Cà phê bít tất

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

July 19th, 2024

Post by Sơn râu 27 Jul 2026

Một bạn văn có chuyển cho tui bài: ‘Cà Phê Vớ’. Tui nghi tác giả là Ba ke hai nút, ló cọng rau muống dài thòng; vì chữ ông dùng mắc cười quá xá. Như: “nếu uống quá đậm có thể thức ba ngày không nhắm mắt”. Nhắm mắt là chết. Không nhắm mắt là không chết. Muốn nói không ngủ được thì người Sài Gòn sẽ nói là: “không chợp mắt” ông ơi!

“Sài Gòn người ta nói đi uống ‘cà phe’. Tiếng Tây là café, tiếng Anh là coffee; nhưng mấy chú Chệt Chợ Lớn thì gọi là ‘cá phé’. A Hoành, A Coón, chú Xường, chú Cảo, chủ tiệm nước chuyên bán điểm tâm hủ tiếu, bánh bao, há cảo, xíu mại và cà phê vớ.

Một chiếc túi vải hình phễu được may cặp với một cọng kẽm làm vành túi và cán. Cà phê bột đổ vào túi vải (gọi là bít tất, hay vớ đều được). Vì chiếc vợt cà phê này hơi giống như chiếc vớ dùng để mang giày. Chiếc vớ chứa cà phê này sau đó được nhúng vào siêu nước đang sôi, lấy đũa khuấy khuấy vài dạo xong đậy nắp siêu lại. Tiếng lóng bình dân gọi là kho cà phê. “Kho” độ 5,10 phút mới có thể rót ra ly mang ra cho khách.

Cà phê vợt  

Duy chỉ có ở Sài Gòn và Lục tỉnh miền Nam mà thôi. Dân ghiền cà phê còn gọi nó là cà phê kho bởi chỉ ngon lúc mới vừa “kho nước đầu”. Nếu ai đến chậm bị kho một hồi cà phê sẽ đắng như thuốc Bắc. (Sic).

Nói ông đừng buồn; ông viết trật bàn đạp, trật lất. Cà phê có hai loại: bình dân cà phê vợt; sang cà phê phin. Phin gốc tiếng Pháp là ‘filtre’ nghĩa là lược”. Phin cà phê làm bằng nhôm hay inox, ở dưới đáy có những lỗ nhỏ li ti và một miếng hình tròn có quai để ém cà phê bột.

Viết văn, tánh nghệ sĩ, cũng như các nhà làm văn nghệ khác, ba tui ghiền cà phê và thuốc lá; ba hút Melia vàng của hãng M.I.C. Cà phê phin do má tui pha mỗi sáng. Má làm nóng phin bằng nước sôi. Cho cà phê bột vào phin ép hơi hơi chặt. Ép chặt quá nước nhỏ xuống rất chậm, cà phê nguội không làm chín sữa. Ép lỏng quá, nước chảy re; nồng độ caffeine không đủ đậm, uống không đã. Má đổ chút nước lạnh vào cho cà phê nở ra. Chờ một chút, xong mới đổ nước sôi vào. Từng giọt cà phê rơi từ từ nhỏ xuống tách (tiếng Pháp: tasse) thơm lừng. Mấy ông nhạc sĩ màu mè gọi là giọt buồn không tên?

Cà phê phin

Má cưng cho tui nước nhì. Không phải hà tiện gì với con cái, má nói con nít uống cà phê nước nhứt đậm quá, nó đắng nghét và không tốt. Tui nhớ cái truyện ngắn ‘Hồn ma cũ’ của ông Bình-nguyên Lộc (1914-1987)… Xin chép lại một đoạn: “Hai cha con ngồi lại bàn. Người cha kêu cà-phê cho mình và sữa cho con, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ ky đem món uống lại, nó mới nói: “Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba!”

“Ê, trẻ con không nên uống cà-phê”. Người cha vừa nói, vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con” Cà phê phin là thức uống của Tây, trước khi CSBV chiếm được Sài Gòn, nhà chưa đói rách, lâu lâu có lãnh ‘rắp ben’, không uống cà phê ở nhà má pha, ba dẫn con tới nhà hàng của Pháp như: Givral trong thương xá Eden, lâu đời từ thập niên 1950. Nhà hàng La Pagode yên tĩnh và sang trọng mang đậm phong cách Paris, do kiến trúc sư Alexandre Marcel xây dựng vào năm 1896 tại góc ngã tư Lê Thánh Tôn và Tự Do. Khai trương từ năm 1948. nằm ở góc đường Tự Do –Nguyễn Thiếp, nhà hàng Brodard nổi tiếng với cà phê phin và bánh ngọt ngon tuyệt hảo.

Givral tại góc đường Tự Do và Lê Lợi

Gọi Cà phê vớ hay cà phê bít tất sai vì chuyện Sài Gòn mà ai lại xài từ của Ba ke hai nút. Kêu là cà phê vợt vì vợt đựng cà phê bằng vải tám hoặc vải may bao bột mì. Hình dạng giống như cái vợt cá lia thia nhưng đáy vợt hình phễu sâu hơn.

Cà phê kho là cà phê nóng cứ ninh hoài trên nồi nước sôi lâu nó đắng nghét do bắp trộn trong cà phê nó tiết ra. Dân ghiền uống cà phé nại hay xây chừng kho hết ngon thì mình mất khách. Khách sành điệu uống cà phê luôn luôn chọn cà phê vợt mới pha. Do đó pha một vợt để bán cà phê đen, cà phê sữa. Chưng nửa tiếng bán không hết thì đổ cà phê ra một cái bình để nguội bán cà phê đá.

Cách pha cà phê vợt là: dùng nước sôi để chần sơ cái vợt cho nóng. Múc cà phê bột đổ vào vợt. Nói cà phê bột nhưng nó chỉ có 6 phần cà phê và 4 phần bắp. Nếu toàn cà phê nguyên chất thì mắc, người bình dân ít tiền không kham nổi. Cà phê nguyên chất dành cho cà phê phin bán cho dân thượng lưu, dân giàu.

Brodard góc Tự Do và Nguyễn Thiếp

Đặt cái vợt vào cái siêu (sắc thuốc Bắc) sau đó cho bột cà phê vào vợt. Dùng đũa bếp đảo liên tục để bột cà phê thấm vào nước nóng tạo ra nước cà phê. Tiếp tục đảo đũa bếp và nhấc cái vợt lên rồi, bỏ xuống. Rót vào ly nhỏ có đường gọi là xây chừng. Có sữa ông Thọ thì gọi là xây phé nại. Ly lớn là tài chừng và tài nại. Ít cà phê thì gọi là bạc xỉu.

Trước 1975, về Kế Sách, Sóc Trăng, sáng trước giờ đi dạy, tui quất một tô hủ tiếu chơi luôn một xây chừng chẩu (cà phê đen pha rượu đế) là mặt hồng hồng sáng trong trong đẹp trai hết biết.

Sao tui rành 6 câu vọng cổ vậy? “Hỏi rằng quê tui ở đâu? Quê tui xứ Mỹ rất lâu Sài Gòn” Nên tui biết cà phê Givral, La Pagode, Brodard…

Còn cái vụ pha cà phê? Nghề của tui mà! Tui hổng có dóc tổ đâu. Chẳng qua năm 1966, bên hông rạp hát Định Tường của bà Khương Hữu, cuối đường Lý Thường Kiệt, Mỹ Tho, má tui có cái quầy bán cơm tấm để nuôi anh, em tui ăn học. Liền bên quầy cơm tấm của má là cái bàn pha cà phê của tui thì tui không rành 6 câu sao được?

Má tui đã chết lâu rồi. Tui vẫn ly hương. Nhìn hình cái siêu sắc cà phê thì kỷ niệm xưa ùa về làm tui nhớ má tui! Hu hu!

ĐXT

Bỏ đi chữ L

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 27 Jul 2026

Người tài xế bước lên xe. Ông đi dọc theo lối hẹp có giữa hai hàng ghế, đếm đầu người ngồi không yên chỗ rồi đối chiếu với con số ghi trên danh sách ông nắm trong tay. “Bon”. Ông ta nói một mình khi trở lại, như một dấu chấm, một kết luận. Như xăng đổ đầy bình, đóng nắp và an tâm chạy suốt đoạn đường dài.

   Đó là một người đàn ông to lớn, nịt da thắt ở lưng quần xệ làm phóng đại chiếc bụng có khá nhiều mỡ. Tướng tá phục phịch của ông tương xứng với chiếc xe cồng kềnh mà lát nữa ông sẽ vật lộn với nó, đưa nó ra khỏi những con đường bé hẹp trong thành phố để nhập vào xa lộ thong dong, hun hút một phương trời chắn lối. Máy xe nổ êm, mười bánh lăn trên những đường sơn vàng kẻ ô vuông như bàn cờ và bên ngoài cửa xe thấp thoáng nhiều bàn tay dong cao vung vẫy. Không bao giờ, có lẽ suốt cả cuộc đời, tôi chẳng hề đón nhận sự bịn rịn của thứ nỗi niềm được tiễn đưa. Tôi luôn là kẻ lữ hành đơn độc. Và tôi thích được vậy. Hình bóng người ở lại, đứng cúi đầu giữa bến xe nhiều gió lộng sẽ làm hành lý mình thêm nặng; tựa thứ quang gánh chất lên hai vai và dưới chân đi là một cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó qua. “Quý vị nên rà soát lại lần cuối giấy tờ tùy thân của mình, cho chắc ăn”. Người tài xế nói vọng lui. Trong gương chiếu hậu đong đưa một khuôn mặt đỏ da thắm thịt. Phương phi và đầy thần sắc. Ông ta như đã ngủ qua một đêm chất đủ mộng lành, thứ giấc ngủ rất cần thiết trước mỗi một lên đường đa phần sẽ làm cơ thể hao hụt. Chưa ra khỏi biên giới tỉnh bang Québec nhưng ông đã xổ tiếng Anh với cách phát âm nặng nề của một kẻ lỡ uống nhiều nước sông St-Laurent. Có lắm người đã chê tôi nói thứ giọng Huế khó nghe, tôi cúi đầu làm thinh không dám đổ thừa cho dòng Hương êm ả muôn đời thầm lặng chảy ở cố quận tiêu điều.

   “Cầu Trường tiền sáu vài mười hai nhịp, anh qua không kịp tội lắm em ơi!” Không, anh sẽ qua. Anh sẽ tới kịp. Dòng nhắn tin của em chói chang đập vào mắt. Anh đã như cậu bé con tập đánh vần chữ quốc ngữ một cách khó nhọc trước cái e-mail không thể bỏ dấu của em. Anh cà lăm hay tại dòng chữ tật nguyền? Ngồi đối mặt với những hàng chữ ấy, bao giờ đầu óc anh cũng đều mọc lên sự liên tưởng: Nó tựa hình ảnh một kẻ bị lột truồng xiêm y. Và đáng phàn nàn là kẻ ấy, tên nạn nhân xấu số kia chẳng có được một thân hình đẹp mắt. Em đồng ý không? Sắc huyền hỏi ngã chính là áo xống lụa là. Nó là xương cốt chống đỡ hộ cho những mẫu tự a b c khỏi gãy đổ. Đôi vợ chồng thợ săn gửi e-mail cho nhau khoe kỳ tích: “Hom qua em moi giet mot con ac thu. Eo oi, long lon rung qua that la nhieu…” Nếu em đỏ mặt thì xin hãy bình tâm mà đổ thừa cho máy vi tính. Bà gửi điện thư kia lòng trong vắt không gợn đục một mảy may. Mà kể cũng vô duyên, lông lợn rừng nhiều là điều hiển nhiên, bà viết ra làm chi chuyện lãng xẹt ấy cho chồng lo sốt vó trong ngộ nhận? Vật lộn với con ác thú nào đến nỗi phải ra cớ sự kia?

   Cảnh sắc trôi chậm rãi lui sau. Có giàu tưởng tượng đến mức triệu phú cũng không thể ví von mình đang trên xe đò chạy suốt Sàigòn-Huế. Quốc lộ Một chẳng bao giờ mang cái vẻ ghẻ lạnh vô bờ như đường ra biên giới này. Trống trải quá, mênh mông quá, đồng không mông quạnh quá! Không đèo, không cây, không luôn cả sông hồ biển sóng. Chỉ trơ trụi một màu xanh tẻ nhạt của cỏ dại đang chết điếng với gió chướng cộm phồng giữa không gian lạ mặt. Tôi mở túi xách để lôi cuốn truyện Lolita ra. Nếp gấp đánh dấu nằm lưng chừng giữa bề dày có hơn năm trăm trang. Văn Vladimir Nabokov chẳng phải thuộc loại dễ đọc. Nó lê thê một cách chẳng đáng để dài dòng khiến mình dễ nản lòng không muốn ông ấy dắt đi tới cuối đường. Tuy vậy tôi vẫn mê cái mối tình khốc liệt ấy. Thích cách ví von của một người đàn ông khi nói về cô bé mình yêu: “… Lo-li-ta: le bout de la langue fait trois petits bonds le long du palais pour venir, a trois, cogner contre les dents. Lo.Li.Ta. Elle était Lo le matin, Lo tout court, un mètre quarante-huit en chaussettes, debout sur un seul pied. Elle était Lola en pantalon. Elle était Dolly à l’école. Elle était Dolorés sur le pointillé des formulaires. Mais dans mes bras, c’était toujours Lolita”.

   Một mối tình. Làm sao tôi có thể cắt nghĩa cho em thế nào là cao đẹp, thế nào là tội lỗi? Chuyện đôi ta, tôi chẳng an lòng khi nghe em phân trần: tại duyên phận. Tôi là đứa dốt nát, lòng tăm tối trước những điều Phật muốn khai nhãn. Vụng tu, không duyên số, đó chẳng qua là lối biện hộ của một người thiếu can đảm. Một cái cớ tự trấn an của kẻ bị thua cuộc. Ngày ấy hai ta đều cháy túi. Ván bài nọ đen đủi như một đường hầm chẳng có lối ra. Nhưng tôi không một lời than van. Vô vọng đã giúp tôi nhìn ngó sự vật bằng một nhãn quang tinh tế hơn. Tôi vẫn yêu em như ngày xưa. Loan tin không? Tôi vượt biên ngày hôm nay là một bằng chứng. Loan. Tên gọi cũng gần như Lolita. Bỏ đi chữ L, còn lại nỗi oan trái nằm lẫn khuất giữa hai đứa.

   Xe chạy chậm dần để sau cùng ngừng hẳn. “Đến biên giới rồi, xin mời quý vị xuống xe xuất trình giấy tờ”. Người tài xế nói khi tắt động cơ. Cửa mở, thấy thấp thoáng hàng chữ duty free treo trên một cửa hàng nằm đàng sau đồn bót phân định lãnh thổ của hai quốc gia. Tôi ở bên này, phương Bắc; và bên kia, hướng Nam có Loan định cư. Một mối tình không suông sẻ tự khởi đầu, và hiện tại giữa chúng ta đã có lằn ranh biên giới minh bạch. Xa mặt cách lòng, điều ấy chẳng ai có thể tranh cãi được. Rơm gần lửa lâu ngày cũng bén, chuyện đó ai nấy đều tán đồng…

   Đám hành khách lố nhố sắp hàng trước trạm kiểm soát có hai nhân viên mặc đồng phục ngồi làm việc đằng sau ô cửa gương mở hé. Lần lượt, luân phiên giải quyết từng cá nhân. Tôi đưa giấy tờ tùy thân cho một người đàn ông trung niên. Tấm căn cước bọc nhựa chứng nhận cái bộ mặt ngác ngơ nơi tấm ảnh đó là công dân của xứ Gia-nã-đại mùa thu lá bay. Coi ảnh, nhìn mặt, đọc thầm họ tên; sau cùng người ngồi cách một bệ chắn ngước mắt lên. Đôi mắt xám, gần tiệp với những sợi tóc màu tro cắt ngắn chiếu thẳng vào mặt tôi:

  – Bạn tính đi đâu?

   Rất ngạc nhiên, nhân viên công lực kia đã hỏi tôi bằng thứ tiếng Việt rõ ràng, chuẩn xác. Tôi ngó lá cờ Mỹ may ở tay áo ông ta, cảm thấy thú vị. Bên kia lằn sơn vàng cũng có lá cờ ấy treo cao đang reo cùng gió. Biên giới thoáng rộng, không hàng rào kẽm gai, chẳng có cột chắn ngang. Trời xanh, cỏ cũng xanh, độc đạo con lộ đen mun phơi thân giữa nắng đang muốn nhuộm vàng. Con đường thì chạy dài mãi miết chẳng đứt đoạn, chỉ có đôi chân con người đôi khi phải chịu dùng dằng nán bước.

  – Tôi đi Virginia.

  – Ở đó khoảng bao lâu?

  – Ba bốn ngày, cùng lắm là một tuần.

  – Mục đích của bạn là gì?

   Chắc không ai cảm thấy phiền hà nếu đứng đó đón nhận cả trăm câu hỏi dồn tới từ một người Mỹ nói tiếng Việt sành điệu thế kia. Phiền hà sẽ đến chừng nào ông ta đổi qua thứ tiếng mẹ đẻ. I DIE 4 U.

   Tôi nuốt nước miếng.

  – Tôi đi thăm nhà.

   Ngang đây thì kẻ phỏng vấn thoáng nhíu mày. Mặt ông ta có nét phảng phất như tài tử Clint Eastwood trong “In the Line of Fire”.

  – Thăm nhà?

  – Đúng thế. Bạn bè, gia đình tôi có những người cư ngụ ở vùng đó.

  – A. Gia đình. Family. Clint Eastwood reo lên, mừng như thể phát hiện ra tên sát thủ có mưu toan bắn hạ Tổng thống. Đi thăm gia đình, nói thế mới đúng chứ. Nhà thì ta gọi là house mất rồi.

   Mặt tôi chắc ửng đỏ, người tôi nóng ran. Tôi lúng túng với sự hổ thẹn vừa ùa tới. Nhân viên phụ trách an ninh cửa khẩu như phát hiện nét thảm hại bao quanh tôi, ông trả lại tấm căn cước với vẻ mặt hiu hiu gần như tự mãn.

  – Hồi trước tôi đóng quân ở Đà-nẵng. Tôi tham gia chiến tranh Việtnam những sáu năm.

   Tôi giật mình. Sáu năm. Đủ để thấy sự khác biệt giữa gia đình và cái nhà. Giỏi thật! Phần tôi, tôi ở đây hơn hai mươi năm nhưng tôi không thể bắt bẻ được một ai, kể cả những con bé cỡ tuổi bằng Lolita, chúng bóp còi và thò đầu trợn mắt với tôi: “You asshole!” Merde hay Chien thì cũng xêm xêm. Cứt với đái. Làm sao thanh minh, làm sao chứng minh sự khác biệt của mỗi từ khi chúng áp đặt không đúng chỗ?

  – Đi đường bình an. Chúc vui khi đến nhà, gặp lại người thân trong gia đình.

  – Cám ơn ông. Thank you, sir!

   Tôi lắp bắp, cảm động trước câu nói của “tên giặc Mỹ xâm lược”. Giờ này ở nước tôi, có lẽ chẳng còn mấy ai căm thù bọn đế quốc. Coi Mỹ xịn nhất thế giới là đằng khác. Nhưng thực sự đã có một thiểu số vẫn ngưỡng mộ Bin Laden, xem ông nhiều râu tựa bác Hồ ấy là anh hùng, dám “tẩn” thằng Mỹ một vố đau.

   Ông ta không kiểm soát hành lý của tôi, như thể sáu năm vào sinh ra tử ở chiến trường ‘Nam xa xôi  đã cho ông cái kinh nghiệm: Bọn da vàng mũi tẹt ấy chẳng đủ máu lạnh để chơi theo kiểu nhóm Hồi giáo quá khích.  Tôi trở lại xe đò, leo lên và ngồi vào chỗ của mình. Tôi nhớ tới Loan, nhớ tới thứ tình yêu ngày cũ đã có khi dằn vặt mình đến độ chán đời suýt đầu quân vào binh chủng Biệt động. Một con cọp nhe răng may bên tay áo trận, một khẩu AR-15 dễ bị trở ngại tác xạ và đôi chân xuôi ngược suốt 4 vùng chiến thuật. Tình yêu có thể mang người ta đến một thế giới an lành và ngược lại, nó cũng thừa sức dẫn ta mù lòa vào hỏa ngục. Tôi chưa xem hết cuốn truyện Lolita, nhưng tôi tin, cuối cùng nó sẽ kết thúc bằng một cái chết. Chồng Loan mất cách đây ba năm, bạn tôi hiện vẫn ở vậy nuôi đứa con mười tuổi. Trong những bức điện thư không có dấu, tôi đọc và đoán lờ mờ hình như bạn tôi đang cảm thấy cần một khuôn mặt đàn ông kề cận. Tôi yêu Loan và điều đó không nhất thiết phải là thứ Kim Kiều tái hợp. Hoặc giả, muốn hay không, trước tiên tôi phải nên xem xét thái độ của đứa bé gái mười tuổi kia. Dân chủ, mở cửa, và quan trọng nhất, trưng cầu dân ý; lắng nghe tiếng nói đến từ mọi phía.

 Loan trước mặt không hề là Loan trong trí tưởng tôi. Mái tóc thề đã cắt ngắn đi, khuôn mặt nhiều phấn son; và đã mất rồi, những đường cong gợi hình trên cơ thể. Như phù sa bồi đắp một rẻo đất thon. Như bản đồ một quốc gia đã nhượng cắt để hình thù phải bị hoán đổi đi. “Sông kia rày đã nên đồng!” Bao nhiêu năm rồi? Như một sáng soi gương tôi đã nhìn ra biết bao là sợi tóc bạc mọc tùy tiện trên đầu mình. Tôi nhìn Loan, lòng rưng rưng một nỗi niềm không cắt nghĩa được. Ôn cố tri tân là phương ngữ của kẻ thành công. Với tôi quá vãng là những lượng vàng ròng mà ngày tháng xê dịch đã lần lượt tướt đoạt ở chúng tôi quá nhiều thứ, trắng tay. Nó dẫn chúng tôi vào căn phòng chật, bày cho thấy một bức tranh hiện thực khổ lớn, ngổn ngang những đường dao nét cọ tàn bạo chồng lấp, phủ hoen ố tấm bố trắng tinh.

  – Loan đã lấy vé rồi, hai hôm nữa sẽ về thăm nhà.

  – Cái gì?

   Tôi ngạc nhiên. Trong tự điển Nhà là House đó cưng! Mình ơi! Bà xã ơi! Nhà tôi ơi!

  – Dắt con bé về thăm bà ngoại, lần đầu tiên cũng là lần sau cùng. Mạ Loan đau nặng, bệnh viện Huế từ chối. Tuổi cụ gần đất xa trời, chạy đi mô để tránh nắng đây? Họ nói như rứa đó!

   “Màu nắng hay là màu mắt em?” Mắt Loan vẫn đẹp như xưa. To, sâu, muộn phiền. Lại có chút thơ ngây lắng đọng ở trong. Rèm mi mở ra và nhốt đủ một phương trời viễn mộng. Phương trời xa lắc xa lơ một sớm mai thấy mình chợt bể tiếng.

   Ngó tôi ngồi bần thần trên ghế, Loan đi pha cho tôi một cốc cà phê. Pha thơm ngon, vừa miệng như kẻ từng đi guốc trong bụng mình.

  – Gửi gì về cho gia đình không? Loan hỏi.

   Đấng sinh thành của tôi giũ áo ra đi gần cả chục năm rồi. Hai tấm bia xi-măng chẳng trơn láng đặt không ngay ngắn trên hai gò đất vun đắp với nhiều sỏi đá. Bên kia đồi thông là lăng Tự-đức, con đường mòn vắng lặng nhiều lùm cây bụi cỏ có những cặp cháu ngoan bác Hồ buồn đời dắt tay vào làm tình làm tội nhau. Tiếng rên thống khoái có thể át tiếng gió mơn trớn trên đồi thông mọc nhiều nấm mộ. Dưới đồi là chỗ giữ xe của ông thương phế binh một chân một tay, lởn vởn hai ba tên hành nghề chụp ảnh đi loanh quanh nhìn trời ngó đất. “Nghiệp đoàn lao động” ấy sẽ trấn lột du khách không tường nội quy lỡ mang máy hình ra lăng xăng sửa thế làm vài bô kỷ niệm chốn Thần kinh. ” Có muốn chụp ảnh thì chóng cất máy hình đi. Gọi tui tới có gì khó nhọc? Mấy ôn chơi kiểu nớ là muốn đạp đổ nồi cơm của tụi ni chớ còn chi nữa?” Cảnh sắc không được ghi lên âm bản, ra về mạng không cho chắc chuyện. Đời thuở, luật lệ ngày nay chẳng biết ai ban hành? Nghĩ không ra! Bên kia đường là quán cà phê, sau căn nhà tranh xiêu đổ ấy có bày biện vài chiếc giường tre màn che khăn rủ, một số chị em ta không hiểu từ đâu chợt hiện hình, phục vụ vượt quá mức quy định mà giá bèo tới độ không tin. Sướng giàn trời mà tiền trao tay chỉ mua chừng chục ổi xá lị. Nghe ham! Con đường dẫn về thành phố có đoạn chưa trải nhựa, đất nhiều bụi đỏ khi nắng và lắm bùn vàng khi mưa. Toàn thể là bức tranh nhợt nhạt luôn trôi chậm trong đầu tôi mỗi một hồi ức. “Mai chị về em gửi gì không? Mai chị về nhớ má em hồng. Đường đi không gió lòng sao lạnh? Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong… Quê chị giờ xa tít dặm xa. Rừng thu chiều xao xác canh gà…” Thơ Quang Dũng bao giờ cũng gợn sóng ở trong lòng, loang ra đồng tâm một nỗi buồn nhẹ. “Buồn dâng đôi mi hàng lệ hàng”.

   Trước khi sang thăm Loan tôi có đổi được hai trăm đồng US. Chừng đó tiền gửi về, người nhận sẽ la toáng lên: “Trời đất ơi, đứa nào bỏ quên bạc lẻ ở trên bàn. Cầm ngần ấy trong tay thì tiêu thế chó nào được!”

   Tôi lắc đầu.

  – Mình bạc phước, chẳng còn ai để giúp và không một ai giúp mình.

   Mắt Loan to, sâu, đen, láng ướt, đọng chiếu nhiều dấu hỏi bên trong.

  – Thích gì không? Loan biết để mua làm quà mang sang.

   Nón bài thơ, mè xửng, hạt sen… đặc sản của Huế da diết nghèo. Làm sao tôi có thể thích hợp với thứ quà “mặn mà tình quê hương” đó? Em hãy dùng xe đạp, vào cửa Thượng-tứ, rẽ trái, bỏ băng Quốc tử giám, quẹo phải. Con đường ấy trồng nhiều cây mù u và sầu đông, nếu nó chung tình còn đứng đợi ở đấy. Dãy tường thành nhiều rong rêu, theo trí nhớ của tôi. Em sẽ chậm rãi đi vào cổng Hiển nhơn, có thể họ, những người ở bảo tồn bảo tàng sẽ thu ở em một ít tiền như kiểu bán vé cho khách tham quan tò mò xem nơi vua chúa triều Nguyễn từng ăn ở. Đừng vào sâu làm gì cho mất thời giờ. Ngọ môn lầu và điện Thái-hòa là chuyện thứ yếu, chẳng đáng quan tâm. Em sẽ thấy ngôi trường Cao đẳng mỹ thuật với lối kiến trúc thời thuộc địa Pháp. Cầu trời nó vẫn yên vị mà không bị dâu bể dời đổi chỗ khác! Cây bàng bề thế vặn mình núp sau cổng, chìa ra những chiếc lá to vân vi đầy màu sắc kỳ lạ. Xin em hãy đi quanh thân nó một vòng. Nhìn ngắm và sờ mó, thế nào em cũng sẽ phát hiện trên lớp vỏ sần sùi ấy còn chìm sâu một trái tim mưng mủ. Tôi học ban điêu khắc và bài thực tập đầu đời là mũi dao đã cạo vụng về, khắc lẩy bẩy vào thân cây hình thể một trái tim với chữ Loan phụ chú ở bên dưới. Hình ảnh rất “sến”. Em có thấy vậy không? Cải lương! Nhưng câu vọng cổ nào rơi xuống cũng mang theo nó ít nhiều cảm động. Mấy mươi năm rồi, trái tim xưa có thể đã méo mó. Chữ Loan có thể đã biến dạng, nhưng tôi tin niềm bí mật ấy sẽ chờ Loan về nhìn nhận rồi sau đó vết sẹo trên cây bàng thân yêu mới chịu liền da.

  Buổi tối Loan mang mền gối xuống cho tôi. Chiếc ghế ngồi có thể kéo ra thành giường và đối mặt nó là TV đang có chương trình hài hước. NBC, ABC hay CBS, mọi băng tầng phát hình đều thế cả. Người Mỹ cũng lạ, chuyện gì cũng khiến họ phá ra cười. Cười đến chảy nước mắt, ho khan và tắt tiếng. Họ thua Việt-nam cũng phải, cái dân tộc ấy người người đều là thi sĩ, mặt khó đăm đăm như nhà hiền triết, táo bón một nụ cười vì đi mãi vẫn chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm. “Nay ở trong thơ nên có thép, là nhà thơ cũng phải biết xung phong“. Đọc thơ ấy xong mà không phá ra cười là thua xa thằng Mỹ đấy!

   Sau lưng Loan, cô bé mười tuổi nép mình nhìn tôi với đôi mắt đong đầy ác cảm. Loan đã từng giải thích người ấy là bạn cũ của mom, chỉ ở tạm một vài hôm thôi. Người ấy như kẻ homeless, tội nghiệp. Sang đây chỉ để đưa tiễn mẹ con mình về thăm ngoại. You know? Loan khôi hài thêm, mượn lời nhạc của Alice Cooper: ” Hắn ta biết đánh răng nè, biết chải đầu nè, biết đi nhà thờ nè. Hắn đích thực là một nice guy!”. Nước đổ đầu vịt, chẳng đắc nhân tâm. Thủy chung con bé vẫn giữ lập trường, khoanh vùng, phân định giai cấp. Nếu tôi được là E.T, có lẽ nó sẽ đến gần lân la với nhiều thiện cảm, lộ vẻ ân cần: “E.T có muốn trở về nhà không?”

   Tôi tắt máy truyền hình, nằm nghe gió về xào xạc ngoài vườn khuya. Có tiếng còi xe cứu thương hú vọng từ xa, khu Seven corners hay ở hướng thương xá Eden? Tôi nhắm mắt, vẽ trong trí hình ảnh một bà mẹ nhắc nhở con đánh răng cẩn thận, hối thúc nó đi ngủ sớm. Thay vì ngồi bên giường đọc truyện cổ tích cho nó nghe, bà ta cẩn trọng pha chút thuốc ngủ trong ly nước suối: “Uống đi con, rồi sẽ bắt gặp mộng lành sau đó.” Chiếc áo ngủ lay động trên dáng đi rón rén, đôi chân trần nhón bước xuống những bậc cấp có lót thảm êm. Hơi thở nóng khô kề cận và sau đó là sự ướt át rịn ứa từ sâu thẳm. Trái tim thúc hối những nhịp đập hoảng loạn. “Chúng ta đã trót phung phí tuổi trẻ của mình một cách oan uổng, không đúng chỗ. Hai đêm còn lại ngắn ngủi này xin hãy rán sức đền bồi cho nhau. Chết bỏ bể bỏ…”

   Tôi thiếp đi. Lolita của Nabokov và Loan xưa của tôi thay phiên nằm đè lên thân thể tôi nặng nhọc. Tất cả chỉ là mộng mị. Tôi thực sự đã không có House, không luôn cả Family. Hỡi ông John, người cảnh sát biên phòng vừa thoáng gặp ngoài đồng không mông quạnh!

Cuối trời thênh thang

phamtinanninh.com

Phạm Tín An Ninh   

February 10, 2012   

Post by Sơn râu 27 Jul 2026

(Thay vòng hoa tiếc thương Phạm Vương Thục)

“những sớm mai lửa đạn

những máu xương chập chùng

xin cho một người vừa nằm xuống

thấy bóng Thiên đường cuối trời thênh thang”

(TCS)

Đã lâu lắm, kể từ buổi trưa u buồn ngày 30/4/75, khi nghe Trịnh Công Sơn hát bài Nối Vòng Tay Lớn trên đài phát thanh Sài gòn, đón mừng những người CS vừa cưỡng chiếm miền Nam, tôi không còn hứng thú để hát nhạc của ông, dù có nhiều bản tình ca tôi từng một thời ưa thích, bỗng dưng chiều nay buột miệng hát lên mấy câu trong bài hát khá xa xưa mà tôi đã quên mất vài lời, khi nghe Bác sĩ Ngô Thế Khanh và cô bạn Phạm Thu Đào báo tin Phạm Vương Thục vừa mới ra đi. Dù đã biết trước điều đau đớn này rồi sẽ xảy ra, tôi vẫn bàng hoàng, có cảm giác cả bầu trời trước mặt và ngay chính trong lòng mình như chỉ còn là một khoảng trống bao la. Tôi hình dung người lead gun phương phi của Phi Đoàn Song Chùy 213 hào hùng ngày nào trên bầu trời khói lửa Vùng I, Hạ Lào, giờ thực sự đang lặng lẽ bay về cuối trời thênh thang. Tôi mơ hồ như văng vẳng đâu đây dư âm của cánh quạt trực thăng vần vũ và tiếng đạn minigun, rocket từng tràng phóng xuống, thét gào, cuồng nộ. Rồi tất cả bỗng lặng yên, tĩnh mịch.

(Phạm Vương Thục và cựu Tướng Steve Richie)

Tôi biết và quen Thục chưa lâu lắm. Câu chuyện “Trên Chiến Trường Xưa” viết về người phi công can trường Phạm Văn Thặng – bào huynh kính yêu của Thục – gãy cánh vào một buổi chiều mùa hè 72 trên vòm trời lửa đạn Kontum trong một phi vụ yểm trợ cho chính đơn vị tôi, đã bắc nhịp cầu cho Thục và tôi cái duyên hạnh ngộ. Những giọt nước mắt của Thục trong lần đầu gặp nhau hôm ấy, làm tôi thực sự cảm động về nghĩa tình đệ huynh của gia đình họ Phạm. Sau đó quen và được gần gũi Thục hơn, mỗi ngày hình ảnh của anh càng in đậm nét trong lòng tôi. Trong con người cao lớn oai phong với hàm râu quai nón, trên đầu lúc nào cũng đội chiếc bê rê đen, hay mũ lưỡi trai nhà binh, trông như một chàng giang hồ lãng tử, lại là một tâm hồn đa cảm hiền hòa, lúc nào cũng mở trọn vòng tay yêu thương và trái tim nhân nghĩa với tất cả anh em, bằng hữu. Phạm Vương Thục là điển hình của một người bạn chân tình tri kỷ. Khó mà tìm ở anh bất cứ một điều gì để có thể không yêu thương, không quí mến. Ở anh, toát lên một nghĩa khí chứa chan hào hiệp ân tình. Mỗi lần nhìn nụ cười niềm nở thánh thiện của anh, trong lòng tôi mơ hồ như đang nở ra bao đóa hoa nhân ái.

Mấy ngày đầu năm Nhâm Thìn trời Cali bỗng dưng trở lạnh. Không khí rộn rịp của các Hội Tết, tiệc tùng Họp Mặt Tân Niên dường như không làm tan đi được áng sương mù ảm đạm trong lòng những người yêu thương Thục. Bạn bè của Thục ở khắp Cali và ở khắp nơi đã dành những ngày Tết cầu nguyện cho Thục.

Từ Bắc Âu tôi đến Cali vào cuối tháng 10. Chưa kịp phôn cho Thục thì anh đã gọi thăm. Anh bảo vừa mới gởi cho vợ chồng tôi thiệp cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, cậu con trai cưng quí. Thiệp mời bị bưu điện trả lại vì thiếu số Unit. Nhà chúng tôi ở trong một khu condo. Thục hỏi xin tôi số Unit để gởi lại. Tôi bảo: không cần gởi làm gì cho mất công, bạn chỉ cho tôi biết tên nhà hàng và ngày giờ, nhất định chúng tôi sẽ đến chung vui với ông bà. Thục cười. Sau tiếng cười rộn rã, Thục bảo:

– Tôi mời anh chị, nhưng không chắc tôi sẽ có mặt trong ngày đám cưới cháu. Nhưng dù có tôi hay không, nhất định anh chị phải đến chung vui với gia đình tôi và hai cháu nghe!

Tôi ngạc nhiên:

–  Đám cưới con trai cưng mà ông bỏ đi đâu, đừng có đùa cha nội!

Tôi lại nghe tiếng Thục cười, điềm tĩnh:

–  Tôi bị cancer gan và mật, coi bộ kẹt lắm! Ngày mai đi bệnh viện chụp hình và lấy test lại để bác sĩ chuyên khoa quyết định phải làm gì. Im lặng bàng hoàng giây lát, tôi chỉ còn biết trấn an và chúc anh mọi điều may mắn.

Hai hôm sau, nhận điện thoại của Thục, tôi vừa mừng vừa lo. Anh vẫn cười, giọng bình thản:

–  Thục đang nằm bệnh viện Kaiser Permanente ở Irvine, phòng 312. Anh có rảnh chạy xuống nói chuyện chơi!

Tôi báo cho Thục biết là tôi sẽ đến ngay với một người bạn. Khoảng 30 phút nữa sẽ gặp Thục. Ở xa đến, không quen đường, chúng tôi bị lạc trên xa lộ 405. Hơn 45 phút sau, Thục gọi lại hỏi tôi đang ở đâu, vì biết tôi bị lạc đường. Nghe giọng Thục hơi yếu. Anh bảo khá mệt, rồi đưa điện thoại cho chị Thục chỉ đường.

Thục nằm trên giường bệnh. Tôi thoáng hốt hoảng khi trông anh tiều tụy, gầy đi nhiều lắm, đang được chuyền sérum và hai ống cao su nhỏ dẫn dưỡng khí vào lỗ mũi. Thục giải thích:  tự dưng ruột của anh bị xoắn lại, nên bác sĩ không cho ăn uống gì cả, để ruột được giãn ra, trước khi có thể tiếp tục điều trị cancer bằng các phương pháp khác. Do vậy anh bị yếu sức. Vậy mà gặp tôi, anh rất vui, cầm chặt tay tôi, miệng vẫn cười niềm nở như bao lần gặp nhau, như chưa hề có điều gì phải ưu tư lo lắng. Anh say sưa hết kể về bệnh tình lại sang chuyện bay bổng ngày nào trên chiến trường xưa. Tôi mang theo mấy tờ báo có bài viết của tôi, theo lời dặn của anh, nhưng tôi biết vào lúc này anh không thể nào đọc được. Chị Thục ngồi bên cạnh. Thật tôi nghiệp, cũng tiều tụy hốc hác vì đã lo lắng, chia sẻ nhọc nhằn đau đớn cùng chồng. Chị luôn ở bên anh, nhiều đêm thức trắng.

Ngại anh mệt, tôi định cáo từ, nhưng anh vẫn nắm chặt tay tôi, đôi mắt mệt mỏi bỗng sáng lên, say mê kể lại trận chiến Hạ Lào, Lam Sơn 719, khi ấy anh đang là lead gun của Phi Đoàn 213, gần như mỗi ngày đều có mặt trên vùng trời trận mạc, trong tầm ngắm của đám phòng không địch dày đặc giữa trùng điệp núi rừng. Tôi hiểu được là anh đang trở về với thời quá khứ đẹp đẽ nhất trong đời mình. Một thoáng hạnh phúc hiện lên trên khuôn mặt đã gầy đi vì bệnh hoạn. Tôi ngồi nán lại, với ý nghĩ là để anh tiếp tục cái giây phút hạnh phúc hiếm hoi này mà quên bớt những điều trước mặt.

Khi chào anh và chị Thục, bước ra, tôi thấy anh vẫn nở nụ cười thanh thản. Cũng như lúc kể cho chúng tôi nghe về căn bệnh trầm kha, anh bình tâm như những lần nhìn thấy hỏa tiễn SA-7 đang bay về hướng anh, hay những lần phi cơ trúng đạn, anh phải đáp khẩn cấp xuống các căn cứ hỏa lực đang bị địch quân vây khốn. Có lần anh tâm tình:

– Chữa được thì tốt, không được Thục cũng vui vẻ mà chấp nhận thôi. Bao nhiêu năm vào sinh ra tử mà còn sống tới hôm nay, coi như đã được Chúa thương, cho hưởng nhiều bonus lắm rồi. Thục luôn sẵn sàng vâng theo ý Chúa! Thục sống trong niềm tin Chúa Kitô phục sinh, nên được Chúa gọi về là một niềm hạnh phúc.

Tôi là người ngoại đạo, và chưa trải qua cái giờ phút nằm đợi chờ bên bờ sinh tử, nên không biết cảm giác của mình khi ấy ra sao. Có đủ đức tin, can đảm và bình thản như Thục không? Nhưng tôi chưa thấy một người nào có được cái tâm thanh thản, vui vẻ như Thục trong thời điểm đặc biệt này. Thì ra trong con người can trường, nhân hậu ấy, còn có rất nhiều đức tính và nhất định hơn hẳn tôi ở cái “Ngộ Đạo Đất Trời”. Anh xứng đáng là một tín đồ ngoan đạo, hằng sống với đức tin mãnh liệt vào Đức Kitô.

Mấy hôm sau, một số độc giả đọc được tin và những tâm nguyện sau cùng của Phạm Vương Thục trên trang Cánh Thép, liên lạc tôi, xin cho biết tên Thánh của Thục để cầu nguyện cho anh. Tôi gọi vào cellphone của anh nhưng nghĩ là chị Thục sẽ bốc điện thoại. Sau một hồi chuông reo, tôi bất ngờ nghe tiếng Thục. Yếu ớt, thì thào. Anh bảo là đang nằm ở nhà, mệt lắm, rồi đọc cho tôi tên Thánh. Tôi xúc động, không biết nói lời gì. Và mặc dù không nghe rõ, nhưng tôi không dám hỏi lại anh. Nửa giờ sau, tôi gọi điện thoại nhà, chị Thục bốc máy, đọc lại tên Thánh “Bartholomew” của Thục và cho tôi biết: “anh Thục yếu và mệt lắm, nhưng nghe có anh gọi, đã dành lấy điện thoại để nói chuyện với anh”. Tôi nghẹn ngào xúc động. Tôi chỉ là một người bạn sơ giao, mà anh Thục đã chí tình như thế đó, làm sao tôi có thể ngăn được dòng nước mắt?

Anh nhắm mắt lúc 9 giờ 55 sáng ngày 29/1 trước khi tâm tình dặn dò vợ con bằng hữu. Anh đã chuẩn bị xong cả phần xác lẫn phần hồn, muốn hậu sự phải tổ chức thật đơn giản. Không  vòng hoa, phúng điếu. Những bạn bè nào thương anh, xin hãy góp vào Quỹ “Cho Em Một Nụ Cười” do Frère Phong, một người bạn học thời niên thiếu của anh sáng lập nhằm giúp đỡ những em bé mồ côi, đói nghèo tại các vùng hẻo lánh ở Việt Nam và Cam Bốt, mà anh đã tiếp tay phụ lực từ lúc ban đầu. Bao la biết dường nào tấm lòng nhân hậu ấy!

Được tin anh ra đi, tôi thẫn thờ giây lát, nước mắt trào ra, rồi ngồi dậy viết lời Phân Ưu định gởi cho vài tờ báo quen. Trước khi gởi đi, ngại viết tên Thánh của Thục không đúng, tôi vào website Cánh Thép tìm đọc lại các trang Phân Ưu của một số đơn vị, đồng đội của anh. Tôi rất ngạc nhiên, vì tất cả đều biến mất, mặc dù trước đó chỉ mới mười lăm phút, tôi đã đọc kỹ từng lời. Tôi chợt thoáng hiểu ra, khi nghĩ đến đám cưới của cháu Phạm Hưng Quốc, con trai thứ của anh chị sẽ tổ chức vào cuối tuần này. Mọi sự đã chuẩn bị và thiệp mời đã gởi đi, khó mà đình hoãn được. Tôi gọi cho Phạm Thu Đào, cô Hội Trưởng trẻ tuổi tài năng của Phố Núi Pleiku, bạn thân của anh chị Thục. Thu Đào xác nhận những điều tôi vừa suy đoán. Nhớ lần tôi và một người bạn đến thăm Thục, anh vui vẻ dặn dò: “Dù có Thục hay không, các bạn đến chung vui với vợ chồng cháu Quốc, là tôi vui lắm, cứ coi như tôi đang có mặt và cụng ly mừng với các bạn”.

Chiều Thứ Bảy 4/2, vợ chồng tôi đến nhà hàng Seafood Palace dự đám cưới cháu Quốc mà lòng dạ bùi ngùi. Cố nhớ tới lời dặn dò của Thục, để thấy vui hơn. Khoảng trên sáu trăm thực khách trong nhà hàng không còn chỗ trống. Tôi nghĩ có lẽ tất cả khách mời đều không ai vắng mặt. Bởi cũng như chúng tôi, đều thương quí Thục, cảm kích tấm lòng hy sinh lo lắng cho con của Thục. Hôm ấy, tôi ngồi chung bàn với bác sĩ (KQ)Ngô Thế Khanh, chị Phạm Thu Đào, ca sĩ Minh Hạnh (chị của đại tá Nhảy Dù HK Lương Xuân Việt) cùng vài anh chị rất thân quen với Thục. Chúng tôi đã kể những kỷ niệm với anh, nói nhiều về anh, về một Phạm Vương Thục rất chí tình, rất dễ thương cùng lòng quí mến mà tất cả bạn bè đã dành cho anh chị.

Buổi chiều ngày Thứ Sáu 10/2, chúng tôi bước vào Thánh Đường La Vang nằm trên đường Harbor để viếng anh lần cuối. Thục nằm yên như đang say ngủ, khuôn mặt hiền lành phúc hậu, miệng như sắp nở nụ cười mừng đón bạn bè như những hôm nào. Trong nhà thờ đông đủ mọi người. Những người lính Không Quân ở hoàn cảnh nào cũng “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”. Từ khắp nơi họ về đây để nắm tay, tiễn đưa người huynh đệ một thời hào hiệp và cùng hẹn gặp lại nhau ở vùng trời viễn mộng, không còn khói lửa chiến tranh. Như lời Thục đã âu yếm nói với bạn bè trước lúc ra đi: “Tao đi trước để dọn chỗ cho anh em”. Lời nói chỉ có thể thốt ra từ trong tâm của một người bạn chí tình. Tôi hình dung những lần Thục bay trước vào vùng, bắn dọn bãi đáp thật chu đáo an toàn cho những người bạn cùng phi đoàn đáp xuống đổ, bốc quân, tản thương hay tiếp tế khẩn cấp cho các đơn vị hành quân.

Thục ơi! Ngày mai, đúng lúc gia đình và bạn bè tiễn đưa anh về với Chúa, cũng là lúc vợ chồng tôi bước lên máy bay trở lại Bắc Âu băng giá. Tôi tiếc là không được nghe những lời từ biệt của các niên trưởng, đồng đội ngợi ca và tiếc thương anh, nhưng tôi nghĩ mọi ngôn từ cũng sẽ không thể nói hết được lòng quí trọng mến yêu anh, một phi công, một chiến sĩ đã làm hết sức mình cho Không Gian, cho Tổ Quốc. Chỉ tiếc rằng vận nước sớm điêu linh!

Không có mặt trước giờ phút anh trở về cát bụi, nhưng ở trên bầu trời bao la, chúng tôi sẽ vẫy tay tiễn biệt và cầu nguyện cho anh:

“Những sớm mai lửa đạn

Những máu xương chập chùng

Xin cho một người vừa nằm xuống

Thấy bóng thiên đường…cuối trời thênh thang”

Hẹn gặp lại anh. Khi “dọn chỗ cho bạn bè“, xin anh nhớ dành một chỗ cho tôi, gần bên anh, nếu tôi đến được Thiên Đàng.

Viết vội tại Anaheim, đêm 10/2/2012

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 27 Jul 2026

Để theo dõi những tên tội phạm nguy hiểm vừa được thả ra tù, cảnh sát đã có những chiếc còng điện tử mang trên cổ chân những tên này để tiện bề theo dõi những hành tung của chúng ngoài xã hội, dù lên núi hay xuống biển, cũng không thoát khỏi sự kiểm soát tinh vi của cảnh sát. Hiện nay, thế giới có một thứ “còng điện tử” khác mà người ta đeo nó một cách tự nguyện, đó là cái điện thoại cầm tay mà người ta gọi nó là cell phone, hand phone hay mobile phone … Trong các thành phố lớn, tỷ lệ số người tự nguyện mang “còng điện tử” này lên rất cao, có những gia đình mỗi người có một cái phone tay, đến nỗi người ta cắt luôn phone nhà và các phòng điện thoại đặt ở các ga xe lửa, tàu điện ngầm, trên phố xá, trước cửa các tiệm buôn dần dần rồi sẽ mất dạng luôn. Ngày trước có khi người ta phải xếp hàng trước các buồng điện thoại này để chờ gọi cho được một cú phone. Trong các buổi lễ trọng đại, các cuộc tranh tài thể thao, hội nghị, ban tổ chức thường phải thiết lập một hệ thống điện thoại có trăm đường dây cho các phóng viên có thể liên lạc về với tòa báo hay cơ quan truyền thông của họ. Ngày nay với hệ thống cell phone hay laptop của computer, công việc liên lạc đã trở nên quá ư tiện lợi, dễ dàng.

Cũng nhờ cái phone cầm tay, có người bị kẹt trong thang máy, có người bị xe lăn xuống vực sâu nhờ đó mà thoát thân. Chúng ta cũng không quên ngày 9/11 đã có người dùng cell phone gọi cho người thân trong khi đang có không tặc khống chế phi hành đoàn trên máy bay hay đang gặp nguy hiểm từ trong ngọn tháp cao đang nổi lửa. Mấy năm trước đây, khi cell phone mới phôi thai chưa tối tân lắm, tiếng điện thoại reo còn đơn điệu, do vậy mà trong đám đông, có tiếng điện thoại reo là hai ba người cùng rút máy ra một lần. Ngày nay tối tân hơn, mỗi điện thoai có cả vài chục âm thanh gọi khác nhau, người ta có thể “set” cho mỗi người gọi tới có mỗi tiếng reo khác nhau và hình người gọi hiện lên màn ảnh, để tùy ý chúng ta muốn trả lời hay không. Điện thoại còn chụp được ảnh, còn chơi được game, còn gởi được e-mail, có được biết bao nhiêu tiện nghi cho người ta xử dụng. Nhưng với cái cell phone đã có hằng trăm thứ rắc rối, nợ đời xẩy ra và nó càng tiện nghi, nó càng gây phiền toái cho người mang nó không ít. Báo chí gần đây có đăng một câu chuyện hy hữu xẩy ra vì điện thoại cầm tay. Một ông nọ trong khi du dương với bồ nhí, không hiểu xuất kỳ bất ý thế nào mà nằm đè lên một cái nút, lại đúng là cái memory gọi thẳng vào điện thoại của vợ ở nhà. Thế là bao nhiêu lời âu yếm, du dương kể cả rên rỉ đều lọt vào tai vợ. Câu chuyện không biết hạ hồi phân giải thế nào, nhưng chắc chắn là ông nọ thề là không bao giờ đeo trong mình cái “còng điện tử” này nữa.

Bây giờ các hãng điện thoại thường có “family plan” giá rẻ để dành cho những người trong gia đình dùng chung một “account”, do vậy những cái điện thoại này giống nhau y chang. Có một lần, bà vợ dậy sớm đi làm quơ vội cái điện thoại để trên bàn giấy nhét vào túi xách. Ở sở trong khi đang thảo một bản phúc trình cho Ông Giám Đốc của mình, bỗng cái cell phone reo lên từng hồi, bà mở máy chưa kịp “hello” thì đầu giây bên kia, một giọng nói ngọt như đường phèn:

– “Tuấn đó hả, sao tối hôm qua gọi mãi mà không thấy cưng trả lời, bị “sư tử Hà Đông” trấn áp phải không?”

Bà vợ sững sờ, bối rối nhìn lại thì hóa ra sáng nay vội đi làm bà cầm nhầm cái “cell” của ông chồng. Thế là vì cái cell phone “cà chớn” mà gia đình này từ một trận 911 New York bùng nổ dữ dội đầy lửa khói, cho đến chiến tranh lạnh vẫn chưa chấm dứt. ID của người gọi cùng tên tuổi lại hiện lên rõ mồn một trong máy thì anh chồng cũng thôi hết đường chối cãi.

– Anh đi đâu mà gọi mãi từ sáng tới giờ không thấy trả lời?

– Anh bỏ quên điện thoại ngoài xe.

– Hello! Anh đang ở đâu đó?

– Ở trong sở!

-Trong sở sao nghe tiếng nhạc ồn ào thế?

– Hello anh đang ở đâu đó?

– Đang ngồi uống cà phê với bạn?

– Quán cà phê sao nghe êm re vậy?

Đó là chưa nói đến có khi còn nghe tiếng đàn bà léo nhéo đâu đó trong máy nữa mới chết chứ!

Đang lái xe trên xa lộ – điện thoại reo, đang hội họp nghiêm trang – điện thoại reo, đang giữa tang lễ sụt sùi – điện thoại reo, trong rạp chiếu phim đang đến hồi gay cấn – điện thoại reo. Ở giữa đám đông, trong tiệm phở, ở chỗ mua bán đông người, nhiều ông bà cứ nghĩ mình đang ở vườn sau, cứ oang oang hết chuyện này tới chuyện nọ, lâu lâu lại xen tiếng Anh, tiếng Mỹ để khoe tài, khoe công việc nữa mới khổ chứ. Thật là khổ nạn.

Đang nói chuyện với bạn bè mà tự nhiên chẳng nghe cái gì nữa, thì đúng là người ta đang dùng điện cell phone, nhất là cuối tuần, vì cuối tuần thì cell phone nói free!

– “Xin lỗi mất signal!” Trăm lần như một. Tai nạn lái xe thường xẩy ra là vì trong khi lái xe, nhiều bà đã tô môi, kẻ mắt, nhiều ông đã đọc báo, nhai bánh mì hoặc thậm chí khó tin nhưng có thật, có người đánh răng

nữa (!). Bây giờ lại theo những con số thống kê, nói chuyện điện thoại trong khi lái xe, có thể gây nhiều tai

nạn chết người không kém gì tai nạn uống rượu mà lái xe. Đang lái xe trên đường, mỗi khi qua các khúc ngoặt, thấy cái xe đằng trước, lúc quẹo trái quẹo phải, tay lái có vẻ không ngọt cho lắm, thì y mười lần như một người lái đang áp sát cái cell phone vào tai mà mải mê đấu hót. Nhiều tiểu bang ra luật bắt người lái xe muốn điện thoại phải dùng ống nghe nhét tai hoặc headsets, nhưng theo một cuộc khảo sát của Nha Lộ Vận Na Uy thì khi người lái xe rảnh tay lại dùng điện thoại nhiều và càng dễ dàng gây tai nạn hơn. Thụy Điển lại tin rằng khi người ta dùng điện thoại mà rảnh tay, họ sẽ lái xe nhanh hơn và cuối cùng là thắng chậm hơn.

Nhưng bạn nghĩ sao, trước khi rời nhà đi làm hay đi chơi mà vội vàng bỏ quên cái điện thoại cầm tay ở nhà?

Bạn sẽ quay xe lại lấy hay suốt ngày cứ cảm thấy như thiếu thốn một vật gì, một vật mà hiện nay thuộc loại “vật bất ly thân”, đó là “cái còng điện tử” không hơn không kém!

Người xưa nói:”Không có gì là sướng nhất. Bây giờ có vợ khổ theo vợ, có con khổ theo con, có nhà khổ theo nhà, có xe kbổ theo xe .. ” Biết cuộc đời khổ vậy mà thời đại này người ta đi đâu lại tình nguyện mang kè kè bên hông cái còng điện tử, nghĩ có thật khó hiểu không?

Đêm thị trấn

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 26 Jul 2026

Em từ đồng ruộng lên thành phố

Thân gái dăm trường cuôc mưu sinh

Tôi ở bên này dòng Thạch Hãn

Đời chiến chinh đi chẳng cuộc tình

Đêm nay quán nhỏ mờ khói thuốc

Nghe người ca sĩ hát đến khuya

Đôi mắt em hình như ngấn lệ

Đời tụi mình buồn quá phải không em?

Tôi dăm ngày phép về hậu cứ

Thị trấn buồn như nghĩa địa hoang

Cùng em đi dưới màu trăng cũ

Bỗng thấy long mình như nghĩa trang

Mùa này đâu phải mùa thu úa

Sao lá vàng rơi theo bước chân

Hình như em có điều muốn nói

Thôi thì hãy giữ lại riêng mình

Chia tay nhau dưới hàng cây tối

Cầm tay không nói được lời nào

Mai tôi đi về miền biên ải

Thấy đời mình như hơi khói bay

Mùa này đâu phải mùa thu úa

Sao lá vàng rơi theo bước chân

Hình như em có điều muốn nói

Thôi thì hãy giữ lại riêng mình

Chia tay nhau dưới hàng cây tối

Cầm tay không nói được lời nào

Mai tôi đi về miền biên ải

Thấy đời mình như hơi khói bay

Mai tôi đi về miền biên ải

Thấy đời mình như sương thu bay

Mai tôi đi về miền biên ải

Thấy đời mình như sương thu bay

Cá nhà táng

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Jul 2026

Tranh Bảo Huân

Thanh Hóa là tỉnh lớn nằm về cực Bắc miền Trung Việt Nam, rộng hơn 11 ngàn cây số vuông, dân hơn 3.7 triệu, có núi, có rừng, có đồng bằng và có biển nên giàu tài nguyên: lâm sản, khoáng sản, nông sản và thủy sản. Có sông lớn như sông Mã, gầm lên khúc độc hành, qua bài Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, thời đánh Pháp.

Thanh Hóa còn nổi tiếng hơn nữa vì là quê của nhà thơ Hữu Loan, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Trong khi những nhà thơ nổi tiếng trước ông, thời tiền chiến, như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên ăn theo thuở ở theo thì, cam tâm quỳ… để kiếm chút danh thừa, lợi cặn… thì Hữu Loan lại kiên cường không chịu luồn cúi! Sau 75, ông vào Sài Gòn, tình cờ nghe một thương binh trên sân ga, chơi Bolero, bài: ‘Những đồi hoa Sim’ của Dzũng Chinh. Ông dừng chân, lắng nghe, vẻ xúc  động, xong nói: “Tôi là tác giả của bài thơ đó!”

Hữu Loan kể: “Thi đậu Tú tài Tây, ông được mướn về làm gia sư cho một đứa học trò, Lê Ðỗ Thị Ninh, sau nầy là vợ ông. Cưới nhau xong, ông tiếp tục đi kháng chiến. Hôm đó là ngày 25 tháng Năm, âm lịch, năm 1948, em ra ngoài sông Chuồn, (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống) giặt áo. Vì muốn chụp lại tấm áo nên trượt chân, bị nước cuốn trôi đi, chết đuối.

“Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím.”

Năm 1955-1956, xuất hiện nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, chống lại cái chính sách độc tài, chống bọn bồi bút cam tâm lừa thầy, phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn, Hữu Loan có viết bài thơ: “Những thằng nịnh hót”.

Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp khốc liệt, Hữu Loan bị đi cải tạo.

Cải tạo xong, ông bỏ về quê vì: “Tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động…

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi.”

Người vợ sau của Hữu Loan là bà Phạm Thị Nhu, một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất năm 1954-1955. Song thân của bà Nhu bị đem ra đấu tố, rồi chôn sống xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong bọn chúng cho trâu kéo bừa đi qua đi lại trên 2 cái đầu đó, cho đến chết. Bà Nhu, lúc đó, chỉ là cô con gái 17 tuổi, được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ, rách. Tàn nhẫn hơn nữa, cán bộ còn ra lệnh cấm không cho ai được nuôi nấng hoặc thuê cô ấy làm công, cấm đoán dân chúng lấy con cái địa chủ làm vợ, làm chồng. Nhưng Hữu Loan bất chấp lệnh cấm vô nhân đạo nầy, vẫn cưới cô làm vợ. Hai người có tới 10 đứa con và nhà thơ Hữu Loan vẫn tiếp tục thồ đá đi bán để nuôi vợ, nuôi con. Uy vũ bất năng khuất!

Người thứ hai cũng làm Thanh Hóa trở nên nổi tiếng là nhà báo Phùng Gia Lộc với bút ký: “Cái đêm hôm ấy đêm gì?”

Ðại để câu chuyện, có thật, là: “…Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề, mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Ðông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi.

… Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau…”

Trong khi vợ ông thì khổ quá, kêu: “Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời…”

…Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc.

“Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước”. Ðồng chí Bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế…

… Bọn chúng đạp lật nghiêng một cái. Nắp ván thiên bung ra, lúa chảy rào rào.

“Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Ðó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt!”

“Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!”

Nói rằng bài ký “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” đăng trên tuần báo Văn Nghệ ở Hà Nội năm 1987 của Phùng Gia Lộc đã đốn sụm bà chè tay lãnh chúa Thanh Hóa, Hà Trọng Hòa, hét ra lửa mửa ra khói… là nói quá.

Ðừng ngây thơ, bé cái lầm, tưởng ngòi bút trong tay mình mạnh bằng cả một sư đoàn như từng được xưng tụng mà “Viết lách như thế… bỏ cha có ngày!”

Chẳng qua là nội bộ bọn chúng, trâu cột ghét trâu ăn, tìm mọi cách chơi nhau cho rớt khỏi cái ghế ngồi béo bở để tới phiên tao leo lên ngồi và cũng ăn giống hịt vậy… mà coi chừng còn ăn bạo hơn nữa kìa.

Thân mẫu của nhà báo Phùng Gia Lộc (chắc đã mất, 30 năm rồi còn gì!) đã từng ước vọng: “Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi!” vẫn là nỗi tuyệt vọng khôn cùng của người dân Thanh Hóa từ thuở đó cho tới tận bây giờ. Tiếc thay nhà báo Phùng Gia Lộc, cũng đã không còn, để thấy không phải một Hà Trọng Hòa ăn thôi mà đứa nào leo lên được cái ghế nầy rồi cũng rứa!

Phùng Gia Lộc sẽ ‘ngộ’ ra và kết luận rằng: Guồng máy tỉnh đảng bộ CS Thanh Hóa, giống như một cái máy ‘photocopy’ vậy! Những gì nó in ra, giống hịt nhau không sai chút nào hết ráo. Ðể nhà báo Phùng Gia Lộc đừng bịt mồm Mẹ mình vì ‘ngu trung’ hay vì… sợ hãi?!

“Ối Ðảng ôi là Ðảng ôi! Chính phủ ôi… Trông xuống mà coi…

Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:– Mẹ! Mẹ không được la như thế! Ðây không phải Ðảng! Ðảng ta không làm thế. Ðảng không chủ trương thế này!”

Mới đây thôi, báo chí lề phải trong nước, được lịnh ngầm ở trên, kẻ tung người hứng, bèn chơi cái tựa “Tiền Ở Ðâu Ðể Cung Phụng ‘Bồ Nhí’?” trong loạt bài về ‘quan’ Thanh Hóa. Rằng ‘quan’ đã bỏ ra hàng chục tỉ đồng chạy chức, để leo lên ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen. Như các tỉnh và thành phố khác, ‘quan’ Thanh Hóa hành xử như một lãnh chúa cát cứ, thời Thập nhị Sứ quân.

Mang danh là Tiến sĩ về dâu tằm, nhưng ‘quan’ cũng thừa biết, trồng dâu nuôi tằm là húp nước mắm! Muốn gỡ lại vốn, rồi làm giàu nhanh chóng thì chỉ có đất đai, mỏ… để bán lại cho một số doanh nghiệp thân hữu với giá như bèo rồi được “thối lại” hàng ngàn tỉ đồng.

(Vậy mà có một em người mẫu đồ lót (tức nội y, tức quần ‘sì’) trong nước, tuyên bố rằng: “Lấy chồng nghèo cạp đất mà ăn”! Em đẹp nhưng ‘lờ khờ’  thiệt! Cạp đất mới có ăn chớ!)

Dĩ nhiên, ‘quan’ chối bai bải, ngúng nguẩy như đỉa phải vôi! ‘Quan’ đòi đi thưa mấy anh trên Bộ Công An, để ‘nhát’ lại kẻ đã chơi mình. Nhưng chạy thuốc thì tốn tiền lắm lắm! Công vơ vét bấy lâu, nay nó hù mình, rồi nó hốt hết ráo công sức của mình bấy lâu. Cốc mò cò xơi! Sao được? Thôi, tom góp vàng bạc, đô la rồi cuốn nóp dông luôn đi, cha nội!

Lại nhớ bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hóa trong cuốn tiểu thuyết ‘Trống Mái’ của Khái Hưng thời tiền chiến. Cũng một mối tình tan vỡ giữa Vọi, chàng thanh niên chài lưới chất phác, cùng Hiền, một thiếu nữ đài các, ở Hà Nội ngàn năm văn vật. Vọi yêu Hiền đơn phương trong câm lặng. Chỉ biết leo lên Hòn Trống mái, đục vào vách đá hai mẫu tự: VH – tên tắt của mình và người mình thầm yêu trộm nhớ. Rồi cuối cùng Vọi thả mảng ra khơi. Trời đẹp, biển êm. Sáng tinh sương, mảng đã ra xa. Vọi bỏ neo quăng lưới. Bỗng lưới mắc phải vật gì… Vọi nhảy xuống biển… “Trời ơi! Cá nhà táng!”

Vâng! Thanh Hóa vùng đất dấu yêu của Hữu Loan, của Phùng Gia Lộc và của Vọi bây giờ cá nhà táng không phải chỉ có ngoài biển Thanh Hóa để ăn thịt người. Cá nhà táng nằm ngay trong những căn nhà tráng lệ của quan chức trên bãi biển Ðồ Sơn.

đoàn xuân thu.

melbourne

Bố cục một bức tranh

phamcaohoang.com

Hồ Đình Nghiêm

Post 4 Nov 2016

Post by Sơn râu 26 Jul 2026

Hồ Đình Nghiêm – Montréal, thánng 11.2016

Tôi sẽ đi thuê xe, bất kể hiệu gì, miễn là loại 4×4 thích hợp cho dốc đồi, sạn đạo hoặc suối khe bùn lầy. Nếu có gắn máy định vị hướng dẫn đường xá thì càng tốt. Laura nói: Phần tôi sẽ đi chợ mua các nhu yếu phẩm, những thứ mà người ta vẫn sắm sửa cho chuyến đi dã ngoại.

Ở phố mùa thu đến rụt rè, cây thưa nên chưa đủ lực để thắp nên màu vàng sẫm tựa chốn xa điệp trùng. Laura thích vẽ một bức tranh thu, cô có điện thoại hỏi thăm ông bố và đón nhận từ ngoại ô đầy gió một đáp trả chẳng mấy nồng ấm: Tuỳ mày. Bố Laura chưa nghỉ hưu, ông làm thứ công việc gần như một kẻ kiểm lâm và sau khi ly dị vợ ông mua được căn nhà nhỏ nằm kề cận bên bìa rừng. Laura cho hay, cảnh vật ở đó rất tuyệt, kể cả mùa đông; thiên nhiên luôn chung tình chứ không như những hình khối bê tông mãi đổi thay dị dạng ở phố phường. Sự khoáng đãng của nó khiến mình nhẹ người ra, phiêu hốt. Khi nói về người cha, Laura chỉ vắn tắc: Thì người già ấy mà, họ chướng theo cách của họ. Đừng ngại, chỉ tạm trú một hai hôm, bất quá thì chúng ta đi bụi. Nghe chữ bụi, một nửa tôi hơi ngán và nửa kia là cả một sự quyến rũ. Điều này cũng tựa như khi nghe Laura xúi tôi ngồi trước khung bố trắng. Để giải quyết, căn bản là mình chớ nên miễn cưỡng, bất kể việc gì, tôi đã nói với Laura như thế. Đi về miền hoang dã trong mùa thu, rõ là tôi chẳng miễn cưỡng chút nào khi nghe lời đề nghị. Một cánh rừng ngập lá vàng, nó luôn lưu giữ cái bí mật đáng yêu. Giữa tôi và Laura hiện lên thứ gì lớn hơn cả tình bạn và cô ấy chưa tiện cho tôi chiếc chìa khoá để chạm tay vén mở cánh cửa sau cùng. Cô đọc lên câu thành ngữ của Pháp: Hãy làm bạn với láng giềng nhưng đừng phá vỡ hàng rào. Đó là sự ví von đầy sai lạc, bởi muốn chứng minh về sức mạnh của tình yêu đã có lắm kẻ sẵn lòng đạp đổ bao chướng ngại. Tôi đã giải thích câu tiếng Việt ra cho Laura nghe: Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua. Tôi thuê xe để chở cô đi về chốn đèo heo hút gió là một bằng chứng.

Dò theo bản đồ, vùng quê hoang lạnh ấy cách phố chúng tôi ngụ dài hơn 100 cây số, ở hướng bắc. Vì đường xấu có thể sẽ mất hai tiếng, do vậy chúng tôi quyết định khởi hành vào ban trưa. Ra khỏi cây cầu luôn kẹt xe, xuống tới được xa lộ, một bên hông màu trời đã đổi sắc. Cụm rừng thưa ở đó như có mãnh lực để gom thu mọi nguồn sáng, trưa mà diết da thứ màu của bảng lãng bóng hoàng hôn. Thứ cu-lơ làm khó cho Laura khi nhúng cọ pha phách trên bảng màu. Laura không học mỹ thuật, vì đam mê nghệ thuật tạo hình cô tự mày mò lấy và những bước đi chập chững ban đầu tuồng như đã định hình ra những sãi bước thành tựu. Cô tạo được một thủ pháp riêng và cá nhân tôi, tôi thành thật khuyến khích cô. Đi vẽ phong cảnh hôm nay hoàn toàn không phải là một sự bốc đồng. Tôi đã mua tặng Laura hai tuýp sơn dầu, thứ do Hoà Lan sản xuất, một ống trắng và một ống màu vàng. Tôi nghĩ nó sẽ chóng hao hụt trước các ống màu khác.

Bố Laura gầy ốm nhưng đó là hình thể của kẻ chăm lao động, rắn chắc. Ông hôn trên trán Laura thay cho lời chào mừng và bắt tay tôi, hơi hờ hững. Ông nhắc lại một cột mốc quá khứ để tự ngờ vực là hai cha con đã xa nhau đến ngần ấy năm. Để dễ nhớ, dường như trong đầu ông vừa chợt hiện bóng hình người vợ cũ. Ông hỏi: Mẹ mày ra sao rồi? Laura nói, má vẫn vậy, mỗi cuối tuần con đều ghé thăm, trên vách vẫn treo đủ những tấm ảnh ngày cũ, bà tuồng như chẳng ghét bỏ những kỷ niệm. Khi về già chẳng biết con có được giống mẹ không, bởi ai khiến lòng ta đau thì ta nên loại bỏ ảnh hình người ấy, treo nó lên, nhìn thấy mỗi ngày thì chóng lão hoá mất. Cả Laura và ông bố đều hướng mắt tới tôi khi Laura nói xong. Và tôi thử quan sát bốn mặt vách vây quanh căn phòng này, tuyệt chẳng máng lên một khung ảnh, một bức tranh, một vật dùng để trang trí. Người đàn ông này chừng như ưa bầu bạn với cô đơn, tận cùng chữ trơ trọi. Đứa con gái cách biệt, ở xa về thăm cũng không khiến ông niềm nở vui thú.

Chúng tôi được dẫn xuống một cái demi sous-sol, nơi chất đầy củi và những thứ phế phẩm, tuy thế vẫn còn khoảng trống để kê chiếc giường nệm đầy bụi bám, một chiếc bàn, hai cái ghế và cái tủ gỗ lớn thuộc hàng cổ vật. Một đồng hồ quả lắc lên giây thiều đường bệ treo trên vách nhưng nó từ khước việc đếm thời gian, quả lắc to hơn cái bát đồng đứng yên trong tịch lặng. Mày mang hết đồ vào chất dưới đây, giường đó dành cho cậu này. Ông bố nói. Tao ngủ trên cái futon ở phòng khách, còn mày thì vào phòng tao mà ngã lưng. Tạm trú bao lâu? Hai ngày? Laura không trả lời. Cô bước lại phía có treo chiếc đồng hồ cổ điển đã chết với sự lạc hậu của nó, cô nhìn thấy bốn chai rượu chát nằm yên trên giá gỗ. Bố thích ăn món gì nào? Chiều này con sẽ đứng bếp làm bữa cơm đoàn tụ. Người đàn ông đặt chân lên những bậc cấp: Bày vẽ, một mình, tao đã quen với sự giản tiện, muốn nấu nướng mày phải cất công chạy ra siêu thị Métro mà mua sắm thịt thà rau quả.

Laura nhìn tôi, hỏi: Cùng đi chợ nhé? Lần này để tôi lái xe, tôi biết cái siêu thị đó nằm ở đâu. Laura từng mang tôi tới thăm người mẹ cô, bà thuê một căn hộ nhỏ sống trong chung cư toàn cả người đứng tuổi. Ở đó tôi đã nấu phở và làm chả giò cho vị thực khách dễ mến, bà nói một câu khiến tôi nhói lòng: Bạn tin không? Bạn là đứa đàn ông đáng yêu nhất mà tôi từng gặp phải trong đời sống. Nói nhỏ thôi, nên Laura không nghe thấy. Và tôi cũng nói thầm, nếu như ai cũng phát ngôn kiểu đó tôi nguyện sẽ vui thú xắn tay phục vụ thức ăn mỗi bữa. Tôi bất hiếu với song thân, chưa một lần tự mình nấu nướng cho ông bà ăn, bởi vì bố mẹ tôi mất khi tôi chưa kịp trưởng thành. Mẹ của Laura có thu giữ điều gì rất giống với mẹ tôi mặc dù chuyện gia đạo, song thân tôi luôn biết cách làm cho nó ấm êm. Khi đứng gần một người đàn bà bất hạnh, dĩ nhiên tôi bị bà ấy làm cho mình mềm lòng. Khi nhìn cái đồng hồ quả lắc bị bỏ quên dưới basement tự dưng tôi nhớ tới mẹ Laura, nhớ và gợn lên chút thương cảm làm chỗ đứng vốn lạnh càng tái tê hơn.

Tôi trao chìa khoá xe cho Laura, cô đeo đôi bông tai của mẹ tặng và tự dưng tôi muốn hôn cô. Mẹ tôi có đôi bông tai bằng vàng 24k nhận hạt ngọc trai, mẹ nói sẽ cho cô con dâu tương lai của mẹ nhưng đau buồn cho tôi khi đến tuổi nhi lập thì mẹ tôi chẳng còn tại thế. Tôi nghèo xác xơ ở tất cả mọi định nghĩa, một tấm lòng thành thì muốn biểu tỏ chừng như anh phải lệ thuộc vào một khởi động nào đó, ban đầu là một tặng phẩm, tôi đồ thế. Laura đứng yên cho tôi tìm ra chút hơi ấm, chẳng mấy lâu vì cô không muốn ông bố phát hiện. Ông đang đứng ở cánh cửa mở rộng, giữa vây bọc màu vàng của xác lá đôi mắt ông là hai hòn than âm ỉ cháy đỏ.

Vì trông ra những chai rượu vang còn nguyên vẹn, Laura quyết định làm món bíp-tếch dùng với khoai tây đút lò nướng. Mỗi người sẽ ăn cả ký thịt bò hạng A sản xuất tại bình nguyên đầy cỏ mượt phía cực tây Canada. Căn nhà sẽ ấm lên bởi những ngọn lửa gaz và người sẽ nóng lên do nồng độ từ chai rượu quyết khô giọt cuối. Không mấy khi, ông bố Laura nói thế, bữa ăn này có cần nêu một lý do không? Mày và cậu này quan hệ ra sao? Vào rừng để vẽ tranh à? Không chắc sẽ được êm xuôi vì hôm Halloween vừa qua đã xẩy ra một án mạng trong đó. Cảnh sát vẫn còn giăng ngang dọc những biển báo tránh đặt chân qua phạm vi gây án. Họ sẽ chận hỏi khi biết chúng mày là kẻ lạ mặt. Và gió, làm sao mày có thể dựng tấm bố rộng lên giá vẽ? Có quá nhiều bất tiện mày thấy không? Phụng sự cho nghệ thuật? Tao không nghĩ vậy khi mà oan hồn cô thiếu nữ bất hạnh kia vẫn còn lãng vãng trong cánh rừng hoang lạnh. Tao và đội kiểm lâm vẫn chưa yên thân với cánh điều tra tội phạm. Thấy gì? Biết gì? Nghi ngờ điều gì? Có ai xa lạ đi vào rừng? Cả trăm câu hỏi. Thôi, ăn uống no say đi, ngủ một giấc biết đâu ngày mai đã đổi khác. Nhớ chưa? Mày ngủ phòng tao và cậu này chui xuống dưới đó mà ngáy. Tha hồ ngáy.

Tôi nhớ là tôi chẳng ngáy. Tôi không ngủ tròn giấc vì hơi lạnh luôn chờn vờn. Mặc thêm áo ấm, phủ kín cái mền dùng cho bọn đi cắm trại vẫn cứ rét run. Có khi tai nghe tiếng vặn mình kẻo kẹt của những thanh gỗ lót nền tầng trên, có khi mơ hồ thấy có bóng trắng thoát ra từ cái tủ gỗ trông như một cổ mộ của Ai Cập. Tôi co thân, thu cả hai tay vào trong bắp đùi, nhắm nghiền đôi mắt rồi tự vẽ ra trong đầu tấm thân nuột nà của Laura. Cô giống mẹ nhiều hơn bố, giống ở cách ứng xử thật điềm đạm, dễ tủi thân và thích tự mình tìm lời giải ở mỗi vấn nạn; nghĩa là cô mang đủ tính chất đầy nữ tính và khi kề cận nó luôn khiến tôi han hỏi, quan tâm, ưa tìm hiểu. Cô giống mẹ cô cả ở thể hình, ngực Laura không lớn, chẳng mấy cao và mái tóc dài mượt mà như những thiếu nữ phương đông. Tôi mơ thấy những bước chân rón rén của Laura bước nhẹ xuống từng bậc cấp, cô lật mền ra và nằm ủ tôi trong cái máy sưởi thật diệu kỳ luôn phát nhiệt giữa tứ chi. Tôi thiếp đi.

Không biết đã mấy giờ, mặt trời chưa lên. Tăm tối vây bọc bốn phía, sáng nhờ nhợ là khuôn mặt cận kề của Laura. Cô lay tôi, đánh thức tôi dậy. Khuôn mặt Laura đẫm ướt như một kẻ vội vàng rửa mặt mà chưa dùng khăn lau. Đi, dậy đi nào, mau lên. Chút rượu nồng còn vướng trong hơi thở cấp bách của Laura. Tôi xỏ chân vào đôi giày, không kịp cột dây để một bàn tay chẳng cưỡng chống theo sức lôi quyết liệt của Laura. Như một cuộc liều thân vượt thoát chốn ngục tù, tôi chưa hoàn hồn khi ngồi vào trong xe. Sương xuống lạnh làm kính xe mù mịt. Chuyện gì đã xẩy ra? Hai kính gạt nước làm cảnh vật sáng tỏ dần nhưng hồ nghi trong lòng vẫn bưng bít. Chạy xe đi. Laura hối thúc. Một cuộc vượt ngục ra đi mạng không, tất thảy đồ đoàn phải chịu để lại. Sao kỳ cục thế? Xe dằn xóc trên con đường dần xa vũng tối, quận lỵ nhỏ bé nằm phía dưới kia nhấp nháy từng vụn sáng. Sẽ xuống tới, sẽ tấp vào, sẽ kiếm một cốc cà phê và sẽ hỏi cho ra lẽ.

Laura rấm rức, rồi tiếng khóc chẳng kềm giữ bật lên. Chẳng lớn, nhưng đủ chứng thực tâm trạng của một kẻ đang bấn lòng đớn đau. Tôi dừng xe, tôi tìm sợi dây an toàn để cài thân cô lại trên ghế, loay hoay tôi phát hiện cô quên không mặc áo nịt ngực. Ngực mềm đang thổn thức. Tôi vuốt tóc rối cho cô, da Laura lạnh. Tôi cởi chiếc áo ấm của mình ra để phủ đắp cho thân kia mãi run. Tôi hỏi nhưng đáp trả vẫn là những giọt nước nóng mãi đổ xuống. Tôi ngó chiếc quần dùng để mặc khi ngủ của Laura nhăn, có chỗ bị xé rách và tôi đã hiểu ra.

Tôi cho xe về lại thành phố trong bình minh nhọ mặt người. Một đôi khi người ta bị du vào cái thế chẳng muốn nhìn mặt nhau, bởi cả trăm lý do. Tôi chẳng còn lòng dạ nào ghé mua cà phê vì tiên quyết là Laura chẳng muốn gì cả, muốn bó thân chẳng cục cựa và về nhà sớm chừng nào hay chừng đó. Sẽ nhào vào phòng tắm, đứng kỳ cọ dưới vòi sen mà hơi nóng dâng đầy làm mờ tấm gương soi bắt đối diện.

Bảy giờ sáng, xe đỗ trước apt. Laura mướn. Cô nói trong cúi mặt, sẽ điện thoại lại sau. Và rồi lách người qua khung cửa ngập lá. Chưa bao giờ tôi đưa cô về nhà với thứ y phục cô mặc trên người tựa thế. Cũng chưa khi nào tôi thấy tôi vụng về như hôm nay. Một tấm kiếng đã rạn, tôi sợ thốt nên lời gì thì tự khắc tấm kiếng ấy sẽ vỡ vụn xuống, manh múm. Còn quá sớm, tôi chẳng biết cách để phung phá thời gian. Tôi đốt thắp một điếu thuốc rồi nhớ ngay ra đôi mắt thu giữ đốm lửa kỳ dị của ông bố Laura. Ở sát rừng, neo thân. Đã bao năm vắng bóng đàn bà. Tu gần hết chai rượu và đứa con gái nằm ngủ ngay trên chiếc giường quen thuộc của mình giữa khuya vắng tẻ…

Tôi lái xe tới căn hộ của người mẹ Laura. Không riêng bà, có khi tôi cũng nhìn ra chiếc bóng cô đơn mãi in vào vách của mình. Bà không biết điều hệ trọng, là cô con gái bà đã đánh rơi đôi bông tai bà tặng trên chiếc giường người chồng đã ly dị cả chục năm. Ông ta sẽ cất nó làm vật kỷ niệm và khi uống rượu say, có thể ông sẽ ngồi rung đùi thoáng nhớ về hai người đàn bà đã đi qua đời tôi.

Cửa mở không mấy lâu sau tiếng chuông. Mẹ Laura mặt tươi tỉnh: Người già thường ngủ ít, đâu có hề gì, bao giờ cậu tới thăm tôi đều hoan hỉ cả. Đứng vác mặt ra ô cửa sổ tôi đã trông thấy cậu xuống xe. Đi đâu sớm thế? Tôi cởi gày để đi vào ngồi trong căn bếp, bao giờ cũng vậy dù củi lửa nguội lạnh, chỗ ngồi kia, theo tôi, nó ấm áp nhất nhà. Hơn bao giờ hết tôi muốn được mẹ Laura pha mời tôi một cốc cà phê, dù đó là thứ bột hoà tan chẳng mấy hợp khẩu vị của tôi. Như vậy nè, con tính mượn chỗ bác để nấu một món gì đó và chúng ta cùng chung đũa. Bác sẽ gọi giúp con mời Laura tới dùng bữa thì vui thú hơn. Bác nghĩ sao? Khuôn mặt mẹ Laura giãn nở trông thấy: Tôi là người hạnh phúc, bởi con bé ấy đã quen được cậu. Tấm lòng cậu dành cho chúng tôi thật đáng quý. Uống cà phê xong cậu chở tôi đi chợ luôn thể, nhé. Tôi sẽ học cách tự mình nấu lấy những món đặc sản của xứ cậu.

Tôi bưng cốc cà phê cho ấm đôi bàn tay và đi nhìn vào từng khung ảnh treo đầy vách. Có một tấm đen trắng chụp người đàn ông đang bế trên tay một cô bé chừng tám, chín tuổi. Mặt người đàn ông tiềm ẩn nét gì ngó chẳng mấy thiện cảm trong khi cô gái mặc đầm trắng thì trông như một thiên thần. Người đàn ông kia chừng không muốn trao thiên thần cho tôi, hoặc trước khi sớt chia ông muốn tự mình làm hoen ố, cướp mất sự thánh thiện có ở thiên thần lạc loài ấy.

Như vậy, bức tranh thu như Laura dự tính thực hiện đã không thành. Đợi ngày lành tháng tốt tôi sẽ đề nghi Laura thay vì vẽ phong cảnh hãy đổi ra vẽ chân dung. Đề nghị mẹ Laura ngồi ở giữa mà tả hữu có đôi vợ chồng vụng dại đứng thiết thân. Cái đẹp có trong bức tranh sẽ phát quang, làm lu mờ và đánh đắm những bức ảnh kỷ niệm ngày xưa mãi treo chật chỗ này. Tôi mường tượng là mình nghe rõ những tiếng cười reo vui, tán đồng, hân hoan trôi trên tháng ngày buốt giá sắp về, phủ chụp.

Hồ Đình Nghiêm

1 tháng 11. 2016.

Chuyện một người bạn học

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 26 Jul 2026

Trước khi vào đệ tam Võ Tánh, hai thằng cùng học một lớp bên trường Văn Hóa. Năm đệ ngũ, niên học khai giảng hơn hai tuần thì cô Hương, giám thị, dẫn một người vào lớp. Mới đầu, từ cô Tùng Linh, giáo sư hướng dẫn, đến học trò, không ai nghĩ anh ta sẽ là học sinh vào lớp đệ ngũ này. Người cao lớn, vạm vỡ, đẹp trai, mái tóc bồng bềnh, mặc một cái áo sơ mi sọc đậm, ngắn tay, xăn cao, quần sans-pli bó ống với cái nịt to bản và đôi giày da bóng đi kêu lộp cộp. Lại còn cái kính đen dắt trên dây nịt nữa chứ. Một cuốn tập cuốn tròn trong túi sau.
Cả lớp tròn mắt ngạc nhiên khi nghe cô Hương giới thiệu anh ta là học trò mới, từ xa đến. Cái tên nghe cûng lå: LâmNi.
(Sau này mới biết anh ta gốc tàu Chơ Lớn, cha Tàu mẹ Việt. Gia đình giàu có. Cha anh làm chủ một công ty xuất nhập cảng. Vì không kiểm soát được anh, nên gởi anh ra Nha Trang ở với ông cậu, là chỉ huy phó quân trường Đồng Đế. Ba má anh tin tưởng ông cậu nhà binh này sẽ đưa thằng con cưng của mình đi vào nề nếp. Cùng với không khí mát mẻ, hiền hòa của thành phố biển sẽ làm nó hiền lành ngoan ngoãn hơn).
Cô Tùng Linh chỉ cho Lâm Ni vào ngồi chung bàn với tôi ở phía sau. Anh chào tôi bằng cái rờ đầu rất kẻ cả. Tuần đầu anh im lặng, ít nói chuyện với ai. Mà có lẽ cũng chẳng có ai muốn làm quen với anh ta, ngoại trừ Trần Bá Hòa, người vui tính mà nghịch ngợm nhất lớp. Nhưng chỉ một tuần lễ sau là không khí cả lớp thay đổi hẳn. Mấy nàng nữ sinh ngồi phía trước liên tục bị bắn giây thun từ phía sau lưng, thi nhau quay ra phía bàn tôi chửi rủa. Có lần cô Linh đang viết trên bảng đen bị lạc đạn, cả lớp phải nín thở. Một lần khi thầy Nguyễn Đức Nhơn đang gọi điểm danh, thình lình cả lớp như chợ vỡ, khi mấy người đẹp phát hiện một đám chuột con đỏ hỏn nằm dưới hộc bàn. Ai cũng biết tôi là thằng gốc nhà quê, hiền lành. Nhưng vì ngồi chung bàn với Lâm Ni nên “có chửi cùng chia, có cười cùng hưởng”. Nói vậy chứ chưa có bà chị nào quay xuống bàn tôi để nở nửa nụ cười, mà chỉ toàn là những cái liếc sắc như dao, và tiếng rủa lùng bùng trong miệng chưa kịp phát ra thành tiếng. Tôi bực mình anh ta nhưng không dám phản ứng. Có lần tôi nhìn anh ta tỏ ra bực dọc, liền bị một cái cú đầu. Dưới mắt anh, lúc nào tôi cũng là thằng nhóc con. Nghĩ thân phận nhược tiểu nên tôi đành im lặng chịu đựng bên cạnh một đại cường. Nhưng tới một ngày, chiến tranh cũng phải bùng nổ, khi anh ta mượn rồi làm mất luôn cuốn vở “kiểu mẫu” (mà sau khi ở trường về tôi phải ngồi hằng giờ cặm cụi viết lại, uốn nắn từng chữ bằng nhiều thứ màu mực), tôi đã ném vào người anh tất cả mấy cuốn sách mà tôi có trong tay, giữa đám học trò trong lớp. Kỳ lạ, lần này anh lại cười hiền khô, ôm tôi và bảo “xin lỗi toa nghe!”. Đã thế ngày hôm sau anh còn mang cho tôi một bịch mấy trái thanh long. Từ hôm đó hai thằng xích lại gần nhau hơn một chút.

Cả trường biết anh, và có lẽ chẳng có ai ưa anh – tôi đoán thế – vì anh chạy một chiếc xe gắn máy hiệu Gobel màu đen mới toanh, trên bình xăng có vẽ hình con ó xòe đôi cánh, cái ghi-đông thật dài, ống pô được tháo bỏ phần hãm thanh nên nổ inh ỏi. Nghe nói tối nào anh cũng đi học võ ở võ đường của thầy Trọng Đãi. Có lần chính anh kể với đám tụi tôi, anh vào Judo Club để học lấy đai đen thì lại gặp thầy Trần Thanh Lý, dạy toán, cũng đang học trong đó, anh bèn rút lui. Khi ấy thầy Lý còn trẻ, nhưng anh nể thầy lắm. Mặc dù thầy Lý chưa hề phạt anh, bởi trong tất cả các môn học, môn toán và anh văn là anh giỏi nhất. Có lần thầy Lý còn gọi đùa anh là Lâm Bưu. Lúc ấy nhiều thằng trong đám tụi tôi chưa biết Lâm Bưu là gã trời đất nào, cũng cười theo. Nghe Lâm Ni kể là ông già của anh ta có cái mũi rất thính trong thương trường. Ông tin chắc là Mỹ thế nào cũng đổ quân vào Việt nam, nên mướn thầy dạy kèm Anh văn cho con mình từ năm Lâm Ni mới vào đệ thất. Còn toán là nhờ cái thông minh và lanh lợi mà trời đã ban cho anh ta để bù vào mấy cái tật khác. Lâu lâu, bọn tôi nghe Trần Bá Hòa thông báo là Lâm Ni hẹn đấu “pạc-co” với băng Lò Heo, băng thằng Điền, hay băng thằng Liên nào đó ở Xóm Mới. Mấy lần đám tụi tôi cũng tò mò theo Trần Bá Hòa đi xem, mới biết Lâm Ni võ nghệ cao cường mà còn có tinh thần võ sĩ đạo kiểu Nhật Bản nữa. Lúc nào cũng nhường cho đối thủ tấn công trước, và khi đối thủ ngã xuống, anh không thèm tấn công, mà còn đỡ đứng dậy. Trong khi những tay này đã từng chơi xấu anh sát ván bao lần trước. Anh ở nhà ông cậu ruột, một biệt thự trên đường Yersin, nhưng bạn bè thường thấy anh chở đào chạy vòng vòng ngoài đường Duy Tân, bờ biển. Có khi còn thấy chiếc xe Gobel của anh dựng cả ngày trước Bar Thu Thủy ở đường HoàngTử Cảnh.

Sang năm đệ tứ, không hiểu là vì mọi người đã quá quen cảnh cũ người xưa , hay là chính anh ta thay đổi, bỗng dưng “lòng chợt từ bi bất ngờ”, không thèm phá phách nữa, nên một số bắt đầu làm thân với anh. Mấy bà chằn lúc trươc bây giờ cũng có nàng đã cười nửa miệng với anh ta. Tôi bây giờ lại là thằng thân nhất với Lâm Ni. Những ngày nghỉ cuối tuần hay ngày lễ, anh đến nhà trọ chở tôi lên Phú Vinh, thăm khu vườn nuôi gà của anh Khanh, trưởng lớp. Khi ấy anh Khanh đã có vợ hai con. Có lần anh ta còn dám lấy xe jeep của ông cậu tới chở bọn tôi đi lên Thành thăm cô bạn Tuyết Phượng ở bên kia cầu Phú Lộc, nhưng mới đến Mã Vòng bị quân cảnh chặn lại hỏi giấy. Cả đám phải vào ngồi trong đồn để chờ ông cậu của Lâm Ni cho người đến nhân xe và nhận người luôn.Có lẽ tôi có duyên nợ gì với Lâm Ni. Ngày thi trung học đệ nhất cấp, vì tên cùng vần N, nên tôi lại bị xếp ngồi bên cạnh anh ta. Tí nữa thì tôi khốn khổ. Môn toán và Anh văn, không cần nháp nhiết, anh ta làm một cái vèo, nộp bài ra trước nhất. Nhưng mấy môn khác, tôi làm chưa xong, thì anh thò tay qua chộp. Chút nữa là ông giám thị bắt đươc, tôi hú vía. Kỳ thi ấy cả hai thằng đều đậu. Từ hôm ấy, anh ta càng thân với tôi hơn. Cứ vài ngày là chạy xe lại nhà tôi, chở tôi đi xuống quán số 1 duới bờ biển ăn bò bảy món, đi Cầu Đá ăn phở gà trước khi tôi về quê nghỉ hè.

Quê tôi ở ngoài Vạn Giã, vào Nha-Trang tôi ở trọ nhà ông chú, một hiệu buôn, trước ở đường Độc Lập, bên rạp ci-né Moderne của ông Bác Ái, sau chuyển về đầu đường QL 1 trước Ty Thông Tin. Chú thím tôi hơi nghiêm khắc, nên không muốn bạn bè tôi lui tới nhiều. Hơn nữa ông bà chỉ có một đứa con gái rượu, xinh gái, gọi tôi bằng anh nhưng lớn hơn tôi hai tuổi và học trên tôi một lớp, bên trường Lê Quí Đôn, nên ông bà cũng muốn “kín cổng cao tường” một chút. Lần đầu tiên Lâm Ni tới tìm tôi, ông bà nhìn anh ta từ trên xuống dưới, rồi bảo là tôi không có ở nhà. Thực ra lúc ấy tôi đang ngồi phía trong phòng khách. Thấy Lâm Ni tới tôi định chạy ra, nhưng nghe ông bà bảo vậy tôi im luôn. Sau này tôi dặn Lâm Ni cứ dựng cái xe gắn máy phía trước ngồi chờ, thấy chiếc xe là tôi chạy ra. Về quê nghỉ hè chưa tròn một tháng, thì chú tôi nhắn ba tôi đưa tôi vào Nha Trang gặp ông có chuyện gấp. Vào đến nơi, vừa bước vào nhà tôi mới tá hỏa. Ông chú hò hét chửi tôi một trận xối xả, rồi bảo ba tôi tìm một chỗ khác cho tôi ở học sau mùa hè.

Không biết tài tán gái thế nào mà chưa đầy một tháng Lâm Ni đã cua được cô con gái cưng của ông chú tôi mà tôi chẳng hề hay biết. Tôi bực anh ta nhưng cũng phục anh ta sát đất. Mà cũng xui cho anh – phải nói xui cho chính tôi mới đúng- Ông chú tôi là dân Nha Trang chính hiệu nhưng chưa hề biết nước biển Nha Trang ngọt mặn ra sao. Tôi nghĩ có lẽ cái lý do chính là ông không muốn cho bất cứ ai nhìn thấy cái bụng phệ hơi quá khổ của ông. Vậy mà hôm đó, có mấy người bạn từ Sài-gòn ra bàn chuyện làm ăn. Nể tình, ông mới chiều khách đưa họ đi biển tắm. Bất ngờ khi bước vào Quán số 3 bên bờ biển thì ông thấy một cặp tình nhân đang ôm nhau say đắm. Ông giận đến không biết mình đang ăn món gì trong miệng khi khám phá đôi tình nhân kia là cô con gái cưng của ông và thằng bạn trời đánh của tôi. Tôi mất mẹ từ nhỏ, nên Ba tôi cưng lắm, chưa hề la tôi một tiếng. Vậy mà hôm đó ông la tôi một trận. Câu cách ngôn “gần mực thì đen gần đèn thì sáng” hồi xửa hồi xưa, cũ như trái đất, được ông đem ra giảng tới giảng lui mấy lần, măc dù tôi cố gắng hết sức để bào chữa cho Lâm Ni: nào anh ta là con nhà giàu và tử tế, bên ngoài như thế chứ học hành giỏi, nào là hiền lành và tốt bụng lắm. Nhưng tôi đành đứng chịu trận khi ông chú tôi lỡ nóng dại mồm dám xác nhận ngay trước mặt bà thím là chính ông ta gặp Lâm Ni mấy lần trong Bar Thu Thủy, và dưới Grand Hôtel. Tôi nghĩ tối hôm đó chắc ông cũng mệt với bà. Nói thì nói vậy, chứ gì thì ông chú cũng nể ông già tôi, và cũng cần tôi để làm cho ông mấy bài toán cộng trừ, tính lời lỗ mỗi ngày, nên sau khi ông hết giận, rồi đâu cũng vào đó. Bị chửi quá nên tôi cũng giận Lâm Ni, định bụng sau hè vào phải dũa cho chàng ta một trận và nhất định nghỉ chơi với anh ta để vào Võ Tánh yên ổn mà lo học hành.

Ngày nhập học, khi đang ngơ ngác tìm lớp, thì có người vỗ vai. Quay lại, thì đúng là Lâm Ni. Anh ta vào Tam B còn tôi vào Tam C. Gặp lại trong giờ ra chơi, tôi kéo Lâm Ni ra ngoài, thụi vào bụng mấy cái, kể lại chuyện tôi bị ông chú đuổi. Anh ta không thèm an ủi tôi một tiếng mà còn bảo tôi lên nhà ông cậu ở với anh ta. Thực ra chàng ta cũng là một thằng tốt bụng, nhưng tôi nghĩ thầm nếu tiếp tục quen với Lâm Ni sẽ còn gặp phiền phức nữa, nên kể từ hôm ấy tôi lánh mặt anh ta. Vào Võ Tánh, dường như Lâm Ni cũng thay đổi nhiều. Mặc đồng phục và cắt tóc tai đàng hoàng. Nhưng bây giờ đi học bằng chiếc Vespa mới toanh. Chắc là phần thưởng thi đậu của ông già. Lâu lâu tôi thấy anh đứng ngoài cửa sổ lớp Tam C của tôi trêu ghẹo mấy người đẹp ngồi trong lớp. Cái lớp Tam C của tôi sao hiền lành quá. Chắc là thiên hạ chuẩn bị để làm người lớn, hay là các bà chị trong lớp vừa đẹp vừa hiền như ma soeur nên không còn tên nào muốn làm ma quỷ nữa. Ba năm ở Võ Tánh trôi qua rất êm đềm, như mặt nước hồ thu, không còn lại trong tôi điều đặc biệt nào đáng nhớ. Ngày nhập học lớp Đệ Nhất, tôi có ý tìm nhưng không thấy bóng dáng của Lâm Ni. Tôi nghĩ chắc chàng ta rớt tú tài 1, nên sang trường khác học lại. Nhưng sau đó, tôi nghe mấy người học cùng lớp với Lâm Ni bảo là anh ta đậu kỳ hai, nhưng đã theo ông cậu thuyên chuyển đi nơi khác. Tôi thoáng một chút bùi ngùi, khi nghĩ là chẳng bao giờ còn gặp lại anh ta. Ba năm sau tôi vào quân trường Thủ Đức. Ra trường được chuyển ra một đơn vị tác chiến lưu động ở Ban Mê Thuột, (mà lính tụi tôi thường gọi là xứ Buồn Muôn Thuở, hay là Bụi Mù Trời) làm trung đội trưởng.

Trong một cuộc hành quân phối hợp, tiếp viện cho một chi đoàn thiết quân vận bị phục kích tại Quãng Nhiêu, sau khi giải tỏa tình hình, tiểu đoàn rút về, chỉ có trung đội tôi được lệnh ở lại tăng phái cho một đại đội Biệt Động Quân. Thấy tôi có vẻ lo âu khi trung đội phải ở lại một mình giữa chiến trường khói lửa chưa tan, ông tiểu đoàn trưởng bảo:

– Chú mày yên chí, đại đội BĐQ này khá lắm, thằng đại đội trưởng này đánh đấm có tiếng trong binh chủng mũ nâu đó. Khi dắt trung đội hơn hai chục thằng lính, nửa kinh nửa thượng, đến trình diện đại đội BĐQ, tôi sửng sốt khi nhận ra ông đại đội trưởng chính là Lâm Ni. Tôi đứng nghiêm đưa tay chào

– Tôi đem trung đội tới trình diện trung úy.

Lâm Ni nhận ra tôi ngay. Anh ta hét lên:

– Có phải mày là thằng Ninh không.? Đ.m. trung úy cái con khỉ, tao là Lâm Ni đây, mày không nhận ra sao? Rồi anh ta ôm tôi quay mấy vòng.

Giải toả tình hình xong, trung đội của tôi tiếp tục được đặt dưới quyền của Lâm Ni, nhận lệnh ở lại tìm kiếm một số chiến binh thất lạc và giữ an ninh cho quân cụ lên kéo mấy chiếc M 113 bị bắn cháy và hư hại về Ban Mê Thuột. Tối hôm ấy Lâm Ni giữ trung đội tôi đóng quân chung với ban chỉ huy đại đội của anh. Một điều chưa từng xảy ra cho một đơn vị tăng phái. Hai đưá uống hết bi đông rượu đế, nhắc lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn thời còn đi học. Anh nhớ từng tên thầy cô giáo và bạn bè lúc trước. Anh ân hận đã phá phách nghịch ngợm làm buồn lòng thầy, bạn. Anh bảo tôi, ngay sau khi rời Võ Tánh là anh đi lính ngay. Anh thích đời quân ngũ và hy vọng nó sẽ làm thay đổi cuộc sống của một thằng nhà giàu vô tích sự như anh. Khi biết anh chọn BĐQ, cha mẹ anh giận và buồn lắm, nhờ ông cậu, bây giờ làm lớn trong Bộ TTM, rút anh về, nhưng anh nhất quyết chối từ. Trước khi đi ngủ, anh ta còn hỏi tôi:

– Con nhỏ em mày, con gái ông chú của mày ở Nha Trang đó, bây giờ theo thằng cốt đột nào rồi? – rồi cười ha hả.

Hai hôm sau chúng tôi có lệnh di chuyển vị trí, và phải bung rộng ra phòng thủ. Lâm Ni cho trung đội tôi xuống đóng trong một cái đồn bên chân cây cầu sắt (của một đơn vị địa phương quân bỏ lại) để giữ cây cầu khỏi bị phá hoại trước khi quân cụ lên kéo hết mấy chiếc thiết giáp bị hư. Cây cầu cách ngọn đồi, nơi đặt ban chỉ huy của Lâm Ni khoảng hai cây số.

Gần hai giờ sáng, trung đôi tôi bất ngờ bị tấn công. Địch áp dụng chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Sau mấy loạt 82 ly, chúng ào ạt tấn công. Trung đội tôi có vài người bị thương sau đợt pháo kích đầu tiên, nhưng tất cả đều chống trả mãnh liệt. Tôi chỉ kịp cầm ống liên hợp máy PRC 10 báo cáo với Lâm Ni là đơn vị tôi bị tấn công mạnh, cần ngay pháo binh và một lực lương tiếp ứng, đánh từ phía sau lưng địch. Lâm Ni bảo tôi cứ bình tĩnh yên tâm chiến đấu, anh ta sẽ gọi pháo binh và gởi ngay một bộ phận tiếp ứng. Không ngờ lực lượng địch khá đông. Chúng tôi bắn ngã tên này thì tên khác lại xông lên. Chúng đã dùng bêta phá mấy lớp rào bên ngoài rồi hô xung phong. Pháo binh ta cũng bắt đầu rót xuống bên ngoài. Lúc này tôi chiến đấu hoàn toàn như một khinh binh, Quả lưụ đạn cuối cùng tôi vừa mới ném ra, cũng là lúc một vài tên địch đã xâm nhập vào phía bên trong hàng rào phòng thủ. Khi đạn đã cạn, chúng tôi chuẩn bị đánh cận chiến, thì nghe được tiếng súng bạn khắp nơi bên ngoài và tiếng hò hét: Biệt Động sát! Địch vội vàng tháo chạy, hai tên đặc công vào bên trong bị chúng tôi bắt sống. Tạm thời kiểm tra đơn vị: 3 chết, 7 bị thương. Chưa kịp gọi máy báo cáo, thì toán biệt động quân đầu tiên vào bên trong, võng theo một thương binh. Nghe một sĩ quan BĐQ gọi máy xin trực thăng tản thương khẩn cấp vì “đại bàng bị thương nặng”, tôi giật mình chạy đến chiếc võng: Lâm Ni mặt đầy máu và thở rất nhẹ. Tôi lay anh ta:

– Lâm Ni ơi, có làm sao không? Ninh đây.

Dưới ánh đèn pin yếu ớt, gương mặt anh ta xanh xao, mở hé mắt nhìn tôi. Đôi môi rung động như muốn nói với tôi điều gì. Tôi đưa tay sờ lên môi anh, như là tôi đã hiểu những gì anh muốn nói.

Vị thiếu úy BĐQ vỗ vai tôi:

– Đúng ra đâu có phải nhiệm vụ của trung úy, tôi bảo ông nên ở lại, vì chúng tôi chỉ đi có một trung đội và toán thám báo, nhưng ông đã lệnh cho ông đại đội phó ở lại và ông trực tiếp dẫn đầu toán thám báo chạy bay tới đây, xông ngay vào sau lưng địch mà đánh. Tội nghiệp, chỉ có ông bị thương.

Trực thăng tản thương tới, tôi bế Lâm Ni lên, nắm chặt tay anh trước khi máy bay cất cánh. Tôi bùi ngùi lo lắng khi biết là anh đã vì tôi mà bị thương, cầu nguyện cho anh qua khỏi hiểm nghèo

Lần ấy anh còn sống, nhưng phải nằm điều trị ở QYV hết bốn tháng, còn để lại mấy vết sẹo trên cổ, và vì bị thương ở thanh quản, nên giọng nói của anh bị khàn đi. Sau đó đơn vị của anh có lệnh chuyển lên Pleime, Pleiku. Tôi có liên lạc thăm anh vài lần trên hệ thống vô tuyến.

Bẵng đi một thời gian, đầu mùa hè 72, đơn vị tôi đang hành quân ở An Khê thì có lệnh di chuyển về phi trường Pleiku để được không vận toàn bộ lên Kontum. Chiến trường đang tới hồi quyết liệt. Trong một lần chuyển quân hoán đổi vị trí phía bắc Kontum tôi bất ngờ gặp lại Lâm Ni. Lúc này anh đã mang lon Thiếu tá và nắm một tiểu đoàn BĐQ. Hai thằng chỉ kịp ôm nhau chửi thề vài câu. Chưa kịp nói lời chia tay, thì mỗi thằng đã mỗi ngả.

Cuối năm 1972, khi hiệp định Paris vừa ký xong, địch quân chưa trở cờ. Hai bên tạm thời hưu chiến kiểu da beo. Các đơn vị tham chiến được chuyển về các vị trí dưỡng quân. Tiểu Đoàn của Lâm Ni được về Hàm Rồng. Đơn vị tôi thì về Đồi Đức Mẹ, Pleiku.

Đêm tiểu đoàn Lâm Ni làm lễ tái xuất quân tại Hàm Rồng được tổ chức rất hùng tráng. Lâm Ni có mời tôi đến dự. Buổi tiệc ra quân kết thúc bằng một chương trình văn nghệ khá đặc sắc, do biệt đoàn văn nghệ trung ương từ Sài gòn ra, phối họp với các toán văn nghệ tâm lý chiến QĐ II đảm trách. Tôi ngồi hàng ghế đầu với Lâm Ni. Khi có một nữ ca sĩ từ Pleiku lên hát bài Chiều Trên Phá Tam Giang, Lâm Ni rất cảm động. Cô tên Giáng Vân, có khuôn mặt khá xinh, phảng phất buồn, và giọng hát trầm ấm thiết tha. Bài hát vừa chấm dứt, Lâm Ni bước lên nắm tay cô cám ơn và bất ngờ cởi tặng cô chiếc đồng hồ Longine mới toanh mà anh vừa mới mua từ Sài gòn, khi được bảy ngày phép về thăm cha mẹ.

Đêm đó tôi ở lại với Lâm Ni. Anh kể là cha mẹ anh cứ năn nỉ anh đổi về Saigòn. Ông bà sẽ lo cho anh về BTL Cảnh Sát hoặc bất cứ nơi nào ở Saigon anh muốn. Ông bà cũng đưa anh đến thăm gia đình một người Tàu, có cô con gái làm chủ một nhà hàng, mà ông bà định hỏi cưới cho anh. Ông bà nôn nóng có đứa cháu đích tôn nối dõi. Nhưng anh chỉ im lặng. Rồi khi bị hỏi quá, anh hứa cho Anh ba năm nữa. Anh bảo tôi, đời lính sống nay chết mai, vợ con làm gì cho vướng chân vướng cẳng.

Đầu năm 73, tôi bị thương nặng, phải nằm điều trị hơn hai tháng ở QYV Pleiku.. Lâm Ni có ghé lại thăm tôi một lần vội vã, khi có dịp về Pleiku họp hành quân. Khi chia tay, anh rút từ túi quần sau ra một xấp tiền đưa cho tôi:

– Tiền ba tháng lương của tao, mày cầm lấy mà gởi cho vợ con mày. Mày đông con. Tao độc thân, suốt cả năm sống ở trong rừng, lỡ có chết tiền không ai xài uổng lắm.

– Tôi từ chối, nhưng anh nhét xấp tiền vào dưới chiếc gối tôi nằm.

Sau đó tôi được theo học một khóa tham mưu tại Long Bình. Mãn khóa, đuợc điều về Trung Tâm Hành Quân. Lâm Ni thì vẫn nay đây mai đó, nhưng chúng tôi thường liên lạc hỏi thăm tin tức nhau trên hệ thống vô tuyến. Một lần khi bay bao vùng, biết anh vừa lên trung tá, tôi đáp xuống thăm, và mang mừng anh ta chai Hennessy, loại rượu anh thích nhất. Anh bảo, BCH/BĐQ dự định đưa anh ra nắm một Liên Đoàn ngoài vùng 1 thay cho anh Liên Đoàn trưởng vừa tử trận, nhưng tình hình ở đây đang nguy ngập, nên anh chưa rời đơn vị được

Tháng 3/75, ngay sau khi Ban Mê Thuột mất, tôi may mắn được theo BTL Tiền Phương. Nói là Tiền Phương nhưng lại đóng ở Nha Trang và một đôi khi ở Khánh Dương.

Có lệnh bỏ Kontum và Pleiku. Tiểu Đoàn BĐQ của Lâm Ni là một trong những đơn vị được chỉ định đi đầu, mở đường cho đoàn quân di tản từ Pleiku xuống Tuy Hòa theo tỉnh lộ 7. Một kế hoạch triệt thoái tồi tệ nhất trong lịch sử chiến tranh Việt nam, kéo theo sự sụp đổ cả miền Nam.

Tôi được chỉ định làm trưởng toán, dùng một hợp đoàn trực thăng bay đi liên lạc và hướng dẫn những toán quân thất lạc trong rừng. Ngày N+3, trong lúc chiến trường ác liệt và tồi tệ nhất, tôi may mắn liên lạc được Lâm Ni trên tần số không lục. Tôi tìm mấy bãi đáp tương đối an toàn, giục Lâm Ni đến đó để tôi bốc. Nhưng anh ta từ chối, bảo là mặc dù tiểu đoàn của anh bị tan tác, quân số chỉ còn gần một trung đội, nhưng anh không thể bỏ anh em vào lúc này.

Không ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi nghe giọng nói của Lâm Ni. Năm 1977, trong một trại tù cải tạo ở Lào Cai, tôi gặp lại một sĩ quan của Lâm Ni lúc trước. Anh ta là sĩ quan duy nhất trong đơn vị còn sống sót. Anh cho biết là khi bị địch vây và kêu buông súng đầu hàng, Lâm Ni đã bắn tới viên đạn cuối cùng. Anh tự sát bằng một quả lựu đạn loại tấn công, và đã chết chung với một đám địch quân định vây bắt anh.

Mùa hè năm ngoái, tôi có cô con gái út lấy chồng bên London. Cả nhà tôi sang đó dự tiệc cưới do nhà trai khoản đãi. Sau đám cưới, vợ chồng cô con gái đi Thái Lan hưởng tuần trăng mật. Chúng tôi muốn ở lại London ít hôm để xem vài thắng cảnh và đến thăm gia đình một người bạn học cũ của bà xã tôi ở thành phố Birmingham, cách London chừng ba giờ lái xe. Cậu rể nhờ một người bạn chí thân, một bác sĩ trẻ khá bảnh trai, và cũng là phụ rể trong đám cưới, làm tài xế và hướng dẫn viên cho chúng tôi. Hơn nữa nhà cậu ta cũng ở Birmingham.

Ngày cuối cùng, trước khi rời khỏi Birmingham, cậu ta mời chúng tôi ghé lại nhà để dùng một bữa cơm với gia đình. Nói là gia đình, nhưng thực ra chỉ có hai mẹ con thôi. Cậu bảo thế.

Trời nóng như lửa đốt, lại biết chúng tôi đang đói, cậu ta gọi cell- phone về nhà bảo bà mẹ chuẩn bị thức ăn sẵn. Về đến nhà, cậu ta vội vã đi lấy khăn, hướng dẫn chúng tôi vào phòng tắm rửa mặt, rồi chạy vào bếp phụ mẹ. Vào phòng ăn, khi chúng tôi kéo ghế ra chưa kịp ngồi thì bà mẹ bưng thức ăn ra vui vẻ chào, và xin lỗi vì bận tay nên không ra cổng đón được. Thấy người đàn bà này có nét giống một người nào đó mà tôi đã gặp, tôi cố gắng lục lọi ký ức, nhưng vẫn không nhớ ra.

Khi cơm nuớc xong, bà mời chúng tôi lên phòng khách uống nước và ăn tráng miệng. Nhìn một tấm ảnh phóng lớn treo trên vách. Lại là một người lính. Tôi tò mò bước lại xem và sững sờ khi người trong ảnh chính là Lâm Ni.

Sau một lúc hàn huyên, tôi mới nhận ra người đàn bà này chính là cô ca sĩ tâm lý chiến có tên Giáng Vân, trong đêm làm lễ tái xuất quân của đơn vị Lâm-Ni trên Hàm Rồng lúc trước. Một cô ca sĩ tâm lý chiến, mà ngày xưa nhiều kẻ đánh giá chẳng ra gì, chết chồng từ thuở mới 20, có nhan sắc, trải qua bao nhiêu khốn khổ, vậy mà không hề bước thêm một bước nào, ở vậy nuôi con học hành thành đạt, đức hạnh nên người. Điều bất ngờ hơn, cậu thanh niên dễ thương, tốt bụng, đón đưa chúng tôi mấy ngày hôm nay, cũng là người bạn chí thân của thằng rể chúng tôi, lại là giọt máu duy nhất của Lâm Ni còn lại trên thế gian này.

Tôi có hỏi về ông bà nội cháu, Giáng Vân cho biết là sau khi chạy từ Pleiku về, cô phải nằm bệnh viện cho đến mấy tháng sau ngày miền Nam thất thủ, nên đã phải sinh non, may mà mẹ tròn con vuông. Khi sanh cháu xong, chị có đi hỏi thăm cha mẹ Lâm Ni, nhưng được mấy người láng giềng cho biết là ông bà đã đi về Trung quốc.

Tôi bùi ngùi nghĩ tới Lâm Ni, người bạn học có nhiều duyên nợ với tôi, đã gây cho tôi một vài phiền muộn, nhưng cũng đã để lại trong tôi biết bao điều xúc động. Không hiểu, ở một nơi xa xăm nào đó, anh có biết là tôi đã bất ngờ gặp lại vợ con anh. Cũng có thể chính anh đã linh thiêng đưa tôi đến đây. Một nơi xa lạ, ngàn trùng cách biệt với quê hương, với Nha Trang. Nơi mà một thời, anh đã có biết bao kỷ niệm với thầy với bạn và nhất là với tôi, thằng bạn nhóc tì của anh ngày trước. Ông bà già của Lâm Ni chắc không ngờ là mình đang có một đứa cháu đích tôn trên thế gian này, mà trước đây ông bà đã từng mơ ước

Trước khi từ biệt vợ con Lâm Ni, tôi đứng lặng lẽ một mình trước tấm ảnh của anh, ôn lại bao nhiêu chuyện cũ rồi buột miệng thì thầm hai câu thơ quen thuộc:

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

Từ trong tấm ảnh, dường như Lâm Ni đang nhìn tôi mĩm cười.

phạmtínanninh

(xin gởi đến chị Lâm Ni và cháu Lâm Bình như món quà muộn màng)

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 26 Jul 2026

Tôi có một người bạn, mỗi buổi sáng thức dậy, anh tự

pha hai ly cà phê sữa, một cho mình và một cho vợ. Ly của

ông đậm cà phê hơn ly của bà và ít ngọt hơn. Câu chuyện này kéo dài hơn bốn mươi năm cho tới lúc anh ấy qua đời với một chứng bệnh nan y. Trước khi mất. lúc còn tỉnh táo, anh dặn cô em vợ hiện nay vẫn ở chung nhà, cách thức, cân lượng để pha một ly cà phê như thế cho vợ. Đó không phải là chuyện hình thức suông, hai ông bà ăn ở với nhau có tình có nghĩa cho tới lúc, một người phải ra đi trước để người kia ở lại trên cõi đời này. Cuộc tình đó, bạn bè thường nói đùa “thương nhau ai thấy cũng thèm”.

Trên cõi đời này, một số người đã không đi trọn cuộc tình. Lúc trẻ thương yêu nhau tha thiết, về già, phần bận bịu con cháu, phần cơ thể và sinh lý thay đổi, họ dần dần xa nhau. Lấy lý do bà cựa quậy khó ngủ, lấy lý do ông thường ngáy lớn ban đêm, hai người ra ngủ riêng hai chỗ, dần dà thành thói quen, hai người là hai cõi, từ dị sàng tới dị mộng không mấy xa. Ngày xưa họ gọi nhau bằng tiếng “anh-em”, “cưng-mình”, ngày nay họ gọi nhau bằng tiếng “ông- tui”, “ba nó-má nó”, gọi sao thì gọi, miễn là tấm lòng đối với nhau, như gừng càng già càng cay, rượu càng lâu men càng nồng, chứ đừng để cho thời gian làm tình yêu càng ngày càng phai nhạt. Tuổi già không cần phải “càng gãy chân chõng, càng sai chân giường” mà chỉ cần “già râu già tóc, lòng ai có già”. Ở đây chúng tôi không đám mạn phép bàn tới địa hạt sinh lý của người cao niên mà quí vị bác sĩ đã tốn quá nhiều giấy mực rồi, chỉ xin người đời nhẹ tay cho những mái đầu bạc khi họ đã sống, với một phương diện nào đó như những lúc còn trẻ. Thế gian đã có sẵn những “mỹ từ” tàn nhẫn như “già dịch”, “già dê”, “già lựu đạn” để tặng quí vị loạng quạng, vẫn còn níu kéo chút xuân xanh mà cuộc đời khắt khe không cho phép:

“Già thời bế cháu đỡ con

Già đâu lại ước cau non cuối mùa!

Ở đây chúng tôi chỉ nói tới chuyện tình già. Thuở son trẻ, xa nhau một ngày đã quay quắt, tới tuổi già hai người sống lặng lẽ, có cũng được, mà không cũng chẳng sao. Chúng ta vẫn thường thấy sinh hoạt người già các nước Âu Mỹ, những đôi vợ chồng cao niên vẫn có đời sống tình cảm rất gắn bó, họ khiêu vũ với nhau, âu yếm ngồi bên nhau trên bờ biển, đi du lịch cùng nhau, trao nhau những chiếc hôn, có lẽ không nồng cháy như xưa, nhưng nhẹ nhàng, âu yếm như một thứ tình yêu che chở, gắn bó chỉ sợ một ngày nào đó sẽ không còn bên nhau được nữa. Người Việt Nam, một phần vì văn hóa, tình cảm không bao giờ bộc lộ ra ngoài, không dám để lộ sự yêu thương vợ chồng trước mặt mọi người, dù là con cái của mình. Một phần họ không xem chuyện đó là quan trọng, một phần, dù có, cũng giữ gìn, sợ người ta cho “già mà không nên nết”. Cuối cùng, người phối ngẫu lúc về già, chỉ là cái bóng mờ nhạt. Có nhiều Ông Cụ Cố ngày xưa, chỉ thức với nhau để có một bầy con, chứ không bao giờ chịu ngủ chung với nhau cho đến cuối đời. Khi vợ ở cữ thì ba tháng mười ngày mới vào gặp vợ, trước khi ngủ với “vợ” thì thắp nhang trình vái ông bà, thực dụng và tàn nhẫn với người đàn bà đến thế là cùng. Trẻ đã vậy, nói chi đến tuổi già, ngày mà “lửa đã tắt, bình đã khô rượu”. Phải chăng tuổi già ngày nay không có những mối tình đẹp như mối tình Romeo- Juliet cổ điển của tuổi mới lớn ngày xưa. Ông già Ettore người Ý, 70 tuổi, đã ngồi suốt bốn tháng bên giường vợ, kể từ khi bà bị stroke và hôn mê.

Thời gian quá dài đã làm cho ông già tuyệt vọng, ông đã về nhà, vào garage đóng kín và tự tử bằng chất thán khí để “sống chết có nhau”. Chỉ hơn một ngày sau, bà Rossa hồi tỉnh, câu hỏi đầu tiên của bà là “ông ở đâu?” Khi biết rằng người bạn đời của mình đã không còn nữa, tuyệt vọng như Juliet khi thấy Romeo đã chết, bà Rossa đã tự sát để được chết theo ông.

Trong cộng đồng người Việt ở Úc có một đôi vợ chồng già thương yêu và sống với nhau đã hơn nửa thế kỷ sau hôn lễ. Đó là cụ ông Phạm Văn Thạch và cụ bà Đỗ Thị Sậu. Hai ông bà đã có 18 con và dâu rể, 64 cháu nội ngoại và 31 chắt. Vào tháng 8- 2005, cụ Thạch đã qua đời vào tuổi 87 và sau đó chỉ một ngày, cụ bà, 86 tuổi, cũng lặng lẽ ra đi một cách bình yên. Lúc sống họ không rời nhau nửa bước, bây giờ tại nhà thờ lớn ở Liverpool, quan tài của hai cụ đã để gần nhau, như 66 năm về trước, họ đã đứng cạnh nhau trong lễ thành hôn trước bàn thờ. Một người bạn từ xa về ghé ở lại nhà chơi vài hôm, lúc ra đi chúng ta còn thấy trong nhà trống vắng, huống gì một người bạn đời đã sống với chúng ta cùng bao nhiêu vui buồn trong vòng ba, năm mươi năm. Rồi ra, dù thương yêu nhau tới mức nào, tạo hóa cũng không bao giờ sắp xếp cho hai người cùng ra đi một lần. Sống với nhau hết lòng, thương yêu nhau cho trọn vẹn. Chúng ta đã chứng kiến bao nhiêu cảnh đời đen bạc, lúc sống chẳng ngó ngàng tới nhau, lúc chết mới “trình diễn” trước quan khách sự thương tiếc của mình với những lời kể lể dành cho vợ, cho chồng.

Nếu con người thật sự có linh hồn và quanh quẩn đâu đây, thì những lời giả dối của người phối ngẫu làm cho người chết tức giận, còn nếu người chồng thực lòng yêu thương, hối hận thì linh hồn người ra đi cũng thương cảm, bịn rịn. theo nhà Phật, cả hai điều đều không thể làm cho linh hồn siêu thoát. Người ta kể lại rằng, một người đàn bà nọ lúc sống đối với chồng chẳng ra gì, lúc chồng chết đã nằm trong quan tài, trước mặt họ hàng, người vợ khóc lóc, kêu gào, lăn xả vào chồng đòi được chết theo. Khi người ta đậy nắp quan tài, thì những sợi tóc của người vợ bị vướng vào. Trong cơn hoảng loạn, bà vợ nghĩ rằng chồng lôi kéo bà ta chết theo, nên bà bèn đổi giọng, hốt hoảng van xin: “mỗi người mỗi nghiệp, anh chết nếu có linh hiển, thì xin đừng bắt tôi theo!”đúng như câu thơ “Nào ai dễ có lòng chân thật, Ở thế tin gì miệng đãi bôi!”(NT)

Xin tặng những đôi vợ chồng già, những đứa con có cha mẹ gần đất xa trời, những bạn bè muôn thuở những dòng thơ sau đây, mà chúng tôi không rõ tên tác giả:

“So, if you love me, even a little bit

Please tell me now.

If you wait until I am sleeping,

Never to awaken

There will be death between us

And I won’t hear you then.”

Xin tạm dịch là:

“Nếu thật lòng đã yêu tôi

Xin anh bãy nói những lời hôm nay

Đừng để muộn … tới ngày mai

Khi tôi đã ngủ giấc dài mộ sâu

Lời anh nói – Tôi nghe đâu!”

Phải rồi, cho nhau ngày hôm nay, ngày mai chẳng có gì để phải hối hận.

Mưa chiều dĩ vãng

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 25 Jul 2026

Tao chuẩn úy mày cũng lon chuẩn úy

Mới ra trường chưa kịp đụng trận nào

Sau 75 bị lùa đi cải tạo

Khi tha về chẳng nghề ngỗng mưu sinh

Dưới gốc cây tao ngồi vá xe đạp

Bên kia đường mày bơm sửa quẹt ga

Sáng chia nhau ly cà phê đắng nghét

Gói thuốc Mai khét từng sợi lông măng

Tiền vá xe mỗi ngày dăm đồng bạc

Mày bơm ga cũng chẳng khá khẳm gì

Gặp bữa mưa cả hai thằng cùng ế

Rủ nhau làm xị đế quên đời

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Thân làm trai mà lắm nỗi truân chuyên

Chiều mưa buồn hai thằng lính cũ

Cụng ly nhau rồi lại thở dài

Tự ủi an may hai thằng chưa vợ

Chẳng lo toan kinh tế gia đình

Chỉ phụ mẹ ngày dăm đồng bạc lẽ

Bữa cơm khoai lây lất qua ngày

Chiều mưa buồn hai thằng lính cũ

Tóc còn xanh mà hồn đã già nua

Ngồi sưởi ấm lòng mình qua men rượu

Đời buồn như chim nhỏ lạc nẻo về

Rồi một sáng bên kia đường trống vắng

Chẳng thấy mày rủ uống cà phê

Sau mới biết mày đi vượt biển

Dữ hay lành chẳng thấy tăm hơi

Năm mốt năm đời tao dang dỡ

Chẳng biết mày trôi dạt về đâu

Chiều nay buồn mình tao ly rượu

Uống phần mày uống cả cho tao

Chiều nay buồn mình tao ly rượu

Uống phần mày uống cả cho tao

Hai thằng tóc xanh giờ mình tao tóc bạc

Nhìn cuộc đời buồn hơn ly rượu cay

Thấy cuộc đời như khói thuốc bay