This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Gởi các bạn trại tù Tiên Lãnh Quân Khu I những tháng năm thao thức đợi chờ…
Đêm nằm nghe tiếng Từ Quy Xót cho thân phận người đi chưa về Mênh mông rừng núi phủ che Triền miên nỗi nhớ câu thề thủy chung Biết ai có ý thay lòng Trăm năm còn vẹn duyên nồng hay chăng? Đêm nằm thao thức trở trăn Nửa đời cam những nhọc nhằn bấy lâu Từ Quy chim gọi tiếng sầu Trót xưa mất bạn – tìm đâu rã rời Âm vang khuya lạnh núi đồi Nhắc ai còn nhớ những lời sắt son Đêm nằm chong mắt mỏi mòn Nghe chim mà ngỡ người còn quanh đây Dẫu rằng đợi cuối chân mây Còn lâu chăng cũng đong đầy niềm tin Mai kia đày đọa bao miền Hóa thân xin được làm chim theo người…
– Anh ơi! Liệu người ta có cho mình về sau 10 ngày học tập chính sách không? Em lo quá!
– Ai mà biết được, nhưng… anh đoán chừng e cũng phải vài ba tháng vì anh nghe đồn họ đưa mình vô chiến khu cho biết mùi khổ cực. Hơn nữa trong 10 ngày, làm sao họ có thể tẩy cái não đã 35 năm thấm nhuần tư bản chủ nghĩa của mình được.
– Em sợ quá, anh ơi! Em không bao giờ quên cái Tết Mậu Thân ở Huế mình. Anh Thi, giáo sư vật lý, cậu Nga, thầy chích dạo, nửa đêm đã được người ta mời đi họp khi đang núp bom đạn trong hầm nhà em; để rồi mấy hôm sau bà con tìm thấy xác 2 cha con và hàng chục người khác bị chôn sống phía sau chùa Từ Hiếu. Và như cả thế giới đều thấy, đều biết, bao nhiêu người dân Huế vô tội đã bị tàn sát như vậy. Em không khi mô tin họ cả, em lo quá. Hồi chiều đi coi thầy, thầy nói số anh tháng ni xấu lắm. Anh ráng giữ mình nghe anh.
– Bây giờ đất nước đã không còn chiến tranh, họ đã có chính quyền, chế độ miền Nam đã hoàn toàn tan rã, kẻ bỏ chạy, người ngoan ngoãn đi tù. Rứa thì họ giết người hàng loạt làm chi? Thêm nữa, nếu muốn giết, họ phải giết hàng vài triệu người miền Nam, họ có dám làm không? Mặt khác, nếu không mở cho chúng ta một con đường hy vọng được sống, dĩ nhiên chúng ta phải liều chết chống lại. Cuối cùng, họ sẽ phải đương đầu với một cuộc chiến tranh nhân dân khác, chắc chắn sẽ vô cùng khốc liệt và dai dẳng. Anh nghĩ đó là điều họ không muốn. Còn nói về tướng số thì không phải chỉ riêng anh, mà cả mấy mươi triệu người miền Nam chúng ta sau ngày 30-4-1975 đều mạt theo vận nước ngửa nghiêng hết rồi. Nước mất nhà tan còn chi nữa mà tốt với xấu.
– Anh ơi! Em khổ quá, mai anh đi rồi, chừ em biết làm răng mà sống nuôi ba đứa con dại. Mạ cho cây vàng làm vốn thì anh đã bị tụi lừa đảo tráo tiền bằng giấy báo ở chợ Bến Thành rồi. Khi tê, biết như ri em đừng lấy lính cho rồi, lấy ông kỹ sư, giáo sư cho khỏe, không đi lính khổ cực ngày mô, khỏi sợ làm góa phụ, chừ lại khỏi đi học tập. Mấy con bạn em thời mô cũng sướng, tiền bạc rủng rỉnh, lên xe xuống ngựa, nhà cao cửa rộng, thiệt là có phước. Còn em, 6 năm lấy anh, lẽo đẽo theo anh khắp 4 vùng chiến thuật, ăn đồ quân tiếp vụ, ở trại gia binh, thấp thỏm đợi chờ, lo âu từng phút. Ngủ cũng thấy toàn ác mộng vì cứ lo sợ có ngày mô đó phải “đón anh về trên chiếc trực thăng in màu tang trắng” hay về làm “bại tướng cụt chân” như ông nhạc sĩ Phạm Duy đã dọa. Sáu năm ở với nhau được mấy trăm ngày trọn vẹn mà đến mấy ngàn đêm đợi chờ lo âu khắc khoải? Chừ súng không còn nổ nữa, chiến tranh hết rồi, anh lại cũng ra đi, biết khi mô mới về, răng em lo quá. Anh ơi! Răng đời em khổ hoài khổ mãi như ri!
Và tiếp theo là những giọt nước mắt nóng hổi, những tiếng nấc tức tưởi cố ghìm âm thanh lại cho giấc mộng thần tiên của các con nằm bên được tròn.
– Thôi gắng ngủ đi em, cố giữ gìn sức khỏe còn nuôi con. Mai anh đi rồi, em thu xếp về Huế nương tựa ba mạ hai bên một thời gian rồi hãy tính. Ở Saigon trong buổi giao thời hỗn loạn, nguy lắm. Về ngoài mình, có bà con, có nhà cửa em ráng tìm cách đắp đổi qua ngày chờ anh về hẳng hay. Anh sẽ về, nhất định anh sẽ về với em và các con. Mình ở hiền gặp lành, em nợ! Nhớ anh thì ráng lo cho các con, nhất là bé Móm ngày mai là đầy 10 tháng, phải không em?
– Không, em phải ở lại Saigon chờ anh về rồi cùng ra Huế luôn. Lòng dạ mô mà về khi không biết anh sống chết, no đói ra răng?
Mắt tôi ráo hoảnh, thân tôi bất động, nhưng đôi môi mím chặt để khỏi bật ra tiếng khóc thương người vợ trẻ 25 tuổi đời và ba đứa con thơ dại, bơ vơ giữa Saigon tan tác ngày mất nước.
Tôi và hàng ngàn bạn đồng đội đã từng từ giã những người thân yêu của mình để tình nguyện bước vào nhà tù khắc nghiệt của Cộng Sản vào một sớm mùa thu năm ấy, với một niềm hy vọng ngây thơ là trả cho xong một món nợ, để rồi sau đó, trở về làm một người dân bình thường sống trong một đất nước thanh bình.
Nhưng hầu hết chúng tôi đã lầm lẫn. Mười ngày và một tháng của Việt Cộng là 5 năm hay 10 năm của người này, là 14, 15 năm của người khác. Bi thảm và đau đớn hơn nữa là nhiều anh em không bao giờ trở lại. Họ đã can đảm tìm cái chết để khỏi sống kiếp tội đồ, khỏi thấy gia đình và dân chúng bị đày đọa trong cảnh lầm than đói khổ. Một số anh em khác đã chứng tỏ khí phách anh hùng, tổ chức đào thoát mong tìm về với đồng đội còn chiến đấu đâu đây để tiếp tục cuộc chiến còn dang dở; nhưng chẳng may họ thất bại, bị bắt lại và ngẩng cao đầu nhận những viên đạn thù.
Những người sống sót trở về, bản thân ít ai còn nguyên vẹn. Người thì để lại một phần thân thể: một con mắt, một cánh tay trong một lần cắt tranh trên một bãi chiến trường xa vắng năm xưa. Kẻ thì tim gan phèo phổi rách bươm vì những điều kiện ngặt nghèo cùng cực về dinh dưỡng, về y tế hoặc vì những ngày dài lao động khổ sai, sức cùng lực kiệt.
Những anh em may mắn không bị những mất mát thể xác thì gặp những tai biến tâm thần, những thảm trạng gia đình mà nguyên do vì ý chí không vững vàng hoặc vì những điều kiện khách quan phức tạp của xã hội nhiễu nhương.
Có thể hiểu 4 chữ “Tập Trung Cải Tạo” đồng nghĩa với “Địa Ngục Trần Gian”.
Đêm mùa thu Cali lành lạnh gợi nhớ đến cái đêm mưa Saigon đi cải tạo mười bảy năm trước. Nhớ để ghi khắc trong lòng, nhớ để nhắc nhở những ai chưa từng biết Cộng Sản là gì, chưa từng sống với Cộng Sản một ngày là: Lừa Bịp, Ngu Dốt và Tàn Ác là Bản chất của người Cộng Sản. “Thiên đường Cộng Sản” chính là “Địa Ngục Trần Gian” có thật trên quê hương chúng ta.
Những đêm dài thao thức trong lao tù Cộng Sản, tôi vẫn hằng tâm nguyện, nếu còn sống sót trở về, tôi sẽ đi khắp hang cùng ngõ hẻm, nói cho đồng bào tôi nghe sự thật về người Cộng Sản và Chủ Nghĩa phi nhân tàn bạo đó, để không còn một ai nghe theo lời đường mật, lừa mị của chúng nữa.
Tôi ước mơ một ngày không xa, chủ nghĩa không tưởng quái quỷ đồng nghĩa với đau thương và khốn cùng đó sẽ hoàn toàn biến mất trên trái đất này.
Niềm mơ ước đó ngày nay đã trở thành hiện thực, phong trào Cộng Sản đã và đang tan rã trên toàn thế giới.
Nhưng bất hạnh thay cho dân tộc Việt Nam chúng ta, Cộng Sản vẫn còn thống trị, vẫn còn ngoan cố áp đặt một chế độ hà khắc, tàn bạo trên hơn 60 triệu đồng bào lầm than khốn khổ cùng cực.
Vậy thì bằng mọi nỗ lực, bằng cách này hay cách khác, cuộc chiến đấu chống Cộng còn dang dở của toàn dân Việt Nam vẫn phải còn tiếp tục.
Để không thẹn với anh linh của bao tử sĩ anh hùng.
Để giành lấy quê hương mà xây dựng lại một Việt Nam Tự Do, Thanh Bình và Thịnh Vượng.
Theo dự trù, chuyến vượt biên của người cậu họ (tức em họ của mẹ tôi) sẽ diễn ra vào khoảng đầu năm 1982. Dĩ nhiên là đi lậu!
Như vậy tôi phải chờ ít nhất sáu tháng, và tôi phải làm đơn xin về Hố Nai cư trú, vì chỉ còn hơn một tháng nữa là hết thời hạn 6 tháng cư trú tại Sài Gòn đã ghi trong Giấy ra trại.
Mấy tuần lễ sau, khi tôi đang ở Sài Gòn chuẩn bị lên Ủy Ban Nhân Dân quận Phú Nhuận làm thủ tục thay đổi nơi cư trú, thì ông anh cột chèo cho thằng con trai 12 tuổi đạp xe tới nhà, nói ba mẹ cháu kêu hai vợ chồng tôi tới nhà ông bà ở Cầu Kinh (quận Bình Thạnh) ăn cơm tối vì có chuyện quan trọng muốn nói.
Trong bữa cơm, ông anh cột chèo cho vợ chồng tôi biết ông quyết định đứng ra tổ chức vượt biên cho tất cả các thành viên còn lại trong gia đình, gồm hai vợ chồng và năm đứa con, cùng với mấy cha con một người anh họ vợ, nếu chúng tôi nếu muốn tham gia thì ông cho hai chỗ – tôi và thằng con trai 10 tuổi.
Theo ông, công việc trước mắt là mua ghe rồi chờ thời cơ thuận tiện, trễ nhất là vào cuối năm (1981) sẽ ra đi. Muốn mua ghe thì phải có tiền do các gia đình đóng góp, sau này càng lấy được nhiều khách thì số tiền phải đóng góp càng giảm bớt. Nhưng trước mắt là phải đóng góp.
Nghe nói tới việc “đóng góp”, vợ chồng tôi hơi nản vì sau năm 1975 chúng tôi chỉ có hai bàn tay trắng. Tuy nhiên, chúng tôi chỉ nói cám ơn anh chị chứ không trả lời ngay là có tham gia hay không.
Khoảng hai tuần sau, ông anh cột chèo lại kêu hai vợ chồng tôi tới nhà ăn cơm… Lần này, hai ông bà nói thẳng ra là sẽ cho tôi và thằng con trai đi “chùa”, sau khi tới miền đất hứa mới phải trả hai cây; nhưng bắt chúng tôi hứa phải giữ kín, vì vợ chồng ông không muốn cho người anh họ của vợ biết. Bù lại, tôi phải phụ giúp mọi việc trong thời gian chuẩn bị, như sửa ghe, đi đây đi đó để liên lạc…
Về nhà, sau khi bàn bạc với nhau, hai vợ chồng tôi cho đây là một cơ hội rất tốt, nếu không muốn nói là có một không hai: tôi và thằng con trai sẽ đi theo ghe của bà chị vợ; vợ tôi và đứa con gái ở lại, đợi tới đầu năm 1982 sẽ đi theo ghe của người em họ mẹ tôi.
Hơn một tuần sau, ông anh cột chèo kêu tôi tới nhà gặp anh C, người anh họ vợ, chuẩn bị bắt tay vào việc. Thì ra ông vừa mua được một chiếc ghe cũ, và giao công việc tu bổ cho tôi và anh C.
Cho tới lúc đó, ông anh cột chèo vẫn tiếp tục bám lấy công việc chuyên viên chụp hình quang tuyến X ở bệnh viện Nguyễn Văn Học để tránh bị nghi ngờ vào cái thời mà “nếu có chân, cái cột đèn cũng vượt biên”; ông cũng giữ kín tin năm đứa con đã tới được được trại tỵ nạn ở Nam Dương, ai hỏi thì ông nói chúng đang làm rẫy ở ngoài Láng Cát, Bà Rịa. Vì thế, ông không thể bỏ bê công việc ở bệnh viện, chỉ lâu lâu mới ghé chỗ chúng tôi sửa ghe.
Vị trí sửa ghe chỉ cách nhà chị vợ tôi khoảng 2, 3 cây số, băng qua cầu Kinh sang Bình Qưới, nằm trên bờ sông Sài Gòn.
Có thể gọi Bình Qưới là một bán đảo do sông Sài Gòn chảy uốn khúc gần một vòng tròn tạo thành; từ Ngã ba Hàng Xanh đi vào, qua cầu Kinh (là một con kinh nối liền cái eo của bán đảo) sang biên kia là Bình Qưới.
Vị trí sửa ghe (ngôi sao đỏ)
Ngày ấy Bình Qưới còn khá thưa vắng, ngoài cư xá Thanh Đa nằm ở phía ngoài, bên trong phần lớn còn là đồng ruộng, lâu lâu mới có một nhà dân, lý tưởng để chúng tôi đi lại hàng ngày mà không sợ bị chú ý.
Khi tôi tới nơi thì chiếc ghe đã được đưa lên bờ. Bất cứ ai hiểu biết ít nhiều về chuyện vượt biên mà nhìn thấy chiếc ghe ông anh cột chèo của tôi mua để đi “vượt biên” chắc chắn sẽ phải tá hỏa.
Tá hỏa bởi trước hết chiếc ghe chỉ dài 7 mét rưỡi; thứ hai, quan trọng hơn, đây là một chiếc ghe bầu để đi trên sông chứ không phải ghe ra biển đánh cá! Một cách chi tiết hơn, đây là một chiếc ghe bầu trước kia được sử dụng để chở dừa.
Ghe bầu, như chúng ta thường thấy trên các sông lạch ở vùng Thủ Đức, Lái Thiêu, hoặc ở miền Tây, là những chiếc ghe có bề ngang khá rộng, mũi và đuôi gần như giống nhau, để vận chuyển hàng hóa trên sông. Vì trong sông không có sóng lớn, ghe bầu có thể chở khẳm mà không sợ bị lật chìm. Ngày người ta còn sử dụng “tỉn” để đựng nước mắm, chính mắt tôi đã thấy những chiếc ghe bầu chở tỉn nước mắm, nước sông mấp mé mạn thuyền chỉ còn độ một gang tay!
Ghe đánh cá ngoài biển thì khác, trước hết mũi ghe phải nhọn để rẽ sóng, thứ đến lườn ghe phải có khả năng cỡi sóng, và khung, thành ghe (framework) phải cứng cáp để đỡ sóng!
Tuy nhiên vì tôi không có một chút kiến thức nào về ghe thuyền và chưa hề nhìn thấy một chiếc ghe vượt biên bao giờ, tất cả những thứ nói trên tôi chỉ có dịp tìm hiểu sau khi đã tới bến bờ tự do, còn vào lúc đó tôi mù tịt. Tôi chỉ nhận ra một điểm: chiếc ghe đã quá cũ!
* * *
Tới đây nói về anh C, người anh họ của vợ tôi. Tuy vai anh, anh C đã khá lớn tuổi, ngày còn ở ngoài Bắc đã từng theo ghe đi đánh cá ngoài biển.
Nguyên quê ngoại của vợ tôi là một làng đánh cá nổi tiếng thuộc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nơi ông ngoại vợ tôi giữ chức Chánh tổng. Gia đình anh C làm chủ nhiều ghe đánh cá; có lẽ vì vậy mà nay ông anh cột chèo của tôi rủ anh C tham gia vượt biên, bởi tin rằng ít nhiều anh cũng có kinh nghiệm đi biển ngày còn ở ngoài Bắc, cho dù sau khi di cư vào Nam chỉ biết buôn bán.
Sau này nhớ lại, tôi không hiểu anh C nghĩ gì khi thấy chiếc ghe bầu cũ kỹ dài 7.5 mét, chỉ biết anh không tỏ lộ một chút thất vọng hay lo âu nào cả. Anh xem xét chiếc ghe (khi ấy đã được đưa lên bờ) rồi bàn bạc, góp ý kiến với ông anh cột chèo của tôi về chương trình “đại tu” – nhái chữ của Hải Quân VNCH có nghĩa là sửa chữa, tu bổ toàn bộ.
Sau khi lên chương trình, ông anh cột chèo giao công việc cho anh C và tôi, lâu lâu mới ra thăm và góp ý.
* * *
Vì tham gia công việc sửa ghe, tôi phải tìm cách ở lại Sài Gòn một khi thời hạn 6 tháng cư trú ghi trong Giấy ra trại chấm dứt. Trước hết, trong phần báo cáo sinh hoạt hàng ngày mỗi khi ra trình diện công an phường, tôi không ghi về Hố Nai làm ruộng nữa mà ghi đang làm vỏ xe đạp ở bên Tân Định.
Nguyên trong số bạn tù ở chung đội với tôi từ Tây Ninh lên Phước Long, có Phát “tịt”, một tay thiếu úy được thả trước tôi hơn 2 năm, nay đang làm vỏ xe đạp với một tay bạn tù khác, có đăng ký dưới danh xưng “Tổ hợp X…”.
Như những người bị kẹt lại ở VN sau năm 1975 còn nhớ, sau các đợt đánh tư sản, hầu như toàn bộ nền kỹ nghệ nhẹ tại miền Nam bị sụp đổ, cùng với việc bị quốc tế cấm vận sau khi CSVN xua quân xâm lược Căm Bốt, vỏ xe đạp được xem là một trong những mặt hàng khan hiếm nhất vì xe đạp là phương tiện di chuyển chính trên cả nước. Vì thế nghề làm vỏ xe đạp theo phương pháp thủ công nghệ cũng phát triển theo!
Vào thời gian này, vỏ xe đạp mòn tới mức lòi những sợi bố vẫn không bị phế thải mà được “lót” bằng những khúc vỏ cũ cắt ra từ những cái vỏ đã bị phế thải. Tới khi tanh banh mới bán cho những tay làm vỏ xe đạp để họ lấy hai cái vành thép sử dụng làm vỏ mới.
Trở lại với “tổ hợp” làm vỏ xe đạp của Phát và người bạn, thực ra đây cũng chỉ là một màn trình diễn chứ không phải kế sinh nhai, bởi vì tất cả mọi “khâu” đều là “thủ công” đúng nghĩa; cả ngày hai thằng hì hục đan bố (sợi polyester), tới khi nào được vài cặp mới mua cao-su về nấu, đúc thành cái vỏ xe rồi tìm chỗ bỏ mối.
Tuy không bị thất bại thê thảm như công việc làm xà bông bột của tôi và Khiêm, việc làm vỏ xe đạp của Phát cũng không bõ công, thêm vào đó là sự cạnh tranh của những cơ sở sản xuất quy mô hơn của tư nhân hoạt động lậu dưới sự bao che của đám cán bộ địa phương.
Khi biết tôi đang tham gia một tổ hợp làm vỏ xe đạp, Huỳnh, tay công an khu vực, thăm dò:
– Sao anh không tự làm chủ, thành lập một tổ hợp ngay tại xóm mình, căn nhà của tổ hợp thêu may vẫn còn chỗ trống đó.
(Căn nhà này ở ngay lối vào khu ao cá, chủ bỏ đi năm 1975, được sử dụng làm cơ sở cho tổ hợp thêu may)
– Vốn liếng đâu mà mua sắm dụng cụ, anh!
– Vợ anh buôn bán hàng ngoại thiếu gì tiền!
– Cũng chỉ đủ ngày hai bữa thôi anh à. Hơn nữa, tôi cũng sắp hết hạn 6 tháng cư trú ở TP.HCM rồi…
– Thì trong Giấy ra trại họ ghi vậy thôi. Nếu anh có công ăn việc làm, tôi có thể giúp anh làm hộ khẩu. Đừng có lo!
Tôi dư biết tay Huỳnh này muốn gì, nghĩ thầm trong bụng: mình đang cần ở lại Sài Gòn để sửa ghe, cứ câu giờ rồi tính sau. Nhưng tôi vẫn cẩn thận không để tay công an khu vực hiểu lầm là vợ tôi có nhiều tiền sẽ tìm cách bắt địa:
– Nếu anh giúp được, tôi sẽ không quên ơn. Nhưng chắc tôi phải về Hố Nai nhờ mẹ tôi vay mượn tiền bạc làm vốn cái đã.
* * *
Trở lại với công việc sửa ghe. Trước hết chúng tôi – tôi và ông anh họ vợ – đóng thêm hai công đà (đà ngang) để khung ghe thêm vững chắc. Không hiểu ông anh cột chèo mua loại gỗ gì mà nó vừa nặng vừa cứng, phải mất mấy ngày trời chúng tôi mới cưa, đục, khoan rồi bắt bù-loong vào hai cái đà cũ trên ghe!
Tiếp theo là xem lại từng miếng ván trên thân ghe, chỗ nào bị bung, hoặc sắp bung ra thì lấy đinh đóng lại. Khi làm công việc này, chúng tôi mới khám phá ra nhiều mép ván đã bị mục, vì thế ở những chỗ chưa bị mục, chúng tôi phải đóng thêm đinh, và khi trét dầu chai lại toàn ghe, tới những chỗ bị mục chúng tôi cố gắng trét thật kỹ.
Sau đó tới việc đóng ca-bin. Vì ghe bầu vốn sử dụng để chở dừa, chở tỉn nước mắm, và những loại hàng hóa không cần che mưa nắng cho nên phía trên trống không để chở được tối đa; để che mưa nắng, người ta chỉ cần căng một tấm bạt.
Đóng một cái ca-bin tươm tất và đúng kiểu cách như các ghe đánh cá ven biển thì chúng tôi không đủ khả năng, vả lại cũng không cần thiết. Những gì chúng tôi cần là một chỗ che mưa nắng, sóng gió cho đàn bà con trẻ khi ra ngoài biển khơi.
Cuối cùng chúng tôi quyết định cũng đóng ca-bin nhưng là một cái ca-bin thấp lè tè che gần hết diện tích chiếc ghe. Khoảng 1/3 phía sau của ca-bin sẽ là nơi đặt máy ghe, 2/3 phía trước, rộng khoảng 4, 5 mét vuông, ưu tiên cho đàn bà con trẻ.
Sau này, có dịp quan sát tận mắt một số ghe tới được Nam Dương cũng như qua hình ảnh về ghe vượt biên, tôi mới thấy chiếc ghe của chúng tôi không giống con giáp nào cả, nhỏ xíu, thấp lè tè, kín mít, trông kiên cố như một pháo đài!
Đóng ca-bin xong chúng tôi bắt đầu nghiên cứu đóng thêm cái “mũi Thái Lan” giả. Gọi là “giả” bởi phía dưới vẫn là cái mũi ghe bầu, chỉ khác ở phía trên được đóng thêm mấy tấm ván cho mũi ghe cao hơn, đồng thời đóng thêm một cái cản ngang (giống cản xe hơi) để trông “ngầu” hơn (chưa kể sau này còn thêm cái mỏ neo lớn quá mức bình thường và cuộn dây 60 mét).
Phía đuôi ghe thì đóng thêm một cái sàn gỗ làm giang sơn cho tài công và hoa tiêu.
Chiếc ghe bầu 7.5 mét sau khi được “đại tu”, đứng trên mui ghe là ông anh cột chèo
Sau khi công việc hoàn tất, ông anh cột chèo của tôi lại có thêm một sáng kiến: vì đây là ghe sông không có các “con lươn” hai bên lườn ghe để gối sóng, ván thuyền lại quá cũ nên ông mua tôn Mỹ về để bọc dưới lườn ghe.
Nói tới “tôn Mỹ”, không phải người nào sống tại miền Nam trước năm 1975 cũng biết độ dày và cứng của nó. Chẳng hạn tôi và ông anh họ vợ, chỉ tới khi ông anh cột chèo mướn ghe chở tôn tới, chúng tôi mới biết nó dày và cứng cỡ nào; chúng tôi phải sử dụng những khúc gỗ lớn dộng thật mạnh mới đập dẹp được, và tới khi đóng vào lườn ghe thì đinh (thời xã hội chủ nghĩa) cứ bị cong, chúng tôi phải sử dụng một cái đinh lớn để “mồi” (đục lỗ trước).
Kết quả, tôi nói đùa với anh C, “chúng ta đã có một chiếc… thiết giáp hạm đúng nghĩa”.
* * *
Trong thời gian tôi và anh C tu bổ chiếc ghe, ông anh cột chèo nói tôi có bạn bè hay người quen biết nào muốn vượt biên thì rủ họ cùng đi, giá 3 cây (lượng vàng) một đầu người, và phải đưa trước.
Trong số các bạn thân và bạn tù cải tạo, tôi chỉ biết chắc chắn Đức “cống” đang có ý định vượt biên. Khi tôi kể cho hắn nghe việc chúng tôi đang sửa ghe chuẩn bị vượt biên và hỏi hắn có muốn đi với tôi không, Đức hỏi thẳng:
– Ghe mày mấy mét?
Tôi ăn gian:
– Hơn 8 mét!
– Mẹ, 8 mét mà vượt biên cái gì, ít nhất cũng phải 12 mét!
Sau đó, Đức giải thích cho tôi hiểu không kể những chiếc “ghe nhà” chỉ cầu ra tới hải phận quốc tế để mong được tàu vớt, ghe vượt biên phải dài ít nhất 12 mét mới có thể vượt đại dương, còn ghe nhỏ cỡ ghe của tôi chỉ sử dụng làm ghe taxi, tức là ghe chở khách từ bờ tới điểm hẹn của chiếc ghe vượt biên (ngày đó nhiều người còn gọi là ghe “tăng-bo”, tôi không hiểu có phải từ chữ “en-bord” trong tiếng Pháp hay không?)
Khi được tôi kể lại những gì Đức nói với tôi, anh C trấn an:
– Ra ngoài khơi thì ghe lớn sóng lớn chú ạ. Gặp giông bão thì ghe nào cũng như nhau; mình chỉ biết phó thác trong tay Chúa thôi!
Vẫn biết anh C là người sùng đạo, gia đình có tới hai người làm linh mục, lúc nào cũng nhắc tới Chúa là việc bình thường, nhưng tôi có linh cảm trong trường hợp này, anh nhắc tới Chúa để trấn an cả tôi lẫn bản thân anh. Có nghĩa chính anh cũng không an tâm trước chiếc ghe dài 7 mét rưỡi này!
Dĩ nhiên, tôi không bao giờ nói ra những suy nghĩ của mình, nhưng từ lúc đó, tôi luôn luôn tự nhủ: cho dù ra đi là liều chết, tôi cũng không còn lựa chọn nào khác; hơn nữa, việc tôi thoát chết vì sốt rét rừng ở Phước Long càng khiến tôi tin sống chết là do sự an bài của Đấng Tối Cao!
Chỉ có cách tự nhủ lòng mình như thế, tôi mới có thể yên tâm tiếp tục công việc chuẩn bị vượt biên!
* * *
Khi công việc sửa ghe sắp hoàn tất, ông anh cột chèo bắt đầu đi lùng mua máy ghe. Cứ theo lời Đức “cống”, cùng với chiều dài từ 12m trở lên, ghe còn phải được trang bị động cơ 2, 3 lốc (“lốc”: block, cylinder) thì mới đủ sức đi biển. Tất cả những động cơ này đều là động cơ cũ từ thời VNCH, hầu hết là hiệu Yanmar của Nhật.
Sau khi ông anh cột chèo của tôi mua được một động cơ cũ, đem đi tân trang rồi đưa về ráp vào ghe, tôi được ông anh họ vợ cho biết cái động cơ này… chưa tới 1 lốc!
Một cách chi tiết, đây là một động cơ F10. Sau này có cơ hội tìm hiểu qua tài liệu của hãng Yanmar, tôi được biết các động cơ nhỏ được mang ký hiệu F6, F8, F10, tới F12 mới là 1 lốc.
Như để trấn an chúng tôi, ông anh cột chèo cho biết trong chuyến vượt biên trước đó của mấy đứa con vào năm 1979, ghe chỉ được trang bị máy F8 mà thôi. Rồi ông cho biết sẽ tìm mua một cái máy Kohler (máy đuôi tôm) làm máy sơ-cua!
* * *
Vào khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9/1981, chiếc ghe được “hạ thủy” nhưng chưa chạy thử ngay mà cắm sào đậu tại chỗ để xem chỗ nào bị nước rỉ vào thì đánh dấu để “vá” hoặc đóng thêm đinh rồi trét dầu chai một lần nữa. Nhưng qua một đêm, ngày hôm sau tôi và anh C xem xét từng kẽ ván mà không hề thấy một giọt nước rỉ vào.
Mấy ngày sau, ông anh cột chèo chính thức xin nghỉ việc tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học để bắt đầu đánh cá “chui” cùng với ông anh họ vợ.
“Chui” ở đây có nghĩa là không đăng ký ghe. Sau này ngẫm lại, tôi mới thấy việc ông anh cột chèo “chơi” ghe nhỏ không chỉ tiết kiệm tiền bạc mà còn dễ dàng giả dạng ghe đánh cá chui của người dân.
Thời gian này, hầu như các ghe đánh cá nhỏ không ai đăng ký cả, và thay vào đó thì phải nộp “tiền mãi lộ” hoặc trà lá, quà cáp cho đám công an.
Và vì là ghe nhỏ, không có khả năng vượt biên, nên có thể “lang thang” tới các nhánh của sông Sài Gòn mà không bị chú ý hoặc làm khó dễ, miễn là đừng ra tới cửa Cần Giờ. Giả dạng ghe cào, hai ông anh của tôi sẽ đi đi lại lại càng nhiều càng tốt, thứ nhất để quen thuộc đường lối ngõ ngách, thứ hai, để kết thân, tìm hiểu hoạt động của đám công an biên phòng.
* * *
Trong lúc hai ông anh ở dưới ghe thì trên bộ tôi được giao trách nhiệm mua hải bàn, hải đồ, ống nhòm và… học làm hoa tiêu!
Thoạt nghe ông anh cột chèo nói tôi sẽ làm hoa tiêu, tôi hết hồn, hỏi lại:
– Ghe mình không có hoa tiêu sao anh?
– Tôi hỏi chú chứ tiền đầu mà mướn hoa tiêu? Nếu có dư tiền thì tôi lấy để mua cái động cơ mạnh hơn, hoặc mua bến bãi đàng hoàng, hoa tiêu tính sau!
Rồi ông kể cho chúng tôi nghe những chuyến đi có sĩ quan Hải Quân làm hoa tiêu mà vẫn bị lạc, bị mất tích, bị cướp, thậm chí bị chết đói!
Nhưng nói gì thì nói, các chuyến đi bán chính thức trước kia và đi lậu sau này đều cố gắng tìm cho bằng được một cựu sĩ quan Hải Quân hoặc cựu hoa tiêu Hàng Hải dân sự trước năm 1975 để mời làm hoa tiêu.
Nghe kể có những trường hợp vị sĩ quan Hải Quân còn đang ở tù cải tạo đã được người ta bỏ tiền “chạy” để được thả sớm, về làm hoa tiêu ghe vượt biên!
Cũng may mà tôi có được một bạn tù sĩ quan hải quân thân thiết là Phạm Khắc Khiêm, tay trung úy đã cùng tôi làm xà bông bột (và bị thất bại). Ngoài việc mua giúp tôi cái hải bàn M88 cũ của Hải Quân được tân trang, tấm hải đồ biển Đông, cái ống nhòm, hắn còn sốt sắng nhận lời hướng dẫn tôi cách đi biển.
Mặc dù chỉ là một sĩ quan ngành cơ khí chứ không phải ngành chỉ huy, cả binh nghiệp chỉ quanh quẩn ở Hải Quân Công Xưởng (trước kia là hãng Ba Son của Pháp), nhưng khi còn ở trong quân trường, Khiêm cũng được học về hải hành căn bản. Và theo hắn, bằng đó cũng đủ để làm hoa tiêu vượt biên.
Không biết có phải vì tự ái của một sĩ quan cơ khí hay không mà Khiêm cũng nói giống như ông anh cột chèo của tôi:
– Mày phải biết tuy mấy cha sĩ quan ngành chỉ huy học nhiều, biết nhiều về đi biển hơn tụi tao thật, nhưng đó là trên các chiến hạm có đầy đủ dụng cụ hải hành, nào là hải đồ chi tiết, nào la bàn, nào là máy đo độ sâu, dụng cụ trắc giác, còn xuống ghe vượt biên chỉ có mỗi cái hải bàn con con thì mấy chả cũng như tụi tao thôi!
Rồi với những kiến thức căn bản của mình, Khiêm hướng dẫn tôi cách sử dụng hải bàn, cách xem hải đồ, cách đo vận tốc ghe, cách lấy hướng gió, cách tính độ giạt, v.v… Trong đó quan trọng nhất là xem hải đồ và định hướng.
Tấm hải đồ (photocopy) biển Đông Khiêm mua cho tôi khá lớn và rất chi tiết. Đây là hải đồ tổng quát sử dụng cho tàu bè đi từ Ấn-độ dương sang Thái bình dương qua eo biển Mã-lai (Malacca Strait), từ đó theo hướng Bắc đi lên biển Đông (trong hải đồ gọi là South China Sea theo tên gọi Nam Hải của Tàu), qua eo biển Đài Loan (Taiwan Strait) lên Đông Hải (East China Sea), bán đảo Triều Tiên, quần đảo Nhật Bản…
Vì chúng tôi dứt khoát không đi Thái Lan, Mã Lai, cho nên tôi chỉ nhờ Khiêm hướng dẫn đường đi Nam Dương và Singapore (Tân Gia Ba). Trong lúc nghiên cứu vùng biển Nam Dương, chúng tôi khám phá ra một chấm nhỏ li ti giữa đại dương có ghi chữ Laut và chú thích 895 ft.
Theo sự giải thích của Khiêm, có lẽ đây là một hòn đảo nhỏ hoặc một ngọn núi nhô lên trên mặt biển 895 bộ có tên là Laut, nằm trên tuyến hải hành nam – bắc, nên đã được ghi ra trên hải đồ để tàu bè quốc tế xem đó như một điểm chuẩn trong việc xác định vị trí, lộ trình.
Nghe Khiêm giải thích, tôi sực nhớ tới nội dung lá thư của cháu Th, con trai lớn của bà chị vợ, kể về chuyến đi của năm anh em, theo đó sau khi ghe bị chết máy và trôi về hướng nam thì thấy một ngọn núi nhô lên ở cuối chân trời, và qua ngày hôm sau gặp một ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương, được họ kéo vào hòn đảo nhỏ có ngọn núi này. Sau hơn một tuần ở trên đảo, đoàn người cùng với những người tới trước đó được tàu lớn đưa tới đảo Kuku, rồi từ Kuku được đưa tới trại tỵ nạn Galang để chờ đi định cư.
Mặc dù cháu Th không biết tên hòn đảo, Khiêm cũng chắc chắn 100% đó chính là đảo Laut trên tấm hải đồ.
Chúng tôi lấy thước đo khoảng cách Vũng Tàu – Laut, nhân với tỷ lệ hải đồ thì thấy vào khoảng 700 km, tức là chỉ bằng 2/3 khoảng cách Vũng Tàu – Singapore (khoảng 1100 km).
Vị trí đảo Laut trên biển Đông. Trong bản đồ này chỉ là một chấm nhỏ, không có chữ Pulau Laut
Sau này qua tham khảo tài liệu, tôi được biết nếu xuất phát từ Vũng Tàu thì hòn đào nhỏ này là điểm tới gần nhất ở vùng Đông Nam Á cho các ghe vượt biên, tức là còn gần hơn cả Thái Lan và Mã Lai.
Chỉ có điều là đảo Laut nằm chếch về hướng đông (165 độ), nếu đi không đúng hướng có thể bị lạc tới lãnh thổ của Mã Lai trên đảo Borneo cách đó khoảng 500 km, nơi mà dân cư đa số là những bộ lạc bán khai!
Như vậy, vì ngay từ đầu đã quyết định không đi về hướng Thái Lan, Mã Lai để tránh hải tặc, tôi chỉ có hai lựa chọn: sau khi ra hải phận quốc tế, hoặc là lấy hướng 165 độ để đi tới đảo Laut, cái đích gần nhất, hai là lấy hướng 200 độ để đi Singapore, xa hơn 300, 400 km.
Cả tôi lẫn Khiêm đều cho rằng nên ưu tiên chọn đi Laut, và sau đó ông anh cột chèo cũng đồng ý với tôi.
* * *
Sau khi học cách sử dụng hải đồ, tôi nhờ Khiêm chỉ cách định phương hướng.
Lẽ dĩ nhiên, ghe vượt biên nào mà không mang theo hải bàn, nhưng vẫn phải đề phòng trường hợp tệ hại nhất có thể xảy ra: hải bàn bị trục trặc, bị công an chặn xét và tịch thu, bị hải tặc cướp đoạt…, khi ấy chỉ còn cách nhờ trời – trời theo nghĩa đen: mặt trời và sao trời!
Ban ngày nhìn hướng mặt trời thì dễ, còn ban đêm muốn định hướng thì phải nhìn sao, nhưng sao nào đây?
Về mục này thì ông bạn trung úy hải quân cũng không khá gì hơn tôi. Nguyên ngày còn ở trong quân trường Khiêm rất ghét môn này, và cũng vì ngành của hắn là cơ khí, không học cách xem sao cũng chẳng sao, kết quả kiến thức về sao trời của hắn chỉ là một chòm sao duy nhất: Thập tự phương Nam (Southern Cross) mà người Việt, người Tàu gọi là sao Nam Tào.
Ngày ấy chưa có Internet cho nên chúng tôi không có bất cứ nguồn tài liệu nào để tìm hiểu về chòm sao này, chẳng hạn thời điểm xuất hiện, vị trí (thay đổi) vào bốn mùa xuân hạ thu đông…
Lúc này tôi mới chợt nhớ và hối tiếc vì đã không chịu tham dự “lớp thiên văn” ngày còn trong tù cải tạo ở Đồng Ban!
Nguyên vào thời gian ở Đồng Ban, tù cải tạo chúng tôi có khá nhiều thời gian rảnh rỗi, cho nên cùng với các “lớp” dạy đàn hát còn có một lớp Anh ngữ do một vị giáo sư Trường Sinh ngữ Quân đội hướng dẫn, và lớp thiên văn do một chàng trung úy Hải Quân phụ trách.
Dĩ nhiên, với một người có bản tính ham vui như tôi thì hơi đâu mà rèn luyện Anh ngữ cũng như tìm hiểu về sao trời. Nay tiếc thì đã quá muộn!
* * *
Tới giữa tháng 8/1981, ông anh cột chèo đổi ý, quyết định sẽ “đánh” trễ hơn, vào khoảng đầu năm dương lịch (1982), khi mùa bão đã chấm dứt. Ông hy vọng trong thời gian chờ đợi sẽ kiếm thêm được vài người khách để lấy tiền lo bến bãi cho đàng hoàng vì bà chị vợ tôi có hai đứa con còn quá nhỏ, đánh “chui” nếu êm xuôi thì không sao nhưng gặp bất trắc thì khó lòng mà lường được chuyện gì có thể xảy ra.
Như vậy, nếu chuyến vượt biên của người cậu họ (em họ của mẹ tôi) cũng diễn ra vào khoảng đầu năm 1982 theo dự trù, hy vọng cả bốn người trong tiểu gia đình của tôi sẽ vượt biên cùng khoảng thời gian: tôi và thằng con trai đi ghe của ông anh cột chèo, vợ tôi và đứa con gái đi ghe của người cậu họ. Được như thế thì không còn gì bằng, bởi tôi không muốn ra đi trước một chút nào, mặc dù trong đa số trường hợp vượt biên nếu hoàn cảnh không cho phép đi cả nhà, bao giờ người ta cũng dành ưu tiên cho ông chồng.
Trong thời gian chờ đợi, tôi được ông anh cột chèo sai làm “thuyết khách” tới một số gia đình họ hàng bên vợ và người quen đã từng tham gia những chuyến vượt biên hụt trước đây để rủ họ vượt biên với chúng tôi, nhưng khi nghe nói ghe chỉ dài 8 mét (tôi tính cả cái mũi Thái Lan giả) ai cũng từ chối khéo.
* * *
Tới cuối tháng 9/1981, ông anh cột chèo lại cho thằng con trai đạp xe sang Phú Nhuận kiếm vợ chồng tôi. Tới nhà, thấy thái độ và nét mặt của vợ chồng ông có vẻ nghiêm trọng hơn thường lệ, tôi cũng hơi lo, trong lòng tự hỏi không biết có chuyện gì?
Thì ra ông quyết định “đánh” sớm, càng sớm càng tốt, có thể là vào giữa tháng 10. Tôi khá ngạc nhiên vì lúc này đã bước vào mùa bão, nhưng không dám hỏi nguyên nhân.
Sau này tôi mới biết ông anh cột chèo quyết định “đánh” sớm vì ông sợ công an thành Hồ ra tay trước! Bởi vì không hiểu do đâu, trong đám cựu đồng nghiệp ở bệnh viện và người quen biết đã có những lời bàn tán về việc ông đang chuẩn bị vượt biên!
Nhưng riêng với gia đình tôi, việc phải “đánh” sớm lại đem tới một tin vui bất ngờ: bà chị vợ thấy ghe còn trống đã nói chồng cho cả gia đình tôi đi theo; ông đồng ý với điều kiện chúng tôi phải đóng góp ngay hai cây vàng để phụ tiền dầu mỡ, bến bãi, và sau này khi tới nơi phải trả thêm hai cây mà ông còn thiếu nợ người khác.
Dĩ nhiên, chúng tôi đồng ý ngay. Trước khi ra về, bà chị vợ còn cẩn thận căn dặn vợ tôi phải phơi nắng cho da đen đen một chút. Bà nói:
– Da trắng như mày mà đi ra đó (vùng bờ biển) không nói người cũng biết ngay là dân Sài Gòn đi vượt biên!
Sau khi về Hố Nai nhờ mẹ tôi mượn cho hai cây vàng đưa cho bà chị vợ, ba anh em chúng tôi ngồi lại để cùng nhau hoạch định chương trình và phân công tác.
Trước hết là ngày “đánh”, chúng tôi chọn tuần lễ bắt đầu vào ngày 12 tháng 10, cũng là giữa tháng 9 âm lịch, trăng sáng.
Về bến bãi, dầu mỡ, lương thực, tuy không có kế hoạch quy mô nhưng ra vẻ cũng khá an toàn, đầy đủ. Trước đó, qua trung gian Lý, một tay tài công từng quen biết năm đứa con của ông đã đi năm 1979, ông anh cột chèo móc nối được hai cặp vợ chồng trẻ ở giáo xứ Lam Sơn (Bà Rịa) muốn đi vượt biên.
Những người này có nhiệm vụ mua chuộc đám du kích địa phương, tìm nhà chứa khách, khuân vác dầu mỡ, lương thực tới điểm hẹn, rồi tất cả cùng nhau lên ghe.
Sau khi nhờ Đức “cống” mua cho cái giấy phép đi đường của công an Phú Nhuận (không biết thật hay giả?), tôi theo ông anh cột chèo ra Lam Sơn gặp Tiến, một trong hai người chồng trẻ nói trên, hẹn địa điểm để tôi đưa người ra.
Trở lại Sài Gòn, để đề phòng những trở ngại bất ngờ có thể xảy ra trên đường đi, hai ông anh quyết định rời Cầu Kinh vào ngày 13/10, từ sông Sài Gòn lần lượt rẽ trái vào các sông Soài Rạp, Lòng Tàu, Đồng Tranh, rồi rẽ mặt vào sông Thị Vải, sau đó len lỏi vào các con lạch để tới điểm hẹn ở Lam Sơn. Khoảng 11 giờ đêm ông anh cột chèo để ông anh họ ở lại giữ ghe, rồi lội bộ tới nhà chứa khách…
Tôi thì cùng với nhiệm vụ đưa người ra Lam Sơn, sẽ mang theo cái hải bàn cất dấu trong một cái lon sữa Guigoz phía trên đựng muối mè, còn tấm hải đồ thì tôi… học thuộc lòng vùng biển Nam Dương rồi để ở nhà!
Tôi quyết định để tấm hải đồ ở nhà vì nó to bằng nửa cái bàn học, không thể nào cất dấu trong người, mà bỏ trong túi xách nếu bị công an xét là bại lộ ngay (có ít nhất hai trạm công an cố định trên đường đi, chưa kể những trạm “đột xuất” với mục đích “bắt địa” dân buôn lậu).
Nói tới việc học thuộc lòng bản đồ có thể nhiều người cho là khó tin nhưng với tôi là chuyện thật.
Nguyên từ thời trung học, tôi rất mê môn Sử Địa, nhất là Thế giới sử, và trở thành đệ tử ruột của Linh mục Bùi Đức Sinh, một vị Giáo sư Tiến sĩ Sử học nổi tiếng thuộc Dòng Đa-minh.
Một trong những phương pháp cha Sinh chỉ dạy tôi để dễ học thuộc thế giới sử là tự tay vẽ lại các bản đồ (từ trong sách) và ghi chú các địa danh, vẽ càng nhiều lần càng thuộc bài. Kết quả, sau đó chính cha Sinh đã phải ngạc nhiên trước trí nhớ của tôi về môn Thế giới sử!
Gần 20 năm sau, phương pháp này được tôi ứng dụng trong việc vượt biên. Tôi vẽ đi vẽ lại vùng biển Nam Dương với đảo Laut, Singapore, và cả đảo Borneo, bán đảo Mã Lai để đề phòng trường hợp bị trôi giạt tới những vùng này.
Cách riêng, tôi phải nhớ nằm lòng phương hướng từ Vũng Tàu đi tới đảo Laut là 165 độ, tới Singapore (trong trường hợp đổi ý) là 200 độ; còn nếu không tìm thấy đảo Laut, lúc đó sẽ phải lấy hướng bao nhiêu độ để đi Singapore thì không thể tính trước, bởi vì còn tùy thuộc khi ấy chúng tôi đã đi được bao xa…
* * *
Hai chuyến đưa người của tôi ra Lam Sơn không gặp trở ngại nào, cái hải bàn nằm trong lon Guigoz cũng trót lọt. Khi tôi và vợ con tới nhà chứa khách thì đã chiều tối. Có tổng cộng 11 người tại đó, gồm bà chị vợ tôi và năm đứa con, ba người con của ông anh họ, hai người khách duy nhất là hai chị em con của một gia đình quen biết, cộng với bốn người của gia đình tôi là 15.
Sau khi đưa gia đình tôi tới nơi, Tiến, anh chàng lo bãi bến, dặn dò chúng tôi cứ yên tâm chờ rồi bỏ đi lo vận chuyển dầu mỡ ra điểm hẹn.
Nhà chứa khách là một căn nhà tôn vách nằm phía bên mặt con đường Sài Gòn – Vũng Tàu, cách đường lộ hơn 1 km.
Mặc dù cũng là những xứ đạo của người Công giáo di cư, nhưng vùng Lam Sơn, Láng Cát… nhà cửa thưa thớt hơn vùng Hố Nai nhiều, càng đi sâu vào phía trong càng thưa thớt, cuối cùng tới gần bờ sông chỉ còn một vài căn nhà của dân chài địa phương, đa số là người miền Nam, mỗi nhà cách nhau cả mấy trăm mét, rất kín đáo, tiện lợi cho việc chứa khách vượt biên.
Gia đình chứa chúng tôi có lẽ đã quen thuộc với công việc này cho nên không hề tỏ ra tò mò trước những người lạ mặt, mà rút hết vào phía bên trong. Họ chỉ cho chúng tôi lối đi ra cầu tiêu ngoài vườn, và tới giờ cơm tối nấu cho chúng tôi mấy ấm nước sôi để ăn mì gói – những tô mì gói cuối cùng chúng tôi ăn trên mảnh đất Việt Nam.
* * *
Hơn 11 giờ khuya, tức giờ hẹn của ông anh cột chèo, vẫn không thấy Tiến quay trở lại, chúng tôi – những người lớn không ngủ được – bắt đầu bồn chồn lo lắng.
Gần một tiếng đồng hồ sau, Tiến mới trở lại cùng với ông anh cột chèo, thúc giục chúng tôi gom góp hành trang ra đi. Tiến dẫn đầu, mọi người theo sau, ông anh cột chèo cõng đứa con gái nhỏ đi sau cùng.
Con đường càng lúc càng hẹp, cỏ lau mọc hai bên cao quá đầu người, cũng may mà có ánh trăng cho nên dù đường rất khó đi, cũng không có ai bị té lọt xuống ruộng.
Cuối cùng chúng tôi cũng tới được bờ lạch, nơi chiếc ghe đậu gần sát bờ, từng người bước trên tấm ván hẹp để lên ghe. Khi chúng tôi lên thì đã thấy gia đình của hai người lo bãi bến ở sẵn trên đó.
Xong xuôi, tôi thấy Tiến nói nhỏ với ông anh cột chèo của tôi rằng có một cậu bé xin đi theo, và ông miễn cưỡng đồng ý.
Viết là miễn cưỡng bởi ông không muốn kéo dài thời gian ở bãi, lỡ bọn du kích hoặc công an địa phương tới bất tử thì tiêu tùng!
Theo cách gọi vào thời vượt biên, cậu bé này thuộc thành phần “canh me”, tức là vượt biên “chùa”, là những người bằng cách nào đó biết được bến bãi của các chuyến vượt biên, tới rình sẵn, đợi lúc mọi người lên ghe thì trà trộn vào để lên theo. Tuy cũng có những chuyến vượt biên quy mô, có sự kiểm soát khách chặt chẽ cùng với một lực lượng chống canh me, nhưng nói chung phần lớn các ghe bị “canh me” đã phải ép bụng chấp nhận, vì sợ bị bể, vì không muốn rắc rối, nhất là trong trường hợp đám canh me thuộc giới “anh chị”!
Vì thế, thành phần “canh me” nói chung thường bị mọi người nhìn với cặp mắt thiếu thiện cảm.
* * *
Sau khi tất cả mọi người đã lên ghe, tổng cộng 25 nhân mạng, ông anh cột chèo cho nổ máy ghe và rời bờ. Lúc đó đã gần 1 giờ sáng ngày 16/10/1981.
Dưới ánh trăng, chiếc ghe lại từ từ len lỏi theo các con lạch để trở ra sông Thị Vải. Ông anh cột chèo hướng dẫn Lý, tài công chính của ghe, bẻ lái.
Sau này tôi được ông anh họ vợ tiết lộ trên đường tới địa điểm bốc khách, sau khi từ sông Đồng Tranh rẽ vào sông Thị Vải, hai người đã không tìm ra con lạch đi tới Lam Sơn, vì trong đêm, con lạch nào trông cũng giống nhau. Giờ đây đi trở ra, chúng tôi cũng gặp khó khăn tương tự.
Điểm xuất phát: Lam Sơn (mũi tên đỏ)
Còn theo lời Lý và Tiến, vốn là người địa phương khá rành đường đi nước bước, từ Lam Sơn có đường đi thẳng ra vịnh Gành Rái, nhưng ông anh cột chèo có lẽ sợ bị công an biên phòng ở Bến Đá và hải quân (CSVN) ở Cát Lở chặn xét, nên đã quyết định trở ra sông Thị Vải bằng đường cũ.
Ra tới sông Thị Vải, thấy chiếc ghe vẫn chạy rề rề, không nhanh hơn khi chạy trong lạch bao nhiêu, tôi đâm ra nghi ngờ tốc độ tối đa của chiếc ghe trang bị động cơ F10 mà ông anh cột chèo nói là 14, 15 cây số/giờ!
Nguyên từ ngày chiếc ghe được “hạ thủy” ở Bình Qưới cho tới ngày ra đi, tôi không có cơ hội đi theo ghe để thực hành cách đo vận tốc do Khiêm hướng dẫn mà chỉ nói lại cách thức cho ông anh cột chèo. Kết quả ông cho biết tốc độ tối đa là 14, 15 cây số/giờ…
Nhưng tôi chưa kịp hỏi ông anh cột chèo về tốc độ của chiếc ghe thì một “tai họa” đã bất ngờ xảy ra: cái khúc đuôi của ống bô máy ghe trổ ra bên hông bị sút ra và rớt xuống sông mất tiêu!
Như đã viết ở một phần trên, 1/3 diện tích ca-bin được sử dụng để đặt cái động cơ Yanmar F10 và làm nơi chứa dầu, nhớt, dụng cụ linh tinh… Giữa khoang đặt động cơ và khoang cho đàn bà con trẻ có vách ván và một cánh cửa nhỏ nhưng không đủ kín để ngăn khói dầu cặn luồn qua.
Bị ngộp khói, mọi người bò ra khỏi khoang ngồi chen chúc trên sàn ghe, trên mui ca-bin. Bằng mọi giá không thể để công an biên phòng nhìn thấy cảnh này khi trời sáng, ông anh cột chèo nói tài công Lý tấp vào bờ.
Nhưng Lý chưa kịp đổi hướng thì bỗng có ánh đèn pha từ phía trước chiếu vào nghe. Thì ra đây là một chiếc ghe công an đi tuần chạy ngược chiều. Ông anh cột chèo quát mọi người chui vào trong khoang và nói Lý giữ nguyên hướng cũ. Ngồi thu mình trong khoang, qua khung cửa sổ nhỏ, tôi thấy ánh đèn pha càng lúc càng gần, rồi đi ngang qua chiếu thẳng vào ghe, sau đó xa dần, xa dần… Sau này, bà chị vợ của tôi nhất quyết cho rằng chiếc ghe công an đã bị “người khuất mặt” che mắt; hay nói cách khác, chúng tôi thoát nạn nhờ phước đức ông bà!
Đợi cho chiếc ghe công an khuất hẳn, ông anh cột chèo nói Lý tấp vào bờ, tắt máy tìm cách giải quyết cái ống bô. Cũng may trước đây sau khi sửa ghe xong, tôi và ông anh họ vợ đã giữ lại mấy miếng tôn Mỹ dài mấy gang tay để sử dụng làm miếng lót bếp khi cần nấu nướng trên ghe; giờ đây được ông anh cột chèo uốn lại thành cái một cái đuôi bô dã chiến. Kết quả, sau khi nổ máy ghe và chạy thử một khúc dọc bờ sông, mười phần khói thì bảy phần đã được cái đuôi bô tống khứ ra ngoài, chỉ còn lại khoảng một phần ba; tức là vẫn gây khó chịu cho người ngồi trong khoang nhưng không đến nỗi bị ngộp thở.
* * *
Vừa vì trục trặc nói trên, vừa vì ghe chạy chậm cho nên tính từ lúc rời Lam Sơn, phải mất gần bốn tiếng đồng hồ chúng tôi mới ra tới vịnh Gành Rái. Từ đây ra tới cửa Cần Giờ là giang sơn của tài công Lý; chú cho biết ánh đèn điện xa xa phía trước là Mũi Gành Rái.
Theo kinh nghiệm của Lý, ra tới vịnh ghe nhỏ không bao giờ đi khơi khơi giữa vịnh vì đó là hải trình của tàu lớn, nếu gặp mà không kịp tránh có thể bị sóng đánh lật nghe; bờ phía bên mặt, tức Cần Giờ thì chú chưa có dịp đi qua, nhưng nghe nói có nhiều cồn cát ngầm đi ban đêm không thể nhìn thấy, cho nên thuyền bè từ cửa sông Thị Vải chạy ra biển thường theo lộ trình phía bên trái, đi ngang qua đảo Long Sơn rồi mới lấy hướng Núi Lớn đi ra cửa biển.
Khi ghe của chúng tôi tới ven đảo Long Sơn, trời bắt đầu sáng. Theo dự trù trước đây của ông anh cột chèo, giờ này lẽ ra chúng tôi đã tới hải phận quốc tế, nhưng nhìn vào bờ chỉ thấy những con tàu lớn đậu san sát. Chúng tôi có thể thấy cờ Liên Xô trên tàu và đám người đi lại trên boong; thì ra đây là những chiếc tàu của các chuyên gia dầu khí Liên Xô sang Việt Nam khai thác các mỏ dầu ngoài khơi Vũng Tàu.
Cùng với những chiếc tàu treo cờ Liên Xô còn có những tàu nhỏ hơn treo cờ đỏ sao vàng, có thể là tàu của các chuyên viên VN, cũng có thể là của lực lượng an ninh, vì thế tôi nói ông anh cột chèo ra lệnh cho mọi người chui vào khoang hết, trừ ông và tài công, để nếu có bị công an chú ý theo dõi sẽ cho đây là một chiếc ghe đánh cá của dân địa phương.
Khoảng một tiếng đồng hồ sau, khi ghe ra tới Núi Lớn thì mặt trời đã lên khá cao, lác đác phía trước có những chiếc ghe đánh cá lớn nhỏ đang đi về hướng bắc đông bắc, tức là hướng Phước Tỉnh, hoặc xa hơn là Phan Thiết. Tôi lấy hải bàn ra để nhắm hướng ra hải phận quốc tế càng sớm càng tốt. Đây là cái hải bàn kiểu M88 của Hải Quân VNCH ngày trước, tới khi có phong trào vượt biên bán chính và vượt biên lậu đã được đám “Hải Quân Nhân Dân” lấy cắp bán cho đám con buôn chuyên về “hàng vượt biên” – gồm hải bàn, hải đồ, ống nhòm, đạn chiếu sáng (flare), thậm chí cả súng và lựu đạn để đối phó với hải tặc, nếu được yêu cầu cũng có!
Trong số hải bàn M88 được đem bán có những cái đã cũ không còn hoạt động chính xác nay được “tân trang” với một lớp sơn mới; cái mà Khiêm mua cho tôi là hàng tân trang. Trước khi trao cho tôi, Khiêm đã dắt tôi lên sân thượng nhà hắn để thử cho tôi thấy nó hoạt động ngon lành!
Nhưng giờ đây, khi tôi vừa lấy trong bọc ni-lông dưới đáy lon Guigoz muối mè ra thì thấy cái kim nó quay loạn xà ngầu! Tôi thử xoay người về hương bắc, vẫn thế!
Tôi tái mặt, trong bụng chửi thề “Mẹ mày Khiêm, mày gạt tao!”, nhưng ngay sau đó tôi cảm thấy ân hận vì đã nghĩ xấu cho một trong những thằng bạn cải tạo thân nhất của mình, và tin rằng chính Khiêm cũng bị một tay trung gian nào đó xí gạt!
Bình tĩnh lại, tôi hiểu cái kim hải bàn quay loạn xà ngầu là do ảnh hưởng từ trường phát ra từ động cơ của ghe; để kiểm chứng, tôi mang ra tận mũi ghe, tức là vị trí xa động cơ nhất, để thử lại thì thấy cái kim không quay loạn xạ nữa nhưng cũng không chịu đứng yên một chỗ, coi như bất khiển dụng!
May mắn thay, ông anh cột chèo của tôi là người chu đáo và biết lo xa, trước đó đã tìm mua và mang theo trên ghe một cái địa bàn cá nhân, trước năm 1975 thường được gọi là “địa bàn bộ binh” mà các sinh viên sĩ quan trong các quân trường đều đã sử dụng qua khi thực tập di hành đêm.
Và cái “địa bàn bộ binh” chỉ lớn hơn cái mặt đồng hồ đeo tay kiểu thể thao ấy đã trở thành người bạn thân thiết của tôi trong suốt cuộc hành trình.
Địa bàn bộ binh
Nhờ đã nghiên cứu hải đồ cùng với Khiêm từ trước, tôi biết từ Vũng Tàu muốn ra hải phận quốc tế bằng con đường nhanh nhất thì phải lấy hướng đông-đông-nam, tức là khoảng 120 độ.
Vừa giữ hướng cho Lý giữ lái tôi vừa đo vận tốc ghe, kết quả thấy chỉ vào khoảng 10 cây số/giờ, nhưng vì không muốn để mọi người phải thắc mắc, lo âu vô ích, tôi nói là 14, 15 cây số/giờ, giống kết quả ông anh cột chèo đã đo trước đó (sau này tôi cũng không nỡ hỏi ông: ngày ấy ông thực sự đo được 14, 15 cây số/giờ – tức là đo sai – hay chỉ đo được 10 cây số/giờ nhưng tăng lên để thêm “uy tín” cho chiếc ghe 7 mét rưỡi của mình?)
Nhưng chính vì lấy hướng đông-đông-nam mà ghe của chúng tôi lọt vào “mắt xanh” của công an biên phòng. Tôi may mắn kịp thời khám phá sự việc này một cách hết sức tình cờ!
Vĩnh biệt Núi Lớn
Nguyên khi đã xa bờ, trong lòng tôi bỗng dâng lên một nỗi buồn khôn tả, đưa ống nhòm lên quay lại nhìn Núi Lớn một lần cuối, hồi tưởng vào 27 năm trước cũng bỏ quần đảo Cát Bà (trong vịnh Hạ Long) lại sau lưng để di cư vào Nam, thì chợt nhìn thấy ra hai chiếc ghe lớn treo cờ đỏ sao vàng đang từ bờ tiến về hướng chúng tôi. Quan sát kỹ, tôi nhận ra những bóng công an trên ghe, và hình như có một tay đang đưa ống nhòm lên.
Như một phản xạ tự nhiên, tôi ngồi thụp xuống, miệng la lớn:
– Ghe công an rượt, chui vào khoang hết!
Rồi tôi rồi nằm bò ra sàn ghe, gác cái ống nhòm lên thành ghe tiếp tục quan sát, thì thấy khá rõ tay công an đang cầm ống nhòm hướng về phía ghe của chúng tôi. Tôi báo cho ông anh cột chèo biết sự việc, ông nhanh trí nói với Lý:
– Lấy hướng Phan Thiết!
Trong lúc Lý bẻ lái về hướng bắc đông bắc, tôi quay lại phía sau quan sát. Thấy hai chiếc ghe công an càng lúc càng gần, tôi nghĩ thầm trong bụng: với tốc tốc độ này chắc chắn chúng sẽ đuổi kịp trong vòng 15, 20 phút nữa mà thôi. Tôi chuẩn bị sẵn trong đầu những lời khai khi bị bắt và cầu mong vợ con tôi sẽ nhớ để khai ăn khớp, dấu biệt việc tôi là sĩ quan đi tù cải tạo về, và khai địa chỉ ở Hố Nai chứ không khai ở Sài Gòn…
Rồi tôi vừa thầm cầu nguyện vừa nằm trên sàn ghe tiếp tục quan sát qua ống nhòm; một hồi sau tôi thấy hình như hai chiếc ghe công an không rượt theo chúng tôi nữa mà đổi sang hướng đông. Trong lòng vẫn còn nghi hoặc, tôi không vội cho mọi người biết diễn tiến này; chỉ tới khi hai chiếc ghe công an gần khuất bóng cuối chân trời, tôi mới báo tin mừng thoát nạn! Có lẽ sau khi lấy ống nhòm quan sát, thấy ghe của chúng tôi nhỏ xíu và đang lấy hướng bắc đông bắc, cùng hướng với những ghe đánh cá khác, đám công an biên phòng đã kết luận đây chỉ là một ghe đánh cá ven biển.
Hải quân Thiếu tá* Loi Van Huynh được bổ nhiệm làm Sĩ quan huấn luyên Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis (CVN 74), căn cứ Hải quân Newport News, Virginia từ tháng 7 năm 2024. Tháng 8 năm 2022, HQ Đại uý** Loi Van Huynh được Hội đồng thăng cấp Sĩ quan Hải quân chọn dề cử thăng HQ Thiếu tá, và đã được Uỷ ban quân vụ Thượng viện xác nhận bầu chọn ngày 29 tháng 9 năm 2022, tháng 9 năm 2023, ông được chính thức thăng cấp HQ Thiếu tá. Nhiệm kỳ vừa qua, ông là Sĩ quan chuyên viên phân tích nhân lực thuộc Biệt đội Trung tâm phân tích nhân lực Hải quân (NAVMAC) tại Căn cứ Hải quân Norfolk, Virginia từ tháng 2 năm 2022 đến tháng 5 năm 2024.
HQ Thiếu tá Loi Van Huynh đã từng phục vụ các đơn vị Hải quân qua các nhiệm kỳ và thời gian: Từ tháng 10 năm 2019 đến Tháng 2 năm 2022, Sĩ quan Quyền chỉ huy trưởng Trung tâm tuyển mộ nhân tài Hải quân Columbus, Ohio, Biệt đội tuyển mộ Sĩ quan Hải quân Ohio River Valley. Chịu trách nhiệm tuyển mộ Sĩ quan các khu vực Columbus, Dayton và Beckley WV cho ngành Sĩ quan chỉ huy Hải quân. Biệt đội tuyển mộ nhân tài Hải quân Ohio River Valley. Chịu trách nhiệm điều hành 2 văn phòng liên lạc và tuyển mộ gồm 70 Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Thủy thủ và 5 nhân viên dân sự tại Trung tâm tuyển mộ Sĩ quan Hải quân Columbus.
HQ Đại úy** Loi Van Huynh, Sĩ quan tuyển mộ nhập ngũ, giới thiệu và giải đáp cho một học sinh trung học (ảnh của Chief Mass Communication Specialist Brian Dietrick/Release năm 2020).
Từ năm 2018 đến năm 2019, Sĩ quan điều hành chương trình tuyển mộ Sĩ quan Hải quân tại West Palm Beach, Florida, Phòng tuyển mộ Hải quân khu vực Miami. tuyển mộ những nam, nữ tài giỏi và thông minh gia nhập Hải quân, trở thành những Sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ. HQ Đại úy Loi Van Huynh điều hành 25 nhân viên Sĩ quan, Hạ sĩ quan và Thuỷ thủ.
Từ năm 2016 đến năm 2018: Sĩ quan chống khủng bố kiêm Sĩ quan an toàn Tuần dương hạm USS LEYTE GULF (CG-55), khu vực Norfolk, Virginia, giám sát các vấn đề liên quan đến bảo vệ lực lượng và an toàn. huấn luyện đào tạo và trang bị cho hơn 300 thủy thủ các thiết bị và chiến thuật bảo vệ lực lượng mới nhất. Quản lý hơn 15 chương trình an toàn của Hải quân mà không có tai nạn nào liên quan đến an toàn.
Từ năm 2014 đến năm 2016: Sĩ quan cơ khí Khu trục hạm USS MITSCHER (DDG-57), căn cừ Hải quân Norfolk, Virginia, Sĩ quan điều hành 25 Hạ sĩ quan và Thủy thủ chuyên ngành cơ khí kỹ thuật hệ thống tua bin (GSM), điều hành hoạt động và bảo trì 4 máy phát điện General Electric, LM 2500. chịu trách nhiệm vận hành an toàn trên chiến hạm.
Huy hiệu Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis, CVN 74 (ảnh của en.wikipedia.org).
Hải quân Thiếu tá Loi Van Huynh tốt nghiệp các Văn bằng Cử nhân và Cao học tại các trường: Tốt nghiệp Trường Đại học University of Oklahoma – Gallogly College of Engineering – Văn bằng Cử nhân Khoa học Kỹ nghệ Cơ khí năm 2014, Tốt nghiệp trường Đại học Youngstown State University – Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh năm 2021; Tốt nghiệp Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College) – văn bằng Chỉ huy tham mưu năm 2022.
Hải quân Thiếu tá Loi Van Huynh 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến Hạm đội; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan Chiến hạm (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều HQ Thiếu tá gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: *HQ Thiếu tá=Navy Lieutenat Commander; **Ghi theo khi còn mang cấp HQ Đại uý=Navy Lieutenant.
Nguồn: mynavyhr.navy.mil; linkedin.com; bienxua-28 Hải Quân đại úy Hoa Kỳ gốc Việt được đề cử thăng cấp Thiếu tá năm 2022.
Hải Quân Thiếu tá Hugh Tran (ảnh của linkedin.com).
Hải Quân Thiếu tá* Hugh Tran, Sĩ quan ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ hiện đang phục vụ đặc trách Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương từ tháng 5 năm 2024. Ông nguyên là Sĩ quan tác chiến Hạm đội trên mặt biển (SWO) đã từng phục vụ trên Hàng không mẫu hạm và Khu trục hạm Hải quân Hoa Kỳ, Hugh Tran được thăng cấp Thiếu tá vào tháng 4 năm 2024. Ông nguyên là một Hạ sĩ quan Hải quân ngành cơ khí, phục vụ trên Hộ tống hạm USS McClusky (FFG-41) và Ban tuyển mộ nhập ngũ Hải quân.
HQ Thiếu tá Hugh Tran đã từng phục vụ các đơn vị Hải quân qua các nhiệm kỳ và thời gian được ghi nhận : Từ tháng 7 năm 2022 đến tháng 5 năm 2024, Phục vụ trên Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN-71), Căn cứ Hải quân San Diego, California. Sĩ quan Phụ tá chính cho Hạm phó quản lý chương trình bảo trì trên 20 ban ngành và 139 trung tâm làm việc.
HQ Thiếu tá Hugh Tran trên đài chi huy Hàng không mẩu hạm USS Theodore Roosevelt (CVN-71), (ảnh của linkedin.com).
Từ tháng 10 năm 2019 đến tháng 6 năm 2022**, phục vụ tại Học viện Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval Academy), Annapolis, Maryland. Sĩ quan quyền chỉ huy (OIC), Phòng Sẵn sàng trên sông, quản lý việc bảo trì và vận hành Huấn luyện hạm (YP) cho Sinh viên sĩ quan thực tập.
Từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 12 năm 2013**, phục vụ trên Hộ tống hạm USS McClusky (FFG-41), San Diego, California. Hạ sĩ quan cơ khí chỉ huy trong bộ phận máy chánh trên chiến hạm.
Từ tháng 8 năm 2008 đên tháng 8 năm 2011, phục vụ Ban tuyển mộ nhập ngũ Hải quân. Nhân viên tuyển mộ Hải quân tại Trạm Downtown Los Angeles và Trạm Alhambra.
Từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 7 năm 2008, nhập ngũ trở thành Thuỷ thủ căn cứ Hải quân San Diego, California, Nhân viên kỹ thuật viên cơ khí hệ thống tua bin (GSM). Trung sỉ Hải quân, quản lý trung tâm làm việc.
HQ Thiếu tá Hugh Tran tốt nghiệp các văn bằng: Tốt nghiệp Trường Hậu Đại học Hải quân Hoa Kỳ (Naval Postgraduate School) với Văn bằng Cao học quan hệ Quốc tế và nghiên cứu an ninh Quốc gia năm 2024; Tốt nghiệp Trường Đại học hải chiến Hải quân Hoa Kỳ (U.S. Naval War College) với Văn bằng Cao học giáo dục quân sự chuyên nghiệp tổng quát năm 2021; Tốt nghiệp Trường Đại học Nam Đan Mạch (Syddansk Universitet – University of Southern Denmark) với Văn bằng Cao học quản trị kinh doanh và quản lý tổng quát năm 2002; Tốt nghiệp Trường Đại học Nam Đan Mạch (Syddansk Universitet – University of Southern Denmark) với Văn bằng kinh doanh quốc tế năm 1999.
Là Sĩ quan Hải Quân, ngành ngoại giao Hải quân Hoa Kỳ, HQ Thiếu tá Hugh Tran nói được 4 ngôn ngữ: Pháp, Đan Mạch, Việt Nam và Anh ngữ.
Hải quân Thiếu tá Hugh Tran 1 trong 150 HQ Thiếu tá gốc Việt đang phục vụ các ngành trong Quân chủng Hải quân Hoa Kỳ, theo tài liệu từ mynavyhr.navy.mil/References. Một số vị được ghi nhận sau đây: HQ Thiếu tá James Phan, Sĩ quan Truyền tin Hải quân; HQ Thiếu tá Phan Hung Long, Người nhái Lực lượng đặc biệt Hải quân; HQ Thiếu tá Victor H. Nguyen, phi công trực thăng MH-60R “Seahawk”; HQ Thiếu tá Jake Dang, Sĩ quan Hàng không mẫu hạm USS George H.W. Bush (CVN 77); HQ Thiếu tá Andrew Truong, Sĩ quan huấn luyện phi công Phi đoàn VT-6 Shooters; HQ Thiếu tá Terry Tran, Sĩ quan huấn luyện Phi công phi cơ tuần thám P-3C/EP-3E; HQ Thiếu tá Loi Van Huynh, Sĩ quan huấn luyện Hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis (CVN 74); Nữ HQ Thiếu tá Tina Kieu, Sĩ quan chiến tranh mật mã; Nữ HQ Thiếu tá Tiffany Tran, Sĩ tác chiến Hạm đội; Nữ HQ Thiếu tá Carolyn Vu, Sĩ quan Chiến hạm (Surface Warfare Officers); Nữ HQ Thiếu tá Tricia D. Nguyen, Quyền Chỉ huy trưởng Trung tâm truyền tin tác chiến Hải quân Atlantic (NIWC) và còn rất nhiều HQ Thiếu tá gốc Việt chưa tiện cập nhật.
Chú thích: Viết theo tài liệu; *HQ Thiếu tá=Navy Lieutenat Commander; **Không tìm thấy tài liệu ghi nhận chi tiết thời gian từ năm 2013 đến năm 2022, và cũng không ghi nhận được chi tiết HQ Thiếu tá Hugh Tran thụ huấn trường Sĩ quan Hải quân nào, OCS hay USNA? và tên Khu trục hạm ông từng phục vụ?
Có những vị trưởng lão râu tóc bạc phơ, nói rằng, “họ đã nghe, đã thuộc Cô Lái Đò và Biệt Ly của Dzoãn Mẫn từ lúc còn nhỏ”. Và họ không ngần ngại hát ngay vài câu để chứng minh điều đó:
Dừng chèo lại đây cô lái đò ơi
Dừng chèo lại đây giây phút ngừng bơi
Cho tôi sang với bên sông xa vắng
Trời khuya thanh vắng
khách sang mình tôi
Khi bài Cô Lái Đò [cũng có người nhớ là Cô Lái Thuyền Xinh] bắt đầu được phổ biến, ít người biết đó là một sáng tác của Dzoãn Mẫn. Vào thời ấy, hình như vấn đề tác giả chưa được người ta chú ý lắm. Chỉ mãi sau này, qua những bài viết của các nhà nghiên cứu, các tác giả đồng thời với ông, người ta mới biết đó là một sáng tác của ông. Song từ khi Dzoãn Mẫn nổi tiếng như một tác giả lại không thấy ca sĩ nào trình bày hay cho ghi âm lại bài Cô Lái Đò. Hỏi những người hay sưu tầm, lưu giữ băng đĩa nhạc cũ, quả thật không ai có cả.
Các tác giả đồng thời với ông, nay không biết còn lại bao nhiêu người?
Những người nói là mình thuộc nhạc Dzoãn Mẫn từ khi còn nhỏ, sự thực cũng chỉ cùng trang lứa với ông, hoặc chênh lệch 5, 10 tuổi thôi.
Nền tân nhạc của chúng ta còn quá trẻ. Kể cả những người đã chết [hình như] cũng chưa ai tới tuổi bách niên. Nếu chúng ta coi thời kỳ khởi sự của nền tân nhạc Việt Nam là một thời rực rỡ thì Dzoãn Mẫn chính là một trong những người đã đóng góp nhiều công lao nhất. Cũng có thể nói thêm, tất cả các ca khúc của Dzoãn Mẫn còn được lưu truyền cho đến hiện tại, đều đã được ông viết trong thời gian ấy.
Suốt thời kỳ chiến tranh rồi cộng sản sau đó hình như ông không viết được gì cả. Vì, cho đến nay, người ta không thấy một sáng tác nào khác của ông, ngoài những gì ông đã viết ra trước đó. Người ta cũng không biết ông được hưởng những gì, phải chịu đựng những gì, trong trận gió tanh mưa máu diễn
ra trên khắp đất nước và riêng ở miền Bắc suốt hơn một nửa thế kỷ qua.
Ông khó lòng đóng vai một người vô danh, nên chỉ nguyên cái việc tên ông không thấy ai nhắc tới trong những ngày ấy đủ là một chuyện lạ.
Biệt Ly ca khúc được nhiều biết đến nhất của Dzoãn Mẫn, nghe nói, đã được ông viết từ khi còn đang là một học sinh trung học. Mới đầu nó có tên là Huyền Trân và nằm trong vở kịch Huyền Trân Công Chúa. Vở kịch này Dzoãn Mẫn viết để các bạn cùng trường [Bưởi / Chu Văn An] trình diễn trong một đêm văn nghệ cuối năm của học sinh / sinh viên tại Nhà Hát Lớn Thành Phố [Hà Nội]. Có thể coi Biệt Ly là ca khúc tiêu biểu của tân nhạc
Việt Nam trước chiến tranh. Lãng mạn, ngọt ngào, nửa tưởng tượng, nửa thực. Người ta nói đến tình bằng thứ ngôn ngữ tựa những mảnh của một tấm gương tuy đã dập vỡ nhưng vẫn long lanh hạnh phúc.
Biệt ly nhớ nhung từ đây
Chiếc lá rơi theo heo may
Người về có hay
Biệt ly sóng trên dòng sông
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Và mây trôi nước trôi
Ngày tháng trôi cùng lướt trôi
Mấy phút bên nhau rồi thôi
Đến khi bóng em mờ khuất
Người về u buồn khắp trời
Người ra đi với ngàn nhớ mong
Trong thơ và nhạc của chúng ta những ngày xa ấy, có hai tiếng còi tàu đã để lại dư vang trong lòng rất nhiều người. Tiếng còi tầu hỏa [xe lửa] trong thơ Tế Hanh:
Lâu lâu còi rúc nghe rền rĩ
Lòng của người đi réo kẻ về
Và tiếng còi tàu thủy trong nhạc Dzoãn Mẫn:
Ôi còi tàu như xé đôi lòng
Đó là tiếng còi của những chuyến tàu Nam [Hà Nội – Nam Định]. Những người sống ở hai bên ven sông Hồng, gần bến Phà Đen, chắc không ai quên được tiếng còi này. Nhất là những buổi chiều mùa đông, đất trời u ám, cái tiếng “ù ù” trầm nặng, ngắn ngủi của còi tàu, chỉ nghe thôi đủ não lòng đừng nói đến phải làm chia ly trong cảnh ấy.
Một điều cũng nên nói thêm ở đây là, không chỉ riêng nhạc Dzoãn Mẩn, mà là tình trạng chung của sinh hoạt âm nhạc Việt Nam hiện nay là, nếu người ta có trong tay ba đĩa nhạc, thu thanh cùng một bài hát, người ta sẽ không biết bài nào đúng với bản chính nghĩa là đúng với bản do nhạc sĩ sáng tác. Vì, mỗi người hát một khác. Có những cái sai người ta có thể biết được, đoán ra được. Nhưng cũng có những cái sai chỉ mình tác giả biết.
Thí dụ bài Đêm Đông của Nguyễn Văn Thương, câu:
Ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng
Có người hát là “ôm sầu nghiêng bóng”, “ôm sầu soi bóng”?
Bài Biệt Ly của Dzoãn Mẫn:
“Biệt ly ‘sóng’ trên dòng sông hay ‘sống’ trên dòng sông”?
“Dáng em sáng trong hồn tôi” hay “sống trong hồn tôi”?
Nếu lại có thêm một bản thứ ba có một hai chữ khác nữa thì người ta không còn biết đâu là sự thật, câu nào đúng, câu nào sai, trừ tác giả! Nhạc Dzoãn Mẫn vào cái thời xa xôi ấy đã được coi là có nhiều cái mới, từ giai điệu, nhịp điệu đến ca từ. Một Buổi Chiều Mơ có đủ cái chững chạc của một bản
boston ngoài hát có thể dùng để khiêu vũ.
Đàn du dương quá ru hồn quá
Đàn vang reo khắp thinh không xa
Đàn bay theo gió theo rừng lá
Trời chiều màu ngà
Đàn yêu đương quá êm đềm quá
Đàn đang lan thánh thót trong sương sa
Đàn như ganh với muôn lời lá
Và với ngàn lời hoa
Chiều nay ánh trăng lên
Lầu hoa thắm êm đềm
Nhưng đâu bóng trên gác cao
Nàng còn đứng đâu
Lòng tôi càng đớn đau
Nhịp điệu rộn rã [slow fox] Dzoãn Mẫn dùng để viết Hương Cố Nhân khi ấy còn hoàn toàn mới đối nhạc Việt Nam. Dzoãn Mẫn viết không nhiều.
Những bài phổ biến nhất của ông gồm có:
Cô Lái Đò
Biệt Ly
Gió Xa Khơi
Hương Cố Nhân
Một Buổi Chiều Mơ
Nhắn Người Chiến Sĩ
Mỗi ca khúc của Dzoãn Mẫn là một cõi tình thu nhỏ. Lời ca của ông là những “câu ân ái, thốt ra từ những cái miệng ái ân” như cách nói của Nguyễn Bính [?]. Trừ bản Biệt Ly có vẻ não nùng, tất cả các ca khúc khác
của Dzoãn Mẫn, cái đẹp, chất thơ mộng nhiều hơn cái buồn, nên tự nó làm nên cái vui, cho dù ông có nói tới một cuộc chia cách nào khác.
Sau đây là nguyên văn bài Hương Cố Nhân của Dzoãn Mẫn:
Dzoãn Cảnh chỉ có một bài hát duy nhất được phổ biến, đó là bài Dứt Đường Tơ. Ấn bản đầu tiên của bài hát này có ký tên một đồng tác giả: Văn Thủy. Nhưng người ta không biết đó có phải là Văn Thủy tác giả “Vườn Thu” chăng? Bởi vì khi ấy, hình như đã thành một thông lệ, một bài
hát được in ra, ở bìa sau, người ta thường liệt kê các tác phẩm của cùng tác giả, đôi khi có thêm một bức chân dung tác giả. Ấn bản “Dứt Đường Tơ” không có bảng liệt kê, cũng không có hình ai cả. Còn “Vườn Thu” tuy được phổ biến rộng rãi trên các làn sóng điện, nhưng hình như lại chưa bao giờ được in ra. Vì chẳng nghe ai nói đã nhìn thấy ấn bản bài hát này. Và từ đó
đến nay người ta không được biết gì thêm về Văn Thủy cũng như Dzoãn Cảnh. Nhưng vào cuối thập niên 40 đầu thập niên 50 “Dứt Đường Tơ” được hát rất nhiều. Nhất là ở Hà Nội. Ngọc Bảo, Quách Đàm, Minh Đỗ, Tâm Vấn, Thanh Hằng, Thanh Hiếu … gần như tất cả các ca sĩ danh tiếng ở Hà Nội bấy giờ đều ít nhất đã có một lần hát Dứt Đường Tơ trên đài phát thanh hay tại một sân khấu nào đó. Đó cũng là thời gian đất nước đang chìm ngập trong chiến tranh.
Ranh giới giữa hai phe Quốc/Cộng đã rõ ràng. Nhưng trên thực tế chỉ một số ít người ý thức được thế nào là hiểm họa cộng sản, coi việc chống cộng là chuyện sinh tử, phần lớn dân chúng theo phe này phe kia do tình cờ nhiều hơn lựa chọn. Họ ở đâu thì thuộc về phe đó và trở thành địch đối với phe kia. Và đấy có thể là nguyên do của những tang tóc, chia ly, đau khổ.
Không biết rõ mình là ai, phải làm gì, chiến tranh đối với người ta chỉ còn một ý nghĩa duy nhất: tai họa. Nó cũng giải thích vì sao người ta luôn cảm nhận một nỗi u ám bao trùm lên nhạc của chúng ta, kéo dài cho mãi tới sau này.
Dứt Đường Tơ có thể coi là điển hình cho cái thời buồn bã đó. Bài hát được hát nhiều như thế, nhưng cứ thử nghe lại mà xem, chúng ta thực sự không hiểu rõ tác giả định nói gì, cảnh và tình đều mơ mơ hồ hồ, chỉ có một điều người ta cảm nhận được, đó là đằng sau mỗi ca từ, mỗi âm điệu hình như
đều lẩn khuất một lời cầu nguyện.
Dứt Đường Tơ
Khói mây chiều buồn vương theo gió
Sáo êm ru hiu hắt lời thơ
Lòng lắng trôi theo nguồn say mơ
Khúc mơ hồ vương vương lưu luyến
Mơ đến ngày đầy ánh huy hoàng
Lòng ơi dứt đi đường tơ
Tóc tang còn âm u trong gió
Thiết tha chi những nỗi hoài mong
Đàn lẻ cung thôi đừng buông tơ
Đắm hương tình khi đang giông tố
Non nước đang tràn máu anh hùng
Đừng mơ ái ân đàn ơi
Rung chi tơ lòng
Đầy vơi cung oán mơ mòng
Buồn nghe tiếng gió vấn vương
qua cành lá
Duyên tơ lỡ làng
Sầu vương theo khúc bẽ bàng
Đìu hiu lướt êm trên hàng tơ liễu xanh
Suối u huyền trầm lan trong gió
Quyến trăng thanh lấp lánh vàng tơ
Hờn chiến chinh vang lừng không gian
Nhớ chăng lòng quê hương nguy biến
Mau đứng lên chào đón thanh bình
Lòng ơi dứt đi đường tơ
Cho mãi về sau này, trong âm nhạc của chúng ta chỉ có một người ký tên Văn Thủy, vậy có thể tin được rằng, ông cũng là đồng tác giả của ca khúc “Dứt Đường Tơ”. Nhưng “Vườn Thu” của Văn Thủy, so với “Dứt Đường
Tơ”, tuy cũng vẫn nằm trong một dòng nhạc thường được gọi chung là lãng mạn tiền chiến, nhưng đẹp và chặt chẽ hơn nhiều, về cả ba phương diện bố cục, giai điệu và ca từ. Nhạc sĩ của chúng ta hầu như ai cũng viết về mùa thu.
Mùa thu quyến rũ anh rồi [Đoàn Chuẩn/Từ Linh]
Ta yêu thu, yêu mùa thu [Văn Cao]
Chiều thu đứng ngắm xa núi sông mơ màng
Chiều tha hương lòng nghệ sĩ bẽ bàng [Ng. V. Khánh]
Vườn Thu
Chiều lâm ly lắng trôi
Theo lá vàng tách rơi
Đông đến tứ bề
Khắp vườn hoang vắng
Khi gió thu sang
Vườn thu không bóng chim
Bao dáng buồn lắng im
Hơi gió lùa tới
Cánh hoa tơi bời
Lướt theo chiều gió
Cánh hoa theo chiều gió
Hồn hoa tìm bướm mơ
Chết khi mùa đông đến
Bướm hoa nặng tình duyên
Thu xưa xa xăm ngoài chân mây
Thu nay bơ vơ thuyền trôi đây [Đặng Thế Phong]
Không thể nào trích dẫn hết được. Một điều đáng ghi nhớ nữa là tất cả nhạc thu của chúng ta, rõ hơn những bản thu ca của chúng ta, đều là những bài
hát hay. Có phải vì mùa thu chăng? Vườn Thu của Văn Thủy vừa là một bản nhạc vừa là một bài thơ thu, nếu tách riêng phần lời ca. Để nói về cảnh thu tàn, thơ của chúng ta cũng không có hình ảnh nào vừa cụ thể, vừa thơ mộng hơn câu của Văn Thủy: “Xác hoa trên mình bướm”.
Sau khi cộng sản chiếm miền Nam, bố tôi xin nghỉ việc tại Ty Công Chánh Biên Hòa, không phải vì ông sợ quá khứ “thư ký hội đồng xã” (ở Trảng Bàng, Tây Ninh) bị phanh phui mà chỉ vì bực mình, chán ngán trước sự lộng hành của mấy tay nằm vùng và đám 30 tháng Tư đa số thất học và ngu xuẩn.
Ít lâu sau, bố tôi và các em tôi theo chân người dân trong giáo xứ vào “đồng ruộng”.
“Đồng ruộng” nói tới ở đây là một phần của vùng đất trũng nằm ở phía tay trái quốc lộ 1, hướng Sài Gòn đi ra miền Trung, mà mấy chục năm về trước, Phủ Tổng ủy Di cư của chính phủ Ngộ Đình Diệm đã dự trù biến thành một vùng nông nghiệp trù phú của tỉnh Biên Hòa.
Xin có đôi dòng về vùng Hố Nai. Về mặt địa lý, Hố Nai là vùng đất nằm dọc hai bên quốc lộ 1, khởi đầu từ cây số 6 – tính từ trung tâm thành phố Biên Hòa – tới cây số 18, tức là từ Suối Máu (trại tù Suối Máu tôi đã ở) tới Suối Đỉa (nay thuộc huyện Trảng Bom).
Địa danh “Hố Nai” từ đâu mà có, không một ai được biết. Giả thuyết duy nhất được một số người nhắc tới cũng không mang nhiều sức thuyết phục:
Xưa kia tại vùng đất ngày nay thuộc tỉnh Biên Hòa có nhiều nai nên được gọi là “Đồng Nai” (?). Tại khu vực rừng thưa dọc theo quốc lộ 1, các thợ săn thường đào những cái hố sâu để nai lọt xuống không leo lên được, vì vậy mà vùng này được gọi là “Hố Nai” (?).
Còn theo sách vở và những người dân địa phương thuộc thế hệ trước, xưa kia vùng rừng thưa hoang vắng này được dân Biên Hòa gọi là rừng Phước Cang, từ cây số 6 có rừng cao su của một chủ đất người Việt dài khoảng một cây số (tới cuối thập niên 1960 vẫn còn nhưng không khai thác). Đi thêm vài cây số nữa (nay là Hố Nai 2) là thung lũng Đồng Lách nằm sâu phía bên trái, từ thượng lưu sông Đồng Nai trải dài tới hồ Trị An.
Sau cuộc di cư năm 1954 của một triệu người miền bắc vào nam, chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã đưa đồng bào Công giáo di cư tới khai hoang các vùng đất như Rạch Dừa (Vũng Tàu), Phú Thọ (Sài Gòn), Xóm Mới (Gò Vấp), Cái Sắn (Rạch Giá), Hố Nai (Biên Hòa), Túc Trưng, Gia Kiệm (Định Quán), Phương Lâm, Bảo Lộc…
Riêng tại vùng Hố Nai, từ Suối Máu tới Suối Đỉa, đất dọc quốc lộ được chia đều cho các Giáo phận miền bắc di cư, theo thứ tự Hải Phòng, Hà Nội, Thái Bình, Thanh Hóa, Bùi Chu, và sau cùng là Bắc Ninh.
Hố Nai là một vùng rừng thưa, tuy có mấy con suối nhưng đất đai đa phần khô cằn sỏi đá, lúc bấy giờ còn đầy thú rừng, cho nên chỉ có khúc giữa (Kẻ Sặt, Thái Bình, Ngọc Đồng…) phát triển nhờ buôn bán, sản xuất hàng thủ công nghệ và khai thác gỗ. Rừng Hố Nai có nhiều gỗ quý như cẩm lai, gõ…, còn những cây bằng lăng thì tới thập niên 1960, tôi về chơi thấy hầu hết vẫn còn nguyên.
Còn ở khúc cuối (Thanh Hóa, Bùi Chu, Bắc Ninh) đa số dân chúng chỉ biết sống nhờ nghề làm củi (vào rừng cưa củi), làm than, chăn nuôi, canh tác hoa màu ở những vùng đất ven suối.
Nhà thờ giáo xứ Bùi Chu, khánh thành năm 1967, lấy theo mẫu Nhà thờ Đức Bà ở Anjou, Montréal,
Canada; rất tiếc, sau năm 1975 đã bị phá bỏ để thay bằng một ngôi thánh đường “hiện đại” hơn
Nhưng, như đã viết ở trên, khi đưa dân di cư tới vùng Hố Nai, kế hoạch ban đầu của Thủ tướng (sau trở thành Tổng thống) Ngô Đình Diệm là biến thung lũng Đồng Lách thành một vùng nông nghiệp trù phú. Một con đường đất lớn đủ cho xe chạy hai chiều được đắp từ quốc lộ 1, khoảng giữa giáo xứ Thanh Hóa và giáo xứ Bùi Chu, đi vào đồng ruộng.
Lúc ban đầu, chính phủ đã dựng nhà cửa, đưa một vị linh mục tới trông nom cả phần hồn lẫn phần xác cho giáo dân tới khai hoang lập ấp, nhưng chỉ 2, 3 năm sau đã phải lần lượt bỏ đi!
Nguyên nhân: du kích Việt Cộng từ mật khu (thuộc chiến khu D) tiếp giáp với Đồng Lách kéo về quấy phá. Đám du kích ở đây bắt đầu hoạt động rất sớm, ngay từ những năm 1957, 1958 chứ không cần đợi khi Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) được thành lập vào cuối năm 1960.
Chỉ còn lại một số dân Hố Nai vẫn tiếp tục vào đồng ruộng trồng lúa nhưng sáng đi chiều về chứ không dám ngủ đêm trong đó. Tuy nhiên sau khi xảy ra cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm của đám tướng lãnh vào cuối năm 1963, các ấp chiến lược bị phá bỏ thì hầu như không còn người dân Hố Nai nào dám vào đồng ruộng nữa, bởi khu vực này đã hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Việt Cộng, từng xảy ra những cuộc giao tranh với quân đội quốc gia.
Sau 30/4/1975, trước viễn ảnh đói khổ dưới chế độ mới, nhiều người dân Hố Nai và cả từ những nơi khác đã trở lại đồng ruộng để khai thác vùng đất bị bỏ hoang từ nhiều năm qua. Bố tôi vốn yếu đuối, từ ngày di cư vào nam không quen chân lấm tay bùn, lại vào sau người ta cho nên chỉ còn những khu đất tương đối cao, nửa ruộng nửa rẫy. Cuối cùng chỉ khai thác được hơn một héc-ta để trồng lúa, nhưng thu hoạch cũng chẳng bỏ công.
Trước tình cảnh này, ba người bác, tức hai bà chị và một ông anh của bố tôi, đề nghị gia đình tôi xuống Cái Sắn để làm ruộng của các bác chia cho.
Gia đình các bác ở Kênh 5, một trong những “kênh” (kinh) trù phú nhất của vùng Cái Sắn. Tuy nhiên việc về Cái Sắn đã bị mẹ tôi phản đối vì, như đã viết trong kỳ trước, sau khi trường học của giáo xứ Tân Thành bị cộng sản tịch thu, mẹ tôi đã “chiếm” trường của giáo xứ Bùi Chu làm nhà dưỡng lão cho người già đơn chiếc, đặt tên là Nhà Tình Thương, bà cụ mà bỏ đi chắc chắn sẽ bị chính quyền địa phương tịch thu!
Cuối cùng, gia đình tôi chia đôi, bố tôi và hai trong số các con trai về Cái Sắn, mẹ tôi ở lại Hố Nai với bốn người con còn lại.
* * *
Năm 1981, khi tôi ra tù và từ Sài Gòn về Hố Nai thì người em trai kế tôi đã có vợ con và ra riêng, người em trai giữa được cho đi tu làm linh mục thì đã bị tử nạn vì đạn nổ vào năm 1977 (thời gian tôi đang bị cải tạo ở Phước Long), nên người em trai út được mẹ tôi “dâng cho Chúa” để thế chỗ, ở nhà chỉ còn mẹ tôi và cô em gái độc nhất.
Ấp Bùi Chu – cũng là giáo xứ Bùi Chu, tuy ở gần cuối vùng Hố Nai nhưng có lẽ vì đông dân nhất nên được chính phủ ưu ái xây cho một trường tiểu học khang trang nhất vùng, mái tôn tường gạch tô quét vôi màu vàng, thềm xi-măng sạnh sẽ cao ráo; trong số giáo viên có những thầy cô về từ Sài Gòn.
Đó là trường tiểu học công lập Minh Đức, nơi tôi học một nửa năm lớp Ba, năm lớp Nhì và mấy tháng lớp Nhất (Grade 6 ngày nay) trước khi lên Sài Gòn ở với bà ngoại vào năm 1958. Đây là lớp Nhất đầu tiên của trường với các học sinh cùng lứa tuổi, khác với những niên khóa trước có cả học sinh đã sắp tới tuổi đi lính hoặc… lấy chồng!
Trường tiểu học công lập Minh Đức, sau hơn 60 năm trông vẫn như xưa
Vì thế, lớp Nhất của tôi được xem là những “tinh hoa” đầu tiên của trường; trong đám nam sinh sau này một tay làm luật sư, mấy tay đại úy, trung úy Hải Quân, Không Quân, Thủy Quân Lục Chiến…
Nhưng khi tôi trở lại chốn xưa vào năm 1981 thì không gặp lại một ai; tay trung úy TQLC – bạn thân nhất của tôi – và tay trung úy pilot trực thăng đã đền nợ nước trước 1975, tay đại úy Hải Quân thì đi tù chưa về, còn lại thì tất cả đã hoặc đang tìm đường vượt biên, trong đó tay luật sư nghe nói đã mất tích trên biển Đông!
Ngoài đám bạn học chung lớp Nhất năm xưa, tôi cũng quen biết một số bạn khác, trước kia không có “nợ máu với nhân dân” cho nên giờ này được thoải mái dưới chế độ mới, có người còn xung phong giữ chức vụ này chức vụ nọ cho nên tôi không qua lại với bất cứ người nào.
Vì thế, mặc dù thửa lúa của nhà tôi trong đồng ruộng chẳng hứa hẹn gì nhiều, tôi cũng thường vào chăm sóc – thực chất là để giải khuây, có khi đi với mẹ tôi, có khi đi một mình…
Tôi thường ngồi dưới gốc cây thả hồn theo mây trời để tạm quên đi thực tại không lối thoát của mình. Cũng có lúc tôi mơ mộng viển vông một toán “lính quốc gia” xuất hiện đưa tôi vào chiến khu.
Viết là “viển vông” vì cả vùng Hố Nai đều biết các toán “lính quốc gia”, tức các cựu quân nhân QLVNCH không chịu buông súng đầu hàng, sau ngày 30/4/1975 rút vào rừng tiếp tục chiến đấu, sau mấy năm đã bị quân cộng sản đánh dẹp, lớp hy sinh, lớp bị bắt, còn lại thì băng qua chiến khu C tìm đường sang Căm-bốt, hoặc tự động tan hàng…
Nhưng mẹ tôi thì thực tế; bà cụ nhận định một sĩ quan đi tù cải tạo về như tôi, không có “thân nhân cách mạng”, không có vốn liếng, cơ sở làm ăn để móc nối, đút lót cho đám cán bộ địa phương thì không có đất sống. Vì thế, phải lo cho tôi đi vượt biên.
* * *
Quả thật tôi không có đất sống, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng!
Khoảng hai tuần sau khi về Bùi Chu, hôm đó tôi đang ở trong đồng ruộng thì một tay cán bộ tìm gặp mẹ tôi hỏi về tình trạng cư trú của tôi. Sau khi mẹ tôi cho biết tôi về đây sống luôn, hắn nói hắn có trách nhiệm quản lý các sĩ quan của chế độ cũ đi học tập về mà Giấy Ra Trại ghi địa chỉ là ấp Bùi Chu, tôi không thuộc thành phần này thì phải lên Ủy ban Nhân dân xã Hố Nai xin phép cư trú.
Thế nhưng tới khi tôi lên UBND xã làm đơn xin phép về sống ở Bùi Chu thì bị một tay cán bộ gốc Nam Kỳ lớn tiếng “lên lớp”:
– Anh là sĩ quan ngụy chưa được phục hồi quyền công dân, không phải muốn sống ở đâu thì sống. Giấy Ra Trại ghi địa chỉ của anh ở TP.HCM, muốn về sống ở Hố Nai thì phải có giấy giới thiệu của TP.HCM người ta mới cứu xét cho anh chớ!
Có nghĩa là tôi phải trở lại Sài Gòn làm đơn xin về Hố Nai. Dĩ nhiên tôi không dại dột tới mức đó, tôi phải bám lấy Sài Gòn, ít nhất cũng tới hết kỳ hạn 6 tháng ghi trong Giấy Ra Trại rồi tính sau.
Thế rồi tôi nghĩ ra một cái “mánh”, mặc dù không hy vọng lắm nhưng cứ thử, biết đâu!
Một tuần sau, tôi trở lại UBND xã Hố Nai với cái đơn cũ và bộ mặt đưa đám, phịa với tay cán bộ “khó khăn, trở ngại” của tôi như sau: khi tôi về Sài Gon, tới UBND quận Phú Nhuận làm đơn xin phép về Hố Nai cư trú, nơi đây cũng không chấp thuận vì họ nói không có gì bảo đảm sau khi rời Sài Gòn tôi sẽ về Hố Nai, mà biết đâu sẽ đi một nơi khác, với ý đồ nào đó. Vì thế, họ nói tôi phải trở lại UBND xã Hố Nai với cái đơn cũ, xin nơi đây phê cho mấy chữ “phải có giấy giới thiệu của TP.HCM” thì UBND quận Phú Nhuận mới có “cơ sở” để cứu xét!
Không ngờ tay cán bộ gốc Nam Kỳ ở xã Hố Nai tin ngay, phê vào đơn và ký tên, đóng mộc!
Tôi chỉ có thể giải thích có lẽ tay cán bộ này xuất thân du kích thất học nay được ngồi bàn giấy nên rất hãnh diện với việc được ký tên đóng mộc!
Từ đó, tờ đơn xin về Hố Nai cư trú có lời phê, con dấu của “cách mạng”, tuy chưa được chấp thuận, kèm theo cái Giấy Ra Trại, đã trở thành một cái “bùa” cho tôi mỗi khi đi đường bị xét hỏi, và hợp thức hóa tình trạng đi đi về về Sài Gòn – Hố Nai của tôi. Khi gặp phải một tay công an… chậm hiểu, tôi giải thích đại khái: tôi phải về Hố Nai làm ruộng cho kịp vụ mùa và đã trình báo UBND xã Hố Nai, khi nào hết kỳ hạn 6 tháng cư trú ở Sài Gòn, UBND quận Phú Nhuận sẽ ký giấy cho tôi về Hố Nai!
Ngoài ra, với tờ đơn dở dang này, tôi còn thuyết phục được tay công an ở Phường 13 cho tôi trình diện hai tuần một lần thay vì mỗi tuần như trước kia.
* * *
Tới đây viết về chuyện vượt biên.
Thực ra từ sau ngày chiến dịch di tản Frequent Wind Operation của Hoa Kỳ kết thúc, Lực lượng Đặc nhiệm 76 (Task Force 76) của họ rời biển Đông khoảng giữa tháng 5/1975, cho tới đầu năm 1978 đã có những người trốn khỏi miền Nam VN bằng tàu thuyền, nhưng con số ấy không nhiều, không gây tiếng vang quốc tế. Phải đợi tới giữa năm 1978, khi bắt đầu có những chuyến ra đi “chính thức” và “bán chính thức” của người Việt gốc Hoa, phong trào vượt biên mới nở rộ, phần lớn là những chuyến đi bất hợp pháp của người Việt.
Trước khi kể về những chuyến đi bất hợp pháp (trong đó có chuyến của tôi) cũng xin có đôi dòng về việc ra đi “chính thức” và “bán chính thức” của người Việt gốc Hoa.
Tại sao người Việt gốc Hoa phải ra đi? Muốn có câu trả lời phải trở lại thời gian miền Nam mới giành được độc lập từ tay người Pháp (1955), khi hầu như toàn bộ nền kinh tế của VNCH đều nằm trong tay Hoa kiều ở Chợ Lớn, khu vực được ghi nhận là “phố Tàu” (Chinatown) lớn nhất trên thế giới nếu tính theo diện tích.
* * *
Nguyên vào thời Pháp thuộc, được sự đỡ đầu của người Pháp, người Hoa đã mặc tình thao túng nền kinh tế của miền nam VN. Đây là một sự hợp tác đôi bên cùng có lợi: lợi của người Hoa là tiền bạc, lợi của người Pháp là mượn bàn tay của Hoa kiều để khống chế người bản xứ.
Giữa thế kỷ 19, vùng Chợ Lớn được chính quyền thuộc địa công nhận là một thành phố riêng biệt: Ville de Cholon (City of Cholon), có chính quyền và hệ thống hành chánh riêng.
Hơn một thế kỷ sau, năm 1951, sau khi chính thể Quốc Gia Việt Nam được thành lập vào năm 1948, do cựu hoàng Bảo Đại làm quốc trưởng, lấy Sài Gòn làm thủ đô, thì Chợ Lớn mới được sát nhập, gọi là Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn; để rồi tới năm 1956, khi nền Đệ nhất Cộng hòa được thành lập, tên gọi chỉ còn bốn chữ Đô thành Sài Gòn.
Cùng năm, trước sự độc quyền kinh tế, thao túng thị trường của Hoa kiều Chợ Lớn, Thủ tướng Ngô Đình Diệm đã ban hành Dụ số 52 ngày 29/8/1956 và Dụ số 53 ngày 6/9/1956.
Dụ số 52 quy định Hoa kiều sinh sống tại miền Nam VN phải mang quốc tịch Việt Nam. Khi có quốc tịch, họ mới được tự do giao dịch, đi lại và buôn bán. Khi lấy quốc tịch, người Hoa phải Việt hóa tên họ như Trịnh, Quách, Mạch, Lâm, Giang, Diệp, Lưu, Vương, Hà, Hứa, Mã, Lý, Trần, Trương, v.v… Tên hiệu các cơ sở thương mại, văn hóa phải viết bằng Việt ngữ.
Dụ số 53 thì cấm người ngoại quốc (đại đa số là Hoa kiều) không được hành 11 nghề:
– buôn bán thịt cá
– buôn bán chạp phô
– buôn bán than củi
– buôn bán xăng dầu
– buôn bán đồ cũ (lạc-xoong)
– buôn bán vải vóc (lượng dưới 10.000 mét)
– buôn bán sắt vụn
– buôn bán thóc gạo
– chuyển vận hàng hóa và hành khách
– xay lúa
– môi giới ăn huê hồng.
Kết quả tới năm 1961, theo báo cáo của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng Hòa, trong hơn 1 triệu người Hoa sống ở miền Nam chỉ còn chừng 2.000 người là không chịu đổi quốc tịch, phần lớn là những người đã quá già. (1)
Tuy nhiên, vì sự phản đối – công khai cũng như ngấm ngầm – cùng với các thủ đoạn đối phó của người Hoa, sự tiếp tay của người Pháp, cộng thêm áp lực quốc tế (Tân-gia-ba, Đài Loan), các chính sách của Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ đạt hiệu quả phần nào. Trong suốt hơn 15 năm tiếp theo đó, các khu buôn bán và sinh sống của người Hoa ở Chợ Lớn vẫn chẳng khác nào một vùng tự trị ngay trên đất nước Việt Nam. Nhất là sau cuộc đảo chính năm 1963, người Việt gốc Hoa đã góp phần không nhỏ vào các tệ nạn tham nhũng, hối lộ, trốn thuế, trốn quân dịch, gây xáo trộn xã hội, bất ổn chính trị tại miền Nam VN.
Chưa hết, trước việc Hoa kiều phải lấy quốc tịch VN, Việt Cộng, dưới danh nghĩa MTDTGPMN, đã chiêu dụ họ bằng cách gửi thư khẳng định một mai khi “cách mạng thành công”, toàn thể người Việt gốc Hoa sẽ được tự do trả quốc tịch VN để trở lại với tư cách Hoa kiều như trước kia.
[Vì thế trước đây đã có những nguồn tin (mà tôi không thể phối kiểm) nói rằng trong cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân 1968, nhiều người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn đã tiếp tay với Việt Cộng trong việc đưa người và vũ khí vào thành phố, thậm chí chứa chấp bọn chúng]
Thế nhưng sau khi “cách mạng thành công” vào tháng 4 năm 1975, MTDTGPMN bị quăng vào “thùng rác lịch sử” thì nhà cầm quyền CSVN cũng lơ luôn việc cho người Việt gốc Hoa từ bỏ quốc tịch Việt Nam, bởi vì:
– Sau khi CSVN chiếm miền Nam, quan hệ giữa đại bá quyền phương Bắc và tiểu bá quyền phương Nam ngày càng xấu đi, nếu cho người Việt gốc Hoa lấy lại quốc tịch cũ thì Trung Cộng sẽ có “đạo quân thứ năm” một triệu người ngay trong lòng địch. Việc một số khu vực trong Chợ Lớn treo cờ Trung Cộng và hình Mao Trạch Đông đã cho Hà Nội thấy được nguy cơ đó.
– Có tới 80% đối tượng của các chiến dịch đánh tư sản tại miền Nam là người Việt gốc Hoa, nếu cho họ lấy lại quốc tịch cũ thì Trung Cộng sẽ có cớ can thiệp để bảo vệ “Hoa kiều”!
Chợ Lớn trước 1975
Đầu năm 1978, trong chiến dịch đánh tư sản đợt 3, toàn bộ doanh nghiệp lớn của người Việt gốc Hoa (ước lượng 30.000) bị quốc hữu hóa – thực chất là bị tịch thu, vì chỉ bồi hoàn chiếu lệ!
Biết mình không còn đất sống, càng có thêm nhiều người Việt gốc Hoa tìm cách thoát khỏi Việt Nam. Thời gian này cũng là lúc Trung Cộng ra sức lên án CSVN đàn áp người Việt gốc Hoa mà họ gọi là “nạn kiều”, vì thế CSVN đã nhân cơ hội này mà một công đôi ba việc: cho người Việt gốc Hoa đăng ký ra đi chính thức, vừa dẹp bỏ được mầm mống rối loạn, vừa ăn chia “lộ phí” vừa chiếm đoạt hãng xưởng, cơ sở sản xuất và nhà cửa của họ một cách hợp pháp.
Ở đây tôi không nói tới khoảng 250.000 người Việt gốc Hoa ở miền Bắc ra đi bằng đường bộ qua ngả biên giới Hoa-Việt hoặc bằng đường thủy tới Hương Cảng, mà chỉ đề cập tới hơn nửa triệu người Việt gốc Hoa ra đi trong Nam.
Theo thông cáo của nhà cầm quyền CSVN, người Việt gốc Hoa nào ở miền Nam muốn ra đi một cách chính thức thì phải ghi danh tại văn phòng đăng ký của chính phủ tại Sài Gòn.
Theo Wikipedia và một số thông tin trên mạng, người xuất cảnh phải nộp sổ gia đình và đóng 12 lượng vàng mỗi đầu người để mua vé, trẻ em nửa giá. Phương tiện chuyên chở là tàu chở hàng cỡ lớn, chứa được hàng ngàn người, rời bến Bạch Đằng ở Sài Gòn và được tàu của hải quân (CSVN) hộ tống ra đến hải phận quốc tế. Theo trang mạng library.ubc.ca, chủ tàu phải trả tới 70% tiền “vé” cho cán bộ cộng sản Việt Nam.
2700 người Việt gốc Hoa trên chiếc tàu chở hàng Skyluck (Panama) tại Hương Cảng, 08/02/1979 – nguồn: library.ubc.ca
Vì số người Việt gốc Hoa muốn ra đi chính thức quá đông, văn phòng đăng ký trung ương tại Sài Gòn lo không xuể, nhà cầm quyền CSVN đã bật đèn xanh cho các tỉnh được tổ chức những chuyến “ra đi bán chính thức”: các viên chức địa phương tìm người đứng ra mua tàu, xăng dầu… rồi bán vé, cũng 12 lượng vàng mỗi đầu người.
Tương tự ra đi chính thức, những người ra đi bán chính thức cũng phải giao lại giấy tờ nhà cửa cho nhà cầm quyền cộng sản địa phương.
Tuy nhiên không phải tất cả mọi người ra đi chính thức và bán chính thức đều người Việt gốc Hoa (mà Trung Cộng gọi là “nạn kiều”) mà còn có cả người Việt.
Những người Việt muốn ra đi chính thức phải là người rất giàu có, bởi vì trước hết họ phải mua lại giấy tờ tùy thân của người Việt gốc Hoa, rồi đút lót văn phòng đăng ký ở Sài Gòn, chưa kể tiền mua vé 12 lượng vàng cho mỗi đầu người.
Ra đi bán chính thức từ các tỉnh thì không nhất thiết phải mua giấy tờ tùy thân của người Việt gốc Hoa mà chỉ cần móc nối được với người tổ chức, đóng vàng cho họ, và lẽ dĩ nhiên, cũng phải giao lại nhà cửa cho nhà cầm quyền địa phương.
Thế rồi từ việc nhà cầm quyền cộng sản ở trung ương ngầm cho phép các tỉnh được tổ chức ra đi bán chính thức, đã nảy sinh việc ra đi bất hợp pháp có bến bãi. Người đứng tổ chức sẽ mua tàu thuyền rồi “mua bến bãi”, tức là hối lộ đám công an tại địa phương nơi sẽ đón khách để bọn này làm ngơ.
Tùy theo quy mô (ghe lớn, ghe nhỏ), uy tín của người tổ chức, giá vé cho mỗi đầu người ra đi bất hợp pháp có bến bãi có thể lên tới 6 “cây” (lượng vàng) vào thời điểm 1979-1980.
Sau cùng là những cuộc ra đi bất hợp pháp không mua bến bãi, chỉ cần nhét người dưới khoang thuyền, giả dạng dân chài chạy thẳng ra hải phận quốc tế. Những chuyến đi lậu thường xuất phát từ những vùng ven biển hoặc gần cửa sông.
* * *
Khi tôi được thả vào đầu năm 1981 thì việc ra đi chính thức và bán chính thức đã chấm dứt vì số người Việt gốc Hoa muốn ra đi bằng mọi giá và có khả năng chi 12 cây vàng cho mỗi đầu người đã đi hết rồi, chỉ còn lại người Việt và người Việt gốc Hoa nghèo.
Vào thời điểm này, giá vé ra đi bất hợp pháp có bến bãi là từ 3 cây cho tới 5, 6 cây vàng. Sở dĩ có sự quá chênh lệch về giá vé là vì mức độ an toàn và tỷ lệ thành công của mỗi chuyến đi khác nhau.
Thông thường, một chiếc ghe vượt biên “coi được” phải là ghe đi biển (khác với ghe đi sông), dài từ 12m trở lên, được trang bị động cơ 2, 3 lốc (“lốc”: block, cylinder), thường là hiệu Yanmar của Nhật Ghe càng lớn, máy càng mạnh, giá vé càng cao.
Về bến bãi, chủ ghe hoặc người đứng ra tổ chức chuyến đi (nhưhg không đi theo) phải mua “trọn gói” từ một tay chuyên lo bến bãi tại địa phương, gồm việc tìm nhà chứa khách ở gần bãi mà ghe sẽ cập vào để đón, vận chuyển dầu nhớt và lương thực lên ghe, và đút lót đám công an địa phương để bọn này làm ngơ trước những gì đang diễn ra.
Nhưng cũng không thiếu những tay đứng ra tổ chức không chịu mua “trọn gói”, hoặc những tay nhận tiền lo bến bãi (từ chủ ghe) nhưng lại muốn ăn một mình, không chịu chi cho công an địa phương; hậu quả là nhiều chuyến bị bể, người nào may mắn thì chạy thoát, không thì bị công an bắt về đồn, trấn lột hết vàng bạc rồi giải giao lên công an huyện, tỉnh.
Tại đây, tất cả sẽ bị đưa về các nơi tạm giam để thanh lọc, sau đó tùy nơi mà đa số phụ nữ và trẻ em sẽ được thả hoặc chờ người nhà lên “chuộc”, riêng đám thanh niên trong tuổi “đi nghĩa vụ” (vào bộ đội) thì dứt khoát phải “chuộc”. Còn lại đàn ông con trai không chứng minh được lý lịch và nơi cư trú, bị nghi ngờ là sĩ quan chế độ cũ hoặc thành phần chống phá cách mạng, sẽ bị đưa vào các trại cải tạo, và không ít người đã bỏ mạng trong các trại này.
Bên cạnh đó, còn có những tay chuyên tổ chức vượt biên “cuội” để bịp. Họ cũng sắm ghe ngon lành, máy 2, 3 lốc để khách có thể tới tham quan trước; tới “ngày đi”, khách cũng được đưa tới nơi chứa khách, được dặn dò, trao mật khẩu, v.v… Nhưng trên đường đi ra bãi thì bất thần bị công an chặn bắt, ai nấy bỏ chạy thoát thân. Dĩ nhiên đây chỉ là một màn dàn cảnh. Thế là mất toi mấy cây vàng!
Sau khi tôi được thả về vào đầu năm 1981, thỉnh thoảng cũng tới tụ tập với anh em cựu tù cải tạo ở một cái quán cà phê không tên khá tươm tất, là sân trước của một ngôi biệt thự sau lưng phở Quỳnh Tín cũ (đường Trương Minh Ký, khoảng giữa Nhà thờ ba chuông và Lăng Cha Cả).
Chỉ thỉnh thoảng mới tới bởi vì đây là nơi tụ tập của các anh em có gia đình khá giả, đủ khả năng uống cà phê “cái nồi ngồi trên cái cốc” và (chia nhau) thưởng thức mấy điếu thuốc thơm Samit của Thái Lan, trong khi tôi thuộc thành phần “vô sản”, ngồi ké anh em hoài cũng ngại.
Trong những lần gặp gỡ ấy, anh em thường nhắc tới Tài, một tay trung úy Không Quân bạn khá thân của tôi từ ngày còn ở phi trường Pleiku và sau đó cùng thuyên chuyển về cùng một đơn vị ở Biên Hòa. Lần đầu tôi tới quán thì Tài không có mặt, lần kế tiếp cũng không thấy, anh em nói hắn đi vượt biên và còn kể thêm hắn đã đi tổng cộng 12 lần, lần nào cũng bị bể, may mà không bị bắt!
Dù biết Tài là con nhà giàu, ngay lúc đó tôi cũng không tin. Sau này được biết có những người còn bị thất bại nhiều lần hơn tôi mới tin. Tôi không bao giờ gặp lại Tài cho nên cứ nhớ tới hắn, tôi lại liên tưởng tới những chuyện chẳng lành có thể đã xảy ra cho bạn mình. Vì thế lúc mới được thả tôi cũng không thiết tha cho lắm với chuyện vượt biên!
(Hơn 10 năm sau khi định cư ở Úc, tôi mới được tin Tài đã thành công trong chuyến vượt biên thứ 13, và hiện đã “yên bề gia thất” tại xứ Cờ Huê. Cũng mừng cho hắn)
* * *
Sau cùng viết về những chuyến ra đi bất hợp pháp không mua bến bãi, thường gọi là đi lậu. Những chuyến đi lậu thường có quy mô nhỏ, mang tính cách gia đình hoặc nội bộ một nhóm quen biết, tin tưởng lẫn nhau.
Người đứng ra tổ chức nếu có khả năng tài chánh sẽ ứng vốn trước, không thì gom vàng của những người muốn đi để có tiền mua ghe, trang bị máy móc, tìm hoa tiêu, tài công…
Nhưng cho dù mang tiếng đi lậu, đa số ghe cũng phải đăng ký để có thể đi lại một cách hợp pháp trong lúc chờ ngày vượt thoát. Vì đi lậu, không có tiền lo bến bãi nên những chuyến đi này thường xuất phát từ những vùng ven biển hoặc gần cửa sông như Phan Thiết, Phước Tỉnh, Chu Hải, Láng Cát, Cần Giờ, Gò Công, Rạch Giá, v.v…; mọi người hẹn nhau ở một địa điểm kín đáo nào đó, trong đêm ghe sẽ tới bốc khách rồi… dông!
Đi lậu có hai cái lợi là giá rẻ và không sợ bị gạt; nhưng đồng thời cũng có những cái đáng lo mà trước hết là ghe nhỏ, không an toàn khi ra biển khơi.
Sở dĩ phải đi ghe nhỏ là vì vừa không có tiền sắm ghe lớn, máy mạnh vừa để tránh sự chú ý, nghi ngờ của công an biên phòng (thấy ghe nhỏ quá họ sẽ không nghĩ là ghe vượt biên).
Cái đáng lo thứ hai là không có hoa tiêu “xịn”, tức là sĩ quan hải quân của VNCH ngày trước, hoặc các hoa tiêu hàng hải (dân sự) trước 1975, sẽ có nguy cơ đi lạc ngoài biển khơi vì không xác định được vị trí, phương hướng.
Ngày ấy, các chuyến đi bán chính thức và đi bất hợp pháp có bến bãi đều nhắm vào hai thành phần trên để mướn, hoặc mời làm hoa tiêu (đi không phải đóng tiền). Còn các chuyến đi lậu thì không có khả năng, trừ trường hợp trong gia đình, thân tộc hoặc trong nhóm bạn bè quen biết có những người thuộc thành phần này.
* * *
Trở lại với quyết định của mẹ tôi là lo cho thằng trưởng nam đi vượt biên. Vào khoảng thời gian này, giữa năm 1981, trong gia tộc nội ngoại của tôi chỉ có những người tìm đường vượt biên chứ chưa có ai đứng ra tổ chức vượt biên.
Đúng ra cũng có một người, nhưng phải chờ không biết tới bao giờ! Đó là dì S ở Vũng Tàu, một người em họ của mẹ tôi. Trước năm 1975, tôi chỉ được nghe kể dì S là một người góa chồng, rất giàu có nhờ tài kinh doanh chứ chưa bao giờ gặp mặt. Tới khi có phong trào ra đi bất hợp pháp có mua bãi bến, dì S trở thành một trong những người tổ chức có uy tín nhất, chưa bị bể chuyến nào.
Điều kiện của dì đưa ra với mẹ tôi là cứ kiếm cho dì ba người khách thì dì cho một chỗ, sau khi tới miền đất hứa mới phải trả vàng cho các con của dì ở bên Mỹ. Nhưng với một người chỉ quanh quẩn ở xứ đạo như mẹ tôi, kiếm được ba người khách không phải việc dễ dàng. Sau đó, có lẽ thông cảm với hoàn cảnh của tôi, dì hứa khi nào có chuyến còn chỗ trống sẽ cho tôi đi, và sau cùng nếu vẫn không có chỗ trống, tới khi dì “đánh cú chót” – tức là chuyến có dì trên đó – sẽ cho tôi đi theo.
Tóm lại, tôi phải chờ, và không biết chờ tới bao giờ.
* * *
Tính tới lúc đó, trong thân tộc của vợ chồng tôi mới chỉ có hai đám vượt biên thành công, một đám đã được đi định cư tại Úc, một đám còn đang ở trại tỵ nạn Galang, Nam Dương (Indonesia). Cả hai đám đều đi ghe nhà, không mua bến bãi, tức là đi lậu.
Đám thứ nhất là họ hàng bên tôi, gồm gia đình một người cậu họ và mấy người em, bạn bè và người quen biết, đi vào cuối năm 1979. Tôi chỉ được nghe người nhà kể đại khái là đi từ Rạch Giá tới Thái Lan, rồi được Úc nhận cho đi định cư cả ghe.
Đám thứ hai là mấy đứa cháu vợ (con của bà chị vợ) cùng với một nhóm bạn. Sau này được đọc các bài viết về những chuyến vượt biên liều lĩnh nhất, tôi thấy cũng chỉ bằng chuyến đi của đám cháu vợ tôi là cùng!
Nguyên bà chị vợ của tôi có tới 12 đứa con, con số mà tôi tin rằng nếu chỉ tính những bà mẹ cùng lứa tuổi 30-40 ở Sài Gòn lúc bấy giờ, là một kỷ lục!
Còn nhớ vào cuối thập niên 1950, tin ông Ngô Đình Luyện, em trai út của Tổng thống Ngô Đình Diệm, người giữ chức Đại sứ VNCH tại Luân-đôn, thủ đô Anh Quốc, sau khi có liên tiếp 10 cô con gái mới sinh được một cậu con trai đã trở thành tin tức… quốc tế. (2)
Nhưng đó là chuyện xảy ra một phần tư thế kỷ trước dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, còn nay là thời gạo châu củi quế sau ngày cộng sản chiếm Sài Gòn, cả miền Nam phải ăn độn, nuôi 12 đứa con là một kỳ công!
Trước năm 1975, ông anh cột chèo của tôi, một quân giải ngũ vì thương tật, là nhân viên kỹ thuật quang tuyến tại Bệnh viện Nguyễn Văn Học, lương công chức ba cọc ba đồng, nhờ bà chị vợ tôi là y tá hành nghề tại gia trong một khu lao động ở cầu Kinh, Bình Thạnh (gần cư xá Thanh Đa) nên mới đủ khả năng nuôi bầy con ăn học.
Khi phong trào vượt biên nở rộ vào năm 1978, 1979 cũng là lúc CSVN mở cuộc xâm lược Căm-bốt, bắt thanh niên trong Nam đi “nghĩa vụ quân sự” đưa sang xứ chùa Tháp đánh nhau với Khmer Đỏ. Trong số ba đứa con trai lớn của bà chị vợ tôi nằm trong tuổi nghĩa vụ, hai đứa lớn trốn tránh ở vùng Láng Cát gần Vũng Tàu, một đứa đang đi học, bị bắt gia nhập Thành Đoàn (Thanh Niên Cộng Sản), sớm muộn cũng phải “tình nguyện” để làm gương, cho nên ông anh cột chèo của tôi phải tìm cách cho chúng vượt biên.
Với hoàn cảnh gia đình tạm đủ ăn, ông anh cột chèo chỉ có thể cho các con đi lậu. Thoạt tiên, ông đóng góp với một người anh họ của vợ tôi trước kia là dân buôn bán nay cũng còn chút ít vốn, và ra vẻ rất “khôn ngoan” dưới chế độ mới.
Tuy nhiên, khi tổ chức chuyến đi thứ nhất, với một chiếc ghe khá lớn, chuẩn bị chu đáo, có hoa tiêu tài công đầy đủ, người anh họ đã không cho ba con trai của bà chị vợ tôi đi, viện lý do người chứa khách không nhận thanh niên trong tuổi nghĩa vụ vì sợ công an địa phương chú ý, rốt cuộc bà chị vợ của tôi đành phải cho hai đứa con gái lớn đi thế chỗ. (Sau này được biết chiếc ghe ấy không bao giờ tới bến).
Vừa vì lo buồn trước việc không nhận được tin tức của hai con gái, vừa vì những xung khắc, bất đồng, ông anh cột chèo không hợp tác với người anh họ vợ nữa, và đích thân tổ chức cho các con còn lại đi lậu.
Trước hết ông ra vùng Lam Sơn, Láng Cát, Chu Hải, Long Hương…, là khu vực có các xứ đạo của người Công giáo di cư nằm trên đường đi Vũng Tàu trước khi tới ngã ba Bà Rịa – Vũng Tàu, để tìm hiểu.
Từ Phước Lễ (Bà Rịa) nếu tiếp tục đi thẳng sẽ tới vùng bờ biển Long Hải, nơi trước năm 1975 có làng đánh cá Phước Tỉnh nổi tiếng của dân Công giáo di cư, sau đó trở thành nơi xuất phát nhiều cuộc vượt biên nhất. Tuy nhiên, tới thời điểm 1978, 1979, sau khi dân Phước Tỉnh đã ra đi hơn phân nửa, nhà cửa, cơ sở kinh doanh bị cán bộ tới chiếm ngụ, vùng này chỉ còn những cuộc vượt biên quy mô phải mua bến bãi, chi tiền từ trên xuống dưới, còn những chuyến đi lậu, hoặc không đủ tiền mua bến bãi thì thường ra đi từ Lam Sơn, Láng Cát, Chu Hải, Long Hương…
Những vùng này ở xa biển hơn nhưng nơi nào cũng có sông lạch, chỉ cách đường lộ 1, 2 km; tất cả các sông lạch này đều đổ ra cửa Cần Giờ.
Thuận lợi thứ nhất khi ra đi từ những vùng này là vắng bóng công an. Bởi vì tuy ở đây cũng có các xứ đạo của người Công giáo di cư nhưng không sầm uất, phồn thịnh như vùng Hố Nai, dân chúng đa số sống nhờ trồng hoa màu và đánh bắt cá ven sông, không phải nơi kiếm chác của đám công an địa phương.
Thuận lợi thứ hai là nhà cửa ở đây rất thưa thớt, càng đi sâu vào phía trong càng vắng bóng người, hai bên bờ sông lạch cỏ lau cao quá đầu người, rất kín đáo cho việc bốc khách.
* * *
Vì không dư giả tiền bạc, ông anh cột chèo sắm cho các con một cái ghe cũ dài 7 mét, còn động cơ tôi không biết cỡ nào (nhưng có lẽ cũng chỉ một “lốc” là cùng), rồi… phó mặc cho trời!
Viết là “phó mặc cho trời” bởi vì, thứ nhất, ghe cỡ 7 mét thường chỉ để đánh cá gần bờ chứ không ai ra khơi, nói gì tới vượt đại dương; thứ hai, ngoài ba anh em trai con bà chị vợ tôi đều chưa tới 30 tuổi, không một chút kinh nghiệm đi biển, chỉ có một thanh niên duy nhất ra vẻ có trình độ, kiến thức, đảm trách nhiệm vụ hoa tiêu!
Sau này, trong những lá thư viết từ trại tỵ nạn Galang về cho gia đình, cháu Th, con trai lớn của chị vợ tôi, chỉ kể lại diễn tiến chuyến đi một cách rất sơ lược vì vào thời gian này, toàn bộ thư từ ngoại quốc gửi về đều bị kiểm duyệt, viết không khéo có thể gây phiền hà rắc rối cho người nhận, đồng thời có thể gây thêm khó khăn cho những người đi sau.
Theo các lá thư của Th, sau ba ngày ba đêm đi về hướng nam, ghe bị chết máy giữa đại dương. Cũng may thời tiết tốt, biển lặng sóng êm, gió thuận, chiếc ghe cứ thế lênh đênh theo chiều gió trôi về hướng nam.
Tới ngày thứ sáu thì thấy một ngọn núi nhô lên ở cuối chân trời càng lúc càng gần. Qua ngày thứ bảy thì được một ghe đánh cá của ngư dân Nam Dương nhìn thấy và kéo vào hòn đảo có ngọn núi.
Một tuần sau, 15 người trên ghe cùng với những người tới trước đó được tàu lớn đưa tới đảo Kuku, rồi từ Kuku được đưa tới trại tỵ nạn Galang để chờ đi định cư.
* * *
Trở lại với chuyện vượt biên của tôi, hy vọng được dì S cho điền vào chỗ trống một khi không lấy đủ khách ra vẻ khá mong manh, vì từ trước tới nay, chưa bao giờ dì thiếu khách. Cho nên có lẽ phải đợi tới khi dì đánh cú chót, sẽ đi theo dì.
Đùng một cái, có tin dữ báo về: dì S đã đánh cú chót, bị tàu công an rượt theo bắn chìm ghe, không một ai sống sót. Vì không có ai sống sót, mọi người chỉ biết suy đoán dựa theo những tin đồn phối hợp với lời kể lại của một số người quen biết.
Theo đó, vì dì S làm ăn ngày càng quy mô, việc dì mua đứt đám công an và nhà cầm quyền địa phương cuối cùng đã tới tai Đặc khu. “Đặc khu” nhắc tới ở đây là Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo, một đơn vị hành chánh trực thuộc trung ương, được nhà cầm quyền cộng sản thiết lập vào năm 1979.
Trang mạng Wikipedia viết:
“Nhằm phục vụ ngành công nghiệp khai thác dầu khí non trẻ, năm 1979, Hội đồng chính phủ quyết định thành lập Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo trên cơ sở sáp nhập thị xã Vũng Tàu, xã Long Sơn thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai và huyện Côn Đảo thuộc tỉnh Hậu Giang. Đặc khu này được chia thành quận (Côn Đảo), 5 phường: Châu Thành, Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam, Phước Thắng và xã Long Sơn. Một khu hậu cần dịch vụ cảng biển phục vụ xuất nhập khẩu vật tư kỹ thuật và sản phẩm dầu khí được thiết lập ở khu đầm lầy dọc theo bờ vịnh Gành Rái.” (ngưng trích)
Riêng với ngành công an biên phòng, việc thành lập đặc khu này đã thống nhất hoạt động kiểm soát các cuộc ra đi bán chính thức và đối phó với phong trào vượt biên bất hợp pháp mà Vũng Tàu là điểm xuất phát chính.
Từ đó, những chiếc tàu của công an biên phòng chuyên bắt người vượt biên bất hợp pháp có thể “săn mồi” dọc duyên hải từ Vũng Tàu xuống tận đảo Côn Sơn mà không sợ dẵm chân các đồng nghiệp.
Trở lại với chuyến đi định mệnh của dì S, sau khi ghe rời Bến Đá (trên đảo Long Sơn) trong đêm tối, ra tới vịnh Gành Rái (nằm giữa Cần Giờ và Vũng Tàu) thì bị tàu của công an biên phòng từ bờ chạy ra chặn. Biết bị lộ, chiếc ghe vượt biên phóng hết tốc lực ra khơi. Chiếc tàu công an vừa rượt theo vừa bắn cảnh cáo, nhưng ghe vẫn không chịu ngừng; cuối cùng, khi ra khỏi cửa Cần Giờ mà vẫn không qua mặt được chiếc ghe vượt biên, tàu công an đã cho nổ súng bắn chìm.
Theo lời đồn, qua ngày hôm sau công an biên phòng đã cho thợ lặn lặn xuống chỗ ghe bị chìm để tìm vàng, vì họ tin rằng khi “đánh cú chót” chắc hẳn dì S phải đem nhiều vàng lắm, chưa kể vàng của đám khách sộp…
Công an có mò được vàng hay không, không ai được biết. Cũng không ai được biết dì S bất ngờ đánh cú chót vì biết mình đã bị Đặc khu “chiếu cố” hay đây là chuyến đi dì đã dự trù từ trước nhưng không cho ai hay biết. Chỉ có một điều chắc chắn: phải có người biết dì S đi trên chuyến này và mật báo cho nên đám bò vàng của Đặc khu mới cho tàu rượt theo với mục đích trấn lột…
* * *
Cái chết của dì S không chỉ là chuyện đau buồn mà còn khiến nhiều người trong họ ngoại của tôi có dự tính vượt biên phải tìm một lối thoát khác. Vì vừa không có nhiều vàng vừa không tin tưởng các chủ ghe, một vài người đã quyết định tổ chức vượt biên lậu. Trong số này có một người em họ của mẹ tôi mà bà cụ rất tin tưởng.
Chú Thích:
(1) Qua hai đạo dụ này, Thủ tướng Ngô Đình Diệm muốn rằng người Hoa sinh sống tại Việt Nam phải hội nhập hoàn toàn vào đời sống xã hội bản xứ như mọi công dân khác. Ông cho rằng người Hoa không có lý do gì sống bên lề một xã hội mà trong đó họ vui hưởng đầy đủ quyền lợi của một công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, tự do cư trú, tự do đi lại.
Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rất cần sự tham gia của tất cả công dân để góp phần xây dựng lại một đất nước vừa mới được độc lập lại vừa chống cộng. Đây là một công tác lớn lao đòi hỏi sự góp sức của toàn dân, trong đó có cộng đồng người Hoa. Chính quyền miền Nam không muốn bị cộng đồng người Hoa và Đài Loan làm áp lực, và nhất quyết không nhượng bộ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm chỉ đơn thuần muốn áp đặt uy quyền và luật pháp của quốc gia trên toàn thể những cộng đồng dân tộc đang sống trên lãnh thổ miền Nam, trong đó có người Hoa. (Trích: website Nghiên Cứu Lịch Sử – Người Hoa trong thời đệ nhất Cộng Hòa)
Độc giả có thể tìm hiểu thêm về các chính sách và nỗ lực của chính phủ Đệ nhất Cộng hòa trong việc đối phó, giải quyết vấn đề người Hoa qua tập nghiên cứu “Người Hoa tại Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Văn Huy, hiện đang được phổ biến trên Internet.
Chợ Lớn – Chinatown có diện tích lớn nhất thế giới
(2) Ngày ấy, ông Ngô Đình Luyện (1914-1990), em trai út của Tổng thống Ngô Đình Diệm, một luật sư kiêm kỹ sư tốt nghiệp tại Pháp, tương đối ít được truyền thông trong nước nhắc tới tên tuổi vì từ năm 1958, ông đã rời Sài Gòn đi làm Đại sứ VNCH tại Anh Quốc, kiêm Đại sứ VNCH tại Bỉ và Hòa-lan; và tới năm 1959 làm Đại sứ VNCH tại Tunisia (Bắc Phi).
Cuối năm 1959, qua báo chí ngoại quốc, người ta mới biết ông vừa có được một cậu con trai để nối dõi tông đường sau khi có một loạt 10 cô con gái.
Trong số 10 cô con gái này thì năm cô là của đời vợ trước, năm cô của đời vợ sau. Một số nguồn tin còn nói rằng hai người là hai chị em ruột, sau khi người chị mất sớm, người em đã “thế chỗ” chị.
Điều đáng tiếc là từ ngày ấy tới nay, các báo Việt ngữ không hề đề cập tới chi tiết ông Ngô Đình Luyện có tới hai đời vợ, cho nên độc giả ai nấy đều thán phục vị Đại sứ phu nhân dám sanh tới 11 người con, đồng thời còn có nhiều người ca tụng dung mạo trẻ trung và thân hình thon gọn của bà mẹ 11 con này!
Kể cả trong những bài viết gần đây của một số tác giả từng được gặp gỡ, phỏng vấn ông Ngô Đình Luyện sau năm 1975, cũng chỉ viết “ông bà được 11 người con”.
Chỉ có những ai ngày ấy từng đọc báo Anh ngữ có loan tin này, mới biết chi tiết 11 người con là của hai đời vợ cộng lại. Hiện nay, vào các website hình ảnh như Alamy, Shutterstock, Flickr, người ta sẽ đọc được những dòng chú thích bằng tiếng Anh như sau:
Nov. 11, 1958 – Vietnam Ambassador – Father of Ten Daughters – Now Has a Son.
Mr. Ngo Dinh Luyen, the Vietnamese Ambassador to London, has been presented with a boy by his wife, Hanh. Mr. Luyen has ten daughters, five of whom are from his first marriage. The baby, baptised and known as Jean Michel until he is given a Vietnamese family name, was born last week.
Tôi không xâm một con bướm trên thân thể như anh tù khổ sai Papillon vượt ngục. Tôi cũng không có một biệt danh nào. Tôi chỉ là một người tù bình thường như hàng chục triệu người tù Việt Nam. Ngoài hàng rào kẽm gai cũng vẫn là tù.
Tôi đã xâm óc. Tôi muốn nói là có những kỷ niệm trong tù mình không thể nào quên được. Nó là những hình ảnh được xâm vào óc, xâm thật đậm với thứ mực mầu đen.
Không cần phải có những kiểu tra tấn, những lò sát sinh bằng hơi độc của Đức Quốc làm mình kinh hoàng. Chỉ một đám kiến vàng ăn no máu người, bò thật chậm cũng đủ làm tôi nổi gai ốc.
Tôi bị chúng bắt trước 30-4 và nhốt ở Tống Bình. Có lớp lang lắm. Trên núi là cấp tá, giữa núi là cấp úy, dưới chân núi là hạ sĩ quan. Tụi tôi uống nước chung một dòng suối từ trên cao. Lúc đó có dịch sốt rét, tụi tôi đã chết chùm. Càng dưới núi càng chết bạo! Bao nhiêu nước dơ nó đọng ở phía dưới ngọn suối. Có anh nuốt sống giun đất để chữa bệnh!
Thấy chết la liệt, chúng di chuyển trại về Tuy Hòa. Tôi ở trại 54. Có lần chính mắt tôi lúc ở Tống Bình, trông thấy một anh tù lên cơn sốt rét nhẩy từ một mỏm núi xuống vỡ sọ chết tươi. Người thì bảo anh lên cơn sốt giật, người thì nói anh tự tử để vợ con khỏi phải đau khổ.
Ở cái trại 54 này, nó cũng có lớp lang nhưng là lớp cây rừng. Tre rồi đến chà rang, rồi đến mây. Trên cao thì có bằng lăng đầy hoa tím ngắt và cà te.
Ở đây còn có một thứ giây rừng có tên đặc biệt: dây cổ rùa. Tước cái vỏ ngoài, bên trong nó như sợi dây thừng. Tha hồ mà buộc rất chắc. Tôi sẽ kể chuyện giết người có liên quan tới thứ giây rừng này. Tụi nó âm mưu lắm. Con cáo đỏ mà. Sống ở rừng với thú dữ mình còn khống chế được nên an toàn hơn. Ở tù như cá nằm trên thớt nó muốn làm gì mình thì làm. Tôi có nói tới lũ kiến vàng. Phải nói nó là kiến kên kên mới đúng. Đánh hơi thấy máu là chúng kéo đến cả ngàn con. Nghĩ lại cái đám kiến trên lưng anh ta tôi còn ghê. Có đêm tôi vẫn nằm mơ thấy bầy kiến đói máu người nầy mà đổ mồ hôi hột.
Có một sáng tụi tôi chín người thuộc toán làm rừng đang đốn cây thì bị tụi nó gọi ngay về trại lấy cuốc xẻng rồi lại trở về bìa rừng chỗ gần cây bằng lăng chết khô. Cây này không có lá có hoa đã lâu. Trên một thửa ruộng đất cằn, chúng tôi phải đào một cái lỗ bề dài gần hai thước, bề ngang 80 phân, sâu hơn một thước. Đào xong tụi tôi lại về trại.
Khoảng 4 giờ chiều. Lúc đó trời chưa tắt nắng. Chúng tôi nghe thấy có 3 tiếng súng AK. Tiếp sau đó là một loạt đạn nữa. Chúng tôi không biết có chuyện gì ở bìa rừng phía chúng tôi đào cải lỗ buổi sáng.
Tôi và anh Khương bị gọi lên “khung”. Chúng tôi được phát cho một bộ quần áo mới. Cái áo vải rằn ri của biệt động quân, còn cái quần thì của bộ binh. Tên phó trại và một vệ binh có AK dẫn tụi tôi ra rừng.
Tới chỗ cây bằng lăng, tôi thấy xác Lực, một trung úy Biệt Động quân, đang nằm chết, mặt ngửa lên trời. Mắt anh trợn trừng. Máu ộc ra khỏi miệng. Có cả trăm con kiến vàng trên miệng, trên cổ anh ăn máu căng bụng bò rất chậm. Phía trước ngực cũng thấm ướt máu. Tên vệ binh bắn Lực còn ở đó. Mặt hắn lầm lì.
Chúng tôi bị tên phó trại buộc phải viết cái giấy làm chứng có nghe thấy ba tiếng súng chỉ thiên và thấy Lực bỏ chạy nên bị bắn chết! Chúng tôi cũng bị cấm không được tiết lộ gì về chuyện này nếu muốn toàn mạng để về với vợ con. Lại một lớp lang. Lại một sắp xếp. Tên phó trại còn tuyên bố vì Lực có tư tưởng phản động nên không được hưởng “tiêu chuẩn” gì. Có nghĩa là chúng tôi phải vào rừng chặt khoảng ba chục cây chà rang để cuốn xác anh như kiểu bó chiếu. Chúng tôi buộc cái áo quan đặc biệt đó bằng dây cổ rùa.
Lúc chúng tôi thay quần áo cho Lực, tôi khấn anh phù hộ cho anh em tù chúng tôi và tha thứ cho sự làm chứng sai sự thật dưới họng súng AK. Tôi vuốt mắt cho Lực. Tôi lật phía sau lưng và thấy mấy vết đạn phá ở phía sau. Điều này chứng tỏ chúng đã bắn Lực chứ Lực không bỏ chạy. Sau lưng chiếc áo rằn ri cũng đầy máu và đám kiến kên kên bò thật chậm còn dính máu đặc.
Thay quần áo cho anh xong, chúng tôi đặt anh vào cái quan tài chà rang, cuốn vòng thân anh rồi hai tụi tôi khiêng xác anh từ gốc cây bằng lăng chết khô tới cái hố mà chúng tôi đào từ buổi sáng. Chúng tôi được lệnh phải chôn Lực xong trước năm giờ chiều, giờ anh em tù đi lao động từ rừng về trại. Anh bị chúng bắn chỉ vì tuyên bố “đi ba bước lại đái một bước lên cái chủ nghĩa khốn nạn đó.”
Hai ba hôm sau, đói mà tôi vẫn không thể ăn được cái gì vào mồm. Chỉ uống nước thôi.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.