This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trên internet, có người vớ vẩn ngồi “vạch lá tìm sâu” đã ngồi tìm ra và viết ra những đặc tính của ngưới Á Châu, có lẽ là người Việt Nam thì đúng hơn, trên đất Mỹ. Phần lớn đặc tính này là tiết kiệm, sống đơn giản, không cầu kỳ theo thứ văn hóa riêng, không giống sắc dân khác nhưng vô hại như đánh trứng bằng đũa (thói quen), luôn luôn tranh nhau trả tiền bữa ăn (hiếu khách), giấy vệ sinh bán sale mua cả trăm cuốn, chỉ gọi điện thoại sau 11giờ đêm và cuối tuần (tiết kiệm), nhà thường lạnh vào mùa đông và nóng vào mùa hè, mang ở khách sạn về nhà những chai shampoo hay lotion (có thể xếp vào hàng tiết kiệm), luôn luôn có bình nước nóng trong nhà (thói quen uống trà, pha sữa đặc), trả hết credit card sau mỗi tháng (rất tốt), chỉ cho xe Nhật là tốt (các tạp chí về xe hơi đã công nhận, căn cứ vào tổng số xe Nhật bán ra). Trong những đặc tính này có những điều tác giả nhận xét đúng (luôn luôn để giày trước cửa nhà), cũng có điều nhận xét sai (húp cháo sồn sột). Cũng có điều tốt (vo gạo hai ba nước trước khi nấu) nhưng cũng có điều xấu (nhả xương và những thức ăn bã ra bàn ăn) …
Phải dẹp hết “tự ái dân tộc” đi, người ta mới không nổi sùng khi đọc đến các nhận xét về đặc tính của “dân ta” mà có lẽ vì ác ý hay khinh bạc, những người sưu tập đã nói một cách “bôi bác” như để bụng đói trước khi đi ăn buffet (ở Mỹ không thiếu thực phẩm!), lấy hũ mứt dùng làm ly uống nước (chuyện ở miền Nam vài năm sau 1975 thì còn tin được), rửa chén bát luôn luôn dùng nước lạnh (làm sao sạch mỡ?). Cũng có những điều không cần phải liệt kê như có nồi cơm điện trong nhà (đương nhiên vì dân ta ăn cơm), ăn cơm trong bếp để giữ phòng ăn được sạch (ỡ Mỹ này gia đình có mấy khi ăn chung với nhau, nếu ăn một mình thì cũng tiện, không sao!).
Trong những điều mà tác giả vô danh nào đó liệt kê, chỉ duy có một điều “lúc nào cũng để giày trước nhà” thì chúng ta thấy cũng nên suy nghĩ và xét lại. Việc bỏ giày trước cửa nhà là do từ thói quen của người miền Nam, nhất là ở Saigon, với thứ khí hậu nóng bức quanh năm, sàn nhà lót đá hoa là nơi cả gia đình có thể ngồi chơi hay nằm ngủ trưa hay có thể giăng mùng ngủ tối. Do vậy nền gạch bông của mỗi căn nhà đều được lau chùi sạch sẽ láng bóng. Khí hậu ở miền Nam lại là thứ khí hậu ẩm, đường sá không mấy sạch sẽ nên đôi giày, đôi dép có thể mang đất cát vào nhà, cho nên khi đến nhà ai, chúng ta cũng tự động bỏ giày dép ra ngoài cửa trước khi bước vào nhà. Tại các chùa chiền ở Việt Nam hay ở ngoại quốc, theo văn hóa Phật Giáo, trên nền nhà tín đồ ngồi trên bồ đoàn hay chiếu, thảm … , khi lạy thường cúi đầu sát đất nên không thể mang giày dép vào được. Trái lại ở Mỹ, đường sá không rác rưởi, bụi bặm, từ xe hơi bước vào nhà chỉ đi một đoạn ngắn, giày dép của chúng ta luôn luôn sạch sẽ, do đó dù đi vào nhà, dù là thảm hay bằng gạch bóng, thì không có lý gì chúng ta phải cởi giày hay buộc khách phải cởi giày trước khi vào nhà mình. Tôi dùng chữ “bắt buộc” vì khi thấy gia chủ để giày dép ở ngoài. làm sao khách có thể thản nhiên mang những thứ đó vào nhà. Tệ hơn nữa có một lần tôi có việc phải đến nhà một người bạn cũng sang đây théo diện H.O. (có nghĩa là cũng mới tậu nhà tậu cửa mới đây thôi) mà lâu quá tôi không nhớ là ai, đã treo một tấm bảng trước cửa nhà như ta thường thấy ở nơi chùa chiền trang nghiêm, ghi mấy dòng chữ: “Xin cởi giày dép trước khi vào nhà” và không quên ghi thêm một dòng chữ tiếng Anh “Please, take off your shoes before entering.”
Bạn có nhớ chăng ngày đi tù, chúng chở bọn mình đến Long Giao vào lúc nửa khuya trong một trại gia binh cũ, không nước, không đèn, chân dép bê bết bùn non, phải bọc báo cũ vào chân lên sạp gỗ nằm sát vào nhau mà ngủ chờ sáng. Bây giờ lẽ nào bạn lại “ra lệnh” cho tôi phải cởi giày trước khi bước vào ngôi nhà mới của bạn. Với lối chào khách vào nhà với lời yêu cầu như thế, quả tình “rất dễ xa nhau”. Trước kia ở Việt Nam, chúng ta thường cười những gia chủ bọc tấm nylon cho bộ salon, cái remote hay cả cái TV, nhưng bây giờ chúng ta lại bảo vệ cái sàn nhà quí báu của chúng ta hơn khách khứa, hơn những người bạn, hơn cả bố mẹ.
Ở Mỹ giặt một tấm thảm hay đánh bóng sàn nhà là công việc không lấy gì làm đắt giá hay nặng nhọc, vả lại như đã nói, ở đây, đường sá, sân vườn quá sạch, giày dép không thể mang nổi đất cát vào nhà, chỉ một cái thảm chùi chân để trước cửa là quá đủ. Như vậy, trên đất Mỹ, khi người đàn ông mang một đôi giày cột giây hay một phụ nữ mang một đôi giày có giây chéo, cài khuy quả là một điều bất tiện, chưa nói đến lạc hậu.
Vậy đi giày không giây cột hay mang dép khi đến nhà ai là tiện nhất. Thử nghĩ một đám cưới mà khi nhà trai mang lễ vật đến nhà gái mà tất cả họ hàng, chú rể đều phải khom lưng xuống cởi giày trước khi vào nhà thì thật là một chuyện không thể nào chấp nhận được.
Đây là một thứ văn hóa Việt Nam mà có người nào đó đã coi như một đặc tính “không giống ai” và đã đưa lên internet. Những chuyện thói quen, chuyện tập tục hay chuyện văn hóa là chuyện đã gắn chặt vào con người muôn đời, bỏ giày bỏ dép khi vào nhà ai quả là chuyện phiền toái cho chúng ta rất nhiều nhưng quả tình chưa có thể dứt bỏ được. Có lẽ rồi đây cũng phải nhờ đến quí vị có năng khiếu “vạch lá tìm sâu” kiếm thêm một vài đặc tính để người có thể nhìn ra ai là người Việt Nam trong đám đông người thiểu số ở hải ngoại. Như người đi chạy bộ thể dục (jogging) mặt hay cúi gầm xuống đất không nhìn ai; đi dự tiệc cưới thường đến trễ hai tiếng sau giờ ghi trên thiệp mời; thà ăn mì gói mà đi xe đẹp; thích đi ăn “all you can eat” vì tiệm nào cũng đầy người tóc đen (Việt, Mễ, Trung Đông); so với dân số, tỷ lệ người Việt có mặt ở sòng bài rất cao; phụ nữ Việt thích đeo nhiều vàng và hột xoàn; thường dừng xe cho tiền những ông bạn Mỹ homeless đứng ở đầu chỗ đèn xanh, đèn đỏ; có tiền thích đi Lexus hay Mercedes. Người bản xứ vẫn thường khen người Việt hai điểm, làm business giỏi và học vấn cao. Về chuyện khoa bảng người ta bày chuyện: “trong một đám đông người Đại Hàn đứng gần nhau, nếu ném một cục đá thế nào cũng trúng một ông họ Park, trong đám đông người Việt, ném một cục đá thế nào cũng trúng một ông bác sĩ”.
Đúng sai, xấu tốt, khen chê, thật hay phét còn “tùy người đối diện”. Nhân lúc trà dư, tửu hậu luận bàn một chút cho vui, nếu có khơi lại chút tự ái dân tộc, mong Quí Liệt Vị bỏ lỗi.
Chuyện rằng: Vợ Diêm vương khó ở trong mình. Ho, nhức đầu, sổ mũi… khi mùa Ðông tới, có hôm nhiệt độ xuống tới trừ vài độ C.
Vốn thương em yêu còn hơn Má của mình; nên Diêm vương đòi tên quỷ sứ vào chầu rồi ra lịnh: “Bà bây hổng biết có bịnh hoạn gì không? Mà ho sù sụ, cáu gắt mỗi ngày làm ta cũng sẩu mình, lo lắng quá. Nay ký giấy đi đường cho ngươi bay lên trần thế để rước một bác sĩ thiệt giỏi xuống đây để chữa bịnh cho em yêu của ta nhe!”
“Dạ! Tâu bệ hạ! Thần làm sao biết trên trần thế ai là bác sĩ giỏi? Hay là bệ hạ vào ‘google’ xem quảng cáo rồi cho thần cái địa chỉ phòng mạch để tiết kiệm tiền công tác phí của Diêm đài!”
“Ối cần gì xem quảng cáo; mà quảng cáo toàn là nói láo, không tin được đâu.
Nhà ngươi cứ đến trước cửa phòng mạch rồi đếm số oan hồn uổng tử đang đứng trước cửa kêu réo đòi mạng. Ít oan hồn chừng nào là bác sĩ giỏi chừng nấy!”
Tuân lịnh Diêm vương! Quỷ sứ cầm đinh ba bay về trần thế, bay qua nước Việt Nam, ngang các phòng mạch bịnh viện công sao thấy hằng hà sa số oan hồn uổng tử đang khóc lóc đòi mạng.
May mắn thay, trước cửa một phòng mạch tư chỉ có một oan hồn uổng tử đang kêu khóc mà thôi, quỷ sứ bèn bắt hồn ông bác sĩ nầy xuống Diêm vương chữa bịnh cho Hoàng hậu.
Quỷ sứ điệu viên bác sĩ nầy vào quỳ trước sân rồng. “Nghe báo cáo xưa giờ bác sĩ chỉ làm chết oan có một bịnh nhân nên Trẫm rất lấy làm đẹp dạ! Nè bác sĩ! Trước khi vào loan phòng, bắt mạch cho vợ ta, hãy để cho Trẫm hỏi:
Bác sĩ ra trường được bao lâu và chữa được bao nhiêu bịnh nhân rồi đấy hả?”
“Tâu Bệ hạ! Thần tốt nghiệp Y khoa Hà Nội cũng được 10 năm rồi đó chớ. Chỉ chuyên mở phòng mạch tư để cứu nhân độ thế mà thôi! Nhưng chưa gặp thời, nên ế quá. Số bịnh nhân của thần tới nay chỉ được có một người hè!”
***
Bây giờ đọc báo mạng thấy trong nước, thân nhân của người bịnh, vốn là bọn đầu gấu của Hà Nội, ngàn năm văn vật, xông vào bịnh viện không chỉ mắng nhiếc, đe dọa, vây bắt, đánh đập mà còn buộc bác sĩ phải quỳ gối xin lỗi sau một trận đòn nhừ tử.
Tuy nhiên cũng có bác sĩ rất yêu nghề cứu nhân độ thế, dù bị rượt chạy có cờ như vậy nhưng cũng nhịn nhục trốn dưới gầm giường bịnh, coi chừng nào im im nhờ lính tới vãn hồi trật tự thì mình lại ló ra làm nghề tiếp.
Công học cực khổ bấy lâu, lương y như từ mẫu, đâu có đòi phong bì, phong bao gì mới chữa cho bịnh nhân mà mình cũng bị rượt đánh?
Cũng tại thiên hạ đồn là: Có đứa dù học dở như Bùi Kiệm, Trịnh Hâm, thi đâu rớt đó, mà vẫn làm lãnh đạo bịnh viện như thường; vì nó có cậu làm Giám đốc Sở Y tế. Người ta bảo nhứt thân nhì thế mà! Ngành Y trong nước không là ngoại lệ!
Chuyên môn không cần giỏi; muốn lên chức lãnh đạo bịnh viện phải là đảng viên, phải là bí thơ chi bộ mới được.
Mà làm lãnh đạo bịnh viện thì có quyền, có tiền rồi gái nó nhiều quá xá… Hổng chơi uổng! Em có chồng cũng được! Có chồng mặc kệ có chồng. Còn duyên ta ẵm ta bồng ta hun. He he!
Mới đây nè… Huyện miền núi Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, tay bác sĩ, Phó giám đốc Bịnh viện đa khoa, nên đa tình với một em điều dưỡng dưới quyền.
Ðang trực lãnh đạo, bác sĩ lại mò ra nhà trọ của em để trao đổi công việc. Ðang đổi đổi trao trao; thì thằng chồng em nhào vô bắt ngay tại trận…
“Tại bác sĩ ép em; chớ em đâu có muốn cắm sừng chồng em bao giờ?”
“Em vốn là gái chính chuyên, chỉ lỡ ăn vụng có vài chục lần… Tính thôi… thì bác sĩ sùy ra cái ‘video sex’ rất nóng, nếu em không tiếp tục chiều, thì sẽ biết tay nhau!”
Thưa em điều dưỡng nầy chắc nhập tâm lời khuyên của bịnh viện là: “Nếu nó ló ra, đừng nói gì cả. Nếu thấy nó to, đừng sợ. Nếu nó đâm vào, chỉ thở nhẹ nhàng sảng khoái. Nếu nó có làm đau cũng đừng ngăn lại! Vì chích ngừa sẽ cứu sống cuộc đời của bạn!”
***
Thưa không phải tới bây giờ người ta mới khoái cái nghề bác sĩ; mà hồi thời tui còn đi học cũng vậy.
Bởi chữ có câu rằng: “Nhứt Y, nhì Dược, tạm được Bách Khoa!” Nghĩa là bác sĩ hạng nhứt, dược sĩ hạng nhì và kỹ sư hạng bét.
Còn mấy tay học ở trường Ðại học Sư Phạm, vốn ăn như Sư (không có tiền mua thịt cá, phải ăn chay; ở như Phạm, thiếu thốn tiện nghi, khổ như ở tù) thì đừng có mơ mộng viển vông được mấy em chọn làm chồng nhe cha nội!
Muốn vào học Y, Dược là trước tiên phải đậu cái chứng chỉ Lý Hóa Vạn Vật (tức SPCN) bên Ðại học Khoa Học cái đã. Xong còn phải trải qua một kỳ thi tuyển gắt gao, 10 chọn 1. Rồi học ròng rã suốt 6, 7 năm ra trường; mới được thiên hạ tôn vinh là bác sĩ. Con vợ dù không học hành gì sất cũng ké được chút chút hư danh là bà bác sĩ! Hỏi em nào mà không ham cho được hè?!
Hai thằng bạn tui đều học giỏi, đậu vào trường Y. Nhưng mùa Hè đỏ lửa, tổng động viên, cùng lớp, nhưng đứa lớn tuổi hơn, phải đi Thủ Ðức, ra trường làm sĩ quan trợ y. Thằng còn lại tiếp tục học ra trường, làm bác sĩ.
Sau 75, miền Nam mình sập tiệm, bạn bè cùng lớp phần số khác nhau nhưng vẫn còn chút nghĩa cũ càng, giúp nhau qua cơn hoạn nạn, chờ trời im bể lặng mới vượt biên.
A, đi học tập cải tạo về, được B làm bác sĩ cho đến phòng mạch của mình thực tập để tay nghề hơi cứng cứng là về xóm đi chích dạo, chữa bịnh cho bà con lao động nghèo (bịnh nhưng không đủ tiền đi bác sĩ) để kiếm sống, nuôi vợ nuôi con.
Một hôm, bác sĩ B nói: “Ê! Bữa nay tao bận đi uống beer ôm và hát karaoke với mấy em. Vợ tao có hỏi mầy tìm cách giấu dùm nhe! Rồi chú mầy chịu trách nhiệm trông coi phòng mạch nhé. Vả lại thứ Tư, ít bịnh lắm.”
Uống beer ôm về, bác sĩ B tạt ngang vào phòng mạch hỏi: “Công việc ra sao rồi bạn?”
Thì y tá B báo cáo là: “Bữa nay tao có ba nữ bịnh nhân!
Cô đầu tiên than nhức đầu. Tao cho thuốc Paracetamol!” “Tốt! Tốt lắm”
“Bịnh nhân thứ hai than đau bao tử. Tao cho thuốc Gaviscon.” “Tốt! Tốt lắm!”
“Còn bịnh nhân thứ ba than ho quá! Tao cho thuốc nhuận trường!”
Bác sĩ B ngạc nhiên hỏi: “Cô ấy ho mà sao chú mầy lại cho thuốc nhuận trường, thuốc xổ?!” “Cho thuốc nhuận trường để cô ấy không còn dám ho nữa đó mà!”
***
Bà con mình ai cũng biết nghề cứu nhân độ thế nầy nhiều áp lực lớn lắm chớ không phải dễ như ăn cơm sườn mà không sợ bị mắc xương đâu.
Dẫu nghề bác sĩ ở đây năm kiếm 5, 7 trăm ngàn đô, gấp mười lần đứa làm nghề khác, là chuyện rất bình thường.
Tiền nhiều, danh vọng nhiều mà đắng cay cũng lắm. Chẳng hạn như mới vừa chào, hỏi thăm xã giao một bịnh nhân: “Sao lúc rày khỏe hôn anh?” Thì ông bịnh nhân nầy dắm dẳn: “Khỏe thì tui đến gặp bác sĩ để làm gì hè?”
Ngày làm việc 8 tiếng mà phải tiếp xúc với những con người đau khổ vì bịnh tật thì đời có gì vui?…
Nên làm nghề y, phải cần đầu óc cực kỳ tiếu lâm mới trụ nổi. Anh bạn bác sĩ thân mến của tui cũng không ngoại lệ.
Ảnh kể tui nghe chuyện một viên bác sĩ đeo vòng nguyệt quế trên đầu trước khi tiến hành ca mổ. “Bác sĩ mang vòng hoa chiến thắng để làm gì?”. “À! Ðây là ca mổ đầu tiên trong đời làm bác sĩ của tôi. Nếu nó thành công, vòng nguyệt quế nầy dành cho tôi và cũng dành cho ông luôn đó!”
Hay chuyện: Sau khi tỉnh thuốc mê, bịnh nhân hỏi bác sĩ kết quả cuộc phẫu thuật ra sao?
“Tui có một tin xấu và một tin tốt cho ông!” “Vì lẫn lộn hồ sơ bịnh án nên thay vì cắt ruột thừa lại cắt cả hai cái bàn chân của ông rồi! Ðó là tin xấu!”
“Vậy tin tốt là gì?” “Bịnh nhân nằm cạnh giường muốn mua đôi giày của ông đó!”
***
Thưa bà con! Làm bác sĩ, quyền năng chỉ thua Thượng Ðế, cứu nhân độ thế thì dở đâu có được nè. Nên xin quý bà con cứ thân tâm thường an lạc nhe! Xin cầu Trời khẩn Phật cho bà con mình gặp được nhiều may mắn!
Du Tử Lê có làm bài thơ “Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển”. Đọc, tôi nghĩ tác giả sang tới Mỹ “êm re” chứ không nương thân lưu đày dưới hai chữ Boat People. Bởi, đã lỡ mang phận thuyền nhân, tâm lý bình thường của đứa ấy vẫn xem biển là một ám ảnh khôn nguôi. Bên dưới mạn thuyền mong manh là cả một địa ngục lung linh trôi dài theo từng hải lý. Nhìn xuống vẫn thoáng gặp Diêm vương hoan hỉ bày dạ tiệc đón đợi bèo dạt hoa trôi. Từng chứng nghiệm cái độ mỏng tang ngăn chia sinh tử nọ, nó bước chân lên được đất liền, một liều ba bảy cũng liều, dẫu chết nó cũng không dại gì về ngắm lại cảnh cũ người xưa. Ớn tận cổ. “Đời lưu vong không cả một ngôi mồ”. Bi thảm quá. Tham sân si quá. Xin hãy đơn giản hoá, tựa như chữ Chết anh gôm tẩy đi chữ C, anh còn lại chữ hết. Chết và hết cũng một nghĩa như nhau. Nhắm mắt lại, xuôi tay, ôi trần gian này có còn gì nữa đâu? Còn chăng là tiếng sóng vẫn âm vọng một phản hồi.
Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 Ó Biển Thuỷ Quân Lục Chiến vì bài thơ của người chiến hữu xa xăm kia, đã viết xuống một “độ rung” khác, một “tần số liên lạc” khác:
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Đưa tôi về Lao Bảo Khe Sanh Để đêm nghe vang dội khúc quân hành Ôi! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Đưa tôi về Ben-hét Đắc-tô Nơi bạn bè tôi xây mộng sông hồ Nguyện trấn giữ dãy Trường sơn yêu quý
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Đưa tôi về Bình Giả chiến khu Đ Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề Thân chiến sĩ nguyện xin đền nợ nước
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Đưa tôi về Cái Nước Đầm Dơi Đêm U Minh nghe tiếng thét vang trời Mừng chiến thắng để dâng về Tổ quốc
Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển Trả tôi về với dân tộc Việt Nam Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.
Lịch sử sang trang với biết bao hoài niệm. Khi nỗi đau chạm đáy người ta bất lực một tỏ bày, chỉ biết thở dài loay hoay với hai chữ bể dâu. Lật qua trang mới, thứ chương hồi kia vẫn leo lét ngọn đèn dầu cháy đỏ tựa thắp nơi miếu vợ chàng Trương đầy oan trái. Điển tích kia cũng chẳng cần nhắc lại bởi tự thân mỗi gia đình người Giao chỉ chúng ta luôn tàng trữ riêng một bất hạnh khu biệt. Một tâm sự đắng lòng mà sóng nước Tiền đường không chắc đã rửa trôi.
Sóng sau xô sóng trước, theo Du Tử Lê lưu vong, tiếp Nguyễn Văn Phán hải ngoại, mới đây nhà thơ Đỗ Trung Quân ở trong nước vừa post lên Facebook bài thơ làm năm 2011 dưới tựa “Không Phải Thơ, Chỉ Là Nghĩ”:
Khi tôi chết đừng đem tôi ra biển biển của thằng khốn nào có phải biển mình đâu
khi tôi chết đừng đem tôi ra biển gặp tiền nhân đau biết mấy là đau
bạn bè đấy anh em mình đấy mấy nghìn đêm gầm trên sóng bạc đầu
khi tôi chết đừng đem tôi ra biển mặt mũi nào nhìn lại những anh linh thôi cúi xuống ngón chân mình mà đếm thà làm ma-trơi-đom-đóm một mình…
khi tôi chết đừng đem tôi ra biển biển của thằng khốn nào có phải biển mình đâu khi tôi chết hãy bỏ tôi lỗ cống cống dù sao cũng bởi tự mình đào.
Biển qua từng cái nhìn, sự cảm nhận về nó của mỗi cá nhân có khác biệt. Nó xô vào lòng người mực thuỷ triều chẳng đồng nhất mức nông sâu. Biển, chỉ tính riêng khung cảnh, cái bờ bãi Thuận An mà cố nhà văn Cao Xuân Huy đưa vào trong “Tháng Ba Gãy Súng” tháng 3 năm 1975 thì xác chết vương vãi đó đây không dưới 500 đánh đổi cho sự rút quân đầy hỗn loạn. Biển của thời điểm 1977 đến 1980 sản sinh ra câu “thần chú”: Một là chết nuôi cá, hai là sống nuôi má, ba là má nuôi con. Ngọn hải đăng trong cụm chữ ngắn này là điệp khúc Nuôi. Và theo ước tính của Cao Uỷ Đặc Trách Người Tị Nạn LHQ cho hay, có không dưới nửa triệu người Việt đã…“Nuôi Cá”.
Và biển của Gạc Ma, của Hoàng Sa Trường Sa, của 2014. Có bao nhiêu cái chết của thuỷ thủ lẫn ngư dân Việt bị người “đồng chí” Trung Quốc tiếp tục giết?
Khi tôi chết, ừ thì hãy mang tôi ra biển. Cho tôi hoá thân làm cọc nhọn như Bạch Đằng năm xưa. Câu thơ nên viết xuống sử thi giờ này: Nước Việt có ai còn là con cháu của Hưng Đạo Vương, Trần Bình Trọng? Hay chỉ toàn một bọn lấm lét chỉ biết cúi đầu?
Chỉ gần đây mới có tin chính thức về cái chết của Võ Văn Ba, người từng được coi là ‘điệp viên hàng đầu của CIA ở Nam VN’, khi báo chí Hà Nội gọi đây là ‘tên nội gián nguy hiểm’, bí số X92, Frank Snepp đã biết chắc về cái chết sẽ đến của điệp viên này từ ngày 17/4/1975.
“Lúc ấy tôi biết tính mệnh của Võ Văn Ba đang lâm nguy, và có đủ lý do để tin là một nhân viên CIA biết rõ về nhiệm vụ của ông đã bị phe cộng sản bắt tại Phan Rang, và ngờ rằng khi bị tra tấn, người này sẽ khiến ông bị lộ. Một trong những ác mộng kinh hoàng nhất của tôi trong những ngày cuối cuộc chiến – là người anh hùng này, người đã liều lĩnh làm mọi thứ để hỗ trợ đồng minh – và đảm bảo sự thành công của đợt không vận khẩn cấp cuối cùng đưa nhiều người Việt di tản khỏi VN – có thể đã không sống sót.
Thiếu tá Cảnh sát VNCH Phan Tấn Ngưu, trong một bài viết về Võ Văn Ba trên trang CanhsatQuocgia.org đã gọi ông là “điệp viên giỏi nhất của VNCH, và nhớ lại ông Võ Văn Ba hay nói ‘Nếu cộng sản chiếm được miền Nam, tôi sẽ tự tử!’ và đó chính là điều ông đã làm, khi bị bắt giữ chỉ vài ngày sau khi Sài Gòn thất thủ.”
“Giờ đây tôi nhiều lần tự trách là đã không khăng khăng bắt Võ Văn Ba phải cùng mình rời khỏi Việt Nam,” nhà phân tích chính của CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) trong cuộc chiến Việt Nam thổ lộ điều vẫn còn khiến ông bị dằn vặt.
Cùng là gián điệp hai mang, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến.
Võ Văn Ba là ai? Ông đã làm gì trong cuộc chiến Việt Nam mà được mệnh danh là điệp viên hàng đầu của CIA, giỏi nhất của VNCH ở Nam Việt Nam?
Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, người từng nhận lệnh của CIA đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để rời VN tháng 4/1975, nói điệp viên Võ Văn Ba là một trong những lý do ông đang viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến cho đến giờ vẫn còn ám ảnh tâm trí ông.
Frank Snepp: Võ Văn Ba là một người yêu nước, được CIA đặt cho biệt hiệu ‘TU Hackle’ và là điệp viên giỏi nhất của CIA hoạt động trong lòng địch.
Ông từng là một đảng viên cộng sản tận tụy vào cuối thập niên 1940, chuyên tuyển mộ thành viên trẻ tại một tỉnh phía nam Sài Gòn. Ông làm việc với Việt Minh, rồi trở thành một kẻ khủng bố, nhưng nhanh chóng nhận ra rằng khủng bố không phải là cách thu phục trái tim con người. Chán ngán việc phe cộng sản dùng giết chóc và đe dọa như một chiến thuật chiêu mộ, Võ Văn Ba rời bỏ hàng ngũ.
Tạm biệt chủ nghĩa cộng sản năm 1954 vào thời điểm Hiệp định Geneva, Võ Văn Ba trở thành người đốn cây trồng rẫy, và dọn về tỉnh Tây Ninh, phía tây bắc Sài Gòn. Tây Ninh là một tỉnh quan trọng, vì đó là địa bàn hoạt động của Trung ương Cục Miền Nam, từ một hang ở Núi Bà Đen.
Khi cán bộ Bắc Việt đi qua rẫy của Võ Văn Ba ở chân đồi, ngay bên dưới căn cứ chỉ huy Trung Ương Cục để tham dự các cuộc họp, ông dần dà quen biết họ. Cảnh sát VNCH trong khu vực này, biết lý lịch của Võ Văn Ba, nhận ra ông ở một vị trí lý tưởng. Họ tìm đến ông và nói: chúng tôi muốn ông giúp chúng tôi theo dõi cộng sản, và Võ Văn Ba trở thành gián điệp nhị trùng năm 1960.
Thoạt đầu Võ Văn Ba hợp tác với cảnh sát VNCH. Ông nhanh chóng là một điệp viên hiệu quả, làm việc với cấp chỉ huy cộng sản. Võ Văn Ba đóng vai người cộng sản lầm đường muốn trở lại Đảng, và mới đầu chỉ được tiếp cận với vòng ngoài của Trung ương Cục Miền Nam, nhưng sau đó đi hẳn vào trung tâm của Cục. Nhờ vậy, ông thu thập được mọi động tĩnh từ cơ quan này, biết hết các điệp viên hai mang của họ, và những điều họ đang làm.
Năm 1965, CIA bắt đầu bắt đầu đưa Võ Văn Ba vào quỹ đạo của mình sau khi nhận thấy ông là một nguồn tin có giá trị. Ông từ đó làm việc cho cả An ninh Cảnh sát VNCH lẫn CIA.
Năm 1968, Võ Văn Ba báo trước cho cảnh sát VNCH năm ngày về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. Thông tin tương tự đến được Đại sứ quán Hoa Kỳ, người Mỹ không đánh giá cao tin này lắm, nhưng cảnh sát VNCH thì có. Và đó là lý do tại sao khi lực lượng cộng sản tấn công Sài Gòn vào Tết Mậu Thân 1968, cảnh sát VNCH đã chuẩn bị trước và có mặt để đối phó.
BBC: Ông có thể kể lại kinh nghiệm làm việc với Võ Văn Ba?
Frank Snepp: Năm 1969, tôi đến VN làm chuyên viên phân tích cho CIA. Một trong những điều đầu tiên tôi phải làm là phân tích tài liệu chúng tôi vừa tịch thu được, một tài liệu của Cộng sản quan trọng nhất mà chúng tôi từng có.
Tài liệu đó là Nghị quyết 9, phân tích của Bắc Việt về những gì xảy ra năm 1968, cũng như hoạt động quân sự sau đó. Bắc Việt nhận định rằng quá nhiều quân sĩ của họ đã tử trận, nhiều đến mức họ dự trù phải thúc thủ trong vòng hai năm. Nói cách khác, họ không thể có cuộc tấn công lớn nào nữa. Khi CIA tịch thu được toàn bộ tài liệu này, tôi được giao nhiệm vụ cùng với ba hoặc bốn đồng nghiệp, cũng thuộc CIA, phải tìm hiểu xem tài liệu có xác thực hay không.
Chúng tôi nghĩ tài liệu đó thật, nhưng không chắc 100%. Làm thế nào để xác định được là tài liệu đó có giúp chúng tôi biết ý định sự thật của phía cộng sản không rất quan trọng, vì chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, chính sách mới của Nixon về việc rút lực lượng Mỹ và đưa lực lượng Việt Nam lên tuyến đầu, chỉ mới bắt đầu. Nếu tài liệu này đúng, có nghĩa là trong thời gian hai năm, khi Cộng sản không thể hoạt động mạnh trên chiến trường, chúng tôi sẽ rảnh tay thực hiện chính sách Việt Nam hóa.
Chúng tôi gặp Võ Văn Ba và được Võ Văn Ba xác nhận đó là tài liệu đúng. Đó là một đột phá tình báo lớn. Tôi biết Võ Văn Ba trong hoàn cảnh đó. Trong vòng hai năm, tôi bắt đầu gặp trực tiếp ông ta, không phải vì tôi giỏi, không phải vì tôi nói được tiếng Việt, tôi luôn phải có thông dịch viên khi làm việc với Võ Văn Ba, nhưng vì tôi đã nắm sẵn được nhiều bí mật. Là một nhà phân tích của CIA, tôi được truy cập vào những bí mật quan trọng và bạn phải biết bí mật thì mới có thêm được bí mật. Vì vậy CIA cử tôi đến nói chuyện với nhiều nguồn tin, trong đó có Võ Văn Ba, để lấy tin và xác minh xem những gì chúng tôi nhận được có chính xác không.
Tôi bị Võ Văn Ba mê hoặc. Ông có trí nhớ phi thường, có thể xem một tài liệu và nhớ nguyên văn mọi thứ cần nhớ về tài liệu đó. Không cần phải cầm tài liệu trong tay, chỉ cần đọc nó một lần, ông sẽ có thể mang tài liệu đó đến cho chúng tôi trong đầu của ông.
CIA huấn luyện cho ông tất cả những kỹ thuật căn bản trong nghề tình báo.
Phải nói rõ là Võ Văn Ba có người phụ trách trực tiếp tức ‘handler’ là Cảnh sát Đặc biệt của VNCH. Ông cũng có một ”handler” khác là một nhân viên CIA người Mỹ ở Tây Ninh. Nhưng người Mỹ này không thể trực tiếp gặp ông, bởi nếu Cộng sản nhìn thấy ông với một người da trắng, họ sẽ nghi ngờ.
(Hai ông Frank Snepp và Phan Tấn Ngưu tại California Hoa Kỳ chụp gần đây)
Vì vậy, để gặp ‘handler’ người Mỹ, Võ Văn Ba phải vào một bệnh viện ở Tây Ninh, trèo lên một băng ca, kéo tấm trải giường lên người, giả như người đã chết. Sau đó, các nhân viên phụ trách người Việt của ông sẽ chuyển băng ca ra ngoài, đưa lên máy bay. Máy bay sẽ đưa Võ Văn Ba vào Sài Gòn nơi ông cải trang để gặp tôi hoặc một người Mỹ khác. Ông sẽ mặc áo dài nam hay đội bộ tóc giả lớn khiến ông trông giống một phụ nữ và đeo cặp kính đen khổng lồ giống như Greta Garbo, rồi đến gặp chúng tôi tại một nơi an toàn.
BBC:Ngoài trí nhớ phi thường như ông nói, Võ Văn Ba là người như thế nào và có đặc điểm gì, thưa ông?
Frank Snepp: Võ Văn Ba có hai nhược điểm. Một là rất thích bia Budweiser. Ông được bảo là người Mỹ thả bia Budweiser dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh để làm chậm tiến độ xâm nhập của Bắc Việt, vì đang di chuyển họ phải dừng lại uống bia (cười). Chẳng biết điều đó có đúng không, tôi cho rằng đó là sự thật, dù không bao giờ kiểm chứng được. Dẫu sao Võ Văn Ba rất mê Budweiser.
Nhược điểm thứ hai là rất thích thuốc Salem. Nghe nói ông Hồ Chí Minh cũng mê thuốc lá Salem, và thường bỏ thuốc Bastos hoặc thuốc lá Việt Nam trong túi áo, và mời những thứ này cho các đồng chí. Nhưng khi muốn hưởng chút lạc thú, ông sẽ lấy Salem ra hút. Vì vậy, Võ Văn Ba, người thích trò trớ trêu, luôn đòi chúng tôi cung cấp bia Budweiser và thuốc Salem trước khi trao cho chúng tôi những bí mật.
Và những bí mật ông có được thì thật tuyệt vời. Toàn những tin từ nội bộ. Ông được hàng ngũ cộng sản tín nhiệm đến nỗi được tham gia các cuộc họp bên trong Bộ chỉ huy ở Núi Bà Đen.
Võ Văn Ba ở vào vị trí lý tưởng để giúp chúng tôi, và để giúp ông đóng được vai trò một thành viên Cộng sản tốt, CIA và Cảnh sát Đặc biệt VNCH dàn dựng nhiều việc. Chúng tôi tấn công vào các trạm kiểm soát của cảnh sát VNCH, tất cả đều là giả, và sau đó loan tin là phe cộng sản đã làm điều đó, dĩ nhiên Võ Văn Ba kiếm được điểm, vì vậy, tín nhiệm của ông ngày càng tăng trong giới chỉ huy Bắc Việt. Họ cho rằng ông đã thi hành tất cả những điệp vụ kinh tởm cho họ, trong khi thực sự ông làm việc cho chúng tôi
BBC:Những tường trình của Võ Văn Ba đã giúp công việc của ông ra sao?
Frank Snepp: Tôi dần dà ủng hộ tuyệt đối những tường trình của Võ Văn Ba. Lúc trở về trụ sở CIA ở Mỹ vào năm 1971, tôi là thành viên của một đơn vị phân tích lớn, chuyên viết bản tường trình hàng ngày (Daily Brief) cho Tổng thống. Tôi quảng bá báo cáo của Võ Văn Ba, vì là một trong số ít người trong ban phân tích của CIA đã gặp được ông, và vì tôi biết ông là vàng ròng.
Năm 1972, chúng tôi bắt đầu nhận được báo cáo lạ của Võ Văn Ba. Lạ vì nó cho thấy Cộng sản đang làm một điều mà chúng tôi không bao giờ nghĩ họ sẽ làm. Họ cho cán bộ biết là có thể sẽ có một hiệp định hòa bình mà không cần phải có điều kiện họ luôn coi là tiên quyết, đó là Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức. Tôi sửng sốt khi đọc điều đó, vì tôi biết Võ Văn Ba là người đáng tin.
Tôi viết ngay bản tường trình hàng ngày cho tổng thống nói rằng tôi nghĩ một hiệp định hòa bình đang trong quá trình được thực hiện. Lúc ấy Henry Kissinger đang bí mật đàm phán ở Paris, nhưng không nói cho ai biết mình đang làm gì. Báo cáo của Võ Văn Ba là dấu hiệu đầu tiên cho chúng tôi thấy đã có bước đột phá trong cuộc đàm phán bí mật ở Paris giữa Kissinger và Lê Đức Thọ. CIA, dù ít nhất là ở cấp của tôi, không ai biết gì về điều này. Vì vậy, chúng tôi đã được điệp viên giỏi nhất của mình báo về tiến trình các cuộc đàm phán tại Paris.
Sau đó tôi lại được cử về Sài Gòn vào mùa thu năm 1972 để thẩm vấn một tù binh Bắc Việt giỏi nhất mà chúng tôi bắt được. Vào tháng 10/1972, khi tôi đã có mặt ở Sài Gòn, chúng tôi nhận được một báo cáo hết sức sửng sốt của Võ Văn Ba. Báo cáo cho biết Kissinger đã có một thỏa thuận khủng khiếp với phe cộng sản, cho phép Bắc Việt giữ lực lượng của họ ở miền Nam.
Bản báo cáo của Võ Văn Ba không chỉ đến Tòa Đại sứ, mà còn đến tay Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, khiến ông Thiệu vào tháng 10/1972 phản ứng mãnh liệt, hỏi chuyện gì đang xảy ra, Kissinger đang làm gì? Ông Thiệu nhất quyết phản đối, nói sẽ không chấp nhận thỏa thuận mà Kissinger đang đàm phán dù đó là thỏa thuận gì, vì ông không được tham dự vào việc thương lượng. Khi ông Thiệu nhất quyết phản đối thì đến phiên Bắc Việt hỏi chuyện gì đang xảy ra, người Mỹ chắc đang lừa chúng ta.
Khi thấy thỏa thuận có nguy cơ bị hỏng, vì Võ Văn Ba đã cho chúng tôi biết sự thật, Nixon quyết định dội bom Bắc Việt để chứng minh với ông Thiệu rằng Mỹ vẫn đứng về phía ông, và cũng để làm cho Bắc Việt phải tiếp tục thương lượng, và họ đã trở lại đàm phán.
Võ Văn Ba đã cung cấp cho tổng thống VNCH thông tin đầu tiên về những gì Kissinger đang làm, và quan trọng nhất là quyết định cho phép quân đội Bắc Việt ở lại miền Nam của Kissinger.
BBC: Ông có tiếp xúc với Võ Văn Ba thường xuyên không?
Frank Snepp: Trong thời kỳ ngừng bắn 1973 đến 1975, tôi thỉnh thoảng gặp ông để biết những kế hoạch mới nhất của cộng sản. Tôi cũng được trao một trọng trách mới, là giúp quản lý một đặc vụ mà chúng tôi đang có ở Hà Nội. Phải nói rõ rằng người phụ trách Võ Văn Ba là một nhân viên CIA khác rất giỏi, nhưng tôi được cử đến gặp ông định kỳ để kiểm chứng những phát hiện của ông với nguồn trực tiếp của chúng tôi ở Hà Nội. Tôi không giỏi gì, nhưng chỉ vì tình cờ mà tôi được liên lạc trực tiếp với điệp viên giỏi nhất của CIA và có dịp kiểm chứng những tin những điệp viên gửi về.
Khi Nixon từ chức, Võ Văn Ba cho chúng tôi những dấu chỉ đầu tiên về những gì Cộng sản sẽ làm vào cuối năm 1974. Ông nói Bắc Việt sẽ thử nghiệm để xem khả năng phòng thủ của VNCH lúc ấy yếu đến độ nào.
Ngày 8/4/1975, Võ Văn Ba cho chúng tôi báo cáo đầu tiên về những gì phe cộng sản sẽ làm để dứt điểm cuộc chiến. Tôi không được tin này trực tiếp, mà nhận qua người ‘handler” của ông. Tôi gửi ngay yêu cầu cho Võ Văn Ba thông qua người Mỹ này để hỏi thêm.
(Sài Gòn hai hình ảnh 1975 và 2020)
Sau đó, ngày 17/4, tôi trực tiếp gặp Võ Văn Ba và nhận được toàn bộ kế hoạch kết thúc chiến tranh của Cộng sản: Sẽ không có thỏa thuận nào, ông Thiệu từ chức hay không không thành vấn đề, cũng không thành vấn đề nếu chúng tôi muốn thành lập một chính phủ liên hiệp, Cộng sản nhất quyết tiến chiếm Sài Gòn kịp sinh nhật Hồ Chí Minh vào giữa tháng 5, và sẽ tấn công trước ngày 1/5, đúng y như những gì đã xảy ra.
Tin đó khiến các nhà hoạch định quân sự Hoa Kỳ đã bị sốc mà phải tức thời lập chương trình cho những chuyến trực thăng khẩn cấp đưa người di tản. Vì vậy, với những ai đã được đưa ra khỏi Việt Nam vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Võ Văn Ba là người đã cứu họ…
Trong phần hai của cuộc phỏng vấn, ông Frank Snepp, năm nay 78 tuổi, so sánh hai điệp viên Võ Văn Ba và Phạm Xuân Ẩn. Cuộc nói chuyện do Tina Hà Giang thực hiện cùng cameraman Dân Huỳnh tại Nam California, Hoa Kỳ cuối tháng 10/2021.
Trong Cuộc chiến Việt Nam có nhiều câu chuyện về gián điệp, tình báo mà phải về sau này người ta mới có thêm thông tin.
Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson và Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu dự hội nghị Mỹ – Nam Việt Nam tại Honolulungày 20/7/1968
CIA đã đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nỗ lực của Hoa Kỳ bảo vệ đồng minh VNCH, cho đến tháng 4/1975.
Cùng là gián điệp nhị trùng, nhưng không như Phạm Xuân Ẩn, cái tên Võ Văn Ba chỉ trong mấy năm nay mới được nhắc đến.
Truyền thông Việt Nam sau 1975 nói ông “chui sâu, leo cao vào nội bộ ta” trong suốt 10 năm và “gây tổn thất đáng kể cho cách mạng”
Võ Văn Ba là ai và số phận ông ta ra sao sau 30/04/1975 khi lực lượng chính quy của Bắc VN tiến vào Sài Gòn, xóa sổ chế độ VNCH.
Trong cuộc phỏng vấn chúng tôi thực hiện cho BBC, Frank Snepp, nhà phân tích chính của CIA trong chiến tranh VN, kể những gì ông biết về Võ Văn Ba, nêu ra ý kiến cá nhân về điệp viên này và chia sẻ những gì ông tin là ông biết được thêm sau 1975.
Frank Snepp: Theo thông tin mà chính Cộng sản đưa ra sau đó, Võ Văn Ba bị một nhân viên CIA, một người Mỹ bị bắt hai tuần trước khi cuộc chiến kết thúc làm lộ. Theo bản dựng lại vụ án của Cộng sản, được công bố sau chiến tranh, nhân viên CIA này, khi bị tra tấn đã khai ra Võ Văn Ba. Ngoài ra, hành tung của Võ Văn Ba cũng bị một thông dịch viên người Việt tiết lộ. Đây là người từng làm việc với Võ Văn Ba, người này bị bắt, tôi nhớ là ở Ban Mê Thuật. Tóm lại, hai cá nhân liên quan đến CIA, khi bị tra tấn đã khai ra vai trò của ông.
Khi tôi gặp Võ Văn Ba hôm 17/4, mạng sống của ông đang bị nguy hiểm nghiêm trọng, vì trong vòng vài ngày đó ông có lẽ đã gặp những người đã bị bắt, trong đó có một số người Mỹ. Khi Sài Gòn thất thủ, Võ Văn Ba chưa di tản. Với thông tin thu thập được từ các tù nhân, phe cộng sản bắt giam ông, và họ công bố trong các phân tích thời hậu chiến là ông đã dùng thắt lưng treo cổ tự tử để khỏi bị tra tấn. Vợ ông bán hoa ở Tây Ninh dường như không bị sát hại, và tôi tin là con trai của Võ Văn Ba cũng không bị cộng sản bắt bớ, mặc dù điều này không rõ ràng.
(Sài Gòn ngày 27.5.1975)
Với tôi, Võ Văn Ba là một người hùng, một người thực sự yêu nước. Ông là một Nathan Hale (1755-1776, sĩ quan, nhà hoạt động tình báo thời cuộc chiến Cách mạng Mỹ) của miền Nam Việt Nam, và cho đến gần đây, khi Bắc Việt công bố những tài liệu riêng của họ, công chúng vẫn biết rất ít về ông. Tôi đã viết về Võ Văn Ba trong cuốn Decent Interval, nhưng lúc ấy tôi rất cẩn thận, không tiết lộ bất kỳ chi tiết nào, không công bố danh tính hay thông tin xác định nào ngoại trừ việc nói rằng ông ở tỉnh Tây Ninh và là điệp viên tốt nhất của CIA. Lý do là khi viết sách, tôi không biết chắc số phận Võ Văn Ba lúc đó ra sao.
BBC: Có phải Võ Văn Ba là một trong những lý do khiến ông viết thêm một cuốn sách nữa về cuộc chiến Việt Nam. Ông biết tin Võ Văn Ba treo cổ tự tử vào lúc nào?
Frank Snepp: Kể chuyện Võ Văn Ba, tôi hy vọng sẽ tạo chất xúc tác để những người Việt tị nạn và người Việt sống ở hải ngoại tôn vinh người đàn ông này. Ông là một người miền Nam yêu nước một cách phi thường, nhưng chưa ai biết nhiều về ông, ít nhất là cho đến nay.
Tôi chỉ biết tin Võ Văn Ba chết khi an ninh Việt Nam ở Hà Nội công bố tài liệu của họ về vụ án. Trong bốn năm qua, Hà Nội đã công bố gần như tất cả những khám phá của họ về ông. Họ đã kiểm tra lời khai của tù nhân, thu giữ tài liệu và tổng hợp lại những chiến dịch mà họ cho là đã gây tổn hại cùng cực, và kết luận Võ Văn Ba là điệp viên nguy hiểm nhất từng hoạt động chống cách mạng. Họ xác nhận những gì tôi biết, đó là việc ông đã tiết lộ các tài liệu về kế hoạch và thiết kế quan trọng của Cộng sản từ năm 1965 đến khi kết thúc chiến tranh. Ông đã cung cấp hết cho CIA, vấn đề là CIA không phải lúc nào cũng tin ông.
Sài Gòn trước 1975 là nơi có nhiều hoạt động tình báo của các bên ‘theo bám’ lẫn nhau
BBC:Ông Phan Tấn Ngưu, người phụ trách liên lạc với Võ Văn Ba từ phía VNCH, viết là CIA có lúc không tin Võ Văn Ba là vì ông gặp vấn đề bị thử bằng máy phát hiện nói dối (lie detector test). Điều đó đúng không?
Frank Snepp: Vào năm 1971, có nghi ngờ rằng Võ Văn Ba là gián điệp nhị trùng hoạt động cho Cộng sản. Tôi đã có cuộc gặp kéo dài ba ngày với ông và xem qua tất cả những gì chúng tôi biết về ông, cùng với ông Phan Tấn Ngưu, sĩ quan cảnh sát của VNCH, ”handler” của Võ Văn Ba, hiện đang sống ở Quận Cam (California) và cũng là người đã công bố những gì ông biết về Võ Văn Ba kể cả việc chúng tôi đã gặp nhau.
Vào đầu năm 1971, tôi đã có thể xác minh rằng Võ Văn Ba đúng là những gì ông đã tuyên bố. Điều gây nghi ngờ là Võ Văn Ba đã đưa một số báo cáo cho các cơ quan tình báo khác của VNCH, như Phủ Đặc ủy Tình báo Trung ương và có thể cả cho cơ quan an ninh quân đội. Võ Văn Ba làm như vậy vì họ trả ông một ít tiền.
Ông cung cấp cho chúng tôi những bí mật chính, nhưng cũng kiếm thêm tiền bên ngoài. Và vì vậy, khi làm ‘lie detector test’, đồ thị của ông có những vết nhấp nhô. Ông cũng không nói với chúng tôi rằng ông trao một số bí mật cho những cơ quan đồng minh để kiếm thêm chút tiền. Đó là nguồn gốc những nghi vấn về ông. Nhưng những nghi ngờ này phần lớn đã được giải tỏa, chủ yếu là qua cuộc gặp gỡ ba ngày của tôi với ông ấy vào năm 1971.
BBC: Ông có thể so sánh Võ Văn Ba với Phạm Xuân Ẩn, điệp nổi tiếng hoạt động cho phe cộng sản Bắc Việt cũng trong cuộc chiến VN?
Frank Snepp: Phạm Xuân Ẩn nói chung là một hacker. Ông ta làm việc chống lại mục tiêu mềm yếu nhất ở miền Nam Việt Nam, đó là giới báo chí. Ông Ẩn thu thập những thông tin có giá trị mà báo chí lấy được từ Đại sứ quán Hoa Kỳ, và chuyển nó cho Bắc Việt.
Nhưng so sánh Phạm Xuân Ẩn với Võ Văn Ba, thì xin đừng làm thế. Võ Văn Ba là thứ thiệt. Ông như nhân vật trong phim James Bond. Võ Văn Ba nằm ở ngay Trung ương Cục Miền Nam của phe cộng sản, đầu não chính của họ ở miền Nam, giống như một điệp viên nằm ngay trong Lầu Năm Góc. So với Võ Văn Ba, Phạm Xuân Ẩn không là gì cả. Ý tôi là, Phạm Xuân Ẩn được ca tụng vì giới báo chí Mỹ kinh ngạc không thể tin được là họ đã bị ông ấy lừa. Vậy à? Nhưng, việc đưa ra đề xuất so sánh hai người, tôi nghĩ, là một xúc phạm với Võ Văn Ba. Thật đấy. Không phải là tôi muốn hạ giá trị Phạm Xuân Ẩn. Tôi biết ông ta là một điệp viên thông minh, nhưng xét về tầm cỡ, ông ấy không thể so với vai trò của Võ Văn Ba.
BBC:Theo ông, Võ Văn Ba đã có những thành tích đáng gì đáng ghi nhớ?
Frank Snepp: Võ Văn Ba cho Nguyễn Văn Thiệu dấu chỉ đầu tiên là Henry Kissinger đang đánh lừa miền Nam Việt Nam. Ông đã cảnh báo cho chúng tôi về Tết Mậu Thân năm 1968 mặc dù Đại sứ quán Hoa Kỳ không công nhận tất cả những điều ông nói. Ông đã giúp chúng tôi chứng thực tài liệu cho thấy phe cộng sản đã chịu những thương vong khủng khiếp vào năm 1968 và sẽ không thể tiếp tục chiến đấu với mức độ ác liệt như cũ. Điều đó giúp chúng tôi khởi động chương trình Việt Nam hóa chiến tranh. Ông đã cho chúng tôi biết phản ứng đầu tiên của phe cộng sản về việc Tổng thống Nixon từ chức vào tháng 8 năm 1974.
Võ Văn Ba báo cho chúng tôi mọi quyết định quan trọng Cộng sản đưa ra. Đây không phải là nhận định của tôi mà là nhận định của chính Bắc Việt. Họ lập một danh sách, nói là Võ Văn Ba đưa cho CIA kế hoạch cho các năm 1969, 1970, cuộc tấn công lễ Phục sinh… Võ Văn Ba cung cấp tất cả thông tin về kế hoạch ngừng bắn của họ. Bạn không cần tin tôi, mà hãy đọc những phân tích của họ, những phân tích của chính phe địch.
Ngay Bắc Việt cũng phải công nhận là Võ Văn Ba qua mặt được họ là điều rất phi thường. Đại sứ Graham Martin dần dà cũng quý mến Võ Văn Ba, vì ông cho rằng thành công của Võ Văn Ba cho thấy phe cộng sản cũng dễ bị tổn thương và có điểm yếu kém, có lỗ hổng. Vì vậy, khi Đại sứ Martin cuối cùng quyết định không tin vào cảnh báo của Võ Văn Ba là sẽ không có thỏa thuận, điều đó làm tôi sửng sốt, vì ông đã từng tin rằng điệp viên này giỏi nhất trong số những người giỏi nhất.
Việc Đại sứ Martin và xếp CIA Polgar giảm tầm quan trọng của những gì Võ Văn Bá cảnh báo làm tôi kinh ngạc. Nhưng những điều Võ Văn Ba nói với chúng tôi hôm 17/4, cuối cùng cũng đã được gửi về cho tổng thống trong bản tóm tắt hàng ngày, và nhờ đó đã thúc đẩy ngay kế hoạch cho trực thăng bốc người, giúp nhiều người trong chúng ta vượt thoát.
Tóm lại, chúng ta không thể kể về Chiến tranh Việt Nam mà không nhắc đến thành tích của Võ Văn Ba. Lịch sử chiến tranh Việt Nam đã được kể lại nhiều lần, nhưng không mấy ai có thông tin về Võ Văn Ba, ngoại trừ những gì tôi viết cuốn hồi ký ban đầu, nhưng cũng không dám viết gì nhiều như bây giờ.
Giờ đây tôi đã viết về Võ Văn Ba, và đến nhiều viện bảo tàng và viện nghiên cứu khác nhau để nói rằng, quý vị phải cập nhận tài liệu của quý vị về chiến tranh Việt Nam, phải kể về một số đóng góp của người đàn ông này, bởi vì những gì Võ Văn Ba báo với chúng tôi đều là tin chính xác vào những thời điểm quan trọng. Và lịch sử phải ghi rõ những gì chúng ta biết, những gì không biết, những tin chúng ta đã vì đó có hành động thích hợp, và những tin chúng ta đã phớt lờ. Phải làm thế, vì sự thật là điều then chốt của lịch sử.
(Cuộc nói chuyện với với ông Frank Snepp, năm nay 78 tuổi, do Tina Hà Giang thực hiện cùng cameraman Dân Huỳnh tại Nam California, Hoa Kỳ cuối tháng 10/2021.)
Mọi người thật không khỏi xúc động khi sáng nay, được nghe nguồn tin qua đài phát thanh vừa cho hay, Đại Đức Thích Nguyên Thảo, trụ trì chùa Hoa Nghiêm ở Vancouver, Canada vừa quyết định bán một miếng đất vừa mua để dự định xây chùa, lấy 500 nghìn đô la để cứu giúp nạn nhân sóng thần ở Nam Á. Thích Nguyên Thảo cho biết, sau khi cầu nguyện cho nạn nhân trong thiên tai thảm khốc vừa xẩy ra tại các nước Châu Á, Thầy đã phát tâm vì thấy việc cứu trợ hiện nay rất cần thiết và khẩn cấp hơn là việc xây chùa và việc này đã được những Phật Tử đã đóng góp đồng ý. Điều này làm cho tôi nhớ lại một chuyện giai thoại về Thiền trong cuốn “Zen Antics” do Thomas Cleary, một học giả Đông Phương biên soạn như sau:
Hei-zayemon là một đại phú gia suốt đời hành trì Bồ Tát Hạnh. Ông luôn luôn nhiệt thành trong suốt đời ông với các mục đích từ thiện, nhất là để cứu giúp những người kém may mắn, bất hạnh trên cuộc đời này. Nhờ sự giúp đỡ này, nhiều trẻ em trong vùng đã thoát khỏi cảnh nghèo khó, bần cùng. Hei-zayemon cũng là người tài trợ cho vô số công trình xây dựng cầu đường, giúp cho dân chúng có phương tiện đi lại dễ dàng. Trước khi lâm chung, ông đã lập di chúc yêu cầu dùng tài sản của ông trong mục đích nhân đạo. Chuyện kể rằng, vào thời Hei-zayemon còn sống, có một vị sư đã tìm đến nhà ông, người có cái tâm rất Bồ Tát này để quyên góp một số tiền, gọi là để xây lại cái cổng chùa. Nghe xong lời đề nghị, Hei-zayemon đã bật cười trước nhà sư và thưa rằng: “Tôi giúp đỡ mọi người vì tôi không thể nhẫn tâm bỏ mặc họ trong cảnh đời khốn khổ. Nhưng một ngôi chùa không có cổng thì có gì là khốn khổ đâu nào?”
Tại cộng đồng Việt Nam ở tại Orange County, trong một bữa cơm gây quỹ cho một ngôi chùa để xây dựng lại cái hàng rào của chùa, một MC, trong khi cổ động những người tham dự giúp đỡ cho chùa, đã so sánh rằng cái chùa này nhỏ không bằng cái nhà bếp của một ngôi chùa bên Nhật. Điều đó đúng. Nhật Bản là một quốc gia giàu có (đã giúp nạn nhân Sóng thần 500 triệu đô la), Phật Giáo là tôn giáo của đa số quần chúng, nhất là giới quí tộc. Còn chúng ta, nước đã nghèo, lại chỉ là một cộng đồng tỵ nạn tạm thời (tạm thời vì chắc chắn chúng ta không muốn ở luôn đây). Người Đài Loan ở đây khá đông, nhưng họ chỉ có vài ngôi chùa và đoàn kết hiệp lực xây những ngôi chùa như chùa Tsi Lai, có cả yểm trợ từ trong nước. Chúng ta trái lại, cộng đồng nhỏ, lại có quá nhiều chùa, nhân vật lực đều trông cậy vào tín đồ Phật Giáo quá ít ỏi, làm sao có thể so sánh với chùa Nhật ngay tại đất nước Nhật. Vả lại Phật Giáo không chủ trương xây chùa lớn, chùa lớn thì các vị chân tu còn phải lo toan tính toán, bảo trì, xây dựng và phát huy, lấy thời gian đâu mà tu học và hoằng Pháp.
Chúng tôi cũng nhớ lại một câu nói mà Trần Văn Thủy, đã trích lại trong phim “Chuyện Tử Tế”, đó là: “Chỉ có loài vật mới quay lưng lại với nỗi khổ của đồng loại để chăm chút cho bộ lông của mình”.
Việc làm của Thầy Nguyên Thảo ở Canada thật đã làm cho chúng tôi ứa nước mắt vì sung sướng và hãnh diện để còn có lòng tin rằng trên đời này còn có Thầy hiểu rõ những lời của Phật dạy, hỉ xả, từ bi trước nỗi thống khổ của nhân loại. Đời đã có câu “Dẫu xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Rồi Thầy cũng sẽ có một miếng đất khác để xây chùa, nếu Thầy còn thấy cần xây, nhưng nếu không xây được cũng chẳng sao, phải không, thưa Thầy?
Chùa của Thầy có thể nhỏ, nhưng lòng Thầy thật bao la, người viết bài này là một Phật Tử, nhưng ít muốn đi chùa và suốt đời chưa bao giờ quì lạy trước một bậc cao tăng nào. Nhưng nếu ở gần đây, tôi xin đến để quỳ lạy Thầy một lạy. Từ trước đến nay, tôi chưa gặp hoặc nghe ai nói một vị sư nào có hành động bán chùa để giúp người hoạn nạn, mà chỉ nghe chuyện có chùa nhỏ, quí Thầy bỏ ra đi để xây một ngôi chùa khác lớn hơn. Tôi đã mục kích những ngôi chùa “tỵ nạn” nguy nga, vĩ đại nhiều công của ở Hanover (Đức Quốc), ở Paris (Pháp). Nghe nói Thầy chỉ mới là Đại Đức, nghĩa là cấp bậc còn thấp, thì chắc Chùa của Thầy cũng còn nhỏ lắm. Thầy không muốn có những ngôi chùa lớn như ở Pháp, ở Đức sao?
Quả Thầy là một người bình thường rất khác thường để cho tôi còn một niềm tin vào cái gọi là Bồ Tát Hạnh của người đời và hiểu được Thầy, trong trí óc ngu muội của tôi, là một người hiểu và thực hành được những lời Phật dạy.
Bác Năm mua căn nhà có cây sồi mọc bên hông này đã 35 năm. Lúc từ trại tỵ nạn qua Vermont định cư, làm việc và dời về Boston.
Cũng như bác Năm cây sồi lúc đó còn trẻ, chỉ cao ngang mái nhà, bây giờ bác Năm đã già, về hưu, nên gốc sồi cũng to sần sùi tới 3 người ôm, tàn lá rộng tuốt trên cao phủ hết khu nhà, chỗ đậu xe và miếng đất nhỏ dọc bên hông nhà. Dưới bóng mát, gốc sồi là nơi nghỉ ngơi của bác Năm, suốt những ngày Hè, từ hồi còn làm việc cho đến bây giờ. Bác đặt cái bàn sắt, 2 chiếc ghế làm nơi uống trà, lai rai bia bọt với vợ, bạn bè, với Khánh, người bạn còn lại sau này.
Tranh Hồ Đắc Vũ
Ông Khánh mang thùng bia lạnh đặt sát bàn, bác Năm vô nhà mang ra 2 dĩa 10 con cá nục, một rổ rau muống ngắt lá, rau thơm, dấp cá, xấp bánh tráng mỏng, chén nước mắm Phú Quốc đầy ớt đỏ xắt lát, pha nước cá hấp.
– Cá tươi rói hà, tụi nó câu dưới Florida.
Bác Năm lấy bánh tráng, nhúng nước, cuốn tròn nửa con cá với rau, cắn một miếng, mấy cọng rau muống kêu cái rạo.
– Cuốn với rau muống cọng, chấm mắm giằm ớt pha nước cá, đúng kiểu Quảng Ngãi.
– Lần nào ăn món này tao cũng nhớ con nhỏ bồ, chủ tiệm bán Don, cá nục hấp gần đầu cầu Trà Khúc bên Sơn Tịnh, Quảng Ngãi … Mẹ! Tao dân pháo binh mà pháo thua nó xa, ăn vô con cá nào, xả vô nó con cá đó.
Ông Khánh cười hà hà.
– Tao thì nhớ tiệm bà già vợ ở Nha Trang, bả làm món này mỗi cuối tuần khi tao từ trại Thùy Dương trong không quân về…
Tranh Hồ Đắc Vũ
Bác Năm cụng ly, làm hết lon bia.
– … Nhưng kiểu khác, cá tươi mới từ biển về, nhỏ bằng 2 ngón tay, bỏ đầu, làm sạch, hấp và cuốn cả con cá với rau muống, dấp cá trồng trong chậu sành, sát bên bàn ăn ngoài hiên nhà, ngắt lên, rửa rồi cuốn, uống rượu nếp trắng, lần nào cũng say, mà say là ngu, ngu riết, lấy con gái bả luôn.
Ông Khánh khui 2 lon bia.
Chuyện hồi đi lính, chuyện sau 75, chuyện trại tỵ nạn, lúc mới tới xứ Mỹ, kể lể trăm lần vẫn xào tới lui mỗi khi bia bọt.
Bia ngà ngà, ông Khánh thầm thì.
– Chắc tui về Sài Gòn.
– Làm gì?
– Chơi vài tuần… Cha đi hông?
– Ờ để coi.
– Tuần tới tôi mua vé, đang hạ giá, thứ Hai cho tui biết.
– Ừa.
Cuối tháng 7 bác Năm theo ông Khánh về thăm Sài Gòn sau 35 năm ra đi.
– Anh chạy lên nhà hàng Brodard giùm.
Bác Năm nói với người tài xế tắc xi.
– Dạ! Ở đâu bác?
– Hồi xưa ở đường Tự Do, đường chạy ra sông Bạch Đằng.
– Dạ con không biết hồi xưa… Để con hỏi.
Anh điện thoại.
– Rồi! Cám ơn chị.
Tài xế quay lại
– Bây giờ là đường Đồng Khởi bác!
Bác Năm ghé Brodard, cũng may, họ còn giữ cái tên, chỉ thay tên đường.
– Cho tôi trà lipton chanh đường.
Nhưng tiệm hoàn toàn thay đổi, không còn chút hơi hám nào của Brodard, nơi bác uống trà lipton chanh đường, ăn sáng với mấy người bạn thời trung học bằng tiền bà già cho mỗi tháng.
Loanh quanh khu Tự Do, trưa bác Năm về Tân Định, ghé tiệm Huế ngày xưa ở đường Đinh Tiên Hoàng, nhưng bây giờ là tiệm xông hơi đấm bóp.
Bác Năm kéo chiếc ghế, ngồi xuống
– Cho tô hủ tiếu Mỹ Tho.
May! Tiệm hủ tiếu Thanh Xuân vẫn còn…
Tối ngà ngà mấy chai bia với con gà hấp muối ở tiệm Tàu, chợ Cũ, bác Năm đi bộ về khách sạn ở đường Lê Thánh Tôn.
Ủa? Sao lạ, bụng dạ lại nôn nao nhớ Boston, nhớ căn nhà nhỏ, nhớ cây sồi già còn hơn nhớ Sài Gòn, Phú Nhuận ngày xưa.
…
Căn nhà 3 phòng ngủ xây theo kiểu xưa, 3 phòng ngủ nhỏ xíu.
Nhớ hồi dọn vô.
– Anh! Nhà này nhập cảng tới Boston hả?
– Là sao?
– Em đoán là nhập từ Nhật.
– !!?
– Tại phòng ngủ nhỏ tí tẹo…
Bả bước tới cửa.
– Nè! Em đứng gần đụng cửa…
– Thì tại em cao.
À! Vợ tôi cao thiệt, cao hơn tôi hết cái đầu.
– Ít tiền thì mua nhà nhỏ, thấp, em cao ráng chịu.
Vậy là bả giận luôn tới 3 tháng, với lý do.
– Anh xúc phạm chiều dài quý phái của em.
Nhưng được là, khu dân cư yên tĩnh, và tôi thích nhất là nhiều cửa sổ, phòng nào cũng 2 cửa sổ, phòng khách có cửa kính cao, chạy hết chiều ngang bức tường, nhìn ra vạt cỏ xanh trước nhà, bên kia là khu rừng cây trên dốc núi đá, sát hông nhà là cây sồi đầy tiếng chim hót và bóng mát.
Bác Năm bước ra cửa sổ, nhìn xuống đường Lê Thánh Tôn vắng tanh.
Ừ! Nhắc tới cây sồi bác Năm càng thấy nhớ nhà.
Dưới gốc sồi
Cuối Xuân, tuyết tan vừa lòi cỏ xanh, trời ấm trở lại là bác bày cái bàn sắt sơn trắng, 2 cái ghế ngay bên gốc cây, treo thùng ướp lên móc đã gắn sẵn để chứa nước đá ướp bia lạnh.
– Hê! Qua nhậu đầu mùa đi cha! Có mực ống tươi, mới mua trên chợ Việt Nam. Ông Khánh chở thùng bia lớn tới, chị Năm đem ra dĩa lớn mực ống nhỏ bằng ngón tay mà chị đã lựa ở chợ.– Mực nhỏ nhúng bia ăn với rau đủ loại, chấm mắm nêm mới ngon, 1 cuốn là 1 con, cụng ly là làm luôn 1 cuốn.
Chị lấy bánh tráng nhúng nước nóng, cuốn con mực với rau.
– Dzô cái anh Năm, anh Khánh.
…
Hết 1 tuần lang thang, bác Năm buồn, nhớ nhà, nên trả thêm tiền, lấy vé bay về Boston.
– Sao vậy cha?
– Tao hết hứng thú ở lại đây… Bạn thì không còn ai, ngủm gần hết, còn vài thằng lại lưu lạc thập phương tứ hướng, ba má qua đời lâu rồi, gia đình ở cha nó bên Pháp, bên Mỹ, Canada… cái Sài Gòn trong lòng tao như bị thiến…Chán ngắt! Quá xa lạ, tao về!
Bác Năm về Boston, Ông Khánh ở lại, cặp với em bồ nhí, sống luôn ở Sài Gòn.
Máy bay vòng Boston, chuẩn bị đáp xuống phi trường Logan.
Ngồi trên máy bay, bác Năm thấy rộn ràng trong lòng như ngày trở về Sài Gòn cách đây 1 tuần.
Thành, thằng con trai rước tại phi trường.
Đã 2 giờ sáng, bác Năm kéo va li vô căn phòng nhỏ, ôm chiếc gối, hít một hơi dài, nhìn quanh căn phòng thân mến. Chuyến bay quá lâu làm bác mệt, nên lăn ra giường ngủ khò.
Bác Năm mở mắt, nhìn đồng hồ trên tường, đã 10 giờ, buổi sáng yên lặng một cách lạ lùng.
– Ủa? Sao những tiếng chim hót quen thuộc đâu mất hết.
– Mùa Hè, mấy bầy két thường chí chóe trên cây sồi từ sáng tới trưa mà!
– Con có biết cây sồi là nơi chứa bao kỷ niệm cuộc đời của Ba với Mẹ con và bạn bè ở Mỹ? Là nơi Ba hưởng những ngày già còn sót lại của Ba không con?
– …
– Con có biết đó là nơi Ba thường ngồi một mình, nhớ người Mẹ đã qua đời của con không?
Thành ấp úng.
– Dạ biết Ba.
– Vậy sao con đốn?
Thành đứng dậy, bước tới kéo ghế.
– Dạ Ba ngồi.
Bác Năm ngồi xuống, bàn tay run run chùi giọt nước mắt chực rơi, ông nhìn ra cửa sổ, nơi cây sồi già đứng đó đã bao nhiêu năm.
– Trước khi Ba về Sài Gòn, con nhận thư báo của thành phố Melrose…
Thành bước tới kệ sách, lấy cái thư, đưa cho Ba.
-… Họ cho biết cây sồi đã chết từ dưới rễ, lên tới thân cây 1 năm rồi…
Bác Năm vẫn thất thần nhìn ra cửa sổ, cây sồi già sần sùi như mập mờ trong khoảng hông nhà đầy nắng, bác đứng dậy.
-…Và có thể trốc gốc bất cứ lúc nào khi trời mưa, hoặc gió lớn…
Bác Năm bước tới cửa sổ, nhìn ra cây sồi chỉ còn sát gốc, mặt gỗ vàng, lớn như mặt bàn ăn.
– … Cây sẽ đổ xuống sập nhà và gây tai nạn cho gia đình. Thành phố yêu cầu đốn bỏ cây. Mọi chi phí được đài thọ, ban cây xanh thực hiện việc cưa cây trong ngày… Ba thấy đó! Đây là yêu cầu của thành phố, con không thể không làm…
Bác Năm bước ra hông nhà, đứng lặng yên bên gốc sồi đã bị cưa.
Sáng thứ Bảy, bác Năm kéo chiếc bàn sắt, để ngay khoảng cỏ xanh sát gốc sồi, pha ly cà phê phin kiểu Sài Gòn, những giọt cà phê đen đậm đang chảy xuống ly thì điện thoại kêu.
Bà vợ đã ly dị của ông Khánh the thé.
– Cha Khánh chết rồi anh! Chết hôm qua… Sụm bà chè, Đột quỵ! Mẹ! Chả đâu chịu nổi con quỷ cái đó, nó có 25 tuổi hà! Sức voi cũng tiêu, nghe đâu thiêu bên đó luôn, gởi tro vô chùa.
Bác Năm run tay tắt máy.
– Trời đất!
Khánh, thằng bạn còn lại của Bác đã qua đời.
Trời bỗng xối cơn mưa rào.
Bác Năm ngồi yên trong mưa, nhìn phin cà phê, thở dài.
Hôm sau, nửa khuya, bác đổ bệnh chóng mặt, khó thở, Thành phải kêu 911 đi cấp cứu.
Hai ngày sau, Thành rước Ba về, bác sĩ cho biết, ông bị lên máu, nhịp tim không ổn định, cho về nhà uống thuốc, dưỡng bệnh, tránh rượu chè và những xúc động mạnh.
– Ba nghỉ ngơi, vài bữa là hết bệnh.
– Ờ hổng sao đâu con.
Chiều đó, bác Năm quay đầu giường sát tường bên kia, nằm dựa gối, đối diện 2 khung cửa sổ, nhìn ra nơi tàn cây sồi, che bóng ngày nào với những con chim cu rừng màu nâu lao xao.
“- Ủa Khánh hả? Về hồi nào.
– Tao về hôm qua! Buồn quá, tính qua mầy làm mấy chai cho vui.
– Mầy ở bển vui thú gái ghiếc mà buồn gì?
– Nên đổ bệnh tùm lum.
– Mai thứ Bảy, 6 giờ chiều ghé đây.
Sáng thứ Bảy, bác Năm lái xe lên Burlington, tới trại gà người Việt, mua 2 con vịt tơ lớn, họ làm lông, lấy tiết sẵn, ghé chợ mua rau, đồ phụ tùng cho món tiết canh vịt.
Đúng! Món tiết canh, cháo vịt biến mất từ ngày bà vợ ra đi, bả về chầu trời, mang theo món tiết canh vịt để đời lên trển, chừa lại nồi cháo lạnh tanh cho bác, 15 năm rồi, hơi tiết canh đã bay theo nhang khói.
– Bữa nay tui làm tiết canh cháo vịt, đãi thằng bạn chí cốt theo gái ở Sài Gòn, đổ bệnh trở về.
Bác Năm bày hết mọi thứ làm tiết canh vịt trên chiếc bàn ngay gốc cây sồi già.
Bác vắt miếng chanh vô tô, đổ 4 muỗng nước ấm, 2 muỗng nước mắm Phú Quốc, để trên mặt bàn sắt. Bác nhớ lại cách làm tiết canh của bà vợ. Lấy nửa lá gan vịt đã luộc sẵn, cái mề, ruột, tim, khúc cổ vịt, bỏ hết lên chiếc thớt, cắt nhỏ.
Chị Năm tới ngồi ở bàn, bên gốc sồi với tàn cây to, che mát cả căn nhà, coi chồng biểu diễn đánh tiết canh vịt.
Bác Năm mở nắp tô nước sôi để nguội, bỏ muỗng bột ngọt, bày ra 2 chiếc dĩa hột xoài lớn, vô nhà lấy 2 chai nước suối đựng tiết vịt tươi ở nông trại đã hãm sẵn. Bác Năm đổ 2 lon tiết vô 2 tô lớn, thêm một chén nước sôi để nguội, dùng muỗng khuấy nhẹ, đều tay chừng 2 phút rồi rưới vô từng đĩa hột xoài.
Chị Năm đứng dậy, rải những gan tim cổ đã bằm lên trên, chừng 5 phút, chị sắp lá gan vịt luộc xắt lát để trên mặt lớp tiết đã đông.
Bác Năm quay lại vợ.
– Nè! Bí quyết của em đây.
Bác lấy đĩa ngò om cắt nhỏ với rau quế, rải đều trên dĩa tiết canh vịt mới đông một màu đỏ tươi.
– Còn lớp đậu phụng rang nữa anh Năm.
– Có!
Bác Năm vô nhà mang ra bao đậu phụng rang sẵn, lấy chai Tequila lăn trên bao cho bể ra, rắc đều một lớp thưa trên mặt 2 đĩa, đặt ngay ngắn trên mặt bàn.
– Em thấy chưa? Anh đã học được ngón nghề của em.
Chị Năm thỏ thẻ.
– Em biết anh Năm của em giỏi mà!… Nhậu với bạn cho vui, em đi.
Chị Năm đi nhanh vô khoảng rừng bên kia đường.
Cũng đúng lúc ông Khánh ôm 2 thùng bia Saporo tới, lấy 2 lon.
– Làm lon đi… Chà món hiếm đây!
Bác Năm.
– Cha ở Sài Gòn thì có ăn, 15 năm rồi, bữa nay tui mới làm, thêm cháo vịt về khuya nghen.
Gần hết 2 thùng Saporo, đĩa tiết canh vịt chỉ còn sót miếng nhỏ.
Bác Năm vô nhà đem ra 2 tô cháo bốc khói, đĩa thịt vịt thơm lựng.
– Giờ này ăn cháo khuya là đúng điệu.
– Mẹ! Cuộc tình so le của tui ở Sài Gòn cũng không ra gì.
– Sao.
– Con nhỏ trẻ quá, không làm ra tiền, chỉ ăn nhậu rồi “Ấy”
– Vậy vui!
– Tui phải xài Viagra, Xài nhiều… nên đứt bóng!
– Thôi! Bề gì cũng xong rồi, làm hết chai Tequila với mấy lon bia cho vui.
Hai người bạn già ngồi bên gốc sồi, cụng ly, gật gù nhắc chuyện xưa nay.
Đã 9 giờ tối.
Ông Khánh đứng dậy.
– Thôi! Tới lúc phải đi.
Bác Năm ngạc nhiên hỏi.
– Đi đâu cha?
Ông Khánh không trả lời, và cũng như chị Năm, ông đi thật nhanh vô khoảng rừng tối thui bên kia đường.
Bác Năm chưng hửng nhìn theo.
Còn lại một mình bên chiếc dĩa hột xoài sót miếng tiết canh vịt, chai Tequila thừa ngụm rượu dưới đáy chai, trên chiếc bàn nhỏ sát gốc sồi sần sùi.
Bác Năm thấy hụt hẫng trong lòng. Bác ngồi xuống ghế, rót hết chai Tequila, kéo chiếc dĩa hột xoài, đưa mấy ngón tay nhăn nheo, bốc miếng tiết canh cuối cùng, bỏ vô miệng, cạn ly Tequila, thở một tiếng dài …”
Sáng hôm sau, Thành chạy bộ về, không thấy bác Năm ra gốc cây sồi uống trà như mọi khi, anh gõ cửa phòng ông già.
– Ba! Dậy chưa Ba?
Thành hé cửa.
Trên giường, bác Năm mặc bộ đồ bà ba lụa mới mua ở Sài Gòn về, nằm dựa đầu vô tường, nhìn ra cửa sổ mở rộng, nơi tàn cây sồi ngày trước.
Thưa đời không như là mơ! Vì mơ là một chuyện; thực tế trần truồng là một chuyện khác.Mơ học báo chí thì những năm 70 chỉ Viện Ðại học Ðà Lạt mới có. Nghèo sặc gạch như người viết, ghi danh đi học chứng chỉ Toán lý Ðại cương (MGP) Ðại học Khoa học Sài Gòn mà má, ba còn lo không xuể thì cách chi mà lên Ðà Lạt để ‘mùa xuân sang có hoa anh đào’! Thôi đành: ‘Em ơi! Nếu mộng không thành thì thôi.’
Mãi đến khi phiêu bạt quê người mới có dịp làm báo… ‘’đời”. Mà làm báo coi như móc bọc, nghèo; nhưng nghèo mà sướng lắm nhe: Ðược độc giả rủ rê đi nhậu hoài hè… làm con vợ tui nó rầy tui quá xá.
Chẳng qua bạn hiền Lê Trung Thụy, Ðại học Khoa học Sài Gòn năm 1967, nhà anh chỉ cách nhà em cái giậu mồng tơi xanh rờn, 2 căn… cực kỳ ái mộ mấy đứa làm báo hay nói láo, nên ‘hú u’.
“Ai kêu tui đó?” Nghèo mà ham vui. Vui thì phải nhậu. Mà nhậu thì cần rượu. Ngặt cái hổng có tiền mua!
Anh Thụy nói: “Tưởng chuyện gì? Rượu đỏ là chuyện nhỏ! Chỉ cần một điều kiện là nhậu xong, chú em phải viết một bài tường trình về Lễ Sinh Nhựt một thập niên của Cựu Sinh viên Trường Ðại học Khoa học Sài Gòn ở Melbourne. OK?”
Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Chữ mình một bụng, nhưng bán chẳng ai mua. Thôi thì chữ ‘ế’ đem đi đổi rượu cũng được.
***
Người Việt mình, Bắc, Trung, Nam kể cả người Việt gốc Hoa, giống nhau ở chỗ:”Không ăn đậu không phải là Mễ; không đi trễ không phải Việt Nam!”
Ba giờ chiều ngày 6, tháng Tám, năm 2017, đồng hồ khỏ bon bon, mà chỉ có vài đứa đến đúng giờ để đặt bàn, bày ghế, trang trí cái phòng khách rộng minh mông, cắm điện cái đàn organ, để ban nhạc (một người), tò le tí le cho xôm tụ.
Còn mấy huynh trưởng khác không muốn đến sớm, chắc ngại sợ thiên hạ nói mình ham ăn, nên bạn mình cứ phè cánh nhạn, tới lai rai.
Ông thì nhà xa, bà thì bận lo cho cháu. Vì ba má sắp nhỏ mắc bận đi nhảy đầm nên gởi cho ông bà nội ngoại làm ‘child care!’ Chủ Nhựt mà.
Chuyện đâu còn có đó,việc gì mà gấp chớ! Chúng ta ra đi mang theo nền văn minh lúa nước rất đáng yêu (và cũng rất đáng quạu).
***
Mùa Ðông xứ Úc ngày dài đêm vắn, mới 5 giờ thôi mà trời đã sụp tối.
(Bà con biết mà: Cái gì nóng là nó nở ra hè! Mùa Hè nước Úc cũng vậy, gặp nóng là ngày nó nở rộng kinh luôn, mà không cần tới ‘viagra’. Ngày dài… dài ra.
Mùa Ðông nước Úc cũng vậy, gặp lạnh, là ngày nó thun lại. Ngày vắn… vắn lại.
Người viết có cái ngạc nhiên là qua đây có rất nhiều hội cựu học sinh các trường Trung học. Nhưng trường Ðại học lại hơi bị… ít.
Thế nên nhóm cựu sinh viên trường ÐHKH Sài Gòn chơi với nhau đã 10 năm, một thập niên dài đăng đẳng mà cho tới nay tui mới biết. (Thiệt là hụt ăn ‘chực’ tới 9 lần nên tiếc hùi hụi hè!)
***
Ôi nhớ xưa: Con trai sau khi đậu tú tài hai, đứa nào theo Ban B là tới trường Ðại học Khoa học mà ghi danh vô chứng chỉ MGP (Toán Lý Ðại Cương) tính làm Albert Einstein, hay chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa) để làm kỹ sư đào mỏ.
Còn con gái, vua gạo bài, đa phần theo ban A, thì ghi danh vô chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) để sau nầy thi vô Ðại học Y Khoa, học ra làm bác sĩ để chích ‘đít’ anh chơi!
Mấy chú MGP và MPC nầy học không lo mà con mắt cứ liếc đưa tình với mấy em SPCN thôi, đẹp não nùng như cô đầm Brigitte Bardot vậy. Hậu quả là sau hai kỳ thi cuối năm, rớt hết ráo. Ðậu chỉ có từ 5 tới 10% là hết mức! Cả 3, 4 ngàn đứa, còn trụ lại được trong cơn sóng gió ba đào, giỏi lắm chỉ còn được 1, 2 trăm!
Mấy đứa rớt: Con gái thì lên xe bông, đi lấy chồng; con trai thì tan mùa thi là anh đi lính, theo tiếng gọi của núi sông, ‘dông’ vô trường Bộ Binh Thủ Ðức.
Giờ già nhớ lại, đúng là cái thời tập tễnh từ học sinh ở với Tía Má rồi phải chuyển qua đời sinh viên xa nhà lại là khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người.
Ði chơi ‘líp ba ga’ mà không sợ Tía má rầy la hay cho ăn cái chổi chà.
Tui nhớ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn năm ấy, 1970, nằm trên Ðại lộ Cộng Hòa vốn là ở ké đất của trường Trung học Petrus Ký do Giáo sư Nguyễn Chung Tú làm Khoa trưởng.
Trong sân trường có mấy cây điệp Tây. Cuối mùa Hạ, sơ thu, trường đã tựu, vẫn còn bông vàng lác đác. Nhớ đám sâu đo, nhỏ như sâu gạo, từ cành lá thả tơ, buông mình sâu xuống đất để nhát mấy em học SPCN.
(Anh bạn nhậu của tui, cưới vợ rồi chỉ ước mình được làm con sâu để vợ ảnh mới sợ mà thôi!)
***
Người dẫn chương trình là anh Trương Như Tuấn (nk 1973) đã bỏ nhiều công sức ra tổ chức Lễ Sinh Nhựt 10 năm cho nhóm Cựu Sinh viên ÐHKH Sài Gòn ở Melbourne, nên được anh em mình tấn phong là ông Cả, theo kiểu miền Nam, dẫu anh là dân Huế của mình ơi, vốn dòng Tôn Thất…
Cũng nhờ nhiệt tình của nhạc sĩ Lê Nguyên Trúc (nk 1968) và nhất là Nguyễn Chiếu (nk 1971), điệp viên không không thấy, vì ảnh vừa đeo kiếng đen vừa bận rộn chụp… hình kỷ niệm.
Cũng xin cám ơn quý chị đã trổ tài làm bếp! Toàn là những món ngon, vật lạ Nam, Trung, Bắc lẫn của người Việt gốc Hoa.
Từ bánh khọt, miến xào kiểu Singapore cho tới bánh củ cải Triều Châu…
Ngon quá! Mà tui khờ thôi hết biết, mãi lo tán dóc, quay qua quay lại hết sạch bon (chứng tỏ nó ngon) Hu hu!
Lần sau tui sẽ không dám khờ như vậy nữa!
***
Vô bàn, đặt mâm, ngồi kế bên người viết là Quách Vũ Uối, Hội trưởng TQLC Úc Châu, một bạn hiền ‘tu’, cữ rượu, uống ít, nhưng ảnh nói còn cái vụ ‘kia’ thì từ từ sẽ cữ!
Quý anh mình xuất thân Cử nhân từ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn vượt biên qua đây, định bằng lại rồi tiếp tục học lên Tiến sĩ, làm Giáo sư trường Ðại học Monash của Úc. Hãnh diện nhe!
Bằng hữu Lê Bình, chủ chợ Little Sài Gòn, nói: “Mừng cho mấy anh có bằng Ph. D; còn tui có bằng Ph. O!”
Hỏi cái bằng gì nghe lạ quá hè? “Ph.O là Phở …vì Bình qua đây chuyên bán Phở!”
Hèn chi giọng hát của Lê Bình rất ngọt ngào như nước lèo của phở tái nạm gầu bỏ thêm chút hành trần và có chan thêm nước béo.
Lê Bình mời: “Tui có chai Penfold 1993 đây; rót cho ông một ly!” Lại vô mánh! Luật sư nói là có tiền, còn mình nhà báo nói là có rượu.
Lê Bình là người chịu chơi, thích sưu tầm các loại nhạc khí, nhạc cụ và rất nhiều các loại đàn…từ đàn đá… tới cả…đàn…bà!
Rượu được vài tuần, Lê Bình chiếm đài phát thanh, cầm ‘mi-cà-rô’, hát bản Khúc Thụy Du, thơ Du Tử Lê, nhạc của Anh Bằng, để thương mến trao về anh Lê Trung Thụy, chủ nhà, đã có nhã ý cho anh chị em mình họp mặt đêm nay.
(Tuấn Ngọc mà nghe Lê Bình hát thì chỉ còn có nước ‘mộng du’ chớ không phải ‘thụy du’ (Ngủ mà mớ… vẫn nhớ hoài chim bói cá.)
Tui e rằng anh Thụy, khoe được bà xã, chị Diệp Gò Công, tặng quà Sinh Nhựt là một vỉ viagra; nhưng lần nầy tui e bắp đùi của anh Thụy tối nay, sẽ bị bầm tím vì ‘Khúc Thụy Du’ cho mà coi!
Vì đây là bài hát khóc cho một mối tình tan vỡ với ai kia: ‘Em là chim bói cá’. He he!
Rồi tắt bớt đèn, trong cái mờ mờ ảo ảo, chương trình dạ vũ bắt đầu. Slow với lại Rumba cộng với ‘Lam ba da’. Ôi thiệt là: ‘Cha cha cha’!
Việt Nam, chồng hay ‘quánh’ vợ nên gọi là vũ phu. Qua đây, đất của Nữ Hoàng, vợ ‘quánh’ chồng gọi là ‘vũ nữ’. Khi hai vợ chồng ‘quánh’ nhau thì ta gọi là vũ ‘sexy’! Là ‘luân vũ’! Tức là em sẽ ‘nhảy’ với anh!
Ðêm vui nào cũng phải tàn. Thôi gặp nhau đây rồi chia tay!
Về tới nhà, mới bước vô là thấy em yêu của tui đang cầm cái chổi chà, núp sau cánh cửa.
“Em ơi! Anh đây mà!” Nhém chút nữa, là Má tui hổng nhìn ra tui rồi! Hi hi!
Ngày xưa em xuống ngồi đò Qua con nước đục lờ, cò, vạc, nông Lòng sâu cạn vệt mây hồng Hào năm xu lận mấy đồng quá giang Đầu để trần bọc áo mang Quần rách lai mặc với gan tày trời Bên cầu gãy nhịp ru hời À ơi cầm chén cơm thời thảo thơm Ba hột dằn bụng cũng hơn Lỡ làm ma đói quên hờn tiễn đưa.
Nắng vàng mắt qua buổi trưa Chiều tối bến lạ lau thưa lách buồn Ảo não bóng tối như tuồng Thời khắc xô động thuồng luồng lội ngang Nào ai con dại cái mang Ngược xuôi sau trước còn đang bẻ bàng Đà Nẵng có bến Bạch Đằng Tên kêu là vậy sóng dằn tích xưa
Bây giờ ngó biển chìm mưa Thuyền ra hải phận đỏ vừa bể dâu Tàu nước lạ đâm vào đâu Mà máu em chảy vào sâu cửa mình Nước sắp mất đất vẫn rình Cờ kia có bữa thình lình thêm sao Lu lon chuyện lớn là bao? Xin soi bản mặt đục ao một lần
Em thấp bé phận thanh bần Tụt quần ra đái giữa trần gian sôi Nước mắt đổ mồ hôi thôi Qua đầu ngọn cỏ cũng trôi đớn hèn
Sử xanh cổ mộ hoa chen Tiền nhân nhắm mắt bao phen ngậm hờn Bây chừ cót két tay đờn Đứt dây tắt tiếng đã lờn tham ô.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.