo một bài trên New York Times (27/07/1970).
Con số này theo suy nghĩ của tôi, có lẽ bao gồm cả những quân nhân vắng mặt tại đơn vị không rõ lý do ngắn hạn, ‘lính ma’ hoặc lính thay đổi đơn vị, binh chủng.
Điều này là hoàn toàn khác biệt với ngoài Bắc. Người trốn lính, cùng gia đình không thể sống được trong cộng đồng bị chế độ tem phiếu, hộ khẩu, việc làm do chính quyền quyết định, chi phối toàn bộ cuộc sống một cá nhân.
Quê nhà giúp đa số tử sĩ an nghỉ
Thế nhưng nghĩ lại thì chính sách của VNCH từng làm suy yếu quân đội nhưng phần nào giúp cho tử sĩ ‘mồ yên mả đẹp’ ngày nay.
Năm 2018, trong dịp đến tiểu bang Minnesota, tôi đã gặp ông Khiêm. Một cựu quan chức tình báo của chính quyền Sài Gòn đã ở tuổi ngoài 80.
Ông nói, chính quyền lúc đó thừa biết có chuyện bỏ tiền chạy lính. Không ít người đã bỏ tiền để được vào địa phương quân, nghĩa quân để gần nhà và ít nguy hiểm. Có người còn chạy cả giấy miễn quân dịch.
Vì thế, không ít người trong độ tuổi quân dịch dù có tên trong lính nhưng không có mặt. Số này chính là ‘lính ma’. Họ chấp nhận lương của mình do người khác lãnh, có người còn phải đóng thêm tiền hàng tháng.
Câu chuyện của cựu quan chức tình báo trên không lạ. Từ nhỏ tại quê nhà tôi đã nghe kể vô số những câu chuyện như thế. Nó sinh động hơn, khác biệt với những bài học lịch sử trong sách vốn chỉ toàn màu chiến thắng. Lịch sử bên thắng trận vốn không khác những bài PR của chế độ.
Cũng vị cựu quan chức tình báo này, chính quyền, quân đội Việt Nam Cộng Hòa lúc đó không thật sự làm nghiêm, hoặc đủ sức để chấn chỉnh các vấn nạn này.
Tuy nhiên ông không thừa nhận, đây là một thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa để dẫn đến quốc gia rơi vào tay miền Bắc trong năm 1975. Mà, lý do Việt Nam Cộng Hòa thua cuộc do bị Mỹ bỏ rơi.

Nguồn hình ảnh, Công Thuận
Chụp lại hình ảnh,
Khu mộ tập thể quân nhân chết ở đồi Charlie vào năm 1971 được lập tại Chơn Thành, Bình Phước vào các năm 2014, 2015
Cuộc chiến đã lùi xa hơn 46 năm, cùng người Việt nằm trong đất vẫn còn bị đối xử bên thắng – bên thua.
Bên thắng cuộc có chính quyền bỏ công, tiền của để tìm kiếm, quy tập. Bên thua cuộc chỉ biết nhờ người thân, hoặc đồng đội đủ can đảm đối mặt với thách thức từ chính quyền, hoặc bác ái trong các tôn giáo.
Nghĩ an ủi cho cho những người quá cố, nhờ đa số người lính bên phía Việt Nam Cộng Hòa được đưa về quê an táng đã giúp việc chăm sóc của thân nhân giờ được thuận tiện hơn.
Chính sách xưa hóa ra giúp các tử sĩ không phải chịu cảnh ‘cầm tù’ trong mộ hơn 30 năm như Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.
39 năm dưới nền đất lạnh
Hạ sĩ nhất Võ Phùng Dương rời chiến cuộc với một chân bị mất vào tháng 2/1975 trong trận đánh ở Chơn Thành. Ông còn phải vào trại cải tạo ở Phú Khánh (nay là Phú Yên) 5 năm. Khi ông trở về nhà tại quận 4 vào năm 1980, Sài Gòn đã trở thành TP Hồ Chí Minh và ông cũng không thể ở trong ngôi nhà của mình nữa.
“Tôi về Sài Gòn, trình diện ở quận 4, sau đó họ không cho tôi ở nên tôi lên vùng kinh tế mới, đi tự túc. Lúc trước có quen một cô ở Chơn Thành, tôi lên đây ở, rồi thành vợ chồng. Hai người đi làm mướn, đi cạo mủ cao su.”

Nguồn hình ảnh, Công Thuận
Chụp lại hình ảnh,
Thương phế binh Võ Phùng Dương đã dành nhiều năm tìm kiếm hài cốt đồng đội.
“Tôi ở đây, vẫn nhớ anh em còn nằm lại An Lộc,” ông bắt đầu kể về hành trình thầm lặng của mình. “Suốt thời bao cấp khổ cực và nguy hiểm, tôi nhớ mấy chỗ đó nhưng không dám đụng vô. Lúc đó mình mới đi cải tạo ra, coi như là ra tù, còn nhiều khó khăn. Hồi đó đụng vô mấy chuyện này là ghê lắm, bị xử bắn chứ không đùa.”
Đến năm 2011, ông Dương mới trở lại An Lộc để bốc cốt. An Lộc xưa giờ đã thành thị xã Bình Long sầm uất. Chiến trường ngày ấy đổi thay hoàn toàn, nhưng ông vẫn nhận ra những nơi chốn mà ông đã chôn đồng đội.
“Gần 40 năm, nhiều nơi người ta xây nhà, cốt anh em nằm dưới nền đất lạnh, đào mất thời gian lắm. Nhiều nơi họ ban đất, mình tới trình bày, nói ở đây hồi xưa có chôn anh em, thì họ cho đào. Có khi trong nền nhà có 5-7 người nằm, họ cũng đào lên rồi giao cho mình,” ông thuật lại.
Trong vòng 3 năm, từ 2011 đến 2013, ông Võ Phùng Dương cùng một số anh em, bạn bè đã cải táng được 65 bộ hài cốt, chủ yếu là thành viên của Liên đoàn 3 Biệt động quân và một số đơn vị khác. Ông cũng kết nối được nhiều gia đình người thân.

Khu mộ tập thể quân nhân chết ở đồi Charlie vào năm 1971 được lập tại Chơn Thành, Bình Phước vào các năm 2014, 2015
“Đào lên thì có người được nhận diện qua thẻ bài, có người qua các di vật,” ông chia sẻ. “Trong số 65 bộ hài cốt, có 10 bộ là vô danh, còn xác định được hết. Tôi viết tên anh em ra giấy rồi photocopy, xong đem xuống Long Khánh, Hố Nai, Biên Hòa… hỏi tìm thân nhân. Cũng tìm được một số. Đến nay đã có mười mấy gia đình đến nhận.”
“Người thân đa số vào thăm, họ khóc, thắp nhang, rồi họ để lại đó chứ không đem về. Họ nói đem về cũng khó khăn, bốn mươi mấy năm rồi, thôi ở lại đó với anh em,” ông Dương kể.
Người về từ Charlie
Sau khi đưa những “chiến hữu” từ An Lộc trở về an táng, năm 2014, ông Võ Phùng Dương lại cùng các cựu quân nhân VNCH lên Kon Tum.
Đồi Charlie là một điểm nóng khác trong Mùa hè đỏ lửa 1972. Nơi đây được biết đến nhiều hơn qua ca khúc “Người ở lại Charlie” do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết về Trung tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Nhảy dù, tử trận ngày 12/4/1972.
“Có anh ở Kon Tum dẫn mấy anh em đi tìm. Lên trên đồi đào được một hố chôn tập thể. Có tới 20 bộ hài cốt quân nhân VNCH,” ông Dương kể. “Ngoài ra tụi tôi còn tìm thấy 5-6 hài cốt bộ đội nên báo cho chính quyền.”
Thương phế binh Nguyễn Công Lý và kỷ vật chiến tranh đem về sau chuyến tìm kiếm hài cốt ở Lào
Ông Dương và nhóm tìm kiếm đi hai lần lên Kon Tum. Những hài cốt quân nhân vô danh từ đó được đưa về táng chung trong một ngôi mộ ở Chơn Thành, Bình Phước với tấm bia tưởng niệm ghi “Memory – Charlie – Hill”, cùng tên của Trung tá Nguyễn Đình Bảo. Thông tin trên bia còn cho biết các quân nhân trong ngôi mộ tập thể thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh. Xung quanh là 13 ngôi mộ của tử sĩ do ông Dương đưa về từ An Lộc.
“Mấy bộ hài cốt từ An Lộc là tôi mang về lúc khó khăn, không đưa đi chôn trên đó được. Tôi bỏ cốt trong hũ rồi đậy kín, để anh em ở trong nhà mình, một thời gian sau tìm thêm các anh em khác mới đưa ra đây táng.”
“Chỗ này hồi trước có nhiều anh em đến viếng. Sau mọi người tổ chức tưởng niệm, rồi có người chụp hình đưa lên mạng, về sau bị cấm luôn, không vào được nữa,” ông Dương cho biết.
Câu chuyện của ông Dương là một lát cắt nhỏ trong vô vàn những hành trình âm thầm tìm kiếm quân nhân VNCH mất tích thời chiến tranh. Có những cuộc tìm kiếm có kết quả, cũng có nhiều người tới chiến trường xưa chỉ để lấy một nắm đất trở về.
Năm 2016, sau nhiều nỗ lực và với sự giúp đỡ tài chính của nhiều người, bà quả phụ Nguyễn Văn Đương đã sang tỉnh Savannakhet (Lào) để tìm hài cốt chồng. Đại úy Đương, nhân vật trong bài hát “Anh không chết đâu anh”, đã tự sát khi đơn vị của ông bị vây trên đồi 31 trong chiến dịch Lam Sơn 719 vào năm 1971.
“Chúng tôi mang trái cây, hoa từ Sài Gòn, sang đó đặt mua xôi và gà đem lên đồi cúng cho tất cả vong linh,” ông Nguyễn Công Lý, cựu quân nhân nhảy dù cùng đi với bà quả phụ Nguyễn Văn Đương sang Lào, kể lại. “Bây giờ chết rồi thì không còn phân biệt cộng hòa với cộng sản. Chúng tôi khấn cho tất cả, rồi bà Đương lấy một nắm đất trên đồi mang về Việt Nam, đưa vào chùa, coi như đó là một phần xương cốt của người đã khuất.”
Chiến tranh khép lại đã 45 năm, nhưng những cuộc kiếm tìm vẫn tiếp diễn trong âm thầm.
“Các gia đình, các hội nhóm cựu quân nhân, rồi nhà thờ vẫn kết nối, hỗ trợ nhau tìm kiếm, cải táng cho các tử sĩ,” ông Huỳnh Công Thuận chia sẻ. “Một điều động viên lớn đó là lớp con cháu sau này cũng tham gia, hỗ trợ cho những người đã già như tụi tôi.”

Nguồn hình ảnh, Nguyễn Công Lý
Chụp lại hình ảnh,
Bà quả phụ và con trai đi kiếm hài cốt Đại úy Nguyễn Văn Đương trên đồi 31 ở Lào
“Mình còn sống là may mắn lắm, nên làm được gì cho anh em thì làm,” cựu quân nhân Võ Phùng Dương tâm sự. “Mình tật nguyền nhưng tay vẫn cầm cuốc đào được, tâm mình không có tật, chỉ nghĩ phải làm gì đó cho anh em, để vậy thì thương lắm.”
Một ngày 30/4 nữa đến gần, trong lòng những người như ông Dương lại chất chứa nỗi niềm. “Mộ anh em ở đấy, khi nào nhớ nhớ thì tôi vào thắp nhang. Không có ngày giỗ. Tôi cũng tránh mấy ngày lễ kẻo rắc rối, chỉ đi vào ngày thường.”
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.