Ngày hè năm ấy

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 4 Aug 2026

Tôi nhớ mãi ngày hè năm ấy

Trong xóm tôi có người lính trở về

Tuổi hai mươi giã từ vũ khí

Anh về nhà với mẹ anh xưa

Căn nhà nhỏ lâu ngày hiu quạnh

Người mẹ già còm cõi sớm hôm

Anh về từ chiến trường Quảng Trị

Nằm im hơi trong cỗ quan tài

Xung quanh anh những người đồng đội

Kính cẩn chào lặng lẽ trang nghiêm

Tuổi hai mươi trong quan tài kẽm

Phủ bên trên một lá quốc kỳ

Ba vệt đỏ như ba vệt máu

Vừa mới khô trên một hình hài

Người mẹ già như tàu chuối héo

Ôm quan tài gọi mãi tên anh

Sau bình hoa một khung di ảnh

Là tấm hình trước đó chưa lâu

Anh về trong chiếc quan tài kẽm

Phủ bên trên một lá quốc kỳ

Ba vệt đỏ như ba vệt máu

Vừa mới khô trên một hình hài

Anh trở về thăm nhà lần cuối

Rồi ra đi nơi nghĩa trang buồn

Căn nhà cũ mẹ già ở lại

Vẫn ngày ngày lau mắt chờ anh

Nhiều năm và nhiều năm sau nữa

Mẹ sớm chiều vẫn đợi anh về

Từ hôm đó mẹ anh mỗi chiều

ngồi trước hiên nhà

Đợi đứa con không bao giờ trở lại

Cáo chung hoặc Cáo phó!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 4 Aug 2026

Trên toàn thế giới, tính tới ngày hôm nay (24/04/2020) đã có hơn 2.7 triệu người đã bị lây nhiễm Covid-19. Ít nhất 190 ngàn người đã chết.
Trong đó chỉ riêng tại Hoa Kỳ số nạn nhân lên tới hơn 49 ngàn người.
Nền kinh tế thế giới thiệt hại nặng nề. Hàng triệu, triệu người thất nghiệp.
Chỉ riêng tại Hoa Kỳ con số người mất công ăn việc làm lới tới: 26.5 triệu .

***

Trong cuộc họp báo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vào thứ Tư, ngày 22 tháng 4, tại thủ đô Washington DC, Ngoại trưởng Mike Pompeo phát biểu rằng:
“Trung Quốc đã gây ra nhiều nỗi đau đớn, làm nhiều người dân trên toàn thế giới thiệt mạng. Trung Quốc đã gây ra nhiều thách thức rất lớn đối với nền kinh tế toàn cầu trong đó có Mỹ, bằng cách che dấu, không minh bạch để chia sẻ những thông tin mà họ có được về cơn đại dịch do Covid-19 gây ra.
“Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ phải trả giá cho hành động của mình”

***

Để khỏa lấp những bất ổn trong xã hội Trung Hoa đang dâng lên phê phán cách chánh quyền Trung Cộng đối phó với cơn đại dịch nầy gây ra, chánh quyền Tập Cận Bình tìm cách đánh lạc hướng người dân Tàu cách bằng cách hung hăng gây hấn trên Biển Đông như đánh chìm một tàu đánh cá Việt Nam trước đây trong tháng.
Trung Cộng đã đưa các tàu chiến đến vùng này để đe dọa các nước trong vùng nhằm chiếm trọn quyền khác khai thác dầu khí ngoài biển khơi.

***

“Bắc Kinh đã lợi dụng việc các nước đang chú trọng đến đại dịch để đơn phương để đẩy mạnh những tham vọng bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông. Như loan báo thành lập những quận mới tại các quần đảo và các khu vực trên biển, và lập những “Trạm nghiên cứu” trên các đảo Đá Chữ Thập và Đá Subi,”
Phản úng lại hành động hung hăng nầy của Tập Cận Bình, Hoa Kỳ, Úc đã đưa tàu hải quân đến hiện diện trên Thái Bình Dương nhằm ủng hộ các nước như Việt Nam, Brunei, Malaysia, Philippines và Indonesia lên tiếng phản đối hành động bành trướng nầy của tập đoàn CS Trung Nam Hải.

***

Bấy lâu nay, Tập đoàn Trung Nam Hải đã chà đạp luân thường đạo lý, ngang nhiên đàn áp người Tây Tạng, người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) ở Tân Cương.
Đó là tội ác vi phạm nhân quyền của chánh quyền Trung Cộng.
Bắc Kinh đã đơn phương làm thay đổi dòng chảy của dòng sông Mekong, bằng cách xây dựng những đập nước trên thượng nguồn, gây nguy hại đền cuộc sống của hàng chục triệu người tại vùng hạ lưu ở Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.
Đó là tội ác Trời không dung đất không tha về môi trường sống!

***

Thế giới ngày nay đã rất thay đổi. Chúng ta không thể thản nhiên đứng nhìn nhà cầm quyền độc tài CS muốn làm gì thì làm, với luận điệu cũ mèm, lạc hậu là thế giới đừng có xen vào chuyện nội bộ của Trung Quốc.
Thế giới ngày nay liên lập, hành động của một chánh quyền nước nầy có thể gây tác hại cho toàn thế giới như cơn đại dịch nầy cho chúng ta thấy.
Ngải Vị Vị, (Ai Wei Wei) một nhà tranh đấu cho dân chủ người Trung Quốc đang lưu vong, cho biết: “Chánh quyền Trung Cộng không bao giờ chịu học!”
“China will never learn”
Tuy nhiên, lịch sử đã chứng minh: Phát xít Đức, Quân phiệt Nhựt, Cộng sản Liên Sô đã từng sụp đổ, chánh quyền Trung Cộng dưới sự dẩn dắt của Tập Cận Bình đang đi vào vết xe đổ đó.
Thế giới đã đồng loạt lên tiếng tất nhiên sự cáo chung của chủ nghĩa độc tài CS ắt chẳng còn xa!
Vì một lẽ đơn giản là: Chánh quyền độc tài CS không ‘cáo chung’ thì chúng ta sẽ ‘cáo phó’!

***

During a news briefing at the State Department on Wednesday, April 22, in Washington. Secretary of State Mike Pompeo speak:
“China caused an enormous amount of pain, loss of life, and now a huge challenge for the global economy and the American economy as well by not sharing the information they had.”
“I am very confident that the Chinese Communist Party will pay a price for what they did here, certainly from the United States.”
The top US diplomat said, “You should know we still don’t have full transparency from the Chinese Communist Party, we are concerned there are things we don’t know and we haven’t been able to get our team on the ground to do the work that it needs to do.”
The Chinese Communist Party will pay a price!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Bùn khô trên mặt đá

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 4 Aug 2026

            Khi nghe tới bút hiệu Trần Vàng Sao, thú thật là tôi không mấy cảm tình. Nhưng khi tôi đọc, theo cảm nhận, nhà thơ mãi bị đồng chí nghi kỵ, luôn hứng chịu sự trù dập, đã viết nên nhiều bài thơ hay. Do tài năng, ông tạo ra những hình ảnh, những màu sắc, những nhịp điệu; gầy dựng được thứ khí hậu bao bọc lấy một vùng trời riêng. Ẩm thấp, sương khói, váng vất chút thơ mộng đặc thù của vùng đất sinh ra ông: Huế.
Giả dụ:
…
đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu
…
con sông nằm dài nhớ những chặng rừng đi qua
nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước
chim đậu trên cành chim không hót
khoảng trống mùa thu ngủ trên cỏ may

…

Đây chỉ là trích đoạn trong bài thơ dài “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Trần Vàng Sao sáng tác vào tháng 12 năm 1967. Tôi đọc, chẳng rõ bạn có mang cảm nhận hệt như tôi? Rằng tác giả một mực thong dong khi thuật chuyện, chữ dùng dung dị, mộc mạc chỉ nhằm đắp bồi toàn cả ảnh hình, liên kết lại và nó dội được vào lòng tôi một rung động, một hấp lực khó cưỡng.
Ở bài khác của cùng tác giả, tôi chuộng hai câu này:
Bây giờ tôi đủ tuổi tôi
Nam mô di Phật một đời như không.

Chữ “như không” ẩn tàng chút triết thuyết của nhà Phật. Và như không cũng nhằm nói rõ, ngộ ra sự thua thiệt, cái trắng tay, cầm bằng như không! Phải đủ tuổi, phải rơi tới một hạn kỳ vô thường nào đó mới đủ lực để ta thán về sự hoài công của kiếp dã tràng. Nhẹ nhàng chẳng ký gửi chút hằn học trong tâm sự. Đã Nam mô di Phật thì buộc phải tìm cách buông thả, chớ sân si. Nhưng với 14 chữ cô đọng của lục bát ấy lại dấy lên, trao gửi một nặng lòng. Tôi thích nó, giản dị vì Trần Vàng Sao nọ đối nghịch, chẳng giống với một Trần Vàng Sao càng về già càng phẫn hận, xui khiến phải làm thơ “Chửi”, chửi không khoan nhượng, chửi rốt ráo, chửi “tới bến”. Để thích hợp với tính cách hàm hồ hàm chứa mồm năm miệng mười, khi chửi ông sử dụng toàn thứ ngôn ngữ dung tục, phổ thông, bụi bặm đời thường. Khi sự tức giận đến cùng đường, e lời thơ mất hết vẻ thanh thoát. Hiểu ở mặt khác, “như không” dễ xúi người ta phải chịu chìm sâu, đắm thân giữa ngập ngụa bụi trần. Thứ mà nhà thơ muốn vùng vẫy thoát ra khỏi trong khi ôm đầu dụng chữ, rất cực lòng tìm về chốn thơ mộng, dẫu phù du.
Cùng thế hệ với Trần Vàng Sao, lớn lên chung một thổ ngơi nhưng khác giới tuyến, bên này sông một ông sĩ quan “ngụy” mang bút hiệu Mường Mán (có dạo bị mang ngoại hiệu Thất Tình Đại Hiệp) cũng người Huế-hiền-lành chăm viết văn làm thơ khiến mấy o học trò trường Nguyễn Du, Nữ Thành Nội, Đồng Khánh mãi say mê đọc thầm:
tháng chạp về rồi bé biết không
guốc mới ai khua ngõ nội thành
để cho rêu cũ- vàng son cũ
thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh.

Tấm bé tôi ở Huế, lớn lên nhà tôi ở trong thành nội và hai câu cuối kia khiến bây chừ tôi cảm ra cái xuất thần đang xúi tôi khờ dại một nỗi nhớ ngấc ngư. Bé mang guốc mới bước chân sáo làm vang vọng âm ba giữa thành quách cổ xưa. Tiếng động ấy lý ra phải vui tai, Mường Mán khéo léo khi dùng chữ buồn. Buồn với sự hoang phế của bao triều đại chìm trong bể dâu. Buồn đến độ rong rêu phải thức dậy, làm sáng chữ xanh đầy tính sáng tạo. Tựu thành một bài thơ để khi đọc khiến nao lòng hẵng chẳng bao giờ là điều dễ?
Làm “nguỵ” thì số phận bắt phải đi “cải tạo”. Xong hình phạt khổ sai thì ông cựu quan hai phó mặc đời cuốn trôi phiêu dạt tận phương Nam. Hoàn cảnh “lạ nước lạ cái” đã vẽ ra được một tấc lòng. Bài thơ “Chăn vịt phương Nam” của Mường Mán làm vào năm 1979 phải là một bài hay nằm trong tất cả những bài bày nên cảnh đổi đời, của vô vàn các thi nhân khác, khổ hạnh sống ở miền Nam sinh ra nhiều tài danh.

Chăn Vịt Phương Nam
Tôi người trai sông Hương
Lưu lạc về sông Hậu
Như chim mỏi cánh đậu
Trên vồng đất quê em.

Chòi tôi che hướng đông
Che giùm tôi ngọn gió
Em đùa: anh chiếc lá
Bị bão giạt về Nam

Tôi đùa: thời buổi khó
Đi đâu để trốn buồn?
Thôi đành đi chăn vịt!
Em bảo: thế mà hơn.

Vịt tôi chăn trăm con
Ngày lùa đi trăm ngả
Bạn tôi, trăm linh hồn
Theo tôi, qua thời khó.

Thương mình em cô đơn
Ngày đưa võng ru con
Mong chồng nơi biên giới
Mà chiến chịnh tưởng lụi
Ai ngờ vẫn còn dài!

Em buồn sợi tóc mai
Dài bằng cơn nắng sớm
Em buồn: cây nhang ngún
Cháy khuya sầu mênh mang.

Mỗi ngày tôi lùa vịt
Qua cánh đồng thênh thang
Buồn tôi khua gậy múa
Hát cùng bèo trôi sông
Ngóng giùm em phương đó
Coi chồng về hay không?


Mường Mán
Rất tới. Hay ghê nơi. Tôi chỉ biết nói vậy! Tôi vốn dốt việc thưởng thơ, tân hình thức hậu hiện đại (có chữ này mới khiếp: Đương đại) với bao ma trận của từng chữ chen cài biết gồng mình tạo dáng ngắt dòng siêu thực chẳng rõ có đi vào lòng người đọc? Có “nghe tiếng sóng ở trong lòng”? Tôi yêu thích sự giản dị, một vẻ đẹp thuần khiết chẳng nương nhờ phụ kiện bồi đắp nguỵ trang. Em tính đi thẩm mỹ viện? Ai can du. Kệ đi mà. Em là gái trời bắt xấu, nhưng anh đây, trời bắt bấu lấy em. Cho dù em thích ăn nem, anh xin hộ tống kiêng khem chả bày.
Chánh quán Huế đẻ ra lắm thi nhơn. Lưu lạc xa hơn cả phương Nam, ngoài này cũng biết cơ man nào tên tuổi mà nhớ ra, mà “kiểm kê tài sản” đủ đầy dung mạo quý vị. Sơ khởi, tôi nhớ nhà văn nhà thơ Trần Hoài Thư (sĩ quan thám báo sau khi ngã ngựa từng có khi đi bán cà rem cây ở Cần Thơ), nhà thơ Đức Phổ cựu sĩ quan Hải quân, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cũng từng đi “học tập”, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn, nhà thơ mai danh nhà thơ ẩn tích nhà thơ ngao ngán nhân tình thế thái… làm sao kể xiết. Trước sau thì họ đã vang danh, thơ họ làm ra vô tình đã thu phục, nắm tay một số người thưởng ngoạn đi theo, sẵn lòng trao vòng nguyệt quế cho thi nhân… Huế.
Đừng la tôi có tính cục bộ. Mắng tôi chả biết gì là tới lãnh vực ca thì tôi an tâm hơn. Tôi không thích bình thơ, tôi chỉ đưa ra cảm nhận riêng, có vậy thôi. Nhưng, ngẫm lại mà xem, khi đón nhận một bài thơ hay, ai hơi đâu để tâm: Ủa, anh người gì mà làm thơ đọc lên nghe quá đã! Dạ, tui người Việt. Vậy thì hồi trước anh ở đâu? Dạ, tui ở trong nhà.
…
“anh rót cho khéo nhé
kẻo lại nhầm nhà tôi
nhà tôi ở cuối thôn đồi
có giàn thiên lý, có người tôi thương”.

Bạn còn nhớ thơ của ai không? Nếu bạn quên tên tác giả thì có nên bợn lòng:
Thơ ấy rõ không hay? Hay thì đã khắc ghi. Ui, bá nhân bá bao tử vậy!
Xin thưa đấy là đoạn cuối trong bài thơ “Nhà tôi” nổi tiếng của Yên Thao sáng tác vào năm 1949, khi theo một đơn vị pháo binh chuẩn bị đánh quân Pháp đóng đồn bên kia sông. “Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng. Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương. Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường, nếp đình xưa người hỡi đau gì không…”

 

Hồ Đình Nghiêm

Nghỉ hè ở Mallorca

Phạm Tún An Ninh

Post by Sơn râu 4 Aug 2026

Phạm Tín An Ninh: Sinh ra và lớn lên tại Khánh Hòa, Tuổi Quý Mùi. Mất mẹ lúc 3 tuổi, nên sống với ông bà nội. Lúc nhỏ, theo học tại trường Trung học Văn Hóa và Võ Tánh Nha Trang. Nhập ngũ: Khóa 18 SQ Trừ Bị Thủ Đức. Phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB. Sau tháng 4/75: Đi tù tại các trại tù Nam và Bắc Việt Nam. (Thân sinh cũng bị đi tù và chết trong tù cải tạo vào tháng 6/1976). Vượt biên, định cư tại Vương Quốc Na-Uy từ năm 1984. Đi học và làm việc trong ngành Ngân Hàng Bưu Điện. Về hưu từ đầu năm 2008. Tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường (2008), Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (sẽ xuất bản)

1-

Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.

Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.

Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.

Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.

Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:

-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.

Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:

-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?

-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.

-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây – Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người

– Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.

Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:

– Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.

Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.

Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.

Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!

Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.

Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.

Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!

Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!

Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!

Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:

-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?

– Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình – Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.

Cô trầm ngâm giây lát rồi lên tiếng:

– Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng. Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một lũ ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!

Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.

Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.

2-

Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy, mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.

Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:

– Anh còn nhớ anh Đôn không ?

Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:

–  Trần Chánh Đôn!

Tôi hỏi lại:

– Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?

Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:

– Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và  sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam. Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ.  Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.

Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa. Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ  là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.

Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.

Bà xã tôi hỏi:

– Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?

– Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do:  người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?

Tôi đưa tay ngăn lời cô:

– Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.

Hà Giang chau mày:

–  Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.

Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.

Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ

Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.

Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.

Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:

“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được…”

Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất”, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.

Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:

“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.”

Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.

Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:

“Anh Chị ơi.

Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân.

Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.

– Cháu Lâm Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.”

3-

Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.

Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.

Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:

…Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.

Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.

Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.

Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền…

Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.

Phạm Tín An Ninh

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 4 Aug 2026

Ngày 27 tháng 7 năm 2005 vừa qua, nguồn tin từ Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Quốc Doanh cho biết, năm nay nhân kỷ niệm Ngày Thương Binh Liệt Sĩ, từ ngày 21 đến 25 tháng 7, Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam sẽ phối hợp với Thành Hội Phật Giáo Hà Nội, Thành Hội Phật Giáo Hải Phòng tổ chức lễ cầu siêu cho các liệt sĩ và đồng bào vong trận (sic) tại nghĩa trang liệt sĩ Điện Biên Phủ (tỉnh Điện Biên), nghĩa trang liệt sĩ Trường sơn và Thành Cổ Quảng trị (tỉnh Quảng Trị). Hoạt động này, theo nguồn tin từ báo chí Việt Nam là “để tưởng nhớ những người đã hiến thân cho tổ quốc, dân tộc qua các cuộc chiến tranh giải phóng.”

Nam Mô A Di Đà Phật! “Giải phóng” ba chục năm hơn rồi bây giờ mới nghe các ông sư bồ đề và chính quyền nói tới chuyện cầu siêu cho các linh hồn uổng tử lâu nay sống vất va vất vưởng từ những năm 1954 (Điện Biên Phủ) cho đến mùa hè đỏ lửa (Cổ thành Quảng Trị năm 1972).

Nếu tin rằng con người ta có linh hồn và biết tôn trọng linh hồn những người đã chết oan uổng, thì quí vị đã không có hành động gây áp lực với Mã Lai, Nam Dương để phá bỏ các bia tưởng niệm những người đã bỏ mình trên biển Đông. Vừa làm những hành động thất nhân tâm như thế, bây giờ Giáo Hội Quốc Doanh lại tính chuyện chuông mõ cầu siêu cho lính tráng và đồng bào đã bị chết (bộ đội thì đã có danh xưng là “bộ đội cụ Hồ”, còn đồng bào bị tên bay, đạn lạc thì không thấy nói là đồng bào nào, ở đâu?).

Lâu nay cứ tưởng Cộng Sản duy vật biện chứng không tin con người có linh hồn, có thế giới bên kia, chết là hết, không có oan ức, tức tối, chỉ có phe quốc gia mê tín mới nói tới chuyện cầu nguyện, cầu siêu, giải oan, vớt vong. Trước hết, việc cầu siêu này rõ tính chất kỳ thị địa phương, sao chỉ dành cho lính tráng Điện Biên Phủ, Cổ Thành Quảng Trị, đường Trường Sơn mà bỏ quên Nam Bộ Đồng Khởi hay Mậu Thân nổi dậy, cán bộ hạ tầng tại miền Nam chết la liệt, xác không kịp chôn. Chỉ làm lễ cầu siêu ngoài Bắc mà không làm ở trong Nam, hay vì trong Nam còn có Quí Thượng Tọa Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sĩ, Thiện Minh … đang còn bị quản chế và sợ những buổi cầu siêu không ai hưởng ứng? Mặt khác, đã cầu siêu sao không nhớ đến oan khuất của đồng bào đã chết trong những đợt cải cách ruộng đất, nông thôn tắm máu theo đường lối Mao Chủ Tịch?

Bây giờ miệng đã biết “nam mô” nhưng thực trong lòng quí vị còn nguyên một bồ … dao găm! Trong thời gian chiến tranh quí vị cũng đã nhân danh giải phóng bắn pháo vào trường học, giết đồng bào trong cuộc tấn công vào Huế Tết Mậu Thân, bắn vào đồng bào chạy loạn trên quốc lộ 1 năm 1972, quốc lộ 7 năm 1975, xô đẩy hằng trăm nghìn người ra biển Đông, rồi nhận chìm thuyền của những người đi “bán chính thức”, những linh hồn chết thảm khốc, oan khuất ấy chắc không phải là “đồng bào đã chết vì tổ quốc” được ghi trong bản văn? Việc này còn phải kiểm tra hộ khẩu và xác minh lý lịch. Tuy nói vậy, chứ chúng tôi cũng biết dư rằng, tuy ngoài miệng thì mạnh, nhưng trong bụng thì run, quí vị cũng tin có linh hồn, ma quỷ như ai. Trong di chúc “bác” đã chẳng nói là “bác” sẽ về với các cụ tổ Mác, Lê Nin là gì.

Nếu “bác” không tin có linh hồn, chết là hết, thì bác đi tìm ai cho mệt. Chiến binh khi còn chiến tranh, hai bộ áo quần, một cái bàn chải đánh răng, một cái chén, một đôi đũa giắt lưng, nếu chết cũng không có gì để mất.

Bây giờ lúc cướp được chính quyền thì cán bộ có nhà, có của, có xe … phải tìm cách mà giữ riệt lấy. Chính mắt tôi chứng kiến các cụ mới vào Nam, khi đã có miếng ra, miếng vào đã lo đi mua bàn thờ ông Địa, treo bát quái, tìm thầy bói toán … cho ăn yên ở yên, giữ ghế cho vững và công việc “làm ăn” làm sao cho càng ngày càng phát đạt. Nếu quí vị tin rằng con người có linh hồn, khi chết oan khuất thì linh hồn không được siêu thoát. Quí vị lập đàn cầu siêu cho hương linh những người chết ở Điện Biên Phủ, Cổ Thành Quảng Trị, trên đường Trường Sơn … nghĩa là có công nhận linh hồn những người chết này chưa siêu thoát:

“Khi thất thế, tên bay đạn lạc

Bãi sa trường thịt nát máu rơi.

Mênh mông góc bể chân trời

Nắm xương vô chủ biết phơi chốn nào.”(1)

Đó là những cái chết oan, chết ức, chết bụi chết bờ, chết đột ngột, “chết thật tình cờ, chết như mơ”, mặc dầu trong văn bản đã công nhận những người này đã chết vì “tổ quốc”. Nếu đã nói rằng quên quá khứ, nhìn về tương lai và công nhận có những cái chết oan khuất, linh hồn chưa siêu thoát, trong tinh thần “hòa hợp hòa giải” như quí vị thường rêu rao, tiện đây cũng xin cầu siêu luôn cho những nạn nhân ngay tại miền Bắc trong cuộc đấu tố cải cách ruộng đất năm 1953, đồng bào vô tội bị chôn sống trong trận chiếm Huế năm Mậu Thân, bị pháo nát thây trên những con đường chạy loạn để tránh xa quí vị càng nhanh càng tốt, bị chôn vùi dưới biển Đông vì quá đỗi sợ hãi quí vị, dù biết rằng cái chết đang chờ đợi mà vẫn phải ra đi.

Nếu lập trai đàn cầu siêu, thì cũng xin quí vị lập cho một cái trai đàn ở Nghĩa Tràng Quân Đội của miền Nam tại Biên Hòa luôn thể. Hiện nay chúng ta chưa có hy vọng gì binh sĩ trận vong được chôn chung cùng trong một nghĩa địa như nước Mỹ đã thực hiện tại nghĩa trang Arlington, Washington D.C., vì đầu óc quí vị còn đặc sệt hận thù “thà chôn chung với lính Mỹ, chứ chẳng bao giờ chịu chôn chung với lính Ngụy”, “thà ôm chân Mỹ còn hơn bắt tay với lính Ngụy”.

Đối với thi thể người chết, câu chuyện còn khó, chứ đối với phần hồn thì chắc dễ dàng để nói chuyện hơn. Quí vị ráng kiếm một ngày đại lễ, như mượn ngày Xá Tội Vong Nhân của Phật Giáo, lập một đàn tràng thật lớn, cầu siêu cho đồng bào cả nước đã chết vì chiến tranh, cầu siêu cho binh lính cả hai miền Nam Bắc đã chết vì lý tưởng của mình hay bị xúi chết cho các lãnh tụ và các thế lực cường quốc. Sau đó quí vị có thể ra một tuyên ngôn, xin lỗi tất cả đồng bào cả nước vì những sai lầm của đảng đã đem chủ nghĩa Cộng Sản áp đặt lên dân tộc Việt Nam, tranh đấu giai cấp, gây nên cảnh nồi da xáo thịt, tạo một cuộc chiến tranh đẩy hơn bốn triệu thanh niên vào một cuộc chiến vô ích, để rốt cuộc làm đất nước trở thành một đất nước đói nghèo, vô luân, băng hoại tới tận cùng! Nghe nói Giáo hội Phật Giáo Quốc Doanh làm một đại lễ cầu siêu cho những người đã chết, nghe chừng như chuyện mỉa mai.

Xưa, quí vị đền ơn cho những người chết bằng những tấm giấy ghi công xanh đỏ, không đổi lấy được miếng tem phiếu, chai nước mắm, miếng thịt cho mẹ già; xác chết của những người vô danh ấy đã lót đường cho đảng viên lớn, đảng viên nhỏ cướp được chính quyền, có được nhà cao, cửa rộng, giàu sang phè phỡn … Giờ đây mới nghe nói tới chuyện cầu siêu cho những linh hồn chết bờ chết bụi, gọi oan khuất nghìn xưa về chứng giám?

(1) Văn tế Thập Loại Chúng Sanh của Nguyễn Du.

Gặp để chia tay

Hoàng Kao Music

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Vô tình gặp lại thằng bạn xưa

Từng mài đũng quần Petrus Ký

Cùng đi quân trường trong một ngày

Mói mà đã hơn ba năm lính

Hai thằng nhìn nhau cùng bật cười

Cười mừng hai thằng còn nguyên vẹn

Chẳng mất tay chân hay ngủ quên đời

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Nhìn bạn lội sình đi hành quân

Ở đây sự sống và cái chết

Một sát na của cuộc vô thường

Vài câu hàn huyên bên trãng cỏ

Chúc nhau đời lính được bình an

Để còn ngày sau về bên mẹ

Để con cưới được cô nhân tình

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Nhìn bạn lội sình đi hành quân

Ở đây sự sống và cái chết

Một sát na của cuộc vô thường

Theo chuyến trực thăng vào khu chiến

Chốc lát rồi lại xa chốn này

Nơi những bạn bè đi không nghỉ

Áo lính xanh màu lá cây rừng

Chia tay chúc nhau điều may mắn

Trong cuộc chiến tranh đằng đẳng này

Cùng ước mợt ngày im tiếng súng

Bạn bè vẫn còn gặp lại nhau

Cùng ước ngày sau tàn chinh chiến

Bạn bè vẫn còn gặp lại nhau

Canh bạc của Tập Cận Bình

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 7th, 2020

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với 11 triệu dân nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán. Xưa giờ bà con mình, đôi khi chỉ biết địa danh Vũ Hán qua bài thơ thất ngôn bát cú ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu (704–754) thời nhà Ðường.

Nếu là dân lưu lạc tha hương như chúng ta, ai cũng biết hai câu kết là:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu!’

Nhà thơ Tản Ðà đã dịch lại, một cách trác tuyệt, bằng hai câu lục bát là:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn.

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”

Tuy nhiên từ cuối tháng Chạp, năm 2019 tới nay, Vũ Hán, (tiếng Anh là Wuhan) được dân toàn thế giới biết đến không phải do bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ của nhà thơ Thôi Hiệu, mà do con ‘2019 novel coronavirus’ (2019-nCoV), thường gọi là ‘Coronavirus Wuhan’; mà Hoàng đế Tàu muôn đời Tập Cận Bình gọi nó là con ác quỷ.

Vài loại virus được đặt tên theo chỗ hay nơi đầu tiên phát hiện ra nó

Như MERS, viết tắt của Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng bệnh hô hấp Trung Ðông hay).  Hoặc ‘Virus Ebola’, tên một con sông ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo bên Phi Châu.

Còn “Coronavirus Wuhan”, hình dạng giống như vương miện (corona), vẫn chưa được chánh thức có tên.

Con ‘Coronavirus Wuhan’ nầy đã làm 6,000 người mắc bệnh và 132 người đã chết. Người dân Trung Quốc đang hoảng loạn; vì một người nhiễm bệnh có thể lây cho tới 2.6 người khác; số ca nhiễm bệnh mỗi ngày tăng lên tới 30%.

Vũ Hán là đầu mối giao thông về đường sắt cao tốc Bắc Kinh-Quảng Châu (Bắc xuống Nam) và Thượng Hải-Thành Ðô (từ Ðông sang Tây).

Rồi phi trường quốc tế Vũ Hán có tới 29 triệu lượt hành khách bay đi tới 109 điểm thuộc 20 nước khắp năm châu như London, Moscow, Paris, Rome, New York, San Francisco, Bangkok, Tokyo and Seoul.

Thời điểm xảy ra cơn đại dịch nầy lại trúng vào ngày Tết Âm lịch. Cả trăm triệu người dân Tàu về quê ăn Tết hay ra nước ngoài du lịch mang theo ‘Coronavirus’ nầy đi gieo rắc khắp nơi.

Tòa Lãnh sự Mỹ ở thành phố Vũ Hán đã đóng cửa. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cảnh báo cấp 4 với công dân của nước mình là: “Ðừng đi tới tỉnh Hồ Bắc!”

Còn ai lỡ tới Vũ Hán rồi thì Mỹ cho máy bay Boeing 767 với 240 chỗ qua chở dân mình về California, USA.

Ðàn anh Mỹ làm vậy; đàn em Úc bắt chước làm theo, chuẩn bị cho máy bay qua rước công dân Úc về trong đó có ít nhứt khoảng 100 trẻ em.

Tranh Bảo Huân

Hiện tại không có loại thuốc nào hiệu nghiệm để tiêu diệt được loại virus này. Còn thuốc chủng ngừa, theo các chuyên gia về Y tế của trường Ðại học Queensland Úc Châu, phải mất ít nhứt 4 tháng nữa mới có. Trong khi đó các chuyên gia Y tế của nước Mỹ tiên liệu cần phải tới một năm.

Thế nên trẻ con, người già, những người bị bạo bệnh trong quá trình hồi phục, có hệ miễn dịch yếu phải tự bảo vệ mình bằng cách tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh; tránh đến những chỗ đông người.

Rồi vệ sinh thường thức như: rửa tay, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và khử trùng các bề mặt khi bạn chạm vào. Nếu cần thiết thì phải đeo khẩu trang. (Chính vì vậy mà các nhà thuốc Tây ở Footscray nầy đây khẩu trang đã bán sạch bách rồi; phải đặt hàng tới tuần sau mới có).

Bộ Y tế Úc muốn người dân tỉnh táo nhận thức được vấn đề, nhưng họ cũng muốn ngăn chặn sự hoảng loạn không cần thiết.

Tuy vậy có một số trường tư ở Sydney và Melbourne buộc học sinh đứa nào mới về Trung Quốc ăn Tết trở qua, trước khi nhập học vào đầu niên khóa thì đừng đến trường trong 14 ngày; rồi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ mới được vào lớp học.

Hành động nầy bị các chuyên gia về Y tế Úc cho rằng làm hơi quá!

Nhưng trường tư thường dành cho con em nhà giàu nên thủ cẳng và thủ kỹ như vậy cho chắc ăn!

Trong khi đó thì Tàu Cộng cố che giấu dịch viêm phổi Vũ Hán. Nhân Dân nhựt báo cố tình đăng ‘video’ bệnh nhân khỏi bệnh vui mừng ra dấu hiệu chiến thắng giữa 4 nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ.

Chuyện trớ trêu là Vương Nghiễm Phát, người đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu được Bắc Kinh cử đi điều tra tình hình, ngày 11, tháng Giêng, năm 2020 nói rằng: “Dịch bệnh đã được kiểm soát!” Nhưng chính ông ta sau đó bị chẩn đoán là đã nhiễm virus.

Rồi ngay giữa khủng hoảng, một cuộc họp đảng lớn của tỉnh Hồ Bắc vẫn được tổ chức ở Vũ Hán và hơn 40,000 gia đình được mời tham dự một bữa tiệc trong nỗ lực lập kỷ lục thế giới.

Thiệt là quái đản!

Các quan chức CS luôn nói dóc, che giấu nhằm hạ thấp mức nghiêm trọng của vấn đề vì không muốn gây tổn hại đến kinh tế và ổn định xã hội để họ được thăng quan tiến chức. Ðể khi nghe về nó, và khi vấn đề đã đến chính quyền trung ương, thì nó đã là một vấn đề lớn rồi.

Chủ tịch thành phố Vũ Hán, Chu Tiên Vượng, lên truyền hình mếu máo, biện minh là: “Luật pháp Trung Quốc về các bệnh truyền nhiễm, trước tiên chính quyền địa phương cần báo cáo ổ dịch cho Bộ Y tế, sau đó được sự chấp thuận của Trung Ương trước khi có thể đưa ra thông báo.

Tên tuổi của chúng tôi sẽ bị gắn liền với vết nhơ, nhưng miễn là việc kiểm soát dịch và bảo đảm an toàn cho người dân có hiệu quả hơn, tôi và đồng chí Mã Quốc Cường (Bí thư Thành ủy Vũ Hán) sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.

Nghĩa là hai tên đầu têu ở Vũ Hán nầy xin nằm cúi xuống cho Tập Cận Bình đét đít, rồi đuổi về chăn gà cho vợ. Ðiều tức cười là hai đứa ra lịnh cho dân khi ra chỗ công cộng là phải mang khẩu trang; nhưng tay Bí thư cứ để mặt trần, trụi lủi; còn tay Chủ tịch mang khẩu trang ngược.

Chú, Thiếm Ba chửi um sùm. Ngu dốt như vậy mà Ðảng lãnh đạo cái giống gì hè? Dân không tin quan nói; khi thấy trên các trang mạng xã hội người bệnh tay gắn ống truyền dịch, ngồi cạnh những bình oxy gần ba thi thể phủ vải trắng. Các bệnh nhân đeo khẩu trang gục ngã ngoài đường.

Nên hàng trăm người dân rồng rắn chen chúc trong các hành lang bệnh viện để chờ tới lượt điều trị làm nguy cơ lây nhiễm lẫn nhau lại cao hơn. Nghiêm trọng tới chừng đó, quan chức CS mới quắn ‘đít’ lên, cấm tất cả các chuyến bay và xe lửa ra khỏi thành phố Vũ Hán. Trung Quốc đã đặt gần 60 triệu người, nhiều hơn cả dân số Hàn quốc vào tình trạng cách ly một phần hay toàn phần. Công nhân về quê ăn Tết bị cấm trở lại thành phố làm việc.

Các thành phố trực thuộc tỉnh Hồ Bắc, và hơn 15 thành phố lớn thuộc tỉnh khác đã trở  nên thành phố ma. Ðường phố vắng tanh, thưa thớt bóng người qua lại. Thị trường chứng khoán Mỹ, Âu Châu, Tokyo Hong Kong giảm mạnh gần 2%, mức lao dốc tồi tệ nhất trong năm.

Chưa có bằng chứng nào cho thấy con virus nầy truyền qua hàng Trung quốc xuất cảng; nhưng nền kinh tế nước Tàu đã bị thiệt hại rất nặng nề! Mùa Cúm bên Trung quốc năm nay tệ hại rất nhiều vì con Coronavirus Wuhan lây lan với tốc độ chóng mặt, gây ra rất nhiều hậu quả xấu về văn hóa, kinh tế, chính trị cho Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo rất lôm côm và lu bu của đảng CS.

Phải thân chinh nắm quyền chỉ huy các hoạt động chống dịch bệnh là Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang đánh một canh bạc rất lớn, ít may nhiều rủi cho sanh mạng chánh trị của mình. Ðược ăn cả, ngã về không!

Nếu thắng, dập tắt được dịch bệnh ‘Coronavirus Wuhan’, thì ghế Chủ tịch của Tập vững như bàn thạch… cho tới cơn dịch tới. Bằng thua, thì Tập Cận Bình ắt phải về đuổi gà cho vợ thế thôi!

Ðuổi gà chớ không phải chăn heo. Vì heo Trung Quốc năm nay đã bị Dịch tả Lợn Châu Phi làm chết hết ráo rồi thì còn đâu nữa mà chăn?

ĐXT

Melbourne

Bonsoir Việt Nam

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

1.
Quán cà phê Mèo Đen. Cả bốn con mắt cùng nhìn thấy bảng hiệu. Xe gắn máy tấp sát lề đường, thắng đứng. Gã trung niên trả về số không, chống một chân xuống đất. Người đàn bà ngồi phía sau nhích mông rời ghế xe.

– Đứng yên chỗ này, đừng dời đổi.

– Bà chị yên tâm. Tôi vẫn để máy nổ?

– Ừa, cao tay chỉ mất năm phút là cùng.

Bà sửa lại khẩu trang, đeo xách ny lông ở nách, ngó trước trông sau và xăm xăm đi vào quán. Gã điều khiển xe nhìn theo. Nắng làm hoa mắt, ô cửa đen ngòm nuốt vội chiếc áo màu vàng của người đàn bà. Nhạc kích động ùa ra thềm. Chát chúa tiếng đàn tiếng trống. Buổi trưa mà quán cà phê không vắng. Chẳng phải cuối tuần mà có lắm kẻ ngồi tụ đàn đấu hót.
Phục vụ viên, lo phần tiếp khách đều là con gái. Áo quần hở hang theo quy định, “điện nước đầy đủ”, che bớt da thịt thì sẽ sập tiệm vì chẳng còn khách lai vãng. Mèo đen. Đứa nào đặt tên thật có ý nghĩa. Mèo ưa nũng nịu cạ thân vào, lim dim mắt khi được vuốt ve. Tuy đen nhưng người đàn bà vẫn nhìn ra mục tiêu. Vừa đi vừa thò tay vào túi ny lông. Con dao sản xuất ở Trung quốc mang theo hàn khí khi rời chỗ ẩn. Dao vung lên, lạnh lùng, tàn nhẫn.

– Con đĩ mẹ mày, tao chém cho mày biết đời là gì.

Nhiều tiếng rú cất lên. Tiếng ly tách rơi vỡ. Những bàn chân chạy, hoảng loạn. Máu đã đổ. Không một ai can thiệp. Tất cả đều đứng một góc, trương mắt ra ngó. Lực lưỡng có, ốm o có, tóc dài có, đầu trọc có. Tai đeo khoen có, mũi đục lỗ có, thun ba lỗ khoe mình đầy vết xâm cũng có. Nam nhi cả tá nhưng không hề là đại trượng phu.

– Mả cha mày. Chừa cái thói đi hại đời con gái nhà lành, nghe con.

Người đàn bà tuyên bố câu cuối cùng. Bà quay lưng, đi bước dài. Gã trung niên làm nghề chạy xe ôm vẫn đen đúa đội nắng chờ khách trở ra. Khách đeo khẩu trang nên chẳng trông được nhan sắc. Khách ôm eo. Đôi tay còn run.

– Thăng.

Chiếc xe phóng chạy theo mệnh lệnh.

– Về hướng ngoại ô nghen.

– Dạ được.

Người đàn bà ngó lui. Mọi thứ đều bình thường. Cây vẫn xanh lá. Đường vẫn lắm xe. Bụi bặm và khói xăng. Nóng bức và đứng gió. Chẳng có gì lạ.

– Anh hành nghề này đã bao lâu?

– Có hơn sáu năm nay.

– Ngon cơm không?

– Chị nói sao?

– Sống thong thả hay chật vật?

– Trời! Thong thả nghĩa là sao hở chị? Tôi và chiếc xe này giống nhau, lật đật chạy ngoài đường cả ngày. Bỏng khét, bá thở chỉ hòng nuôi hai miệng ăn qua bữa.

– Tới nghĩa trang thì anh quẹo phải.

Chiếc xe nấc lên, rùng mình mỗi khi sang số. Người đàn bà sẽ cạ thân vào lưng gã mỗi khi hắn đạp thắng. Nhưng nói chung, với sáu năm lèo lái, có thể nói hắn điệu nghệ. Lòn lách giỏi, biết chạy lắc léo, chưa từng bị ùn tắc khựng đứng. Đen đúa, bẩn thỉu như đa số bọn hành nghề chạy xe ôm.

– Nuôi hai miệng ăn? Nghĩa là chỉ hai vợ chồng đùm bọc? Con cái thì sao? Chúng tự lập thân?

– Không. Tôi chẳng có vợ con. Tôi nuôi mẹ già.

Hỏi, trả lời. Cả hai phải dụng sức gần như hét. Đường luôn chan tiếng động, ngay cả chiếc xe đang lao, máy nổ cũng rầm rộ góp tiếng. Tên lái xe la toáng lên:

– Chị đòi được nợ chưa?

– Rồi.

– Nó chồng đủ tiền hay sao mà mau dữ dậy?

– Chồng đủ.

– Má tôi thiệt thà, cho người bà con vay hai chỉ vàng, ngày một ngày hai nó lặn mất tiêu. Tôi chạy xe bay tóc trán tìm không ra tăm hơi đứa quỵt nợ. Khốn kiếp!

– Thôi, bỏ tôi xuống đây.

Xe thắng gần một bãi rác. Vắng người, vì chẳng còn gì để bới móc thu hoạch. Tan hoang. Kể cả ruồi, chúng cũng tìm nơi bốc mùi mà tụ họp, ở đây chả còn hương vị gì. Người đàn bà trả tiền cuốc xe.

– Đời có vay có trả, nó chạy không khỏi đâu. Tin tôi đi.

– Tôi cũng nói câu đó với má tôi. Chỉ nhằm an ủi bả.

Gã trung niên đếm những tờ giấy bạc, cất vào túi áo. Hình như có thừa một tờ năm ngàn nhưng gã không nói. Lặng yên quay xe trở ra.

2.
Người đàn bà cầm bó tiền được cột bằng sợi giây thun. Bà không đếm, như thể với trọng lượng đó, với bề dày đó, là đủ, chẳng thiếu. Hoặc giả bà tin cậy tới kẻ trao tiền. Bà nói:

– Tôi đi.

– Vội thế. Làm miếng nước đã.

Người đàn bà ngần ngừ, sau cùng ném cái khẩu trang xuống bàn gỗ và ngồi lên mặt ghế nhựa. Ly nước nằm trước mặt. Nước màu đen, có thể xá xị, có thể Coke, có thể là cà phê Trung nguyên. Bà ngó lên gã đàn ông. Đã lâu rồi, họ quen nhau ở chợ trời. Ông ta bán thuốc Tây, còn bà là kẻ chuyên đi đòi nợ. Một thứ nghề cần nhiều máu lạnh, vô cảm trước những than khóc đớn đau. Có lẽ ông ta cũng vậy, thuốc ông bán đa phần là trụ sinh, dùng để cứu người; đôi khi cũng có thể giết người. Trường hợp ngoài ý muốn. Ông ta sẽ nói thế. Và dong đôi tay lên trời, miệng chửi rủa: Mẹ kiếp, chúng nó trao thuốc giả, có thánh mới biết! Nó chết là bởi cái tuối thọ của nó chỉ trường tồn tới ngang đó thôi. Làm sao hơn?

Chuyện ngày xưa. Nó giống một trang sách liêu trai đã lật qua. Bây giờ khác, rất chí dị trong thay đổi và rõ nét nhất là ở người đàn ông. Chẳng biết hắn làm chuyện gì mà tiến bạc rủng rỉnh? Áo xống tử tế, diện mạo tươi nhuận, đỏ da thắm thịt. Hắn ngồi xuống ghế. Cách bề rộng của chiếc bàn, người đàn bà ngửi được mùi dầu thơm từ phiá kẻ đối diện lùa qua. Một thứ mùi dễ làm nhột mũi, ưa hắt hơi. Thoang thoảng chút gợi dục.

– Có lẽ tôi lại nhờ chị một lần nữa.

Người đàn bà đón lấy điếu thuốc. Hơi chồm người qua để dí mặt vào ngọn lửa vừa được thắp lên.

Khói thuốc thơm. Ai bảo thế? Nó hôi và độc hại. Biết vậy, nhưng đôi khi người ta cần nó. Để tính toan. Để cứng rắn. Để mơ mòng. Để hoài nghi. Để tỉnh thức. Mặt người đàn bà phủ màn ngờ vực. Bà từ tốn đưa ra câu hỏi, hơi e dè:

– Lại chém người?

– Không. Lần này nhờ chị dắt nó đi phá thai.

– Chuyện nhỏ.

– Tìm chỗ đáng tin cậy. Làm ăn vén khéo. Chớ quan hoài chuyện tiền bạc.

– Nó đã mang thai rồi sao? Chóng thế? Làm sao biết?

Người đàn ông cười. Tiếng cười khô, sặc; nghe tựa tiếng ho.

– Có những niềm riêng người ta dấu kín như thứ bí mật quốc phòng. Như mèo dấu cứt. Nhưng mang thai.
Trời, nó lộ liễu quá, chị không thấy sao?

Trên bàn chẳng có gạt tàn, người đàn bà ném điếu thuốc hút dở xuống đất rồi dí dép nhựa lên trên, đay nghiếng, chà đạp. Giọng người đàn ông tuôn đều đều, như tụng kinh:

– Phải làm sớm. Có thể dăm bữa nửa tháng nó sẽ đi mất đất sang Đài loan.

Uống hết ly nước. Người đàn bà đứng lên.

– Chị có gì để hỏi không?

Người đàn bà ngó quanh, bước tới mở vòi nước để rửa tay. Trên vách có treo tấm gương soi, bà nhìn vào đó và trông thấy mặt con mẹ nào thật lạ lẫm. Bà để những ngón ướt nước vuốt tóc con mẹ ấy. Nước mát lạnh thật dễ chịu, làm trán bớt cau có. Bất thần vuông gương hứng thêm khuôn mặt mày râu nhẵn nhụi của gã đàn ông.

– Cỡ như tôi muốn sang Đài loan đổi đời có dễ không?

Bà nói mà không quay mặt lại. Nhìn cái môi dầy trong gương nhóp nhép:

– Chị thật biết nói đùa.

– Sao?

– Con bé ấy mới có mười bảy tuổi. Nó mới thất thân lần đầu và tương lai sáng lạng hẳn còn rộng mở. Tụi đàn ông Đài loan không phải đứa nào cũng đui chột. Vả lại chị đi rồi tôi biết trông cậy vào ai? Rách việc mất.

Người đàn bà tắt vòi nước. Chùi hai tay vào vạt áo.

– Quan trọng vậy sao?

– Phải. Ngày mai nhé. Khoảng tám chín giờ cho đất trời mát mẻ. Tôi biểu nó chờ chị ở đây.

– Tôi đã già chưa?

– Chị phải biết điều đó hơn ai cả. Sao lại đè tôi mà hỏi?

– Giả như anh đè tôi ra giờ này chắc tôi sẽ không có phản ứng gì ráo.

– Là sao?

– Trên người tôi chẳng có thứ gì hấp dẫn cả, phải không?

– Đừng nói vậy. Đàn ông xứ này còn tệ hơn bọn Đài loan Hàn quốc nhiều. Không tin hả? Đêm hôm chị đi lơ ngơ một mình, chúng hiếp cho nát người ra.

– Thôi, tôi đi. Mất thì giờ!

– Vậy nhé. Trăm sự nhờ chị. Lo chuyện này xong, thưởng công, chúng ta tắm táp sạch sẽ cùng nhau ôm ấp làm việc đại sự. Để chứng minh: Với tôi, chị còn hấp dẫn chán. Tiền bạc không thành vấn đề, đúng không?

Người đàn bà bước qua ngạch cửa. Nhà hàng xóm có ai đốt vàng bạc, hứng trong thau nhôm, đặt ở sân đất. Khói mù mịt, che bít lối đi.

– Đéo mẹ!

Người đàn bà chửi vào khoảng không.

3.
– Tôi chạy xe ôm đã sáu năm. Có nghĩa là cô nên tin tôi. Tôi tựa như thổ địa vậy. Biết thổ địa là gì không? Là ma xó đó. Địa chỉ nào, đường phố nào, hẽm hóc nào mà tôi hổng rành!

– Có xa không chú?

– Cô sốt ruột rồi sao? Ngồi chưa nóng đít! Ừ, mà tôi hiểu. Ai cũng thế cả, tâm trạng chung. Ở phương xa về thăm lại quê cũ mà, ắt phải nóng lòng.

– Nhà cửa ngỗn ngang… Trước đây có đông đúc vậy không chú?

– Trước đây là bao giờ? Mà thời nào cũng thế, phố phường thì lúc nào cũng chộn rộn. Ở bển chắc dữ dằn hơn nhiều, phải không cô?

– Chú có thân nhân sống ở nước ngoài không?

– Làm gì có. Vô phước là ở chỗ đó. Tôi sống với mẹ già, mình bỏ trốn, lấy ai nuôi bả. Người có tình cảm thường cực thân. Không bì được với bọn vô tâm, chúng hơi bị vô tư thoải mái ở đời thường!

– Đời thường là gỉ?

– Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Chắc cô quên tiếng Việt đương đại đã bộn bề?

– Đương đại là gì?

Chú lái xe ôm đã không trả lời. Cô gái ngồi sau bấu cứng chéo áo nhìn cảnh vật hoang đường vất chạy lui sau. Xe gắn máy giã từ phố thị, chạy qua cầu xi măng, rẽ xuống đường đất, song song với con lạch cạn nước. Nước màu đen. Cắm xuống thân nó là những cọc gỗ xiêu vẹo, hứng đỡ bên trên thứ nhà cửa rách nát vá víu bằng nhiều tấm bià cứng. Mì ăn liền hiệu Mamy. Sữa đặc hiệu Hột xoàn… Xe chạy bên này và mùi hôi rượt đuổi bên kia. Mùi bùn, mùi rác và mùi quen thuộc của loài người: Cứt! Có người đang ngồi ỉa, đưa cái đít sần sùi ra và vật bị thải đang chực rơi xuống vũng bùn. Con lạch, cái mương, cái ao này trước đây hẳn nhiều cá? Uổng! Cá không còn mà quây quần đớp hít động đậy dưới chân bèo. Cá đã bỏ chốn cũ để ngơ ngác ra hoà nhập với sông hồ nước cao sóng lớn biển mặn dâng tràn tai ương.

– Chỗ này sao xác xơ vắng lặng vậy chú? Có đi nhầm nơi không?

– Không. Đến rồi. Xuống đi.

Xe dừng trước cái chòi lá nằm khuất sau bụi cây. Gã cúi mặt sửa lại vành nón tai bèo như không muốn cô gái nhận diện. Chân sang số, vặn tay ga. Xe gầm gừ quay một vòng, tìm đường cũ mà truy phong. Cô gái đứng một mình, gần như đồng không mông quạnh. Bụi cây ra hoa, ngầy ngật tỏa ngát hương thơm. Không. Hoa vô hương vô sắc. Mùi thơm kia vốn từ cơ thể cô mà phát sanh. Chanel hay Gucci? Làm sao biết được? Hương đồng cỏ nội đã cúi rạp mình mà say khướt trong gió thoảng ngất ngây. Cô nắm chặt sợi dây da ở cái xách đeo vai. Hoang mang, hối hận. Lạ! Sao chú kia lật đật quày quả đến nỗi quên nhận tiền cô trao. Thơ ngây! Cô không hề tưởng tượng được gã ấy đã run tay nhận nửa triệu trước khi sà tới đón cô ở cổng khách sạn. Túi cộm tiền. Im re và đứng cúi đầu. Đù má, mày cà chớn ông thịt bà già mày cú một. Hiểu không? Hiểu. Thà bất nhơn chứ chẳng thể bất hiếu. Gã rồ máy xe, ồn ào để khỏa lấp những lo toan. Và sau đó tuân thủ một cách đúng bài bản, phép tắc. Hợp quy định, đạt chỉ tiêu của mấy ổng đề ra. Vất cô gái xuống điểm X đánh dấu mực đỏ trên bản đồ bỏ túi.

Cô gái thò tay vào túi xách sờ nắn, lôi ra được cái điện thoại di động. Đã trễ. Hai thằng đàn ông đưa cả bốn tay bịt mồm ôm cứng cô ta. Mùi hương của cô, nước da trắng ngần không tì vết của cô vô tình trao cho chúng tất cả sức mạnh, vượt ngoài mức đòi hỏi khi muốn khống chế một kẻ chân yếu tay mềm. Hồ hỡi phấn khởi là thứ phương ngữ nghèo nàn, chẳng nói hết nổi mừng vui đại thắng của chúng.

Buổi chiều ở đấy thật êm ả. Hoàng hôn chưa về, mây trắng còn bay hững hờ trên nền trời xanh. Chẳng một cánh chim đảo qua. Tịch lặng. Nước mắt cô gái chảy đầy, ướt cả bàn tay hung bạo. Cho hay có khi, có nơi, ban ngày ban mặt mà quỉ dữ vẫn lộng hành!

4.
Người đàn ông đứng tần ngần, mặt lộ vẻ hốt hoảng pha chút phiền muộn, mệt mỏi. Chỗ ông đang đứng, thú thật chẳng mấy ai ưa đặt để đôi chân. Trụ sở ấy, tự bản thân, nó toát ra cái gì đấy, ngầm đe dọa. Nó là đường ranh mong manh chia cắt giữa nhất nhật và thiên thu. Tạm trú và thường trú. Nhà cửa và chấn song ngục tù.

– Vào đi.

Cánh cửa khép hờ. Tiếng nói từ bên trong vọng ra, nhắm tới ông. Ông xô cửa, mỏi gối chồn chân, đá cứng chân mềm. Nền gạch hoa đen trắng vuông tròn đánh lừa nhãn quang rối bời hai con mắt mông lung. Đồ vật trang trí trong phòng đa phần nhuộm sắc đỏ. Băng-rôn, biểu ngữ, cờ xí, huy hiệu, sơ đồ, biểu đồ ngành nghề thảy đều đồng phục. Nóng. Màu cách mạng. Ngộp thở.

– Ngồi đấy.

Ông ngó xuống chiếc ghế trống. Cái bàn gỗ tiệp màu và đàng sau gã công an mặt cau có vừa ban phát mệnh lệnh.

Ông ngồi. Ở một chiếc ghế kê sát vách, lùi sâu góc phòng có đứa con gái ôm mặt khóc nấc. Đầu tóc rối và lụa là nhăn nhàu, sắc diện áo quần thảy lấm lem bất thường.

– Ông là Trần văn đại Gia?

– Dạ phải.

– Hừ. Tên nghe oách nhỉ? Giấy chứng minh nhân dân đâu?

Người đàn ông trình tấm thẻ căn cước bọc nhựa, vói người đưa bằng cánh tay run.

– Quan hệ thế nào với cô Minh Đài?

– Thưa nó là cháu tôi, gọi bằng cậu.

– Là thế nào? Phải nói cho rõ.

– Là tôi có bà chị ruột. Lập gia đình rồi chỉ mang thai, chỉ đẻ ra đứa con gái duy nhất, đặt tên là Nguyễn thị Minh Đài. Tôi là cậu nó, là em má nó.

– Được. Lần gặp gỡ mới nhất của hai người?

– Dạ… dạ e đã có hơn mười năm. Má nó làm giấy tờ bảo lãnh, rồi thì biền biệt cách chia.

– Rườm lời! Có nghĩa là từ khi cô ấy về thăm lại quê hương giàu mạnh ông chưa hề gặp mặt?

– Chưa hề.

Người đàn ông nhìn tới hướng cô gái. Giọng ông òa vỡ cốt cho cô ấy nghe ra:

– Tại sao vậy cháu? Chớ tội tình chi mà cháu phải chịu đọa đày! Đột xuất. gây nên sự cố bất ngờ mà làm gì? Muốn cậu ngạc nhiên mà làm chi. Cậu đã già, tim mong manh lắm Đài à. Đường Yên Đỗ không bước lại nhắm chốn đoạn trường mà đi!

Ông ca cẩm, ông càm ràm mà như đang đọc thơ Kiều. Lời lẽ tuồng như oán trách số phận. Hồng nhan đa truân. Người bạn dân tỏ vẻ khó chịu khi nghe qua. Đưa tay ra dấu cho một tên công an còn trẻ lại gần:

– Sang phòng bên xem thử đã thu hoạch được gì?

Phòng bên cách ngăn bằng tường vôi viết đầy khẩu hiệu ca tụng sự chí công vô tư. Cửa gương mờ đục được mở ra.

– Chuyện gì?

– Anh Năm bảo diễn tiến vụ việc đến ngang đâu?

– Đấy. Cái túi xách của cô ta chứa đựng toàn những thứ linh tinh. Son phấn mỹ phẩm. Một cuốn sổ ghi địa chỉ, số điện thoại. Mười lăm ngàn tiền Việt nam kẹp bên trong. Hai thỏi kẹo cao su. Một đĩa CD. Một miếng băng dùng khi có tháng. Hết. Không có đô la, chẳng có tài liệu gì sất.

– CD à? Nghe thử chưa?

Dưới chân dung Hồ chủ tịch, dưới hàng chữ “Không có gì qúy hơn độc lập tự do”, ở trên cái tủ sắt sơn xám có đặt để chiếc máy màu đen. Một trong ba gã công an cầm dĩa nhạc tới, mở Power, bấm Play, sờ nút Volume: “… Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme…”

– Nhạc gì thế? Tiếng Mỹ hay tiếng Liên xô thế?

– Tiếng Đan mạch đấy. Việt kiều từ Đan mạch về mà lị.

– Ừ nhỉ. Đan mạch là chốn nao? Chúng mày biết nó rêu rao những gì bên trong?

– Im coi nào. Nó có nhắc tới Việt nam nữa cơ. Lại tuyên truyền cái gì đấy phỏng?

– Bố khỉ! Cơ quan mình có đồng chí nào am tường tiếng nước ngoài không?

Câu hỏi chẳng có trả lời. “…images de la guerre. Un film de Coppola, des helicopters…”

– Bực cả mình. Thu cất cái này làm tang chứng vật chứng. Có khi nhờ nó mà ta điều tra được cả một chuỗi âm mưu thâm độc chăng?

– Bắt buộc rồi. Thưa với anh Năm là bảo cô ấy nghiêm chỉnh viết bản tự khai, dịch minh bạch lời bài hát là rõ.

– Nhất trí.

5.
Người đàn bà chận gã mặc đồng phục bệnh viện ở hành lang thắp sáng dãy đèn xanh mướt.

– Sao rồi?

– Tiền bồi dưỡng đâu? Con bé đang nằm nghỉ. Khoảng nửa giờ thì có thể về nhà.

Người đàn bà bắt tay thằng đàn ông. Trong hai bàn tay nắm ơ hờ kia là khoảng tiền trà nước buộc phải có, bất thành văn tự. Cả hai bàn tay từng thấm nhiều máu. Bên chém người và bên cứu người, moi từ cửa mình chật hẹp ra cục máu chưa tượng hình. Rồi cái cửa mình lắm chuyện ấy sẽ rặn đẻ, vất ngoài cõi đời những đứa con lai Đài loan. Nhưng đó là chuyện mai hậu. Hiện tại, đứa con gái nhắm hờ đôi mắt, dang tay dạng chân nằm trên giường với nước da tái.

– Đau không?

Con bé mở bừng mắt ra. Mắt long lanh, mắt như biết cười khi nhìn thấy người đàn bà.

– Đau chớ. Thằng bác sĩ nó vọc rõ lâu. Nó còn đòi cạo lông cắt tỉa nghệ thuật cho em nữa cơ. Khiếp! Bàn tay nó nóng một cách lạ lùng. Bận sau lỡ có vào cô nhớ tìm cho em bà bác sĩ thì tốt hơn. Đàn bà với nhau… Cô hiểu không?

– Biết đau đớn ê chề thì tại sao còn nói tới bận sau?

– Bao lâu thì về hả cô? Chân đang còn run.

– Không gấp. Hồi nào cưng nghe khỏe hẳn tính.

– Mồm miệng đắng chát. Dắt em đi ăn tô phở cao cấp hả cô. Tự dưng sao thèm quá mạng!

Phòng có hai giường, ngăn chia bằng tấm màn vải màu xanh vấy bẩn ở đường biên. Chỗ vấy bẩn đang có bàn tay kéo nó sang bên. Tiếng những khoen sắt móc trên màn chạy xô về một phía nghe ê răng.

– Cậu đưa cháu về khách sạn đi. Cháu hãi chỗ này quá.

– Thì mình cũng nên làm đúng thủ tục. Xem kết quả vết thương có bị nhiễm trùng không đã. Bịnh ết, bịnh xi-đa, giang mai lậu mủ các thứ.

– Họ đòi bao nhiêu hở cậu?

– Trước mắt là ba triệu. Sau đó thì linh động gia giảm tùy theo mức độ khám nghiệm thuốc men.

– Gì mà dữ thế?

– Ai biểu cháu làm Việt kiều. Cháu nổi bật giữa đám đông mà cháu không hay biết. Người ta thèm khát, người ta ganh tị, người ta đố kị những thứ mà cháu có.

– Mai mốt cháu lấy vé máy bay. Cháu về lại bên ấy sớm. Cậu đừng buồn nhé. Chuyến đi thăm quê hương vỏn vẹn đúng ba ngày.

– Cậu không buồn. Cậu trách mình lúc nào cũng bó tay trước nghịch cảnh. Cậu bất lực, cháu đừng giận, xin thông cảm. Mình người Việt với nhau mà sao…

Người đàn ông bỏ lửng câu nói. Mắt đỏ hoe. Hai tay xoắn xít với nhau, bức rức, rối rắm.

– Chuyện gì đã xẩy ra?

Người đàn bà ngồi giường bên cạnh hỏi vọng sang.

– Chuyện đau buồn cá nhân giòng họ. Chị hỏi làm gì?

– Chỉ mặt thằng nào đã hại cô này. Tôi cam kết với ông là sẽ chém nó theo yêu cầu. Từ chết tới bị thương…

– Cám ơn tấm lòng nghĩa hiệp của chị. Lúc này đây người tôi đang bị bằm vụn ra. Tôi đang là kẻ u mê ám chướng. Nhưng mà chém, biết chém chừng nào mới thôi? Bọn gian ác lúc nào cũng hằng hà sa số. Chị không thấy mỏi tay sao?

Người đàn bà ngậm câm. In tuồng sát thủ đã nhìn ra chân lý, vỡ lẽ mọi căn nguyên.

– Cháu nằm xuống một tẹo, đắp chăn lên. Cậu ra ngoài tranh thủ hút điếu thuốc và gọi một chiếc taxi.

Người đàn ông kéo lại tấm màn vải. Bước ra hành lang, đi xiêu lạc. Ông xô cửa, bóng tối đổ ập xuống thành phố. Đèn đường bừng sáng và những con thiêu thân bắt đầu lao vào với tất cả sự mù lòa.

– Oan nghiệt!

Người đàn ông nói một mình. Ông đốt lửa điếu thuốc và hút nó với điệu bộ của một con nghiện đang lên cơn.

– Chị Sáu ơi! Đớn đau quá chị Sáu ơi! Ngày xưa vượt biển chị bị bọn hải tặc Thái lan hãm hiếp đến khờ khạo, giờ này đứa con duy nhất lá ngọc cành vàng của chị cũng bị bọn đầu trâu mặt ngựa Việt nam thay phiên làm nhục ở cố hương. Nó về thăm em mà làm gì? Thăm thằng cậu tật nguyền này mà được cái chi? Ta về ta tắm ao ta… Mả cha cuộc đời quá vô hậu!

Hồ Đình Nghiêm

* Viết, sau khi nghe bài hát chẳng hay “Bonjour Vietnam” của Marc Lavoine

Na Uy những dấu chân lưu lạc.

May 13, 2022  

(viết cho gia đình và bằng hữu)

Phạm Tín An Ninh

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

(Quốc Kỳ Na Uy)

Như vậy là tôi sẽ phải rời xa Na-Uy, đất nước đã cưu mang tôi và sẽ còn mãi in đậm những dấu chân tôi trong cả một quãng đời hơn 30 năm lưu lạc?  Cũng như tâm trạng của những ngày tìm cách vượt biên, rời khỏi Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, câu hỏi này đã làm tôi ưu tư trằn trọc nhiều đêm, như sắp phải cắt đi một phần máu thịt ràng buộc với chính sự sống của mình.

Sau bậc trung học ở Na-Uy, bốn đứa con lần lượt được học bổng sang Mỹ du học từ năm 1990. Có việc làm sau khi tốt nghiệp, nên ba cháu đã chọn ở lại đây lập nghiệp và trở thành công dân Mỹ, mong muốn bảo lãnh cha mẹ, khi về hưu, sang sống với các cháu những năm cuối đời, và với khí hậu ấm áp của vùng biển Cali sẽ làm người già đỡ căn bệnh đau nhức các khớp xương khi mùa đông Bắc Âu mang cái lạnh trở về. Mấy năm nay, sau khi về hưu, chúng tôi cũng chỉ sang Cali ở với các con sáu tháng mùa đông, còn sáu tháng mùa hè về lại với Na-Uy. Vậy mà trong những ngày mùa đông nắng ấm Cali, tôi vẫn da diết nhớ về Na-Uy với cả khung trời ngập đầy tuyết trắng, những hàng cây trước nhà, vào đêm Giáng Sinh, đóng băng, trở thành những cây thủy tinh lung linh dưới ánh đèn đường. Tôi nhớ cả cái không khí yên bình tĩnh mịch và những người bản xứ láng giềng tốt bụng. Nhiều lúc tôi ngồi bất động, thả hồn về Na-Uy, tìm lại từng dấu chân lưu lạc của mình.

     Hơn ba mươi năm trước, khi phải đành lòng bỏ lại quê hương, bao nhiêu người thân và mồ mả cha mẹ ông bà, ra đi trên chiếc thuyền đánh cá mong manh, cũng như rất nhiều người, tôi không hề nghĩ là mình sẽ đến một đất nước xa lạ có tên Na-uy. Cái tên Norway, Norvège, tôi chỉ nhớ loáng thoáng qua phim The Vikings mà tôi đã xem qua lúc còn đi học, và cái giải Nobel Hòa Bình năm 1973 trao lầm cho Kissinger – Lê Đức Thọ, đã từng gây cho tôi cái ác cảm với đất nước xa xăm lạ lẫm này. Đặc biệt, năm 1978, khi đang ở tù ngoài Yên Bái, nhân một ngày lễ lớn của Cộng sản, tổ tù chúng tôi được phát một hộp thịt cá voi. Thấy ngoài hộp thiếc có ghi “Made in Norway”, bọn tôi càng ghét thêm cái tên này, vì nghĩ đó là một quốc gia thân Cộng Sản.

Thuyển Viking – biểu tượng NaUy trên các hộp cá voi)

   Chiếc thuyền nhỏ chở theo 52 người, gần một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Cả bầu trời phủ kín mây đen. Những ngọn sóng bạc đầu từ trên cao phủ xuống, như muốn nuốt chửng con thuyền nhỏ mong manh. Mệnh số 52 con người chỉ còn biết phó thác cho trời nước mênh mông. Bóng tối tử thần bủa vây khắp phía. Con thuyền bây giờ như cánh bướm nhỏ rơi giữa dòng thác lũ, chìm xuống ngoi lên tả tơi, thoi thóp. Chưa khi nào con người lại quá nhỏ bé và bất lực trước thiên nhiên như lúc này đây. Người điều khiển chiếc thuyền là anh bạn tù, một sĩ quan Hải Quân trước 75. Dù từng làm hạm trưởng, giàu kinh nghiệm hải hành, nhưng bây giờ chỉ còn biết cố giữ cho chiếc thuyền không nằm ngang để bị sóng đánh vỡ. Khả năng đó trong lúc này đã là một điều tuyệt vời, nhưng lại quá nhỏ nhoi trước sức mạnh của phong ba. Đám thanh niên thi nhau tát nước tràn vào liên tục có lúc gần ngập cả con thuyền. Chỉ sau một ngày đêm, tất cả đều mệt lã, đuối sức. Mọi người chỉ còn biết nhắm mắt, miệng lâm râm lời cầu nguyện. Bất ngờ có người hét lên và chỉ ra phía trước mặt. Tất cả nhốn nháo nhìn về hướng ấy. Một cái gì to lớn màu đỏ chói chập chờn xuất hiện giữa trùng khơi sóng gió. Mới đầu chỉ thấy mấy cái bồn lớn, tưởng như những cây trụ cao to trong một ngôi chùa vĩ đại, cho mọi người cái cảm giác như đang ở trên một thế giới nào đó, huyễn hoặc, mơ hồ. Khi nhận ra chiêc tàu thật lớn, ai cũng thầm nghĩ là có điều gì màu nhiệm được Thượng Đế gởi đến để cứu vớt chúng tôi trong cơn khốn nguy tuyệt vọng.

(Tàu chở dầu Høegh Grandia cứu vớt chúng tôi trên biển Đông)

   Chiếc tàu mang cái tên với vài mẫu tự rất lạ (Høegh). Có người nghĩ là chữ Nga. Nhưng trong hoàn cảnh này dù là tàu nước nào, cũng phải sống trước đã. Nhưng khi chúng tôi cố gắng cho thuyền đến gần tàu, thì họ lại tránh ra xa. Bao lần như vậy làm chúng tôi thất vọng và thầm oán trách. Nhưng cuối cùng chiếc tàu ngừng hẳn lại, hụ còi làm dấu hiệu cho thuyền chúng tôi chạy đến. Khi chiếc thuyền con cặp vào thành tàu cao chót vót, một số thủy thủ trên tàu thòng những chiếc thang giây và đu mình xuống để bồng những đứa con nít hoặc cõng trên vai những người đàn bà yếu mệt lên tàu. Một số khác, có cả vài người đàn bà, đứng trên thành tàu, đưa tay đón lấy từng người. Chúng tôi đã nhận ra đây phải là những con người từ tâm, đến từ một quốc gia giàu lòng nhân đạo.

Tôi và anh bạn Hải Quân là hai người cuối cùng lên tàu. Khi nói chuyện với vị thuyền phó, được biết chiếc tàu này thuộc Vương Quốc Na-Uy (Kingdom Of Norway) và đang trên hải trình công tác chở dầu từ Nhật sang Singapore. Và cơn bão chỉ mới bắt đầu. Trận bão chính khuya nay mới tới. Nếu tàu không vớt, chắc chắn chúng tôi không thể nào sống sót qua đêm nay. Ông cũng cho biết sở dĩ ông không cho chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lại gần khi tàu lớn đang chạy, vì lo ngại thuyền sẽ bị nhận chìm bởi sóng từ chiếc tàu lớn tạo ra, nên ông phải cho tàu dừng hẳn lại trước khi cho chúng tôi cặp vào.

     Chúng tôi đem tặng cho ông thuyền trưởng chiếc hải bàn, nói lời cám ơn và để làm kỷ niệm. Ông đưa hai chúng tôi ra sàn tàu để chứng kiến và từ biệt chiếc thuyền con, khi ông cho nhận chìm bằng cách cho rú mạnh máy tàu. Đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt, lòng chúng tôi thật bùi ngùi, khi nghĩ là chiếc thuyền mong manh ấy đã đưa chúng tôi vượt bao sóng gió, từng chạm mặt với tử thần, nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đã được an bình để tới bến bờ, còn chiếc thuyền thì lại bị nhận chìm vào đáy của đại dương.

     Và cũng kể từ giờ phút ấy, hai tiếng Na-Uy gắn liên với phần đời còn lại của chúng tôi.  Sau khi tắm rửa xong, đám đàn ông con trai thì được phát cho những bộ quần áo kaki màu vàng của thủy thủ, phụ nữ thì những chiếc áo blue trắng của các cô y tá. Còn đám con nít thì được áo thun đủ màu và quần short. Chúng tôi được đưa xuống các phòng ngủ nghỉ ngơi, và chiều hôm đó được ăn một bữa cơm Tây thịnh soạn.

      Vị thuyền trưởng cho biết là sẽ đưa chúng tôi sang gởi tại trại tị nạn Singapore, và cho mỗi người được gởi ba cái điện tín về ba địa chỉ khác nhau để báo tin cho gia đình. Ông còn cho biết thêm, trước đây chiếc tàu này do ông làm hạm trưởng cũng đã từng cứu vớt bốn chiếc thuyền tỵ nạn từ Việt Nam. Đọc danh sách những thuyền nhân trong bốn chiếc thuyền này, hầu hết phát xuất từ miền Tây, chúng tôi không nhận ra có người quen biết.

     Hai ngày đêm trên tàu với chúng tôi là cả một thiên đường. Mặc dù bên ngoài, cơn bão cấp sáu nhiều lúc làm con tàu lắc lư, nhưng trên tàu chúng tôi cảm thấy thật yên ả hạnh phúc. Chúng tôi được bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc, ăn uống thịnh soạn Đám con nít có quà, bắt đầu đùa giỡn, vui chơi.

     Đêm cuối cùng, ông thuyền trưởng mong muốn có một buổi cơm chung với tất cả thủy thủ trên tàu cùng những người tỵ nạn. Chúng tôi thành lập một tổ nhà bếp. Họ cung cấp mọi thực phẩm theo yêu cầu. Một bữa ăn với thực đơn hoàn toàn Việt Nam. Vừa  thích thú vừa cảm động.  Sau hơn hai ngày đêm, tàu cặp vào cảng Singapore. Tất cả thủy thủ đoàn đứng thành hai hàng dài từ đài chỉ huy xuống tận cầu tàu, bắt tay và ôm từng người chúng tôi tiễn biệt. Nhiều người đã bật khóc.

     Tôi vừa cảm động vừa đau đớn trong lòng. Cảm động vì phải chia tay những ân nhân của mình, nhưng đau đớn vì nghĩ họ là những người xa lạ, không cùng ngôn ngữ, màu da màu tóc, mà đã cứu vớt, hết lòng yêu thương lo lắng cho chúng tôi, trong lúc những người anh em cùng một nhà lại thẳng tay đàn áp hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng, đến nỗi phải đánh đổi cả mạng sống để bỏ nước ra đi. Nếu không có chiếc tàu Na-Uy này cứu vớt, chắc chắn 52 người chúng tôi đã bỏ mình trên biển khơi, cũng giống như hàng trăm ngàn người bất hạnh khác, không một ai hay biết.

(Gia đình vừa mới vào trại Hawkins Road -Singapore)

   Chúng tôi được gởi vào trại tị nạn Hawkins Road, một doanh trại cũ của quân đội Anh tại Singapore.  Tòa đại sứ Na-Uy tại đây đến thăm nom, chăm sóc và gởi hai cô giáo thiện nguyện đến để sinh hoạt và dạy ngôn ngữ Na-Uy. Sau ba tháng, chúng tôi được chuyển sang trại chuyển tiếp Bataan ở Phi Luật Tân. Trại chia ra 9 Vùng. Riêng Vùng I được dành cho những người được tàu Na-uy vớt, và hầu hết sẽ đi định cư tại Na-Uy. Ông Đại sứ Na-Uy tại Phi Luật Tân thường xuyên đến thăm nom giúp đỡ chúng tôi. Có lẽ không có một vị đại sứ nào hiền lành, phúc hậu, và bình dị như ông đại sứ Na-Uy này.  Một toán cô thầy giáo được chọn lọc, từ Na-Uy sang để dạy tiếng Na-Uy cũng như hướng dẫn chúng tôi về lịch sử, địa lý, văn hóa, tập quán và nhiều hiểu biết khác về xã hội và đất nước này. Một số người tỵ nạn được chọn ra, học riêng thêm một số giờ, để làm phụ giảng và thông dịch. Tôi là một trong vài người may mắn được chọn.

(Cô giáo Toril và tôi làm phụ giảng cho bà)

   Vào thời điểm này, trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan chứa khoảng 10.000 người, nhưng những người được tàu Na-Uy vớt được chăm sóc chu đáo nhất. Bà Thư Ký Tỵ Nạn và bà Bộ Trưởng Xã Hội Na-Uy cũng thường sang thăm viếng.

Ông Đại Sứ – bà Bộ Trưởng Xã Hội và bà Giám Đốc Sở Tỵ Nan NaUy đến thăm viếng chúng tôi tại Bataan -Philippine)

   Sau tám tháng, chúng tôi lần lượt được đưa sang định cư chính thức tại Na-Uy.  Gia đình tôi lúc ấy có 10 người, gồm vợ chồng tôi, 6 đứa con và 2 đứa cháu, đến phi trường Fornebu Oslo vào buổi chiều cuối hè. Trời nắng đẹp. Chúng tôi được hai người đàn bà thuộc văn phòng Thư ký Tỵ nạn và Phòng Xã Hội kommune Skedsmo, địa hạt nơi tôi đến định cư, đón chúng tôi tại khu nhận hành lý của phi trường. Khi bước ra cổng, tôi được một số phóng viên báo chí và đài truyền hình phỏng vấn. Hai người đàn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Tàu. Khi về đến nhà, bất ngờ chúng tôi thấy các phóng viên lúc nãy đang chờ trước cổng. Căn nhà rộng, loại rekkehus (townhouse) hai tầng, có cả sân trước sân sau được trồng hoa và lát cỏ, trang bị đầy đủ nội thất, có cả một TV mới và trong tủ lạnh đầy đủ thức ăn nước uống. Các phóng viên mời chúng tôi vào phòng khách, vừa uống cà phê vừa để họ quay phim, chụp hình và phỏng vấn. Họ hỏi về nhiều đề tài, đặc biệt là chiến tranh Việt Nam và chuyện tù đày, khổ ải của người miền Nam sau ngày VNCH thất thủ vào tay Cộng Sản, cùng cảm tưởng khi đến Na-Uy. Với mớ vốn liếng tiếng Na-Uy và cả tiếng Anh ít ỏi, tôi cố gắng trình bày và chỉ hy vọng họ hiểu được những điều chính yếu mà mình muốn nói. Trước khi từ giả, mọi người đều cảm động ôm lấy chúng tôi cùng với những lời chúc tốt lành cho một đời sống mới. Tôi rất ngạc nhiên, khi bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa chúng tôi một xâu chìa khóa, và trao cho chúng tôi tờ giấy chủ quyền ngôi nhà, mà bà cho biết kommune đã đứng ra mượn tiền mua trước, và họ sẽ trả mọi thứ tiền cho đến khi nào chúng tôi đi làm và có khả năng tự trả được. (Vì họ được mượn từ quỹ gia cư của chính phủ nên tiền lời rất thấp)

     Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Na Uy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Na Uy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu Châu, và đã can đảm dắt theo mấy đứa con nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, sống chết với bọn hải tặc, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.
     Khi cả nhà ngủ vùi sau hai ngày di chuyển mệt nhọc (từ trại Bataan đến Manila và từ Manila đến Na-Uy), tôi một mình xuống ngồi ở phòng khách, suy nghĩ thật nhiều về những tháng ngày sắp tới, ưu tư cho chính bản thân mình và nhất là đám con nhỏ dại, sẽ lớn lên và chấp nhận xứ sở xa lạ này như một quê hương mới. Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghĩ đến quê nhà, hồi tưởng một quá khứ có quá nhiều biến đổi thăng trầm và mất mát, dù đã xa khuất sau lưng, nhưng chắc chắn mãi mãi không thể nào mờ nhạt. Tôi cũng nghĩ tới thân phận của những người bạn tù còn ở lại,rồi cuộc đời sẽ không biết ra sao. Thầm cầu mong cho họ sẽ gặp được nhiều may mắn.

(Ngày mới đến thị xã Skjetten – thuộc Kommune Skedsmo -NaUy)

     Hôm nay, cả gia đình tôi đang ở trên một đất nước tận vùng Bắc Âu xa lạ để gầy dựng lại cuộc đời.  Các đứa con thơ dại sẽ lớn lên ở đây. Tất cả sẽ bắt đầu học ngôn ngữ mới, tập quán mới. Tôi thực sự đã mất quê hương. Tất cả, nếu có còn chỉ nằm sâu một nơi nào trong tâm tưởng. Nhưng chúng tôi may mắn được đất nước này mở rộng vòng tay, để được nhận nơi đây làm quê hương mới. Cái diễm phúc ấy hy vọng sẽ xoa dịu vết thương còn đang đau đớn trong lòng, mà tôi biết sẽ mãi mãi không bao giờ lành được.

      Sáng hôm sau, bà trưởng phòng tỵ nạn trở lại thăm chúng tôi, dắt theo hai người đàn bà khác, mà bà giới thiệu là đến từ phòng giáo dục và phòng xã hội Thị Xã. Hai người sẽ đến thăm gia đình tôi thường xuyên trong hai tuần, để lo việc học hành cho các con, đưa chúng tôi đi khám bệnh, làm răng và sắm sửa thêm những gia dụng theo nhu cầu. Bà đưa tôi đến một ngân hàng gần nhà, mở cho tôi một trương mục, bỏ vào đó tiền ăn và mọi khoản chi tiêu dành cho gia đình chúng tôi trong hai tháng đầu. Sau đó, bà sẽ gởi tiếp, nhưng bà dặn bất cứ khi nào cần cứ ra rút tiền. Và nếu tiền hết vì bà chưa kịp gởi vào, ngân hàng này sẽ phải ứng trước theo giao ước của bà.

     Thêm một điều rất may mắn cho tôi. Thời gian ở trại tị nạn, tôi đã được các thầy cô giáo dạy riêng thêm ngôn ngữ Na-Uy để giúp làm phụ giảng và thông dịch, nên khi sang Na-Uy tôi đã có một ít vốn liếng tiếng Na-Uy, dù chưa thông thạo lắm. Ngày đầu tiên khi chúng tôi cùng một số gia đình tỵ nạn khác được bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn  đưa đến Phòng Cảnh Sát Ngoại Kiều Thị Xã để được phỏng vấn làm thủ tục di trú. Vào giờ chót người thông dịch không đến được, nên tôi đã tình nguyện đứng ra giúp. Không ngờ đó lại là một cơ hội cho tôi sau này. Tôi được giới thiệu theo học khóa “Ngôn ngữ Mùa Hè” tại Đại Học Oslo. Sau đó được làm thông dịch cho Văn Phòng Xã Hội và Phòng Cảnh Sát, và được gởi theo học một khóa tài chánh kế toán trong 13 tháng, mà đa số học viên là những công chức hoặc nhân viên của các phòng sở, công ty gởi đến. Biết thân phận là người tị nạn, nên tôi cố gắng hết sức để theo kịp, nên khi mãn khóa nhận được chứng chỉ với số điểm ưu hạng.

   Khi cả nhà đang hái dâu ở vùng Drammen, vừa tiêu khiển vừa kiếm thêm tiền gởi vể Việt Nam giúp cha mẹ vợ, bà cô, cùng một số bạn tù ngày trước, tôi nhận được thư của kommune thu nhận tôi làm việc tại Kommune Kasseren (Phòng Tài Chánh Thị Xã) trong một năm. Công việc thật nhàn nhã, nên tôi được phép đi làm thông dịch thêm theo yêu cầu của các cơ quan khác và được nhận thêm tiền trả riêng. Đặc biệt việc di chuyển đều được dùng Taxi do cơ quan ấy đài thọ. Có những ngày chẳng có việc gì làm, tôi lại ngồi đọc sách để học thêm ngôn ngữ mới. Sau một năm, tôi nôp đơn xin theo học và làm trong ngành Ngân hàng Bưu Điện (Postbanken) cho đến ngày về hưu.

(Ba đồng nghiệp thân thiết nhất tại Postbanken – Anita – Reidun và Guldhaug)

     Đến Na-Uy tôi mới biết đây là một Vương quốc có dân số chỉ hơn bốn triệu rưởi, nhưng đời sống khá cao và giàu lòng nhân đạo. Gia đình tôi được chăm lo đủ thứ. Tiền phụ cấp hằng tháng quá đầy đủ. Với chúng tôi có thể nói là thừa thãi. Ngay sau khi học xong, tôi được việc làm. Khi đi học vẫn được nhận đủ lương lại còn thêm phụ cấp. Vơ tôi được đi học thêm ngôn ngữ tại một trường trung học dành cho người lớn và sau đó học nghề tại trung tấm huấn nghệ dành cho người tỵ nạn, và ngay sau khi học xong cũng nhận được việc làm chuyên môn về điện tử tại Siemens, một công ty lớn của Đức. Lương bổng hằng tháng của hai vợ chồng cộng lại chỉ hơn một nửa số tiến trợ cấp trước kia. Phòng Xã Hội có nhã ý giúp chúng tôi thêm vì có đông con, nhưng chúng tôi từ chối vì thấy đã đủ trả mọi chi phí cho đời sống gia đình. Điều thú vị hơn, đất nước này gồm rừng núi, sông hồ thơ mộng và quanh năm tĩnh mịch, thích hợp với những người cần sự yên tĩnh để chữa nhiều vết thương trong lòng còn đang đau đớn như tôi.

      Mùa đông đầu tiên, khi tuyết bắt đầu rơi trắng bầu trời, chúng tôi được cấp áo quần, dụng cụ trượt tuyết, và có người đến dạy các con tôi trượt tuyết. Sau một năm, trong một kỳ thi dành cho tuổi thiếu niên, cậu con trai út của tôi được lãnh cúp hạng nhất, trở thành cậu bé trượt tuyết có tiếng trong vùng. Sau đó, chúng tôi còn được biết thêm, Nauy là quốc gia thường chiếm nhiều huy chương vàng nhất tại các Thế Vận Hội Mùa Đông.

(Huy Vinh trượt tuyết giỏi nhất giải thiếu nhi và em gái Ngọc Quỳnh)

      Định cư được hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, hơn nữa các con đã lớn cần một ngôi nhà rộng rãi có đủ phòng ốc hơn, chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà lớn nằm dưới thung lũng nhỏ Harabakken, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia sông là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì. Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Và cũng chính nơi đây, tôi đã bắt đầu tập tễnh cầm bút viết lại cuộc đời mình, thế hệ mình, cuộc chiến bất hạnh và cuộc tang thương dâu biển mà cả miền Nam Việt Nam đã trải qua.

     Ở đất nước bé nhỏ này và với số người Việt tị nạn khi ấy khoảng 10.000 người, nhưng có một số nhà văn, nhà thơ tiếng tăm: Nguyễn Thị Vinh, Dương Kiền, Hoài Mỹ, Nguyễn Hữu Nhật, Tâm Thanh, Khánh Hà, Cung Vĩnh Viễn, Nguyễn Văn Thà…

      Bán ngôi nhà cũ của kommune mua giúp lúc ban đầu mới đến, chúng tôi may mắn lời được một khoản tiền đủ để trả hơn một nửa số tiền mua ngôi nhà mới. Ngôi nhà này nằm ở một kommune khác. Khi vừa dọn về nhà mới được hai tuần, tôi nhận được một Ngân Phiếu Trả Tiền ( Utbetalingskort) gởi từ Phòng Xã Hội của kommune cũ, cấp cho tôi một số tiền gần bằng 10 tháng lương của tôi lúc ấy. Tôi ngạc nhiên, vì số tiền khá lớn nên nghĩ là có điều gì nhầm lẫn. Cầm tấm Ngân Phiếu Trả Tiền, tôi đến gặp ông Trưởng Phòng Xã Hội. Ông cho biết đó là món tiền mà Sở Tỵ Nạn cấp để lo cho gia đình tôi, nhưng kommune không chi tiêu hết cho chúng tôi, vì con đông nên không đủ phòng ốc và đồ dùng ở ngôi nhà cũ, hơn nữa chúng tôi đã đi làm quá sớm sau khi đến Na-Uy, nên ông quyết định gởi cho chúng tôi để sắm sửa cho ngôi nhà mới. Đã vậy ông còn xin lỗi, vì đã không lo lắng đủ cho chúng tôi trong thời gian mới tới. Tôi bắt tay ông từ giã mà trong lòng cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ là ở trên quê hương mình bây giờ biết tìm đâu ra những công chức chính quyền thanh liêm và giàu tấm lòng như thế?

Ngôi nhà mới dưới thung lũng Harabakken-NaUy)

     Trong thung lũng nhỏ này chỉ có bốn ngôi nhà. Ngoài gia đình tôi, một gia đình người bản xứ, còn có gia đình người Thụy Điển và một gia đình người Đức. Tất cả những người láng giềng này rất tốt bụng, sau này đều trở thành những người bạn thân thiết của gia đình tôi.

    Gần 30 năm làm việc, tôi may mắn được sắp xếp làm ở những chi nhánh rất gần nhà. Được hưởng bậc lương tính theo thâm niên từ khi bắt đầu làm việc tại Việt Nam. Hầu hết những đồng nghiệp người bản xứ đều luôn thân tình, giúp đỡ. Điều làm tôi cảm phục hơn là sự thành thật và tin tưởng lẫn nhau của họ. Công việc mỗi ngày liên quan tới tiền bạc. Có thời gian mấy năm tôi được giao cho trách nhiệm thủ quỹ. Vào những ngày trước Giáng Sinh hay thời điểm trả thuế, số tiền trong tủ sắt lên đến nhiều chục triệu kroner. Mới đầu, tôi rất ngạc nhiên, khi giao một số tiền lớn cho mỗi kasse (quày), mà họ chẳng bao giờ kiểm lại. Có khi, một vài cô cậu sinh viên làm thêm vào các ngày thứ bảy, hay ngày lễ, làm mất đến mấy chục ngàn, họ vẫn không bị la rầy hay đuổi việc. Chúng tôi được học và dặn dò, nếu có cướp (cho dù biết vũ khí là đồ giả), hãy luôn làm theo yêu cầu của kẻ cướp, đừng bao giờ có ý chống lại. Nhưng điều này chưa hề xảy ra. Họ rất quý sinh mạng con người. Không phải như dưới chế độ Cộng Sản trên quê tôi, sính mạng con người chẳng khác gì cỏ rác!

(Giáng sinh trước khi ba cháu lớn đi du học Mỹ)

    Trong gần 30 năm làm việc, tôi chưa hề thấy những ông “sếp” nặng lời với bất cứ một nhân viên nào cho dù khi họ làm sai, thất thoát ít nhiều tiền bạc. Chỉ cần viết một đôi dòng giải thích là đủ. Ngược lại, đôi lần, trong các buổi họp, tôi thấy một vài nhân viên lại khiển trách “sếp” chỉ vì một đôi điều không được hài lòng. Phải nói, đây là một quốc gia có tinh thần dân chủ cao độ. Tôi nhớ mãi chuyện vợ chồng ông chủ tịch quốc hội bị nhân viên quan thuế phi trường Oslo chặn lại và buộc nộp tiền phạt khi hai ông bà đi công cán ở nước ngoài về, và bà vợ mang trên tay một chiếc nhẫn hột xoàn quên khai báo. Một bà bộ trưởng quốc phòng, mặc bộ quân phục khi đến thăm binh sĩ Na-Uy đang tham gia chiến trường khói lửa A Phú Hãn, bị nhiều quân nhân phê phán, bảo bà không phải là quân nhân, nên không có quyền mặc quân phục. Bà đã phải lên truyền hình chính thức xin lỗi. Tôi nghĩ chẳng có quốc gia nào dân chủ hơn . Điều này làm tôi rất hãnh diện để được trở thành công dân của đất nước này. Và biết đến khi nào mới có được trên quê tôi?

      Sau bậc trung học, bốn đứa con của chúng tôi muốn sang Mỹ du học. Khi được một đại học ở Mỹ chấp nhận, tất cả đều được chính phủ Na-Uy cấp học bổng đủ để trả học phí, tiền bảo hiểm và di chuyển, đến bậc Cao Học.Vợ tôi làm công nhân cho một công ty điện tử. Có lẽ vì nhiều năm chỉ làm một động tác, nên vai cánh tay phải bị đau nhức. Bác sĩ xí nghiệp cho nghỉ một năm có lương để điều trị và sau đó được một hội đồng giám định y khoa quyết định cho nghỉ vĩnh viễn với hưu bệnh. Lại được công ty bảo hiểm của xí nghịệp bồi thường một số tiền sai biệt so với lợi tức hằng tháng trước đó.

(Cháu trưởng nam Phạm Hoàng Minh và cháu gái út Phạm Ngọc Quỳnh sau khi tốt nghiệp Đại học)

    Bây giờ, tuổi đã già, nhìn lại quá khứ thăng trầm khốn khó, nhớ lại từng bước chân lưu lạc, lòng tôi bùi ngùi xúc động. Quê hương vẫn còn mịt mờ xa, khốn đốn trong bàn tay cai trị của bọn người CS không còn nhân tính. Mai này, tôi cũng sẽ gởi lại trên quê hương thứ hai này nắm xương tàn, hướng đầu về cố quốc mà tạ tội cùng núi sông tiên tổ.

(Các cháu trai – gái đã trưởng thành và có gia đình riêng)

      Những đứa cháu nội, ngoại của chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Na-Uy, dù không có một kỷ niệm nhỏ nhoi nào với Việt Nam. nhưng vẫn mãi có những ràng buộc máu thịt, bởi cha ông là người Việt. Dù nói được tiếng Việt, nhưng các cháu không thể thấy gần gũi với quê cha đất tổ. Nhiều lúc tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ rồi các thế hệ sau này càng lúc càng xa dần nguồn cội. Nhưng tôi cũng tự an ủi mình, vì các cháu lớn lên, nhận đất nước này là quê hương, sẽ cố gắng chăm chỉ học hành để vừa đóng góp phần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, vừa trả cái ơn cưu mang từ những ngày đầu thời ông bà cha mẹ lưu lạc đến đây. Quan trọng hơn, sẽ học tấm gương những người Do Thái, nối tiếp công việc dang dở của cha ông, góp sức đấu tranh cho no ấm tự do trên quê hương tiên tổ.

(3 cháu nội nhỏ nhất trong ngày Quốc Khánh NaUy 17-5)

      Xin cám ơn Na-Uy, đất nước xa xôi, lạnh lẽo, nhưng rất nồng ấm tình người. Nơi in đậm mãi những dấu chân lưu lạc của tôi và cả gia đình. Đã cho chúng tôi, nhất là các con cháu tôi, một tương lai tốt đẹp như hôm nay, mà nếu còn ở lại trong nước sẽ phải khốn cùng dưới chế độ phân biệt đối xử của chinh quyền Cộng Sản. Xin cám ơn Na-Uy, nơi mà tất cả những người Việt tỵ nạn đến đây sung sướng và hãnh diện để được nhận là quê hương thứ hai của mình sau ngày phải đành lòng bỏ nước ra đi.

Một ngày buồn cuối tháng 4, sau đúng 38 năm lưu lạc

Đi lấy chồng xa

vietmessenger.com

Huy Phương

Post by Sơn râu 3 Aug 2026

“Trăm năm bia đá thì mòn,

Nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.”

(ca dao)

Ảnh bức tường nhỏ màu trắng có đục thủng một lỗ lớn in trên các tờ báo hải ngoại đã là một ám ảnh cho tôi suốt mấy hôm nay. Rõ ràng đây là một chuyện nhỏ nhen tệ hại mà chính phủ Cộng Sản đã có can đảm nhúng tay vào. Tôi không tin đây chỉ là việc làm của một cấp nhỏ thừa hành nào đó như một vài tờ báo đã đưa tin, để bảo đảm rằng chính quyền trung ương là tốt, còn tất cả việc làm sai quấy đều do những cấp dưới thực thi sai lầm. Câu chuyện những tấm bia kỷ niệm thuyền nhân trên hai đảo Bidong và Galang đã bị đập phá hay đục bỏ dưới áp lực ngoại giao của chính phủ Cộng Sản Việt Nam đối với Malaysia và Indonesia này cũng đã làm đồng bào Việt Nam tại hải ngoại phẫn nộ. Chúng ta cũng đã hiểu rằng những tấm bia kỷ niệm này do đâu mà có, nó không mang khẩu hiệu nào, lên án ai, nó chỉ nói tới sự thật vì sao những người Việt Nam đã tới đây, nói tới những người đã chết và ghi ơn đất nước đã cưu mang và giúp đỡ cho những người ty nạn. Chúng ta cũng đừng nên tức giận bởi chuyện này mà nhắc lại chuyện đóng góp của cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại khi hai nước này bị thảm họa Sóng Thần, vì “thi ân bất cầu báo”, dù hai quốc gia này không liên hệ gì đến người Việt chúng ta ở hải ngoại, khi thấy người khốn khó thì phải ra tay giúp đỡ, bất kể người đó là ai, kể cả những quốc gia thù nghịch. Vấn đề chúng ta cần thấy rõ là chính quyền Cộng Sản đã bắt đầu biết sợ. Những tấm bia cao ba thước, bề ngang chỉ có một thước nằm trên những hòn đảo xa vắng, hiu quạnh, ít người lui tới, có sức mạnh gì để cho chính phủ Hà Nội phải lưu tâm, yêu cầu, bàn bạc, làm áp lực hay đổi chác với những quốc gia kia để phá bỏ nó đi. Vì “sợ người ta nhớ nên Cộng Sản yêu cầu phải đập bỏ nó đi, như đã từng đập bỏ bức tượng “Tiếc Thương” và mồ mả ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Nhưng ở đời cũng vì “sợ người ta quên” nên trong chế độ Cộng Sản, ở đầu đường xó chợ, trong hang cùng ngõ hẻm, đâu đâu chúng cũng cố gắng dựng lên tượng đài, bia mộ, khẩu hiệu. Rõ ràng là chế độ Cộng Sản không tồn tại nổi cho tới một thế kỷ, đừng nói tới vạn tuế hay muôn đời. Cộng Sản Nga giết Nicholas Đệ 2 năm 1917, thành lập Liên Bang Xô Viết năm 1922, đã tan rã ngay vào cuối thế kỷ (1991). Trung Quốc cướp chính quyền năm 1949, chính quyền công nông ngày nay đã thành thứ mèo vằn vện, mặc dù cũng là mèo.

Do vậy tượng Ông Lê Nin “ở bên Nga”, lại được Cộng Sản đem đặt tại “vườn hoa nước này” , tượng ông tổ Tây Các Mác râu xồm lần lượt phải phá bỏ, dù là phá bỏ lén lút trong đêm, nhẹ nhàng không để gây tiếng động.

Cũng vì sợ người ta quên, nên lăng bác Hồ phải xây ngay giữa trung tâm Hà Nội, hoàn toàn đi ngược lại truyền

thống dân tộc và văn hóa Việt Nam có từ nghìn năm trước (xác khô nằm trên cạn, ở chỗ thị tứ có đông người và xe cộ qua lại), nhưng một người lái taxi cho du khách ngày nay đi ngang đó cũng chỉ giới thiệu là “mộ ông Hồ” chứ không ai kính cẩn gọi là “lăng Bác” nữa, trừ mấy mụ nhà quê và các bác ở tận Sơn La, Lai Châu, Sơn Tây … được Ủy Ban Nhân Dân tỉnh nhà thuê xe cho đi tham quan “lăng Bác” luôn tiện cho biết Hà Nội “mặt ngang mũi dọc nó như thế lào!”

Rõ ràng chính quyền Cộng Sản không những không tôn trọng mà lại muốn chối bỏ sự thật, sửa lại lịch sử, che

mắt quần chúng và nhất là những thế hệ về sau. Làm sao một biến cố lớn như ngày 30 tháng 4 lại không là một biến cố để đời. Để đời không phải vì ngày đó Cộng Sản nuốt trọn miền Nam, mà ngày đó đã có những con người oanh liệt miền Nam, tìm đến cái chết thay vì chọn sự cao bay xa chạy hay đầu hàng để xếp hàng vào trại cải tạo. Ngày đó và về sau đã có hàng triệu người thà mất quê hương còn hơn gông cùm, chấp nhận bị nhận chìm dưới biển sâu, bị hải tặc, cướp bóc hơn là sống với Cộng Sản (hà chính mãnh ư hổ- cai trị hà khắc hơn là cọp dữ).

Câu chuyện này rúng động cả toàn cầu, đánh thức lương tâm nhân loại, với những ai còn mơ ngủ nghĩ đến

thiên đường Cộng Sản. Vậy thì một tấm bia trên một hòn đảo ở giữa Thái Bình Dương, một tấm bia đá, một tấm bia xây bằng gạch hay đúc bằng bê-tông mà ông cha ta xưa đã khẳng định rằng: “trăm năm bia đá thì mòn”, khiến cho một chế độ đi ngược lại nguyện vọng của con người, đã phải run sợ. Vậy thì cái “bia miệng nghìn năm”, chế độ ấy làm sao tránh khỏi. Chúng ta hô hào, vận động giữ lại một tấm bia ở một nơi xa, có thể không bao giờ nhìn thấy, mà chúng ta quên trao lửa lại cho con em, quên dạy cho con em bài học lịch sử cần thiết về cội nguồn, về nguyên do sự tan rã của chế độ Cộng Sản trên địa cầu và vì sao người ta chán ghét chế độ Cộng Sản hãi hùng đến thế? Bia đá là hữu hạn, bia miệng là vĩnh cửu. Cộng Sản tầm thường sợ bia đá mà quên nỗi sợ bia miệng. Chúng ta buồn vì mất bia đá, nhưng thật sự chúng ta đã nói hết sự việc với con, với cháu, với những người bản xứ chung quanh: ta là ai, từ đâu chúng ta đến đây, và vì sao chúng ta phải bỏ nước ra đi. Những suy nghĩ đó chính là những tấm bia miệng nghìn đời không ai có thể xô đẩy, đập phá hay tiêu hủy.

Tôi nghĩ thấy cần thì làm, nhưng những thỉnh nguyện thư của chúng ta đối với Malaysia và Indonesia rồi cũng

chẳng đi tới đâu, vì các nước này sợ láng giềng gần chứ không nghĩ đến những bà con xa. Có người đã nói tới việc đồng bào vượt biển của chúng ta trở về miền đất cũ để du lịch, đây cũng chỉ là mối lợi rất nhỏ. Cũng có vị nhắc tới vấn đề “pháp lý”, cho rằng đã dựng lên thì không thể phá đi, nhưng tôi không thấy liên quan gì vấn đề pháp lý ở đây cả.

Chúng ta phải thấy một điều rằng: lịch sử của người Việt vượt biển ra đi, sức mạnh của Cộng Đồng đã làm cho

chính quyền Cộng Sản sợ hãi, cho nên chúng đã làm những việc rất nhỏ nhen, bần tiện. Chỉ có những người ngây thơ như ông Nguyễn Cao Kỳ mới tin rằng Cộng Sản sẽ nghe lời ông mà hòa hợp, hòa giải bằng cách cho xây dựng lại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Tôi có thể cá với bất cứ ai, một ăn mười. Vì một vài tấm bia nhỏ nhoi trên những quần đảo xa xôi mà chúng còn vói tay tới vùi dập cho hả, thì một cái nghĩa trang đồ sộ, dấu tích của những người lính VNCH chiến đấu chống chế độ Cộng Sản nằm ngay sát với Saigon, làm sao người

Cộng Sản có thể chịu được khi lòng họ còn hận thù chất ngất. Nói gì tới một lời xin lỗi về những quá khứ sai lầm tác hại đến đất nước và nhiều thế hệ Việt Nam từ cái đảng này?

22/6/05

Huy Phương