Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 23 Aug 2025

17. Hoàng Trúc Ly

Liên tiếp trong ít ngày gần đây, người ta được biết, giới cầm bút ở miền Nam trước 75 còn ở lại trong nước, đã mất đi thêm ba người nũa, đó là các nhà văn Trần Phong Giao, tổng thư ký tạp chí Văn, thi sĩ Hoàng Trúc Ly và nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn.

Thực ra, cả ba người, mất như thế, cũng không trẻ lắm. Nhưng cái chết của họ vẫn làm cho người ta bàng hoàng, nhất là những người ở xa, từ lâu đã bặt tin nhau. Dù thân hay sơ người ta đều cảm thấy trong lòng có điều ân hận. Ân hận vì đời sống đã có những lúc khốn cùng, đến nỗi, người ta không còn tâm trí nào nghĩ đến nhau nữa. Hoàng Trúc Ly thuộc thế hệ các thi sĩ trưởng thành tại miền Nam sau 1954. Người đọc biết đến thơ và yêu thơ Hoàng Trúc Ly từ trước khi thi phẩm duy nhất của ông, tập Trong Cơn Yêu Dấu được xuất bản.

Người giới thiệu thơ Hoàng Trúc Ly nồng nhiệt nhất với độc giả là Hoàng Trọng Miên khi ông phụ trách biên tập tuần báo Cải Tạo của Hoàng Văn Thụ, bộ mới, xuất bản khoảng 55-56. Sau biến cố 1975, Hoàng Trọng Miên tỏ ra hết sức hoạt động, nhưng dường như không được nhà cầm quyền mới chú ý, vì sau đó vài năm thấy ông cũng mất trong lặng lẽ.

Hoàng Trọng Miên coi Hoàng Trúc Ly như một thiên tài. Phạm Công Thiện viết về Hoàng Trúc Ly như sau:

“Thơ Hoàng Trúc Ly có ma lực kỳ quái của những câu phù chú. Đối với Hoàng Trúc Ly, ngôn ngữ hãy còn mới tinh. Mỗi chữ đều mang một linh hồn, mỗi chữ là một sinh vật. Tôi gọi Hoàng Trúc Ly là thi sĩ lớn, là nhà thơ bực thầy của thi ca hiện đại”.

Còn nhà phê bình văn học Tam Ích cho rằng: “Hoàng Trúc Ly đã và đang làm mọi người ngạc nhiên ít nhất là một lần nữa về thiên tài của mình.

Tôi dùng danh từ thiên tài không dè dặt chút nào, Ly vốn khiêm tốn; nhưng cách đây gần mười năm [1967-1957], một trong những người bạn đường văn nghệ đầu tiên của Ly là tôi, là người có quyền hãnh diện với chính mình, và hãnh diện cho cả văn và thơ hiện đại”.

Nguyệt san Khởi Hành của nhà thơ Viên Linh đã ra một số đặc biệt, tháng 6-2005 tưởng niệm Hoàng Trúc Ly, ngoài bài viết của chính Viên Linh còn có bài viết của các nhà văn nhà thơ: Nguyễn Thụy Long, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Đạt, hiện còn sống ở trong nước, kể lại những kỷ niệm vui buồn của họ với Hoàng Trúc Ly kể từ sau 1975.

Bài viết của Nguyễn Thụy Long, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Đạt không phải là những bài phê bình thơ Hoàng Trúc Ly, nhưng nó giúp cho những người đọc biết rất nhiều khía cạnh khác về đời sống, tâm hồn và con người Hoàng

Trúc Ly, để từ đó có thể hiểu rõ thơ ông hơn. Viên Linh kể lại một buổi gặp Hoàng Trúc Ly như sau: “Khoảng một hai ngày sau khi anh Tam Ích treo cổ tự ải, Hoàng Trúc Ly cầm một tờ giấy đến tòa soạn Khởi Hành ở số đôi 225-227 đường Phạm ngũ Lão đưa cho tôi một tờ giấy. Khóc Tam Ích. Tôi biết Ly khóc thật, hai người đó rất thân nhau.

Tôi đăng bài thơ Khóc Tam Ích ngay trên trang bìa tờ Khởi Hành ra ngày 13 tháng 1.1972, đúng một tuần sau ngày tác giả Sartre và Heidegger trên thảm xanh … đứng lên. Tôi đã định viết nằm xuống. Nhưng chợt nhớ Tam Ích không nằm xuống trên chồng tự điển và các sách khác, mà đứng lên, đứng trên chồng sách, nối sợi dây tròng vào cổ mình với xà nhà và đạp đổ chồng sách dưới chân. Vậy hành động cuối cùng của anh là đứng lên, chứ không phải nằm xuống.

Cho nên khóc Tam Ích, Ly viết:

Nỗi buồn siết cổ nghìn thu

Cho người nghẹn họng giã từ khổ đau”.

Nguyễn Thụy Long cho biết, sau 75, ông và bao nhiêu văn nghệ sĩ chán đời khác, gặp nhau ở chợ trời là sẵn sàng cưa đôi một xị đế thời ấy gọi là “nước mắt quê hương”. Họ buôn đầu chợ bán cuối chợ bất cứ thứ gì, chôm đồ nhà đi bán, miễn có chút tiền uống rượu, cái thứ rượu nồng độ được tăng bằng methanol, bằng thuốc rầy. Hai người thân nhất với Nguyễn Thụy Long thường cùng ngồi uống với nhau là diễn viên điện ảnh Huy Cường và Hoàng Trúc Ly. Rồi cả Huy Cường và Hoàng Trúc Ly sau đều bị chết vì tai nạn xe.

Nguyễn Thụy Long viết:

“Một buổi chiều tôi lên Sài Gòn để thăm lại nơi Hoàng Trúc Ly, Huy Cường và tôi hay ngồi ngày nào, nhưng không còn như xưa nữa. Cái tượng đài Thủy Quân Lục Chiến đã bị giật sập từ lâu rồi, tòa nhà Quốc Hội nay trở lại nguyên dạng nhà hát, như tên người ta gọi Nhà Hát Tây ngày xưa.

Hàng rượu bán ‘nước mắt quê hương’ không còn nữa, tất cả đều là bóng mờ dĩ vãng”.

Trần Tuấn Kiệt nhắc lại những ngày đầu quen biết Hoàng Trúc Ly khi hai người, chắc là còn rất trẻ, cộng tác với báo Phổ Thông của Nguyễn Vĩ.

Trần Tuấn Kiệt có trích dẫn một bài thơ của Hoàng Trúc Ly, chép theo trí nhớ. Một người khác cũng thuộc bài thơ đó, theo như lần đầu nó được công bố, trên tờ Cải Tạo. So hai bài, có nhiều câu, chữ khác nhau.

Bài của độc giả báo Cải Tạo như sau:

Những người xưa đi rồi không về nữa

Một mình tôi lại gặp một mình em

Chiều lửng lơ nghe nắng rụng bên thềm

Em nín lặng mắt buồn ươn ướt đỏ

Nhà tôi nghèo mái tường rêu thiên cổ

Đời lạnh lùng bốn hướng gió và mưa

Ta lạc nhau từ em còn bé nhỏ

Tôi thương em, thương biết mấy cho vừa

Bởi vì đâu da em xanh sốt rét

Nắng rưng vàng lên mái tóc mồ côi

Ngày giặc giã quê hương mình mỏi mệt

Mười năm qua hình ảnh có ngậm ngùi

Bài Trần Tuấn Kiệt chép còn có thêm mấy khổ thơ nữa. Không biết bài thơ đã được xuất bản thành tập chưa? Nhưng cũng vẫn còn những tờ báo để người có thể sửa chữa những sai lầm của người này hay người khác, để có một bản chính thơ của Hoàng Trúc Ly. 12 câu thơ Trần Tuấn Kiệt nhớ thêm như sau

Nhà anh nghèo, anh đau tim, anh yếu phổi

Em bềnh bồng anh phiêu lãng về đâu

Không dĩ vãng cho đêm dài đợi sáng

Không mai sau cho nước chảy qua cầu

Em bảo anh người đi không trở lại

Nấm mồ ai như giọt lệ chưa tan

Ngọn gió nào mang anh vào mộng mị

Em giang hồ làm tiếng hát lang thang

Ta đến bên nhau sao chùng bước mỏi

Lời sắp xé môi sao bỗng nghẹn lời

Anh nhớ em: núi cao càng hiu hắt

Anh thương em, máu vọt bốn phương trời

Chỉ mới vài chục năm thôi mà ghi chép về tiểu sử Hoàng Trúc Ly đã có nhiều điều không rõ ràng, không thống nhất. Hoàng Trúc Ly tên thật là Đinh Đắc Nghĩa. Người ghi ông sinh năm 1937, người viết ông sinh năm 1933. Người nói ông sinh tại Đà Nẵng nhưng gốc Huế. Người lại kể rằng ông người làng Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông mất năm 1985, nhưng không ai biết ông mất ngày, tháng nào.

Đó là những điều thiếu sót đáng tiếc, đối với một nhà thơ tên tuổi như Hoàng Trúc Ly, những điều thiếu sót còn có thể sửa chữa được, vì Hoàng Trúc Ly hẳn còn những than nhân, để những người viết văn học sử Việt Nam thế kỷ XX kiểm chứng.


Discover more from Son Rau

Subscribe to get the latest posts sent to your email.

Leave a Reply