This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Trung tá Timothy Truong được bổ nhiệm giảng dạy Khoa khoa học chính trị thuộc Học viện Không quân Hoa Kỳ (USAF Academy) tại Colorado Springs từ tháng 7, năm 2025. Ông là Giảng viên khoa học chính trị, dạy các khoá học về Chính phủ Hoa Kỳ, chính trị, an ninh Quốc gia và quan hệ quốc tế. Trung tá Timothy Truong từng là Sinh viên Sĩ quan thụ huấn và tốt nghiệp từ Học viện Không quân Hoa Kỳ năm 2010 với Văn bằng Cử nhân khoa học, chuyên ngành lịch sử. Khoa khoa học chính trị tại Học viện Không quân Hoa Kỳ có đội ngũ Giảng viên gồm các Sĩ quan mang cấp Trung tá, Thiếu tá và Đại uý hiện dịch và các Giáo sư dân sự giảng dạy các khoá học khoa học chính trị cho Sinh viên Sĩ quan.
Khoa khoa học chính trị là một phần trong chương trình giáo dục chính của Học viện Không quân Hoa Kỳ, phát triển và giảng dạy các khóa học về chính phủ Hoa Kỳ, quan hệ quốc tế và chính sách quốc phòng của Hoa kỳ. Khoa này chuẩn bị cho Sinh viên Sĩ quan hiểu được về chính trị Hoa Kỳ và quốc tế, sẽ định hình binh nghiệp của họ. Để làm được điều đó, Sinh viên Sĩ quan nghiên cứu các lý thuyết và tư tưởng chính trị, chính trị cạnh tranh, quan hệ quốc tế, chính trị Hoa Kỳ, an ninh quốc tế, quyết định quốc phòng, chính trị của các chính phủ nước ngoài.
Trung tá Timothy Truong là sĩ quan ngành tiếp liệu Không quân, ông đã phục vụ các vị trí chỉ huy trong lãnh vực tiếp vận, giáo dục, điều hành, quản lý nguồn lực và nhân sự đáng kể cũng như giảng dạy Chương trình Sĩ quan Không quân trừ bị (AFROTC) tại trường Đại học Penn State. Kinh nghiệm của ông trải rộng từ các Quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ, ông từng phục vụ tại Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ và Nam Hàn, với các nhiệm vụ hỗ trợ quan trọng như Chiến dịch yểm trợ Thống nhất (cứu trợ Ebola), Chiến dịch Freedom’s Sentinel ở Kabul với tư cách là Cố vấn tiếp liệu cao cấp của Afghanistan, và hỗ trợ tiếp liệu cho FEMA trong các cơn bão Ian, Helene và Milton.
Trung tá Timothy Truong trong buổi lễ thăng cấp ngày 25 tháng 5 năm 2025, tại Hesed House, Lone Star Flight Museum, Houston, TX (hình của facebook.com/HesedHouseWTX).
Trung tá Timothy Truong là con trai của người tị nạn Việt Nam, ông sinh ra và lớn lên tại tại Hoa Kỳ, ông rất hãnh diện về di sản văn hóa của cha mẹ, và biết ơn đất nước Hoa Kỳ đã cho ông cơ hội học hành và phục vụ quân đội mà ông đã trải qua gần 16 năm binh nghiệp. Hiệp hội cựu sinh viên Đại học Penn State đã chọn Thiếu tá* Timothy Truong, Sĩ quan điều hành tiếp vận khu vực phía Đông Hoa Kỳ của Bộ chỉ huy tiếp vận Quốc phòng cho Giải thưởng thành tựu cựu sinh viên năm 2022. Giải thưởng này vinh danh các cựu sinh viên từ 35 tuổi trở xuống vì những thành tựu chuyên môn xuất sắc của họ.
Sau khi tốt nghiệp Hoc viện Không quân Hoa Kỳ, Thiếu uý* Timothy Truong được chỉ định lần lượt phục vụ tại các đơn vị từ năm 2010 đến nay: Sĩ quan điều hành Phi đoàn không vận 730th tại Yokota AB, Nhật Bản từ năm 2010 đến năm 2013; Trưởng phi hành đoàn/Sĩ quan phụ trách nghi lễ, Phi đoàn tiếp vận 39 trú đóng tại căn cứ Không quân Incirlik, Thổ Nhĩ Kỳ từ năm 2013 đến năm 2014; Trưởng phi hành đoàn, Phi đoàn 607 bảo trì vật liệu, đồn trú tại căn cứ không quân Daegu, Nam Hàn từ năm 2015 đến năm 2016; Trưởng phi hành đoàn huấn luyện/Phụ tá Giáo sư nghiên cứu hàng không không gian, Phân đội AFROTC 720, Chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị Không quân (AFROTC) tại Đại học Penn State University từ năm 2016 đến năm 2019; Sĩ quan điều hành, Phi đoàn 97 tiếp liệu đồn trú tại Altus AFB, OK, từ năm 2019 đến năm 2022; Sĩ quan điều hành Cơ quan tiếp vận Quốc phòng – Khu vực phía Đông Hoa Kỳ tại Houston, TX từ năm 2022 đến năm 2025; Giảng viên khoa học chính trị, Học viện Không quân Hoa Kỳ từ tháng 7 năm 2025 đến nay.
Thiếu tá* Timothy Truong và các thành viên của Lực lượng đặc nhiệm khu vực phía Đông Hoa Kỳ (hình của dla.mil)
Trung tá Timothy Truong tốt nghiệp các Văn bằng: Văn bằng Cao học nghệ thuật và khoa học tác chiến quân sự, Đại học Không quân, Căn cứ Không quân Maxwell 9Air University, Maxwell AFB) năm 2023; Văn bằng Cao học lịch sử, Đại học Southern New Hampshire, Manchester, NH năm 2022; Văn bằng Cao học quan hệ quốc tế, Đại học Pennsylvania, University Park, PA năm 2019; Văn bằng Cao học quản lý tình huống khẩn cấp/thảm họa, Đại học công lập Hoa Kỳ, Charles Town, WV năm 2015; Văn bằng Cử nhân Khoa học, chuyên ngành Lịch sử, Học viện Không quân Hoa Kỳ, (USAF Academy) Colorado Springs, năm 2010.
Gần 16 năm phục vụ Không quân, Trung tá Timothy Truong được trao tặng các loại huy chương: Huy chương Defense Meritorious Service Medal; Huy chương Meritorious Service Medal; Huy chương Joint Commendation Medal with one oak leaf cluster; Air Force Commendation Medal; Huy chương Air Force Achievement Medal; Giải thưởng 2023 Penn State Alumni Achievement Awardee.
Trung tá Timothy Truong là 1 trong 60 nam, nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Không quân Hoa Kỳ (không tính nhiều vị đã về hưu và được thăng cấp Đại tá). Một số Trung tá Không quân gốc Việt được ghi nhận gồm có: Nữ Trung tá Anh Minh Pham, Sĩ quan điều hành an ninh không gian mạng Không quân Hoa Kỳ; Nữ Trung tá Theresa Nguyen, Bác sĩ nhãn khoa, Quân y Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Quoc V. Vo, Sĩ quan tình báo Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Hien Vinh Nguyen, Chỉ huy Phó, Phòng phục vụ học tập, Cục tác chiến và truyền thông, Bộ Tư lệnh huấn luyện và giáo dục Không quân Hoa Kỳ; Trung tá Viet Nguyen, Chỉ huy trưởng Phi đoàn Truyền thông 149 (149 CS), an ninh mạng và truyền thông, Không đoàn chiến đấu 149, Lực lượng Không quân Vệ binh Quốc gia Texas, và còn rất nhiều nam nữ Trung tá Không quân Hoa Kỳ gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: *Ghi theo thời gian còn mang cấp Thiếu tá,
Hổm rày mấy quan lớn CS Việt Nam kêu Facebook cộng tác với mình: Đừng cho dân lên Facebook chửi rủa, rồi rủ ren nhau đi biểu tình tưng bừng làm mấy đồng chí ăn nhậu hổng có yên hè.
Nhưng tụi Facebook ngoan cố không thèm cộng tác gì ráo; viện lẽ quyền tự do ngôn luận dẫu muốn cấm cũng đâu có cấm được. Làm bậy làm bạ, bịt miệng dân Việt Nam rồi công luận thế giới nó nhào vô chống đối cái kiểm duyệt nầy, tẩy chay, hậu quả là mất khách hàng quảng cáo thì cha tui cũng chết chớ đừng nói tới tui. “Thôi hổng dám dâu! Thông cảm chút đi nhe!”
Thua keo nầy thì bày keo khác… Đám tuyên huấn bèn bày ra cái chiêu láu cá, đánh trống lảng, lâu lâu tung ra một cái đề tài bá đạo, bá láp, bá xàm nào đó như cấm ăn thịt chó ở nội thành Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn vật; vì bọn Tây tư bản nó chửi rủa um sùm kìa.
Không những chửi mà còn đe dọa cóc thèm tới Việt Nam du lịch nữa là mình hổng có ‘xí’ được tiền ‘đô’ để bù vào cái ngân sách đang bị bọn tham quan ô lại tùng xẻo làm cạn quéo hết rồi.
Nghe vậy thì đám khoái ăn thịt chó viện lẽ đàn anh Trung quốc đã ăn thịt chó từ khoảng 500 năm về trước.
Rồi thời Mao Trạch Đông, chiến dịch đại nhẩy vọt bị thọt cẳng, què giò, hơn 70 triệu dân Tàu chết đói, phải ăn cả thịt người! Hổng nhờ thịt cầy nầy thì dân Tàu chắc chết hết ráo. Chó có công cứu CS; thì mình phải ghi công bằng cách tiếp tục ăn thịt chúng nữa vậy thôi.
Ăn rồi còn rủ rê người khác đến cùng ăn cho xôm, hằng năm phèng la quảng cáo ôm xồm: Lễ hội thịt chó! Thịt chó nguyên con, thui vàng rượm, được móc lủng lẳng móc trên các sạp hàng ở chợ Động Khẩu lớn nhất thành phố Ngọc Lâm, tỉnh Quảng Tây.
Mấy chú Ba cho rằng mùa hè nóng, ăn thịt chó mát, tăng cường sinh lý, chữa được bịnh trên bảo dưới hổng nghe thì ngu sao mà hổng hẩu xực ‘cẩu nhục’ chớ? Mấy người ăn heo, bò, gà thì tui ăn chó thì có khác gì nhau? Rồi Đại Hàn, Việt Nam đó họ cũng ăn tới vài triệu con một năm đó thấy hông?
Nói như vậy là vơ đũa cả nắm. Miền Nam mình sau 75 đói rã họng gần chết mà đa số bà con mình cũng hổng ai ăn thịt người bạn thân nhứt, thông minh nhứt, tình nghĩa nhứt, trung thành nhứt và nhiều cái nhứt nhứt… là con chó bao giờ! Bà con mình trong Nam cho rằng thịt chó không có quốc hồn quốc túy gì ráo. Ăn thịt chó, mèo là ác. Mà làm ác, xui lắm… Trời sẽ trả báo. Nếu có ăn là heo giả cầy tức thịt heo giả làm thịt chó vậy thôi.
***
Nhớ hồi mất nước, tui đang dạy học ở một cái quận lỵ heo hút, miền đồng bằng. Rán nấn ná vì thiệt ra tui hổng biết đi đâu, làm gì mà sống khi một cục đất chọi chim cũng không có.
Trường tui dạy là một trường tỉnh hạt ở quận, mỗi cấp chỉ có hai lớp, từ lớp 6 cho tới lớp 12. Học trò chừng 5, 6 trăm đứa; thầy cô được khoảng 20 là cùng.
CS Bắc Việt bèn gởi một đứa ở Hà Tây, một đứa ở Ninh Bình, thuộc tỉnh Hà Nam Ninh vào; gọi là A chi viện cho tỉnh Hậu Giang.
Hai đứa nầy vô làm ban giám hiệu để theo dõi, gạn lọc xem thầy cô có ai là phản động, do ‘CIA’ gài lại hay không?
Một hôm có tay Thanh tra từ Ty Giáo dục về trường. Ba đứa nó hùn được 18 đồng (Lương tháng giáo chức, dứt cháo, chỉ 5, 6 chục đồng thôi) vô cái Sóc Miên mua con chó chừng chục ký về, định giết thịt, làm dồi chó, rựa mận, chả chìa xúm nhau nhậu cho đỡ nhớ cái ‘hĩm’ còn ở ngoài miền Bắc.
Nắm cổ con chó về, nhốt vào cái bội bằng tre đan, (bội hay dùng để nhốt mấy con gà nòi đá độ). Trên nóc bội, có dằn cục đá. Bố con nhà nó, đứa mài dao xèn xoẹt định cắt tiết, đứa đi kiếm rơm về thui; tay còn lại qua chùa Tịnh Độ (chuyên bốc thuốc Nam) xin lá mơ; nhưng sư cụ biết tụi nó ăn thịt chó nên nhứt định không cho.
Thấy CS mài dao, con chó nó rét quá rán sức bình sinh, tung cái bội văng cục đá xuống nó lên đường bôn tẩu… chạy mất về nhà chủ cũ. Ai nói ‘ngu như chó’ là nói trật lất rồi!
***
Ở Úc cũng khá là lâu, tui thấy cách đối xử của dân Úc với chó, với mèo chắc học từ cái phong tục tập quán tốt đẹp của người dân miền Nam mình đó thôi?!
Ăn thịt chó là man rợ, cổ hủ, không văn minh gì ráo trọi hè. Vì chó cũng biết, buồn vui, đau đớn như người!
Đài Loan rồi Nam Hàn mới đây cũng đồng ý với Tây là sẽ không ăn thịt chó nữa. Đứa nào giết chó để ăn sẽ bị phạt tiền, hoặc đi ở tù.
Tây không những không ăn thịt chó mà còn thương yêu chó không thua kém gì những người thân thuộc. Cho chó lên truyền hình, đóng phim 101 con chó đốm, cho chó đi thi hoa hậu. Cơn bão mới đây đổ bộ vào miền Đông nước Mỹ gây ngập lụt thì lại thấy cảnh nhân viên cứu nạn bế chó lội bì bỏm trong dòng nước lũ để quay phim.
Xã hội Tây Phương nầy tôn thờ vật chất, chỉ vì đồng tiền mà người ta bội phản nhau lắm lắm; nên nhiều anh mình chọn sống cô đơn. Bị vợ bỏ ư? Ắt phải có ngay một con chó để bầu bạn, kẻo không, mình sẽ bị khủng hoảng tâm thần vì chìm ngập trong nỗi cô đơn.
Thằng bạn Úc của tui cũng vậy! Vợ bỏ ngày trước, ngay hôm sau nó rước về một em chó để điền khuyết chỗ của em yêu!
Nó nói: Với chó, mình cứ ra lịnh thoải mái không bao giờ bị cự cãi. Chó không bao giờ đem mình ra ‘phê bình kiểm điểm’ (cái nầy nghe quen quen)! “Sao chưa giặt quần áo, chưa cạo râu, tại sao nách lại hôi?” “Sao trên người lại có mùi lạ, vừa đi với con chó nào khác về phải không?”
Chó đơn giản, dễ hiểu! Không rắc rối như tánh của em yêu. Vui là vẫy đuôi, buồn là cụp tai lại. Mình lỡ quên mất sinh nhật của chó và… chẳng sao cả vì nó có biết đâu?
Chó thấy mình nhậu xỉn nó càng mừng vì nó sẽ có chè mà ăn. Chó giúp mình hạ huyết áp, trong khi chơi với mèo hai chân, coi chừng tối ngủ với vợ nhà, mớ xì bậy bạ ra là chết!
Thế nên chó được cưng chiều cũng là phải phải. Tuy nhiên cái gì cũng có cái mặt trái.
Chuyện rằng: Thằng nhóc Johnny lên 8 tuổi có nuôi một con chó tên là Buddy (nghĩa là Bồ Tèo). Johnny cưng Buddy lắm. Coi Buddy như là một người bạn tri kỷ, tri âm.
Một hôm bố Johnny đưa Buddy đi bác sĩ thú y. Khi về, bố báo hung tin: “Bác sĩ nói Buddy chỉ còn có 3 tuần lễ nữa để sống.”
Johnny nghe hung tin òa lên khóc nức nở. Bố Johnny ôm lấy con mình an ủi.
“Thôi phần số của Buddy như vậy là bố con mình phải chịu vậy thôi. Đâu cãi lại được ông Trời!”
Johnny gạt nước mắt nói: “Rồi bố có làm đám ma cho Buddy không?” “Dĩ nhiên là có rồi!” “Con có mời bạn cùng lớp đến được không?” “Dĩ nhiên là được rồi!” “Rồi tụi nó có bánh kẹo và cà rem không?” “Dĩ nhiên con và bạn sẽ có tất cả những gì tụi con muốn!”
Nghe vậy, Johnny gạt nước mắt, đề nghị là: “Buddy trước sau gì cũng chết! Thôi bố cho Buddy chết ngay bữa nay đi nhe!”
Bài học rút ra là: Tây thấy vậy… chớ hổng phải vậy!
***
Tây có cái ngộ là ca tụng chó hết lời. Nhưng ghét ai, lại giống như Mít mình, nó đem kẻ thù ra mà so sánh với con chó!
Chuyện rằng: Thời mồ ma đảng Cộng sản Liên Xô, McDonald, một tay tư bản Mỹ, có tính tò mò không biết cái giống gì xảy ra sau bức màn sắt của CS Liên Xô nên chạy vạy mãi mới xin được cái chiếu khán đến Nga mà du lịch.
Một hôm, McDonald chạy chiếc xe Lada Niva của Nga qua một căn nhà ở vùng quê thấy cái bảng: “Bán một con chó biết nói!!”
Là tư bản, thấy cơ hội mần ăn nào có lời là chộp liền, McDonald dừng xe lại bấm chuông xin xem qua con chó Nga nầy nó ra sao?
Chủ nhà “Ba-Lép- Xép” nói: “Đồng chí (ai nó cũng kêu đồng chí hết ráo hè) ra sân sau thấy một con chó Labrador đang ngồi chồm hổm tắm nắng là nó đó!”
“Ê Labrador! Chú mầy biết nói hả?” “Ừ biết!” “Kể tao nghe một câu chuyện gì hấp dẫn nghe chơi?”
“Tui phát hiện ra chuyện tui biết nghe, biết nói khi mới vừa lên hai tuổi chó, tức bằng 10 tuổi người. Thời nông trường tập thể làm ăn thất bại, đói quá, nên tui nộp đơn vô Phòng Bảo vệ Chính trị của Công an thành phố!
Đồng chí Giám đốc Công an bèn gởi tui đi thủ đô Moscow để làm việc cho Cơ quan Tình báo Liên Xô KGB. Nhiệm vụ của tui là chuyên ngồi nghe lén các lãnh tụ các nước phương Tây thù địch, lãnh tụ các nước CS anh em như Ba Lan, Đông Đức, Hungary, CS Bắc Việt, CS Bắc Hàn kể cả CS Cu Ba của Fidel Castro đang bàn mưu tính kế gì với nhau. Xong về báo cáo lại cho đồng chí Tổng Bí Thư đảng CS Liên Xô Leonid Brezhnev.
Làm ‘chó’ gián điệp cả 10 năm đó chớ. Được cả đống huân chương, kể cả huân chương Lenin nữa đó… Rồi ‘tổ chức’ tưởng thưởng cho tui một con chó cái. Nàng đẻ cho tui một đàn chó con. Nhưng tui cũng chán cái bọn KGB nầy ác quá, đàn áp đánh đập, giết người bất đồng chánh kiến như ngóe nên tui xin nghỉ hưu.
Chuyện nầy giữa tui và ông thôi! Đừng nói tới nói lui với ai nghe nha! Vì nhà có mạch, vách có tai; đề phòng tụi nó sẽ tước lương hưu, cách hết các chức của tui từng nắm giữ đó nhe!”
Nghe xong rất lấy làm ấn tượng, McDoanld bèn hỏi giá để mua về bán lại cho CIA để kiếm lời.
Tay chủ chó “Ba-Lép- Xép ra giá “Mười đô la Mỹ!“Mười đô la! Nè ông có điên không? Con chó tài nghệ như thế mà ông bán cho tui chỉ có giá mười đô thôi sao?”
“À tui bán nó chỉ có mười đô la thôi vì con chó nầy dóc tổ hè. Nó đâu có làm việc cho Cơ quan Tình báo KGB. Cơ quan KGB nầy trên cũng chó, dưới cũng chó nên nó đâu cần chó nữa. Con chó nầy nó ‘nổ’, vì nó biết ông là người Mỹ lờ khờ; chớ nó đâu có xí gạt được tui nè.”
Nói tới bóng đen, không thể không nhớ lại một câu chuyện cổ. Truyền thuyết chất đủ sự nông nổi, vụng dại, đầy kịch tính:
Hai vợ chồng có con mọn. Chồng mang họ Trương, vì lính thú phải đi trấn nhậm đồn xa. Vợ ở nhà đơn thân nuôi con dại, để dỗ dành con và làm nguôi nỗi nhớ chồng, mỗi tối thắp đèn lên, chỉ tay vào bóng chiếu trên vách: “Cha con kìa”. Lâu ngày, Trương được phép về thăm nhà, mừng vui gọi con lại nhưng đứa bé lắc đầu: “Không, phải đợi trời tối kia, khi ấy thì cha mới về”. Trương đau lòng nghĩ là vợ đã ngoại tình. Vợ chẳng tìm ra cách minh oan, lẳng lặng gạt lệ ra tới bên sông, trầm mình tự tử. Chiều xuống, đêm về, Trương thắp đèn lên. Nhìn bóng đen hắt vào vách nghe tiếng con reo vui: “Cha về rồi, đó mới đúng là cha”. Trương chợt hiểu, giật mình, nhưng đã muộn. Hối lỗi tìm ra bờ sông lập đàn chay mong giải oan cho vợ… Về sau vua Lê Thánh Tông hay chuyện đã hạ bút làm nên bài thơ trách cứ, cho khắc vào bia đá trước miếu vợ chàng Trương. Hai câu cuối là:
“Qua đây mới rõ nguồn cơn ấy Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng”. Lính thú đóng đồn phương xa, ngẫm lại, chàng Trương kia tốt phước hơn lính tráng thời Việt Nam Cộng Hoà mang thân tù tội bị bắt vào rừng sâu “cải tạo”. Khắp 4 vùng chiến thuật, trên từng cây số từ Bến Hải vào tới Cà Mau có mấy chục ngàn chàng Trương? Thời cuộc phũ phàng nhưng chàng Trương buổi ấy “ngon lành” hơn chàng Trương cổ tích. Trương nói cùng vợ: Xin em hãy cố quên anh đi. Em xuống sắc quá trong khi em còn cả đoạn đường thanh xuân trước mặt. Hãy tha lỗi cho anh, gắng nuôi đứa con mình thành người… Cực thân em quá, xin đừng oán trách anh, có tàn hơi anh cũng gắng nguyện cầu cho em được an vui bên ngoài cảnh giới này… Giới hạn cuối giờ thăm nuôi đã điểm, sương xuống lạnh, gió hiểm ác từ Trường Sơn len lỏi về cứa rách da thịt. Trong lán, ngọn đèn dầu vừa thắp lên: Miếu ai như miếu ngàn chàng Trương, ngọn đèn dầu tắt đừng nghe chúng, để tôi thì thầm với bóng đen, sót lại chỉ mảnh tình riêng ta với ta.
Ngày xưa (hoà bình an vui?) sao bá tánh có được một ông vua nhân hậu và rỗi việc đến thế nhỉ? Nhân hậu khi phê hai chữ phũ phàng, trong khi lỗi lầm chàng Trương mắc phải cần phải roi vọt cần phải đánh đòn răn đe: Chính mi đã làm nước nhà mất đi một người phụ nữ đức hạnh, thật thà. Rỗi việc là bề trên ham đi ngoạn cảnh, nghe chuyện trái ngang liền lấy đó làm điều, tức cảnh sinh tình, đề thơ vào bia đá rành rành, cho dù hậu sinh không ghé qua Thăng Long thành (để hoài cổ), chẳng bước chân tới đèo Ngang bóng xế tà cũng nhìn nhận là thơ mọc cùng khắp, thơ chen lá, lá chen hoa trăm loài đua nở. Hình như buổi ấy, oan ức kiện tụng muốn trình lên bề trên, đơn trương thảo ra đủ đầy niêm luật tựa như một bài thi phú? Ngày xưa lính thú Trương mù quáng trách vợ bạc tình phản bội. Ngày nay (sau 75) lính tráng miền Nam lại tự đấm ngực mình: Lỗi tại ta mọi đàng, vì ta mà em khổ tâm khổ trí tự hành xác trèo đèo vượt suối nhịn ăn để bới xách cho ta nắm xôi, cục đường. Nếu không thể “tô son điểm phấn ngạo với nhân gian một nụ cười” thì xin em hãy ôm con thơ dại mà tìm đường vượt biên. Con cháu, hậu bối của Lê Thánh Tông có làm ra thơ trách cuộc bể dâu cũng chỉ lén lút, hoặc nhẫm học thuộc lòng. Một trang kinh thấm đẫm mồ hôi nước mắt, có thể là huyết lệ sống để bụng chết mang theo. Họ sinh hoạt dưới ba tầng địa ngục, và họ, thực sự chỉ còn là cái bóng đen. Nói dông nói dài cũng chỉ cô lại: Chàng Trương cổ lỗ sĩ thật đáng bị nhận đòn roi, gián tiếp giết vợ mình và trực tiếp mang hạnh phúc mình có ra trấn nước. Suy ra, lên án chàng Trương xưa cũ chừng nào thì càng trân trọng tán dương những chàng Trương hiện đại chừng đó. Trang sử họ thầm lặng viết nên, hậu thế đáng khắc ghi, tưởng niệm, vì đâu nên nổi? Nhớ về một thời kỳ ngùn ngụt cả khói nhang, mờ quyện trên cuộc đất hung hiểm, vô thần, chẳng am miếu.
Không riêng ngọn đèn hiu hắt mà vợ chàng Trương thắp lên mỗi tối dùng để dỗ dành, vỗ về niềm đơn lẻ, ở trong văn học vẫn thường sử dụng tới hình ảnh bóng chiếu vào vách, bóng đọng dưới đường, bóng đi theo, lập lại trùng khít những động tác của chủ thể. Bóng và người là một, lại tách hai, song hành. Buồn miệng với cô quạnh, người mang tâm sự ra tỉ tê cùng bóng, nghĩ là bóng hiểu thấu, nguôi ngoai (?). Ở đâu có ánh sáng, ở đó có sự phản quang, soi chiếu. Ánh sáng làm xoá đi chút mông muội thường ẩn trốn vào bóng tối. Văn chương Trung Hoa ví ánh sáng là người quân tử, quang minh chính đại, phơi mặt ra khi xử sự, không hoá trang, đường đường chính chính. Ngược lại kẻ tiểu nhân vẫn thích hành động trong bóng tối, bóng tối đồng loã với tội ác. Những sách lược hiểm độc thường được bàn thảo, lên kế hoạch trong bóng đêm, tối như hủ nút. Và đối phương khi tìm cách đối kháng chống trả, người ta họp bàn dưới ánh mặt trời. Quan Công dẫn lính đi chinh phạt quân Tào Tháo vẫn luôn nhắm tới đại lộ, ngôn rằng chỉ hạng tiểu nhân mới quen đi tiểu lộ. Lỡ không bắt được đứa gian ác, liền ngửa mặt lên cao xanh mà quyết đoán: Lưới trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó thoát. Câu ấy chả có ai phán dưới bầu trời đen kịt cả. Thắp đuốc cũng khó mà lần ra “nó” đã lẩn trốn phương nao. Thế mới đẻ thêm một phụ chú: Chạy trời sao khỏi nắng hở thằng kia, con nọ!
Nhưng ở phương Tây, người ta nói khác đi: “Nếu không có bóng tối, bạn chẳng tài nào trông rõ những vì sao”. Họ chẳng bận tâm phân loại môi trường, điều kiện nào sản sinh ra hai hạng quân tử, tiểu nhân. Họ thích màn đêm, họ chuộng bóng mờ, họ lập luận: Những suy nghĩ thấu đáo nhất là khi bạn ngồi thu lu trong bóng đêm, ban ngày bạn thường biểu lộ sự bẳn gắt, nông nổi, bộp chộp. Những đứa ngủ giấc trưa, cho dù có vắt tay lên trán cũng không thể đơm đặt những ước mơ kỳ vỹ bằng đứa trằn trọc canh khuya. Bóng tối, với họ là căn nguyên của thơ mộng, của lãng mạn đằm thắm. Hitler từng để cho đời câu bất hủ: Khi anh ở trong hào quang, mọi thứ đều chạy theo anh; nhưng khi anh chìm vào bóng tối, đến ngay cả cái bóng của anh cũng chẳng hề bám theo.
Ngày đó, nhà văn nữ Nguyễn Thị Thuỵ Vũ viết nên cuốn “Nhang Tàn Thắp Khuya” (bốn chữ này vay mượn từ ca dao: Anh buồn còn chỗ thở than, em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya), sang nhà văn nữ khác, Tuý Hồng có truyện dài mang tựa “Tôi Nhìn Tôi Trên Vách”. Nhang tàn thắp khuya thế cho điều gì rất mực đơn côi, héo hắt, câm lặng. Mà Tôi nhìn tôi trên vách cũng làm rõ nỗi cô đơn tuyệt cùng, xao xác hơn cả Bà Huyện Thanh Quan khi viết “Một mảnh tình riêng ta với ta”. Ba nữ nhân kia tuyệt không đụng tới chữ bóng, nhưng tựu trung có thể bảo đó là thứ “ý tại ngôn ngoại”. Một thủ thuật của phép phân thân. Nhìn ngắm, tự khắc thấy chữ dùng nọ hàm chứa ý tuy một mà hai, tôi nhìn lấy bóng của tôi hoặc nhang đang cháy cụt kia là nỗi lòng của chính tôi vậy.
Nhà văn Mai Thảo cũng mang lời cảm thán vào câu thơ ông viết: “Nơi góc tường in cái bóng gầy”. Và dằn vặt hơn cả là Tô Thuỳ Yên, thơ ông nhốt chật những chiếc bóng tang thương: “Ta về một bóng trên đường lớn…” Khởi thuỷ đã dựng nên thứ cảnh quang mông quạnh, cô độc đến thắt lòng.
Ở phương này, cuối năm trời chóng tối, mở đèn lên ngó ra tuyết đổ lạnh, cơ hàn ngay cả chiếc bóng mỏng dính vừa in vào vách tường ở căn hộ cũ kỹ. Hắn vẫn ngồi co ro một mình viết vẩn vơ và chiếc bóng thầm lặng kia đôi lần như biết thì thầm sinh nhiễu sự: Viết cái gì đó? Viết để làm gì? Ừ nhỉ. Để làm gì? Làm gì? Không là gì cả. Nếu trời Hè hẳn đã bước chân xuống đường “ôi ta buồn ta đi loanh quanh chẳng vì đâu?”. Nhưng đang Đông, lịch hao mòn đi gần tới Giáng Sinh se sắt âm độ, đành trói chân ngồi đối bóng và trả lời bóng: Viết để chống đối với bó tay (chấm com). Viết để bắt đầu óc tập thể dục, ngầm biện hộ: Không phải về già ai cũng đều bị lú lấp. Chỉ ngần ấy, kỳ dư chẳng đèo bồng thêm một tham vọng nào khác. Bạn hiểu rồi mà, trong lúc này in ra được tập truyện, điều nọ chẳng phải là thứ đơn giản. Nhiêu khê không bút mực nào tả xiết. Và vướng mắc vào sự phi lý, tốn công hao sức rồi vô cớ tốn tiền hao bạc. Một đứa viết văn phải nên thủ thân chút tự ái làm vốn liếng. Văn chương chứ không phải là một món đồ để mang ra mặc cả, nói thách, xuống nước, van nài, bớt một thêm hai, quỵ luỵ. Hắn vốn rất dở dang ở mặt “ngoại giao” kiểu đó. Hắn ghét thương lượng, kì kèo chì chiết mặt chai mày sạn, hắn yêu hình ảnh một con bồ câu “vui thì đậu mà buồn thì bay”. Thong dong là thứ đáng ngợi ca, vô ngại. Nhớ Trịnh Công Sơn: Tôi như ngọn đèn từng đêm vơi cạn, lửa lên thắp một niềm riêng.
Hắn dự tính sẽ có một món quà mọn gửi tới các bạn văn đó đây nhân dịp năm cùng tháng tận, nhưng phút cuối đành cực lòng để trấn nước mộng tưởng. Bất thành, ướt nghe ngói, thấm lạnh lòng. Đành khôi hài: Bó tay chấm, hết. Hắn chẳng thông hiểu rộng Hán nôm. Hữu xạ tự nhiên hương là gì? Bù trất. Khi bạn cao tay nghề, thủ pháp thần sầu quỉ khóc, e rằng khi ấy sẽ có một nhà xuất bản đứng ra kêu đích danh tên bạn: “Thít hông? Chơi tới bến lun. Đừng bùn nữa mờ. Dị đi nhen”. Cái bóng đen nói: Nếu đó là sự thật thì há lẽ những đầu sách đang lần lượt xuất hiện đều do những kẻ có võ công thâm hậu bày ra thứ kung-fu huê dạng vung cước múa quyền? Đừng nói thế, chớ đơm đặt sự so sánh, sẽ vấp sai lạc quàng xiên bởi bá nhân bá bao tử, trăm họ bất đồng không thể ngồi chung êm thắm một nhà.
Không dưng nhớ sực tới câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
“Riêng có mình ta phai áo lục Còn em sau trước vẫn hồng nhan”.
Hắn đã từng phơi áo, phơi luôn mộng mị trên dây chùng, thảy bạc màu. Bạc như sắc tuyết đang vây bủa, xuống đầy ngoài kia. Viết để làm gì thì đã dóng hỏi, giờ cắc cớ để thắc mắc thêm: Vậy chớ in sách ra để làm gì? Ngồi không vọng động, bóng đen cũng im sững. Ừ, cũng chẳng biết để mần chi! Mấy trăm trang giấy in đầy mực đen ấy ví như hồng nhan. Mà hồng nhan thì đa truân, hồng nhan bạc mệnh, hồng nhan thật vắn số. Phai áo lục mà thấm béo gì hòng mang nó ra đối chiếu với sắc khuynh thành?
Những ngày cuối năm nói toàn những điều “không phải”. Hắn để ý: Có ai dầm thân đi trong băng giá mà chu miệng để huýt gió? Hề, không một ai. Cắn răng mà quờ quạng lê thân, rùn vai mà cắm cúi bước kẻo trợt ngã. Nhiệt độ mỗi khi một xuống thấp, nhiệt đổi qua hàn. Lạnh ơi, ta xin chào mi. Tắt ngọn đèn, bóng đen chẳng còn đậu ở đó nữa, biến mất. Đi thắp một cây nhang, cọng khói xám vụt lẩn trốn nhanh, hơn một chớp mắt. Trống không.
Thấm thía lời Mai Thảo:
Sách một dẫy nằm trơ trên giá Cạnh người thân thế cũng trơ trơ Sách, người hai cõi cùng hư hoại Nơi một ngàn chương thiếu một tờ.
Tôi gặp Trung Tá Võ Khâm lần cuối cùng vào buổi trưa thứ bảy, ngày 3 tháng 11 năm 1973. Một ngày mà tôi không thể nào quên, cho dù thời gian đã qua khá lâu và cuộc đời trải qua biết bao nhiêu dâu biển.
Hôm ấy, được tin tôi về phép sau một thời gian dài ở chiến trường Kontum, từ Nha Trang ông lái xe ra Ninh Hòa thăm vợ chồng tôi, cho quà các cháu và rủ bọn tôi ra ăn trưa tại quán Thái Thị Trực. Đây là quán nem có thương hiệu nổi danh từ rất lâu, không chỉ ở thị trấn Ninh Hòa mà khắp cả tỉnh. Cùng đi với ông hôm ấy có anh Trần Hữu Dũng. Anh Dũng nguyên là giáo sư trung học ở Nha Trang, động viên vào Khóa 16 Thủ Đức, lúc ở đơn vị tôi anh giữ chức vụ Đại đội trưởng Đại đội Chỉ Huy Công Vụ, sau này được điều động về làm Phụ Tá Trưởng Phòng Nhất Sư Đoàn. Anh vừa được thuyên chuyển về Tiểu Khu Khánh Hòa hơn ba tháng trước, nơi Trung Tá Khâm đang làm Tiểu Khu Phó. Đang ăn, bất ngờ có vợ chồng Trần Ngọc Thăng đến tìm tôi. Thăng là bạn cùng khóa Thủ Đức và sau này cũng về đơn vị tôi. Khi ấy Thăng cũng vừa bàn giao nhiệm vụ tiểu đoàn trưởng để chuyển sang trung đoàn khác và đang nghỉ phép cưới vợ. Cả bốn thầy trò hôm ấy đều rất vui mừng, bởi trước kia chúng tôi đều có thời phục vụ dưới quyền Trung Tá Võ Khâm, trong thời gian gần ba năm (11/1966 – 7/1968) khi ông là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44BB, một trong những trung đoàn thiện chiến và lập nhiều chiến công cho Quân Đoàn II/ QK2. Riêng tôi, đã từng có khá nhiều kỷ niệm đặc biệt với ông.
Tháng 3 năm 1965 ra trường, tôi được bổ nhậm về Tiểu Đoàn 3/44, môt đơn vị trực thuộc Sư Đoàn 23 BB, có bản doanh tại Ban Mê Thuôt, nhưng riêng tiểu đoàn lúc ấy được chọn làm đơn vị trừ bị, hành quân lưu động trong khắp lãnh thổ Vùng 2 Chiến Thuật, dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn. Liên tiếp mấy năm theo đơn vị, liên tục hành quân gần như khắp mọi nơi. Có khi buổi sáng còn ở núi rừng Quảng Đức, buổi chiều đã có mặt ở bờ biển Tuy Hòa, Phan Thiết. Thời gian này, sĩ quan không đủ, nên sau khi lên thiếu úy vài tháng, tôi được lên nắm đại đội. Ngày Quân Lực 19.6 năm 1967, may mắn được thăng cấp trung úy (nhiệm chức) và sau một lần bị thương ở chân trái trong trận phản phục kích tại Ngã ba Dak-Song, Quảng Đức, xuất viện, tôi được chỉ định sang làm Đại Đội Trưởng Đại Đội Chủ Huy Yểm Trợ, mấy tháng sau lại được chỉ định kiêm nhiệm Trưởng Ban 3 TĐ, thay thế Trung Úy Đặng Trung Đức vừa nhận lệnh thuyên chuyển về giữ chức vụ Trưởng Ban 3/Trung Đoàn thay Đại Úy Mai Lang Luông ra làm tiểu đoàn trưởng. Anh Đặng Trung Đức tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị Đà Lạt và là người bạn rất thân thiết với tôi bởi truớc đó, cả hai cùng làm trung đội trưởng trong một đại đội, mà anh đại đội trưởng là niên trưởng Khóa 16 VB của Đức. Và sau khi Đức lên nắm đại đội, tôi làm đại đội phó cho anh.
Thời gian này, Đại Tá Trương Quang Ân vừa về nhậm chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB. Ông là vị sĩ quan nổi tiếng từ Binh Chủng Nhảy Dù, gốc Thiếu Sinh Quân, từng tốt nghiệp thủ khoa hầu hết tất cả các khóa học tại những quân trường nổi tiếng: Khóa Thiếu Sinh Quân, Khóa 7 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt và hai khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, tại Đà Lạt, sau đó tại Leavenworth Hoa Kỳ. Ông có tiếng tài ba, liêm khiết nhưng cũng rất nghiêm khắc, đặc biệt đối với những sĩ quan dưới quyền. Làm việc với ông, dù ở phương vị nào, thường bị phạt dễ hơn là được khen thưởng, Ông cân nhắc rất kỹ lưỡng mỗi khi đề bạt hay thăng cấp một sĩ quan, ngay cả việc đề nghị huy chương.
Đại Tá Trương Quang Ân về nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB vào ngày 24.11.1966 thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Văn Mạnh đi làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV/ Vùng 4 CT. Ngay trong buổi họp đầu tiên, với sự có mặt của tất các sĩ quan thống thuộc Sư Đoàn, từ cấp đại đội trưởng trở lên, ông công khai tuyên bố cách chức Trung Tá Bùi Th. H. (Trung đoàn trưởng của tôi thời điểm ấy), vì đã có nhiều sai phạm trong thời gian làm trung đoàn trưởng, đặc biệt vừa mới có hành vi hối lộ, khi nhờ người mang (biếu) cho ông tân tư lệnh một bao thư tiền. Sự kiện trong buổi gặp đầu tiên này đã tạo nên một không khí khá nặng nề, căn thẳng trong Sư Đoàn. Riêng anh em ở Trung Đoàn 44 thì rất vui mừng, vì trong mấy năm làm trung đoàn trưởng, ông Trung Tá Bùi Th. H. này đã chia phe kết cánh, phá nát trung đoàn.
Người được chọn để thay thế chức vụ Trung Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Võ Khâm, vừa mới về Sư Đoàn và đang giữ chức vụ Trưởng Khối CTCT/ SĐ. Lúc ấy, mọi người đều nghĩ rằng, ông Tư Lệnh đã cân nhắc rất kỹ lưỡng, khi đưa ra quyết định này. Trước khi về sư đoàn, Thiếu tá Khâm từng là Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Quảng Ngãi. Giữ chức vụ này hơn hai năm, trong lúc quan lộ đang lên, được các thượng cấp hài lòng, thì ông xin từ chức. (Sau này ông cho chúng tôi biết, vì Quảng Ngãi là quê hương ông, nơi có cha mẹ và thân tộc họ hàng sinh sống, ông không muốn làm ảnh hưởng đến họ, và ngược lại cũng không muốn bị họ làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ của mình, Hơn nữa ở vùng này, tinh thần đảng phái cũng khá phức tạp, luôn đè nặng trên trách nhiệm của ông, nên ông xin từ chức sớm. Và từ đó ông luôn tránh những chức vụ có liên quan tới hành chánh, mặc dù đã nhiều lần được thượng cấp hỏi ý kiến).
Thiếu Tá Khâm về nhận nhiệm vụ khi bản doanh Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn đồn trú tại Tháp Chàm (Ninh Thuận), một tiểu đoàn tăng phái cho TK Ninh Thuận, một tiểu đoàn biệt phái dài hạn cho TK Lâm Đồng, đang hành quân tại Di-Linh, hai tiểu đoàn còn lại đang hành quân dài hạn tại Phan Thiết, dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Trung Đoàn. Trong đó có Tiểu Đoàn 3/44 của tôi và Tiểu Đoàn 4/44 vừa mới được thành lập xong hơn một tháng trước từ Dục Mỹ trở về.Thời gian này tình hình tỉnh Bình Thuận khá mất an ninh, đặc biệt tại Mật Khu Lê Hồng Phong, một cứ địa lâu đời của Cộng quân khá rộng lớn, kéo dài từ bờ biển đến rừng núi, có lợi thế cho địch quân xâm nhập, ém quân và cất giấu vũ khí. Đặc biệt một quãng đường khá dài gần 40 cây số cùa Quốc Lộ số 1 và đường Hỏa Xa nằm trong khu vực, gây gián đoạn lưu thông không những cho tỉnh mà còn cho cả nước.
Trung Đoàn đặt Bộ Chỉ Huy Hành Quân tại căn cứ Bình An, nằm bên Tỉnh lộ 8, giữa Phan Thiết – Thiện Giáo. Phía trên, khoảng năm cây số, tiếp giáp vùng núi, có căn cứ Virgina của quân đội Hoa Kỳ, đồn trú cấp đại đội cùng một pháo đội Pháo Binh.
Một ngày sau khi tiểu đoàn vừa chấm dứt cuộc hành quân tảo thanh bốn ngày trong Mật Khu Lê Hồng Phong, kéo về nghỉ quân dọc theo Quốc lộ, trong khu vực Mara, vào buổi trưa, tôi được anh âm thoại viên cho biết có Trung Úy Đức, Ban 3 Trung Đoàn muốn gặp tôi ở đầu máy. Đức báo cho tôi biết ông Trung Đoàn Trưởng đang trên đường đến thăm tiểu đoàn bằng trực thăng H-34. Đức bảo tôi lo an ninh bãi đáp và bảo ông tiểu đoàn trưởng chuẩn bị đón và thuyết trình. Anh còn nói thêm là anh không đi theo mà chỉ có Trung úy Minh Ban 2, Trung sĩ Kim Nữ Quân Nhân và một âm thoại viên mang máy tháp tùng. Cũng không có cố vấn Mỹ, vì anh cố vấn của trung đoàn và của cả tiểu đoàn đã về họp ở MACV.
Tiểu Đoàn tôi giống như tình trạng các tiểu đoàn khác, trong mấy năm qua không có tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn trưởng lúc ấy là Thiếu Tá Nguyễn Văn X., xuất thân từ hàng hạ sĩ quan trong quân đội Pháp. Nghe nói ông khá thâm niên, cả cấp bậc thiếu tá lẫn chức vụ tiểu đoàn trưởng, nên rất bất mãn vì không được thăng cấp hay giữ một chức vụ cao hơn, thường hay lầm lì, gắt gỏng, do đó cũng thường bị thuyên chuyển đi khắp Sư Đoàn. Không biết có phải vì lý do đó, hay giữa hai ông có điều gì không vui, mà khi mới nghe tôi báo tin, ông liền bảo: “Chú mày lo tiếp đón và thuyết trình cho ‘thằng chả’, bảo tôi đang lên cơn sốt rét.” Tôi vừa ngạc nhiên, ngỡ ngàng vừa bực dọc, lo lắng.
Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn trú đóng trong một ngôi nhà ngói bỏ hoang, nằm trơ trọi bên cạnh Quốc lộ, bị sập mất một phần mái, phải dùng mấy tấm poncho che đỡ mưa nắng. Nơi đón thượng cấp chỉ là một khoảng nền nhà loang lổ, một tấm bản đồ treo trên giá xếp và mấy cái ghế được đóng bằng thùng đạn Pháo Binh. Đang gọi báo tin cho các anh đại đội trưởng, nghe tiếng trực thăng, tôi vội kéo anh sĩ quan Ban 2 và anh sĩ quan Truyền tin ra đám đất trống phía trước Quốc Lộ, thả trái khói màu đánh dấu bãi đáp.
Khi bước xuống, thấy ba đứa tôi đứng nghiêm chào, Thiếu Tá Trung Đoàn Trưởng hỏi: – Ông tiểu đoàn trưởng của các anh đâu?
– Dạ, thưa Thiếu Tá, ông tiểu đoàn trưởng đang bất ngờ bị lên cơ sốt rét.
Tôi trả lời và nhìn thấy nét mặt ông sa sầm lại.
Tôi mời ông vào Bộ Chỉ Huy để nghe thuyết trình tình hình và phối trí lực lượng, nhưng khi vừa bước vào căn nhà, nhìn thấy ông tiểu đoàn trưởng đắp tấm poncho-light nằm dài trên ghế bố, nghiêng mặt quay vào vách, ông khựng lại, hỏi tôi một câu cộc lốc:
– Ông làm chức vụ gì ở đây?
Tôi đứng nghiêm:
– Thưa Thiếu Tá, tôi là Trưởng ban 3 kiêm Đại Đội trưởng Đại Đội Chỉ Huy!
Ông xua tay bảo tôi không cần phải thuyết trình mà đưa ông ra thăm đại đội. Ông theo tôi đến Ban Quân Y, Truyền Tin và dừng lại khá lâu ở Khẩu đội súng cối 81 và Đại bác SKZ 57 ly. Kiểm tra sơ qua các khẩu súng và hầm đạn, ông quay sang nghiêm mặt hỏi tôi một loạt các câu hỏi: khẩu đội có bao nhiêu người, súng nặng bao nhiêu, một quả đạn nặng bao nhiêu, cấp số đạn có bao nhiêu quả, bắn xa bao nhiêu??? Có câu tôi trả lời được, nhiều câu tôi im lặng vì mù tịt, các anh khẩu đội trưởng vừa lên tiếng nhắc bị ông quát, đứng im.
Có lẽ vì “giận cá chém thớt” nên ông lớn tiếng xài xể tôi một trận ngay trước mặt lính tráng thuộc cấp. Tính tôi xưa nay vốn chịu đựng và lễ phép với cấp chỉ huy nên chỉ ngậm môi đứng im chịu trận. Nhưng khi nghe ông nói “chỉ huy mà như ông thì chỉ có giết lính!” thì sự chịu đựng của tôi đã quá mức. Tôi “bùng nổ”, nhưng vẫn đứng trong thế nghiêm:
-Tôi xin không đồng ý với cách lãnh đạo chỉ huy của Thiếu tá. Là một cấp chỉ huy đâu cần thiết phải biết tường tận các chi tiết nhỏ nhặt như thế, bởi còn có các trưởng ban, các khẩu đội trưởng chuyên môn. Chẳng lẽ là Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy tôi cũng phải biết bên ban Quân Y có các loại thuốc gì, sử dụng ra sao. Việc đó có anh sĩ quan Trợ Y lo. Hơn nữa dù sao tôi cũng là một cấp chỉ huy trực tiếp với lính, nếu có sai phạm điều gì xin Thiếu tá cứ phạt tôi vài chục ngày trọng cấm hay cách chức tôi, chứ không thể mạt sát tôi trước hàng quân, như thế làm sao tôi còn tư cách để chỉ huy họ được. Tôi xin từ chức và xin Thiếu tá cho tôi giữ bất cứ nhiệm vụ nào khác, hay thuyên chuyển đến bất cứ đơn vị nào cũng được.
Ông khựng lại im lặng giây lát rồi bảo cô Trung sĩ Nữ Quân Nhân ghi tên và số quân của tôi rồi đi thẳng ra phi cơ. Tôi vẫn tháp tùng ông ra bãi đáp và đứng nghiêm chào ông khi máy bay cất cánh.
Ngay tối hôm ấy, Ban Truyền Tin nhận sư vụ điện của Trung Đoàn, yêu cầu tôi bàn giao nhiệm vụ và theo phương tiện sớm nhất về trinh diện Trung Đoàn Trưởng. Khi nghe ông Tiểu Đoàn Trưởng báo lại, tôi bảo “chắc vụ này là tôi phải gánh cho Thiếu Tá đây!”.
(Nhưng rồi sau đó không lâu ông Tiểu Đoàn Trưởng cũng nhận lệnh về trình diện Sư Đoàn. Không biết ông thuyên chuyển đi đâu, mà từ ngày ấy, cả trung đoàn không ai còn dịp liên lạc hay biết gì về ông, hơn nữa ông cũng chẳng thân thiết với ai)
Hai hôm sau tôi theo chuyến tiếp tế, về BCH Trung Đoàn xin trình diện, nhưng ông Trung Đoàn Trưởng không tiếp. Tôi xuống Ban 3 ngồi phụ việc với anh Đức và ăn ngủ chung một bunker với anh. Mấy lần gặp ông, tôi đứng nghiêm chào, nhưng ông vẫn im lặng tránh sang nơi khác. Anh Đức bảo tôi yên chí, vì tính ông trung đoàn trưởng hơi nóng, bốc đồng và hờn dỗi vậy thôi, chứ tốt và thương anh em lắm. Đúng một tuần sau, một buổi chiều khi biết ông vui vẻ và đang ăn cơm, anh Đức bảo tôi cứ đến gõ của xin gặp. Gõ cửa ba lần, ông mới mở, tay vẫn cầm bát cơm và đôi đũa, trợn mắt nhìn tôi, hỏi: “Ông lại muốn gì nữa đây?” Tôi đứng nghiêm thưa:
– Xin Thiếu Tá giao công việc cho tôi làm, bất cứ việc gì cũng được, nếu không thì xin trả tôi ra lại tiểu đoàn, vì tôi là sĩ quan, ăn lương quân đội. Thi hành lệnh Thiếu Tá tôi về đây đã đúng một tuần rồi mà không được giao nhiệm vụ gì, tôi thấy như mình đang ăn gian lương của quân đội!
Ông bảo anh lính nấu ăn riêng của ông mang lên thêm một cái bát, đôi đũa, rồi tự tay bới cơm vào bát, bảo tôi ngồi xuông dùng cơm. Tôi từ chối. Ông trợn mắt bảo: “ông lại không tuân lệnh tôi nữa phải không?” Tôi đành ngồi xuống phía đối diện, ngập ngừng cầm đũa. Cơm rất ngon nhưng tôi nuốt không trôi. Ăn xong, ông rót một ly whisky, bảo: “cái này thì tôi mời ông.” Lúc này tôi mới thấy ông nhoẻn miệng cười, bảo tôi ở lại đây chơi và nói chuyện với ông, rồi nhỏ giọng:
-Mấy ngày nay, tôi giả bộ làm nghiêm không thèm tiếp để xem ông có năn nỉ hay quậy phá gì không, nhưng mà ông ngon lành lắm. Tôi chịu!
Rồi ông đổi cách xưng hô:
-Thực ra tôi cũng hơi bực mình do thái độ vô kỷ luật và mất lịch sự của tay Thiếu tá X. (tiểu đoàn trưởng), nhưng sau đó nghĩ lại tôi thấy mình nóng, la chú mày hơi quá, sau đó thấy tôi nghiệp và quí chú, vì chú tỏ ra khẳng khái và nói năng cũng chí lý. Tôi thích những người thẳng thắn như vậy, chứ cứ cúi đầu gọi dạ bảo vâng thì tôi chán lắm! Thôi, chú ở lại đây làm việc với tôi, kể từ nay mình xem như anh em.
Ông bảo tôi cứ tạm phụ làm việc với anh Đức, phụ trách ở Trung Tâm Hành Quân, lo thêm việc bay tiếp tế, sắp xếp trực thăng vận và các cuộc di chuyển. Đi họp hành với các Tiểu Khu hay Sư Đoàn ông luôn gọi tôi theo. Ông còn bảo tôi sang ăn cơm với ông và dọn đến phòng của ông ở cho vui, vì phòng còn rộng, nhưng tôi tìm cách từ chối, bảo thích ở với anh Đức, bởi là bạn thân từ lúc mới ra trường, mấy năm ở cùng một đại đội.
Sau trận Mậu Thân, Trung Đoàn tạo chiến thắng lớn, tiêu diệt gần như toàn bộ lực lượng địch, giải tỏa thành phố Phan Thiết, đặc biệt khu lao xá nằm sát tòa tỉnh từng bị Cộng quân chiếm đóng, Thiếu Tá Võ Khâm được đặc cách thăng cấp trung tá tại mặt trận, nhân dịp này ông cũng được nhận một huy chương ngôi sao bạc của Quân đội Hoa Kỳ. Buổi lễ trao gắn cấp bậc và huy chương được tổ chức trang trọng tại Tòa Hành Chánh Tỉnh Bình Thuận dưới sự chủ tọa của Đại Tá Tư Lệnh Trương Quang Ân, Đại Tá Cố Vấn Trưởng Sư Đoàn và có cả Tướng Peers, Tư Lệnh Các Lực Lương Hoa Kỳ Tại Cam Ranh.
Sau đó, Trung Đoàn chỉ để lại khu vực núi Tà Dôn một tiểu đoàn, các đơn vị còn lại, kể cả Chi Đoàn 4/8 TQV tăng phái, cùng Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn di chuyển về Sông Mao, tiếp nhận doanh trai của Sư Đoàn 5 BB để lại. Tuy nhiên toàn bộ hậu cứ vẫn còn ở Tháp Chàm, vì chưa đủ phương tiện và an ninh lộ trình để chuyển về Sông Mao. Doanh trại mang tên “Trại Lý Thưởng Kiệt” bây giờ chính thức là bản doanh của Trung Đoàn 44BB. Một doanh trại khá rộng lớn, khu MACV, cư xá sĩ quan còn khá mới và đẹp, đặc biệt tư thất dành cho Trung Đoàn Trưởng là một villa mới, rộng rãi và nhiều phòng ốc, nằm không xa và có cửa bên hông để bước sang Trung Tâm Hành Quân.
Khi khu tư thất vừa được chỉnh trang và sắp xếp đầy đủ tiện nghi cần thiết, ông kéo tôi về ở với ông, giao cho tôi một phòng nhỏ phía sau. Đúng lúc bà xã tôi từ Ninh Hòa vào thăm (lúc này đang mang thai đứa con đầu lòng), ông bảo tôi lấy xe của ông đi đón và nhường cho tôi phòng ngủ của ông, vì có cái giường ngủ khá rộng và trong phòng đầy đủ tiện nghi hơn, ông cũng cho anh tài xế chở anh đầu bếp đi chợ Phan Rí mua nhiều tôm cá tươi về đãi vợ chồng tôi. Ông gần gũi thân tình, xem vợ chồng tôi như là em út trong nhà. Ở chơi với bọn tôi hai hôm, tiệc tùng vui vẻ, rồi ông chia tay về Đà Lạt, nhân được nghỉ phép năm ngày. Vợ con ông sống ở Đà Lạt và rất hiếm khi đến đơn vị gặp ông.
Trung tá Khâm xuất thân từ một dòng dõi thế giá ở Quảng Ngãi. Ông từng theo học tại đại học Hà Nội và nghe nói có Cử nhân văn chương Pháp, nói tiếng Pháp và tiếng Anh rất lưu loát. Ngoài cái dáng trí thức, ông còn là một sĩ quan phong độ và có tiếng khiêu vũ đẹp và điêu luyện trong sư đoàn. Nhiều nữ sinh, cô giáo, kể cả một số “bà chủ” doanh gia “mết” ông, nhưng ông chỉ “văn nghệ” cho vui, chứ luôn trung thành với bà xã, hơn nữa bà cũng từng là giai nhân một thời ở xứ Hoa Anh Đào- Đà Lạt. Trong một dịp hành quân tại Đà Lạt, ông có kéo tôi đến nhà dùng cơm. Vợ ông dáng dấp quí phái, luôn vui vẻ bặt thiệp. Khi ấy ông bà có bốn con nhỏ, cháu nào cũng xinh xắn dễ thương.
(Ông Bà Võ Khâm)
Cùng lúc thành lập đại đội trinh sát, Trung Đoàn nhận thêm một tiểu đoàn Pháo Binh 105 ly và được tăng phái dài hạn một đại đội Công Binh để chỉnh trang doanh trại, sửa sang phi trường, thiết lập hệ thống phòng thủ, các kho đạn, kho xăng, kể kể kho xăng JP4 cho trực thăng Hoa Kỳ. Các tiểu đoàn tăng phái dài hạn cho TK Lâm Đồng, Ninh Thuận đều nhận lệnh trở về doanh trại Sông Mao để được tái trang bị và bổ sung quân số, tái huấn luyện tại chỗ. Lúc này Trung Đoàn đảm đang rất nhiều công việc, ông bảo tôi sang làm Trưởng Ban 4 Trung Đoàn thay thế một vị đại úy Khóa 6 Thủ Đức có lệnh giải ngũ. Ông cũng giao cho tôi trách nhiệm lập kế hoạch và xin phương tiện, phối họp lo việc an ninh lộ trình để di chuyển toàn bộ hậu cứ từ Tháp Chàm về Sông Mao. Sau khi sắp xếp hậu cứ xong, tôi tiếp tục theo ông trong các cuộc hành quân.
***
Tháng 5-1968, Trung Đoàn được tăng phái Thiết Đoàn 8 Kỵ Binh do Trung tá Nguyễn Xuân Hường chỉ huy từ Ban Mê Thuột di chuyển xuống Sông Mao, tăng cường thêm một Đại Đội Công Binh của Quân Đoàn, thành lập Chiến Đoàn Đặc Nhiệm nhằm giải tỏa toàn bộ Mật Khu Lê Hồng Phong, phát quang cây cối và thiết lập những con đường ngang dọc nhằm chia cắt mật khu để dễ quan sát và kiểm soát. Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn Đặc Nhiệm đặt tại khu vực Long Hoa, trong một bunker lớn được Công Binh thiết lập.
(Tr Tá Võ Khâm trong cuộc hành quân tại Mật Khu LHP tháng 5/68)
Vào một ngày nghỉ quân để tu bổ các xe M-113, cơ giới Công Binh và nhận tái tiếp tế, tất cả sĩ quan cơ hữu và tăng phái có lệnh tập trung tại Trung Tâm Hành Quân (khá lớn) để chờ đón vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Thói quen của ông Tư Lệnh, thường không cho biết trước chính xác thời điểm ông đến, đích thân ông hay sĩ quan tháp tùng chỉ gọi khi trực thăng sắp đáp. Hôm ấy không biết máy móc trục trặc điều gì mà ông gọi mấy lần vẫn không nghe âm thoại viên trả lời. Khi nghe tiếng trực thăng đảo mấy vòng. biết ông Tư Lệnh, nên Trung úy Đức tung trái khói màu đánh dấu bãi đáp và báo Trung Tá Khâm và Trung Tá Hường ra đón Tư Lệnh. Đại Tá Trương Quang Ân bước vào phòng họp với thái độ rất giận dữ, rảo mắt hỏi “ông nào là sĩ quan Truyền Tin?” Trung úy Nguyễn Văn Muôn đứng lên trình diện. Ông Tư Lệnh nghiêm nét mặt, ra lệnh một vị đại úy tháp tùng (Đại úy Dương Đức Sơ, Phụ Tá Phòng 1 Sư Đoàn) dùng trực thăng C&C của ông đưa Trung úy Muôn vào giam ở QCTP Phan Thiết. Không khí căn thẳng, nặng nề. Bất ngờ Trung Tá Khâm đưa tay về hướng Đại úy Sơ, nói lớn trong sự bực dọc:
-Anh không được đưa Trung úy Muôn của tôi đi đâu cả. Anh ta không có tội tình nặng nề gì đến phải bị giam như thế. Nếu có giam thì xin giam tôi đây, vì tôi là cấp chỉ huy ở đây, là người chịu trách nhiệm trước Đại Tá Tư Lệnh, chứ không phải là trung úy Muôn.
Rồi ông quay sang, đứng nghiêm nhìn thẳng vào Đại Tá Tư Lệnh:
– Xin lỗi Đại Tá, kể từ giờ phút này, tôi xin được từ chức Trung Đoàn Trưởng, xin Đại tá đề cử người thay thế.
Không khí nặng nề, ngột ngạt. Mọi người vẫn đứng im tại chỗ. Đại tá Tư Lênh quá bất ngờ, trố mắt, giận xanh mặt, không nói một lời nào, rời khỏi TTHQ lên trực thăng bay đi.
Dù không biết việc làm của ông Trung Đoàn Trưởng đúng hay sai ở mức độ nào, nhưng hầu hết sĩ quan có mặt hôm ấy đều lộ vẻ cảm kích và thán phục thái độ cương trực cùng với lòng yêu thương, chở che thuộc cấp của ông, đặc biệt trước một vị Tư Lệnh nổi tiếng nghiêm khắc như Đại tá Trương Quang Ân. (Có lẽ trong cuộc đời chỉ huy, ông chưa bao giờ nghĩ sẽ gặp phản ứng của một sĩ quan dưới quyền như thế.)
Hai tuần sau, Trung Tá Khâm có lệnh bàn giao Trung Đoàn cho Trung Tá Nguyễn Bá Thịnh, từ Trường Võ Bị Đà Lạt thuyên chuyển về. Hai người cũng đã từng quen biết và gia đình Trung Tá Thịnh cũng sống ở Đà Lạt.
Trung Tá Khâm về BTL Sư Đoàn, tạm thời đảm nhận chức vụ Tham Mưu Trưởng, thay thế Trung tá Châu Văn Tiên theo học Khóa CHTM Cao Cấp. Sau đó vài tháng, ông xin thuyên chuyển về Quân Đoàn III, và làm Chỉ Huy Trưởng một TTHL của Quân Đoàn tại Long Hải – Phước Tuy, Vũng Tàu (không phải TTHL Vạn Kiếp).
***
Khoảng giữa năm 1971, trong một chuyến công tác tại quận Ninh Hòa, ông bất ngờ ghé thăm bà xã tôi, cho quà các cháu và cho biết là ông vửa được thuyên chuyển về Nha Trang, làm Tiểu khu Phó TK Khánh Hòa, Ông bảo nhắn cho tôi biết và khi nào có dịp về Nha Trang nhớ đến gặp ông. Mấy tháng sau, tôi về Nha Trang, ghé vào Tiểu Khu tìm ông. Ông mừng lắm, bảo tôi theo ông về Giảng Hotel (còn có tên Khách sạn Thanh Hà), một khách sạn lớn nằm cạnh bờ biển Nha Trang, đưa tôi lên căn phòng lớn ở tầng ba. Phòng có hai giường đôi và đầy đủ tiện nghi, có cả cái bếp nhỏ. Ông bảo mặc dù được ông Tỉnh trưởng Lý Bá Phẩm cấp cho một căn cư xá nhỏ nằm cạnh Tiểu Khu, nhưng ông xin nhường lại cho người khác, thuê dài hạn căn phòng trong khách sạn này sống cho thoải mái, hơn nữa thỉnh thoảng còn đón bà xã từ Đà Lạt xuống chơi. Ông cũng quen thân với Tướng Nguyễn Ngọc Oánh, CHT/ TTHL Không Quân, nên khi nào có đông đủ các con xuống thăm, ông được Tướng Oánh cho mượn Phòng Khách của Không Quân nằm trong Trại Long Vân, kế phi trường Nha Trang, rộng rãi và nhiều tiện nghi hơn để các cháu được thoải mái. Ông còn cho biết ông chủ Giảng Hotel vốn là bạn vong niên nên giá cả cũng rất phải chăng. Ông đi tìm đưa cho tôi mấy cái chìa khóa, bảo cứ giữ lấy, khi nào có dịp về Nha Trang cứ ghé lại đây ở chơi với ông. Tôi từ chối, bảo tình hình chiến trường Cao nguyên coi bộ bắt đầu sôi động, thế nào Trung Đoàn cũng phải di chuyển lên đó. tôi khó có dịp về lại đây.
(cùng vợ con – vài tháng trước khi ông hy sinh)
Trong lúc dùng cơm trong restaurant ở tầng dưới khách sạn, ông tâm sự:
-Tình hình lúc này ngày càng bất lợi cho miền Nam, sau trận Hạ Lào Lam Sơn- 719, báo chí Mỹ đua nhau nói xấu miền Nam thậm tệ, có dấu hiệu Mỹ rút quân bỏ rơi VNCH. Đáng buồn là mấy ông lớn cứ vẫn chia phe kết nhóm, không tập trung sức lực để giữ nước, một số thì tham nhũng, trong lúc anh em binh sĩ ngày càng khổ cực, chết chóc nhiều hơn ngoài chiến trường. Moa nản quá, mấy lần xin được giải ngũ về Đà Lạt kinh doanh với bà xã mà không được. Đang tính xin chuyển về một nơi nào ở Đà Lạt thì Đại Tá Phẩm lại xin đích danh moa về đây. Anh Phẩm cũng từng là bạn thân lúc trước.
Khi chia tay, ông nắm vai tôi dặn dò:
-Chú mày ở sư đoàn lâu quá rồi, tình hình này sẽ không khá đâu, xin thuyên chuyển về đây ở với moa cho vui, có khó khăn gì cứ cho moa biết.
Tôi gật đầu hứa với ông, mặc dù trong lòng chưa hề tính tới điều này.
***
Mãi từ ngày ấy cho đến ngày 3.11.1973, tôi mới có cơ hội được gặp lại ông, khi từ Nha Trang ông lái xe chở theo anh Trần Hữu Dũng ra Ninh Hòa thăm vợ chồng tôi và rủ đi ăn trưa tại quán nem Thái Thị Trực. Khi chia tay, ông bảo tôi sáng ngày mai, Chủ Nhật, đưa vợ con vào Nha Trang ở chơi với ông vài hôm. Ông còn móc túi lấy xâu chìa khóa, tách ra một chìa đưa cho tôi, bảo là chìa khóa căn phòng của ông trên Giảng Hotel, khi nào đưa vợ con vào cứ việc tới đó mà ở. Ông sẽ ngủ đêm trong văn phòng, bởi những ngày trực hay cấm trại ông vẫn ngủ trong đó.
Tôi cầm lấy chìa khóa, nhưng hẹn là đến chiều thứ hai bọn tôi mới có thể vào Nha trang với ông được, vì sáng mai, Chủ Nhật, tôi đã có hẹn phải đưa mấy cháu về quê thăm thân phụ tôi. Lâu lắm rồi, tôi cũng chưa về phép thăm ông. Trước khi bước lên xe, ông và cả anh Dũng siết tay tôi thật chặt, nhắc cùng gặp lại vào chiều thứ hai.
Không ngờ đó lại là cái siết tay cuối cùng.
Chiều thư hai, vợ chồng tôi cùng mấy đứa con đến Nha Trang với lòng hăm hở. Vào Tiểu Khu, tìm đến văn phòng ông thì thấy đóng cửa. Tôi đến văn phòng Tham Mưu Trưởng, nằm bên cạnh, gặp trung Tá Ngô Quý Hùng, mà tôi đã có dịp nói chuyện với ông vai lần trước đó. Tôi tròn mắt thẫn thờ khi Trung tá Hùng cho biết là Trung Tá Võ Khâm bị mất tích tại Bu-Prang, Quảng Đức vào tối hôm qua. Tôi ngạc nhiên tột cùng. Nước mắt bỗng trào ra, chân như muốn khụy xuống. Tôi bảo với Trung Tá Hùng là tôi mới gặp ông ấy trưa hôm qua khi ông ra thăm vợ chồng tôi ở Ninh Hòa. Trung tá Hùng giải thích trong niềm xúc động:
-Quả thật là mỗi con người có cái số. Đúng ra là Trung Tá Khâm không có nhiệm vụ phải lên Quảng Đức, nhưng trước đây hơn một tuần, tình hình tại Quảng Đức bất ngờ sôi động, trong lúc các đơn vị chủ lực bị kẹt ở Kontum và Pleiku, nên Quân Đoàn mới lệnh cho Tiểu khu Khánh Hòa thành lập gấp một Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, đem theo hai tiểu đoàn điạ phương quân và đại đội trinh sát của Tiểu Khu tăng cường cho Quảng Đức, hỗ trợ cho mặt trận Đức Lập. Lên trên đó được năm ngày, thì Tướng Toàn đến thị sát, khiển trách Trung tá Ph., Chỉ huy trưởng BCH/ Chiến Thuật, chê ông này không có khả năng và kinh nghiệm tác chiến, vì mấy năm chỉ ngồi ở các Ùy Ban Liên Hiệp Quân Sự Bốn Bên. Tướng Toàn nêu đích danh Trung Tá Võ Khâm, khi gọi điện thoại chỉ thị Đại tá Phẩm đưa ông lên thay thế gấp. Sáng sớm Chủ Nhật, hôm qua, Trung Tá Võ Khâm bay lên Quảng Đức bằng trực thăng, chưa kịp chỉnh đốn xong hệ thống phòng thủ, thì ngay buổi tối, cả một trung đoàn CS có cả chiến xa T-54 tấn công tràn ngập ngọn đồi tại Bu-Prang nơi BCH Chiến Thuật trú đóng, sau khi bắn hàng ngàn quả pháo đủ loại vào căn cứ. Sau gần nửa tiếng đồng hồ cầm cự, vì quân trú phòng quá ít, lực lượng tiếp viện không thể đến kịp, hầu hết sĩ quan đều bị chết hay bị bắt, trong số đó có Trung Tá Võ Khâm, Trung Tá Huỳnh Trung Quận, Đại Úy Trần hữu Dũng… (Trung Tá Huỳnh Trung Quân nguyên là CHT/ Trung Tâm YTTV/ TK Kontum và Đại úy Trần Hữu Dũng nguyên là Phụ Tá Phòng 1/ SĐ 23BB, cả hai vừa mới thuyên chuyển về TK/ Khánh Hòa và tháp tùng Trung Tá Khâm lên Quảng Đức).
(Căn cứ Bu Prang – nơi Tr.Tá Võ Khâm đã vĩnh viển nằm lại)
Trung Tá Hùng biết tôi là em út và rất thân quen với Trung Tá Khâm nên cho biết bà Võ Khâm đã được báo tin và đang trên đường từ Đà Lạt xuống đây, ông có hẹn sẽ đón bà, bảo tôi ngồi chờ. Gặp lại bà trong tình huống này, tôi chỉ biết cúi đầu chào rồi ngậm ngùi ngồi nghe bà nói chuyện với Trung Tá Hùng. Sau khi nghe tường trình sự việc, bà khóc ngất, gục xuống bàn. Trung Tá Hùng mời bà và tôi cùng đi dùng cơm tối, nhưng tôi chối từ, vì trong lòng đang có quá nhiều cảm xúc. Nhớ tới cái chìa khóa phòng mà Trung Tá Khâm đã ưu ái đưa cho tôi hôm thứ bảy tại Ninh Hòa, tôi lấy ra và đưa lại cho bà. Bà bảo sẽ ở lại Nha trang vài hôm để chờ theo dõi tin tức của ông. Tuy nhiên, Trung Tá Hùng nói nhỏ cho tôi biết, theo lời kể của một số binh sĩ thoát ra được, Trung Tá Khâm đã chết ngay từ những cơn mưa pháo, trước khi chiến xa tấn công tràn ngập căn cứ.
Tôi rất đau buồn vì đã vĩnh viễn mất đi một vị đàn anh khả kính, một cấp chỉ huy cương trực, luôn sống hết mình với thuộc cấp. Riêng với tôi, ông xem như một người em. Có với tôi rất nhiều kỷ niệm. Tôi không bao giờ quên ông, quên những ngày làm việc dưới quyền, bên cạnh ông, cùng hình ảnh hiền lành và cử chỉ thân tình ông đã đối với vợ chồng tôi, đặc biệt trong lần cuối cùng tại quán nem Ninh Hòa, chỉ trước một ngày ông hy sinh.
Sau 1975, trong những ngày tù tội khốn cùng tại các trại tù tận vùng Việt Bắc, tôi bất ngờ gặp lại anh Huỳnh Trung Quận tại Trại 6 Nghĩa Lộ. (Anh bị bắt trong trận Bu-Prang cùng một số sĩ quan khác.) Tôi còn nhớ mang máng lời kể của anh về trận đánh tại căn cứ Bu-Prang ngày ấy. Khi căn hầm BCH bị ngập khói cay và bị sập một phần do pháo CS bắn vào, Trung Tá Võ Khâm đã chạy ra, chui vào gầm chiếc xe truyền tin phía trước, và ngay sau đó chiếc xe này bị pháo thiêu hủy, anh nghĩ rằng ông không kịp thoát ra và tử thương ngay tại đó. Có thể bọn chúng đã đào hố chôn các tử thi ở một chỗ nào đó, cũng có thể xác Trung Tá Khâm đã bị thiêu hủy. Chúng tôi đều nhắc tới ông với lòng tiếc thương, xúc động, nhưng rồi thầm nghĩ, có thể việc hy sinh bất ngờ của ông, dù có làm đau lòng cho gia đình, con cháu, nhưng biêt đâu lại có ý nghĩa, vinh quang cao cả hơn là nếu ông vẫn còn sống để phải nhận nỗi khốn khổ nhục nhằn như chúng tôi cùng những bạn bè của ông hôm nay?
Sau khi ở tù ra, tôi bất ngờ gặp lại người bạn học cũ ở Nha Trang, anh Trương Tiến Ích, nguyên là trung úy Trợ Y của BCH / Chiến Thuật Khánh Hòa, dưới quyền của Trung Tá Khâm, khi tham dự trận đánh Bu-Prang năm ấy. Ích bị bắt. Một ngày sau, khi bị trói tay dẫn đi cùng một số tù binh khác trên một triền núi thì bị phi cơ thả bom. Lợi dụng lúc bọn VC náo loạn, tìm chỗ ẩn nấp, Ích lăn xuống núi chui trốn trong một hang đá, cà giây trói vào cạnh đá cho đứt để tháo ra, rồi đến tối, nhìn sao Bắc Đẩu tìm hướng đi, mãi hơn năm ngày sau mới về đến được Đức Lập. Anh kể lại trận đánh và trường hợp Trung Tá Khâm tử trận cũng trùng hợp như lời của anh Huỳnh Trung Quận trong trại tù số 6.
***
Mới đây, bất ngờ có dịp liên lạc với các cháu, con của Trung Tá Khâm, tôi rất cảm động khi biết là phu nhân của ông cũng đã qua đời từ lâu, và sau 1975 bà cùng các cháu đã từng trải qua một thời lầm than cơ cực, Bây giờ mấy cháu lớn vẫn sống ở Đà Lạt, cháu trai út, sinh ra sau khi bố không còn, nên được bà cô mang về quê nội chăm sóc từ nhỏ, lớn lên trong ngôi nhà từ đường ở Quảng Ngãi, sau này khi lập gia đình thì chuyển về sống ở Phan Rang để gần các anh chị, còn hai cháu khác đang ở Mỹ. Dù qua nhiều thăng trầm, nhưng cuộc sống của tất cả các cháu đều được hoàn mỹ, các cháu nhỏ nội ngoại thì đều học hành thành đạt. Tôi mừng thầm và nghĩ phần lớn có lẽ nhờ vào đức độ của Ông Bà. Trông tấm ảnh các cháu gởi cho, tôi thấy phảng phất hình ảnh của Ông Bà ngày trước, cháu nào cũng khôi ngô, xinh đẹp, và có đậm nét nhân hậu, dễ thương.
(Phần mộ của Bà Võ Khâm nằm cô đơn một mình tại Đà Lạt)
Chính các cháu đã gợi lại ký ức giúp tôi ngồi viết lại những dòng này, dù rất muộn màng nhưng với đầy cảm xúc. Và qua tâm tình, các cháu cho biết, khi còn bé thì bố đã mất và mẹ cũng qua đời sớm, nên các cháu hoàn toàn không biết gì về bố mình ngày xưa, đặc biệt là đời quân ngũ cũng như cả cái chết của ông. Đó là lý do để tôi ngồi viết tỉ mỉ bài viết khá dông dài này.
Xin nguyện cầu, ở một cõi xa xăm nào đó, Ông Bà vẫn mãi nắm tay bên nhau trong niềm hạnh phúc vĩnh hằng. Nơi đó sẽ không còn chiến tranh, thù hận và chia ly, đau khổ. Cầu mong các con cháu của ông – một cấp chỉ huy đã hết lòng yêu thương đồng đội, một chiến sĩ đã chiến đấu và hy sinh trong nghiệt ngã, vùi thây tại chiến trường – được ơn trên ban cho nhiều ơn phước.
Cầu nguyện linh hồn Ông luôn sống mãi cùng hồn thiêng sông núi.
Phạm Tín An Ninh
(tháng 10. 2021)
Hình ảnh 3 cháu mà tôi đã có dịp liên lạc (đặc biệt cháu nào cũng rất giống bố)
“Bây giờ ai cũng đi cả rồi. Tướng, Tá, Úy, HO, ODP, con lai, sở Mỹ, vượt biên, cải tạo. Ai cũng đi nước ngoài. Chỉ còn lại những thương phế binh, cô nhi quả phụ và sau cùng là tử sĩ.
Xin đừng quên chúng tôi, đã 25 năm rồi.”
(Trích báo cáo của Thương Phế Binh Biệt Khu Thủ Đô
công tác tại Nghĩa Trang Biên Hòa – 1999)
Theo danh từ Hán Việt thì nghĩa địa là đám đất người ta vì nghĩa mà quyên góp để làm chỗ chôn người, trái lại nghĩa trang là ruộng nương để lấy hoa lợi mà giúp đỡ người nghèo, chứ không phải là nơi để chôn người chết.
Tuy vậy ngày nay, nghĩa trang hay nghĩa địa người ta cũnghiểu chung một nghĩa, có chăng là ngày nay ở quê nhà, nghĩa trang sang trọng được chú ý bội phần, còn nghĩa địa là nơi chốn nghèo hèn.
Nghĩa trang như Nghĩa Trang Liệt Sĩ chôn người đã chết cho chủ nghĩa Cộng Sản, Nghĩa Trang Mai Dịch ở Hà Nội để chôn các quan to, đảng viên lớn, còn nghĩa địa thì ở đầu làng, cuối xóm cho bần dân hay những người chết ngày xưa nay đã trở thành hoang phế. Trên Quốc Lộ 1 từ Nam ra Bắc sau này, thực tình tôi đã thấy vô số Nghĩa Trang Liệt Sĩ được dựng lên với những chiếc cổng cao đồ sộ, phía trong những ngôi mộ ngay hàng thẳng lối quét vôi mới trắng phau, để phân biệt với những nghĩa địa xiêu lạc, không người trông nom, hoặc vì nghèo khó, hoặc vì không còn ai để chăm sóc hương khói. Phân biệt như thế, không phải là những lời nói ngoa, ngày nay ta vẫn thường nghe người nghèo, vô gia cư, sống bằng nghề hốt rác, nhặt bao ny lông, làm nhà ở chung với người chết trong nghĩa địa chứ chưa bao giờ nghe ai trong đám nhà nghèo dám dựng nhà trong nghĩa trang.
Ngày xưa chúng ta cũng gọi là Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, nơi chôn cất 16,000 tử sĩ VNCH từ một Tướng Lãnh cho tới một Binh Nhì, mà tiếc thay cuộc đời dâu bể đãtrở thành một thứ nghĩa địa lúc nào không hay. Những ngày đầu, người bỏ nước ra đi, kẻ bị lưu đày tù tội, người bị đánh tư sản, kẻ bị đưa đi kinh tế mới, người sống chỉ còn biết cúi đầu nhìn đất, xót xa cho một cuộc đổi đời, sự sống héo mòn còn đâu mà nghĩ tới người chết. Bức tượng Tiếc Thương bằng đồng của điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu ngày nào mô tả người lính buồn ngồi tư lự gác súng ngang đùi, đôi mắt đăm chiêu đã bị chiến xa của quân thắng trận kéo sập đem về gần sông Đồng Nai, bên trái xa lộ, nhưng xe bị lầy không kéo được. Năm 1976, tượng được kéo lên sân banh Dĩ An rổi bỏ đấy. Người miền Nam vẫn thương tiếc người chiến binh VNCH và thần hóa bức tượng Tiếc Thương, thường lui tới khấn vái hoặc cầu nguyện trong những lúc nguy khốn hay gặp chuyện khó khăn, bức tượng lại được kéo đi, ngày nay không biết ở đâu?
Các nắm xương tàn trong các ngôi mộ ở nghĩa trang đã được thân nhân lén lút cải táng, nhưng toàn bộ các bia mộ đều bị đập phá, đào cậy, điêu tàn và hoang phế. Mỗi năm vào những ngày cận Tết, thân nhân tử sĩ lên viếng thăm các ngôi mộ đều bị công an làm khó dễ và theo dõi.Cho mãi hai mươi năm sau (1995), khi tượng đài Chiến Sĩ Việt Mỹ sắp được xây lên ở Little Saigon thì ký giả Gordon Dillow của tờ nhật báo Orange County Register mới có một bài báo nói về Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa với những lời như sau: “Có lẽ không nơi nào cần Đài Tưởng Niệm cho bằng nơi một bãi đất ở Biên Hòa. Hai mươi năm trước, đây là Nghĩa Trang Quốc Gia lớn nhất, với Đài Tưởng Niệm dành cho các chiến sĩ miền Nam VNCH chết trận. Bây giờ, bãi đất này hoang vu, không được chăm sóc. Đài Tưởng Niệm bị tróc sơn, hình thì không nguyên vẹn. Biết bao nấm mồ đã bị đào xới tan hoang, mất vĩnh viễn”. Và: “Nơi đây là Nghĩa Trang của những người thua trận. Họ ở dưới mộ không vẻ vang. Và có lẽ họ cũng chẳng an nghỉ được.” … “đang bị những kẻ chiến thắng dày xéo. Họ cuốc mồ, đào mả … ” (bản dịch của Nguyễn Hoàng Lan. VNN)
Trong khi những hài cốt của binh sĩ Hoa Kỳ được chính quyền mới sưu tập, nâng niu như quốc bảo, để làm con tẩy của ván bài chính trị, món quà nhử mồi trong bàn thương thuyết thì nắm xương tàn của người lính miền Nam được mô tả như trên. Cách đây vài năm, Nguyễn Đình Bin, Phó Thủ Tướng sang Mỹ, ve vãn “khúc ruột nghìn dặm”, đã gặp một phái đoàn cộng đồng Việt Nam tại Hoa Thịnh Đốn đặt thẳng vấn đề chuyện Nghĩa Trang, nhưng rồi kết cuộc cũng chẳng đi tới đâu. Vấn đề hôm nay, dù đã ba mươi năm trôi qua, không phải vì thiếu tiền mà vì đầu óc còn đặc sệt chuyện hận thù, chưa gột rửa được. Chúng ta hy vọng gì cho tới ngày lính Bắc, lính Nam cùng nằm chung một Nghĩa Trang. Về phía miền Nam ngày trước, đã đành trong bao nhiêu năm “nhất tướng công thành vạn cốt khô”, đã đành có tướng bất tài buôn xương bán máu chiến sĩ, nhưng tới giờ này, xin đừng lợi dụng thêm những nắm xương khô trong Nghĩa Trang hoang tàn ngày trước để xây thêm những bậc thang hư danh. Không đợi phải đến giờ này để kêu gọi chính quyền sở tại tu sửa lại Nghĩa Trang, không phải mãi tới ba mươi năm sau, những “tướng công thành” mới nhớ tới thuộc hạ què cụt, lê lết tấm thân giữa chợ đời.
Từ năm 1997, Nhà Văn Hóa San Jose và Nhóm Huynh Đệ Chi Binh đã có chương trình giúp đỡ các thương phế binh VNCH. Trong này nhóm TPB Biệt Khu Thủ Đô (Saigon – Gia Định) đã được gợi ý về việc sửa sang, tu bổ, quét dọn những ngôi mộ không có thân nhân tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa và đã được giúp đỡ phương tiện từ San José để hoàn thành công việc này. Có vị hảo tâm, cảm động trước nghĩa cử này đã gởi 2,000 rồi 1,500 đô la để trợ lực cho nhóm TPB trên, không như một vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội, năm 1992 đã gởi đúng $100 gọi là để giúp cho thương phế binh và cô nhi quả phụ VNCH mà ông đã bỏ lại không thương tiếc mười bảy năm về trước. Từ khi có các cộng đồng tỵ nạn khắp trên thế giới được thành lập; ở đâu chúng ta cũng có những nhóm, hội, tổ chức để lo quyên góp tiền giúp đỡ cho các TPB ở quê nhà, từ Sacramento cho đến Washington, DC. Ba mươi năm nay, nếu ngồi chờ cho các nhà chính trị cuối mùa phô trương những dự định cứu giúp thì e quá muộn màng. Điển hình cho các công tác nhân đạo này, nhóm Huynh Đệ Chi Binh ở Bắc Cali đã giúp cho hơn 3,000 hồ sơ TPB với số tiền trên $200,000, nhóm HO Cứu Trợ TPB&QP-VNCH ở Nam Cali đã chuyển đến tay 4,500 chiến hữu bất hạnh của chúng ta số tiền gần $300,000. Ở Arizona, Oregon hay Sacramento … đồng hương chúng ta cũng đã giúp đỡ TPB những số tiền tương đương như thế.
Còn như rồi đây, chính quyền Cộng Sản Việt Nam có tuyên truyền rằng họ có ý định chấp thuận cho tu bổ lại Nghĩa Trang Biên Hòa thì đó cũng là một thứ tâm lý trang điểm cho chế độ, cũng như gần đây có những bài bản đang được trang điểm cho chính sách tôn giáo. Chúng ta cũng biết, ba mươi năm, mọi thứ đều đã qưá muộn màng, nghĩa trang đã điêu tàn, hiu quạnh mà lòng người thì thất vọng, giá băng về lòng “tử tế”của kẻ thắng trận.
Facebook, một trang mạng xã hội có hơn 2.5 tỉ người xài, nghĩa là hơn 1/3 dân số thế giới, từ con nít 13 tuổi trở lên tới ông già sắp đi bán muối! Trẻ già bé lớn gì khi đắm chìm trong một ‘mê cung’, một vũng lầy của chúng ta khi đã vào thì không còn biết lối ra, càng ngày càng lún vì bị nghiện (tức ghiền)!
Trên Facebook, người ta tâm sự bất cứ chuyện gì, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu qua cái iPhone. Từ chuyện anh yêu về Việt Nam đi uống beer ôm đến chuyện bà già chồng đến chơi mà không báo trước. Bất cứ lúc nào, sáng còn chưa ra khỏi giường, trưa lúc trời bỗng đổ cơn mưa, tối ngồi một mình độc ẩm với ly rượu đỏ!
Nếu sử dụng đúng đắn, Facebook là nơi để học hỏi. Ðôi khi một bức ảnh ý nghĩa trên Facebook có thể làm thay đổi suy nghĩ hơn cả ngàn lời giáo huấn. Ðôi khi một câu chuyện cảm động trên Facebook có thể làm thay đổi cả một đời người.
Mục tiêu của Facebook là kết nối mọi người với nhau; nhưng sự thực là nó làm người ta xa nhau hơn. Chẳng cần mỏi cẳng (nếu đi bộ) hoặc tốn tiền Uber để gặp nhau; chỉ cần qua Facebook là thấy mặt nhau (không phải chỉ hai đứa mà một bầy cũng được). Rồi bên ni một ly, bên tê một ly mà bụng không phải phập phồng nhậu xong hổng biết tới phiên thằng nào sẽ trả?
Facebook cũng làm tui và em yêu ngày một cách xa hơn! Em ôm cái ‘laptop’ trong phòng em; tui ôm cái ‘laptop’ trong phòng tui nên có khi một tuần không thấy mặt nhau. Em chỉ cần gởi một cái ‘message’ là: “Tới giờ anh giặt đồ, rửa chén!” Là tui lui cui làm bổn phận người chồng mà không cần giơ cái bản mặt khó thương của tui ra cho em thấy mà chi.
***
Còn ở các nước Phương Tây, Facebook làm nhiều đứa bị bể nồi cơm. Một đứa làm cho hãng ‘Pepsi Cola’ bắn hình lên Facebook đang cầm một lon ‘Coca-Cola’ là ngày mai khỏi vô bấm thẻ; vì con nhỏ Trưởng phòng Nhân viên, cũng qua facebook, nó đuổi mình rồi!
Facebook làm nhiều chánh trị gia Úc về nhà đuổi gà cho vợ nếu là nam; còn nữ thì về te te rẹt rẹt mua beer nhậu để đỡ cái buồn rầu chỉ vì lỡ ‘post’ lên những lời lẽ kỳ thị sắc tộc, phân biệt giới tính, coi thường quý chị em mình hay bài Do Thái (những nhà tài phiệt rất thế lực) chẳng hạn.
Dân ngu khu đen giải sầu nỗi cô đơn, lên Facebook để người người làm báo, ‘post’ chuyện tào lao với hằng trăm lỗi chính tả lên để nghe chúng chửi. He he!
Ðám học trò lên Facebook thì lợi dụng quyền tự do ngôn luận ‘post’ bài nói xấu cha mẹ, thầy cô, bức hiếp, sỉ nhục bạn bè dẫn đến việc có bạn trẻ tự tử vì bị ghép ảnh ở truồng!
***
Nói nào ngay trên Facebook tui cũng học được nhiều điều hay, điều mới và lạ. Tui mới vừa học sơ sơ được cái bịnh vĩ cuồng do một bác sĩ tâm lý có cầu chứng tại Tòa chỉ dạy rằng: Người bị bệnh vĩ cuồng chỉ quan tâm đến mình, luôn thổi phồng tầm quan trọng của mình, ảo tưởng về thành công của bản thân; muốn người khác ngưỡng mộ và tôn sùng mình nhưng lại thiếu niềm cảm thông với người khác.
Bất cứ chỗ tụ tập đông người nào mà ai đó thì thích tìm mỗi cơ hội để cầm được cái ‘mi-cà- rô’, lên giọng thầy đời qua những lời triết lý người nói đã không hiểu mà người nghe cũng ù ù cạc cạc luôn. Nói từ giờ Thìn tới giờ Dậu, nói đến đèn sắp lụi tim vì hết dầu, để chỉ nói về mình; cóc cần cử tọa có lắng nghe hay ngáp dài ngáp vắn.
Người bị bệnh vĩ cuồng không bao giờ nhận lỗi, thậm chí nổi cộc khi nhận được những lời nhận xét không đúng ý mình hoặc cảm thấy tức giận, phát cuồng khi bị chỉ trích.
***
Tuần rồi, trên Facebook có một bài viết ký tên là Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ phán rằng: “Ðiều quan trọng là sống lâu hơn, là có nhiều của cải. Vì vậy chúng ta phải cố gắng để sống khỏe mạnh. Nên uống nhiều nước, ngay cả khi không khát.”
(Úy Trời đất ơi! Ông bà mình xưa giờ dạy: “Ðói ăn khát uống”. Hổng khát thì uống làm gì chớ? Bắt cái thận nó làm việc không ngừng nghỉ chắc hổng chóng thì chày cái thận nó đình công là ông cũng chết!
(Hay là xưa giận vợ coi mình hổng ra ‘cà ram’ nào hết nên Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ lỡ dại quất một hơi, chục vỉ ‘Panadol’, nhưng sợ chết bèn uống chừng chục lít nước để rửa ruột đó chăng? Rồi từ kinh nghiệm nhèm đi chầu ông bà ông vải nầy mà Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ đã phát kiến ra liệu pháp nước lạnh nầy chăng?)
Rồi khuyên: “Ði kiểm tra sức khỏe thường xuyên, cho dù không ốm đau” (?!) Bà con mình xưa giờ không xài chữ ‘kiểm tra’, xét giấy sức khỏe đâu. Thầy đời Cao Minh Tự Đại mà xài chữ đi ‘khám bệnh’. Có bệnh thì đi khám (bất thường hoặc định kỳ). Hổng có thời thôi! Ðừng giành bác sĩ với những người đang bị bệnh thiệt chớ.
Còn về tiền bạc, Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ kể một câu chuyện là: “Một ông Trùm người Trung Quốc qua đời, để lại cho vợ 1.9 tỉ đô trong ngân hàng. Bà vợ ông sau đó đã lấy người lái xe của chính ông. Người lái xe nói: Tôi đã nghĩ tôi phải làm việc cho ông chủ mình. Nhưng giờ đây tôi mới nhận ra rằng cả đời ông chủ làm việc cho tôi!”
Tui e rằng Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại’ đặt dóc hổng có căn. Vì tay tài xế đào mỏ nầy làm cách chi mà rớ được cái 1.9 tỉ đô của ông chủ mình để lại chớ. Rớ được bà chủ là may lắm rồi, là chó táp phải ruồi. Còn tiền bạc của vợ công chồng chỉ tính từ ngày đôi ta xáp lại với nhau thôi nhe! Ðừng có nằm mơ giữa ban ngày.
“Rồi khi chúng ta chết đi, tiền của chúng ta vẫn còn ở trong ngân hàng! Cả cuộc đời làm việc thì đến 70% số tiền kiếm được là dành cho người khác tiêu. Nên có đồng nào là xào đồng nấy hổng cho ai hết ráo. Học cách bằng lòng ngay cả khi bạn không giàu. Cuộc sống này rất ngắn ngủi, vì vậy hãy hưởng thụ nó một cách trọn vẹn nhất!”
“Học cách thỏa hiệp ngay cả khi bạn là người đúng”. Ðúng là cái lời khuyên tầm sàm bá láp: dân ngu khu đen hãy thỏa hiệp, hãy đầu hàng trước cái sai quấy; mặc ai đè đầu cỡi cổ cũng được; vì ‘tranh đấu’ rồi ‘tránh đâu’ để khỏi bị ‘trâu đánh’.
Mấy lãnh tụ các nước CS độc tài nó khoái Thầy đời ‘Cao Minh Tự Đại nầy lắm đó nhe. Nếu ngài xin qua nước Venezuela là được Maduro nó nhận làm đệ tử liền hè. He he!
Cá chết rồi, để giúp đẹp mặt, người ta ướp cho nó chút muối lên mình mẫy vốn sẵn tanh hôi. Carol không bao giờ ăn cá cho dù là thứ “vô địch ngư” mỗi lát khi bán ra giá không dưới 40 đô. Nó săng chắc như thịt cua và ngọt ngào như thịt của tất cả mọi sinh vật trú dưới đại dương hợp lại. Carol có lối luận chuyện khác lạ: Cá đẹp khi nó vẫy vùng bơi lội trong nước, mang nó đặt vào lòng đĩa… no fucking way. Cá và muối, đó chỉ mới ngắt khúc đầu của một câu thành ngữ, phần sau nguyên dạng là “con cãi cha mẹ trăm đường con hư”. Dĩ nhiên là hoàn toàn được viết bằng tiếng Việt, chỉ riêng người Việt mới thủ đắc lấy nó. Tây tà hả, con cãi cha mẹ hà rầm và có khi cha mẹ nghệch mặt ra: Chúng đúng quá, ta hư hỏng quá, sao ta mãi can thiệp quấy rối tới đời sống riêng tư của nó thế. Khác với Carol, Neil rất thích ăn cá, nó bảo cá chứa nhiều hàm lượng omega-3, rất có lợi cho cơ thể con người, và Neil là thằng con luôn cự cãi đấu võ mồm với nhị vị song thân. Cuộc chiến nào cũng dẫn tới hồi buông màn với hoạt cảnh một kẻ khóc một người cười. Đang ở năm thứ hai đại học, Neil bỏ ngang để xuôi Nam ghi danh vào trường đào tạo Cảnh sát đặc nhiệm. Bỏ lại đằng sau giấc mộng vụn vỡ của thân sinh, câm nín. Tuy chưa học tập việc tác xạ Neil đã bắn gục hình ảnh một tên bác sĩ kỹ sư ngay bên thềm nhà và mọi người sống trong địa hạt yên bình này không hiểu ra cớ sự do đâu Neil đi nuôi mộng trừ gian diệt bạo. Hắn lặng lẽ xa tôi từ dạo ấy, điều này kéo theo chuyện tôi dần thưa gặp mặt Carol. Tôi cũng chẳng đào đâu ra lý do để đến thăm hỏi hai ông bà hiền lành nọ. Họ nấu ăn rất tệ nhưng khi họ mời tới dùng bữa, họ sẽ lấy làm vui vẻ mang thân ra hầu hạ cái đứa “thực bất tri kỳ vị” kia. Cả ông bà rất khoái khẩu món phở gà và chả giò trong khi Neil thích xơi đồ Nhật và Carol khoái nhai thực đơn Pháp. Không cứ là vấn đề ẩm thực, ngay chuyện giải trí xem phim đọc sách mỗi người đều có riêng một trình độ, gu thưởng ngoạn cá biệt và sẵn lòng phun nước miếng vào mặt nhau để bảo vệ thứ chủ quan mình vừa trình bày. Neil bảo tại sao chúng ta phải mất nhiều calories chỉ vì một bên ưa ăn cá bên khoái ăn gà? Carol thì thầm, tranh cãi với kẻ ngốc sẽ chứng minh có hai đứa ngốc.
Mùa hè năm đó, như mỗi năm, như đa số bọn sinh viên nghèo, tôi đi làm bán thời gian cho một cửa hiệu phục vụ mọi thứ liên hệ tới sports. Nhân viên sẽ diện đồng phục do “bổn tiệm tự vẽ kiểu” và thú thật tôi chưa bao giờ thấy có bộ đồ thể thao nào xấu xí tới mức ấy. Cũng may khi mặc vào nó không khiến tôi độn thổ, nó gây sự chú ý cho ai đó và rồi tôi gặp lại Carol. Lâu quá, bao nhiêu năm rồi? Có hơn hai năm rồi còn gì. Làm ở đây à, giỏi nhỉ! Trông tôi có gì đổi thay? Carol mập hơn trước nhưng tôi biết cách đánh trống lãng. Tôi giúp được gì cho quý khách đây? Làm như thể là một nhân viên đam mê nghề nghiệp, tôi kéo Carol đi gần hết chu vi rộng rãi của tiệm. Thực sự thì tôi đang chây lười lao động, bắt được con bò lạc và khi sánh vai bên nhau tôi tha hồ hít thở hương hoa của Carol, một mùi vị ấp ủ nhiều kỷ niệm. Thực sự thì con bé vừa tốt nghiệp trung học này đã thay đổi nhiều thứ quá, nó già trông thấy và xem chừng bất cần đời hơn xưa. Cái nó chẳng thay đổi có lẽ là chuyện: Suốt đời không ăn cá. Tôi đồ vậy mặc dù nó mang vẻ đẹp hoang dại của một mỹ nhân ngư, không vướng mùi rong rêu, thơm nồng nàn kiểu những loài hoa nở rộ ở xứ nhiệt đới, sau cơn mưa. Giày chạy bộ thứ nào tốt? Nó hỏi.Tôi mang tới cho Carol hai hiệu: New Balance và Nike. Tôi không hiểu chữ tốt, tôi chỉ nhắm tới giá tiền cao nhất đồng thời mẫu mã ngó bắt mắt. Carol giống tôi, ghét màu mè thích đen xám. Ngay cả bộ đồ bó người chạy jogging cũng vậy. Đen đúa và giá thì trời ơi đất hỡi. Chẳng sao cả, chả nhiều nhặng gì đâu, chưa kể với tư cách là nhân viên trong cửa hiệu, trình mã số cho máy tính tiền quét, một cách tự động, chúng sẽ giảm đi 15% số thành. Dầu gì thì tôi cũng thiết tha có ngày nhìn thấy Carol chạy bá thở ở khúc đường vắng, mặt đỏ ké và cơ thể coi mòi thon thẻo hơn hiện tại. Mấy giờ thì xong? Ờ, tiệm đóng cửa vào 6 PM. Ông bà bô vẫn khoẻ? Chết tiệt, tui quên nói má tui mất rồi. Chia buồn khi nghe .Thế Neil, có tin gì về nó không? Một tay cảnh sát, một đứa sắp lấy vợ, hai thứ ấy khiến hành tung anh chàng đâm bí mật hơn. Bà già tôi hấp hối, tao có chết, nhắn nó hẳn thằng cớm đó cũng hổng thèm về đâu nhỉ! Bố tôi chửi vào khoảng không: Khốn nạn!
Carol hỏi có thích đi kéo ghế không? Đợi trước cửa hiệu, sáu rưỡi tui tới, nếu muốn. Dĩ nhiên là tôi muốn, có cơ hội hồi tưởng chuyện cũ cùng Carol và khi chộn rộn đi bên nhau, những nhân viên làm việc trong cửa hàng lắm chuyện này sẽ thay đổi một cách nhìn khác về cái “thằng người Tàu bí ẩn biết kung-fu” ấy. Tôi không buồn cải chính về những ngộ nhận chúng luôn áp đặt sai, kể cả nếu bọn họ quả quyết Carol là vợ tôi. Cả ngàn lẻ một lần tôi phân trần, không cứ đã là ba Tàu thì buộc phải biết kung-fu và không hẳn da vàng mắt một mí đều là made in China. Chúng ậm ừ làm như thông hiểu đạo lý rồi mọi chuyện lại đi về lối mòn cũ. Hình ảnh một bọn người lam lũ rách rưới đi dựng xây con đường sắt xuyên quốc gia, làm nghề đóng quan tài rồi chủ các quán ăn men theo liên tỉnh lộ có trong những thước phim xưa cổ đã ám mãi vào trí nhớ họ. Không phải sao, ngay cả món mì ống nổi tiếng của dân Ý người ta cũng từng ngờ vực tới sự vi phạm trắng trợn bản quyền do Từ Hy thái hậu thủ đắc. Nữ hoàng anh minh ấy mà buồn đời ra sắc lệnh cho con dân cùng đi đái một lần thì e rằng sông Dương Tử sẽ gây sóng thần để cuốn trôi một bộ phận không nhỏ các châu lục người anh em sống quanh quẩn gần biên giới. Nếu một ngày kia trong các cửa hàng đều có dựng tấm bảng cảnh báo viết bằng tiếng Việt: “Ăn cắp là hành động xấu xa và chúng tôi buộc lòng phải nhờ cảnh sát can thiệp bla bla bla…” hẳn đến lúc đó tôi sẽ vênh váo: Ngộ là người Tàu a tài lũ, chí ùm chí a? Ngộ piết kung-fu nè, ngộ từng đứng chụp ảnh ở Vạn lý trường thành nè, cái nơi mà nị chưa đặt chân lên thì muôn đời nị chưa thể làm hảo hán.
Sáu giờ chiều, cánh cửa sắt kéo lại rít róng. Jimmy khoá nó sau khi đã mở nút hệ thống báo động bắt sau ô cửa gương. Hắn là thủ lĩnh của tiểu đội “lính đánh thuê” trong đó có tôi và khi đã mang “lon lá” cỡ đó cách ăn nói của hắn cũng có chút khan khác: Ê, có thuốc lá không, đưa tớ một điếu coi. Hôm nay mày ăn cái giống gì mà chẳng nhanh chân như những lần trước? Ờ, bị moa có cái hẹn. Ngay trước bổn tiệm? Ờ, đã lỡ định vị rồi. Thuốc đây, hút cho thông cần cổ. Jimmy thở ra một đám mây xám. Hẹn với gái à? Ờ, với gái, bắt buộc rồi, tiếc là không phải gái Tàu. Mẹ nó chứ, vậy là mày ngon cơm hơn tao rồi, tan việc là chóng về nhà kẻo má thằng cu nó chửi vang rân. Thằng người ưa hống hách với thuộc hạ ấy rụt cổ lại, hắn ném điếu thuốc: Tao lặn đây, chúc một cuối ngày an lành. Tôi nói bye và mồi lửa điếu thuốc khác.
Carol không thích ăn cá nhưng có thể ưa ăn mực hoặc một thứ thịt dai nhách như cao su. Chờ tới bảy giờ, nản lòng tôi bỏ đi, nhường vuông xi-măng trông khô ráo sạch sẽ ấy cho một gã thanh niên bụi bặm vừa sà tới; hắn dắt theo một con chó, quấn một đống chăn mền và tấm bìa lớn viết sẵn hàng chữ: “Quý vị có thể không cho tôi tiền bạc nhưng thú thật con chó của tôi đã nhịn ăn trong ba hôm rồi. Chúa chứng giám và độ trì cho những tấm lòng thành”. Những gì hắn thổ lộ bằng giấy viết cũng đủ minh bạch một điều: Chó mới gặt hái cảm tình từ tha nhân, con người thì không sánh được. Một gã vô gia cư ngồi mình ên bên đường sẽ nghèo kiết xác nếu so với “đại gia” có dắt chó theo đóng tuồng. Bao giờ cũng vậy, có vây cánh ắt hẳn phải hơn kẻ thế cô.
Tôi vẫn chăm chỉ cày bừa, tôi đi làm và nghĩ bụng thế nào Carol cũng sẽ tạt qua, phân trần, xin lỗi về chuyện thất hứa bữa nọ. Hôm ấy một trung niên dáng vẻ khắc khổ với gương mặt có nhiều nếp nhăn tiến lại gần tôi, ngó chăm vào miếng nhựa trắng có ghi khắc tên tôi luôn cài trên bộ đồng phục xấu xí. Xin chào bác, tôi có thể giúp gì cho bác đây? Tôi nói như cái máy. Người trung niên moi trong túi áo ra cuốn sổ nhỏ, ông rút tấm ảnh kẹp giữa những trang oằn cong: Bạn nhìn ra ai đây không? Ông dí tấm hình đen trắng cỡ 5×7 ngay trước mũi tôi và tôi đánh hơi được thằng cha này là một thám tử. Biết chứ, cô ta tên là Carol. Gặp gỡ có thường xuyên? Nghĩa của chữ thường xuyên là sao ạ? Hơn hai năm mới nhìn thấy nhau thì đâu thể gọi là thường xuyên nhỉ? OK, lần gặp mặt mới nhất xảy ra lâu mau rồi? Khoảng mười hôm trước, cô ta lại đây mua một bộ đồ thể thao và đôi giày dùng để chạy bộ. Tốt, tôi có xem qua một đoạn ghi hình ngắn từ camera đặt trong cửa hàng. Sau đó thì sao? Thì chia tay, Carol nói sẽ mời tôi đi ăn tối, tôi đợi nhưng cô ta hứa cuội. Tôi có thể biết chuyện gì đã xảy tới cho Carol không? Người trung niên có bộ mặt khắc khổ ấy nhét cuốn sổ nhỏ vào túi áo. Ông đưa cho tôi tấm giấy nhỏ ghi rõ tên tuổi nghề nghiệp và số điện thoại của ông: Có thu nhận điều gì mới lạ, gọi điện báo cho tôi biết. Tạm thời thì Carol cùng đồng bọn bốn đứa đã bị cảnh sát khu vực 21 phía bên kia sông bắt giữ. Chúng nằm trong một tổ chức buôn bán và tiêu thụ cần sa ma tuý. Những thông tin mà bạn vừa trao có thể chẳng man khai, tôi mong bạn không có gì cần phải dấu diếm. Bạn người Tàu phải không?
Ông đại uý Albert sếp khu vực 19 vỗ vai tôi. Chuyện cũng chả quan trọng lắm đâu, tôi vào mua cây vợt đánh bóng bàn rồi nhân tiện hỏi bạn đôi ba câu vậy thôi. Ông đi ra cửa và ném cái nhìn đầy ác cảm xuống thằng người ôm chó ngủ gà gật bên lề đường. Toàn một bọn chây lười, sao bao nhiêu công việc lại để cho bọn di dân nó nhanh tay xí phần cả, lương lậu thấp cũng hổng ke. Cảnh sát mặc thường phục đến thăm hỏi nhân viên cửa hàng hôm trước, hôm sau thằng chủ tiệm đã vò đầu bức tai làm bộ nhăn nhó: Chuyện chẳng đặng đừng, mày là một nhân viên tốt, nhưng do tình trạng kinh tế đang hồi khó khăn, chúng tao rất lấy làm đắn đo hối tiếc để nói rằng bla bla bla… Tôi vào góc kẹt thay đổi xiêm y, ném bộ đồ thể thao xấu xí trong ngăn kệ đựng dụng cụ cá nhân trống trải. Tôi bước ra đường không thèm nghĩ tới chuyện ngày mai. Tôi ném hai đồng vô cái nón của thằng người ăn mày và tôi nói bye bye với con chó có đôi tai rất thính. Lâu lắm mới có được một ngày chủ nhật đúng nghĩa, tôi ngồi vỉa hè quán cà phê tha hồ thắp thuốc thở khói vào cao xanh. Bên kia đường có người đàn ông dáng lạc hồn, lưng còng với cái túi vải móc chéo vai. Ông ta thích ăn phở gà và khoái xơi những cuốn chả giò tôm cua chiên vàng thơm ngọt. Và có lẽ ông là người duy nhất biết tôi không phải bọn Tàu thích bành trướng.
Tôi chạy băng qua đường, đón đầu người đàn ông mà nếu có duyên phận, chúng tôi sẽ đổi cách xưng hô: Bố con. Tôi đã ngủ với Carol một đêm chùng vụng và con bé tóc vàng ấy không phải là dân Tàu để xem “trinh tiết sự cực đại”. Có hề gì, chuyện nhỏ, vấn đề là bạn phải mang tôi tới được cuối đường. Vết răng mà Carol cắn vào vai tôi đã lặn mất dấu vết. Hai năm rồi còn gì. Hai năm để vừa nghe đủ những tàn phai. Nhưng trong mắt đã nhuốm bụi trần của ông già 60 vẫn tinh tường khi ngó ra dáng hình một thằng người tử tế, có nghĩa là hắn biết cách cư xử lễ độ với những người lớn tuổi cỡ bố mẹ mà không hề tỏ vẻ mất dạy như hai đứa con mình. Ông chứng minh sự sáng suốt bằng cách reo tên tôi, phát âm một cách chính xác như một kẻ biết ăn nước mắm từ thuở nằm nôi. Ông bắt tay tôi, chặt, như lưu lạc phương xa tình cờ nhìn ra người bạn cũ. Tôi biết ông cô đơn. Hơn ai cả tôi từng nếm trải nỗi khó chịu đó. Tôi chỉ tay sang bên kia đường, mời ông cùng uống với tôi cốc cà phê đen để khơi mào bao đổi thay nằm ở thì quá khứ.
Carol bị hai năm tù và điều bất ngờ nhất là Neil, hắn bị án 6 năm vì lạm dụng công việc của một cảnh sát chìm đã tiết lộ thông tin những cuộc bố ráp giúp bọn tội phạm, có em gái mình tham gia, thoát qua nhiều cuộc săn đuổi. Người cha bất hạnh cố giữ sự điềm tĩnh: Tôi đã có lần đi thăm con bé, nhà tù đặc biệt nằm xa chốn đây những 7 tiếng đi xe đò. Nó giống mẹ nó, ở cái chỗ cương cường biết thu cất những bí mật. Điều đó làm mình thương nó không nhiều bằng sự ghét bỏ. Bạn dễ chao lòng vì những thứ yếu đuối hơn, có đúng không? Tôi mời ông đi ăn phở. Ông nói, bạn thật tử tế, đúng như mẹ chúng nó ngày nào đã nhận xét, như vậy thật tiện lợi khi từ quán phở về nơi trú ngụ. Sao cơ ạ? Căn nhà ấy đã bán sau khi mẹ chúng nó mất, thân già này giờ thuê một cái 2 phòng rưỡi đặng tránh gió mưa.
Nếu Carol có thai với tôi, không chắc nó lấy đó làm điều để bắt tôi thề thốt gọi ba nó là bố vợ. Tôi biết Carol ưa nếm trải phong vị đời sống chứ nào vướng bận chuyện thương yêu. Quen biết hơn hai năm, tình trong một đêm, ba cái lẻ tẻ ấy không khiến người ta phải vẽ lên một dự án nhằm dựng xây một con đường tiến tới hôn nhân vợ chồng. Nhưng tôi, thú thật là tôi luôn bị dằn vặt bởi những gì Carol đã trao cho. Tôi yêu thứ tình chẳng toan tính bất vụ lợi của Carol.
Tôi ra bến xe đò mua vé khứ hồi đi về trong ngày để lặn lội tới nhà tù Ngàn Đảo thăm Carol. Tôi đã điền vào một lá đơn xin thăm viếng và được chấp thuận trước cả tuần lễ. Ký tên sau khi tuân theo những điều ngăn cấm, đồ đoàn có thể bị lục soát trước khi vào cánh cửa mở đóng bằng hiệu lệnh. Carol ngạc nhiên khi trông thấy tôi để khuôn mặt em trông giãn nở tươi vui trong mỗi bước chân thu ngắn dần khoảng cách. Mặc trên người bộ đồng phục màu xanh có in mã số trước ngực, Carol cho hay em nằm trong toán thợ may chuyên vá sửa chăn nệm áo quần bảo hộ lao động theo hợp đồng giữa nhà tù với một công ty phân phối đồ cho bệnh viện nằm ngoài thành phố. Dáng vẻ nhanh nhẹn trông chẳng từng liên hệ tới cần sa, thứ làm người lần khần như thiếu ngủ. Điều đó rất cần thiết, giúp Carol khỏi bị chuyển tới một nơi tựa như trung tâm cai nghiện phục hồi nhân phẩm. Em thật có lỗi với anh, đã nhiều lần gây thất vọng mà nếu là kẻ khác họ sẽ xa lánh em. Hư đốn dường ấy mà anh còn thương em sao? Chúng tôi ngồi đối diện giữa một mặt bàn khá rộng, có người giám thị đứng gần và cái nhân vật hộ pháp đó sẽ nhảy tới can thiệp nếu chúng tôi đưa tay ra sờ soạn nhau. Ôm hôn Carol chỉ là hình ảnh nằm trong mơ mộng, và mông muội.
Việc học của anh thế nào rồi? Anh tốt nghiệp vào hè này, trở thành kỹ sư và đi tìm việc làm liên quan tới thảo chương điện toán. Và sau đó? Carol hỏi, mắt em xanh như đang nhìn lên một khung trời rộng. Sau đó… Tôi ngó xuống mặt bàn, ngó tới những ngón tay xoắn xít của Carol. Sau đó anh sẽ mướn một căn hộ rộng rãi, sạch sẽ và nếu thích, em có thể mang vật dụng tới ở chung. Anh sẽ không ăn cá và… Những giọt nước mắt ứa ra trên mặt dù Carol cố kềm giữ. Người giám thị nói lớn tiếng: Đã hết giờ. Em yêu anh. Em sẽ xăm trổ cái tên anh lên bụng mình, phía dưới lỗ rốn. Em cố sức đẻ cho anh một đứa con…
Tôi ra lại bến xe đò heo hút. Ngọn đèn vàng treo dưới mái hiên mãi chao đi bởi gió từ ngoài biển đen thổi vào nồng mùi muối mặn. Tôi là một con cá đã lỡ không ăn muối. Trăm đường tôi hư cả trăm bởi ba má bên nhà nói hồi nào con tốt nghiệp đại học, người ta sẽ mua vé máy bay cho con về quê lấy vợ. Con dâu tương lai của ba má ngó cũng mặn mà có duyên. Số con có quới nhơn phò hộ, vừa ẳm được vợ mang qua xứ người vừa có số tiền hoành tráng lận lưng. Tóm gọn bên sui gia họ lo từ a tới z, nghe đã sướng chưa? Y như chuyện khoa học viễn tưởng ấy nhỉ!
Như vậy thì lấy một đứa từng là tội phạm vào tù ra khám vì liên hệ tới xì ke ma tuý, nhân thân xấu vãi, ba má nghe thế có bức xúc lắm không. Có nằm mộng cũng chẳng ngờ? Có than van: Biết vậy hồi đó tao thà đẻ ra cái hột vịt lộn, nước ngọt lừ, nhai rau ráu có phải là tiện việc sổ sách không! Tổ cha mi. Hèn gì bữa nay bày đặt thay tên đổi họ mang những Rắc những Răng, bạc tình không cách gì tả xiết!
Tiểu Đoàn đang hành quân ở Ngân Sơn thì có lệnh kéo ra quốc lộ để di chuyển khẩn cấp. Đám lính tráng buồn thiu. Vì vùng này rất nổi tiếng có nhiều cô gái quê làn da nõn nà xinh đẹp, mà mỗi lần đơn vị ghé lại đây, thế nào cũng có vài chàng lính trẻ chấm dứt cuộc đời độc thân vui tính. Lần này đơn vị đi xa, nên trên các chiếc xe GMC thấp thoáng bóng vài cô con gái mặc áo lính. Thông cảm cho các đôi vợ chồng mới, ông Tiểu Đoàn Trưởng bảo các sĩ quan lơ đi, để cho các cô dâu được đi theo. Khi đến bờ biển Tuy Hòa, Tiểu Đoàn tiếp nhận một Chi Đoàn Thiết Quân Vận M-113 tăng phái, rồi tất cả xuống tàu Hải Quân ra biển. Sau hai ngày đêm hải hành lênh đênh, chúng tôi được lệnh đổ bộ lên bờ biển Phan Thiết, ngay phía trước một Phật đài đang xây dang dở, nằm không xa phía dưới phi trường và Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch.
Tiểu Đoàn chúng tôi, một đơn vị lưu động, đặt dưới sự điều động trực tiếp của Quân Đoàn, có nhiệm vụ khai thông Quốc Lộ số 1 từ Bình Thuận ra đến Khánh Hòa, đặc biệt quãng đường dài hơn 50 cây số chạy dọc theo mật khu Lê Hồng Phong, địch quân đang kiểm soát. Đồng thời truy diệt mọi lực lượng địch trong vùng, giúp các Tiểu Khu bình định lãnh thổ.
Sau một ngày dưỡng quân, nhận tiếp tế lương thực và đạn dược, chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân dài hạn từ tuyến xuất phát Phú Long. Quốc Lộ Số 1 là trục tiến quân chính. Tiểu Đoàn (-) mở rộng đội hình hai bên quốc lộ, một đại đội tùng thiết và Chi Đoàn Thiết Quân Vận vừa làm lực lượng xung kích vừa làm lực lượng yểm trợ hỏa lực di động cho các cánh quân còn lại. Ra đến làng Tùy Hòa thì đụng địch. Chúng tôi nhận lệnh triển khai đội hình. Chi Đoàn Thiết Quân Vận vượt lên đánh một trận thần tốc tiêu diệt một lực lượng địa phương của địch cố thủ ở làng Sara, các cánh quân còn lại nhanh chóng tiêu diệt mọi lực lượng địch trong vùng để tiến chiếm mục tiêu Núi Tà Dôm, một cao điểm trọng yếu, lập đài tiếp vận truyền tin, giao lại cho một đơn vị Địa Phương Quân trấn giữ trước khi tiếp tục lộ trình.
Lần đầu tiên bất ngờ đụng độ với một lực lương chủ lực quân hùng mạnh, địch quân – mà đa số là đám bộ đội địa phương và du kích – bị đánh tan tác khắp nơi. Đơn vị chúng tôi dễ dàng làm chủ tình hình. Giao trách nhiệm cao điểm Tà Dôm cho Tiểu Khu Bình Thuận, chúng tôi nhận lệnh tiếp tục di chuyển thêm hơn năm cây số về hướng Bắc đến đóng quân tại xã Long Hoa, giữ an ninh cho một đơn vị công binh thiết lập căn cứ Nora trên một đỉnh đồi nằm gần Quốc Lộ, để trung đội Pháo Binh 105 ly di chuyển từ Phan Thiết đến căn cứ này trực tiếp yểm trợ cuộc hành quân.
Đại Đội tôi trách nhiệm đi đầu. Nhưng vừa xuống chân núi Tà Dôm, qua khỏi cầu Ông Tầm vài trăm thước, tôi nhận lệnh ông Tiểu Đoàn Trưởng dắt đại đội rẽ về bên phải chiếm lại một khu làng hiện do địch kiểm soát. Sau đó đóng quân tại đây để cơ quan Tỉnh thiết lập lại chính quyền. Khi cùng đoàn quân vượt lên để đến Long Hoa, ông Tiểu Đoàn Trưởng dặn dò tôi phải hết sức cẩn thận, vì mục tiêu nằm sát mật khu lớn của địch, số lượng du kích trong làng khá đông và hầu hết những gia đình ở đây đều có thân nhân theo VC. Sau khi nghiên cứu địa hình, tôi cho ba trung đội tiến vào khu làng bằng ba hướng khác nhau, tạo thành ba mũi giáp công. Dù chờ đợi, nhưng không hề có sự kháng cự nào. Tôi nghĩ đám du kích đã biết cuộc hành quân qui mô này, nên đã kịp chạy ra khỏi làng, nhưng nhất định chúng đang ẩn nấp đâu đó rình mò chờ những sơ hở của chúng tôi.
Khu làng nằm cách quốc lộ chừng 500 mét. Dọc theo con đường đất dẫn vào làng là một hàng me cao. Chỉ có chừng một trăm nóc gia, lưa thưa vài căn nhà ngói cổ, còn hầu hết là nhà tranh. Phía sau làng là một con suối khá lớn, bên kia là khu rừng tiếp giáp với mật khu Lê Hùng Phong của địch. Bất cứ ai cũng đoán được là đám du kích đang ẩn trốn trong khu rừng ấy, vì tương đối an toàn cho chúng, và nếu bị truy kích sẽ chạy thoát vào mật khu rộng lớn. Tôi cho một trung đội khá nhất thường xuyên hoạt đông bên ấy, và chấm sẵn các điểm tác xạ tiên liệu Pháo Binh, để trường hợp có đụng độ, sẽ kịp thời yểm trợ, đề phòng lực lượng địa phương của địch có thể từ mật khu kéo ra tăng cường cho đám du kích. Sau khi đi một vòng kiểm soát kỹ lưỡng, tôi chọn khu vườn của một ngôi nhà ngói cổ nằm giữa làng, có nhiều cây cối chung quanh, làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội. Cũng như nhiều nhà khác ở đây, trong nhà này cũng có một bàn thờ nghi ngút khói hương. Trên bàn thờ là tấm ảnh chân dung của một người đàn ông trẻ. Chủ nhà là một bà già khoảng 60, sống với một chị đàn bà trẻ là mẹ của một đứa con trai chừng 7, 8 tuổi. Hai mẹ con đều để tang trên ngực áo bằng một miếng vải trắng. Chúng tôi hỏi thì được bà già cho biết người con trai của bà là một nghĩa quân bị tử trận hơn 6 tháng, Bà đang sống với người con dâu trẻ góa bụa và thằng cháu nội đích tôn. Bà còn đưa cho tôi xem tờ khai gia đình của chính quyền cấp đã lâu. Đọc qua tôi thấy tên bà là Lê Thị Đúng và người con trai là Nguyễn Cho được gạch ngang và ghi chú với nét chữ vụng về: tử trận.
Cả nhà rất tốt với chúng tôi. Ngày nào cũng mang củi về cho chúng tôi nấu cơm. Nước đổ đầy các chum đất cho chúng tôi dùng. Lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ. Tôi luôn nhắc nhở lính tráng phải cẩn thận, đặc biệt khi dùng nước uống, cảnh giác, theo dõi mọi hành động, nhưng phải đối xử tốt với họ, đừng lộ ra điều gì để họ biết là nghi ngờ họ. Thằng bé rất thích mấy anh lính. Một vài chú lính có con nhỏ nhưng lâu lắm chưa gặp, nên thấy thằng bé thật thà cũng thương. Được cho các hộp trái cây lương khô, có khi cả tiền nữa, nên thằng bé lúc nào cũng lân la bên các chú lính. Cứ mỗi lần thấy con mình gần gũi với lính, bà mẹ thường canh chừng, lâu lâu gọi thằng con ra xa dặn dò điều gì đó. Một hôm ngồi xem anh lính lau chùi khẩu súng tiểu liên, thằng bé xin được mang thử và ra điều thích thú lắm. Rồi bất ngờ buột miệng:
– Ba cháu cũng có khẩu súng, nhưng dài quá, cháu mang không vừa và không đẹp bằng khẩu súng này của chú.
Nói vừa xong, thằng bé biết lỡ lời, nên vội đưa tay lên bụm miệng.
Được báo cáo, tôi bảo anh lính tiếp tục khai thác thằng bé. Và cuối cùng chúng tôi biết được cha nó là trưởng mũi công tác, chỉ huy hơn 30 tay du kích trong làng này. Cùng lúc tôi nhận được báo cáo của anh trung đội trưởng đóng ở bìa làng, cho biết là cứ mỗi buổi chiều, bà già chủ nhà tôi ở đi kiếm củi dọc mé suối, nhưng thỉnh thoảng hướng về phía bên kia rừng nói lớn: “Thằng Hai ơi! cứ cho trâu ăn bên ấy, bên này hết cỏ rồi!”. Tôi gọi máy báo cáo cho ông Tiểu Đoàn Trưởng và đề nghị một kế hoạch “Điệu Hổ Ly Sơn”. Được ông chấp thuận.
Trưa hôm sau, tôi tìm vị trí thật kín đáo cho một trung đội ngụy trang nằm mai phục bên bờ suối cùng lúc rút trung đội bên kia suối về làng, và cho lệnh đại đội di chuyển ra khỏi làng, bảo lính tráng nói lời cám ơn chia tay dân chúng, để lại biếu họ một số gạo vừa mới được tiếp tế. Chúng tôi rời khỏi làng đi dọc theo Quốc Lộ tiến về hướng Nora và nhanh chóng ẩn trong bìa rừng bên khúc quanh của đường quốc lộ, trong tư thế sẵn sàng tiếp ứng. Đúng như dự đoán, khi trời sắp tối, nghe tiếng mìn Claymore và nhiều tiếng súng nổ trong làng, tôi được anh trung đội trưởng báo cáo đã tiêu diệt toàn bộ toán du kích, từ bên kia rừng lội suối về làng. Vì tưởng tất cả chúng tôi đã di chuyển đi nơi khác, nên đã lọt ổ phục kích. Tôi báo cáo cho Ông Tiểu Đoàn Trưởng và ra lệnh cho đại đội nhanh chóng quay trở lại làng, nhưng thay đổi các vị trí phòng thủ. Lần này tôi chọn một khu vườn bên bờ suối làm nơi đóng quân cho ban chỉ huy đại đội và trung đội vũ khí nặng, nhằm đối phó và yểm trợ kịp thời, nếu địch kéo từ mật khu ra phục hận.
Sáng hôm sau, một số cán bộ chính quyền đến nơi để xác nhận và giải quyết các tử thi. Anh cảnh sát cho tôi biết, trong số người chết có tên trưởng mũi công tác, con trai của bà Lê Thị Đúng, chủ nhà tôi đóng quân hôm trước.
Nghe mấy chú lính thám sát tình hình cho biết, ban đầu bà không nhận người ấy là con bà, nhưng không khí trong nhà buồn thảm lắm, nhất là chị vợ lúc nào cũng giấu nước mắt. Chỉ có thằng con trai thì vẫn cứ vô tư. Dường như không ai nói với nó điều gì đã xảy ra.
Buổi chiều, chính quyền thông báo nếu tử thi nào không có người nhận, họ sẽ chôn cất, nhưng vì không biết tên nên không thể làm bia. Lúc ấy bà chủ nhà mới chịu đứng ra nhận lãnh, và với sự giúp đỡ của chính quyền, bà và cô con dâu lo xong mai táng. Dù người chết là kẻ thù, nhưng trong hoàn cảnh này, nhất là vừa đóng quân trong vườn nhà họ hai hôm nay, chúng tôi ai cũng động lòng tội nghiệp cho người vợ trẻ và nhất là đứa con trai vừa mới mất cha. Chúng tôi góp được một ít tiền, cho một anh lính thân tình với thằng bé nhất, mang lại biếu họ. Tôi hình dung tới cái bàn thờ hôm trước, bây giờ đã trở thành bàn thờ thực sự. Hai hôm sau, Đại Đội tôi được lệnh bàn giao làng lại cho chính quyền với một trung đội nghĩa quân mới tới. Cuộc hành quân tiếp diễn về hướng Bắc và chỉ hai ngày sau, chúng tôi đã đến Sông Lũy, bắt tay với Trại Biệt Kích Lương Sơn do một số sĩ quan LLĐB chỉ huy. Giai đoạn 1 của cuộc hành quân hoàn tất, cả Tiểu Đoàn được lệnh tập trung dưỡng quân tại Sông Mao. Bản doanh Sư Đoàn 5 BB của ông Vòng A Sáng bỏ lại, sau khi di chuyển toàn bộ vào Vùng 3 CT. Bây giờ doanh trại trở thành một trung tâm huấn luyện Địa Phương Quân.
Tôi đã từng tham dự nhiều cuộc hành quân, đơn vị tôi từng giết nhiều quân địch, nhưng cuộc hành quân lần này làm tôi khó quên, ngay cả cái tên của gã du kích Nguyễn Cho và bà mẹ Lê Thị Đúng, mà tôi đã đóng quân ngay trong vườn nhà bà vỏn vẹn chỉ bốn ngày.
***
Hơn bảy năm sau, chiến tranh đến thời kỳ ác liệt nhất. Ngay sau khi Bộ Tư Lệnh Tiền Phương SĐ 22 BB bị Cộng quân tràn ngập tại Tân Cảnh, lần đầu tiên một vị Tư Lệnh Sư Đoàn khí phách và liêm sỉ chấp nhận vùi thây nơi chiến địa, từ chối lên trực thăng thoát thân cùng với đám cố vấn Mỹ, đơn vị chúng tôi được không vận khẩn cấp lên Kontum, bây giờ là mục tiêu tiến chiếm của đại quân Cộng Sản đang tràn xuống từ hướng Bắc. Lúc này tôi đã được điều về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn. Đơn vị chúng tôi đã chiến thắng oanh liệt, giữ vững được Kontum và trở thành tuyến đầu của trận chiến Cao Nguyên trong suốt mùa hè đỏ lửa. Chiến thắng ngày ấy dù có vinh quang nhưng chúng tôi cũng đã phải trả một cái giá không nhỏ. Trong năm 1972 riêng đơn vị tôi đã có hơn 300 đồng đội hy sinh. Số tân binh từ các Trung Tâm Huấn Luyện không đủ bổ sung, nên Bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh đôn quân khẩn cấp. Đầu năm 1973, chúng tôi tiếp nhận một số khá đông những người lính Địa Phương Quân từ các Tiểu Khu chuyển tới. Đại Đội Trinh Sát là một đơn vị thiện chiến, lập được nhiều chiến công hiển hách, luôn được dùng làm lực lượng xung kích cho Chiến Đoàn, đảm nhân các công tác hiểm nguy và sẵn sàng tăng cường cho các điểm trọng yếu. Vì vậy đơn vị này cần được ưu tiên bổ sung một số lính trẻ, thiện chiến.
Chúng tôi đã từng hành quân chung với các đơn vị đia phương quân Tiểu Khu Bình Thuận, và biết họ cũng được tôi luyện trong chiến tranh tại lãnh thổ địa phương, luôn phải đối đầu với một lực lượng địch đáng kể. Số lượng đôn quân từ Tiểu Khu này khá nhiều so với các Tiểu Khu khác trong Vùng 2. Vị Chiến Đoàn Trưởng ra lệnh ưu tiên chọn các anh lính trẻ Bình Thuận bổ sung cho Đại Đội Trinh Sát.
Được sự hướng dẫn của vị đại đội trưởng và các sĩ quan trẻ, nổi tiếng đánh đấm trên chiến trường, cùng học hỏi kinh nghiệm, noi gương gan dạ từ những người trinh sát cũ đã dạn dày chiến trận, một số lính địa phương quân được bổ sung cho đại đội Trinh Sát sớm trở thành các chiến sĩ thiện chiến trên trận mạc. Trong số này có một anh rất trẻ, đã lập khá nhiều chiến công lẫm liệt, luôn được vị đại đội trưởng đề nghị cấp trên khen thưởng sau mỗi cuộc hành quân. Thành tích xuất sắc nhất là khi anh tình nguyện một mình ôm lựu đạn bò vào tiêu diệt cái chốt của địch gồm nhiều ổ súng phòng không, nằm trong một hốc đá kiên cố trên đỉnh núi Chu Pao. Chính cái chốt quỷ quái này đã gây cho các đơn vị ta nhiều thiệt hại và đe dọa không nhỏ đối với các phi cơ đổ quân và chiến đấu hoạt động trong vùng.
Tôi đã gặp anh lính trẻ này vài lần và rất quí mến cậu ta. Không ngờ với một khuôn mặt hiền hậu, khôi ngô mà lại là một chiến sĩ can trường, dũng cảm. Có lần anh thú nhận với tôi là đã làm khai sanh tăng thêm ba tuổi để xin đầu quân. Một đôi lần, tôi móc túi cho cậu ít tiền để uống cà phê, khi nghe nói hằng tháng phải gởi tiền về nuôi mẹ. Ngược lại, sau mỗi cuộc hành quân, cậu cũng tìm đến thăm tôi, kể lại cho tôi những gì xảy ra trong trận đánh, và chăm chú ngồi nghe tôi nhận định. Đôi mắt cậu lúc nào cũng sáng lên niềm kiêu hãnh về các cấp chỉ huy, cùng đơn vị mà cậu ta đang phục vụ.
Vào khoảng cuối năm 1973, Đại Đội Trinh Sát được trực thăng vận đổ xuống giữa một trân chiến đang mịt mù lửa đạn để giải cứu cho một đơn vị BĐQ Biên Phòng đang bị vây hãm vì đã cạn đạn dược sau hơn hai ngày kiên cường chiến đấu, mà không thể nhận được tiếp tế. Một cuộc chiến khốc liệt, đẫm máu, mà các chiến sĩ trinh sát phải đánh cận chiến bằng lưỡi lê và lựu đạn, tạo thời cơ cho các chiến sĩ BĐQ/BP bên trong phá vòng vây, dũng cảm xông ra. Địch quân bị tiêu diệt trong thế gọng kềm. Chiến trường kết thúc mau lẹ, đám địch còn sống sót, một số bị bắt, một số tháo chạy bị các trực thăng võ trang của Phi Đoàn 235 Sơn Dương truy kích.
Anh trung úy đại đội trưởng Trinh Sát bị thương nhẹ, nhưng vẫn tiếp tục điều quân chiến đấu. Ngay sau khi vừa được tản thương về QYV Pleiku, anh được Ông Tướng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn, nguyên là Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng BĐQ, đến gắn cấp bậc đại úy và anh dũng bội tinh với nhành dương liễu. Khi ấy anh vừa đúng 25 tuồi.
Tôi tháp tùng ông Chiến Đoàn Trưởng đến thành DakPha dự lễ Tuyên Dương Công Trạng toàn thể Đại Đội Trinh Sát, và trao gắn cấp bậc, huy chương cho những chiến sĩ có chiến công xuất sắc trong trận chiến hào hùng này. Buổi lễ dưới sự chủ tọa của ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn. Đại Đội được trình diện bởi anh trung úy Đại Đội Phó, xử lý thường vụ thay anh Đại Đội Trưởng còn đang điều trị trong QYV. Sau khi quân kỳ của Đại Đội được vị Tướng Chủ Tọa trịnh trọng choàng giây biểu chương màu Tam Hợp, các chiến sĩ xuất sắc được xướng danh ra trình diện trước thượng cấp.
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi không nghe tên và cũng không thấy mặt người lính trẻ có tiếng can trường đôn quân từ Tiểu Khu Bình Thuận trong số những người được tưởng thưởng. Chờ buổi lễ chấm dứt, tôi hỏi anh đại đội phó. Tôi ngẩn người khi anh cho biết là cậu lính trẻ ấy đã hy sinh khi tình nguyện xông vào diệt ổ đại liên cản đường, để cả đại đôi tiến lên. Anh đã gục ngã ngay trên nắp hầm địch cùng lúc tiêu diệt toàn bộ tổ đại liên của địch. Vì không có phương tiện đưa thi hài anh về nguyên quán, hơn nữa anh chết không toàn thây, không muốn cho thân nhân quá đau đớn khi nhìn thấy, nên đơn vị đã làm lễ truy thăng và chôn cất anh tại nghĩa địa Kontum.
Tôi hỏi kỹ vị trí ngôi mộ và dặn lòng sẽ đến thăm nơi an nghỉ của người lính trẻ can trường đáng mến này. Bỗng một hôm, thấy anh đại đội phó đưa một người đàn bà đến Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn để làm hồ sơ tử tuất. Tôi hỏi, mới biết ngươi đàn bà này là mẹ của người lính trẻ vừa mới hy sinh. Anh đại đội phó còn cho biết là sau khi làm hồ sơ xong, anh và vị Thiếu tá CTCT của Chiến Đoàn sẽ đưa bà ra thăm lại mộ con lần chót trước khi về quê. Tôi bảo anh đại đội phó là tôi sẽ tháp tùng. Tôi muốn một lần đưa tay chào vĩnh biệt người lính trẻ mà tôi hằng mến mộ.
Khi cùng với người mẹ đứng trước mộ, tôi ngạc nhiên khi thấy trên tấm bia, dưới tên của anh có ghi nơi sinh quán: Làng Long Giang- Xã Long Hoa – Bình Thuận. Tôi nhớ tới khu làng quê có hàng me cao nằm bên quốc lộ, mà tám năm trước có lần đại đội tôi đã đóng quân, và tiêu diệt tất cả đám du kích có tiếng của làng này. Chờ cho người mẹ thắp hương và bớt xúc động, tôi hỏi nhỏ:
– Ở làng Long Giang, chị có biết bà Lê Thị Đúng, có người con chỉ huy du kích, bị chết cách nay khoảng tám năm?
Người mẹ ngạc nhiên nhìn tôi, thoáng dò xét rồi cúi xuống, nói thật nhỏ chỉ đủ tôi nghe:
– Bà là mẹ chồng tôi, và con tôi đây là đích tôn, cháu nội duy nhất của bà. Vừa nói chị vừa đưa tay chỉ vào nấm mồ mới toanh trước mặt.
Khi về lại đơn vị, tôi xin Ban Tài Chánh ứng trước nửa tháng lương. Trích ra một phần, bỏ vào bì thơ, tôi tìm đến đại đội trinh sát gặp và biếu cho bà mẹ của người lính trẻ vừa mới lẫm liệt hy sinh. Bà thoáng một chút xúc động ngạc nhiên nhin tôi nói lời cám ơn.Tôi nghĩ là bà không nhận ra tôi, người đã chỉ huy cuộc hành quân năm xưa, và từng đóng quân ngay trong vườn của nhà bà.
Chia tay bà, trên đường trở về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn, tôi suy nghĩ mông lung. Trong cuộc chiến này, quả thật, có những điều mà người ta không thể nào hiểu được.
Vào khoảng năm 1962, Đài Phát thanh Hà Nội cũng như báo chí miền Bắc XHCN mở một chiến dịch ca tụng một liệt sĩ có tên Nguyễn Văn Bé đã hy sinh trong một cuộc “chống càn” của “Mỹ Ngụy” tại miền Nam, với những hình ảnh rõ ràng của người lính trẻ này. Lẽ cố nhiên đi kèm với tên tuổi liệt sĩ này là chiến tích thường lệ như bắn cháy một máy bay lên thẳng, vài xe bọc thép hay tiêu diệt một đại đội Ngụy. Chỉ một tuần sau đó, Bộ Thông Tin Chiêu Hồi “Ngụy” tại miền Nam đưa con người thật của “liệt sĩ” này, chính là một hồi chánh viên mang tên Nguyễn Văn Bé bằng xương bằng thịt lên truyền hình. Thì ra sau trận đánh nêu trên, sau khi kiểm điểm tàn quân, không thấy mặt Nguyễn Văn Bé, chính ủy đơn vị “bộ đội ta” bèn phịa ra hình ảnh liệt sĩ này để làm gương sáng cho quần chúng noi theo, trong khi chính Nguyễn Văn Bé nhân cơ hội này đã về hồi chánh với phía quốc gia. Đây là một vụ bẽ mặt nhất cho bộ máy tuyên truyền của miền Bắc, khiến dân chúng miền Nam có dịp thấy rõ luận điệu xảo trá về kỹ thuật dàn đựng không gặp may của các ống loa tuyên truyền ngoài ấy.
Thời kỳ trước năm 1945, tại Chợ Đất Đỏ Bình Tuy, dân chúng đã biết chuyện một cô gái cùi thường lê lết ăn xin trong chợ, đã bị Việt Minh thuê quăng một trái lựu đạn vào chợ làm chết rất nhiều thường dân để khủng bố. Cô gái này chính là hình ảnh để xây dựng thành Võ Thị Sáu, cô gái ngoan cường của Đảng Cộng Sản dã tiến công vào quận ly Đất Đỏ gây thiệt hại lớn cho “địch” để làm sáng danh phụ nữ miền Nam, ngày nay nằm chễm chệ trên bảng tên của vô số con đường ở hai miền Nam Bắc. Như vậy không chờ tới ngày nay, Lê Văn Tám, nổi danh qua cái công viên đầy chích choác ở Saigon hôm nay, mới được ông Giáo Sư Phan Huy Lê, Chủ Tịch Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, xác nhận là một nhân vật do Trần Huy Liệu, Bộ Trưởng Bộ Tuyên Truyền và Cổ Động ngày trước “đẻ” ra, và chuyện “phịa” có đủ ngày tháng viết trong sử sách đàng hoàng để bịp các em bé ngây thơ mang khăn quàng đỏ.
Đó là chuyện Lê Văn Tám, cậu bé bán đậu phụng rang tại Saigon vì căm thù giặc Pháp, buổi sáng ngày 1 tháng 1 năm 1945, đã tẩm xăng vào người và tự mình châm lửa làm thành “ngọn đuốc sống”, đốt cháy tan kho đạn của Pháp tại Thị Nghè. Vì chút liêm sì cuối đời, các vị này đã công nhận một kho đạn của quân đội Pháp không thể để sơ hở đến nỗi một đứa trẻ lên mười có thể chạy thẳng từ cổng trại vào hầm chứa đạn sau khi toàn thân đã bốc cháy qua một đoạn đường, cũng trong tưởng tượng là 50 thước. Như vậy mà cái tên Lê Văn Tám đã sống tới sáu mươi năm trời từ Bắc tới Nam vì “nhiệm vụ tuyên truyền” như lời trối trăn của Trần Huy Liệu. Miễn đi tới mục đích, còn phương tiện không đáng kể, vì “mục đích biện minh cho phương tiện”.
Rồi chúng ta suy ra những cái tên lạ lùng chưa hề nghe một lần như Nguyễn Thị Riêng, Huỳnh Văn Bánh …nhan nhản ghi trên các đường phố Saigon sau ngày đổi chủ, cũng là những sản phẩm tưởng tượng vì “nhiệm vụ” tuyên truyền mà thôi.
Dân ngu thì dễ bịp. Vì vậy chẳng ai ngạc nhiên ở trong chế độ Cộng Sản có nhiều chuyện quá sức tưởng tượng của con người. Người ta kể thời niên thiếu của Kim Nhật Thành, lãnh tụ Cộng Sản Bắc Hàn, rằng bà mẹ của Kim Chủ Tịch đã tay không tước súng và bắn chết hai tên lính Nhật. Một nhà thơ thuộc trường phái Tố Hữu lại ca tụng một con chim nhỏ bay về đậu trên vai pho tượng Kim Nhật Thành mà khóc. Trong các lớp tiểu học của Bắc Hàn còn có cả mô hình nhỏ của ngôi làng của Kim Nhật Thành lúc nhỏ, chỗ nào là Kim thường ra câu cá, chỗ nào là Kim hay chơi đùa với bạn.
Trong một bài báo của nhà văn Mường Giang, gốc người Phan Thiết, đã kể lại rằng, trong bản tiểu sử của Hồ Chí Minh, trong giai đoạn lang thang từ quê hương nghèo đói vào Nam có một lúc nào đó, dừng chân lại Phan thiết để làm nghề dạy học tại trường Dục Thanh. Trên con đường đi cứu nước của “bác”, lịch sử đảng có cho biết năm 1910, bác có ghé lại dạy trường Dục Thanh để độ nhật, nhưng không nói rõ là dạy bao lâu, dạy lớp nào. Đương nhiên đảng cũng vẽ vời thêm thắt là trong lúc dạy học, bác đã gieo vào tâm trí học sinh non trẻ tinh thần yêu nước. Sau này, lớn lên dân Phan Thiết theo Cách Mạng được cỡ bao nhiêu người thì không có thống kê, nhưng sau khi làm chủ được cả đất nước, thì những ông Tỉnh Ủy, Thành Ủy đã tận tâm lấy điểm với Trung Ương bằng cách cướp giật đất đai của dân ở cái vùng Dục Thanh nào đó ngày xưa, để làm nhà lưu niệm, xây viện bảo tàng mang tên “bác” để cho dân Bình Thuận được thơm lây vì đã đóng góp với dân tộc một chút gì qua con đường“bác đi”. Nếu ngày xưa, từ Phan Thiết, “bác” vào Saigon bằng xe lửa chạy than, thì cũng nên kiếm một cái đầu xe lửa hoen rỉ nào đang vứt bỏ ở ga Mường Mán, đem về viện bảo tàng sơn quét lại để gọi là cho thêm dấu tích đã làm vẻ vang cho quê hương đã mang vết chân và hơi hướm của “bác”.
Chân lý đã soi sáng là cái gì của “bác” cũng thơm tho, quí giá. Tượng đài, nhà lưu niệm, viện bảo tàng mọc lên như nấm sau cơn mưa để đánh bóng con người lãnh tụ. Bác sinh ra ở làng Sen thì làng Sen phải thành thánh địa của cha già, đảng nói “bác” ra đi cứu nước từ bến Nhà Rồng thì bến Nhà Rồng phải lập tức thành bảo tàng, nhà lưu niệm. Không biết ngày đó, người thanh niên xuống tàu …. xin một chân phụ bếp, con tàu đậu ở kho nào, kho 5 hay kho 7, mà sau tháng 4-75 cả một tòa nhà cao ở bến Khánh Hội được tân trang, sơn quét để trở thành một di tích lịch sử vĩ đại, biểu tượng của thành phố mới mang tên “bác”, đúng như câu hát “từ thành phố này, Người đã ra đi … ” Chỉ tiếc là trong Viện Bảo Tàng này không có tấm đơn của bác được lộng kiếng, đó là tờ đơn bác xin Tây cho vào học trường Thuộc Địa. Từ nơi ngôi nhà bác sinh ra, tới lỗ hang Pắc Bó, căn nhà sàn bác ở, đôi giép râu bác đi … đã thành những thứ quốc bảo.
Điều này không có gì là sáng tạo. Đệ tử của Staline, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành … học đòi kinh điển “suy tôn”, đều có những hành động theo một khuôn mẫu như nhau. Nghĩa là cứ dựng lên một bức tượng, bằng gỗ hay đất sét gì cũng được, rồi cứ vái lạy lâu ngày sẽ thành vật thiêng, nhưng đó là một điều không thật. Như trong phim “Mê Thảo”: Nguyễn tạc một bức tượng người yêu bằng gỗ rồi “làm tình bằng tưởng tượng” với bức tượng ấy. Điều này làm cho chúng ta nhớ lại những điều không có thật như tượng gỗ “tư tưởng Hồ Chí Minh” mà bao nhiêu trí thức, vì món nợ tem phiếu đã “thủ dâm” với tư tưởng này suốt trong những năm tháng qua. Tài năng, đạo đức lãnh tụ hay anh hùng không cần có thật, đảng và cán bộ cầm quyền vì nhu cầu chính trị đã tạo nên nó, xem nó như là có thật, từ đó họ “thống khoái bằng bàn tay” trong một tinh thần hoang tưởng tột độ. Bao nhiêu người đã xả thân vô tích sự vì thứ bệnh hoạn ấy, vì kỹ thuật dàn dựng và tuyền truyền của những bộ máy chuyên đánh bóng những hình ảnh anh hùng, lãnh tụ trong những chế độ độc tài trên thế giới?
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.