This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Vũ Hán là thủ phủ của tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc với 11 triệu dân nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán.
Xưa giờ bà con mình, đôi khi chỉ biết địa danh Vũ Hán qua bài thơ thất ngôn bát cú ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu (704–754) thời nhà Ðường.
Nếu là dân lưu lạc tha hương như chúng ta, ai cũng biết hai câu kết là:
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!’
Nhà thơ Tản Ðà đã dịch lại, một cách trác tuyệt, bằng hai câu lục bát là:
“Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.”
Tuy nhiên từ cuối tháng Chạp, năm 2019 tới nay, Vũ Hán, (tiếng Anh là Wuhan) được dân toàn thế giới biết đến không phải do bài ‘Hoàng Hạc Lâu’ của nhà thơ Thôi Hiệu, mà do con ‘2019 novel coronavirus’ (2019-nCoV), thường gọi là ‘Coronavirus Wuhan’; mà Hoàng đế Tàu muôn đời Tập Cận Bình gọi nó là con ác quỷ.
Vài loại virus được đặt tên theo chỗ hay nơi đầu tiên phát hiện ra nó
Như MERS, viết tắt của Middle East Respiratory Syndrome (Hội chứng bệnh hô hấp Trung Ðông hay). Hoặc ‘Virus Ebola’, tên một con sông ở nước Cộng hòa Dân chủ Congo bên Phi Châu.
Còn “Coronavirus Wuhan”, hình dạng giống như vương miện (corona), vẫn chưa được chánh thức có tên.
Con ‘Coronavirus Wuhan’ nầy đã làm 6,000 người mắc bệnh và 132 người đã chết. Người dân Trung Quốc đang hoảng loạn; vì một người nhiễm bệnh có thể lây cho tới 2.6 người khác; số ca nhiễm bệnh mỗi ngày tăng lên tới 30%.
Vũ Hán là đầu mối giao thông về đường sắt cao tốc Bắc Kinh-Quảng Châu (Bắc xuống Nam) và Thượng Hải-Thành Ðô (từ Ðông sang Tây).
Rồi phi trường quốc tế Vũ Hán có tới 29 triệu lượt hành khách bay đi tới 109 điểm thuộc 20 nước khắp năm châu như London, Moscow, Paris, Rome, New York, San Francisco, Bangkok, Tokyo and Seoul.
Thời điểm xảy ra cơn đại dịch nầy lại trúng vào ngày Tết Âm lịch. Cả trăm triệu người dân Tàu về quê ăn Tết hay ra nước ngoài du lịch mang theo ‘Coronavirus’ nầy đi gieo rắc khắp nơi.
Tòa Lãnh sự Mỹ ở thành phố Vũ Hán đã đóng cửa. Bộ Ngoại giao Mỹ đã cảnh báo cấp 4 với công dân của nước mình là: “Ðừng đi tới tỉnh Hồ Bắc!”
Còn ai lỡ tới Vũ Hán rồi thì Mỹ cho máy bay Boeing 767 với 240 chỗ qua chở dân mình về California, USA.
Ðàn anh Mỹ làm vậy; đàn em Úc bắt chước làm theo, chuẩn bị cho máy bay qua rước công dân Úc về trong đó có ít nhứt khoảng 100 trẻ em.
Hiện tại không có loại thuốc nào hiệu nghiệm để tiêu diệt được loại virus này. Còn thuốc chủng ngừa, theo các chuyên gia về Y tế của trường Ðại học Queensland Úc Châu, phải mất ít nhứt 4 tháng nữa mới có. Trong khi đó các chuyên gia Y tế của nước Mỹ tiên liệu cần phải tới một năm.
Thế nên trẻ con, người già, những người bị bạo bệnh trong quá trình hồi phục, có hệ miễn dịch yếu phải tự bảo vệ mình bằng cách tránh tiếp xúc gần gũi với người bị nhiễm bệnh; tránh đến những chỗ đông người.
Rồi vệ sinh thường thức như: rửa tay, che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, và khử trùng các bề mặt khi bạn chạm vào. Nếu cần thiết thì phải đeo khẩu trang. (Chính vì vậy mà các nhà thuốc Tây ở Footscray nầy đây khẩu trang đã bán sạch bách rồi; phải đặt hàng tới tuần sau mới có).
Bộ Y tế Úc muốn người dân tỉnh táo nhận thức được vấn đề, nhưng họ cũng muốn ngăn chặn sự hoảng loạn không cần thiết.
Tuy vậy có một số trường tư ở Sydney và Melbourne buộc học sinh đứa nào mới về Trung Quốc ăn Tết trở qua, trước khi nhập học vào đầu niên khóa thì đừng đến trường trong 14 ngày; rồi phải có giấy chứng nhận của bác sĩ mới được vào lớp học.
Hành động nầy bị các chuyên gia về Y tế Úc cho rằng làm hơi quá!
Nhưng trường tư thường dành cho con em nhà giàu nên thủ cẳng và thủ kỹ như vậy cho chắc ăn!
Trong khi đó thì Tàu Cộng cố che giấu dịch viêm phổi Vũ Hán. Nhân Dân nhựt báo cố tình đăng ‘video’ bệnh nhân khỏi bệnh vui mừng ra dấu hiệu chiến thắng giữa 4 nhân viên y tế mặc đồ bảo hộ.
Chuyện trớ trêu là Vương Nghiễm Phát, người đứng đầu nhóm các nhà nghiên cứu được Bắc Kinh cử đi điều tra tình hình, ngày 11, tháng Giêng, năm 2020 nói rằng: “Dịch bệnh đã được kiểm soát!” Nhưng chính ông ta sau đó bị chẩn đoán là đã nhiễm virus.
Rồi ngay giữa khủng hoảng, một cuộc họp đảng lớn của tỉnh Hồ Bắc vẫn được tổ chức ở Vũ Hán và hơn 40,000 gia đình được mời tham dự một bữa tiệc trong nỗ lực lập kỷ lục thế giới.
Thiệt là quái đản!
Các quan chức CS luôn nói dóc, che giấu nhằm hạ thấp mức nghiêm trọng của vấn đề vì không muốn gây tổn hại đến kinh tế và ổn định xã hội để họ được thăng quan tiến chức. Ðể khi nghe về nó, và khi vấn đề đã đến chính quyền trung ương, thì nó đã là một vấn đề lớn rồi.
Chủ tịch thành phố Vũ Hán, Chu Tiên Vượng, lên truyền hình mếu máo, biện minh là: “Luật pháp Trung Quốc về các bệnh truyền nhiễm, trước tiên chính quyền địa phương cần báo cáo ổ dịch cho Bộ Y tế, sau đó được sự chấp thuận của Trung Ương trước khi có thể đưa ra thông báo.
Tên tuổi của chúng tôi sẽ bị gắn liền với vết nhơ, nhưng miễn là việc kiểm soát dịch và bảo đảm an toàn cho người dân có hiệu quả hơn, tôi và đồng chí Mã Quốc Cường (Bí thư Thành ủy Vũ Hán) sẵn sàng chịu mọi trách nhiệm”.
Nghĩa là hai tên đầu têu ở Vũ Hán nầy xin nằm cúi xuống cho Tập Cận Bình đét đít, rồi đuổi về chăn gà cho vợ.
Ðiều tức cười là hai đứa ra lịnh cho dân khi ra chỗ công cộng là phải mang khẩu trang; nhưng tay Bí thư cứ để mặt trần, trụi lủi; còn tay Chủ tịch mang khẩu trang ngược.
Chú, Thiếm Ba chửi um sùm. Ngu dốt như vậy mà Ðảng lãnh đạo cái giống gì hè?
Dân không tin quan nói; khi thấy trên các trang mạng xã hội người bệnh tay gắn ống truyền dịch, ngồi cạnh những bình oxy gần ba thi thể phủ vải trắng. Các bệnh nhân đeo khẩu trang gục ngã ngoài đường.
Nên hàng trăm người dân rồng rắn chen chúc trong các hành lang bệnh viện để chờ tới lượt điều trị làm nguy cơ lây nhiễm lẫn nhau lại cao hơn.
Nghiêm trọng tới chừng đó, quan chức CS mới quắn ‘đít’ lên, cấm tất cả các chuyến bay và xe lửa ra khỏi thành phố Vũ Hán.
Trung Quốc đã đặt gần 60 triệu người, nhiều hơn cả dân số Hàn quốc vào tình trạng cách ly một phần hay toàn phần. Công nhân về quê ăn Tết bị cấm trở lại thành phố làm việc.
Các thành phố trực thuộc tỉnh Hồ Bắc, và hơn 15 thành phố lớn thuộc tỉnh khác đã trở nên thành phố ma. Ðường phố vắng tanh, thưa thớt bóng người qua lại.
Thị trường chứng khoán Mỹ, Âu Châu, Tokyo Hong Kong giảm mạnh
gần 2%, mức lao dốc tồi tệ nhất trong năm.
Chưa có bằng chứng nào cho thấy con virus nầy truyền qua hàng Trung quốc xuất cảng; nhưng nền kinh tế nước Tàu đã bị thiệt hại rất nặng nề!
Mùa Cúm bên Trung quốc năm nay tệ hại rất nhiều vì con Coronavirus Wuhan lây lan với tốc độ chóng mặt, gây ra rất nhiều hậu quả xấu về văn hóa, kinh tế, chính trị cho Trung Quốc, dưới sự lãnh đạo rất lôm côm và lu bu của đảng CS.
Phải thân chinh nắm quyền chỉ huy các hoạt động chống dịch bệnh là Chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình đang đánh một canh bạc rất lớn, ít may nhiều rủi cho sanh mạng chánh trị của mình. Ðược ăn cả, ngã về không!
Nếu thắng, dập tắt được dịch bệnh ‘Coronavirus Wuhan’, thì ghế Chủ tịch của Tập vững như bàn thạch… cho tới cơn dịch tới.
Bằng thua, thì Tập Cận Bình ắt phải về đuổi gà cho vợ thế thôi!
Ðuổi gà chớ không phải chăn heo. Vì heo Trung Quốc năm nay đã bị Dịch tả Lợn Châu Phi làm chết hết ráo rồi thì còn đâu nữa mà chăn?
Tôi gặp nhà văn Mai Thảo 4 lần. Gặp thi sĩ Tô Thuỳ Yên 5 lần. Đó là chưa tính tới những lần thấp thoáng nhìn thấy họ qua chữ viết, qua thơ văn họ giàn trải. So ra, tôi may mắn hơn kẻ khác, kẻ ưa viện dẫn Hán Nôm: Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình.
Bút hiệu của hai vị này, đã có một thời, tôi từng bị họ mê hoặc qua thứ khí hậu họ dựng nên. Họ quả tài ba khi hô phong hoán vũ bằng một thứ bí kíp phải có duyên phận mới sở hữu được. Nhà thơ Tô Thuỳ Yên dung dị, xuề xoà, chừng mực trong khi nói chuyện, kề cận anh không ngỡ đó là một cựu sĩ quan có quân hàm khá lớn, lại càng không tưởng được người ấy là tác giả của vô vàn bài thơ thượng thừa rất mực. Trong hai thi tập anh ký tặng; “Thơ Tuyển” (1995) và “Thắp Tạ” (2004), đọc suốt, tôi chẳng ngó ra một hạt sạn nào cả. Toàn bộ thảy hay tuyệt, hay từ a tới z. Hay tới bến. Thành thực để nói, những tập thơ của các thi sĩ khác dường như vấp phải một vấn nạn: Có đôi ba bài chẳng mấy hay nằm chung đụng lẫn lộn ở bên trong.
Chân dung Tô Thùy Yên – dinhcuong
Tôi nói nhà thơ Tô Thuỳ Yên là người giản dị, tính tình cởi mở, dễ tiếp cận bởi nhớ có lần họp mặt, vợ tôi tuy “ngoại đạo” nhưng do ngưỡng mộ người làm ra bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang” nên nức lòng dẹp bỏ tính rụt rè cố hữu để tới diện kiến. Khi nghe giới thiệu, nhà thơ đã rộng mở miệng cười: Ủa, hoá ra đây là Bích nhỏ, để anh chỉ Bích lớn cho xem. Vô tình cả hai ma-đàm đều mang trùng tên và Bích chị Bích em đã ngồi bên nhau an tâm suốt đêm dài.
Chân dung Mai Thảo – dinhcuong
Không như Tô Thuỳ Yên, bao quanh con người nhà văn Mai Thảo có thứ vỏ bọc mơ hồ làm rào chắn, khó lân cận. Nhưng một khi đã được kề gần, vẻ xa lạ và ít nhiều khinh mạn kia biến đổi thành một hấp lực, bởi nhà văn Mai Thảo có lối nói chuyện rất cuốn hút. Nghe anh kể chuyện về Bùi Giáng, cả một hội trường đông người ở viện đại học George Mason vùng Fairfax bên Virginia thính giả như bị hớp hồn đồng loạt im sửng lắng nghe. Người thuyết giảng đứng nghiêng vai trên bục, vẫn cái dáng cô đơn lừng lững cố hữu, như một vị tì khưu, như một con tê giác, tay không cầm giấy và chữ mê hoặc luân lưu thoát ra từ miệng, từ tấm lòng biết nâng niu cái đẹp có ở một nhân tài dị kỳ đang khuất bóng chốn xa. Khi ngồi đâu vai bên bàn tiệc, anh nói: Tôi có một điều không may, một sự hối tiếc thì đúng hơn, đấy là tôi chẳng được diện kiến nhà thơ Tú Xương. Điều Mai Thảo nói khiến tôi tự vấn lòng, tự tìm ra một khuôn mặt tài danh khuất lấp, để giả như nghe anh hỏi: Cậu thì sao? Tôi hẳn có ngay câu trả lời: Tôi vẫn ước được đối diện với Thanh Tâm Tuyền, được ngó tận mắt “một đoá trăng tàn lẩn lút bay”.
Chân dung Thanh Tâm Tuyền – dinhcuong
Anh Thanh Tâm Tuyền nói giọng Bắc, tiếng nhỏ, trầm ấm. Rất hoang đường, chuông điện thoại reo một sáng trời lạnh và từ vùng Minnesota truyền qua sóng một ngữ điệu nhấp nhô làm say lòng. “Tôi tính sang bên ấy chơi ít hôm, nhưng hãy nhớ giữ kín thông tin này, nhé. Tạm thời tôi chưa muốn một cuộc gặp chộn rộn đông người”. Tôi vui vẻ hứa, tôi phấn chấn tự vẽ ra một viễn tượng và tôi nôn nóng chờ đợi. Tê Tam Thừa bảo anh sẽ gọi lại trước khi đã định ngày lên đường. Ngày lại ngày, tuần qua tháng, tôi vẫn không hiểu vì sao đã chẳng còn một cuộc điện đàm lần thứ hai. Rồi năm sau, đột nhiên nghe hung tin anh vừa “lên đường”. Đã lâu, anh có viết ở đâu đó, có vẻ tâm đắc lời của Keats: “Hạnh phúc thay ở trần gian này lại còn có nấm mồ”. Như vậy, vĩnh viễn tiếng chuông điện thoại sẽ bằng bặt thôi gióng tiếng. Tôi ngồi thừ ra, buồn quá đỗi. “Mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện, lòng ta quạnh vắng như cỏ cây”. Chút hình ảnh mông lung có trong thơ Bùi Giáng hiện về:
Chân dung Bùi Giáng – dinhcuong
Rõ là một lời chào. Chỉ chào nhau một tiếng, thế thôi. Không xuân hạ thu đông gì nữa cả. Tuyệt đối tàn tạ. Miên trường vĩnh cửu. Nhà văn Mai Thảo trước khi mất có làm bốn câu thơ:
“Có thể ta không còn ở nữa
mà đã xa rồi, xa rất xa
với giải mây kia và nắng ấy
thôi ở thôi còn với chính ta”.
Và cũng giống Mai Thảo, tôi buồn bã để thú nhận: Tôi có một điều không may, một sự hối tiếc thì đúng hơn, đấy là tôi chẳng được diện kiến nhà văn nhà thơ Thanh Tâm Tuyền. Chung quy, ba khuôn mặt nổi trội của nhóm Sáng Tạo ngày nào, tôi chỉ có cơ duyên được hàn huyên cùng hai vị. “Bếp Lửa” thứ ba tựu trung vẫn là một thắp sáng đầy hối muộn giữa hiu quạnh chẳng được ngồi kề sưởi ấm.
“Vẫn em dáng cây nghiêng nẻo khuất
Sương muộn ham mê thức lá buồn
………..
Vẫn em đoá quỳnh run hoảng nở
Hương thầm choàng riết cõi đêm ta”.
Thơ ấy làm năm 1973, tới 1979 khi đi tù ở Yên Báy, nhà thơ tỏ bày:
“Đầm mình trong hạnh của ẩn mật
Mắt hoen nhoà hứng giọt thiên thâu
Dò dẫm lối về đêm tối mịt
Sông xa núi thẳm quê nhà đâu?”
Hai cảnh giới khác biệt, hai hoàn cảnh đối nghịch nhưng vẫn nhất quán một hơi thở, một địa phận riêng tây. Nhà thơ từng giải bày: “Thi ca tới với bạn không hẹn trước, không định ngày, định giờ. Người ta không thể tìm vì không biết nó ở đâu. Chỉ còn là một công việc đơn giản: Đón nhận và trao đổi với nó. Thơ đòi hỏi ở bạn một điều duy nhất: Giữ cho được tiếng nói thuần khiết và sau đó tiếng nói ấy sẽ quyết định đời sống chính nó”. (Làm thơ trong tù cải tạo).
Lùi lại năm 1970, thi sĩ Thanh Tâm Tuyền phụ trách phần mục “Âm Bản”, những ghi nhận hàng tuần trong báo Khởi Hành, tôi đọc thấy một đoạn thú vị, xin được chép lại, (vay mượn từ nguồn của huyvespa.blogspot.com):
“Anh có thấy không? Không ai nói viết thơ cả, viết thư thì có. Khi người ta nói làm văn đó là có ý dè bỉu. Một nhà văn làm văn, thật không có gì miệt thị hơn lời ấy. Nhưng một người làm thơ làm thơ lại là lẽ tự nhiên. Chỉ ngô nghê khi anh nói người làm thơ viết thơ.
Như thế anh thấy gì?
Giản dị hết sức, làm không phải viết. Làm thơ không cần viết. Không cần viết nghĩa là không cần tờ giấy, không cần cây bút, hơn thế không cần cả chữ. Phụ tùng hết thẩy. Một anh chàng làm thơ đã hùng hồn tuyên xướng: “Nếu ai cướp mất bút tôi, tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá…” Nghe cũng rung đấy, nhưng cần gì phải thế. Anh chỉ cần đọc lên cho người khác nghe. Thế là xong. Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ. Thơ gốc như thế. Nó chỉ cần có tiếng nói, không cần chữ. Có chữ ghi chép lại càng hay”.
Đoạn khác:
“Thụ động hay chủ động, mê mẩn hay sáng suốt, trước tiên viết chỉ là sự ghi chép. Anh ngồi lại một chỗ, tạm gác đời sống, ghi chép lại những gì đã sống qua. Không bao giờ anh viết được những gì đang ngọ nguậy sinh thành nơi anh. Không bao giờ. Thơ có thể”.
……………….
“Thơ nẩy ra làm ra những nhịp thở, những phút sống ngay chính lúc đó. Văn chương không “làm” ra cái gì hết. Văn chương chỉ là sự ghi chép. Có chăng chỉ là những tín hiệu của một đời sống ở đâu ngoài những câu kệ tan nát”.
………………..
“Có lẽ văn chương là sự quy chiếu. Trong văn chương có thể có một chút hơi thơ nào đó nhưng không bao giờ văn chương trở thành thơ như người ta mơ ước. Văn chương phát sinh để sống cuộc đời của riêng nó, nó có nghĩa của nó. Cái nghĩa của tấm gương vỡ, cái nghĩa của một tham vọng, cái nghĩa của niềm bất hạnh, cái nghĩa của một chứng bệnh… Nói chung, mắc văn chương là mắc chứng bệnh lèm bèm”.
Có lẽ tôi mắc chứng bệnh lèm bèm. Nhưng tôi sẽ lèm bèm bởi cho tới giờ phút này, đọc lại những trích đoạn của Thanh Tâm Tuyền viết từ năm 1970, tôi vẫn thấy nó mới, nó sướng. Nó có thể dùng cho những ai tập tành viết văn thế một lời khuyên nhủ: Bạn có thể lèm bèm nếu bạn có khả năng. Trong “Âm Bản”, nhà thơ Thanh Tâm Tuyền có khi chỉ viết một dòng ngắn: “Tôi vừa đọc được một câu khá thú vị: “Mỗi người suốt đời chỉ nói mỗi một câu và chỉ dứt khi chết”.
Anh Thanh Tâm Tuyền đã thôi nói, nhưng chỉ mỗi một câu của anh thôi, với tôi, nó có đời sống riêng. Nó tạo dựng ra một con đường và tôi nghĩ, con đường ấy đã có lắm kẻ đặt chân vào. Tựa như Trịnh Công Sơn, khi nằm xuống, phía sau hun hút là một khoảng trống. Đôi vì sao rơi rụng và bầu trời chừng như hoang lạnh đen sâu.
Nhà thơ Bùi Giáng, mà Mai Thảo cũng như Thanh Tâm Tuyền đều yêu mến, đã từng “giả bộ” viết lại Nam Hoa Kinh rằng: “Không biết làm thơ mà cứ ưa lôi chuyện thơ ra bàn, ấy là đạo vậy!” Tôi nào bàn chuyện thơ, chẳng qua vì tưởng tiếc một người mà đâm dài lời vậy thôi:
“Bây giờ tôi đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con”.
Xin nhà văn nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, nhà văn nhà thơ Mai Thảo và “Đại ca” Bùi Giáng mãi ngậm cười nơi chín suối.
Tôi vô cùng ngạc nhiên, khi nhận được một thiệp mời đám cưới gởi qua đường bưu điện, danh tánh nhà trai , nhà gái và cả cô dâu chú rể đều xa lạ. Gần nửa giờ ngồi điểm danh tất cả bà con, bè bạn xa gần. Vợ Chồng Tôi và mấy đứa con cũng chẳng tìm ra tông tích họ là ai. Nghe bạn bè kể lại, một số không ít người Việt mình thích có nhiều thực khách tham dự tiệc cưới của con cháu. Khách càng đông càng chứng tỏ được thế giá của gia đình. Vì vậy có người chỉ gặp ai ở đâu đó một lần thoáng qua, cũng có thể trở thành quan viên hai họ. Hơn nữa, ở cái vương quốc nhỏ bé và hiền lành này, muốn tìm ai cứ việc mở cuốn điện thoại niên giám hoặc vào guleside gõ cái tên là có ngay số phone và địa chỉ. Cũng có thể là do một ông bà khách nào đó được mời nhưng hồi báo không thể tham dự được nên Vợ Chồng Tôi được chọn để điền vào chỗ trống cho có đầy đủ ý nghĩa?
Địa điểm tổ chức tiệc cưới là một nhà hàng Tàu sang trọng nằm ngoại ô thành phố Oslo, không xa nơi tôi ở. Ngày đám cưới còn hơn một tháng , nhưng lại đúng vào ngày mà Vợ Chồng Tôi phải sang London thăm vợ chồng cô con gái và mừng thôi nôi thằng cu Cháu Ngoại. Vé máy bay đã búc rồi. Vợ chồng cô con gái cũng đã lấy hè để đón chúng tôi. Nên dù có biết Cha Mẹ hay Cô Dâu Chú Rể có tên trong thiệp mời chăng nữa, chúng tôi cũng không thể tham dự được, huống hồ lại là một người nào đó không quen . Thấy tôi phân vân, bà xã cầm tấm thiệp màu hồng vất vào kệ sách, lắc đầu bảo forget it!
Sáng Thứ Bảy, một tuần sau đó, khi đang sửa soạn hành lý, nghe điện thoại reo, tôi bốc máy lên nghe, nhưng không thể nhận ra người bên kia đầu dây. Một người đàn bà, tự giới thiệu tên Bích, rất lễ phép khi hỏi đúng cả tên lẫn họ của tôi. – Vâng, đúng là tôi, nhưng Chị có thể nói rõ hơn về Chị không ạ, vì xin lỗi tôi không nhớ ra. – Em là Bích Kiều đây, Lê Thị Bích Kiều, mà khi mới sang Na Uy, Anh làm thông dịch giúp Em đó . Tên Em trong thiệp mời đám cưới là Yvonne Bich, chắc Anh Chị đã nhận được. Em đổi tên này sau khi có quốc tịch Na Uy.
Tôi giật mình nhớ ra ngay . Mặc dù trong thời gian làm thông dịch, giúp khá nhiều bà con người Việt mới đến định cư, có biết bao nhiêu cái tên làm sao nhớ hết. Hơn nữa cũng đã hơn 25 năm rồi còn gì. Nhưng đặc biệt, Lê Thị Bích Kiều thì tôi không thể nào quên.
Sau khi thăm hỏi, Bích Kiều xin được đến thăm Vợ Chồng Tôi vào lúc bốn giờ chiều. Cô bảo, gặp nhau sẽ có biết bao nhiêu điều muốn nói.
Thời gian còn ở trại tỵ nạn Bataan bên Phi Luật Tân, tôi may mắn được chọn làm phụ giảng cho các lớp học tiếng Na Uy. Được Thầy Cô dạy kèm riêng, và nhờ phụ giúp mỗi ngày trong các lớp học cũng như làm thông dịch bất đắc dĩ cho những Thuyền Nhân mới đến đảo, nên tôi có một số vốn liếng tiếng Na Uy, một thứ ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ với hầu hết người Việt Nam lúc ấy. Và cũng nhờ cái vốn bì bõm này, khi sang định cư ở Na Uy, tôi được chọn làm thông dịch tạm thời cho Phòng Xã Hội và Sở Cảnh Sát thị xã, nơi gia đình tôi tạm cư. Thời gian này Na Uy nhận một số lượng khá đông thuyền nhân được tàu Na Uy vớt trên biển và một số trường hợp nhân đạo khác.
Nói là thông dịch chứ thực ra chỉ giúp bà con làm hồ sơ, khai lý lịch ở Sở Cảnh Sát, xin trợ cấp ở Phòng Xã Hội, hoặc gặp bác sĩ, nha sĩ, hay vào bệnh viện khám và chữa bệnh. Cũng qua công việc này, tôi mới thấy rõ Na Uy là một quốc gia giàu lòng nhân đạo, mở rất rộng vòng tay, đối xử quá tốt với những người tỵ nạn mà họ cứu vớt, cưu mang . Công việc nhàn nhã mà lương bổng cũng khá, lại còn được cơ hội trau dồi ngôn ngữ mới, nên sau này, khi đã được chính thức nhận vào học và đi làm trong ngành ngân hàng bưu điện , tôi vẫn xin giữ cái job phụ này, nhưng chỉ làm thêm ngoài giờ hành chánh.
Tuy nhiên, bên cạnh những điều vui ấy, tôi cũng bị tai nạn nghề nghiệp không ít. Đặc biệt khi phải thông dịch cho những bà con mà tàu của họ bị bọn hải tặc tấn công. Nghe họ kể những cảnh nghiệt ngã, thương tâm trên biển , tôi vừa không nén được xúc động vừa ngại ngùng khi phải thông dịch lại bằng tiếng Na Uy. Hơn nữa lúc ấy tôi cũng chưa có đủ ngôn từ để diễn đạt những điều tế nhị. Ngày ấy có một Viện Tâm Thần dành riêng cho người tỵ nạn , nằm trong Viện Đại Học Oslo, do bác sĩ Hauff, cũng là một giáo sư tâm lý học , điều hành. Ông là vị bác sĩ có lòng nhân hậu và rất tận tâm với nghề nghiệp. Những người tỵ nạn gặp điều không may, bị hải tặc đánh đập hãm hiếp, hay bị mất người thân trên đường vượt biển, đều được ông tận tình thăm nom, chăm sóc cũng như can thiệp Cơ quan Di Trú cho ưu tiên bảo lãnh gia đình và Sở Xã Hội cấp thêm nhiều phương tiện sinh hoạt, giải trí. Tôi sợ nhất là những lúc phải làm thông dịch để ông tâm tình , khuyên giải, an ủi nạn nhân, mà thời gian có khi kéo dài cả một vài ngày . Bởi vốn liếng tiếng Na Uy còn quá nghèo nàn, làm sao tôi có thể truyền đạt được những gì ông muốn nói . Có lần nghe ông dặn dò : – Đây không phải một cuộc nói chuyện bình thường mà là một ca điều trị. Có điều, những bệnh nhân này chúng ta không chữa bằng thuốc mà chữa bằng ngôn ngữ.
Mà ngôn ngữ của tôi thuộc loại ăn đong , thì làm sao giúp ông chữa loại bệnh đặc biệt trầm kha này . Nhiều lần tôi xin từ chối , nhận mình không đủ khả năng , nhưng Phòng Xã Hội không tìm được người thông dịch khác và bác sĩ Hauff cứ gật đầu bảo là ông tin tưởng ở tôi. Cuối cùng tôi phải yêu cầu ông nói thật chậm và dùng những từ ngữ tương đối đơn giản để tôi hiểu rõ và nhất là không hiểu lầm những gì ông nói.
Một hôm tôi được Văn Phòng Xã Hội cho biết, phải đi theo bà Kari Mette ra phi trường Fornebu đón một người tỵ nạn đặc biệt, được Na Uy nhận nhân đạo từ một trại tỵ nạn Thái Lan. Người này được đưa thẳng từ Thái Lan đến Na Uy, mà không qua trại tỵ nạn chuyển tiếp Bataan, như những người khác. Bà Kari Mette làm việc cho một nhà thờ công giáo , nhưng vì có nhiều khả năng và uy tín, nên được yêu cầu kiêm nhiệm đại diện cho Sở Tỵ Nạn trong khu vực thị xã.
Chúng tôi được vào tận cửa gate máy bay. Người mà chúng tôi đón hôm nay là một cô con gái trẻ, ngồi trên xe lăn , trên người choàng một tấm chăn mỏng, được một cô Tiếp Viên Hàng Không đẩy ra giao cho chúng tôi cùng túi hành lý nhỏ và một phong bì đựng hồ sơ có in huy hiệu (logo) Cao Uỷ Tỵ Nạn LHQ . Trông Cô Ta tiều tuỵ , xanh xao . Tôi giới thiệu và dịch vài lời chào mừng của bà Kari Mette. Khi đưa tay nhận bó hoa hồng từ bà , Cô gật đầu , lí nhí hai tiếng cám ơn. Theo sau bà Kari Mette, tôi đẩy cô gái theo một lối đi riêng , không phải qua kiểm soát. Một chiếc xe tản thương và cô ý tá chờ sẵn bên ngoài. Khi phụ dìu cô gái lên nằm trên một băng ca trong xe, tôi mới biết là Cô Ta đang mang bầu. Theo yêu cầu của cô ý tá , tôi ngồi luôn trên xe tản thương, tháp tùng về bệnh viện . Bà Kari Mette lái xe chạy theo sau.
Ở phòng nhận bệnh, khi nghe bà Kari Mette nói chuyện với vị bác sĩ , tôi mới biết cô gái này có tên Lê thị Bích Kiều, 21 tuổi, bị hải tặc giam giữ ở một hoang đảo ngoài khơi Thái Lan gần một năm, trước khi được một lực lượng tuần cảnh phối họp với hải quân Thái cứu thoát. Cô ta đang mang thai hơn năm tháng, sức khoẻ rất yếu. Việc ưu tiên phải làm là giúp Cô sớm hồi phục sức khoẻ và bảo vệ thai nhi.
Khi trả lời một số câu hỏi của bác sĩ, Cô luôn nhìn tôi bằng đôi mắt thật buồn và ái ngại. Một vài câu hỏi Cô ngại ngần không muốn trả lời. Tôi từ tốn bảo Cô cứ yên tâm, nếu điều nào chưa muốn nói ra, Cô không cần thiết phải trả lời, tôi sẽ liệu cách để nói lại với bác sĩ. Nhưng sau đó, tôi mới hiểu ra, người Cô ngại chính là tôi chứ không phải ông bác sĩ. Mặc dù trước khi bắt đầu làm việc, tôi đã nói với Cô là những người làm thông dịch như tôi đều phải ký giấy cam kết taushetsplikt (bổn phận bảo mật). Cô được y tá đưa vào phòng tắm rửa và thay áo quần bệnh viện. Khi trở ra, Cô tươi tỉnh hơn, bây giờ nhìn kỹ tôi thấy Cô có khuôn mặt khá xinh, đôi mắt thật buồn. Theo y tá đưa Cô lên một phòng riêng ở tầng ba , tôi bảo y tá bật cao đầu chiếc giường và đỡ Cô ngồi dậy theo yêu cầu của Cô, dịch cho Cô nghe những điều dặn dò của bác sĩ, hỏi Cô thích ăn uống những gì để tôi nói lại với cô y tá , rồi chào Cô ra về , sau khi chúc Cô ăn ngon và tối nay có một giấc ngủ thật bình yên. Cô nhìn tôi , nói cám ơn rồi vội vàng cúi xuống. Thoáng qua đôi mắt , tôi biết Cô băn khoăn lo lắng, khi phải ở lại một mình. Tôi ghi số điện thoại trên mảnh giấy nhỏ đưa cô y tá. Bảo là trường hợp bệnh nhân hay y tá cần điều gì, cứ gọi cho tôi. Kể từ hôm ấy, ngoài bổn phận thông dịch tôi còn là người thân quen duy nhất của Cô . Hôm nào Cô ngỏ ý thèm các thức ăn Việt Nam, tôi bảo bà xã tôi làm rồi mang đến cho Cô, cùng mấy tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong, và tập truyện của ông Duyên Anh mà Cô thích đọc.
Sau một tuần lễ, sức khoẻ của Cô khá hơn nhưng y tá cho biết tâm trí chưa ổn định, Cô thường giật mình thức giấc rồi la hét, khóc lóc lúc nửa đêm. Cứ vài ngày, bác sĩ Hauff từ Viện Tâm Thần đến thăm, cho Cô quà, an ủi và khuyên Cô hãy đọc sách, xem TV, cần nghĩ tới đứa bé sắp chào đời, dù gì nó cũng là giọt máu của mình. Có điều gì cần, hoặc cảm thấy nặng nề trong lòng, Cô cứ nói ra mỗi lần Ông đến thăm.
Cô không phải đến Sở Cảnh Sát để làm hồ sơ di trú như những người tị nạn khác , mà do yêu cầu của Sở Tỵ Nạn, vị trưởng phòng Cảnh Sát ngoại kiều đã đích thân đến bệnh viện để gặp Cô sáng hôm sau . Qua làm việc, tôi được biết cô gái sinh ra và lớn lên ở Đà Lạt. Trước 75, Mẹ Cô là cô Giáo và Cha là một sĩ quan cấp Tá, bị mất tích tại Đà Nẵng khi Vùng 1 di tản. Vượt biên từ Rạch Giá cùng vị hôn phu. Anh là con trai lớn của một người bạn cùng khoá Võ Bị với Cha Cô. Chiếc thuyền nhỏ chở theo 47 người, ra khơi 3 ngày thì gặp hai chiếc ghe đánh cá của Thái Lan chặn lại. Cả bọn gần 20 tên mang dao búa và cả súng nữa, xông lên thuyền uy hiếp. Anh tài công bị giết đầu tiên bằng búa đánh vào đầu, một vài thanh niên khoẻ mạnh có ý chống cự, liền bị chém chết. Chúng chia nhau lục soát trên tàu và trên từng người để cướp vàng bạc, đồng hồ . Trước khi rời khỏi thuyền, chúng phá hỏng máy và bắt theo khoảng mười cô gái . Khi hai tên trong bọn kéo Kiều đi, người vị hôn phu của Kiều xông đến định giật lại Kiều, bị chúng bắn bị thương rồi đạp xuống biển, trước tiếng la khóc thất thanh của Kiều cùng những cô gái khác.
Vừa mới lên tàu , bọn hải tặc luân phiên hãm hiếp những cô gái bị chúng bắt theo. Tiếng van xin la khóc quyện vào âm thanh của những ngọn sóng dường như cũng đang thét gào phẫn nộ . Chỉ duy nhất có Kiều được thoát , không bị hiếp , nhưng bị cột cả hai tay vào phía sau phòng lái và phải chứng kiến hành động dã man, bỉ ổi của bọn dã thú, cùng những khuôn mặt sợ hải đau đớn uất hận tột cùng của những cô gái nạn nhân.
– Tại sao Cô lại được tha, không bị chúng hiếp? Anh Cảnh Sát ngạc nhiên hỏi. – Làm sao được tha. Có lẽ thấy tôi có chút nhan sắc, nên tên Thuyền Trưởng dành riêng tôi cho hắn. Khi ấy hắn đang lái tàu! Cô gái sụt sùi.
Tối hôm ấy, Cô đã bị cướp đi đời con gái . Qua một ngày kinh hãi , biết mình không thể chống cự, Cô đã nằm im phó thác cho số phận. Trong khi thân xác bị dày vò, Cô nghĩ đến cảnh người yêu vừa bị giết tức tưởi trưa nay, cắn chặt lưỡi giữa hai hàm răng ứa máu.
Tay thuyền trưởng hải tặc không đánh đập hành hạ Cô như những cô gái khác. Hắn săn sóc, mang cho Cô một tô cháo cá nóng, nhỏ nhẹ dỗ dành Cô ăn, nhưng Cô không thể nào nuốt nổi , dù bụng đang đói . Nằm thiếp đi cả một ngày trong phòng lái, khi nghe tiếng ồn ào gọi nhau của bọn hải tặc, giật mình thức dậy, Cô thấy tàu cặp vào một hòn đảo.
Sau khi ra lệnh cho đám thuộc hạ quăng neo, tay thuyền trưởng cõng Cô trên lưng, lội vào bờ. Cô ngạc nhiên rùng mình khi không thấy các cô gái khác. Số phận họ ra sao? Cô bịt kín hai tai, nhưng tiếng van xin kêu khóc hãi hùng của ngày hôm qua như muốn vỡ tung đầu óc. Cô tưởng tượng họ bị hiếp cho đến chết, rồi quăng xác xuống biển. Thật thảm thương tội nghiệp. Nhưng dù sao họ cũng không phải sống cả một đời thừa thải trong nỗi dày vò , mặc cảm và vô vọng như Cô. Biển xanh sẽ ôm ấp vỗ về cả thân xác lẫn linh hồn họ. Là cánh hoa tả tơi duy nhất còn sót lại sau một ngày đêm dông bão, Cô ví mình chẳng khác nào rác rưởi tắp vào một nơi hoang vắng. Cô tự hỏi, đó có phải là điều may mắn?
Anh Cảnh Sát ngồi bất động nghe Cô kể, thỉnh thoảng ngước mặt lên trần nhà để giấu những giọt nước mắt. Tôi thầm tội nghiệp cho cô gái và cho cả anh ta, một người sinh ra và lớn lên trên một vương quốc an bình, giàu có, hà cớ gì phải khóc cho nỗi đau thương, bất hạnh của dân tộc tôi. Chúng tôi dừng lại khi thấy cô gái sụt sùi. Tôi đứng dậy đi lấy mấy tờ giấy soft cho Cô lau nước mắt và mời Cô một ly nước soft. – Rồi đời sống của Cô trên đảo ra sao trước khi Cô được cứu thoát? Anh Cảnh Sát hỏi. – Tôi được đưa vào một cái hang đá khá lớn, có sẵn một số thức ăn, nước uống và cả áo quần cùng nhiều vật dụng mà có lẽ bọn họ cướp được từ những lần trước.
Đó là một đảo hoang. Một trong những hậu trạm. Cứ 4-5 hôm, có khi cả tuần lễ, bọn hải tặc trở về đây nghỉ ngơi đôi ngày, chia chác chiến lợi phẩm, rồi lại ra đi. Tiếp tục những chuyến làm ăn khác, hoặc vào bờ lấy thêm nhiên liệu, lương thực. Tay thuyền trưởng cao lớn, tóc phủ tới lưng, cả ngày chỉ mặc một cái quần short ố vàng , phơi tấm thân trần đen đúa với đầy những hình xâm . Không biết vì nghĩ là Cô không hiểu tiếng Thái hay là bản tính ít nói, cả ngày hắn lầm lì, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười. Hắn luộc tôm cá tươi ép Cô ăn và bắt Cô uống rượu . Miệng hắn lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Đôi mắt đỏ ngầu. Rượu giúp hắn trở thành con hổ đói cuồng bạo trên tấm thân liễu yếu của Cô. Hắn lột hết áo quần Cô, làm nhiều cách hầu tạo kích thích , nhưng cả thân xác và tâm hồn Cô đã trở thành gỗ đá, lạnh lùn , không còn cảm giác. Chỉ biết nhắm mắt chịu đựng đau đớn, để cho hắn ta mặc tình hành hạ.
Bọn họ ra đi từ lúc trời chưa sáng. Khi Cô thức dậy chung quanh vắng lặng, ngoài tiếng sóng biển rì rào. Cảm giác da thịt rã rời . Phải ngồi khá lâu mới đứng dậy được. Cô chui ra khỏi hang, trèo xuống hốc núi tìm đường ra biển. Hôm nay trời nắng, biển êm. Nhìn biển mênh mông, trong gió nghe như có tiếng gọi tên mình , Cô giật mình nghĩ tới người yêu và những cô gái đồng hành bất hạnh. Cô xăn quần lội xuống, vốc một vốc nước rửa mặt. Nước biển làm rát khoé mắt, nhưng giúp Cô tỉnh táo. Bỗng Cô nghĩ đến cái chết. Chỉ cần lội ra xa để cho sóng cuốn đi là Cô sẽ gặp lại người tình ở đâu đó dưới đáy đại dương và sóng biển có thể rửa bớt phần nào nhơ nhớp trên tấm thân, mà bao nhiêu lần , mẹ đã ôm Cô dặn dò phải cố giữ gìn, trước lúc từ biệt ra đi. Chợt nhớ tới mẹ, nhớ các em, Cô đứng bất động nghe lòng dạ bồi hồi.
Gió từ biển khơi thổi tới như muốn an ủi vỗ về, giúp Cô tìm lại một chút yên ả. Cô bước lên đi dọc theo bờ biển. Tiếp tục nghĩ đến mẹ và hai đứa em nhỏ dại. Giờ này không biết họ ra sao. Có biết mình đang lưu lạc trên một hoang đảo xa lạ giữa trời biển mênh mông với tấm thân hoen ố ê chề, hay là vẫn đang hy vọng đứa con gái, người chị của mình đã đến được một xứ thiên đường nào, để có thể cứu sống cả gia đình đang ở bước đường cùng. Bao nhiêu vốn liếng chắt chiu dành dụm được, kể cả chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền vàng mà bà ngoại đã đeo lên cổ mẹ ngày vu quy, cũng chỉ đủ gom góp mua một cây vàng , và phải năn nỉ lắm mới được đóng trước một nửa cho chủ tàu, nửa còn lại khi nào đến nơi sẽ trả. Sau ngày Cha Cô vĩnh viễn không về, cùng nhiều đồng đội gởi xác thân ở một nơi vô danh nào đó , rồi cả miền Nam đang trù phú, hạnh phúc một thời, bỗng dưng trở nên đói nghèo, chia ly tan tác, cũng như những gia đình sĩ quan công chức khác, mẹ con Cô đã trải qua bao tháng năm cùng cực. Cô đã phải bỏ học, phụ Mẹ buôn tảo bán tần, mà cả nhà vẫn bữa đói bữa no. Nghĩ đến tương lai mịt mờ của mấy đứa con, mẹ bàn với Cô, chỉ còn cách duy nhất, là Cô phải ra đi. Bao lần tìm được mối, nhưng lo cho thân gái dặm trường, có biết bao điều bất trắc, cuối cùng bà rất vui mừng khi có người yêu của Cô, cũng là con của một người bạn cùng khoá với chồng , cùng đi với con gái. Trước ngày đi, hai gia đình gặp nhau, tổ chức một lễ đính hôn rất vội vàng, đơn giản.
Cô bước đi những bước vô hồn trên những bọt sóng xô bờ , hình dung tới tuổi ấu thơ và cả một thời cùng gia đình sống trong hạnh phúc. Nhớ mấy năm Cha Cô được đổi về làm huấn luyện viên trường Võ Bị Đà Lạt , nơi ông đã gặp Mẹ Cô, khi còn là một sinh viên sĩ quan trai trẻ , từng đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời. Nơi ông cùng bè bạn đồng môn, đã quỳ xuống vũ đình trường trong ngày mãn khoá, giữa không khí uy linh, đưa tay thề quyết bảo vệ núi sông. Cô cũng nhớ tới đám bạn bè một thời nhỏ dại. Không biết những cánh chim non hồn nhiên ngày ấy, giờ tản mác trôi dạt về đâu sau cơn bão lửa. Cũng như Cô, tất cả đã mất rồi, cả một bầu trời xanh bao la với bao nhiêu ước vọng thuở nào . Không bao giờ còn tìm lại được!
Đầu óc mơ hồ , tưởng mình đang đi tìm dấu vết tuổi thơ bên bờ hồ Xuân Hương thơ mộng. Khi nghiêng mình để tìm ngôi nhà Thuỷ Tạ, nơi lần đầu hò hẹn người yêu, Cô bỗng giật mình nhận ra tảng đá trên hoang đảo, nơi Cô bị giam lỏng từ mấy hôm nay. Giấc mơ xưa ngắn ngủi vỡ tan như bọt biển. Ngồi bệt xuống cát , thẫn thờ gọi mẹ, gọi em và gọi tên người tình. Cô gọi đến khan cả cổ, để chỉ nghe tiếng mình dội lại từ đại dương mênh mông xa thẳm, không tìm thấy chân trời. Cô đã bật khóc.
Tôi định đưa tay bảo Cô ngừng kể , để tôi kịp dịch lại cho anh Cảnh Sát, đang hồi hộp ngồi chờ , nhưng chợt thấy Cô cũng đang khóc. Anh Cảnh Sát đứng lên nháy mắt, làm dấu cho tôi cùng bước ra ngoài để cho Cô được tự nhiên. Khi trở vào, anh Cảnh Sát nhờ tôi hỏi, nếu Cô muốn bảo lãnh cho Mẹ và các Em còn ở Việt Nam, Anh sẽ trình lên Sở Ngoại Kiều, lập hồ sơ cho Cô được ưu tiên. Có thể trong vòng từ 6 đến 8 tháng, Cô sẽ được đoàn tụ với gia đình. Suy nghĩ một chập, Cô lắc đầu: – Em chưa chuẩn bị được tâm lý, không muốn Mẹ và các Em sẽ đau buồn vì những gì em đã trải qua và nhất là cái thai trong bụng , em vẫn còn đang giấu mẹ. Chờ sinh đẻ xong, em mới bình tĩnh mà quyết định được. Mặc dù em rất nhớ mẹ và các em.
Ngần ngừ một lúc Cô ngõ ý muốn được Phòng Xã Hội cho mượn một số tiền để gởi về giúp gia đình, sau này đi làm Cô sẽ trả. Anh Cảnh Sát gật đầu , hứa sẽ nói việc này với Phòng Xã Hội. Anh bắt tay Cô, chúc sớm bình phục, gặp nhiều may mắn, và hẹn sẽ trở lại thăm Cô để xin hỏi thêm Cô ít điều bổ túc hồ sơ.
Hai hôm sau , qua điện thoại từ Phòng Xã Hội, tôi đến nhận số tiền 10 .000 kroner (khoảng 1 200 USD), để giao lại cho Cô và yêu cầu Cô ký tên vào biên nhận.Tôi cũng mang đến biếu Cô mấy trái xoài chua, lần trước Cô bảo là Cô rất thèm. Gặp lại tôi, Cô tỏ ra mừng rỡ. Lần đầu tiên tôi thấy Cô nhoẻn miệng cười. Cô bảo Cô rất buồn và thấy cô đơn, vì không có tôi Cô chẳng biết trò chuyện cùng ai. Cô ngạc nhiên và thoáng một chút xúc động khi tôi đưa cho Cô số tiền của Phòng Xã Hội và bảo đó là tiền Cô được cấp, chứ không phải mượn. Tôi giải thích thêm về những trợ cấp khác dành cho người tỵ nạn lúc ban đầu và hằng tháng sau này , cũng như trợ cấp việc sinh đẻ và nuôi con. Tôi bảo Cô yên tâm, đừng lo lắng gì về chuyện tiền bạc . Cô càng vui và tỏ ra thân thiện hơn khi nghe tôi bảo trước đây tôi cũng là lính, sau gần 8 năm tù trở về, vợ con cũng khốn cùng như gia đình Cô. Tôi kể chuyện gia đình tôi vượt biên nhưng may mắn được tàu Na Uy vớt, mới đến Na Uy tám tháng , nhưng mọi việc tạm thời ổn định. Cô nhớ tới Cha Cô, đôi mắt sáng lên và say sưa kể cho tôi nghe những ngày Cô theo Cha ra đơn vị, hoặc cùng Mẹ vào trường Võ Bị tham dự các buổi lễ ra trường . Khi tôi đứng dậy cáo từ, Cô viết tên và địa chỉ của Mẹ Cô, nhờ tôi gởi hết số tiền còn nguyên trong bì thơ về cho mẹ. Trong mắt Cô sáng lên niềm vui.
Một lần Cô ngỏ ý muốn học tiếng Na Uy để giết thì giờ. Tôi bảo là ở Na Uy vừa mới có cuốn tự điển Nauy-Việt, tôi sẽ liên lạc Phòng Xã Hội để xin cho Cô. Hai hôm sau, tôi mang cuốn tự điển đến, chỉ cho Cô cách sử dụng, nói và viết vài câu đơn giản. Cô khá thông minh nên hiểu rất nhanh. Cô còn nhờ tôi viết cho Cô vài câu tiếng Na Uy. Trong đó có một câu Cô bảo là lời một bản nhạc nào đó mà Cô rất thích: Ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa.
Khi được biết là sẽ sinh con trai, Cô vui lắm, nhưng ngay sau đó tôi thấy Cô ngồi thẫn thờ, suy nghĩ mông lung . Gần tới ngày Cô sinh, tôi xin phép Cô cho bà xã tôi đến thăm, để hướng dẫn chỉ vẽ cho Cô ít nhiều kinh nghiệm sinh đẻ mà vợ tôi đã trải qua. Hơn nữa, khi sinh đẻ, có một người đàn bà thân quen bên cạnh cũng an tâm. Biết Cô ái ngại, nên tôi nói trước là vợ tôi hoàn toàn không biết gì về hoàn cảnh của Cô và tất nhiên tôi không hề tiết lộ điều gì. Tôi sẽ nói với Vợ Tôi là Chồng Cô còn ở trại tị nạn Thái Lan, sẽ được định cư sau. Ngần ngừ một lúc, cuối cùng Cô gật đầu.
Cuối tuần, Vợ Chồng Tôi đến thăm. Vợ tôi mang đến cho Cô một it thức ăn Việt Nam và mấy bộ áo quần con nít. Đàn bà dễ thông cảm với nhau, nhất là vợ tôi sinh mấy đứa con cũng không có mặt chồng, vì tôi bận tham dự hành quân, không về kịp. Tôi ra ngoài, để cho hai người đàn bà dễ nói chuyện sinh đẻ.
Cô sinh vào ban đêm , lúc trời đã vào Đông. Tuyết rơi kín cả khung trời. Vợ Chồng Tôi đến phòng sinh lúc Cô đau bụng. Vợ tôi ở bên cạnh Cô , còn tôi ngồi ngoài phòng đợi. May mắn là Cô sinh rất nhanh. Khoảng hơn 30 phút, tôi đã nghe tiếng con nít khóc. Khi mọi việc đã xong, nghe tiếng vợ gọi, tôi bước vào chúc mừng Cô. Thằng bé đang nằm trên ngực Mẹ. Tôi thấy Cô khóc. Không biết đó là những giọt nước mắt xót xa hay hạnh phúc.
Sau một tuần ở bệnh viện, Mẹ Con Cô chuyển đến một khách sạn, được phòng xã hội mướn cho Cô tạm trú một thời gian, vì chưa tìm được căn nhà thích hợp cho Cô. Khách sạn khá sang trọng, nằm không xa bệnh viện, để tiện cho các y tá đến thăm và chăm sóc Mẹ Con Cô.
Mấy ngày sau, tôi đến khách sạn Cô ở. Không phải để thăm Cô mà để làm thông dịch cho bác sĩ Hauff và nhân viên phòng xã hội. Họ mang đến cho Con Cô nhiều quà tặng. Ai cũng ngạc nhiên và thích thú khi thấy Cô biết nói vài câu ngắn bằng tiếng Na Uy. Bác sĩ Hauff hỏi là Cô có cần ông giúp điều gì nữa không, Cô bập bẹ trả lời: tôi sẽ nói với ông sau. Tuy không đúng hẳn, nhưng mọi người đều hiểu được.
Ngày đầy tháng, vợ tôi nhớ và nhắc tôi đến thăm Mẹ Con Cô. Chúng tôi ghé siêu thị chọn mua một món quà mừng thằng bé. Bấm chuông phòng , cửa không mở. Gõ nhẹ cũng không thấy lên tiếng. Tôi đến văn phòng khách sạn hỏi. Họ cho biết là Cô vừa mới chuyển đi. Tôi gọi hỏi Phòng Xã Hội, họ cho biết là Cô đã chuyển đi một thành phố rất xa và theo yêu cầu của Cô, họ không tiết lộ địa chỉ mới cho bất cứ một ai. Sau một thoáng ngạc nhiên , tôi chợt nhớ đến lời một bài ca nào đó mà Cô đã nhờ tôi viết ra bằng tiếng Na Uy và chỉ cho Cô đọc đi đọc lại nhiều lần: ngày mai, tôi muốn bỏ đi thật xa. Trên đường về, bà xã tôi thắc mắc tại sao Cô lại chuyển đi sớm và không cho chúng tôi hay. Tôi lắc đầu, mặc dù tôi đã vừa mới hiểu ra.
Từ hôm ấy , tôi không bao giờ gặp lại Cô. Vài lần nhớ tới Cô, tôi định hỏi thăm qua một số người quen ở các thành phố khác , hoặc gọi cho Sở Tỵ Nạn. Nhưng rồi tôi quyết định không tìm, vì có lẽ Cô không muốn gặp lại tôi , một người biết quá nhiều về Cô.
***
Bích Kiều đến đúng giờ hẹn. Khi thấy chiếc taxi đỗ ngay trước cổng nhà , Vợ Chồng Tôi chạy ra đón. Tôi cũng nóng lòng muốn xem lại dung nhan của người con gái xinh đẹp nhưng găp phải điều bất hạnh của 25 năm trước . Bây giờ chắc tuổi cũng đã 45-46. Vợ Chồng Tôi ngạc nhiên khi thấy Bích Kiều vẫn còn trẻ đẹp. Cặp kiếng cận làm tăng nét tao nhã quí phái. Cô ôm chầm chúng tôi, rồi lấy kiếng xuống để chùi nước mắt.
– Không ngờ Kiều bây giờ còn đẹp hơn hồi xưa nhiều lắm. Sao đi có một mình ên còn ảnh thì giấu kỹ ở đâu rồi không cho trình diện?
Câu nói đùa của bã xã tôi làm Cô bớt xúc động, nở nụ cười sau một thoáng thẹn thùng: – Em vẫn còn độc thân mà! Hôm nay xuống đây nhờ anh chị làm mai đây.
Chúng tôi đi quanh khu vườn sau nhà. Bà xã muốn khoe mấy cụm hồng vàng vừa mới nở hoa, trước khi dắt tay Cô bước vào phòng khách. Tôi mang nước ra mời và ngồi nghe hai người đàn bà nói chuyện trang điểm phấn son xong mới lên tiếng: – Vậy là Kiều đang ở Trondheim. Tôi thấy địa chỉ trong tấm thiệp cưới. Ngày ấy, tự dưng Kiều biến mất, làm bọn tôi cứ nghĩ là nàng trích tiên đã ngao ngán cảnh trần gian mà bay lại về trời rồi chứ.
Cô cười bẽn lẽn: – Hôm nay đến cũng để xin lỗi anh chị đây. Ngày ấy lòng em còn đau xót lắm, nên muốn đi đến một nơi thật xa, không muốn gặp bất cứ người Việt nào và nhất là những ai đã biết về mình. Mặc dù em rất thương quí và mang ơn anh chị.
Tôi cười: – Tôi biết, nên chỉ thương chứ có nỡ lòng nào mà trách. Chắc Kiều còn nhớ cái câu tiếng Na Uy Ngày mai tôi muốn bỏ đi thật xa mà Kiều nhờ tôi viết ra và chỉ cho Kiều đọc đi, đọc lại bao nhiêu lần. Khi ấy Kiều bảo rất thích câu ấy trong một bài hát mà Kiều hay hát? Nhờ đó mà tôi hiểu được, nên không có ý tìm Kiều.
Đúng là Cô đã đi thật xa, một hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi thành phố Ålesund. Ở đó không có một người Việt nào sinh sống. Chính quyền và dân chúng rất tốt. Mẹ Con Cô được chăm sóc chu đáo. Một năm sau Cô bảo lãnh Mẹ và hai cậu Em sang đoàn tụ . Gia đình sống trong hạnh phúc. Đứa bé lớn lên trong vòng tay yêu thương của mọi người . Cháu được đặt tên Trần huy Bách, và trong giấy khai sanh có cha là Trần Huy Trác. Tên người vị hôn phu của Kiều. Anh đã bị chính cha ruột của thằng bé giết chết thảm thương rồi vất xác xuống biển. Kiều giấu kín Mẹ và các em điều đau thương này , nên đến lúc qua đời, Mẹ Cô vẫn tin đứa Cháu Ngoại duy nhất của mình là con của Trác. Bà mất đột ngột sau cơn bệnh tim, khi sang Na Uy được 16 năm.
Được chính phủ trợ cấp, cho học bổng và nhờ Mẹ giúp trông con cùng mọi việc trong nhà, nên Kiều và hai em được đi học. Cả 3 Chị Em đều xong đại học. Hai cậu em đang là kỹ sư còn Cô làm y tá trong bệnh viện. Khi hai cậu em được nhận vào trường NTH, một đại học kỹ thuật bách khoa nổi tiếng tại thành phố Trondheim, miền trung Na Uy, cả nhà đã di chuyển về đây sau 6 năm ở Ålesund. Cháu Huy Bách, con của Kiều cũng vừa tốt nghiệp ở trường này mùa hè năm ngoái.
– Vợ Chồng Tôi mừng cho Kiều, cho sự thành công của Mẹ Con Kiều cùng hai cậu em và cũng xin chia buồn về việc Bà Cụ đã ra đi. Tiếc là chúng tôi không có dịp được gặp Bà.
Đang vui, bỗng Kiều xúc động: – Tất cả đều nhờ mẹ em. Cả một đời thiệt thò , chịu đựng vất vả với con cháu. Em vẫn ân hận là em đã phải nói dối với bà về chuyện của cháu Bách. – Tôi nghĩ Kiều làm như thế là đúng. Ít nhất là không làm đau lòng thêm những người ruột thịt vốn đã chịu quá nhiều nhục nhằn , khốn khổ . Tôi tin là bác ra đi thanh thản, không có trách gì Kiều về sự việc ấy đâu. Tôi nói để an ủi.
Bà xã tôi nãy giờ không hiểu hết những gì chúng tôi trao đổi, hỏi Kiều: – Sao Cô lại không giữ tên Kiều mà lấy tên Bích. Tôi thấy tên Bích Kiều đẹp lắm. Ngày xưa gần nhà tôi ở Nha Trang cũng có tiệm uốn tóc Bích Kiều. Mấy cô con gái đều đẹp. Tôi quen cả hai chị em. – Dạ, em thấy cuộc đời nàng Kiều của ông Nguyễn Du sao mà ba chìm bảy nổi quá, mà dường như cũng đã vận vào em, em sợ nên đổi tên Bích, cũng là chữ lót của em.
Tôi cười phụ hoạ: – Nàng Kiều nào cũng đã chết rồi. Bây giờ, đang ngồi trước mặt tôi là Bích. Một cô Bích hoàn toàn khác . Chúng tôi rất mừng được như vậy. Xin lỗi, đáng lẽ ra không nên gọi Cô là Kiều nữa. từ bây giờ chúng tôi gọi tên Bích nghe. – Có sao đâu anh. Hai đứa em của em cũng gọi em là chị Kiều mà . Ngoài gia đình , chỉ có anh chị là biết cái tên này của em. Chuyện xưa cũng đã qua rồi . Em muốn anh chị cứ gọi em là Kiều như ngày trước . Hơn nữa, em biết, ngày ấy anh chị cũng thương yêu cô Kiều đó lắm, phải không?
Cả ba chúng tôi đều cười.
Kiều nhìn đồng hồ trên tường, khi nghe tiếng chuông báo giờ . Không biết vì không muốn nhắc lại chuyện cũ, hay là sợ không còn nhiều thời gian, Cô bắt đầu một câu chuyện khá . Cô mở xách tay lấy ra mấy tấm ảnh đưa cho chúng tôi xem. Ảnh của Bách, con trai Cô vừa chụp với cô vợ tương lai trong ngày lễ đính hôn hơn 3 tháng trước. Một cô gái Việt Nam. Cả hai cô cậu đều đẹp, mũi cao, đôi mắt to, vầng trán thoáng lên nét thông minh.
– Hai cháu rất xứng đôi vừa lứa! vợ chồng tôi khen.
Cô cho biết cô Dâu tương lai là một dược sĩ vừa mới tốt nghiệp, con gái út của vợ chồng một vị giáo sư trước 75, được con bảo lãnh sang Na Uy và bây giờ lớn tuổi đã về hưu. Ông Bà đang sống ở Oslo. Gia đình nề nếp, đạo đức, có 5 người con, tất cả đều thành đạt. Cô nhờ Vợ Chồng tôi, tuổi tác ngang với Cha Mẹ Cô Dâu, đứng ra thay mặt nhà trai trong ngày đám cưới. Nhưng điều quan trọng hơn, theo Cô, là để cho cháu Bách và chính Cô nữa, được tự tin, ấm áp hơn về phía gia đình mình. Bởi vợ tôi là người chứng kiến khi Bách ra đời, còn tôi là người đồng hương duy nhất biết rõ về Bách, về những tình huống để có Bách hiện diện trên thế gian này.
– Sự có mặt của anh chị trong ngày đám cưới cháu Bách, là một kỷ niệm thiêng liêng quý giá đối với mẹ con em. Bởi vì khi nhìn thấy anh chị, em sẽ có cảm giác như là đang có anh Trác bên cạnh. Xin lỗi anh chị, em cũng đã nói dối với cháu Bách, anh là người duy nhất ở Na Uy này biết chuyện Trác và tội nghiệp, cháu Bách vẫn tin anh Trác là ba của nó. Em thường bắt gặp cháu đứng thật lâu trước tấm ảnh của anh Trác trên bàn thờ. – Vậy nhỡ cháu Bách hỏi tôi về Trác, tôi biết nói gì với cháu?
Nghĩ ngợi một lúc, Kiều lên tiếng: – Em chỉ nói với cháu Bách, là ngày xưa anh ở trong quân đội, nên biết Ba của anh Trác là Ông Nội Cháu , thế thôi. Chứ lúc ấy anh Trác còn nhỏ lắm. Em thiết tha mong anh chị giúp em . Vì trong lúc này, em cảm thấy thật lo sợ và cô đơn. Những hình ảnh hãi hùng ấy cứ tưởng đã quên được từ lâu rồi, vậy mà bây giờ nó lại hiện lên liên tục, ngay cả trong giấc ngủ của em. Thú thực, ban đầu em không có ý định gặp anh chị, nhưng càng gần ngày đám cưới cháu, em càng thấy lòng bất an. Cuối cùng bất ngờ em đã nghĩ đến anh chị, người đã biết tường tận hoàn cảnh của mẹ con em, bỗng dưng em thấy nhẹ nhàng, như vừa giải toả được những gì cứ phải chôn giấu, đè nặng mãi trong lòng.
Nhớ tới hai người em trai của Cô, vợ tôi hỏi: – Còn hai cậu em của Cô bây giờ ra sao. Đã có gia đình riêng hay vẫn ở chung với Cô? – Cậu lớn sống chung với cô bạn gái người Na Uy hơn hai năm thì chia tay, còn cậu út vẫn chưa lập gia đình. Tuy nhiên, hai cậu đều ở riêng.
Cuối cùng, Vợ Chồng Tôi quyết định huỷ bỏ chuyến đi London. Phải gọi sang xin lỗi và giải thích cho vợ chồng cô con gái, bảo đây là một việc Ba Má cần làm để giúp cho những người bất hạnh có thể tìm lại ít nhiều hạnh phúc.
Lễ thành hôn được tổ chức buổi sáng Thứ Bảy. Chúng tôi đến khách sạn Royal Christiania khi trời vừa mới trải qua một cơn mưa Hạ . Ánh nắng bắt đầu chói chang rọi qua những tàn cây tạo thành những vệt lung linh trên các bãi cỏ xanh điểm những chấm vàng rực rỡ của hoa løvetann đang mùa nở rộ. Họ nhà trai dùng khách sạn này, nơi mẹ con Kiều và hai cậu em đang ở mấy hôm nay, làm điểm xuất phát. Từ Trondheim xuống, nên họ chỉ có bốn người. Thêm một cậu người Na Uy ở Oslo, bạn học của Bách làm phụ rể. Vợ Chồng Tôi đến với hai cô con gái và ba đứa cháu, để bưng các mâm lễ vật , theo yêu cầu của Kiều. Lần đầu tiên chúng tôi gặp Bách. Cậu bé ra đời vào một đêm đông tuyết giá , trong nỗi cô đơn và xót xa của mẹ , chỉ có vợ chồng tôi , hai người đồng hương xa lạ, có mặt và nghe tiếng khóc đầu đời, bây giờ là một thanh niên tuấn tú , có học , chân thật hiền lành. Điều làm chúng tôi ngạc nhiên là Bách nói tiếng Việt rất giỏi. Bất giác, tôi nhớ tới những điều Kiều kể với vị Cảnh Sát Ngoại Kiều trước kia trong bệnh viện. Đầu óc như mơ hồ có tiếng sóng biển thét gào phẫn nộ và hình dung tới gã hải tặc Thái Lan có mái tóc phủ xuống lưng, trên người đầy những hình xâm với đôi mắt lúc nào cũng đỏ ngầu trong men rượu. Bỗng tôi giật mình, có cảm giác như vừa làm điều phạm tội. Cố gắng hướng tâm trí tới những điều thánh thiện, tốt đẹp khác để xua đuổi hết những hình ảnh đen tối ấy vào giờ phút mọi người đang cần có niềm vui và hạnh phúc.
Lễ thành hôn đã diễn ra tốt đẹp. Ông bà sui của Kiều đều là nhà giáo , hiểu biết và tôn trọng nề nếp cũ. Mọi nghi thức hôn lễ theo tập tục do ông bà hướng dẫn khá tỉ mỉ. Con cháu đều thành đạt, lễ phép. Tôi mừng cho Kiều và nhất là cho cháu Bách đã may mắn là con rể của gia đình này. Có lẽ thấu hiểu hoàn cảnh của Kiều với lòng mến m , sau khi lạy Ông Bà trên bàn thờ gia tộc, ông giáo hướng dẫn Cô Dâu Chú Rể đến dâng rượu và xin lạy Mẹ của Bách hai lạy. Ông giải thích , một lạy cảm tạ công ơn sinh thành dưỡng dục của Mẹ, mất chồng từ khi còn rất trẻ, nhưng không bước thêm một bước nào nữa mà dành hết cuộc đời cho đứa con duy nhất của mình. Một lạy xin Mẹ nhận thay cha, để hai con tưởng nhớ đến người Cha bất hạnh, sớm lìa đời khi chưa thấy mặt con.
Khi vợ chồng cháu Bách mời rượu, nói những lời cám ơn thật cảm động, Kiều âu yếm nhìn hai con, định nói điều gì, nhưng rồi nghẹn ngào. Sau một lúc mới nở được nụ cười trong ràn rụa nước mắt. Tôi thấy lòng bâng khuâng. Thầm mong đó không phải là những giọt nước mắt xót xa mà là niềm vui của hạnh phúc.
Không khí bỗng lắng xuống . Mọi người đều xúc động. Kiều ngước lên , đúng vào lúc tôi quay mặt đi để giấu những giọt nước mắt của chính mình.
Trong thời gian đi tù “học tập cải tạo” ngoài Bắc, một ngày nọ ở trại Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, trong lúc tôi bị bệnh phải nằm nhà, có một thiếu tá bộ đội Bắc Việt ghé thăm trại. Đến “lán” tôi ở, ông xưng là thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ và hỏi tôi thuộc quân binh chủng nào, cấp bậc gì. Sau khi nói cấp bậc và cho ông ta biết là tôi thuộc ngành chiến tranh tâm lý đóng quân ở Saigon, viên thiếu tá la lên ra tuồng mừng rỡ như gặp bạn cố tri, ông ta hấp tấp hỏi tôi:
-“Ở trong ngành tâm lý chiến, các anh biết anh Phạm Huấn và Phan Nhật Nam không?” Tôi thực thà đáp rằng Thiếu Tá Phạm Huấn thì làm chung phòng với tôi, còn nhà văn Phan Nhật Nam cũng là người quen biết.
Thế là hình như muốn tâm sự chuyện gì đấy với tôi, viên thiếu tá ngồi xuống trên cái chõng tre cạnh chỗ tôi nằm. Ông ta kể lại là hồi mấy năm trước khi miền Nam bị mất, có một phái đoàn quân sự bốn bên ra thăm Hà Nội, trong đó có mấy ông sĩ quan nhà báo Phạm Huấn, Phan Nhật Nam và Dương Phục đã được “bên ta” đón tiếp rất nồng hậu, còn đãi một bữa cơm trưa thịnh soạn, thế mà khi về các anh ấy lại viết báo nói xấu miền Bắc (!) Viên thiếu tá nhấn mạnh đến sự đãi đằng của một bữa cơm trưa hai lần và có ý trách móc mấy ông phóng viên miền Nam đã không biết điều, người ta đã cho ăn một bữa cơm như thế mà không mang ơn, lại còn viết báo nói xấu chế độ. Có lẽ qua sự tuyên truyền quá đáng, họ cho rằng dân chúng miền Nam bị bóc lột đói rách tả tơi, đói khát, thèm ăn, thèm uống, do đó mới có chuyện sau tháng 4-1975, bà con ở ngoài Bắc vào thăm, đem cho chục chén ngang để ăn cơm. Nhưng tại sao trong khi đó họ lại cho rằng sĩ quan miền Nam hiếp đáp dân chúng, nên nhà cao cửa rộng (một đứa cháu tự miền Bắc vào đã hỏi tôi, cậu đại úy mà nhà có thế này thôi sao?), lại cho một bữa ăn đãi đằng là quan trọng như thế?
Sau này tôi mới biết miếng ăn ở miền Bắc XHCN nó quí giá đến ngần nào, khiến viên thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ kia phải nghĩ rằng cả mấy ông sĩ quan miền Nam, phải “xôi chùa ngọng miệng”. Mới đây, ở Mỹ gặp Phan Nhật Nam, nhắc lại câu chuyện cũ, tôi muốn biết thực sự cái bữa ăn đó nó ghê gớm như thế nào, đến nỗi viên thiếu tá Bộ Nội Vụ cứ nhắc đi nhắc lại và cho rằng đáng lý ra các ông sĩ quan kia phải hàm ơn họ mới phải. Phan Nhật Nam đã ở tù “cải tạo “14 năm mà trí nhớ còn rất tốt, anh còn nhớ rất rõ, đó là ngày thứ sáu 4 tháng 3 năm 1973, phái đoàn 4 phe từ Saigon ra Hà Nội bằng máy bay C.130, đã được đưa về khách sạn Metropole. Cái gì chứ chuyện “trình diễn” thì Hà Nội là chuyên viên số 1. Khách sạn mới quét còn hăng hắc mùi vôi, và bữa cơm “chiêu đãi” được coi là thịnh soạn vì có bia Trúc Bạch, cơm gạo tám thơm, giò chả …
Những người miền Nam đi công tác vào vùng địch khi nào cũng cẩn thận mang theo sandwich, nước uống, do đó mà bữa cơm trưa hôm ấy, vì lịch sự bia phải nhấp môi, chứ không ai đụng đến thức ăn. Thế là phe chủ nhà, lâu lắm mới dược chút cơm trắng, tí bia, tha hồ mà đóng vai tiếp khách, “tiếp thu” tận tình. Ông Phan Nhật Nam lại đùa dai bằng cách lấy một nắm cơm gạo tám nói là đem về Saigon cho biết gạo tám thơm như thế nào, thế là ông văn nô Tô Hoài sau này hô hoán lên là quả miền Nam đang đói thật.
Sau khi ra tù, nhân dịp về Huế và gặp lại một đứa cháu hiện làm cho một công ty gia công nhôm đồng hay lâm sản gì đó đã mô tả miếng ăn như sau: Mỗi khi có “chiêu đãi” phái đoàn này nọ, anh chàng giám đốc luôn luôn nói nhỏ với nhà hàng gói thêm cho anh ta ba phần ăn đem về cho vợ con và tính luôn vào hóa đơn thanh toán cho cơ quan.
Điều này, thực ta cũng lấy làm lạ là vì “giải phóng” đã được hơn mười năm, đâu đến nỗi còn đói khát như những ngày đầu, hay là vì bản chất tham ô, bần tiện thì lúc nào cũng vậy. Ai mời đi ăn điểm tâm buổi sáng, thì phải sữa, soda, hột gà là thứ đắt tiền nhất, ăn thì phải tô đặc biệt có hai hột gà, có khi ăn bún bò cũng thêm hai hột gà cho ra dân chơi sành điệu. Ba mươi năm sau, mặc dù sau khi đã có chức, có quyền, đối với quan quân trong chế độ ấy, miếng ăn vẫn còn là một thứ gì quí giá, được đánh giá quá lớn, bây giờ, đi theo chữ “ăn” lại thêm chữ “nhậu”. Chuyện kể, ở Biên Hòa có một Việt kiều về mở quán cà phê kinh doanh, nhưng công an phường không thích uống cà phê mất ngủ mà chỉ thích nhậu thịt rừng với bia ngoại. Họ mời ông đi nhậu bữa đầu tiên, ông nghĩ đó là xã giao và làm quen, ông nhận lời và lần đó dù công an mời ông, ông phải trả hơn một triệu đồng tiền ăn uống.
Lần thứ hai, công an phường mời nhậu, ông Việt kiều không né tránh được đành dẫn xác đi, lần này con số người tham gia đông hơn, không phải chỉ toàn thể công an phường treo bảng “đi họp” mà cả bạn bè, bà con của các bạn dân nữa. Ông chủ quán cà phê bấm gan vay nợ trả hơn hai triệu đồng cho một bữa nhậu, két bia chất cao thành tháp. Đến lần thứ ba, thì ông Việt kiều “tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng sách”, ông trốn trong cầu tiêu và nhờ vợ ra báo ông đi Saigon mua hàng vắng. Công An vẫn có kế hoạch, chúng dẫn nhau ra quán cũ, ăn nhậu ngất trời và bảo chủ quán ghi “hóa đơn” cho ông Việt kiều nọ, đặc biệt là còn hào hoa, rộng rãi “boa” cho ba em chiêu đãi, chuốc rượu trong quán nhậu và số tiền này cũng cộng luôn vào phiếu thanh toán. Tôi nghĩ là sau vụ này, chắc vợ chồng ông Việt kiều đã đóng quán kinh doanh, “di tản chiến thuật” về Mỹ rồi.
Cũng như nhiều người có cơ sở làm ăn trong quận, một ông chủ lò nhôm phải thay phiên tổ chức các bữa nhậu linh đình “đóng hụi chết” cho công an quận, không phải ngoài quán xá, mà ngay trong cơ quan mỗi chiều thứ bảy để tránh né “tai mắt của nhân dân”. Nhân viên công an, phường xã là những con ma đói, luôn luôn có mặt trong các buổi tang lễ, cưới hỏi, hội hè, đâu có miếng ăn thì ở đó có chính quyền địa phương.
Chúng ta hãy nghe một đoạn văn của Lâm Chương viết về một hoạt cảnh ở nông thôn, trong những tiệc rượu luôn luôn có bọn “quỷ thần chứng giám”:
“Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo ve.
Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà, mồm mép tía lia. Cánhđàn ông ngồi ngoài sân, cười nói ồn ào. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Chỗ quy tụ đông người phải có quỉ thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không phải bằng tim. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá, luồn lách … “
(trích trong “Những Đoản Văn Rời” của Lâm Chương)
Lại thêm một chuyện nữa về miếng ăn trong cuốn “Viết Về Huế” của nhà văn Tuệ Chương:
“Ngay sau 30 tháng 4, ông anh cả của anh rể tôi từ ngoài Bắc về. Anh rể tôi dọn cơm mời ông anh, có tôi dự. Tôi hỏi anh ta:
– Về đây, anh tính “công tác” gì?
– Tôi muốn làm Chủ Tịch Phường.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Anh là kỹ sư đóng tàu, sao lại muốn làm chủ tịch Phường?
Anh ta cười:
– Ngoài Bắc, mấy người Chủ tịch Phường là sướng nhất, hết nhà này mời ăn giỗ, tới nhà kia”
(trích trong Viết Về Huế của Tuệ Chương)
Đó là chuyện ăn nhậu trên bàn tiệc, có hải sản, thịt rừng, bia ngoại, có chiêu đãi viên ngồi một bên chuốc rượu, đút thức ăn vào miệng, kể cả lau mồm lau mép cho thực khách. Đây là nói theo nghĩa đen, còn về nghĩa bóng trong xã hội này, tôi nghĩ không cần phải chùi mép cho người khác khỏi thấy, vì nhân dân thì đã quá biết, còn cơ quan liên hệ hay cấp trên, cấp dưới, cấp ngang, cấp dọc, thằng, con nào cũng ăn, thì cần chi phải giấu giếm, che đậy. Do vậy truyền thống của XHCN là những hợp đồng, những khế ước không bao giờ được thảo luận hay hoàn tất trong phòng sở, mà phải là nơi quán rượu, nhà hàng, bia ôm hay karaokê.
Đó là lối ăn có rượu để đưa cay thực hiện tại các nhà hàng, còn như ăn xi măng, sắt, gạch đá, hắc ín, xăng nhớt kể cả máy móc, dây nhợ thì không cần có rượu mà cơ quan nào cũng thi đua làm tốt. Chính báo chí trong chế độ đã xác nhận mỗi công trình đều bị cắt xới từ 30% đến 50% là chuyện thường tình, vì nhà thầu hay người cho thầu phải chi qua nhiều chặng, nhiều cấp, hàng ngang, hàng dọc, y như chiếc xe khách phải đứng lại quá nhiều trạm kiểm soát của công an vậy. Do đó, chung cư thì thiếu xi măng, cầu cống thì thiếu sắt, nhà trường thì thiếu gạch … đương nhiên là sẽ sụp đổ, có khi trước ngày khánh thành, mà nạn nhân thường là quần chúng vô tội. Đó là những miếng ăn độc hại và ăn đã trở thành một thói quen, một lề thói, trở thành một nếp sống văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Chữ rằng: “Cần Thơ đi dễ khó về! Trai đi có vợ; gái về có con!” Đó đó! Đúng y hịt đời tui vậy đó bà con ơi!
Như ai nấy nếu để ý đều biết bất cứ thị trấn, thị xã nào của Lục tỉnh Nam Kỳ, quê mình, đều kề cận một dòng sông.
Vì cũng có câu rằng: “Sông Cửu Long chín cửa hai dòng! Người thương anh vô số, nhưng anh chỉ một lòng với em!”
Rồi thòng thêm câu hỏi nữa: “Bên dưới có sông; bên trên có chợ. Ta với mình chồng vợ nên chăng?”
Thì em yêu, dân Cần Thơ, tóc em dài em cài hoa thiên lý, nghe anh hỏi mi mí… là em biết tỏng cái tim đen, bèn trả lời móc họng anh, như vầy: “Biết rồi mà bày đặt hỏi lôi thôi!”
Có nghĩa là: “Anh có thương em thì thủng thẳng em ừ! Anh đừng thương vội mẫu từ ‘quánh’ em!”
Ha ha! Mẫu từ, mẹ hiền, mà roi vọt bất tử quá vậy ta? Nhưng có nhằm nhè gì! Quánh em; chớ có dám quánh thằng ‘rể đu đủ’ tương lai trời đánh nầy sao mà mình sợ chớ?! Nên tới luôn bác tài…Vì em đã chịu đèn rồi!
Chẳng qua là tới tuổi quân dịch, tui vào lính; nhưng bị bịnh mộng du! Bác sĩ quân y thuộc Hội đồng giám định y khoa khám, cho tui về hoãn dịch vì lý do sức khỏe!
Vì tối nào tui cũng ngủ mớ, tuột cái rột, ra khỏi giường, đi vòng vòng doanh trại, dạo mát trăng thanh; nhưng không có ý thức gì ráo!
Mật khẩu không biết, đêm cà lơ phất phơ… lính canh nó phơ ẩu là bỏ mạng sa tràng…
Thôi lính chê thì mình về đi học nữa vậy!
***
Năm 1970, tui theo thằng bạn thân, sau Tết, mùng Bốn, đi Cần Thơ cho biết đó biết đây; ở nhà với Má biết ngày nào khôn?
Từ Sài Gòn xuống Cần Thơ, trên Quốc lộ 4, qua Bắc, leo lên xe Lam, chạy một hơi thôi, khoảng 1300 mét, là tới Ngã ba Lộ tẻ.
Rẽ trái vào trung tâm thành phố Cần Thơ! Rẽ phải vào liên tỉnh lộ dẫn đến Long Xuyên, Châu Đốc, Rạch Giá và Hà Tiên.
Tại Ngã ba Lộ tẻ, có Bến xe mới xe lên Sàigòn; hoặc xuống Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, chạy thẳng tắp từ đây tới tận quận Cái Răng; mà không phải đi qua trung tâm thành phố. Vào trung tâm Cần Thơ phải qua cây Cầu đôi bằng sắt, kiểu Eiffel, bắc ngang qua rạch Cái Khế.
Bên kia cầu là một ngôi biệt thự kiểu Pháp, xưa dành cho mấy ông Tây; sau nầy là Dinh của Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Quân lực Việt Nam Cộng Hòa . Đi tới là dinh Tỉnh Trưởng! Trước mặt là một bùng binh khá rộng, nơi hội tụ của nhiều con đường chạy vòng vòng để khỏi đụng nhau.
Đường Phan Đình Phùng xuất phát từ đây, coi như là cái xương sống của thành phố, chạy ngang qua Ty Bưu điện, Tòa án, Tòa Thị Chánh, Ty Cảnh Sát, Trường Tư thục Nam Hưng, v.v… xuống tận khu Cầu Xéo.
Một đường khác cũng từ dinh Tỉnh Trưởng hướng về Cầu Tham Tướng, là Đại lộ Hòa Bình. Nhưng dân quen gọi là đường Hàng Xoài, vì dọc theo đường có trồng xoài.
Đại lộ Hòa Bình, lớn nhưng ngắn ngủn, chấm dứt khi tới Bệnh viện Thủ Khoa Nghĩa (Nơi em yêu của tui làm đó nhe!). Đường Lý Thái Tổ, bắt đầu từ đây, chạy dài tới cầu đúc Tham Tướng.
Qua cầu, là đường Mạc Tử Sanh, phía bên trái là chợ chồm hổm, chỉ nhóm vào buổi sáng, nhưng tấp nập quanh năm vào buổi chiều tối vì có xề bánh cống, quầy hủ tiếu, gánh cháo gà cho dân nhậu bình dân.
(Tham Tướng là Mạc Tử Sanh, con của Mạc Thiên Tích (Hà Tiên), làm cận vệ cho chúa Ðịnh Vương Nguyễn Phúc Thuần.
Năm 1777, quân Tây Sơn ồ ạt tấn công xuống miệt Trấn Giang (Cần Thơ)! Mạc Tử Sanh bị vây, chết trận nơi khoảng rạch nhỏ đổ ra sông Cần Thơ! Sau nầy dân chúng đặt tên là rạch Tham Tướng!)
Rạch Tham Tướng chạy vòng vòng phía trong, cắt ngang đường Tạ Thu Thâu, chui qua cái cầu sắt nhỏ, cầu Rạch Bần, vốn là đường thoát nước mưa tự nhiên cho Cần Thơ! Sau nầy nghe nói đã bị lấp! Nên bây giờ mưa lớn một chút là Cần Thơ ngập thấy thảm… thương luôn?! Tội nghiệp mấy em mắc mưa, ướt luôn cái quần lãnh Mỹ A hết ráo!
Cầu Tham Tướng đã biến mất, đường Mạc Tử Sanh đi về hướng Cái Răng cũng bị mất tên luôn, thành đường 30 tháng 4.
Ngã ba Tham Tướng xưa có doanh trại của đại đội Quân vận 411, dưới hàng cây bã đậu. Sau nầy là quán cà phê và quán nhậu bình dân. Ôi những ngày đói rách, lang thang sau khi mất nước, tui không biết làm gì; chỉ biết long nhong như ở không lắm vậy! Và từng đóng đô thường trực ở đó. Ngồi tréo ngoảy, trước mặt ly rượu thuốc ngâm ô môi, có màu cho dễ ực; vì màu trắng mắt mèo, e nó có nhúng một đầu tăm thuốc trừ sâu cho rượu trong veo… Thấy ớn quá hà!
Xa em, người đã cả gan bán chịu cho tui ngày cũ (mà không sợ bị giựt)! Biết giờ em giờ phiêu bạt tận phương nào, để tui gởi về em một, hai trăm đô Úc, bồi đáp cái ‘bát cơm phiếu mẫu’ ngày xưa?!
Phần để cho em có tiền mua trầu nhai bỏm bẻm, chống tay lên cằm mà nghĩ tui vẫn còn thương tưởng tới em?!
Nhưng nếu bà con mình ở tỉnh khác tới chơi; người ta khoái cái bến Ninh Kiều hơn là chợ Tham Tướng!
Bến Ninh Kiều, nơi nghĩa quân Lam Sơn đã đánh quân Minh xâm lược một trận tơi bời; nên nằm trên đường Lê Lợi.
Thế mới biết ông cha mình đặt tên đường, tên bến nước là đầy trí tuệ, có hậu ý; chớ không phải như sau nầy muốn đổi tên đường sao cũng được; tùy bữa say nhiều hay xỉn ít đâu nha mấy cha?!
Nhạc sĩ Lam Phương, năm 75, theo tàu Trường Xuân, ông chạy sớm hơn ai hết thảy. Xa quê, tuốt bên trời hải ngoại, ông vẫn còn nhớ tới bến Ninh Kiều để: “Một đêm anh mơ mình ríu rít đưa nhau về / Thăm quê xưa với vườn cau thề /Bàn tay anh đan dìu em bước trên cỏ khô/ Đi trong hoang vắng chiều Tây Đô!”
Đó là ông ước, ông mơ, ông nhớ về ngày tháng cũ: “Bờ sông yêu xưa tà áo thướt tha mỹ miều/ Sao anh không thấy về Ninh Kiều? Dường như anh nghe đời nặng trĩu trong màu đen/ Đen như manh áo buồn chưa quen!”
Rồi ông nhớ cái thuở học trò! “Ngày xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường/ Nay nghe sao khác từ tên đường/ Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta hồi hương/ Tây Đô sẽ sống lại yêu thương!”
Cái trường, ông Lam Phương, (xưa ta quen từng viên đá quanh sân trường), là trường Phan Thanh Giản, trường công lập lớn nhất miền Tây, được thành lập vào đầu thế kỷ 20.
Học sinh ở các tỉnh lân cận, như nhà văn Sơn Nam, miệt Rạch Giá, vẫn phải khăn gói đến trường Phan Thanh Giản để học tiếp bậc “Đút rơm trâu ăn mê” (Diplôme) tức Trung học Đệ nhất cấp!
Tới năm 1964, trường Phan Thanh Giản lại được tách ra để thành lập Nữ Trung học Đoàn Thị Điểm. (Em yêu của tui đã từng đi học ở đó!)
Sau 75, Trung học Phan Thanh Giản bị thay bằng Châu Văn Liêm.
Mà không phải chỉ cái trường học bị đổi tên đâu mà những con đường chu vi trường cũng chịu cùng chung số phận.
Cổng trường nằm trên đường Phan Thanh Giản bị đổi thành đường Xô Viết Nghệ Tỉnh. Đường Pasteur, giữa trường Phan Thanh Giản và trường Đoàn Thị Điểm, bị đổi tên là Võ Thị Sáu.
Ông Pasteur, dù là Tây; nhưng có công lớn là đã chế ra thuốc chủng ngừa, cứu mạng hàng triệu người, không phân biệt màu da sắc tộc, khỏi bệnh tật!
Công lớn với nhân loại khó có ai sánh bằng vậy mà cũng bị đuổi đi… để thay bằng chị Sáu… ‘mùa lê kim ma’ nở?
Nhưng tui buồn nhứt có lẽ là đường Võ Tánh, dọc bên hông trường, từ đường Phan Thanh Giản tới đường Ngô Quyền; đã đổi thành đường Trương Định.
Không phải tui (dám) ghét bỏ ông Trương Định, một anh hùng kháng Pháp, gì đâu. Mà chẳng qua con đường Võ Tánh, dẫu ngắn, có một khúc tẻo tèo teo thôi; nhưng nó lại mang quá nhiều kỷ niệm…
Phía sau lưng đường Võ Tánh nầy là xóm Cả Đài (theo tên Hương cả Phạm Thành Đài), bắt đầu từ cái chợ nhỏ cũng gọi là chợ Cả Đài kéo dài dài đến chùa Cây Bàng; nơi tui từng ở trọ gần trường để tiện đường… đi gõ đầu trẻ hồi năm nẳm.
Tui nhớ quán Ngọc Lan, chuyên bán cơm tháng cho quân nhân và công chức. Năm 1973, nếu mua vé cả tháng, sáng ăn đưa một vé, chiều ăn đưa một vé!
Bữa nào hỏng ăn, lại đi ăn cháo, gỏi đầu cá lóc (bự ế kinh), ngon hết biết, với em yêu ở đường Nguyễn Trường Tộ thì khỏi đưa vé…
Ăn hết xấp vé đó mua xấp vé khác, tốn 4 ngàn đồng bạc, dằn túi; không sợ đói bất tử vì đôi khi hứng xài ẩu… (Hồi thanh niên, đứa nào hỏng vậy cà?)
Từ quán cơm Ngọc Lan, có ông chủ lúc nào cũng mang mặc áo bỏ vô thùng bảnh tỏn, đi vài căn nữa thì tới tiệm chụp hình Phúc Vinh, nơi em yêu làm duyên, chụp tấm hình cho anh lộng bóp; để lúc nào cũng phải nhớ tới em!
Và nếu vắng em, có con ‘quỷ hó’ nào dám lục bóp anh, thì nó thấy tấm hình bà La Sát nầy là nó sẽ bỏ chạy sút dép luôn!
Sau 75, người ta đói xanh râu, đói đến lòi hai cái lỗ tai; nên tiệm Phúc Vinh không còn chụp hình nghệ thuật nữa mà quay sang bán cháo, gỏi gà… để kiếm cơm!
Tui đã từng theo Giáo M. nhà ở hẻm 5, đường Phan Thanh Giản tới đây nhậu.
(Giáo M. có người em gái trắng như bông bưởi! Tắm xong, em hay ra hàng hiên ngồi hong tóc; mà tui tình cờ trông thấy… phải há hốc cái mồm!)
Thưa bà con! Dù Cần Thơ không phải là nơi chôn nhau cắt rún của tui nhưng là quê hương yêu dấu ngậm ngùi của em yêu.
Cần Thơ là quê vợ, là người tui rất sợ; nên tui còn yêu Cần Thơ hơn cả quê tui nữa đó!
Vì nơi đó có em… và còn có mấy em khác (tui thầm thương trộm nhớ) nhưng vì đã có vợ rồi nên tui đành phải giữ mối tình câm…Nên riết rồi… tui bị ‘hâm hâm!”
Tui xa Cần Thơ… Đi và đi luôn tới mấy chục năm!
Người xưa bên ấy, mới đây, gởi cho tui câu ca dao nầy, tui lén vợ, tui học thuộc lòng, kẻo quên:
“Con chim buồn, chim bay về cội/ Con cá buồn, cá lội trong sông/ Em buồn em đứng em trông/ Ngõ thì thấy ngõ, người không thấy người!”
Thôi xin tạ lỗi cùng em hẻm 5, đường Phan Thanh Giản!
Thân anh giờ như: “Chim vào lồng; như cá cắn câu! Cá cắn câu biết đâu mà gở; chim vào lồng biết thuở nào ra!”
Hẹn 9 AM ở lầu 1 khu vực K. Đừng quên thẻ bệnh viện và căn cước của sở y tế cấp. Bọn tôi hướng dẫn cách tắm xà phòng đặc biệt, sau đó không được mặc thứ gì vào người ngoại trừ chiếc áo đặc thù của bệnh viện, trùm nón lưới và mang đôi vớ bằng giấy mỏng. Leo lên giường nằm thư giãn, đeo vào cổ tay một cái vòng plastic tóm gọn bệnh lý cùng những con số riêng tư khắc ghi ở trên đấy. Đo áp huyết lần sau cùng, nhiệt kế ngậm dưới lưỡi, gắn 6 nụ có dây nhợ lòng thòng vào ngực để đo điện tâm đồ. Lấy 3 ống máu rồi dán chặt mũi kim nằm nguyên vị trí ở cánh tay. Chúng tôi sẽ tuyền xê-rum vào đó hoặc morphine hoặc những dược liệu cần kíp khác. Mười phút nữa bạn sẽ được chuyển qua khu phẫu thuật.
Kim đồng hồ di chuyển chậm hơn vận tốc trái tim đang gõ. 1 PM, giường con bệnh được đẩy vào thang máy riêng, xuống tầng trệt. Ở đây nhiều ánh sáng, đèn đuốc một phần, phần khác người ta lợp kính trong suốt, thấy mây bay thấy nắng chiếu thấy cành lá những loài cây già tuổi đứng rung động bên ngoài sân bệnh viện. Đây là khu vực cách ly với ngoại giới, bạn muốn đi qua những cánh cửa đóng mở tự động bạn phải có một tấm thẻ nhựa đặc biệt. Người y tá lực lưỡng đặt xấp hồ sơ dày cỡ 200 trang trên bụng “thân chủ”. Không lâu đâu, chừng nửa giờ, thông thường là vậy. Anh ta ém được chiếc giường tân kỳ giá khoảng 5.000 đô-la vào chỗ thích hợp. Sát hành lang có dán tấm poster: “Thông thường, cái bàn phím có nơi máy điện toán bạn đang dùng chứa lắm vi trùng hơn một cái bồn cầu. Xin bạn vui lòng rửa tay thật sạch trước khi tiếp xúc với bệnh nhân”.
Bệnh nhân nằm lim dim, dát thân mỏng dính xuống mặt nệm bắt đầu nghe lạnh. Trong đầu óc trống hoác tự dưng lộ ra câu của Bukowski: “Tôi mang cái chết trong túi áo trái. Đôi khi tôi lấy nó ra và hỏi han: Chào cưng, dạo này cưng sao rồi? Hồi nào thì cưng đến với ta? Ta sẽ sẵn sàng”. Một bóng người toàn thân màu xanh lục lướt êm tới đứng cạnh giường. Xin chào. Bạn muốn tôi dùng tiếng Anh hay Pháp ngữ? Tôi là bác sĩ Hulk, phụ bác sĩ Zukor chịu trách nhiệm ca phẫu thuật này. Bạn thấy sao rồi? Nón trùm đầu, khẩu trang đã móc sợi dây vào một bên tai, đôi mắt linh hoạt sau cặp kính cận nhìn xuống. Mức độ gây hiểm nguy chỉ lên tới 9% thôi. Chúng tôi sẽ chích một liều thuốc tê vào sau lưng bạn và dự trù thời gian sẽ kéo dài trong 2 giờ. Với năm ngón to khoẻ của một người quen sử dụng dao kéo, bác sĩ Hulk bắt tay “thân chủ”. Chiếc găng cao su mỏng chẳng ngăn được nhiệt lượng từ bàn tay ấy lan toả ra. Trấn an, vỗ về và tự hứa sẽ làm tốt với khả năng mình có. Họ có tủi thân không, khi được đi thực tế ở Việt Nam để nhìn thấy thứ văn hoá phong bì. Tiền trao cháo múc. Đừng rên la làm gì cho chóng đuối sức. Hai trăm đô la thôi mờ, bộ kiếm không ra hở. Đừng có vu oan rằng thì nà bọn tớ thấy chết không kíu nhé!
Một, hai, ba. Họ cùng đếm số để động tác có được sự ăn ý. Bốn người ở bốn góc đã nhấc hỏng tấm chăn lên và đặt nhẹ nhàng con bệnh qua một chiếc giường khác. Trước đó họ đã tháo những dây nhợ cột cứng cái thây bất động để tiện cho việc mổ xẻ. Họ liền tay đắp lên ba tấm chăn vừa hấp nóng vào cơ thể lạnh như một tảng băng, khói bốc mờ cùng lần với ý thức vụt hiện tới: Mình vừa trôi qua dòng nước đen, được tấp vào bờ sinh tồn. Một ống nhựa đun vào mũi: Bạn cần thở oxygen. Chuyền xê-rum cùng với một liều morphine làm chận cơn đau. Bọn tôi sẽ chuyển bạn ra nằm phòng hồi sức, chừng nào bạn ngo ngoe được những ngón chân, bạn cảm được tay tôi đang sờ nắn da thịt bạn, khi ấy chúng tôi hẳn mang bạn lên phòng cho y tá chăm nom. Khoảng nửa giờ sau chúng tôi sẽ đặt một tấm bảng dưới lưng bạn để chụp x-ray. Hiện tại bạn cần phải uống thật nhiều nước lạnh vào, đi kèm với viên Xarelto, viên oxycodone và 2 viên novo-gesic. Mọi chuyện tiến triển tốt đẹp, gắng tỉnh dưỡng nhé, chóng hồi phục thôi. Bác sĩ Zukor nói. Tay dong cao rồi quay lưng đi. Ông ấy là một người Do Thái tài ba, trưởng khoa điều trị chữa lành mọi cấp độ chấn thương về gãy xương.
Đợi sắp xếp đâu ra đó, chiếc giường được đằng vân giá vũ lên tận lầu 8. Phòng 820 giường C. Phòng trọ trong ba ngày, hoàn toàn miễn phí; chừng nào bạn muốn một không gian yên tĩnh, riêng lẻ, có điện thoại bàn có truyền hình đã gắn cable thì bạn phải chi trả một khoảng tiền nhất định. Đi máy bay bạn ngồi ghế ở hạng tiết kiệm thì hẳn chớ so đo với hạng nhất, hạng thương gia các thứ. Giường C đặt nằm trong cùng, kéo tấm màn cửa sang bên sẽ bắt gặp một vầng trăng nhạt hiện lẻ loi trên khu phố lắm đốm đèn màu nhấp nháy. Thoảng có mùi thơm đẩy đưa: Gắng ăn đôi ba múi cho ngọt cần cổ. Quýt này của Tây Ban Nha chứ không phải của Maroc đâu. Người đàn bà ngồi bên giường B đang lột vỏ và từ tốn đút cho gã đàn ông sắc mặt tiều tuỵ nhác chơi thấy rõ. Thấy sao? Thích thì ngày mai em sẽ mua thêm.
Đứa nằm giường C trông sang, lẩm bẩm bốn câu thơ của Thiền sư Viên Thành:
“Ngọt ngào không rõ đặng trong lòng
Rõ đặng trong lòng biết đục trong
Biết đục trong hãy xin nếm thử
Hãy xin nếm thử ngọt ngào không?”
Đôi khi chẳng cần được ăn quýt, chỉ ngó ra cử chỉ đầy quan hoài của tha nhân cũng đủ khiến mình nếm được chất ngọt ngào sóng sánh trong tình người chia sẻ. Ở chỗ trồng nhiều khế ngọt con bệnh dễ thác vì mãi nghe bác sĩ lẫn y tá thay phiên đay nghiến, tủi thân lắm, đớn đau lắm; chưa kể có nhiều trường hợp gãy chân phải chữa chân trái hoặc buồn tay đem cưa cụt cho khoẻ trí. Suốt đời không cách gì gạn đục khơi trong được. Cái nước mình nó vốn thế! Một người đứng tuổi có học vị cao đã “phát ngôn linh tinh” như vậy.
Chào buổi tối. Thấy đỡ chưa? Tôi mang tới cho bạn bốn viên thuốc. Một thứ chống nhiễm trùng, một viên chống táo bón, một liều morphine nhẹ và một viên giúp bạn chóng ngủ. Ở đầu giường có cái nút đỏ, bạn bấm nút hồi nào bạn muốn được sự giúp đỡ, y tá trực sẽ chạy vào giúp bạn. Những cái nút màu xanh còn lại là điều khiển chiếc giường thay đổi vị trí sao cho bạn thấy thoải mái khi đặt lưng. Cái bình nhựa kia là để bạn tiểu tiện vào mà không cần phải ngồi dậy. Điểm tâm ngày mai bắt đầu vào 7.30, ngày ba bữa và thực đơn luôn thay đổi, bạn có quyền lựa chọn nếu bạn chẳng ăn được một vài thứ. Cái nút nhựa này để thay đổi độ sáng tối của ngọn đèn, bấm ba lần thì đèn nhắm mắt. Chúc ngủ ngon. Bà y tá đi ra rồi kéo tấm màn vải che bít giang sơn 820 C.
Bềnh bồng, có thể do phản ứng của lắm loại thuốc gây ra. Chẳng thấy đau, cũng không mang cảm giác chóng mặt hoặc kiệt sức. Thứ trạng thái nửa mê nửa tỉnh, không thèm khát một thứ gì, xuôi tay, buông trôi. Ba ngọn đèn sáng xanh trên trần vẫn ngó xuống và rồi mí mắt đóng màn, chòng chành:
“Con đò dịch đít sang ngang
Bên kia có một cái làng thò ra”.
Hình như thơ của Bút Tre, vẽ ra một cảnh sắc quen thuộc, và dễ thương mà chẳng ai nhìn thấy. Muốn tới cái sự thò ra kia tiên khởi ta phải dịch đít. Sang sông phải luỵ đò là vì vậy. Trước đây, muốn về thăm làng ta phải bỏ công theo dõi tin chiến sự, dò la để biết chốn quê xa có chút an toàn nào không? Một thuật ngữ dùng ám chỉ: Vùng xôi đậu. Người làm chủ ban ngày, ma quỷ hiện hình lộng hành ban đêm. Vì vậy ngủ lại đêm thì chẳng đặng nên muốn đi phải khởi hành giấc sớm để chừng hai ba giờ chiều phải chóng khăn gói trở lại phố phường. Về làng để nhận tiền chia lúa, để thăm lại mồ mả ông bà và được bà con trao quà: Cái lồng tre nhốt một hai con sáo, hoặc chào mào, hoặc con chim cu có giọng hót lạ thường. Nhưng đáng nhớ hơn cả là hình ảnh một người đàn bà bao giờ cũng tự nguyện làm kẻ tiễn đưa. Một khuôn mặt buồn, ẩn dấu nhiều thua thiệt và chịu đựng dài lâu, tuồng như suốt kiếp. Áo màu nâu, phai nhạt ở trên vai, ở tấm lưng chẳng mấy khi khô. Tóc rối, mắt ướt, làn da ăn nắng gần tiệp với màu vải áo và luôn nói với chất giọng gần như hụt hơi: Dạo đó chị lớn chừng 12 tuổi, mạ em bắn tiếng về làng mong có người lên giúp đỡ. Chị là người được chọn, công việc là phụ nấu ăn giặt giũ và chăm sóc em. Không hiểu sao, giữa chị em mình đã có với nhau một sự gắn bó, đã thương yêu nhau. Chị bảo vệ em bằng tất cả sức mạnh mà chị có, em tượng trưng cho mọi niềm vui mà chị được thu giữ trong suốt những ngày xa quê. Mấy hôm mưa to gió lớn, chị đã ôm em, ru em ngủ bằng các câu chuyện cổ tích đầy chắp vá. Và chị đã nhìn ra lòng quý mến mà em muốn dành riêng cho chị. Muốn ăn cơm, em chỉ đồng ý cho riêng chị đút. Em sẽ ở dơ cho tới chừng nào chỉ rảnh tay mang em ra giếng tắm rửa. Có nghĩa là em rất chướng, chỉ có chị mới “đụng” được người em. Mọi người trong nhà đều thống nhất một cách gọi: O Hường. Chỉ mình em, cá biệt kêu: Chị Hường ơi! Có thể chi tên Hồng, nhưng người ngoài làng đa phần đều sợ thần linh quở phạt nên phải đọc trại ra. Hoa đổi thành Huê. Màu đổi thành Mùi. Hôn đổi thành Hun… Và khuôn mặt dại khờ của em đã được chị hun tới cả vạn lần. Không chắc đến lúc thành hôn, người nữ phải hôn chồng kiểu đó. Ốt dột hoặc mắc cỡ hoặc ngó không thực lòng. Chẳng phải chị mượn em để làm nháp đâu, chị thương em hơn cả thương người chồng mai sau của chị. Và một ngày xấu trời, như một trang sau cùng cuốn tiểu thuyết siêu hình thật khó đọc thông, chị Hường phải chịu về làng làm vợ một anh chàng nào đó chưa hề biết tới, nghe qua. Trên đường đứt ruột phải băng qua, có người từng đánh rơi lông ngỗng để làm dấu. Chị Hường chẳng có gì ngoài suối lệ mãi trút xuống không kịp lau khô.
“Đừng buông giọt mắt xuống sông
Anh về dẫu chỉ đò không cũng chìm”.
Phải sau này, thực trạng đó mới có người như Đồng Đức Bốn chứng thực được. Chị Hường dịch đít sang ngang và cái làng kia đã thôi còn thò ra nữa. Chiến tranh đã nuốt trọn lấy nó, thu cất riêng một nơi huý kỵ có tên gọi “đã giải phóng”. Con đò đã thực sự chìm, mực sông cao hơn vì nó hứng lấy bao nước mắt của bá tánh trút xuống. Nó thôi “nắng đục mưa trong” bởi bốn mùa triều cường duy mỗi màu đỏ lờ. Uể oải xê dịch và từng có thời điểm là cửa ngõ giúp người ta trốn chạy ra bốn phương ta bà, chết bỏ bể bỏ. Sông chẳng phải mang tên Bến Hải, cầu không dann xưng Hiền Lương nhưng mọi chốn trên địa hình chữ S mãi còn đó một sự phân lìa, đố kỵ và thù hằn có giữa hai phía con rồng, cháu tiên. Bắc Nam hai nhà.
Em đừng sợ. Mỗi đêm chị cố gắng về ngồi bên em. Ác quỷ sẽ không thì thầm bên tai được, cùng lắm chúng nó chỉ trốn dưới giường. Chị biết em chỉ nằm đây có ba đêm, chừng đó cũng đủ để chị kể em nghe mọi thứ từ hôm chúng ta bị phân lìa. Hãy xem như đây là chuyện cổ tích như ngày xưa chị thường mang ra kể, ru em ngủ. Chị về làng lấy chồng, anh ấy là lính địa phương đóng quân ở quận lỵ bên kia sông. Một hôm súng nổ vang trời, nghe nói cả trung đội anh không còn một người sống sót. Quận lỵ bị xoá sổ chừng một tuần sau đó, “bọn ác ôn” bị giết sạch và chị làm bà quả phụ từ dạo oan khiên nọ. Chị rất muốn vào thăm em nhưng không tài nào cất chân ra khỏi địa bàn khắc nghiệt kia. Loay hoay, đói khổ, tù túng. Cái bi kịch mà chúng ta phải nhận lấy, đó là một bọn người ngu dốt đã thắng được, đè đầu cỡi cổ bọn có học thức. Hoặc vô luân đã đánh thắng sự tử tế. Người chị đã tàn tạ, hiểu ở mọi nghĩa vậy mà vô phúc cũng lọt được vào mắt kẻ quyền lực. Một tên xã trưởng đã công khai mang chị về dinh. Nơi treo đầy bằng ban khen và là chốn từng làm hại bảy người đàn bà khác nhau. Người trầm mình dưới sông, người tự nhiên vắng mặt chẳng rõ đi đâu, và chị thì bị xe ô tô con húc từ đàng sau, rớt xuống ruộng để hai hôm sau mới có kẻ phát hiện một tử thi đang bị trương phình, biến dạng và sắp phân huỷ.
Chào buổi sáng. Một khay đựng thức ăn đặt xuống bàn. Người phục vụ nâng chiếc bàn lên cao cho tới hồi mâm thức ăn nằm ngay ngắn trước bụng con bệnh. Cô ta bấm nút cho chiếc giường bẻ gấp lại, từ nằm biến đổi tư thế sang ngồi với gối chống lưng. OK, chúc ngon miệng. Bữa điểm tâm như một canh bạc lắc bầu cua. Tất cả được dấu mặt trong ba cái tô lớn nhỏ khác biệt. Cất tay nè. Một lát bánh mì nướng dùng với mức dâu hoặc margarine, một hộp thức ăn sấy khô d’avoine au miel dùng với 200ml sữa tươi 2% chất béo. Một quả trứng gà luộc. Một hộp nước trái táo. Một cốc cà phê, một gói đường cát. Dao, muỗng, nĩa được bọc trong tờ giấy thấm dùng để lau miệng. Một thực đơn “hơi bị lạ”, chẳng mấy khi được ăn, dù sao thì ở khu nhà bếp người ta đã có sẵn một công thức, và thứ nọ đi với thứ kia sẽ cấu tạo thành 850 calories nếu bạn xơi hết. Chấm mút, ăn thỏ thẻ như con mèo ốm, như thuở còn thơ vòi vĩnh bắt chị đút, dỗ dành tới khô hơi rát cổ em mới ăn. Thức gì cũng thử qua, riêng quả trứng luộc thì dấu cất bên gối nằm, nguyên vẹn. Đêm nay em sẽ thầm lặng bóc vỏ nó, một hai giờ sáng mang ra làm quà dâng chị. Cả một đời lớn khôn trong cách trở, em sợ về làng em ngán ông kẹ em hãi vi-xi vì thế chưa hề tạo cớ bày tỏ tới chị một chút tâm thành. Ngày đó Mạ nói: O Hường hắn thương mi nhứt hạng! Và em đã cám ơn trời Phật đã tạo ra được một nữ nhân “trời làm xa cách mấy con sông”, tuy ít ăn học, tuy quê mùa, tuy mang phận ở đợ, nhưng con người chị là tổng hợp những gì tốt đẹp nhất mà sau này em mới chứng nghiệm ra.
Bác sĩ Zukor trở lại: Tôi theo dõi và vui với sự tiến triển khả quan về sức khoẻ của bạn. Xem hình chụp, những gì được thay thế đều nằm đúng vị trí và mất chừng sáu tuần bạn có thể đi lại bình thường. Trước khi xuất viện bạn sẽ qua một cuộc thăm dò với các vị phụ trách vật lý trị liệu cũng như nhận lấy một cái toa liệt kê những thứ thuốc phải mua. Nhà thương sẽ gửi y tá đến nhà bạn để thay bông băng, chùi rửa vết mổ cũng như sẽ lấy sạch những cái mấu sắt ra nếu vết thương đã khép miệng. Bạn sẽ có cái hẹn với tôi vào tháng sau. Bạn có câu hỏi nào không? Tốt. Bắt tay nào: Chúc may mắn.
Một thằng đàn ông quyền lực chỉ ngang tầm xã trưởng cũng đủ làm mưa làm gió một khung trời nhỏ. Hắn hãm hiếp người đàn bà từng lấy chồng nguỵ quân. Chán chê, muốn chùi sạch miệng sau khi ăn vụng, hắn lái xe ô tô con ủi thẳng vào bóng người bất hạnh lẻ loi đi trên đường đê vắng. “Nếu được xét nghiệm, chắc chị cũng bị gãy xương chậu giống em vậy. Chị đứng dậy không được và ruộng nước, và bùn lầy, và giá rét, và cuộc đời ghẻ lạnh đang vây chặt lấy chị. Đầu óc chị sáng suốt: Được chết như thế này có khi lại hơn, thôi đoạ đày giữa bể trầm luân. Nhưng em, em đang sống ở cái thế giới đối nghịch hoàn toàn với chị, ý nghĩa về sự sống luôn cao đẹp khi chung đụng cùng bao người tử tế. Khi yếu lòng em hãy nghĩ về chị. Hãy gọi thầm: Chị Hường ơi! Và rồi bóng ma của quá khứ sẽ hiện sát bên em, che chắn và bảo vệ em, vực em qua được bao khốn khó.
Trời sang mùa, Thu ló dạng ở xa nhưng sớm đưa tay xua đuổi những hạn nực của nắng hè. Bệnh viện có lắm kẻ đi thơ thẩn ngoài hành lang gió nhẹ, khí trời như góp phần lấy đi từ cơ thể họ chút nặng nề khi di chuyển. Mặt họ bớt cau có, mà nghĩ có ích gì nếu cứ mãi hậm hực về cảnh sống bất ưng? Vui hay buồn, chán ghét phẫn hận hay vị tha mở lòng thụ hưởng thì đời sống vẫn một mực dửng dưng trôi qua. Không gì khiến nó đổi thay được. Những cái chết lần lượt điểm danh đằng sau những căn phòng với màn che trướng rũ. Và khu hộ sinh mỗi ngày có biết bao đứa bé dong tay khóc ngấc khi chào đời. Nước ối và máu chảy lênh láng. Xin chúc mừng, là con gái, bạn đã có sẵn tên cho cháu chưa? Coi kìa, cái mặt dễ ghét quá!
Tên Hường. Nguyễn Thị Hường. Nghe đặng không? Hường là Hồng. Hồng là Rose. La Vie en Rose.
Kiếp này đang mở Hường ơi
Đầu nhang cháy tỏ em khơi đốm tàn
Chống gậy đi ngược ngày vàng
Về nơi cố xứ lộn hàng mộ bia
Đò băng sông rộng làng kia
Gươm đao quẳng xuống đành chia ngậm ngùi.
Sao, khoẻ không? Xuất viện hồi nào? Khoẻ, đã hai hôm. Tôi trở lại vì đãng trí để quên chiếc áo ấm trong tủ. Bạn nằm phòng nào nhỉ? 820C. Ô, chỗ ấy đã có người điền thế. Hy vọng giờ này mọi người đều thức. Cô giúp tôi được không, bởi đi lại hơi khó khăn. Dễ thôi mà, ngồi xuống ghế nghỉ đi, chiếc áo màu gì? Màu xanh nước biển, xanh đậm. Người y tá quay lưng, khoảng cách chừng 10 thước nhưng cô mất hơn 15 phút mới trở lại. Mang bộ mặt không mấy vui: Tủ trống, chẳng có chiếc áo nào cả và lạ kỳ một điều, có ai đã dấu thu một quả trứng gà luộc ở trong. Bệnh nhân nằm giường 820C là một bà trung niên, bả than phiền là bệnh viện này sao có lắm ma. Ở những nơi khác người ta treo đầy thánh giá trên vách, như ở nhà thương trung ương chẳng hạn, như nhà thương “Con của Chúa” chẳng hạn… Mất một chiếc áo. Bạn có cần khai báo không? Thôi khỏi, cám ơn sự sốt sắng của Nathalie. Kỳ thật! Tôi nằm ở đó đúng ba đêm sao tôi chẳng được thấy ma nhỉ? Suỵt! Đừng nói chuyện tầm phào. Lạy Chúa! Ca làm việc của tôi hôm nay kéo dài tới nửa đêm. Thôi bye, chúc lành nhé.
Tôi phải ngồi lại trên các bậc đá nghỉ chân đến ba lần trước khi bước vào cổng chùa. Ngôi chùa nhỏ nằm trên một triền núi, được phủ mát bởi những tàng cây. Ngôi nhà khách bằng gỗ, khá xinh xắn, nằm trong một khu vườn toàn hoa vạn thọ. Phía trước là một tượng Phật ngồi dươi gốc cây bồ đề, cành lá được cắt tỉa công phu. Chung quanh là cả một vùng núi trời tĩnh mịch. Tôi không phải là phật tử, nhưng ngồi nghe tiếng mõ và lời cầu kinh trong chùa vọng ra, cũng thấy lòng nhẹ hẳn đi trước bao nhiêu điều phiền não. Hôm nay là mồng một tết, nhưng cảnh chùa khá im ắng, bởi chùa nằm khá xa khu dân chúng. Ngày hôm qua tôi có đến đây, nhưng thầy trụ trì đi vắng. Tôi đã để lại tấm danh thiếp của chồng tôi, viết vài dòng phía sau xin hẹn thầy hôm nay trở lại. Chú tiểu còn rất trẻ, mang trà ra mời và xin tôi chờ thêm mươi phút nữa, vì thầy trụ trì đang khai kinh cho buổi lễ tân niên. Tôi nôn nao muốn sớm được nhìn mặt vị ân nhân của mình, nhưng cũng dặn lòng phải kiên nhẫn và cẩn trọng ý tứ trước một nhà sư.
Hơn ba mươi năm trước. Lúc ấy tôi còn là cô bé học trò trường trung học An Túc, nằm giữa thị trấn An Khê, bên QL 19 nối liền Qui Nhơn với Pleiku. Chiến tranh đang thời kỳ ác liệt. Tuổi còn nhỏ, nhưng ngày nào tôi cũng nghe cha mẹ và các thầy cô bàn chuyện chiến trường: đánh lớn ở Pleime, Dakto, Tân Cảnh. Mấy năm nay, An Khê tương đồi bình yên, nhờ Sư Đòan 101 Không Kỵ Hoa Kỳ có căn cứ ở đây, và dọc theo đèo An Khê có đồn bót của các đơn vị thuộc Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn. Giữa lúc chiến tranh ngày khốc liệt, bất ngờ lực lượng đồng minh rút quân về nước, làm dân chúng ở đây hoang mang, lo lắng. Xứ họ đạo của tôi cũng được cha chánh xứ tổ chức những toán tự vệ, phối hợp với quận, lo canh gác khu vực của mình. Chiều ba mươi Tết, được thông báo của tỉnh, các cơ quan trên quận phối hợp với các thầy cô giáo và cả Hội Đồng giáo xứ đi mọi nhà kêu gọi đóng góp những gói quà tượng trưng dành tặng cho anh em chiến sĩ của một đơn vị từ xa tới, thay thế lực lượng đồng minh, đồn trú ở đây. – Tôi nghiệp, nghe nói anh em đã phải rời căn cứ từ sáng sớm 30 để chiều mồng một Tết có mặt ở đây. Họ có biết tết nhất gì đâu! Ông cha xứ nói với chúng tôi như thế. Cả quận vui mừng, nô nức trước tin vui. Riêng tôi còn vui hơn khi tưởng tượng sẽ có nhiều anh lính đến cái thị trấn nhỏ xíu buồn tênh này, nên rất sốt sắng trong việc gói quà. Tôi tự tay thực hiện được hai gói quà, gồm một số bánh mức, chiếc khăn tay do tôi thêu lấy, kèm theo lá thơ chúc mừng năm mới tới hai anh chiến sĩ vô danh nào đó. Tôi nắn nót viết thật đẹp rồi đề tên, lớp và trường học phía dưới. Vì “sao y bản chánh” từ một bài luận văn tháng trước, nên hai lá thư giống nhau như đúc. Nhìn hai gói quà tôi mỉm cười, khi nghĩ sẽ có hai “người tình không chân dung” nào đó nhận được lá thư nồng nàn của một cô “em gái hậu phương”. Ban đầu, các thầy cô cho biết, đám học trò chúng tôi được hướng dẫn vào căn cứ để tận tay tặng quà cho các anh chiến sĩ. Bọn tôi đứa nào cũng hớn hở, lăng xăng giặt ủi lại chiếc áo dài trắng ưng ý nhất. Nhưng sau đó dưới tỉnh cho biết là trước khi vào An Khê, các đơn vị này còn phải hành quân mở đường, giải tỏa một số đồn bót của lực lượng Đại Hàn nằm dọc theo đèo An Khê, bị địch quân bao vây đã ba hôm nay. Cuối cùng tất cả quà đều được nộp cho trường, và thầy hiệu trưởng cùng các thầy cô giáo sẽ mang vào cho đơn vị để trao lại cho anh em chiến sĩ khi tình hình an ninh cho phép. Bọn học trò chúng tôi tiếc hùi hụi vì mất một dịp được vào xem căn cứ và ủy lạo các anh chiến sĩ.
Nam Mô A Di Đà Phật. Xin chào bà. Xin lỗi, chắc là bà đã chờ tôi lâu lắm phải không? – Câu hỏi của thầy trụ trì cắt đứt dòng hồi tưởng của tôi. Tôi đứng lên, vụng về chấp hai tay trước ngực chào lại thầy. Tôi muốn nhìn thật kỹ khuôn mặt của thầy, nhưng thấy ái ngại, nên chỉ cúi đầu im lặng.
– Cái cổng tam quan, ngôi nhà khách này, và những bậc đá trên con đường mà bà vừa đi lên là do tiền cúng dường của ông bà. Chúng tôi xin tán thán công đức và cầu xin chư Phật gia hộ cho ông bà cùng gia đình. Bà có muốn đi một vòng xem cảnh chùa không ? Xin mời bà. Thầy vừa nói vừa chỉ tay về phía cổng tam quan. – Dạ, công ơn của thầy đối với gia đình tôi lớn lao quá. Biết làm sao đền đáp. Xin thầy đừng nhắc tới công đức, làm tôi thêm xấu hổ. Tôi vừa bước theo phía sau thầy, vừa nói. – Mô Phật! Giúp người, đó là nhiệm vụ của kẻ tu hành, dù là tôn giáo nào. Sao bà lại gọi là công ơn. Thầy nở một nụ cười độ lượng. Đi phía sau, nhìn dáng đi khoan thai của thầy, tôi băn khoăn suy nghĩ: Khuôn mặt thì có nhiều nét giống, nhưng với cái dáng đi thì lại khác hẳn. Có thể ngày xưa là lính nên cần phải nhanh nhẹn. Tôi nghĩ thầm như thế. Khi đến cửa tam quan, thầy dừng lại và chỉ tay về hướng bờ biển, nơi có mấy tảng đá ở triền núi, phía dưới là một khu rừng rậm:
– Chính ở nơi đó, tôi đã tìm gặp chồng của bà.
Năm ấy, khi chồng tôi vừa mới trốn về từ trại tù cải tạo Gia Trung (anh chỉ là thầy giáo, dạy một trường trong khu người Thượng, bị bắt năm 1979 vì bị kết tội hợp tác với lực lượng Fulro chống lại chính quyền Cộng sản), được một người bạn thân cho đi theo một chuyến vượt biển do gia đình anh ta tổ chức. Lúc ấy ai cũng nghĩ ra đi là không bao giờ gặp lại vợ con, mà có ở lại cũng sống không yên, chỉ làm khổ cho gia đình. Hơn nữa lúc ấy tôi vừa mới sanh đứa con đầu lòng, nên không thể đi cùng. Chúng tôi đành gạt lệ chia tay mà không dám nghĩ sẽ có ngày tái ngộ. Tàu vừa ra khơi hơn một ngày thì bị hỏng máy, trong lúc gió mưa tầm tã. Tất cả mọi người phải đem sinh mạng chống chọi với phong ba. Cuối cùng, sau gần ba ngày bềnh bồng trên biển, nhờ những cơn gió nhiệm màu đã đẩy chiếc tàu với hơn một nửa số người sống sót, giạt vào một ghềnh đá lúc trời nhá nhem tối. Tưởng đã thoát chết, nào ngờ khi vừa leo lên bờ thì bị một toán công an biên phòng vây bắt. Một số người yếu sức thì đành đưa tay cho họ trói. Chồng tôi cùng một vài thanh niên khác dùng hết tàn lực chạy trốn trong các hốc đá bên triền núi. Mấy lần thoát chết dưới những tràng đạn. Nhờ trời tối anh chạy thoát vào khu rừng trước khi kiệt sức. Khi tỉnh lại, anh thấy mình nằm trong ngôi chùa nhỏ nằm bên triền núi. Anh được vị trụ trì săn sóc và che dấu chu đáo, mặc dù biết anh là người công giáo, bởi trên cổ có đeo thánh giá. Sau hơn một tuần, nhờ thầy giúp cạo đầu, cho áo quần để cải dạng một thầy tu, và gởi theo một chiếc xe đò của một phật tử thân quen, chồng tôi mới trốn được vào nhà bà cô ruột ở Cam Ranh. Sau đó nhờ chính bà cô này tìm đường để vượt biển tiếp.Và lần này anh đã đươc tàu Pháp vớt, nên được sang định cư bên Pháp. Ba năm sau, tôi và đứa con được anh bảo lãnh với diện đoàn tụ gia đình.
– Mô Phật! Tôi nghiệp, ông ấy đã về tìm thăm tôi hai lần, và giúp cho tôi khá nhiều tiền để lập lại ngôi chùa này và một nhà từ thiện nuôi các em bé tật nguyền dưới xóm. Công đức của ông bà thật lớn lắm. Tôi nhớ lại tấm ảnh mà chồng tôi chụp chung với thầy trong lần thứ nhì về thăm thầy. Bao nhiêu lần tôi đã nhìn kỷ tấm ảnh, lại nghe chồng tôi bảo, ngày xưa thầy cũng là lính, nên tôi đã ngồi hằng giờ hình dung, nhớ lại một người quen lúc trước. – Thực ra anh ấy ngại không muốn về, nhưng vì nhớ ơn thầy mà anh ấy mới về gặp thầy. Lần này chính tôi đề nghị được thay anh về thăm thầy, nhân dịp thăm mẹ của tôi đang ốm nặng. – Mô Phật! Tôi hiểu nỗi khổ tâm của ông ấy. Tôi nghe tiếng thở dài của vị trụ trì, và thấy thầy đưa mắt nhìn về một nơi xa xăm nào đó. Từ lúc mới gặp nhau trong ngôi nhà khách, tôi nghĩ là thầy đã nhận ra tôi. Tôi chờ thầy hỏi, nhưng có thể thầy đã quên hay bây giờ là kẻ tu hành, nên thầy không muốn nhắc lại chuyện thế tục ngày xưa. Không để lỡ mất cơ hội, tôi lên tiếng: – Tôi về đây, gặp thầy cũng để muốn xin được hỏi thầy một điều, mà bấy lâu nay cứ băn khoăn mãi trong lòng, nhưng ngại thầy là bậc tu hành, nên tôi không dám. Thầy nhìn tôi, im lặng giây lát rồi lên tiếng: – Mô Phật! Kẻ tu hành lúc nào cũng muốn đem ánh sáng cho chúng sinh hầu giải tỏa những lo âu phiền não. Xin bà cứ tự nhiên. – Xin thầy tha lỗi, nếu có điều gì không phải. Có phải thế danh của thầy là Quế, Lê Phương Quế ? Thầy ngạc nhiên nhìn tôi, rồi nhìn lên khoảng không, nhíu mày. – Mô Phật! Làm sao mà bà biết được tên của tôi ? – Thầy còn nhớ anh Lân, trung sĩ Đỗ Lân, ở Sư Đoàn 23 BB, có đóng quân ở An Khê vào những ngày tết năm 1972? – Bà còn biết cả bạn tôi? Anh Lân đã tử trận ở Kontum từ mùa hè 72 . Bà có biết không? Tôi có một thoáng giận thầy, vì nghĩ là đến bây giờ ông vẫn chưa nhận ra mình. Chẳng lẽ thầy vô tình đến thế. Nhưng ngay sau đó tôi hối hận về ý nghĩ của mình. Sao lại đem chuyện đời để mà trách một vị chân tu, một người đã xa lánh chuyện hồng trần, thế sự. Thầy đã cho mình hỏi và sẳn sàng tâm sự đã là một điều hỉ xả rồi. – Dạ, tôi có biết, và tôi cũng có đến Kontum thăm mộ anh mấy lần. Sau này tôi về tìm để xây lại ngôi mộ cho anh, thì nghĩa trang không còn nữa, và không ai biết mộ anh đã chuyển đi đâu. Đôi mắt của vị trụ trì sáng hẳn lên. Thầy mở đôi mắt thật to nhìn tôi, đưa tay lên định nắm vai tôi, nhưng rồi kịp khựng lại. – Vậy là Xuân? Bà là cô Xuân ngày xưa? Mô Phật! Sao lại có chuyện kỳ ngộ lạ lùng này.
Vâng, tôi chính là Xuân, cô bé học trò trường trung học An Túc ngày xưa. Người đã gói hai gói quà Xuân ủy lạo cho những chiến sĩ đến giữ an ninh cho quê tôi vào đúng chiều ngày mồng một tết. Hai gói quà được nộp cho trường để chuyển tới cho các anh, vì lúc ấy đơn vị đang hành quân mở đường để đến nơi trú đóng. Sau một cái tết an bình, cả thị trấn nhỏ của tôi nhộn nhịp hẳn lên bởi sự có mặt của một trung đoàn lính chiến, ngày mồng tám tết, đám học trò chúng tôi trở lại trường, nhưng các thầy cô biết là trong lòng đám học trò ai cũng còn dư âm ngày tết, nên cho chúng tôi tập họp lại hát hò và kể chuyện vui. Trong lúc thầy hướng dẫn đệm đàn cho cả đám học trò ca hát, thầy giám thị đến tìm tôi, bảo tôi lên văn phòng có người nhà muốn gặp. Bước theo thầy giám thị mà lòng tôi lo lắng không biết ở nhà có chuyện gì, thì ông đưa tay chỉ hai anh lính đang ngồi chờ trên chiếc ghế đá trong sân trường. Hai anh lính thật trẻ đứng lên chào tôi, nhoẻn miệng cười: – Hai đứa tôi đến để cám ơn Xuân và chúc mừng Xuân năm mới. Tôi thoáng một chút ngạc nhiên và bẽn lẽn: – Em có làm gì đâu mà hai anh cám ơn? Mà sao hai anh biết được tên em? Hai anh cùng mở túi áo lấy ra bức thư. Vừa kịp nhận ra đó là hai bức thư mà tôi đã “sao y bản chánh” bỏ trong hai gói quà ủy lạo, thì một anh lên tiếng: – Tôi là Đỗ Lân, và người bạn thân của tôi đây là Lê Phương Quế. Trông anh hiền như con gái, nhưng Xuân đừng nhầm với nữ ca sĩ Phương Hồng Quế nghe, mặc dù anh Quế bạn tôi cũng có giọng hát rất hay, không thua gì Phương Hồng Quế . Hai đứa tôi nhận hai gói quà của Xuân. Quà cáp như nhau và lời lẽ trong cả hai bức thơ cũng giống nhau như đúc. Cô Xuân thật công bình. Cám ơn nghe! Tôi hơi quê, nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên: – Hai anh tới trường tìm Xuân, không sợ thầy giám thị la Xuân hà? Anh lính thứ nhì, tên Quế, lên tiếng: – Bọn tôi bảo là anh em bà con với Xuân, đi lính xa nhà bây giờ mới gặp. Thầy giám thị coi bộ cũng thương lính lắm, nên chắc không nở la rầy người yêu, à xin lỗi, người em của lính đâu! Mặc dù thấy hai anh chàng có vẻ thư sinh, vui tính, nhưng nhớ lời bà chị thường bảo mấy ông lính bạo dạn và tán gái hay lắm. Phải coi chừng. Tôi nhủ thầm như thế. Và để xem hai anh chàng này có thực sự bạo dạn hay không tôi khoanh tay: – Nghe nói anh Quế hát hay không thua gì Phương Hồng Quế, em xin mời hai anh vào lớp em chơi. Bọn em cũng đang ca hát trong đó, chứ không có học hành gì đâu. Đám bạn em sẽ mừng lắm đó. Hai anh nhìn nhau cười, rồi gật đầu, theo tôi vào lớp. Cả đám bạn học trò im bặt, tò mò nhìn ra khi thấy tôi dắt theo hai anh lính trẻ. Tôi nói với vị giáo sư hướng dẫn: – Thưa thầy, có hai anh lính nhận được quà tết của lớp mình, đến cám ơn và xin hát cho cả lớp mình nghe. Thầy hướng dẫn lớp gật đầu, đến bắt tay hai anh, tươi cười: – Hồi nãy tới giờ mấy cô chỉ hát những bài tình yêu lính chiến, bây giờ đích thân lính chiến hát tặng mấy cô thì còn gì hay bằng, phải không? Cả lớp vỗ tay. Anh lính tên Lân bước lên bục giảng, hai tay mân mê chiếc nón bê- rê: – Kính thưa thầy, thưa các bạn. Tôi không biết hát, nên xin dành phần nói trước. Chúng tôi xin cám ơn những gói quà Tết của nhà trường, của các bạn. Trong không khí Tết, vì nhiệm vụ phải xa nhà, được những món quà của các bạn chúng tôi thấy ấm áp nhiều lắm. Đặc biệt hai đứa tôi đây đã nhận được quà của cô Xuân. Chỉ cần cái tên của cô là hai đứa chúng tôi cũng đã có cả một mùa xuân rồi . Xin cám ơn và kính chúc thầy, chúc các bạn một năm mới vạn điều như ý. Cả lớp lại rộn lên tiếng cười và những tràng vỗ tay không dứt. Một con bạn có tiếng nghịch nhất lớp quay về hướng tôi ngồi: – Xuân ơi, mày chỉ được chọn một trong hai thôi. Còn để dành cho đứa khác nữa chứ! Đúng là nhất quỉ nhì ba, còn thứ ba là bọn này. Tôi đoán hai anh chàng lính sữa đang nghĩ như thế. Anh lính tên Lân bẽn lẽn, ngừng lại đôi phút rồi đưa tay về hướng người bạn, tiếp tục: – Bây giờ, xin giới thiệu anh bạn thân nhất của tôi, Lê Phương Quế, mà chúng tôi thường gọi là Phương Hồng Quế, tiếng hát hàng đầu của trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, sẽ lên hát một vài bài tặng thầy và các bạn . Tôi cũng phục tài ăn nói khá “tâm lý chiến” của anh chàng Lân này. Cái giọng Huế nghe cũng êm ái, cứ như rót mật vào tai người ta. Bây giờ nhìn kỹ thấy anh ta cũng đẹp trai, nụ cười cũng có duyên ghê lắm. Lính cỡ này chắc sẽ làm khổ vài cô em gái hậu phương đây. Tôi mỉm cười với ý nghĩ vừa thoáng trong đầu. Anh Quế bước lại chỗ thầy hướng dẫn để xin nhờ thầy đệm đàn. Anh hát bài Xuân Này Con Không Về của nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Trông anh có dáng dấp thư sinh và khuôn mặt hiền lành như một thầy tu. Tiếng hát cất lên làm cả lớp im bặt. Đúng là giọng hát của anh rất hay, điêu luyện, lúc réo rắt lúc trầm buồn không thua một ca sĩ chuyên nghiệp. Dường như có cùng tâm trạng với nội dung bài hát, nên anh đã hát với tất cả cảm xúc, làm dao động trái tim mọi người. Bài hát chấm dứt, mà cả lớp dường như còn thẫn thờ, yên lặng. Sau đó bùng vỡ bởi những tràng vỗ tay và nhiều tiếng la: bis, bis… Anh cúi xuống một lúc, hình như để dấu sự cảm xúc, rồi ngước lên nói nhỏ hai tiếng cám ơn và xin hát tiếp bài Chiều Trên Phá Tam Giang, thơ của Tô Thùy Yên phổ nhạc. Lần này, chính tôi không cầm được nước mắt. Không chỉ vì anh hát hay, nhưng tôi thấy xúc động, thấm thía hơn cuộc đời của những người lính chiến.
– Thưa thầy. Bây giờ đã đi tu rồi, thầy có còn hát những bản nhạc tình lính ngày xưa? Tôi vẫn còn nhớ cái cảm xúc khi thầy hát cho cả lớp tôi nghe, sau cái tết năm nào ở trường An Túc. Thầy hát thật hay và truyền cảm. Hôm ấy là lần đầu tiên tôi được gặp thầy và anh Lân. – Mô Phật! Bây giờ tôi chỉ còn biết tụng kinh gõ mõ, cầu cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc. Nhưng những gì bà vừa nhắc lại, cũng là con người, làm sao tôi có thể quên. – Xin thầy thứ lỗi, nếu tôi đã nhắc thầy nhớ lại chuyện đời để làm bận lòng một bậc chân tu. – Mô Phật! Đạo ở trong Đời, cũng như hai kẻ đồng hành. Hành đạo là để giúp đời. Kẻ tu hành như chúng tôi cũng chỉ là “cư trần lạc đạo” mà thôi, thưa bà. – Cư trần lạc đạo là sao, thưa thầy? – Có nghĩa là hiện diện nơi trần thế mà hành đạo, vui đạo. Chứ không phải xa lánh trần thế đầy khổ nhục để tìm sự thanh thản riêng cho bản thân mình. – Cám ơn thầy. Thầy giảng hay quá. Ngày đầu tiên gặp thầy, và nhất là lúc nhìn thầy đứng hát trên bục lớp, tôi đã thấy thầy giống một nhà tu. Có lẽ thầy đã có căn duyên từ trước, phải không thầy? – Mô Phật! Ai cũng có thể tu hành, và bất cứ ai cũng có thể thành Phật được, thưa bà .
Không ngờ lần gặp gỡ đầu tiên năm ấy lại mang đến cho tôi mối tình đầu. Sau vài lần gặp nhau, tôi biết Lân và Quế là hai người bạn thân thiết từ lúc còn học trong trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu. Ra trường về cùng đơn vị, nên sống với nhau như anh em, mặc dù tôn giáo khác nhau. Quế đạo Phật còn Lân là tín đồ Công giáo. Những ngày chủ nhật không bận hành quân, Lân đều đi lễ nhà thờ, nên chúng tôi thường gặp nhau hơn. Và lần nào tôi cũng mời Lân về nhà. Cha mẹ tôi cũng rất thương quí Lân, nhất là sau khi biết cha mẹ Lân đã chết trong biến cố tết Mậu Thân. Tính tình Lân lại hiền lành chân chất và hiếu học. Dù bận hành quân liên miên, nhưng anh vẫn cố gắng tự học để thi tú tài vào mùa hè này. Cũng có đôi lần Quế theo Lân đến nhà tôi chơi. Càng lúc chúng tôi càng thân nhau hơn. Tôi biết là Lân cũng thích tôi. Trong túi áo của anh lúc nào cũng có chiếc khăn tay tôi đã tặng anh trong gói quà Xuân. Mỗi lần chia tay, anh bịn rịn lưu luyến không muốn rời tôi. Còn tôi, cũng thấy nhớ anh da diết và mong chờ anh từng ngày trong các lần anh đi hành quân. Tối nào tôi cũng đọc kinh cầu nguyên cho anh được bình yên trở về. Bây giờ tôi mới biết tình yêu là gì. Tôi bắt đầu biết tương tư, mơ mộng, nhớ nhung và man mác buồn khi thiếu vắng anh. Những bản nhạc tình lính, người yêu của lính, dường như càng lúc tôi càng thấy hay hơn, và tôi hát nhiều hơn. Sau mỗi lần hành quân, Lân đều mang về tặng tôi những cánh hoa lan rừng. Tôi nghe nói vùng núi rừng An Khê này có nhiều hoa lan. Có những loại hoa lạ, thật đẹp mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy hoặc biết tên. Chỉ sau hai tháng, trong phòng tôi treo đầy hoa lan rừng. Tôi thích nhất là những cánh hoa màu tím. Có lẽ tôi nhớ tới màu tím hoa sim trong một bản nhạc mà tôi thường hay hát.. Chiến tranh lại ngày càng ác liệt. Ngồi trong lớp học, bọn tôi vẫn thường nghe tiếng súng, tiếng máy bay vần vũ trên bầu trời. Ban đêm, nhìn qua cửa sổ, những trái hỏa châu lơ lững giữa trời, soi sáng cả một vùng núi non nào đó. Rồi tôi nghe tin Dakto mất, Tân Cãnh thất thủ, thành phố Kontum bị pháo kích..Một số người đã phải bỏ nhà chạy xuống Pleiku, sống trong các trường học, được chính quyền dùng làm trại tiếp cư. Hơn một tuần, tôi chưa gặp Lân bởi đơn vị anh có lệnh cắm trại, ứng chiến. Bất ngờ gặp lại anh trong lễ sáng chủ nhật ở nhà thờ. Khi tôi đang quỳ gối cầu kinh, Lân đến sau, quỳ xuống bên cạnh. Tan lễ, vừa bước ra khỏi nhà thờ thì chúng tôi gặp anh Quế đứng đợi từ lúc nào. Tôi mời hai anh về nhà. Trên đường đi, cả hai anh im lặng, không nói một lời gì. Nhìn nét mặt thật buồn, tôi nghĩ là họ đang ưu tư điều gì. Tôi hỏi, nhưng hai anh chỉ nhìn nhau rồi lắc đầu, không nói. Suốt ngày hôm ấy hai anh ở lại nhà tôi. Mẹ tôi đãi hai anh một con gà tơ. Trong lúc Lân và Quế rượt bắt gà trong vườn, tôi tìm hái mấy trái cà, trái mướp và rau thơm. Cả ba chúng tôi cùng làm bếp, đùa giỡn, ca hát líu lo, không còn chút ưu tư nào trên khuôn mặt của mọi người. Ăn cơm xong, chúng tôi rủ nhau ra ngồi dưới những cây dừa rợp bóng, nghe Quế hát, rồi chúng tôi cùng hát theo những bài tình ca quen thuộc. Buổi chiều, Quế cáo từ tôi, chào ba mẹ tôi xin về trước. Trong phòng tôi chỉ còn có tôi và Lân. Lần đầu tiên tôi nghe Lân rụt rè tỏ tình. Anh bảo, đời chiến binh rày đây mai đó, rồi có một ngày, anh sẽ phải đi xa, nhưng lúc nào cũng mang theo bóng hình của tôi vào những nơi gió cát. Những lời anh nói làm tôi nhớ tới những câu thơ Chinh Phụ Ngâm thật hay của bà Đoàn thị Điểm dịch mà tôi đã học. Những câu thơ thật buồn bây giờ lại càng buồn hơn. Tôi khóc. Lần đầu tiên tôi khóc, không biết là vì hạnh phúc đến bất chợt của mối tình đầu hay là vì nghĩ tới nỗi cô đơn của người Chinh Phụ. Tôi giật mình, khi Lân ôm tôi vào lòng. Tôi đứng im, bất động, đón nhận nụ hôn tình yêu đầu đời trong hai hàng nước mắt. Tôi tiễn Lân ra đầu làng, hai đứa ôm lấy nhau khi bóng chiều vừa tắt. Sáng hôm sau, ngồi trong lớp học, khi thấy từng đoàn xe nhà binh chở đầy lính chạy về hướng Pleiku, lòng tôi thẫn thờ khi nghĩ là Lân đã đi xa..
Tôi vội lên xin phép cô giáo ra ngoài. Nhưng khi tôi vừa chạy đến hàng thông phía trước, thì đoàn xe cuối cùng đã chạy qua bên kia cầu.
Không ngờ lá thư này là lá thư cuối cùng tôi nhận được của Lân. Chỉ ba tuần sau, Lân hy sinh. Người báo tin buồn này chính là Lê Phương Quế, người bạn chí thân của Lân và sau này cũng là bạn của tôi. Lá thư có kèm theo vài di vật, Quế đã nhờ một anh phi công gởi cho tôi từ Pleiku , sau một chuyến đổ quân cho đơn vị của Quế ở Kontum. Lân đã bị thương rất nặng khi cùng với vị tiểu đoàn trưởng chui qua hàng rào phòng thủ, mở đường vào giải cứu Bệnh Viện 2 Dã Chiến, đang bị địch quân xua xe tăng đánh chiếm, với ý đồ lợi dụng những thương binh nằm trong bệnh viện, làm bàn đạp tấn công vào khu phi trường nằm sát thị xã Kontum. Lân chết lúc chờ máy bay tản thương. Chính Quế là người đã vuốt mắt cho Lân và nghe những lời trăn trối cuối cùng. Anh nhờ Quế giữ để trao lại cho tôi cái dây chuyền có mang thánh giá cùng mấy tấm ảnh có hình của cha mẹ anh và của anh mặc lễ phục trắng đội bê rê đỏ khi còn là thiếu sinh quân. Những tấm ảnh ấy bây giờ vẫn còn trong nhà thờ An Túc, và sợi dây chuyền tôi vẫn còn cất giữ đến hôm nay. Anh Quế còn cho biết thêm, trước khi trút hơi thở cuối cùng, Lân còn thì thào gọi tên tôi, và khi lục trong túi áo, anh Quế còn thấy cái khăn tay và lá thư của tôi tặng Lân trong gói quà tết hôm nào.
– Thưa thầy, cuối năm 1973 tôi có nhận được thư của thầy. Lúc ấy thầy bị thương nặng, nằm ở quân y viện Pleiku. Tôi có tìm đến thăm, nhưng người ta bảo là thầy đã được chuyển về quân y viện Nguyễn Huệ ở Nha Trang, để được gần nhà. Lúc ấy đoạn đèo An Khê lại bị địch chiếm, nên xe đò không chạy được. Mấy tháng sau, khi đi được xuống NhaTrang tìm thăm thầy, thì thầy đã xuất viện. Tôi có hỏi nhưng bệnh viện không biết thầy ở đâu. – Mô Phật! Đúng như bà nói. Tôi được Hội Đồng Giám Định Y Khoa cho xuất ngũ, vì thương tích. Tôi về sống với mẹ già. Lúc ấy bà cũng đang tu tại gia, ăn chay trường. Suốt một đời bà đã lo lắng cầu nguyện cho cha tôi, rồi đến tôi. Cha tôi cũng đã tử trận năm 1965, trong trận Đồng Xoài, khi ấy tôi chỉ vừa 11 tuồi. – Nhờ vậy mà thầy đã đi tu. – Lý do đó chỉ một phần. Cái chính là do tôi đã sống trong chiến tranh, chứng kiến bao nhiêu cái chết quá đau lòng, như cái chết của những người còn quá trẻ như Lân. Họ đâu có tội tình gì. Tôi nghĩ tới cuộc chiến phi nghĩa, khi mà anh em cùng một nhà lại chém giết thù hận lẫn nhau. Nhất là những người lính miền bắc, chỉ vì một số người cầm quyền nhân danh các thứ chủ nghĩa này nọ, để xua họ vào miền nam chém giết chính đồng bào mình. Trước khi nhắm mắt, có lẽ họ chẳng biết họ chết trong núi rừng, trong đói khổ, để cho ai và được điều gì ? Gia đình, cha mẹ hay vợ con họ ra sao ? Tôi nghĩ tới cái Vô Thường, Vô Minh mà Đức Phật đã dạy, nên tôi đã tìm tới cửa Thiền để mong trút bỏ mọi ám ảnh, oan khiên.
Như vừa nhớ ra một điều gì, thầy chỉ tay về hướng sau chùa: – Mời bà đi theo tôi. Mong bà sẽ tìm thấy một điều kỳ diệu. Tôi theo thầy đi dọc theo triền đồi, đến một nơi tương đối bằng phẳng. Lại một khu vườn nhỏ toàn hoa sim. Tuyêt diệu hơn, bên trên các khung cây được treo đầy những cánh lan rừng. Tôi nhớ tới những cành lan mà Lân thường mang về tặng tôi sau các cuộc hành quân. Ngày xuân, tất cả đang nở rộ một mùa hoa. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn là giữa khu vườn là một ngôi mộ, trên tấm bia lại có cây thánh giá. Tôi thắc mắc hỏi thầy. Thầy im lặng, không trả lời, ra dấu bảo tôi cùng thầy đến gần ngôi mộ. Tôi bàng hoàng khi đọc mấy dòng chữ trên mô bia: Tôi quỳ trước ngôi mộ, đưa tay lên ngực làm dấu thánh giá rồi khóc sụt sùi. Một cơn gió xào xạc làm chao động cả rừng cây. Dường như tôi đã ngồi ở đây lâu lắm. Khi lau nước mắt đứng lên tôi không còn thấy thầy trụ trì. Có lẽ thầy muốn để tôi ngồi khóc một mình mà thổn thức với người xưa, hay là muốn tránh xa chuyện vui buồn của thế tục. Khi trở lại chùa, tôi có cảm giác như chân mình đang bước vào khoảng không, hụt hẫng. Chú tiểu chờ tôi trong căn nhà khách, chuyển lại lời xin lỗi của thầy trụ trì và trao lại cho tôi một tờ giấy học trò được xếp làm đôi. Thầy trụ trì đang cúng ngọ. Tôi mở tờ giấy ra đọc, trong lúc tiếng chuông chùa ngân nga như muốn làm dịu đi phần nào những cơn sóng đang bềnh bồng trong lòng tôi. Trên tờ giấy chỉ có mấy dòng chữ : Xin chào bà và cám ơn bà. Chính tôi đã mang hài cốt của anh Lân về cải táng trong vườn chùa, khi được tin nghĩa trang trong thành phố Kontum bị giải tỏa. Anh Lân mồ côi, không còn ai thân thích.Từ nay, xin bà hãy cầu nguyện cho anh Lân, theo nghi thức tôn giáo của bà. Nam Mô A Di Đà Phật.
(Tác giả viết lại phỏng theo lời kể của một nữ độc giả. Độc giả này sau khi đọc bài Trên Chiến Trường Xưa (Kontum) của tác giả, được phổ biến trên nhiều số báo nhân ngày 30.4.2008, đã tìm cách liên lạc với tác giả để tìm hiểu vế cái chết của người tình cũ. Anh đã tử thương trong trận tái chiếm Bệnh Viện 2 Dã Chiến, Kontum ngày 11.5.1972)
Trong thời gian đi tù “học tập cải tạo” ngoài Bắc, một ngày nọ ở trại Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh, trong lúc tôi bị bệnh phải nằm nhà, có một thiếu tá bộ đội Bắc Việt ghé thăm trại. Đến “lán” tôi ở, ông xưng là thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ và hỏi tôi thuộc quân binh chủng nào, cấp bậc gì. Sau khi nói cấp bậc và cho ông ta biết là tôi thuộc ngành chiến tranh tâm lý đóng quân ở Saigon, viên thiếu tá la lên ra tuồng mừng rỡ như gặp bạn cố tri, ông ta hấp tấp hỏi tôi:
-“Ở trong ngành tâm lý chiến, các anh biết anh Phạm Huấn và Phan Nhật Nam không?” Tôi thực thà đáp rằng Thiếu Tá Phạm Huấn thì làm chung phòng với tôi, còn nhà văn Phan Nhật Nam cũng là người quen biết.
Thế là hình như muốn tâm sự chuyện gì đấy với tôi, viên thiếu tá ngồi xuống trên cái chõng tre cạnh chỗ tôi nằm. Ông ta kể lại là hồi mấy năm trước khi miền Nam bị mất, có một phái đoàn quân sự bốn bên ra thăm Hà Nội, trong đó có mấy ông sĩ quan nhà báo Phạm Huấn, Phan Nhật Nam và Dương Phục đã được “bên ta” đón tiếp rất nồng hậu, còn đãi một bữa cơm trưa thịnh soạn, thế mà khi về các anh ấy lại viết báo nói xấu miền Bắc (!) Viên thiếu tá nhấn mạnh đến sự đãi đằng của một bữa cơm trưa hai lần và có ý trách móc mấy ông phóng viên miền Nam đã không biết điều, người ta đã cho ăn một bữa cơm như thế mà không mang ơn, lại còn viết báo nói xấu chế độ. Có lẽ qua sự tuyên truyền quá đáng, họ cho rằng dân chúng miền Nam bị bóc lột đói rách tả tơi, đói khát, thèm ăn, thèm uống, do đó mới có chuyện sau tháng 4-1975, bà con ở ngoài Bắc vào thăm, đem cho chục chén ngang để ăn cơm. Nhưng tại sao trong khi đó họ lại cho rằng sĩ quan miền Nam hiếp đáp dân chúng, nên nhà cao cửa rộng (một đứa cháu tự miền Bắc vào đã hỏi tôi, cậu đại úy mà nhà có thế này thôi sao?), lại cho một bữa ăn đãi đằng là quan trọng như thế?
Sau này tôi mới biết miếng ăn ở miền Bắc XHCN nó quí giá đến ngần nào, khiến viên thiếu tá thuộc Bộ Nội Vụ kia phải nghĩ rằng cả mấy ông sĩ quan miền Nam, phải “xôi chùa ngọng miệng”. Mới đây, ở Mỹ gặp Phan Nhật Nam, nhắc lại câu chuyện cũ, tôi muốn biết thực sự cái bữa ăn đó nó ghê gớm như thế nào, đến nỗi viên thiếu tá Bộ Nội Vụ cứ nhắc đi nhắc lại và cho rằng đáng lý ra các ông sĩ quan kia phải hàm ơn họ mới phải. Phan Nhật Nam đã ở tù “cải tạo “14 năm mà trí nhớ còn rất tốt, anh còn nhớ rất rõ, đó là ngày thứ sáu 4 tháng 3 năm 1973, phái đoàn 4 phe từ Saigon ra Hà Nội bằng máy bay C.130, đã được đưa về khách sạn Metropole. Cái gì chứ chuyện “trình diễn” thì Hà Nội là chuyên viên số 1. Khách sạn mới quét còn hăng hắc mùi vôi, và bữa cơm “chiêu đãi” được coi là thịnh soạn vì có bia Trúc Bạch, cơm gạo tám thơm, giò chả …
Những người miền Nam đi công tác vào vùng địch khi nào cũng cẩn thận mang theo sandwich, nước uống, do đó mà bữa cơm trưa hôm ấy, vì lịch sự bia phải nhấp môi, chứ không ai đụng đến thức ăn. Thế là phe chủ nhà, lâu lắm mới dược chút cơm trắng, tí bia, tha hồ mà đóng vai tiếp khách, “tiếp thu” tận tình. Ông Phan Nhật Nam lại đùa dai bằng cách lấy một nắm cơm gạo tám nói là đem về Saigon cho biết gạo tám thơm như thế nào, thế là ông văn nô Tô Hoài sau này hô hoán lên là quả miền Nam đang đói thật.
Sau khi ra tù, nhân dịp về Huế và gặp lại một đứa cháu hiện làm cho một công ty gia công nhôm đồng hay lâm sản gì đó đã mô tả miếng ăn như sau: Mỗi khi có “chiêu đãi” phái đoàn này nọ, anh chàng giám đốc luôn luôn nói nhỏ với nhà hàng gói thêm cho anh ta ba phần ăn đem về cho vợ con và tính luôn vào hóa đơn thanh toán cho cơ quan.
Điều này, thực ta cũng lấy làm lạ là vì “giải phóng” đã được hơn mười năm, đâu đến nỗi còn đói khát như những ngày đầu, hay là vì bản chất tham ô, bần tiện thì lúc nào cũng vậy. Ai mời đi ăn điểm tâm buổi sáng, thì phải sữa, soda, hột gà là thứ đắt tiền nhất, ăn thì phải tô đặc biệt có hai hột gà, có khi ăn bún bò cũng thêm hai hột gà cho ra dân chơi sành điệu. Ba mươi năm sau, mặc dù sau khi đã có chức, có quyền, đối với quan quân trong chế độ ấy, miếng ăn vẫn còn là một thứ gì quí giá, được đánh giá quá lớn, bây giờ, đi theo chữ “ăn” lại thêm chữ “nhậu”. Chuyện kể, ở Biên Hòa có một Việt kiều về mở quán cà phê kinh doanh, nhưng công an phường không thích uống cà phê mất ngủ mà chỉ thích nhậu thịt rừng với bia ngoại. Họ mời ông đi nhậu bữa đầu tiên, ông nghĩ đó là xã giao và làm quen, ông nhận lời và lần đó dù công an mời ông, ông phải trả hơn một triệu đồng tiền ăn uống.
Lần thứ hai, công an phường mời nhậu, ông Việt kiều không né tránh được đành dẫn xác đi, lần này con số người tham gia đông hơn, không phải chỉ toàn thể công an phường treo bảng “đi họp” mà cả bạn bè, bà con của các bạn dân nữa. Ông chủ quán cà phê bấm gan vay nợ trả hơn hai triệu đồng cho một bữa nhậu, két bia chất cao thành tháp. Đến lần thứ ba, thì ông Việt kiều “tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng sách”, ông trốn trong cầu tiêu và nhờ vợ ra báo ông đi Saigon mua hàng vắng. Công An vẫn có kế hoạch, chúng dẫn nhau ra quán cũ, ăn nhậu ngất trời và bảo chủ quán ghi “hóa đơn” cho ông Việt kiều nọ, đặc biệt là còn hào hoa, rộng rãi “boa” cho ba em chiêu đãi, chuốc rượu trong quán nhậu và số tiền này cũng cộng luôn vào phiếu thanh toán. Tôi nghĩ là sau vụ này, chắc vợ chồng ông Việt kiều đã đóng quán kinh doanh, “di tản chiến thuật” về Mỹ rồi.
Cũng như nhiều người có cơ sở làm ăn trong quận, một ông chủ lò nhôm phải thay phiên tổ chức các bữa nhậu linh đình “đóng hụi chết” cho công an quận, không phải ngoài quán xá, mà ngay trong cơ quan mỗi chiều thứ bảy để tránh né “tai mắt của nhân dân”. Nhân viên công an, phường xã là những con ma đói, luôn luôn có mặt trong các buổi tang lễ, cưới hỏi, hội hè, đâu có miếng ăn thì ở đó có chính quyền địa phương.
Chúng ta hãy nghe một đoạn văn của Lâm Chương viết về một hoạt cảnh ở nông thôn, trong những tiệc rượu luôn luôn có bọn “quỷ thần chứng giám”: “Xã nghèo, có người dám chơi thế là chơi ngon. Bữa giỗ xem ra rất linh đình. Khách được mời ăn giỗ cũng rất phấn khởi. Thời buổi khó khăn, người ta thường trông vào miếng ăn. Có rượu thịt là có ruồi nhặng vo ve.
Nhà chật, Tám Nưa che cái chái ngoài sân, đặt thêm bàn. Cánh đàn bà ngồi trong nhà, mồm mép tía lia. Cánhđàn ông ngồi ngoài sân, cười nói ồn ào. Mọi người hỉ hả ăn uống. Hai bàn ngoài cùng, dành đãi công an và nhân viên chính quyền xã. Tám Nưa nói, đó là thủ tục không thể thiếu. Chỗ quy tụ đông người phải có quỉ thần chứng giám mới yên. Tôi nghĩ thời đốn mạt, người ta sống bằng mặt, không phải bằng tim. Kẻ có quyền thì tập thói lưu manh, bóc lột. Người yếu thế thì học chước dối trá, luồn lách … “
(trích trong “Những Đoản Văn Rời” của Lâm Chương)
Lại thêm một chuyện nữa về miếng ăn trong cuốn “Viết Về Huế” của nhà văn Tuệ Chương:
“Ngay sau 30 tháng 4, ông anh cả của anh rể tôi từ ngoài Bắc về. Anh rể tôi dọn cơm mời ông anh, có tôi dự. Tôi hỏi anh ta:
– Về đây, anh tính “công tác” gì?
– Tôi muốn làm Chủ Tịch Phường.
Tôi ngạc nhiên hỏi:
– Anh là kỹ sư đóng tàu, sao lại muốn làm chủ tịch Phường?
Anh ta cười:
– Ngoài Bắc, mấy người Chủ tịch Phường là sướng nhất, hết nhà này mời ăn giỗ, tới nhà kia”
(trích trong Viết Về Huế của Tuệ Chương)
Đó là chuyện ăn nhậu trên bàn tiệc, có hải sản, thịt rừng, bia ngoại, có chiêu đãi viên ngồi một bên chuốc rượu, đút thức ăn vào miệng, kể cả lau mồm lau mép cho thực khách. Đây là nói theo nghĩa đen, còn về nghĩa bóng trong xã hội này, tôi nghĩ không cần phải chùi mép cho người khác khỏi thấy, vì nhân dân thì đã quá biết, còn cơ quan liên hệ hay cấp trên, cấp dưới, cấp ngang, cấp dọc, thằng, con nào cũng ăn, thì cần chi phải giấu giếm, che đậy. Do vậy truyền thống của XHCN là những hợp đồng, những khế ước không bao giờ được thảo luận hay hoàn tất trong phòng sở, mà phải là nơi quán rượu, nhà hàng, bia ôm hay karaokê.
Đó là lối ăn có rượu để đưa cay thực hiện tại các nhà hàng, còn như ăn xi măng, sắt, gạch đá, hắc ín, xăng nhớt kể cả máy móc, dây nhợ thì không cần có rượu mà cơ quan nào cũng thi đua làm tốt. Chính báo chí trong chế độ đã xác nhận mỗi công trình đều bị cắt xới từ 30% đến 50% là chuyện thường tình, vì nhà thầu hay người cho thầu phải chi qua nhiều chặng, nhiều cấp, hàng ngang, hàng dọc, y như chiếc xe khách phải đứng lại quá nhiều trạm kiểm soát của công an vậy. Do đó, chung cư thì thiếu xi măng, cầu cống thì thiếu sắt, nhà trường thì thiếu gạch … đương nhiên là sẽ sụp đổ, có khi trước ngày khánh thành, mà nạn nhân thường là quần chúng vô tội. Đó là những miếng ăn độc hại và ăn đã trở thành một thói quen, một lề thói, trở thành một nếp sống văn hóa trong xã hội Việt Nam hiện nay.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.