Đĩ và Điếm

Phan Nhật Nam

Post by Sơn râu 25 Jul 2026

Lời Người Viết:

Do một nguyên tắc tự đặt định từ khi bắt đầu cầm viết, 1968 và tuân thủ đến hôm nay: Không viết điều sai quấy, xúc phạm đến tính chất cá nhân người khác (cho dù đối với những nhân sự cầm quyền chính trị-quân sự thuộc phía đối phương cộng sản). Nhưng đến hôm nay, nhân ngày 20/7/2026, sáu mươi-hai năm sau lần ký kết Hiệp Định Đình Chiến Geneve/The Geneva Armistice, hiệp định ký kết do hai đại diện (cấp thứ trưởng Pháp-Việt Minh) ấn định lần chia cắt tạm thời hai miền đất nước – Là tiền đề chiến cuộc 1960-1975, gây nên hậu quả, hệ quả nguy hại sâu xa đối với vận mệnh Việt Nam-Toàn thể đất nước Việt Nam mãi đến hôm nay.

Và hôm nay, hơn 50 năm/nửa thế kỷ sau 1975, những thế hệ người Việt sinh sau 1975 trong và ngoài nước phần đông vẫn lập lại những “luận điệu tuyên truyền quần chúng” của đảng cộng sản Hà Nội chủ trương, thực hiện trong những thập niên 1950, 60, 70… và tiếp tục sau 1975! Hóa ra, thành phần thế hệ trẻ nầy đã KHÔNG THẤY/KHÔNG HIỂU ra được một phần căn bản: Cộng sản/Cộng sản Việt Nam là Ai? Như thế nào? cho dẫu họ đang sinh sống, học tập, làm việc tại các nước “tư bản” Pháp, Mỹ, Úc, Canada… Mà phần đông (lại) không muốn trở về VN! Tại sao? Thế nên, bài viết phải được viết nên.         

Dẫn Nhập:

Sinh hoạt nhân gian thông tục Miền Nam có phương cách gọi (theo) thứ bậc thai sinh: Anh Hai, Chị Ba… Không có “Anh/Chị Cả” cốt né tránh (kỵ, húy) thứ bậc “Cả” của Hoàng Tử Cảnh, “Con Cả” Chúa Nguyễn Ánh, nên gọi trại “Cảnh thành Kiểng – Chơi Kiểng, Đình Tân Kiểng, Kiểng chùa…”.

Nơi Miền Nam, giới nhà binh thuộc những thế hệ 1930, 40, 50… thêm thắt, điều chỉnh lối gọi trên bằng cách thêm vào tộc danh những nét/tính (độc đáo) của đối tượng (muốn) đề cập nhằm phân biệt người nầy, kẻ khác. Ví dụ: Ông “Minh Râu”/Tư Lệnh Không Quân (1967-1975) nhằm  phân biệt với “Minh Bự”, người hai lần giữ chức quốc trưởng, lập nên thành tích đánh sập hai nền cộng hòa (1963, 1975), cũng để xác định không phải là ông “Minh Đờn”, Tư Lệnh Quân Đoàn III ở Biên Hòa (1971-1973).

Trong tinh thần, với thuật dụng (bất thành văn) kể trên, thế hệ trẻ tuổi (trong, ngoài quân đội) miền Nam chế biến, bày đặt thêm hai tính từ/hình dung từ rất ấn tượng: Đĩ và Điếm. Phải nói ngay, đây không là hai tính chất, hình thái mang tính phủ định/chê trách; cũng không phải để mô tả về một “nghề/nghiệp” không mấy thiện lành của những người nữ (lỡ hoặc cố ý) sa vào cảnh đoạn trường tương tự Thúy Kiều; hoặc diễn dịch những tay quá quắt như gã Xuân Tóc Đỏ trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Trong nhiều trường hợp (lại) là đánh giá cao (gián tiếp) những anh đàn ông “hình dung chải chuốc, áo khăn dịu dàng” như nhân vật Thúc Sinh trong Truyện Kiều, hoặc những tay chơi có thành tích ái tình lừng lẫy cỡ Don Juan, Casanova của văn học, xã hội cổ điển Tây Phương.

Nhưng “Đĩ/Điếm” không chỉ là nét đan thanh thông tục của sinh hoạt nhân gian như trên vừa trình bày mà lịch sử VN từ 1945, 1946… dài đến 1954, 1960, 1968, 1972… trước, sau 1975 gần một thế kỷ đã cho thấy: “Đĩ-Điếm lại là đỉnh cao trí tuệ” từ diễn tiến vận động quân sự, chính trị, ngoại giao có “tính tiến công cách mạng hơn hẳn” của “Bác và Đảng ta”. Bài viết dưới đây xin được thật chứng minh.

Một.

Váo khoảng năm 1955, khu sân Bệnh Viện Đà Nẵng đường Lê Lợi (Trước Trường Phan Châu Trịnh, xây 1954, bị nhà nước cộng sản đập phá sau 1975) trước khi giao cho Sở Học Chánh Đà Nẵng mở Trường Nam Tiểu Học có cuộc triển lãm tranh ảnh về Việt Minh (Chưa có từ thông dụng Việt Cộng sau nầy). Thằng bé mười-hai tuổi vào xem triển lãm, nhìn thấy bức hình ông Hồ Chí Minh ngồi giữa một đám thiếu nữ mặc áo dài trắng với lời chú “Bác Hồ dâm bôn”. Dẫu không hiểu rõ nghĩa thế nào là “dâm bôn”, nhưng nhìn cảnh tượng một ông già (với râu dài) vây quanh bởi đám con gái, đàn bà thằng bé (cảm) thấy ra có điều gì kỳ chướng, bất thường – Do phản ứng (thẹn) của đứa nhỏ thụ nhận cách giáo dục thông thường của học đường, gia đình, xã hội người Việt từ Thế kỷ 19, 20 trước, sau 1954 – Nền giáo dục căn bản dạy người, liên hệ hai phái nam/nữ là một điều kín đáo, cần che dấu.

Tiếp theo những năm sau lần ra trường Đà Lạt 1963, đi hành quân lục soát những căn cứ địa Việt cộng, người lính vô tình tìm thấy tài liệu, hình ảnh “Bác Hồ với thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam/Không có giới thanh niên” ra thăm sau 1960 (Thời điểm thành lập Mặt Trận Giải Phóng 20/12/1960) – Ảnh nào trông ”Bác cũng rất “đã” khi ôm hôn các em, cháu gái – Với phản ứng kinh nghiệm tự nhiên của đàn ông (chưa tới 30), bản thân hiểu ra khoái cảm (sinh tâm lý) của phái nam (lớn tuổi) khi tiếp xúc với phụ nữ trẻ, thiếu nữ và thiếu niên nhỏ tuổi/Khuynh hướng tính dục ấu dâm. Sau nầy, khi đọc bài viết và hình ảnh từ cuộc phỏng vấn (20/4/1966) của ký giả Úc Wilfred Burchett đăng trên tuần báo Life thì cảm giác về một “Bác Hồ với phản ứng sinh tâm lý mạnh mẽ kích động nhục cảm” càng thêm cụ thể rõ rệt. Cảm giác, phản ứng mà Burchett đã diễn tả: “Bác Hồ là một nhân cách lớn nhất mà tôi chưa hề gặp, người với phong thái thuần nhã giản dị với ”tính nhân bản” cao nhất”.

Nhưng không chỉ chừng ấy, cảm giác của đứa nhỏ năm 1955 khi nhìn thấy hình ảnh “Bác Hồ vây quanh bởi đám thiếu nữ”; hoặc phản ứng của gã lính trẻ do hiểu ra mối kích động nhục thể từ những tấm hình “Bác hôm hôn, ôm các cháu thiếu nhi, thiếu nữ từ Miền Nam ra thăm” … Tất cả cộng với hình ảnh, nhận định của Burchett nói rõ viết trên báo Life trong năm 1966 có thể đưa đến kết luận chung nhất: Bác “Đĩ” thật/Bác rất “Đĩ”. Nhận định có thêm chứng cứ: Bộ ảnh bác thăm Ba Lan năm 1950 do Lisa Larsen (1925-1959) cũng của Báo Life bấm ảnh. Bộ ảnh có những những tấm hình rất ướt: Khi Bác ôm hôn môi vợ thủ tướng cộng sản Ba Lan Cyrankiewicz (1911–1989); hoặc khi bác nhân cơ hội hôn bó hoa (tặng) lẫn người nữ cầm hoa. Những bức ảnh đẹp và “mặn” đến nỗi bác không dằn lòng nên đã ngỏ lời tán Lisa: “Nếu còn trẻ tôi đã yêu cô rồi!” Bác nói thật chứ không hề đãi bôi.

Tháng 2, 1959 trong lần thăm viếng Indonesia, bác 69 tuổi (theo khai sinh chính thức, 1890) đã thố lộ với một bé gái: “Em đẹp lắm!” sau khi đã hôn đủ “ba phùa” ngọt lịm: Ôm hôn bên trái – Ôm hôn bên phải – Hôn môi! Bác hôn ướt đến nổi báo The Straits Times, số ra ngày 8 Tháng 3, 1959 (Hiện lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Singapore) phải đăng lời báo động: “Nên bảo Chủ tịch Hồ phải ngừng hôn hít con gái…/President Ho is told to stop kissing girls…”. Bác không những chỉ hôn đàn bà, con gái, trẻ nít… Bác hôn cùng khắp. Bác hít đủ loại: Bác ôm hôn Thủ Tướng Ấn Độ Nehru, Bác ôm hôn ông da đen quốc trưởng Châu Phi, Bác ôm hôn đồng chí Liên Xô da trắng… Lẽ tất nhiên đồng chí vĩ đại Trung Quốc những là đối tượng không thể thiếu: Bác ôm hôn (chằm chặp) Chủ Tịch Quốc Vụ Viện/Đồng Chí Thủ Tướng Châu Ân Lai đến méo mặt, ngộp thở nhân lần đến Liễu Châu, nam Trung Hoa dự hội nghị mật quyết định số phận Việt Nam (3-5/7/1954). Chuyện “hôn, hít” của Bác đến đây tạm đủ. Bài viết qua chủ đề thứ hai: “Điếm”

Hai.

Bác không chỉ “Đĩ chất lượng” như trên. Bác còn “Điếm đúng tiêu chuẩn” hơn hẳn. Nếu phần trên “Đĩ” đã được bổ túc, xác chứng qua nhận định của Burchett. Tuy nhiên với bản năng/kỹ năng/tri thức của một người phương Tây (vốn) thuần lý, Burchett chưa biết/không thể biết những khả năng/tính chất/việc làm THẬT sau đây của “Bác” đối với những người từng liên hệ… Jean Sainteny (1907-1978), Ủy Viên Cộng Hòa Pháp, người đã nhảy dù xuống Hà Nội (10/1945) để tiếp xúc với “Chủ Tịch Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh” nhằm thực hiện kế hoạch (không tưởng): Thiết lập “quan hệ ngoại giao với chính phủ HCM – Một tổ chức chính trị chưa được bất kỳ quốc gia nào công nhận kể từ lần thành hình 2/9/1945 tại Hà Nội” có mục đích tái lập, duy trì quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương, hớt trên tay Đồng Minh, cụ thể đối với Mỹ. Kế hoạch ngoại giao (không thực tế) do Sainteny thiết kế, xác lập đã bị phá bỏ bởi chiến tranh Pháp-Việt Minh (19/12/1946-20/7/1954). Nên năm 1972, trong hồi ký cá nhân Sainteny đã phải kêu lên: “Ông ấy con như cáo muốn vồ lấy tôi”–Dẫu rằng Sainteny luôn kỳ vọng: “HCM (vẫn) là một Gandhi của Đông Dương!”

Nhưng không chỉ một mình Sainteny bị “Bác phỉnh” mà Tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque, Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương (sau 8/1945), khi đưa quân từ Nam ra Bắc (thay thế quân Quân Dân Dảng Trung Quốc của Lư Hán) trong ngày 18 Tháng 3, 1946 đã có quyết định “… Nên bàn thảo với Việt Minh với mọi giá vì vấn đề “chống cộng sản (Việt Minh) hoàn toàn không cần thiết?!”. Dẫu Leclerc hiểu hơn ai hết: “Hồ là người của Cộng sản Liên Xô nhằm thực hiện thống trị thế giới.” Cũng hiểu (rõ) Hồ tương tự như thế, nhưng Cao Ủy Đông Dương Thierry D’Argenlieu vẫn rất vui thích khi ra Hà Nội trong Ngày 19 Tháng 5, 1946 được một rừng cờ đỏ sao vàng chào đón – Vì Ngày 19 Tháng 5 là “sinh nhật bất ngờ” do Bác (vừa) dựng chuyện/thông báo để Thư Ký (riêng của Bác) Vũ Đình Huỳnh (1908-1990) ra lệnh tổ chức khẩn cấp từ đêm trước! Vụ (giả) chào cờ mừng Cao Ủy Pháp không đi tới đâu, nên chỉ sau mấy tháng, Ngày 19 Tháng 12, 1946 chiến tranh Pháp-Việt Minh bùng nổ với máu xương của bao người Việt, lính Pháp đổ xuống cho đến ngày 7 Tháng 5, 1954 lần cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ – Tiền đề ký Hiệp Định Đình Chiến Genève, 20/7/1954 – Buộc Pháp nhường nửa nước Việt Nam cho Việt Minh, 1954 – Mất trọn Đông Dương, 1956 – Mất Algérie, 1962… hiện thực “Thơ khẩu khí của Bác” khi thăm đền Trần Hưng Đạo: “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng!”

Bác không chỉ “điếm” đối với những đối thủ chính trị cao cấp, tầm cỡ quốc tế, bác giở trò điếm cùng khắp, bất kỳ lúc nào, với bất kỳ ai. Sau 15 Tháng 8, 1945 về Hà Nội, bác và thành phần lãnh đạo Việt Minh được vợ chồng ông bà Trinh Văn Bô (1914-1988), nhà tài phiệt lớn nhường cho căn biệt thự số 48 Hàng Ngang để lập trụ sở chính phủ lâm thời; ông bà Bô còn góp 5.147 lượng vàng vào ngân quỹ nhà nước (vốn không có một xu nhỏ). Vợ chồng ông bà Bô lo từ miếng ăn đến áo quần (loại hàng vãi đắc tiền) để xứng danh vị chủ tịch nước VNDCCH (?!). Nhưng đến mỗi bữa ăn, bác “diễn xuất” lấy một lon gạo đổ vào “hủ gạo bác Hồ” để cứu dân đói! Bác vừa đổ gạo vào hủ vừa thấm nước mắt! Bác “thương dân” chăng? Không phải! Hãy xem trường hợp Bà Nguyễn Thị Năm (1906-1953), chủ cơ sở thương mãi lớn Cát-Hanh-Long ở Hải Phòng.

Bà Nguyễn Thị Năm là chủ nhân khu đồn điền ở Thái Nguyên nơi đã tiếp đón, nuôi ăn hầu hết đám cán bộ trung ương Việt Minh trong những ngày trước Tháng 8, 1945, trước khi bác khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, 2 Tháng 9, 1945 tại Hà Nội. Tương tự như ông bà Trịnh Văn Bô, Bà Năm góp 20.000 ngàn bạc Đông Dương, tương đương 800 lượng vàng cho chính phủ của bác làm ngân quỹ. Tuy nhiên, dù đang lúc chiến tranh với Pháp, (vừa) nhận tiền/vàng của Bà Năm, bác (lại) lên kế hoạch “giết” người ân nhân để đạt chỉ tiêu “5% địa chủ/Hộ nông dân đề ra trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956). Bà Năm là đối tượng điễn hình, đầu tiên được bác chọn trong kế hoạch đấu tố. Bác giết người ân nghĩa đối với bản thân mình với chữ!

Hãy đọc Trần Đĩnh kể trong Đèn Cù, in 2014 do Cơ Sở Người Việt Book, Nam Cali:”… Để phối hợp với bài viết của tôi (Trần Đĩnh) trên Báo Nhân Dân (Cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản VN từ 1950), có một người viết ký tên “CB/Của Bác – lại một bí danh nữa” gởi đến bài “Địa chủ ác ghê”. Bài viết có nội dung: “Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa –thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con (cán bộ chỉ huy quân sự Việt Minh) và mấy tên lâu la với các tội, con số cụ thể (Đèn Cù, trg 85).”

Bà Nguyễn Thị Năm bị đưa ra đấu/giết để dọa quần chúng nhưng không “được chết” một cách yên lành mà với cảnh tượng kinh hoàng: “Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy “các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh…” Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liên nổ sát lưng… Mua được áo quan thì không cho (xác) bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miệng cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: “chết rồi còn ngoan cố này!!” Nghe xương kêu răng rắc!! Cuối cùng xác bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy…” (Đèn Cù, trg 86). Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của Bác, Trần Đĩnh viết rõ hơn: ”… Sở dĩ báo chí không được dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm chỉ cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. (Đèn Cù, trg 84) 

Tóm lại, thành tích giết bà Nguyễn Thị Năm đã được chỉ đạo/thực hiện/chứng kiến nhất quán với quyền giết người của Bác. “Tôi (Trần Đĩnh) đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ” (Đèn Cù, trg 90). Nhưng Bác được tay em (Hoàng Tùng, Tổng biên tập Báo Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) chạy tội trong hồi ký: “Thật ra Bác cũng chỉ là kẻ thi hành vì mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải Cải Cách Ruộng Đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện!!” Nạn nhân Miền Bắc bị giết trong Cải Cách Ruộng Đất (1953-1956) hãy nhớ: Bác bị buộc phải giết người theo lệnh của Nga-Tàu, dẫu Bác rất “thương dân”. Bác đã khóc nhận lỗi trên Đài Hà Nội vào ngày 18 Tháng 8, 1956. Bác khóc thật.

Ba.

Rõ ràng “nước mắt Bác” trong màn khóc lóc kể trên không đủ xóa trôi tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất! Nhưng không chỉ có thế, Tết Mậu Thân, 1968 bác ban lệnh Tổng Tấn Công-Tổng Nổi Dậy thanh toán Miền Nam với “Thơ/Thơ Chúc Tết”: “Xuân Nầy hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!”. Nhưng (cũng) không phải chỉ là thơ xúi giục khởi động cảnh máu xương, hãy xem lại «tuyệt chiêu điếm» của bác:  “…Sau hội nghị trung ương 14, đầu tháng 1, 1968 bác lỉnh đi Bắc Kinh lấy cớ chửa bịnh (?!). Và đêm 31 Tháng 1, 1964 khi toàn miền Nam chìm trong khói lửa của cuộc tổng tiến công do bác khai hỏa, trong căn phòng vắng ở Bắc Kinh với thư ký Vũ Kỳ, bác cười hả hê (chẳng có gì là bịnh hoạn) nghe một em bé Hà Nội hát bài “Bé bé bồng bông..” và thưởng thức «Thơ Chúc Tết » của chính mình (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/Cuốn II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).

Sau hai đợt tổng công kích (Tháng 1 và 5, 1968), chiến dịch thất bại (về mặt quân sự), bác (lại) lấy cớ giải thích với Chủ Tịch Mao ở Bắc Kinh và trung ương đảng Hà Nội: «Bản thân bác không chủ trương tổng tấn công quân sự (để giữ sức đảng, yêu nước, thương dân…) mà chỉ cốt thực hiện chiến lược Chiến Tranh Nhân Dân/Dùng Nông Thôn Bao Vây Thành Thị – Chủ trương của Chủ Tịch Mao – Trái với kế hoạch tổng tấn công với hỏa lực do Liên Xô cung cấp –Trong giai đoạn Liên Xô –Trung Cộng đang ở cao điểm chống đối. Cuộc tổng tấn công còn là một thất bại nghiêm trọng đối với lực lượng vũ trang của Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN – Con bài chính trị của Bắc Kinh cốt nhằm làm yếu thế/lực/áp lực của Hà Nội. Sau ký kết Hiệp Định Ba Lê 27/1/1973, Ngày 30/4/1975 nhận định nầy càng được thật xác chứng.

Tóm lại, Bác né thất bại Mậu Thân, đổ trách nhiệm qua Lê Duẩn và Lê Đức Thọ, hai nhân sự có thực quyền, thực lực trong Bộ Chính Trị không được Bắc Kinh cho điểm tốt – Và (nếu) thắng thì Bác (sẽ) lấy phần «đọc Thơ» đã ra lệnh tổng tấn công – Quả thật, Bác là bậc thầy (chạy) của «Kế mưu tuyệt điếm/Tá đao sát nhân/Mượn dao kẻ khác để giết người ». Lịch sử điếm đông-tây kim cổ khó ai qua mặt. Cỡ Tào Tháo, Lưu Bị cũng xoàng.

Bốn.

Nhưng bác không « Điếm độc diễn ». Bác có những tay em, những học trò «Kiệt xuất với cường độ điếm» không kém bác: Tổng Tư Lệnh Quân Đội Nhân Dân-Bộ Trưởng Quốc Phòng Đại Tướng Võ (Nguyên) Giáp. Trước khi trình bày «năng lực, mức độ điếm » của Võ Giáp (Tên thật), bản thân người viết cần nói rõ một phản ứng có tính cách cá nhân đối với nhân sự tên tuổi nầy. Đấy là do bản năng, phản ứng của một người lính chuyên nghiệp, bản thân rất khâm phục khả năng, trí năng của Tướng Võ Giáp về mặt quân sự – Khả năng tổ chức điều hành, chỉ huy hai cuộc chiến tranh vượt thắng hai đối thủ hơn hẳn về vũ khí, kỹ thuật. (Phần thất bại của hai lực lượng quân đội Pháp, Mỹ không thuộc về nội dung của bài viết nầy). Nhưng song song với sự thán phục về mặt quân sự đối với Võ Giáp, bản thân thấy rõ một điều bất cập nơi con người nầy: Cách thức ăn mặc, màn hí kịch «diễn xuất» lộ liễu bày ra bản chất nhỏ nhen, tầm thường của một viên đại tướng lừng lẫy: Luôn «diện» veston, thắt cà-vạt, đội mũ phớt theo mode «công tử Hà Thành» thông dụng trước, sau 1945 tại Hà Nội. Khổ nổi, những bộ đồ mồi của Giáp là những chiếc áo veston cũ, cà-vạt màu mè nhăn nhúm vì đang ở «chiến khu» ; nhưng khi đi duyệt binh đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân trong ngày 22/12/1944, Giáp lại đeo thêm súng colt ngang hông, chân đi giày botte cao cổ của lính cỡi ngựa – Hình tướng của một kép hát bội diễn dỡ. Võ Giáp không chỉ «diện » như trên để «hù » đám du kích quê mùa quần cộc, chân trần, đương sự để nguyên bộ khi chụp hình với tổ Biệt Kích OSS Mỹ trong cảnh núi rừng Tây-Bắc (có lẻ) nhằm nâng «tác phong (văn minh) của một đại tướng» -Xuất thân là một ông gíáo trung học dạy môn sử địa được « Chủ tịch Bác» ngang xương phong cấp đại tướng theo ngẫu hứng. Những điều tầm ruồng về áo quần, cách diệu võ, giương oai của Võ Giáp không hề ngẫu nhiên dần được hiện rõ qua những việc như sau… 

Từ đầu tháng 1/1968 Võ Giáp đã «bị/được» Lê Duẩn, Lê Đức Thọ « bố trí » cho đi Hungary chữa bệnh (?!). Ngày 28/1, trên đường từ Hung trở về nước, Võ Giáp ghé Bắc kinh xin gặp Chủ Tịch Mao. Mao không tiếp, còn ra lệnh đàn em đãi cơm cho Giáp với một cái chén mẻ (Mao ghim Giáp vì đánh giá Giáp là phe của Mạc Tư Khoa). Giáp ngồi tỉnh ăn cơm Tàu với cái chén mẻ bằng thái độ «khôn ngoan » của AQ, nhân vật vô sản Trung Cộng được Lỗ Tấn (1881-1936) mô tả qua kỹ thuật khôi hài (đen) với chước láu cá gọi là «thắng lợi tinh thần ». Ví dụ, như khi bị đánh, bị chưỡi, bị trò đểu thì hãy nghĩ “chúng đang đánh, chưởi, chơi đểu bố của chúng”. Tương tự như thế, Võ Đại Tướng tỉnh bơ nâng cái chén mẻ với lý luận khôn ngoan – Ăn chén mẻ cũng là ăn cơm Tàu/Coi như ta ăn cơm của bố thằng Tàu! Ngày 29 Tết, máy bay Trung cộng đưa Giáp về Hà Nội. Giáp luận tiếp: «Nó/Thằng Tàu chơi đểu ta nhưng vẫn phải đưa ta về bằng máy bay chúng». Triết lý «thắng lợi tinh thần » của AQ được Võ Giáp thực hiện đúng. Hôm sau Tướng Giáp được Vũ Lăng, Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo “kế hoạch Tổng Công Kích-Tồng Khởi Nghĩa”–Kế hoạch thay đổi hẳn cục diện chiến tranh VN, Võ Giáp cố giữ vẻ mặt bình thản (cách «khôn ngoan/chịu trò điếm» của AQ để che dấu niềm cay đắng: Bộ Trưởng Quốc Phòng- Tổng Tư Lệnh đã không được biết một kế hoạch thay đổi vận mệnh quốc gia trước khi nổ súng CHỈ ĐÚNG MỘT NGÀY (Sách Huy Đức sđd; trg 159). Sau nầy khi được hỏi về «thất bại Mậu Thân», Võ Giáp nói nước đôi/của ngón «võ điếm» chân truyền: « Đợt Một (1-2/1968) «chưa » có kết quả cụ thể mà mở đợt Hai (2/1968) là « kém cơ sở!» Dẫu Giáp biết thua nặng nhưng do «ngón điếm» có sẵn, ông đại tướng không dám nói rõ, phần rất ngán Duẩn và Thọ vốn ghim Giáp từ lâu!  

Năm

Tướng Giáp không những “điếm mà còn (rất) ác” không kém ông bác. Xin xem câu chuyện sau đây giữa Võ Giáp và nữ ký giả người Ý Oriana Fallaci (1929-2006). Cuộc gặp diễn ra tại Hà Nội trong Tháng 2, 1969, được kể lại trong sách Phỏng Vấn (với) Lịch Sử/Interview with History (NXB Houghton Miffilin Co Boston, chuyển dịch, tái xuất bản bởi Liveright Newyork, US. 1977). Buổi gặp mang tính chất “nói chuyện” giữa hai người hơn là một cuộc phỏng vấn đúng nghĩa về những vấn đề nghiêm trọng thuộc lãnh vực ngoại giao-chính trị-quân sự, nên có lúc Fallacio dùng danh xưng “thưa ông” thay vì “thưa đại tướng”. Vì chỉ để “nói chuyện” nên Fallaci đã hỏi những vấn đề mà (nếu) là cuộc phỏng vấn chính thức người hỏi thường tránh né hoặc dùng những hình thức đối thoại khác. Fallaci hỏi về Điện Biên Phủ (11/1953-5/1954), chiến thắng của bộ Đội Việt Minh do Giáp chỉ huy (trên danh nghĩa) chứ trong thực tế do Cố Vấn Trung Cộng La Quý Ba, Vi Quốc Thanh quyết định toàn thể về vũ khí, quân trang, quân dụng cho chiến trường, và do các Tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn về tham mưu, chiến thuật. Tuy nhiên, đây không là chủ điểm của cuộc nói chuyện.

Hỏi về Điện Biên Phủ, nhưng Fallaci không đề cập đến khía cạnh vinh quang của Võ Giáp/Việt Minh, nhưng lại hỏi về cái giá tổn thất 45 ngàn bộ đội Việt Minh. Và Võ Giáp đã trả lời rất tỉnh: “Cứ hai phút, trên địa cầu có ba trăm ngàn người chết. Có nghĩa lý gì với 45 ngàn bộ đội chết tại Điện Biên Phủ?!” (O.F. sđd, trang 67). Fallaci lại cố “truy” Võ vấn đề thứ hai:”… Mặc dù mọi người đều đồng ý là cuộc tổng tấn công Tết (Mậu Thân 1968) là một thắng lợi tâm lý lớn. Nhưng về mặt quân sự, ông có nghĩ rằng đây là một thất bại không? Vì trên tổng quát, đứng về mặt chính trị cũng không hẳn là hoàn toàn thắng lợi! Dân chúng không nổi dậy. (Phía cộng sản-Pnn) chỉ chiếm đóng ở Huế trong khoảng một tháng. Ở Huế có những đơn vị lính Miền Bắc… Thưa Đại Tướng, phía Mỹ bảo rằng ông đã mất đến nửa triệu (lính), tính đến 1969” (O.F. sđd, trang 82).

Võ Giáp (thành thật): “Sự thiệt hại đúng là như vậy… Nhưng Mậu Thân là một vấn đề nhạy cảm. Cô nên hỏi phía Mặt Trận thì rõ hơn. Tôi không thể xét đoán vấn đề nầy, những gì xẩy ra nơi chiến trường. Tổng tấn công Mậu Thân không thuộc (quyền tôi-Tất nhiên). Cũng không thuộc về chúng tôi (Ai là “chúng tôi”-Pnn). Chiến dịch do Mặt Trận thực hiện (O.F. sđd, trg 83) Cuối cùng, khi Oriana Fallaci hỏi về chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu nữa? Chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu với người dân (VN) khốn khổ phải chịu đựng, hy sinh và chết? Võ Giáp lập lại chiêu cố thức “Điếm” cố hữu của Bác-Với Sự Ác: “Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Như Bác Hồ của chúng tôi đã từng nói… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” (O.F. sđd, trang 87)

Hậu Từ:

Bài viết đã khá dài, tôi phải chấm dứt do tâm trạng (nặng) não nề với câu (tự) hỏi: Có thể nào như thế? Chẳng lẻ những nhân vật quá quắt trong tiểu thuyết như Vi Tiểu Bảo của Kim Dung (1924-2018) hoặc Xuân Tóc Đỏ của Vũ Trọng Phụng (1912-1939) là những con người có thật Với Lịch Sử- Giữa Con Người- Trong Cuộc Sống? Gã Xuân Tóc Đỏ xuất thân là kẻ nhặt banh trong sân quần vợt biến thành “Người Ái Quốc, xây dựng, giữ vững nền ngoại giao, hòa bình giữa hai nước An Nam-Xiêm La?” Tương tự như thế qua sự THẬT: Lucien Emile “Lou” Conein (1919-1998) chỉ là một nhân viên CIA trung cấp, nhưng chỉ với bao tiền 42,000 Đô-La đem vào văn phòng Tướng Trần Thiện Khiêm trong ngày 1/11/1963 đã đủ để bảo chứng cho một kế hoạch sát nhân gồm những nhân vật tài trí của quân đội VNCH: Đại Tá Lê Quang Tung (1926-1963), Hồ Tấn Quyền (1927-1963)… và tiếp theo Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1900-1963), người khai sinh VNCH, mà ngày Tết 1962/1963 (vừa) nhận cành hoa đào từ Hồ Chí Minh gởi từ Hà Nội với lời xưng tụng: “Ngô Đình Diệm là người yêu nước theo cách (riêng) của ông ấy”. Nhưng cũng chính Bác Hồ nhân nghĩa nầy là người đã khởi động, lãnh đạo, điều hành cuộc chiến tranh:”… Chiến tranh sẽ kéo dài (nếu) cần thiết: 10, 15, 20, 50 năm… Chúng ta phải toàn thắng! Phải, 20 năm cho dù 50 năm… Chúng tôi không sợ! Chúng tôi không có gì phải vội vã!!” như trên đã trích dẫn.

Bác không nói suông. Bác làm thiệt qua lần “tâm sự” với Madelein Riffaud (1924-?) Tháng 6/1964 trong vườn nhà bác tại Hà Nội. Riffaud, nữ phóng viên, nhà thơ vốn là “nữ kháng chiến quân” của phong trào xã hội/cộng sản Pháp trong chiến tranh trước, sau 1945. Bác không nói với Riffaud với vị thế cách chủ tịch nước VNDCCH mà với tính cách “câu chuyện giữa chúng ta” – Cách thức mà bác thực hiện vô cùng “nhân bản” với Burchett (1966) hoặc giữa Võ Giáp và Onario Fallacci (1969). Nói chuyện với cách nhìn thăm thẳm “nhân bản, mưu lược, chen lẫn ác hiểm” khiến Fallaci dẫu đã gặp đủ mặt Kissinger (Mỹ), Arafat (Palestine); Hussein (Jordan)… cũng phải chột dạ. Đấy mới là Võ Giáp, chỉ là “học trò” của bác – Huống chi gặp phải tay bác vừa phà khói thuốc, vừa nâng ly rượụ, ngồi sát bên cạnh… Sức mấy “em” nhỏ 40 tuổi (sinh 1924-1964), đến từ Paris, đất Pháp chịu đời cho thấu? Đến cỡ Sainteny còn phải kêu lên suýt nữa bị bác vồ từ 1945, 1946. Hóa ra Đĩ và Điếm không là tính chất mà là Thuộc Tính của Người. Biểu tượng sụp đỗ của Babylon trong Khải Huyền của Thánh John là con Điếm Vĩ Đại với Màu Đỏ thẫm máu tươi.

Phan Phi Danh,

Đất Mỹ, 20/7/2026.

Cà khịa với Toan Ánh

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on February 18th, 2022

Post by Sơn râu 25 Jul 2026

Tranh Bảo Huân

Toan Ánh, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tên thật là Nguyễn Văn Toán sinh tại Thị Cầu, Bắc Ninh năm 1916 và mất năm 2009 tại Sài Gòn, thọ 93 tuổi.

Toan Ánh bắt đầu viết văn từ năm 1934. Kể từ đó, ông gắn bó mật thiết với đề tài văn hóa truyền thống của Việt Nam từ nông thôn đến thành thị, từ Bắc vào Nam. Ông để lại cho đời khoảng 124 tác phẩm có giá trị học thuật.

Tóm lại ông Toan Ánh là một cây đa, cây đề trong giới biên khảo của người Bắc di cư vào Nam. Sau nầy cả hai, ba chục năm sau 75, ông Toan Ánh được giới văn nghệ CS Miền Bắc tâng bốc, ca tụng ông lên tới tận mây xanh.

Riêng tui thì tuân theo lời dạy ông bà mình: “Ðọc sách mà tin hoàn toàn vào sách thì đừng đọc!” Ðọc mà mù quáng, cứ tin những câu chữ của các nhà văn nổi tiếng viết ra như thánh phán, lúc nào cũng đúng 100% thì xét cho cùng có hại hơn là có lợi! Thế nên thái độ đọc sách đúng nhứt là bao giờ cũng mang theo câu hỏi tại sao, tại sao và tại sao? Cứ lý giải sự kiện theo sự suy nghĩ của riêng mình. Ðừng cho mình lúc nào cũng đúng; hoặc sợ nói ra sai thiên hạ sẽ cười mình.

Chính vì dám uống thuốc liều (mạng) như vậy nên tui làm gan cà khịa với ông Toan Ánh về một chuyện vầy nè:  Chẳng qua ca dao quê mình có câu:

“Tàu súp lê một! Còn trông còn đợi! Tàu súp lê hai! Còn đợi còn chờ!

Tàu súp lê ba! Tàu ra biển Bắc…Tay anh vịn song sắt, nước mắt chảy ròng ròng. Anh lấy khăn mu soa ra chặm. Cái điệu vợ chồng ngàn dặm không quên!”

Ông Toan Ánh cắt nghĩa như vầy: “Thực dân Pháp chiếm Việt Nam, một mặt dân Việt Nam căm hờn, một mặt một số cô gái Việt Nam kém ý thức, vì hoàn cảnh đã sánh duyên với Pháp trở thành me Tây. Lính Pháp lấy me trong thời gian ở đất Việt, rồi anh lính trở về Pháp, cô me Tây ở lại nước Việt lại lấy chồng, một anh lính khác.

Cuộc tiễn đưa ắt phải xảy ra tại bến tàu Saigon, và có anh chàng Tây đã thút thít vì phải xa vợ, anh bảo rằng ngàn dặm không quên, có thật hay chăng anh ra cửa bể như rồng lên mây?

Sao có sự mâu thuẫn giữa hai câu thơ trên, hay ý tại ngôn ngoại, chỉ có sự mâu thuẫn trên hình thức, còn thực ra thì ngàn dặm có đời nào mà không quên đối với những lứa đôi dị chủng, nhất là trong cuộc chắp nối giang hồ.” (Trích tác phẩm “Hương Nước Hồn Quê”, tác giả Toan Ánh, NXB. Thanh Niên).

Cuốn sách nầy của ông là do CS in lại. Và trước khi in, họ kiểm duyệt từng chữ, từng câu để loại ra những gì không theo đúng những điều đảng muốn. Rồi đôi khi cả gan thêm vào những câu nịnh bợ đảng (ta), chửi bới kẻ thù để kiên định lập trường theo ‘Ðề cương Văn hóa Việt Nam’ của Trùm CS Trường Chinh. Thế nên mấy bố phụ trách biên tập sợ nếu sơ suất làm xổng chuồng một câu nói dù chỉ ‘xỏ ngọt’ đảng ta, sẽ đưa đến một hậu quả đắng nghét là bể nồi cơm của bu nó!

Thú thiệt tui không biết chính xác 72 phần dầu là ông Toan Ánh có viết như vậy hay không? Tuy nhiên sách đề tên tác giả là Toan Ánh thì tui cứ tạm tin là ông Toan Ánh đã viết như vậy đi để có cái mà cãi cho vui cửa, vui nhà trong tháng Giêng ăn chơi rồi nói dóc.

Ông Toan Ánh viết như thế, tui không đồng ý! Tui cho rằng: Ðây ắt là lời của một anh chàng nông dân nghèo khổ, đang có con vợ mà lại bị bắt đi lính cho Tây trong Ðệ nhứt Thế chiến (1914-1918).

Ðể ủng hộ cho cái phản bác của mình, tui xin đọc cho bà con nghe một đoạn trong ‘Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, chương 12, của ông Nguyễn Vỹ (1912-1971)

“Tờ ‘Trung Kỳ Bảo Hộ công báo’ là một tờ báo của Toà Khâm Sứ ở Huế gởi đi các tỉnh, tỉnh gởi về huyện, huyện gởi về các làng. Tuấn đọc to lên cho cả làng nghe tin Nhà nước Bảo hộ Phú-lang-sa đang đánh giặc với Ðức, tức là nước Phổ-lô-si (phiên âm chữ Prusse, Ðức phiên âm chữ Deutsch). Ðức là một nước ‘dã man, tàn bạo’, bị Phú-lang-sa đánh cho liểng-xiểng, binh lính Ðức chết vô số, có cả hàng ngàn, hàng vạn v.v.

Nhưng trận giặc còn lâu dài, cho nên “dân An Nam nhờ nước Phú-lang-sa bảo hộ, phải quyên tiền và đem binh lính sang Pháp để đánh lũ giặc Ðức mọi rợ v.v. Dân làng, bất luận giàu, nghèo, đều phải góp tiền để mua Phiếu Quốc Trái. Hơn nữa, làng phải mộ dân tình nguyện đi lính sang Pháp để ‘đánh đuổi giặc Ðức’.

Sự thật, không có dân nào tình nguyện cả. Sau cùng làng xã phải bắt ép thanh niên khoẻ mạnh, gọi là tráng đinh đi lính. Hầu hết lớp “lính tình nguyện” nầy ở khắp xứ Trung Kỳ , Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ đều là thanh niên nho học từ 21, 22 đến 24, 25 tuổi.

Phong trào mộ thanh niên đi tùng chinh sang ‘Mẫu Quốc’ là một dịp cho các quan An Nam từ quan tỉnh xuống quan huyện, cho đến các ông hương, ông xã trong làng đòi ăn hối lộ. Một số đông các ông này chơi ác, cứ nhè bắt bọn thanh niên trai tráng con nhà giàu, đi tùng chinh. Thế là các bậc cha mẹ phú hộ phải đem của tiền lo lót, cho con khỏi đi. Phải lo lót xã một phần, lên lo lót huyện một phần, rồi lo lót các cụ lớn trên tỉnh nữa. Hối lộ gần như công khai. Nhà giàu đua nhau nhờ cậy chỗ này chỗ nọ, chạy chọt ông này ông kia, bán cả ruộng đất, nhất là con trai trưởng trong gia đình, khỏi bị bắt “tình nguyện” đi lính sang Pháp.

…Vì lớp thanh niên nhà giàu, hoặc nhà khá giả, hoặc con trai các vị hương chức đều nhờ hối lộ, và nhờ có quyền thế, đã được miễn tùng chinh. Sót lại chỉ có con nhà nghèo không có miếng đất cắm dùi, cho nên phải đi lính ‘tình nguyện’ qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc ‘Phổ-Lô-Si’.

Nói là qua ‘mẫu quốc’ đánh giặc, nhưng sự thật thì qua bên đó nhập vào một đơn vị gọi là ‘đoàn quân thuộc địa’ chỉ dùng riêng vào việc vận tải lương thực ở hậu tuyến mà thôi. Một số bị bắt ra mặt trận, nhưng cũng chỉ là khiêng vác các khẩu súng lớn, đẩy các cổ đại bác và đào hầm trú ẩn. Chẳng có một người ‘lính thuộc địa’ nào, nhất là lính ‘Tirailleurs Annamites’ (Lính khố đỏ Nam Kỳ) được cầm súng bắn giặc cả.

Tất cả thanh niên tùng chinh đều được lịnh đến trình diện tại đồn lính Khố xanh ở các tỉnh, rồi từ tỉnh họ được chở đi tập trung lại, đợi tầu sang Pháp.”

Chính vì bị bắt đi lính do mình nghèo, phải xa vợ, xa con, xuống tàu đứng sau song sắt như bị ở tù, hổng khóc sao được? Xúc cảm như vậy mới làm được bài thơ não lòng, bi thiết! Rồi bài thơ đó trải qua biết bao thử thách của thời gian mới được trở thành ca dao, thành tiếng hát ru cho thân phận những người cùng khốn. Chứ không phải là lời của thằng Tây nào với em Me Tây nào ráo trọi như ông Toan Ánh nói đâu?

***

Thưa quý độc giả thân mến! Ðối với những nhà văn tiền bối như: Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Vỹ, Toan Ánh thì người viết đều kính phục cả, xin ngả nón cúi đầu; nhưng ca dao, hát ru là tiếng quê hương, là của chung của tụi mình. Xa quê, viễn xứ, vẫn nhớ về quê cũ, lại nhớ tới ca dao. Em yêu sai: ‘Ru con ngủ cho em đi chợ, mà thằng nhỏ cứ khóc hoài? Ru tới ru lui chỉ có hai bài làm thằng nhỏ chắc sẽ thuộc lòng như cháo. Rồi lớn lên, lỡ cắc cớ nó hỏi: “Tía ơi! Nghĩa nó là gì vậy?” Làm tía mà hổng biết trả lời sao thì mất mặt ‘bầu cua’ lắm lắm! Cho nên mới có bài viết nầy thưa quý độc giả thân mến!

ĐXT

Bờ cát ẩm

quanvan.net
Hồ Đình Nghiêm

Post on 28 Apr 2022

Post by Sơn râu 25 Jul 2026

Tiến sĩ Rupert Neudeck (1939-2016)

Trong ca dao có những câu đặc tả chân chất ngây ngô. “Con mèo con chó có lông, bụi tre có mắt nồi đồng có quai”. Dùng nó để ngâm nga, làm điệu hò ru em lại đâm hiệu nghiệm. Đứa bé sẽ ríu mắt chìm dần vào giấc ngủ, ngủ như một baby. “Em” chưa đủ tuổi để sớm đón đầu mộng mị, em chẳng hình dung được con mèo con chó bụi tre nồi đồng là… cái quái gì. Em đích thị chỉ là trang giấy trắng. Nhờ sữa mẹ dần dà em tăng trưởng, tháng ngày vực em lên và thời gian xúi em khởi động những bước chân vụng dại. Trang giấy trắng trong em bắt đầu hoen ố những vết mực đen. Em dỗi hờn bất chợt và nín ngay tiếng khóc nhè khi nghe mẹ bảo: Đừng chướng, ông Kẹ đang rình ngoài cửa a kìa! Lại rất đỗi hiệu nghiệm, em thôi chướng dù “ông Kẹ” là cái quái gì em không tài nào hình dung ra. Nói ngay tình, ngay cả bố mẹ em, những kẻ già đầu, bản thân họ suốt đời cũng chưa đụng mặt với ông Kẹ! Họ doạ dẫm người khác mà họ chưa từng nếm trải nỗi sợ hãi kia. Ông kẹ có lông có mắt có quai không? Họ có “tư cách” gì để hay biết.
Một ngày kia em nghe ra câu “chuồn chuồn có cánh thì bay”. Í, ngộ hén, con gì có cánh thì đều bay được cả mà! Con muỗi nè, con ruồi nè, con bướm nè, con chim nè… thiếu giống! Rồi em nghe bạn bè xúi dại và em hằng tin điều đó là cả một sự thật: Cho con chuồn chuồn cắn vào lỗ rốn thì tự khắc sẽ biết bơi. Tại sao là lỗ rốn mà chẳng là khu vực hoặc bộ phận khác? Không một ai thắc mắc, bạn em thảy đều thực hành nghiêm chỉnh. Cả em cũng rứa. Vén áo lên, cúi đầu xuống dòm, dùng cằm để giữ chặt lấy áo, hai ngón tay kẹp đôi cánh xếp và con chuồn chuồn đỏ như một trái ớt hiểm đang cong đuôi hả miệng gây nhột nhạt nơi vùng miền nhạy cảm của em. Nó đã cắn chưa? Em không rõ. Em thả nó bay đi và trang giấy trắng trong em hiện lên một dấu hỏi: Tại sao nó chịu mang tên kép: Chuồn chuồn? Nó khác biệt với con Đom thêm dấu sắc thành Đom đóm, bươm bướm. Không nghe ai gọi Chim chím, chỉ nghe chim kêu chiêm chiếp…Em bắt đầu nhiều chuyện, để tâm quan sát, lựa chọn, chê bai, góp ý, bình phẩm. Em bắt đầu mềm lòng để cho thơ văn thẩm thấu, em xúc động vì một trận mưa thảng thốt rơi xuống phố đêm nhoà ánh đèn màu. Và một trưa xám ngoét trần mây nặng của tháng Tư em chính thức nhìn thấy “ông Kẹ” xuất hiện. Ổng chẳng hơi sức đâu đứng rình ngoài cửa như lời mẹ doạ năm xưa, ông đi khơi khơi giữa xóm làng ban ngày ban mặt. Ông Kẹ hổng ke.

Giờ đây em đã lớn, biết mắc cỡ, em không thể vạch áo cho người ta xem rốn. Em hồ nghi tới vết cắn đầu đời và em liều mạng đi “tập bơi”. Trong tất cả những chữ mới lạ vừa lộ hình trong ngữ vựng tiếng Việt, em yêu thiết tha hai chữ Thuyền Nhân. Chỉ hai chữ, tự thân nó trao gửi biết bao điều hệ trọng. Một mặt nó bôi đen trang sử rách nát của đất nước Việt và mặt khác, nó tô hồng tới lòng nhân đạo của loài người bên kia biển rộng. Bi kịch ở đó mà hài kịch cũng tựu thành từ cuộc bỏ phiếu bằng chân không nghi ngại. Hoang mang bỏ lại bên bờ, nhưng ngờ vực còn nặng ở chân bước thấp cao lên đất mới. Ngờ vực duy một điểm: Sao đời sống này còn đó những tấm lòng độ lượng tới mức khó tin? Rộng lòng cưu mang chẳng từ nan, vô điều kiện.

Em là một thành viên trong đám người tả tơi có danh hiệu boat people. Em ở đảo tạm trú bảy tháng để kịp gọi ba hồn chín vía lộn lui, bớt xác xơ, môi đã tròn được nụ cười rồi theo một thoả thuận trời xui đất khiến, em phủi chân cát để tròng vào đôi hia bảy dặm lên đường tới định cư ở một đệ tam quốc gia. Con mèo con chó có lông, máy bay có cánh mang người đi xa. Em tập viết nhật ký từ dạo đó, từ những buổi chiều tím ngắt một chân mây với câu ca dao nghe xốn lòng: Chiều chiều ra đứng ngõ sau, trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Nỗi nhớ nhà em gói trong từng tản văn, em gửi đăng báo và vì vậy tôi đã quen em. Tình bạn của chúng tôi có được tiên khởi nương nhờ vào sự cảm thông do chữ viết mang lại. Tôi cũng sống ngập cảm xúc rung động tựa em bởi tôi cũng là một thuyền nhân. Em ra đi hướng Nam tàu tấp vào Mã Lai năm 78, tôi ra đi từ miềm Trung ghe nhỏ trôi đến Hong Kong năm 79; để cả hai gặp gỡ nhau trên những trang giấy báo tình cờ. Em chia sẻ hạnh phúc khi ngày đầu trên xứ lạ nhận được 50 đô số tiền nhuận bút, còn tôi, tôi vui vì tên hai đứa nằm chồng lên nhau nếu gấp lại hai trang báo ấy.

Ơn trời, cả hai đứa đều được Canada đón tiếp khá nồng hậu. Một thổ ngơi mênh mông chi xứ nhưng may phước tôi ở bên rìa phía Đông trong khi em cư ngụ miền trung tâm. Nếu tính bề rộng của lãnh địa này, theo cơ thể học tôi làm bàn chân và em chịu làm cuống rốn, nơi mà nếu tôi hoá thân thành con chuồn chuồn hẳn tôi sẽ chẳng bao giờ được cắn vào. Sách giáo khoa vạn vật không chỉ rõ cho học trò biết về tốc độ của chuồn chuồn khi bay, cũng như sức nghỉn tối đa nó bay được bao xa. Em biết khả năng hạn hẹp của nó không, hay em luôn coi trọng mức quân bình? Em đề ra một địa điểm cân phân dùng làm nơi gặp mặt, rồi nói thêm: Em chưa từng có dịp du ngoạn tới Toronto. Và như vậy tôi sẽ đến thành phố đó đúng theo lịch nghỉ hè của em. Nghĩ tới cảnh đứng bên em ngó về thác nước rầm rộ đổ của Niagara cũng đủ khiến tôi mất ngủ. Em đề nghị: Cả hai sẽ cùng viết về một đề tài sau chuyến đi ấy. Bài nào xuất sắc thì kẻ thua cuộc sẽ trả nhuận bút 100 đô cho người thắng. Tôi nghe, háo hức, và chưa gì trong đầu tôi đã dựng được một cái sườn.

Tôi nhận lãnh phần việc thuê một chiếc xe nhỏ để làm chân cẳng đi thăm thú. Từ trung tâm thành phố đi tới thác nước khá xa, điều này càng chứng minh sự thông minh, cách xem bản đồ và định vị tài cán của em. Em không cho hay ngày xưa em có là một hướng đạo sinh hay tham dự vào những trò chơi lớn mạo hiểm đường rừng, đại loại thế. Xe chạy song hành cùng một đoạn của Ngũ đại hồ, gió phía đó luôn làm tóc em bay, ngọt ngào. Không mấy lâu em biểu tôi tìm lối thuận tiện để rẽ vào. Chỉ là hồ mà sao trông giống biển quá! Em phát biểu cảm tưởng. Mặt em thoáng thay đổi khi tôi thắng đứng xe lại. Em mở cửa, tháo giày để đi chân trần trên bờ đất mịn ẩm. Mênh mông đến ngộp thở, gió lùa làm nước cau mặt và từng cơn sóng nhỏ không ngớt chạy vào ve vuốt đôi bàn chân em.

Em lấy từ túi xách ra những thức ăn dự trù làm lương thực trên đường dài. Chiếc khăn quàng cổ trải rộng xuống vuông đất trắng xoá được kềm giữ ở mỗi góc bằng bốn hòn đá nhỏ để gió khỏi phá rối. Bày ra có thứ lớp những xôi, chè, bánh, trái, chai nước suối; xong em đi bức từng cọng hoa dại màu vàng đang lả lơi trên sườn cỏ mịn cho đủ đầy một tay ôm. Tôi ngó em, chăm chú, từng động tác rồi tự hỏi: Sao lại cất công đến thế. Muốn tạo ra một bữa ăn trưa thật lãng mạn giữa nơi heo hút tựa chốn sơn cùng thuỷ tận này?

Em ra dấu biểu tôi đến ngồi sát bên em, mặt xây ra con nước vô bờ mãi gửi tiếng rì rào chen lẫn vi vu gió lùa bên tai. Em cất tiếng, giọng nói có đôi phần hụt hơi: Anh có biết một người Đức sinh ở Ba Lan, tiến sĩ Rupert Neudeck? Ông ấy đã từng cầm cố nhà cửa mình đang sống để vận động mọi người chung tay cứu giúp những thuyền nhân, những người tị nạn với khẩu hiệu “Một con thuyền cho Việt Nam” còn được gọi là Cap Anamur. Từ năm 1979 đến 1986, ông cùng những người có lòng hảo tâm đã cứu sống hơn 10.000 thuyền nhân Việt Nam. Vị ân nhân tuyệt vời đó vừa trút hơi thở cuối vào ngày 5 tháng 6, hai ngàn mười sáu…Tóc em rối che nhưng tôi nhìn ra được một giọt nước đang đọng dưới cằm, trong vắt. Tôi khum tay khó khăn, sau cùng thì đốt cháy được một điếu thuốc, tôi cắm xuống nhô đất ẩm thế một cây nhang. Sóng nước mãi miết từ xa thẳm gợn nhăn vào vỗ về. Tôi quàng tay qua vai em, bấu víu cái thổn thức đang làm em chao thân. Em nói nhỏ: Vĩnh biệt!

Hồ Đình Nghiêm

Chút tình xưa

Phạm Tín An Ninh    

Post on July 17, 2021    

tác giả Bùi Bích Hà (viết về Nhạc sĩ Từ Công Phụng)

Post by Sơn râu 25 Jul 2026

Thương Tiếc Nhà Văn Bùi Bích Hà
từ trần ngày 14/7/2021 tại Orange County, California, Hoa Kỳ

(VGD.magasine)

(Nhiều người vẫn thắc mắc về sự tan vỡ của cặp đôi Ca Nhạc sĩ Từ Dung & Từ Công Phụng… và đây, một chút sự thật qua ngòi bút của nhà văn Bùi Bích Hà – bà vừa ra đi, thọ 83 tuổi)

Trong không khí hoang mang, buồn bã của những ngày đầu sau biến cố 30 Tháng Tư 1975, chúng tôi tình cờ quen biết nhau.

Từ ngã năm Bình Hòa, Gia Ðịnh, gia đình đôi song ca Từ Từ – như cái cách họ được gọi bởi bạn bè thân quí và các thính giả ái mộ – gồm Từ Công Phụng, Từ Dung và cháu Ý Uyên, thường đến nhà tôi ở khu cư xá Phú Nhuận vào buổi chiều, khi trời đã sẫm tối. Cả ba cùng nôm trên chiếc Honda 50 phân khối, chồng lái, vợ ôm lưng, cô con gái nhỏ ngồi trên cái bình xăng. Có hôm xe hết xăng, Phụng nhìn tôi, cười thay cho câu hỏi: “May ra chị còn?” Chúng tôi thân nhau đến nỗi Phụng biết tôi có mẹ già, nhà lúc nào cũng phải dự trữ một chai xăng phòng khi đêm hôm cơ lỡ cần di chuyển. Có hôm đúng bữa, mẹ con tôi đang chuẩn bị ăn cơm, kéo luôn 3 nhân khẩu nhà anh vào, vét nồi niêu sạch bóng.

Dù ăn hay không ăn, cứ mỗi khi tới nhà, dựng xong cái xe và vào bên trong là Phụng co chân ngồi lên ghế, vớ cây đàn ghi ta dựng ở một góc và nẩy vài nốt nhạc mở đầu rồi hát theo. Có khi Từ Dung phụ họa, tôi và các con tôi lắng nghe. Giọng của Phụng trầm ấm, đôn hậu, phảng phất buồn, mang trong nó tình yêu, ước mơ hiền hòa và chút ray rứt nhẹ nhàng về một điều gì mãi trôi chảy ngoài tầm tay. Giọng của Dung trong trẻo, tôi nghĩ chỉ để làm nền cho Phụng, như đường phèn làm nền cho những hạt đậu phọng rang chín tới, đậm đà, nhiều hương vị.

Chúng tôi ngồi với nhau đến khuya, dưới ánh đèn dầu lù mù của những đêm cúp điện, chia nhau nỗi lòng của những người thấy mình lơ lửng ở một quãng đường không biết sẽ đưa họ về đâu? Những khi không có câu hỏi và câu trả lời, trong không gian im ắng của căn nhà đóng cửa, mỗi người yên lặng theo đuổi ý nghĩ riêng mình.

Tính Phụng ít nói nhưng khi nói, anh hay bắt đầu với một nụ cười đọng ở khóe môi và ánh nhìn lấp lánh của đốm lửa nhỏ trong lò sưởi.

Thời gian chúng tôi quen biết nhau không bao lâu, giữa khoảng 1977 cho đến khi gia đình Phụng vượt biển cuối năm 1979, chia cắt bởi nhiều biến cố đau thương cho cả hai gia đình.

Ðó cũng là quãng đời ghi dấu nhiều kỷ niệm của một tình bạn dệt bằng quá nhiều mất mát và khổ đau mà bây giờ, mỗi khi có dịp nhìn lại, tiếc nhớ dâng lên tràn ngập lòng tôi như biển mặn.

Bề ngoài xem ra Phụng là người dễ thích nghi với hoàn cảnh nhưng tôi đoán không do bản tính mà do kinh nghiệm Phụng biết phải đối phó với những điều bất như ý cách nào để bảo vệ mình cho những điều anh chọn lựa, yêu quý và muốn gìn giữ.

Nói cách khác, Phụng chấp nhận trả giá cao cho những gì anh nhận được từ con người và cuộc đời. Tôi không biết những năm tháng tuổi trẻ của anh ở Ðà Lạt với rừng cao, suối sâu, quanh năm mưa phùn và sương mù, có để lại ảnh hưởng nào trên nhân sinh quan của anh hay không song ở anh có sự ẩn mật nhưng không khó hiểu, sự giản dị không có dấu hỏi nào đi kèm cho người quen biết anh.

Tôi còn nhớ buổi trưa mùa Hè nắng nung nấu cả một Sài Gòn sau 75, khô khốc, nghèo nàn, trần trụi, tôi ghé thăm gia đình anh ở ngã năm Bình Hòa. Tôi đến bất ngờ, Phụng khoe nhà có gạo và có miếng thịt bò ai mới cho. Phụng bảo Dung thổi cơm, bảo tôi thái thịt hộ (cho đúng sứa kẻo dai) và Phụng xách cái cà mèn ra đầu ngõ mua cà chua với bát canh gì đấy để bữa ăn có tý nước.

Sau bữa ăn, chúng tôi nói năm ba câu chuyện trên trời, dưới đất xong, Phụng lại cầm đàn và hát. Dường như nỗi vui được hát, được đàn cho mình và cho nhau nghe, đã bắt đầu ngay từ lúc Phụng ung dung cầm cà mèn đi ra nắng để mua mấy thứ lặt vặt.

Tôi nghiệm ra, thay vì ngồi đấy mà than trách cuộc đời ngắn ngủi và nhiều thử thách cam go, Phụng biết làm cho mỗi khoảnh khắc sống là một giá trị, ít nữa cũng là một điều tốt lành.

Ở bên cạnh anh, không ai cảm thấy có điều gì phải phàn nàn.

Có một lúc chúng tôi mở chung một quán cà phê nhỏ trên đường Trương Tấn Bửu. Mỗi tối, quán mở cửa lúc 6 giờ. Tôi pha chế thức uống, Dung phụ tiếp khách và Phụng làm công việc hầu bàn. Vì bận các con còn bé, tôi chỉ giúp anh chị vài tháng để anh chị quen công việc. Ðêm Noel năm cuối cùng, sau khi tiệm đóng cửa, anh chị tạt qua nhà tôi, rủ nhau xuống phố xem thiên hạ đón Giáng Sinh thế nào?

Chúng tôi chạy xe lang thang qua nhiều ngả đường tối om, vẫn thưa thớt có nhà còn treo đèn ngôi sao ngoài cửa, thấy nơi nào có tiệm cà phê là gọi nhau dừng lại xem giá cả của họ rồi cả bọn phá ra cười ngặt nghẽo vì không biết làm gì khác.

Tôi nói Noel cuối cùng vì sau đó, nhiều bất trắc đã xảy ra, đẩy chúng tôi về những hướng đi cách biệt.

Lúc ấy, trong hoàn cảnh ảm đạm của Sài Gòn những năm cuối thập niên 1970, không ai nhìn thấy dù chỉ le lói chút ánh sáng ở cuối con đường tuyệt vọng nên cả thành phố nhao lên chuyện vượt biên. Gia đình Phụng đi một chuyến bất thành, trở về.

Phụng nói: “Thủy triều lên quá nhanh, nước dâng ngập quá ngực, tôi đôn cháu Uyên trên vai nhưng mọi người chen chúc hỗn loạn mà thuyền lớn thì đậu xa bờ vì sợ người đi hôi tràn ngập nên đành phải quay lại thôi!”

Phụng kể bằng một giọng bình thản, vẫn nụ cười trên môi và ánh mắt lấp lánh. Ðối với Phụng, dường như thất bại trong một ước muốn hay toan tính là chuyện đời bình thường.

Sau lần thử thách này, chúng tôi ít gặp nhau vì Phụng thường xa thành phố để tự lo kế hoạch vượt biển cho gia đình. Quán cà phê đóng cửa. Kế hoạch của Phụng không thành công và gia đình anh chị tan vỡ trong lặng lẽ. Như chiếc bong bóng nước vỡ rất khẽ trong cơn mưa giông bất ngờ.

Thời gian trôi qua không biết bao lâu, một hôm tôi lại nhìn thấy Phụng trên chiếc xe Honda quen thuộc nhưng thiếu cháu Ý Uyên trên cái bình xăng và sau lưng anh không còn Dung mà là một phụ nữ khác với khuôn mặt sáng và nụ cười đầy đặn. Chúng tôi chào nhau, mừng gặp gỡ rồi chia tay.

Ít lâu sau, một buổi tối đã khá muộn, Phụng đột ngột đến nhà tôi. Anh bước thẳng đến chỗ cái sofa quen thuộc tôi đang nằm dưỡng bệnh vì cháu Thái Hà vừa mất, ngồi thụp xuống, cầm tay tôi và nói nhỏ đủ cho hai chị em nghe: “Chị H, ngày mai tôi và cháu Uyên đi rồi, tôi đến thăm và chào chị. Chị cố giữ gìn sức khỏe kẻo tội bà cụ và mấy đứa bé.”

Phụng dúi vào tay tôi số tiền tôi nhớ là nhiều lần hơn số tiền tôi san sẻ cho Phụng cầm đỡ khi cháu Ý Uyên phải vào nhà thương vì sốt viêm màng não. Tôi từ chối thì Phụng úp bàn tay tôi lại, điềm đạm và cương quyết: “Không là bao nhiêu nhưng chị sẽ cần.” Rồi Phụng vội vã ra về.

Nước mắt ướt đầm tay áo, tôi chỉ còn biết cầu nguyện cho Phụng, cháu Uyên và gia đình mới của anh lên đường được bình an. Qua bữa sau, Dung đến tìm tôi lúc xế trưa, thì thầm: “Em nhờ chị đến cái địa chỉ này, xem Phụng và cháu Uyên đã đi chưa?”

Tôi gượng dậy, thuê xe đi ngay. Giờ đây, nhắc lại chuyện cũ, tôi nhớ mang máng là tôi đã đi bộ qua một khu chợ nghèo sình lầy, chỉ còn mấy dãy lều trống hoác trong ánh chiều tà hiu hắt.

Căn nhà mang số Dung ghi cũng trống trơn, không có người. Tôi đứng bơ vơ trên cái sàn gỗ ghép bằng những mảnh ván thưa, nhìn xuống thấy mặt nước đen ngòm bên dưới.

Một người đàn bà đi qua, nhìn vào và nói bâng quơ: “Kiếm mấy người vượt biên úm ở đây hả? Ði hết rồi.” Lộn trở ra con đường lầy lội cũ trong buổi chiều đã tắt nắng, tôi vừa mừng cho bạn, vừa nghe lòng nhẹ hẫng, trống trải, như vừa mất mát một điều gì từng khăng khít với tôi vô cùng nhưng từ nay không còn nữa.

Thời gian sau, tuy vẫn còn lây lất sống trong thành phố nhưng tôi không có lần nào gặp lại Dung. Qua bạn bè chung, tôi biết tin gia đình Phụng tới đảo bình an và Dung sinh thêm một con gái.

Tuy kỷ niệm buồn vui giữa chúng tôi không nhiều nhưng tình thân của chúng tôi đẫm nước mắt của những cuộc chia ly xé lòng không hẹn trước, khiến phần tôi, dù không biết cách nào để diễn tả, mỗi khi ký ức ôn lại quãng đời này, tôi không thể ngăn được nỗi đớn đau cồn lên trong ngực, làm nước đầy lên hai mắt.

Phụng là một người bạn trung hậu, trọng thâm tình và chữ tín. Anh nói ít, nghĩ nhiều, làm đầy đủ. Anh giao du với ai, cũng để lại mỹ cảm khi rời xa, không quá đậm đà nhưng bền bỉ.

Phụng là một nghệ sĩ mực thước, theo tôi, khá hiếm hoi. Anh yêu vẻ đẹp của đời sống nên biết tạo ra sự hài hòa để vẻ đẹp ấy tồn tại và rực rỡ. Anh nhường nhịn, sẵn sàng quên mình. Một mai xa nhau, người cho tôi tạ lỗi… thấy trong sự quên mình ấy, hình ảnh con phượng hoàng bay lên từ lửa đỏ.

Phụng là một nhạc sĩ tinh tế. Cứ đọc nguyên tác những bài thơ do Phụng phổ nhạc để thấy khả năng chọn lọc chữ nghĩa và thi tứ của Phụng, hoàn hảo đến ngạc nhiên, từ “Hạnh Phúc Tôi” đến “Tạ Ơn Em.” Cảm giác như Phụng là một người làm vườn mạnh tay khi cần. Anh tỉa cắt đến tận cùng để chỉ giữ lại tinh hoa tuyệt mỹ của một dáng cây bonsai nghệ thuật.

Phụng là một ông bố kham con và thương yêu con hết mực. Tất cả niềm vui sống của anh, ngoài cung đàn, tiếng hát, khuôn nhạc, dành hết cho con, kể cả tự do của một ông bố nghệ sĩ, sống tràn đầy và ít bộc lộ.

Sau cùng, Phụng là một người đàn ông thủy chung. Anh viết nhạc, anh hát cho tình yêu đời đời, kiếp kiếp. Tình yêu như suối nguồn, róc rách, trong trẻo, dịu dàng len qua những ghềnh đá, nuôi dưỡng tâm hồn anh và không bao giờ cạn.

Dù sau này ra hải ngoại, nhiều lần tôi được nghe và nhìn Phụng hát trên sân khấu, trong thính phòng đầy ắp người hâm mộ nhưng với tôi, tiếng hát của anh luôn là tiếng hát rất cô đơn, thật thà, không son phấn, của riêng bạn bè với một cây ghi-ta gỗ.

Tiếng hát của anh xa vắng, như gió lùa qua vòm cây, đánh thức những khóm lá cho chúng đùa vui dưới ánh trăng. Tiếng hát của anh làm lay động những khóm hoa, cho chúng thả hương bát ngát giữa trời khuya.

Tiếng hát của anh gọi dậy vùng ký ức ru êm những mơ ước không đạt của đời người. Mà anh không chỉ hát, anh diễn tả bằng thanh âm một nội dung đầy tình tự, khắc khoải, cố vươn tới người nghe như một đền tạ mọi ân tình đã đến cùng anh.

Ðứng trên sàn diễn, trong những bộ complet may cắt khéo, dường như Phụng luôn có nỗi ngượng ngùng của một người không đứng ở đúng cái chỗ của mình.

Khoảng giữa năm 2010, bạn bè được tin anh lâm bệnh sau chuyến về trình diễn ở Cali. Vợ con lo lắng. Bạn bè quan tâm.

Anh nghĩ gì, không ai biết. Qua điện thoại, vẫn được nghe cái giọng điềm đạm cố hữu, thấp thoáng nụ cười hiền hậu đã gắn liền với nhân dáng anh như từ khi mọi người biết anh.

Riêng tôi mừng cho anh vì chị Ái là một người vợ tận tụy trong tình yêu. Tôi biết anh được chăm sóc kỹ lưỡng, được bảo bọc trong tình gia đình là tổ ấm đúng nghĩa của danh từ này. Anh là người cẩn trọng, chắt chiu dành dụm, nào biết để khi cần, được nhận lại.

Bởi vì, anh sẵn sàng làm chiếc que diêm, một lần lóe lên, thắp đời em sáng lung linh… Phần anh, buồn một cõi riêng…

Từ Công Phụng là một trong những nhạc sĩ được yêu thích từ thập niên 1960, 1970. Nhạc của ông lãng đãng, bàng bạc như hơi thở của người yêu, với giai điệu sâu lắng cùng lời hát trữ tình làm say mê giới trẻ trên làn sóng điện, tại các quán cà phê, phòng trà ca nhạc miền Nam sau năm 1963.

Từ Công Phụng với nhạc bản đầu tay “Bây giờ tháng mấy” sáng tác năm 1960, khi ông mới 18 tuổi và được phổ biến lần đầu tiên trên đài phát thanh Đà Lạt ba năm sau đó đã đưa người nghe vào một thế giới tuyệt vời, huyền diệu của tình yêu. Nhưng ông cho biết không có bóng dáng một thiếu nữ nào đằng sau tình khúc này, mà đó là kết tinh của những bản nhạc ông thường nghe hàng đêm của các nhạc sĩ nước ngoài lẫn trong nước như những tình khúc của Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Phạm Duy ..

“Hồi đó mình mới lớn mình đâu có dám yêu ai đâu. Nhát thấy mồ,” ông tâm sự với VOA. Sau “Bây giờ tháng mấy” bản tình ca “Mùa Thu mây ngàn” ra đời kế tiếp cũng được giới yêu nhạc đón nhận nồng nhiệt.

Nhạc sĩ Từ Công Phụng bị kẹt lại miền Nam Việt Nam sau ngày 30/4/1975 và mãi đến năm 1980 ông và gia đình một vợ 8 con mới vượt biên thành công, sang Mỹ định cư. Trong thời gian 5 năm sống dưới chế độ cộng sản, ông vẫn tiếp tục sáng tác tình ca.

“Vẫn là những bài tình ca nhưng nó đượm một cái vẻ cuộc đời nhiều hơn là thuần túy tình ca. Sau này khi đời sống mình tạm thời ổn định rồi thì tôi viết lại tình ca nhưng nó cũng phảng phất những đời sống ở trong đó với cái nhìn sâu sắc hơn ví dụ như bài ‘Đời bỗng phù du’ với những câu như ‘Tôi như người du mộng trong cuộc đời bềnh bồng, ngó theo đời quạnh hiu, buồn vây theo năm tháng,’ nhạc sĩ Từ Công Phụng chia sẻ.

Với tâm hồn nghệ sĩ nhìn đâu cũng thấy nhạc, nghe nhạc, nên trong những ngày lênh đênh trên biển trong hành trình vượt biên, ngắm nhìn những cánh chim bay, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã dệt nên những ca từ của nhạc bản ‘Qua vùng biển nhớ’

“Như cánh chim bay giữa vùng biển nhớ mênh mông,
Dạt về đây nghe sóng vỗ hồn sầu…”

Đặt chân lên đất Mỹ, ông đã cho ra đời bài hát ‘Khi tôi đến nơi này’ để mô tả sự khác biệt lớn lao giữa lối sống tại Mỹ và cuộc sống ở Việt Nam.

“Khi mình sống ở dưới thời Cộng sản nó khác, nhưng qua bên này nó khác, khác lắm. ‘Khi tôi đến nơi đây, nắng rực rỡ ngoài khoan trời xa, mà lòng tôi thấy rộng mở những thiên đường’.”

Thời gian đầu tới Mỹ, ông cư ngụ tại tiểu bang Iowa, đi học nghề in trước khi chuyển sang bang Oregon. Tại đây, ông đã mở nhà in kiếm sống, lo cho gia đình.

“Lúc đi qua đây, tôi phải đi kiếm một cái nghề tôi học, tôi làm để kiếm tiền. Đời sống của tôi không phải là một đời sống nghệ sĩ. Tôi không thích phải làm nghệ sĩ để kiếm tiền tại vì mình là sinh viên ngày trước và mình có khả năng mình học mà, tại sao mình không đi học. Tôi kiếm một nghề thực tế lúc bấy giờ là nghề in. Tôi có mấy cuốn sách muốn in và thích tự mình ấn loát mấy cuốn sách của mình. Tôi học in ở Iowa, tôi sửa soạn xong hết mới qua Portland. Lúc bấy giờ tiền bạc không có, nghèo lắm, hai vợ chồng một đàn con, phải kiếm sống hàng ngày, làm bất cứ việc gì cũng được miễn sao đúng nghề của mình để kiếm tiền nuôi gia đình. Cũng có một thời gian tôi đi dạy học ở mấy trường trung học,” ông hồi tưởng trong cuộc trò chuyện với VOA.

Từ Công Phụng trong một buổi sinh hoạt văn nghệ

Cuộc sống vất vả, nhưng ông vẫn sáng tác.

“Mình vẫn viết đều lắm, khi nào cảm thấy hứng là viết, tại vì không ai bắt buộc mình viết cả.”

Được hỏi là trong giai đoạn ấy, giữa khung cảnh phải vất vả vì cơm áo gạo tiền, những cảm tác của ông có gì thay đổi không, nhạc sĩ Từ Công Phụng cho biết: “Dĩ nhiên là mình càng sống mình càng cảm thấy có sự thay đổi trong đời sống mình. Mình nhìn đời sống sâu sắc hơn. Cơm áo là một chuyện, âm nhạc là một chuyện khác. Khi nào mình viết nhạc, mình không bị những cái đó nó ảnh hưởng đến mình. Có nhiều người nhờ tôi làm thế này, làm thế kia tôi không làm, trả tôi một số tiền tôi không lấy, đại khái như vậy. Tôi không lệ thuộc vào cái đó.”

Nhạc sĩ Từ Công Phụng sử dụng thành thạo cả đàn guitar lẫn đàn piano, nhưng khi sáng tác, ông thường dùng đàn guitar và đôi khi tự xướng âm và sau đó dùng đàn để trau chuốt lại.

“Thường thường cảm giác từ âm nhạc tới và một câu nhạc đầu tiên nào đó. Xong mình ghi lại, mình phát triển ra. Thỉnh thoảng hay có những dòng âm thanh nó bay ngang trong đầu mình, mình thấy hay mình viết lại nhưng thỉnh thoảng nó lướt qua trong đầu rồi nó biến mất không biết ở đâu nữa. Cảm hứng suy nghĩ ra âm nhạc của mình là những kỷ niệm.”

Về cung bậc của những nốt nhạc được sử dụng trong các bản nhạc của Từ Công Phụng, nhạc sĩ cho biết ông thích sử dụng âm giai trưởng (major) hơn là thứ (minor).

“Thường thường những bài hát của tôi, tôi viết bằng major nhiều hơn là minor. Major mỗi gam mỗi khác, nhưng nhạc cũng có thể buồn được bằng major hay minor, nhưng minor buồn da diết, nó thảm lắm, tôi không thích. Mình buồn nhưng là buồn man mác là được rồi, không có bi lụy.”

Hiện nay, nhạc sĩ Từ Công Phụng đang phải chống chọi với 2 căn bệnh ung thư kéo dài đã 12 năm và bệnh tật đã ảnh hưởng nhiều đến nội lực sáng tác của ông.

“Nó cũng ảnh hưởng vì sức khỏe. Bây giờ tôi ngồi lâu không được, ngồi lâu mệt lắm. Người ngó mạnh khỏe vậy nhưng ngồi lâu mệt trong người. Muốn viết nhạc phải ngồi lâu, phải suy nghĩ nhiều, phải chọn lựa những âm thanh nào tốt, dễ nghe. Mình không ngồi lâu được nên sức sáng tác cũng kém đi. Tuy nhiên lâu lâu cũng được một vài bài, kiếp tầm nhả tơ mà. Có một số bài mới tôi tính in thêm một tập nữa nhưng chưa thực hiện được. Một trong những bài mới đó có tên gọi là ‘Bên dòng đời tịch liêu’ nói về cái cô đơn của mình trong cuộc đời, có câu kết luận như thế này ‘Ngồi đây một mình bên dòng đời tịch liêu và tôi bỗng thấy hồn mình sẽ tan vào vời vợi thinh không’.”

Từ Công Phụng và phu nhân

Ông cho biết nhạc khúc ‘Tình tự mùa Xuân’ là kết quả của mối tình của ông với bà Kim Ái, người vợ ông gặp sau biến cố 1975 và cùng đồng cam cộng khổ cho đến ngày nay, nên ca từ của bài hát rất tha thiết, mô tả sự gắn bó của đôi tình nhân.

“Em, lại đây với anh
ngồi đây với anh
trong cuộc đời này
nghe thời gian lướt qua
mùa xuân khẽ sang
chừng như không gian đang sưởi ấm những giọt tình nồng…”

Triết lý sáng tác của nhạc sĩ Từ Công Phụng gói gọn trong hai chữ ‘tình yêu.’

“Tôi quan niệm tôi ca ngợi tình yêu hơn là tôi chối bỏ tình yêu. Tôi ca ngợi tình yêu vì tôi nghĩ là rốt cuộc chỉ có tình yêu mới làm nên giá trị con người thôi. Không có tình yêu làm sao có được sự tiếp nối dòng đời, nhân loại. Tình yêu là cái tốt nhất trong cuộc đời người ta mà không ca ngợi thì ca ngợi cái gì nữa. Chính trị rồi cũng qua đi, chiến tranh rồi cũng qua đi, khác biệt về chính kiến làm nổ bùng chiến tranh rồi cũng hết, chỉ là giai đoạn thôi. Nhưng cái vĩnh cửu từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời kia cũng vẫn là tình yêu thôi.”

Chính vì tâm niệm đó, tác giả của ‘Mắt lệ cho người,’ ‘Giọt lệ cho ngàn sau,’ ‘Trên ngọn tình sầu,’ ‘Mùa xuân trên đỉnh bình yên’ cùng nhiều ca khúc trữ tình nổi tiếng khác nữa xứng đáng được mệnh danh là một trong những ‘nhạc sĩ của tình yêu’ của miền Nam trước 1975 và có lẽ là của nhiều thế hệ sau này nữa.

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 25 Jul 2026

Bây giờ, những người đã vào tuổi trên sáu mươi, những lúc hồi tưởng lại những ngày ấu thơ ở quê nhà, chúng ta không bao giờ quên cái khung cảnh trong một thành phố nhỏ hoặc ở nơi một làng quê. Sinh hoạt của tuổi thơ lúc bấy giờ, ngoài những giờ học là những buổi đá bóng, tắm sông, thả diều, bắt dế hay lang thang trong những cánh rừng bờ ruộng. Tinh nghịch hơn là những lúc leo vào vườn lạ trộm ổi, hái sung cùng với cả trăm trò chơi tinh nghịch khác, khiến có lúc phải nằm thẳng trên giường cho ông bố nghiêm khắc đánh mấy roi quắn đít. Tuổi thơ ngày đó không có cả tình yêu đích thực, đó chỉ là bâng khuâng của tình mới lớn, qua những hình ảnh nhẹ nhàng trong thơ của Huy Cận, Tế Hanh chứ nhiều khi cũng chưa bao giờ mạnh dạn trưởng thành như tình ái trong thơ Xuân Diệu để nói “xích lại gần anh thêm tí nữa”. Đứng trước một người con gái chẳng bao giờ nghĩ tới vòng số 1 số 2, chỉ thấy mơ màng những sợi tóc cùng với tà áo, hay những riềm mi. Ngay cả tình yêu của thời Hoàng Anh Tuấn (sinh năm 1932) mà cũng:

“ … mối tình đầu khờ khạo

Em nhận thư, anh ngây ngất tủi mừng

Khi về nhà cười nụ với cầu thang

Một tuần lễ, vui như ngày thi đỗ”.

Sau một lần được trao thư tận tay người mình yêu, không biết số phận bức thư như thế nào, mà chàng trai đã thấy “đời bỗng dưng vui và rộn ràng chân sáo. Hầu hết vào lứa tuổi ấy cho đến lúc lập gia đình cũng chưa biết tới nụ hôn đầu. Những ngày đó, nhìn lại, bây giờ vẫn còn đẹp chăng, và nếu “cho tôi đi lại từ đầu thì chắc cũng chẳng có gì thay đổi cả. Với tâm trạng đó, bây giờ thấy lũ trẻ con cháu, bỗng dưng người xưa thấy thương hại cho chúng và có cảm tưởng như chẳng bao giờ chúng sống được một quãng đời thơ ấu cho có ý nghĩa. Nhưng người ta cũng biết đó chỉ là những ý nghĩ chủ quan, vì mỗi thời đã mỗi khác. Tôi thấy có những đứa cháu thích vùi đầu vào computer, trên những trang web, ngồi “chat” suốt mấy giờ liền mà không biết chán. Trong phòng bọn con trai chúng bày biện những hình thù quái đản của những nhân vật Darth Maul, Darth Vader, Yoda, Luke Skywalker … trong phim ảnh “Star Wars” và những tranformers ghép lại từ những mảnh lego, khi là một con vật nhe nanh vuốt đầy dẫy trong các loại phim Power Rangers, khi trở thành những anh hùng Robots mang trên tay các loại súng khổng lồ. Những nhân vật hấp dẫn của những đứa trẻ bây giờ là những con người vuông vắn như Spongebob Squarepants, tròn vo như Pokémon, nhọn hoắt như Yu-Gi-Oh, không biết rồi ra tiêu chuẩn về cái đẹp của vài mươi năm nữa sẽ ra sao. Bà ngoại chúng lo ngại có lẽ thế kỷ tới, những cô cháu sẽ mang về nhà những chàng rể có cái mặt vuông như miếng bọt biển rửa chén, hay những cô dâu có cái đầu nhọn hoắt.

Bọn nhóc đi từ Game Boy đen trắng, Game Boy Color, Game Boy Advance, tới Advance SP hay Nintendo DS, ở nhà, trên xe ngay cả ngoài bãi biển lúc nào cũng thích chúi đầu vào màn ảnh, với hai bàn tay liến thoắng lên xuống … Con trai bây giờ thì tóc phải highlighted hay lởm chởm như vành khăn của Nữ Thần Tự Do hay như nón người hiệp sĩ trong Quo Vadis thời La Mã. Con gái thì vành tai cũng phải có năm ba lỗ xâu như đồng bào Thượng hoặc  thời trang luôn luôn phơi rốn mà chẳng cần biết tới chỗchôn nhau ở đâu.

Gia đình cô con gái tôi có cả một tủ băng video các loại phim hoạt hình của Walt Disney gồm các câu chuyện thần tiên như Tấm Cám, Người Đẹp Ngủ Trong Rừng hay chuyện cô Công Chúa Bạch Tuyết với những Hoàng Tử đẹp đẽ và những cô Công Chúa diễm lệ dịu dàng cùng những thú rừng thỏ, nai, sóc, dễ thương nhảy nhót. Tủ băng này được mua cho đứa con gái lớn từ những năm 90, hy vọng để lại cho những đứa em gái kế tiếp, nhưng chỉ mới trong vòng mười năm, những nhân vật thần tiên ấy đã đi vào quá vãng. Những đứa con gái của nó sau này không thích những nhân vật gây buồn ngủ như vậy, mà chịu các loại phim ma quái hay cảm giác mạnh. Nói về chuyện “gái trai”. (ông bà mình dùng hai chữ này để nói tới chuyện sex cho đỡ ngượng mồm) ở tuổi choai choai (teens) thì những thống kê ở Mỹ này làm cho các bậc phụ huynh đâm hoảng. Theo thống kê của Morbidity & Mortality Weekly Report đăng trên Washington Times (21/5-2003) thì trong tuổi này, có tới 60% các cô bé gốc Phi Châu, 46% dân da trắng và Hispanics đã làm tình “búa xua” và tỉ lệ này càng ngày càng tăng. Không nghe nói tới gốc Tàu và Việt Nam, hy vọng những gì ông Khổng Tử “viết” còn rơi rớt lại chút ít trong các gia đình này.  Đối với các cậu choai choai thì tỷ lệ trong con trai trắng và Hispanics có thua bên con gái chút đỉnh, nhưng phía da đen thì có tới 73.8% đã có quan hệ tình dục trong tuổi thiếu niên. Theo nghiên cứu thì năm 1991 có 15.1%, sụt xuống năm 2003 còn 10.4% đám con trai đã biết “mùi đời” trước khi tới ngày sinh nhật thứ 13 (Graham/Miller Rubin, Chicago Tribune, 5/21).

Thế mà tội nghiệp cho bà chị đầu của tôi, ông bạn trai mới chụp nắm bàn tay một cái mà đã về khóc thút thít với mẹ vì sợ … có bầu.

Với cái tuổi lúc nhỏ đọc “Tâm Hồn Cao Thượng” bản dịch của Hà Mai Anh, học “Quốc Văn Giáo Khoa Thư”, lớn lên mê “Hồn Bướm Mơ Tiên”, thích cái cảnh chùa Long Giáng của ông Khái Hưng hay có phiêu lưu hơn là cảnh núi Văn Dú của Thế Lữ … thì coi bộ quá lạc hậu với đám hậu sinh sau này. Nếu nói “tôi xa Hà Nội năm lên mười sáu khi vừa biết yêu”, nhưng lúc bấy giờ hỏi yêu là gì, thì chắc anh chàng cũng ú ớ không biết trả lời thế nào. Cách đây hơn nửa thế kỷ, lúc 13 tuổi, tôi thèm có một cái áo mưa, một đôi “xăng đan”, nhưng một chiếc xe đạp thì không bao giờ nghĩ là mình có được. 55 năm sau, cùng tuổi ấy, cháu tôi cần một I-pod để download nhạc, internet và một cái cell phone tạm thời trong khi chờ đủ tuổi để làm chủ được một chiếc xe hơi.

Chiến bào thay chiếu

Hoàng Kao Music
Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Đưa bạn về trên chiếc trực thăng

Những thằng lính trận đứng trầm ngâm

Không biết ngày mai hay ngày mốt

Đến lượt ai đi gặp tử thần

Đưa bạn về thôi không trở lại

Sa trường chẳng bánh trái nhang đèn

Chỉ gói thuốc thơm còn vài điếu

Đôi làn khói lượng chẳng bay lên

Cánh quạt xoay tròn vòng sinh tử

Cỏ cây nghiêng ngã bụi mù trời

Băng ca bạn nằm giòng máu nhỏ

Không khóc mà sao lệ cứ rơi

Đưa bạn nằm trong khoang trực thăng

Dấu hồng thập tự cũng đỏ bầm

Ven rừng tiếng súng nào lạc lõng

Như tiễn người qua cõi thế gian

Cánh quạt xoay tròn vòng sinh tử

Cỏ cây nghiêng ngã bụi mù trời

Băng ca bạn nằm giòng máu nhỏ

Không khóc mà sao lệ cứ rơi

Bạn hãy về thăm miền quê cũ

Mẹ chờ bạn dưới mái nhà xưa

Tội cho thân mẹ già còm cõi

Nước mắt từ lâu cạn hết rồi

Tao vuốt mắt mày lần sau cuối

Chiến trường đi rồi lại trở về

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Chiến bào thôi cũng là quan quách

Mày khoác đi vào cõi ngàn thu

Chiếc U-1 đã ra khỏi vùng chiến sự

Đưa bạn về một cõi bình yên

Nay không còn tiếng đạn bom gầm

thét mỗi ngày trên núi rừng

Bạn đã dừng tay súng và mãi mãi tuổi hai mươi!

Sài Gòn – Người muôn năm cũ

Vietmessenger.com

Văn Quang

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Tác phẩm Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ tập hợp một số bài trong hơn 500 bài mà tác giả đặt tựa chung là Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự viết từ năm 2000 đến năm 2016. Hết thẩy các bài này đều được báo chí Việt ngữ hải ngoại từ Canada, Úc, Hoa Kỳ… phổ biến, trong khi tác giả sống tại Việt Nam. Chính vì thế, tháng 6-2009, Văn Quang đã bị công an Sài Gòn đến nhà lục soát, cắt điện thoại, cắt internet, tịch thu computer… và trải nhiều ngày liên tục bị đòi đến trụ sở công an để thẩm vấn, chính xác là để tra khảo và đe dọa về việc chưa rời cây bút.

Tuy vậy, Văn Quang vẫn sống với cây bút, bất kể mọi tai họa có thể xảy ra như chính anh đã xác nhận khi trả lời cuộc phỏng vấn của trang Web Gió-O: “Tôi sống như vậy đấy. Chẳng có gì phải che giấu, chẳng có gì phải khiếp sợ. Còn gì nữa đâu mà khiếp sợ và tôi không làm điều gì xấu… Cái gì có thật thì tôi viết… Quyền phê phán là của người dân. Quyền bất bình cũng là của người dân về những điều có thật, đã và đang xảy ra…”

Trong bài trả lời phỏng vấn trên, Văn Quang còn nêu rõ các bài viết của mình chỉ là những đường nét giúp hình thành “một bức tranh toàn cảnh của xã hội tôi đang sống. Nó phản ảnh trung thực mọi vấn đề ở bề mặt đời sống người dân thuộc mọi tầng lớp xã hội. Từ một anh nông dân “lừa được cả nước” đến một đại gia lương thiện và bất lương, từ lớp thanh niên bình dân đến các quan chức, từ cô gái tỉnh lẻ đến cô gái chân dài thành thị. Từ nỗi đau thương cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến cảnh trác táng cùng cực, hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước… Cái khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, những điều phi lý bất công, những điều cần nói mà người dân không nói được…”

Tất nhiên Văn Quang đã rõ hơn ai hết về mức hạn chế nghiệt ngã trong hoàn cảnh của mình, nhưng khẳng định: “Tôi làm cái gì mà luật không cho phép cũng không cấm. Tôi làm với lương tâm một người cầm bút. Dù ở đây chẳng ai công nhận, tôi vẫn là người cầm bút. Người làm báo có thẻ làm báo, nhưng tôi chẳng có gì ngoài những tìm tòi của mình, tự mình lựa chọn thông tin. Còn những “rủi ro” bao giờ tới và tới lúc nào, đành chấp nhận như một số phận an bài”.

Để giúp bạn nhìn rõ hơn về cảnh sống và cách viết của những người cầm bút cùng cảnh ngộ với Văn Quang, xin được trích dẫn một bài của Văn Quang trả lời 3 câu hỏi do một ký giả nêu trên tuần báo Khởi Hành ở Hoa Kỳ. Ba câu hỏi như sau:

– Câu 1: Anh viết như thế nào? Anh là một trong những tác giả nổi tiếng viết feuilleton. Anh thấy cách viết ấy tiện hay không tiện cho anh?

– Câu 2: Là nhà văn rất nhiều kinh nghiệm và viết rất nhiều, dường như không bao giờ ngưng nghỉ, anh nghĩ thế nào về nhà văn “dài hơi” và người viết “ngắn hơi?” Bí quyết viết truyện dài của anh là gì?

– Câu 3: Anh có bao giờ “bí” đề tài khi viết không?

Dưới đây là bài trả lời của Văn Quang đăng trên báo Văn Nghệ tại Úc ngày 8-5-2005.

“Cảm ơn bạn đã cho rằng tôi là một trong những tác giả nổi tiếng về viết feuilleton. Tôi chỉ biết tôi là người viết rất nhiều feuilleton cho các tuần báo và nhật báo trước năm 1975 cũng như bây giờ.

Trước đây, có thời gian tôi đã viết trung bình một ngày ba truyện dài hoặc phóng sự tiểu thuyết cho các nhật báo và tuần báo xuất bản tại Sài Gòn. Cách viết đó thích hợp với lối sống và công việc của tôi vào thời gian đó. Vừa đi làm ở tòa báo quân đội, vừa viết cho các báo, vừa để thì giờ… đi chơi, đi đánh bài với bạn bè. Ðó cũng là sự thích thú của tôi và nó cũng mang lại nhiều cảm hứng, cho tôi nhiều nhận xét về con người và sự việc. Nó cũng có lợi cho những đoạn đối thoại của tiểu thuyết nhất là phóng sự sống động hơn, thật hơn, có tính thời đại hơn. Nếu không “đi giang hồ vặt” như thế chắc khó mà kiếm được những hình ảnh, những ngôn ngữ, những nhân vật trung thực của thời đại mình đang sống. Tôi nói thế không phải để “làm cái cớ đính chính” cho sự “giang hồ” của mình.

Thật ra, sự ham muốn “trần tục” bao giờ cũng đến trước rồi sau đó mới thấy nó “nhảy vào” tác phẩm của mình. Nó nhảy vào như thế nào chính tôi cũng chẳng để ý, nhưng khi viết, tôi thấy tự tin hơn vì đã nhìn đúng sự việc. Nhờ đó, tôi viết rất nhanh mà đôi khi không cần đọc lại. Và cũng vì viết nhanh nên khi truyện đã in rồi mới thấy có những khiếm khuyết. Lúc đó chỉ còn cách “cứ để đó rồi khi nào xuất bản thì sửa sau”. Nhưng có khi ông chủ nhà xuất bản cứ đánh máy từ báo đã in rồi cho xuất bản. Ðó là cái lỗi “làm ẩu” của tôi, không thể đổ cho ai được. Hồi đó dường như tất cả những bạn viết feuilleton cũng đều viết như thế. Thanh Nam vừa rung đùi vừa viết feuilleton ngay tại nơi làm việc, tôi vừa giải quyết công việc của phòng báo chí quân đội vừa viết, đôi khi người của tòa báo ngồi chờ sẵn lấy bài mang về cho kịp giờ mang đi kiểm duyệt. Ngọc Linh, Sỹ Trung hay ngồi ở quán ăn có máy lạnh viết vào buổi trưa…

Nói tóm lại, viết như thế rất tiện và mỗi ngày lại có thể có thêm được những ý mới hay hơn những gì mình đã suy nghĩ trước đó. Mỗi feuilleton để lại một đoạn để kỳ sau viết tiếp. Và như thế không thể “lộn” truyện này với truyện khác. Hơn thế mỗi feuilleton tôi đều nhắm vào một chủ đề, và đây cũng chính là lý do tại sao tôi có thể viết liên miên mà thường không “bí” đề tài…

Sau này, tức là sau 1975, và sau hơn 12 năm nằm trong trại gọi là “trại cải tạo”, về đến Sài Gòn năm 1987, tôi lại không thể viết như thế được nữa. Có một thời đói rách, các nhà xuất bản gặp thời “mở cửa” được phép xuất bản những cuốn tiểu thuyết tình cảm. Ðây là nhu cầu của người dân sau hơn một thập kỷ đọc toàn những truyện “khô như ngói”, nhân vật cứ như “thép trên lò”, người ta ngán quá rồi nên tìm đọc những cuốn sách “tình cảm đúng nghĩa” không phải là sách tuyên truyền, không phải là những nhân vật anh hùng cứng nhắc.

Các nhà cho thuê truyện mọc lên như nấm.

Các nhà xuất bản theo trào lưu này đã đi tìm những cuốn tiểu thuyết giống như những cuốn của Sài Gòn trước năm 1975. Mỗi cuốn như thế đòi hỏi phải được kiểm duyệt toàn bộ – gọi là biên tập – và anh xuất bản tư nhân đi đặt hàng rồi “liên kết” với một nhà xuất bản của nhà nước để phát hành.

Họ đã tìm đến tôi và tôi chỉ viết sách tình cảm “vô thưởng vô phạt” giao cho nhà xuất bản muốn ký tên ai đó thì ký. Vì thế sách phải viết xong toàn bộ rồi mới xuất bản được. Không có cách gì sống thì phải viết, nhưng dù sao “giấy rách cũng phải giữ lấy lề” nên những cuốn sách đó đã xuất bản ở Sài Gòn vào những năm 1989-1993, khoảng mười cuốn, sau này tôi bán bản quyền cho một số nhật báo ở Mỹ in lại và ký tên mình – như Soi Bóng Cuộc Tình, Suối Đam Mê, Tình Khúc Màu Tím, Sau Ánh Đèn Thành Phố…

Riêng trường hợp cuốn Ngã Tư Hoàng Hôn thì tôi cho đó là một tác phẩm viết cho mình, cho những gì tôi đã sống hơn 10 năm qua, cho thời đại mà tôi đang sống – 1990 – nên cứ viết rồi để đó. Dĩ nhiên tôi không có hy vọng gì xuất bản ở Sài Gòn được. Mãi tới khi một người bạn ở Mỹ về chơi, đọc truyện đó rồi thu vào đĩa mềm mang đi – hồi đó ở Việt Nam chưa có internet như bây giờ. Vài tháng sau, một nhật báo ở Mỹ đăng truyện này rồi Tủ Sách Tiếng Quê Hương cho xuất bản. Tức là hơn mười năm sau cuốn truyện đó mới được ra mắt ở Mỹ. Ðó là hai cách viết feuilleton của tôi, tùy theo “tình hình” mà thay đổi. Tất nhiên một cuốn sách được viết xong rồi mới cho in bao giờ cũng cẩn thận hơn là viết từng ngày. Mạch văn trôi chảy và đồng nhất hơn. Nếu có thể có một ý kiến nào với các bạn viết feuilleton dù “đắt khách” đến đâu thì tôi cũng đề nghị nên viết xong rồi mới cho trình làng bất kể trên báo chí hay xuất bản.

Bây giờ tôi cố gắng viết theo lối đó.

Sau phóng sự tiểu thuyết Lên Ðời, tôi tính viết một truyện dài hoặc một phóng sự mới mà chỉ vì cần phải viết xong toàn bộ nên mấy tháng rồi cứ hẹn lần hẹn lữa với mình mà đến nay vẫn chưa viết được chữ nào. Ðó cũng là “cái dở” của việc phải hoàn thành xong rồi mới trình làng. Nếu cứ tiếp tục viết feuilleton hàng ngày hay hàng tuần thì đến ngày, đến giờ là buộc phải viết nên dù lười, dù bận cách mấy cũng phải ngồi vào bàn viết. Ðó cũng là một “ưu điểm” cho anh lười. Và… theo tôi, anh nhà văn nào chẳng lười, viết nhiều quá thì phải ớn chứ. Chỉ khi “vào cuộc” rồi mới cắm đầu cắm cổ viết, chẳng biết đến chuyện gì khác.

Ðể trả lời câu hỏi thứ hai: Anh có ý kiến gì về việc người viết “dài hơi” và người viết “ngắn hơi” không?

Tôi nghĩ người viết dài hơi là người viết không bí đề tài, người viết ngắn hơi thường chỉ viết một hai cuốn rồi… tắc, hoặc viết không hay nữa. Chắc bạn đã nhận thấy sự kiện đó trong những người viết văn? Như câu trên tôi đã trả lời, tôi không bao giờ bí đề tài, nhờ quan niệm viết của tôi ngay từ đầu.

Trước hết và trên hết là tôi chọn đề tài trong cuộc sống trước mặt. Cái gì là điều đáng nói nhất trong lúc này? Xã hội chúng ta đang sống có những vấn đề gì gai góc cho con người bất kể lớp tuổi nào?

Tôi chọn đề tài của tuổi trẻ. Tuổi trẻ cũng chia ra làm nhiều lớp, trí thức, quân nhân, người lao động… kẻ chân thật, người lừa đảo… kẻ giàu, người nghèo… Không thể viết hết cùng một lúc và cũng không thể hiểu hết mọi con người cùng một lúc. Vì vậy, tôi chọn những người mà tôi gần gụi nhất, vấn đề của họ là gì?

Thời cuộc hay mưu sinh? Tâm tình hay lý tưởng? Sự bế tắc và lối thoát? Bế tắc cái gì?

Lối thoát họ đi tìm có tới hay không? Ðó là tất cả những thứ có thể viết được.

Ngay trong tập truyện ngắn đầu tay xuất bản vào năm 1957, qua truyện ngắn tiêu biểu là Thùy Dương Trang, tôi đã đặt vấn đề rất rõ ràng: Người thanh niên ở thành phố lúc đó sống dưới sự cai trị của quân đội Pháp. Anh ta từ hậu phương – tức vùng Việt Minh chiếm đóng – về, đứng giữa ngã ba đường, chẳng biết mình phải chọn lựa như thế nào. Ðành buông trôi cho “số phận”. Và quả nhiên số phận đã khiến anh ta thành người yêu nước hay người phản quốc chính anh ta cũng chẳng chọn lựa được.

Cho đến khi vào quân đội, tôi chọn đề tài người thanh niên và quân ngũ. Những năm 1956-1957 rất ít người viết về đời sống quân ngũ bởi quan niệm “người lính” thì thời nào cũng thế. Nhưng tôi đã nhìn nó theo cuộc sống thật của tôi.

Người lính không chỉ có thế và sau này người ta phong tặng cho là “chiến sĩ” hay “anh hùng” cũng chẳng phải chỉ có lý tưởng mà còn do con người của chính anh ta. Tình cảm và cuộc đời chiến đấu “sống chung hòa bình” như thế nào?

Ðến ngay sự hy sinh cao quý nhất là cái chết cũng khó lý giải “vì cái gì?”

Nói như người ta thường nói là “vì tổ quốc vì đồng bào” thì giản dị và dễ dàng quá.

Giải thích như thế, tôi cho là chưa đủ. Còn những thứ khác nữa, như tình đồng đội, cuộc sống đơn vị, danh dự gia đình và của cả những người yêu thương mình – trong Chân Trời Tím.

Hoặc nói đến sự hy sinh của người lính thì không phải chỉ có ở chiến trường mà còn có nhiều thứ phải hy sinh nữa. Ngay khi họ đã rời khỏi quân ngũ, sự hy sinh đó vẫn còn. Trong Ðời Chưa Trang Điểm, người lính sau khi bị thương trở lại với cuộc sống đời thường, anh ta đã phải hy sinh cả người yêu của mình, vì… không còn đủ năng lực mang lại hạnh phúc cho người yêu nữa… Rồi cứ thế, đôi khi tôi thấy nói về người lính và cuộc đời quân ngũ vẫn cứ chưa đủ nên một đề tài có khi bám theo cả ở những cuốn truyện sau này. Ðiều đó làm cho người viết bứt rứt không yên.

Ðó là một loại đề tài về quân đội.

Còn những đề tài xã hội, đời sống của sinh viên học sinh với sự du nhập những lối sống mới, quan niệm giữa phương Ðông và phương Tây, những mâu thuẫn chồng chéo, học để làm gì, phục vụ cho ai, sự mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân và cộng đồng…

Cho đến thời đại bây giờ cuộc sống ở Việt Nam có những thay đổi gì? Lớp trưởng giả được sinh ra như thế nào? Con người thôn quê và thành thị chuyển biến ra sao? Có hàng trăm ngàn sự việc theo thời gian, theo dòng thời sự, theo cách sống “hiện đại”, nhất là những mâu thuẫn trong con người, nói và làm là một hay là hai thứ khác nhau. Sự phá sản trong tâm hồn và trong đời thường diễn ra dưới những hình thái nào…?

Chọn đề tài như thế, chẳng bao giờ viết hết và lúc nào cũng sẵn sàng cho bạn viết. Vấn đề là viết như thế nào thôi. Viết cho đúng, cho thật, đừng bóp méo hay vo tròn nó. Viết để người đọc hiểu được mình muốn cái gì không phải là dễ.

Trong một truyện dài, dù là tiểu thuyết hay phóng sự tiểu thuyết, tôi không bao giờ muốn cho nhân vật của mình, dù là nhân vật chính được coi là “gương mẫu” trong một đề tài trở thành “một ông thánh”, cái gì cũng hay, cái gì cũng tốt. Như thế nó là robot mất. Tôi cho là con người thường có khiếm khuyết nên cứ nói toạc ra, đừng yêu nhân vật của mình quá mà biến con người thành gỗ đá.

Sau khi đã có đề tài thì lúc đó mới là lúc bố cục thế nào để có thể dễ diễn tả hết ý mình và một feuilleton thì đừng quên yếu tố hấp dẫn. Nghệ thuật viết chính là ở lúc viết, lúc diễn tả, chứ không hoàn toàn được quyết định bởi đề tài hay nội dung cốt truyện. Lúc ngòi bút chạy trên trang giấy – bây giờ là trên computer – mới chính là lúc cần tới sức sáng tạo nhiều hơn cả và lúc đó mới chính là lúc “cái gì là tinh túy” của bạn mới xuất hiện, có khi bạn viết không kịp.

Nói thế không có nghĩa là tôi không có lúc “bí”.

Ðiều dễ gặp nhất ở lúc diễn tả một sự việc, tìm câu tìm chữ nào cho đúng “phân lượng”. Cái đẹp thế nào là đúng với nhân vật mình diễn tả, nỗi buồn nào đúng với hoàn cảnh lúc đó…

Ðiều bí thứ hai là làm thế nào cho mọi sự việc xảy ra hợp tình hợp lý, không “gượng ép”, không vô lý. Một thay đổi tâm lý phải dựa trên những nguyên nhân vững chắc. Một lời đối thoại phải hợp tình, hợp cảnh, làm cho người đọc thích thú không rơi vào sự tầm thường. Ðấy là nghệ thuật diễn tả và cũng là nét riêng của từng nhà văn, không ai giống ai cả. Còn điều cấm kỵ của tôi là không “làm dáng” trong văn chương, không khoe mẽ hiểu biết của mình, nói cả những gì không cần nói trong đoạn đó, nó thừa như cái khăn quàng bằng gấm trong khí hậu nóng bức của Sài Gòn vậy. Hãy để vào một dịp khác.

Còn người viết “ngắn hơi” thì tôi nghĩ họ đã tìm cách “kể một câu chuyện dài hay ngắn” chứ không dựa trên một đề tài nào cả. Dĩ nhiên không ai cấm nếu anh viết hay dù bất cứ là viết cái gì. Nhưng nếu không có đề tài thì dễ rơi vào tình trạng viết một vài truyện rồi chẳng biết viết cái gì nữa hoặc cố mà nghĩ ra để viết cho có thì không thể hay được và tự mình sẽ thấy chán, không viết được nữa.

Tôi vẫn cho rằng khi theo đuổi một số đề tài nó sẽ là chất liệu không bao giờ cạn cho niềm đam mê của mình. Theo đuổi một đề tài tức là đã có một lý tưởng để đi tới, một cái đích phải vượt qua. Từng cái đích một sẽ cho người viết phải viết hoài viết mãi. Ðây là cách suy nghĩ của tôi về người viết feuilleton, có thể có rất nhiều cách khác của những nhà văn khác không giống tôi.

Ðiều tiên quyết là sự thành thật với chính mình, sự truyền cảm với độc giả, có thể người viết chưa nhận ra ngay lúc viết, nhưng với kinh nghiệm của tôi thì chỉ sự thành thật mới có sức truyền cảm và đồng cảm mạnh mẽ nhất mà thôi.

Cuối cùng điều tôi muốn nói là bạn viết bất cứ cái gì cũng được, khi độc giả đọc xong truyện hoặc bài của bạn, một độc giả vui tính có thể gọi bạn bằng “thằng”, nhưng người ta sẽ tủm tỉm cười mà phán rằng: “Thằng cha này viết được lắm” hay ít ra thì cũng là “viết đúng lắm”. Ðừng để độc giả long trọng gọi bạn là “ông” nhưng lại phán rằng: “Ông này viết lách chẳng đâu vào đâu”.

Ði tìm một sự cảm thông giữa người viết và người đọc không dễ dàng chút nào, cho nên “viết và lách” cũng chẳng bao giờ là chuyện dễ dàng”.

***

Qua những dòng tâm sự trên, Văn Quang đã biểu lộ ít nhất 2 đặc trưng nơi mọi tác phẩm hoặc bài viết. Đó là nguồn đề tài luôn gắn kết với các diễn hóa cuộc sống xã hội trước mắt người viết và sự tuyệt đối trung thực của người viết khi phản ảnh mọi diễn hóa đó.

Sài Gòn, Người Muôn Năm Cũ hầu hết là những trang ghi cảm xúc của tác giả vào giây phút nhận tin giã từ cuộc sống của những người từng một thời gắn bó, chia xẻ ngọt bùi, hay oan khiên cay đắng…

Giữa tâm cảnh đơn côi lạc lõng khi đối diện từng giờ với các nẻo đường quê hương từng gần gụi đang trở nên xa lạ lạnh lùng thì các tin trên chỉ dẫn đến nỗi u uất về thân phận lưu đày, cách biệt với khung cảnh thân yêu xưa cũ đã hoàn toàn vắng bóng.

Rõ ràng đó là nỗi lòng người viết, nhưng cũng rõ ràng không chỉ là nỗi lòng riêng của Văn Quang, bởi mọi người viết chẳng bao giờ chối bỏ nổi vị thế một phần tử nhỏ bé trong cái quần thể mang chung huyết mạch cùng chia xẻ mọi niềm vui nên cũng cùng phải gánh chung mọi khổ nạn gian truân, uất ức.

Nói cách khác, đây chính là nỗi lòng của mọi con dân Việt Nam trong giai đoạn lịch sử khởi đầu từ giữa thế kỷ 20 và còn đang tiếp nối hiện nay. Tất nhiên, nỗi lòng này cũng không chỉ gói tròn trong cảm xúc dấy lên trước tin về những hình bóng thân yêu từng gắn bó bao ngày đã vĩnh viễn lìa xa. Trên thực tế, đây chỉ là một khía cạnh bên nhiều khía cạnh khác mà Văn Quang đã gợi nhắc qua diễn tả mọi bài viết chỉ nhắm giúp “hình thành bức tranh toàn cảnh về xã hội tôi đang sống… phản ảnh trung thực mọi mặt đời sống của người dân thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội… Từ nỗi đau cơ cực của “những người bị bỏ quên” như anh em thương phế binh VNCH đến cảnh trác táng cùng cực, hoang phí vô cùng của lớp người ăn trên ngồi trước…”

Tiếp tay bảo trì và phổ biến các bức tranh đó đã trở thành phận sự hiển nhiên của hết thẩy nạn nhân trong giai đoạn lịch sử tàn khốc này. Vì đó chính là việc cần làm để chỉ rõ các mưu toan xảo trá đổi trắng thay đen do một bạo quyền đang tìm cách che đậy tội ác và lường gạt mọi người. Đó là một phận sự đè nặng trên vai mọi con dân Việt Nam hiện nay.

Hy vọng là chúng tôi sẽ tiếp tục được cùng các bạn góp phần phổ biến những bức tranh đó từ mọi người viết còn giữ vẹn lương tâm người cầm bút để chuyển lại mai sau các chứng tích vô cùng cần thiết phản ảnh chính xác giai đoạn lịch sử mà nhiều thế hệ đã và đang còn phải gánh chịu trong cảnh sống đẫm nước mắt và máu.

Tủ Sách Tiếng Quê Hương

Buồn viễn xứ khôn khuây

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Tranh Bảo Huân

Lần đầu đọc bài thơ thấy hay vì chúng ta cảm bằng trái tim. Lần thứ hai đọc lại vẫn thấy hay vì chúng ta hiểu bằng cái đầu (do biết về lịch sử, địa lý của bài thơ).

Bài “Ðôi Bờ” và “Mắt Người Sơn Tây” của Quang Dũng theo thời gian phủ mờ năm tháng, tứ thơ đã cũ, nên đọc không còn cảm thấy hay, xúc động như mới đọc lần đầu. Ngược lại bản nhạc “Ðôi mắt người Sơn Tây” do Phạm Ðình Chương phỏng từ hai bài thơ nói trên lại không cũ theo năm tháng, nhứt là đối với những người mất nước, luôn “u uẩn chiều luân lạc, buồn viễn xứ khôn khuây” như chúng ta.

***

Pháp thất trận Ðiện Biên Phủ năm 1954, đất nước bị chia đôi. Miền Nam thuộc tự do, miền Bắc lại rơi vào tay độc tài cộng sản. Khi nắm được quyền lực, nội bộ giành ăn, Cộng sản bắt đầu ăn thịt ngay chính những đứa con của mình. Hội Văn nghệ miền Bắc tương kế tựu kế, bắt chước chiến dịch “Trăm hoa đua nở” của quan thầy Mao Trạch Ðông bên Tàu. Chúng phát động việc phê bình lãnh đạo văn nghệ, nói là để chuẩn bị cho Ðại hội văn nghệ toàn quốc năm 1956. Thực chất hành vi đen tối đó là phỉnh gạt những người có tư tưởng chống độc tài trong lãnh vực văn hóa, văn nghệ xuất đầu lộ diện.Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên (nổi tiếng từ thời tiền chiến) muối mặt, quỳ gối nuốt nhục để kiếm miếng ăn, thề hứa tuân thủ đường lối văn nghệ một chiều, cúc cung ca tụng đảng.

Nhưng Phan Khôi, Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Nguyễn Hữu Ðang, Lê Ðạt… là các văn nghệ sĩ đã từng đi kháng chiến 9 năm, ngây thơ nghĩ mình có công với kháng chiến nên được quyền lên tiếng trong Nhân Văn Giai Phẩm. Quang Dũng viết “Mấy ý nghĩ về thơ”, đăng 3 kỳ trên tạp chí Văn nghệ vào tháng Chín, năm 1956.

Dưới trướng của Trường Chinh, đao thủ phủ về văn hóa, văn nghệ Tố Hữu, đố kỵ, nhỏ mọn. Ganh ghét tài năng đã hờm sẵn, đập cho mấy ông một trận thừa sống thiếu chết. Ðúng như Nguyễn Du từng nói: “Chữ tài liền với chữ tai một vần”. Bọn bồi bút, bọn khuyển ưng, hùa với nhau, tố thơ Quang Dũng còn rơi rớt chất tiểu tư sản (tạch-tạch-sè) thời đầu kháng chiến!

Trong tuyển tập thơ Việt Nam (1945-1960), Xuân Diệu chủ trì và viết lời nói đầu đã không dám đưa bất cứ một bài thơ nào của Quang Dũng vào.

Tại sao Xuân Diệu lại hèn đến thế? Chẳng qua Tố Hữu đã đấu tố dữ dội các ông như thế nầy: “Lật bộ áo Nhân Văn – Giai Phẩm thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, Trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm…”.

Tất cả những cây bút tài hoa đã trót tham gia phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đều bị chụp cho cái nón cối bự tổ bố là: phản động, chống đảng, phải đi chỉnh huấn (thực chất là đi ở tù).

Sau 1975, nghe một nhà phê bình văn học Marxist từ xứ Bắc mò vô Sài Gòn trở ra, báo: “Tây Tiến”, “Mắt người Sơn Tây”, “Ðôi bờ” được truyền bá rất rộng rãi trong Nam, Quang Dũng đã van là: “Thôi xin ông, đừng nói với ai nhé!”.

Tại sao Quang Dũng lo sợ đến bủn rủn chân tay như thế? Chẳng qua là Trường Chinh và Tố Hữu vẫn đang còn hét ra lửa, mửa ra khói.

***

Nhớ năm 1975, cộng sản điều giáo viên vào miền Nam làm Ban Giám hiệu (xưa mình gọi là Hiệu trưởng). Những tay nầy không dạy dỗ gì ráo, (biết gì mà dạy?), nhiệm vụ chánh của chúng là theo dõi những thầy, cô giáo được “lưu dung”. Với đầu óc hoang tưởng nhìn đâu cũng thấy kẻ thù, chúng bận rộn, đánh hơi dò xét coi CIA có còn gài lại ai hay không? (He he, bộ tưởng làm CIA dễ lắm hay sao chớ!).

Tay thầy giáo “chi viện” nầy lè phè thấy ớn chè đậu! Hắn đầu đội nón cối của bộ đội cộng sản, mặc áo trắng cụt tay bỏ ngoài quần vải ka ki Nam Ðịnh, mang dép làm bằng mũ trắng. Chiều chiều xơi cơm canh rau muống luộc nặn chanh xong, vì nghiện rượu, hắn phải nốc sạch hết một cút (một xị) rượu trắng mới ngủ được.

Có lần hắn kêu tôi đến chén chú, chén anh. Rượu vô ắt lời ra, nhưng tôi đâu có ngu ngơ bàn chuyện “nhột nhột” khác. Khù khờ làm vậy coi chừng nó mật báo cho bọn công an huyện “tó” mình đưa đi cải tạo là bỏ bu.

Tôi hỏi nó có biết nhà thơ Quang Dũng cùng quê Sơn Tây với nó không? Nó đực mặt ngớ ra, rồi hỏi lại: “Nó là đồng chí nào?” Ha ha! Ngu thấy ớn hè mà cũng đòi dạy Văn! Vậy là tôi phải lên lớp cho hắn một bài địa lý về các địa danh trong bài “Mắt người Sơn Tây” của Quang Dũng.

Sơn Tây còn gọi là Trấn Tây, Trấn Ðoài, Xứ Ðoài. (Ðoài nghĩa là Tây), cách Hà Nội khoảng 42 km về phía Tây Bắc, là cái nôi của nền văn minh lúa nước đồng bằng Trung du Bắc bộ. Sơn Tây có núi Ba Vì phía Tây Nam, có sông Ðáy, hữu ngạn hạ lưu sông Hồng, dài khoảng 240 km chảy suốt qua Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Ðịnh. Còn thành Sơn (Tây), do Vua Minh Mạng cho xây vào năm 1822. Phủ Quốc (Oai), không phải là Phú Quốc đâu nha) thuộc tỉnh Sơn Tây (xã, huyện, phủ rồi mới tới tỉnh). Sài Sơn là xã thuộc phủ Quốc Oai. Dưới chân núi Sài Sơn là đồng Bương, Cấn.

Nó hỏi: “Cậu có tham gia vào cuộc tập kích giải cứu tù binh Mỹ ở Sơn Tây vào tháng Mười Một, năm 1970 không? Sao lại rành sáu câu vọng cổ về quê tớ đến thế?”

Phạm Đình Chương

Tôi ốm nhom ốm nhách, trói gà không chặt thì cách chi đế quốc Mỹ tuyển tôi làm biệt kích cho nó được chớ? Tôi biết được Quang Dũng là do tạp chí Văn học năm 1971, tự do in lại những bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng thời kháng chiến. Còn những người yêu nhạc thì biết được Quang Dũng là do nhạc của Phạm Ðình Chương.

Phạm Ðình Chương (1929-1991) từng đi kháng chiến (nhưng “khiến chán”) nên năm 1951, ông “dinh tê” (dinh tê là do hai chữ “renter,” có nghĩa là “trở về”, từ vùng do Việt Minh kiểm soát, khi biết phong trào kháng chiến đang trở thành công cụ của cộng sản).

Năm 1953, Phạm Ðình Chương bỏ vào miền Nam tự do, lập Ban Hợp ca Thăng Long. Nghệ danh của Phạm Ðình Chương khi đi trình diễn là Hoài Bắc vì niềm thương nhớ quê mẹ Sơn Tây vẫn còn đeo đẳng hoài trong tâm khảm.

Bà con mình ai cũng biết nhạc sĩ đọc một bài thơ thấy trúng ý mình quá, bèn dùng lời thơ làm ca từ; ý thơ thì y chang như thế gọi là phổ thơ. Phạm Ðình Chương không phổ thơ mà là phỏng thơ. Tức là mượn vài đoạn thơ làm ca từ. Về ý, dù có nương theo chút đỉnh; nhưng cái ý chánh rất là khác.

Trong “Ðôi Bờ”, Quang Dũng viết:

“Thương nhớ ơ hờ, thương nhớ ai?

Sông xa từng lớp lớp mưa dài

Mắt kia em có sầu cô quạnh

Khi chớm thu về một sớm mai?”

Trong “Mắt Người Sơn Tây” là:

“Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Chắc đã thanh bình rộn tiếng ca!”

Ðó là tâm sự cùa một người lính chỉ mong hòa bình để về quê cũ gặp lại người xưa. Qua tay người nhạc sĩ tài hoa Phạm Ðình Chương thì muốn “Ðường hoa khô ráo lệ” để mình được trở về đất Sơn Tây.

“Tôi từ chinh chiến đã ra đi

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc

Non nước u hoài, non nước hao gầy, ngày chia tay…”.

Buồn thay, ước mơ đó suốt bao năm ly hương đã không trở thành hiện thực. Sau năm 1975, cộng sản Bắc Việt chiếm được miền Nam, Phạm Ðình Chương lại xuống thuyền vượt biển. Lần nầy, lại xa hơn, tới nửa địa cầu, làm lòng thương nhớ Sơn Tây quê nhà càng thêm tha thiết.

Phạm Ðình Chương đã ra đi vào ngày 22, tháng Tám, năm 1991, lúc còn rất trẻ, mới 62 tuổi, tại California Hoa Kỳ. Phạm Ðình Chương vẫn “u uẩn chiều luân lạc; buồn viễn xứ khôn khuây” cho tới chết.

Biết mưa và nắng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 23/08/2015 

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Hồ Đình Nghiêm và Đinh Cường

“thôi thì cho biết mưa và nắng
mới đó mà xa ôi rất xa
”.
Đinh Cường

Thập niên 80, mình rất sung. Theo ngữ điệu ngày nay, ăn chơi không sợ mưa rơi. Viết tơi bời hoa lá chẳng ngơi, mê muội dầm thân trong thứ “vũ lượng” thoạt cuồng nộ thoạt rơi chẳng ướt đất. Mình gửi bài liên tục cho hầu hết các tạp chí văn học hải ngoại. Do tôn trọng các diễn đàn bốn phương nên mình bỏ công đi thơ thẩn tới chợ trời, tậu được cái bàn máy chữ nhỏ nhắn hiệu Olivetti giá hai chục bạc chưa đui què mẻ sứt. Khi thi triển nhất dương chỉ, những mặt chữ rướn thân vồ dập lấy giấy phát tiếng dòn dã đáp trả, sướng rêm.

Lóc cóc suốt canh thâu chẳng biết cách vặn nhỏ âm thanh để khỏi phiền lòng hàng xóm. Người ta dễ ngủ khi đêm ngoài trời có mưa rơi về sáng, đôi khi người ta trằn trọc ngủ không êm vì lỡ lậm nhớ thứ tiếng động dịu dàng kia. Lóc cóc một hai ba, lóc cóc bốn năm sáu, chuông kinh cong báo hiệu đã cuối đường, gạt cần sang số xuống hàng rồi lại đắm đuối ghi những tự tình của các mẫu tự lên giấy mỏng tang số phận. Loay hoay chong đèn bỏ dấu tay, vỗ về những trang cho ngay rồi mang ra bưu điện gửi cái phong thư vàng (nặng tợ ngàn cân treo sợi tóc). Thư tình gửi par avion cho người xa mặt cách lòng cước phí chỉ tính bằng xu, nhưng một “tác phẩm” dẫu chưa tượng hình, nhân viên bưu cục sẽ thu thuế bằng đơn vị đồng. Năm đô la chín mươi chín xu, xin vui lòng. Lè lưỡi ra dán tem cò, thảy nó vào cái bao bố nằm chờ phía sau lưng, kêu cái xoạch: Chúc ông một ngày tốt lành. Miệng nói trong khi thối lại một xu đen. Rồi nó sẽ được bay đến một vùng trời ít khi có tuyết rơi, nó thoát xác và độ chừng hơn tháng sau nó lại hiện về với một hồn ma chứa đựng linh hồn.

Phụ Nữ Diễn Đàn ở Mỹ, Làng Văn và Sóng ở Canada chơi bảnh có trả nhuận bút. Năm bảy chục bạc cho mỗi bài. Tuy muối bỏ biển nhưng đã là hạt muối thì nó muôn năm vẫn mặn mòi. Lần này không ra bưu điện mà tới nhà băng, sắp hàng đổi tấm ngân phiếu trả công thức khuya dậy sớm. Huýt gió mồm tìm ngay một quán cà phê thật gần để ngồi rung đùi thưởng thức giọt nước đắng, mơ màng đốt thuốc lá nghĩ tới cái máy cày Kubota. Muốn nó chạy quờ quạng ra cánh đồng trước tiên ta phải châm dầu cặn diesel vào bình chứa, muốn có bài cho hai ba tờ báo ở tháng tới mình buộc phải dung nạp năng lượng kích thích tố cà phê thuốc lá, chất phát quang nọ sẽ khiến mình sáng dạ hòng đáp trả cuộc chơi “Vui thôi mà”.

Nhà văn Nguyễn Đông Ngạc, nay đã về chốn xa xăm, người từng bỏ ra mười mấy lượng vàng để thực hiện bộ sách giá trị: “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta”, có làm bốn câu thơ riêng tặng “người bạn trẻ” ngày ngồi nhậu cùng nhau ở An lạc cốc trên Montréal tơi bời cõi mộng:

“Óc tim thượng giới trả lời
Bút tiên mực máu gửi người trần gian
Riêng mình còn mỗi cái thân
Chỉ ham sống với giai nhân cợt đùa
”.

Mình thích đùa cợt với giai nhân chăng? Mình ưa cảnh vườn khuya trăng lạnh chăng? Mình khoái chòng ghẹo một cành hoa lả lơi ngày trở gió? Không biết. Một vài trường hợp gây ra ngộ nhận cũng nên xem là cực khoái. Chưa đi với gái ăn sương mà tả chi ly cảnh giường chiếu khiến ai kia đỏ mặt, há không phải là điều thậm sướng ru? Mình có nhận được đôi ba lá thư của độc giả gửi (nhờ toà soạn chuyển), họ tuyệt không phê bình những văn cảnh đồi truỵ nọ. Họ hỏi: Anh có bà con chi với nhạc sĩ Hồ Đình Phương? Dạ thưa không? Thế có họ hàng gì với giáo sư Hồ Đình Chữ? Dạ, có nghe tên mà chưa hân hạnh diện kiến. Cũng may mình lót chữ Đình, lặng thinh giạt đứng một mình vô can. Giả thử mà lót chữ Chí, ra đường e thưa gửi lí nhí. Chú Hồ này vốn rất bé tí.

Người đọc thưa dần chuyện vấn an và chẳng một ai để tâm đến “lý lịch” mình. Yên lặng kéo dài, kéo dài cho tới hồi có người phát hiện: Hoá ra ông là em vợ của hoạ sĩ Đinh Cường và nhà văn Dương Nghiễm Mậu. Sao bấy chầy cứ mãi im re? “Năm đi tháng lại bù trừ, ngày đi vĩnh viễn anh ừ cho anh”. Bùi Giáng đã ngôn thế. Thưa thật rằng: Ba Mạ mình nhờ trời có lắm con. Đẻ ra toàn nam, duy chỉ có được hai o con gái. Chị đầu lấy hoạ sĩ làm chồng, chị sau chọn nhà văn để sống đời phu thê. Một Nam một Bắc lỡ yêu giọng Huế của hai thiếu nữ làm nghề gõ đầu trẻ và một sớm một chiều, họ đến nhà “tha” hai o đi mất. Ba Mạ mình rất thông thoáng, rất cởi mở, rất dân chủ, rất biết lắng nghe ý kiến “tâm tư nguyện vọng” của con gái chứ không giống lối hành sử của đa số các bậc phụ huynh khác của một Huế “phong kiến” bảo thủ kiên cố. Thời mình học trường Mỹ Thuật đến nhà cô bạn gái học đệ nhị trường Đồng Khánh bị ông bố chận đầu hỏi chuyện với khuôn mặt lộ rõ sự ác cảm: Tương lai cậu là hoạ sĩ à, liệu nhắm có nuôi nổi thân cậu không? Mình không nói, mình cười nhạt và mình lễ độ xin kiếu từ. Dĩ nhiên đó là thứ “chuyện tình không đoạn kết”. Mình thua, toe tua, ngay tự khởi thuỷ. Tình chết trong trứng nước. Danh ngôn Tây phương có câu: “Làm nghệ thuật tức là phơi mặt ra với đời, điều đó có nghĩa bạn là người dũng cảm”. Hà hà, có khi bạn phải dũng cảm ngay từ khi chưa làm được nghệ thuật cơ đấy! Mình đã dũng cảm cắn răng quay lưng với “con gái nhà người”, cúi đầu thầm đọc thơ Đinh Hùng: “Người đi bạt dấu chân hài xảo, vạt áo chàm xưa có nhạt mầu!”.

Có văn hữu làm cuộc phỏng vấn bỏ túi: Vậy thì bạn có thu thập học hỏi được điều gì ở hai người anh rể tài hoa kia? Học hỏi trước mắt là thi vào trường Mỹ Thuật rồi sau này đổi món, tập tành viết văn. Chỉ có bấy nhiêu thôi đã nghe hao mòn cuộc lữ và một lần nữa, dũng cảm để khẳng định, mình luôn là đứa học trò kém cỏi. Bởi Leonardo Da Vinci đã nói: “Học trò kém là người không thể vượt nổi thầy mình”. Ôi! Làm sao vượt qua được, thứ hậu sanh khả ố kia! Câu hỏi kế tiếp: Vậy anh còn giữ được những kỷ niệm đáng nhớ với hai anh ấy không? Kỷ niệm à? Biết sao thưa thốt cho vuông tròn, cho khỏi bị quở “áo thụng vái nhau”. Hoạ sĩ Đinh Cường có lần phân bua: “Viết về nhau có người trách là áo thụng vái nhau, giản dị chúng tôi chỉ xem chiếc “áo thụng” ấy có khi lại che cho nhau qua một cơn mưa”.

Nhớ ngày nọ, khi hoạ sĩ Đinh Cường khởi sự định cư ở Huế để làm người anh rể, mình học đệ Lục trường Hàm Nghi, mang tật ngứa tay bèn lấy cọ màu của anh Đinh Cường luôn bày sẵn ra đó để vẽ bức tranh lập thể lên đôi giày Bata vải rồi làm con gà trống ưỡn ngực ra, mang “bức tranh di động” kia đi ciné cùng thằng bạn. Xuất trưa, phim hành động dài gần hai tiếng, vãn tuồng tầm 3 giờ thì hai đứa học trò học bè ngây thơ vô tội liền bị hai ôn cảnh sát mặt mày bặm trợn hùng hổ chộp cổ lôi về đồn bót dưới Chi Lăng. Một ôn quát: Mụ cô mi, khai mau, đồng bọn của mi đóng chốt ở mô? Tên chi? Trai hay gái? Vải sưa mà che mắt thánh hả thằng làm nhiệm vụ giao liên. Mi mang đôi giày nỏ giống ai, dị hình dị tướng nớ là thế mật khẩu để trao đổi tin tức cùng đồng bọn? Nói rứa có đúng không? Ông cảnh sát độ chừng ngoài ba chục tuổi xắn tay áo: Để tao tẩn cho mi một trận, lâu hung rồi tay buồn chưa tẩm quất ai. Ngứa ngáy thiệt cực chẳng đã!

Nước mắt bắt đầu tuôn đổ, hàng lệ hàng. Mình khóc vì quá sợ hãi. Bao thước phim vừa xem trong rạp chiếu bóng Châu Tinh lại hiện ra, múa may rõ nét cảnh lấy khẩu cung đầy máu me, đầy bạo lực có trong một trụ sở cảnh sát nằm giữa kinh thành ánh sáng Paris. Trời ạ, nó đánh con mồi không nương tay, bầm dập hơn một miếng giẻ rách. Thằng cảnh sát nọ có con bồ rất mướt, rất văm, rất khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang. Và con bồ chu mỏ nói cùng hàng chữ phụ đề hiện dưới màn ảnh: Em trông anh cũng bô giai, có vẻ con nhà tử tế, có học thức, vậy chớ cớ mần răng anh lại đi làm cớm? Một cái nghề mà ta bà chúng sinh thảy đều ghét có cay có đắng. Đều cạy mặt.

May mà mấy ôn cảnh sát người Huế có lẽ xuất thân là gia đình Phật tử? Họ xắn tay áo để moi thuốc Ruby ra hút, ưa giựt le rứa thôi chớ những ngón ám vàng khói thuốc ấy chưa giở trò xin tí huyết. Dù sao thì mình bắt đầu lạy lục cúc bái, mình van lơn xin được tha mạng, mình bù lu bù loa oan ôi ông Địa, nước mắt nước mũi lòng thòng: Dạ mấy bác làm ơn cho người chạy u vô nhà con thông báo cho gia đình một tiếng thì mọi chuyện sẽ rõ trắng đen ạ. Khoảng 6 giờ chiều, chạng vạng dâng đầy con phố gầy thì Mạ mình đóng vai bà tiên giáng trần. Mạ mặc áo dài nâu, quần vải mỹ á hay xa tanh đen? Tuy sầu muộn nhưng đó là thứ sắc màu biểu tượng của sự phát quang, ngời sáng cả đồn cảnh sát Gia Hội. Con tui hắn chỉ biết ăn biết học, biết đi thưa về trình, gọi dạ bảo vâng, kính trên nhường dưới, môn công dân giáo dục lúc mô cũng được điểm cao. Mặt mày con người ta hiền lành thiệt thà như rứa đó mà cả gan vu oan giá hoạ đổ hô cho hắn là Việt cọng. Chừ đề nghị mấy anh bắt nhốt tui luôn một lượt cho có mạ có con, cho tiện việc sổ sách. Chơi kiểu chi mà nghiệt quá, già như tui không nói chi, chớ nhỏ nhoi như hắn thì chịu đời chi thấu mấy anh!

Mình để lại đôi giày “nghệ thuật tạo hình” ở trụ sở cảnh sát, đi chân đất nắm chặt tay mạ ra tới ngoài đường gió thổi mát rượi, đã nhất trần đời. Mạ vấn thuốc cẩm lệ bặp một hồi cho nguôi cơn giận, nhai miếng trầu cau cho khỏi đắng họng rồi kêu chiếc xe xích lô: Chở hai mạ con tui vô thành nội. Mi đã tởn chưa? Mạ hỏi. Tởn. Mi còn ngứa tay vẽ vời lung tung nữa thôi? Dạ thôi. Nói dại miệng chớ mạ cũng lo, lỡ họ mang nhốt con bên lao Thừa Phủ thì rắc rối hung, dính vô chữ Việt cọng, mạ nghe bắt ớn. Dạo đó hai mạ con ở chung trong căn nhà thuê ở đường Hoà Bình. Chị mình sinh cháu đầu lòng và mạ mình kề cận mong giúp đỡ chị, người mẹ trẻ thiếu vắng những am hiểu về lãnh vực “đi biển mồ côi”. Anh Đinh Cường lúc nọ đã vang danh ở Huế qua những lần trưng bày tranh thành công ở phòng Thông Tin phía tả ngạn, ở Hội Việt Mỹ phía hữu ngạn mà sông Hương là thanh bảo kiếm xẻ ngọt ra đôi bờ. Anh vẽ tranh miệt mài, thầm lặng, ít nói. Hút thuốc Bastos de luxe, nhẹ hơn Bastos xanh. Bạn bè anh nhiều, thường ngồi cà phê Tôn ban ngày và đêm về thường tấp vào quán cô Dung. Đó là hai nơi mà hầu như những đứa con trai của Huế đều phải ghé qua, ít nhất một lần. Nó giữ riêng một thứ không gian đặc thù mà khi lỡ xa, nó tạo nên một ma lực buộc phải nhớ đến, tìm về. Nó tựa chiếc chìa khoá đầu tiên giúp người ta mở ra cánh cửa thứ nhất để sau đó những kỷ niệm hoen mờ có cớ dồn dập đổ tràn về.

Khi mình lớn lên, tập tành cà phê thuốc lá, lao đao với những mối tình vụng dại, quán cô Dung đã đóng cửa, chỉ còn cà phê Tôn. Ông chủ có sắm cuốn vở học trò và tên thằng người chẳng liên hệ với nhạc sĩ Hồ Đình Phương, giáo sư Hồ Đình Chữ thì mãi còn ghi bút mực đỏ trong đó với số tiền mắc chịu dài lê thê e phải kiếp sau mới trả được nợ người. Anh Đinh Cường có khi giúp mình trả bớt phần nào những ân tình mình lỡ vướng mang. Những bận bày tranh ở xa, khi về lại Huế thường mang theo những món quà tỷ như đôi giày đóng ở Trinh, tiệm giày nổi tiếng trên đường Hai Bà Trưng đối diện nhà thờ Tân Định. Một đôi giày hoàn hảo điệu đàng mà lỡ có vẽ màu dầu vằn vện lên chẳng ai có thể nghĩ ra chủ nhân ông là một tên giao liên Việt cọng như ngày cũ.

Qua anh Đinh Cường, mình được cơ hội lân la tiếp cận với hầu hết các văn nghệ sĩ từ phương xa ghé thăm hay “đặc sản” đất Thần kinh, những người ưa trải lòng qua chữ viết và cọ màu. Sao những đấng phụ huynh học sinh ưa nhồi nhét, bôi trét vào đầu óc con cái họ toàn cả sắc xám trong khi với mình đó là một đội ngũ vượt ra ngoài những định nghĩa thông tục. Họ đắm thân trong huyễn mộng và họ chỉ cho ta thấy đâu là vẻ đẹp của trần gian chật chội này. Thử tưởng tượng cõi nhân sinh một ngày nọ thiếu vắng họ, bạn ra đường va vấp toàn cả bác sĩ kỹ sư? Chỉ nghĩ thôi đã thấy oải, đã thấy thiếu dưỡng khí. Khi không có thơ văn nhạc hoạ… e lúc đó cả “bầu trời sụp đổ” cũng vừa.

Tình bạn là thứ mà hoạ sĩ Đinh Cường luôn đặt nặng, bạn bè anh nhiều và tất thảy đều có chung một nhận xét về người hoạ sĩ ấy: Hiền lành, ít nói, chẳng để tâm tới những lỗi lầm mà kẻ khác mắc phải. Trịnh Cung là một bằng chứng, người bỏ công viết bài dài gửi đăng ở trang Da Màu với những quy chụp rất dễ gây phương hại tới bạn mình. Rất bạc ác, rất hung hiểm, rất không phải cái tâm của một nghệ sĩ. Hoạ sĩ Đinh Cường nói, như cách mà Trinh Công Sơn từng nói: Thây kệ! Anh khiêm nhượng tới độ khi làm thơ đã phải xin lỗi người đọc:

“các bạn nói dạo này tôi … làm thơ nhiều
tôi có lời xin lỗi vì không là… nhà thơ
”.

Không là nhà thơ nhưng Thư Ấn Quán đã in cho anh tập “Cào Lá Ngoài Sân Đêm (2014). Và giờ này, 2015, anh vừa có thêm cuốn “Đi Vào Cõi Tạo Hình” do nhà Văn Mới xuất bản với lời thưa: “Đây là những đoạn ghi (như các đoạn ghi gọi là thơ) về cõi tạo hình… Không phải là sách chuyên môn có phân tích và nhận định mà chỉ thuần tình cảm chủ quan của tác giả với các hoạ sĩ đã từng gặp, đã từng tiếp xúc…). Sách in và phần trình bày các trang bên trong quá đẹp do bởi sự tiếp tay của hai hoạ sĩ Nguyễn Đồng- Nguyễn Thị Hợp và theo mình, đây là cuốn sách hay nhất trong năm, đáng đọc nhất trong cái thị trường sách vở eo xèo đến tủi hổ. Những ai từng bỏ công tìm hiểu về hội hoạ nước nhà sẽ lấy làm “buồn ngủ mà gặp chiếu manh” khi thủ đắc được cuốn sách này. Một thứ tư liệu thoát ra khỏi vỏ bọc khô cứng như nó vốn mang, thay vào là giọng kể lôi cuốn của một người trong nghề (đồng bệnh tương lân), yêu nghề và yêu cả thơ văn. Mình chưa bao giờ trả lời người hỏi: Bạn có hãnh diện chăng? Bây giờ nói hãnh diện vì có ông anh như thế, hẳn chưa muộn, nhỉ? Không quên nhắc ở đây, đã có bài giới thiệu sắc sảo của nhà văn Phạm Phú Minh trên Diễn Đàn Thế Kỷ, và nhà văn Phan Tấn Hải trên Sáng Tạo với một nhận định tinh tế, chừng mực, nhẹ nhàng và tài hoa.

Antoine de Saint-Exupéry (1900-1944) có phát biểu: “Ý nghĩa của sự vật không ở trong sự vật, mà ở trong thái độ của chúng ta đối với sự vật”. Hơn ai hết, hoạ sĩ Đinh Cường đã từng chiêm nghiệm về điều ấy và anh đã bày tỏ cho chúng ta rõ thái độ của anh khi viết xong cuốn sách này. Rất trân trọng, rất nên thơ, rất trìu mến, rất uy tín.

Mình nhớ nhà văn Phạm Thành Châu có đoản văn vui nhộn nói về Đinh Cường. Ai đó đã hỏi nhà văn, anh hay đi cùng hoạ sĩ Đinh Cường, vậy chớ diện mạo ông ấy ra sao? Nhà văn đáp, ông có sẵn tờ giấy bạc 100 đô trong túi không? Chẳng để ý hả, họ dùng chân dung của ông Đinh Cường để in trên đó. Ở Canada, mình nhà quê chưa thấy qua chân dung “anh 100 đô” Mỹ, nhưng mình tin với nhãn quang tinh tế của một nhà văn, anh Phạm Thành Châu có thể không nhầm lẫn khi tả diện mạo người hoạ sĩ. Đúng hay sai thì dù gì nó cũng trao tới mình sự liên tưởng, hoạ sĩ Đinh Cường là một đại gia, hiểu ở mặt anh sở hữu một gia tài đồ sộ về nghệ thuật tạo hình, về ký hoạ, về phát thảo chân dung, về chì, than, mực xạ, màu nước, sơn dầu. Tranh vẽ bạn bè thân sơ, tranh cho người ta làm phụ bản, làm bìa sách. Rộng lượng, hào sản. Vui thôi mà!

Giờ này, theo thứ định luật bất biến chẳng thể tranh cãi được, anh Đinh Cường và mình đã thôi sung như dạo nọ, đã ngập chìm trong thứ khí hậu của Thanh Tâm Tuyền: “mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện, lòng ta quạnh vắng như cỏ cây”. Đã nhuốm thứ tâm trạng như Đồng Đức Bốn: “tôi giờ xa cách bao nhiêu, đem thơ đổi lấy những chiều tương tư”. Hết sung, nhưng không có nghĩa là sáng sân trước, chiều vườn sau để nghe “chim kêu vượn hú biết nhà má đâu”. Rất biết, rất minh mẫn, bởi vì dù sao thì chúng ta sắp đón nhận cuốn số hai của hoạ sĩ Đinh Cường viết về thời kỳ “Hội Hoạ Sĩ Trẻ” ngang trang lứa với anh. Mong anh Đinh Cường luôn an mạnh để tô lại lớp sơn mới trên câu danh ngôn mà chúng ta từng tâm đắc: “Cái đẹp lụn tàn trong cuộc đời, nhưng không lụn tàn trong nghệ thuật”.

“không biết vì sao cứ nhớ hoài kỷ niệm
tại vì rừng thông bốn mùa luôn xanh lá
không như chúng ta tan tác những phương trời
và từng ngày không trốn nổi bóng cô đơn
”
(Đinh Cường).

Hồ Đình Nghiêm

Chim bay về biển

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

 November 18, 2013   

Post by Sơn râu 24 Jul 2026

Một mai chim bỏ bay về biển

Ta đứng một mình ngó nhánh sông

Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy

Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

Một cánh chim vừa bay ra biển, nhỏ dần rồi mất hút giữa mênh mông. Tôi mơ hồ như hình ảnh của chính mình đang tìm về quê cũ. Hình dung đến thành phố Nha Trang xưa, nơi mà nếu không có biển sẽ không còn lãng mạn để người ta nhắc nhớ, đắm say, cũng có thể làm nhẹ đi ít nhiều tiếc nuối của nhưng người Nha Trang xa xứ.  Bờ biển cát từng chôn giấu những hang động tuổi thơ và ôm ấp dấu tích của bao cuộc tình thơ mộng, nước biển đã cuốn trôi đi, nhưng không thể xóa mất trong ký ức của nhiều cặp tình nhân mà bây giờ tóc ai cũng bạc. Âm thanh những ngọn sóng rì rào đã dệt nên những bài thơ, những bản tình ca từng làm khuấy động bao trái tim người, mà dư âm dường như vẫn còn vang vọng mãi.

Nha Trang đẹp đẽ, hiền hòa và thơ mộng đó bây giờ đã không còn nữa. Đã trở thành một Nha Trang xa lạ, như thuộc về ai đó chứ không phải của mình. Đó là cảm nhận xót xa của đám bạn bè tôi, không chỉ người đã rời xa mà cả những người vẫn còn ở lại với Nhatrang, sống với Nhatrang gần trọn một đời.

Nhà văn Nguyễn xuân Hoàng, một đồng môn huynh trưởng cùng trường Võ Tánh, sau 15 năm trở lại Nhatrang, đã viết:

“Mười lăm năm sau ngày ra khỏi nước, tôi quay trở về như một người xa lạ. Thành phố tôi đã ở thời tuổi nhỏ như nhỏ lại, những con đường quen đã xa lạ, tiếng sóng biển vọng lại âm thanh đều đặn kỳ quái của một vùng biển chết nào. Bãi cát không còn cái màu của thời tôi mới lớn và rừng dương đã bi xóa khỏi bản đồ trái tim.

… tôi trở về nhìn lại biển xưa thấy không còn lại chút dấu vết nào của những ngày trốn học, những buổi trưa hạnh phúc nằm trên bãi cát, gối đầu lên hai cánh tay, đấp mặt bằng cành lá dừa, ngủ một giấc chờ đến giờ tan học lủi thủi trở về”(trích trong “Nhà Từ Đường” tháng 5.2013- trên VOA)

Một chị bạn , hiện định cư ở thành phố Seattle bên Mỹ. Năm 1954 là một cô bé 7 tuổi, di cư theo gia đình từ Hà nội vào Sài gòn. Ông bố là quân nhân, được bổ nhậm ra một đơn vị ở Nhatrang. Cô rất vui mừng được theo cha ra sống ở thành phố biển. Thi đậu vào lớp đệ thất  trường Võ Tánh. Nhưng chỉ mấy năm sau lại bịn rịn bỏ lại bạn bè, theo bước chân cha ra tận Quảng Nam, rồi Huế. Sau này trở thành cô giáo trung học, lên cao nguyên sống với phố núi và đám học trò Kinh – Thượng, giữa chiến tranh vây bủa, may mắn sống còn trong lần di tản kinh hoàng trên con đường Tỉnh Lộ 7B.Vậy mà một thời tuổi thơ ngắn ngủi ở Nha Trang lại là mảng quá khứ đẹp đẽ nhất. Trong ký ức và cả trong trái tim, chị đã dành ngăn lớn nhất cho Nha Trang. Sang Mỹ định cư khá lâu, chị háo hức trở về thăm Nha Trang, để rồi “chỉ thấy lòng buồn rười rượi, bởi đang đi trên đất Nha Trang mà cảm giác như mình là  kẻ lạ, không tìm thấy bóng dáng Nha Trang của mình ngày trước”.

Hai người bạn học cùng lớp với tôi. Sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên và gần trọn một đời sống với Nhatrang. Trước 75 đều là thầy, cô giáo trung học, giờ chỉ âm thầm nhìn đời từng ngày trôi đi vô vị, viết những bài thơ buồn trước bao điều đổi thay ngao ngán. Họ ở lại với Nha Trang cho đến hôm nay, sau bao nhiêu lần tưởng chừng Nha Trang đã hất hủi, đuổi xô, không còn chỗ cho họ dung thân. Hai người bạn của tôi rất chí tình với bạn, sống chết với quê, vậy mà đã bao lần than thở: “không ra đi như mi, tớ ở lại với Nhatrang mà vẫn không tìm ra Nhatrang của bọn mình ngày trước! Không có gì đau hơn là sống trên chính đất nước mình mà cứ mãi hoài vọng một quê hương!” Và họ chỉ còn gặp lại Nhatrang trong ký ức, trong những bài thơ họ viết về một thời quá khứ, nghe chừng đã rất xa xưa như trong tiền kiếp:

chiều quá chén nửa đêm tỉnh giấc

mảnh trăng khuya vòi või chờ ai

trong cỏ ướt dế buồn thao thức

giữa quê nhà sao mãi hoài hương.

…

Từ buổi ấy đồng thu cỏ biếc

nghe âm u gió tạt mùa xa

người đứng giữa trời không – luyến tiếc

nghĩ ngợi gì tóc rủ sương pha.

….

Bao năm tìm lại con đường

nẻo xanh ngần ngại nghe chừng rất xa

chiều thu xứ ấy mù sa

tình thu thuở ấy cũng là chiêm bao.

(đ.ư.v)

Đám học trò bọn tôi thưở ấy, giờ tóc ai cũng bạc. Sau cuộc thăng trầm quá lớn, nhiều khi tưởng mình giờ là một người nào khác. Dù còn sống ở quê nhà hay lưu lạc tha phương, ai cũng đã phải trải qua một cuộc đổi đời bi thảm. Vết thương lớn, nhỏ trong lòng dường như vẫn chưa lành.

Lần trở lại Nha Trang duy nhất để tìm bốc mộ thân phụ bên ngoài một trại tù “cải tạo”, cách đây đúng mười năm, tôi đi một mình trên những con đường xưa, nghe tiếng sóng vỗ xa xa mà trong lòng chỉ còn dội lại những dư âm ngày cũ.

Tôi may mắn gặp lại vài ba người bạn học. Nhưng dường như tất cả đều nở nụ cười không trọn. Vui đó rồi buồn đó, bởi mỗi người một số kiếp long đong.

Một thằng bạn rất thân,cùng học ba năm cuối ở trường Võ Tánh. To con, đẹp trai và học giỏi. Sau này cũng là bạn lính. Ở tù hơn bảy năm nên bạn bè ai cũng nghĩ là nó đã đi diện HO và đang nổi trôi nơi nào trên nước Mỹ, không ngờ tôi còn gặp lại nó ở Nhatrang. Mặc dù bây giờ nó không được phép ở lại trong ngôi nhà và thành phố Nha Trang xưa của nó.

Sau sáu tháng vào tù, căn nhà nhỏ của nó ở Nha Trang bị tịch thu, cô vợ “Bắc Kỳ nho nhỏ” mang ba đứa con (mà đứa lớn nhất mới vừa năm tuổi) giao cho bà nội ở trên Thành, Diên Khánh, rồi sang sông…về đâu đó, không bao giờ trở lại. Bà nội thì già, mấy đứa nhỏ bấu víu vào ông chú, vừa tốt nghiệp kỹ sư Nông Lâm Súc, nhưng bởi có ông anh là “ngụy đang cải tạo”, nên đi làm phụ hồ cho một ông thợ nề là bác họ. Trong lúc phụ hồ sửa sang một bệnh viện, anh làm quen được một chị đầu bếp. Không biết tài ăn nói thế nào mà anh làm cô động lòng trắc ẩn, thương cảm hoàn cảnh mấy đứa cháu dại không mẹ không cha. Cô sẵn sàng làm mẹ nuôi. Với tất cả tiền bạc và tấm lòng, đã cưu mang ba đứa bé không thua gì một người mẹ. Ba đứa nhỏ lớn lên cứ tưởng cô là mẹ. Cái tình mẫu tử này sao mà hiếm hoi và bi tráng quá. Thì ra trong cái thời nhá nhem tình nghĩa ấy vẫn có những tấm lòng còn hơn cả những chữ Từ Bi viết trong mấy ngôi chùa.

Bảy năm sau, thằng bạn tôi được thả về, cúi mình trước người con gái ân nhân để xin nói một lời tạ ơn. Cô nắm tay ngăn lại. Đúng giây phút ấy, bốn mắt nhìn nhau và cùng rơi lệ. Họ ôm nhau, yêu nhau rồi lấy nhau. Hôm gặp chị, tôi tò mò hỏi lý do nào chị lại yêu và lấy thằng bạn khốn cùng của tôi trong lúc chị còn con gái. Chị bảo vì không thể rời xa ba đứa nhỏ mà chị xem như con ruột của mình. Chính cái tình thương và sự gắn bó ấy mà chị trở thành vợ của ba nó. Còn tôi thì lại mơ màng suy ngẫm đến hai chữ duyên nợ của đất trời. Sau này chị làm đầu bếp cho một nhà hàng ở bờ biển Nha Trang. Thằng bạn tôi và mấy đứa con vẫn sống trên Thành, vì với cái lý lịch đen, không thể xin được cái hộ khẩu trở về thành phố cũ. Còn chị vợ thì tiếc cái hộ khẩu ở thành phố, mà không muốn chuyển lên vùng quê Diên Khánh.

Cũng chính vì Nha Trang đã tạo nên cái hộ khẩu mỗi người mỗi nơi ấy, mà khi thằng bạn của tôi được gọi phỏng vấn xin đi theo diện HO, bị phái đoàn Mỹ từ chối, trả lại hồ sơ và sỉ vả một trận, vì nghĩ chị vợ tốt bụng này chỉ là vợ giả, trả tiền cho nó để được bỏ nước ra đi. Chuyện tình ngay mà lý gian ấy cũng đã làm vợ chồng tốn kém và khốn khổ một thời. Sau mấy lần khiếu nại, cái ân sủng cuối cùng là: chỉ có người cha và ba đứa con được ra đi vào đợt cuối HO. Còn chị vợ sẽ vĩnh viễn không bao giờ được bước chân đến Mỹ.

Bạn tôi quyết định ở lại với người vợ ân tình, mà anh coi như ông trời đã sai xuống dương trần này để gánh vác cho mấy cha con.

Bây giờ ba đứa con đã là người lớn. Thằng bạn tôi ở nhà chăm sóc ngôi từ đường, nuôi mấy con heo và nấu cơm cho con cho vợ. Chị ấy vẫn làm ở khách sạn dưới Nha Trang, tối lại chạy về Diên Khánh!

Hôm đứa con gái lớn lấy chồng, chị khuyên mãi thằng bạn tôi mới báo tin cho bà mẹ ruột bạc tình, bây giờ đang lấy một ông chồng người Thụy Sĩ. Bà ấy cũng vác bộ mặt đầy son phấn trở về. Nhưng đứa con gái chỉ cho bà đến nhà hàng dự tiệc mà từ chối sự hiện diện của bà trong hôn lễ. Con bé bảo rằng, bà chỉ là một cái máy đẻ ra tôi, nhưng mẹ tôi chính là vợ của ba tôi bây giờ.

Tôi rót một ly rượu mừng cho cả cái vô phúc lẫn cái diễm phúc của thằng bạn cũ, nhưng rót đến hai ly để mời vợ nó. Một ly mừng và một ly để nói hộ giùm tôi lòng biết ơn và ngưỡng mộ.

Tôi quay sang bảo thằng bạn:

– Dường như chính phủ Mỹ vừa cho mở lại diện HO, mày thử nộp đơn lại xem sao.

Nó xua tay:

– Tao chẳng cần đi đâu nữa, vì ở đâu có bà vợ tao đây là ở đó có thiên đường.

Tôi đùa:

– Mày nói còn hay hơn mấy ông linh mục trong nhà thờ.

Tôi choàng tay ôm vợ chồng nó mà nước mắt trào ra. Tôi nghĩ, nó vẫn còn tác phong của một thằng lính. Khi chia tay, nó ôm vai tôi buồn bã:

–Mày thấy không, cái thành phố Nha Trang mà tao sống cả một thời đẹp đẽ, giờ cũng phụ bạc tao, gây cho gia đình tao bao khốn khó! Từ ngày thuộc về bọn CS, Nhatrang với tao là một vùng đất xấu, lạ lẫm. Mày còn nhớ tác phẩm tiếng Pháp “Le domaine maudit” của ông thầy Cung Giũ Nguyên?

Tôi thực sự chưa hiểu, chỉ thấy mơ hồ có một điều gì đó không ổn trong cách suy tư của nó. Nhưng tôi cảm được nỗi đau của nó.

Một cô bạn học từ những năm đệ ngũ, đệ tứ bên trường Văn Hóa. Một lần sang Mỹ thăm cô con gái là sư cô ở một ngôi chùa vùng Los Angeles, bất ngờ đọc được bài viết của tôi trong Đặc San Liên trường Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, trong đó tôi có nhắc đến tên nàng, rồi lần mò tìm ra tông tích của tôi. Ngày xưa là một cô bé khá xinh và học giỏi. Sau này có thời làm phóng viên chiến trường. Ông chồng gốc Võ Bị Đà Lạt, chết một tháng trước ngày có chuyến bay theo diện HO, nên nàng và hai cô con gái không được đến Mỹ. Dắt con lưu lạc khắp nơi, với một số vốn liếng của mẹ cha để lại. Nàng bảo nhiều lúc nhớ Nhatrang lắm, thử quay về, nhưng rồi thấy lạc lõng, mọi thứ chỉ mới đây thôi mà sao giờ trở thành xa lạ quá.  Cuối cùng, mẹ con quyết định mua một căn nhà bên cạnh Quan Âm Tự ở Sài Gòn xa lạ. Cô con gái út vừa học đại học vừa tu học trong chùa. Còn nàng thì tu tại gia và cũng là một nhà thơ. Hôm ngồi trên máy bay trở lại Bắc Âu, tôi đọc hết hai tập thơ của nàng ký tặng lúc chia tay. Có nhiều bài tiếc nhớ Nhatrang xưa. Nha Trang của nàng và của đám bọn tôi. Nàng làm thơ Đường thật hay và cảm động. Tôi nghĩ, nếu Đức Phật mà đọc được thơ của nàng chắc cũng phải rơi nước mắt xuống tòa sen.

Một thằng bạn khác cùng học trường Võ Tánh. Sau này gặp nhau trong cùng một đơn vị lính. Đánh giặc rất lì, nhưng luôn bị “đì” bởi bản tính ngang tàng không nể mặt cả cấp chỉ huy. Trong khi đang ở tù ngoài Bắc, chị vợ ở nhà chán chường cuộc sống, lội xuống biển Nha Trang tự vẫn, để lại một thằng con trai năm tuồi. Nơi người ta tìm ra thi thể của chị, chính là bờ cát dấu tích yêu đương hẹn hò, thưở hai người mới quen nhau.

Ra tù, không thể sống trên thành phố quê hương một thời đẹp đẽ giờ chỉ còn là mảnh đất thê lương tang tóc, mỗi ngày phải ám ảnh bởi cái chết đau đớn của người vợ trẻ đẹp dấu yêu, nó dắt mẹ già và đứa con thơ vượt biển. Sang Mỹ, nhờ mẹ chăm sóc cho đứa con, nó vừa đi làm vừa đi học. Được bạn bè khen, nó bảo: “chẳng phải tao siêng năng chăm chỉ gì đâu, nhưng vì không muốn còn có chút thì giờ rảnh rang nào để nghĩ ngợi mông lung, hồi tưởng về một quá khứ đau lòng”. Nó chưa bao giở về lại Nhatrang. Bạn bè ai cũng phục khi nó lấy được bằng Cao học Tâm Lý (Master of Psychology) và có công việc làm lương cao, ổn định. Trong đám bạn bè bất hạnh, nó là đứa thành công nhất. Bỗng một ngày được tin nó chết. Chết đau đớn. Thuê phòng trong một khách sạn ở gần nhà, rồi đến đó dùng súng bắn vào đầu mình tự sát, để lại mấy lá thư. Tôi nhận được lá thư nó viết cho tôi, được cảnh sát giao lại, nét chữ đẹp đẽ ngay ngắn, chứng tỏ nó rất bình tĩnh trước khi tự kết liễu đời mình.

“Xin lỗi mày, tao đi trước mà không kịp chia tay với mày. Bọn mình rồi sẽ như những con chim đã đến lúc phải bay về với biển. Mày đừng nghĩ là tao buồn. Tao vui lắm đó. Thôi thì tao đi trước để dọn chỗ cho bọn mày, đám bạn bè thân thiết nhất của tao. Chỉ có một điều tao tiếc và ân hận là đã không được chết ở chiến trường như bọn thằng Lâm, thằng Bê, thằng Pho, anh Tài, Đức”.

Đọc xong thấy lòng đau đớn như có nhiều vết chém, vậy mà không biết vì sao tôi không khóc được.

Những người tiễn đưa nó hôm ấy, hầu hết là bạn bè cùng đơn vị xưa, và một số bạn học cùng trường Võ Tánh Nha Trang.

Năm ngoái, một chị bạn cùng trường Võ Tánh, cùng học Ban C sau tôi một năm, định cư ở Canada, cũng đã ra đi, sau hơn hai năm chống chọi với căn bệnh ung thư. Tôi và có lẽ hầu hết bạn bè Võ Tánh rất mến phục cô bạn có tấm lòng và rất khí khái này từ những năm 1962-1963. Mọi người đã ưu ái tặng chị biệt danh “Nữ hoàng xuống đường”. Luôn sống hết lòng với bạn bè và quê hương đất nước. Quyết liệt, kiên cường trước những bất công, bạo lực. Những ngày lâm bệnh, sớm ngộ Đạo Đất Trời, chị buông bỏ tha thứ hết những hờn giận ân oán riêng tư. Một thời gian trước khi mất, chị vẫn  liên lạc trao đổi với tôi về những kỷ niệm Nha Trang, về tình hình chính trị ở quê nhà với  nhiều hy vọng, và tiếc là không thể sống lâu hơn để chứng kiến ngày chế độ Công sản man rợ độc tài cáo chung trên quê hương. Chị ra đi, để lại bao thương tiếc cho gia đình, người thân và tất cả bạn bè. Chị mong muốn và dặn dò, sau khi chị mất xin gia đình hỏa thiêu và mang tro cốt của chị rải ở ngoài khơi Thái Bình Dương để hương linh của chị theo biển trôi về quê nhà, bên kia bờ đại dương, ở đó có bãi biển Nha Trang thơ mộng, nơi chị sống cả một thời tuổi thơ và lớn lên với những vui buồn, vinh nhục.Tôi hình dung đây không phải là cánh hải âu mà là một cánh đại bàng hùng vĩ, đẹp đẽ vừa bay về với biển.

Cuối tháng 2/2013, trước khi trở về lại Bắc Âu, tôi bất ngờ nhận được hung tin: hiền thê của một anh bạn qua đời vì một chứng ung thư khó chữa. Chị là cựu nữ sinh Nữ Trung Học Nha Trang, và sau này là một người đàn bà tuyệt vời. Gia đình anh chị là một đại gia đình quân đội. Các con của chị đều là sĩ quan trong quân đội Hoa Kỳ, một cô con gái tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng West Point. Sau này đều trở thành những bác sĩ, luật sư. Phu quân của chị là một người bạn, người đàn anh của tôi ở trường Võ Tánh cũng như trong quân đội ngày trước. Con nhà giàu, đẹp trai và tính tình hào hoa vui tính. Là môt sĩ quan trẻ đầy phong độ khi tốt nghiệp từ trường Võ Bị Đà Lạt, đối tượng của nhiều cô con gái Nha Trang thuở ấy. Ngày anh quyết định làm đám cưới với chị, chắc chắn có nhiều cô tốn khá nhiều nước mắt. Cuộc tình đẹp. Một gia đình thành công, hạnh phúc. Chị luôn bặt thiệp vui vẻ, hết lòng với bạn bè, đồng môn, đồng đội cũ của chồng. Nụ cười lúc nào cũng nở trên môi. Ai cũng quí mến chị. Vậy mà đùng một cái, chị ra đi, đột ngột chẳng ai ngờ.

Hôm dự dám tang chị, rất nhiều bạn bè cùng khóa Võ Bị với anh và đồng môn thân quen thời Võ Tánh & Nữ Trung Học Nha Trang, từ mọi nơi về tiễn biệt. Trong nhà nguyện không còn chỗ đứng. Anh chồng ốm nhom, tiều tụy. Khi nói lời chia buồn, tôi ôm đôi vai gầy gò mà thấy thương anh, tội nghiệp. Khuôn mặt hốc hác, đôi mắt quầng thâm. Tôi nghĩ là anh đã khóc thầm nhiều lắm, ở cái tuổi đã trải qua bao thăng trầm mất mát, tưởng như không còn nước mắt.,,

Khi nhìn quan tài chị được đưa vào lò thiêu. Cửa lò đóng lại. Tôi tưởng tượng, lại thêm một cánh chim đẹp đẽ nữa vừa bay về với biển.

Tôi nghĩ rồi sẽ có môt ngày, thế hệ bọn tôi, những cô cậu học trò rời trường Võ Tánh vào những năm đầu thập niên 60, bây giờ đều đã trên tuổi 70, sẽ lần lượt ra đi. Tất cả cuối cùng rồi cũng là những cánh chim bay về với biển.

Bỗng lòng tôi chợt thoáng lên một chút băn khoăn. Những cánh chim di xứ ấy sẽ bay trở về đâu, khi Nha Trang ngày xưa của họ đã thực sự không còn. Thành phố đã cho họ một thời tuổi thơ đẹp đẽ hoa mộng, nhưng cũng đã để lại trong lòng họ quá nhiều đớn đau, mất mát sau cuộc đổi đời.  Những hang động tuổi thơ và dấu tích của những cuộc tình ngày xưa, tất cả giờ chỉ còn là cổ tích. Tôi nhớ lời thằng bạn còn ở lại Nha Trang, nhớ tới thầy tôi, nhà văn Cung Giũ Nguyên và tác phẩm Le Domaine Maudit viết từ năm 1961, như là một tiên tri của Thầy.

Phạm Tín An Ninh