Cựu danh thủ bóng bàn Mai Văn Hòa: ‘Vé vớt’ vẫn thắng vô địch thế giới.

thanhnien.vn

Nhựt Quang

03/08/2020

Post by Sơn râu 25 Aug 2025

Mặc dù đã ra đi vĩnh viễn cách đây 49 năm, danh thủ Mai Văn Hòa vẫn để lại trong lòng người hâm mộ những tình cảm sâu đậm đối với một người đã mở đường cho bóng bàn Việt Nam vang danh trên đấu trường quốc tế.

Thế Nguyễn Kim Hằng Vào Giờ Chót

Năm 1942 khi cùng gia đình sinh sống tại Kompong Cham (Campuchia), Mai Văn Hòa đã thắng được vô địch Đông Dương Adi Trần Liên Lợi để giành chức vô địch Campuchia khi mới 15 tuổi. Đến năm 1947, ông về Sài Gòn và trong hơn 10 năm sau đó tiếp tục đạt nhiều thành tích đáng nể phục như: 2 HCV đơn nam Á châu (1953, 1954), 2 HCV đôi nam Á châu (với Trần Cảnh Được – năm 1953, 1957), HCV đồng đội nam châu Á 1957, hạng 5 đồng đội nam thế giới 1957… Tuy vậy, những trận đấu của ông diễn ra ở Á vận hội lần 3 tổ chức tại Tokyo (Nhật Bản) cuối tháng 5.1958 mới thật sự là “điểm son” đặc biệt với bóng bàn toàn cầu. Lúc đó, ông và các đồng đội trong đội tuyển miền Nam Việt Nam chiến thắng đội ĐKVĐ thế giới Nhật Bản ngay tại đất nước hoa anh đào của họ để đoạt HCV đồng đội nam và đôi nam. Chính Mai Văn Hòa đã làm khán giả nhà thực sự buồn đau khi anh thắng ĐKVĐ đơn nam thế giới Tanaka 2-0 (21/17, 21/18) ở trận đấu thứ 8 (theo thể thức Swaythling) để giúp đội Việt Nam thắng chung cuộc đội Nhật Bản với tỷ số 5-3.

Có điều, ít người biết rằng trước đó Mai Văn Hòa không có tên tham dự Á vận hội Tokyo 1958. Mỗi lần xuất ngoại, Tổng cuộc bóng bàn (TCBB) miền Nam đều cho thi đấu trong các VĐV có đẳng cấp để tuyển chọn người tham dự. Lê Văn Tiết là người duy nhất được ưu tiên chọn mà không cần thi đấu vì anh là đương kim vô địch quốc gia (năm 1957), 3 người có thứ hạng cao nhất qua tuyển chọn năm 1958 là Trần Cảnh Được, Trần Văn Liễu và Nguyễn Kim Hằng được đưa vào danh sách chính thức. Khi biết danh sách không có Mai Văn Hòa – thời điểm đó làm việc ở Tổng Nha Thanh niên (cơ quan quản lý nhà nước, tương tự Tổng cục TDTT hiện nay) – vì kết quả thi đấu tuyển chọn của ông Hòa xếp sau Nguyễn Kim Hằng, lãnh đạo Tổng Nha Thanh niên lúc đó là Cao Xuân Vỹ đã gây áp lực, buộc TCBB phải ghi tên Mai Văn Hòa vào.

Trong hồi ký của mình, ông Đinh Văn Ngọc – Chủ tịch TCBB miền Nam lúc đó – kể lại: “Thế là sóng gió bùng lên. Tổng Nha tìm mọi cách ngăn cản để đoàn tuyển thủ bóng bàn không được lên đường, nếu không có mặt Mai Văn Hòa. Cuối cùng để tránh sự đổ vỡ, tôi khuyến cáo anh em trong ban chấp hành tạm thời nhượng bộ, tuy nhiên danh nghĩa đi thi đấu của Mai Văn Hòa là “vớt thêm” chứ không phải là do tuyển chọn”.

Mai Văn Hòa (thứ hai từ phải trong đoàn bóng bàn miền Nam Việt Nam vô địch Asia 1958)

Khi có mặt đầy đủ tại Tokyo, ông Ngọc duyệt lại một lần nữa, cân nhắc từng cá nhân từ tâm lý thi đấu, tài ba đến kinh nghiệm và phải còn ăn ý khi đánh đôi. Nguyễn Kim Hằng tuy xếp cao hơn trong thi tuyển, nhưng về kinh nghiệm quốc tế bị nhận xét là yếu hơn nhiều so với Mai Văn Hòa. Thế là ông Ngọc bàn với thủ quân Chu Văn Sáng, thay vì ý định trước là chọn ông Hằng thì để ông Hòa đánh chính thức. Quyết định này bị ông Hằng phản ứng rất mạnh, nhưng “Vì danh dự của đất nước, tôi vẫn giữ nguyên quyết định mới này”, ông Ngọc đã viết trong hồi ký như thế.

Đúng như nhận định của ông Ngọc, đội Việt Nam đoạt vô địch đồng đội nam, trong đó có công lớn của Mai Văn Hòa. Cũng ở Á vận hội 1958, đôi nam Mai Văn Hòa – Trần Cảnh Được còn đoạt thêm HCV thứ hai sau khi thắng đôi Li Kou Tin – Son Yin (Trung Quốc) ở chung kết. Rõ ràng thực tài của Mai Văn Hòa đã hóa giải tất cả. Chính ông Đinh Văn Ngọc cũng thừa nhận “Sự thay đổi của tôi, được hầu hết tuyển thủ cũng như ghi nhận là đúng như sự lượng định, để đạt được chiến thắng vẻ vang cho đất nước chứ không phải do áp đặt của Tổng Nha”.

MỞ CỬA VÀO ĐẤU TRƯỜNG THẾ GIỚI

Với lối cắt bóng phòng thủ kiên trì, ngay từ năm 1948 tại Sài Gòn, Mai Văn Hòa đã có trận thắng 3-2 trước tay vợt số 2 của Pháp là Amouretti. ó lẽ nhờ chính trận thắng này nên cánh cửa vào đấu trường thế giới đã mở toang cho bóng bàn Việt Nam. Dù chưa gia nhập TCBB quốc tế (năm 1952 mới là thành viên chính thức) nhưng chính phủ Pháp có cảm tình qua trận thắng nói trên của Mai Văn Hòa đã quyết định tài trợ và cho đội tuyển nam VN thi đấu dưới màu cờ… nước Pháp.

Cuối tháng 1.1950, lần đầu tiên các tay vợt Việt Nam như Mai Văn Hòa, Trần Quang Nhụy, Phó Đức Huy, Mai Văn Chất và Trần Văn Liễu đã có mặt tại Budapest (Hungary) để dự tranh ở Giải vô địch thế giới (VĐTG) lần 17. Sau lần đầu không có thành tích, ở giải lần 18 tại Vienne (Áo) vào năm 1951, đội nam Việt Nam đã có thứ hạng 7/24 nước. Tám năm sau, đội tuyển miền Nam Việt Nam với Mai Văn Hòa, Lê Văn Tiết, Trần Cảnh Được và Trần Văn Liễu vươn lên mạnh mẽ và đoạt HCĐ ở giải VĐTG 1959 tại Tây Đức. Cũng từ thành tích này, Lê Văn Tiết được xếp hạng 6 và Mai Văn Hòa hạng 12 của TCBB thế giới.

Ông Mai Văn Quang và Mỹ Trang (trái) cùng Xuân Hằng và ông Mai Văn Minh (phải)

Năm 1961, Mai Văn Hòa còn được tay vợt người Anh Richard Bergmann (4 lần VĐTG) mời tham dự đoàn bóng bàn nhà nghề đi thi đấu biểu diễn khắp nơi trên thế giới. Cùng tham dự đoàn này còn có các danh thủ Satoh (Nhật Bản – VĐTG 1952), Leach (Anh – VĐTG 1949, 1951), Ogimura (VĐTG 1954, 1956)… Rất tiếc, sau gần 20 năm cầm vợt đem lại nhiều thành tích vang dội cho bóng bàn Việt Nam, ông Mai Văn Hòa đã ra đi vĩnh viễn vì một tai nạn giao thông trong tháng 5.1971, khi ông mới 44 tuổi.

Tuy đã giã từ cõi trần 49 năm, danh thủ Mai Văn Hòa vẫn còn được người hâm mộ tiếp tục nhắc nhở với niềm kính phục khi ông và các đồng đội trong đội tuyển miền Nam VN đã làm vang danh bóng bàn VN ra thế giới. Đến nay, các thế hệ họ Mai tiếp nối ông Hòa đều là những tay vợt nổi tiếng trong làng banh nhựa đất nước.

Đầu tiên là người cháu Mai Văn Minh kêu ông Hòa bằng cậu đã từng ở trong tuyển quốc gia trước năm 1975, cùng với danh thủ Huỳnh Văn Ngọc vào bán kết đôi nam tại Asiad 1974. Các em ruột của ông Minh là Mai Văn Giót, Mai Văn Quang, Mai Văn Lê đều có công đào tạo con cháu mình giữ vững truyền thống họ Mai như Mai Xuân Hằng (con ông Minh) thắng Ngô Thu Thủy 4-1 để lên ngôi vô địch đơn nữ quốc gia năm 2005 và nhiều năm sau đó có trong đội tuyển quốc gia, Mai Hoàng Mỹ Trang (con ông Quang) với hơn 10 lần vô địch đơn nữ quốc gia, Mai Tú Uyên (con ông Lê) với thành tích mới nhất là vào bán kết đơn nữ (thua Mỹ Trang) và á quân đôi nữ quốc gia 2020.

Ông Mai Văn Minh huấn luyện cho VĐV trẻ.

Mai Tú Uyên (trái) và Nguyễn Thị Xuân Mai á quân đôi nữ quốc gia 2020

Tay vợt Mai Xuân Hằng

Mai Hoàng Mỹ Trang (trái) và Lê Đình Duy vô địch đôi nam nữ quốc gia 2020

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 25 Aug 2025

Phần 2.

Chương 7.

Làm thế nào để bớt lệ thuộc?

Từ trên cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long hiền hoà chảy xuống đồng bằng Nam Bộ, và mỗi khi “nước sông dâng lên”, lại có “cá lội vô bờ.” Về sản xuất, nó giúp cho Miền Nam trù phú, tưới nước cho vựa thóc của cả nước. Thế nhưng, về chuyên chở nó lại gây nên một ách tắc vì chiều ngang con sông rộng mênh mông, có chỗ lên tới nửa cây số. Vận chuyển thóc gạo, hành khách, bằng phà qua sông thật là khó khăn. Từ mấy năm rồi, Chính phủ đã có kế hoạch xây một cây cầu lớn qua sông để khai thông tắc nghẽn.

Nhưng sao mãi không thấy khởi sự?

Một hôm trong buổi họp với bộ Công Chánh, chúng tôi có hỏi lý do gì mà chưa xây được chiếc cầu? Nhiều vấn dề như kỹ thuật, ngân sách, an ninh được viện dẫn để giải thích. Sau cùng, một nhân viên tại bộ phát biểu: “Thưa ông, mặc dầu cây cầu mang tên “Mỹ Thuận” nhưng Mỹ có bao giờ thuận đâu mà xây”. Câu nói do một thanh niên trẻ tuổi đã tóm gọn sự lệ thuộc của nền kinh tế Miền Nam thời đó.

Khi chiến tranh leo thang, kinh tế khó phát triển, nhiều lãnh vực lại còn tụt hậu, cung ứng cho nhu cầu của nhân dân từ ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, tới vận chuyển, xây cất, phần rất quan trọng được đáp ứng từ “viện trợ Mỹ” (xem Chương 19).

Vì lệ thuộc vào viện trợ quá nhiều như vậy, nền kinh tế Miền Nam tất phải gắn liền với những gì xảy ra cho nền kinh tế Mỹ. Nấu kinh tế Mỹ khó khăn là sẽ có áp lực giảm viện trợ cho Miền Nam.

Đúng như Tổng trưởng quốc phòng Mỹ James Schlesinger tiên đoán, khi chiến tranh Trung Đông bùng nổ và Mỹ bắt đầu lập cầu không vận tiếp cứu Do Thái, là có vấn đề ngay. Những thành viên A Rập trong Tổ chức các Nước Xuất Cảng Dầu Hoả OPEC quyết định giảm sản xuất tới mức làm cho giá dầu thô tăng gấp bốn lần. Và chỉ trong vòng mấy ngày, các nước Abu Dhabi, Libya, Saudi Arabia, Algeria và Kuwait lại áp dụng lá bài cấm vận (embargo), cùng nhau đồng loạt cắt đứt xuất cảng dầu sang Mỹ.

Khủng hoảng dầu lửa và kinh tế Mỹ.

Khí giới dàn khoan thật là bén nhạy. Vào mùa đông rồi mà xăng nhớt, dầu khí bỗng trở nên đắt đỏ, khan hiếm. Chính phủ phải áp dụng những biện pháp khắt khe. Ngoài những biện pháp kinh tế, tài chính như thuế má, lãi suất, tín dụng có tính cách động lực để thúc đẩy sản xuất, Chính phủ Nixon còn khích lệ phát triển các nguồn năng lượng khác như mặt trời, sức gió, than củi. Ngay trước mắt, Tổng thống Nixon đem ra một loạt chính sách nhằm giảm thiểu mức tiêu thụ

1. Độ sưởi trong tất cả các cao ốc Chính phủ Liên bang xuống từ trên 70 độ xuống 65-68 độ; khuyến khích đi xe chung (car- pool); ấn định tốc độ lái xe 55 dậm một giờ; đổi giờ lại thành giờ mùa hè (daylight-saving time); cấm bán xăng ngày Chúa Nhật; giảm thiểu dùng đèn chiếu sáng ban đêm; và tuyên bố sẽ cắt giảm 15% số cung dầu.

Chưa bao giờ phải dùng những biện pháp như thế này.

Lòng người dân bất mãn, hoang mang. Nhiều trạm xăng chỉ cho mỗi xe mua năm đồng. Xe nọ nối xe kia sắp hàng mua xăng. Người nào lẩn thẩn, mua xong rồi mà cứ đếm mấy đồng xu để trả tiền, hay đã ngồi vào xe rồi mà cứ tà tà sắp xếp, chưa chịu lái đi ngay là bị mọi người bóp còi inh ỏi. Để làm gương tiết kiệm xăng nhớt, số bóng đèn trang hoàng cây Giáng Sinh sau toà Bạch Ốc năm đó còn bị giảm 80%. Để thuyết phục nhân dân, chính Tổng thống Nixon và phu nhân đã bay sang California bằng hàng không dân sự thay vì dùng Air-force One

2. Theo lịch sử kinh tế, khi có lạm phát cao thì thường có nhiều công ăn việc làm. Nhưng từ trận Yom Kippur thì lại sinh ra một tình huống mới. Kinh tế học gọi nó là “lạm phát đình trệ” (stagflation): giá cả tăng lại kéo thất nghiệp lên theo.

Lạm phát đang từ 3.2% (1972), lên 6.2%, (1973) tăng gần gấp đôi rồi lên trên 9%, gần gấp ba (1974). Đang khi đó thất nghiệp lan tràn. Trong thời gian từ cuối 1973 tới 1975, thất nghiệp tăng từ 5% tới 8,5%%. Ở mức này, gần tám triệu người Mỹ thất nghiệp.

Hậu quả của lệ thuộc

Giá cả Mỹ leo thang, giá cả ở Miền Nam cũng theo luôn. Trước hết là giá gạo. Với cùng một số tiền viện trợ thực phẩm, số gạo Tổng Cục Thực Phẩm mua được từ Louisiana tất bị giảm cùng mức. Rồi đến cắt viện trợ. Trong tình huống kinh tế khó khăn, Quốc hội Mỹ không những không tăng lại còn cắt thêm: trong lúc nhân dân chúng tôi cũng đang liểng xiểng, còn tiền đâu mà giúp cho mấy ông!

Ngoài ra Quốc hội còn bị “ảo tưởng hoà bình” (illusion of peace)

3. Sau khi quân đội Mỹ đã rút hết và tù binh được thả về, các nghị sĩ, dân biểu cho rằng Miền Nam nay đã có hoà bình tức có điều kiện phát huy tiềm năng của mình, đâu có cần nhiều viện trợ kinh tế như trước nữa. Thế là vừa bị cú số dầu lửa choáng váng lại có cú số viện trợ tiếp theo.

Quốc hội Mỹ không cần để ý tới sự kiện là tuy có thể tiến tới tự túc, tự cường nhưng miền Nam còn cần yểm trợ trong thời gian chuyển tiếp. Cuộc chiến kéo dài, mức sản xuất tiêu hao, nền kinh tế đã biến thành kinh tế lệ thuộc, làm sao có thể chuyển sang độc lập ngay sau khi Mỹ rút?

Viễn tưởng viện trợ kinh tế “hậu chiến” bất chợt trở nên bấp bênh. Ngoài ra vì vật giá leo thang, tới năm 1974 thì mãi lực viện trợ đã giảm đi trên 50%. Tia hy vọng loé sáng lúc “hậu chiến” trở thành ánh điện leo lét. Vừa phấn khởi đi được một bước, con đường đã bị khứng lại.

Tổng thống Nixon giữ lời hứa, ông yêu cầu Quốc hội chấp thuận ngân khoản 780 triệu. Thế nhưng Quốc hội nào còn tha thiết gì nữa. Số viện trợ chuẩn chi cho Đông Dương năm đó, sau khi trừ đi khoản cho Kampuchia và Lào, chỉ còn 313 triệu cho Miền Nam. Tính vào số này, còn phải trừ đi mấy mục nữa, sau cùng chỉ còn 226 triệu cho chương trình nhập cảng (CIP), nghĩa là mức thấp nhất kể từ khi Mỹ tham chiến năm 1965.

Tài khoá          1966-67           1972-73           1973-74           1974-75

Triệu   400      313      226      285

(Nguồn: USAID)

Mỹ rút, chi tiêu đô la cũng rút luôn Trong những năm chiến tranh, ngoài số tiền viện trợ lại còn có nguồn thu đô la quan trọng thứ hai, đó là số đô la thu được do nhu cầu đổi sang tiền đồng Việt nam của nguồn ngoại tệ Mỹ vào gồm quân đội, toà đại sứ, các công ty xây cất, dịch vụ Mỹ. Bây giờ thì quân đội Mỹ về hết rồi, các cơ quan hành chính Mỹ thu nhỏ lại, và các hãng ngoại quốc cũng ra đi. Số đô la mua được từ nguồn này đã giảm từ mức 300-400 triệu một năm xuống còn 96 triệu (1973), và 97 triệu (1974) :

Số tiền đô la đổi sang tiền đồng VN thu được

Tài khoá          1965/66           1971/72           1972/73           1973/74           1974/75

triệu đô la        333      213      96        97        97

(Nguồn: USAID)

Tình hình nhập cảng đen tối

Vì xuất cảng chẳng có bao nhiêu, tài trợ cho nhập cảng là do bốn nguồn. Ngoài hai nguồn chính trên đây, còn hai nguồn khác: “viện trợ thực phẩm phụng sự hoà bình (FFP) và “viện trợ dự án”. Nhìn vào cả bốn nguồn, tình hình thật là khó khăn:

Kết toán tài trợ nhập cảng tài khoá 1973/74 (triệu đô-la)

Viện trợ thương mại CIP, 226 triệu + Thực Phẩm (FFP)/(S)8 triệu + Viện trợ dự án, 22 triệu + Tiền đô la đổi ra tiền đồng, 96 triệu = 532 triệu.

So với tài khoá 1971/72 (849 triệu), nó đã giảm trên 37%. Nên nhắc lại, số tiền này chỉ là mệnh giá trên danh nghĩa (nominal). Mãi lực thật chỉ bằng một nửa tức chỉ là 266 triệu. Như vậy có nghĩa là thực sự, chỉ còn khả năng nhập một lượng hàng hoá bằng nửa những năm trước.

Thắt lưng buộc bụng

Để đối phó, nhu cầu nhập cảng phải giảm xuống ngay tức khắc. Ngoài những biện pháp thuế má, tỷ giá, Chính phủ còn phải cấm không được dùng tín dụng ngân hàng để tài trợ cho nhập các loại trong hai danh sách “C” và “D”. Nếu gồm tất cả những mặt hàng trong hai danh sách này lại, đã gần 80% các loại hàng được coi là “không cần thiết”. Cho dù cần thiết như đường cũng phải giới hạn: năm 1973 nhập là 60 triệu; năm 1974 thì phải ngừng hẳn. May mà lúc đó còn một lượng đường tồn kho để giúp giải quyết tạm thời. Muốn giảm tiêu thụ, giá đường được nâng ngang giá quốc tế. Ngành nước ngọt và bia bị ảnh hưởng, dân chúng phải giảm ngay tiêu thụ. Tuy nhiên, vì giá đường lên cao, nhân dân đổ xô trồng mía. Các nhà máy đường cải tiến, sản xuất lên cao. Dự phóng là với tiêu thụ giảm đi, đồng thời tăng số cung nội địa, dứt khoát là từ 1976 sẽ không cần nhập cảng đường nữa

4. Riêng về dầu lửa, năm 1973 nhập một lượng với số tiền là 82 triệu. Năm 1974, nếu muốn nhập cùng một lượng đó thì phải chi ra 200 triệu. Tiền cạn rồi, lấy đâu ra 200 triệu? Chính phủ phải đặt ra mục tiêu giảm tiêu thụ xăng nhớt 25%. Giá dầu xăng đã tăng 47% vào tháng 1 1, 1973, Chính phủ lại phải tăng giá lên từ 66% tới 140% vào tháng Giêng 1974, làm giá xăng cao vào hàng nhất thế giới hồi đó. Giá dầu hôi lên 140 đồng VN một lít, ngoài tầm tay của số đông gia đình. Tuy nhiên, cũng có cái hay là (giống như trường hợp mía đường), phong trào đun nấu bằng củi, gỗ, than được phát trên mạnh, giúp cho giải pháp lâu dài.

Dầu cặn diesel tăng từ 95 đồng lên 125 đồng, cao hơn tất cả các nước láng giềng. Ảnh hưởng là 11 chiếc tầu đánh tôm vừa mới tân trang hầu như phải ngưng hoạt động. Ngư dân với những thuyền mắc máy đuôi tôm lượn trên sông rạch nay đã thưa thớt. Khi giá các loại dầu, xăng tăng, thì trực tiếp hay gián tiếp, phí tổn sản xuất mọi mặt hàng phải tăng, nâng giá hàng hoá cao hơn nữa. Bị ảnh hưởng nặng nhất là những người có đồng lương cố định như quân, công, cán, chính.

Nhập cảng xuống là tăng thu ngân sách xuống theo. Ở các nước hậu tiến, nguồn thu chính cho ngân sách Chính phủ không phải là thuế trực thu đánh vào tiền lương như ở Mỹ, mà thuế gián thu. Quan trọng nhất là nguồn thu thuế nhập cảng Quan thuế cung cấp. Bây giờ ngân sách đã đến lúc kẹt vì giảm viện trợ, nguồn thu từ Quan thuế lại giảm vì nhập cảng giảm. Làm sao đáp ứng được nhu cầu chi tiêu cho ngân sách đang tăng vì lạm phát? Bộ Tài Chánh tìm cách “tăng thu”. Nhìn đi nhìn lại chỉ còn Chợ Lớn. Dù biết thế lực của giới thương gia người Tầu rất mạnh, Tổng trưởng Tài Chánh Châu Kim Ngân cũng vẫn cho rà soát, xông vào mà kiểm tra kế toán, thu thêm cho ngân sách.

Trong bối cảnh “lạm phát đình trệ”, vừa lạm phát, vừa trì trệ rất khó giải quyết nhiều vấn đề bức thiết. Giá sản xuất làm kinh tế đình trệ, thất nghiệp tăng. Thêm vào đó còn tước đi một số công ăn việc làm quan trọng. Quân đội Mỹ rút đi đã để lại một lỗ hổng lớn. Trong thời chiến, sự có mặt của Đồng minh giữ mức thất nghiệp ở thành thị tương đối thấp.

Một cách gián tiếp, chi tiêu của họ sinh ra công ăn việc làm, đặc biệt trong lãnh vực dịch vụ. Một cách trực tiếp, các căn cứ quân đội, cơ quan và hãng Mỹ cũng đã tuyển dụng một số nhân công không phải nhỏ. Riêng số người làm việc cho các cơ quan và hãng Mỹ là 160.000 năm 1969. Số này chỉ còn vẻn vẹn trên 17.000 vào cuối năm 1973.

Với một tình trạng kinh tế khó khăn như vậy, ở nhiều nước hậu tiến khác là đã có bất ổn chính trị to rồi. Ở miền Nam, đa số nhân dân cứ kiên cường, cắn răng mà chịu. Đó là nhận xét của cơ quan viện trợ USAID 5.

Đi tìm những nguồn viện trợ khác.

Làm sao bớt lệ thuộc? Ngay trước mắt là cần có những nguồn tài chánh để thay thế phần nào cái túi viện trợ và chi tiêu của Mỹ đang dần dần bị thắt lại. Một điều may hiếm có: trong thời chiến, do viện trợ dồi dào, Việt nam cộng hoà không phải đi vay. Trong khi các nước hậu tiến khác nợ nần như chúa chổm, thì mức nợ nước ngoài của Việt nam cộng hoà hầu như không đáng kể. Vì vậy, từ 1973 có thể đi vay Ngân hàng thế giới (Ngân hàng thế giới) và các quốc gia khác.

Gõ cửa Ngân hàng thế giới

Đầu tiên, tôi nghĩ ngay đến Ngân hàng thế giới và cho đây sẽ là nguồn chính. Tài trợ cho tái thiết là mục đích ban đầu của ngân hàng này mà tên thật là Ngân hàng tái thiết và phát triển thế giới (International Bank For Reconstruction and Development, hay LBRD; còn gọi là World Bank). Nó được thành lập sau Thế chiến II để giúp tái thiết các nước, đặc biệt là Âu châu trong khuôn khổ Kế hoạch Marshall. Vào năm 1974 thì Ngân hàng thế giới đã cho các quốc gia hậu tiến vay một lượng tiền lớn.

Miền Nam chưa vay một xu nào dù đã là một thành viên kỳ cựu của Ngân hàng thế giới từ năm 1956; ngoài ra lại có danh chính ngôn thuận: vào thời điểm đó, Miền Nam đang bắt đầu công cuộc tái thiết nền kinh tế bị tàn phá vì một cuộc chiến kéo dài. Việt nam cộng hoà đã cố không vay mượn gì của Ngân hàng thế giới khi còn viện trợ Mỹ, để dành nguồn này cho lúc tái thiết.

Về phương diện cá nhân, tình cảm, lại còn một dữ kiện khác: Chủ tịch Ngân hàng thế giới là người quá quen thuộc với dân quân Miền Nam: đó là cựu Tổng trưởng quốc phòng Robert S. Mcnamara. Người ta nhớ nhiều lần ông hay phát âm trật: “Vit Nam” (Vịt Nằm) thay vì “Việt nam”. Tôi yêu cầu gập ông để bàn về nhu cầu tái thiết và vai trò của Ngân hàng thế giới. Mcnamara không còn dính dáng gì đến Việt nam nữa, nhưng hy vọng ông còn chút ít tình cảm đối với nhân dân Miền Nam. Ông là người có trách nhiệm đem nửa triệu quân Mỹ vào Việt nam và điều khiển việc leo thang chiến tranh. Chính ông là người đã cho trắc nghiệm chương trình khai quang bằng chất hoá học da cam (agent orange) ở Việt nam, gây không biết bao tai hại! Cũng dưới thời này, chiến thắng của quân đội Hoa kỳ được đo lường một cách hết sức máy móc, bằng xác địch quân và những bảng liệt kê vũ khí chiếm được. Sau bao nhiêu sai lầm, ông ngang nhiên bỏ cuộc. Xin làm Chủ tịch Ngân hàng thế giới.

Vì cái dĩ vãng đó, tôi chắc lương tâm ông này còn chút dằn vặt. Gõ cửa Ngân hàng thế giới qua ông thì chắc ăn rồi. Bước vào thang máy trụ sở Ngân hàng thế giới, bấm lầu 12 để lên bàn giấy ông chủ tịch, tôi tính toán trong óc một số dự án tái thiết và hy vọng vào mức độ thông cảm của ông cựu Tổng trưởng quốc phòng Mỹ.

Vừa ngồi xuống nói xong vài câu chào hỏi, Mcnamara bắt đầu ngay: “Thưa ông Tổng trưởng, tôi có thể làm gì để giúp được ông?” Vì nghĩ rằng Mcnamara có thể còn nhạy cảm không muốn nghe tới chiến tranh Việt nam, nên tôi cũng cố tránh và chỉ coi ông như chủ tịch một cơ quan quốc tế mà Việt nam cộng hoà là một thành viên kỳ cựu, để đề nghị vay một ngân khoản như những thành viên khác. Tôi trình bày tóm gọn nhu cầu tái thiết thời “hậu chiến”, và hỏi ý kiến ông về khả năng vay khoảng 50 triệu cho đợt đầu.

Nghe tôi nói xong, ông không đả động gì đến vấn đề kinh tế khó khăn mà Việt nam cộng hoà đang gặp. Chậm rãi ông lại phàn nàn về việc Quốc hội Hoa kỳ không chịu tăng ngân khoản đóng góp cho Ngân hàng thế giới: “Tôi muốn giúp “nước ông” lắm chứ, nhưng nếu Quốc hội không chấp thuận ngân khoản cho Hiệp hội phát triển quốc tế (IDA) thì tôi cũng đành chịu bó tay”. IDA là một cơ quan của Ngân hàng thế giới giúp các nước nghèo. Tôi nhắc ông rằng Việt nam cộng hoà là một trong những thành viên kỳ cựu nhất của Ngân hàng thế giới và chưa hề vay mượn đồng nào của cơ quan này trong gần 20 năm qua.

Tiếp tục trình bày, tôi còn tránh không nói tới việc xây dựng lại hạ tầng cơ sở bị tàn phá bởi chiến tranh và chỉ nói tới nhu cầu phát triển canh nông của Miền Nam. “Vâng, vấn đề canh nông bao giờ cũng hấp dẫn đối với tôi”. Mcnamara trả lời, ngân hàng đang có một vài dự án quan trọng về gạo Thần Nông”. Nói xong, ông đứng dậy đi tới bàn giấy của ông, lấy một hộp pha lê đựng gạo mẫu thần nông rồi đưa cho tôi xem. “Thưa ông, hiện nay, Việt nam cộng hoà là quốc gia duy nhất trên thế giới cần đến chương trình tái thiết thời hậu chiến”, tôi cứ tiếp tục đầu đề chính của buổi họp. Mcnamara lại quay về câu chuyện “Thần Nông” và nói tới tiềm năng phong phú ở miền Nam. “Chúng tôi đang cho trắc nghiệm phát triển loại lúa này, đây là lúa Thần Nông IR-3”. Ông không nhìn tôi nữa mà cứ nhìn vào hộp gạo, bình luận về năng suất cao của gạo thần nông, điều kiện kỹ thuật trong việc trồng cấy và nông dân miền Đồng Bằng Cửu Long chắc sẽ thu hoạch được lợi tức cao nếu trồng được nhiều loại lúa này. Đến đây thì tôi đã thấy rõ thái độ của ông này rồi. “Cám ơn ông Chủ tịch, tôi đã nhìn thấy cả loại IR-8 rồi, còn tốt hơn IR-3”. Thấy tôi không chú ý tới đề tài của mình nữa, ông ngừng và mời tôi uống ly cà phê để sẵn trên bàn. “Cám ơn ông chủ tịch, tôi nghĩ trước hết chúng tôi còn phải giải quyết vấn đề “hoá học da cam” (agent orange) trước khi có thể mở rộng diện tích canh tác lúa thần nông”, tôi đứng dậy, chào ông và ra về. Xuống cầu thang máy, tôi thật chán nản, không hiểu tại sao Mcnamara lại có thể “thờ ơ, lãnh đạm đến thế”? Lúc này, chắc ông muốn quên hẳn Việt nam đi và chỉ muốn dồn tiền bạc của Ngân hàng thế giới vào những nước mà Mỹ đang còn o bế như Trung Cộng, Ấn Độ, Pakistan. Sau này tôi mới biết là dưới thời Tổng thống Johnson, ông đã hăng say về chiến tranh Việt nam để chiều ý Tổng thống, với hy vọng được lên chức chủ tịch Ngân hàng thế giới (xem Chương I).

Nhìn về Paris

Sau Ngân hàng thế giới, Miền Nam nhìn vào nước “Bảo hộ” cũ, cố hàn gắn mối giây liên lạc ngoại giao giữa hai nước đã bị sứt mẻ từ năm 1966. Pháp gửi ông Jean Marie Mérillon tới Sài gòn nhận chức Đại sứ sau bảy năm cắt quãng. Ngoài ra để bày tỏ thiện chí và đánh dấu mối bang giao mới giữa hai nước, Pháp đề nghị cho Việt nam cộng hoà vay một số tiền dài hạn với lãi suất thấp. Để tượng trưng cho một hình ảnh mới, Chính phủ gửi một phái đoàn gồm toàn chuyên gia thượng hạng lại trẻ trung, sang Pháp, trong đó có Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê Văn Phúc và một số anh em khác xuất thân từ các đại học lớn ngoại quốc, đày đủ kiến thức để thương thuyết với các quan chức cao cấp Pháp. Phái đoàn do tác giả hướng dẫn.

Tại Paris, chỉ sau một ngày làm việc đã nhận ra là thể thức viện trợ Pháp không có đơn giản. Tuy nói là Chính phủ cho vay dài hạn và với lãi suất ưu đãi, nhưng luật lệ lại đòi là mỗi một đồng quan (franc) viện trợ của Chính phủ phải kèm theo một đồng quan của ngân hàng tư, do Hiệp Hội Ngân hàng COFACE điều hành. Mới nghe thì thấy có vẻ hợp lý vì có sự tham gia của lãnh vực tư. Nhưng có bắt tay vào việc mới thấy đây là một trở ngại lớn cho quốc gia nhận viện trợ. Trở ngại đó là: tiền của Chính phủ Pháp thì cho vay dài hạn và lãi suất thấp, nhưng tiền của các ngân hàng tư thì lại ngắn hạn và lãi suất cao. Tính ra thì “phần tặng dữ” hay cho không (grant element) rất thấp.

Cho nên xét cho kỹ thì mô hình này không hấp dẫn như ta tưởng. Ngoài ra, còn một điều kiện khác nữa: quốc gia nhận viện trợ phải mua hàng của Pháp. Bởi vậy, trong thực tế, chính mấy ông chủ ngân hàng tư mới là người chấp hành viện trợ. Theo nguyên tắc, họ đã có một nửa quyền quyết định rồi, chỉ cần sắp xếp với Chính phủ của họ và xoay xở chút đỉnh “cà phê, cà pháo” với phía nhận viện trợ, bằng cách này hay cách khác, thế là xong rồi. Số tiền Pháp cho Việt nam cộng hoà vay sau cùng là 130 triệu quan Pháp (khoảng 26 triệu đô la). Lúc thi hành, bộ Kế hoạch muốn dùng khoản tiền này vào chương trình canh nông, chế biến, để giải quyết thất nghiệp. Đặc biệt là các công trình nạo vét kênh rạch sình lầy như khu Thị Nghè, cầu Công Lý, hồ nước Than Thở Đà lạt. Thế nhưng, phía Pháp lại cứ áp lực mua máy nhiệt điện, hệ thống phát sóng tối tân cho đài truyền hình, điện thoại, xe đạp Peugeot. Miền Nam còn biết bao nhiêu ưu tiên khác, một miếng khi đói bằng gói khi no, đồng tiền quý giá, làm sao mà lại nhập truyền hình, điện thoại được? Vì phía Việt nam không đồng ý, nên viện trợ bị khứng lại. Thế là Đại sứ Merillon vào đặt ngay vấn đề với Tổng thống là nếu viện trợ có sẵn còn không thi hành được thì làm sao nói đến viện trợ năm tới?. “Anh liệu dàn xếp xúc tiến mọi việc cho ổn thoả; lúc này mình đang cần từng đồng xu”, ông Thiệu gọi tôi vào dặn.

Nước giàu có Á Châu

Sau Pháp là Nhật. Tuy thể thức cho vay của Nhật bớt chặt chẽ hơn, và là cho vay dài hạn, nhẹ lãi, nhưng Nhật cũng đòi phải mua hàng hoá của Nhật. Họ muốn dùng một phần tiền viện trợ để giúp “nhập cảng thương mại”, nói trắng ra là gồm cả các loại hàng không cần thiết. Sài gòn đã có cái biệt hiệu báo chí ngoại quốc gọi là Hondaville, bây giờ chắc phải nhập thêm đồ phụ tùng cho xe Honda. Trong một bữa chiêu đãi tại Tokyo, quan chức bộ Ngoại giao, Tài Chánh còn nói tới thuỷ điện Đa Nhim, cần được làm lớn lên. Khi tôi trình bày là tình hình an ninh chưa cho phép vì dây dẫn điện bị cắt luôn luôn, họ bác đi ngay. “Nếu bây giờ xăng nhớt đắt, máy nhiệt điện làm sao đủ nhiên liệu mà phát điện? Vậy các anh phải đặt ưu tiên cho thuỷ điện. Và nếu cho ưu tiên rồi thì việc tăng an ninh cho tuyến tải điện phải được giải quyết”.

Các nguồn viện trợ song phương khác

Viện trợ của các nước khác cũng chỉ nhỏ giọt, dăm ba triệu đô la và hướng về viện trợ nhân đạo như y tế, giáo dục. Trong các nguồn này, chỉ có triển vọng sẽ vay được của hai quốc gia một số tiền tương đối lớn: đó là nguồn cho vay từ Iran và Saudi Arabia. Nguồn tài chính từ Saudi Arabia hết sức đặc biệt và sẽ được đề cập tới ở cuối chương này (và Chương 12). Nguồn từ Iran khoảng 100 triệu là do Quốc vương Shah đề nghị giúp đỡ. Iran có thể cho Việt nam cộng hoà vay ngay khoản tiền để yểm trợ nhập cảng hàng hoá. Chính phủ Iran cho biết là nếu Việt nam cộng hoà không có khả năng hoàn trả bằng tiền bạc thì có thể trả bằng sản phẩm, thí dụ như rau cỏ, hoa quả Đà Lạt. Phía Việt nam cứ đi thu mua, rửa sạch, đóng vào giỏ tre, giỏ mây, sẽ có máy bay vận tải bay thẳng từ Teheran, Iran sang Đà Lạt hằng tuần để chở về. Sân bay Liên Chương ở Đà Lạt sẽ được sửa chữa lại. Kế toán sổ sách theo giá quốc tế, không có vấn đề gì. Đây là một sáng kiến rất tốt, nhưng nó đòi thời gian để tổ chức, phát triển sản xuất, thu mua, nới rộng sân bay, không thể thi hành ngày một ngày hai được.

Cũng vẫn chỉ có Mỹ

Xoay mấy thì xoay, đi vay đã là khó khăn. Có vay được lại khó nuốt. Như vậy, ngay trước mắt, cũng vẫn chỉ còn trông nhờ viện trợ Mỹ. Nhưng lúc trông mong nhất lại là lúc ít hy vọng nhất: Quốc hội Hoa kỳ đã thắt cái túi tiền nhập cảng lại gần chật rồi: ngân sách viện trợ nhập cảng CIP cho Miền Nam tài khoá 1975/76 chỉ vỏn vẹn 145 triệu! Và đây cũng chỉ là con số danh nghĩa. Nếu điều chỉnh theo lạm phát mà tính ra mãi lực thật của nó thì là dưới 70 triệu. Đồng thời, viện trợ thực phẩm bị cắt từ 165 triệu tài khoá 1971/72, xuống 46 triệu, chỉ còn một phần tư.

Đến mức này thì coi như cạn kiệt. Bầu không khí mỗi khi họp hành để bàn định về kinh tế sao nó u buồn thế. Nhưng lo thì để trong lòng. Vào thời điểm đó, chớ có đem những tin tức chi tiết về viện trợ kinh tế ra mà công bố. Những số liệu so sánh như trên đây phải được giữ kín. Đang lúc mọi người lo ngại về tình hình quân viện, nếu lại phổ biến tình hình đen tối về kinh viện, chắc chắn là quân, dân còn hoang mang hơn nữa.

Tia sáng phụt tắt

Sau cùng, vào cuối năm 1974, một tia sáng loé lên. Có ông vua dầu lửa người xứ Arabia chiếu cố đến Miền Nam. Vua Sau al Faisal cho biết ông có rất nhiều thiện cảm với nhân dân Miền Nam và đã bí mật đồng ý trên nguyên tắc cho Miền Nam vay một số tiền mấy trăm triệu đô la.

Thật là cơ hội quý báu. Đang lúc nguy kịch lại có nhà hảo tâm đến cứu. Vua Faisal bằng lòng cho vay dài hạn, lãi suất nhẹ. Khi nào Miền Nam đào lên được dầu lửa thì mới phải trả. Điều kiện viện trợ nhẹ nhàng, thủ tục thi hành đơn giản. Ký xong là có tiền ngay (hay cho vay bằng dầu lửa). Bao nhiêu hy vọng tràn trề. Họp lên họp xuống, nhất thiết là phải thực hiện ngay kế hoạch này để tới 1975/76 còn giữ được một phần lượng nhập cảng những hàng thiết yếu. Đặc biệt là dầu, xăng, thực phẩm, thuốc men, và phân bón. Nếu quá thiếu những sản phẩm này thì chắc chắn sẽ có khủng hoảng lớn.

Nhưng đúng là “hoạ vô đơn chí”. Những cái rủi ro nó bay theo nhau mà đến. Đang lúc sửa soạn đàm phán chi tiết với Chính phủ Saudi để sớm có giải ngân thì đùng một cái, vua Faisal bị chính cháu mình sát hại.

Chính phủ Miền Nam chưng hửng, Tổng thống Thiệu gửi điện chia buồn cùng Hoàng gia, nói tới nghĩa cử cao đẹp của Ngài Faisal, cầu xin cho Allah sớm đưa Ngài về nơi cực lạc. Vì tình cảm cao đẹp ấy, Việt nam cộng hoà yêu cầu Hoàng gia tiếp tục thực hiện công cuộc yểm trợ Miền Nam như Ngài đã hứa.

Thế nhưng, trong lúc tang gia bối rối, tình hình quốc nội xáo trộn, Hoàng gia Saudi đâu còn thời giờ hay tinh thần mà để ý đến chuyện nước khác.

Vua Faisal đã nằm xuống ngày 25 tháng Ba 1975, vào đúng ngày quân lực Cộng hoà rút lui khỏi cố đô Hoàng Triều Huế.

——————————–

1          Richard Nixon, Memoiry, trang 984-985.

2          Richard Nixon, Memoiry, trang 984-985.

3          Henry Kissinger, Years of Upheaval, trang 328.

4          Số liệu; VNCH, Bộ kế hoạch, 1974-75.

5          Tài liệu nội bộ, USAID.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2025

21. Huy Phương.

Huy Phương tốt nghiệp sư phạm. Trước 75 ông dạy học. Động viên khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị, tu nghiệp Báo Chí tại Hoa Kỳ rồi về làm việc tại Phòng Báo Chí và Đài Phàt Thanh Quân Đội. Huy Phương bắt đầu viết từ năm 1953.

Nước Mỹ Lạnh Lùng [Tạp Ghi] là tác phẩm thứ ba của ông được xuất bản sau hai cuốn Mắt Đêm Dài [Thơ] và Mây Trắng Đồn Xa [Truyện Ngắn].

Tạp ghi là một thể văn mới được các nhà văn, nhà báo của chúng ta xử dụng nhiều trong thập niên 60-70. Thường, đó là những đoản văn, người viết có thể bàn về bất cứ đề tài gì, văn chương, thời sự, ngẫu hứng, phê bình, chỉ trích, những truyện ngắn không cần có cốt truyện, vài ba câu thơ v.v …

Về phần Huy Phương, ông tự định nghĩa tạp ghi là “lối văn dùng để ghi nhận những vấn đề sát với cuộc đời thường chung quanh ta, giản dị, không đặt nặng phần văn chương hay hư cấu hay sáng tác”.

Viết lời giới thiệu cho cuốn sách, nhà văn Bùi Bích Hà thêm rằng:

“Có thể nói, nhà văn viết tạp ghi không làm cái công việc tường thuật khô cứng của người phóng viên báo chí bên lề sự kiện, cũng không làm cái công việc sáng tác tỉnh táo của nhà đaọ diễn phim kịch, đứng ngoài nhìn vào tác phẩm, dùng tài năng sắp xếp, biện luận, những cảnh ngộ họ mô tả, mà họ sống, thở, lăn lộn và vùng vẫy trong những cảnh ngộ ấy, mỗi con chữ là một mảnh thịt da bị thương tích, bầm rập, sưng tấy, bóc ra nóng hổi, rớm máu ..: Cho nên không lạ khi thấy độc giả ngày nay thích đọc tạp ghi hơn tiểu thuyết vì đây đó, chỗ này chỗ kia trong tạp ghi, người đọc tìm thấy chính họ, bạn bè, người quen và những tình huống, trong đó, mọi người phải đối mặt từng ngày”.

Huy Phương viết về nhiều đề tài: Giã Ơn Cái Cối Cái Chày, Tình Đời Và Cái Xương Cụt, Câu Chuyện Cô Bé Quàng Khăn Đỏ, Một Nơi Để Về, Nước Mỹ Lạnh Lùng. Qua văn chương người ta có thể hình dung ông là một người trầm tĩnh, hóm hỉnh. Ông có giọng kể chuyện, dù trong hoàn cảnh nào, không bao giờ tỏ ra sôi nổi hơn hay chậm rãi hơn, đều đều, bình thường, nhưng đằng sau mỗi chữ, mỗi tiếng ông dùng, hình như đều có dấu một nụ cười, một giọt nước mắt. Và, chính điều đó làm nên sự hấp dẫn

trong các trang sách của Huy Phương. Xin trích dẫn sau đây một đoạn trong đoản văn Tình Đời Và Cái Xương Cụt của ông làm thí dụ:

“Bây giờ bạn đang ngồi xe hơi mỗi ngày một hai tiếng đến sở làm và về, bây giờ đang ngồi văn phòng ngày tám tiếng, bạn thuộc loại ‘white collar’, ngồi nhiều, đứng ít, thì cái xương cụt của bạn nó không dám thòi ra. Điều đó cũng dễ hiểu vì bạn mài cái đũng quần trên ghế quá nhiều, cái xương cụt không dám phát triển một ly nào.

Tôi cũng vậy. Ngày rời trại tập trung cải tạo trở về nhà, lần đầu tiên ngồi trên cái xe đạp để đi thăm xem phố phường ra sao, tôi cảm thấy thốn đau ở đầu xương cụt. Thì ra trong bao nhiêu năm đi đày, ngồi ít, đứng nằm nhiều, cái xương cụt của tôi nó đã lẳng lặng dài ra lúc nào không hay. Có những điều bất chợt mình thấy nó, như khi chưa tàn cuộc chiến, tôi chưa bao giờ thấy những cái dốc của đường phố Sài Gòn. Sau khi xếp nhung y, đi trên chiếc xe đạp, vào những ngày đầu cộng sản chiếm Sài Gòn, tôi mới thực tế thấy những cái dốc của đường phố Sài Gòn quá cao, vượt qua nó chúng ta phải đổ mồ hôi. Những người sung sướng chưa bao giờ biết đường Sài Gòn có dốc, rất ít hiểu được nỗi khổ của những người khác”.

Trần Kiêm Đoàn cho rằng, Huy Phương đã để cho ngòi bút của mình “chạy bao sân”. Mỗi đề tài viết ra là một mảnh của cuộc đời cụ thể, gần gũi và sinh động, thông qua cảm xúc khi buồn, khi vui, hay vui buồn lẫn lộn của tác giả. Từ chuyện nhỏ như điếu thuốc, bát cơm đến chuyện lớn của con người như quê hương, và thế giới, một khi tác giả đã ghé mắt vào thì tất cả đều hiện ra một dáng vẻ riêng thông qua lăng kính của người có kinh nghiệm sống và vốn kiến thức phong phú từ thực tế như nhận định của André Maurois:

“Sống thực là nỗi bất hạnh của người tù, là nguồn hạnh phúc của của những người đang yêu thương và pho kinh điển vô tận cho những người cầm bút”.

Đây là Nước Mỹ Lạnh Lùng qua cách nhìn của Huy Phương:

“Ở đất Mỹ này, những chiều và tối trong những ngày ‘weekdays’ mà được một cú điện thoại ‘long distance’ của bạn bè, bà con hỏi thăm sức khỏe thì quả là chuyện hiếm có, lạ lùng. Nó chỉ có thể xẩy ra trong hai ngày đêm cuối tuần, vừa rảnh cho người gọi lẫn người nghe, vừa tiết kiệm được mấy cắc bạc. Gọi vớ vẩn không đúng lúc chỉ được máy nói ‘answering machine’ chứ không nghe được tiếng người. Riêng về mặt ‘bills’ của Mỹ, không bao giờ xung phong lẻ tẻ, mà nó đánh biển người. Bill điện, bill gas, bill điện thoại, bill nhà, bill bảo hiểm, bill xe, bill credit card, bill nhà trả hàng tháng hoặc đồ mua trả góp. Dân Mỹ, kể cả những anh tạm trú như tôi, đều là những anh tù chung thân. Chưa bao giờ tiếng chung thân lại đúng và đầy ý nghĩa như vậy. Chết rồi mà nợ chưa trả hết thì con cháu lại phải nai lưng ra mà trả. Không trả thì nhà không phải là nhà của ta, xe không phải là xe của ta và cố nhiên vợ không phải vợ ta. Còn con thì sau 18 năm nuôi dưỡng, chẳng còn là con của ta mà con của Đảng Dân Chủ – Cộng Hòa … Nói hào hùng như kiểu Phạm Duy ‘đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây, ruộng ta ta cứ cày … ‘ là nói chuyện lâu rồi, chuyện tiền chiến ấy mà”.

Dĩ nhiên trong những điều Huy Phương viết ra đó, có phần cường điệu, thêm thắt, nhưng không phải không có phần sự thật.

Và tất cả những người Việt hiện sống trên đất Mỹ đang chia sẻ cái phần sự thật ấy.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 25 Aug 2025

20. Huy Cận.

Sau cái chết của Huy Cận, những nhà thơ cùng thời với ông, và cả những văn nghệ sĩ thường được gọi chung là tiền chiến, còn lại những ai? Thêm bà Anh Thơ vừa mất nữa có thể coi đấy như những chiếc lá cuối cùng rời bỏ cái tàn cây mùa đông đã khô héo: chấm dứt một mùa thơ. Một mùa thơ huy hoàng trong lịch sử thi ca của chúng ta. Bởi vì, cùng một lúc, trên thi đàn Việt Nam xuất hiện bao nhiêu tài năng lớn, mỗi người đủ lớn để tạo ra một thế giới thơ của riêng mình. Nhớ lại, năm 1940, khi tập Lửa Thiêng, tác phẩm đầu tay của Huy Cận được in ra, Hoài Chân – Hoài Thanh đã không tiếc những lời khen ngợi:

“Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường thi nhân lại có thể đúc kết thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được”.

Người Pháp coi thơ Paul Claudel như một hạt kim cương. Cứ như cách nói của Hoài Thanh – Hoài Chân, thì cũng có thể coi thơ Huy Cận là một kho tàng châu ngọc. Thời tiền chiến nói chung, tuy chúng ta có rất nhiều thi sĩ, nhưng hễ cứ nhắc tới thơ tiền chiến, người ta luôn luôn nhớ ngay tới Huy Cận và Xuân Diệu.

Vì sao?

Không phải vì Huy Cận và Xuân Diệu là những đỉnh  cao nhất. Nhưng dường như vì họ, một người là biểu tượng cho nỗi buồn Đông phương trầm mặc vẫn còn chiếm hết một nửa tâm hồn mọi người [Huy Cận] và một người làm choáng váng tâm hồn mọi người vì những cái mới lạ vừa nhập được từ Tây Phương như ngọn đèn điện sáng choang chiếu vào cái nửa âm u trầm mặc ấy [Xuân Diệu].

Đêm mưa làm nhớ không gian

Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la

Tai nương nước giọt mái nhà

Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn

Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi

[Huy Cận]

Hôm nay trời nhẹ dâng cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Lá hồng rơi nhẹ ngõ thuôn

Sương trinh buông kín từ nguồn yêu thương

Phất phơ hồn của bông hường

Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng

[Xuân Diệu]

Khép lại Lửa Thiêng, Thơ Thơ độc giả lại có thể nhập vào những thế giới khác của những: Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương, Hồ Dzếnh, Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Nguyễn Nhược Pháp, Chế Lan Viên, Huyền Kiêu, Trần Huyền Trân và nhất là Thâm Tâm.

Cái mới của Thâm Tâm không có vẻ gì Tây phương cả nhưng vẫn làm người ta sửng sốt, thích thú. Trong khi thơ của những người khác trau chuốt, mượt mà, một mình Thâm Tâm gồ ghề, trúc trắc, cái trúc trắc chỉ có những tài năng lớn mới có được:

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng

Dáng chiếu không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

Người đi ừ nhỉ người đi thật

Mẹ thà coi như chiếc lá bay

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say

Thơ của họ hợp lại làm nên một trời thơ. Cái trời thơ ấy thấm nhập và làm nên một phần tâm hồn vài ba thế hệ người Việt Nam. Khi chiến tranh xẩy ra, con người chia phe này phe khác, cái tình yêu thơ, từ đó yêu cả người làm thơ, đối với một số độc giả, đã trở thành một nỗi tổn thương, trở thành vết rạn nứt trong tâm hồn. Đối với người miền Nam, sinh trưởng ở miền Nam hay từ Bắc di cư vào sau hiệp đinh Geneve 1954, thì chỉ riêng cái việc, các nhà thơ ở lại miền Bắc không còn làm thơ như trước nữa đủ là một nỗi đau. Thơ của họ đã khác hẳn. Họ làm thơ không phải vì thơ nữa mà vì những mục đích khác. Những gì họ viết ra trước đây, họ chính thức công khai từ bỏ, coi đó như những lỗi lầm. Ở miền Nam khi ấy, người ta lấy đó làm một điều đáng tiếc nên đã cố gắng sưu tầm, giữ lại những thứ bị vứt đi đó, tự huyễn hoặc bằng cách nghĩ rằng, làm như thế là để “bảo vệ văn hóa”.

Chỉ đến khi Xuân Diệu, viết rõ ràng trên báo, bảo những kẻ làm cái công việc ấy là: “Chúng gội vào cái thứ nước người ta tống ra đó và lấy làm thơm lắm”, người ta mới bật ngửa, không hiểu tại sao một tác giả, lại có thể dùng

những lời lẽ nặng nề, tục tĩu đến như thế để nhục mạ những người yêu thơ của mình và của những người đồng thời với mình.

Nhất là, sau đấy, khi được phép, họ, không một ai lại không vội vàng nhận lại tất cả những gì mình đã công khai từ chối, chính mình lại gội lại thứ nuớc mình tống ra đó! Tuổi trẻ mới lớn lên, thấy người trước ăn ở như thế, cư xử như thế, không biết họ nghĩ sao về những bực tiền bối, có khi sau này họ còn phải học trong các chương trình giáo khoa nữa?

Cái chết của Xuân Diệu, của Huy Cận, liệu có trả lại cho người đọc sự thưởng ngoạn tinh khiết đối với thơ của họ?

Phải mất bao nhiêu thời gian? Thơ Xuân Diệu, thơ Huy Cận in dấu trong lòng những người còn sống đây và những thế hệ mai sau liệu có gì khác

chăng?

Khi đồng minh tháo chạy

vietmessenger.com

Nguyễn Tiến Hưng

Post by Sơn râu 24 Aug 2025

Chương 6

Cú sốc mùa Thu

Em không nghe mùa thu,

Lá thu kêu xào xạc,

Con nai vàng ngơ ngác,

Đạp trên lá vàng khô?

(“Tiếng thu” – Lưu Trọng Lư)

Mùa thu là mùa êm đềm, lãng mạn. Nó gây cảm hứng cho biết bao nhiêu thi sĩ, nhạc sĩ, giúp họ sáng tác nên những vần thơ, ca khúc bất hủ, vượt thời gian. Cuối hè vào thu năm 1973, tình hình kinh tế, quân sự tại miền Nam có bề tiến bộ. Tình hình tương đối lắng dịu. Ảnh hưởng cuộc tấn công mùa hè đỏ lửa coi như đã khắc phục được, công việc tái định cư đoàn người di tản từ vĩ tuyến đang tiến hành khả quan, tình trạng thoái trào kinh tế của năm 1972 có chiều hướng kết thúc. Nền kinh tế đang bắt đầu có những bước đi trên đường tiến tới tự túc tự cường. Chỉ tiêu quan trọng nhất là thóc gạo: sản xuất đã tới mức gần bảy triệu tấn, cao hơn mức 1966 tới 63%. Xuất cảng bắt đầu vươn lên, và ngân sách bắt đầu tăng nguồn thu nội địa. Bước sang thu, Miền Nam thấy có chút ánh sáng cuối đường hầm. Đùng một cái, chiến tranh Do Thái- Ả Rập đột nhiên bùng nổ. Chẳng khác gì một trận động đất lớn tới 8 độ Richter, sức rung chuyển của nó dữ dội. Nhưng Do-thái- Ả Rập ở xa Việt nam bao nhiêu ngàn dậm, đâu có vấn đề gì?Ấy thế mà độ rung của nó lại thành ra cú “sốc” dữ dội, làm xiêu nhà đổ cửa, tan hoang điêu tàn.

Trận chiến Trung Đông

Ngày mồng sáu tháng 10, có tin giao tranh lớn tại Miền Trung Đông. Thoạt đầu ai cũng cho là chuyện không quan trọng. Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, mấy anh em cùng một Tổ Phụ Abraham mà có thương yêu gì nhau đâu. Ngược lại còn xung khắc hết đời này sang đời khác. Chỉ khổ cho dân vô tội, nạn nhân của những cuộc tranh chấp. Sáu năm trước đó, vào tháng Sáu, 1967 cũng đã có trận lớn: Do Thái lấn chiếm vùng đất Sinai, Cao nguyên Golan (Golan Heights) để dạy cho Ai Cập một bài học. Nhưng trong trận này, ngoài khối Ả Rập, ít xứ khác bị ảnh hưởng vì cuộc chiến. Kể từ năm đó, quân đội Do Thái được tân trang, ngày một lớn mạnh, lại có Mỹ đứng sau. Do Thái bắt đầu ỷ y: khối A Rập đâu có dám gây hấn lớn nữa.

Thế nhưng, sự việc bất ngờ đã xảy ra. Vào ngày Yum Kippur, mồng sáu tháng 10, năm 1973, khối A Rập bất chợt tấn công. Yum Kippur là ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người Do Thái, ngày Lễ Đền Tội “Atonement”, một ngày để ăn chay, suy ngẫm, cầu nguyện. Ngày đó, giống như Lễ Tro Lửa đạo Công giáo, là ngày nhắc nhở cho con người rằng mình chỉ là cát bụi và cũng sẽ trở về với cát bụi. Đúng giờ dân Do Thái đang cầu kinh, suy gẫm thì quân đội Ai Cập và Syria đồng loạt khai chiến. Từ phía Tây, Ai cập qua nhiều ngả, tràn sang kênh Suez, theo dọc từ Port Sait ven bờ Địa Trung Hải xuống tới vùng Vịnh, đánh vào miền Sinai (đất Do Thái chiếm năm 1967). Về phía Tây Bắc, quân đội Syria đánh bọc qua vùng phi quân sự, tiến vào Cao nguyên Golan (cũng là đất chiếm 1967)

1. Dù đã có tình báo từ hè 1973 là khối A Rập chuyển quân về biên giới, Do Thái và Mỹ cứ tưởng là họ chỉ thao diễn tập dượt. Yếu tố bất ngờ làm Do Thái lúng túng ngày đầu khi Ai Cập lập được một phòng tuyến vào sâu trên năm dậm và Syria vào tới vùng Cao nguyên Golan.

2. Từ ngày thứ hai thì Do Thái bắt đầu phản công. Nhưng lần này khác với trận 1967: Ai Cập có hoả tiễn phòng không SAM do Nga Xô viện trợ. Trận chiến vừa bắt đầu thì có ngay cầu không vận tiếp tế cho Ai Cập và Syria. Chỉ trong một ngày, Do Thái thiệt 35 máy bay oanh tạc cỡ nặng và sau ba ngày, số tử thương đã lên tới 1.000 người trong khi cả cuộc chiến 1967 chỉ mất 700 mạng. Lực lượng thiết giáp tiêu hao mất gần một phần ba

3. Do Thái cầu cứu Đồng minh.

Tiện đây, để so sánh với trường hợp Việt nam cộng hoà yêu cầu Mỹ lúc lâm nguy vào mùa Xuân 1975, ta thử nhìn qua lịch sử xem Mỹ đã hành động như thế nào khi Do Thái bị tấn công.

Trước những thất bại không ngờ, bà Golda Meir, Thủ tướng Do Thái, vội vàng cầu cứu Hoa kỳ. Và Washington phản ứng ngay tức khắc. Tổng thống Nixon liền ra lệnh thay thế toàn bộ tổn thất cho Do Thái, và còn hơn thế nữa. Vào lúc đó, Nixon đang mất ăn mất ngủ về vụ Watergate, thế mà sao Hoa kỳ vẫn có thể hăng hái can thiệp? Đó là vì tuy bản thân ông Nixon đang bối rối nhưng đằng sau ông đã có Tổng trưởng ngoại giao kiêm Cố vấn an ninh rất tỉnh táo và vững mạnh

4. Ông Kissinger này lại vừa được giải thưởng Nobel Hoà Bình vì những thành quả ở Việt nam. Ngay trước mắt, Hoa kỳ dứt khoát phải chuyển vận thật gấp đạn dược sang cho Do Thái Thoạt đầu bên Ngũ Giác Đài còn ngần ngừ, định chỉ gửi có ba máy bay C-5A chở đạn sang cho quân đội Do Thái thôi. Tổng trưởng quốc phòng James Schlesinger không lấy gì làm hăng say, còn hững hờ là khác. Ông e ngại hậu quả không hay cho Mỹ vì chắc chắn khối A Rập-xô Viết sẽ trả đũa cách này cách khác để dạy cho Mỹ một bài học. Kissinger liền vào “méc” với Nixon về thái độ lừng chừng của Schlesinger. Nixon gởi liền cho ông này và chỉ thị lập cầu không vận ngay lập tức dể tiếp liệu cho Do Thái. “Tôi sẽ chấp nhận tất cả hậu quả, dù khối A rập có tuyệt giao và cắt cả nguồn cung cấp dầu lửa cho Mỹ đi nữa”, Nixon trấn an Schlesinger 5.

Chỉ thị của Nixon là nếu không thuê đủ máy bay vận tải dân sự thì cứ dùng máy bay quân sự: “Làm cách nào thì làm, nhưng phải cho máy bay cất cánh, và ngay bây giờ”.

Schlesinger lo ngại là nếu dùng máy bay quân sự thì có thể bị chỉ trích là nhảy vào vòng chiến. Dù có chỉ thị Tổng thống, bên Quốc phòng lại xoay con đường khác, đó là chỉ bàn cãi về việc phải dùng máy bay quân sự loại nào để chuyển vận.

Được biết chuyện này, Kissinger lại vào rỉ tai ông Nixon.

“Khốn kiếp” (Goddamn it), Nixon chửi thề, “hãy dùng bất cứ loại nào chúng ta có. Nói với họ là hãy gửi bất cứ cái gì có thể bay”.

Hoa kỳ tiếp cứu

Thế là hồi ba giờ ngày 13 tháng 10, cầu không vận Mỹ-Do Thái bắt đầu: đủ loại phi cơ chuyên chở được sử dụng: C5-A, C-130, C-141. Mỗi ngày có tới 20 chuyến bay chở 1.000 tấn viện dược, quân cụ. Trong vòng mấy tuần, có tới 550 chuyến bay, một cuộc tiếp liệu còn lớn hơn cả cầu không vận Berlin trong thời gian 1948-69.

6. Như vậy, Hoa kỳ đã thật hăng hái trong việc tiếp cứu Đồng minh Do Thái, dù rằng việc đó bị chỉ trích là gián tiếp dính líu tới chiến tranh. Nên nhớ lại là vào thời điểm đó, vụ Watergate đang bốc hoả như núi phun lửa, và chính Tổng thống Nixon đang bị điều tra. Quyền lực của Tổng thống đã xuống rất thấp.

Lúc đó đạo luật giới hạn “Quyền chiến tranh” của Tổng thống (War Power Act) lại đang được tranh luận sôi nổi và cuối cùng đã được thông qua vào ngày 7 tháng 11. Thế mà, Đồng minh Hoa kỳ của Do Thái thật là chung tình. Lúc có rối loạn, dù khó khăn cách mấy cũng cứ nhào vào cứu.

Với phương tiện ồ ạt, mau lẹ, Do Thái lên tinh thần và khởi thế công kịp thời. Chỉ hơn ba tuần sau khi chiến tranh bắt đầu, khối Ả Rập đã phải ký Hiệp định Ngưng Chiến.

Nhưng ngưng thì cứ ngưng, chứ hậu quả của chiến tranh vùng Vịnh lại chỉ mới bắt đầu.

Cú sốc nặng nhất lại rơi ngay Miền Nam

Khối A Rập lập tức trả đũa mạnh mẽ. Tổ Chức các Quốc gia xuất Cảng Dầu Lửa OPEC bỏ phiếu giảm hẳn mức sản xuất dầu thô cung cấp cho thế giới. Thế là giá xăng nhớt trên thị trường quốc tế bỗng nhảy vọt. Một thùng dầu thô đang từ 12 đô la, tăng gấp bốn. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết. Các quốc gia khác, nhất là những nước hậu tiến đều phải gánh chịu hậu quả lớn lao. Bao nhiêu “Kế hoạch ngũ niên” phải vứt sọt rác. Vật giá leo thang, lạm phát lan tràn khắp nơi thì các nền kinh tế ngoài khối sản xuất dầu lửa đều bị ảnh hưởng lớn. Những thị trường không bị ảnh hưởng tức thời của giá dầu lửa là ở những nước có quan hệ với Nga Xô, kể cả Bắc Việt. Họ không bị khan hiếm vì Nga Xô vẫn chở sang lượng dầu như được ấn định hằng năm. Và vì phần lớn là dầu viện trợ nên nền kinh tế của họ ít bị ảnh hưởng vì khủng hoảng

Còn Miền Nam thì ngược lại, chịu cú “sốc” nặng nề, tương đối là nặng nhất thế giới. Không có nước nào bị thiệt thòi như Miền Nam. Thật khó hiểu. Tại sao lại như vậy?

Tại Bộ Kế hoạch năm đó, chúng tôi đã phân tích tình huống này hết sức rõ ràng. Có ba lý do chính được tóm tắt vắn gọn như sau:

thứ nhất: nền kinh tế Miền Nam lệ thuộc quá nhiều vào việc nhập cảng một số sản phẩm thuộc vào loại bị ảnh hưởng tăng giá nhiều nhất như xăng, nhớt, dầu khí, dầu diesel, gạo, phân bón, đường, xi măng, sắt thép, máy móc, thiết bị. Mấy mặt hàng này trung bình tăng giá 80%. Chúng lại là những hàng chiếm tới gần 40% tổng số nhập cảng của Việt nam;

thứ hai: các nước khác tuy phải mua xăng nhớt đắt trên thị trường quốc tế, nhưng còn có thể gỡ được phần nào khi chính họ xuất cảng vì giá hàng của họ cũng tăng lên theo. Còn ta thì lại khác. Đặc thù của mậu dịch Miền Nam lúc đó là nhập cảng gấp hơn nhiều lần xuất cảng. Trong suốt thời chiến chỉ có nhập là chính. Năm 1963 là năm cuối cùng xuất cảng được ít gạo (63.000 tấn), từ đó chỉ còn xuất lai rai chút ít như cao xu, trà, tôm cá, lông vịt, gỗ quý (xem Chương 3);

thứ ba: nhập cảng chiếm tới một phần ba tổng sản phẩm quốc gia. Có nghĩa là khi có cú “sốc” làm tăng giá nguyên liệu nhập cảng vào thì ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn ra mọi lãnh vực sản xuất. Khi giá phân bón, thuốc trừ sâu nhập vào tăng lên, giá gạo phải lên theo; giá bông gòn nhập vào tăng lên, sẽ kéo theo giá vải vóc, rồi giá quần áo. Và cứ như thế mà theo nhau. Cuối năm 1973, trung bình, giá nhập cảng đã tăng lên gần 50%.

Ảnh hưởng sơ khởi của cú “sốc” là giảm ngay khối lượng nhập cảng còn 67% năm 1973 rồi 54% năm 1974. Mọi hàng từ xăng nhớt, phân bón, sắt thép, xi măng, vải vóc trở nên khan hiếm. Tình trạng này còn bị nặng nề thêm vì thị trường trong nước đã mất đi một số hàng hoá tiêu dùng quan trọng phát xuất từ hệ thống hợp tác xã PX Mỹ. Trong thời chiến, lượng hàng chui ra thị trường từ hệ thống PX không phải là nhỏ: từ thuốc lá, bia rượu, tới radiô, quạt máy, quần áo, vải vóc, thuốc men. Từ giữa năm 1973 khi quân đội Mỹ đã rút đi hệ thống PX ngưng hoạt động.

Thế là giá tiêu thụ tăng vọt lên 66%, phản ảnh mức lạm phát chưa từng có bao giờ. Hiện tượng này ảnh hưởng tới tinh thần nhân dân, đặc biệt là quân đội, một cách sâu đậm. Một người lính trung bình được lính 20.000 đồng Việt nam một tháng, sau khi mua gạo cho gia đình năm người ăn thì chẳng còn hao nhiêu để mua thức ăn, thuốc men, chi tiêu; chưa nói tới nhà cửa, giáo dục, giải trí.

Chạy gạo sống qua ngày

Từ cuối 1973, về mặt kinh tế, Chính phủ Việt nam cộng hoà chỉ lo giải quyết các vấn đề bức xúc hằng ngày là cũng mất hết thời giờ. Lấy một thí dụ: thóc gạo. Thóc gạo là rường cột của kinh tế Miền Nam. Sơ sơ mà nói thì có ba vấn đề sản xuất, phân phối, và giá cả.

sản xuất: ngoài sự bất ổn là thời tiết như lũ lụt, hạn hán là yếu tố chung cho nông nghiệp, còn vấn đề giá phân bón, thuốc sát trùng, xăng nhớt để bơm, rút nước. Giá mấy thứ này cứ vùn vụt mà tăng, gây khó khăn lớn cho nông dân, ảnh hưởng đến sản xuất. Ấy là chưa nói đến tình hình thiếu an ninh. Ở Miền Nam (và nhiều nước nhận viện trợ thực phẩm khác) lại còn vấn đề nhức đầu khác nữa về sản xuất: gạo Mỹ.

Mỹ viện trợ hàng năm một lượng gạo trong chương trình “Thực phẩm phụng sự hoà bình” (Food for Peace) tới mấy trăm ngàn tấn, trị giá cả trăm triệu đô la. Có gạo ăn là tốt chứ tại sao lại là vấn đề? ấy thế mà có vấn đề lớn đối với sản xuất. Gạo Mỹ chất lượng tốt vì kỹ thuật chế biến cao so với gạo nội địa. Chính phủ muốn đặc biệt nâng đỡ quân, công, cán, chính, nên khi bán gạo ra, giá gạo Mỹ có lúc lại rẻ hơn giá gạo nội địa. Như vậy thì làm sao nông dân cạnh tranh được với gạo Mỹ? Ảnh hưởng này tác động ngay vào sản xuất. Mà chính sách nhà nước lại đang khuyến khích tăng gia sản xuất, tự túc tự cường.

điều hoà giá cả: thị trường ở các nước hậu tiến đâu có “thông thương tự do” như các nước tiền tiến, nhất là ở trong hoàn cảnh chiến tranh. Khi giá dầu lửa lên vùn vụt thì lạm phát theo sát. Muốn yểm trợ người có đồng lương cố định như công chức, quân nhân thì Chính phủ phải kềm giá, tức là phải “kiểm soát giá cả”. Kiểm soát tức là định ra giá. Mà làm sao định được giá! Nếu giá chính thức thấp hơn giá thị trường (giá thực) là nguồn chợ đen hoành hành bốn bề. Vậy phải mò theo thị trường mà định giá. Nhưng thị trường thay đổi hằng ngày.

Giá Chính phủ ngày hôm nay có thể là đúng nhưng mai là trật rồi. Ngoài ra, giá trên thị trường rối ren, có nhiều giá gạo chênh lệch cùng một lúc. Thí dụ như cuối 1973 đầu 1974, gạo Mỹ là 14.000 đồng một tạ, gạo nội địa Đồng Bằng Cửu Long: 18.000 các địa phương khác: 25.000 đồng. Khấu trừ đi phí vận chuyển cũng vẫn chưa hợp lý, là vì thị trường có nhiều tắc nghẽn, đầu cơ, tích trữ, làm giả.

Tình trạng này đòi phải điều chỉnh để cân bằng cung cầu. Nhưng mỗi lần điều chỉnh là có vấn đề khác: nâng lên thì gây bất ổn cho đời sống quân công; hạ xuống thì thiệt cho nông dân. Chưa xong, nếu điều chỉnh giá gạo thì phải điều chỉnh cả giá phân bón. Nguyên vấn đề “phân” cũng đã được báo chí bình luận không ít: nhập phân, chia phân, thiếu phân, giá phân, đầu cơ phân, và ăn phân của dân (tham nhũng).

Phân phối: có những lúc gạo bị cấm “xuất tỉnh” vì lý do an ninh. Nhưng như vậy là lưu thông bị tắc nghẽn, gây ra khan hiếm giả tạo, tăng thêm cơ hội cho đầu cơ, buôn chui. Ngoài tắc nghẽn lại còn có khó khăn do sự khác biệt giữa hai hệ thông thu mua. Một hệ thống của Chính phủ và một hệ thống của thương gia ngũ cốc. Tổng Cuộc thực phẩm là một cơ quan Chính phủ đảm nhận thu mua thóc gạo. Mục đích là tiếp tế cho quân đội và phần nào giúp điều hoà cung cầu ở thành thị. Đối với quân đội, phải bảo đảm cho mỗi người 21 ký gạo một tháng. Riêng đô thành Sài gòn-Chợ Lớn, nhu cầu là 25.000 tấn một tháng.

Một khi hệ thống Tổng Cuộc thực phẩm và thương gia ngũ cốc hoạt động cùng nhau nhưng với hai mục đích khác, Tổng Cuộc thực phẩm với mục đích xã hội còn hệ thống thu mua của thương gia với mục đích sinh lời, cho nên mỗi lần tăng giá gạo là có xáo trộn. Một số thương gia ngũ cốc làm ăn không lương thiện, mỗi lần nghe rục rịch tăng giá xăng nhớt là nâng giá gạo lên ngay cho chắc ăn vì chi phí vận tải sẽ tăng. Thêm vào đấy, mỗi lần được tin Tổng Cuộc thực phẩm sẽ thu mua gạo là họ tung tiền ra thu mua trước, tích trữ vào kho, tạo ra tình trạng khan hiếm giả tạo.

Khủng hoảng dầu lửa năm 1973 và tiếp theo vào năm 1974 đã làm yếu hẳn những tiềm năng còn lại của kinh tế Miền Nam sau một cuộc chiến khốc liệt kéo dài. Ngay tức khắc, nó làm mất 35% mãi lực thực sự của đồng tiền viện trợ. Những con số Tổng thống Thiệu nêu ra khi yêu cầu Tổng thống Nixon lúc ở San Clemente là tính theo mãi lực đồng đô la vào đầu năm 1972. Cuối năm 1973 thì nó mất nhiều ý nghĩa rồi.

Phải có 1,2 tỷ đô la mới mua được một lượng hàng hoá bằng 783 triệu như con số dự tính tại San Clemente. Mà rồi đâu có được viện trợ như hứa hẹn.Thế là hầu hết các tính toán cho kinh tế hậu chiến đã thành nước lã ra sông. Chỉ còn lo cho cuộc sống hằng ngày.

Ảnh hưởng tới “Việt nam hoá”

Cú sốc dầu lửa còn ảnh hưởng tới mặt quân sự: làm mất đi phần lớn những kết quả của chương trình “Việt nam hoá”. Trong kế hoạch giải kết vai trò chiến đấu của Hoa kỳ (De-Americanization of the war) tại chiến trường Miền Nam, một chương trình gọi là “Việt nam hoá” bắt đầu được thực hiện vào giữa năm 1969. Chương trình này giúp canh tân quân lực Việt nam cộng hoà. Trước 1968, khả năng tác chiến của quân lực cộng hoà hết sức giới hạn. Người lính Miền Nam chỉ đủ lực trang bị phần nhiều là súng Garrand M1đã quá cổ vì dùng từ thế chiến II. Sau Tết Mậu Thân mới có súng M-16, tương đương với AK-47 quân đội Bắc Việt đã dùng từ trước.

Chiến xa M-48 và đại pháo 155 ly cũng chỉ được trang bị sau khi Bắc Việt đưa vào Miền Nam chiến xa T-54 và đại pháo 130 ly.

Chương trình Việt hoá này hết sức cần thiết để giúp Miền Nam đi đến chỗ tự bảo vệ lấy mình. Tuy nhiên nó có nhược điểm là việc canh tân quân lực Việt nam cộng hoà lại được phỏng theo mô hình quân đội Mỹ. Đó là đánh giặc kiểu nhà giàu. Theo mô hình này, quân lực Việt nam tiếp tục dựa vào hai yếu tố chính là hoả lực và di động tính (fire power and mobility). Và như vậy, về hoả lực, luôn cần bom đạn; và về di động tính, luôn cần xăng nhớt cho trực thăng. Đó là chưa kể những vật liệu bảo trì đại pháo, thiết giáp, oanh tạc cơ và trực thăng. Từ cuối 1973, giá bom, đạn, xăng nhớt tăng lên vùn vụt. Thế là cả hoả lực cả di động tính đều bị giảm (xem Chương 9).

Ở đây, còn phải kể tới số quân dụng quan trọng (đáng giá 750 triệu đô la) mà Hoa kỳ chuyển giao cho quân lực Việt nam cộng hoà trong một chương trình gọi là Enhance và Enhance Plus vào cuối năm 1972. Số lượng chuyển giao là để bù đắp phần nào những tổn thất do Bắc Việt tấn công năm đó (“Mùa hè đỏ lửa”). Tuy nhiên, như tướng John Murray, viên chỉ huy cơ quan DAO ở Sài gòn, đã bình luận: “Ai cũng tưởng tin về vụ chuyển giao quân dụng cho Việt nam cộng hoà. Thật ra đó chỉ là những quân dụng hư hỏng hoặc cũ kỹ, lỗi thời. Phần lớn là đồ thặng dư, đòi hỏi phải bảo trì quá nhiều.”

Với cú sốc dầu lửa, giá đồ phụ tùng cần thiết trở nên quá đắt, Việt nam cộng hoà không đủ tiền mua vật liệu bảo trì, nhiều quân cụ phải nằm ụ. Quân lực Việt nam cộng hoà phải ôm chúng như của nợ. Đầu năm 1975, trong một buổi họp viện trợ tại dinh Độc Lập, ông Thiệu ví von sự kiện này như có một xe Cadillac mà không mua được một cái bougie để thay thì chiếc xe chỉ là đống sắt, lại còn phải canh giữ cho khỏi mất trộm.

Mùa thu năm 1973 đã đến với nhân dân Miền Nam như một cơn ác mộng. Bên ngoài thì cứ cho là hậu chiến, nhưng bên trong thì rõ ràng là tiền chiến: sửa soạn cho một cuộc khủng hoảng đang ẩn hiện cuối chân trời.

Chẳng dính líu gì tới Do Thái, A Rập, thế mà khi con cháu dòng họ nhà Abraham nó choảng nhau, con cháu Lạc Long lại bị cú đấm xây xẩm mặt mày.

——————————–

1          Henry Kissinger, Years of Upheaval, trang 476-478.

2          Henry Kissinger, Years of Upheaval,

3          Richard Nixon. Memmoiry trang 922.

4          Henry Kissinger được tiến cử kiêm thêm chức Ngoại trưởng vào ngày 22 tháng 8, 1973, xem Richard Nixon, Memmoiry, trang 907.

5          Richard Nixon, Memmoiry,trang 926-927.

6          Henry Kissinger, A World Restored, trang 525-526; Nixon, Memoiry, trang 527.

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 24 Aug 2025

19. Hồ Hữu Tường

Chiều thứ bẩy mùng 6 tháng 7, 2003, nhật báo Người Việt, Tạp Chí Thế Kỷ 21, Đài Phát Thanh VNCR, và Hội Văn Học Nghê Thuật Việt Mỹ [VALAA] tại quận Cam đã tổ chức một buổi tưởng niệm nhà văn Hồ Hữu Tường tại trụ sở của báo Người Việt.

Một số khá đông các người lưu tâm đến các sinh hoạt văn hóa Việt Nam tới dự. Các diễn giả như bác sĩ Trần Ngươn Phiêu, giáo sư Lê Phước Sang, giáo sư Trần Văn Chi đều có chung sự do dự không biết nên gọi Hồ Hữu Tường là nhà văn, nhà báo, nhà văn hóa hay nhà chính trị hay giáo sư?

Vì cả đời ông đã làm tất cả các công việc ấy và đã để lại nhiều ảnh hưởng.

Phần lớn các độc giả cũng như quần chúng Việt Nam biết đến Hồ Hữu Tường qua các bộ tiểu thuyết:

Thứ nhất: bộ Một Thuở Ngàn Năm, tiểu thuyết chính trị, trào lộng, gồm các cuốn Phi Lạc Sang Tàu, Phi Lạc Đại Náo Hoa Kỳ, Tiểu Phi Lạc Náo Sài Gòn. Thứ hai: bộ tiểu thuyết lịch sử xã hội miền Hậu Giang, gồm 4 tập: Mai Thoại Dung, Tam Nhơn Đồng Hành, Ông Thầy Quảng, Bủa Lưới Người.

Thứ ba: bộ Gái Nước Nam Làm Gì, tiểu thuyết chống Pháp, gồm các tập Thu Hương và Chị Tập. Ngoài ra ông còn viết rất nhiều tiểu luận liên quan đến mọi vấn đề chính trị, kinh tế, triết học v.v … Những bài báo ông viết ngay trong thời kỳ còn đang học trung học và sau đó khi sang Pháp du học, trong đó có cả những bài viết bằng tiếng Pháp, ký tên Nguyễn Ái Quốc sau này nhiều người lầm tưởng là của Hồ Chí Minh, thì chưa có một công trình nào sưu tầm, xác định rõ ràng cả. Hồ Hữu Tường ký nhiều bút hiệu như Huệ Minh, Nguyễn Huệ Minh, Khổng Cưu, Duy Minh, Huấn Chi, Duy Cúc.

Sở dĩ người ta được biết những sự thực đó là do những người như bác sĩ Trần Ngươn Phiêu, tuy nhỏ hơn những người như Phan Văn Hùm, Nguyễn An Ninh, Hồ Hữu Tường, nhưng khi ấy cũng là sinh viên yêu nước, đang du học tại Pháp và có những sinh hoạt gần gũi với nhóm, kể lại. Một chi tiết đặc biệt người ta không thể quên khi nhắc tới Hồ Hữu Tường là ông sống trải qua các thời kỳ Pháp thuộc, đệ nhất rồi đệ nhị Cộng Hòa, thời nào ông cũng bị bắt, bị ở tù, thậm chí bị kết án tử hình rồi được tha. Thời gian ở tù của Hồ Hữu Tường qua các chế độ thực dân Pháp và của những người quốc gia có dài nhưng ông không chết. Ông đã chết sau khi cộng sản chỉ giam giữ ông một thời gian ngắn.

Ông Hồ Hữu Tường tự nhận mình là một nhà văn hóa nhiều hơn một nhà văn. Trong cuốn Tương Lai Văn Hóa Việt Nam, tác phẩm đắc ý nhất của ông, Hồ Hữu Tường viết:

“Tôi muốn cất tiếng mà kêu to. Kêu thật to để ai nấy cùng nghe. Tôi muốn có một giọng tha thiết. Thực tha thiết để ai nấy cùng cảm. Tôi muốn có những luận điệu đanh thép. Thực đanh thép để ai nấy cùng tin. Nghe, cảm, tin … để cùng tôi đem một cái vinh quang chưa hề có trên quả địa cầu về

cho dân tộc ta, dân tộc Việt”. Hồ Hữu Tường định nghĩa hai chữ “Văn Hóa” như sau:

“Văn trong nghĩa cầu nguyện của nó, là đẹp đẽ, là hiền lành, trái với võ, là hung bạo. Hóa trong nghĩa cầu nguyện của nó là thay đổi. Hai chữ đó mà ghép lại, thì tôi cho rằng đó là cái gì làm cho con người ngày càng cao quý hơn, đẹp đẽ hơn”.

Tóm lại theo định nghĩa của Hồ Hữu Tường, văn hóa là những gì làm cho người trở nên “Người” hơn. Và đó là điều nhân loại chưa làm được. Cả Tây phương lẫn Đông phương đều chưa làm được. Những gì Tây phương sản xuất ra trong văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học … đã bị cái ông gọi là “quái hóa” khuất phục. Chính cái “quái hóa” này đã biến những tư tưởng đẹp đẽ như “tự do, bình đẳng, bác ái, thành phương tiện, thành khí giới để chinh phục. Quái hóa đã sui khoa học chế ra đại bác, chiến xa, phi cơ, hơi ngạt, vi trùng, nguyên tử để giết người, để chinh phục kẻ yếu, để đè nén, áp bức dày xéo chúng ta”.

Còn Đông phương “chỉ có những thuật tu dưỡng, chứ đã có văn hóa bao giờ?”. Vì thế, có thể nói, mộng ước, hoài bão của Hồ Hữu Tường và ông kêu gọi mọi người Việt Nam cùng làm với ông, là xây dựng cho Việt Nam một nền văn hóa nhắm mục đích làm cho con người mỗi ngày trở nên tốt đẹp hơn. “Nó là cuộc vận dụng thường xuyên của tinh thần, văn hóa phải làm sao cho cái chân, cái thiện, cái mỹ, thấm nhuần lý trí, tình cảm, bản năng, cơ thể mọi người, mọi chế độ, của mọi tương quan xã hội. Lương tri sẽ là sản phẩm của người. Nó có nguồn gốc ở người. Nó là một vật nhân bản”. Hoài bão như thế, mong ước như thế, cầu nguyện như thế, nhưng cũng ngay trong Tiếng Gọi Đàn [1945] của ông, Hồ Hữu Tường đã biết rằng “dù có thét to đến bực nào, dù có một giọng tha thiết như thế nào, dù có những luận điệu đanh thép cách nào, tiếng gọi đàn của tôi cũng sẽ là tiếng kêu trong sa mạc”.

Tóm lại qua những gì Hồ Hữu Tường đã viết, đã làm, người ta có thể đi đến kết luận, hình như ông chỉ có một niềm ao ước thực sự: muốn mọi người và chính bản thân trở thành những người Việt Nam bình thường, yêu nước, muốn cho đất nước được vẻ vang, dân tộc được thế giới kính nể vì đạo đức, vì sự hiểu biết, lấy chân, thiện, mỹ làm tiêu chuẩn sống, đúng nghĩa những con người văn hóa như quan niệm của ông, rõ hơn, theo đúng nghĩa cầu nguyện của hai chữ văn hóa theo cách nói của ông.

Nhưng làm thế nào để đạt những điều ấy thì đọc hết những cuốn sách của ông người ta không khỏi có lúc ngẩn ngơ tự hỏi, chúng ta có bao nhiêu người đạt tới trình độ hiểu biết của Hồ Hữu Tường? Bản thân ông đã thực hiện được bao nhiêu sở nguyện trên thực tế ngoài phần lý thuyết? Và sau cùng, từ bấy đến nay, chúng ta sống xa dần hay gần thêm được bao nhiêu những gì ông rao giảng, mơ ước?

Bông Hồng Tạ Ơn

vietmessenger.com

Nguyễn Đình Toàn

234 Tác Giả & Nghệ Sĩ Việt Nam

Post by Sơn râu 24 Aug 2025

18. Hoàng Xuân Sơn

Những người yêu thơ nhất bây giờ cũng tỏ ra … sợ đọc thơ! Vì sao? Vì nhiều thơ quá!

Giở bất cứ một tờ báo, một tập san nào hiện có ra, người ta sẽ thấy ngay điều đó. Trên kệ của các tiệm sách lớn, nhỏ, luôn thấy có những tập thơ mới được bầy thêm, dù các chủ tiệm đều cho biết, đó là thứ hàng … khó bán nhất! Tin từ trong nước còn cho hay: hàng năm có từ 700 đến 800 tập thơ được in ra, nghĩa là trung bình cứ mỗi ngày có ít nhất 2 tập thơ được xuất bản. Với số lượng thơ như thế, ngay cả những người yêu thơ nhất cũng không thể nào không ngần ngại mỗi khi muốn tìm đọc thơ.

Và người ta đọc thơ theo cái cách gặp đâu đọc đó, đọc theo các bài điểm sách trên báo chí, [nếu không tin được các bài điểm sách thì cũng lấy được từ đó những thông tin.] Lại còn chuyện thơ hay, thơ dở, và dễ sợ hơn nữa là thơ không hay không dở, thứ thơ người ta cho rằng, đôi khi, làm hỏng cả cái “gu” đọc thơ [của mình].

Trong tình trạng thơ như thế, mà một nhóm các tác giả, những người không biết có ai sống được bằng nghề văn không, nhưng đã bắt đầu ngay từ lúc còn là học sinh, sinh viên, cho đến nay ít nhất nửa đầu đã bạc, vẫn còn tiếp tục viết, hẳn phải là những người yêu văn chương lắm [nếu không muốn nói là trời hành] đã xúm nhau lại, góp sức, góp tiền, xuất bản thơ cho Hoàng Xuân Sơn. Như cái tựa của nó, tập “Lục Bát Hoàng Xuân Sơn” được trình bày trang nhã, in trên giấy dày, gồm gần 100 bài lục bát. Thơ lục bát nhưng chỉ có vài bài được viết theo thể thông thường, câu trên 6 chữ, câu dưới 8 chữ, tất cả những bài còn lại đều được tác giả chẻ ra làm nhiều dòng, mỗi

dòng có khi chỉ một chữ, hay hai, ba chữ, nhưng vẫn là cấu trúc của những câu lục bát:

Thân Thồ

Ngày khuyu xuống trên thân thồ

kiếp xưa chim lạc

ốm o gầy mòn

hát ru trầm

điệu vai thon

gối đầu lên nỗi mất còn

thịt xương

em nhẹ quá

như bông hường

mà tôi cánh bướm tà dương

chập chờn

chẻ hai lời

vệt môi hôn

mớm câu họa mị nhiếp hồn tân toan

Ù,

kiếp vui cũng họa hoằn

thì đường quang quẽ đừng băn khoăn

chờ

tôi-nơi-em-khất-đời-thơ

có nhau vụng dại

dăm tờ

bối thơm

Bàn về cái-sự-xuống-dòng này của Hoàng Xuân Sơn [và nhiều người làm thơ khác đã làm như thế] Cao Vi Khanh người đề “Bạt” cho tập thơ, viết:

“Chấm hàng là chấm hàng. Chấm và hết. Không có hỏi han lôi thôi. Mà cũng không có phân trần lếch thếch. [thơ chứ bộ nhân tình nhân ngãi gì sao mà ỉ ôi … ]

Xuống hàng là xuống hàng. Giống y cái ngã ba đường đời vậy đó. Tới đó là phải anh-đường-anh-tôi-đường-tôi. Tới đó là người-lên-ngựa-kẻ-chia-bào. Có níu có kéo có trì thì cũng có cưỡng lại được đâu. Thì còn hỏi tại sao làm chi cho thêm ngớ ngẩn. Mà có hỏi thì cũng có ai trả lời đâu. Thiên hà ngôn tai! Tới đó thì xuống hàng vậy đó. Mà điều có thấy không dưng nghe như thảm thiết hơn khi lời thơ bị bứt rời ra, đứt lìa. Và hình ảnh không còn là một bức tranh tĩnh [chết] nữa mà trở thành một hoạt cảnh sống [động] hẳn hoi. Mà tôi cánh bướm tà dương chập chờn. Thơ đi một hơi một mạch

nghĩa là vẫn còn đó, sức sống. Sự liền lạc của chữ nghĩa mang trong nó hình ảnh của gắn bó, của tồn tại, nghĩa là của hy vọng [dù le lói]. Như vậy là câu thơ không chuyển được hết cái ý nghĩa của thôi-đành, của đành-vậy, của cũng- đành, của đầu-hàng, của chịu-trận, của hết-thuốc-chữa … nghĩa là của hy vọng.

mà tôi cánh bướm tà dương

chập chờn

[hai chữ chập chờn rớt xuống hàng in hình như đôi cánh mỏi đã rụng xuống chiều nào, thấy không]. Câu thơ động đậy làm hình ảnh cánh bướm xao xác,

chấp chới, như rụng, như rơi. Ý thơ được phụ diễn thêm bằng hình thơ. Tuyệt cú! Chẳng phải phương pháp audio-visuel vẫn được coi là cách thức truyền đạt hiệu quả nhất sao. Thơ lục bát của chúng ta, kể từ Xuân Diệu, Huy Cận, đến những Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, đã

có nhiều thay đổi. Ý tứ đòi hỏi sự thay đổi từ ngữ.

Đồn xa quằn quại bóng cờ

Phất phơ buồn tự nghìn xưa thổi về

Phất phơ hồn của bông hường

Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng

[Xuân Diệu]

Em vào tắm dưới tòa sen

Những khe nước chẩy, những miền hải lưu

[Nguyên Sa]

Bóng xô dài ngã lao đao

Phải chăng lòng nặng chữu đầu mà đi

[Tô Thùy Yên]

Mình tôi với tuyết non cao

Với con phố tịnh buốt vào thị da

Những câu lục bát ấy đã khác xa với nhau và càng khác xa với những câu lục bát của ca dao, của Tản Đà, của Nguyễn Bính. Nhưng về hình thức chúng vẫn giữ nguyênvẹn là những câu 6/8.

Cắt hai câu 6/8 ra làm nhiều chữ, đoạn, có là một cách tân [phá thể] thực sự cần thiết đối với thơ lục bát hay đó chỉ là một việc làm có tính hình thức?

Sau đây là lời biện của Cao Vi Khanh cho sự phá thể đó của thơ lục bát và cho thơ Hoàng Xuân Sơn:

“Lục bát bị xé từng mảnh rồi ráp lại theo cái nhìn vỡ vụn của con mắt điêu linh. Chỏng ngược đầu xuống đất, mọi sự có dị thường hơn khi đứng hai chân trên mặt trần gian này mà làm thơ? Thơ lộn lạo như cõi hồng trần tất tả, thở hổn hển khi con tim đập sái nhịp nhân gian, mệt đừ:

tiễn cung. vút

một đuôi mày

hỡi ơi tình lụy

ngón tay

trễ tràng

Từ cái vị trí lỏng chỏng của cuộc sống bất an, của cái tâm bất định, của cái tình bất khả, thơ là đường bay lên của con tim bất trắc, trong một thế giới bất ổn. Như vậy có gì bất thường đâu khi lục bát vặn vẹo, co rúm hay luông tuồng, suồng sã … chẳng qua như cái hơi thở của mình, những khi đời … dở chứng”.

Thương hiệu

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 2 Jul 2021

Post by Sơn râu 23 Aug 2025

Đứa con nít vịn chiếc ghế để đứng lên, đi quờ quạng được ba bước lại té xuống. Ngồi bệt, ngó quanh. Nước miếng chảy, môi miệng ướt, mắt long lanh. Hai người đàn bà cùng theo dõi, một người cất tiếng: Bước khởi đầu bao giờ cũng lắm gian nan. Tập lại đi con. Đứa nhỏ hả miệng ngáp, bò tới ôm chân người đàn bà ngồi gần, dụi mặt vào ống quần rộng. Không ưa đi nữa hả? Vậy thì nói. Nói đi, mạ thương. Ạ, dạ, mạ. Ui chao, cái mặt dễ ghét chưa tề! Bà đưa tay nhấc đứa bé lên, hôn ở má phính, hít ở cổ ngắn, ngoạm cắn ở tay. Tiếng đầu đời tuy ngọng ngịu nhưng nghe thật mát ruột mát gan. Thương mạ con để ở mô? Đặt tay lên đầu đi. Đứa nhỏ bắt đầu tỏ thái độ, miệng mếu, vùng vằng tay chân và khởi sự khóc. Cho hắn bú là vừa rồi, ở đó bắt con người ta biểu diễn trò này trò nọ, ngó bắt chóng mặt. Đói bụng chưa con? Bà tha đứa nhỏ, kẹp bên hông bước lại giường, nhẹ nhàng nằm xuống. Áo xống vạch ra, bầu sữa mẹ với cái núm vú nâu, dí ngay miệng con thơ. Đứa nhỏ vẫn khóc, bày đặt chê bai. Hắn có vẻ nhác chơi, răng kỳ cục rứa dì? Bà dì trông như ô-xin giúp việc rụt rè đưa ra nghi vấn: Hay là chỗ ấy nồng mùi thuốc lá hoặc chát đắng rượu bia? Dì đừng ăn nói quàng xiên mà tui đây ế chảy, đang chủ động kiếm tìm cho nó một ông cha như người ta không thì chúng bạn cười. Hay là bị mấy cái răng nó hành? Tay vỗ đít dỗ dành, miệng à ơi tuồng muốn ru ngủ:

 Lên non đốn củi đụng chỗ đốn rồi,

 xuống sông gánh nước đụng chỗ cát bồi khe khô…

Đội nón lên, ngoài trời nắng hung. Đi đường đừng cắm cúi mà nhớ dòm ngược ngó xuôi. Xe cộ và cả trăm điều giăng mắc hoạn nạn. Tổ cha mi, nói chưa hết câu đã cụp tai chạy u như ma đuổi. Đường tới trường lắm bụi rác, nhiều khói xăng tức ngực. Cổng trường treo mắc cửi những khẩu hiệu, đỏ lòm át màu phượng vĩ. Phượng ra hoa chỉ mùa hè, băng-rôn tứ thời đều giăng trên đầu thứ màu sắc mà bò mộng rất ghét, ưa húc đầu vào. Bức tường vôi hoen ố có hàng chữ to “Đái bậy là chó”. Mùi hôi khai vờn trong gió. Nhân bất học bất tri lý… Ô thời đội mũ ơ thì thêm râu… Tan trường về nhà thắc mắc: Tại sao thương cha thương một mà thương người nớ phải thương hơn mười lần? Cắc cớ. Người nào? Ở chốn nảo chốn nao? Con dòm rõ mặt chưa? Coi chừng bị mẹ mìn bắt đi ăn xin. Không đủ sỡ hụi chúng uýnh cho bỏ mẹ. Mẹ ơi chớ đánh con đau, để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ…

– I love you. You inside me after class.

– Thôi, tớ không thích nghe đằng ấy nói tiếng nước lạ.

– OK. Đậm đà bản sắc dân tộc nhé, thế bây giờ đang hứng tớ bảo đằng ấy có muốn vào nhà nghỉ với tớ không?

– Đề làm gì cơ, ở đây sông nước quạnh vắng tình tứ siêu lãng mạn bộ không đạt chỉ tiêu sao?

– Nhưng cỏ nhiều đéo sướng.

– Đéo sướng hay đéo không sướng?

– Chết cười! Đéo sướng, cơ bản là thế nhưng phải diễn ra trên chăn nệm hẳn hoi. Tớ nói ở đây đéo không sướng là thế, chưa kể ruồi bu kiến đậu.

– Tiền đào đâu ra mà bày trò đẳng cấp nhà nghỉ?

– Tớ khoắn cái điện thoại di động của con mẹ bán cơm bụi.

– Wow, nhất đằng ấy! Thưởng công nào. Ôm tớ đi. Bú mồm tớ đi. Chóng lên, kẻo thằng công an tới dòm lom lom thì rách việc.

– Thế đằng ấy đã rách cái đó chưa? Với cái thằng trước tớ đấy.

Con bé đưa tay bịt mồm đứa lắm chuyện rồi vật xuống cỏ. Cả hai cùng hinh hích, tiếng cười của chúng làm những bụi cỏ trinh nữ đồng loạt nhắm khép những cánh lá mắc cỡ. Chúng còn xanh mái đầu, đâu khoảng mười bốn mười nhăm. Trang lứa chúng đều có chung một câu châm ngôn siêu khủng, thể hiện đẳng cấp: “Ăn tranh thủ ngủ khẩn trương, học hành sương sương yêu đương là chính”.

– Sao mày bỏ học? Cái bản mặt mày có tối tăm bụi bặm gì cho cam!

Đứa tội đồ dòm đồng bọn nói trổng: Anh hai này ngó bô giai là thế, hết đường binh hay sao mà đầu quân vào công an nhẩy? Bốn đứa đồng loạt cười. Ba cái còng số 8 xâu cổ tay chúng lại, chớ hòng độn thổ, thăng, biến mà chết chùm. Chúng ngồi trên băng ghế dài, thứ băng gỗ thường gặp ở bệnh viện, ở trụ sở công an.

– Người ta khai chúng mày những năm đứa, thế thằng còn lại trốn đâu?

– Không biết.

– Hung khí bọn mày phi tang ở những nơi nao?

– Bờ cây bụi cỏ, lạch nước cống hẽm, qua cầu gió bay, làm sao nhớ hết?

– Tư thù ân oán gì với kẻ bị hại?

– Nó ỉ con đại gia làm chuyện ngược ngạo tày trời, bọn này khử cho xã hội được trong sạch đôi phần, bộ chẳng tốt sao?

– Mẹ kiếp! Mày tưởng mày là thứ gì? Tưởng ngon cơm hả?

– Bọn này chả tưởng gì sất. Ăn chơi không sợ mưa rơi. Khơi khơi có thế thôi.

Một đứa ngồi cuối biên chỏ mõ vào: Đù má, xi-đa mà đòi xông pha hiến máu!

Ông bạn (hay đầy tớ) của dân thổ những tờ giấy rời, xộc xệch đặt vào tấm bià cứng. Có tờ rời bàn rơi xuống đất: Tội phạm xã hội đen nguy hiểm, chưa có tiền án nhưng nhân thân xấu. Chém Nguyễn Tiểu Gia 18 tuổi 20 nhát dao trí mạng dẫn đến tử vong tại quán Ca-ra-ô-kê.

Ông làm nhiệm vụ hỏi cung nhặt giấy lên, cắm cây viết vào túi áo, tiện thể moi ra được điếu thuốc.

– Đại ca còn điếu nào cho em bặp ít hơi để tinh thần thư giãn. Xem chừng đời bắt đầu vã từ đây bố ơi!

Trước mặt thằng côn đồ có hàng chữ đỏ choét uốn lượn trên vách: Trồng cây mười năm trồng người trăm năm.

Đường rối rắm, nhiều vật cản, giờ cao điểm, xe ùn tắt, buộc khựng đứng. Nhưng tiếng động, liên tu bất tận, chẳng bao giờ ngưng. Tiếng động tựa mưa rơi, và thường thì chốn này mưa miên man, mưa xuyên mưa, mưa nối mưa, sợi ngắn sợi dài hột to hột nhỏ. Mưa cần mẫn tuôn, mưa chăm chỉ trút. Mà mưa ập xuống thì phố phường ngập lụt, người ngợm xe cộ thảy đều bị dồn cục. Bóp kèn, chửi thề, gây hấn, quát tháo, đem hai chữ mẹ cha ra mà quần thảo. Và rồi xảy ra sự cố: Chém nhau. Thế mới có câu diễn nôm: Chuyện thường ngày ở huyện. Phường Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, đường Đồng Khởi, Cách Mạng tháng 8, Tống Lê Chân hay chân lê hay cà thọt hay cụt giò hay bất kỳ ngõ ngách bộ phận nào trong thành phố cũng thế cả. Thế mới có bài hát Từ thành phố này người đã ra đi. Đi là phải. Càng sớm càng tốt, thế mới lòi ra tục ngữ: Trâu chậm trâu uống nước đục!

Cẩm nang của trâu đương đại: Ngậm miệng đồng nghĩa với sống sót. Phát ngôn linh tinh: Bộ muốn chết hả? Đao kiếm, ám khí, gậy gộc, cường toan, thuốc trừ rầy, xăng dầu, bình ga, hộp quẹt, thậm chí cả ớt bột cũng mang ra chơi ráo. Một bao ớt hiểm xay nhuyễn thời giá là 15.000 cũng đủ làm thằng chả khóc cả tuần lễ, khóc như mưa, khóc đẹp. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ. Xưa rồi Diễm! Ớt bột cay xè con ngươi. Nó khóc hu hu. Mình cười ngặt nghẽo. Bộ không phải là chuyện cực khoái giữa đời thường sao? Hehehe. Dui wá. Nói láo cho tàu Trung quốc nó tha đi. Thằng chả khoảng bốn bó hay 7X? Tướng sung, tuồng sinh nhằm thời điểm cuộc cách mạng đã chin muồi dẫn tới thắng lợi thần thánh. Nếu từng lội bộ trên Trường sơn, đông hoặc tây (cũng cùng một nghĩa như nhau), chả hổng có được bộ dạng ấy. Chả mặc đồ xịn, hàng hiệu, dứt khoát chẳng phải đồ hàng bành. Eo ôi, đừng nhắc tới nón cối dép râu mà má nó khinh. Chả nói thế. Quên quá khứ của cha ông đi. Chả tợp bia, rung đùi, dắt lưng đôi ba câu thơ cho ra vẻ ta đây thông thái và thông thoáng: “Hãy lau khô nước mắt đi em, vết thương hôm qua đã thành sẹo”. Đứa con gái trần truồng di động đôi vú sưng sỉa: Ai khóc hồi nào tiá? Da dẻ mịn màng sẹo sần chỗ nào đâu? Đồ dô diên! Chả không có hứng thú với phường thất học. Chả bước ra đường chẳng nói năng lời nào với đứa “phục vụ tình cảm” mang tên Thắm. Thằng chả lầm bầm mình ên: Ô kià trông ai như cô Thắm, đang đứng tắm, đưa hủ mắm, có mồi nhắm, ta ưa lắm, nhịn đánh rắm… Trên đầu chả, tấm bảng hiệu to đùng đong đưa: “Cho tự đắp, tự nặn, tự ve, tự vuốt”. Hãy giỏi chân đi, đứng lén phéng ở đây nhỡ may nó rơi xuống đúng người thì không cách gì tự chôn tự cất tự khắc tên tự làm mộ bia. Và chả đi. Sao lắm người chộn rộn đằng góc đường thế kia? Ồ, có tấm bảng dựng đứng chận bít tầm nhìn ngầm trả lời. Chữ ai viết mà phăng-ta-dzi ngần ấy? “Khuyến mãi: Mua bao cao su trúng bánh Trung thu”. Hề, dân tộc ta làm thơ số một, gieo vần rất chỉnh. Thảo nào ông Bảo Sinh từng phán: “Ai cũng làm được nhà thơ, ai cũng có thể “sù cơ” của mình”. Rườm lời! Cũng tùy thuộc đối tượng, không có cu lấy chi sờ? Đơn cử nhé, cái bảng hiệu của thẩm mỹ viện bên kia đường nó viết: “Làm hồng nhũ hoa, nâng cấp mào gà”. Trật đường rầy! Tối nghĩa, chẳng màng cú pháp mí lị niêm luật. Hỏng! Thằng chả thật quỡn, đang moi từ túi áo ra bao thuốc lá thì bất thần một cậu ngồi sau xe ôm nhảy phóc xuống. Choáng. Sát rạt làm thót tim. Giời, con tìm bố như thể tìm chim, chim bay Đồng Tháp con tìm Củ Chi. Định thần, một tay thọc vào túi quần giữ rịt cái ví da. Cậu tìm tôi? Có lộn người chăng? Lạ lùng gì bố, sao trách con nhầm? Thằng ấy nhỏ con, ốm o xo bại, nhưng bù lại, da thịt để trần của nó nát nhầu vết xâm. Long tranh hổ đấu. Ngọa hổ tàng long. Thập diện mai phục. Trên đỉnh Vu sơn. Thù này phải trả. Tim nầy lỡ dại trao em. Tùm lum tà la những bùa chú ngó bắt gớm. Xâm bấy ban tan nát như thế hẳn phải có bản lãnh chứ chẳng đùa, tợ cắn răng chịu cực hình tra khảo, kẻ nhác gan thì làm sao chịu đời cho thấu! Cái chứng minh nhân dân ấy nó hiển thị thật lắm điều, khiến lỡ nhìn vào thằng chả tự dưng thu bé người lại chả còn kí lô nào cả. Như hài nhi lòn lách ra khỏi cửa mình mang lên bàn cân kim chỉ 4 kí, rỏ nước nhờn đem cân lại chỉ còn 3 ki 2. Vẻ đường bệ thong dong nhàn du ngoạn cảnh của chả nhỏ nước bốc hơi đi đâu? Nhu mì hiền thục như gái về nhà chồng buổi sơ ngộ. Chả thấy yếu ở đôi chân và tim đi cà xịch cà tang trong lồng ngực chưa kịp rít khói thuốc. Bố ạ, thưa với bố con chả lắm thời gian đâu, con còn nhiều phi vụ. Vắn tắt, con cho bố xem cái này để bố dễ định liệu, bởi hình ảnh thì hơn cả ngàn lời nói ra. Báo đài đã ngôn như thế. Thằng ấy nói, những thứ hắn có thảy đều dị dạng, kể cả cái bị rết hắn mang sau lưng, hệt như bọn Tây ba lô. Trong ấy chứa đựng những gì mà nghe loảng xoảng tựa kim loại sắt thép đang va chạm thế kia. Mở nút túi áo, hắn lôi chiếc điện thoại di động thật xịn ra. Nhìn thoáng, thằng chả biết ngay trị giá: 25 triệu, khó đụng hàng. Hắn dùng ngón tay trỏ chỉ chỏ, kéo qua hất lại trên màn hình nhạy cảm. Đoạn phim cực nóng bắt đầu trình chiếu. Bố xem nhé, con bé đang năng nổ diễn xuất ấy tuổi chỉ 16. Ai phá trinh nó thì bố thừa hiểu. Chuyện xẩy ra cách đây một tuần, đúng thế không? Giờ nó đổ bệnh, than đau, chưa thể mang thân đi bệnh viện khám nghiệm. Nó xin bố 10 triệu để về quê xa lánh chốn phồn hoa nhiều cạm bẫy. Nói xong cậu dí xeo phôn hiện đại vào mặt thằng chả. Người nam đóng tuồng dâm ô đồi trụy in tuồng là anh em sinh đôi với ta. Mồ hôi nó xuất hạn dầm dề mà ta giờ cũng thế, chảy lạnh sống lưng. Mười triệu, tối mai 8 giờ ở cà phê Mộng Lành bố nhé. Có cần con mang xe đến tận nhà rước bố đi không? Lùng bùng lỗ tai, thằng chả đực mặt tuồng đang tìm đường binh. Xập xám chướng nói: Thùng thì thủ, cù lũ thì dương. Khốn nạn thật! Ta đã quan sát động tĩnh ngó trước trông sau, vậy thì chúng nó dấu camera ở góc kẹt nào? Chỉnh sửa âm thanh ở mức độ nào mà con nhỏ nó la bai bải như cha chết mẹ chết thế. Lúc ấy sao ta chẳng nghe nó rên la cà? Chơi cháu đi chú. Nó chỉ nói có bấy nhiêu. Bấy nhiêu thôi mà giờ đây ta phải ôm đầu máu. Mười triệu, mười triệu… Chết tôi không, hở Trời! Lão ấp úng, tự răn đe. Tối mai tối mai… Tám giờ tám giờ… cà phê Mộng Lành mộng lành… Quán Mộng Lành có đứa từng ngâm thơ: Xi-đa là bệnh ngoài da, mười năm mới chết thì ta sợ gì?

– Chị nói lạ! Nãy giờ khô hơi mà chưa đả thông. Muốn yên bề gia thất thì dứt khoát phải man khai: Em còn độc thân.

– Ác đức bất nhơn. Thế thằng cu… Thiệt tội trời, tui vất nó cho chó gặm à? Lòng lang dạ sói hay sao mà nhẫn tâm ẳm nó đi cho cô nhi viện. Mà viện cô nhi lúc nhúc trẻ con hằng hà sa số biết họ có mở cửa đón nhận thêm một sinh linh?

– Thiệt ba phải! Nói thế này dễ hiểu. Ra đường chị gặp hai lối. Chọn một trong hai, chớ lôi thôi. Lối cũ, yên phận ôm con thơ mà hò ru em oán trách số phần. Lối mới, nhiều hoa bướm, tương lai sáng lạng, lại rảnh tay mà thong dong bước lại bến hẹn tình trường. Người ta ngán cảnh chị đèo bồng con dại bù lu bù loa. Chị đã rõ chưa? Có điều kiện, ra thông cáo cần người, chị cũng nhắm mấy khứa độc thân chẳng vướng bận, có đúng không? Bản thân em cũng chúa ghét con nít. Đẻ đứa con, cuộc sống tự nhiên đang nằm ngữa bỗng bị lật sấp, bầm dập, lu bu, rối rắm, cột trói chưn cẳng, mất tự do. Đau khổ chi bằng mất tự do, đến buồn đi ỉa cũng không cho.

– Căng thế. Búa bổ đầu người chứ chẳng phải chơi!

– Mệt chị lắm. Mang thân đi làm vợ người ta mà còn nói tới chơi với giỡn.

– Thế ông ta. Ngó tướng ổng có biểu hiện chút đùa nghịch nào không?

– Tầm bậy nà. Người ta thành tâm, người ta sợ nước đến chân, người ta dương thịnh mà âm suy, người ta thèm khát mùi vị đàn bà, người ta bấy chầy tối lửa tắt đèn…

– Ổng có coi bóng tui không?

– Dĩ nhiên, phận sự của em mà. Trong bốn tấm ảnh, ổng chịu đèn chân dung chị nhất. Dòm mà nuốt nước miếng. Chị về ở với ổng chẳng khác chuột sa hủ nếp.

– Tui cũng khát nước. Hay là mang thằng cu bỏ trước cổng chùa?

– Ậy, việc của chị sao đè em ra làm quân sư? Nghề môi giới của em đa phần đều bị tiếng thị phi, có đứa ác khẩu nói mai hậu em sinh con không có lỗ đít. Không dám đâu!

– Cu ơi, chừ mạ biết tính làm răng? Má ơi đừng gả con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu!

– Dông dài thấy ghét. Hẹn chị hôm sau, em ngồi quán bún chả hồ Gươm. Hăm bốn giờ cũng đủ để phá án, làm trắng tư duy.

Dứt khoát, cô gái trẻ đẹp đứng lên, tay vẫy chiếc xe ôm. Vất người đàn bà đứng bên lề bụi mờ dõi trông xa vắng. Bà ngồi lại xuống chiếc ghế nhựa gọi ly nước miá uống cho toảnh ngoảnh thần trí. Đứa phục vụ nhanh nhẩu mang thức uống ra.

– Xong hợp đồng rồi ạ? Nó nói, mặt láu cá.

– Ủa, sao biết? Có ký kết hồi nào mà gọi là hợp đồng.

– Nói thật nghe, cô ấy mát tay lắm. Mười vụ nghe đâu chỉ xẩy ra có bốn trường hợp là bị tổ trát.

– Thế còn lại sáu, họ ra sao giờ này?

– Mặt hoa da phấn, kẻ đưa người rước, cơm hàng cháo chợ, vận sự hanh thông, nói chung là thoáng đạt ngã rẽ cuộc sống chứ không đời tàn trong ngõ hẹp.

Đứa ấy cầm chổi quét rác loanh quanh phạm vi hẹp của quán nước. Bẩn thỉu. Sao có đứa buồn tay thả mẩu thuốc hút dở vào trong cốc? Bàn số hai bốn đứa học trò gọi bốn phin cà phê sữa đá, sao giờ này thu vén chỉ còn có một cái phin lọc? Ai đời mà chúng uống được cả nhôm cả i-nốc cả thép cả sắt. Thời buổi!

– Trông như chị lấn cấn mắc nghẹn chuyện gì?

– Cậu hỏi thì tôi phải thưa, lòng tôi chưa quyết vì vấn vương thương con dại, lớn lên không biết mặt cha đã đành, ngay cả mẹ hiền cũng biền biệt bỏ trốn mất tiêu.

– Ối giời, khéo lo. Bố mẹ tôi là ai? Tôi chả quan hoài, đời tôi sương gió đã quen vì lỡ chào đời ngay lùm cây bên bờ đê vắng. Người mình nhiều họ, khó chọn, làm giấy tờ tôi mang họ Hồ cho được oai phong. Bọn nhóc trong xóm này gờm mặt gọi tôi là Thần đao Hồ đại đởm. Ôi chao, hôm nay buồn, tự dưng tâm sự có hơi nhiều. Nếu chị có tâm bồ tát thì tìm người bà con tín cẩn mà trao gửi đứa bé, dúi vào tay họ khoản tiền hậu hỉ để yên tâm lên đường. Xoay xở như vậy là hợp lẽ, nghèo đói mà ôm riết con dại thì khác gì trồng cây mà chả hề tưới nước, lại che chắn ánh dương quan.

Người đàn bà đứng lên nắm tay áo cậu con trai mà lay lay. Cám ơn em đã thông tư tưởng, thu vén cho chị một lối đi tìm đường giải phóng… Em họ Hồ mà tên gọi là chi? Có phải Chí Tình không? Hậu vận chị khá thì nhất định kiếm cách trở lại chốn này quyết tìm ra em mà ơn đền oán trả.

– Đừng nói thế, đừng nhắc tới mai sau. Đời tôi lý nào chôn chặt ở quán cóc này? Phải biết tung hê mà bay nhảy, rày đây mai đó xuôi nam. Có lẽ tạng người tôi hợp chuyện bảo kê hoặc bảo vệ hoặc đi đòi nợ hơn là tối ngày đi dâng mời trà đá chanh đường hầu hạ cà phê cà pháo. Duyên nợ bọn mình e chỉ tồn tại tới bữa nay thôi. Chào chị nhé, chúc chị thuận buồm xuôi gió.

Hắn nhổ một bãi đờm ra đường rồi cầm chổi cùn biến mất vào quán tối. Người đàn bà thở dài, bả hát lí nhí: Đường đời muôn vạn nẻo, đường mòn nào dẫn tới lâu đài tình yêu?

Cánh cửa đóng mạnh tay. Tiếng động làm lão già ngóc đầu lên. Một bóng người vụt thoáng qua. Ai đấy? Chẳng hồi âm. Lão lồm cồm ngồi dậy, ho hen một đỗi mới to tiếng. Đứa nào thế? Thằng con trai bước trở lui, ló mặt: Có chuyện gì không? Í, mầy tan trường rồi đấy à? Cho ông hỏi, mấy giờ rồi cháu? Thằng con trai lắc đầu, nó đến bên cửa sổ, sát vuông chiếu ông nằm. Cửa sổ có những chấn song. Đã bày vẽ nhiều bận mà chẳng chịu khắc ghi. Đây này, nắng rọi tới ngang vạch này thì đã bốn giờ chiều. Hiểu chưa? Ông già lập lại: Đã bốn giờ chiều. Vậy bố mẹ mày còn lâu mới về? Ngớ ngẩn, phải tắt nắng, phải nhọ mặt người họ mới về. Có hiểu không? Thế hôm nào giời đổ mưa làm sao ông hay biết hở cháu? Đéo mẹ, biết làm gì cho khổ thân. Biết ăn ngủ ỉa đái, ngần ấy thôi có phải sướng hơn không! Thằng cháu nội bỏ đi, ông cụ bạc tóc lưa thưa gọi giật lại. Cháu ngồi cho ông hỏi thăm đôi câu. Không dư thời gian. Nó đối đáp. Ông van cháu, có trở về phòng thì lặng yên mà học bài chứ đừng mở thứ nhạc ấy ra tra khảo ông. Thằng con trai cười hiền. Thế à, ông chả ưa nghe nhạc Rap à? Vậy thì mở khóa tủ lấy cho cháu xin năm chục ngàn. Vật giá đắt đỏ, đủ đổ lít xăng và làm cốc nước. Tiền đâu mà đôi ba hôm mày lại réo ông? Mày bày trò trấn lột.

Chẳng mấy lâu căn nhà rậm rật tiếng xập xình kỳ lạ. Lỗ tai bọn trẻ thật quái gỡ. Thứ ấy mà chúng gọi là nhạc. Thử ra chợ Đồng Xuân nghe chúng nó chửi nhau, du dương trầm bổng , có tuồng tích có điển cố có bài bản, choáng và ấn tượng hơn vạn lần. Ông lão nằm vật xuống, bịt tai bằng những thứ ông có được, gối, khăn, vớ, may-ô quần đùi. Đầu bù tóc rối, ông không nghe ra tiếng xe tay ga vừa thắng đứng ngoài cửa. Đứa con dâu nhẹ nhàng bước vào. Tắt nhạc đi con. Mẹ có mua phở cho cả nhà xơi đây nè. Bản nhạc chấm dứt bằng chữ Fuck mà người ca sĩ da đen bỏ công sức rống lên cực mạnh. Tuy bịt tai nhưng mũi ông lão vẫn thoáng khí để hô hấp, lỗ mũi ông nở to, không gian sao chập chờn ngát hương mùi đặc thù dân tộc bốn ngàn năm văn hiến. Ông cởi bỏ hết mọi chướng ngại, ngồi dậy, ngó ra, hồ nghi, ngờ vực, mộng mị, liêu trai, hoang tưởng. Cái gì thế? Ông ném viên cuội dò đường. Sinh nhật đứa nào? Ăn mừng chiến thắng hay liên hoan đám cưới đám giỗ? Mẹ kiếp, già có nhiều cái thiệt thòi, mà lú lấp là thứ đáng lên án nhất.

– Mời bố ăn phở ạ. Dùng ngay kẻo nguội mất ngon.

– Sao hôm nay chúng mày tốt với tao thế? Thằng Cung thì chỉ nghe mới có một bài nhạc lại vội tắt đi. Ôi, cảnh hòa bình an lạc thì ai cũng mến chuộng cả!

– Chẳng dấu gì bố, thằng Cung nó đỗ vào Đại học nên chúng con phải ăn mừng.

– Nó đâu rồi. Biểu nó vặn nhạc lên. Bài gì nghe thật hùng hồn cơ, để kỷ niệm bước vinh quang.

– Bố ưa nghe bản nào?

– Đại loại như Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước…

– Khiếp. Bố lẫn thật rồi! Thời buổi đương đại nầy điên sao nghe ba thứ vớ vẫn ấy? Nhạc ấy chỉ dành cho bọn dở hơi. Bố xơi đi.

Ông ăn, ông khoắng sợi ông húp nước, ông và đũa ông dộng thià, ông chú tâm vào miếng ăn. Ăn như thể nhịn đói từ hồi chống Mỹ tới giờ. Một trong tứ khoái, người đời nói chẳng ngoa ngôn. Mồ hôi ông tươm đầy mặt, ông ợ một tiếng rõ to khi bát phở đã sạch sành sanh. Ông ngó vào mặt cô con dâu hồi lâu, ngó chăm, đồng tử đứng yên, mí mắt không nháy. Ông ném cái bát nhựa không xuống chiếu, cầm đôi đũa tre như nắm một con dao bén nhọn; ông muốn dùng tàn lực để đâm thốc đôi đũa vào ngực đứa con dâu nhưng đã muộn. Ông nằm vật ra, mắt trơ ngó lên trần nhà, nước sủi bọt trắng ứa bên khóe. Tay chân co giật như thằn lằn đứt đuôi, rồi buông xuôi, cứng đờ xác thân.

– Cung ơi, vào phụ mẹ một tay.

Thằng cháu đích tôn bước vô, mặt lãnh cảm.

– Cho bao nhiêu liều lượng mà chóng thế?

– Chả biết, thằng ấy trao cho mẹ gói giấy, nói bảo đảm với chị hàng cực nóng, kẻ mua chưa từng có ai than phiền. Mày rà soát trong lưng quần hộ mẹ.

Đứa con y lời. Da bụng lão nhăn nhàu, còn ấm. Ở lưng quần, phiá cột sống, có dấu cất chiếc chià khóa. Thằng con trai lật ông lão nằm ngữa, ngay ngắn tựa tư thế của kẻ mê ngủ không chiêm bao chẳng ác mộng. Hắn đi lại cái tủ nhỏ, đen bóng chất gỗ tốt, mở khoá.

Trong ấy chứa đựng nhiều bằng ban khen của cấp lãnh đạo, năm sáu cái huy chương nằm đè lên trên, tận bên dưới lộ ra xấp giấy bạc. Hai mẹ con cùng đếm, từ lầm bầm đến to tiếng, lát sau thì thở hắt: Sáu triệu tư, chẳng dư bạc lẻ.

– Tiền miếng đất dưới quê mà bán có bấy nhiêu thôi hở mẹ?

– Mày quên à. Thi thoảng ông còn cấp dưỡng tiền cho đứa con rơi. Thôi, lo thu vén đậy đằng làm sạch hiện trường. Mày chuyên coi phim hình sự thì đạo diễn làm sao ngó cho đẹp, chẳng sơ hở.

– Còn tiền?

– Mày ba tao bảy như hợp đồng.

– Đó là con ngỡ ông có nhiều. Ít thế thì mẹ phải cho con thêm.

– Ừ. Rồi mẹ sẽ đưa. Nhưng phải một thời gian khá lâu. Mày mang đi tiêu pha dân tình họ dị nghị.

Nắng gần tắt, nhìn tới song cửa, thằng con trai chẳng biết đã mấy giờ?

– Bị cáo Huỳnh văn Lương Thiện, tử hình.

– Bị cáo Trần văn Giảo Hoạt, mười năm tù.

Số còn lại, án tù đồng nhất là hai năm.

Luật sư biện hộ đứng lên: Thưa quý toà, tôi có điều muốn thưa. Hoạt và Thiện đều cùng tham gia chém chết người, sao bản án dành cho mỗi người lại có mức sai biệt ngần ấy?

– Ấy là do bởi lý lịch của mỗi tội phạm cơ bản có chuyện khác nhau. Bố của Thiện trước đây là ngụy quân ngụy quyền. Còn bố mẹ của Hoạt dẫu sao cũng gia đình cách mạng. Y án.

Chiếc búa gỗ đánh xuống bàn chan chát. Kết thúc. Màn kéo xuống. Tắt đèn.

Để khỏi mang tiếng bưng bít thông tin, nhật báo ngày mai có tờ tường thuật phiên xử:

Chuyện ruồi bu. Vũ Như Cẩn.

Hồ Đình Nghiêm

Người Vợ Lính

dongsongcu.wordpress.com

Phương Lâm

Posted on June 4, 2025
Post by Sơn râu 23 Aug 2025

Tiếng đạn quân thù rền vang đây đó

Lửa bùng lên rực đỏ cháy quê hương

Máu chiến binh hồng thắm nhuộm chiến trường

Quyết giữ lấy phần biên cương Quốc thổ

Là vợ của lính trong thời binh lửa

Mái pông sô hứng đạn tưởng trời mưa

Súng vang trời cứ ngỡ pháo GiaoThừa

Mùi thuốc súng chưa khi nào được ngửi

Thị xã Trà Vinh tôi sống không lâu nhưng nơi nầy đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm, đã cưu mang tôi hai lần trên bước đường trốn chạy nạn cộng sản. Lần thứ nhất vào khoảng tháng 2 năm 1975 khi đồng bào tỉnh Quảng Trị lục đục kéo ngang qua Huế, anh bà con của tôi là cố Trung Tá Nguyễn Văn Bình Sư Đoàn 1 Bộ Binh đến nhà đề nghị với má tôi:

– Dì nên đưa các em về Trà Vinh ở với chị Thảo một thời gian, dì bảo các em chuẩn bị vài hôm nữa con lên lại đưa dì và các em đi.

Gia đình tôi đông chị em, ba tôi bị Việt Cộng chôn sống năm Mậu Thân nên chúng tôi lúc nào cũng được lưu tâm của mọi người thân trong gia tộc.

Mặc dù anh Bình không nói lý do gì mà đi, nhưng một vị Trung Tá nói như thế cũng hiểu ngầm rằng tình hình chiến sự căng thẳng. Thảm cảnh Mậu Thân còn đó, những bộ hài cốt trắng hếu bị quấn chặt dây kẽm gai, xương đầu giập nát trong những hố chôn tập thể như hiển hiện trước mắt, hình ảnh những tên đao phủ trợn mắt nhe răng, cầm búa, cầm mã tấu đánh vào đầu người dân lành vô tội làm tôi rởn ốc nổi da gà, khi nghe anh Bình nói như vậy tụi tôi cuống cuồng, chị em mỗi đứa một túi xách nhỏ mang theo ít đồ cá nhân ngồi bắt mặt ngó ra đợi anh Bình.

Nhà chị Thảo ở đầu sân bay Trà Vinh, gần cổng Đại Đội Tổng Hành Dinh của Sư Đoàn 9 BB, chồng chị Thảo làm Đại Đội Trưởng, căn nhà lợp lá dừa nước, vách toàn là ống đạn, chiều dài căn nhà quá cỡ nhà bình thường, từa tựa như Khu Gia Binh.

Vô tới đây ai nấy thở phào nhẹ nhõm, chạy một mạch xa như vậy cứ nghĩ rứa là ổn nào ngờ chết điếng người khi nghe tin QLVNCH nhận lệnh phải buông súng.

Thế là hết! Chị em chúng tôi nước mắt lưng tròng nhìn nhau trong âu lo, thương hận.

Cho tôi thước vải thô màu trắng

Quấn ngang đầu buộc chặt nỗi hờn căm

Ba Mươi Tháng Tư Một Chín Bảy Lăm

Cúi đầu xuống bịt tang ngày Quốc Hận.

Đất nước đã nhuộm đỏ màu tang tóc, đại nạn cộng sản bao trùm, không biết tương lai về đâu, nơi bám víu sau cùng là chấp tay xin ơn trên che chở. Trong thế chẳng đặng đừng chúng tôi bầu đoàn thê tử lục đục trở lại Huế, nhà của tôi đông chị em nên ba tôi xây rất to, căn sau nối liền với nhà trước, nhà đúc mái bằng dự tính lên lầu, Tết Mậu Thân bị mấy trái pháo mà không sập, vô tới cửa ngõ thì tá hỏa tam tinh, một nhà toàn là lính Việt Cộng, khi đến tột cùng của sợ hãi thì không còn biết sợ là gì nữa, tôi bước vào nhà như một con điên liệng mạnh túi xách xuống nền, hét lớn:

– Mấy ông ở mô mà vô đây! Đi ra ngay! Ra khỏi nhà ngay lập tức!

Đám lính cộng sản phần nhiều là choai choai cỡ mười lăm mười bảy, đứa nào đứa nấy nghe tôi hét chúng quờ quạng kéo nhau dồn lui qua phòng sau, rồi có một tên lớn tuổi ra điều đình:

– Không biết mẹ và các cô về nên chúng cháu không chuẩn bị, mẹ cho chúng cháu ở tạm nhà sau một hai hôm để chỉ huy sắp xếp, chúng cháu sẽ đi ngay.

Ai nấy đều mừng thầm, xuống nước nhỏ tức là nhà mình không mất.

Bạn còn nhớ cuối mùa xuân năm nớ

Quê hương chìm trong biển đỏ thương đau

Tang thương ly hận chồng chất oán sầu

Đất nước khởi đầu thiên niên mạt vận.

Trà Vinh.

Lần nầy trở lại với hoàn cảnh khác, tay ôm con dại, cùng chồng tránh nạn thu gom đi tù lần thứ hai.

Làng tôi có bốn người đi tù về năm 1977, anh Tùng bà con của chúng tôi, cấp bậc Trung Tá trước phục vụ trong ban Liên Hợp Quân Sự Bốn Bên cùng với hai Thiếu Úy là anh Cam và anh Đức cùng chồng tôi.

Sau khi Trung Cộng đánh các tỉnh biên giới phía Bắc, công an vô lại nhà, bắt các anh làm lý lịch, đêm hôm sau xét hộ khẩu bắt đi luôn, chồng tôi cũng vậy, sáng hôm nay công an bắt khai lý lịch, chiều hôm đó chúng tôi vội vàng bỏ Huế ra đi.

Gia đình ba người chúng tôi vào tá túc thị xã nầy được gần bốn tháng, rất ngạc nhiên vì cuộc sống bà con ở đây chẳng khác lúc trước mấy, quán nước mía dọc đường, quán cà phê vẫn dùng nhạc cũ trước 1975, nói đến cơm độn hầu như không ai biết, so với Huế, Quảng Trị thì đây là thiên đàng.

Cuộc sống tinh thần ít căng thẳng hơn Huế, người dân ở đây không dòm ngó nhau nên tình trạng rình rập báo cáo lập công không có, nhờ vậy chúng tôi sống lậu ở đây trên bốn tháng rồi không bị xét hộ khẩu.

Mâm cơm trưa đã chuẩn bị xong để bên mép giường, chiếc chiếu cũ trải xuống nền nhà làm bàn ăn cũng đã sẵn sàng, xoong cơm trắng không độn, xoong cá kèo kho khô với hẹ ngào ngạt mùi thơm, ở Huế thời điểm nầy làm chi có được bữa cơm ngon như vậy.

Nghề đạp xe lôi giờ giấc bất thường khi sớm khi trễ, tôi bồng con ra ngồi dưới bóng mát cây xoài, nước phèn vàng quánh trong hồ nuôi cá xông lên mùi hăng hắc, nhìn ra con dốc đầu lộ chờ anh ấy về.

Rất ngạc nhiên trưa nay sau xe có hai người, một lớn một bé, tôi bồng con đứng dậy nhường bóng mát cho ảnh kéo chiếc xe vào. Tôi gật đầu chào người phụ nữ về cùng xe với ảnh, rùng mình khi nhìn qua khuôn mặt người đàn bà nầy, quá dễ sợ, một mắt tròng trắng nhô lên như muốn nhảy ra ngoài, ghèn đóng một vòng quanh con mắt, vàng vàng xám xịt, cánh tay trái treo lên cổ một vết thương dài lòi mỡ lẫn máu vàng khè ruồi bay theo, đầu đội mũ rách toe, mặt hai mẹ con dính đầy đất bụi, tay bé cầm cái tô to, họ là người ăn xin, chồng tôi nói:

– Em đưa chị và cháu vô nhà, anh tháo cổ xe ra rồi vô sau.

Tôi đưa hai mẹ con vô nhà, đẩy mâm cơm sâu vào trong, rảnh chỗ ở mép giường mời hai người ngồi, vì sống tạm nên chẳng có bàn ghế chi hết, người phụ nữ vẫn im thin thít từ ngoài sân vào tới đây, chồng tôi vào bưng theo thau nước, kẹp cái khăn trắng đã ngả màu vì nhuộm phèn, vì thiếu xà phòng, ảnh nói:

– Chị rửa mặt rồi cho cháu ăn cơm kẻo quá trưa rồi.

Quay qua tôi anh giới thiệu:

– Đây là chị Quang, vợ của Đại Úy Quang Trưởng Phòng Hành Quân đơn vị cũ của anh, anh ấy là bạn, đầu năm 1974 anh thuyên chuyển về Đà Nẵng anh Quang ở lại đã bị bắn chết tại phòng ngủ trong bản doanh đơn vị khi Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuột.

Chị Quang đứng dậy đưa em bé đi rửa mặt, nhìn khuôn mặt dơ hầy lem luốc của chị tôi không thể đoán chị ở độ tuổi nào, tôi hỏi chồng:

– Chị ấy làm chi mà bị thương nhiều dữ vậy, nhìn mặt chị. em rùng mình, con mắt ghê quá, lòi ra không nói mà ớn ốc, cái lớp ghèn lòng thòng bao quanh, tay bị thương há miệng, mỡ máu chảy, ruồi lằng theo cả đoàn, sao chị ấy không băng bó lại, mất vệ sinh kiểu đó lâu ngày cánh tay cụt như chơi.

Chồng tôi mỉm cười nói:

– Đó là di chứng của thời đại.

Tôi nói lại:

– Đúng là bệnh thời đại, khi xã hội là một vũng bùn thì con người lấm bùn mất vệ sinh theo.

Chị ấy đưa cháu trở vào, tôi bưng mâm cơm đặt xuống chiếc chiếu, tôi chọn ngồi sát bên chị, để hai người ngồi cùng chiều khỏi nhìn thấy mặt người đối diện, kéo nồi cơm về gần, tôi ngại cánh tay lòi mỡ đó đưa qua đưa lại, nhưng tôi giật mình khi chị đưa tay nhận chén cơm, cánh tay trắng nõn nà vết thương kinh tởm đó không còn nữa, tôi ngạc nhiên hỏi chị:

– Hồi nãy tay chị bị thương mà sao bây giờ lành rồi.

Chị cười nói:

– Chuyện dài dòng lắm, chị sẽ kể cho cô nghe sau.

Tôi suy nghĩ câu nói của chồng tôi “di chứng của thời đại”, câu nói có ẩn ý nhưng mình nghĩ không tới.

Bây giờ tôi nhìn kỹ mặt chị, mắt trái tròng trắng vẫn nhô lên, nhưng ghèn bao quanh không còn, khuôn mặt trái xoan, sóng mũi dọc dừa, con mắt còn lại đen láy sau hàng lông mi dài, họ gọi là mắt bồ câu, một vẻ đẹp thanh tú, kiêu sa, nếu con mắt bình thường thì đúng là một giai nhân.

Tôi thắc mắc, nhìn dáng người của chị, chắc chắn sinh ra và lớn lên trong một gia đình bề thế đương nhiên là học hành tới nơi tới chốn, gia đình của chị, rồi gia đình bên chồng, dù khó khăn cách mấy đi nữa bộ hai gia đình không kham nổi hai mẹ con chị hay sao, mà chị lại phải dắt con đi ăn xin, chắc chắn có vấn đề.

Bữa cơm xong chị phụ tôi dọn dẹp, tôi không cho, tôi nói:

– Chị rửa tay cho cháu ngủ đi, mấy cái chén em quơ một tí là xong.

Chồng tôi vội vàng lên yên, lái xe đi lại, để dọn hàng cho chị Thảo và đưa các mối bán buôn ở chợ về nhà, tôi dặn ảnh:

– Anh nhớ nói qua với chị Thảo nhà mình có khách nghe.

Anh gật đầu quay qua nói với chị Quang:

– Tụi em ở đây khá lâu rồi chưa được ai hỏi thăm sức khỏe, đêm nay chắc cũng vậy chị phè cánh ngủ một giấc mai đi sớm.

Anh ấy ra đi chúng tôi ngồi lại với nhau nhìn thẳng vào mắt chị tôi mở đầu:

– Chị biết đó, em cũng là vợ lính, nhưng lính từ trại tù về, xã hội nầy gọi anh là ngụy quân, em không may mắn được làm vợ lính trong thời chiến để cùng chồng ngửi mùi thuốc súng, em cũng không may mắn làm người vợ bán từng CC máu để nuôi chồng trong các trại tù khổ sai khốn nạn.

Em chia xẻ nhọc nhằn thân xác của anh hiện tại và trân quý dĩ vãng oai hùng của anh, em không bao giờ đụng tới vết thương đang mưng mủ, nhức nhối từ trái tim đến thớ thịt, có những buổi chiều anh ngồi quay mặt xuống hồ đôi mắt nhìn về nơi xa xôi nào đó, có khi đứng dậy mắt đỏ hoe.

Em nghĩ đó là những phút giây thiêng liêng của cuộc sống, người anh hùng ngã ngựa, họ muốn đứng lên, nhưng đứng lên cách nào, muốn vực dậy nhưng vực cách sao đây. Em luôn cảm thông và khuyến khích tinh thần, tội nghiệp ảnh, tội nghiệp những người lính Việt Nam Cộng Hòa.

Tội nghiệp những người vợ bị lột xác trong cái xã hội quỷ quái nầy, các chị phải đầu tắt mặt tối gánh nặng hai vai, chồng trong các trại tù, con còn nhỏ dại, tứ thân phụ mẫu già yếu tật bệnh, bây giờ em đang ngồi đây cũng đang cùng anh trốn chạy, qua một ngày là mừng một ngày, được ngày nào hay ngày đó, xã hội này là một bóng đêm dài bất tận, nhìn tới phía trước lóe lên toàn dao găm mã tấu, toàn máu là máu.

Tôi nói một hơi chị ngồi yên lắng nghe, con mắt còn lại của chị sáng lên, long lanh đầy sát khí chị nói.

– Chồng của cô là bạn thân của chồng chị, họ là những người lính từng kề vai sát cánh sống chết bên nhau, bây giờ người mất người còn, chú và cô đang trên đoạn đường bôn tẩu, chú có cô cảm thông chia sẻ, chị một mình lạc lõng bơ vơ, chẳng còn ai ngoài những người bạn, trân quý nhau coi nhau như ruột thịt. Chị kể cho cô nghe về chị, sáng mai mẹ con chị sẽ đi, không biết đi đâu bạn bè bảo sao thì nghe vậy.

Chị bắt đầu kể:

Bản doanh của đơn vị là một căn cứ của Quân đội Hoa kỳ bàn giao lại, căn cứ rất lớn, đơn vị dành một khu làm nhà ở cho sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ, chị và anh Quang ở trong đó.

Khoảng ba giờ sáng đêm 10 tháng 3 năm 1975, đang ngủ giật mình vì những tiếng nổ lớn, nửa tỉnh nửa mê không biết nổ ở đâu và hướng nào, anh Quang vùng dậy bật đèn sáng, chụp bộ đồ lính vắt trên đầu giường, tròng quần vào, cúi xuống xỏ chân vào đôi bốt đờ sô, tay lấy cây súng AR 15 dựng bên đầu giường, vén màn bước ra như thường lệ ngồi vào ghế để cột dây giày, chị nghe anh lên tiếng nói chuyện với ai đó thì một loạt súng nổ, chị giật mình vén màn nhìn ra anh Quang gục lên bàn, thấy người bắn anh Quang bận bồ đồ biệt kích bạc màu, tóc dài, dáng nhỏ mặt xương xẩu đứng nhìn anh Quang một lúc rồi bỏ đi.

Máu anh Quang từ ghế ngồi chảy xuống có vòi, chị ngồi bệt xuống nền nhà thân hình cứng đơ, như cái xác không hồn, cứ ngồi mở to mắt nhìn máu chảy, nhìn anh ngồi gục ở đó, chị lịm chết đi như thế không biết bao lâu, con bé khóc chị giật mình, đứng lên kiếm miếng bánh quy trong hộp lương khô cho bé ăn.

Không biết đã qua giờ thứ mấy, không biết bây giờ sáng hay chiều, mặt trời đã nghiêng bóng, như xác chết chị bước ra ngoài coi còn ai nhờ giúp. Đập cửa phòng anh Đường đối diện không nghe ai lên tiếng, mấy phòng kế bên cửa mở toang không bóng người, đơn vị im lìm vắng tanh, hoang vắng đến lạnh người, tiếng súng đì đùng nghe rất xa.

Chị không biết việc gì đã xảy ra, một điều chị biết là lúc nầy trong đơn vị chỉ còn một mình chị, quay vào phòng, anh Quang ngồi bất động trên ghế, máu nhuộm đỏ bộ đồ hoa loang một khoảng lớn trên nền nhà.

Nhìn anh, cứ đứng nhìn chết trân, chân tay chị lạnh cóng, trong đầu lảng vảng câu hỏi. Chết rồi ư? Chết thật rồi ư? Nước mắt không chảy nữa, khô đắng cổ họng, không biết phải làm gì, đầu óc trống rỗng, chợt bừng tỉnh như qua cơn mê khi nghe tiếng người nói chuyện, tiếng chân người xào xạc đến gần, chị mừng thầm như vậy là có người giúp, nhưng phải coi ai cái đã, chị lui vào trong buồng ngủ, vạch tấm màn chắn gió nhìn ra ngoài.

Có ba người đứng trước cửa phòng của chị, chị thấy thằng bắn anh Quang vai hắn có cột tấm vải đỏ, với thêm hai thằng khác đội mũ cối, ba đứa súng đeo vai đứng ngay cửa ra vào đang chỉ chỏ chi đó, thấy hắn chị mừng quá, vớ cây súng AR15 của anh Quang, kê mũi súng lên thành gỗ đóng lưới chắn muỗi, mũi súng cách bọn đó khoảng 3 mét, tầm đạn nầy thì cả ba đứa đều ngang vai.

Chị bật nhẹ khóa an toàn, kéo mạnh tấm màn che, mở mắt to nhìn ba đứa để coi chúng ra sao khi chị ngoéo cò, ngón tay chị siết chặt cò súng, cho chắc ăn mũi súng nhích qua nhích lại, chúi xuống, giở lên, toe tấm ván ép làm cửa.

Ba đứa khuất tầm nhìn, có lẽ bọn chúng nằm xuống, chị xách súng chạy ra, trở băng đạn lại, (súng anh Quang hai băng cong gắn băng keo lại với nhau) đạp mạnh cửa, thấy ba thằng nằm chồng lên nhau, chị đưa súng vào đầu bóp cò tiếp ba chục viên đạn ra đi, ba cái đầu giẹp xuống như ba mũi dày.

Nhìn xác giẹp đầu của thằng đó chị thấy lòng mình nhẹ nhõm, tâm trí tỉnh táo lạ thường, đem đặt cây súng lên bàn cạnh anh Quang, lúc đó mới nghĩ ra; chôn anh rồi rời khỏi đây. Chị ung dung mở cái xẻng cá nhân cào một rảnh dài sâu ngang đầu gối dãy đất bên cạnh phòng ngủ, lấy tấm ra trắng bọc xác kéo anh ra huyệt chôn, anh quá cao và nặng, hơn nữa trong tư thế ngồi, chết quá lâu cứng đờ.

Chị tập trung hàng chục chai rượu tẩm vào quần áo một lúc duỗi thẳng người ra, đất không đủ lấp kín phải vác bao cát chắn chung quanh nhà xổ ra lấp lên, một số chất thành nấm mộ, xong việc trời cũng nhá nhem tối, chị vào sửa soạn để ra đi. Chị mang theo hai cây súng của anh, cây Rouleaux ngắn nòng (P38) với nửa hộp đạn, cây Browning 10 viên đạn giắt vào nịt vú, xé hai tấm vải trắng trải giường làm khăn tang, quấn lên đầu cúi chào anh rồi hai mẹ con ra đi.

Hành trình về phương Nam.

Những bước chân âm thầm trong đơn độc, không phương tiện, không bóng người trên quốc lộ, cứ đi, cứ bước, nhưng không biết điểm đến và bao giờ tới đích. Tim chị bây giờ chai cứng, thù hận đốt cháy con người, chị sẵn sàng giết bất cứ đứa nào lạng quạng trước mắt. Chị sẵn sàng chết, cho nên chị không sợ chết, chị nguyện sẽ trả thù cho anh Quang trong khả năng có thể.

Dọc theo Quốc lộ 21về hướng Đông, đi bộ đến nỗi hai bàn chân phồng lên chảy nước, đi nhanh, đi chậm, qua từng khúc, vượt từng đoạn, nơi nào có nhà vào xin ăn, ngủ bờ, ngủ bụi, ngủ bất cứ lúc nào không kể ngày đêm, chị chẳng còn biết sợ là chi, cây P.38 sẵn sàng bắn vào đầu bất cứ đứa nào. Những nơi đã đi qua không để lại trong chị dấu ấn nào, rồi một hôm không biết từ ngày đầu tới giờ đã bao lâu, mẹ con chị đứng trên đèo Phượng Hoàng hướng về phía Đông, xa xa những cụm khói bốc lên có lẽ đó là thị xã Ninh Hòa.

Người chị hừng hực nóng như cơn sốt khi đứng trong khu thị tứ đỏ rực màu máu, có lẽ miền Nam đã mất trong những ngày chị lang thang trên đường 21.

Dọc theo Quốc lộ 1, từng cụm người ngồi, nằm, la liệt thần sắc ngu ngơ, họ ngồi vì họ đã cùng đường. Từng toán lính cộng sản đi ngang qua, những thằng bận đồ lính VNCH mang băng đỏ lẽo đẽo theo sau, chị muốn móc súng bắn nát óc mấy thằng đó.

Chị bắt xe đi từng đoạn về Sàigòn, Sàigòn bây giờ quá tội nghiệp, xác xơ, ủ rũ,vọng nhìn theo bóng những đứa con bị đuổi ra đi.

Sài gòn ơi! Thôi từ nay vĩnh biệt

Ta gục đầu thương tiếc buổi chia ly

Người ra đi đảo lộn cả đất trời

Người nằm xuống không nói lời từ biệt

Muôn thế hệ ngàn sau hằng thương tiếc

Sài gòn ơi! Thôi vĩnh biệt từ nay.

Đau đớn nhìn quang cảnh Sàigòn, thế là hết!

Chị về nhà nghỉ một ít lâu, đợi sinh hoạt của thành phố bắt đầu khởi động lại, chị bế cháu về Cầu Ngang thăm gia đình anh Quang, chỉ nói qua loa là anh ấy tử trận, cứ vậy vài ba tháng đem cháu về thăm nội mang tí quà Sài gòn, ở lại vài ba hôm rồi lên.

Một hôm ngồi trên xe đò lên Trà Vinh để về Sàigòn, xe dừng lại đón người đàn ông bên đường với bốn năm lồng vịt, người ấy lên xe chật ních, chen ngang qua chỗ chị ngồi anh ta nheo con mắt trái, chị thấy người nầy quen quen nhưng nhớ không ra, vì mặt mày lem luốc, chị nghĩ anh ta nheo mắt tức là đã biết mình chắc ra dấu hiệu chi đó.

Xe tới bến, chị nán lại xuống sau cùng, cố ý chờ người bán vịt, mấy lồng vịt đặt lên xe lôi, người ấy quay lại nhìn chị, chị đi bộ theo ra góc đường bán vịt gà đứng chờ. Ổn định chỗ bán, người ấy tới hỏi chị:

– Chị Quang không nhìn ra em à, em Hoàng đây.

Chị mừng quá, Hoàng là bạn cùng quê với anh Quang, trước đây cùng đơn vị, Hoàng ở Thám Sát, anh Quang làm Ban Hành Quân. Anh em gặp nhau thường xuyên, sau Hoàng xin đổi về Sư Đoàn 9 cho gần nhà. Nghe anh Quang nói về Sư Đoàn 9 Hoàng ở Đại Đội Trinh Sát, gặp lại Hoàng giờ đây sắc thái suy sụp nhiều, già trước tuổi, cười nhưng không vui, chị nói với ảnh:

– Mặt chú bầy hầy lem luốc, chị thấy quen quen nhưng không nhận ra, buôn bán có khá không?

Hoàng trả lời:

– Cũng tạm ổn, em có nghe tin anh Quang, em xin chia buồn với chị.

– Cám ơn chú, vận nước mệnh người thôi đành chấp nhận, sao tôi thấy chú không được vui, bộ gia đình gặp chuyện gì hay sao, xã hội tăm tối con người sống theo lối chụp giật có gì chia sẻ được, mình chia sẻ cho nhau.

Hoàng nhìn chị như dò xét, lưỡng lự nói:

– Không có gì đâu chị, một vài chuyện lặt vặt thôi mà, hôm nào rảnh chị em mình tâm sự, cũng có vài chuyện em cần chia sẻ, nhưng không biết chia sẻ với ai, thời buổi nầy không thể tin ai được chị à.

Chị trả lời:

– Chú Hoàng tin anh Quang thế nào thì tin chị như vậy, bộ chú sợ chị là chó săn hả, có gì chú cứ nói đừng ngại.

Hoàng tới sát bên chị nói nhỏ:

– Nếu chị không sợ liên lụy thì em nói, em và một số anh em Đại Đội Trinh Sát ly khai, em buôn bán thế nầy để mua lương thực thuốc men cho anh em. Anh em khá đông, nhưng bị chúng giết lần giết mòn đi cả, chuyện quá dài không thể nói một lúc ở đây được, mỗi tuần hai ngày Thứ Hai và Thứ Ba em đều có mặt ở đây, lúc nào có dịp chị về đây trúng hai ngày nầy em sẽ nói cho chị nghe.

Chị trả lời Hoàng:

– Bây giờ chị lên cho kịp chuyến xe đã, hai tuần sau trở lại đây tìm chú.

Về tới Sàigòn chị tìm nhà cô bạn xin theo cô ấy chạy bán thuốc tây, chị được cô ấy giới thiệu với vài người chủ vựa thuốc, cô ấy nói:

– Ban đầu hơi lúng túng, nhưng nghề dạy nghề, cố nhớ vài tên thuốc với công dụng và liều lượng dùng, rồi mau chóng trở thành Dược Sĩ.

Chị bám trụ ở sạp anh Nghị tại chợ Kim Biên, cũng may anh Nghị là Sĩ Quan Biệt Động Quân tù về sớm nên anh ấy thông cảm hoàn cảnh của chị, tận tình hướng dẫn, chị ngồi liền mấy ngày để học. Thấy cũng không quá khó nên chị bắt đầu xuất chinh, anh Nghị cho chị quyển tự điển thuốc bỏ túi, cũng may trời cho có chút nhan sắc kèm theo sự lanh lẹ nên cũng buôn bán ra trò, quá dễ để hái tiền, người có thuốc đem đi bán họ không biết giá trị thuốc, người đi mua cần đúng tên thuốc, đúng bệnh chứ họ không cần biết giá tiền bao nhiêu.

Đúng hẹn chị về Trà Vinh sáng Thứ Ba, mang theo một ít thuốc đau đầu đau bụng, với một ít tiền. Hoàng mừng nói:

– Tưởng chị lạnh gáy nói cho qua chuyện, không ngờ chị về thật.

Hoàng chỉ quán hủ tiếu nói:

– Chị vô đó gọi hủ tiếu ngồi đợi em, quán của hai ông bà người Hoa lớn tuổi họ ít chú ý tới người khác, hơn nữa cũng là nơi quen biết.

Khi Hoàng vào chị lấy gói quà nhét vào tay chú ấy.

– Trong nầy một ít thuốc, chị có ghi và một ít tiền chị phụ với chú, từ nay chú khỏi lo thuốc, anh em trong đó cần thuốc gì cho chị biết, chị sẽ phụ thêm một tý tiền để chú rộng tay chi dụng cho anh em.

Hoàng run run nói:

– Em cảm động quá, thay mặt anh em, em xin cám ơn chị.

Hoàng nói tiếp:

– Sau ngày 30 tháng 4 tụi em kéo nhau mang súng đạn đi luôn không về, mấy tháng đầu tập trung, sau nầy xé lẻ, kiếm ghe sống trong kinh rạch, rừng tràm, rừng đước, bờ bụi, tụi em đã đánh phá nhiều nơi, giết chết nhiều thằng ác ôn. Cuộc sống của anh em ngày càng khó khăn, mò tôm, bắt cá mưu sinh, mình em ngoài nầy cựa quậy phụ giúp.

Một số anh em bị thằng trưởng công an huyện Trà Cú bắt, thằng nầy quá ác ôn, bắt ai tình nghi là nó bắn ngay, vất xác xuống sông không tra hỏi. Anh em mình đã bị nó giết đến sáu người rồi, em lo quá, cuộc sống nầy không thể kéo dài, ra trình diện gặp nó cũng chết, sống để chiến đấu nhưng chỉ một nhóm nhỏ đánh đấm làm sao, súng có mà đạn không, không lẽ sống lây lất như thế nầy mãi, em thương anh em quá nhưng nghĩ mãi không tìm ra cách nào cho ổn thỏa.

Chị góp ý:

– Theo ý chị trước tiên phải nghĩ cách tiêu diệt thằng công an đó đã rồi tính tiếp, bây giờ chú nên báo anh em ở yên và cố lẩn tránh, còn thằng công an chú thu thập tin tức của hắn, sinh hoạt thường ngày, gia đình, vợ con, nơi ăn, chỗ ở, thói quen, mọi việc mình sắp xếp từ từ không thể nôn nóng được, chị hứa sẽ đồng hành với chú và anh em. Thôi chị lên hai tuần sau về lại, khi nào cần việc gì chú lên chợ Kim Biên hỏi sạp thuốc tây anh Tư Nghị, chị lảng vảng quanh khu đó, cẩn thận là trên hết.

Chị trở lại chợ Kim Biên phải nói là thời gian hái ra tiền, nhà nước cộng sản bị cấm vận, bệnh viện toàn là thuốc lá cây, xuyên tâm liên, ngải cứu. Thuốc tây trong các kho Long Bình, kho 18 và các kho dự trữ khác của VNCH bọn cộng sản đưa ra bán hàng xe, như bán vật liệu phế thải. Bọn chúng không phân biệt được các loại thuốc nên không dám dùng, thi nhau chở đi bán. Buồn cười nhất, hôm nay bán thuốc đó, ngày mai lại đi mua thuốc đó, bán ra một mua lại ngàn, sẵn tiền vơ vét của đồng bào nhắm mắt nhắm mũi mua từng bao chuyển về Bắc.

Lặn lội ở chợ mới biết sinh hoạt đằng sau chợ, khi chiều xuống đêm lên, trong ánh đèn vàng mờ nhạt, bên những đống rác tanh hôi đủ thứ mùi, một xã hội lên ngôi, những bóng người như ma trơi lần lượt về tựu lại, họ là những tay móc túi, giật dọc, những kẻ ăn xin, những tay đâm thuê chém mướn, họ có luật lệ của họ, có vùng đất tự trị trong giới giang hồ đường phố.

Chị không biết họ nhưng họ biết chị, chị bắt đầu thích họ, thích cái xã hội với những tay ngang tàng bướng bỉnh, coi luật pháp không là chi, chị xích lại với họ, thân thiết với họ, hòa đồng với họ, hôm nào ai làm ăn không khá chị tặng một bao lì xì, họ đủ mọi lứa tuổi, nam có, nữ có, một số có gia đình ban đêm về nhà ban ngày nhập bọn.

Chuyện tên công an huyện Trà cú làm chị suy nghĩ mãi, nếu giết được tên nầy may ra anh em tìm được một ngã rẽ mới. Chị về gặp Hoàng như đã hẹn, Hoàng cho chị chi tiết cá nhân của tên ác ôn đó. Khó khăn là tên nầy sinh sống ăn ở trong huyện, gia đình ở đâu vùng ngoài. Chị đã nghĩ ra cách, tìm anh Nghị chủ vựa thuốc hỏi:

– Khách quen của anh có ai làm nhà báo không?

Anh Nghị trả lời:

– Có mấy tay hay tới mua và đặt hàng, mua nhiều chắc đưa về ngoài bán lại.

– Hôm nào có nhà báo tới nam nữ chi cũng được anh nhớ gọi em nghe.

– Chi vậy, bộ muốn xin theo làm đệ hả?

Cả hai cùng cười, sáng nào tới chợ chị cũng ghé nhắc:

– Anh nhớ bạn nhà báo của em nghe.

Chị tìm đám anh em móc túi nhờ họ ra tay giúp lấy cái bóp để coi giấy tờ cá nhân của người làm báo, ai nấy tranh nhau trổ tài, họ hỏi:

– Con mồi ở đâu?

Chị nói:

– Chuẩn bị thôi, khi nào người đó tới chị sẽ báo.

Một hôm, khoảng ba giờ chiều anh Nghị cho người báo tin ngắn gọn: “người tình của chị tới”. Chị chạy quanh tìm được ba em, hai gái một trai, chị tức tốc vào sạp, người đàn ông trung niên ốm xanh có lẽ thiếu dinh dưỡng đang hút thuốc nói chuyện với anh Nghị. Thấy chị anh Nghị nheo mắt gật gật đầu, ba đứa sà vào hỏi mua thuốc đau bụng chưa kịp nói lời nào là bỏ đi ngay. Trong lòng chị lo lo, chắc thằng cha nầy không mang theo bóp đựng giấy tờ nên mấy đứa thấy không có chi đã bỏ đi.

Chị đứng lên nói bâng quơ vài điều rồi theo sau lưng ba đứa, ra sau hàng vải con bé đưa cho chị cái bóp, chị giật mình la lên:

– Ôi trời! Chị tưởng thằng cha không có bóp nên các em bỏ đi liền, ai dè các em đã lấy, lanh không thể tưởng được, chị bái phục các em.

Một em nói:

– Lanh vậy mà có khi bị bẻ què tay đó chị.

– Chị lấy mấy tờ giấy giao bóp lại cho mấy đứa em nghe.

Lục tìm trong bóp, một thẻ đảng viên đảng cộng sản, một giấy giới thiệu của cơ quan báo chí thành ủy Sàigòn, một thẻ chứng nhận nhân viên biên tập báo nhân dân và một chứng minh nhân dân (thẻ căn cước của mình đó) như vậy là quá đủ để chứng minh nhân thân của một người. Chị đi tìm nhóm làm giấy tờ giả, họ chụp hình làm tuốt luốt các giấy tờ kể cả thẻ chứng minh nhân dân, đương nhiên là thay tên đổi họ.

Chị về nhà ông nội của Bé, hỏi thăm tình hình nông nghiệp, vì có vài nơi nông dân không xuống vụ, không chịu cày cấy. Nắm rõ tình hình trong vùng, chị lên chợ Trà Vinh gặp chú Hoàng báo cho chú ấy biết: – “Thứ Bảy tuần sau chị sẽ về thăm thằng đó, không biết có giết được hay không, chị cố gắng tạo điều kiện thuận lợi, bằng mọi cách nó phải chết trong ngày Thứ Bảy, em xin vong hồn các anh chết oan phù trợ cho chị”.

Chị đã đi mấy trăm cây số nơi nầy nơi khác tìm chỗ thử súng, cuối cùng về sông La Ngà nơi nầy có khúc quanh nước chảy mạnh tiếng sóng ào ào, chị lấy cây súng Browning ra, cây súng quá nhỏ, đầu đạn bằng mút đũa, lúc trước thấy anh Quang hay bỏ túi chứ chưa khi nào thấy anh ấy bắn, nên chị chưa biết sự công phá của viên đạn.

Chị không an tâm, chị mang theo trái dừa khô, dí mũi súng sát trái dừa thử một phát, coi kỹ phía bên đầu đạn ra xoáy một lỗ đút ngón tay cái lọt, thế là an tâm. Súng bán tự động một giây có thể bóp cò ba lần, chỉ có thánh mới phản công kịp, một giây ngắn ngủi trong hộp sọ không còn tý não nào.

Ngày Thứ Sáu chị về Trà Vinh lấy phòng ở lại nhà trọ, chiều lang thang ra vườn dừa để đầu óc bớt căng thẳng, tự an ủi mình nếu thuận tiện thì ra tay còn không thì thôi lo lắng làm gì cho mệt. Về phòng trọ uống một chai thuốc an thần của con nít mới chợp mắt được.

Sáng Thứ Bảy dậy sớm, lên bộ đồ giống như thằng mất bóp, mang tòn ten máy chụp hình, súng nhỏ mang trong bắp vế sát háng bên phải, túi quần bên nầy cắt sạch cho đỡ vướng, tập đi tập lại nhiều lần cách moi súng, nhanh và cho tay vào cò chính xác vì cây súng quá nhỏ.

Khoảng 10 giờ sáng chị vào ủy ban nhân dân huyện, trình giấy giới thiệu và các giấy tờ liên quan cá nhân, nói cho họ biết mục đích tìm hiểu vấn đề an ninh trong huyện và nguyện vọng của bà con làm nông nghiệp, vì huyện nầy được tỉnh giới thiệu là huyện điểm nên các đồng chí trung ương quan tâm. Một cuộc họp vội vàng được triệu tập, các tay quan to, trưởng đầu nghành được giới thiệu, bí thư huyện, huyện đội trưởng, trưởng công an, và một số lâu la khác.

Ngồi ngắm mục tiêu, không đoán được tuổi vì mặt hắn nhăn nheo da bầm bầm đen sạm, chị nghĩ trong bụng cái ngữ nầy chắc không mê gái vì sinh khí không có, như con bọ, thì hơi sức đâu mà gái với gông. Hết ban nầy qua ban khác thay nhau, thành tích, phấn đấu, chỉ tiêu, chị ngồi nghe ghi ghi chép chép như ai. Xong việc báo cáo hơn 12 giờ được mời ăn cơm trưa, chiều đi thăm một vài xã để gặp bà con, rồi đến một vài nơi coi tình hình an ninh, tới đâu chụp hình tới đó, đám cán bộ khoái tỉ, cười híp mắt.

Đi tìm hiểu an ninh trật tự thì đi sát với trưởng công an để nghe báo cáo thành tích, cứ tưởng không còn sinh khí té ra sinh lực coi bộ dồi dào, chị mừng thầm thế thì quá thuận tiện, đàn ông lâu ngày không phụ nữ, gặp đàn bà chợ trời chỉ ba chiêu là gia tài sự nghiệp coi như xong.

Gần bốn giờ chiều thì đoàn cán bộ và nhà báo quay về huyện, chị chụp cho họ nhiều hình lưu niệm, chụp cả ngàn cái cũng không sao vì máy không phim. Hứa sẽ đăng báo trang đầu, quay qua nói nhỏ với trưởng công an:

– Sáng mai em có hẹn với các đồng chí thị ủy Trà Vinh, xe đò bây giờ không còn, nhờ anh giúp đưa em lên thị xã với, lên tới trên đó em lo tất cho anh, nơi ăn, chỗ ngủ, uống nước tâm sự, chứ về nơi lạ ở một mình cô đơn lắm.

Nghe vậy thì đàn ông nào không sướng, không xuôi tai, hắn nói:

– Tôi không có xe, cô chờ tôi đi mượn coi có ai họ cho mượn xe hay không đã.

Chiếc xe Suzuki yên liền, có lẽ chạy bằng dầu hôi, khói phụt đen đường, gầm gừ gào thét cố lăn bánh cõng hai mạng người xa dần huyện thị. Ban đầu ngồi xa, qua một vài ổ gà xích lại gần, gần hơn rồi nhẹ nhàng ôm hắn, nghiêng mặt kê vào lưng mơn trớn cọ xát, hắn rùng mình, có lẽ lần đầu trong đời hôm nay hắn mới được cảm giác đê mê đó.

Chị xổ toàn lời ong ve dụ dỗ, hắn im lặng không nói tiếng nào. Lên tới quốc lộ rẽ trái về thị xã, chị đề nghị ghé lên ao Bà Om chụp vài tấm hình kỷ niệm, chạy non cây số thì tới. Người ta gọi là ao nhưng đây là một cái hồ lớn, chiều dài cũng trên cây số, chiều ngang chỗ to chỗ nhỏ năm bảy trăm mét. Chung quanh hồ toàn cây sao, không đoán chính xác tuổi nhưng nhìn gốc rễ cũng có thể biết số cây ở đây đã có vài ba trăm năm.

Ao Bà Om nổi tiếng cho những cặp tình nhân hẹn hò, hoang vắng đến lạnh lùng, u buồn cô tịch. Chị chọn một gốc có hai rễ nhô lên như hai bờ tường, cao ngang đầu, ngồi xuống đó như ngồi trong góc nhà, chị nói với hắn:

– Mình xuống đây ngồi tý đi anh, ngồi lên rễ ngang tựa lưng vào đây thì tuyệt vời.

Hắn dựng chiếc Suzuki vào gốc cây, chị xuống ngồi trước, xích qua phải chừa chỗ bên trái, đưa tay lắc nhẹ cây súng, lẩm bẩm một mình: “sắp tới phiên mầy rồi đó”.

Hắn vịn tay bước vô chỗ ngồi, hai người nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, chị bắt đầu dựa vào hắn, mùi dầu thơm trên tóc quyến rũ hắn chịu không nổi, luồn tay phải qua lưng chị, rồi ôm lấy chị, hôn tứ tung lên trán, lên mặt, lên môi, tay trái chị vòng qua cổ hắn, hôn đáp trả, hắn say sưa hai mắt nhắm nghiền. Tay phải chị móc cây súng dí sát màng tang bên trái bóp cò, năm tiếng đẹt đẹt như tiếng vỗ tay vang lên trong buổi chiều xế bóng.

Hắn chết liền không nhúc nhích, cũng chết trong tư thế ngồi như anh Quang, hắn chết trong lúc đang nhắm mắt tận hưởng nụ hôn nồng nàn của tử thần ban tặng. Hắn phải trả mạng lại cho sáu anh em, cho những người vì yêu thương đất nước mà hắn đã ra tay.

Chị cũng biết rằng thằng ác ôn nầy chết thằng ác ôn khác lên thay, nhưng biết đâu thằng sau có kẽ hở, anh em tìm cơ hội vượt qua. Chị dựa lưng hắn vào rễ cây, vắt chân lên, hai tay bỏ lên đầu gối, người ta đi ngang qua cứ ngỡ hắn đang ngồi chơi. Chị chạy xe ra quốc lộ, bỏ lại trong sân chùa, đón xe đò về lại Sài gòn trong đêm.

Tuần sau tin từ nhà anh Quang nhắn lên, cả tuần nay công an ập vào nhà lục lọi, hỏi chị hạch xách đủ điều. Cô em gái từ nhà chạy ra chợ báo tin, không biết tìm gì mà công an ập vào nhà lật tung mọi ngõ ngách, cuối cùng họ hỏi chị đi đâu, ba mẹ nói chị đi về ở dưới Cầu Ngang. Cô em nhắn chị đừng về nhà.

Tối hôm đó chị xin ở lại với chị em bụi đời, mấy đứa móc túi đứa nào cũng thương chị, các em hỏi lý do chị ở lại, chị nói chị đang bị truy nã, mấy đứa có suy nghĩ giống chị, ban đêm ở đây còn ban ngày thì sao, không phải lẩn tránh một vài hôm mà có thể là suốt đời, một em bàn với chị:

– Đợi má Chín về tụi em đến gặp má nhờ má nghĩ cách.

Khoảng hơn mười giờ người đàn bà lớn tuổi đi trước, theo sau một tốp bị gậy nghêu ngao ca hát cùng nhau vào chợ, thấy cuộc sống vô tư của họ, chị cũng vui lây, mấy đứa nhỏ nói:

– Chị ngồi khuất bên kia để bọn em nói nhỏ với má đã, nếu má đồng ý tụi em đưa má qua đây gặp chị.

Chị nghĩ các em tuy nhỏ nhưng ra đời sớm va chạm nhiều trong việc mưu sinh nên đầu óc các em tinh tế và khôn ngoan.

Má chín theo mấy đứa nhỏ đến gặp chị, hứa sẽ giúp, má bảo ngủ đi sáng mai dậy sớm mọi chuyện xong ngay. Mấy đứa nhỏ nhường mùng muỗi và chỗ ngủ cho chị, suốt đêm không thể nào chợp mắt được. Ngồi bó gối suy nghĩ làm thế nào để vượt qua ngõ bí nầy, chị đành bó tay nghĩ không ra cách, tự an ủi mình thôi tới đâu hay tới đó, mấy người gác chợ cầm gậy đi ngang qua la lớn:

– Mấy thằng nhóc không ồn ào nghe chưa?

Rất sớm má Chín mang túi vải tới tìm chị, chui vào mùng má bảo:

– Phải làm sớm, đừng để cho tụi nó biết mặt em.

Má mở bao ra mùi hăng hắc xông lên hôi muốn lộn ruột, lấy cái gì đó gắn lên mắt trái, má nói cái nầy khó chịu lắm, ngứa quá thì lấy tăm xỉa ngang vô, không được tháo ra, một tuần má tháo ra cho một bữa. Xong rồi gắn cái chi mát mát vào tay chị như vết thương hồi nãy em đã thấy. Má Chín làm cho chị và chỉ cách, bôi một tý phẩm đỏ lên, lấy lớp mỡ mỏng gọi là bàng nhạng lớp nầy thường bọc ngoài lá gan, hay ruột già của bò mới được, vì mỡ bò khi khô nó chuyển sang màu vàng vàng. Trời nóng mỡ tươm ướt thấm vô phẩm đỏ thành ra một vết thương mưng mủ máu.

Quệt thêm chung quanh một lớp mật mỏng, hay nước đường thế là đi tới đâu ruồi lằng theo tới đó, gớm ghiếc ít ai dám nhìn. Đặc biệt loại bàng nhạng nầy đắp lên chỗ nào là dính sát, con mắt chị ghèn dính tèm lem là nó đó. Rồi trét đất lên mặt, lên tay, chỗ nào đậm chỗ nào nhạt là một nghệ thuật trang điểm công phu chứ không đơn giản như mình tưởng.

Má nói bây giờ không ai có thể nhìn ra em, phải đi lang thang, tìm chỗ ngồi dang nắng cho cháy lớp da mịn màng tiểu thư nầy đi. Khi đi ngoài đường mình là người ăn xin đui què, đói đi không muốn nổi, đừng cắm đầu cắm cổ chạy như thiên hạ. Chị cám ơn má Chín dúi vào tay Má một nắm tiền, Má từ chối không lấy, chị năn nỉ Má mới cầm.

Thế là chị nhập cuộc xin ăn, chị đi theo mấy nhóc móc túi, các em chỉ đâu chị ngồi đó, cuộc sống lề đường cũng nhiều thú vị. Gia đình chị gặp chị nhưng họ nhận không ra, khi nào cần gì chị nhờ các em móc túi liên lạc.

Tháng trước chị thấy chú Hoàng lảng vảng trước sạp thuốc anh Nghị, chị viết mấy chữ “cần gì thì nói với em nầy, chị không tiện gặp chú”. Chị nhờ mấy em móc túi cầm tờ giấy tới giật đồ trên tay chú Hoàng để chú đuổi theo, đuổi một đoạn thì túm được thằng nhỏ, nó van xin tha, nhét miếng giấy vào tay chú, Hoàng liếc qua mảnh giấy, túm áo thằng nhỏ kéo đi:

– Tao đem chú mầy cho công an.

Hoàng kéo thằng nhỏ đi, viết nguệch ngoạc mấy chữ nhét vào tay chú móc túi:

– Em trả miếng giấy nầy lại cho người nhờ em đưa.

Hoàng viết:

– Ngày 9 Âm lịch, về tìm xe lôi số 162.

Đêm hôm qua chị nhờ đưa bé tới, chị ngồi trong mùng không dám cho bé thấy cái mặt dễ sợ của chị, bé nhận ra tiếng mẹ, chị cho bé biết chị hóa trang để trốn khỏi bị đi tù nên mặt mẹ dơ lắm, bé đừng nhìn và đừng nói chi hết. Hai mẹ con mình ngày mai cùng đi trốn.

Chị từ giã gia đình hè phố, ai cũng quyến luyến yêu thương, họ là những người sống ngoài lề đường tận cùng xã hội nhưng lòng họ bao la như đại dương, tim óc họ cao như núi. Mấy đứa móc túi cầm tay chị khóc nói:

– Chị đi đâu khi nào về nhớ tìm chúng em.

Chuyến xe Sài Gòn Trà Vinh hôm nay về trễ vì qua trạm Vĩnh Long tụi thuế xét lâu quá, chị cũng đâm lo. Có lẽ Hoàng đã dặn chồng em rồi khi thấy số xe chị hỏi xe chú có đi không, chồng em hỏi lại:

– Có phải chị Quang không?

Chị gật đầu lên xe, chồng em nói:

– Hoàng nhờ em nói lại với chị, sáng mai 3 giờ chị lên tàu Phú Thịnh khoảng 3 giờ rưỡi hay trễ hơn một tí tàu nầy sẽ nhổ neo chạy lên Sài Gòn, nếu như quá bốn giờ nó không nhổ neo thì xuống nhanh và lẩn trốn. Để chắc ăn hơn, 2 giờ em đưa chị về bến đò và sẽ đứng chờ cho đến khi đò rời bến.

Một đêm không ai chợp mắt, có lẽ chồng tôi không biết chị Quang đã làm gì, sống ra sao trong thời gian qua. Hai giờ sáng họ ra xe lôi, tôi nắm tay chị nói:

– Em kính phục chị, kính phục người vợ lính bất khuất, người phụ nữ anh hùng ngoài trí tưởng tượng của em. Em nhớ chị mãi, và em cầu nguyện cho chị hằng đêm.

* Lời nhắn của em: “Nếu chị đọc được bài nầy, xin chị liên lạc với Ban Biên Tập Tập San Biệt Động Quân để lấy địa chỉ của em, chúng em nhớ chị, hỏi và tìm chị khắp nơi”.

Thương nhớ chị nhiều.

Phương Lâm

Phía Sau Trang Chữ

ongvove.wordpress.com

Post 30 Oct 2019

Cao Thanh Phương Nghi

Post by Sơn râu 23 Aug 2025

Pinterest photo edited by Sơn râu

Có một dạo Tuấn làm chủ bút cho một tờ báo lá cải ở vùng Hồ Muối bang Utah. Loại báo này thường được chất đống trong chợ. Các chị các bác đi chợ thuận tay thì vói lấy một tờ, thích thì đọc, không thích thì lấy gói đồ, lót nồi niêu cũng được. Công việc nhẹ, tiền cũng nhẹ nhưng Tuấn yêu văn chương nên coi đó như một thú vui hiền lành. Mỗi ngày đi làm về thay vì ngồi vào bàn nhậu thì Tuấn ngồi vào máy vi tính gõ lóc cóc. Nhờ làm việc này mà Tuấn quen được nhiều người. Họ gởi bài vở đến cho Tuấn, thỉnh thoảng nói chuyện tào lao, lâu ngày thành thân, đem chuyện gia đình ra kể lể.

Một điều buồn cười là Tuấn chưa hề gặp gỡ những người cộng sự với mình bao giờ, mọi sự liên lạc chỉ qua màn hình vi tính. Mặt mũi của họ là những trang chữ, bài viết, bài thơ, ngay cả tên cũng chưa chắc là tên thật. Họ buồn vui hay giận dữ, cau có hay mềm mỏng gì thì lộ ra trong giọng văn của họ, Tuấn tuỳ theo đó mà đoán thôi. Anh A, anh B văn chương mộc mạc chắc là người hiền lành, chị C coi bộ đanh đá và chắc bị tình phụ nên oán hận bọn đàn ông quá cỡ, có bao nhiêu nỗi niềm trút hết lên mặt chữ. Làm việc lâu biết tính nết nhau chớ mặt mày thì mường tượng trong trí thôi, mà như thế cũng có sự thú vị riêng của nó.

Một hôm Tuấn nhận được một bài thơ ngắn bốn câu của tác giả ký tên là Tuyết Trang. Bài thơ như thế này

“Tháng sáu trôi nghiêng thuyền độc mộc

Vụng về ngọn cỏ níu bờ lau

Tháng chín hoa thu viền nỗi đợi

Tháng chạp chìm sâu giấc mộng đầu”

Bài thơ ngộ ngộ, lơ mơ, huyền ảo, Tuấn không hiểu lắm nhưng vẫn cho lên trang. Báo phát hành. Tuyết Trang thấy bài được đăng thì gửi mấy hàng cho Tuấn trong email: “Cám ơn anh Tuấn nhé. Trang rất vui.” Tuấn đáp: “Không có chi. Hân hạnh chào đón tác giả mới.”

Từ đó Tuyết Trang làm thơ gửi cho Tuấn thường xuyên, cứ vài hôm là một bài bốn câu. Tự nhiên Tuấn thấy mến người nữ tác giả này kỳ lạ. Thơ của Trang chưa chắc hay đối với người khác nhưng hợp với tâm trạng của Tuấn nên Tuấn yêu thích lắm. Trang bảo: “Anh người miền Trung phải không? Bài viết của anh hay nhắc tới những địa danh miền Trung.” Tuấn đáp: “Vâng. Đúng là tôi người miền Trung. Tôi ở Huế. Xóm tôi ngày xưa tên là Thuận Lập. Tôi tha phương cầu thực mấy chục năm rồi. Nhớ người xưa quê cũ lắm. Giờ trở về chắc không còn ai nữa.” Thế là Trang làm bài thơ tặng Tuấn:

“Ngó về thành phố bình minh

Chòm mây lấp ló một tinh tú buồn

Xóm nhà Thuận Lập đâu xa

Trong tim anh đó kẻ ca người đùa

Chiều về nhặt chiếc lá thưa

Đốt lên thấy bóng hình xưa tìm về”

Nhiều người thích bài thơ này của Trang. Nhất là Tuấn. Tuấn đăng bài lên báo rồi cắt bài thơ trên trang báo để dành riêng cho mình nữa.

Có lần Tuấn hỏi: “Trang quê ở đâu? Người Nam hay Bắc?” Trang đáp: “Quê nhà ở huyện Tây Xuyên. Cha làm tri phủ ngồi miền Hà Khê.” Tuấn biết Trang nhái thơ Lục Vân Tiên để chọc mình. Anh bảo: “Ghê chưa… dám giỡn với cụ Đồ Chiểu há. Cụ không còn thì tui thay mặt cụ …tui phạt đó nghe.” “Phạt gì?”- Trang hỏi. “Phạt không đăng thơ của Trang nữa chớ phạt gì”. Trang nín thinh, ba bốn ngày trốn biệt. Rốt cuộc người nhớ lại là Tuấn, lại lăng xăng lên email gọi Trang ơi Trang hỡi. “Anh trên núi xuống tìm em. Em đi như thể cánh chim về rừng. Sao em bối rối ngập ngừng. Hay là em đã thẳng đường về dinh?” Trang cười: “Hạt cườm trên cổ lung linh. Ngựa ô cất bước về dinh, dinh nào? Em về trên bến ngàn sao. Ngàn sao hỏi bến nào bến sao.” Tuấn bảo: “Trang làm thơ rối quá. Tôi không đăng đâu.” Trang bảo: “Anh không thích thì cứ bỏ đi.” Tuấn vờ giận rồi lại làm hòa. Xong lại đùa bỡn như bình thường. Hôm nào không thấy chữ Trang trên email là Tuấn nhớ ghê lắm.

Trang đến, Trang đi cùng với những bài thơ làm Tuấn thấy mình trẻ như một chàng trai tơ, lâng lâng vui sướng. Từ chỗ hay viết văn xuôi Tuấn chuyển qua viết văn vần. Hai bên đối đáp toàn bằng thơ:

“Phải là em đấy hay ai

Kéo tôi thức giấc trăng đầy mái hiên

Trăng này trăng của tôi riêng

Rớt trên ngực áo bỏ quên không đành”

Trang đáp lại

“Trăng xanh trăng của riêng mình

Đã rơi trên nước tan tành bấy trăng

Vớt lên ướt sũng khuya rằm

Mà trăm mảnh vỡ còn vằng vặc đêm”

Tuấn ôm bài thơ của Trang vào ngực ngủ thiếp đi. Trong mơ Tuấn thấy mình lạc vào cánh đồng cỏ không người mênh mông vô tận, thấp thoáng là những mô đất lè tè trên con đường ngoằn ngoèo khúc khuỷu. Trời lúc ấy thẫm lại, tím hoang vu bốn bề. Tuấn đi mà không biết mình đi đâu, hoàn toàn mất phương hướng. Tuấn cứ thế mà đi, hai tay vẹt vẹt cành cây và những bụi cỏ cao vướng ngang mày cho tới khi Tuấn thấy trước mặt mình là một bờ sông, xa xa có cây dừa dại và một bóng người mặc áo trắng đang ngồi ở đó. Tuấn mừng quá kêu lên: “Ai đó ơi…chờ tôi với. Tôi lạc đường.” Vừa nói vừa rối rít chạy tới nhưng hoá ra cái người ngồi dưới gốc dừa chẳng phải là người mà là tảng đá lớn màu trắng. Tuấn ngơ ngác nhìn tảng đá rồi nhìn xung quanh. Vẫn chẳng có ai. Tuấn men theo bờ sông mà đi và nhác thấy cách mình không xa là cái chòi nhỏ có tấm bảng ghi dòng chữ: “Bán vé qua đò”. Tuấn chạy vội tới. Một ông cụ đang ngồi trong cái chòi đó chơi ô chữ một mình. Tuấn nói: “Chào cụ. Ở đây bán vé đò hả cụ? Sao cháu không thấy con đò nào hết?” Ông cụ đáp:

-Mấy tuần nay nước sông cạn lắm. Đò không hoạt động được.

-Vậy muốn qua sông thì sao cụ?

-Thì chú mày bơi qua đi.

Ông cụ nheo mắt cười. Tuấn chưa kịp nói gì thêm thì ông cụ đứng lên kéo sập cửa lại. Tuấn buồn bã quay về chỗ gốc dừa có tảng đá trắng ban nãy ngồi nghỉ chân. Không gian tĩnh mịch vô cùng. Nước sông chảy chậm chạp, như hờ hững, như dỗi hờn. Từng đàn chim chiều vụt qua trong màn mây áo não. Đang ngồi nghĩ ngợi mông lung bỗng Tuấn thấy tảng đá lắc lư một chút rồi càng lúc lắc lư càng mạnh. Tuấn hốt hoảng đứng bật dậy nhìn sững tảng đá và rùng mình mở choàng mắt. Lúc này anh mới hay là mình vừa trải qua một giấc mơ lạ. Trong căn phòng vẫn chỉ một mình Tuấn và ngọn đèn ngủ cháy cô đơn bền bỉ. Anh thấy mình trơ trọi quá. Một thân một mình qua đây kiếm tiền nuôi mẹ nuôi em. Rồi mẹ mất. Tình anh em nhạt dần, bạn bè thân không có, thèm một người nói chuyện cũng không dễ mà tìm.

Tuấn đưa tay vuốt mặt cho tỉnh rồi ngồi vào mở máy vi tính. Mới hai giờ sáng. Không mở máy vi tính thì đâu, biết làm gì. Máy báo có email của Trang. Tuấn liền mở ra đọc. Trang gởi bài thơ nhờ Tuấn đăng báo:

“Tôi đã ngồi đây trọn buổi chiều

Hoàng hôn tịch mịch nước cô liêu

Đợi mãi đò ngang không trở lại

Cây đứng bơ thờ mặc gió trêu.”

Tuấn đọc bài thơ xong tự nhiên liên tưởng đến giấc mơ của mình khi nãy. Hình như có cái gì giông giống giấc mơ ấy ở những chữ “hoàng hôn tịch mịch” “nước cô liêu” “đò ngang không trở lại”. Sao lạ quá. Tuấn trả lời email của Trang: “Trang vừa đi đâu chơi ngoài bờ sông phải không? Thơ hay đó. Sao không rủ tôi đi với.” Trang trả lời: “Không rủ được. Nước sông cạn nên đò nghỉ hết rồi. Đợi hôm nào nước lớn đi đò chơi mới vui.” Tuấn đọc những dòng trên email mà mướt mồ hôi. Sao có những sự trùng hợp lạ quá.

Tuấn ngồi nghĩ ngợi một lúc lâu rồi bạo dạn viết trên email: “Trang ơi. Ngày mai tôi đi làm về sớm. Tôi mời Trang đi ăn kem được không? Tôi biết có tiệm kem ngon lắm. Chắc chắn là Trang thích đấy.” Trang trả lời: “Trang cám ơn anh. Trang bận lắm. Khi khác nha.”

Tuấn không nản chí, mời tới mời lui, năn nỉ ỉ ôi đủ kiểu cho tới khi Trang miễn cưỡng nhận lời. Những dòng chữ Trang viết rời rạc và cụt ngủn. Nhưng dù sao cũng là một sự nhận lời. Tuấn hí hửng nói: “Vậy chiều nay tôi đi làm ra ghé đón Trang nhé.” Trang bảo: “Anh không cần đón. Cứ chỉ đường cho Trang. Trang ra một mình được mà.” Tuấn buộc lòng phải chỉ đường rành rẽ cho Trang trên email, thầm nghĩ : “Tôi mà tóm được em thì tôi nhất quyết không để em thoát khỏi tay tôi đâu.”

Vừa tan sở Tuấn hồi hộp lái xe một mạch tới tiệm kem. Trên đường đi hàng chục chiếc xe đã bóp kèn inh ỏi vì Tuấn lái lạng quạng, băng qua lách lại làm họ phải thắng két két gần đâm sầm vào nhau. Cuối cùng Tuấn dừng lại trước cái tiệm rất dễ thương, thanh nhã, đậu xe và bước vào, lòng rộn rã như có vạn đoá hướng dương đang nở rộ tưng bừng. Lúc vừa mở cửa đi vào thì có một cô gái mặc áo trắng váy trắng hấp tấp vừa từ trong đi ra. Tuấn suýt đụng vào cô ấy nhưng cô gái lướt qua rất nhanh, có lẽ không nghe cả lời “xin lỗi” của Tuấn. Tuấn có cảm giác như một luồng gió lành lạnh vừa lướt qua gáy mình nhưng anh lập tức quên ngay. Anh không mảy may chú ý đến cái sự việc xảy ra trong nhấp nháy ấy, chỉ đưa mắt nhìn khắp trong tiệm mường tượng một khuôn mặt thanh tú đang chờ anh nơi một chiếc bàn nào đó nhưng đảo mắt đến từng góc kẹt vẫn không hề thấy có ai chờ đợi anh cả.

Tiệm lúc ấy không đông lắm. Vài cái bàn đã có người ngồi ăn kem vừa ngả nghiêng ngả ngửa cười đùa rôm rả. Không thấy ai đi một mình. Tuấn chọn cái bàn gần cửa sổ mắt đăm đăm nhìn những người khách bước ra bước vào. Tuấn cứ ngồi nhấp nha nhấp nhổm, dáo da dáo dác như thế một hồi. Cô bán hàng thấy dáng điệu của Tuấn thì bước đến hỏi:

-Hình như anh đang chờ ai phải không ạ?

-Đúng rồi. Nãy giờ cô có thấy cô gái nào đi một mình không? Tôi hẹn cô ấy ra đây ăn kem mà đợi mãi không thấy cô ấy tới.

Cô bán hàng nói:

-Lúc trước khi anh tới thì có một cô gái đi một mình vào đây. Tôi hỏi cô muốn ăn gì tôi mang ra thì cô bảo còn đang chờ một người nữa. Tôi mời cô ngồi vào cái bàn cạnh chậu hoa đó. Rồi tôi không chú ý tới cô nữa. Giờ thì tôi thấy anh dường như cũng đang đợi ai. Không biết người anh đợi có phải là cái cô hồi nãy không?

Tuấn ấp úng:

-Thật tình tôi không biết là có phải cô ấy hay không. Tôi chưa gặp cô ấy bao giờ. Còn cái cô chị vừa nói đó? Cô ấy đâu?

Người bán hàng bảo:

-Tôi không biết nữa. Tôi cũng lấy làm lạ. Hồi nãy cô ấy ngồi đó mà nay nhìn lại thì đi mất hồi nào tôi chẳng biết.

Tuấn hỏi:

-Cô ấy …hình dáng như thế nào hả chị?

Chị bán hàng bảo:

-Tôi không nhớ rõ. Chung chung thì không có gì đặc biệt.

Tuấn vô cùng thất vọng đáp:

-Kỳ quá. Tôi không hiểu.

Chị bán hàng nói đến đó thì phải chạy đi lăng xăng tiếp những lượt khách mới vào. Quán kem càng về chiều càng đông. Tuấn ngồi một hồi chán nản đứng dậy ra về. Tất cả những cánh hoa hướng dương vừa nở rộ trong lòng Tuấn cách đây một giờ nay đã gục xuống héo xác xơ. Vừa về đến nhà Tuấn nhảy bổ vào máy vi tính định mắng mỏ Trang bằng tất cả những lời lẽ nặng nề để trút cho hết cái tức giận thì nhận thấy Trang đã gởi email cho Tuấn rồi. Trang viết: “Anh Tuấn. Hồi chiều Trang có ra tiệm kem như đã hẹn với anh nhưng có việc bất ngờ nên phải đi gấp. Trang đã nói với anh là Trang rất bận. Trang không có thì giờ đi ăn. Anh cứ nài ép mãi. Trang thành thật xin lỗi anh.” Tuấn nhìn những hàng chữ cứng đờ trên máy vi tính lòng dâng lên cảm giác chán chường muốn đập phá tất cả. Không lẽ giữa anh và Trang mãi mãi là cái máy vi tính chết tiệt này. Nếu Trang có ra thì ai là Trang? Là cái cô gái gần đụng ở cửa khi Tuấn bước vào hay là cái cô mà người bán hàng đã thuật lại hay là một ai khác nữa? Mọi sự việc đều hết sức mơ hồ, có thể chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên một cách quái đản khiến Tuấn có cảm giác như Trang là cái bóng lơ lửng mà Tuấn vừa suýt chạm tay vào thì nó khéo léo lách đi. Sau chuyện hẹn hò thất bại ở tiệm kem Tuấn không còn mời Trang đi ăn nữa và cứ mặc kệ thời gian trôi đi, mặc kệ những bài thơ bềnh bồng của Trang tiếp tục chập chùng trên trang báo của Tuấn.

Một hôm Tuấn nghĩ ra được một kế. Anh viết email cho Trang: “Trang ơi. Có một độc giả ái mộ thơ của Trang. Họ gởi cho tôi một bức thư nhờ chuyển đến cho Trang. Thư viết trên giấy hẳn hòi đấy không phải email đâu. Trang cho tôi địa chỉ của Trang đi rồi tôi gởi đến cho Trang.” Đợi mãi không thấy Trang trả lời. Sau một tuần thì Trang viết cho Tuấn: “Trần Thị Tuyết Trang. Số nhà 2455 đường Cối Xay Gió.” Tuấn hỏi: “Trang có số điện thoại không? Nếu có thì ghi ra cho tôi đi. Nếu đi lạc tôi sẽ tìm điện thoại công cộng mà gọi cho Trang.” Trang ghi cho Tuấn số điện thoại với lời dặn dò: “Trang ở trọ nhà người ta. Khi nào kẹt lắm hãy gọi vì đây là số của chủ nhà.” Tuấn đọc email xong lẩm bẩm: “Được rồi. Bây giờ em có chạy đằng trời cũng không thoát.”

Tan sở chiều hôm ấy Tuấn theo địa chỉ Trang cho trên email tìm đến. Trước đó Tuấn đã coi trên bản đồ và nhận thấy địa chỉ ấy nằm ở phía Đông Bắc thành phố. Tuấn theo bản đồ mà chạy, lên xuống nhiều cây cầu, luồn dưới những hàng cây giao nhau, băng qua những khu phố rất đông đúc chật chội sau rốt rẽ vào con đường có tên là Cối Xay Gió. Con đường này ngắn, một đầu có rất nhiều hàng quán, đầu bên kia thì thưa thớt. Tuấn chạy rề rề, tìm số 2455 nhưng không có. Số 2453 là một tiệm food-to-go, kế đó là một rẫy bắp, hết rẫy bắp là nghĩa trang. Tuấn lấy số điện thoại của Trang cho và tìm đến trạm điện thoại công cộng để gọi. Một giọng phụ nữ vang lên:

-Vườn Vĩnh Cửu xin nghe. Anh cần giúp chi ạ?

Tuấn bàng hoàng:

-Xin lỗi. Chắc tôi gọi nhầm. Tôi đi tìm một người bạn và cô ấy cho số này.

Nói xong Tuấn gác máy thừ người ra nghĩ ngợi.

Có một cái gì rất phi lý ở đây. Cái đó giục giã Tuấn phải tìm cho ra sự thật. Anh lái xe đến nghĩa trang có cái tên là Vườn Vĩnh Cửu mang biển số 2455 đường Cối Xay Gió. Tim Tuấn đập thình thịch khi nhìn thấy cái biển số ấy. Văn phòng quản lý nghĩa trang nằm ngay bên tay phải cạnh cổng ra vào. Cửa mở. Bên trong là một phụ nữ lớn tuổi ăn mặc rất nghiêm trang ngồi phía sau một cái bàn lớn. Tuấn bước đến chào:

-Thưa bà. Tôi đi tìm một người bạn. Cô ấy cho địa chỉ và số điện thoại ở đây. Tôi thấy lạ. Chắc chắn cô ấy là một người sống, không phải người chết vì cô ấy viết email cho tôi thường xuyên. Tôi nghĩ là cô ấy đã đùa với tôi.

Bà quản lý nghĩa trang hỏi:

-Thế bạn anh tên gì?

Tuấn đáp:

-Tên Trần Thị Tuyết Trang ạ.

Bà quản lý mở quyển sổ lớn bìa cứng bọc da ghi chi chít tên ra dò. Tuấn nghe từng thời khắc trôi qua như từng thế kỷ. Ngón tay bà chợt dừng lại ở một vị trí trên quyển sổ rồi bà ngẩng lên bảo:

-Có một người chết chôn ở đây tên là Trần Thị Tuyết Trang. Anh có muốn đi ra mộ cô ấy với tôi không?

Tuấn nghe tim mình như ngừng đập. Anh lập bập nói “vâng” rồi theo chân bà quản lý bước ra hằng hà sa số những ngôi mộ trùng trùng trên bãi đất mênh mông. Bà len giữa những hàng mộ được bao bọc bởi cỏ xanh, đi thêm một đỗi nữa rồi dừng lại chỉ tay về phía trước:

-Anh cứ đi đi. Mộ cô ấy cuối dãy này, cạnh cái cây lớn đó.

Tuấn rảo bước về phía ấy và hiện lên trước mặt anh là một ngôi mộ gọn gàng bằng phẳng với tấm bia ghi hàng chữ: “Trần Thị Tuyết Trang

Sinh ngày… mất ngày…”. Tấm mộ bia không có hình.

Tuấn nhìn sững ngôi mộ, đứng đực ra như trời trồng. Cho tới lúc ấy Tuấn vẫn không tin cô gái làm thơ gởi cho mình trong bấy lâu nay là cô gái nằm dưới ngôi mộ này. Không thể nào phi lý đến như thế được. Chắc chắn đó là một người còn sống và cô ta đã mượn tên, mượn địa chỉ của một người đã chết để dựng ra cái màn này nhằm trêu chọc Tuấn hoặc nhằm che đậy chính bản thân cô ấy mà thôi.

Vài giọt mưa bắt đầu rơi trên vai áo Tuấn. Anh đứng nhìn mãi cái mộ bia, bần thần, buồn bã. Tại sao Trang phải làm như vậy chứ? Rồi gió chợt lớn dần, càng lúc càng dữ dội, làm lá cây rụng rào rào và bụi mù mịt bốc lên từng đám lớn. Sấm chớp ầm ầm nổi lên bốn bề. Tuấn chạy thật nhanh ra khỏi nghĩa trang, chui tọt vào xe mở máy chạy trong màn mưa trắng xoá. Tóc và áo anh ướt nhẹp, hai ống quần đầy bùn. Anh nắm chặt vô-lăng nghiến răng tự hỏi thêm một lần nữa: “Trang. Tại sao Trang phải làm như vậy chứ?”

Về đến nhà Tuấn một tay che đầu một tay ôm đồ đạc lập cập mở cửa bước vào ướt loi ngoi như một con chuột.

Nhà tối om từ sau ra trước trừ một quầng sáng duy nhất hắt hiu toả ra từ một bóng đèn trái ớt thắp trường kỳ trên lối đi. Để nguyên bộ quần áo ướt Tuấn run rẩy bước vào bàn làm việc bật máy vi tính. Trên màn hình hiện lên bài thơ của Trang rõ ràng từng dấu chấm dấu phẩy:

“Em đã chết từ lâu

Hồn ẩn sau trang chữ

Như sương trời tan tụ

Thể phách còn chi đâu

Tinh anh như đốm lửa

Lập loè những đêm thâu

Bài thơ bắt nhịp cầu

Cõi trần và mộ sâu

Không hình không diện mạo

Nỗi nhớ rồi phai mau

Cuộc trần ai đã đủ

Sum vầy chỉ chiêm bao”

Bài thơ như một lời thì thầm vọng về từ cõi âm. Tuấn rùng mình dáo dác. Anh có cảm tưởng như có bàn tay ai đó với những cái móng dài và nhọn đang gõ cộp cộp vào mặt kính và sau vườn trong bóng đêm dày đặc là tiếng gió hú, tiếng cành cây quất sàn sạt vào mái nhà. Tuấn hít hơi thật mạnh rồi từ từ nhắm mắt lại thở ra hết những bức bối trong lòng. Nỗi sợ trong anh từ từ lắng xuống như lu nước đục được lóng phèn. Mắt anh rươm rướm dòng lệ. Không. Không hề có chuyện ma quỉ gì ở đây. Tất cả chỉ là một màn kịch do Trang dựng lên nhưng tại sao Trang là người mà phải đội lốt ma để sống? Có lẽ phía sau trang chữ của Trang là một tâm hồn đau khổ, là những u ẩn cần che đậy? Trang không muốn thế gian này biết mình là ai chăng? Mỗi người ai cũng có những bí mật của họ, thì thôi mặc kệ, tốt hơn là Tuấn không nên hỏi gì nữa cả. Cứ để Trang đóng vai ma và Tuấn đóng vai một người trên dương thế, đi tìm nhau mà mãi mãi không bao giờ gặp, cứ tự nhiên mặc kệ tất cả, đừng thèm lý giải thêm nữa những cái hư hư thực thực trộn lẫn vào nhau như một mớ bòng bong rối ren đến nhức đầu.

Tuấn nhớ lại bài thơ Trang đã gởi cho mình lần đầu tiên:

“Tháng sáu trôi nghiêng thuyền độc mộc

Vụng về ngọn cỏ níu bờ lau

Tháng chín hoa thu viền nỗi đợi

Tháng chạp chìm sâu giấc mộng đầu…”

Kiểm lại từng câu Tuấn thấy hoàn toàn khớp với thực tại. Tuấn quen Trang vào tháng Sáu, mời Trang đi ăn kem vào tháng Chín và nay đến lúc chia tay Trang là tháng Chạp. Sáu tháng đã qua cho một sự quen biết mà đến nay cái kết thúc đã chờn vờn trước mặt Tuấn rồi. Anh gõ vào máy vi tính những câu thơ trả lời Trang:

“Tương tri ngần ấy đủ rồi

Nước sông sẽ chảy một đời sẽ qua

Em là người? Em là ma?

Bấy nhiêu đã đủ ngọc ngà rồi em.”

Tuấn nhìn mãi những dòng chữ của mình và của Trang trên màn hình vi tính, nhìn mãi, nhìn mãi như cố gợi ra trong lòng một hình ảnh nào đó nhưng làm sao có được một hình ảnh nào mà gợi đối với một người Tuấn chưa từng gặp, ngay một mái tóc một nụ cười cũng không hề tồn tại trong tâm trí. Nén một tiếng thở dài, cuối cùng Tuấn bấm chữ send, tắt máy rồi đi ngủ.

Từ đó về sau những bí mật về Trang mãi mãi là bí mật mà Tuấn chẳng buồn nghiền ngẫm để giải mã. Một điều duy nhất Tuấn buồn là không bao giờ anh còn nhận được thêm một bài thơ hay một email nào của Trang nữa.

Cao Thanh Phương Nghi

Nguồn: Việt Luận