This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Chiều chủ nhật lạnh. Bầu trời cuối thu giăng giăng một thứ không khí chỉ làm cho người ta nghĩ đến chăn nệm, ghế bành, đến ngọn lửa bập bùng trên bếp hay trong lò sưởi, đến tiếng reo tí tách của những lưỡi lửa liếm vào những thanh củi xinh xinh, tỏa ra một mầu hồng ấm áp. Riêng anh, đang gò lưng trên chiếc xe đạp, chờ đèn xanh tại ngã tư Newland…, chợt nhớ đến ngày nào, trong cái giá lạnh cắt da của Hoàng Liên Sơn, của Yên Bái, của những trại tù khổ sai Vĩnh Phú, anh đã lén ra sau bếp, vun vén vài miếng củi vụn để nhóm lên một chút lửa nhỏ đủ đun sôi một cái lon nước trà, chờ anh bạn già thức giấc để chia nhau một tiếng “Khà!” hoặc góp với nhau một cái nhếch mép, nhấp nháp chờ mặt trời lên. Những bàn tay run rẩy xoay xoay cái ly nước làm bằng lon sữa bò lượm được trên đường đi lao động. Những cặp mắt nhìn nhau, chớp chớp, không nói một lời nào, nhưng lại diễn tả biết bao nhiêu ý nghĩ. Nhung nhớ tràn đầy, tiếc nuối lai láng, thương yêu vô vàn, căm hờn chất ngất, mơ mộng mênh mông… Hai người bạn co ro, quấn chiếc chăn rách im lặng thưởng thức vị trà Bảo Lộc mà người vợ chung thủy gửi cho, bất chấp luật cấm dậy sớm, đốt lửa sớm. Anh đã mấy lần bị kiểm điểm vì cái tật đó mà không chừa. Có lúc, tên vệ binh hùng hổ xông vào, giơ chân đá tung cái lon nước đi, dí dí mũi súng vào mặt anh mà quát:
– Anh… anh này, lần sau mà còn vi phạm Kỷ luật Ăn-Ngủ nữa thì tôi xử lý đấy! Nhóm lửa ban đêm để kêu gọi đồng bọn trốn trại hả?
Anh chỉ đứng yên, không trả lời. Còn gì nữa mà nói! Chỉ một chút hạnh phúc nhỏ nhoi đó cũng bị cấm đoán. Con người đối với nhau còn tệ hơn con thú. Chỉ muốn nghiến nát nhau ra. Chỉ muốn ăn tươi nuốt sống! Đẩy nhau vào rừng thiêng nước độc, bắt nhau làm như trâu như chó, mà cho ăn còn tệ hơn cho ăn mày. Ngày năm củ khoai lang, có củ sùng củ hà. Ngày ba miếng sắn luộc, ngày bo bo – thực phẩm chính của heo ngựa. Nghe kẻng báo giờ cơm mà chả ai buồn nhúc nhích, vì biết trước được cái thực đơn gớm ghiếc đó. Nhưng vẫn phải lê đến, trước sau cũng phải lê đến nhà bàn, để nuốt uất hận mà sống. Rồi lúc nào rảnh chút chút thì đi săn chuột, bắt thằn lằn, nhặt rau dại. Những món này không phải lúc nào cũng sẵn. Chuột tuy ê hề, nhảy nhót tanh tách trên đầu giường tre, dưới chân đứng, có khi đang ngồi cũng bị cắn gót, nhưng không phải dễ mà bắt. Bởi nhiều người săn quá! Chỗ này 3, 4 anh đang tới tấp nhét giẻ vào miệng hang, đốt cho khói um lên rồi quạt phành phạch. Chỗ kia vài anh đang lăm lăm đứng chờ chú nào nhảy ra là chộp. Tay anh nào cũng cả chục lỗ cắn sâu như đầu đinh năm phân vì răng chuột.
Khi chú chuột bị hoảng là cắn loạn xạ. Có chú nhảy bung lên mặt, cắn ngay vào lỗ mũi, máu chảy đầm đề, rất lâu mới cầm lại. Chỉ có những chú mới bơi qua hố phân thì dễ bắt. Cầu tiêu của trại cải tạo là cầu nổi. Đào một hố rộng rồi bắc ván ngang qua. Lâu dần sẽ thành một cái hồ nước vàng ngậy, ruồi nhặng bay vù vù, dòi bò lúc nhúc là chỗ đánh chén lý tưởng của chuột. Nên rình chuột ở đây là tiện nhất. Mấy chú vừa bơi qua còn mệt, mình mấy ướt sũng, lầy nhầy, tay săn chuột đang ngồi thu lu như khối đá, bỗng vươn tay ra chộp cái “choét”. Chú chuột chỉ kịp kêu lên một tiếng là đã bị vào trong bao cát rồi. Một cú đập “bộp” trên đất nữa, là chuột ta chuẩn bị được rửa ráy, lột da, cắt đầu, bỏ đuôi, lòng gan và mấy cục hạch hôi ở nách, xong là nằm tênh hênh trên chảo, biến thành một bữa ngon lành, đầy đủ calori cho ngày lao động kế tiếp, lê thê, dằng đặc. Còn rau dại, trái hoang thì như là trúng số. Bao nhiêu cặp mắt liếc trên, nhìn dưới, đi lao động mà cứ láo liên như đi ăn trộm, xem có bụi dền nào quanh quẩn đâu đây, xem có lá tầu bay không? Có chú ếch, chú cóc nào xấu số không?
Nhớ đến đây, mắt anh chợt sáng lên, anh cười thầm một mình “Hì, hì! Hên quá, hồi ấy mình với được nguyên một kho tàng mà không ai biết. Nếu không chuyển trại, còn được ăn hoài! Có thằng nào biết đâu?” Chuyện là, một hôm, anh đi tiêu, ngồi tẩn mẩn nhìn ra phía sau hố phân, thấy những quả xanh xanh rụng nằm lẫn lộn giữa những chất dơ mà những tay “canh nông”, chuyên viên trồng rau, khi múc phân đi tưới đã làm sót vương vãi trên đất. Anh để ý thấy có một vài quả xanh đã bị vết răng chồn gặm gở, lòi ra chất trắng trắng bên trong, anh chợt nghĩ: “Cái gì chồn ăn được là người cũng ăn được!” Giật mình với ý nghĩ đó, anh vội vàng xuống nhặt mấy trái lên, bỏ vội vào túi, rồi chạy ra sau bếp, lấy dao tách lớp vỏ ra thì thấy một cái hột cứng. Đập vỡ hột, anh thấy có một chất bùi bùi. Bất giác, anh la lên: “Đúng rồi! Một loại hột giẻ đây mà! Trời ơi! Mừng biết bao là mừng! Anh hấp tấp ra chỗ cũ nhìn trước nhìn sau không có ai, anh nhặt hết mọi trái rơi đem cất. Và cứ thế, tàn tàn anh thu gom những hột trời cho ấy, giữa bãi phân rơi, làm kho thực phẩm quý hơn vàng!
Bây giờ, ở trên đất Mỹ này, dù có đạp xe đi giữa những chiếc xe hơi vun vút, anh vẫn thấy vui! Hề gì đâu! Mới qua có hai tháng mà! Người ta còn cầy cả năm, bảy năm mới ổn định. Mình đã nhằm nhò gì! Hồi chiều, trước khi đi đến nhà bạn chơi, vợ anh cứ tíu tít:
– Anh ăn cháo bún bò không? Em hấp cho anh ăn hỉ?
Anh cười:
– Thôi, còn bánh bông lan đây, anh ăn được rồi.
Nghĩ lại, anh nói:
– Cho anh ly sữa vậy! Anh coi tivi chút rồi đi!
Chị quày quả quay vào chỗ tủ lạnh rót cho anh một ly sữa, đến ngồi trước mặt anh, nhìn anh đăm chiêu:
– Đi nhớ về lẹ nhe! Em trông!
Anh ngước lên, nheo mắt:
– Ê, bộ bà tưởng tôi ngố lắm hả? Từ đây tới đó, có mấy “lốc” đường mà!
Chị chắp hai tay đặt trên đùi , mỉm mỉm:
– Nói vậy thôi! Chứ… nhưng mà cứ về sớm nghe!
Đứa con trai anh, 8 tuổi, nhún nhún trên lưng ghế nệm, họa theo:
– Ba về lẹ nghe! Về trễ con phạt à!
Anh vỗ vai con một cái thật mạnh:
– Phạt bắt ba làm ngựa nữa hả! Ba hổng sợ đâu?
Rồi, anh quay qua đứa con gái 18 tuổi đang cắm cúi học bài, nói giỡn:
– Nè, con học sao thì học. Ba về kiểm tra bài à nghe!l
Cô gái bĩu môi:
– Xí! Ba học còn thua con mà làm bộ!
Anh cười hả hê:
– Thôi, ba đi nghe! Chút ba về!
Đoạn, anh đứng lên dắt xe đạp ra, ngoái lại nhìn con trai lần nữa:
– Bye nhé, cưng!
Đứa con anh vẫy tay theo:
– Bye ba!
Và anh đã đến nhà bạn chơi. Hàn huyên không dứt. Chuyện tù, chuyện xã hội, chuyện H.O… Bây giờ anh đang trên đường về. Gió lành lạnh. Anh nhìn đồng hồ: 10 giờ 30 rồi. Vợ con chắc đang trông. Mà, đường chi mà nhiều xe quá vậy! Xe nào cũng chạy vù vù. Ủa, mà sao không có xe chạy ngược chiều? Toàn xe chạy nhanh thấy ớn! Cái gì? Cái gì đây? Biển gì đây? Freeway 405! Trời? Mình lạc rồi! Lạc vào freeway rồi! Chết! Quay ra! Quay ra! Làm sao? Làm sao đây? Freeway… xa lộ… Trời? Em ơi! Con!…
“Rầm!”
Một tiếng chớp! Một tiếng sấm! Lửa! Sét đánh! Điện giật! Anh thấy mình lao đi! Vút đi! Bay lên! Gió! Hun hút! Lạnh lẽo! Có lẽ máu chảy dàn dụa! Có lẽ tim anh thoi thóp! Mệt! Rã rời! Anh tiếp tục bay lên, bay lên! Mãi mãi! Vĩnh hằng.
☆
Anh cựu Đại Úy Pháo binh Lê Văn Lạc, đến Mỹ theo diện H.O. được hai tháng, đã đi xe đạp lạc vào freeway 405 và bị tai nạn giao thông chết lúc 10 giờ 30 đêm 20 tháng 10 năm 1991.
Xác quàn tại máy ướp lạnh, lập thủ tục, làm police report và chờ tiền. Chị và hai con, một gái 18 tuổi, một trai 8 tuổi trong tình trạng quẫn bách, lo sợ vì không biết lấy đâu ra tiền chôn cất. Người thân nhất là một bà cô đang ở Westminster nhưng thuộc diện H.O.4
Cái cầu tàu này sử dụng cho các tàu chuyên chở máy móc, vật liệu, tiếp tế cho giàn khoan, từ mặt biển đi lên khá cao, vì thế có một cái thang sắt đi xuống gần mặt nước để sử dụng khi cần thiết.
Đến gần, thấy ở phía bên kia cầu tàu có đậu sẵn một chiếc tàu dài khoảng 30, 40 mét, đoán là tàu tiếp tế cho giàn khoan, tôi mừng thầm trong bụng: thật đúng lúc, chiếc tàu này sẽ chở chúng tôi tới đất liền!
Tôi cho ghe tiến tới cái thang sắt, ông anh cột chèo vội lấy một sợi dây thừng cột ghe vào chân cầu tàu để khỏi bị trôi. Mấy người Nhật đứng trên cầu tàu mặc đồ công nhân (overalls) vẫn im lặng quan sát, nhưng tới khi tôi nắm lấy cái thang và đặt chân lên thì một người la lớn “No no…” và ra hiệu cho tôi không được bước lên cầu tàu.
Tôi liền sử dụng tiếng Anh giải thích ngắn gọn cho họ biết chúng tôi là người Việt Nam chạy trốn chế độ cộng sản, xin được cứu vớt, nhưng họ vẫn tiếp tục xua tay từ chối cho tôi bước lên cái thang.
Tôi hơi ngạc nhiên và khá thất vọng. Cứ tạm thời cho rằng những công nhân này không hiểu một chút tiếng Anh nào thì khi thấy một chiếc ghe lênh đênh ngoài biển khơi trên có cả đàn bà con nít, họ cũng phải hiểu rằng chúng tôi là người tỵ nạn chứ!
Khoảng một hai phút sau, một người từ trên giàn khoan đi xuống cầu tàu. Ông ta khoảng trên dưới 40, cao ráo trắng trẻo, ăn mặc sạch sẽ, mang kiếng cận, nói tiếng Anh khá lưu loát, tự giới thiệu là kỹ sư trưởng trên giàn khoan này.
Tôi liền trình bày những gì đã nói với đám công nhân, không quên kể thêm việc chúng tôi bị mất phương hướng sau hai ngày gặp bão, và xin được cứu giúp. Nhưng viên kỹ sư giải thích giàn khoan này thuộc một công ty tư nhân của Nhật, và theo luật lệ của công ty, chỉ có nhân viên của công ty mới được phép bước lên giàn khoan, vì thế ông ta có trách nhiệm không cho tôi hay bất cứ ai bước lên cầu tàu này vì nó thuộc giàn khoan của một công ty tư nhân.
* * *
Trước khi vượt biên, qua thư từ của những người đã tới các trại tỵ nạn, chúng tôi được biết cùng với việc nhiều thuyền nhân được tàu buôn vớt còn có một số ghe cặp vào giàn khoan ngoài khơi, được họ vớt lên và sau đó được tàu đưa tới đất liền. Giờ đây bị viên kỹ sư Nhật từ chối, tôi vô cùng thất vọng và hoang mang. Chẳng lẽ thế giới tự do đã quay lưng lại với người tỵ nạn; hay đây chỉ là một trường hợp riêng lẻ?!
Sau này có cơ hội tìm hiểu, tôi mới biết đó là chủ trương của chính phủ Nhật Bản, một quốc gia có tiếng văn minh, giàu mạnh, tinh thần dân tộc cao nhưng luôn luôn thiếu lòng nhân đạo – ít nhất cũng là theo nhận xét của cá nhân tôi.
Thành thật mà nói, trước đó tôi đã không ưa người Nhật. Cho dù những nguyên nhân khiến tôi ghét người Nhật có thể bị một số người cho là do tinh thần dân tộc cực đoan, quá khích, hoặc mang nặng thành kiến với quân phiệt Nhật trong thời gian Đệ nhị Thế chiến, hay bất mãn trước đường lối thiên tả của họ trước 1975, tôi vẫn nhất quyết… không ưa người Nhật!
Nhưng kể cả những người xưa nay không hề ghét Nhật cũng không thể biện hộ cho con cháu Thái dương Thần nữ trước việc họ quay lại với người tỵ nạn Việt Nam!
Thời gian từ giữa tới cuối thập niên 1970, nhiều quốc gia thuộc thế giới tự do đã mở rộng vòng tay đón nhận thuyền nhân Việt Nam, nhưng trong số đó không có Nhật Bản.
Theo tôi, có hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, xưa nay người Nhật luôn luôn chủ trương một nước Nhật thuần chủng, không có một giống dân nào khác ngoài con cháu Thái dương Thần nữ; và thứ hai, không biết có phải vì cái hận phải đầu hàng Mỹ trong Đệ nhị Thế chiến hay không mà đa số người Nhật – dân chúng, chính giới cũng như giới truyền thông – đều có lập trường chống Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.
Vì thế, mặc dù từ ngày 12/05/1975, tức là chưa đầy hai tuần lễ sau khi miền Nam VN lọt vào tay cộng sản, 9 người tỵ nạn Việt Nam được một tàu Mỹ vớt trên biển, đưa vào hải cảng Chiba gần Tokyo, tới giữa năm 1979, khi tổng số thuyền nhân Việt Nam đến Nhật đã lên tới trên 3,000 người, chính phủ Nhật Bản vẫn chưa có một chính sách nào về việc thu nhận người tỵ nạn cộng sản; việc giúp đỡ những con người khốn khổ này đều do các tổ chức thiện nguyện, tôn giáo, xã hội như Caritas Japan, Hội Hồng Thập Tự Nhật Bản, Cứu Thế Quân (Salvation Army)… đảm nhận.
Mọi thủ tục giấy tờ từ khi đặt chân lên bờ đều do Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) đảm trách. Chính phủ Nhật chỉ miễn cưỡng cho phép thuyền nhân lên bờ, tạm trú sau khi đã có cam kết bằng văn bản của Cao Ủy Tị Nạn rằng sẽ đưa các thuyền nhân này đi định cư ở một nước thứ ba!
Chỉ tới sau khi hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương diễn ra tại Geneva vào tháng 7 năm 1979, với kết quả trên 20 quốc gia Âu châu và Bắc Mỹ đồng ý gia tăng gấp đôi số người tị nạn được nhận định cư mỗi năm, đồng thời gia tăng đóng góp vào ngân sách của Cao ủy Tỵ nạn LHQ, trước áp lực của dư luận quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, quốc gia đã nhận cho định cư khoảng 90% số thuyền nhân tới Nhật, chính phủ Nhật mới bắt đầu cứu xét cho người tỵ nạn cộng sản từ Việt Nam được định cư tại quần đảo Phù Tang – với số lượng nhỏ giọt!
Cũng trong hội nghị nói trên, Cao ủy Tỵ nạn LHQ còn kêu gọi các tàu buôn quốc tế tích cực tham gia công việc cứu vớt những người tỵ nạn mà họ gặp ngoài biển khơi, và đưa ra quy định người tỵ nạn được tàu của quốc gia nào vớt thì sẽ được định cư tại quốc gia đó.
Sau này khi đã tới trại tỵ nạn và có dịp làm việc với văn phòng Cao ủy, tôi được biết chính quy định này đã khiến một số quốc gia, đứng đầu là Nhật Bản, né tránh việc cứu vớt thuyền nhân để khỏi phải mang gánh nặng!
Tới lúc đó tôi mới hiểu tại sao gần 30 con tàu chúng tôi gặp trên biển Đông đã ngoảnh mặt làm ngơ, và cái giàn khoan Nhật mà chúng tôi cứ ngỡ là cứu tinh ấy đã tàn nhẫn xua đuổi đoàn người trên con thuyền mong manh chỉ dài hơn 7 mét!
* * *
Trở lại với ngày 19/10/1981 trên biển Đông, mặc dù viên kỹ sư Nhật dứt khoát không cho tôi hay bất cứ ai bước lên cầu tàu của giàn khoan, ông anh cột chèo của tôi vẫn nhất quyết cho ghe nằm “ăn vạ” dưới chân cầu tàu vì tin rằng sớm muộn người ta cũng phải giải quyết.
Bên cạnh đó là những cặp mắt lo âu xen lẫn hy vọng của mọi người trên ghe, nên cho dù không có một chút thiện cảm nào với viên kỹ sư Nhật, tôi cũng phải ra sức ca bài con cá nó sống vì nước, cam kết với ông ta tôi sẽ không để ai bước lên cầu tầu, chỉ xin giàn khoan giúp đỡ bằng cách liên lạc với tàu bè qua lại, báo cho họ biết có người tỵ nạn đang ở giàn khoan chờ được cứu vớt.
Nhưng viên kỹ sư Nhật lạnh lùng lắc đầu, trả lời rằng giàn khoan không có phương tiện liên lạc với tàu bè của các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh công ty của ông ta là một công ty tư nhân, không phải của chính phủ Nhật!
Rồi ông ta khuyên chúng tôi nên tiếp tục cuộc hành trình khi thời tiết còn tốt. Trước đó, khi tôi nói chúng tôi bị mất phương hướng sau khi gặp bão, ông ta đã trấn an tôi rằng chúng tôi vẫn đang đi đúng hướng, và chỉ cần đi thêm hơn một tiếng đồng hồ nữa là tới đảo Laut.
Viên kỹ sư còn ra vẻ tử tế, nói rằng nếu chúng tôi cần dầu mỡ, lương thực, nước uống… giàn khoan sẵn sàng cung cấp. Dĩ nhiên, chúng tôi không cần tới những thứ đó, bởi khi ra đi trên chiếc ghe 7 mét rưỡi vào giữa mùa bão, chúng tôi chấp nhận chết vì ghe bị bể, bị chìm nhưng dứt khoát sẽ không chết vì đói khát hoặc hết nhiên liệu, cho nên thứ gì chúng tôi mang theo cũng dư thừa cho một cuộc hành trình có thể kéo dài tới hai, ba tuần lễ!
Mặc dù chúng tôi nói không cần gì cả, viên kỹ sư cũng cho người đem ra mấy hộp sữa tươi, khoảng một chục quả cam, và cả mấy cục xà bông thơm, mấy chai shampoo có lẽ vì thấy đám đàn bà con nít trên ghe dơ bẩn, đen đủi phát khiếp (vì khói máy tàu)!
Trước thái độ dứt khoát và hành động đuổi khéo của viên kỹ sư, ông anh cột chèo của tôi đành phải chấp nhận rời giàn khoan!
* * *
Từ giàn khoan, chúng tôi tiếp tục đi theo hướng nam (180 độ), nhưng sau gần hai tiếng đồng hồ vẫn không thấy đảo Laut như viên kỹ sư Nhật đã nói!
Lúc này, sau khi bị giàn khoan từ chối cứu vớt, mọi người đều xuống tinh thần, nhất là đám phụ nữ, chỉ sợ gặp hải tặc Thái Lan!
Mặc dù không biết đích xác lúc này ghe đang ở đâu, tôi cũng cố làm ra vẻ bình tĩnh, trấn an mọi người rằng chúng ta đang trên đường đi tới Nam Dương, cách xa vịnh Thái Lan cả mấy trăm cây số, không việc gì phải lo sợ hải tặc!
Nhưng trong khi trấn an mọi người, chính tôi cũng cảm thấy không hoàn toàn yên tâm. Làm sao tôi biết bọn hải tặc Thái Lan chỉ hoạt động trong vịnh Thái Lan? Làm sao tôi biết trong đám ngư dân Nam Dương không có hải tặc?
Nghĩ tới hải tặc, tôi lại thầm trách ông anh cột chèo đã không chịu cho tôi mang theo vũ khí để tự vệ!
Ngày ấy, những năm cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, một số nghe vượt biên, thường là ghe có đông thanh niên hoặc cựu quân nhân VNCH, đã lén mang theo súng ống, lựu đạn để đề phòng trường hợp gặp hải tặc Thái Lan.
Trong thời gian chuẩn bị chuyến vượt thoát, mặc dù đã nhất quyết đi về hướng Nam Dương chứ không vào vịnh Thái Lan, tôi cũng đã nghĩ tới việc mua vũ khí và nhờ Khiêm (tay bạn trung úy hải quân mua hải bàn, hải đồ cho tôi) dò hỏi đám anh chị chợ trời, được biết hai “mặt hàng” phổ biến nhất cho dân vượt biên là súng lục K54 của Trung Cộng và lựu đạn M26 của Mỹ cung cấp cho quân đội VNCH trước năm 1975.
Súng K54 tôi không dám nghĩ tới vì không đủ khả năng tài chánh nhưng lựu đạn thì có thể xoay tiền để mua; tôi dự trù ít ra cũng phải có hai trái để chống lại hai chiếc ghe hải tặc đầu tiên (trường hợp gặp hải tặc tới ba bốn lần thì đành phó thác cho trời!). Nhưng khi tôi bàn với ông anh cột chèo thì bị ông phản đối kịch liệt; ông nói nếu bị bắt lại mà công an xét ghe thấy có vũ khí coi như đời tàn, chúng muốn buộc mình vào tội gì cũng được!
* * *
Trước sự xuống tinh thần của mọi người và lo âu của chính mình, tôi chỉ còn biết ngước mắt lên trời, phó thác mọi việc cho Thiên Chúa, Đức Mẹ Maria và Thánh Mác-tin.
Vào khoảng 3 chiều, bỗng có một bầy cá lớn bơi sát bên cạnh ghe, có con còn nhào lộn trước mũi. Lúc đầu mọi người hốt hoảng vì tưởng cá mập, sau đó mới biết là cá heo.
Theo sự tin tưởng của ngư dân xưa nay, ra biển gặp cá heo là điềm may. Tôi không biết sự tin tưởng ấy có đúng hay không, chỉ biết trông rất vui mắt. Sau đó, ghe cứ đi được một khoảng thì cá heo lại xuất hiện cả bầy, bơi dọc hông nghe rồi qua mặt, làm như muốn chê ghe của chúng tôi chạy chậm vậy!
Cảnh tượng (và ý nghĩ khôi hài) ấy đã khiến tôi tạm quên đi những nỗi lo của mình!
Chưa hết, một lúc sau còn có những con hải âu xuất hiện, bay lượn khá thấp trên mặt biển. Trước đây qua đọc sách vở, tôi được biết đại khái ở ngoài biển khơi mà thấy hải âu bay lượn là biết gần tới bờ, tuy nhiên “gần” ở đây là mấy chục hay mấy trăm km còn tùy thuộc loài hải âu và dòng nước ấm…
Nhưng ít ra chúng tôi cũng cảm thấy an tâm phần nào, để rồi vài phút sau đó, những gì chúng tôi mong đợi đã tới, một ngọn núi nho nhỏ nhô lên ở cuối chân trời: đảo Laut!
Pulau Laut
Thực ra nếu không gặp giàn khoan và được viên kỹ sư Nhật cho biết chúng tôi đang đi đúng hướng, tôi không dám quả quyết hòn núi trước mặt chính là hòn núi trên đảo Laut, nhưng giờ đây tôi có thể tin tưởng tới 90% đó là Laut. Có nghĩa viên kỹ sư Nhật đã không xí gạt chúng tôi mà chỉ… rút ngắn khoảng cách còn chưa tới một nửa!
Nhưng cho dù trường hợp 10% tệ hại xảy ra: đây không phải đảo Laut mà là một hòn đảo khác, thậm chí một hoang đảo, chúng tôi cũng tạm xem như đã sống sót, đã tới bờ bến chứ không vùi thây trên biển cả!
Khoảng bốn giờ chiều, chúng tôi có thể thấy màu xanh lam mờ mờ của ngọn núi, và một tiếng đồng hồ sau, đã thấy toàn bộ hòn đảo xanh rì trước mặt.
Mọi người – trừ vợ tôi – từ trong khoang kéo ra chen chúc nhau ngắm nhìn hòn đảo, ai nấy lộ vẻ vui mừng.
Khi còn cách bờ khoảng 2, 3 km, chúng tôi thấy một chiếc tàu vận tải khá lớn ở gần bờ phía bên tay trái. Tới gần hơn, tôi thấy con tàu nằm bất động, có lẽ đang thả neo, nhưng khi lấy ống nhòm quan sát, tôi thấy con tàu rất cũ kỹ, toàn thân bị rỉ sét, nằm nghiêng về một phía và không có bóng một người trên tàu.
Tới gần hơn nữa, tôi mới biết đây là một chiếc tàu bị mắc cạn, và thắc mắc tại sao người ta không tìm cách kéo nó ra mà lại bỏ hoang?
Bỗng ông anh cột chèo báo cho tôi biết hình như có một chiếc ghe ở xa xa phía bên tay mặt; tôi đưa ống nhòm lên thì thấy đó là một chiếc ghe nhỏ đang hướng về phía chúng tôi, trên có mấy bóng đàn ông.
Vừa nghe tôi mô tả những gì mình thấy, ông anh cột chèo chỉ tay vào bờ và lớn tiếng ra lệnh cho tài công Lý:
– Chạy thẳng vào bờ!
Giọng của ông lạc đi, tôi đoán biết chính ông cũng lo sợ chiếc ghe kia có thể là ghe… hải tặc!
Tiếp tục quan sát qua ống nhòm, tôi thấy chiếc ghe vẫn tiến về phía ghe chúng tôi, càng lúc càng gần, và cuối cùng tôi có thể thấy rõ người đàn ông đứng ở mũi ghe đang đưa tay vẫy lia lịa.
Chiếc ghe có tốc độ khá nhanh cho nên chẳng mấy chốc đã tới gần ghe chúng tôi trong khi chúng tôi còn cách xa bờ cả cây số. Nếu là ghe hải tặc chúng tôi phải chấp nhận đối phó chứ không thể nào chạy thoát được!
Khi hai ghe đã gần sát nhau, tôi thấy đây là một chiếc ghe đánh cá thuộc cỡ nhỏ nhất nhưng tiếng máy nổ khá mạnh; trên ghe có bốn người đàn ông, người đứng ở mũi ra hiệu cho chúng tôi dừng ghe lại.
Trước năm 1975 tôi chưa có cơ hội để phân biệt nét mặt giữa người Nam Dương, người Mã Lai, người Thái Lan cũng như ngôn ngữ của ba dân tộc này, tuy nhiên giờ này khi tôi đã tin rằng hòn đảo trước mặt chính là đảo Laut trên hải đồ thì tôi cũng có quyền tin chiếc ghe này của người Nam Dương; mà từ trước tới nay người ta chỉ nói tới “hải tặc Thái Lan” chứ không ai nói tới “hải tặc Nam Dương” cả!
Như vậy tôi có thể yên tâm!
Khi hai chiếc ghe đã cặp sát nhau, người đứng ở mũi ghe nhảy sang ghe chúng tôi. Phản ứng đầu tiên của tôi là xem tay ông ta có cầm vũ khí gì không?
Không có gì cả!
Rồi thêm một người nữa nhảy sang. Đó là một thanh niên đeo kính cận, ăn mặc khá văn minh lịch sự (quần jeans, áo polo…), khác với ba người kia. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng bản xứ rồi anh thanh niên chỉ vào người tôi, hỏi bằng tiếng Anh:
– You Vietnam?
Tôi không kịp ngạc nhiên, trả lời ngay “Yes, Vietnam” rồi vội vã chỉ tay vào bờ, hỏi lại anh ta:
– Laut Island, Indonesia?
Anh đáp:
– Yes, Pulau Laut! (“pulau” tiếng Nam Dương, tiếng Mã Lai có nghĩa là “đảo”)
Rồi anh thông dịch lời của người đàn ông kia (người đã nhảy sang ghe trước tiên) hỏi chúng tôi có vũ khí trên ghe không; sau khi tôi trả lời không, anh nói chúng tôi cho ghe chạy theo chiếc ghe của họ.
Dĩ nhiên chúng tôi không có lựa chọn nào khác. Rồi với thứ tiếng Anh “cao-bồi Texas”, người thanh niên giải thích với tôi rằng anh là sinh viên y khoa đang thực tập trên “city”, nhân kỳ nghỉ hè về Pulau Laut thăm họ hàng, hôm nay theo mấy ngư dân đi chơi biển và trên đường trở về đảo đã vô tình nhìn thấy ghe chúng tôi, bằng không, chắc chắn chúng tôi sẽ gặp nạn!
Những gì anh sinh viên kể tiếp theo đó cho thấy chúng tôi cực kỳ may mắn!
Nguyên vùng biển chung quanh đảo Pulau Laut toàn là san hô ngầm. Nhiều tàu thuyền lạ đã gặp nạn, bị chìm hoặc bị hư hại phải bỏ lại như chiếc tàu vận tải mà chúng tôi đã nhìn thấy hồi chiều.
Sau này được đưa sang những hòn đảo khác, tôi mới biết cả vùng biển phía bắc của Nam Dương, trong đó có quần đảo Natuna, là vùng biển có nhiều san hô và đá ngầm vây quanh các đảo; và vì biển ở vùng này rất cạn, tàu thuyền không thể vào sát bờ, người ta phải làm những cầu tàu ra tận ngoài biển, có khi dài tới mấy trăm mét.
Vì thế, nếu chiếc ghe của mấy người Nam Dương không nhìn thấy ghe chúng tôi và tới chặn lại, chúng tôi sẽ tiếp tục chạy thẳng vào bờ biển trước mặt để rồi cùng số phận với những tàu thuyền bị chìm trước đó!
* * *
Chiếc ghe đánh cá dẫn đường chạy khá chậm. Tuy lúc này đã khoảng 6 giờ tối, nhìn xuống mặt nước theo tay anh sinh viên chỉ, chúng tôi vẫn có thể thấy san hô dầy đặc dưới mặt nước biển trong vắt.
Trong lúc tôi và anh sinh viên nói chuyện, người đàn ông Nam Dương kia lấy gói thuốc lá trong túi ra mời mọi người; tôi, tài công Lý, và Tiến đang đứng gần đó mỗi người lấy một điếu. Vừa đưa điếu thuốc lên môi chưa kịp đốt, tôi đã ngửi thấy mùi thơm nhưng không phải mùi thơm của thuốc lá mà là mùi thơm của… gia vị: đinh hương (clove), một vị trong “ngũ vị hương” của người Tàu!
Những ai từng sống ở trại tỵ nạn Pulau Galang, dù hút thuốc hay không hút thuốc cũng không thể quên được cái mùi thơm nồng nặc của loại thuốc lá tẩm đinh hương này (clove cigarettes, tiếng Nam Dương gọi là “kretek”).
Gudang Garam, hiệu “clove cigarettes” cao cấp nhất
Có khác chăng trong khi những người không hút thuốc trước sau chỉ thấy nồng nặc, khó chịu thì những người hút thuốc sau một thời gian hút lại đâm ra nghiền (tuy nhiên đa số không có khả năng mua vì giá mắc hơn nhiều so với thuốc lá bình thường).
Mặc dù đang phải hút Hoa Mai, loại thuốc lá quốc doanh được xem là tồi tệ nhất, lúc đó tôi, Lý, và Tiến cũng không thể nào thưởng thức nổi hương vị của mấy điếu thuốc tẩm đinh hương. Tuy nhiên, trong khi Lý và Tiến lén quăng điếu thuốc xuống nước thì tôi, đang đứng đối diện với hai người đàn ông Nam Dương, phải cố gắng chịu đựng, lâu lâu đưa lên miệng bập một cái thật nhẹ cốt để tránh làm mất lòng họ.
* * *
Sau khoảng nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy có ánh đèn điện từ trong bờ rồi chiếc ghe đánh cá hướng dẫn chúng tôi đi vào một cái cầu tàu bằng gỗ. Tới nơi, anh sinh viên nói chúng tôi chờ dưới ghe để người đàn ông Nam Dương kia đi thông báo cho “cáp-ten” (captain), người mà anh giải thích là “chúa đảo” ở Pulau Laut.
Trong lúc chờ đợi ông “cáp-ten”, tôi vào trong khoang và qua ánh sáng lờ mờ từ trên cầu tàu, chứng kiến một cảnh tượng bi hài không thể tưởng tượng: trừ bà chị vợ của tôi và Tốt (vợ Trung, đang mang bầu), tất cả đàn bà con gái còn lại đều sợ hãi ôm chặt lấy nhau vì cho rằng ghe của mình đã lọt vào tay hải tặc, bất chấp những lời giải thích của đám đàn ông đây là những người đánh cá của Nam Dương!… Riêng cô vợ yêu quý của tôi thường nhật cũng không lấy gì làm sùng đạo cho lắm, giờ này đang ôm chặt pho tượng Thánh Mác-tin vào lòng!
Một lúc sau, ông “chúa đảo” – một người trạc tuổi trung niên – cùng với mấy người đàn ông nữa tới nơi. Ông ta chỉ vào ngực và nói một cách hãnh diện “cáp-ten…, cáp-ten”.
Rồi một người, sau này tôi được biết là một thư ký hành chánh, phụ tá của ông cáp-ten, cũng nói được chút ít tiếng Anh, hỏi tôi về tổng số người trên ghe, sau đó nói tôi cho mọi người mang theo tất cả hành lý rời ghe để lên bờ.
Nhưng đám đàn bà con gái ngồi trong khoang nhất định không chịu rời ghe, riêng vợ tôi thì khóc rống lên, nói chết thì chết chứ không lên bờ. Tôi nổi sùng, lớn tiếng quát đã liều chết vượt biển, nay tới bờ lại không chịu lên là làm sao!
Cuối cùng thì mọi người cũng phải lên cầu tàu, riêng vợ tôi và Lệ, cô gái trẻ khách của bà chị vợ, yếu quá đi không nổi phải dìu. Ông “cáp-ten” cùng người thư ký hướng dẫn chúng tôi đi khoảng vài chục mét thì tới một cái nhà sàn khá lớn, đèn điện sáng trưng, sau này mới biết đó là “tư thất” của ông cáp-ten kiêm văn phòng của đảo Pulau Laut.
Chúng tôi được đưa vào một căn phòng lớn, có lẽ là nơi sinh hoạt của dân chúng trên đảo nhưng bàn ghế đã được dọn dẹp; một số đàn bà con nít đang ngồi dưới sàn nhà xem truyền hình. Người thư ký nói chúng tôi ngồi chờ ở đây để bà vợ cáp-ten nấu cơm tối, không quên hướng dẫn lối đi nhà vệ sinh.
Tới lúc này đám đàn bà con gái trên ghe chúng tôi mới hoàn toàn yên tâm. Riêng tôi vừa ngạc nhiên vừa cảm kích trước cách đối xử của những người Nam Dương đầu tiên mình được gặp. Chỉ có điều là đám đông đang ngồi xem truyền hình hầu hết không theo dõi những gì đang diễn ra trên màn ảnh nữa mà quay sang quan sát chúng tôi, chỉ trỏ, bàn tán…; rồi càng lúc càng có nhiều người kéo tới, đại đa số là phụ nữ và trẻ con.
Lúc đầu chúng tôi cũng cảm thấy khó chịu, nhưng sau một hồi nhìn những khuôn mặt hiền lành chất phác, những nụ cười vô tư của họ, chúng tôi hiểu đây chỉ là sự tò mò vô hại của những người dân đảo hồn nhiên…
Khoảng hơn nửa giờ sau, bữa cơm tối do bà vợ cáp-ten cùng một số phụ nữ nấu đã sẵn sàng. Nhìn cái nồi cơm khổng lồ và chén bát, muỗng nĩa (không có đũa) đầy đủ cho mấy chục người, tôi đoán có lẽ đây cũng là nơi tụ tập tiệc tùng ăn uống của người dân trên đảo.
Bữa tối chỉ có cơm, cá khô và một món canh rau nhưng trừ vợ tôi và cô Lệ quá yếu mệt, tất cả chúng tôi ăn rất ngon miệng sau bốn ngày sống nhờ lương khô!
Ăn cơm tối xong, nghỉ ngơi một lát, chúng tôi được người thư ký cho biết anh sẽ đưa chúng tới nơi tạm trú. Tôi đại diện đoàn người cám ơn ông “cáp-ten” và bà vợ đã cho ăn cơm tối bằng tiếng Anh và được người thư ký thông dịch sang tiếng Nam Dương; trong khi ông “cáp-ten” chỉ gật gật cái đầu thì bà vợ đáp lại bằng nụ cười thật tươi.
Người thư ký đưa chúng tôi tra ra cầu tàu, từ đây đi vào bờ hai bên cầu tàu đều có nhà sàn của người dân, có một hai nhà có truyền hình.
Tới bờ, chúng tôi được dẫn đi thêm vài trăm mét, tới một ngôi nhà lớn nằm giữa một khoảng đất trống tối thui chẳng có đèn đuốc gì cả. Người thư ký đưa cho chúng tôi một mớ đèn cầy, nói vào bên trong ngủ đỡ qua đêm, sáng hôm sau anh ta sẽ trở lại.
Đó là một ngôi nhà lợp tôn vách ván, nền xi-măng, có hai dãy sạp gỗ, mà tôi đoán là được dựng lên cho những thuyền nhân đã tạt vào hòn đảo này, trong số đó có năm anh em con bà chị vợ tôi đi năm 1979.
Sáng ra, người thư ký trở lại cùng với ông cáp-ten. Lúc này tôi mới có thì giờ quan sát kỹ ông “chúa đảo”. Điểm đầu tiên đập vào mắt người đối diện là ông cao hơn mọi người gần một cái đầu, điểm kế tiếp là bộ đồ thể thao (tracksuit) Adidas với đôi giày cùng hiệu của ông. Sau này tới các đảo lớn, tôi mới biết Adidas là “hàng hiệu” được ưa chuộng nhất ở Nam Dương thời bấy giờ.
Không biết ông cáp-ten có mấy bộ tracksuit, chỉ biết trong thời gian ở Pulau Laut, chúng tôi thấy ông chỉ mặc một kiểu quần áo duy nhất là bộ tracksuit Adidas màu xanh đậm. Còn những người đàn ông khác trên đảo không hiểu vì không có cơ hội tiếp xúc với xã hội “văn minh” hay vì thời tiết nóng quanh năm mà tất cả đều mặc áo thun (T-shirt), quần đùi, sau khi đi đánh cá về mới quấn cái xà-rông (sarong).
Cũng giống như đại đa số dân ở các đảo nhỏ của Nam Dương, ông cáp-ten có nước da nâu sậm, khuôn mặt mang những nét thuần chủng của người bản xứ (native Indonesians) chứ không có những nét lai Ấn-độ, Ả-rập, Âu châu, Trung Hoa… như nhiều người Nam Dương ở các đảo lớn.
Viết một cách ngắn gọn là không được thanh tú. Bù lại, họ (dân đảo) có những nét đơn sơ, ngây ngô chất phác dễ gây thiện cảm nơi người lạ.
* * *
Qua phần “thông dịch” của người thư ký, chúng tôi được biết ông cáp-ten là đại diện chính quyền Nam Dương ở Pulau Laut, có trách nhiệm canh giữ và giúp đỡ chúng tôi cho tới ngày được đưa tới “city”. Trong thời gian ở Pulau Laut, chúng tôi không được vào rừng sâu, không được đi ra cầu tàu hoặc bờ biển.
Sau đó, người thư ký nói chúng tôi cử mấy người lên văn phòng của đảo để lãnh gạo và chiếu nằm về cho mọi người, cùng với nồi niêu chén đĩa, còn thực phẩm thì khi nào ghe đánh cá về thì sẽ cho người gọi chúng tôi tới nhận cá.
Khoảng gần trưa, một phụ nữ tới ra hiệu cho chúng tôi theo bà ta ra bãi. Tới nơi thì thấy ngư dân đã đem cá lên bờ, bày la liệt trên bãi cát, có những con chắc phải tới 4, 5kg, một số người dân đảo đứng chung quanh. Người phụ nữ chỉ tay ra hiệu cho tôi chọn một con trong số những con lớn nhất; tôi bối rối chưa biết phản ứng ra sao, một phần vì ngại ngùng, một phần vì không rành về cá biển, thì bà ta đã lấy con cá lớn nhất trao cho chúng tôi. Sau đó số cá còn lại mới phân phối cho người dân đảo.
Việc “tặng cá” này diễn ra mỗi ngày. Còn gạo thì mỗi lần họ phát cho khoảng 20kg, nói khi nào hết lên lãnh tiếp.
* * *
Tới đây cũng xin có đôi dòng về đảo Pulau Laut và cuộc sống của người dân trên đảo.
Pulau Laut là hòn đảo gần Việt Nam nhất, thuộc hạt (regency) Natuna, tỉnh (province) Riau của Nam Dương. Về mặt lãnh thổ, Cộng Hòa Nam Dương gồm trên 17,000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó vùng đảo Riau, gồm 1,796 đảo, có vị trí quan trọng nhất, vì nằm giữa bán đảo Mã Lai vào đảo Borneo, phía nam là eo biển Malacca (Malacca Strait), huyết mạch giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương (biển Đông), phía bắc là lộ trình hàng hải quốc tế.
Vùng đảo phía bắc của Riau là quần đảo Natuna gồm 272 hòn đảo lớn nhỏ, với những biển san hô tuyệt đẹp, với trữ lượng dầu hỏa lớn nhất biển Đông, hiện nay đã trở thành địa điểm du lịch nổi tiếng đồng thời cũng trở thành mục tiêu xâm lấn của Trung Cộng (bản đồ “lưỡi bò” mới nhất của Bắc Kinh bao gồm một phần vùng biển phía đông bắc Natuna).
Nhưng vào đầu thập niên 1980, Natuna còn tương đối thưa vắng, nhất là vùng đảo phía bắc, gồm Pulau Laut và hai đảo nhỏ hơn, cùng nhiều đảo tí hon (islets).
Bản đồ lãnh thổ Nam Dương (màu trắng). Vùng biển Riau nằm ở phía bắc, đảo Natuna có mũi tên đỏ; chấm nhỏ phía bên trên là Pulau Laut
Pulau Laut nằm cách đảo chính (Natuna) khoảng 50 km, có chiều dài 11 km theo hướng nam-bắc, chỗ rộng nhất khoảng 5 km. Vào thời gian này, theo lời người thư ký của ông cáp-ten, chỉ có hơn một trăm người dân đảo, sống quây quần ở một bờ biển ở phía nam, nhìn ra hướng tây. Gần như toàn bộ diện tích của Pulau Laut là rừng núi, mà đỉnh cao nhất (273m) nằm ở phía bắc – mà chúng tôi đã nhìn thấy vào chiều 19/10/1981 sau khi rời giàn khoan Nhật.
Tất cả dân đảo chỉ làm một nghề là thu hoạch cùi dừa. Dừa ở Pulau Laut, cũng như ở đa số đảo khác của Nam Dương, Mã Lai, nguyên là dừa mọc hoang ở bờ biển không biết từ đời nào, sau đó được người dân trồng thêm. Dừa khi đã già được lấy cùi, bỏ vào bao bố đưa lên Natuna bán cho các nhà thu mua.
Dừa ở vùng đảo này là dừa vỏ xanh, thân cây cao tới trên 20 mét. Vì thế người ta phải nuôi khỉ để leo lên hái dừa. Hiện nay, những người từng đi du lịch Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương… tới các vùng khai thác dừa có thể đã được “thưởng lãm” cảnh khỉ hái dừa, hoặc qua đọc tài liệu, xem video của các tổ chức bảo vệ thú vật, nhưng ngày ấy chúng tôi chưa một ai được chứng kiến hoặc nghe nói tới việc nuôi khỉ để hái dừa.
Thành thử chứng kiến cảnh hậu duệ Tề thiên Đại thánh bị loài người bắt leo lên cây hái dừa, chúng tôi vừa ngạc nhiên thích thú vừa thương tội!
Thương tội bởi vì để khỉ không thể chạy trốn, người ta xiềng vào cổ nó một sợi xích sắt, dài ngắn tùy theo con khỉ lớn hay nhỏ nhưng tối thiểu cũng khoảng 3, 4 mét; với sức nặng của sợi xích, con khỉ chỉ đi chứ không thể chạy!
Không biết những con khỉ này được huấn luyện ra sao, chỉ biết khi một con được dắt tới gốc dừa, nó leo thoăn thoắt lên ngọn để bẻ dừa, bắt đầu từ những trái lớn nhất quăng xuống gốc cây; trường hợp cuống trái dừa không đứt, nó dùng răng để cắn… Cho tới khi ông chủ ra lệnh thì mới được leo xuống.
Bản đồ lãnh thổ Nam Dương (màu trắng). Vùng biển Riau nằm ở phía bắc, đảo Natuna có mũi tên đỏ; chấm nhỏ phía bên trên là Pulau Laut
Hậu duệ Tề thiên Đại thánh hái dừa
Trong một lần cùng vài người trong ghe đi vào ven vào rừng để thám hiểm, vừa ra khỏi khoảng đất trống nơi có ngôi nhà tạm trú, tôi thấy một ngôi nhà bỏ hoang. Điểm đầu tiên đập vào mắt tôi là tấm bảng gỗ ở phía trước có huy hiệu Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR) và hai hàng chữ bắng tiếng Anh và tiếng Nam Dương (Nam Dương, nguyên là thuộc địa của Hòa Lan trong gần bốn thế kỷ, sử dụng mẫu tự La-tinh). Cấu trúc và màu sắc của ngôi nhà này khác hẳn với nhà cửa của dân chúng trên đảo. Đó là một căn nhà sàn bằng gỗ lợp tôn, vách ván, sơn màu xanh blue nhạt, gồm hai căn phòng trống trải.
Sau đó, qua đọc những chữ được khắc trên các cột nhà tạm trú và nghe những người đi trước kể lại, tôi được biết trong các năm 1978, 1979, 1980 đã có một số ghe vượt biên từ Việt Nam, hoặc vì không biết có trại tạm trú ở đảo Kuku hoặc vì không biết đường đi tới Kuku, khi thấy đảo Pulau Laut liền tấp vào. Số thuyền nhân tạm trú tại Pulau Laut có lúc lên tới cả trăm, vì thế lâu lâu Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ lại đưa nhân viên tới đảo thiết lập danh sách, phỏng vấn sơ khởi, rồi từng đợt được đưa sang các đảo lớn.
Ngôi nhà gỗ sơn xanh nói trên được dựng lên làm văn phòng cho nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn làm việc, cùng với ngôi nhà dành cho thuyền nhân tạm trú mà tôi đã viết ở đoạn trên.
Sau này vì đa số ghe đi Nam Dương đã tới thẳng đảo Kuku, thậm chí tới thẳng đảo Galang, đồng thời để tiết kiệm nhân lực vốn luôn thiếu hụt, văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn ở Pulau Laut đã bị dẹp bỏ. Căn nhà tuy bị bỏ hoang nhưng không có người dân nào tới phá phách, tháo gỡ tôn ván vì cho rằng nó vẫn là tài sản của Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ.
* * *
Qua ngày thứ hai sau khi chúng tôi đặt chân lên Pulau Laut, người thư ký của ông cáp-ten đem xuống một cái máy đánh chữ nhỏ thuộc loại cổ lỗ sĩ và mấy tờ giấy có in tiếng Anh do Cao Ủy Tỵ Nạn để lại, để tôi đánh danh sách người đi trên ghe.
Phía trên tờ giấy là số hiệu của ghe, ngày tới đảo và tổng số người đi trên ghe. Ngày tới đảo thì tôi ghi 19/10/1981, số người trên ghe là 26, nhưng số ghe thì không có, bởi như đã viết trong một kỳ trước, chiếc ghe của chúng tôi không đăng ký để tránh sự kiểm soát và đòi tiền mãi lộ của công an cho nên không có số hiệu gì cả.
Thông thường, các ghe khi đăng ký sẽ được cấp số hiệu gồm hai mẫu tự viết tắt của tên địa phương, chẳng hạn VT (Vũng Tàu), KG (Kiên Giang), (TG Tiền Giang), PT (Phan Thiết), và ba, bốn con số phía sau.
Vì ghe của chúng tôi không có số cho nên tôi để trống. Tuy nhiên sau khi tôi đánh máy xong danh sách, ông anh cột chèo của tôi lại chế ra một cái tên ghe để tôi điền vào.
Tuy gọi là “chế” nhưng cũng có cơ sở. Nguyên hai năm trước đó, ghe của mấy đứa con bà chị vợ tôi cũng không có số, sau khi tới đảo Pulau Laut bị bỏ lại ở đó, còn người thì được đưa tới đảo Kuku, nhân viên Cao Ủy Tỵ Nạn ở Kuku khi làm hồ sơ đã đặt cho chiếc ghe (bị bỏ lại ở Pulau Laut) số hiệu gồm hai mẫu tự PL và tiếp theo là sáu con số.
Trong thư viết từ trại tỵ nạn Galang về Việt Nam, đứa con trai lớn của bà chị vợ tôi giải thích hai con số đầu là tháng tới Nam Dương, hai con số tiếp theo là ngày tới, và hai con số cuối cùng là tổng số người trên ghe.
Còn hai mẫu tự PL, cháu không biết do đâu mà có, và đã viết đùa rằng rất có thể người tây phương vốn có truyền thống lấy tên đàn bà con gái đặt cho các du thuyền cho nên văn phòng Cao Ủy Tỵ Nạn ở Kuku đã lấy tên “Phương Loan” của đứa em gái lớn nhất viết tắt thành PL.
Nhưng ông anh cột chèo của tôi lại… tin lời cậu trưởng nam, cho nên đã lấy hai mẫu tự TV – viết tắt tên con trai út “Thiên Vĩ” – để có một cái tên ghe đầy đủ là TV-101926, nghĩa là ghe tới đảo ngày 19 tháng 10, gồm 26 người.
Ông rất thích thú với cái tên ghe độc đáo, đầy ý nghĩa này, chứ đâu có ngờ chính vì việc “chế” tên ghe không giống ai mà sau này ông và tôi đã bị Cao Ủy Tỵ Nạn quay tới quay lui!
* * *
Sau gần một tuần ở Pulau Laut, chúng tôi được người thư ký của ông cáp-ten báo cho biết ngày mai chúng tôi sẽ được tàu chở lên “city”.
Mặc dù không thể hình dung cái “city” chúng tôi sắp được đưa tới nó lớn nhỏ ra sao, văn minh như thế nào, ai cũng vui mừng. Riêng tôi, xem lẫn nỗi vui ấy có kèm chút bâng khuâng khi từ giã hòn đảo mà mọi người cùng ghe gọi đùa là “hoang đảo” này. Cho dù tới lúc ấy vẫn chưa học được một tiếng Nam Dương nào, tất cả mọi sự “giao dịch” với dân đảo đều qua trung gian thông dịch của anh sinh viên mà đôi khi tôi được gặp lại, tôi cũng rất mến những người dân đảo hiền lành, chất phác, tốt bụng mà sau này không bao giờ còn tìm thấy trên cõi đời này!
Ngày hôm sau, vào khoảng 9 giờ sáng, chúng tôi được người thư ký dẫn ra cầu tàu. Trên đường đi, những người dân đảo thấy chúng tôi khăn gói ra đi đều đưa tay vẫy chào.
Qua khỏi văn phòng của đảo mấy chục mét, chúng tôi thấy cái nghe của mình vẫn còn nằm y chỗ cũ phía bên tay trái cầu tàu; nước đã ngập gần phân nửa (vì đáy nghe bị nứt khi bị bão).
Tôi cảm thấy bùi ngùi khi nghĩ tới tương lai không mấy sáng sủa của chiếc ghe mục nát đã giúp chúng tôi vượt thoát khỏi Việt Nam: vì đã quá cũ, chắc chắc nó sẽ được dân đảo rã ra để làm củi hay sử dụng vào công việc nào đó. Chấm dứt một kiếp ghe!
* * *
Ra tới nơi, tôi thấy một cái tàu gỗ khá lớn, dài khoảng 15-20 mét, trên đó có ông cáp-ten và mấy người đàn ông, có cả anh sinh viên.
Sau khi đếm đầu người, hướng dẫn chúng tôi lên ghe chỉ chỗ ngồi trên sàn ghe chất đày bao bố đựng cùi dừa, người thư ký cho tôi biết đích ông cáp-ten sẽ đưa chúng tôi ra “city” giao cho nhà chức trách, rồi bắt tay tôi từ giã, rời tàu.
Sau khi tàu ra khơi, thấy anh sinh viên một mình đứng ngắm trời biển, tôi lân la tiến tới hỏi chuyện, được anh cho biết ông cáp-ten không chỉ là người đại diện chính quyền ở Pulau Laut mà còn đảm trách mọi phương diện liên quan tới đời sống của người dân đảo.
Chẳng hạn cứ mỗi tháng một lần, ông cùng với mấy người đi theo lại mang cùi dừa, sản phẩm độc nhất của người dân đảo ra “city” bán cho trung tâm thu mua, rồi mua nhu yếu phẩm cho từng gia đình theo danh sách đã ghi, ngoài ra ông còn mua cả những loại thuốc men căn bản cho dân đảo, cất giữ ở trụ sở kiêm tư thất của “chúa đảo”, nơi mà bà vợ của ông kiêm cả vai trò “y tá”!…
* * *
Sau khoảng một tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy vô số đảo ở phía chân trời, anh sinh viên nói với tôi đó là quần đảo Natuna, nơi có “city” mà anh và người thư ký của ông cáp-ten đã nhắc tới.
Đi thêm một tiếng nữa, tàu tới gần quần đảo. Hầu như đảo nào cũng có núi, mà ngọn cao nhất sau này tôi được biết vào khoảng 1000 mét, tức là tương đương với núi Bà Đen ở Tây Ninh.
Con tàu tiếp tục đi về phương nam thêm khoảng nửa tiếng rồi tiến vào một hòn đảo xanh tốt với nhiều nhà sàn nhô ra bờ biển. Cuối cùng, tàu cặp vào một cái bến tàu lót gỗ nằm cách bờ biển cả trăm mét. Cũng giống như ở Pulau Laut và hầu hết các đảo trong vùng biển Natuna, mực nước gần bờ ở đây rất cạn, có nhiều đá ngầm và san hô cho nên người ta phải làm một cái cầu tàu chạy dài ra biển.
Chúng tôi được ông cáp-ten đưa tới văn phòng của bến tàu, ngồi chờ ngoài cửa vì cái phòng quá chật. Trong lúc chờ nhân viên hành chính tới làm thủ tục nhận người tỵ nạn, chúng tôi được một “người hùng” vồn vã săn đón.
“Người hùng” khoảng 35, 40 tuổi, hơi thiếu chiều cao nhưng thân hình vạm vỡ, tuy mặt mũi đen đủi nhưng khá đẹp trai với hàng ria mép cắt tỉa gọn ghẽ; chỉ có điều là kể cả những lúc ra vẻ nghiêm trang, đứng đắn nhất, trông anh vẫn có nét khôi hài, khiến tôi liên tưởng tới danh hài Thanh Việt của Sài Gòn trước 1975.
Với vốn liếng tiếng Anh không nhiều nhặn gì, “người hùng” cho chúng tôi biết anh là một cựu Trung sĩ (Sergeant) trong quân đội Nam Dương, không phải là trung sĩ bình thường mà một trung sĩ trong lực lượng người nhái của hải quân, chuyên đi tầu ngầm. Vừa khoe anh vừa vỗ vào con dao đeo ở thắt lưng, nói đó là loại dao găm đặc biệt của người nhái mà anh được giữ làm kỷ niệm.
Vị cựu trung sĩ người nhái cũng cho biết hiện nay anh là người đặc trách an ninh trên hòn đảo Sedanau này. Lúc đó tôi mới biết chữ Sedanau trên hàng chữ Nam Dương trước văn phòng bến tàu là tên của hòn đảo này.
Chờ khoảng 15 phút, các viên chức Nam Dương tới bến tàu để nhận người. Trước khi chia tay, tôi đại diện ghe cám ơn ông cáp-ten và từ giã anh sinh viên; anh nói rồi đây nếu chúng tôi ra “city” chơi, rất có thể sẽ gặp lại anh.
* * *
Rời bến tàu, chúng tôi theo các viên chức Nam Dương đi ra đường phố. Lần đầu tiên kể từ khi bước xuống ghe, chúng tôi mới nhìn thấy một đường phố đúng nghĩa, với các hàng quán và sinh hoạt thường nhật của người dân. Con đường trải nhựa rất sạch sẽ, nhà cửa và hàng quán hai bên tuy đều bằng gỗ nhưng khá tươm tất.
Đi bộ khoảng vài trăm mét, chúng tôi được đưa vào một cái ngõ khá rộng ở phía bên mặt, dẫn tới một dẫy nhà sàn nhô ra bờ biển, trong đó có một ngôi nhà rộng thênh thang, nơi tạm trú của hơn một trăm thuyền nhân đã tới đây trước chúng tôi.
Một người “thâm niên” nhất, được xem là đại diện tỵ nạn Việt Nam trên đảo Sedanau, hướng dẫn chúng tôi vào tìm chỗ.
Nhà sàn ở vùng đảo Natuna
Một khu nhà sàn ở Sedanau tương tự nơi tạm trú của người tỵ nạn cách đây hơn 40 năm
Về sau tôi được biết căn nhà này nguyên là một cái chợ cá cũ, được nhà cầm quyền địa phương sử dụng làm nơi tạm trú cho người tỵ nạn Việt Nam trong thời gian chờ tàu lớn tới đón.
Hôm qua trong buổi dạ vũ lấy tiền giúp anh em mới sang, tôi biết anh “Đại Tá” có ý giận tôi, và cũng vì chuyện này đêm qua tôi cũng trăn trọc khó ngủ. Trong lúc mọi người vây quanh anh, một đại tá, hai đại tá thì tôi cũng dùng chữ anh để gọi “đại tá” và xưng tôi. Mặt anh tối sầm lại, tôi thấy rõ, mặc dù đêm vũ trường lúc đó đã tối. Phải nói xung quanh đây toàn là em út của anh cả, và ở đây anh là người có cấp bậc cũ trong quân đội lớn nhất. Lẽ cố nhiên anh cũng hãnh diện vì giờ này thiên hạ còn gọi cấp bậc của anh. Biết đâu có người cao hứng đã gọi anh là Chuẩn Tướng cũng nên. Qua đây để nhớ tiếc một thời vang bóng, người ta đã phong hàm, phong tước cho nhau rất nhiều. Thiếu úy thì xưng là Đại úy, Đại úy thì giới thiệu là Thiếu tá. Thiếu tá thì gọi là Trung tá. Thậm chí Trung sĩ được gọi là cựu sĩ quan.
Trước hết tôi không muốn gọi anh là Đại tá, vì như vậy buộc anh phải gọi tôi là Đại úy theo hệ thống quân giai và đúng vai đúng vế, mặc dù tôi biết anh có thói quen gọi tôi lại bằng chú, chú em và đôi lúc cao hứng gọi mày xưng tao, trong khi lúc nào, trước kia tôi cũng nghiêm trang gọi anh bằng Đại tá.
Nếu giờ này, mà tôi còn gọi anh là Đại tá mong anh cũng thông cảm cho, đó là điều quá ư lạc hậu. Hoặc tôi sẽ gọi anh là Thiếu tướng, Trung tướng hoặc Thống tướng, hoặc là tôi sẽ gọi chính danh là cựu Đại Tá. Nhưng ba chữ cựu Đại tá để nói về ngôi thứ ba, còn đối diện với anh mà gọi chữ cựu e không ổn. Tôi không bao giờ quên cái ngày ấy, khi ở đâu trên phi trường, với một cái “samsonite” đầy của quí trong tay, anh đã gọi điện thoại về đơn vị cho các em út, phòng thủ chỗ này, báo cáo chỗ kia. Máy bay sắp cất cánh rồi mà anh còn nói “tôi kẹt chút việc, sẽ về đơn vị ngay.” Thế là đơn vị tin anh không bỏ chúng tôi, đơn vị tử thủ chờ anh về. Gọi điện thoại như thế với kiểu chỉ huy bằng điện đàm, nếu có lật được thế cờ và anh chưa ra khỏi nước, tôi chắc ngôi sao đầu tiên sẽ gắn lên cổ áo anh là cái chắc.
Trên máy bay anh thở phào nhẹ nhõm nhìn lại, điểm mặt vợ con, hành lý, hàng hóa, tài sản tích lũy không thiếu một thứ gì. Anh tùy viên và sĩ quan tài chánh của anh, hai người mà anh quý nhất trong đơn vị cũng đã lên máy bay rồi. Lo cho em út như vậy là quá chu đáo. Trong khi anh nhìn mây Thái Bình Dương bồng bềnh ngoài cửa số, chờ đèn no smoking vụt tắt, châm một điếu thuốc hít một hơi sảng khoái, thì ông Lê Minh Đảo cùng Sư Đoàn 18 đang quần nhau với Cộng Sản ở ngã ba Xuân Lộc, chận hậu cho anh rút đi an toàn. Trong khi anh ngồi trên hàng không mẫu hạm, chắc chắn một trăm phần trăm anh đã thoát khỏi đất nước rồi thì Sàigòn được giải phóng (!). Miền Nam bàng hoàng nhìn những chiến xa quân cụ VNCH được cởi bởi những anh chàng áo xanh, nón cối, dép râu và ngỡ ngàng trước một sự thật hầu như vô lý đang diễn ra.
Trong khi anh đặt chân đến mảnh đất tự do hoàn toàn, dù đó là Guam,
là Midway và “hạ mình” chịu khó xếp hàng lãnh thực phẩm thì em út
các anh đang xếp hàng dưới báng súng AK, lưỡi lê lên tàu sông Hương
đi đày ra Bắc. Ngay khi trực thăng chở anh chị và các cháu rời mặt đất, anh không còn là cấp chỉ huy của tôi nữa, đừng nói gì đến hai chữ “lãnh đạo”. Bây giờ sau 15,16 năm gặp nhau đây thật quá ngỡ ngàng. Trong tôi nếu còn giữ lại là chút tình huynh đệ chi binh anh là huynh trưởng. Gặp nhau đương nhiên cũng tay bắt mặt mừng. Tha hương ngộ cố tri gặp nhau ai lại không mừng. Quê hương đã xa xôi, gặp người quen biết cũ như chồng đi xa về gặp vợ. Cố tri, đương nhiên rồi, anh và tôi đã biết nhau quá rõ.
Thế mà nỡ lòng nào vì hai chữ danh xưng của một tước vị đã cũ, anh
lại hờn giận tôi. Người ta hoặc là có dĩ vãng, hoặc là có hiện tại, hoặc là có tương lai. Chúng ta qua đây, phần đông đã lỡ làng. Hiện tại chẳng ra gì, tương lai hưởng chút tiền già nhờ cậy con nên anh còn quá tiếc nuối, đánh bóng, đóng khung dĩ vãng và cho đó là một thời vàng son. Anh quên mất cái tình, vịn vào cái lý và quên rằng thời gian đã quá xa, không gian đã thay đối. Gặp nhau tay bắt mặt mừng là đã quý, quý giá gì một chút danh xưng. Ở đất nước người, Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng, Đại tướng … lúc rời chức vụ rồi còn sáng giá, còn được quần chúng hâm mộ … Ở xứ mình, sao như cái tủ khi đẩy ra khỏi chỗ để dọn nhà, còn để lại bao nhiêu rác rưởi, bụi bặm trên sàn.
Nhà văn Phan Khôi đã ví von các tay sống lâu ra lão làng chẳng khác gì
cái bình vôi vứt lăn lóc dưới gốc đa, được người ta lạy lạy quì quì nhưng thật sự chăng ra tích sự gì. Bây giờ đây là hiện tại, hội họp đình đám bao giờ anh em cũng dành cho anh một chỗ danh dự. Danh dự đó cũng không phải là chỗ của cấp chỉ huy, xin anh đừng mang ảo tưởng. Anh cũng đừng lẫn lộn huynh trưởng với đại ca. Huynh trưởng còn có anh có em. Đại ca là danh xưng trong giới giang hồ. Tôi sợ anh muốn được nhận quyền lợi của một đại ca nhưng chưa tròn được trách nhiệm của một đại ca trong giới giang hồ.
Muốn sống với hiện tại, tôi muốn anh cũng như tôi quên đi dĩ vãng. Anh đừng vội gán ép cho tôi cái tội quên tổ quốc, quê hương, đồng bào.
Quên đây là quên cái cấp bậc của anh, tước vị của anh cũng như của
tất cả chúng ta thôi. Vì trong việc tạo lập cuộc sống mới ở xứ người,
khư khư ôm lấy cái “lon lá” quả là có nhiều trở ngại. Anh cũng như tôi phải xếp hàng chung với mọi người từ khi anh xuống sân bay. Đừng bắt mọi người phải dang ra nhường chỗ cho anh như trước kia có quân cảnh, an ninh dẹp đường cho anh. Chính vì những chuyện như vậy mà hôm nay chúng ta mới phải gặp nhau ở đây. Tôi nói phải, không biết ý anh ra sao, còn tôi, thú thật, quả là chuyện bất đắc dĩ.
Điều làm cho tôi và bạn bè của tôi, những người là em út của anh buồn phiền, xấu hổ nhất là những dự tính về tương lai của các anh. Ra đi, anh là người đầu tiên. Về, anh lại tính chuyện đi trước. Anh lại muốn ăn trên ngồi trốc, muốn chỉ huy, muốn lãnh đạo, muốn cầm quyền. Không có tham vọng làm cho dân giàu nước mạnh, anh chỉ có tham vọng nắm lại quyền hành. Anh nghĩ là anh đã là đại tá anh sẽ ít nhất cũng là đại tá. Anh là tổng thống đương nhiên sẽ là tổng thống hay đổi danh xưng là chủ tịch là cùng. Xin anh đừng gắn liền dân tộc, quê hương, tự do độc lập với chế độ. Và chế độ với các chức vụ đại tá của anh. Phục hồi tự do, độc lập chưa phải là phục hồi chế độ. Phục hồi chế độ không có nghĩa là phục hồi cấp bậc cho anh. Dân chúng hiện nay chán nản chế độ Cộng Sản, hoài vọng một thời tự do sung sướng trước kia không phải là khao khát có anh, khao khát một ông tổng thống cũ về cầm quyền ngồi lại trong dinh Độc Lập.
Bao nhiêu năm qua cũng đủ luận công xét tội. Chúng ta có những người mới, có những công việc mới trong một hoàn cảnh mới. Nếu anh còn chút tâm huyết với quê hương, đất nước, muốn đóng góp một chút gì cho quê hương đất nước khi đất nước đã là một đất nước không còn Cộng Sản, thì xin anh trước hết anh hãy quên cá nhân anh đi. Câu trên tôi viết chữ nghiêng là để anh hiểu cho: lúc này mà anh muốn đóng góp, chia ghế, cầm quyền … thì theo tôi quả là một điều hổ thẹn, nếu anh còn biết hổ thẹn.
Sau này trong công trình xây dựng, cứu vãn, phục hồi đất nước, nếu có
những người mới, nhất là lớp trẻ đủ kiến thức, khả năng, thiện chí đứng
ra đảm đang xin anh hãy đứng ra đóng góp với họ. Anh đừng vì danh vị
của anh mà từ chối ngoảnh mặt làm ngơ, cho rằng chỗ đó không xứng
đáng với địa vị cũ của anh. Càng khiêm nhường chừng nào thì danh dự
của anh càng cao. Anh đừng đòi hỏi cầm lấy một vai trò to lớn, tương
đương với chức vụ cũ của anh. Anh cũng đừng đòi hỏi một địa vị cao
hơn, danh dự hơn kiểu cố vấn bình vôi như Trường Chinh, Phạm Văn
Đồng để đảm nhận sau khi trải qua gần nửa thế kỷ cầm quyền vẫn chưa
hết lòng ham muốn; mục hạ vô nhân coi như trên đời này không ai tài
giỏi bằng họ. Nói theo kiểu mỉa mai, là họ đòi “hy sinh” thêm nữa. Họ
hy sinh lâu chừng nào thì dân tộc điêu linh, khốn khổ thêm chừng đó.
Nếu cần cho đại sự, nếu cần cho đất nước, xin anh hãy đừng đòi hỏi đi
đầu, đứng trước. Xin anh hãy làm một người bình thường, một security
guard trong đời sống chăng hạn, để cho lớp trẻ, để cho những người có
tài năng, đức độ rảnh tay gánh vác việc cứu nước và xây dựng đất nước.
Thưa Anh “Đại Tá”, anh chỉ là một trong các anh của chúng tôi. Cũng
có thể là tôi đã thưa anh “thiếu úy,” “trung úy.” Cũng có thể thưa anh
“Tổng thống,” “Bộ Trưởng,” “Nghị Sĩ,” “Dân Biểu.” Tôi vẫn quý các anh, trước sau các anh vẫn là anh, là huynh trưởng của tôi. Đã mười sáu năm qua, tôi chưa quên được những gì đã xảy ra trên đất nước chúng ta, trong đó khuôn mặt các anh lúc nào cũng nổi bật từng nét trong tâm khảm tôi. Tôi đã đau đớn, xót xa và giờ đây là hổ thẹn chứng kiến những gì đã xảy ra.
Ra đi, tôi thật mong mỏi được tái ngộ cùng anh, nhưng cuộc gặp gỡ đầu
tiên là làm tôi thất vọng, mệt mỏi. Mất mát nhiều hơn gặt hái, buồn phiền nhiều hơn vui vẻ. Tôi đã quên đi những ngày tháng cũ, những gì anh đã gieo thất vọng, chán ngán nơi tôi để tìm lại những niềm tin, những hy vọng mới.
Thưa anh “Đại tá,” tôi biết tin cậy gì nơi anh, thì rồi đây các trẻ con cháu chúng ta nhìn anh, nghĩ về anh ra sao, khi anh đã hy sinh để lãnh đạo quá khứ, tham lam lãnh đạo hiện tại và còn muốn cả tương lai.
Nếu Lương Ngọc Châu và Lê Trạch Lựu dã được biết đến như những tác giả rồi mới qua Pháp, thì Đan Trường đã cho lưu hành các ca
khúc đầu tiên của mình từ Pháp về nước. Ông qua Pháp từ bao giờ chỉ những người thân của ông biết. Tin đồn thì cho rằng, ông gia nhập quân đội Pháp và đã theo đoàn quân viễn chinh trở về Pháp. Thời điểm không ai rõ. Cơ duyên nào nước Pháp lại giấu đi của chúng ta nhiều nhạc sĩ như vậy? Cảnh hay người?
Vào những năm giữa thập niên 50, từ một đài phát thanh ở Paris, phần Việt ngữ, người ta đã được nghe một ca khúc mới, của một tác giả mới, đó là bài Trách Người Đi của Đan Trường. Bài hát được gửi tới thính giả qua giọng
của một trong những nghệ sĩ sân khấu đã nổi danh của chúng ta lúc bấy giờ: Bích Thuận. Trò chuyện với bằng hữu sau đó nữ nghệ sĩ Bích Thuận cho biết bà rất xúc động không phải chỉ vì là người đầu tiên trình bày ca khúc ấy “để gửi về nhà” mà còn vì nỗi “nhớ quê, nhớ người” tràn ngập trong ca khúc … ” càng thấm thía khi mình cũng là kẻ tha hương”.
Không biết Đan Trường có bao nhiêu tác phẩm, nhưng người ta chỉ thấy ông cho phổ biến mấy bài: Trách Người Đi, Cái Áo The Thâm Tàng, Đêm Vắng Xuôi Đò. Riêng bài Đêm Vắng Xuôi Đò Đan Trường còn viết thêm một lời ca bằng tiếng Pháp. Đây cũng là một ca khúc hay, nhưng chưa thấy ca sĩ nào cho thu thanh.
Cái Áo The Thâm Tàng là một trong vài ca khúc có tính hài hước, châm biếm, hiếm hoi của chúng ta. Hài, vốn khó. Thế giới có không biết bao nhiêu những tác giả, diễn viên bi kịch. Nhưng cho đến bây giờ hình như vẫn chỉ có một mình Charlot, người có thể làm cho khán giả cười và khóc cùng một lúc. Ý nghĩa của chữ “humour” được nhà văn, học giả Lâm Ngữ Đường [?] định nghĩa là “u mặc”. Theo định nghĩa ấy người ta không biết cái cười được dấu ở trong chữ “u” hay chữ “mặc”?
Trước Cái Áo The Thâm Tàng của Đan Trường nhạc của chúng ta chỉ có hai bài hát vui: Say Thuốc Lào của Phạm Duy Nhượng và Vỉa Hè của Canh Thân.
Say Thuốc Lào hoàn toàn là một bài hát vui:
Yêu em như một chiếc ngai vàng
Yêu em như một tiếng tơ đàn
Yêu em như ngàn lời thơ duyên
Yêu em như một viên thuốc lào
Người đẹp tôi yêu
Có đôi bàn tay diễm kiều
Và một làn môi tươi thắm
Người đẹp tôi yêu lấy chồng
để phụ tình tôi
Vì tôi say thuốc lào.
Vỉa Hè cũng là một bài hát vui nhưng nhuốm thêm vị cay đắng:
Hôm qua tôi trông thấy một con chó nhà kia
Tôi thấy nó ăn mà tôi thèm
Rằng nó sướng hơn là tôi nhiều … “.
Cái Áo The Thâm Tàng có thêm một chút nước mắt trong nụ cười:
Cái áo the thâm từ ngày tàng
Chú bác anh em trong họ hàng
Lờ mình đi
Ngó mình qua
Hôm nay không ma nào rước tớ đi chơi
Nghe trong đôi câu chào
Thiếu tiếng ông, tôi
Ngày xưa áo the thâm còn lành
Dân làng quen đều ham đón mình
Người thân thích đâu ra nhiều thế
Không đấu đong anh em bà con …
Như chúng ta đều biết, trong các câu chuyện hài hước người ta thường phóng lớn, bóp méo sự thật để tạo nụ cười. Phóng lớn, bóp méo sự thật chứ không phải bịa đặt. Nước mắt nằm trong những sự thật ấy. Nghe nhạc Đan Trường người ta có cảm tưởng mỗi thanh âm, mỗi ca từ ông viết ra, đều xuất phát từ lòng tư hương. Tình yêu đối với đất nước của ông người ta có thể nhận ra trong cách xử dụng ngôn ngữ và giai điệu hoàn toàn Việt Nam của ông, dù ông sống xa đất nước đã lâu. Sương muối là một từ kép trong tiếng nói của chúng ta để chỉ và cũng để phân biệt với thứ sương thông thường.
Khi viết: “Tối buông màn sương pha muối”, Đan Trường đã chẻ từ đó làm hai và đấy là cách nói riêng, cái duyên riêng của ông. Chữ “pha” dường thêm sức nặng cho phần “muối”, làm tăng vẻ xót xa.
“Xót xa như muối đổ trong lòng”
Trách Người Đi của Đan Trường được tung ra đời khi đất nước chẳng lúc nào yên, người ta phiêu bạt khắp nơi, quê hương là nỗi ám ảnh không nguôi và bài hát gần như trở thành tâm sự của rất nhiều người.
Đan Thọ là người đã đóng góp rất nhiều công sức trong việc xây dựng nền tân nhạc Việt Nam với tư cách một nhạc sĩ chơi vĩ cầm trước khi sáng tác.
Ông được coi là một trong những người có tiếng đàn ngọt ngào nhất của chúng ta trước đây. Ngoài vĩ cầm Đan Thọ còn chơi được nhiều nhạc cụ khác, nhất là kèn saxo tenor, tiếng kèn của ông cũng được các đồng nghiệp đánh giá rất cao.
Đan Thọ thuộc lớp các nhạc sĩ thứ hai của chúng ta, đồng thời với những Nhật Bằng, Hoàng Giác, Ngọc Bích, Canh Thân … Nhưng chỉ mãi tới sau những năm 50, ông mới bắt đầu sáng tác và được biết đến nhiều.
Biết bao nhiêu nhạc sĩ từng cộng tác với các đài phát thanh, các hãng sản xuất băng/đĩa nhạc, các đài truyền hình ở Sài Gòn trong khoảng thời gian từ 54 đến 75, và có thể còn sớm hơn nữa, từ những năm 40 tại Hà Nội, những người đã thực sự góp công làm nên nền tân nhạc của chúng ta, nhưng cho đến nay, trừ những người trong nghề, các bằng hữu, không còn ai nhớ đến tên tuổi nữa, vì họ chỉ là những nghệ sĩ trình diễn, không để lại một tác phẩm riêng nào. Trong đời sống hình như luôn có những người phải chịu sự bất công như vậy. Đan Thọ sáng tác không nhiều, mặc dầu gần như ông đã dâng hiến cả đời cho âm nhạc và cũng là một trong những nhạc sĩ có căn bản nhạc lý vững vàng. Trong số những ca khúc Đan Thọ đã cho phổ biến hầu hết đều là những sáng tác chung với Nhật Bằng, Xuân Tiên hoặc thơ phổ nhạc, chỉ có một bài duy nhất do chính ông viết cả lời lẫn nhạc đó là bài “Bóng Chiến Y”. Điều này chứng tỏ [có lẽ] Đan Thọ gặp trở ngại khi viết lời ca. Và, những ca khúc ký tên chung của ông với bằng hữu, phần lớn, tác giả thứ hai là người viết lời ca.
Vì cứ nghe phần nhạc, người ta thấy nó có vẻ thuần nhất với “dòng nhạc Đan Thọ”, các giai điệu luôn toát ra vẻ dịu dàng, chải chuốt, chừng xuất phát từ những dây đàn vĩ cầm nhiều hơn những nhạc cụ khác [Nhiều khi tơ giống như người yêu – Lâm Tuyền/Dạ Chung]. Tất nhiên đó chỉ là cảm tưởng, phỏng đoán của người nghe thôi.
Hai ca khúc gây ấn tượng nhất của Đan Thọ đối với người nghe là các bài Tình Quê Hương và Chiều Tím.
Tình Quê Hương là một bài thơ của Phan Lạc Tuyên. Phan Lạc Tuyên viết bài thơ này khi đang là sĩ quan trong Quân Lực VNCH, thi hành nhiệm vụ trong chiến dịch mang tên là “bình định”. Mục đích của chiến dịch nhắm loại bỏ mọi ảnh hưởng của Việt cộng còn lại ở miền Nam [sau hiệp định Genève], nhất là tại các miền quê hẻo lánh, ổn định đời sống của dân chúng. Phan Lạc Tuyên đã dùng cả từ “giải phóng” để diễn tả công việc của mình. Sự việc là sau đó, Phan Lạc Tuyên lại tham gia vào một cuộc đảo chính [chính phủ Ngô Đình Diệm] không thành, bỏ trốn sang Căm-Bốt và theo Việt Cộng, ra Bắc. Bài thơ tự nó mất đi ý nghĩa ban đầu, và trở thành một nỗi buồn đối với người nghe. Người ta có cảm tưởng mình bị nói dối. Và vì thế, có một thời gian dài người ta không muốn nghe lại bài hát nữa, mặc dầu phần nhạc của Đan Thọ rất hay. Có thể nói, phần thơ của Phan Lạc Tuyên đã gây oan cho phần nhạc của Đan Thọ. Văn học nghệ thuật của chúng ta, trong nửa thế kỷ qua, gặp phải nhiều sự khốn khó, rắc rối, vì không thể nào tách ra khỏi những ràng buộc chính trị. Chiều Tím thường vẫn được giới thiệu như một bài thơ của Đinh Hùng, nhưng Đan Thọ cho biết, đó là lời ca do Đinh Hùng viết chứ không phải là thơ phổ nhạc. Còn nhan đề Chiều Tím là do Thanh Nam đặt.
Đan Thọ kể lại rằng, trong một bữa uống cà phê tại La Pagode, Đan Thọ đã đưa bản nhạc vừa viết xong của mình cho Đinh Hùng và Thanh Nam coi. Đinh Hùng nói, “moi biết chơi mandoline, để moi viết lời ca cho”. Khi Đinh Hùng viết xong lời ca, ba người gặp lại nhau, Thanh Nam đề nghị đặt tên là Chiều Tím. Ca sĩ trình bày Chiều Tím đầu tiên trên làn sóng điện là Anh Ngọc. Đan Thọ sang Hoa Kỳ năm 1985, làm công nhân cho hãng General Ribbon và tiếp tục chơi nhạc cho vũ trường Ritzs Pha Lê của Ngọc Chánh.
Mười năm sau, 1995 người ta mới thấy Đan Thọ viết một ca khúc mới lấy từ tứ thơ của Mùi Quý Bổng. Qua ca khúc này người ta thấy hồn nhạc của Đan Thọ không thay đổi bao nhiêu, dù trải qua những tang thương biến đổi. Cũng đúng như con người ông, nhạc của ông, vui hay buồn đều chừng mực, lãng mạn nhưng không có vẻ ủy mị, đắm đuối, và nhất là luôn toát ra vẻ lịch sự, sang trọng.
Có thể gọi những anh em sĩ quan viên chức chế độ cũ, cựu tù nhân chính trị mới sang định cư tại Hoa Kỳ là những kẻ đến sau có lẽ cũng không có gì quá đáng lắm.
Hiện nay đa số anh em thuộc diện này đang gặp nhiều trở ngại trong việc tạo lập cuộc sống mới: trợ cấp bị giới hạn, khó kiếm việc hơn và tuổi tác cao, sức khỏe kém…
Trước hết là vấn đề sinh ngữ. Trừ một số may mắn có thì giờ trau dồi Anh Văn từ lúc còn trẻ mà nay thông thạo, còn đa số anh em ta trước kia bận rộn chiến đấu, làm việc, ít có dịp học thêm sau khi rời ghế nhà trường trung học. Nay sang Mỹ định cư thực sự thì yếu tiếng Anh là một khó khăn khá lớn. Để giải quyết vấn đề này, cần có một ý chí cao. Nếu thực sự thích thú và quả quyết thì tuổi nào cũng vẫn có thể học thêm nhất là khi anh em ta đã có chút ít tiếng Anh căn bản, tuy có thể là chậm hơn lớp trẻ. Những ai đã dạy sinh ngữ trong những năm gần đây ở Việt Nam hẳn đã thấy rất nhiều người trên 60 tuổi vẫn thành công trong lãnh vực này.
Kế đến là vấn đề làm quen với cuộc sống mới. Mới đến một nước lạ hoắc, khác hẳn nước mình về địa lý, cách suy nghĩ, phong tục tập quán, đời sống xã hội, luật lệ… ai mà không ngỡ ngàng. Phải mất một thời gian cả năm sau mới tạm thích ứng với môi trường mới. Về mặt này thì số anh em sang năm 1975 còn ngỡ ngàng hơn, vì đã quyết định rời bỏ tổ quốc ra đi một cách đột ngột. Khi sang tới đây nhiều người đã phải đi làm việc tay chân vất vả và ngay tức khắc mà không được biết đến trợ cấp là gì. Anh em mới sang có một khoảng thời gian ít ra là từ 4 đến 8 năm chờ đợi và do đó đã tự chuẩn bị tinh thần, nên về mặt tâm lý thì có lẽ sẵn sàng đối phó với mọi khó khăn hơn.
Khó khăn khác là vấn đề sức khỏe. Sau nhiều năm tù đầy cộng với tuổi đời chồng chất thêm 16 năm, ai cũng mang theo từ Việt Nam ít nhất là một bệnh mãn tính. Đa số không còn xốc vác nhanh nhẹn được so với những người cùng lứa tuổi mà không được vinh dự học bài học dài 16 năm – rất giá trị nhưng nếu không bị học thì vẫn tốt hơn. Tuy nhiên, với khí hậu điều hòa hơn, ăn uống có dinh dưỡng cao hơn, có phương tiện trị bệnh tốt hơn, chắc hẳn một phần nào vấn đề bệnh hoạn sẽ được giải quyết tạm ổn thỏa. Đúng ra, vấn đề sức khỏe ở đây là căn bản. Miễn là có đủ sức khỏe, không ai có thể chết đói ở nước Mỹ, trừ phi tự ý tuyệt thực.
Nói về vấn đề nghề nghiệp, thì đa số anh em mới sang không có nghề chuyên môn dùng được ở nước Mỹ. Đi học một nghề mới thì kém sinh ngữ, lớn tuổi, học khó vào. Điều này thì còn tùy thuộc vào cá tính. Cần có kiên nhẫn và chịu cực nhọc, chịu xông xáo. Dĩ nhiên phần đông anh em mới sang đều đã trên 50, ngoài 60… Tuổi già sức yếu, chậm chạp, do đó khó được nhận vào các hãng xưởng khi phải tranh đua với những người trẻ dưới 30. Nhưng khó khăn ấy không phải là hoàn toàn tuyệt vọng. Một số không nhỏ anh em sang năm 1975 khi họ đã trên 50 tuổi cũng từng phải đương đầu với khó khăn này và họ đều đã vượt qua hoặc lâu hoặc mau mà thôi.
Còn vấn đề kỳ thị thoạt nghe có vẻ lớn, nhưng không phải là khó khăn nan giải. Tâm lý kỳ thị thì ở đâu cũng có. Người da trắng gốc gác khác nhau cũng kỳ thị nhau. Mỹ New England không thích Mỹ Florida vì họ ăn spaghetti bỏ thêm đường. Hồi đầu thế kỷ, người Hung Gia Lợi bị kỳ thị đến độ tàn sát như quỷ dữ. Người Hoa, người Nhật, người Phi Luật Tân cũng từng chịu nạn kỳ thị một thời gian dài… So với họ thì người Việt Nam chưa bị kỳ thị nhiều bằng. Miễn sao chúng ta đừng bị khinh bỉ công khai, bị gây khó khăn trong việc làm … là được.
Hiện nay, một số anh em đang cùng gia đình sống trong những khu vực toàn là người Mỹ, nên gặp những trở ngại về ngôn ngữ, phong tục. Tuy nhiên, trong một thời gian những trở ngại này có thể giảm dần, ngược lại còn có thể có những thuận lợi khác. Người Mỹ tuy sống ồ ạt, bận rộn, chạy theo tiền bạc, có khi thô lỗ… nhưng mỗi gia đình có thể có những truyền thống khác nhau và khi đã quý mến ai thì tận tình giúp đỡ. Tất nhiên khi họ đã ghét ai thì khó mà khôi phục lại cảm tình. Ai ở Mỹ lâu đều thấy rằng chỉ cần tỏ ra thật thà, thẳng thắn, giữ chữ tín, không nói dối, đừng có thái độ quắt quéo vụng trộm, biểu lộ tình cảm theo kiểu Việt Nam, xã giao khéo léo đôi chút…, thì một người Việt có thể trở thành bạn quý, trong một số trường hợp nổi bật, có thể thành thần tượng của cả một khu xóm. Có khi ở chung với Mỹ lại dễ xử hơn.
Giữa những người Việt với nhau, cũng khó tránh khỏi những dị biệt. Người sang trước thì thấy anh em mới sang vóc dáng uể oải, kém năng động, ít xông xáo, vì hậu quả của những năm dài ở trại tù trong và trại tù ngoài, nên có thể lầm tưởng là họ lười biếng, dựa dẫm… Phải mất một thời gian sau nữa khi quen thuộc kha khá với nếp sống mới, tình trạng này mới ổn định được.
Anh em mới sang vô cùng buồn rầu khi thấy cộng đồng Việt Nam chia rẽ, xích mích, nhiều phe phái khích bác và làm hại nhau. Sau những năm tù đầy trong các “đáy đia ngục”, anh em mới sang rất nản lòng vì một số người đi trước có cái nhìn không giống như họ về Cộng Sản.
Thông thường, người Việt Nam trong hoàn cảnh sống tự do thì kém đoàn kết so với một số dân tộc khác. Tuy nhiên nếu tất cả anh em cựu tù chính trị mà tự xây dựng được một tinh thần đoàn kết ở mức độ nào đó thì có thể dần dần tạo nên một chất keo hàn gắn lại những đổ vỡ, rạn nứt của cộng đồng người Việt ở đây. Người viết bài này được nghe một số anh em bày tỏ quan niệm sau đây.
Theo một số anh em thì chúng ta cứ nên tham dự mọi sinh hoạt hội họp nào có lợi cho người Việt Nam trong cũng như ngoài nước, củng cố tinh thần chống Cộng Sản, xây dựng tương lai cho Cộng đồng Việt Nam… đóng góp dù chút ít cho các hoạt động từ thiện… Đa số các tổ chức từ thiện, xã hội phục vụ cộng đồng nếu ít bị lạm dụng. Nhưng nếu có bị lạm dụng chút ít miễn là đừng quá đáng thì chúng ta vẫn cứ nên tham gia công hay của, vì sự đóng góp sẽ gây được khí thế chung cho tập thể người Việt. Từ đó có thể tạo ra tình đoàn kết. Còn những gì đào sâu hố chia rẽ sẵn có thì nên tránh.
Nếu chúng ta tạo được một khí thế cho người Việt thì tiếng nói chung của cộng đồng Việt Nam tại đây mới có hy vọng được chính quyền Mỹ lưu tâm và trọng nể, và mới có thể giới hạn được những hành vi làm mất uy tín của người Việt chúng ta.
Đối với chính quyền Mỹ, họ tự coi như không có trách nhiệm vật chất với chúng ta mà chỉ có trách nhiệm tinh thần. Ta không hề là quân nhân hay công chức Mỹ thì họ không có trách nhiệm về lương bổng với chúng ta. Ta cũng chẳng nên quá trông cậy vào lòng từ thiện của họ. Lòng từ thiện ở Mỹ cũng bị kế hoạch hóa, tình thương tùy thuộc vào số thuế thu được hàng năm. Họ chịu nhận đông đảo anh em sang đây đã là tử tế lắm rồi. Ngay giữa người Việt với nhau, giữa anh em ruột thịt với nhau mà có khi còn chẳng được giúp đỡ gì, nói chi người bên ngoài.
Trước những khó khăn hiện tại, anh em mới sang có một số thuận lợi, đó là con cái. Những năm sống dưới gông cùm Cộng Sản làm chúng bị thiệt thòi về học vấn, nhưng lại khiến chúng có khả năng để chịu đựng khó khăn để vươn lên, nhất là chúng còn “Việt Nam” hơn bạn bè chúng đã sang Mỹ từ lâu. Nhiều anh em sang trước đây thấy cảnh gần gũi thân mật trong gia đình anh em mới sang tỏ ra rất thích thú. Một người bạn đi từ năm 1975 đã nói với người viết bài này rằng:
– Con tao có được dạy dỗ kỹ lắm thì cũng chỉ có thể là một thằng Mỹ ngoan, nhưng khó có thể là một thằng Việt Nam ngoan như con chúng mày, một mơ ước mà tao không đạt được.
Con cái là niềm hy vọng lớn nhất của chúng ta, lý do chính khiến chúng ta bỏ nước mà đi. Một tờ báo Mỹ năm 1985 đã nói đại khái rằng “số con cái của đông đảo gia đình các thành phần tị nạn Đông Dương sẽ được nhận vào Hoa Kỳ trong những năm sau đây, sẽ làm thay đổi bộ mặt khoa học kỹ thuật của nước Mỹ trong các thập niên tới…” Lời tiên đoán ấy chắc sẽ được thực hiện miễn là bố mẹ chúng nó không sớm ngã lòng.
☆
Nói tóm lại, thì tuy có nhiều khó khăn trước mắt, nhưng với thời gian đa số sẽ được giải quyết lâu hay mau là tùy từng người. Những bạn nào đọc mấy dòng này mà sau ít năm ổn định được cuộc sống hoặc thành công dù lớn dù nhỏ ở quê hương mới xứ cờ hoa này, xin nhớ ban cho kẻ viết bài này một câu: “thằng ấy nói có phần đúng!” Đó là nhuận bút cao nhất mà kẻ hèn này mong được trả.
Sau khi hai chiếc ghe công an biên phòng đã khuất dạng, để cho chắc ăn, ghe chúng tôi tiếp tục đi về hướng Phan Thiết khoảng nửa tiếng đồng hồ nữa rồi mới lấy hướng đông-đông-nam (120 độ) để đi ra hải phận quốc tế.
Với vận tốc ghe chỉ khoảng 10 cây số/giờ và dựa theo tấm hải đồ biển Đông tôi đã thuộc lòng, sau khoảng hai tiếng đồng hồ, tôi tin rằng ghe đã ra tới hải phận quốc tế, và theo dự định, từ đây chúng tôi bắt đầu lấy hướng nam-đông-nam (165 độ) để đi tới đảo Laut trong hải phận Nam Dương.
Lúc này đã quá trưa ngày 16/10/1981, biển khá êm, gió nhẹ. Theo phương cách học được từ Khiêm, tôi lấy hướng gió và tính độ giạt. Gió bắc-tây-bắc, thật lý tưởng, độ giạt khoảng +15 độ cộng với 165 thành 180 độ, tức hướng chính nam.
Mọi người trong khoang thay phiên nhau ra ngoài để hít thở không khí trong lành. Nhìn mặt mọi người, suýt nữa tôi bật cười: mặt ai cũng đen như bôi nhọ nồi vì bị bám khói dầu cặn của máy ghe. Lúc này tôi mới biết chính xác trên ghe có tổng cộng 26 nhân mạng, gồm 15 người của gia đình chị vợ, gia đình tôi, gia đình ông anh họ, 2 người khách, 7 người của hai gia đình lo bãi bến, tài công Lý và chú bé canh me.
Hai người lo bãi bến, Tiến và Trung, là hai anh em cột chèo, cả hai đi cùng với vợ và một, hai đứa em nhỏ. Ngay lúc đó tôi không hề để ý tới việc vợ Trung đang có bầu, chỉ sau này nghe bà chị vợ càm ràm “ghe vượt biên mà có bà bầu là xui tận mạng”, đã vậy Tốt – vợ của Trung – còn là người dạn dĩ, khỏe mạnh và vô tư, thích ngồi trước mũi ghe ngắm sóng nước trời mây, khiến bà chị vợ tôi càng thêm ngứa mắt, lo ngại! Chỉ có một người duy nhất không ra khỏi ca-bin: cô vợ yêu quý của tôi, từ lúc ghe ra khơi cứ nằm liệt một chỗ!
Nguyên vợ tôi có máu say xe, say máy bay từ nhỏ. Còn nhớ lần đầu tiên đi máy bay, từ Tân Sơn Nhất ra Pleiku sau ngày cưới, mặc dù đi C-130 của Mỹ, loại phi cơ vận tải quân sự bay êm nhất thời bấy giờ, khi bước xuống nàng cũng như một cái xác không hồn! Thê thảm nhất là lần đi chơi Đà Lạt năm 1971 bằng trực thăng UH-1.
Nguyên vào khoảng thời gian này, Không Quân VNCH đang gấp rút thành lập thêm các phi đoàn trực thăng để tiếp nhận phi cơ do người Mỹ bàn giao trước khi họ rút quân về nước. Hàng trăm phi công trực thăng trẻ được đào tạo tại Hoa Kỳ trở về VN chưa có một chút kinh nghiệm thực tế, cho nên ngoài việc ngồi ghế phi công phụ trong các phi vụ hành quân, họ còn phải bay các phi vụ huấn luyện, liên lạc (không tác chiến) cho vững tay nghề.
Một số phi vụ huấn luyện, liên lạc ấy đã được các vị chỉ huy phối hợp với những nhu cầu – có hoặc không có “trên giấy tờ” – của đơn vị. Một trong những nhu cầu “không có trên giấy tờ” ấy là cho các quân nhân trong đơn vị về phép thăm nhà hoặc đi du ngoạn.
Lần đó, có hai bà vợ của hai phi công khu trục, một Thiếu tá một Đại úy của Phi Đoàn 530 ra Pleiku thăm chồng, hai người lại là hai chị em ruột nên ông Trung tá Liên đoàn trưởng sắp xếp một phi vụ huấn luyện đi Đà Lạt, với bốn cặp quá giang trong đó có vợ chồng tôi.
Lúc đi cũng không đến nỗi nào, vợ tôi chỉ “ngất ngư” suốt chuyến bay, nhưng sau khi tới nơi, ăn trưa ở nhà hàng Mekong rồi đi chơi vòng vòng, lúc về ói tới mật xanh mật vàng khiến mọi người mất vui.
Từ ngày ấy cho tới khi rời Pleiku vào Mùa hè đỏ lửa (1972), vợ tôi không bao giờ bước chân lên phi cơ nữa! Cũng may, trong cuộc di tản dân chúng vào tháng 3, tháng 4 năm ấy (vì sợ quân Cộng Sản Bắc Việt sẽ tiến về Pleilu một khi chiếm được Kontum), Không Lực Hoa Kỳ đã yểm trợ một số phi vụ C-141, là loại vận tải phản lực lớn nhất, bay nhanh nhất thời bấy giờ, cho nên vợ tôi, khi ấy đang mang bầu đứa con thứ hai, mới đủ sức “lết” về tới Sài Gòn!…
* * *
Khoảng 3, 4 giờ chiều, chúng tôi thấy một chiếc tàu chở hàng khá lớn ở xa xa, đi ngược chiều, tức là lên hướng bắc-đông-bắc; một hồi sau, thấy thêm chiếc thứ hai, rồi chiếc thứ ba, cũng đi ngược chiều, tôi biết ghe đã ra tới gần tuyến hải hành nam-bắc, bắc-nam của tàu buôn quốc tế.
Mọi người trên ghe xôn xao, hy vọng sẽ được tàu buôn vớt như những gì đã được nghe qua chương trình tiếng Việt của đài BBC, đài VOA trong thời gian gần đây.
Cũng nên biết, trước việc người tỵ nạn Đông Dương, đa số là người Việt, bỏ nước ra đi ngày càng đông, đưa tới những thảm cảnh trên biển cả và tạo khó khăn cho các quốc gia Đông Nam Á đang cho thuyền nhân tạm trú, vào tháng 7 năm 1979, Cao ủy Tỵ nạn LHQ (UNHCR) trụ sở đặt tại Geneva, đã tổ chức một hội nghị quốc tế về người tỵ nạn Đông Dương.
Kết quả, khoảng 20 quốc gia Âu châu và Bắc Mỹ đã đồng ý gia tăng gấp đôi số người tị nạn được nhận mỗi năm – từ 125.000 lên 260.000 – và đóng góp thêm vào ngân sách của Cao ủy Tỵ nạn LHQ. Nhờ vậy, năm quốc gia Đông Nam Á đang cho người tỵ nạn tạm trú là Nam Dương, Singapore, Mã Lai, Thái Lan và Phi-luật-tân đã đồng ý gia tăng tổng số thuyền nhân tại các trại tạm trú.
Đồng thời Cao ủy Tỵ nạn cũng kêu gọi tàu bè của các quốc gia này quan tâm hơn tới việc cứu vớt thuyền nhân lênh đênh trên biển cả. Kết quả ngày càng có nhiều người được tàu vớt.
Những chiếc ghe may mắn được tàu buôn cứu vớt (hình: Cao ủy Tỵ nạn LHQ)
Rồi chiếc tàu thứ tư, thứ năm xuất hiện, cũng đi ngược chiều. Sau khi bàn bạc với nhau, chúng tôi quyết định bẻ lái chếch sang hướng đông, tiến sát vào lộ trình của tàu buôn, cho đàn bà con nít ra ngồi trên nóc ca-bin, và giữ khoảng cách khoảng 500 mét – khoảng cách mà tôi nghĩ không cần sử dụng ống nhòm, hoa tiêu trên tàu cũng nhìn thấy chiếc ghe của chúng tôi.
Và để họ hiểu rằng chúng tôi mong muốn được cứu vớt, chúng tôi cho ghe chạy thật chậm, gần như dừng hẳn, và lấy cây sào có cột cái áo thun trắng (mà chúng tôi đã chuẩn bị sẵn) phất lia lịa.
Nhưng rồi tổng cộng hơn 10 chiếc tàu đi ngang qua mà không chiếc nào dòm ngó tới con thuyền tỵ nạn!
Khi hoàng hôn sắp buông xuống, chúng tôi quyết định “chơi bạo”: đón đầu chiếc tàu đang tiến tới bằng cách nhắm thẳng vào phía mũi tàu. Tới khi nhận ra rằng chiếc tàu vẫn giữ nguyên tốc độ xông tới, tôi hoảng hốt nói tài công Lý bẻ lái gấp sang phía tay mặt để tránh, vậy mà sau đó sóng từ mũi tàu cũng khiến chiếc ghe của chúng tôi tròng trành muốn lật!
Hú hồn! Từ lúc đó, chúng tôi không dám tiến tới sát những con tàu nữa, trừ chiếc cuối cùng vào chiều tối hôm đó: một chiếc du thuyền sang trọng.
Lúc đó trời bắt đầu tối, chúng tôi thấy một chiếc tàu lớn sơn màu trắng (hay xám nhạt) tiến tới với tốc độ khá chậm; tới gần, tôi nhận ra đây là một chiếc du thuyền sang trọng, đèn đuốc sáng trưng. Hy vọng vị thuyền trưởng và thủy thủ trên một chiếc du thuyền sẽ dễ động lòng thương cảm hơn những nhân viên trên tàu buôn, chúng tôi cho ghe tiến tới thật gần – gần tới mức tôi có thể nghe được tiếng nhạc và nhìn thấy những bóng người dưới ánh đèn màu.
Tôi cho ghe ngừng lại, bấm đèn pin làm hiệu SOS; nhưng trước sau chỉ có vài người đứng tựa lan can nhìn xuống, dửng dưng!
Khi chiếc du thuyền xa dần, ánh đèn màu mờ dần, lòng tôi cảm thấy chán nản cùng cực trước sự vô cảm của đồng loại; mọi người trên ghe có lẽ cũng có cùng cảm nghĩ ấy, dù không ai thốt nên lời!
Sau đó, chúng tôi quyết định rời lộ trình của tàu bè quốc tế, lấy lại hướng cũ: đảo Laut của Nam Dương.
* * *
Gần nửa đêm, trăng đã chếch về hướng tây nhưng vẫn còn đủ sáng lấp lánh trên từng ngọn sóng. Nhẩm tính trong đầu, tôi đoán ghe đã đi được khoảng ¼ của cuộc hành trình 700 km từ Vũng Tàu tới điểm gần (Việt Nam) nhất của hải phận Nam Dương: đảo Laut.
Nếu tôi tính toán chính xác thì lúc này ghe đang đi ngang quần đảo Côn Sơn. Dù không thấy gì ở cuối chân trời tối đen, tôi cũng nhìn đăm đăm về hướng tây như thể nhìn đất nước Việt Nam lần cuối…
Rồi tôi nằm trên sàn ghe ngủ thiếp đi lúc nào không hay, khi giật mình thức dậy thì đã 2, 3 giờ sáng, Tiến đang lái ghe cho Lý ngủ, ông anh cột chèo của tôi giữ hướng.
Nhìn lên trời, tôi thấy sao Nam Tào (Southern Cross) ngay phía trên đầu, liền lấy cái địa bàn bộ binh so hướng thì thấy sao chỉ hướng 170 độ. Tôi cố khắc ghi vào đầu giờ giấc xuất hiện và độ lệch của sao để đề phòng trường hợp bị mất phương hướng.
Sáng hôm sau, 17/10/1981, biển vẫn êm, trời quang đãng, gió bắc-tây-bắc thổi nhẹ, ghe tiếp tục lấy hướng 180 độ.
Khi mặt trời đã lên cao, chúng tôi lại thấy những chiếc tàu buôn ở xa xa phía bên tay trái, đa số di chuyển theo hướng nam-bắc. Tôi chợt nhớ lại chi tiết trên tấm hải đồ biển Đông mà tôi đã thuộc lòng và đoán mò rằng sau một đêm đi theo hướng 180 độ, ghe chúng tôi đã tái nhập vào tuyến hải hành nam-bắc của tàu bè quốc tế.
Mặc dù vào chiều hôm qua đã bị thất vọng não nề trước sự dửng dưng của hơn 10 con tàu, giờ đây chúng tôi cũng cố gắng thử vận may thêm một lần nữa, cho ghe bẻ hướng trái tiến sát vào đường đi của tàu bè, cho đàn bà con trẻ ra ngồi trên ca-bin, cho ghe chạy thật chậm, và đưa “cây sào SOS” lên vẫy.
Nhưng rồi một chiếc, hai chiếc, ba chiếc…, cuối cùng, cũng giống như chiều hôm qua, cả chục chiếc tàu đi ngang qua mà không một chiếc nào dừng lại!
* * *
Tới trưa, khi chúng tôi đã hoàn toàn hết hy vọng được tàu vớt thì mây đen bắt đầu kéo tới cùng với gió lạnh. Ông anh họ vợ nói với tôi “Chắc sắp có bão chú ạ”. Lúc này tôi mới chợt nhớ ra rằng chúng tôi ra đi vào giữa mùa bão.
Theo kinh nghiệm dân gian, “tháng Ba bà già đi biển”, nghĩa là vào tháng Ba âm lịch (khoảng tháng Tư dương lịch) là thời điểm biển Đông êm nhất. Vì thế lúc ban đầu, ông anh cột chèo đã dự tính sẽ ra đi vào đầu năm 1982, khi biển đã bắt đầu êm, nhưng vì những nguyên nhân tôi đã đề cập tới, ông đã quyết định ra đi vào giữa mùa bão.
Mùa bão ở biển Đông nói chung, vùng duyên hải Việt Nam nói riêng, bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 dương lịch, trong đó ba tháng 8, 9, 10 là thời gian có bão thường xuyên nhất, và mạnh nhất. Chỉ mấy phút sau khi ông anh họ vợ báo động, mây đen đã phủ kín bầu trời, gió ngược, tức gió nam-tây-nam thổi càng lúc càng mạnh, biển động dữ dội với những con sóng cao khoảng 2 mét chồm tới phủ lên mũi ghe.
Tất cả mọi người đã vào trong khoang, chỉ còn lại tôi, tài công Lý, và hai ông anh. Lúc này là lúc một người tài công kinh nghiệm chứng tỏ bản lĩnh của mình, trong đó quan trọng nhất là “gối sóng”, làm sao để những con sóng tung chiếc ghe lên chứ không dìm xuống hoặc lật ngang; và Lý đã cho thấy chú là một tài công giỏi và có sức mạnh hơn người (để giữ vững lái).
Về phần mình, tôi cố gắng giữ phương hướng nhưng vô ích; tôi có cảm tưởng chiếc ghe đang bị trôi giạt mà không biết trôi về phương nào, nhưng có một điều tôi biết chắc chắn với gió ngược, chiếc ghe đã không tiến về phương nam!
Phước đức ông bà, khoảng 4, 5 giờ chiều, mặc dù mây đen vẫn giăng kín, sức gió giảm bớt một cách đáng kể, sóng không còn phủ lên mũi ghe nữa…
Tôi hỏi tài công Lý về những gì vừa trải qua và kinh nghiệm của bản thân chú thì chú cho biết đây là lần đầu tiên mình gặp bão lớn như thế, vì trước đây trong những lần theo ghe đánh cá đi biển, gặp bão cấp 1 là đã lo quay vào bờ rồi. Còn cơn bão chúng tôi vừa trải qua, chú đoán phải là cấp 2 trở lên.
Cho tới lúc ấy, toàn bộ kiến thức về bão của tôi chỉ là câu nói dân gian “tháng Ba bà gìa đi biển”, nghĩa là vào tháng Ba âm lịch, biển êm nhất; còn về “cấp bão” thì tôi không có một chút ý niệm nào cả, ông anh họ vợ nói “đánh” vào tháng 10 dương lịch là đúng vào mùa bão thì tôi chỉ biết sẽ gặp bão, chứ không hề biết bão có mấy “cấp”, và cường độ của mỗi cấp ra sao.
Chỉ sau này có dịp tìm hiểu, tôi mới biết ngày ấy ở Việt Nam người ta chia bão (storm) ra làm 5 cấp, với sức gió từ 100 lên tới 200 cây số/giờ.
Như vậy, ngày ấy khi gặp cơn bão cấp 2 (như Lý nói) thì chiếc ghe 7 mét rưỡi của chúng tôi đã phải chịu đựng sức gió khoảng 140-150 cây số/giờ.
* * *
Tôi vào trong khoang xem tình hình của vợ con thì thấy vợ tôi nằm sõng soài trên mặt ván, chiếm mất khoảng 1/5 diện tích sàn ghe của 20 người lớn lẫn trẻ con; hai đứa con thì thằng con trai không khá gì hơn mẹ, đứa con gái tuy tỉnh táo hơn nhưng mặt cũng tái mét vì sợ hãi.
Lợi dụng lúc bớt sóng gió, một số người còn đủ sức để ăn đã lấy lương khô ra dằn bụng. Tôi không biết những chiếc ghe “nhà giàu” khi vượt biên họ mang theo những loại lương khô gì, còn ghe của chúng tôi chỉ có bánh bích-quy (biscuit), mì khô (mì ăn liền), và thính gạo rang.
Bánh bích-quy “xã hội chủ nghĩa”, như những ai ở lại Việt Nam sau năm 1975 còn nhớ, có lẽ không còn từ nào khác để mô tả hơn là hai chữ “khủng khiếp”: bột mì Liên Xô hôi mốc, đường hóa học đắng nghét, mùi bột va-ni rẻ tiền nồng nặc, chỉ có con nít không biết gì mới ăn!
Vì thế, giữa bánh bích-quy và mì khô tôi dứt khoát chọn mì khô!
Mì khô ở đây là mì ăn liền dưới dạng mì vụn. Lần đầu tiên tôi được thấy mì vụn ăn liền là trong thời gian tù cải tạo ở Phước Long (1977-1978), được một số thân nhân đem lên tiếp tế cho tù cải tạo trong các dịp thăm nuôi.
Mặt hàng này xuất hiện trên thị trường chợ đen sau khi các hãng mì ăn liền ở Sài Gòn bị đưa vào tập thể, hoặc bị nhà nước tịch thu trong các đợt đánh tư sản sau năm 1975.
Lúc ban đầu, mì vụn được xem là một “phế phẩm” của các xí nghiệp quốc doanh, được phân phối cho công nhân viên với giá rẻ, để họ có thêm một nguồn lương thực ngoài tiêu chuẩn.
Cũng nên biết khoảng thời gian này được cộng sản Việt Nam gọi là thời kỳ “bao cấp”, còn người dân thì gọi một cách dễ hiểu là thời kỳ “ngăn sông cấm chợ”, khởi đầu từ năm 1976 cho tới năm 1986, thời gian Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đề ra chính sách “Đổi mới”.
Trong giai đoạn này, tất cả mọi sinh hoạt kinh tế, sản xuất đều do nhà nước nắm giữ, tất cả mọi loại hàng hóa, nhu yếu phẩm đều được phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền ban phát. Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm, hàng hóa theo đầu người.
Chính vì nhà nước trở thành chủ nhân ông, nắm giữ toàn bộ sản phẩm cho nên người dân chẳng ai dại dột làm hết sức mình; và cũng chính vì nhà nước nắm toàn quyền phân phối cho nên không phải người dân nào cũng được hưởng tiêu chuẩn như nhau.
Hậu quả là hàng chục triệu người dân miền Nam lâm vào cảnh thiếu thốn, đói khổ. Những ai đã từng sống vào thời kỳ bao cấp này hẳn không thể nào quên được cái đói của người dân miền Nam, nhất là trong nạn đói năm 1979, khi nông dân miền Nam – nơi mà vào thời đệ nhất cộng hòa từng được xưng tụng là vựa lúa của Đông Nam Á – nhiều người đã phải ăn củ hoang rau dại để khỏi chết đói (theo tường thuật trên báo Tuổi Trẻ của thành Hồ)!
Trở lại với “phế phẩm” mì ăn liền của của các xí nghiệp quốc doanh, trước năm 1975 chưa ai nghe nói tới, bởi vì mì gói ăn liền được làm hoàn toàn bằng máy – từ lúc trộn bột tới lúc đóng gói, thì làm gì có “phế phẩm”, nhưng nay chẳng hiểu tại sao trong lúc sấy khô trước khi được đóng gói, mì cứ bị… nát vụn; để rồi số lượng mì nát vụn này được gom lại để phân phối cho công nhân trong xí nghiệp với giá rất tượng trưng!
Dĩ nhiên, đám cán bộ lãnh đạo xí nghiệp dư sức biết tại sao mì lại bị nát vụn nhiều đến như thế, nhưng thời “bao cấp” mà, cha chung không ai khóc, tội vạ gì kiếm chuyện với công nhân!
Bên cạnh đó, sau khi một số công nhân đem phần mì vụn của mình bán cho người khác, đưa tới việc mì vụn trở thành một mặt hàng mới trên thị trường chợ đen thì đám cán bộ lãnh đạo cũng tìm cách tuồn mì vụn ra thị trường, dĩ nhiên với một quy mô lớn hơn!
Mặt hàng này rất được thân nhân tù cải tạo và dân vượt biên ưa chuộng.
Trước hết nói về tù cải tạo. Trong hoàn cảnh đói khổ, thiếu thốn, nhiều khi chỉ có muối hột, ở Phước Long mì vụn được chúng tôi sử dụng để “nêm” canh nấu bằng các loạu rau trồng được hoặc chôm chĩa từ vườn rau của bộ đội.
Chỉ có ở trong trại cải tạo người ta mới thấy được công dụng tuyệt vời của một nắm mì vụn: sau khi nồi canh rau muống, rau dền, mồng tơi, mướp… được nấu chín, bỏ vào một mắm mì vụn thì nó trở nên đậm đà ngon ngọt như thể được nấu với tôm khô vậy!
Còn với dân vượt biên nhà nghèo, mì vụn là loại lương khô phổ biến, tiện lợi nhất bởi vì có thể bỏ vào mồm nhai, không cần phải nấu nướng gì cả!
Số lượng mì vụn bà chị vợ mang theo cho hai gia đình (hai chị em) dự trù cho năm ngày, sau đó nếu vẫn chưa tới đảo, vẫn chưa được tàu vớt, chúng tôi sẽ phải ăn thính gạo rang.
Thực ra trong nền ẩm thực của người Việt, thính không phải là một món ăn mà chỉ là một loại “gia vị” không thể thiếu trong những món nem, hoặc sử dụng làm nguyên liệu cho các món bê thui, gỏi cá, hoặc pha các loại mắm như: mắm tôm, mắm tép, mắm ruốc…
Chỉ tới khi có phong trào vượt biên, thính mới được một số người trộn đường để làm thực phẩm dự trữ, vì có thể để lâu cả tháng trời mà không bị hư.
* * *
Ăn xong mấy bốc mì khô, uống vài ngụm nước, tôi trở ra ngoài ghe thì trời đã tối đen như mực. Vừa hút xong điếu thuốc Hoa Mai khét lẹt thì mưa giông bắt đầu kéo tới. Gió càng lúc càng mạnh, sóng càng lúc càng cao, và chỉ khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã hoàn toàn mất phương hướng. Nhưng trong hoàn cảnh nguy ngập này, giữ hướng chỉ là chuyện phụ, việc chính là giữ cho ghe khỏi bị lật, bị chìm. Lúc ban ngày, Lý còn nhìn thấy những con sóng để bẻ lái “gối sóng”, tức là tránh để sóng đánh ngang vào mạn thuyền, nhưng giờ đây trên trời dưới biển chỉ là màu đen kịt…
Chiếc ghe 7 mét rưỡi lúc thì bị tung lên cao, lúc như muốn lật ngang, sóng phủ lên ghe khiến bốn người chúng tôi – Lý, tôi, ông anh cột chèo, ông anh họ vợ – ướt sũng.
Ảnh minh họa: một chiếc ghe đánh cá hiện đại, dài 15 mét, đang “gối sóng” trong một cơn bão nhẹ trên biển Đông (nguồn: Internet)
Bỗng ông anh họ vợ chui vào trong khoang rồi trở ra ngay. Sau này vợ tôi kể lại ông vào chỉ để nói một câu ngắn gọn khiến mọi người bủn rủn tay chân: “Các cô ạ, cầu nguyện đi!”
Trong bối cảnh này, mặc dù hai chữ “cầu nguyện” vừa được hiểu là cầu nguyện để xin Thiên Chúa phù hộ vừa có nghĩa là đọc kinh sám hối để chuẩn bị chết, còn được gọi là “phó linh hồn”, nhưng ai cũng hiểu theo nghĩa thứ hai! Bởi vì ông anh họ vợ hồi còn ở ngoài Bắc đã từng theo ghe ra đánh cá ngoài biển, hẳn phải là người có kinh nghiệm, nay ông nói mọi người cầu nguyện thì phải hiểu là chiếc ghe của chúng tôi khó lòng qua khỏi cơn bão này!
Lẽ ra, ông anh họ vợ tôi không nên thốt ra câu đó, bởi vì nó chỉ khiến mọi người trong khoang thêm bấn loạn, chẳng ích lợi gì!
Sau này, bà chị vợ tôi và một số người ở trong khoang kể lại rằng mọi người chỉ âm thầm cầu nguyện nhưng có lúc họ lại nghe thấy “tiếng đọc kinh rõ mồn một” từ một nơi nào đó vọng lại, khiến họ càng thêm sợ hãi; có người còn tin rằng đây là tiếng cầu kinh của oan hồn những người đã chết trên biển Đông. Nhưng tôi không tin, cho đó chỉ là óc tưởng tượng của họ khi nghe tiếng gió rít, tiếng sóng biển gào thét.
Riêng tôi, mặc dù lúc ấy không biết ông anh họ vợ tôi nói gì với mọi người trong khoang, cũng nghĩ tới cái chết trước mắt, giống như trước đó hơn 3 năm khi bị sốt rét rừng ở Phước Long, tôi đã nghĩ tới. Có khác chăng là lúc này tôi cảm thấy lòng mình bình thản hơn nhiều.
Ngày nằm chờ chết ở Phước Long, mặc dù đã phó thác mọi sự cho Đấng tối cao, tôi vẫn không thể yên tâm khi nhớ tới gia đình bé nhỏ của mình. Vợ con tôi rồi đây sẽ đói no ra sao, tương lai của các con dưới một chế độ đang tìm mọi cách trả thù những người ngã ngựa sẽ đi về đâu…
Còn giờ đây nếu chết, tôi sẽ chết cùng với vợ con. Dĩ nhiên không ai muốn chết cả, nhưng nếu phải chết thì tốt nhất là chết mà không phải bận tâm, lo lắng cho những người thân yêu mình bỏ lại.
Rồi, cũng giống như ở Phước Long trước đây, tôi kiểm điểm lại bản thân lần cuối để tâm hồn được thanh thản.
* * *
Trong phần đầu của thiên hồi ký này, tôi đã thú nhận mình chỉ tìm lại được niềm tin vào tôn giáo sau khi bị đi tù cải tạo. Trước kia, tuy sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo, tôi không hề ý thức mình là một “con chiên” của Chúa để sống sao cho xứng đáng. Biểu hiện duy nhất để mọi người biết tôi là người Công giáo hoàn toàn mang tính cách hình thức: đi lễ nhà thờ vào mỗi Chủ nhật, nhưng đi do thói quen, hoặc bị mẹ, bà ngoại, và sau này là vợ bắt đi mà thôi!
Nhưng thực ra tôi vẫn ‘tin đạo” chỉ không “giữ đạo”, nghĩa là không chịu tuân giữ những “lề luật của Hội Thánh” mà thôi. Vì tin đạo cho nên mỗi khi gặp hoạn nạn hoặc lâm vào hoàn cảnh khó khăn tuyệt vọng, tôi thường “cầu cứu” Đức Mẹ Maria và các vị Thánh có tiếng linh thiêng. Cho tới nay, tôi vẫn tin rằng sau gần 2 năm đi “bụi”, bỏ học trọn năm Đệ Tam, chỉ học nửa năm Đệ Nhị rồi tự nộp đơn xin thi tự do mà tôi vẫn đậu được cái bằng Tú Tài 1 ban B là do “phép lạ” của Đức Mẹ và Thánh Mác-tin (St Martin de Porres). Nhờ đó, tôi mới giật mình tu tỉnh, sau này cũng lấy được cái bằng Tú Tài 2 ban A rồi vào trường Luật.
Nhưng sau khi vào quân đội thì tôi lại ngựa quen đường cũ, thậm chí còn tệ hại hơn thời học sinh sinh viên vì môi trường tứ đổ tường trong cuộc sống quân ngũ!
Chỉ sau cuộc đổi đời năm 1975, bị đưa vào trại cải tạo, sống trong cảnh khốn cùng, tuyệt vọng, tôi mới có cơ hội tìm lại niềm tin tôn giáo, để có đủ sức mạnh tinh thần vượt qua và sẵn sàng chấp nhận cái chết có thể đến với mình – tai nạn, bệnh tật, thậm chí bị bắn bỏ…
Tới khi bị sốt rét rừng Phước Long, tin rằng mình sẽ không qua khỏi, tôi kiểm điểm lại bản thân, thành tâm ăn năn sám hối về mọi lỗi lầm trong đời, và cảm thấy thanh thản, nhẹ nhõm.
Giờ đây cũng thế, đối diện với tử thần, tâm hồn tôi thật thanh thản!
* * *
Mặc dù cả bầu trời lẫn mặt biển tối đen như mực, không thể nhìn thấy các ngọn sóng, nhưng so với sức gió lúc ban chiều mà Lý nói là bão cấp 2, tôi đoán giờ đây chúng tôi đang gặp bão cấp 3. Sức gió, tiếng sóng thật khủng khiếp, muốn nói điều gì, chúng tôi phải hét vào tai nhau.
Vào khoảng 10 giờ đêm, Tiến – một trong hai thanh niên lo bãi bến và cũng là tài công phụ – từ trong khoang chui ra hốt hoảng báo cho ông anh cột chèo của tôi biết sàn ghe đã bị ngập nước. Cả hai ông anh vội vã bỏ vào trong lấy đèn pin soi thì thấy tất cả mọi người đều đang ngồi xổm. Ông anh cột chèo vội chui xuống khoang đặt máy ghe thì hỡi ôi, nước đã lên tới 1/3.
Ông anh đoán có những mép ván ở đáy ghe bị hở do bị sóng đánh quá mạnh, và nước biển đã vào ghe qua những kẽ hở này. Lúc ban ngày, khi bị bão lần thứ nhất, ông anh chưa thấy nước trong khoang máy, như vậy nước mới vào từ lúc bị cơn bão thứ hai.
Giải pháp trước mắt là tát nước. Thế là Tiến – cậu bé canh me mà sau này chúng tôi gọi là Tiến “con” – được phân công cùng với Trung, em cột chèo của Tiến, lấy xô múc nước trong khoang máy chuyền tay nhau đổ ra ngoài.
Khoảng 15 phút sau, sàn gỗ trong khoang của đàn bà con nít đã hết ngập, như vậy tốc độ nước vào ghe cũng không nhanh, suy ra chỗ ván bị hở cũng không lớn lắm. Sau nửa giờ đồng hồ, nước trong khoang máy đã gần cạn. Từ lúc đó cho tới khi cuộc hành trình kết thúc, Tiến “con” được trao trách nhiệm canh chừng mực nước trong khoang máy, khi nào thấy đủ để lấy xô múc thì tự động làm bổn phận.
* * *
Cuối cùng, cơn bão thứ hai mà tôi đoán tối thiểu phải là cấp 3 đã không đủ sức đánh bể hoặc nhận chìm chiếc ghe bầu 7 mét rưỡi; và tới khoảng 4 giờ sáng ngày 18/10/1981, bắt đầu giảm cường độ, tới 5 giờ sáng thì chấm dứt. Tới lúc đó tôi cũng cảm thấy hoàn toàn kiệt lực, vào trong khoang lấy một bộ quần áo khô ra thay, giao cái địa bàn cho ông anh cột chèo rồi lăn ra ngủ phía mũi ghe. Lý cũng giao cho Tiến lái ghe rồi nằm ngủ cạnh tôi…
Khi tôi giật mình thức dậy thì đã 7, 8 giờ sáng. Biển chỉ động nhẹ nhưng mây đen vẫn giăng kín tứ phương. Lý cũng đã thức từ hồi nào và đang bẻ lái. Ông anh cột chèo giao lại cái địa bàn cho tôi rồi vào chui vào trong khoang. Ông không nói một lời nào nhưng tôi biết ông đã suy sụp, tinh thần cũng như thể xác, sau gần một ngày chống chọi với hai cơn bão.
Tôi không biết trong lòng ông có ân hận vì đã quyết định “đánh” vào giữa mùa bão hay không, nhưng qua quan sát thái độ im lặng, nét mặt không còn cảm xúc của ông, tôi rất ái ngại, tự nhủ lòng cố gắng san sẻ trách nhiệm với ông…Khoảng 9, 10 giờ sáng, tiếng sấm rền bắt đầu vọng lại từ hướng tây, mây càng lúc càng dày và thấp, gió càng lúc càng mạnh. Ông anh họ vợ tới bên cạnh tôi, nói vừa đủ nghe:
– Sắp bão nữa chú ạ!
Sau hai trận bão, giờ này tôi đã hoàn toàn tin lời nhà dự đoán thời tiết này. Tôi hỏi lại:
– Có mạnh bằng đêm qua không anh?
– Tôi đoán cũng tầm đó… Nhưng ban ngày đỡ lo hơn vì mình nhìn thấy sóng.
Độ nửa tiếng đồng hồ sau, cơn bão tới, không biết sức gió có mạnh bằng hồi đêm hay không nhưng qua so sánh chiều cao của các ngọn sóng tôi biết chắc chắn phải dữ dội hơn chiều hôm trước, tức là từ cấp 3 trở lên!
Mỗi lần chiếc ghe bị ngọn sóng tung lên cao, đứng ở mũi nhìn xuống, tôi thấy cả một vực thẳm hãi hùng trước mặt mà đêm hôm qua tôi không thể nhìn thấy trong màn đêm tối đen. Lúc này, lo sợ trong lòng tôi mới lên tới cực điểm.
Trước chuyến vượt biên, tôi mới đi biển tổng cộng ba lần trong đời. Lần thứ nhất khi di cư vào Nam năm 1954 trên một chiếc tàu vận tải lớn của Hải Quân Hoa Kỳ, lần thứ hai khi bị đưa từ Tân Cảng (Sài Gòn) ra đảo Phú Quốc trên chiếc hải vận hạm HQ-405 của VNCH để lại, lần thứ ba khi bị đưa từ Phú Quốc về đất liền trên chiếc dương vận hạm HQ-501, cũng của VNCH để lại.
Trong ba lần nói trên, chỉ có chuyến đi ra Phú Quốc trên chiếc hải vận hạm hạng trung (HQ-405) gặp bão, sau này tôi đoán là bão cấp 2. Tôi còn nhớ con tàu bị sóng ngang đánh mạnh nhiều lúc tưởng như muốn lật, nhưng vì ngồi dưới sàn tàu không nhìn thấy mặt biển nên tôi không có cảm giác sợ hãi như trong chuyến vượt biên sau này.
Cũng như chiều hôm trước, giờ đây việc giữ hướng của tôi tạm dẹp sang một bên, việc trước mắt là bẻ lái sao cho ghe khỏi bị lật, bị chìm. An nguy của 26 mạng người hoàn toàn tùy thuộc vào sức chịu đựng của chiếc ghe và tài “gối sóng” của Lý.
Mặc dù trong lòng đã dứt khoát chấp nhận cái chết nếu mình “tới số”, mỗi lần chiếc ghe bị ngọn sóng hất tung lên, tôi lại nhắm mắt lại, đợi cho ghe lao xuống vực thẳm rồi trồi lên, mới dám mở mắt ra! Nhưng trong khi nhắm mắt, tôi lại phải cố lắng tai nghe xem có tiếng động lạ nào không; nói trắng ra là chiếc ghe có bị sóng đánh vỡ hay chưa!
Tới lúc đó, tôi mới thấy việc tôi và ông anh họ vợ bỏ bao công sức ra để đóng thêm hai công đà cho chiếc ghe bầu đã sắp mục nát không uổng phí một chút nào. Thật vậy, không chỉ mình tôi mà cả hai ông anh sau này hồi tưởng lại đều đồng ý với tôi rằng nếu không đóng thêm hai công đà ấy, chắc hẳn chiếc ghe đã bị sóng đánh bể nát trong đêm bão đầu tiên!
* * *
Tới khoảng 3, 4 giờ chiều, Lý vừa mệt mỏi rã rời vừa buồn ngủ, nói Tiến giữ lái thay mình. Dĩ nhiên, chúng tôi không thể nài ép Lý vì sức người có hạn, nhưng những gì diễn ra sau đó đã khiến chúng tôi nhiều lần phải xanh mặt: kinh nghiệm và khả năng gối sóng của Tiến không bằng phân nửa của Lý, cứ sau một ngọn sóng bổ tới, chiếc ghe lại tròng trành một cách đáng sợ, khiến mọi người ở trong khoang hốt hoảng, la ơi ới…
Bà chị vợ của tôi vội đánh thức chồng dậy, ông từ trong khoang bước ra, không nói không rằng, nét mặt lộ rõ sự tuyệt vọng… Về phần tôi chỉ biết thầm cầu nguyện xin Đức Mẹ và Thánh Mác-tin phù hộ.
Cũng may, sau khi Tiến thay Lý được hơn một tiếng đồng hồ thì sức gió giảm bớt, sóng chỉ còn cao hơn một mét, và trước khi màn đêm buông xuống bão đã dứt hẳn. Cho dù không biết những gì sẽ xảy ra vào ngày mai, chúng tôi cũng có cảm tưởng mình vừa chết đi sống lại.
* * *
Khi đêm tới, trên bầu trời bắt đầu xuất hiện những vì sao, trăng hạ tuần sắp lặn ở phương tây nhưng vẫn đủ sáng để soi bóng xuống mặt biển êm như hồ thu.
Tôi lấy cái địa bàn bộ binh ra để lấy hướng. Sau hơn một ngày một đêm bị bão liên tục, tới lúc này tôi mới có thì giờ (và can đảm) để tự hỏi: ghe chúng tôi hiện đang ở đâu?
Sau ba trận bão, với sức gió từ 150 tới 200 cây số/giờ, chủ yếu là gió tây, chắn chắc ghe chúng tôi đã bị trôi giạt về phương đông, nhưng bao xa so với lộ trình đã dự tính thì không thể nào ước đoán. Mà một khi không biết mình đang ở đâu thì biết lấy hướng nào để đi?
Biết mọi người đang lo âu, tôi cố làm ra vẻ bình tĩnh, bắt đầu óc làm việc để tìm một câu trả lời hợp lý nhất.
Trước hết tôi nhớ lại tấm hải đồ biển Đông mà mình đã thuộc lòng, nếu không bị bão và lấy hướng 180 độ (165 độ + 15 độ giạt) thì giờ này chúng tôi đang ở trên lộ trình nam-bắc của tàu bè quốc tế và đã đi được 2/3 đoạn đường 700 km từ Vũng Tàu tới đảo Laut của Nam Dương. Nhưng sau hơn một ngày một đêm bị bão, chúng tôi đã bị trôi giạt về hướng đông một khoảng mà tôi ước đoán có thể lên tới cả trăm km. Tạm thời xem là 100 km, nếu từ vị trí này chúng tôi cứ tiếp tục lấy hướng 180 độ thì rất có thể sẽ đi lệch về phía bên trái và không nhìn thấy đảo Laut, và phải đi thêm khoảng 500 km nữa mới tới lãnh thổ của Mã Lai trên đảo Borneo, nơi chỉ có những bộ lạc bán khai sinh sống!
Vì thế, tôi quyết định lựa chọn hướng tây-nam (225 độ), cho dù có đi lệch về phía bên phải và cũng không nhìn thấy đảo Laut, ít ra sau khi đi thêm 300, 400 km chúng tôi cũng tới được Mã Lai hoặc Singapore.
Khoảng nửa đêm, trăng đã khuất, nhìn lên thấy một bầu trời đầy sao, lòng tôi nổi lên một cảm giác cô đơn, hoang mang khôn tả, bởi vì nói gì thì nói, tôi cũng chỉ là một anh lính văn phòng vượt biển lần đầu tiên, lại trải qua ba cơn bão, làm sao tôi có thể tin tưởng vào sự suy đoán của mình. Nhưng dù bán tín bán nghi, tôi bắt buộc phải có một sự lựa chọn!
Lúc này biển êm, gió nhẹ, không khí thật dễ chịu, mọi người đều lăn ra ngủ, trừ ông anh cột chèo và Lý. Rồi tôi cũng thiếp đi lúc nào không hay, và một cơn ác mộng đã đến trong giấc ngủ: ghe chúng tôi bị công an biên phòng chặn bắt, tôi lại bị đưa vào trại cải tạo, lần này không có ngày về…
Đúng lúc ấy, ông anh cột chèo lay tôi dậy: ông nhìn thấy đất liền!
Ông chỉ về phía trước mặt, nói đó là bờ biển có ánh đèn. Trước thái độ phấn kích của ông, tôi cố dương mắt quan sát và thấy hình như có một dải đen ở trước mặt, rất có thể là bờ biển. Ông anh cột chèo vội đánh thức cả ông anh họ vợ dậy…
Lúc đó, đầu óc tôi không còn đủ minh mẫn để đặt câu hỏi: nếu là bờ biển trước mặt thì đó là lãnh thổ Mã Lai hoặc Singapore, nhưng tại sao bị bão trôi về hướng đông mà giờ đây ghe lại cập bờ biển ở hướng tây?
Tôi vội vã mường tượng những gì sẽ xảy ra một khi ghe cập vào bờ biển trong đêm tối. Chắc là mọi người sẽ ngồi lại ở bờ biển chờ tôi tìm cách liên lạc với nhà chức trách địa phương. Dĩ nhiên, tôi sẽ sử dụng tiếng Anh; hy vọng sẽ gặp được một vài người dân bản xứ biêt tiếng Anh…
Trong lúc đầu óc tôi làm việc, ông anh họ vợ giữ lái cho ghe chạy thẳng vào “bờ”, còn ông anh cột chèo vào trong khoang vui mừng báo cho mọi người biết sắp tới đất liền!
Thế nhưng ngay lúc đó, ông anh họ vợ, cũng giống như tôi, khi được ông em họ chỉ cho thấy “bờ biển có ánh đèn”, cũng chỉ thấy “hình như có bờ biển”, giờ này không còn thấy gì nữa. Và chính tôi cũng không thấy gì nữa!
Rồi tới lượt ông anh cột chèo, từ trong khoang trở ra, cũng thấy “bờ biển có ánh đèn” đã biến mất! Ông dụi mắt một hồi, dáo dác nhìn tứ phương nhưng vẫn không thấy gì!…
Như vậy, ông anh cột chèo đã bị ảo giác, và hai người chúng tôi bị… ảo tưởng!
Tôi chợt nhớ tới chuyến khám phá Tân thế giới của Christopher Columbus lần thứ nhất vào năm 1942-1943, trong cơn tuyệt vọng, các thủy thủ làm nhiệm vụ quan sát trên cột buồm cũng nhiều lần thấy “đất liền”, nhưng sau đó tất cả đều biến mất.
Có khác chăng là chúng tôi không đến nỗi bị khủng hoảng tinh thần tới mức điên loạn như các thủy thủ trên tàu Santa Maria năm xưa, bởi ngày ấy vẫn còn có nhiều người không tin trái đất tròn mà cho rằng tận cùng của “mặt đất” sẽ là hố thẳm vô tận!…
Ông anh cột chèo thẫn thờ, im lặng một hồi rồi quyết định… thả neo! Dù ông không nói ra, tôi cũng hiểu ông vẫn cố tin rằng “bờ biển có ánh đèn” mà ông nhìn thấy lúc nãy là có thật, chẳng qua chúng tôi đã để mất hướng mà thôi. Ông quyết định thả neo với hy vọng sáng ra sẽ nhìn thấy bờ biển trước mặt!
* * *
Việc thả neo ngoài biển Đông, nơi có những hố sâu hơn 5500 mét thoạt nghe qua là “chuyện tề thiên”, nhưng trên thực tế, nếu từ Vũng Tàu hoặc các tỉnh miền Tây đi Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Nam Dương thì độ sâu trung bình chỉ từ 25 tới 75 mét.
Nguyên trong thời gian chuẩn bị chuyến đi, qua nghiên cứu tấm hải đồ biển Đông, tôi được biết vùng biển nằm giữa Trung Hoa, Việt Nam, đảo Borneo và Phi-luật-tân (tức vùng biển hiện nay được gọi là “đường lưỡi bò”) tuy có độ sâu từ 1000 tới 5500 mét nhưng nếu từ Việt Nam không lấy hướng đông (Phi-luật-tân) mà lấy hướng nam thì độ sâu ngoài khơi cũng chỉ bằng trong vịnh Thái Lan, tối đa 85 mét.
Bản đồ độ sâu trên biển Đông; những vùng màu trắng có độ sâu 0-50 mét (nguồn: Internet)
Khi được tôi cho biết chi tiết này, ông anh cột chèo đã quyết định chơi một cái neo “vĩ đại” với cuộn dây dài 60 mét!…
Thoạt tiên, trong bụng tôi không an tâm một chút nào trước việc thả neo giữa biển, nhưng nhớ lại trước đó, khi ông anh cột chèo nói rằng ông thấy phía trước có bờ biển và ánh đèn, chính tôi cũng thấy hình như có bờ biển thật; như vậy đầu óc tôi cũng không còn tỉnh táo, minh mẫn nữa, cho nên tốt hơn hết là cứ thả neo rồi sáng mai tính sau!
Sau khi tắt máy ghe, thả neo hết cuộn dây 60 mét, ghe của chúng tôi nằm im, không hiểu vì neo đã chạm đáy biển hay vì lúc đó biển êm như mặt hồ thu, không một chút gió, hoặc vì cả hai?
Chỉ biết đêm hôm đó, ba anh em chúng tôi người nào cũng ngủ một giấc khá dài, dù có trải qua những cơn ác mộng thì ít ra cũng lấy lại sức sau gần hai ngày chống chỏi với giông bão.
Sáng hôm sau, khi mặt trời đã mọc ở phương đông, ông anh cột chèo của tôi dù muốn hay không cũng phải trở về với thực tế phũ phàng: trước mặt sau lưng, bên trái bên phải không có bờ biển nào cả!
Riêng tôi, chưa bao giờ được ngắm bình minh đẹp đến như thế; trong một khoảnh khắc ngắn ngủi tôi quên hẳn việc mình đang ở giữa biển cả không biết bờ bến phương nào để hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên…
Mọi người trong khoang cũng kéo nhau ra ngoài hít thở không khí trong lành. Nhìn mặt mọi người tôi lại muốn bật cười nhưng đã cố nén được: sau ba ngày, những khuôn mặt nhem nhuốc vì bị bám khói dầu cặn từ buồng máy lọt sang, giờ này đã trở đen bóng như được xịt một lớp hắc ín, trông giống hệt mấy tay hề trong các gánh xiếc tây phương!
Tôi vào trong khoang thăm dò tình trạng của vợ, thấy nàng đã có thể ngồi lên tựa lưng vào vách ghe, tôi cũng an tâm phần nào.
Sau khi kéo neo lên, tôi đề nghị ông anh cột chèo tiếp tục lấy hướng tây-nam vì hiện nay tôi không biết đích xác vị trí của ghe thì thà cập bến Mã Lai hoặc Singapore còn hơn đi lạc vào vùng biển Borneo ở hướng đông-nam, không biết bao giờ mới tới bờ. Ông anh đồng ý.
Ghe nổ máy. Lúc này tôi mới có thì giờ chú ý tới tiếng máy ghe. Sau ba ngày đêm, cái động cơ Yanmar F10 tân trang vẫn nổ đều đặn. Thật may cho chúng tôi là nó không bị trục trặc, bởi ghe chúng tôi không hề có máy sơ-cua (tức cái máy đuôi tôm Kohler mà ông anh cột chèo đã tự tính lúc đầu), nếu cái máy F10 mà ăn vạ thì cũng cùng số phận với cái nghe của các con bà chị vợ trước đây: trôi lênh đênh theo chiều gió!
Lúc này mặt biển rất êm cho nên nhìn xuống tôi có thể nhận thấy chiếc ghe chạy quá chậm so với tiếng máy nổ dòn. Không cần đợi tôi đo vận tốc ghe, ông anh cột chèo cũng nhận ra điều này; ông nghĩ có thể chân vịt bị trục trặc gì đây, liền cho tắt máy ghe và lại thả neo. Rồi ông cởi quần áo nhảy xuống.
Chỉ một phút sau ông trồi lên cho biết chân vịt bị lưới đánh cá cuốn chằng chịt và nói chúng tôi đưa cho ông con dao. Phải mất hơn 10 phút ông mới thanh toán xong mớ lưới với những sợi nylon to gần bằng ngón tay. Hèn chi chân vịt quay mà không có sức đẩy!
Rồi lại nhổ neo, nổ máy. Chiếc ghe chạy thật ngon lành!
* * *
Khoảng giữa trưa, tôi nhìn thấy một vật lạ nhô lên ở cuối chân trời về hướng chính nam (180 độ). Tôi lấy ống nhòm quan sát thì thấy trông giống như một cái cột ăng-ten trên tàu buôn. Sau khi bàn thảo, chúng tôi quyết định thử vận may lần cuối, cho ghe đổi hướng tiến về phía con tàu, hy vọng, dù rất mong manh, sẽ được vớt.
Nhưng trái với mấy ngày đầu, chỉ cần 15, 20 phút ghe chúng tôi và con tàu đi ngược chiều đã tới gần nhau, lần này chúng tôi đi cả nửa tiếng đồng hồ vẫn thấy cái cột ăng-ten tàu còn khá xa, giống như con tàu đó đang thả neo giữa biển. Phải đi thêm nửa tiếng đồng hồ nữa, nhìn qua ống nhòm tôi mới biết đây không phải tàu buôn mà là một giàn khoan dầu! Càng tốt, mấy ngày trước gặp trên dưới hai chục chiếc tàu mà có chiếc nào thèm vớt đâu, còn giàn khoan nằm cố định một chỗ, vớt mình thì họ cũng đâu bị trở ngại gì!
Vào thời gian chuẩn bị vượt biên, chúng tôi được biết cùng với việc nhiều người vượt biển được tàu buôn vớt còn có những ghe cặp vào giàn khoan ngoài khơi, được họ vớt lên chờ tới khi có tàu buôn đi ngang qua, hoặc tàu tiếp tế cho giàn khoan tới nơi thì cho “quá giang” tới đất liền.
Giàn khoan chúng tôi gặp là một giàn khoan treo cờ Nhật. Khi còn cách khoảng 500 mét, tôi mới thấy được tính cách vĩ đại của giàn khoan khổng lồ này, rồi nhìn lại chiếc ghe bé nhỏ mong manh mà giật mình.
Ảnh minh họa: một giàn khoan của Nhật Bản trên biển Đông, tương tự giàn khoan chúng tôi đã gặp (hình Internet)
Lúc này hầu như tất cả mọi người đã ra khỏi khoang để chiêm ngưỡng cái giàn khoan một cách thích thú, và vui mừng vì sắp được vớt, kết thúc chuyến hải hành hãi hùng sau ba trận bão! Khi ghe tới mặt phía bắc của giàn khoan chỉ còn cách khoảng 100 mét, tôi thấy một nhân viên đứng trên lan can của tầng thấp nhất lấy tay làm hiệu cho ghe chúng tôi chạy vòng ra mặt hướng nam. Sau đó tôi mới hiểu cái cầu tàu của giàn khoan nằm ở phía nam.
Khi chúng tôi cho ghe tiến vào cầu tàu, đã có mấy người đứng sẵn trên đó chờ đợi.
Sau biến cố 1975, Dương Thiệu Tước ở lại trong nước và đã tạ thế. Trong những năm cuối đời, Dương Thiệu Tước và Lê Thương là hai tác giả, được người ta nhắc tới và lựa chọn một số tác phẩm cho trình bầy ở những nơi công cộng. Thế nhưng trong cuộc sống hàng ngày, Dương Thiệu Tước có vẻ hoàn toàn đóng vai một người vắng mặt. Có thể vì tuổi tác. Cũng có thể ông lựa chọn cách sống như thế. Một điều lạ lùng là, tuy nhạc của ông có được đem trình diễn trở lại, nhưng ngay lúc nghe nhạc ông, người ta vẫn cảm thấy sự vắng mặt của ông. Tựa hồ mỗi dòng nhạc ông viết ra, được hát lại ấy, tự nó, nói ra rằng: “Sống một đời như thế là đủ. Những điều đã nói không cần thiết được nhắc lại. Nhắc lại cũng chẳng sao, nhưng không cần thiết”.
Ông hiện hữu bằng chính sự vắng mặt của mình. Dù người ta nghe và hiểu nhạc Dương Thiệu Tước như thế nào, ông vẫn là một trong những đỉnh cao nhất, hợp thành dãy Trường Sơn của nền âm nhạc Việt Nam. Ngoài sáng tác, Dương Thiệu Tước còn là một danh cầm. Ông chơi được nhiều nhạc cụ: dương cầm, tây ban cầm, hạ uy cầm, đàn tranh, đàn bầu … Những bản nhạc như Bến Xuân, Suối Mơ của Văn Cao và Phạm Duy, Ngọc Lan của Dương Thiệu Tước do chính ông đàn Hạ uy cầm, đài phát thanh Sài Gòn vẫn cho phát hàng đêm trước đây, nhiều người vẫn còn nhớ. Sau ông, người ta không còn được nghe thấy ngón đàn ngọt ngào nào như thế nữa. Sau 1975, Dương Thiệu Tước vẫn được lưu dụng (chữ CS dùng để chỉ những người làm việc trong chế độ cũ được tạm giữ lại) để giảng dạy về Tây ban cầm tại Trường Quốc Gia Âm Sài Gòn, vì ông là giáo sư duy nhất dạy cấp cao đẳng.
Dù rất am hiểu về cổ nhạc dân tộc, và, một số ca khúc của ông viết dựa trên những làn điệu đặc thù của miền Trung, miền Nam, nhưng những bản như Tiếng Xưa, Đêm Tàn Bến Ngự, vẫn mang một vẻ gì đó rất riêng biệt, rất Dương Thiệu Tước. Dương Thiệu Tước cũng là một trong những người viết lời ca hay nhất của chúng ta.
Ở Dương Thiệu Tước không có những khám phá mới lạ trong cách xử dụng ngôn ngữ. Nhưng trong khuôn khổ, ý nghĩa từng chữ ông dùng, chứng tỏ ông nắm vững và hoàn toàn làm chủ những gì ông muốn viết. Thơ và họa tràn lan trong nhạc của ông, đẹp cái đẹp của những bức tranh thủy mặc hay ấn tượng, như các bản Thuyền Mơ hay Áng Mây Chiều.
Đó là những bức tranh được vẽ bằng màu sắc riêng của âm nhạc. Ngoại trừ bản Bóng Chiều Xưa, một tình khúc, có vẻ như vì tình mà được viết ra, các ca khúc khác của Dương Thiệu Tước, tình thường lẫn với cảnh. Người ta không biết ông yêu người hơn hay yêu cảnh hơn. Cũng có thể vì yêu người nên ông cũng yêu cảnh và ngược lại. Dương Thiệu Tước cũng là người đầu tiên dùng được nhiều thể nhạc Tây phương để viết nhạc và đã Việt-nam hóa được các thể điệu ấy. Khi ông viết Ôi Quê Xưa, thể điệu Tango Habanera còn xa lạ với nhạc Việt Nam. Bằng ca khúc này, Dương Thiệu Tước đã làm cho nó trở nên thân thuộc ngay với người nghe. Hình ảnh Dương Thiệu Tước vẽ ra trong ca khúc tư hương ấy, cảnh điêu tàn, gió mưa, nhịp cầu, mái tranh, không một chút gượng ép. Và người ta hiểu ngay rằng, nhạc sĩ Việt Nam nào cũng có thể dùng thể điệu ấy để viết ca khúc, nếu người ta có cái tài của Dương Thiệu Tước.
Phạm Duy xếp nhạc Dương Thiệu Tước vào loại quý phái của nhạc Việt Nam. Quả vậy, từ giai điệu cho đến những chỗ luyến láy trong mỗi ca khúc của ông, người ta dễ dàng nhận ra cái vẻ trau chuốt, hào hoa, nhưng cũng rất lịch sự, trang trọng. Nhạc Dương Thiệu Tước không khó đàn, cũng không khó hát. Nhưng không phải ai cũng đàn, cũng hát được.
Có lẽ vì thế, giữa người nghe, người hát nhạc Dương Thiệu Tước, luôn hiện hữu một khoảng cách. Cái khoảng cách ấy nên được hiểu như thế nào đây? Nó từa tựa như lời khuyên nhủ: “Cuộc đời như thế, lòng người yêu đời, yêu người như thế, nhưng chẳng thể nào chiếm hữu trọn vẹn được. Ao ước hơn chỉ là ảo tưởng. Trần gian là một giới hạn. Hai tay chúng ta cũng là một giới hạn. Chẳng thể nào ôm hết được. Nhìn nhận như vậy, có vẻ lại chính là phương thức để vượt qua những giới hạn đấy”.
Thành thử, dù không có cái vẻ ôm xiết lấy cuộc đời như nhạc Phạm Duy, nhưng nếu người ta thuộc nhạc Dương Thiệu Tước, khi yêu, người ta vẫn cảm thấy nhạc ông có những điều nói đúng với tiếng lòng của mình. Và, đó cũng là một cách yêu không kém phần thiết tha, đằm thắm.
Nói chung, nhạc Dương Thiệu Tước cũng là nhạc tình. Nhưng ông không yêu cái tình yêu vồ vập. Ông yêu cảnh, nhưng dường như, lúc nào ông cũng đứng ở vị thế ngoạn cảnh. Ông muốn nhập vào cảnh bằng tâm hồn mình, chứ không phải bằng thân xác. Ông giống như người đứng giữa đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan:
Dừng chân, ngoảnh lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta
Người ta không chỉ sống mà còn có một cách thế sống, cách thế thuởng ngoạn và chịu đựng cuộc sống nữa. Sự im lặng của Dương Thiệu Tước kể từ biến cố 75, ông ở lại trong nước, cho đến ngày ông qua đời, không phải là một cách thế sống của ông đó sao?
Ước gì chúng ta có thể được nghe lại chính ông và Minh Trang hát Bóng Chiều Xưa của cái thời Đài Pháp Á xa xưa một lần! Với cái tên Vân Hải, Dương Thiệu Tước còn là một ca sĩ có một giọng hát, ai đã có dịp may mắn được nghe, hẳn không thể nào quên. Điều ước khó thành, nếu không muốn nói là, không thể nào có được nữa.
Bông hồng tạ ơn những người đã viết nhạc và hát cho chúng ta nghe, chúng ta có muốn gửi tới Dương Thiệu Tước hôm nay, trên thực tế, đã muộn. Bởi vì Dương Thiệu Tước đã mất.
Nhưng những người như ông thì chúng ta có thể nói như Nguyễn Du:
“Thác là thể phách, còn là tinh anh”.
Cái chết của ông chỉ là sự vắng mặt của ông giữa cuộc sống này thôi. Những gì ông đã viết ra và để lại cho đời, cũng giống như những mùa hoa, có thể có lúc tàn, nhưng đến kỳ sẽ nở lại. Ông đã làm giàu cho âm nhạc, làm giàu cho tâm hồn nhiều thế hệ Việt Nam.
Mong ước có được nột ngày, tất cả những người đi xa sẽ có thể trở về, những người nghe nhạc của ông hôm nay, ở nơi xa xôi này, sẽ được nghe nhạc của Dương Thiệu Tước ngay trên chính mảnh đất của quê hương, được trực tiếp đặt những bông hồng tưởng niệm trên mộ phần nơi ông an nghỉ,
Dương Minh Ninh không phải chỉ viết một ca khúc. Ông đã viết cả một vở nhạc kịch. Ca khúc Gấm Vàng được rút ra từ vở kịch ấy và [tạm thời] được coi là tác phẩm duy nhất của ông.
Vì, trừ các thân nhân và bằng hữu của ông, chưa ai được biết vở kịch này ra sao [xin đọc thêm phần ghi chú & tài liệu].
Nhưng chỉ bằng vào riêng một mảnh Gấm Vàng đã được phổ biến, chúng ta có thể tin được rằng, toàn vở nhạc kịch của Dương Minh Ninh là cả một tấm gấm quý. Dương Minh Ninh thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ hai của chúng ta sau những Lê Thương, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước … Hoàn cảnh đất nước khiến chúng ta nhiều khi cư xử dường như vô tình đối với nhau. Chiến tranh rồi sự chia cắt …có những người chúng ta yêu mến nhưng chẳng biết vui buồn, lưu lạc nơi đâu, còn mất ra sao. Dương Minh Ninh là một trong những người như thế.
Nhắc tới Gấm Vàng của Dương Minh Ninh người ta lại cũng không thể không nhắc tới tiếng hát Minh Diệu. Đĩa nhựa (78 vòng?) ghi âm giọng hát Minh Diệu trình bày ca khúc này đã trở thành một phần dĩ vãng của Sài Gòn, của Huế, của Hà Nội và còn lại trong trí nhớ của rất nhiều người. Người ta thương nhớ một quê hương đã mất, rồi lại mất thêm một vài lần nữa, quá khứ đã mịt mùng lại lùi xa thêm. Trong cái quá khứ mấy từng sương khói ấy, hình như chỉ có những thanh âm mới thắp sáng lên được những hình bóng cũ.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.