Cây Sồi

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

August 17th, 2024

Post by Sơn râu 22 Jul 2026

Bác Năm kéo chiếc bàn nhỏ tới khoảng cỏ xanh đang mọc lún phún sát gốc cây sồi già, để 2 chiếc ghế 2 bên, lấy điện thoại.

– Hello cha nội! Chạy qua ăn cá nục hấp cuốn bánh tráng rau muống.

– Ủa mùa này mà còn cá nục?

Khánh, người bạn già, cùng trang lứa, cựu trung úy pháo binh, dân Phú Nhuận, qua đây cũng 30 năm, về hưu 4 năm, hỏi.

– Cá tươi, thằng Mễ bán… Qua lẹ! Ừ! Bia thôi! 1 thùng 12 đủ rồi, tui còn nửa chai Scotch, dư say.

Bác Năm mua căn nhà có cây sồi mọc bên hông này đã 35 năm. Lúc từ trại tỵ nạn qua Vermont định cư, làm việc và dời về Boston.

Cũng như bác Năm cây sồi lúc đó còn trẻ, chỉ cao ngang mái nhà, bây giờ bác Năm đã già, về hưu, nên gốc sồi cũng to sần sùi tới 3 người ôm, tàn lá rộng tuốt trên cao phủ hết khu nhà, chỗ đậu xe và miếng đất nhỏ dọc bên hông nhà. Dưới bóng mát, gốc sồi là nơi nghỉ ngơi của bác Năm, suốt những ngày Hè, từ hồi còn làm việc cho đến bây giờ. Bác đặt cái bàn sắt, 2 chiếc ghế làm nơi uống trà, lai rai bia bọt với vợ, bạn bè, với Khánh, người bạn còn lại sau này.

Tranh Hồ Đắc Vũ

Ông Khánh mang thùng bia lạnh đặt sát bàn, bác Năm vô nhà mang ra 2 dĩa 10 con cá nục, một rổ rau muống ngắt lá, rau thơm, dấp cá, xấp bánh tráng mỏng, chén nước mắm Phú Quốc đầy ớt đỏ xắt lát, pha nước cá hấp.

– Cá tươi rói hà, tụi nó câu dưới Florida.

Bác Năm lấy bánh tráng, nhúng nước, cuốn tròn nửa con cá với rau, cắn một miếng, mấy cọng rau muống kêu cái rạo.

– Cuốn với rau muống cọng, chấm mắm giằm ớt pha nước cá, đúng kiểu Quảng Ngãi.

– Lần nào ăn món này tao cũng nhớ con nhỏ bồ, chủ tiệm bán Don, cá nục hấp gần đầu cầu Trà Khúc bên Sơn Tịnh, Quảng Ngãi … Mẹ! Tao dân pháo binh mà pháo thua nó xa, ăn vô con cá nào, xả vô nó con cá đó.

Ông Khánh cười hà hà.

– Tao thì nhớ tiệm bà già vợ ở Nha Trang, bả làm món này mỗi cuối tuần khi tao từ trại Thùy Dương trong không quân về…

Tranh Hồ Đắc Vũ

Bác Năm cụng ly, làm hết lon bia.

– … Nhưng kiểu khác, cá tươi mới từ biển về, nhỏ bằng 2 ngón tay, bỏ đầu, làm sạch, hấp và cuốn cả con cá với rau muống, dấp cá trồng trong chậu sành, sát bên bàn ăn ngoài hiên nhà, ngắt lên, rửa rồi cuốn, uống rượu nếp trắng, lần nào cũng say, mà say là ngu, ngu riết, lấy con gái bả luôn.

Ông Khánh khui 2 lon bia.

Chuyện hồi đi lính, chuyện sau 75, chuyện trại tỵ nạn, lúc mới tới xứ Mỹ, kể lể trăm lần vẫn xào tới lui mỗi khi bia bọt.

Bia ngà ngà, ông Khánh thầm thì.

– Chắc tui về Sài Gòn.

– Làm gì?

– Chơi vài tuần… Cha đi hông?

– Ờ để coi.

– Tuần tới tôi mua vé, đang hạ giá, thứ Hai cho tui biết.

– Ừa.

Cuối tháng 7 bác Năm theo ông Khánh về thăm Sài Gòn sau 35 năm ra đi.

– Anh chạy lên nhà hàng Brodard giùm.

Bác Năm nói với người tài xế tắc xi.

– Dạ! Ở đâu bác?

– Hồi xưa ở đường Tự Do, đường chạy ra sông Bạch Đằng.

– Dạ con không biết hồi xưa… Để con hỏi.

Anh điện thoại.

– Rồi! Cám ơn chị.

Tài xế quay lại

– Bây giờ là đường Đồng Khởi bác!

Bác Năm ghé Brodard, cũng may, họ còn giữ cái tên, chỉ thay tên đường.

– Cho tôi trà lipton chanh đường.

Nhưng tiệm hoàn toàn thay đổi, không còn chút hơi hám nào của Brodard, nơi bác uống trà lipton chanh đường, ăn sáng với mấy người bạn thời trung học bằng tiền bà già cho mỗi tháng.

Loanh quanh khu Tự Do, trưa bác Năm về Tân Định, ghé tiệm Huế ngày xưa ở đường Đinh Tiên Hoàng, nhưng bây giờ là tiệm xông hơi đấm bóp.

Bác Năm kéo chiếc ghế, ngồi xuống

– Cho tô hủ tiếu Mỹ Tho.

May! Tiệm hủ tiếu Thanh Xuân vẫn còn…

Tối ngà ngà mấy chai bia với con gà hấp muối ở tiệm Tàu, chợ Cũ, bác Năm đi bộ về khách sạn ở đường Lê Thánh Tôn.

Ủa? Sao lạ, bụng dạ lại nôn nao nhớ Boston, nhớ căn nhà nhỏ, nhớ cây sồi già còn hơn nhớ Sài Gòn, Phú Nhuận ngày xưa.

…

Căn nhà 3 phòng ngủ xây theo kiểu xưa, 3 phòng ngủ nhỏ xíu.

Nhớ hồi dọn vô.

– Anh! Nhà này nhập cảng tới Boston hả?

– Là sao?

– Em đoán là nhập từ Nhật.

– !!?

– Tại phòng ngủ nhỏ tí tẹo…

Bả bước tới cửa.

– Nè! Em đứng gần đụng cửa…

– Thì tại em cao.

À! Vợ tôi cao thiệt, cao hơn tôi hết cái đầu.

– Ít tiền thì mua nhà nhỏ, thấp, em cao ráng chịu.

Vậy là bả giận luôn tới 3 tháng, với lý do.

– Anh xúc phạm chiều dài quý phái của em.

Nhưng được là, khu dân cư yên tĩnh, và tôi thích nhất là nhiều cửa sổ, phòng nào cũng 2 cửa sổ, phòng khách có cửa kính cao, chạy hết chiều ngang bức tường, nhìn ra vạt cỏ xanh trước nhà, bên kia là khu rừng cây trên dốc núi đá, sát hông nhà là cây sồi đầy tiếng chim hót và bóng mát.

Bác Năm bước ra cửa sổ, nhìn xuống đường Lê Thánh Tôn vắng tanh.

Ừ! Nhắc tới cây sồi bác Năm càng thấy nhớ nhà.

Dưới gốc sồi

Cuối Xuân, tuyết tan vừa lòi cỏ xanh, trời ấm trở lại là bác bày cái bàn sắt sơn trắng, 2 cái ghế ngay bên gốc cây, treo thùng ướp lên móc đã gắn sẵn để chứa nước đá ướp bia lạnh.

– Hê! Qua nhậu đầu mùa đi cha! Có mực ống tươi, mới mua trên chợ Việt Nam. Ông Khánh chở thùng bia lớn tới, chị Năm đem ra dĩa lớn mực ống nhỏ bằng ngón tay mà chị đã lựa ở chợ.– Mực nhỏ nhúng bia ăn với rau đủ loại, chấm mắm nêm mới ngon, 1 cuốn là 1 con, cụng ly là làm luôn 1 cuốn.

Chị lấy bánh tráng nhúng nước nóng, cuốn con mực với rau.

– Dzô cái anh Năm, anh Khánh.

…

Hết 1 tuần lang thang, bác Năm buồn, nhớ nhà, nên trả thêm tiền, lấy vé bay về Boston.

– Sao vậy cha?

– Tao hết hứng thú ở lại đây… Bạn thì không còn ai, ngủm gần hết, còn vài thằng lại lưu lạc thập phương tứ hướng, ba má qua đời lâu rồi, gia đình ở cha nó bên Pháp, bên Mỹ, Canada… cái Sài Gòn trong lòng tao như bị thiến…Chán ngắt! Quá xa lạ, tao về!

Bác Năm về Boston, Ông Khánh ở lại, cặp với em bồ nhí, sống luôn ở Sài Gòn.

Máy bay vòng Boston, chuẩn bị đáp xuống phi trường Logan.

Ngồi trên máy bay, bác Năm thấy rộn ràng trong lòng như ngày trở về Sài Gòn cách đây 1 tuần.

Thành, thằng con trai rước tại phi trường.

Đã 2 giờ sáng, bác Năm kéo va li vô căn phòng nhỏ, ôm chiếc gối, hít một hơi dài, nhìn quanh căn phòng thân mến. Chuyến bay quá lâu làm bác mệt, nên lăn ra giường ngủ khò.

Bác Năm mở mắt, nhìn đồng hồ trên tường, đã 10 giờ, buổi sáng yên lặng một cách lạ lùng.

– Ủa? Sao những tiếng chim hót quen thuộc đâu mất hết.

– Mùa Hè, mấy bầy két thường chí chóe trên cây sồi từ sáng tới trưa mà!

– Sao lặng thinh vậy cà?

Bác Năm ngồi dậy, mở 2 cái cửa sổ, nắng sáng lùa vô.

– Nắng?

Bác Năm tới sát cửa sổ, nhìn ra ngoài.

– !!!.

Thành đang ăn sáng, bác Năm bước tới, run giọng.

– Con đốn cây sồi rồi?

Thành cúi mặt, nuốt miếng trứng.

– Dạ!

– Lúc nào?

– Dạ! Lúc Ba về Sài Gòn.

– Con có biết cây sồi là nơi chứa bao kỷ niệm cuộc đời của Ba với Mẹ con và bạn bè ở Mỹ? Là nơi Ba hưởng những ngày già còn sót lại của Ba không con?

– …

– Con có biết đó là nơi Ba thường ngồi một mình, nhớ người Mẹ đã qua đời của con không?

Thành ấp úng.

– Dạ biết Ba.

– Vậy sao con đốn?

Thành đứng dậy, bước tới kéo ghế.

– Dạ Ba ngồi.

Bác Năm ngồi xuống, bàn tay run run chùi giọt nước mắt chực rơi, ông nhìn ra cửa sổ, nơi cây sồi già đứng đó đã bao nhiêu năm.

– Trước khi Ba về Sài Gòn, con nhận thư báo của thành phố Melrose…

Thành bước tới kệ sách, lấy cái thư, đưa cho Ba.

-… Họ cho biết cây sồi đã chết từ dưới rễ, lên tới thân cây 1 năm rồi…

Bác Năm vẫn thất thần nhìn ra cửa sổ, cây sồi già sần sùi như mập mờ trong khoảng hông nhà đầy nắng, bác đứng dậy.

-…Và có thể trốc gốc bất cứ lúc nào khi trời mưa, hoặc gió lớn…

Bác Năm bước tới cửa sổ, nhìn ra cây sồi chỉ còn sát gốc, mặt gỗ vàng, lớn như mặt bàn ăn.

– … Cây sẽ đổ xuống sập nhà và gây tai nạn cho gia đình. Thành phố yêu cầu đốn bỏ cây. Mọi chi phí được đài thọ, ban cây xanh thực hiện việc cưa cây trong ngày… Ba thấy đó! Đây là yêu cầu của thành phố, con không thể không làm…

Bác Năm bước ra hông nhà, đứng lặng yên bên gốc sồi đã bị cưa.

Sáng thứ Bảy, bác Năm kéo chiếc bàn sắt, để ngay khoảng cỏ xanh sát gốc sồi, pha ly cà phê phin kiểu Sài Gòn, những giọt cà phê đen đậm đang chảy xuống ly thì điện thoại kêu.

Bà vợ đã ly dị của ông Khánh the thé.

– Cha Khánh chết rồi anh! Chết hôm qua… Sụm bà chè, Đột quỵ! Mẹ! Chả đâu chịu nổi con quỷ cái đó, nó có 25 tuổi hà! Sức voi cũng tiêu, nghe đâu thiêu bên đó luôn, gởi tro vô chùa.

Bác Năm run tay tắt máy.

– Trời đất!

Khánh, thằng bạn còn lại của Bác đã qua đời.

Trời bỗng xối cơn mưa rào.

Bác Năm ngồi yên trong mưa, nhìn phin cà phê, thở dài.

Hôm sau, nửa khuya, bác đổ bệnh chóng mặt, khó thở, Thành phải kêu 911 đi cấp cứu.

Hai ngày sau, Thành rước Ba về, bác sĩ cho biết, ông bị lên máu, nhịp tim không ổn định, cho về nhà uống thuốc, dưỡng bệnh, tránh rượu chè và những xúc động mạnh.

– Ba nghỉ ngơi, vài bữa là hết bệnh.

– Ờ hổng sao đâu con.

Chiều đó, bác Năm quay đầu giường sát tường bên kia, nằm dựa gối, đối diện 2 khung cửa sổ, nhìn ra nơi tàn cây sồi, che bóng ngày nào với những con chim cu rừng màu nâu lao xao.

“- Ủa Khánh hả? Về hồi nào.

– Tao về hôm qua! Buồn quá, tính qua mầy làm mấy chai cho vui.

– Mầy ở bển vui thú gái ghiếc mà buồn gì?

– Nên đổ bệnh tùm lum.

– Mai thứ Bảy, 6 giờ chiều ghé đây.

Sáng thứ Bảy, bác Năm lái xe lên Burlington, tới trại gà người Việt, mua 2 con vịt tơ lớn, họ làm lông, lấy tiết sẵn, ghé chợ mua rau, đồ phụ tùng cho món tiết canh vịt.

Đúng! Món tiết canh, cháo vịt biến mất từ ngày bà vợ ra đi, bả về chầu trời, mang theo món tiết canh vịt để đời lên trển, chừa lại nồi cháo lạnh tanh cho bác, 15 năm rồi, hơi tiết canh đã bay theo nhang khói.

– Bữa nay tui làm tiết canh cháo vịt, đãi thằng bạn chí cốt theo gái ở Sài Gòn, đổ bệnh trở về.

Bác Năm bày hết mọi thứ làm tiết canh vịt trên chiếc bàn ngay gốc cây sồi già.

Bác vắt miếng chanh vô tô, đổ 4 muỗng nước ấm, 2 muỗng nước mắm Phú Quốc, để trên mặt bàn sắt. Bác nhớ lại cách làm tiết canh của bà vợ. Lấy nửa lá gan vịt đã luộc sẵn, cái mề, ruột, tim, khúc cổ vịt, bỏ hết lên chiếc thớt, cắt nhỏ.

– Hổng phải dzậy anh Năm ơi!

Chị Năm bước từ nhà ra.

– Anh phải bằm nhỏ! Không cắt.

– Thì anh bằm.

Chị Năm chỉ rổ rau.

– Anh bằm thêm rau húng, rau mùi, ngò… Đúng rồi! Trộn chung vô một tô, chút nữa bỏ vô dĩa tiết canh.

Bác Năm rót một “sót” Tequila.

– Uống cái khai hỏa em!

– Uống rượu mạnh làm gì…

Chị Năm cằn nhằn.

– Hư gan, nát thận… Mau xuống dưới lắm.

– Cả mười mấy năm nay mới uống một hớp mà em.

Bác Năm cười.

Chị Năm tới ngồi ở bàn, bên gốc sồi với tàn cây to, che mát cả căn nhà, coi chồng biểu diễn đánh tiết canh vịt.

Bác Năm mở nắp tô nước sôi để nguội, bỏ muỗng bột ngọt, bày ra 2 chiếc dĩa hột xoài lớn, vô nhà lấy 2 chai nước suối đựng tiết vịt tươi ở nông trại đã hãm sẵn. Bác Năm đổ 2 lon tiết vô 2 tô lớn, thêm một chén nước sôi để nguội, dùng muỗng khuấy nhẹ, đều tay chừng 2 phút rồi rưới vô từng đĩa hột xoài.

Chị Năm đứng dậy, rải những gan tim cổ đã bằm lên trên, chừng 5 phút, chị sắp lá gan vịt luộc xắt lát để trên mặt lớp tiết đã đông.

Bác Năm quay lại vợ.

– Nè! Bí quyết của em đây.

Bác lấy đĩa ngò om cắt nhỏ với rau quế, rải đều trên dĩa tiết canh vịt mới đông một màu đỏ tươi.

– Còn lớp đậu phụng rang nữa anh Năm.

– Có!

Bác Năm vô nhà mang ra bao đậu phụng rang sẵn, lấy chai Tequila lăn trên bao cho bể ra, rắc đều một lớp thưa trên mặt 2 đĩa, đặt ngay ngắn trên mặt bàn.

– Em thấy chưa? Anh đã học được ngón nghề của em.

Chị Năm thỏ thẻ.

– Em biết anh Năm của em giỏi mà!… Nhậu với bạn cho vui, em đi.

Chị Năm đi nhanh vô khoảng rừng bên kia đường.

Cũng đúng lúc ông Khánh ôm 2 thùng bia Saporo tới, lấy 2 lon.

– Làm lon đi… Chà món hiếm đây!

Bác Năm.

– Cha ở Sài Gòn thì có ăn, 15 năm rồi, bữa nay tui mới làm, thêm cháo vịt về khuya nghen.

Gần hết 2 thùng Saporo, đĩa tiết canh vịt chỉ còn sót miếng nhỏ.

Bác Năm vô nhà đem ra 2 tô cháo bốc khói, đĩa thịt vịt thơm lựng.

– Giờ này ăn cháo khuya là đúng điệu.

– Mẹ! Cuộc tình so le của tui ở Sài Gòn cũng không ra gì.

– Sao.

– Con nhỏ trẻ quá, không làm ra tiền, chỉ ăn nhậu rồi “Ấy”

– Vậy vui!

– Tui phải xài Viagra, Xài nhiều… nên đứt bóng!

– Thôi! Bề gì cũng xong rồi, làm hết chai Tequila với mấy lon bia cho vui.

Hai người bạn già ngồi bên gốc sồi, cụng ly, gật gù nhắc chuyện xưa nay.

Đã 9 giờ tối.

Ông Khánh đứng dậy.

– Thôi! Tới lúc phải đi.

Bác Năm ngạc nhiên hỏi.

– Đi đâu cha?

Ông Khánh không trả lời, và cũng như chị Năm, ông đi thật nhanh vô khoảng rừng tối thui bên kia đường.

Bác Năm chưng hửng nhìn theo.

Còn lại một mình bên chiếc dĩa hột xoài sót miếng tiết canh vịt, chai Tequila thừa ngụm rượu dưới đáy chai, trên chiếc bàn nhỏ sát gốc sồi sần sùi.

Bác Năm thấy hụt hẫng trong lòng. Bác ngồi xuống ghế, rót hết chai Tequila, kéo chiếc dĩa hột xoài, đưa mấy ngón tay nhăn nheo, bốc miếng tiết canh cuối cùng, bỏ vô miệng, cạn ly Tequila, thở một tiếng dài …”

Sáng hôm sau, Thành chạy bộ về, không thấy bác Năm ra gốc cây sồi uống trà như mọi khi, anh gõ cửa phòng ông già.

– Ba! Dậy chưa Ba?

Thành hé cửa.

Trên giường, bác Năm mặc bộ đồ bà ba lụa mới mua ở Sài Gòn về, nằm dựa đầu vô tường, nhìn ra cửa sổ mở rộng, nơi tàn cây sồi ngày trước.

Khuôn mặt bác xanh xao, đôi mắt nhắm, miệng cười nhẹ.

Thành bước tới gần hơn, nắm tay bác Năm.

Anh quỵ xuống sàn nhà, hai tay ôm mặt.

Bác Năm đã ra đi!

HĐV

Buổi họp mặt của Cựu Sinh viên trường Ðại học Khoa học Sài Gòn ở Footscray!

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Jul 2026

Thưa đời không như là mơ! Vì mơ là một chuyện; thực tế trần truồng là một chuyện khác.Khoa hoc Saigon 02Mơ học báo chí thì những năm 70 chỉ Viện Ðại học Ðà Lạt mới có. Nghèo sặc gạch như người viết, ghi danh đi học chứng chỉ Toán lý Ðại cương (MGP) Ðại học Khoa học Sài Gòn mà má, ba còn lo không xuể thì cách chi mà lên Ðà Lạt để ‘mùa xuân sang có hoa anh đào’! Thôi đành: ‘Em ơi! Nếu mộng không thành thì thôi.’

Mãi đến khi phiêu bạt quê người mới có dịp làm báo… ‘’đời”. Mà làm báo coi như móc bọc, nghèo; nhưng nghèo mà sướng lắm nhe: Ðược độc giả rủ rê đi nhậu hoài hè… làm con vợ tui nó rầy tui quá xá.

Chẳng qua bạn hiền Lê Trung Thụy, Ðại học Khoa học Sài Gòn năm 1967, nhà anh chỉ cách nhà em cái giậu mồng tơi xanh rờn, 2 căn… cực kỳ ái mộ mấy đứa làm báo hay nói láo, nên ‘hú u’.

“Ai kêu tui đó?” Nghèo mà ham vui. Vui thì phải nhậu. Mà nhậu thì cần rượu. Ngặt cái hổng có tiền mua!

Anh Thụy nói: “Tưởng chuyện gì? Rượu đỏ là chuyện nhỏ! Chỉ cần một điều kiện là nhậu xong, chú em phải viết một bài tường trình về Lễ Sinh Nhựt một thập niên của Cựu Sinh viên Trường Ðại học Khoa học Sài Gòn ở Melbourne. OK?”

Buồn ngủ mà gặp chiếu manh. Chữ mình một bụng, nhưng bán chẳng ai mua. Thôi thì  chữ ‘ế’ đem đi đổi rượu cũng được.

***

Người Việt mình, Bắc, Trung, Nam kể cả người Việt gốc Hoa, giống nhau ở chỗ:”Không ăn đậu không phải là Mễ; không đi trễ không phải Việt Nam!”

Ba giờ chiều ngày 6, tháng Tám, năm 2017, đồng hồ khỏ bon bon, mà chỉ có vài đứa đến đúng giờ để đặt bàn, bày ghế, trang trí cái phòng khách rộng minh mông, cắm điện cái đàn organ, để ban nhạc (một người), tò le tí le cho xôm tụ.

Còn mấy huynh trưởng khác không muốn đến sớm, chắc ngại sợ thiên hạ nói mình ham ăn, nên bạn mình cứ phè cánh nhạn, tới lai rai.

Ông thì nhà xa, bà thì bận lo cho cháu. Vì ba má sắp nhỏ mắc bận đi nhảy đầm nên gởi cho ông bà nội ngoại làm ‘child care!’ Chủ Nhựt mà.

Chuyện đâu còn có đó,việc gì mà gấp chớ! Chúng ta ra đi mang theo nền văn minh lúa nước rất đáng yêu (và cũng rất đáng quạu).

***

Mùa Ðông xứ Úc ngày dài đêm vắn, mới 5 giờ thôi mà trời đã sụp tối.

(Bà con biết mà: Cái gì nóng là nó nở ra hè! Mùa Hè nước Úc cũng vậy, gặp nóng là ngày nó nở rộng kinh luôn, mà không cần tới ‘viagra’. Ngày dài… dài  ra.

Mùa Ðông nước Úc cũng vậy, gặp lạnh, là ngày nó thun lại. Ngày vắn… vắn lại.

Thôi tối hù rồi mình khai mạc đi! Ðói bụng rồi nhe!

Người viết có cái ngạc nhiên là qua đây có rất nhiều hội cựu học sinh các trường Trung học. Nhưng trường Ðại học lại hơi bị… ít.

Thế nên nhóm cựu sinh viên trường ÐHKH Sài Gòn chơi với nhau đã 10 năm, một thập niên dài đăng đẳng mà cho tới nay tui mới biết. (Thiệt là hụt ăn ‘chực’ tới 9 lần nên tiếc hùi hụi hè!)

***

Ôi nhớ xưa: Con trai sau khi đậu tú tài hai, đứa nào theo Ban B là tới trường Ðại học Khoa học mà ghi danh vô chứng chỉ MGP (Toán Lý Ðại Cương) tính làm Albert Einstein, hay chứng chỉ MPC (Toán Lý Hóa) để làm kỹ sư đào mỏ.

Còn con gái, vua gạo bài, đa phần theo ban A, thì ghi danh vô chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Vạn Vật) để sau nầy thi vô Ðại học Y Khoa, học ra làm bác sĩ để chích ‘đít’ anh chơi!

Mấy chú MGP và MPC nầy học không lo mà con mắt cứ liếc đưa tình với mấy em SPCN thôi, đẹp não nùng như cô đầm Brigitte Bardot vậy. Hậu quả là sau hai kỳ thi cuối năm, rớt hết ráo. Ðậu chỉ có từ 5 tới 10% là hết mức! Cả 3, 4 ngàn đứa, còn trụ lại được trong cơn sóng gió ba đào, giỏi lắm chỉ còn được 1, 2 trăm!

Mấy đứa rớt: Con gái thì lên xe bông, đi lấy chồng; con trai thì tan mùa thi là anh đi lính, theo tiếng gọi của núi sông, ‘dông’ vô trường Bộ Binh Thủ Ðức.

Giờ già nhớ lại, đúng là cái thời tập tễnh từ học sinh ở với Tía Má rồi phải chuyển qua đời sinh viên xa nhà lại là khoảng thời gian đẹp nhứt của đời người.

Ði chơi ‘líp ba ga’ mà không sợ Tía má rầy la hay cho ăn cái chổi chà.

Tui nhớ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn năm ấy, 1970, nằm trên Ðại lộ Cộng Hòa vốn là ở ké đất của trường Trung học Petrus Ký do Giáo sư Nguyễn Chung Tú làm Khoa trưởng.

Trong sân trường có mấy cây điệp Tây. Cuối mùa Hạ, sơ thu, trường đã tựu, vẫn còn bông vàng lác đác. Nhớ đám sâu đo, nhỏ như sâu gạo, từ cành lá thả tơ, buông mình sâu xuống đất để nhát mấy em học SPCN.

(Anh bạn nhậu của tui, cưới vợ rồi chỉ ước mình được làm con sâu để vợ ảnh mới sợ mà thôi!)

***

Người dẫn chương trình là anh Trương Như Tuấn (nk 1973) đã bỏ nhiều công sức ra tổ chức Lễ Sinh Nhựt 10 năm cho nhóm Cựu Sinh viên ÐHKH Sài Gòn ở Melbourne, nên được anh em mình tấn phong là ông Cả, theo kiểu miền Nam, dẫu anh là dân Huế của mình ơi, vốn dòng Tôn Thất…

Cũng nhờ nhiệt tình của nhạc sĩ Lê Nguyên Trúc (nk 1968) và nhất là Nguyễn Chiếu (nk 1971), điệp viên không không thấy, vì ảnh vừa đeo kiếng đen vừa bận rộn chụp… hình kỷ niệm.

Cũng xin cám ơn quý chị đã trổ tài làm bếp! Toàn là những món ngon, vật lạ Nam, Trung, Bắc lẫn của người Việt gốc Hoa.

Từ bánh khọt, miến xào kiểu Singapore cho tới bánh củ cải Triều Châu…

Ngon quá! Mà tui khờ thôi hết biết, mãi lo tán dóc, quay qua quay lại hết sạch bon (chứng tỏ nó ngon) Hu hu!

Lần sau tui sẽ không dám khờ như vậy nữa!

***

Vô bàn, đặt mâm, ngồi kế bên người viết là Quách Vũ Uối, Hội trưởng TQLC Úc Châu,  một bạn hiền ‘tu’, cữ rượu, uống ít, nhưng ảnh nói còn cái vụ ‘kia’ thì từ từ sẽ cữ!

Quý anh mình xuất thân Cử nhân từ trường Ðại học Khoa học Sài Gòn vượt biên qua đây, định bằng lại rồi tiếp tục học lên Tiến sĩ, làm Giáo sư trường Ðại học Monash của Úc. Hãnh diện nhe!

Bằng hữu Lê Bình, chủ chợ Little Sài Gòn, nói: “Mừng cho mấy anh có bằng Ph. D; còn tui có bằng Ph. O!”

Hỏi cái bằng gì nghe lạ quá hè? “Ph.O là Phở …vì Bình qua đây chuyên bán Phở!”

Hèn chi giọng hát của Lê Bình rất ngọt ngào như nước lèo của phở tái nạm gầu bỏ thêm chút hành trần và có chan thêm nước béo.

Lê Bình mời: “Tui có chai Penfold 1993 đây; rót cho ông một ly!” Lại vô mánh! Luật sư nói là có tiền, còn mình nhà báo nói là có rượu.

Lê Bình là người chịu chơi, thích sưu tầm các loại nhạc khí, nhạc cụ và rất nhiều các loại đàn…từ đàn đá… tới cả…đàn…bà!

Rượu được vài tuần, Lê Bình chiếm đài phát thanh, cầm ‘mi-cà-rô’, hát bản Khúc Thụy Du, thơ Du Tử Lê, nhạc của Anh Bằng, để thương mến trao về anh Lê Trung Thụy, chủ nhà, đã có nhã ý cho anh chị em mình họp mặt đêm nay.

(Tuấn Ngọc mà nghe Lê Bình hát thì chỉ còn có nước ‘mộng du’ chớ không phải  ‘thụy du’ (Ngủ mà mớ… vẫn nhớ hoài chim bói cá.)

Tui e rằng anh Thụy, khoe được bà xã, chị Diệp Gò Công, tặng quà Sinh Nhựt là một vỉ viagra; nhưng lần nầy tui e bắp đùi của anh Thụy tối nay, sẽ bị bầm tím vì ‘Khúc Thụy Du’ cho mà coi!

Vì đây là bài hát khóc cho một mối tình tan vỡ với ai kia: ‘Em là chim bói cá’. He he!

Rồi tắt bớt đèn, trong cái mờ mờ ảo ảo, chương trình dạ vũ bắt đầu. Slow với lại Rumba cộng với ‘Lam ba da’. Ôi thiệt là: ‘Cha cha cha’!

Việt Nam, chồng hay ‘quánh’ vợ nên gọi là vũ phu. Qua đây, đất của Nữ Hoàng, vợ ‘quánh’ chồng gọi là ‘vũ nữ’. Khi hai vợ chồng ‘quánh’ nhau thì ta gọi là vũ ‘sexy’! Là ‘luân vũ’! Tức là em sẽ ‘nhảy’ với anh!

Ðêm vui nào cũng phải tàn. Thôi gặp nhau đây rồi chia tay!

Về tới nhà, mới bước vô là thấy em yêu của tui đang cầm cái chổi chà, núp sau cánh cửa.

“Em ơi! Anh đây mà!”  Nhém chút nữa, là Má tui hổng nhìn ra tui rồi! Hi hi!

Gươm lạc giữa rừng Hoa!

Biển, nước ngập mặn

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 09/08/2019 

Post by Sơn râu 22 Jul 2026

Ngày xưa em xuống ngồi đò
Qua con nước đục lờ, cò, vạc, nông
Lòng sâu cạn vệt mây hồng
Hào năm xu lận mấy đồng quá giang
Đầu để trần bọc áo mang
Quần rách lai mặc với gan tày trời
Bên cầu gãy nhịp ru hời
À ơi cầm chén cơm thời thảo thơm
Ba hột dằn bụng cũng hơn
Lỡ làm ma đói quên hờn tiễn đưa.

Nắng vàng mắt qua buổi trưa
Chiều tối bến lạ lau thưa lách buồn
Ảo não bóng tối như tuồng
Thời khắc xô động thuồng luồng lội ngang
Nào ai con dại cái mang
Ngược xuôi sau trước còn đang bẻ bàng
Đà Nẵng có bến Bạch Đằng
Tên kêu là vậy sóng dằn tích xưa

Bây giờ ngó biển chìm mưa
Thuyền ra hải phận đỏ vừa bể dâu
Tàu nước lạ đâm vào đâu
Mà máu em chảy vào sâu cửa mình
Nước sắp mất đất vẫn rình
Cờ kia có bữa thình lình thêm sao
Lu lon chuyện lớn là bao?
Xin soi bản mặt đục ao một lần

Em thấp bé phận thanh bần
Tụt quần ra đái giữa trần gian sôi
Nước mắt đổ mồ hôi thôi
Qua đầu ngọn cỏ cũng trôi đớn hèn

Sử xanh cổ mộ hoa chen
Tiền nhân nhắm mắt bao phen ngậm hờn
Bây chừ cót két tay đờn
Đứt dây tắt tiếng đã lờn tham ô.

Hồ Đình Nghiêm

Bá Hòa

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 22 Jul 2026

(Riêng tặng Bá Hòa NVX)

     Trên chiến trường, hầu hết các cấp chỉ huy đều có một danh hiệu truyền tin riêng. Hoặc tự chọn hoặc do phòng (ban) Truyền Tin cung cấp. Tất nhiên ai cũng muốn danh hiệu của mình phải có một ý nghĩa đặc biệt nào đó. Có vị thích lấy tên một danh tướng trong lịch sử dân tộc: Ngô Quyền, Quang Trung, Lê Lợi…Có vị lấy tên địa danh nơi mình sinh ra:  Nam Định, Ý Yên, Cần Thơ, Ninh Kiều, Nha Trang, Đồ Sơn, Đà Lạt… Có vị lấy tên một con sông hay một ngọn núi hùng vĩ: Bạch Đằng, Hồng Hà, Hạ Long, Sầm Sơn,Yên Tử… Cũng có vị lại thích tên một cô ca sĩ (dù không chắc đã ái mộ): Thanh Nga, Thanh Tuyền, Thanh Lan, Thanh Thúy, Phương Dung… Và cũng có vị chọn một danh hiệu, trong đó có cái tên thật (hoặc gần giống) trong khai sanh, như Nguyễn Đình Bảo: “Bảo Ngọc”, Bùi Quyền: “Tố Quyên”, Lê Minh Ngọc “Ngọc Nga”, Bùi Văn Lộc: “Đại Lộc”, Lê Văn Mễ: “Mê Linh”, Võ Mộng Thúy: “Thủy Tiên”, Trương Văn Út: “ Út Bạch Lan”…

     Riêng ông anh của bọn tôi, không biết vì sao lại chọn cái danh hiệu “Bá Hòa”. Nghe hiền khô, không oai phong và cũng chẳng văn nghệ chút nào. Vậy mà cái tên Bá Hòa này lại nằm mãi trong tâm khảm của đám bọn tôi, từ quan tới lính, và cũng từng gây khốn đốn, tai họa cho đám giặc “sinh Bắc tử Nam” của các Sư đoàn Điện Biên (còn gọi là Sư đoàn Thép), Sao Vàng, và các đơn vị khác thuộc Mặt Trận B-3 (Tây Nguyên) trong suốt một thời “Mùa Hè Đỏ Lửa”
 Đúng ra, theo lễ nghi quân cách, bọn tôi phải gọi “anh” là Chief, là Đại Bàng, Mặt Trời hay “bạch văn” hơn là Trung Tá, Trung Đoàn Trưởng, mới đúng. Nhưng dường như trong suốt thời gian hơn bảy năm anh ở đơn vị này, trừ khi đứng trước hàng quân, đám sĩ quan bọn tôi chỉ gọi anh bằng một tiếng “Anh” hay hai tiếng “Bá Hòa”!  Và ngược lại, anh gọi bọn tôi bằng tên, thằng nào thân tình lắm thì anh gọi bằng toa và xưng moa. Chỉ trừ có mấy anh xuất thân từ Trường Võ Bị thì gọi anh là Niên Trưởng! (Sau này tôi mới biết (và hơi ganh tỵ) là mấy anh Võ Bị đã giành độc quyền cái từ “Niên Trưởng” này, nghe vừa oai phong vừa đầy ắp ân tình, mà dường như không có trong cuốn tự điển nào)

     Anh luôn giữ tác phong nghiêm chỉnh nhưng xuề xòa vui vẻ. Tôi chưa hề thấy anh lớn tiếng la rầy hay khiển trách một sĩ quan nào. Khi vui anh cười (có khi hít cả mắt). Tình hình nghiêm trọng, anh trầm ngâm, tư lự và trong đầu đang vẽ ra rất nhanh những kế hoạch khả thi. Giận đàn em, anh nghiêm mặt một lúc rồi từ tốn tâm tình giải thích. Đặc biệt khi đụng trận, anh rất bình tĩnh, ngay cả những lúc đơn vị đang bị tấn công và căn cứ hỏa lực của BCH Trung Đoàn bị hàng ngàn quả pháo.  Những lúc này tiếng nói và danh hiệu Bá Hòa trên các hệ thống vô tuyến trở nên ấm áp, thân tình nhưng lại có sức mạnh, đanh thép, quyết liệt phi thường. Cường điệu một chút, có thể nói như là một phép mầu làm phấn chấn và yên lòng binh sĩ.

     Vậy mà bọn tôi sợ anh ra mặt. Và điều sợ nhất là làm cho anh… buồn!

     Trong trận chiến Tây Bắc Kontum vào đầu tháng 5 năm 1972.  Sau khi chiếm được Dakto, Tân Cảnh, gây thiệt hại nặng nề cho Sư Đoàn 22BB cùng với cái chết hào hùng của vị Tư Lệnh, Đại tá Lê Đức Đạt, “thừa thắng xông lên”, tướng CS Hoàng Minh Thảo tung cả trung đoàn tăng T-54 cùng bộ binh, đặc công của Sư Đoàn Thép 320 “hợp đồng chiến đấu”, tràn xuống, với ý đồ chiếm lấy Kontum. Không ngờ Trung Đoàn 44 của Sư Đoàn 23BB/VNCH vừa di chuyển từ vùng duyên hải lên Pleiku, được không vận khẩn cấp lên Kontum, trám vào tuyến phòng thủ Tây Bắc này chỉ sáu tiếng đồng hồ trước đó, đã chặn đứng và đánh tan một lực lượng địch đông đảo, bắn cháy hơn 10 chiến xa và bắt sống 2 chiếc tăng T-54 cùng với tên đại đội trưởng. Trên đường tháo chạy ngược về hướng Bắc, lực lượng bại trận và cả mấy đơn vị trừ bị của địch bị B-52 tiêu diệt. Tướng Hoàng Minh Thảo, Tư Lệnh Mặt Trận B-3 bị mất chức. Kontum và cả Tây Nguyên đứng vững cho tới ngày 14 tháng 3/1975, khi Quân Đoàn II phải thi hành cái lệnh “di tản chiến thuật” theoTỉnh Lộ 7B, tồi tệ, oan khiên.

     Trung Đoàn 44BB được tuyên dương trước quân đội, và được Bộ TTM tuyển chọn là đơn vị xuất sắc nhất của QLVNCH trong Mùa Hè 1972.

Chiến công lớn lao ấy tất nhiên thuộc về tất cả những người lính tham dự cuộc chiến. Nhưng trong thâm tâm mọi người, nhất là những sĩ quan trong đơn vị và đặc biệt là Tướng Lý Tòng Bá, Tư Lệnh chiến trường, đều nghĩ tới Bá Hòa. Dù khi ấy anh còn là Trung Đoàn Phó. Bởi tiếng nói và danh hiệu Bá Hòa suốt ngày đêm vang trên hệ thống vô tuyến, bình tĩnh điều quân và hướng dẫn phi pháo yểm trợ chính xác, tạo niềm tin và ý chí mãnh liệt cho tất cả các tiểu đoàn trực thuộc ở tuyến đầu, mả các tiểu đoàn trưởng đều là niên trưởng hoặc niên đệ của anh: Võ Anh Tài (Khóa16VB), Nguyễn Xuân Phán, Đặng Trung Đức (Khóa19VB) và Hồ Đắc Tùng (Khóa 20VB). Tất cả các anh cũng đã rất xứng đáng là những đứa con chung, cùng xuất thân từ ngôi trường Võ Bị.

     Mặc dù đây là lần đầu tiên trực chiến với chiến xa địch, nhưng không hề nao núng, mặc cho tiếng xích sắc rú gào đe dọa, anh Nguyễn Xuân Phán, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/44 đã rất bình tĩnh, vừa gọi Pháo Binh tác xạ ngăn chặn, phân tán lực lượng địch, vừa ra lệnh cho đơn vị chỉ khai hỏa khi những chiếc T-54 đến gần trước mặt, trong tầm bắn chính xác và hữu hiệu nhất của M-72, và cả B-40, B-41 (của địch do ta tịch thu được từ trước). Đại úy Nguyễn Xuân Hướng, Tiểu Đoàn Phó của anh Phán là người khai hỏa và bắn cháy chiếc T-54 đầu tiên của địch. Cả đơn vị càng lên tinh thần, bắn cháy tiếp trên 10 chiến xa khác. Một chiếc T-54 chỉ huy với lá cờ đỏ sao vàng treo trên cần anten, quá hốt hoảng, đâm xuống giao thông hào, bên cạnh bộ chỉ huy tiểu đoàn, Cả xe và tên thượng úy đại đội trưởng bị bắt sống. Tiếng cười của Bá Hòa lại vang trên máy, như một khích lệ đặc biệt làm nức lòng những đàn em tham chiến.

     Được thăng cấp đặc cách tại mặt trận, anh rất xứng đáng, và đã chính thức trở thành một trong những trung đoàn trưởng xuất sắc của QLVNCH. Cũng phải công tâm mà nói, anh rất đặc biệt chí tình với các huynh đệ Võ Bị của anh, nhưng không hề làm buồn lòng các sĩ quan xuất thânThủ Đức, Đồng Đế, hay Đại Học CTCT. Chúng tôi rất hiểu và tôn trọng anh về cung cách xử sự này. Bởi đó là truyền thống tốt đẹp của trường Võ Bị. Hơn nữa khi còn là những SVSQ, các anh đã sống với nhau một thời gian khá dài, ngoài sự hướng dẫn, huấn nhục, giúp đỡ, tất cả đã từng xem nhau còn hơn cả tình huynh đệ.

     Một sự kiện nhỏ, nhưng làm tôi khó quên. Đầu năm 1970, khi anh còn làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2. Được mời lên gặp Trung tá Điều Ngọc Chánh,Trung Đoàn Trưởng, cũng là niên trưởng ( Khóa 8VB) của anh, để hỏi ý kiến đề cử anh vào chức vụ Trung Đoàn Phó, thay thế cho một vị trung tá (nguyên CHT /ANQĐ/ QĐ IV&QK4 bị phạt ra khỏi ngành, thuyên chuyên về  đơn vị mới hơn hai tuần lễ) bị Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh QĐ II cách chức tại mặt trận,  trong khi chỉ huy Chiến Đoàn gồm hai tiểu đoàn cơ hữu, hành quân tiếp ứng cho một tiểu đoàn Dù bị thiệt hại khá nặng tại Căn Cứ 6 – Kontum.

     Trung tá Chánh cho biết, theo khẩu lệnh của Tướng Ngô Dzu, Trung Đoàn phải tìm gấp một sĩ quan cơ hữu có khả năng để thay thế chức vụ trung đoàn phó, nếu không, ông sẽ chỉ định một trung tá tại TTHQ/QĐ xuống đảm nhiệm chức vụ này, Trung tá Chánh nhìn sang anh, hỏi:

     -Tôi và các sĩ quan trong BCH/Trung Đoàn đều thấy anh là người xứng đáng nhất trong chức vụ này. Anh nghĩ thế nào?

      Rất bất ngờ, chúng tôi nghe anh từ chối:

     -Cám ơn Trung Tá, nhưng tôi khó nghĩ quá, khi có niên trưởng Võ Anh Tài, Khóa 16, đang là Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 4. Tôi dù gì cũng là đàn em, e khó xử sự với anh ấy.

      Trung tá Chánh và cả anh em bọn tôi phải tìm mọi cách giải thích (Cho dù lúc đó anh đang mang cấp bậc thiếu tá thực thụ, còn anh Tài là đại úy). Đặc biệt tất cả anh em cũng đều tha thiết được có anh, thay vì một sĩ quan lạ đến nhận chức vụ này. Cuối cùng anh mới chịu nhận. Và sau này anh Võ Anh Tài rất nể phục người niên đệ Khóa 17 đang là cấp chỉ huy trực tiếp của mình. Tháng 6/1972, Thiếu tá Võ Anh Tài bị thương nặng , mất cả hai chân (20 phút sau đó đã hy sinh) trong lúc chỉ huy tiểu đoàn tái chiếm Bệnh Viên 2 Dã Chiến (Kontum) bị Cộng quân xâm nhập . Lần đầu tiên tôi thấy Bá Hòa giấu những giot nước mắt khi tiễn đưa niên trưởng của mình lên trực thăng tản thương, và biết chắc là sẽ không thể nào sống được.

      Vào năm 1969, một chuyện bất ngờ không vui đã xảy ra cho một sĩ quan đại đội trưởng ưu tú. Anh tốt nghiệp Khóa 20 VB và là người từng được thăng cấp đặc cách trung úy (nhiệm chức) sớm nhất. Đại đội của anh hành quân biệt lập tại Quận Thiên Giáo, một quận mất an ninh nhất của Tỉnh Bình Thuận. Nhận tin từ một niên trưởng ở Phòng Tổng Quản Trị  SĐ cho biết, anh đã có nghị định thăng cấp đại úy. Thấy đại đội hành quân biệt lập ở một địa điểm xa và tương đối mất an ninh, nghĩ rằng sẽ không có cấp chỉ huy nào tới để gắn lon, nên anh đã tự động mang lon đại úy và khao lon trước đại đội . Ngày hôm sau, Chuẩn tướng Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Đoàn từ Ban Mê Thuột bay xuống thăm đại đội anh, mang theo vị sĩ quan Phòng TQT/ SĐ cùng nghị định thăng cấp và cặp lon đại úy mới toanh dành gắn cho anh. Khi trực thăng vừa đáp xuống, Tướng Ân nhìn thấy anh đại đội trưởng đứng nghiêm đón chào cùng với một tiểu đội an ninh danh dự, trên cổ áo đã có lon đại úy. Ông ra lệnh cho giải tán trở về đại đội, rồi im lặng không nói thêm một lời nào, lên trực thăng cất cánh. Đáp xuống bản doanh BCH Trung Đoàn tại trại Lý Thường Kiệt – Sông Mao, Tướng Ân ra lệnh cho Trung Đoàn Trưởng tìm một sĩ quan thay thế anh đại đội trưởng này ngay, đồng thời đưa anh ra tiểu đoàn khác làm đại đội phó, kèm theo một lệnh phạt rất nặng: 30 ngày trọng cấm và “giam” lon đại úy trong hai năm! (Tướng Trương Quang Ân nổi tiếng là một vị tư lệnh tài ba, liêm khiết, nhưng rất mực nghiêm khắc. Ông rất coi trọng cấp bậc của quân đội. Sĩ quan thuộc cấp, làm việc dưới quyền ông, thường bị phạt nhiều hơn là được khen thưởng. Và khi đề nghị thăng cấp một sĩ quan, ông rất cân nhắc, thận trọng).

     Bá Hòa thấy tội nghiệp cho niên đệ của mình. Đúng là một tai nạn (Giống như trường hợp của anh, khi mãn khóa từ Trường CHTM, nhận lệnh bổ nhiệm về Sư Đoàn để bổ sung cấp tiểu đoàn trưởng, cũng bị tai nạn tương tự, khi dám thẳng thắn bày tỏ ý kiến trước một lời nói của vị Tư Lệnh mà anh cho là ít nhiều xúc phạm đến liêm sĩ của một sĩ quan, nên bị Tướng Ân ghi vào “sổ đen” và cho đi làm tiểu đoàn phó). Anh yêu thương và thông cảm đàn em, nên mặc dù cũng mới về đơn vị và đang tạm thời ở BCH Trung Đoàn, chưa được nhận chức vụ gì, nhưng khi biết tin này, anh vội vàng lên gặp Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, Trung Đoàn Trưởng,  xin ông trình bày riêng với Tướng Ân để thông cảm mà rút lại lệnh phạt, bởi vì anh trung úy này là đại đội trưởng xuất sắc, một gương sáng cho đơn vị, chỉ vì tưởng là không có cấp chỉ huy nào tới vùng hành quân xa xôi và bất an để gắn lon sau khi đã có quyết định thăng cấp, nên vô tình đã thất lễ và làm phật lòng Tư Lệnh. Nhưng lệnh phạt đã ban ra và gởi về BTTM, không thay đổi được. Hơn nữa với Tướng Ân, không có trường hợp thay đổi quyết định bao giờ.  Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh trước khi về Sư Đoàn đã có một thời gian phục vụ tại Trường Võ Bị QGVN, là Trưởng Khoa Chiến Thuật cho Khóa 17 của Bá Hòa và sau đó là Liên Đoàn Trưởng SVSQ cho Khóa 20 của anh trung úy gặp “nạn”. Cuối cùng,  anh trung úy được sắp xếp làm phụ tá Ban 3 cho một Trưởng Ban niên trưởng (Khóa 19VB), thay vì ra làm đại đội phó. Một thời gian sau, anh được thuyên chuyển về Trưòng VBQGVN, với một lời phê rất tốt của vị Trung Đoàn Trưởng trong đơn xin cũng như trong hồ sơ quân bạ.

       Bá Hòa đã làm hết khả năng của một cấp chỉ huy và tròn thiên chức của một niên trưởng đối với một người đàn em Võ Bị.

     Tháng 10/1971, Đại úy Phạm Văn Thái (Khóa 20VB), từ Phòng 3 Sư Đoàn được bổ nhậm vể Trung Đoàn để giữ chức vụ Trưởng Ban 3, thay thế Đại úy Đặng Trung Đức (Khóa 19VB) ra nắm Tiểu Đoàn 1, khi người đàn anh tiền nhiệm , Thiếu Tá Nguyễn Long Điệp (Khóa 18VB) được lệnh thuyên chuyển về BTL Cảnh Sát Quốc Gia. Đại úy Thái nhận chức vụ Trưởng Ban 3 Trung Đoàn chưa đầy hai tuần lễ, thì Trung Đoàn có một vị trung đoàn trưởng mới cũng từ BTL/ SĐ chuyển đến. Đại úy Thái trông rất hiền lành, cần mẫn, nhưng không biết thời gian làm việc ở BTL Sư Đoàn, anh có điều gì phạm thượng hay làm buồn lòng vị tân trung đoàn trưởng hay không, mà ngay sau khi nhận nhiệm vụ,  ông liền cách chức Đại úy Thái và dự trù đưa ra làm đại đội trưởng. (Người viết bài này “bị” chỉ định kiêm nhiệm chức vụ Trưởng Ban 3 thay thế anh Thái, đúng lúc toàn bộ Trung Đoàn nhận lệnh di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế cho một Lữ Đoàn thuộc Sư Đoàn I Không Kỵ Hòa Kỳ rút quân về nước và cùng với Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh thành lập Chiến Đoàn 44, hành quân giải tỏa các căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn dọc theo QL-19 bị Cộng quân vây hảm, và khai thông quốc lộ này để Pleiku, Kontum có thể nhận được tiếp tế từ BCH 2/TV  và các căn cứ yểm trợ tại Qui Nhơn).  Lúc này Bá Hòa đã có mặt trước ở An Khê. Trên đường di chuyển, tôi theo “năn nỉ” ông Trung Đoàn Trưởng để cho Đại úy Thái được trở lại chức vụ mà anh đã được bổ nhiệm, hoặc nếu phải ra tiểu đoàn thì cho anh giữ chức vụ tiểu đoàn phó cho anh Đức, niên trưởng của anh. Nhưng vị Trung Đoàn Trưởng quyết liệt từ chối. Đến An Khê, tôi lại phải cầu cứu đến Bá Hòa. Với uy tín và lòng đùm bọc, yêu thương em út Võ Bị, anh đã tận tình can thiệp với Trung Đoàn Trưởng. Cuối cùng, anh Thái được cấp sự vụ lệnh hoàn trả về Phòng 3 Sư Đoàn, Sau này anh được bổ nhiệm về Trung Đoàn 45 giữ chức vụ tiểu đoàn phó và mấy tháng sau lên làm tiểu đoàn trưởng. Thiếu Tá Phạm Văn Thái đã tự sát tại Phan Rang vào đầu tháng 4/75, trước khi thành phố này lọt vào tay giặc

        Cuối tháng 9- 1972, sau một thời gian điều trị vết thương tại QYV Đoàn Mạnh Hoạch – Phan Thiết, Bá Hòa về trình diện BTL/Sư Đoàn, được Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm chỉ định anh ở lại BTL đảm nhiệm chức vụ Trưởng Phòng 3/SĐ.

       Tháng 5-1973, khi cùng tiểu đoàn tái chiếm và đang sửa sang lại hệ thống phòng thủ tại căn cứ Ngô Trang phía Bắc Kontum, Thiếu Tá Đặng Trung Đức (Khóa 19/VB)  Tiểu Đoàn Trưởng 1/44 bị tử thương bởi pháo địch. Tình hình rất phức tạp. Địch có mặt chung quanh và rất nhiều súng phòng không. Trực thăng tải thương cố gắng rất nhiều lần nhưng không thể đáp xuống để bốc thi thể của cố Trung Tá Đức. Bá Hòa quá đau lòng vì mất một tiểu đoàn trưởng xuất sắc đã cùng anh bao lần vào sinh ra tử và thương tiếc cho một niên đệ Võ Bị. Anh trình Tướng Tư Lệnh , xin điều động chi đoàn chiến xa và một tiểu đoàn trừ bị cùng đại đội Trinh Sát, bằng mọi cách vào lấy xác cố Trung Tá Đức. Anh rất đỗi vui mừng khi việc lấy xác thành công,  nhưng sau đó ( và cho đến bây giờ) mỗi lần tâm tình với tôi, vì biết tôi là người bạn thân tình của anh Đức, Bá Hòa  đều nhắc tới anh và đau buồn về cái chết của niên đệ tiểu đoàn trưởng tài ba này.

      Trong suốt cuộc hành quân tại Kontum, Bá Hòa luôn dùng hai Tiểu Đoàn 1 và 2/44 làm nổ lực chính và thi hành những trách nhiệm cam go nguy hiểm nhất. Vì anh tin tưởng vào hai tiểu đoàn trưởng niên đệ (Khóa 19) mà anh đã xem như anh em ruột thịt, từ khi tất cả còn là những SVSQ Võ Bị.

      Anh đặc biệt yêu thương và nâng đỡ các niên đệ Võ Bị , nhưng cũng rất công bình khi khen thưởng, bổ nhiệm chức vụ cho các sĩ quan có khả năng dù tốt nghiệp bất cứ quân trường nào.  Đầu năm 1974, anh đã bổ nhiệm hai sĩ quan rất trẻ, tốt nghiệp Thủ Đức, ít thâm niên nhưng có khả năng vào các chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng các Tiểu Đoàn 2 và 3/44: Đại úy Nguyễn Văn Pho (Khóa 25 Thủ Đức) là một đại đội trưởng giỏi của anh lúc anh còn nắm Tiểu Đoàn 2, và Đại úy Phan Công Minh (Khóa 27 TĐ), nguyên là đại đội trưởng Trinh Sát Trung Đoàn.  Sau này, Phan Công Minh bị trọng thương được anh đưa về BCH làm việc với anh tới giờ chót và Nguyễn Văn Pho đã tự sát trên đường di tản từ Tỉnh Lộ7-B

      Ngày 14/3/1975, ngay sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, Trung Đoàn được lệnh trực thăng vận xuống Phước An, quận lỵ duy nhất còn lại của tỉnh Darlac, nằm trên QL 21, cách Ban Mê Thuột khoảng 30 cây số về hướng Dục Mỹ. Khi anh cùng Tiểu Đoàn 3/44 và Đại Đội 44 Trinh Sát vừa nhảy xuống Phước An, cũng là thời điểm Pleiku và cả Quân Đoàn II có lệnh di tản. Hai tiều đoàn còn lại tại phi trường Hàm Rồng, phải di tản cùng đoàn quân trên Tỉnh Lộ 7B. Tất cả tan hàng. Hai anh tiểu đoàn trưởng đã tự sát không để lọt vào tay giặc.

      Ngày hôm sau, đại quân Cộng sản với từng đoàn chiến xa T-54 tràn xuống Phước An. Chuẩn tướng Tư Lệnh Lê Trung Tường bị thương  khi chiếc CNC của ông bị bắn, phải vào QYV. Đại tá Lê Hữu Đức thuộc BTL Quân Khu 2 (bản doanh tại Nha Trang) được chỉ định tạm thời thay thế. Vị tân Tư Lệnh dự định đáp xuống đỉnh đồi Chư Cúc để gặp và bàn thảo kế hoạch cùng hai vị Trung Đoàn Trưởng 44 và 45. Khi trực thăng chỉ huy của ông đang trên đường bay tới cũng là lúc nhiều xe tăng và bộ binh địch tràn lên đỉnh đồi, nơi được phòng thủ chỉ bằng một đại đội ĐPQ. Hơn suốt 12 năm chiến trận, với nhiều kinh nghiệm chiến trường đã tạo nên bao chiến tích lẫy lừng, người chỉ huy tài ba này chỉ còn khả năng duy nhất, cùng vị sĩ quan hành quân của mình vượt thoát hiểm nguy trong gang tấc. Vừa chạy xuống đồi, anh nghe tiếng anh Đại Đội Trưởng Trinh Sát: “báo cáo Bá Hòa, bọn tôi nướng được hai con cua sắt”. Một chút vui vừa lóe lên bỗng dưng anh thấy lòng thắt lại khi tiếng đại bác 100 ly và đại liên trên các xe tăng địch làm rung chuyển cả một khu rừng. Anh mất liên lạc với các “đứa con” của mình.

      Danh hiệu Bá Hòa trên hệ thống vô tuyến lúc bấy giở chỉ còn là âm vang đau đớn, tức tưởi như tiếng của một con đại bàng thương tích đang tha thiết gọi đàn. Nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi trong lòng những người đã cùng anh vào sinh ra tử, từng một thời sống chết bên nhau

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 22 Jup 2026

Kính tặng các bạn tù H.O.

Hồi mới sang Mỹ có lúc tôi làm nghề tống thơ văn, là người đưa thư, giao hồ sơ, giấy tờ từ chỗ này sang chỗ khác, Mỹ gọi nghề này là “courier”, một trong những nghề hạng bét, lương thấp (cỡ $5.25 thời điểm 1992+ thêm mấy xu cho một mile), vất vả (mỗi ngày chạy trung bình 150 miles). Job này chỉ có part time, vì không ai có thể chịu nổi lái xe liên tục mỗi ngày tám tiếng, không có chiếc xe bền bỉ với thời gian và đoạn đường dài như thế. Chỉ có dân cùng đường mới nhận công việc này. Tôi là thứ “courier” nhà băng, nghĩa là phải chạy sớm giao giấy tờ từ nhà băng này sang nhà băng kia, để nhân viên có thể sắp xếp, sẵn sàng mở cửa lúc 9 hay 10 giờ sáng. Nhà ở Westminster, tôi phải dậy lúc 4 giờ sáng, lên nhận bao bì để bắt đầu “round” của tôi xuất phát từ hãng chính đặt trụ sở tại đường Mac Arthur, Irvine, lúc 5:00 giờ sáng. Trong vòng bốn tiếng rưỡi đồng hồ, tôi phải xử dụng hầu hết xa lộ trong Quận Cam và Los, ghé tám thành phố Orange, Montebello, Commerce, Whittier, Los Angeles, La Habra, Yorba Linda và Garden Grove,về lại Irvine lúc 9:30 sáng.

Về mùa đông, lúc năm giờ sáng thời tiết rất lạnh và ngoài trời hãy còn tối lắm. Khổ nhất là những khoảng đường sương mù trong buổi sớm mà tôi thường gặp nhất là trên đoạn đường 405 South gần phi trường John Wayne, nó chỉ kéo dài khoảng ba miles nhưng phải đi mất gần nửa giờ đồng hồ. Sương mù lúc ấy dầy đặc đến nỗi chúng ta không thấy gì trong khoảng mười thước trước mặt. Nếu đứng lại là chấp nhận xe đằng sau sẽ húc vào mình, mà lái đi thì không khác gì bịt mắt quờ quạng trong bóng tối. Trường hợp ấy, gần như phải lái chậm, mắt mở to căng thẳng nhìn kỹ xuống mặt đường kẻo xe lấn qua lane khác hay thúc vào đít xe trước. Trên xa lộ cũng không thể nào tấp vào lề để chờ sương tan hay lái vào exit để mong một chỗ sáng sủa hơn, sương mù y như rừng rậm không có lối ra hay biển mênh mông không thấy bến bờ.

Ôi! Cuộc đời của tôi hay của những người bạn thiếu may mắn đã có bao nhiêu lần phải gặp những khoảng sương mù như thế? Hồi mới làm người tị nạn sang Mỹ, hết trợ cấp, việc làm khó kiếm, nhất là đối với những tên già không già mà trẻ không trẻ, thầy lỡ thầy mà thợ lỡ thợ như tôi, lấy đâu ra một công việc vài ba đồng mà lo nhà, lo xe, lo cơm, lo áo. Nếu nằm nhà thì chẳng khác gì cái xe đứng lại trên xa lộ trong trời sương mù, đành phải chạy chầm chậm và mong mỏi cái thời sương mù ấy sớm chấm dứt. Trong cái khoảng sương mù ấy, tôi đã phải bỏ Cali ra đi về miền Đông giá lạnh để tìm một việc làm đắp đổi, chờ lúc trời quang, mây tạnh mới trở về đây. Trừ những người tốt số, đời của mỗi người có lẽ đều có một khoảng sương mù như thế. Thời gian tù tội, thất nghiệp, phá sản, ly dị, trầm uất … Những người lính giữ nước cũng không mong cuộc đời sáng sủa, trôi chảy, cái khoảng sương mù là quãng đời trong trại tập trung sau khi tan hàng, buông súng. Đôi khi, lòng chúng ta nhen nhúm lên một ngọn lửa hy vọng rằng “có lẽ ta đâu mãi thế này, để rồi cuối cùng cũng ra khỏi cái khoảng sương mù đó để bước tới một vùng quang đãng nắng ấm. Trong những khoảng sương mù, ráng giữ cho lòng kiên nhẫn, bình tĩnh, tự tin và giữ con đường đi thẳng. Trong tình thế này, chúng ta không bao giờ có thể quay trở lại con đường cũ hay vùng bỏ chạy ra khỏi con đường chúng ta đang phải đi. Muốn ra khỏi những khoảng sương mù, chúng ta chỉ còn một lối đi tới và phải luôn luôn giữ con đường thẳng, dù có hết sức nóng lòng, chúng ta cũng không thể đi hay chạy nhanh lên. Hồi mà những đợt đồng bào tỵ nạn mới sang đây, không làm sao tránh khỏi những khó khăn gặp phải thuở ban đầu, có người đưa ra hình ảnh một chuyến xe đò ngày xưa mà chúng ta thường gặp ở quê nhà. Đó là những chuyến xe không đủ chỗ ngồi cho tất cả mọi người, có người phải đứng, có người phải đu sau bậc cửa lên xuống, lớp trong lớp ngoài. Nhưng chuyến xe chạy qua một vài đoạn đường dài, có kẻ lên người xuống, chúng ta thoạt đầu phải đu ngoài cửa xe, nhưng cuối cùng ai cũng có được một chỗ ngồi trong xe, và chúng ta cũng có một chỗ ngồi như thế. Hồi mới sang đây, chúng ta đầy lòng lo sợ, không biết rồi mai đây, xứ lạ quê người, sống làm sao đây. Cha mẹ thì không còn trẻ, con cái chưa lớn lên, tất cả đều tạm bợ, chưa có gì ổn định cho cuộc sống. Bây giờ sau bao nhiêu năm, như qua cái khoảng sương mù ấy, như qua cái đoạn đường mà chúng ta phải đeo bên cửa chiếc xe đò ấy, chúng ta thấy gì? Có người trở thành giàu có, thành công trên đất Mỹ vì chúng ta cũng biết rằng đây là “đất cơ hội”, có gia đình con cái chiếm những học vị cao, hãnh diện đi vào dòng chính của nước Mỹ. Nếu chúng ta đã không giàu có, con cái chúng ta cũng chỉ đỗ đạt làng nhàng, có công việc làm vừa phải, thì chúng ta giờ đây cũng chẳng có gì phải lo lắng cho cuộc sống hôm nay. Đó là cuộc sống ổn định trên xứ người. Đó là chúng ta đã đi qua những khoảng sương mù ấy, như ngày trước trong câu chuyện tôi kể hầu các bạn ở trên, tôi đã dọ dẫm, lần mò đi trong đám sương mù dày đặc ấy để tôi cũng như các bạn, chúng ta đã có thể tiếp tục chạy trên xa lộ sáng hôm nay với một tốc độ khá cao, mà không còn phải lo sợ, buồn phiền gì nữa.

Mưa đêm biên trấn

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 21 Jul 2026

Pleiku đêm lạnh mưa biên trấn

Cà phê quán nhỏ chẳng muốn về

Đường phố buồn hơn ngoài nghĩa địa

Chỉ thấy mưa rơi chẳng thấy người

Mưa đêm quán nhỏ hai thằng lính

Thả hồn đi lang thang ngoài mưa

Không biết bây giờ là tháng mấy

Mà thị trấn buồn hơn ngày xưa

Nhớ hôm gặp lại thằng bạn cũ

Bên vợ con đi dạo phố chiều

Chân bước gập ghềnh trên nạng gỗ

Mất một chân nên nó buồn thiu

Dùa sao cũng vẫn còn may mắn

Chẳng phải ra nghĩa địa nằm chơi

Để rồi mỗi năm mang giày giấy

Về thăm mẹ mà nước mắt rơi

Pleiku mưa lạnh đêm biên trấn

Ly cà phê cạn trời còn mưa

Nghe Sĩ Phú ca bài Phố Núi

Giọng ca buồn như phố mù sương

Ta ước ngày sau hòa bình lại

Chọn nơi này làm chổ dung thân

Tìm cưới một người em phố núi

Sống yên lành cho hết trăm năm

Chỉ sợ ngày về như thằng bạn

Nạng gỗ lê đi giữa chợ đời

Hay như có thằng bị vợ bỏ

Theo người lành lặn thế là xong

Pleiku mưa lạnh đêm biên trấn

Nhìn đâu trời đất cũng lạnh lùng

Ai biết trong lòng thằng lính trận

Thèm một bàn tay để ấm lòng

Ai hay trong lòng thằng lính trận

Thèm một con gái đến xao lòng

Bức tường than khóc

Đoàn Xuân Thu

Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên Quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh vào ngày mùng Một, tháng Mười, năm 1949, cách đây 70 năm.
Một cặp vợ chồng nông dân Tàu rất lấy làm phấn khích, bèn đặt tên con là ‘Ma Jianguo’ (nghĩa là xây dựng đất nước) để hy vọng hão huyền về một kỷ nguyên mới.
Quan chức đặt tên cho nó lên gân; còn dân ngu khu đen bắt chước theo chi hè? Bắt chước theo là ngu vì họ đâu biết rằng: Niềm vui đã nằm trong thiên tai. Ngày tưởng vui đó lại là ngày khởi đầu một thời kỳ hỗn mang nhất trong lịch sử Trung Quốc thời hiện đại.
Những em bé ngây thơ ngày ấy, sanh năm 1949, tuổi Sửu, con Trâu, đâu biết rằng Mao Trạch Đông, ‘giả’ bắt mình cày thấy ‘mẹ’; rồi tàn nhẫn hơn là mần thịt luôn cả con trâu để làm thịt trâu nhúng mẻ nhậu với rượu Mao đài trong Tử Cấm Thành, ‘xỉn’ rồi ngủ, để mơ về một ‘Trung Hoa vĩ đại’!
Nhưng tiếc thay, vì bị tẩy não nên cho tới bây giờ có một chú Ba làm ruộng vẫn còn ngáo (đá) nói: “Thời Mao Trạch Đông là một kỷ nguyên tuyệt vời! Mặc dù cuộc sống sau này của Mao đã gây ra một số hỗn loạn cho Trung Quốc, nhưng đóng góp của ông ta là không thể phủ nhận được (?)”.
Chú Ba nầy cho điểm Mao là: ‘Công 7; tội 3’. Trừ đi là còn 4 điểm trên 10! Vậy là dưới trung bình rồi nị ơi mà cứ theo ‘bợ đít’ thằng chả hoài hè?
Có một chú Ba được Cộng sản Tàu xếp loại là trí thức tiểu tư sản, vì biết đọc tiếng Tàu, nói rằng: “Khi nghĩ về Mao, tui chỉ nghĩ đến nạn đói lớn và sự hỗn loạn của Cách mạng Văn hóa!”

***

Đất nước Trung Quốc, tiếp tục cái xấu xa của thời phong kiến, bọn tranh bá đồ vương đã đánh nhau, tranh giành quyền bính suốt hơn 20 năm, bắt đầu từ cuộc nội chiến giữa phe Dân tộc và phe Cộng sản từ năm 1927 và sau đó, năm 1937, với Phát xít Nhật.
Để dụ khị dân chúng theo mình, Mao thề hứa về hòa bình và ổn định và người dân Trung Quốc, kể cả Stalin của Liên Xô, ngây thơ tin theo, giúp Mao cướp được chánh quyền.
Đám tư bản đế quốc phương Tây gọi cái ngày nầy là: ‘Red dawn’ (Bình minh đỏ)
Bình minh là khởi đầu một ngày mới. Đỏ là màu ưa thích của Cộng sản trước cả màu vàng. Nên không lấy làm gì ngạc nhiên khi CS chọn quốc kỳ là màu đỏ và màu vàng. Màu vàng là màu da; còn màu đỏ là máu của nhân dân.
Quả vậy, từ khi Mao tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa vào năm 1949, người dân Trung Quốc đã đổ máu còn nhiều hơn lúc đánh nhau với quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch hoặc quân phiệt Nhựt.

***

Khi Đảng Cộng sản tiến hành cải cách ruộng đất ước tính khoảng 2 triệu ‘địa chủ’ đã bị xử tử trên cả nước. Đất của họ bị cướp để dem chia cho bần nông để ‘dụ khị’.
Được chia đất, dĩ nhiên đám bần nông khoái chỉ tử; nhưng có biết đâu chỉ cuối năm 1950, Mao bắt đầu đổi ngược hoàn toàn, tước bỏ quyền tư hữu về ruộng đất mới ban phát cho bần nông, bằng cách lập ra các Nông trường tập thể khổng lồ.
Năm 1957, huyênh hoang đòi vượt mặt đàn anh CS Liên Xô, Mao tuyên bố là: “Sau 15 năm, chúng tôi có thể bắt kịp rồi vượt qua Vương quốc Anh”.
Thì Khrushchev cười hè hè phán, nghe rất đểu: “Chủ nghĩa CS mà đồng chí định đi trước Liên Xô là: Chủ nghĩa CS mặc quần đùi và ăn cháo trắng!”
Đúng như Khrushchev nói! Đó là một chánh sách kinh tế hoang tưởng vì mức sản xuất lúa gạo, lúa mì sụt giảm nghiêm trọng dến nỗi không có cơm mà ăn; không có hủ tiếu mì vừa ăn vừa húp nước lèo như ngày xưa nữa!
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành chiến dịch ‘the Great Leap Forward’ (Đại Nhẩy Vọt) năm 1958. Nhảy vọt nhưng bị lọi giò, đẩy nước Tàu vào một trong những nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử nhân loại!
Chỉ trong vòng 4 năm, từ năm 1958 đến năm 1962, có ít nhứt 45 triệu người đã bị chết vì đói; bị giết vì chống đối.
Sau nầy đàn em trung tín của Mao là Polpot, chỉ trong vòng có 3 năm (1976-1979) dã giết 2 triệu người, bằng ¼ dân số Kampuchia lúc đó.
Xét về số người thì Mao giết gấp 20 lần Polpot. Nhưng xét về tỉ lệ phần trăm dân số thì tên đồ tể Polpot ăn đứt sư phụ của mình. ‘Killing field’ (Cánh đồng giết người) nhỏ máu đầy trong từ điển thế giới.
So với Gulags (trại Cải tạo của Liên Xô) và Holocaust (của Đức quốc xã), Cải cách ruộng đất của Trung Cộng số nạn nhân bị giết chết là nhiều nhứt trong lịch sử nhân loại, chỉ thua số người chết trong Thế chiến thứ hai là 55 triệu người.
Dân Tàu phải ăn rau dại, lá cây, rể cây, ngay cả ăn cỏ như bò để được sinh tồn.
Ngay cả những gia đình vốn có của ăn của để cũng không tránh khỏi. Ngay tại trung tâm thủ đô Bắc Kinh, nhiều gia đình sống thoải mái trước đây; giờ sống sót nhờ bã đậu, thường được cho heo ăn, thì nói chi nói chi đến thịt. Còn quần áo của mình ngày càng trở nên rách rưới.
Chính phủ Trung Cộng nói với người dân rằng: “Nạn đói là do phải chi trả các khoản nợ cho Liên Xô, và cũng bởi thiên tai. Nên có thơ rằng: “Mất mùa bởi tại thiên tai. Được Mùa là bởi thiên tài đảng ta”. Chớ hổng tại Đảng ngu gì hết ráo nhe!
Dân Tàu lại tiếp tục ngây thơ tin, chấp nhận sống trong cảnh bần cùng để vượt qua khó khăn này của đất nước chúng ta với sự lãnh đạo tài tình của Chủ tịch Mao Trạch Đông?!
(Cái nầy tui hơi nghi nghi nghe. Hổng tin cũng hổng được; hổng chấp nhận thì nó cho vô hộp biết ngày nào ra. Tới chết mới được ra, để vợ con đem về chôn cất như Nobel Hòa Bình Lưu Hiểu Ba (1955-2017) chẳng hạn!)

***

Cuối cùng, chiến dịch điên khùng đầy hoang tưởng ‘Đại Nhảy Vọt’ lọt tuốt và chìm sâu trong nạn đói kinh hoàng làm thiên hạ đại loạn. Cái ghế lãnh tụ của Mao bị lung lay dữ dội.
Bằng mọi cách để bám lấy quyền lực độc tôn, Mao bèn phát động cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’ mà phương Tây gọi là: “the Cultural Revolution’ vào năm 1966.
Hồng vệ binh hoặc vệ binh đỏ là bọn học sinh, sinh viên đại học giơ cao cuốn ‘Mao tuyển’ của Mao Trạch Đông, trong đó giao nhiệm vụ chung chung là tiêu diệt bất cứ văn hóa gì thuộc vào thời trước khi Cộng sản chiếm chánh quyền. (Như chánh sách đốt sách, chôn học trò của Tần Thủy Hoàng từ ngàn năm trước!)
Cái thâm ý của Mao phát động cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’ nầy thực ra để tiêu diệt những kẻ lăm le dòm ngó cái ngôi Hoàng đế của mình như đồng chí Lưu Thiếu Kỳ và Lâm Bưu chẳng hạn. Chỉ cần dán lên trán bè lũ nầy ba chữ ‘phản cách mạng’ thế là xong, bọn chúng sẽ đi tong, gọn bân hè!

***

Mao đi chầu ông bà ông vải vào năm 1976. Cái chết của Mao lôi theo cái chết của cuộc ‘Cách mạng Văn hóa’.
Mấy đứa còn sống lại tiếp tục dùng mọi thủ đoạn để tranh giành quyền bính. Cuối cùng Đặng Tiểu Bình, sau khi bị bầm dập trong cuộc ‘Cách mạng Văn Hóa’ chòi đạp, ngoi được lên. Xong qua Huê Kỳ, đội nón cao bồi, cỡi ngựa đi chăn bò, lạy lục con cọp giấy đế quốc Mỹ để dẫn dắt cả dân tộc Trung Hoa đi làm mướn cho bọn tư bản Huê Kỳ đang giãy chết.

***

Thứ Ba, ngày mùng Một, tháng Mười, năm 2019, là 70 năm ngày sinh của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Cộng sản! 56 khẩu đại bác, tượng trưng cho 56 sắc dân Trung Quốc, khạt ra đằng mồm 70 tiếng ‘ùng oàng’ để ‘nhát’ thiên hạ.
Rồi 15 ngàn Giải phóng quân Trung quốc, như người máy, đạp chân rầm rập trên đại lộ Trường An. Xe tăng dưới đất, tàu bay trên Trời làm bầu không khí Bắc Kinh đã ô nhiễm lại thêm cực kỳ ô nhiễm!
(Quốc Khánh các nước Phương Tây, trong đó có Úc nầy đây, là dành cho dân chớ không cho lãnh đạo. Chánh phủ chỉ có việc bắn pháo bông; dân chỉ có việc nướng thịt nhậu với beer cho đã rồi đi ngủ chớ hổng ai ‘quởn’ mà căng cơ bắp khoe sức mạnh quân sự để hù dọa thiên hạ là: “Không đứa nào cản được bước tiến của Trung Hoa!” Ha ha!

***

Suốt 70 năm qua, hàng chục triệu người Tàu đã chết bằng đủ cách, đủ kiểu. Rồi hàng triệu người Tân Cương, Tây Tạng, ngay cả người Việt Nam trong chiến tranh biên giới năm 1979; oan hồn còn vất vưởng đâu đây sẽ tụ về Quảng trường Thiên An Môn mà đòi mạng.
Cho dù có chú Ba Tập Cận Bình, Chủ tịch muôn đời, làm Hoàng đế cho tới chết, có khoe hỏa tiển, tàu bay, xe tăng thiết giáp, giải phóng quân đi ‘rụp rụp’ thì cũng không làm át được tiếng kêu khóc của những oan hồn uổng tử đó đâu.

***

Người Do Thái có xây ‘Bức tường Than khóc’ ở Jerusalem để than khóc cho nghìn năm vong quốc, khóc cho những tai ương, bất hạnh của dân tộc mình rồi hẹn nhau “Next year in Jerusalem” để xây dựng lại.
Người Tàu cũng nên làm như thế! Trên Đại lộ Tràng An thay vì duyệt binh rầm rộ thì dựng tượng những người đã bị giết trong Cải cách Ruộng đất, trong Cách mạng Văn hóa, trong vụ Hồng quân thảm sát sinh viên đòi tự do trên quảng trường Thiên An Môn vào ngày ‘Lục tứ (4/6/ 1989).
Rồi trước cửa Tử Cấm Thành của Trung Nam Hải, chánh quyền Trung Cộng nên lấy xương cốt của 56 sắc dân Trung Hoa hòa chung với đất đá nước Tàu để xây nên ‘Bức tường Than khóc’!
Để 1.4 tỉ người dân Trung quốc, kẻ trước người sau, lần lượt đến ‘than khóc’ cho một thời kinh khiếp và hứa với nhau rằng: “Tội ác đó không được quyền xảy ra trên đất nước nầy lần nữa”.
Chừng ấy Trung quốc mới có hy vọng đi vào buổi bình minh cùng lương tâm nhân loại!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Biếm họa và chữ viết

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 7/9/2015 

Post by Sơn râu 21 Jul 2026

Hôm nay là thứ Hai, ngày 7 tháng 9 năm 2015.

Đúng tám tháng trước, 7 Jan. rơi vào thứ Tư, ở Paris, 3 tên khủng bố ập vào tuần báo Charlie Hebdo dùng súng bắn chết 12 nhân viên, ký giả trong toà soạn gây nên cơn chấn động làm bàng hoàng cả thế giới. Đây là vụ tàn sát dã man nhất dành cho những người chỉ nắm trong tay thứ “vũ khí” duy nhất: Ngòi viết, cây bút. Mực đổ chan hoà cùng máu, thảm trạng nọ vượt ngoài trí tưởng của loài người.

Bọn khủng bố cực đoan đã gửi đi một thông điệp dữ dội: Bút sa gà chết. Hoặc: Sinh nghề tử nghiệp. Điều này vô tình tạo ra một phản hồi thầm lặng: Hoá ra tranh biếm hoạ và chữ viết đã là “một bộ phận không nhỏ” nhằm tấn công, đả phá những xấu xa lạc hậu mà bọn cường quyền mù quáng đang cổ suý. Chúng sợ lung lay, chúng sợ bật gốc; và nhằm bảo trì guồng máy ấy, không gì khác hơn, chúng tìm đủ cách nhằm bịt mắt khoá miệng những mầm mống trái chiều đối kháng.

Là người Việt, hơn ai cả bạn thừa kinh nghiệm về chuyện ấy. Bạn được dạy chữ Nhẫn, bạn học vô số bài về Đoạn Trường, về cuộc Bể Dâu. Những oan trái, bao cơ man là điều ngược ngạo vẫn mỗi ngày diễn ra trước mắt bạn và dần dà những thứ ấy tác hại vào người bạn. Hậu quả: Sức người có hạn. Bạn bất lực. Hay thời thượng hơn, bạn than: Bó tay chấm com.

Hôm nay, ngày 7 tháng 9, nhằm lễ Labour day nằm nhà rảnh rang, mình vào internet và phát hiện ra chuyện “thú vị”, cóp nhặt ra đây để thuật lại cho bạn nghe. Nhân vật chính, mang tên Đỗ Hùng, giống tên gọi anh ấy đã thử cởi trói thoát khỏi “bó tay chấm com” một phen. Rất hùng dũng. Nếu định cư ở Paris, không chừng mông-xừ Hùng đã vào làm việc cho tuần báo Charlie.

Đỗ Hùng, dân Quảng Trị, học Đại Học Huế, vào Sài Gòn lập nghiệp. Đầu quân vào báo Thanh Niên, nhờ tài năng đa dạng của một phóng viên, anh leo lên tới chức Phó tổng thư ký toà soạn. Mới đây, trên Facebook cá nhân, Đỗ Hùng đăng tải bài viết ngắn, một status về lễ 2 tháng 9 dùng toàn dấu sắc nhằm đả kích và xuyên tạc về ngày này. Chuyện gì tới đã vội tới, người quyền lực đã ra lệnh cách chức và thu hồi thẻ nhà báo của anh phóng viên đầy tài năng. Quyết định trên cũng gửi cho cơ quan An ninh A 87 Bộ Công an và Ban Tuyên giáo Trung ương.

Chuyện không có gì phải náo động. Thử đọc xem một đoạn văn chỉ sử dụng toàn dấu sắc của Đỗ Hùng:

Quốc khánh

Lúc ấy, Thế chiến (thứ mấy tớ đéo nhớ), Đế quốc đánh với Phát-xít. Phía Phát-xít, Thống chế chết. Đám tướng tá, lính lác đánh đấm kém, chết hết đéo sót mấy mống. Phía đế quốc thắng lớn. Thế chiến kết thúc.

Chớp lấy cái thế ấy, bác Ái Quốc, tướng Giáp với mấy chú, mấy mế xứ Pác Bó vác cuốc, vác giáo mác, vác súng ống xuống đánh Phát-xít, đánh Pháp, cướp lấy khí giới, cướp thóc, chiếm bót, cứ thế đánh tới bến. Đánh tới cuối tháng 8, bác Ái Quốc thắng lớn. Bác ấy với các chú kéo xuống Giáp Bát, chiếm phố, chiếm lấy bót Phát-xít, chiếm hết. Hết đánh đấm, bác ấy nói: “Các chú thắng Phát-xít, thắng Pháp, quá xuất sắc”.

Tới tháng 9, bác ấy xuống phố bố cáo quốc khánh. Bác ấy nói: “Đất nước hết chiến đấu, hết đói kém. Phát-xít cút. Đế quốc Pháp cút. Các mế, các chú, các cháu bé hết khóc lóc. Thế giới bác ái…”

Nói tới đó, bác Ái Quốc thắc mắc: “Bác nói thế các chú, các mế, các cháu có thấy quá lí nhí?” Bá tánh phía dưới đáp: “Chúng cháu thấy bác nói rất lớn. Nói thế quá tốt!”

Tướng Giáp đứng kế đó thét lớn: “Quyết chiến quyết thắng!” Bá tánh đáp: “Quyết chiến quyết thắng!”

Hết!
(Chúc các bác Quốc khánh sướng nhé!)

Nhà báo Đỗ Hùng

Chỉ một đoản văn khôi hài đen như trên, Đỗ Hùng có thể đối mặt với bản án tù tội vì “nói xấu chế độ”, bôi bác lãnh tụ. Có kẻ bảo, đây là giọt nước cuối làm tràn ly, vì được biết vào năm 2011, nhà báo Đỗ Hùng từng tham dự nhiều cuộc biểu tình chống Trung quốc. Và kẻ ấy than: Đấy là một cái chết lãng xẹt!

Nếu người ta xem 12 người chết trong toà soạn tuần báo Charlie là thứ kỷ lục bi thảm nhất, thì người ta cũng không quên Việt Nam là một trong những nhà tù lớn nhất dành cho giới ký giả khi họ còn đang giam nhốt trên 16 phóng viên.

Đỗ Hùng chết có lãng xẹt? E không sai. Nhưng dẫu sao anh ấy cũng dạy cho những con cừu biết cách sử dụng chữ viết. Hôm nay không cho xài dấu sắc thì ngày mai anh nên thử dùng dấu huyền xem sao. Rồi chơi dấu hỏi. Chơi dấu ngã. Bí quá, khôn ba năm dại một giờ, buộc lòng ta chơi dấu nặng: Toạ hoạ chuyện lộn xộn, vật vạ tội trạng. Đợi chạng vạng mụ Đội thụi nội tạng. Đụ mạ. Thiệt nặng nghiệp! Việt với Nạm!

Hồ Đình Nghiêm

Ba dòng nước mắt

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh

December 20, 2008   

Post by Sơn râu 21 Jul 2026

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi nhận đuợc thư Bình, thằng bạn thân tình từ thời nối khố. Nó là đứa cuối cùng trong đám bọn tôi rời xa đất nước, vừa mới được sang định cư bên Mỹ theo diện HO 31. Lá thư chỉ vỏn vẹn mấy dòng:

“Tao đã đến Mỹ vừa đúng hai tuần. Ở đây ồn ào và ngột ngạt quá, tao muốn tìm một chỗ bình yên. Mày có cách nào giúp tao sang Bắc Âu với mày. Bởi tao nghe mày kể bên ấy dù có buồn và mùa đông khá lạnh, nhưng cuộc sống yên bình, thích hợp cho những người cần một nơi để chửa trị những vết thương khó lành được trong lòng.

Tao đang có nhiều vết thương, và cũng đang có nhiều điều rối ren không giải quyết được. Rồi có dịp tao sẽ tâm tình với mày sau. Bây giờ, bằng mọi cách mày giúp tao sang đó với mày. Càng sớm càng tốt..”

Hơn một tháng trước, Định đã báo cho tôi biết việc Bình sẽ sang Mỹ. Nó đã phụ giúp vợ Bình sẵn sàng tất cả mọi thứ để đón Bình. Định còn bảo khi nào Bình đến Mỹ rồi, nó sẽ báo để tôi sang thăm. Ba thằng gặp lại, tha hồ mà kể chuyện xưa. Vậy sao bây giờ vừa mới đoàn tụ vợ con, Bình lại muốn sang Bắc Âu với tôi, một nơi xa tít mịt mùng?

Gọi điện thoại cho vợ Bình và Định nhiều lần, nhưng không ai bốc máy. Hôm sau tôi vào sở xin lấy trước một tuần hè, và đặt vé máy bay sang Mỹ.

Bọn tôi là ba thằng bạn thân từ những ngày mới lớn. Cùng học một lớp ở trường làng, rồi lên trường huyện. Điều đặc biệt là tên của ba thằng đều có vần “inh”. Trong lớp bạn bè thường gọi bọn tôi là Ninh-Bình-Định, mặc dù cả ba thằng chưa hề biết quê quán của Quang Trung đại đế, cái nơi nổi tiếng “con gái cầm roi đi quyền” đó nó ra sao. Tuổi thơ ở nhà quê khá nhọc nhằn, nhưng lại có biết bao kỷ niệm êm đềm của những ngày câu cá tắm sông, những trận bóng sôi nổi trước nhiều khán giả là đám con gái cùng trường, mà trái banh chỉ là những trái bưởi rụng nhặt được phía sau hè. Rồi cả ba thằng được may mắn vào thành phố Nha Trang học trung học. Dù khác lớp nhưng cùng vào một đội bóng của trường. Đội bóng bao lần chiếm giải quán quân. Sau khi đậu tú tài, nhìn thấy con đường học hành sao mà xa xăm diệu vợi quá. Muốn học thêm phải khăn gói vào tận Sài gòn, trong lúc kinh tế gia đình đang lúc khó khăn. Không đành lòng bắt cha mẹ phải còng lưng thêm chút nữa, ba thằng rủ nhau vào lính. Làm đơn tình nguyện vào binh chủng không quân, bởi hình ảnh những chàng phi công hào hoa đi mây về gió, trong bộ đồ bay, khăn quàng cổ tím, đã là thần tượng của bọn tôi từ lâu lắm. Vậy mà chỉ có riêng tôi là mộng ước không thành, vì thiếu thước tấc, bị loại ngay vòng khám sức khỏe đầu tiên. Hai thằng bạn được toại nguyện, nhưng không vui. Vì kể từ hôm nay, không còn “chúng mình ba đứa” nữa. Tôi tiễn hai thằng đến Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân nằm bên bờ biển Nha Trang, rồi một mình khăn gói vào Sài gòn học tiếp.

Khi bọn nó sang Mỹ học phi hành, thì tôi vào quân trường Thủ Đức. Cứ vài tuần tôi nhận thư từ bên Mỹ. Nhìn tấm ảnh hai thằng chụp trước cổng trường, hoặc đứng bên cạnh một chiếc F 5, tôi thấy thèm cái oai phong của tụi nó. Sau khi về nước chỉ có thằng Bình đươc lái phản lực A-37 cho một phi đoàn đóng ở Biên Hòa, còn thằng Định thì ra phi đoàn trực thăng tận ngoài Vùng 1.

Tôi ra trường, được bổ sung về một tiểu đoàn tác chiến đang làm lực lượng lưu động cho Quân Đoàn, rày đây mai đó, gần như chỗ nào có trận chiến là tôi có mặt. Vậy mà so với mức độ hiểm nguy, chết chóc, chẳng nhằm nhò gì với cái chuyện đi bay của thằng Định. Bởi phi đoàn của nó chuyên thả và bốc những toán biệt kích delta trong các vùng địch. Sau một chuyến công tác, nếu may còn sống, được thưởng một số tiền và mấy ngày phép xài chơi. Bao nhiêu lần nó thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Nó bảo đúng là đạn tránh nó. Nhờ vậy mà nó là thằng thường có mặt ở thành phố Nha Trang. Cứ sau một lần thoát chết, nó trở về đây, còn tôi và thằng Bình, cả năm chỉ được một tuần “anh về với em rồi anh lại đi”. Có lẽ  nhờ vậy mà nó có khá nhiều mối tình để kể cho bọn tôi nghe mỗi lần có dịp gặp nhau, hay bất ngờ liên lạc được trên các tần số không lục.

Nhưng rồi trong ba thằng, tôi lại là thằng bước lên xe hoa trước nhất. Thằng Định vẫn muốn thoải mái đi mây về gió, không bị vướng chân vướng cẳng, còn thằng Bình thì khá kín miệng nên chuyện tình duyên của nó bọn tôi cũng mờ mịt lắm.

Một lần tiểu đoàn đổ quân xuống Ninh Hòa lúc hai giờ sáng, khi cả cái thị trấn nhỏ này còn đang say ngủ. Đại đội tôi được chỉ định vào đóng quân trong sân vận động. Sáng hôm sau, quần áo chỉnh tề, tôi rủ thêm hai thằng bạn lính vào một ngôi  nhà phía trước “thăm dân cho biết sự tình”, không ngờ “hồn lỡ sa vào đôi mắt em”, đôi mắt nai tơ của cô bé chủ nhà. Đám cưới tôi có mặt cả hai thằng bạn nối khố, và hai thằng đều tình nguyện làm phụ rể.

Ba năm sau, Định lên chức quan ba, được thuyên chuyển về một phi đoàn đóng ở Pleiku làm trưởng phòng hành quân, nên chúng tôi có nhiều dịp gặp nhau, khi ở thành phố, khi thì trong các cuộc hành quân trực thăng vận. Lâu lâu nó tình nguyện bay tiếp tế cho đơn vị tôi, thả cho tôi vài ký thịt tươi và chai rượu đế. Mùa hè 72, tôi bị thương ở căn cứ Võ Định, Kontum. Suốt hơn hai tuần bị địch bao vây và pháo kích nặng nề, tôi nhận lệnh phải mở đường máu rút quân ra, nhưng vết thương nặng ở chân phải của tôi là một trở ngại lớn cho đơn vị.  Trong lúc Định đang bay chiếc CNC (trực thăng chỉ huy), nhưng đã điều động hai chiếc võ trang (gunship) bắn nghi binh và yểm trợ, rồi một mình nhào xuống bốc tôi trong lưới đạn phòng không dày đặc. Chiếc trực thăng bị nhiều vết đạn mà bọn tôi vẫn an toàn. Mặc dù nó dày dạn kinh nghiệm và bay rất tài ba, nhưng đúng là đạn đã tránh nó, như nó vẫn thường ba hoa với đám bạn bè.

Chỉ có thằng Bình là “số đẻ bọc điều”. Từ A-37 nó chuyển sang lái F-5, nhưng vẫn quanh quẩn ở Biên Hoà, rồi Cần Thơ. Nó là thằng đẹp trai và ít nói. Trước đám con gái, tôi và thằng Định thì líu lo chuyện dưới biển trên trời, còn nó chỉ ngồi cười mỉm. Có lẽ nhờ vậy, mà sau này nó âm thầm về Nha Trang và cua dính Mỵ Khê, một cô bé răng khểnh khá xinh ở trường Nữ, mà ngày xưa cả ba thằng đều quen biết, bởi đã từng thách nhau cùng đạp xe theo “tán”, sau các buổi tan trường.

Mỗi lần về Nha Trang thăm bồ, nó đều rủ tôi và Định bay về Nha Trang với nó một vài hôm. Lúc này chiến trường Tây Nguyên khá sôi động, phi đoàn Thần Tượng ở Nha Trang có một biệt đội trực thăng tăng cường cho Pleiku, mà hầu hết các chàng pilot đều là bạn thân của Định, nhờ vậy mà tôi và Định về Nha Trang dễ dàng như đi chợ. Có khi chỉ ở Nha Trang một đêm, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở chiến trường. Những lần gặp nhau, đều có mặt Mỵ Khê. Cô bé học trò trường nữ ngày xưa bây giờ đã là cô giáo. Nhưng có lẽ đi dạy học chỉ để làm kiểng, bởi cô ta là con nhà giàu. Ông bà già có mấy tiệm buôn trên đường Độc Lập. Mỵ Khê được nuông chiều, nên ngay cả chuyện bếp núc cũng không rành. Lần nào gặp nhau ở nhà nàng, bọn tôi cũng chỉ được mời một món duy nhất mà nàng rất tự hào do chính tay mình nấu: cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Cuộc tình này cũng kéo dài đến mấy năm. Không phải để tập làm sao “đừng nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng” như lời khuyên trong sách, mà vì cha mẹ Mỵ Khê rất tin vào bói toán. Tuổi tác của hai người chưa thể kết hôn.

Cuối cùng, đến mùa hè 73, thì cuộc tình dài này cũng kết thúc bằng một cái đám cưới khá linh đình ở nhà hàng La Frégate. Khách khứa lên đến trăm người.

Lần này chỉ có thằng Định được làm phụ rể, còn tôi bị loại khỏi vòng chiến bởi “xác thân đã nhuốm mùi trần tục”, một vợ mấy con, nên được thằng Bình giao cho cái chức tiếp tân, chỉ đứng mỉm cười đón khách.

Đúng là thằng Định có số đào hoa. Không biết tài tán gái thế nào mà sau đám cưới, tôi đi tìm nó khắp nơi, cuối cùng bất ngờ gặp nó ôm chặt cô bé phù dâu xinh đẹp, ngồi ngoài bờ biển. Có lẽ đúng như mấy ông bà già thường nói “lắm mối tối nằm không “, đến ngày mất nước thằng Định đào hoa nhất bọn vẫn cứ còn độc thân.

Tháng 3-75, miền Trung mất vào tay giặc, Định theo phi đoàn di tản về Nha Trang rồi Biên Hoà. Trong cái cảnh dầu sôi lửa bỏng này nó gặp lại vợ chồng Bình. Sau một ngày với bao nhiêu phi vụ hiểm nguy, tối đến hai thằng lại bù khú mày tao mi tớ với nhau như cái thời còn đi học. Mỵ Khê, bà xã của Bình cũng vừa sinh được cô con gái đầu lòng, nên căn cư xá lúc nào cũng rộn rã tiếng cười hoà lẫn tiếng khóc của trẻ thơ. Nhờ vậy mà hai thằng phi công cũng bớt được phần nào những ưu tư lo lắng trong giờ phút lâm nguy của chính mình và đất nước.

Sau những trận đánh lẫy lừng của các đơn vị ở Long Khánh, cũng chỉ có khả năng cầm chân địch hơn một tuần. Biên Hoà bỏ ngỏ. Phi đoàn của Bình nhận lệnh đem máy bay xuống phi trường Trà Nóc tránh pháo. Bình nhờ Định đưa vợ con về Tân Sơn Nhất, cùng ở tạm trong cư xá, nhà của một thằng bạn cùng khoá, sau mấy lần bị thương, không còn khả năng phi hành nên về làm trong Bộ Chỉ Huy Hành Quân Không Quân.

Ngày 29.4, phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích liên tục. Tình hình nguy ngập, cả phi đoàn của Định chỉ còn lại vài chiếc trực thăng. Anh em trong phi đoàn ngồi lại tính chuyện bay ra hạm đội Mỹ đang chờ ngoài biển..

Trong lúc bạn bè chạy ngược xuôi tìm chỗ cho vợ con, chỉ có Định là một thân một mình nên chẳng lo lắng gì, ngoài cái tâm trạng bực tức, chán chường. Định liên lạc với Bình, báo cho biết việc phi đoàn của nó sẽ bay ra hạm đội, bảo Bình thu xếp gấp về Sài gòn để kịp đưa vợ con đi. Định bảo là nó được dành ba chỗ trên tàu, vừa đủ cho vợ chồng Bình và một đứa con nhỏ. Nhưng Bình từ chối, bảo là vùng 4 còn an toàn, phi đoàn phản lực của nó được đặt dưới quyền của tướng tư lệnh Nguyễn Khoa Nam. Bình chỉ nhờ Định lo cho vợ con nó đi cùng. Tùy tình hình nó sẽ đi sau.

Khi Định và vợ con Bình đến đảo Guam hai ngày,thì biết tin Sài Gòn thất thủ. Định đi tìm Bình khắp nơi nhưng không thấy. Người ta bảo có lẽ Bình đã bay sang Thái Lan.

Ngày tôi khăn gói đến địa điểm trình diện “học tập cải tạo” bất ngờ gặp Bình. Trong cái cảnh “nước mất nhà tan” này mà có được một người bạn thân thì cũng vơi được nỗi buồn. Nó kể là anh em trong phi đoàn không đành rời căn cứ trong lúc hai ông tướng quân đoàn vẫn còn ở lại sống chết với anh em. Sau khi hai ông tự sát, thì tình hình đã quá muộn màng, địch quân bao vây, pháo kích dữ dội vào phi trường, nên anh em chỉ còn kịp phá hủy một vài hệ thống trên phi cơ.

Ở tù chung trong trại tù An Dưỡng Biên Hòa gần một năm, khi chuyển ra ngoài Bắc mỗi thằng bị chia mỗi ngả.

Ra tù, tôi ghé lại thăm gia đình Bình. Ông già nó qua đời, chỉ còn bà mẹ và cô em gái, nhưng nhà cửa được xây lại khang trang và cuộc sống khá sung túc so với những người khác trong vùng. Mẹ nó bảo tiền bạc do vợ Bình gởi về đều đặn. Bà còn khoe mấy tấm ảnh của vợ con Bình được phóng lớn treo trên vách.

Đúng một năm ra khỏi tù, tôi vượt biên. Trong trại tỵ nạn Bataan, bên Phi, khi chuẩn bị lên đường định cư thì nhận tin Bình được thả về. Nhưng chỉ vài tháng sau thì lại được tin nó bị bắt khi tổ chức vượt biên. Mãi đến tám năm sau nó mới lên đường sang Mỹ theo diện HO. Tôi định chờ một vài tuần để nó tạm ổn định cuộc sống và gia đình, tôi sẽ bay sang thăm vợ chồng nó và thằng Định, thì bất ngờ nhận lá thư này của nó.

Máy bay đáp xuống phi trường Fayetteville, North Carolina lúc 9 giờ rưởi tối. Một phi trường nhỏ ở một nơi tôi hoàn toàn xa lạ. Anh tài xế taxi người da đen chở tôi chạy lòng vòng qua những rừng thông hoang vắng càng làm đầu óc tôi căng thẳng, lúc nào cũng trong tư thế “ứng chiến” để đối phó với những điều bất trắc. Cuối cùng thì anh ta cũng tìm tới được địa chỉ nhà Bình. Trong nhà tối om. Cổng khoá chặt. Tìm chuông cửa nhưng không thấy. Tôi mở bóp tìm địa chỉ của Định, nhưng lâu nay viết thư cho tôi, Định chỉ dùng P.O.Box. Tôi hỏi anh tài xế taxi tên một motel gần nhất. Tôi viết vài chữ lên tấm giấy nhỏ, bảo Bình đến tìm tôi ở motel ấy, rồi gắn lên cửa.

Trưa hôm sau, người đến tìm tôi không phải là Bình, nhưng là ông già vợ của Bình. Tôi chỉ gặp và nói chuyện với ông vài lần trong ngày đám cưới của Bình, nhưng nhận ra ngay. Mặc dù bây giờ ông già hơn xưa, nhưng có tướng đẹp lão. Và vẫn còn hàng ria mép. Ông bảo chính Mỵ Khê nhờ ông đi đón tôi. Trên đường đưa tôi về nhà, ông cho biết là ông đang làm chủ một khách sạn nhỏ và một nhà hàng. Ở cách xa nhà vợ chồng Bình chừng hai mươi phút lái xe.

–  Tội nghiệp, vợ chồng nó đang có chuyện buồn. Chuyện phức tạp quá nên hai bác đã cố gắng hết sức nhưng không giải quyết được. Cháu là bạn bè thân, hy vọng cháu nói bọn nó nghe.

–  Cháu muốn được nói chuyện riêng với bác trưóc khi gặp vợ chồng Bình.

Tôi muốn biết rõ ràng việc gì đã xảy ra với vợ chồng Bình, để biết cách ứng xử sao cho thích hợp.

Ông già của Mỵ Khê quay xe lại, tìm đường rẽ sang một hướng khác. Hơn mười phút sau, ông dừng xe trước một nhà hàng Á châu.

– Cháu vào đây với bác. Nhà hàng này là của bác.

Ông bảo người con gái đứng trong quày mang cho tôi một phần ăn, và một tách trà cho ông, rồi kéo tôi ngồi xuống một cái bàn nằm riêng trong góc. Ông bảo tôi cứ dùng cơm tự nhiên, rồi bắt đầu tâm sự:

– Hai bác thật là buồn và khó xử, chẳng biết phải tính làm sao. Khi thằng Định đưa con Mỵ Khê, vợ thằng Bình sang Mỹ với đứa con chưa tròn một tuổi. Một thân một mình nơi xứ lạ quê người, tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ gì nó cũng trông cậy vào thằng Định. Mà Định quả là thằng chí tình với bạn bè, Nó hết lòng lo lắng cho vợ con thằng Bình, mê chuyện học hành mà đành phải bỏ, đi làm hai ba ca để vừa có đủ tiền lo cho mẹ con Mỵ Khê, mà còn gởi về Việt Nam giúp gia đình thằng Bình sau tháng 4/75 trải qua bao năm túng quần. Rồi cũng chính nhờ thằng Định giúp việc bảo lãnh gia đình bác từ Việt Nam sang Mỹ đoàn tụ với mẹ con Mỵ Khê. Nhưng rồi tất cả cũng vì Bác mà gây nên cớ sự. Trước khi rời Việt Nam, hai bác có ra chào vợ chồng anh chị sui gia, là ba má của thằng Bình. Ông bà khóc lóc kể cho bác biết là có tin do vợ một người bạn cùng tù với Bình vừa ra thăm chồng ngoài Bắc về, bảo là Bình đã bị bắn chết trong một lần trốn trại với mấy người bạn tù khác nữa ở biên giới Lào. Chính vì vậy mà hai bác khuyên con Mỵ Khê nên tiếp nối với Định, bởi bao nhiêu năm nay nó đã hy sinh ở vậy để tận tình lo lắng cho mẹ con Mỵ Khê, và cháu Lina, con của Bình cũng xem Định như là cha của nó. Hai bác tâm tình khuyên mãi, tụi nó mới làm đám cưới. Sống với nhau hơn mười năm, tụi nó có hai đứa con, thì mới nhận được tin là thằng Bình vẫn còn sống, chỉ bị thương nhẹ, rồi đem đi biệt giam ở một trại tù nào khác, không ai biết. Từ ngày ấy thằng Định buồn ghê lắm và lúc nào cũng ngồi thơ thẩn một mình. Nó giấu việc này không dám nói với thằng Bình, và cũng chính nó phụ với hai Bác gởi tiền về giúp đỡ gia đình Bình và lo cho Bình sang Mỹ theo diện HO.

Tôi đưa tay xin ngưng lời bác.

–  Bây giờ thằng Định đang ở đâu thưa Bác?

– Trước ngày thằng Bình sang đây, thằng Định mang hai đứa con của nó với  Mỵ Khê sang đây nhờ hai bác mướn người giữ hộ, rồi “mu” qua Hawaii. Con Mỵ Khê khóc lóc, bảo nó cứ ở lại đây, khi nào thằng Bình sang Mỵ Khê sẽ nói chuyện với thằng Bình, thằng Bình sẽ hiểu được bao điều khúc mắc và chắc sẽ không buồn. Hai bác cũng giải thích cho nó biết, dù sao thằng Bình với con Mỵ Khê cũng đã xa cách quá lâu, và sự việc xảy ra là do bao nhiêu nghịch cảnh đẩy đưa, chứ Định là một thằng tốt bụng, hết lòng chung thủy với bạn bè. Hai bác cũng sẽ nhận trách nhiệm này trước mặt thằng Bình, khi nó tới đây.

–  Rồi cuối cùng ra sao, thưa Bác?

–  Vợ chồng bác khuyên giải suốt cả mấy ngày liền, nhưng nó vẫn không nghe, nó xin lỗi hai bác và con Mỵ Khê, rồi nhờ bác trao lại cho thằng Bình một lá thư. Nó xin được phép dán lá thư lại nên hai bác cũng chẳng biết nó viết cái gì trong đó. Khi đến Hawaii, nó có gọi phôn về cho bác, bảo đang chạy taxi với một thằng bạn cũ. Chút nữa bác sẽ cho cháu số phôn của nó, để cháu liên lạc khuyên giải nó hộ bác.

Bác chở tôi lại trước nhà vợ chồng Bình, bỏ tôi trước cửa, chỉ tôi cái chuông điện nằm kín phía bên trong cánh cửa, rồi lái xe về. Bác bảo là để đám trẻ bọn tôi gặp nhau sẽ được tự nhiên hơn.

Người ra mở cửa là Mỵ Khê. Vừa nhận ra tôi, Mỵ Khê nắm chặt tay tôi, nhoẻn miệng cười, nhưng lại bật khóc ngay sau đó. Mỵ Khê đưa tôi vào nhà, chỉ cho tôi nơi Bình ở, căn nhà sau, chung vách với gara xe. Tôi gõ mấy lần, cửa mới mở.

Sau bao nhiêu năm hai thằng bạn thân từ thời nối khố gặp lại nhau, nhưng đều không vui, ôm lấy nhau mà lòng dạ bùi ngùi.

Suốt đêm hôm ấy tôi ở trong phòng Bình, nhưng hai thằng không ngủ, nằm tâm sự thâu đêm.

Tôi chưa  biết phải nói điều gì với Bình, thì Bình mở đầu tâm sự.

–  Khi biết việc này, tao có bất ngờ, và dĩ nhiên cũng buồn ghê lắm. Nhưng chỉ sau một đêm suy nghĩ, tao lấy lại được sự bình thản, và nghĩ là Mỵ Khê đã thuộc về Định, và hai người rất xứng đáng trong tình yêu, trong cuộc hôn nhân mới này. Tao phải cám ơn thằng Định, đã hết lòng cưu mang vợ con tao và cho Mỵ Khê một gia đình hạnh phúc, một chỗ dựa vững chắc trên xứ lạ quê người. Hơn nữa tao và Mỵ Khê xa cách khá lâu, trong lúc nàng đã hội nhập vào xã hội Mỹ này từ lâu rồi, còn tao bây giờ cũng đã già, lại là một thằng quê mùa, bệnh hoạn, mà vết thương trên thân xác cũng như trong lòng tao vẫn chưa lành được.Tao tự biết mình thực tình không còn thích hợp, không còn xứng với nàng. Tao cũng đã tâm tình với Mỵ Khê và điện thoại cho thằng Định, nói hết nỗi lòng. Mong nó trở về đây. Cháu Lina, con gái của tao cũng nhớ nó mà khóc cả ngày. Tao hiểu, con bé còn xa lạ với tao lắm. Mà nó xa lạ là phải. Không dễ dàng gì cho một cô con gái đã hơn 20, không hề biết mặt cha từ lúc mới năm tháng tuổi, bây giờ phải chấp nhận một ông cha bất ngờ từ trên trời rơi xuống

– Thế rồi vợ mày và thằng Định tính sao?

– Mỵ Khê thì chỉ khóc và im lặng, còn thằng Định thì nhất quyết trả Mỵ Khê lại cho tao. Nó còn bảo là nó nhớ tao lắm, nhưng không muốn gặp tao.

–   Bây giờ mày tính sao? Tao sẽ giúp được gì cho tụi mày?

–   Tao nhờ mày. Chỉ có mày có thể giúp tao trong lúc này. Mày đưa tao qua Hawaii gặp thằng Định và tâm tình giải thích để nó trở về với vợ con tao.

–   Còn mày thì sao?

–   Tao một thân một mình. Nếu mày kéo tao sang Na Uy ở với mày là phúc cho tao. Có mày tao sẽ dễ quên bao nhiêu chuyện đau lòng. Còn nếu không được thì tao lang thang đâu cũng được. Lâu lâu kiếm được tiền tao lại ghé về đây thăm cháu Lina, cho dù trong lòng nó, có lẽ tao chưa hề là cha của nó.

Ba thằng bọn tôi lại gặp nhau, qua bao nhiêu năm chia cách cùng những dông tố trong đời. Ôm nhau mừng rỡ mà sao nghẹn ngào, không ai nói nên lời, chỉ có nước mắt chảy dài trên má. Ngày xưa, thằng Định là đứa ba hoa, khôi hài nhất trong bọn, vậy mà cũng không mở miệng để nói một lời, dù chỉ là một chữ hello, mà nó đã thường xài từ lúc còn ở Việt nam, mỗi khi gặp bạn bè.

Không biết lúc này trong đầu hai thằng bạn đang nghĩ điều gì. Riêng tôi đang hình dung tới cuộc chiến bi thảm mà kẻ chiến thắng lại là những con người tàn ác nhất đã tạo nên bao chia ly tan tác.

Sáng nay, chủ nhật, mùa đông Bắc Âu khá lạnh. Tôi thức giấc đã lâu nhưng còn đang trùm chăn nằm nán trên giường thì nghe điện thoại reo. Bốc ống nghe chưa kịp hỏi là ai, thì nghe bên kia đầu giây giọng nói quen thuộc của thằng Định:

–   Hello! Ninh ơi. Có thằng Bình đây, nó muốn nói chuyện với mày.

Tôi nghe giọng nói yếu ớt nhưng rất vui của Bình:

–  Bình đây. Gọi thăm vợ chồng mày và báo cho mày một tin vui. Tao đang ở nhà vợ chồng thằng Định đây. Vừa từ bệnh viện về. Vợ chồng Định lên tận Houston tìm thăm tao, báo tin cháu Lina bị bệnh rất nặng cần phải thay gấp một quả thận. Bác sĩ cho biết cách tốt nhất là lấy thận của nguời cùng huyết thống, nên tao theo Định và Mỵ Khê bay xuống North Carolina ngay để kịp thời lo cho cháu. Bác sĩ bên này giỏi thật. Mọi việc tiến hành nhanh chóng. Bây giờ đã xong xuôi. Cháu Lina cũng đã khỏe lại. Đáng lẽ tao đã về lại Houston, vì tao vừa mới mở cái tiệm giặt ủi, do vợ chồng thằng Định giúp vốn, vợ chồng nó cũng vừa mua cho tao một ngôi nhà nhỏ, ở bên cạnh hai thằng bạn cùng phi đoàn với tao ngày trước, nhưng vợ chồng nó nhất định giữ tao lại. Cả cháu Lina nữa. Nó cũng muốn có nhiều thời gian để tâm tình với cha của  nó. Mày cố gắng bay sang đây với tụi tao cho vui.

Chưa kịp trả lời, tôi lại nghe giọng nói của đàn bà:

–  Ông bà qua đây để tôi còn đãi món cháo trắng ăn với hột vịt muối.

Tôi nghe những tiếng cười khúc khích, rồi giọng đùa nghịch của thằng Định xen vào:

–  Hello, Ninh! Mỵ Khê bây giờ nấu ăn nghề lắm đó, biết nấu cả cháo trắng tới bảy món. Vợ chồng mày nhớ bay qua sớm, không thì mất phần đó nghe chưa.

Tôi buông ống nghe, thẫn thờ nhìn ra ngoài cửa sổ như muốn tìm kiếm một điều gì. Trời mùa đông Bắc Âu phủ đầy tuyết trắng, nhưng sao trước mắt tôi đang lung linh bầu trời xanh bao la của cả một thời tuổi thơ. Cái thuở ba thằng chúng tôi vui đùa nghịch ngợm, trong lòng chưa hề vướng bận chuyện  chiến tranh kéo theo bao cay đắng cuộc đời.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 21 Jul 2026

“Nghìn Giọt Lệ Rơi là tựa đề một cuốn sách viết bằng tiếng Anh của bà Dung Krall, một người đàn bà trong bối cảnh khổ đau của đất nước Việt Nam và của gia đình bà. Bà khóc vì những phân chia của lòng người, ngay trong chính gia đình của Bà, một nửa theo Cha về phương Bắc, một nửa cùng với Mẹ ở miền Nam, cho đến lúc song thân Bà qua đời vẫn chưa gặp nhau, anh em mỗi người một ngả chết  cho lý tưởng riêng của mình. Đất nước chúng ta trong vòng một thế kỷ này, máu đổ xương rơi đã nhiều mà nước mắt thì khôn nguôi. Buồn thay cho những người suốt đời chưa hề biết khóc, trừ lúc mới lọt lòng mẹ, khóc để há miệng hớp chút không khí của cuộc sống trên trái đất này. Khóc chưa bao giờ là nỗi vui cả, dù ai đã viết rằng “đêm về nghe con khóc vui triền miên”. Khóc là nỗi đau đớn nhọc nhằn, khóc là nỗi nghèo khó, vất vả của một cuộc đời thường lấm lem theo cơm áo, còn cười chỉ là sự che dấu những niềm đau nỗi nhớ, những tuyệt vọng khôn cùng. Mấy ai trong đời mình được một lần khóc vì sung sướng, trong mỗi hoàn cảnh tiếng khóc còn có những ý nghĩa khác nhau. Ai khẳng định được rằng “khấp như nữ tử vu qui nhật là khóc vì vui, thì “tiếu tợ nam nhi lạc đệ thì” chính là “tiếng khóc khô không lệ”. Khóc vì đồng cảm cảnh ngộ, thấy người mà ngẫm đến ta như Thúy Kiều khóc bên mộ Đạm Tiên “thoắt nghe nàng đã đầm đầm châu sa, như Giang Châu Tư Mã khi nghe khúc đàn tâm sự trải nỗi lòng mình của người kỹ nữ trên Bến Tầm Dương một đêm khuya, mà “lệ ai chan chứa hơn người. Khóc như thế nước mắt không còn là những giọt nữa mà đã trở thành dòng tuôn rơi. Có người xa quê hương ba mươi năm đã khóc khi máy bay chạm trên đường băng sân bay của quê nhà, cũng có người khóc vì cảnh ngộ bỏ xứ ra đi sau nhiều năm, được thấy lại ngọn cờ đã cùng người vào ra sinh tử ở một nơi nào đó trên đất khách.

Chuyện nước Tàu kể Vua Cảnh công nước Tề đi chơi núi Ngưu Sơn, trèo lên mặt thành, đứng ngắm rồi tràn nước mắt vừa khóc vừa nói: “Đẹp quá chừng là nước ta! Thật là sầm uất thịnh vượng! Thế mà nỡ nào một tuổi già, bỏ nước này mà chết đi. Giả sử xưa nay, người ta sống mãi, quả nhân quyết không bỏ nước Tề mà đi nơi khác.” Như vậy, vị vua bị lưu đày bỏ thân nơi đất khách như Vua Hàm Nghi, cho tới Cựu Hoàng Bảo Đại tự lưu vong, phải chịu xót xa bao nhiêu khi nằm xuống nơi quê người, xa đất nước nghìn dặm, xa lăng mộ của tiền nhân. Vì vậy, cũng phải thông cảm cho những người già hiện nay muốn “qui cố hương” để thân già khỏi táng vùi nơi đất khách. Tháng tư là tháng của “nghìn giọt lệ rơi”. Những người phải bỏ nước ra đi như chúng ta kể từ ngày có cuộc binh biến tháng tư, đã bao nhiêu lần khóc. Chuyến trở lại Bi đông (Mã Lai) và Galang (Nam Dương) của hơn một trăm thuyền nhân chính là chuyến trở về quá khứ, trở về với chính mình. Hằng chục nghìn người Việt Nam đã qua đây, còn có mấy người nhớ lại vùng đất xa xuôi này, với những căn nhà tôn nóng bức, những con đường cát sỏi, những bờ biển vẫn nghe tiếng sóng mỗi ngày.

Còn có mấy người nhớ lại những vui buồn, hy vọng hay trăn trở trong những ngày chờ đợi. Có những đứa trẻ đã ra đời tại đây, bây giờ đã là những chàng trai mạnh khỏe, những cô gái đẹp đẽ nơi xứ người, có còn biết chăng nhau rún để lại nơi nào. Có những người đã nằm lại đây trên con đường hành trình dang đở, đành chôn nắm xương tàn cũng như bao nhiêu hy vọng, ước ao đã xây đắp nghìn người đã qua nơi đây, đã sống những ngày chờ đợi, hy vọng hay thất vọng, buồn phiền hay khổ đau. Trong số này có những người đã tự kết liễu đời mình trong tuyệt vọng, trở thành những hồn ma oan khuất không hề siêu thoát vì chí nguyện chưa thành.

Đây là nấm mộ đứa con thơ, vừa thở được chút không khí tự do đã lìa đời. Đây là nấm mộ người mẹ già,  không chịu nổi nhọc nhằn xa nguồn xa cội, mà giờ đây tiến thoái lưỡng nan. Đây là nấm mộ người chồng bất hạnh ấp ủ bao nhiêu dự tính cho tương lai, đã chịu số phận nghiệt ngã phải ngã quỵ trên đoạn đường đi, với những hy vọng tưởng chừng sắp với tới. Còn cả một mồ chôn tập thể không hương khói, xương thịt gối lên nhau, lẫn lộn vào nhau như những ngày đói khát tuyệt vọng trong một khoang thuyền nhỏ bé. Có thể họ đã nhìn thấy đất liền nhưng không tới được, đã tưởng chừng hưởng được chút tự do nhưng đó chỉ là giấc mộng. Con thuyền đã chìm khi chưa tới bến. Người ta trở lại đây để được thấy lại mình, soi khuôn mặt mình trong vũng nước của quá khứ. Đã bao năm tháng cơm áo ngựa xe, đôi khi không còn thời giờ để nhớ mình là ai, chúng ta lẫn trong đám đông những người bản xứ, nghèo hay giàu, thành công hay thất bại cũng vẫn phải chạy theo như những chiếc xe cố giữ chung một tốc độ của những xa lộ rộn ràng, chi chít trên nước Mỹ, nước Úc, nước Pháp … Không nhớ mình là ai, chúng ta không bao giờ đặt câu hỏi vì sao mình đã tới đây. Hơn một trăm người trở lại mảnh hoang đảo này để được … khóc. Khóc cho những người thân đã nằm lại, khóc cho kỷ niệm, khóc cho những ngày tháng ấy.

Cũng như vào thời điểm này, có cả nghìn thuyền nhân đã tìm cơ hội gặp lại nhau một nơi nào đó ở đất khách, để nhìn lại khuôn mặt của nhau, tay bắt mặt mừng, để cùng nghe lại chuyện xưa, cùng nhau nhìn lại đôi dấu vết cũ mà tưởng chừng họ đã quên, để cùng khóc cho một đoạn đời trong dĩ vãng. Khi đã biết khóc, chắc chắn cuộc sống của những người này sẽ thay đổi hơn, họ thấy cuộc sống vui hơn, đẹp hơn và quí giá hơn.

Người bạn của tôi! Khi đã khóc được, anh không thể nào quên được anh. Trong suốt cuộc đời mình, anh thử nhớ lại xem, đã bao nhiêu lần anh được khóc. Rồi ra chúng ta sẽ thấy giọt nước mắt cho một cuộc tình nào đó nhỏ nhoi biết bao nhiêu nếu so với những lần khóc khác là cả một đại dương. Tháng tư với những dòng nước mắt. Chúng ta khóc cho những anh hùng tử sĩ đã tìm cái chết lúc thành đã mất, quân đã tan. Khóc cho những chiến hữu, anh em, bạn bè, đồng bào ruột thịt đã bỏ mình trên đường chạy loạn, ngoài biển Đông, trong tù ngục. Xin hãy khóc đi, để thấy lại mình. Khóc đi để thấy mình chưa thành kẻ vô ơn.